MẤY VẤN ĐỀ VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THS. BÙI XUĀN HẢI –  Khoa Luật Thương mại, ĐH Luật TP. HCM

1. Doanh nghiệp và bản chất pháp lý của doanh nghiệp

1.1. Doanh nghiệp

Trước hết phải khẳng định rằng có khá nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ của khoa học quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và khoa học pháp lý. Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm doanh nghiệp được xác định rất đơn giản “là đơn vị kinh doanh, như xí nghiệp, công ty, v.v...”(1 ). Trong giới khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay cũng có nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp bằng những cách định nghĩa theo phương pháp tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ luật thực định, từ khi thực hiện đường lối đổi mới, khái niệm doanh nghiệp đã được qui định lần đầu tiên trong Luật công ty năm1990, sau đó là qui định tại điều 3, Luật doanh nghiệp năm1999 – “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Lại có quan điểm cho rằng định nghĩa về doanh nghiệp theo qui định tại điều 3, Luật doanh nghiệp nói trên chỉ có thể được hiểu trong phạm vi của Luật doanh nghiệp chứ không thể mở rộng cho tất cả. Theo quan điểm này, doanh nghiệp phải được hiểu là mọi chủ thể kinh doanh có làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo cách hiểu này thì khái niệm doanh nghiệp được hiểu rất rộng, bao gồm tất cả các loại chủ thể có đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh như hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 02/CP ngày 03/2/2000 của Chính phủ, các cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (trước đây) và các tổ hợp tác theo Bộ luật dân sự 1995 cũng là một loại hình doanh nghiệp tập thể(2 ).

Theo chúng tôi, có thể có nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ lý luận và góc độ luật thực định. Nhưng nếu có hiểu theo luật thực định thì cũng không thể chỉ dừng lại ở Luật doanh nghiệp mà phải xem xét đến toàn bộ lĩnh vực pháp luật điều chỉnh về các loại hình chủ thể kinh doanh. Khi đó khái niệm doanh nghiệp cần được hiểu là những loại hình tổ chức kinh doanh (tổ chức kinh tế) có đầy đủ các thuộc tính pháp lý nhất định (tài sản, trụ sở, tên thương mại.…) được qui định trong các luật về doanh nghiệp. Hiểu một cách đơn giản theo luật thực định thì doanh nghiệp là những loại hình tổ chức kinh doanh thành lập và hoạt động theo các Luật về doanh nghiệp. Dưới góc độ luật thực định và kể cả trên phương diện lý luận thì không thể coi tất cả các chủ thể có đăng ký hay xin phép kinh doanh là doanh nghiệp và càng không thể coi tất cả các chủ thể có hành vi kinh doanh là doanh nghiệp(3 ). Trong luật thực định, nhiều văn bản pháp luật đã xác định phạm trù doanh nghiệp cũng bằng cách liệt kê các loại hình doanh nghiệp; chẳng hạn như Điều 1, Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 khi hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp hay điều 2, Nghị định 24/NĐ-CP ngày 31/7/2000 khi hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, v.v…. Có thể liệt kê các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay bao gồm:

– Doanh nghiệp nhà nước.

– Hợp tác xã.

– Công ty, gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên, công ty hợp danh.

– Doanh nghiệp tư nhân.

– Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, gồm: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Trong thực tế, nước ta còn có khoảng trên 300 doanh nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, công đoàn, Đoàn thanh niên, v.v…. Những doanh nghiệp này thường hoạt động theo cơ chế như của doanh nghiệp nhà nước chứ không có luật điều chỉnh riêng. Từ khi có Luật doanh nghiệp 1999, chúng ta đã tính tới việc phải chuyển đổi những doanh nghiệp này sang hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên.

1.2. Về bản chất pháp lý của doanh nghiệp

Trong lý luận và thực tiễn, cần phân biệt doanh nghiệp với các cơ quan, tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức kinh tế-sự nghiệp có thu hay các hình thức tổ chức kinh doanh khác. Để làm được điều đó thì phải xác định được các dấu hiệu, các thuộc tính thể hiện bản chất pháp lý của doanh nghiệp. Bản chất pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay không giống nhau hoàn toàn vì nó còn phụ thuộc một số yếu tố (như hình thức sở hữu chẳng hạn…). Nhưng theo chúng tôi, bản chất pháp lý của doanh nghiệp nói chung thể hiện qua các vấn đề chủ yếu sau đây:

– Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập theo qui định của pháp luật mà thông thường là phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong khi những tổ chức phi lợi nhuận hay các tổ chức hoạt động sự nghiệp, v.v… thì không phải làm thủ tục này.

– Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, có sử dụng lao động làm thuê. Doanh nghiệp là nơi diễn ra hoạt động sản xuất vật chất thì phải dựa trên các yếu tố về tư liệu sản xuất và lao động. Muốn hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng phải có vốn kinh doanh, có tài sản; trong một số trường hợp nhất định số vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) không được thấp hơn mức vốn theo qui định của pháp luật (vốn pháp định). Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh có qui mô kinh doanh ở mức độ nhất định, hay hiểu một cách đơn giản nó là loại chủ thể kinh doanh có qui mô lớn nhất so với các loại hình kinh doanh khác. Chẳng hạn, một người bán báo hay một người bán quà vặt….kinh doanh nhỏ bé và làm việc cho chính mình thì không phải là doanh nghiệp(4 ).

– Mục đích hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nói chung là nhằm mục đích kinh doanh , đây là điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức không được coi là doanh nghiệp. Kinh doanh được hiểu “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Điều 3, Luật doanh nghiệp). Theo nghĩa thông thường, doanh nghiệp phải được quan niệm là chủ thể hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng trong luật thực định của Việt Nam hiện nay, có nhiều tổ chức kinh tế hoạt động không phải với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận nhưng vẫn được coi là doanh nghiệp, đó là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích (Điều 3, Luật DNNN và Điều 1, Nghị định 56/CP ngày 02/10/1996) với khoảng 730 doanh nghiệp(5 ) và các hợp tác xã mà bản chất cố hữu thực sự của mô hình này là mục đích hợp tác tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên chứ không phải mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận.

– Doanh nghiệp phải là chủ thể hạch toán kinh doanh độc lập, có nghĩa nó là chủ thể tự quyết định việc thu, chi tài chính, tự mình hưởng thành quả cũng như chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Dấu hiệu này là cơ sở để phân biệt doanh nghiệp với các cơ sở kinh doanh, các đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp (ví dụ: các đơn vị thành viên của tổng công ty, các chi nhánh hay văn phòng đại diện của doanh nghiệp, v.v…). Cũng có quan điểm cho rằng doanh nghiệp là phải có tư cách pháp nhân. Theo chúng tôi, quan niệm như vậy là không hợp lý về phương diện lý luận và không đúng luật thực định. Doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh doanh trong đó các tổ chức, cá nhân được phép thực hiện hoạt động kinh doanh(6 ), không nên đồng nhất tư cách pháp nhân với tư cách chủ thể pháp luật. Không chỉ nước ta mà nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới cũng công nhận loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân(7 ). Theo luật thực định của Việt Nam thì những doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp 1999.

– Doanh nghiệp phải là tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động dưới một hình thức pháp lý nhất định do pháp luật qui định. Hình thức pháp lý của doanh nghiệp được qui định cụ thể trong các luật về doanh nghiệp như: công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, hợp tác xã, v.v…. Các tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thì chỉ có thể lựa chọn các hình thức pháp lý được qui định bởi luật thực định mà thôi.

2. Về Luật điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp và một vài hạn chế chủ yếu của lĩnh vực pháp luật này

2.1. Việt Nam hiện nay chưa có một văn bản luật chung để điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp. Luật điều chỉnh đối với các loại hình doanh nghiệp hiện nay ở nước ta bao gồm nhiều văn bản Luật khác nhau, mỗi loại doanh nghiệp hoạt động theo một Luật riêng , cụ thể là:

– Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, qui định về doanh nghiệp nhà nước – Luật hợp tác xã năm1996, qui định về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

– Luật doanh nghiệp năm 1999, (thay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990) qui định về doanh nghiệp tư nhân và các loại công ty như công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh.

– Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung) qui định về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

2.2. Có thể nói rằng những qui định trong các Luật về doanh nghiệp hiện nay còn có

sự khác biệt với một khoảng cách tương đối. Nguyên tắc hiến định về bình đẳng trong kinh doanh qui định tại Điều 22 – Hiến pháp 1992 hiện nay chưa được thể hiện trong lĩnh vực pháp luật về doanh nghiệp. Trong khi chưa có một Luật chung để điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp mà chúng ta lại ban hành nhiều Luật điều chỉnh về các loại doanh nghiệp với nhiều sự khác biệt là chưa tạo ra được một môi trường pháp lý thống nhất cho các doanh nghiệp, chưa đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh.

Những hạn chế này thể hiện qua những vấn đề cơ bản sau đây:

1. Thủ tục thành lập các loại doanh nghiệp hiện nay có sự khác nhau khá lớn. Có tới 4 loại thủ tục thành lập khác nhau áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp theo 4 Luật nói trên. Thủ tục thành lập, thời gian giải quyết cũng như bộ hồ sơ thành lập (xin giấy phép đầu tư) của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Chương X, Nghị định 24/CP) phức tạp hơn nhiều so với việc thành lập hợp tác xã (Chương 2, Luật HTX) và càng phức tạp hơn rất nhiều so với thủ tục rất đơn giản (đăng ký kinh doanh) để thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty (Điều 12, 13 – Luật doanh nghiệp). Các nhà kinh doanh trong nước và nước ngoài từ lâu đã mong muốn và họ có quyền đòi hỏi một thủ tục thành lập chung đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi cho các doanh nghiệp. Thủ tục hành chính quá rườm rà, phức tạp là một trong những yếu tố hạn chế làm môi trường đầu tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn, cản trở sự phát triển của nền kinh tế – xã hội.

2. Các Luật về doanh nghiệp qui định thủ tục giải thể các loại doanh nghiệp hiện nay cũng không giống nhau. Mỗi luật qui định một thủ tục giải thể theo một qui trình, điều kiện riêng trong khi về phương diện lý luận, bản chất của việc giải thể là giống nhau (thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng và chấm dứt hoạt động).

3. Quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp trong các Luật nói trên cũng khác nhau khá lớn. Sự thiếu thống nhất và bất bình đẳng thể hiện rõ nhất trong các qui định về quyền và nghĩa vụ của các loại hình doanh nghiệp, nó cho thấy sự ưu ái vẫn mang tính bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và một chút ít cho hợp tác xã; sự kiểm soát chặt chẽ, khắt khe đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những qui định về quyền và nghĩa vụ của công ty, doanh nghiệp tư nhân tại Điều 7 và 8 của Luật doanh nghiệp khác rất nhiều so với quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Chương 4, Luật đầu tư nước ngoài), của hợp tác xã (Điều 8, 9 Luật HTX) và đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước (Chương 2, Luật DNNN).

Chế độ thuế áp dụng cho các loại doanh nghiệp cũng có sự khác nhau, như về việc miễn thuế nhập khẩu, phê duyệt kế hoạch nhập khẩu hay về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25% trong khi các doanh nghiệp trong nước là 32%). Hoặc sự khác nhau về qui chế quản lý tài chính và phương pháp hạch toán kinh doanh v.v….

4. Sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng thể hiện qua những ngành nghề được phép kinh doanh. Sự khắt khe nhất về vấn đề này là đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế dân doanh cũng chẳng hơn là bao, trong khi các doanh nghiệp nhà nước thì được sự ưu ái đặc biệt của Nhà nước. Chính sự quá ưu ái của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho các doanh nghiệp này hoạt động kém hiệu quả, sức cạnh tranh kém. Nguyên tắc “được làm những gì mà pháp luật không cấm” chưa được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật cũng như thực tiễn thi hành.

5. Cơ chế quản lý nhà nước hiện nay đối với các loại doanh nghiệp vẫn có sự khác biệt ở mức độ nhất định theo chính sách thành phần kinh tế. Một bộ phận không nhỏ cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức – những người soạn thảo chính sách, pháp luật và thực thi pháp luật- vẫn có tư tưởng và thói quen của sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Thậm chí ngay cả các đơn vị kinh doanh của Nhà nước như các Ngân hàng thương mại quốc doanh cũng có sự phân biệt đối xử công khai trong chính sách tín dụng đối với các thành phần kinh tế. Nhiều nhà đầu tư cho rằng việc Nhà nước hiện nay vẫn duy trì chế độ hai giá (ví dụ: điện, nước, dịch vụ viễn thông, v.v…) trong khi điều kiện kinh doanh, thuế… như nhau là sự phân biệt đối xử rõ ràng nhất. Chẳng hạn một chương trình quảng cáo 30 giây trên truyền hình Việt Nam thì doanh nghiệp trong nước chỉ phải trả là 5,7 triệu đồng còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải trả tới 26,7 triệu đồng – gấp gần 5 lần(8 ).

Các loại hình doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở chừng mực nào đó rõ ràng chưa được Nhà nước đối xử một cách bình đẳng. Các doanh nghiệp nhà nước hiện nay về bản chất cũng là những công ty TNHH có một chủ sở hữu đặc biệt là nhà nước. Các công ty liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài về bản chất cũng là những công ty TNHH, chúng “thành lập theo hình thức Công ty TNHH” (Điều 6 và 15 Luật ĐTNN). Thực ra bản chất của những doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài đâu có gì khác biệt so với doanh nghiệp do Việt kiều và người nước ngoài thường trú ở Việt Nam thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Do đó chính sách và pháp luật điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp không thống nhất và bất bình đẳng như hiện nay cần phải được Đảng và Nhà nước xem xét, sửa đổi.

3. Về định hướng hoàn thiện

Trong nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường luôn có sự tồn tại của nhiều loại hình chủ thể kinh doanh thuộc các hình thức sở hữu khác nhau. Pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cũng như Việt Nam đều “thiết kế” hay công nhận nhiều mô hình tổ chức kinh doanh để các nhà kinh doanh lựa chọn. Nhiều nước trên thế giới có một Luật điều chỉnh chung các loại hình doanh nghiệp. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp hiện nay có lẽ là một đặc thù của nền kinh tế thị trường Việt Nam, do chúng ta xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có trình độ phát triển thấp.

Đảng và Nhà nước ta đã xác định và phân biệt vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế (gồm 6 thành phần) là nhằm mục đích ban hành các chính sách quản lý và định hướng phát triển cho phù hợp đối với từng thành phần. Dưới giác độ nào đó thì sự phân biệt về chính sách đối với các thành phần kinh tế cũng là cần thiết khi xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng cũng từ đó pháp luật của chúng ta lại dành những “sân chơi” khác nhau, theo những “luật chơi” không giống nhau cho các loại doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế là không thoả đáng.

Để tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển nhanh nền kinh tế – xã hội, Đảng và Nhà nước cần phải “xóa bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài”(9 ). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định phải “xây dựng một luật áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc các thành phần kinh tế”(10 ), nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp cạnh tranh, kinh doanh bình đẳng góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chú thích:

(1) Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, TT Từ điển học, 1996, tr. 252.

(2) Giáo trình Luật Kinh tế, chương III, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, H.,

2000.

(3) Điều 123 Luật Doanh nghiệp và các Điều 1, 17, 23 Nghị định 02/NĐ-CP ngày 3/2/2000.

(4) Điều 123 Luật Doanh nghiệp và Điều 17 Nghị định 02/NĐ-CP ngày 3/2/2000.

(5) Báo Tuổi trẻ ngày 25/8/2001.

(6) Francis Lemeuvier, Nguyên lý và thực hành Luật Thương mại – Luật Kinh doanh, NXB CTQG, H., 1993, tr. 119.

(7) Ví dụ mô hình Partnership (Công ty hợp danh) trong luật của Anh, Mỹ.

(8) Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 2/8/2001.

(9) Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, Hà

Nội, 2001, tr. 200.

(10) Đảng cộng sản Việt Nam, Sđd, tr. 320 – 321.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001

BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2008: DIỄN BIẾN KHÓ LƯỜNG

HUY THỦY

Thị trường bất động sản (TTBĐS) năm 2007 diễn biến ngày càng tăng vọt. Năm 2008, giá nhà, đất dự đoán sẽ khó lường.
Năm 2007 là thời điểm mà thị trường bất động sản (TTBĐS) sôi động nhất từ trước tới nay. Theo đánh giá của ông Bùi Quang Hiếu, Giám đốc công ty Bất động sản và Xây dựng Việt San: “Cuối năm 2006 đầu năm 2007, giá nhà đất trên địa bàn TP HCM cũng như Hà Nội bắt đầu leo thang cùng với làn sóng nguồn vốn từ thị trường chứng khoán đổ sang. Đơn cử như TP HCM, tháng 10/2007, giá đất các dự án nằm trong top của khu Nam Sài Gòn và lân cận khu đô thị mới Thủ Thiêm đột ngột tăng thêm khoảng 15 triệu đồng/m2. Cơn sốt này đã nâng mặt giá đất của các dự án như An Phú – An Khánh (Quận 2), Him Lam (Quận 7) đạt ngưỡng cao nhất từ trước đến nay, từ 40 – 45 triệu đồng/m2”.
Còn ở Hà Nội, giá nhà đất cao ở mức… không tưởng. Nhiều vị trí như Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào… thị trường đang giao dịch rất cao cho dù khung giá đất của Nhà nước năm 2007 đã có, tuy nhiên khung giá trên cũng mới chỉ bằng khoảng 50% giá thực tế, nhưng đó vẫn là căn cứ để giới kinh doanh và người dân sử dụng làm “chỗ dựa” thanh toán cho nhau. Vì thế, nhiều người Hà Nội chỉ đi xem và… mơ về một mảnh đất cho riêng mình. Tại địa bàn Hà Nội, tốc độ thi công các dự án nhà ở đang diễn ra rất chậm. Mỗi toà nhà kể từ lúc khởi công cho đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng thường xuyên bị kéo dài mà chưa có những chế tài ấn định thời gian xây dựng để đưa dự án vào sử dụng. Điều này đã làm cho Hà Nội đang có rất nhiều dự án xây dựng dở dang, thi công chậm chạp, thậm chí nhiều dự án, nhiều khu đô thị đã được phê duyệt, nhiều dự án đã đấu giá đất xong từ nhiều năm đến nay vẫn còn là bãi đất trống trong lúc thị trường đang thiếu căn hộ cung ứng cho người sử dụng. Năm 2007 hàng trăm quỹ đầu tư có vốn hàng tỷ USD đã đổ vốn vào hàng loạt dự án xây dựng văn phòng cho thuê, khách sạn cao cấp và một số dự án phát triển các khu đô thị mới. Trong khi đó, quỹ đất của thành phố gần như không phát triển thêm nhiều. Do đó, tình trạng khan hiếm quỹ đất là điều tất nhiên dẫn đến cung vượt quá cầu làm cho giá đất liên tục leo thang.
Với tốc độ gia tăng đầu tư từ nước ngoài vào VN như hiện nay chắc chắn giá đất trong năm 2008 sẽ tăng ít nhất 30%. Riêng với Hà Nội năm 2008, giá đất ở Hà Nội sẽ biến động lớn với mức tăng bình quân 20%. Cũng có khi thị trường nhà đất năm 2008 sẽ là một năm thăm dò, vì tác động của hàng loạt chính sách mới có liên quan như thuế Chống đầu cơ đất đai, Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực vào đầu năm 2009. Giá đất biến động sẽ tiếp cận với giá chuyển nhượng đất thực tế trên thị trường nhưng không gây đột biến lớn. Tăng giá cũng tác động tích cực tới công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các dự án bởi người bị thu hồi đất sẽ có lợi hơn. Tuy nhiên, vấn đề này cũng khiến tăng chi ngân sách cho giải phóng mặt bằng.
Trong thời gian tới, đầu tư vào cái gì cũng có thể gặp phải rủi ro như vàng, ngoại tệ, chứng khoán, nó như một nhịp tim, đi lên đi xuống. Riêng bất động sản nó như nấc thang đi lên, đôi khi có dao động một chút. Nhà đầu tư về đất cần nên suy nghĩ chín chắn, về vị trí đất, vị trí nhà chứ không chỉ đầu tư ào ào sẽ nguy hại. Ông Bùi Quang Hiếu đưa ra nhận định: “Vào thời điểm khoảng tháng 3 dương lịch đến tháng 9 dương lịch đầu tư bất động sản thuận lợi nhất, người dân sẽ bán đất nhiều và người mua ít đi bởi nhiều lý do trong đó có yếu tố phong thủy và thói quen văn hoá của người Việt”. Tuy nhiên, đó mới chỉ là nhận định mang tính chủ quan, còn thực tế thì lại phụ thuộc vào nhiều diễn biến khách quan của thị trường.

SOURCE:http://www.cpv.org.vn/tiengviet/diendan/details.asp?topic=28&subtopic=114&leader_topic=181&id=BT2310865347

DỰ THẢO THÔNG TƯ Hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra

BỘ TÀI CHÍNH
__________
Số: /2007/TT-BTC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc____________________________________________

Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm 2008

Căn cứ Luật quản lý Thuế;

Căn cứ Điều 20, Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;

Căn cứ Điều 15, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan gây ra như sau:

I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

a) Cơ quan quản lý thuế trực tiếp quản lý cán bộ, công chức thuế, cán bộ công chức hải quan (sau đây gọi tắt là cơ quan quản lý thuế) phải bồi thường đối với thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan trong thi hành công vụ.

b) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; Kịp thời giải quyết bồi thường thiệt hại một cách công khai, công bằng và đúng pháp luật.

c) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan (sau đây gọi tắt là cán bộ công chức thuế, hải quan) phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan đã bồi thường cho người bị thiệt hại; việc hoàn trả được thực hiện theo quy định tại Mục II, Thông tư này.

2. Tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan có khả năng gây thiệt hại cho mình thì phải cảnh báo cho cán bộ, công chức thuế, hải quan hoặc cơ quan quản lý thuế biết.

Trường hợp phát sinh yêu cầu bồi thường thiệt hại, tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan (sau đây gọi tắt là người bị thiệt hại) phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan tới việc xác định mức bồi thường thiệt hại.

3. Các trường hợp bồi thường thiệt hại

Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại trong các trường hợp sau:các đơn vị +VCCI)

a) Quyết định hoàn thuế; ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật;

b) Xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế;

c) Xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định;

d) Áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không đảm bảo căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật về thuế, hải quan;

Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại về tiền, tài sản cho người bị thiệt hại nhưng được xác định là hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế không phải bồi thường thiệt hại; Trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của cán bộ công chức thuế, hải quan gây ra.

4. Điều kiện bồi thường thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện sau:

a) Người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời hạn 2 năm kể từ thời điểm bị thiệt hại;

b) Có hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan trong khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 3, mục I Thông tư này;

c) Có thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra.

5. Mức bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khắc phục hậu quả

a) Đối với thiệt hại là tiền, việc xác định trách nhiệm khắc phục hậu quả và mức bồi thường thiệt hại của cơ quan quản lý thuế như sau:

– Đối với khoản tiền bị tịch thu, tiền phạt vi phạm hành chính hoặc ấn định thuế, truy thu thuế sai quy định, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm khắc phục ngay hậu quả bằng cách trả lại số tiền đã tịch thu, phạt sai quy định hoặc số tiền thuế đã thu thừa (nếu chưa nộp vào ngân sách nhà nước) hoặc làm thủ tục thoái thu ngân sách để trả lại cho người bị thiệt hại (nếu đã nộp vào ngân sách nhà nước); đồng thời bồi thường tiền lãi của các khoản tiền đó.

– Đối với khoản tiền hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm hoàn tiếp số tiền còn thiếu; đồng thời phải bồi thường tiền lãi của khoản tiền hoàn thuế thiếu, hoàn thuế chậm.

Lãi suất để tính tiền lãi là lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ra quyết định bồi thường. Trường hợp khoản tiền bị thiệt hại là ngoại tệ thì quy đổi theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xác định số tiền bồi thường.

b) Đối với tài sản bị tạm giữ, tịch thu sai quy định, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại như sau:

– Trường hợp tài sản chưa bán, chưa bị mất và không bị hư hỏng: trả lại tài sản cho người bị thiệt hại và bồi thường các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản và chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả;

– Trường hợp tài sản bị hư hỏng nếu có thể sửa chữa khắc phục thì trả lại tài sản cho người bị thiệt hại và bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa, các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản và chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả; Nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa được, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp nhận tài sản để xử lý và bồi thường thiệt hại như đối với tài sản bị mất;

– Trường hợp tài sản bị mất: bồi thường toàn bộ giá trị thực tế của tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản; chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ (nếu tài sản đã mua bảo hiểm, đóng lệ phí trước bạ); chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả;

– Trường hợp tài sản đã bán đấu giá: thoái trả số tiền thu do bán đấu giá tài sản và bồi thường khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản; khoản tiền chênh lệch giữa số tiền đã thoái trả với giá trị thực tế của tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại, hoặc có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ (nếu tài sản đã mua bảo hiểm, đóng lệ phí trước bạ); chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả.

Thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản trong thời gian bị tạm giữ, bị tịch thu sai quy định được xác định theo giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng trên thị trường (nếu có giá thuê); hoặc xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản mang lại trong điều kiện bình thường (nếu không có giá thuê) .

6. Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại

a) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (trong đơn ghi rõ: tên, địa chỉ của người bị thiệt hại; tên, địa chỉ của cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, công chức thuế, hải quan đã gây thiệt hại; căn cứ pháp lý yêu cầu cơ quan quản lý thuế bồi thường; Các thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường). Căn cứ đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, Cơ quan quản lý thuế phải tổ chức xác minh, đánh giá hành vi vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra; lập hồ sơ xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trên cơ sở kết quả xác minh, đánh giá về hành vi vi phạm gây thiệt hại và các thiệt hại xảy ra, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) phải thành lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại (sau đây gọi tắt là Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại) và thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại biết về dự kiến thời gian, địa điểm thương lượng hoặc giải quyết yêu cầu bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan ngay sau khi gây ra thiệt hại tự nguyện bồi thường và được cơ quan quản lý thuế, người bị thiệt hại đồng ý bằng văn bản về mức, phương thức, thời hạn bồi thường thì không phải lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại.

Trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 4, Mục I, Thông tư này thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm cải chính các quyết định sai phạm và xin lỗi người bị thiệt hại bằng văn bản.

b) Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại làm việc tập thể quyết định theo đa số để xác định mức bồi thường thiệt hại; trách nhiệm hoàn trả và mức, phương thức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở đó lập Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và có văn bản kiến nghị với người có thẩm quyền ra Quyết định bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có Quyết định thành lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại.

Thành phần Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại (từ 03 đến 05 thành viên), bao gồm: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) làm Chủ tịch Hội đồng; Người phụ trách công tác tài chính – kế toán cơ quan quản lý thuế làm ủy viên; Thủ trưởng trực tiếp của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; Chủ tịch công đoàn hoặc uỷ viên ban chấp hành công đoàn cơ quan quản lý thuế (nếu thủ trưởng cơ quan là chủ tịch công đoàn); Các chuyên gia trong lĩnh vực bị thiệt hại (nếu cần). Trong quá trình làm việc, Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại có thể mời người có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại tham dự cuộc họp.

c) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại,Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) phải căn cứ vào mức và phương thức bồi thường thiệt hại do Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại kiến nghị để tổ chức thương lượng giữa cơ quan quản lý thuế với người bị thiệt hại và ra quyết định bồi thường thiệt hại; Quyết định bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào kết quả thương lượng, trường hợp thương lượng không thành thì căn cứ vào kiến nghị của Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại để xem xét, quyết định. Nếu người bị thiệt hại không đồng ý với Quyết định bồi thường thiệt hại của cơ quan quản lý thuế thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên hoặc yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Quyết định bồi thường thiệt hại phải nêu rõ số tiền bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại; phương thức bồi thường thiệt hại (tiền mặt hay chuyển khoản); thời hạn bồi thường thiệt hại (không quá 45 ngày kể từ ngày ký Quyết định bồi thường thiệt hại); và phải gửi cho cơ quan thực hiện bồi thường, đối tượng được bồi thường thiệt hại và người có nghĩa vụ hoàn trả.

d) Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện bằng tiền và chi trả một lần (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác) theo đúng quy định về mức, phương thức và thời hạn bồi thường ghi trong Quyết định. Quá thời hạn ghi trong Quyết định mà cơ quan quản lý thuế chưa thực hiện bồi thường thì phải trả tiền lãi tính trên số tiền được bồi thường và thời gian chậm bồi thường; lãi suất để tính tiền lãi là lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố và có hiệu lực tại thời điểm cơ quan quản lý thuế thực hiện việc bồi thường.

7. Kinh phí bồi thường thiệt hại: căn cứ vào Quyết định bồi thường thiệt hại của cấp có thẩm quyền, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tạm sử dụng nguồn kinh phí hoạt động và các quỹ của cơ quan (bao gồm cả các khoản được trích để lại sử dụng từ nguồn thu do xử lý vi phạm hành chính) để bồi thường cho người bị thiệt hại.

Nguồn kinh phí đã sử dụng để bồi thường được bù đắp từ khoản tiền hoàn trả của cán bộ, công chức gây thiệt hại. Đối với trường hợp số tiền hoàn trả không đủ so với số tiền đã bồi thường thì cơ quan quản lý thuế trực tiếp quản lý cán bộ, công chức gây thiệt hại có phải lập dự toán và kèm theo đầy đủ hồ sơ liên quan đến việc bồi thường thiệt hại gửi cơ quan quản lý thuế cấp trên trực tiếp để xem xét, tổng hợp, báo cáo Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan để được cấp bổ sung kinh phí còn thiếu do bồi thường thiệt.

Trên cơ sở tổng số kinh phí được giao khoán theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan phải bố trí dự toán kinh phí bồi thường thiệt hại chung của cả hệ thống mình để kịp thời bù đắp số kinh phí còn thiếu mà cơ quan quản lý thuế thuộc phạm vi quản lý đã tạm ứng để bồi thường thiệt hại.

Việc quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành về Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.

II. HOÀN TRẢ KHOẢN TIỀN BỒI THƯỜNG CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC THUẾ, HẢI QUAN

1. Cán bộ, công chức thuế, hải quan phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại khi thực hiện một trong những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại quy định tại khoản 3, Mục I Thông tư này. Trong trường hợp người bị thiệt hại đã có cảnh báo về hành vi vi phạm và khả năng gây thiệt hại mà cán bộ, công chức thuế, hải quan vẫn cố tình thực hiện thì phải hoàn trả toàn bộ khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

2. Xác định trách nhiệm và mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại:

a) Việc xác định trách nhiệm và mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào số tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại, mức độ lỗi của hành vi vi phạm và khả năng kinh tế của cán bộ, công chức thuế, hải quan.

Trường hợp nhiều người có hành vi vi phạm pháp luật cùng gây thiệt hại thì mỗi người vi phạm phải liên đới hoàn trả số tiền bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế đã bồi thường. Trách nhiệm hoàn trả của mỗi người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người; Trường hợp không xác định được mức độ lỗi của từng người thì mỗi người phải hoàn trả theo phần bằng nhau.

b) Cán bộ công chức thuế, hải quan gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại (trừ các khoản khắc phục hậu quả bằng cách trả lại số tiền đã tịch thu, phạt sai quy định hoặc số tiền thuế đã nộp thừa; khoản tiền thu được từ việc cơ quan quản lý thuế bán thanh lý tài sản hoặc bán đấu giá tài sản mà cơ quan quản lý thuế trả cho người bị thiệt hại) cụ thể như sau:

– Đối với thiệt hại là tiền, tuỳ từng trường hợp để xác định cụ thể các khoản hoàn trả trong số các khoản mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm a, khoản 5, Mục I Thông tư này, bao gồm: tiền lãi các khoản tiền bị tịch thu, phạt vi phạm hành chính, ấn định thuế, truy thu thuế sai quy định của pháp luật hoặc tiền lãi của khoản tiền hoàn thuế thiếu, hoàn thuế chậm.

– Đối với thiệt hại là tài sản do bị tạm giữ, tịch thu sai quy định, tuỳ theo từng trường hợp để xác định các khoản phải hoàn trả trong số các khoản mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b, khoản 5, Mục I Thông tư này, bao gồm: giá trị tài sản bị mất; khoản chênh lệch giữa số tiền bán đấu giá với giá trị thực tế của tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại, cùng tính năng, tiêu chuẩn và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; chi phí sửa chữa tài sản bị hư hỏng; các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản và chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại; chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ (nếu có).

c) Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại được xem xét giảm trách nhiệm hoàn trả trong các trường hợp sau:

– Vi phạm lần đầu; hoặc đã chủ động áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm giảm bớt hậu quả thiệt hại.

– Vi phạm gây thiệt hại do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần.

– Các điều kiện để thực thi công vụ bị hạn chế (nếu có đủ cơ sở để chứng minh).

– Thiệt hại xảy ra quá lớn mà khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại không có khả năng hoàn trả được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó. Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại yêu cầu giảm mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải có tài liệu chứng minh khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài không đủ để hoàn trả toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại xảy ra.

3. Trình tự, thủ tục hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có Quyết định bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) tổ chức họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại để xem xét, giải quyết việc hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại. Hội đồng có trách nhiệm xem xét, đánh giá tính chất của hành vi gây vi phạm thiệt hại, xác định trách nhiệm cụ thể của từng cán bộ, công chức thuế, hải quan có liên quan gây thiệt hại; xem xét các tình tiết giảm nhẹ; đánh giá khả năng kinh tế của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; Trên cơ sở đó, có văn bản kiến nghị với cấp có thẩm quyền mức và phương thức hoàn trả. (Cán bộ, công chức thuế hải quan gây ra thiệt hại có thể được mời tham dự cuộc họp của Hội đồng để giải trình cụ thể vụ việc làm cơ sở xem xét nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại);

b) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và văn bản kiến nghị về mức và phương thức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có trách nhiệm ký Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại.

Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải nêu rõ: Số tiền hoàn trả; Phương thức và thời hạn hoàn trả. Việc hoàn trả có thể thực hiện một lần bằng tài sản riêng (thời hạn 45 ngày, kể từ ngày ký quyết định hoàn trả) hoặc trừ dần vào thu nhập hàng tháng của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại nhưng tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% tổng thu nhập từ tiền lương và phụ cấp (nếu có)

c) Thực hiện Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại

– Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả ghi trong Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại cho cơ quan quản lý thuế đã trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại.

– Trong quá trình thực hiện Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại, người có nghĩa vụ hoàn trả được xem xét tạm hoãn thực hiện hoàn trả trong trường hợp: đang điều trị tại các bệnh viện, phụ nữ trong thời ký thai sản; gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú xác nhận. Thời hạn tạm hoãn thực hiện hoàn trả tối đa là 6 tháng. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại có trách nhiệm xem xét và quyết định đối với các trường hợp này.

Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có nghĩa vụ hoàn trả không thể thực hiện được nghĩa vụ hoàn trả do sự kiện bất khả kháng (chết) thì không phải thực hiện việc hoàn trả.

– Tiền hoàn trả phải được thu, theo dõi chi tiết cho từng lần nộp (nếu nộp nhiều lần) và được dùng để hoàn lại nguồn kinh phí đã sử dụng để bồi thường thiệt hại.

d) Biện pháp đảm bảo thực hiện việc hoàn trả

– Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giám sát, đôn đốc việc thực hiện hoàn trả.

– Người chưa hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả mà xin chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại có trách nhiệm yêu cầu người đó phải hoàn trả phần còn thiếu trước khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu. Trường hợp, người đang thực hiện hoàn trả chưa có điều kiện trả ngay phần còn thiếu, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải phối hợp với cơ quan, tổ chức nơi tiếp nhận công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu người đó tiếp tục thực hiện việc hoàn trả.

– Trường hợp, người có nghĩa vụ hoàn trả cố tình trì hoãn, trốn tránh việc hoàn trả thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi người có nghĩa vụ hoàn trả cư trú để có biện pháp đảm bảo thực hiện hoàn trả theo quy định của pháp luật.

e) Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại không đồng ý với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế về việc hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc yêu cầu Toà án giải quyết.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết./.

Nơi nhận:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– Viện kiểm sát nhân dân tối cao

– Toà án nhân dân tối cao

– UBND các tỉnh, TP. trực thuộc TƯ;

– Sở TC các tỉnh, TP. trực thuộc TƯ;

– Kiểm toán Nhà nước

– Công báo; Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);

– Website Chính phủ; Website Bộ Tài chính

– Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;

– Lưu: VT, PC.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG

SOURCE:http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/DraftDetail.aspx?DraftID=243&Version=1

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP PHỔ BIẾN Ở PHÁP (Phần 2)

THS. LÊ MINH PHIẾU-   NCS tại Đại học Montesquieu – Bordeaux IV, Pháp

3. CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƠN GIẢN (Société par actions simplifiée – SAS)

Những người sử dụng hình thức SA cho việc kinh doanh thường hay phàn nàn về sự thiếu mềm dẻo của nó. Sự cứng nhắc này cản trở rất lớn đến những hoạt động đầu tư chung và đến những công ty con chung (liên doanh). Do vậy, để khắc phục những hạn chế này, Hội đồng Quốc gia Các giới chủ Pháp đã kiến nghị sáng lập một hình thức công ty mới: công ty cổ phần đơn giản. Kiến nghị này đã được đáp ứng và ngày 3/1/1994, Luật Công ty Cổ phần Đơn giản đã ra đời.

Lúc đầu, theo mục đích của các nhà lập pháp, đây là công ty có một số lượng ít các thành viên nhưng các thành viên này lại có tiềm lực kinh tế lớn. Do vậy, các thể nhân, các tập đoàn lợi ích kinh tế (Groupement d’intérêt économique GIE), tập đoàn lợi ích kinh tế Châu Âu (Groupement européen d’intérêt économique – GEIE”), các công ty dự phần và hiệp hội không thể trở thành thành viên của công ty này.

Thế nhưng, Luật sửa đổi ngày 12/7/1999 đã tăng thêm những thuận lợi của loại hình công ty này một cách đáng kể bằng việc giảm đi những ràng buộc nhằm giúp cho nó được ưa chuộng hơn. Theo đó, công ty cổ phần đơn giản đã được thâm nhập vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các nhà đầu tư tư nhân: khả năng thành lập công ty cổ phần đơn giản một chủ, cho phép thể nhân được tham gia công ty cổ phần đơn giản… Bằng những sửa đổi này, công ty cổ phần đơn giản thật sự là một loại hình cạnh tranh với công ty trách nhiệm hữu hạn.

Là một dạng công ty cổ phần, công ty cổ phần đơn giản cũng áp dụng những chế định của SA trong khuôn khổ những chế định này phù hợp với những nguyên tắc riêng của công ty cổ phần đơn giản. Các nhà lập pháp Pháp đã loại trừ một cách rõ ràng việc áp dụng những qui định về quản lý công ty, về đại hội đồng cổ đông và về việc chuyển đổi của SA cho SAS (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-1, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 101).

3.1 Thành lập công ty cổ phần đơn giản

Việc thành lập công ty cổ phần đơn giản có thể là bắt đầu từ đầu hay từ việc chuyển đổi các hình thức doanh nghiệp khác. Việc chuyển đổi một công ty sang công ty cổ phần đơn giản đòi hỏi phải có một quyết định trên cơ sở nhất trí giữa các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-3).

Bất kỳ người nào, thể nhân hay pháp nhân, công ty có mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, dù vốn điều lệ bao nhiêu, hiệp hội hay tập đoàn, đều có thể trở thành thành viên của công ty cổ phần đơn giản. Công ty không đòi hỏi phải có nhiều thành viên và do vậy, nhờ vào công ty cổ phần đơn giản, người ta có thể thành lập công ty cổ phần một chủ, được gọi là công ty cổ phần đơn giản một chủ (SASU – Société par actions simplifiée unipersonnelle).

Vốn điều lệ của công ty cổ phần đơn giản ít nhất phải là 37.000 euro. Điều L.227-2 của Bộ luật Thương mại qui định rằng công ty cổ phần đơn giản không thể phát hành chứng khoán ra công chúng. Mục đích của các nhà lập pháp là nhằm đảm bảo tính đóng của công ty. Tuy nhiên, các thành viên của công ty có thể phát hành chứng khoán giữa họ với nhau.

Những qui tắc về hình thức để thành lập và đăng ký kinh doanh công ty cổ phần đơn giản là những qui định được áp dụng cho công ty cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L.227 –1, khoản 3).

3.2 Quản trị và điều hành

Những điều kiện quản lý công ty được điều lệ công ty tự do qui định (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-5). Nó bao gồm điều kiện bổ nhiệm, bãi nhiệm số lượng, nhiệm kỳ, cách thức trả thù lao và cả quyền hành của người quản lý. Duy chỉ có một cơ quan được các nhà lập pháp áp đặt, đó là chủ tịch, người đại diện cho công ty cổ phần đơn giản đối với người thứ ba (Bộ luật Thương mại, Điều L.227 – 6). Điều cần lưu ý là chức năng này, khác với công ty cổ phần, có thể được đảm nhiệm bởi một pháp nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-8). Điều lệ công ty có thể qui định rằng chủ tịch sẽ được chọn trong số những cổ đông thuộc loại xác định nào đó.

Bên cạnh chủ tịch, điều lệ có thể thiết lập các cơ quan khác với những tên gọi, chức năng và phương thức quyết định do điều lệ tự do qui định. Việc kiểm soát công ty cũng do điều lệ qui định.

Chế độ về trách nhiệm dân sự của thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc của công ty cổ phần sẽ điều chỉnh trách nhiệm của chủ tịch và những người quản lý của công ty cổ phần đơn giản (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-8). Giải pháp tương tự cũng được áp dụng đối với trách nhiệm hình sự.

Phương thức thực hiện quyền biểu quyết trong công ty, về nguyên tắc, sẽ do điều lệ qui định; không nhất thiết phải có sự phù hợp giữa tỷ lệ số cổ phần và quyền biểu quyết. Điều lệ cũng sẽ tự do lựa chọn phương thức tham khảo ý kiến của các thành viên. Tuy nhiên, mọi quyết định về việc thay đổi vốn, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi, bổ nhiệm kiểm toán viên, thông qua báo cáo tài chính hàng năm và phân chia lợi nhuận nhất thiết phải thông qua trong khuôn khổ của một hội đồng (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-9, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 125). Việc không tuân theo qui định này có thể bị chế tài hình sự (Bộ luật Thương mại, Điều L.244-2, sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 128).

3.3 Chuyển nhượng cổ phần

Một trong những đổi mới quan trọng của SAS đó là sự cho phép các thành viên công ty có thể đưa vào điều lệ công ty điều khoản không thể chuyển nhượng được (clause d’inaliénabilité). Một khi áp dụng điều khoản này thì cổ phần sẽ không được chuyển nhượng. Thế nhưng điều khoản này không thể áp dụng quá thời hạn 10 năm (Bộ luật Thương mại – Điều L.227 – 14). Hơn nữa, việc vận dụng điều khoản này cũng phải tuân theo một vài điều kiện nhất định (như chỉ áp dụng đối với một vài cổ đông, chỉ áp dụng đối với một tỉ lệ cổ phần nhất định của những người chính yếu của SAS…).

Tương tự như trường hợp trên, điều lệ công ty cũng có thể đưa vào điều khoản ràng buộc các cổ đông phải ưu tiên chào bán cổ phần của mình cho các cổ đông còn lại cho công ty. Điều lệ công ty cũng có thể quy định rằng các cổ đông khi muốn chuyển nhượng cổ phần của mình phải thông báo trước cho các cổ đông khác. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần trong SAS không quá tự do như trong SA, mà cũng không quá bị hạn chế như trong Công ty trách nhiệm hữu hạn (SARL). Và chính những người thông qua điều lệ của công ty sẽ lựa chọn mức độ của sự tự do chuyển nhượng ấy.

3.4 Công ty cổ phần đơn giản một chủ (Société par actions simplifiée unipersonnelle – SASU)

Việc cho ra đời công ty này là một tiến bộ rất đáng kể của Luật năm 1999. Công ty này chỉ có một thành viên, có thể là người quản lý công ty hay không. Đặc điểm một thành viên có thể có ngay từ khi công ty mới được thành lập và cũng có thể xuất hiện trong quá trình tồn tại của công ty cổ phần đơn giản. Công ty cổ phần đơn giản một thành viên, do có sự thay đổi về số lượng thành viên, có thể trở thành nhiều thành viên rồi sau đó có thể trở lại một thành viên mà không cần chuyển đổi pháp lý cho công ty. Như vậy, ở Pháp, ngoài hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (EURL), một cá nhân có thể một mình tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần đơn giản. Tương tự, trong các tập đoàn công ty, công ty cổ phần đơn giản một thành viên là một hình thức khá hấp dẫn để thành lập các công ty con có 100% vốn của một chủ.

Khi công ty cổ phần đơn giản chỉ có một thành viên, chế độ pháp lý của nó có một số đặc điểm riêng như sau:

– Thành viên duy nhất được thực hiện những quyền của thành viên trong công ty cổ phần đơn giản nhưng quyết định tập thể được chuyển sang quyết định đơn phương (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-1, khoản 2); báo cáo về quản lý và về tài chính công ty phải được chủ tịch thực hiện và được thông qua bởi thành viên duy nhất, người mà không thể ủy quyền cho người khác. Các quyết định phải được ghi vào sổ quyết định;

– Khi giải thể công ty, nếu thành viên duy nhất là pháp nhân thì toàn bộ tài sản của công ty sẽ được chuyển cho thành viên duy nhất đó, không cần làm thủ tục thanh lý tư pháp (Bộ luật Dân sự, Điều 1844-5). Nếu thành viên là thể nhân thì phải làm thủ tục thanh lý theo qui định chung;

– Không cần có sự can thiệp của kiểm toán viên đối với những thỏa thuận giữa công ty và người quản lý công ty. Nó chỉ cần ghi vào sổ quyết định.

4. CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN (Société à responsabilité limitée – SARL)

Kể từ khi Luật ngày 11/1/1985 ra đời, công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm hai loại: công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên (có ít nhất hai thành viên) và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (có duy nhất một thành viên).

4.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên (SARL pluripersonnelle)

Công ty trách nhiệm hữu hạn được du nhập vào Pháp bởi Luật ngày 7/3/1925, dựa theo mô hình được sáng lập vào năm 1892 (Gmbh) bởi Luật Công ty TNHH của Đức năm 1892). Hiện nay loại hình này được điều chỉnh bởi các điều từ L.223 –1 đến L. 223-43 của Bộ luật Thương mại.

4.1.1 Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn

Chế độ thành lập không có nhiều điểm đặc biệt, nó chủ yếu theo những quy đinh chung của luật công ty và đặc biệt là theo những qui định về thành lập SA.

– Điều kiện về nội dung:

Về ngành nghề, nguyên tắc chung là tự do, tất cả các hoạt động kinh tế đều có thể được thực hiện dưới hình thức SARL. Tuy nhiên, có một vài ngành nghề không được phép thực hiện dưới hình thức công ty này, chẳng hạn như bảo hiểm (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-1, khoản 4) hay đại lý thuốc lá. Đối với các ngành nghề tự do (luật sư, bác sỹ…), các nhà kinh doanh có thể lựa chọn công ty hành nghề tự do trách nhiệm hữu hạn, một phiên bản khác của SARL cổ điển.

Công ty trách nhiệm hữu hạn không được bao gồm quá 50 thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L. 223-3). Trong trường hợp vượt quá mức mức trần này, công ty có thời hạn 2 năm để chuyển đổi sang SA, hoặc là phải giảm số thành viên xuống đến mức 50, nếu không công ty tự động giải thể. Các thành viên không cần có tư cách thương nhân.

Về vốn pháp định, trước kia, luật qui định rằng, muốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn điều lệ ít nhất phải là 7.500 euro, riêng đối với công ty báo chí là 300 euro và hợp tác xã thủ công là 1.500 euro. Thế nhưng, Luật ngày 5/5/2003, với mục đích làm cho việc thành lập loại hình công ty này trở nên đơn giản hơn và nhanh hơn, đã bỏ qui định về vốn pháp định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, cả nhiều thành viên lẫn một thành viên. Theo đó, kể từ ngày 6/5/2003, ngày có hiệu lực của Luật ngày 5/5/2003, chỉ với 1 euro, nhà đầu tư ở Pháp có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn.

Việc góp vốn có thể thực hiện bằng tiền, bằng tài sản, quyền tài sản hay bằng góp sức (industrie). Việc góp vốn bằng industrie theo cách thức được xác định trong điều lệ (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-7, khoản 2, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 124). Việc góp vốn bằng tài sản và quyền tài sản phải tuân theo những qui định rất chặt chẽ về định giá.

Điều kiện về hình thức:

Những qui định về thủ tục thành lập công ty cổ phần cũng đồng thời được áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn. Tương tự, những sáng lập SARL cũng phải chịu trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những hành vi bất hợp pháp trong quá trình thành lập tương tự như các sáng lập viên của công ty cổ phần.

4.1.2 Quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn

Cấu trúc của SARL gọn nhẹ hơn so với SA vì nó chỉ có một cơ quan điều hành, đó là người quản lý. Quy chế của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiều điểm giống với tổng giám đốc trong SA.

Luật qui định rằng, người quản lý phải là thể nhân. Mặc dù người này không cần phải có tư cách thương nhân nhưng họ không được nằm trong các trường hợp bị cấm hành nghề thương mại. Những vần đề còn lại như độ tuổi, bằng cấp, thâm niên… sẽ do điều lệ công ty qui định. Họ có thể được chọn trong số các thành viên hoặc người thứ ba, với độ tuổi không bị hạn chế và việc kiêm nhiệm các chức vụ không bị giới hạn.

Người quản lý đầu tiên được chỉ định trong điều lệ hay trong một văn bản riêng lẻ (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18). Việc bổ nhiệm người quản lý mới phải được đăng báo và phải được thông báo cho Phòng Đăng ký Thương mại và Doanh nghiệp. Trừ khi điều lệ có qui định khác, nhiệm kỳ của người quản lý kéo dài theo sự tồn tại của công ty. Ngoài lý do chết và từ nhiệm, người quản lý có thể chấm dứt chức vụ do quyết định của các thành viên hay quyết định tư pháp. Quyết định của các thành viên được công nhận khi có một thành viên hoặc nhóm thành viên nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thông qua. Còn quyết định tư pháp được ban hành bởi tòa án khi có thành viên, bất kể là nắm giữ bao nhiêu phần trăm vốn góp, yêu cầu tòa án bãi nhiệm người quản lý với “lý do chính đáng” (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-25, khoản 2).

Đối với công ty chỉ có duy nhất một người quản lý, thì người này được có những quyền rộng rãi nhất để hành xử trong tất cả các tình huống nhân danh công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18). Còn đối với công ty có nhiều người quản lý, thì mỗi người quản lý đều có quyền ngang nhau trong việc ký kết văn bản nhân danh công ty. Chỉ cần một trong số những người quản lý ký vào hợp đồng thì công ty đã ràng buộc trách nhiệm của mình vào hợp đồng đó. Một người quản lý có thể phản đối văn bản mà người quản lý khác đã ký kết, nhưng sự phản đối này không có hiệu lực đối với người thứ ba, trừ khi người quản lý này đã thông báo ý kiến phản đối của mình đối với người thứ ba đó (tức người đã ký hợp đồng với người quản lý kia) trước khi ký hợp đồng. Do vậy, nếu người thứ ba đã biết ý kiến phản đối này mà vẫn ký kết hợp đồng thì hợp đồng đó không thể bắt buộc công ty phải thực hiện. Mặt khác, những người quản lý phải có nhiệm vụ giám sát lẫn nhau và sự thiếu giám sát đó có thể là một nguyên nhân dẫn đến trách nhiệm của người quản lý mà người đồng quản lý kia có thể viện dẫn để biện hộ cho hành vi của mình. Việc tồn tại nhiều người quản lý trong cùng một công ty trách nhiệm hữu hạn đặt ra nhiều khó khăn. Tuy nhiên, điều lệ công ty thường phân công mỗi người quản lý phụ trách một lĩnh vực khác nhau hay đòi hỏi họ phải hành động cùng nhau.

4.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Entreprise unipersonelle à responsabilité limitée – EURL)

Pháp luật Pháp trước kia quan niệm công ty là một hợp đồng được ký kết giữa ít nhất hai thành viên và do vậy, công ty chỉ có một thành viên không thể tồn tại. Thế nhưng, quan niệm đó không phù hợp với thực tiễn và nhu cầu kinh doanh nên cuối cùng, với Luật ngày 11/7/1985, dựa theo mô hình Einmann- GmbH của Đức, các nhà làm luật Pháp đã bắt đầu công nhận công ty một chủ có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Chế độ pháp lý cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chế độ của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên với những qui định riêng cần thiết phù hợp với đặc điểm một thành viên. Việc áp dụng qui định của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mang lại nhiều thuận lợi, nó cho phép nhà làm luật không cần phải thiết kế lại hoàn toàn một hình thức công ty mới. Hơn nữa, nó còn đơn giản hóa việc chuyển từ đặc điểm nhiều thành viên sang đặc điểm một thành viên và ngược lại. Theo đó, nếu thành viên duy nhất chuyển một phần vốn cho người khác hay một người khác góp thêm vốn vào để tăng vốn cho công ty, công ty sẽ trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên mà không cần chuyển đổi pháp lý.

4.2.1 Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể là một kết quả từ việc tập trung tất cả phần vốn góp của SARL vào tay một người. EURL còn có thể được thành lập bởi một quyết định đơn phương của một thể nhân để tạo thành một vỏ bọc pháp lý cho việc kinh doanh hoặc của một pháp nhân, để tạo thành một kỹ thuật cho phép chuyển hoạt động cho các công ty con trong khuôn khổ một tập đoàn. Một người, có thể là thể nhân lẫn pháp nhân, đều có thể thành lập nhiều EURL. Ngược lại, EURL không thể thành lập EURL khác (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-5).

Về ngành nghề, EURL được hoạt động trong các lĩnh vực tương tự như đối với SARL. Những người hành nghề tự do có thể hoạt động trong khôn khổ công ty hành nghề tự do trách nhiệm hữu hạn một chủ (SELARL unipersonelle). Đối với ngành nông nhiệp, các nhà làm luật đã thiết kế một công ty dân sự, có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn nông nghiệp (EARL), mà công ty này có thể là một thành viên.

Thành viên duy nhất nếu là thể nhân do không có tư cách thương nhân, có thể là một người không có năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên. Trong trường hợp này, việc quản lý công ty sẽ do người thứ ba thực hiện.

Về vốn, tương tự như SARL, kể từ ngày 6/5/2003, vốn pháp định đối với EURL đã bị xóa bỏ. Thành viên duy nhất của công ty thực hiện việc góp vốn bằng tiền mặt, bằng tài sản hay quyền tài sản, không thể góp vốn bằng industrie.

4.2.2 Hoạt động của EURL

– Quản lý

Thành viên duy nhất có thể tự đảm nhiệm chức vụ quản lý công ty. Trong trường hợp này, mặc dù thành viên – người quản lý này là người chủ duy nhất của công ty, nhưng không phải là người có thể làm bất cứ điều gì mà phải tuân thủ sự tách bạch tồn tại giữa những công việc của công ty và công việc cá nhân của mình. Do vậy, thành viên duy nhất này mà trong quá trình quản lý, ngoài khoản tiền lương hàng tháng hợp lệ được “thông qua”, không được rút tiền từ quỹ của công ty. Để đảm bảo tính khả thi của quy định này, pháp luật Pháp đã dự liệu khá cụ thể. Nếu như người quản lý là thành viên duy nhất này đã rút công quỹ, thì chế tài sẽ được tuyên như là đã chiếm đoạt tài sản riêng của một pháp nhân. Trong trường hợp phục hồi khả năng thanh toán hay thanh lý tư pháp, nếu như thành viên duy nhất này đã rút tài sản từ công ty thì chế độ trách nhiệm hữu hạn của EURL sẽ không còn được áp dụng1.

Việc quản lý công ty có thể được đảm trách bởi người thứ ba. Trong trường hợp này, về phương diện pháp lý, người quản lý có tư cách như một người được ủy quyền, trong khi về phương diện thuế và lao động, anh ta có tư cách như người lao động làm công ăn lương. Trong trường hợp EURL được thành lập bởi một pháp nhân, người quản lý nhất thiết phải là một thể nhân không phải là thành viên công ty vì trong công ty trách nhiệm hữu hạn, việc quản lý không thể được đảm nhận bởi một pháp nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18, khoản 1).

– Thông qua quyết định

Quyền hạn của hội đồng công ty được thực hiện bởi thành viên duy nhất của công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-21) và khi tiến hành việc này, anh ta không cần phải có nghĩa vụ trriệu tập chính mình (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-31). Chính thành viên duy nhất sẽ là người thông qua báo cáo tài chính của công ty, quyết định phân chia lợi nhuận, sửa đổi điều lệ. Nhưng những quyết định này muốn có hiệu lực phải được ghi vào sổ quyết định.

Thành viên duy nhất cũng chính là người thông qua các thỏa thuận mà công ty ký kết. Và tuy là người nắm giữ 100% số vốn của công ty nhưng thành viên duy nhất không thể tùy tiện ký kết hợp đồng với công ty. Chẳng hạn, việc thành viên duy nhất vay tài sản của công ty là một điều bị cấm, trừ phi thành viên duy nhất là một pháp nhân.

5. CÔNG TY HỢP DANH (Société en nom collectif – SNC)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty xuất hiện từ rất lâu đời. Các nhà sử học đã chứng minh rằng, những công ty đầu tiên xuất hiện trên thế giới (vào thời Trung Cổ ở Châu Âu) chính là những công ty có nhiều điểm tương đồng với công ty hợp danh và có một số khác tương đồng với công ty hợp vốn đơn giản của Pháp hiện nay. Chính vì sự xuất hiện từ rất lâu đời này, cộng với tính đơn giản trong hoạt động của nó, đã giải thích rằng trong một thời gian rất dài, công ty này như một kiểu mẫu gốc của các công ty.

Công ty hợp danh là công ty có đặc điểm thương mại rõ nét nhất. Giống như công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, nó là một công ty thương mại, kể cả khi ngành nghề của công ty không là các hành vi thương mại theo luật của Pháp. Nhưng tính thương mại đặc biệt thể hiện ở yếu tố thành viên công ty: các thành viên này nhất thiết phải có tư cách thương nhân, do vậy, những ai không đáp ứng đủ những điều kiện để trở thành thương nhân thì không thể trở thành thành viên công ty hợp danh.

Công ty hợp danh là loại hình công ty mà các thành viên dễ gặp rủi ro nhất: trách nhiệm của các thành viên vừa vô hạn, vừa liên đới với nhau. Mặc khác, nó cũng là công ty có tính đóng nhất: Luật qui định rằng, khi một trong số các thành viên chết, bị phá sản hay bị cấm thực hiện một hoạt động thương mại, công ty sẽ tự động bị giải thể, trừ khi điều lệ của công ty qui định khác (Bộ luật Thương mại, Điều L.221-16). Việc một thành viên cũ ra khỏi công ty hay một thành viên mới vào công ty cũng đòi hỏi phải có sự nhất trí của tất cả các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.221-13).

Và cuối cùng, đây là công ty mà luật ít can thiệp và thay vào đó là sự tự do hợp đồng của các thành viên được luật trao cho một phạm vi rất rộng rãi.

5.1 Việc sử dụng công ty hợp danh

5.1.1 Việc sử dụng công ty hợp danh bởi thể nhân

Công ty hợp danh, như chúng ta đã thấy, là một cấu trúc khá rủi ro đối với các thành viên, đặc biệt là nếu chúng ta so sánh nó với công ty trách nhiệm hữu hạn. Người ta sẽ không bao giờ chọn công ty hợp danh để thực hiện chung một hoạt động chuyên nghiệp, trừ khi theo truyền thống như đối với các dược sĩ, hoặc trừ khi người ta không thể nào làm khác đi như những người bán lẻ thuốc lá. Thế nhưng, đâu là lý do khiến ngày nay người ta vẫn thành lập công ty hợp danh?

Trước hết là vì công ty hợp danh thể hiện được tính đảm bảo bí mật, bởi vì nó không phải nộp báo cáo tài chính cho thư ký tòa thương mại, trừ khi tất cả các thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này không buộc họ phải phơi bày những tài sản nhạy cảm của mình.

Nhưng chính sự hấp dẫn về thuế mới là điều lý giải cho sự thành công của công ty hợp danh. Nếu như có sự minh bạch về thuế, công ty hợp danh sẽ không bị đóng thuế thu nhập doanh nghiệp; các thành viên phải đóng thuế tương ứng với phần lợi nhuận mà mình có được. Ngược lại, khi kết quả thua lỗ, mỗi thành viên chuyển vào báo cáo thu nhập của mình phần thua lỗ tương ứng của mình trong công ty. Trong một thời gian rất dài, những khoản lỗ từng loại có thể được khấu trừ trên tổng thu nhập. Vì lý do này, công ty hợp danh trở thành một công cụ kỳ diệu để đóng thuế ít hơn. Do vậy mà những người bị đánh thuế cao thường là thành viên của công ty hợp danh.

51.2 Việc sử dụng công ty hợp danh trong khuôn khổ các tập đoàn

Nếu trong sơ đồ tổ chức của các tập đoàn, người ta thấy có nhiều công ty hợp danh, đó là lý do thuế. Khi công ty con thua lỗ, nhờ vào tính minh bạch trong cấu trúc của nó, những khoản lỗ của công ty hợp danh được phép chuyển đến công ty mẹ. Từ cách đó, những khoản lỗ của công ty con được khấu trừ vào kết quả kinh doanh của công ty mẹ và do vậy, công ty mẹ sẽ đóng thuế ít hơn.

5.2 Thành lập công ty hợp danh

Để thành lập công ty hợp danh, số thành viên ít nhất phải là 2. Thành viên có thể là thể nhân hay pháp nhân. Vợ và chồng cũng có thể là các bên của cùng một công ty hợp danh. Các thành viên phải có đầy đủ tư cách thương nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 -1) và phải có năng lực hành vi để hành nghề thương mại. Do đó, người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, dù có người giám hộ cũng không thể là thành viên của công ty hợp danh.

Về ngành nghề, về nguyên tắc, công ty hợp danh có thể hoạt động trong bất cứ ngành nghề nào, kể cả thương mại hay dân sự. Tuy nhiên, có một số ngành nghề bị cấm hoạt động dưới hình thức công ty này như: bảo hiểm và các nghề tự do được pháp luật điều chỉnh. Chẳng hạn, các bác sỹ và luật sư không thể hoạt động nghề nghiệp của mình trong khuôn khổ công ty hợp danh vì họ bị cấm, một cách trực tiếp hay gián tiếp, có tư cách thương nhân.

Luật không quy định một ràng buộc nào về vốn điều lệ đối với công ty hợp danh: không có vốn tối thiểu, không có thời hạn phong tỏa vốn, không cấm việc góp vốn bằng industrie. Trong loại hình công ty này, vốn điều lệ có chức năng phân chia quyền hạn cho các thành viên công ty hơn là để thực hiện bảo đảm sự cam kết cho các khoản nợ, vì trách nhiệm cá nhân của các thành viên đối với các khoản nợ này đã là sự bảo đảm tốt nhất.

Ngoài ra, các quy định khác liên quan đến quá trình thành lập các công ty nói chung cũng sẽ áp dụng cho công ty hợp danh. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một đặc thù riêng của công ty hợp danh: Điều L.235 – 2 của Bộ luật Thương mại quy định rằng việc hoàn thành thủ tục đăng báo là bắt buộc và sự không hoàn thành nó có thể dẫn đến chế tài là công ty bị vô hiệu.

5.3 Người quản lý công ty hợp danh

5.3.1 Qui chế đối với người quản lý

Luật chứa đựng các quy định khá chi tiết về qui chế của người quản lý công ty hợp danh, nhưng những quy định này phần lớn chỉ đơn giản là để bổ sung trong trường hợp điều lệ công ty chưa có quy định. Điều đó có nghĩa là các thành viên có một sự tự do rất rộng rãi để tố chức công việc quản lý phù hợp.

Thật vậy, các thành viên sẽ chỉ định một hoặc nhiều người quản lý, hoặc là theo nguyên tắc nhất trí, hoặc là trên cơ sở đa số theo quy định trong điều lệ công ty. Không hề có một quy tắc bắt buộc trong việc chỉ định người quản lý và điều lệ sẽ tố chức việc quản lý theo ý muốn của các thành viên. Tất cả hình thức khác nhau đều có thể được:

– Các thành viên có thể chỉ định một hay nhiều người quản lý, nếu trong điều lệ không quy định thì tất cả các thành viên đều là người quản lý (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 3, khoản 1);

– Người quản lý có thể là thành viên hay môt người thứ ba;

– Tên của người quản lý có thể được ghi trong điều lệ hoặc không;

– Người quản lý có thể là một thể nhân hay một pháp nhân. Trong trường hợp người quản lý là một pháp nhân, người lãnh đạo pháp nhân quản lý có những nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự và dân sự như khi anh ta là người quản lý nhân danh chính mình;

– Người quản lý có thể là người Pháp hay người nước ngoài. Và trong cả hai trường hợp trên, người quản lý phải có thẻ thương nhân nếu công ty hành nghề một hoạt động chuyên nghiệp (professionel).

Cũng như tất cả các công ty khác, việc chỉ định hay chấm dứt chức vụ của người quản lý phải được thông báo đến Phòng đăng ký thương mại và doanh nghiệp.

Phương thức bãi nhiệm người quản lý thông thường do điều lệ quy định. Trong trường hợp điều lệ không quy định, Điều L.221 – 12 của Bộ luật Thương mại sẽ được áp dụng:

– Nếu tất cả thành viên là người quản lý, việc bãi nhiệm một người quản lý phải được quy định trên cơ

sở nhất trí của tất cả các thành viên khác. Điều đó kéo theo sự giải thể công ty, trừ khi điều lệ công ty hay các thành viên quy định khác (theo sự nhất trí). Người quản lý bị bãi nhiệm có thể quyết định rút khỏi công ty và yêu cầu bồi hoàn phần đóng góp của mình;

– Nếu việc quản lý được giao cho một hay nhiều thành viên được chỉ định trong điều lệ, qui tắc bãi nhiệm trên đây cũng được áp dụng;

– Nếu người quản lý là một thành viên không được chỉ định trong điều lệ, anh ta sẽ bị bãi nhiệm theo điều kiện được điều lệ quy định và điều này không kéo theo việc giải thể công ty. Trong trường hợp điều lệ không quy định, quyết định sẽ được thông qua trên cơ sở sự nhất trí của các thành viên khác;

– Nếu người quản lý không phải là thành viên, người này sẽ bị bãi nhiệm theo điều kiện do điều lệ công ty quy định. Nếu điều lệ công ty không quy định, thì sẽ quyết định theo đa số của các thành viên.

Người quản lý cũng có thể bị bãi nhiệm bởi Tòa án, theo yêu cầu của các thành viên, vì lý do chính đáng.

5.3.2 Quyền hạn của người quản lý

Trong quan hệ giữa các thành viên, nếu như trong điều lệ không có những quy định cụ thể về quyền hạn, người quản lý có thể thực hiện tất cả các hành vi quản lý trong lợi ích của công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 4). Trong quan hệ với người thứ ba, người quản lý sẽ không làm ràng buộc trách nhiệm của công ty nếu như những hành vi của anh ta không nằm trong ngành nghề của công ty. Nếu như có nhiều người quản lý thì mỗi người đều ràng buộc trách nhiệm công ty tương tự nhau. Do vậy, để tránh nhầm lẫn, khi ký kết hợp đồng với công ty, người ta cần phải xác minh tư cách của người quản lý và cả phạm vi ngành nghề của công ty.

5.3.3 Trách nhiệm của người quản lý

Trong trường hợp người quản lý vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ hay có sự sai sót trong quản lý, anh ta phải chịu trách nhiệm dân sự đối với công ty như người thứ ba. Về trách nhiệm hình sự, những tội đặc trưng về việc lạm dụng tài sản của công ty hay khai báo không trung thực về tài chính của công ty chỉ được viện dẫn trong các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Người quản lý công ty hợp danh chỉ chịu trách nhiệm hình sự theo luật chung.

5.4 Thành viên công ty hợp danh

Điều nổi bật trước tiên của thành viên công ty hợp danh là trách nhiệm vô hạn và liên đới của họ. Về tính chất của trách nhiệm này tương tự như các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh của Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật Pháp quy định rõ ràng hơn trong vấn đề thực thi trách nhiệm này. Khi công ty có một món nợ, hiển nhiên là chủ nợ phải yêu cầu công ty thanh toán trước tiên; nhưng nếu điều này không thành công, chủ nợ sẽ yêu cầu các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 1). Sau 8 ngày kể từ ngày chủ nợ gửi yêu cầu yêu cầu công ty thanh toán nợ mà công ty vẫn chưa thanh toán, chủ nợ có thể yêu cầu các thành viên thanh toán. Tính liên đới của trách nhiệm cho phép chủ nợ có thể yêu cầu bất kỳ thành viên nào của công ty thanh toán toàn bộ số nợ cho mình. Người “được lựa chọn” chỉ có thể phải thực hiện, không thể yêu cầu chủ nợ phải yêu cầu công ty cũng như không thể đòi chủ nợ chia yêu cầu đến tất cả các thành viên. Hơn nữa, khác với trong công ty dân sự, sự phá sản hay thanh lý tư pháp công ty dẫn đến sự phá sản hay thanh lý thành viên công ty (Bộ luật Thương mại, Điều 624 – 1).

Sau đó, người mà đã trả tất cả khoản nợ có thể quay lại yêu cầu công ty thanh toán lại, anh ta cũng có thể yêu cầu đến các đồng thành viên trong công ty và trong trường hợp này, các đồng thành viên khác phải hoàn lại số nợ cho người đã thanh toán theo tỷ lệ được quy định trong điều lệ công ty hoặc, nếu trong điều lệ công ty không quy định, theo tỷ lệ phần đóng góp vào vốn điều lệ (Bộ luật Dân sự, Điều 1844, khoản 1).

Về chế độ chuuyển nhượng phần vốn góp, phần vốn góp không thể chuyển nhượng được như cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 13). Việc chuyển nhượng sẽ tuân theo những quy định của điều lệ công ty như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn.

5.5 Kiểm toán viên

Việc chỉ định kiểm toán viên nội bộ chỉ bắt buộc nếu công ty vượt qua những mức sàn quy định. Và ngay cả trong trường hợp những mức sàn này không đạt được, các thành viên vẫn có thể bổ nhiệm một hoặc nhiều kiểm toán viên để kiểm soát hoạt động tài chính công ty.

6. CÔNG TY HỢP VỐN ĐƠN GIẢN (Société en commandite simple)

Công ty hợp vốn đơn giản có nhiều khía cạnh tương tự như công ty hợp vốn cổ phần, nhưng nó có điểm khác biệt cơ bản với công ty này là ở chỗ vốn của nó không được đại diện bởi những chứng khoán có thể chuyển nhượng. Công ty hợp vốn đơn giản có thời thịnh hành dưới Chế độ cũ của Pháp2, nó cho phép một thương nhân có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn được tận dụng phần vốn góp của thành viên góp vốn – người nắm giữ vốn nhưng không thể tự tiến hành các hoạt động thương mại do quy chế của mình, như quý tộc, tăng lữ, thẩm phán… Dưới sự lấn át của công ty cố phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp vốn đã trở nên lỗi thời.

Thông thường, những công ty này được ra đời trên cơ sở chuyển đổi từ công ty hợp danh để có thể kết nạp người thừa kế của thành viên hợp danh đã chết làm thành viên hợp vốn do thừa kế này chưa thành niên (nên không có tư cách thương nhân và do vậy không thể là thành viên hợp danh.

Công ty hợp vốn đơn giản, giống như công ty hợp vốn cổ phần, là một công ty bất bình đẳng, cho phép hợp tác giữa những nhà kinh doanh (thành viên hợp danh) và nhà đầu tư (thành viên hợp vốn).

Thành viên hợp danh (có thể chỉ có 1 thành viên hợp danh duy nhất trong công ty), có địa vị pháp lý trương tự như thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Họ phải có tư cách thương nhân, có quyền rất lớn trong việc quản lý công ty và phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với mọi khoản nợ của công ty. Ngược lại, thành viên góp vốn có một vị trí thứ hai trong công ty bởi lẽ họ gánh chịu ít rủi ro hơn. Họ không phải có tư cách thương nhân và trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong phạm vi vốn góp của mình. Và khác với trong công ty hợp vốn cổ phần, thành viên hợp vốn không phải là cổ đông côngty.

Như vậy, có thể nói, công ty hợp vốn đơn giản có bản chất giống như công ty hợp danh mà trong đó có thành viên góp vốn theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 của Việt Nam.

CÁC BẠN ĐỌC PHẦN 1 BÀI THEO LINK SAU: http://phapluatdansu.edu.vn/2008/02/19/cc-loẠi-hnh-doanh-nghiỆp-phỔ-biẾn-Ở-php/

Chú thích:

1 Giả định này không phải chỉ nằm trên lý thuyết: Ví dụ, như bản án của Tòa phúc thẩm Renné, ngày 08/01/1992.

2 Chế độ cũ (Ancien Régime): từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, chỉ giai đoạn từ lúc phục hồi quyền lực hoàng gia dười thời Louis XI (1461-1483) và Cách mạng Pháp (1789-1799). Xem thêm: http://www.hku.hk/french/dcmScreen/lang2044/histoire_ancienregime.htm

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2006

BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT CHÂU ÂU VÀ HOA KỲ

THS. PHAN NGỌC TĀM –  Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài năm trở lại đây, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng thế giới đã được đưa vào thị trường Việt Nam và trở thành những nhãn hiệu quen thuộc của người tiêu dùng trong nước như nước giải khát Pepsi, Coca Cola, xe hơi Ford, Toyota, sản phẩm thời trang Gucci, CK… Những nhãn hiệu này đã và đang đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia, đòi hỏi chúng ta cần phải có một cách nhìn nhận đúng đắn và có sự quan tâm cần thiết đến việc bảo hộ đối tượng này một cách hiệu quả và kịp thời trên thực tế. Trong thời gian qua, Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng. Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng như Công ước Paris và Thoả ước Madrid từ năm 1949. Và những qui định mang tính nguyên tắc của các văn bản này về cơ bản đã được chuyển hóa và vận dụng một cách phù hợp trong hệ thống pháp luật quốc gia, đặc biệt là trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Tuy nhiên, những cố gắng kể trên nhìn chung chỉ thể hiện ở bề nổi và mang tính vĩ mô nhiều hơn chứ chưa đi vào giải quyết một cách kịp thời và hiệu quả những nhu cầu thực tiễn mà xã hội đang đặt ra, đặc biệt là đối với việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng.

Trong bối cảnh nước ta đang tiến đến rất gần mục tiêu hội nhập vào nền kinh tế thế giới, mà đích đến cụ thể của quá trình đó chính là việc gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam sẽ trở thành một thị trường thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Và một thực tế trước mắt mà bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy là sẽ có rất nhiều các nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ nổi tiếng thế giới xuất hiện trên thị trường Việt Nam. Nhu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ càng thể hiện rõ hơn bao giờ hết. Chúng ta cần có những động thái cụ thể và hiệu quả hơn trong công tác lập pháp cũng như trong quá trình áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để tạo lập một môi trường pháp lý an toàn nhằm tạo sự tin cậy và an tâm đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Với bài viết này, tác giả mong muốn làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về nhãn hiệu nổi tiếng cũng như cung cấp một số thông tin liên quan đến các hệ thống pháp luật được coi là khá tiến bộ trong lĩnh vực này, đó là hệ thống pháp luật của Liên Minh Châu Âu và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.

II. KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIÊU HÀNG HÓA NỔI TIẾNG

Nhãn hiệu (Trademark) là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nó đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác. Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu hàng hóa luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu hàng hóa. Vì vậy nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Nhãn hiệu hàng hóa đã trải qua một lịch sử phát triển khá dài trong suốt quá trình phát triển của nền thương mại thế giới. Từ thời La Mã cổ đại, việc các nhà sản xuất chạm nổi hay đóng dấu lên các sản phẩm của mình là khá phổ biến. Đó là một hình thức thể hiện của nhãn hiệu hàng hóa, qua những hình thể chạm nổi hay các con dấu mà họ có thể phân biệt xuất xứ hàng hóa của các nhà sản xuất với nhau.

Ngày nay, nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng một cách phổ biến hơn với nhiều thể loại hơn. Và nó là một hình thức rất có giá trị của quyền sở hữu trí tuệ bởi vì nó gắn liền với chất lượng cũng như sự mong đợi của người tiêu dùng đối với hàng hóa và dịch vụ.1 Nhiều sản phẩm hàng hóa đã trở nên đồng nhất với tên nhãn hiệu của chúng, chẳng hạn như nước giải khát Coca Cola, cà phê Nestcafé, quần Jean Levi’s… Những sản phẩm này thực sự đã trở nên nổi tiếng và được biết đến một cách rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Đây cũng là một thành công quan trọng của các nhà sản xuất và các thương nhân trong việc quảng bá sản phẩm của họ. Tuy nhiên, chính sự nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa cũng mang lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp vì nó sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác. Ngày càng có nhiều các hàng hóa và dịch vụ tương tự với những hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng được sản xuất và điều này đã gây ra sự nhầm lẫn của người tiêu dùng trong việc lựa chọn và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ thật sự mà họ mong muốn. Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là phải làm thế nào ngăn chặn các hiện tượng xâm phạm đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng như thế. Mặc dù đã được biết đến từ rất lâu, song cho đến hiện nay cách hiểu về “nhãn hiệu nổi tiếng” vẫn còn đang rất khác nhau trong các điều ước quốc tế cũng như trong pháp luật các nước. Công ước Paris năm 1883 2 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã lần đầu tiên đề cập đến nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng tại Điều 6bis 3 bằng cách quy định nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia thành viên trong việc từ chối hay hủy bỏ mọi sự đăng ký cũng như ngăn cấm mọi sự sử dụng của nhãn hiệu hàng hóa mà nó được coi là một sự sao chép, một sự bắt chước, một bản dịch hoặc có thể gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nổi tiếng4; và quy định về khoảng thời gian cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ sự đăng ký đối với những nhãn hiệu xâm phạm.5 Tuy nhiên, Công ước lại không hề đưa ra một định nghĩa chính thức và rõ ràng về “nhãn hiệu nổi tiếng”. Chỉ có một căn cứ duy nhất để xác định một nhãn hiệu hàng hóa trở nên nổi tiếng, đó là sự chấp nhận hay thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký hay quốc gia nơi sản phẩm được sử dụng.

Theo những quy định của Hiệp định TRIPs,6 vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhìn chung dựa trên các nguyên tắc được ấn định bởi Công ước Paris với những sự thay đổi và bổ sung phù hợp. Theo đó, khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” không chỉ được sử dụng cho đối tượng là hàng hóa mà còn được sử dụng cho cả các đối tượng dịch vụ, và Hiệp định cũng ghi nhận một số căn cứ chung để xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nổi tiếng hay không 7. Ngoài ra, Hiệp định cũng mở rộng phạm vi các nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ, bao gồm cả các nhãn hiệu được coi là rất nổi tiếng.

Bên cạnh các điều ước quốc tế nói trên, chúng ta cũng có thể tìm thấy các quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, chẳng hạn, Đạo luật về Nhãn hiệu hàng hóa năm 1938 và sau đó được sửa đổi bởi Đạo luật Nhãn hiệu hàng hóa năm 1994 của Vương quốc Anh, Đạo luật Lanham năm 1946 của Hoa Kỳ (được sửa đổi bởi Đạo luật Liên bang về Sự mờ nhạt nhãn hiệu hàng hóa năm 1995), Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa của Hàn Quốc, Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa và Bộ luật về Sở hữu trí tuệ của Pháp, Luật nhãn hiệu hàng hóa Canada năm 1985… Tuy nhiên, pháp luật của không ít quốc gia đã không đưa ra được một hệ thống các tiêu chí cụ  thể để xác định “nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng”. Do vậy, trên thực tế khái niệm này sẽ được xác định bởi các Tòa án hay các cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.8

Theo luật về nhãn hiệu hàng hóa của Nga năm 1992, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng cũng như những vụ việc, tình huống liên quan đến việc chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu sự công nhận đối với nhãn hiệu nổi tiếng ở Nga sẽ được xem xét bởi Phòng Patent tối cao (Supreme Patent Chamber).9 Ở Trung Quốc, thông qua các quy định hiện hành của Luật Nhãn hiệu hàng hóa và các quy định hướng dẫn thi hành Luật Nhãn hiệu hàng hóa, lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận một cách chính thức nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong hệ thống pháp luật của họ dù rằng Trung Quốc đã chính thức trở thành thành viên của công ước Paris từ rất sớm. Luật Nhãn hiệu hàng hóa của Trung Quốc đã đưa ra một định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng hơi khác so với các nước khác. Cụ thể, nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký mà nó có một bộ phận khách hàng thực tế và được coi là nổi tiếng trong bộ phận công chúng liên quan. Như vậy, một nhãn hiệu hàng hóa có thể là nhãn hiệu nổi tiếng ở các nước khác nhưng chưa được đăng ký ở Trung Quốc thì sẽ không được xem là nhãn hiệu nổi tiếng để được hưởng chế độ pháp lý về bảo hộ theo Luật Nhãn hiệu hàng hóa của nước này.10

Mặc dù có những sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, chúng ta vẫn có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng. Theo đó, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng (well-known trademark) được hiểu là nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi bởi nhiều người trong những phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc được xem xét, thừa nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ hay được sử dụng.

Như vậy, nhãn hiệu nổi tiếng trước hết phải là một nhãn hiệu hàng hóa, bao gồm các “ký tự, hình ảnh hay dấu hiệu hoặc sự kết hợp của những yếu tố đó được sử dụng cho những hàng hóa hay dịch vụ bởi một người mà người đó đã sản xuất, gia công, đảm bảo hay bán những hàng hóa, dịch vụ đó nhằm mục đích thương mại để phân biệt với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác”.11 Tuy nhiên, với cách hiểu như đã đề cập ở phần trước, nhãn hiệu nổi tiếng có những đặc trưng nổi bật so với các nhãn hiệu hàng hóa thông thường khác. Đó là:

Thứ nhất, một nhãn hiệu nổi tiếng phải là nhãn hiệu có tính phân biệt. Thông qua một nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, người tiêu dùng có thể nhận biết ngay loại hàng hóa hay dịch vụ mà nhãn hiệu đó được sử dụng. Ví dụ, khi nói đến nhãn hiệu Coca Cola, người tiêu dùng sẽ nghĩ ngay đến nước giải khát, hoặc khi nói đến Toyota, họ sẽ nghĩ ngay đến xe hơi…

Thứ hai, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thường có tính phổ biến cao. Một nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được biết đến bởi nhiều người ở nhiều khu vực địa lý khác nhau. Chẳng hạn, Ford là một nhãn hiệu xe hơi của Hoa Kỳ nhưng nó lại được biết đến bởi người tiêu dùng trên hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Thứ ba, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thường có giá trị kinh tế lớn và rất lớn. Nó cấu thành một bộ phận tài sản quan trọng trong khối lượng tài sản của doanh nghiệp. Thật vậy, có không ít nhãn hiệu nổi tiếng đã trở thành một phần tài sản quan trọng, thậm chí đóng vai trò quyết định, trong khối lượng tài sản các công ty sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Trên thực tế, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng của mình như là một loại vốn để đưa vào các hoạt động đầu tư, kinh doanh…

Một nhãn hiệu hàng hóa chỉ có thể trở thành nhãn hiệu nổi tiếng nếu nó thỏa mãn những yêu cầu hay tiêu chí nhất định do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng minh hoặc theo quy định của pháp luật. Bất kể sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật của các quốc gia trong lĩnh vực lập pháp cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật, chúng ta cũng có thể khái quát các trường hợp chung nhất mà theo đó một nhãn hiệu hàng hóa sẽ được công nhận là nổi tiếng. Đó là: Sự lặp đi lặp lại của nhãn hiệu trong một bộ phận công chúng liên quan; Mức độ được biết đến của nhãn hiệu trong công chúng; Quy mô và khoảng thời gian sử dụng nhãn hiệu; Thời gian, mức độ và phạm vi địa lý của bất kỳ sự quảng cáo hay thông tin cho nhãn hiệu; Mức độ của tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của nhãn hiệu nổi tiếng; Bản chất của những loại hàng hóa, dịch vụ và những kênh lưu thông cho những hàng hóa, dịch vụ mà nhãn hiệu được sử dụng; Bản chất và mức độ sử dụng của những nhãn hiệu giống hoặc tương tự bởi bên thứ ba; Lịch sử của quá trình thực thi quyền trong việc bảo hộ nhãn hiệu; Những quốc gia nơi nhãn hiệu đã được đăng ký.

Những yếu tố được đề cập trên đây chỉ là những căn cứ chung được thừa nhận một cách rộng rãi trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể cũng như quan điểm lập pháp riêng của mỗi quốc gia mà họ có thể đưa ra các quy định cụ thể liên quan đến việc thừa nhận nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng.

III. BẢO HỘ NHÃN HIÊU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT LIÊN MINH CHÂU ÂU

Các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở Cộng đồng Châu Âu được ghi nhận trong hai văn bản pháp luật quan trọng được ban hành liên quan một cách trực tiếp đến pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa, đó là Văn bản hướng dẫn đầu tiên năm 1988, 104/89/EEC, về hài hòa pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của các quốc gia và Quy định của Hội đồng năm 1993, 40/94/EC, về Nhãn hiệu hàng hóa Cộng đồng.

Văn bản hướng dẫn 104/89/EEC được ban hành không phải nhằm mục đích thống nhất tất cả các hệ thống pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của các quốc gia. Mục đích của nó chỉ là hướng đến cố gắng làm giảm đi sự khác biệt giữa các hệ thống nhãn hiệu hàng hóa quốc gia là nguyên nhân gây ra những rào cản cho thương mại và ảnh hưởng đến sự lưu thông tự do hàng hóa, dịch vụ cũng như hạn chế sự phát triển của các thị trường đơn lẻ. Văn bản hướng dẫn nhấn mạnh những nội dung mấu chốt của luật thực định hơn là những vấn đề của luật hình thức.12 Có ba điều khoản quan trọng của văn bản liên quan đến cơ chế đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cũng như việc xác lập quyền thông qua đăng ký, đó là:

– Điều 3: Chỉ ra những căn cứ cho việc từ chối hay vô hiệu hóa sự đăng ký của các nhãn hiệu hàng hóa;

– Điều 4: Đề cập đến những trường hợp được coi là gây ra sự xung đột với những nhãn hiệu hàng hóa trước đó;

– Điều 5: Xác lập quyền thông qua thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa.

Quy định 40/94/EC của Hội đồng Châu Âu năm 1993 chủ yếu đề cập đến những vấn đề liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng. Vì thế, nó còn được biết đến với tên gọi Quy định về Nhãn hiệu hàng hóa Cộng đồng (Community Trade Mark Regulation – CTMR). Quy định này cũng đưa ra những nguyên tắc chung nhất về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng, và những phương thức và trình tự cụ thể của quá trình đăng ký và bảo hộ quốc tế đối với đối tượng này ở khu vực châu Âu sẽ được quy định bởi pháp luật quốc gia.

Văn bản hướng dẫn 89/104/EEC đã đề cập một số vấn đề liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thông qua việc quy định những căn cứ làm cơ sở cho việc từ chối hay hủy bỏ đăng ký đối với những nhãn hiệu hàng hóa được coi là xung đột với các nhãn hiệu hàng hóa trước đó.13 Trong đó, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng là một trong những căn cứ quan trọng mà các cơ quan có thẩm quyền phải cân nhắc, xem xét khi tiếp nhận và đánh giá đơn đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Châu Âu.

Nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng có thể được bảo hộ ngay cả khi chúng chưa được đăng ký bởi cơ quan có thẩm quyền. Điều này có nghĩa rằng, đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, việc bảo hộ không chỉ được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “quyền ưu tiên đăng ký” (first – to – file) mà còn dựa trên nguyên tắc “quyền ưu tiên sử dụng” (first – to – use)14.

Theo những quy định tại Điều 4 của Văn bản hướng dẫn 89/104/EEC, một nhãn hiệu hàng hóa sẽ không thể được đăng ký, hoặc nếu đã được đăng ký sẽ có thể bị tuyên bố vô hiệu ở các quốc gia Châu Âu nếu nó bị coi là giống hoặc tương tự với những nhãn hiệu đã được đăng ký được sử dụng cho những hàng hóa hay dịch vụ tương tự, hoặc nó có thể gây ra sự nhầm lẫn với những nhãn hiệu Cộng đồng trước đó.15 Khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa trước đó” (earlier trademark) được hiểu bao gồm cả những nhãn hiệu được thừa nhận là nổi tiếng phù hợp với quy định tại Điều 6bis của Công ước Paris 1883. Điều này cũng tiếp tục được khẳng định một lần nữa tại Quy định về nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng năm 1993.16

Căn cứ về nguy cơ gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu hàng hóa trước đó là một căn cứ quan trọng cho việc từ chối yêu cầu đăng ký đối với một nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, việc xác định thuật ngữ “nguy cơ gây nhầm lẫn” (likelihood of confusion)17 là rất khó khăn trên thực tế, nhất là trong việc phân biệt nó với những thuật ngữ tương tự khác. Chẳng hạn, trong phán quyết của Tòa án về vụ kiện “Sabel v. Puma AG”, thuật ngữ “nguy cơ gây nhầm lẫn” mà nó bao gồm cả “nguy cơ liên tưởng” (likelihood of association) với những nhãn hiệu hàng hóa trước đó được giải thích theo nghĩa rằng sự nhầm lẫn liên tưởng mà công chúng có được giữa hai nhãn hiệu hàng hóa như là kết quả của sự giống hay tương tự về mặt ngữ nghĩa học sẽ không trở thành một căn cứ có ý nghĩa cho việc quyết định rằng có một “nguy cơ gây nhầm lẫn” theo quy định tại Điều 4 (1) (b) của Văn bản hướng dẫn. Sự tồn tại của một “nguy cơ liên tưởng” sẽ không đồng nghĩa với sự tồn tại một “nguy cơ gây nhầm lẫn” trên thực tế. Hay nói cách khác, “nguy cơ liên tưởng” ở đây không có giá trị thay thế cho một “nguy cơ gây nhầm lẫn”.18 Bởi vì điều này và cũng dựa trên kết quả nghiên cứu mà nó đã chỉ ra rằng PUMA không phải là một nhãn hiệu nổi tiếng đặc biệt ở Châu Âu, Tòa án đã tuyên rằng cơ quan có thẩm quyền không thể từ chối đăng ký cho nhãn hiệu SABEL.

Ngoài ra, còn có một nguyên tắc quan trọng khác liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Châu Âu quy định rằng việc bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng sẽ không chỉ bị giới hạn trong phạm vi những hàng hóa và dịch vụ tương tự. Theo đó, phạm vi bảo hộ sẽ được mở rộng cho cả những trường hợp nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng cho những loại hàng hóa hay dịch vụ không tương tự khi những sự sử dụng như thế có thể gây thiệt hại hoặc tạo ra những điều kiện bất lợi cho danh tiếng của nhãn hiệu trước đó.19 Và khi một nhãn hiệu đã được công nhận là nổi tiếng tại một trong những nước thành viên của Liên minh, nó sẽ đương nhiên trở thành nhãn hiệu nổi tiếng trong toàn Liên minh.

Như vậy, nhãn hiệu nổi tiếng ở Châu Âu sẽ được bảo hộ chủ yếu thông qua các Điều ước quốc tế và các Văn bản pháp luật thống nhất của Liên minh. Bên cạnh đó, các hệ thống pháp luật độc lập của các quốc gia thành viên cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra các tiêu chí và quy định cụ thể về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trên lãnh thổ quốc gia mình.

IV. BẢO HỘ NHÃN HIÊU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ

Những thành công mà Hoa Kỳ đạt được cho đến nay là nhờ những chính sách và chiến lược đúng đắn trong việc kích thích quảng cáo và nâng cao chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp. Đó là một sự thật không thể chối cãi. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói riêng và hệ thống các chính sách về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Chính sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật này đã tạo được một nền tảng cơ bản và tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nền kinh tế.

Khác với các quốc gia Châu Âu và nhiều nước trên thế giới, Hoa Kỳ chưa phải là thành viên của Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như một số các cam kết quốc tế khác về lĩnh vực này. Do vậy, về nguyên tắc Hoa Kỳ sẽ không chịu sự ràng buộc bởi các quy định của các điều ước quốc tế này. Điều này cũng có nghĩa rằng Hoa Kỳ sẽ không thể kế thừa và tận dụng được những thành tựu pháp lý quốc tế liên quan đến lĩnh vực này một cách chính thức như nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở Hoa Kỳ hiện nay lại thật sự tỏ ra khá hoàn chỉnh và hiệu quả ở cả cấp độ liên bang lẫn tiểu bang.

Việc thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Hoa Kỳ hiện nay chủ yếu dựa trên những quy định của Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa năm 1946 mà nó còn được biết đến với tên gọi Đạo luật Lanham. Thế nhưng Đạo luật này lại không đề cập một cách cụ thể đến nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng. Đến năm 1995, Nghị viện Hoa Kỳ mới thông qua một Đạo luật mới, Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa (FTDA).20 Đạo luật này được ban hành nhằm bổ sung, sửa đổi Đạo luật về Nhãn hiệu hàng hóa năm 1946, cụ thể là sửa đổi nội dung của Điều 43, quy định về sự đền bù hay bồi thường cho việc làm lu mờ đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng. Đạo luật sửa đổi này đã mô tả các yếu tố để xác định một nhãn hiệu hàng hóa là phân biệt và nổi tiếng, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa chính xác về thuật ngữ “sự lu mờ” (dilution), theo đó, sự lu mờ sẽ được hiểu là việc làm giảm khả năng của nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong việc xác định và phân biệt đối với hàng hóa hay dịch vụ mang nhãn.21 Bằng việc đưa ra những quy định mới này, lần đầu tiên nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng được pháp điển hóa trong hệ thống lập pháp Hoa Kỳ.

Mặc dù có những sự khác biệt cơ bản so với hệ thống pháp luật Châu Âu về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng, nhưng đối với việc quy định nguyên tắc cơ bản điều chỉnh lĩnh vực này, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và Châu Âu lại có một điểm tương đồng, đó là sự ghi nhận nguyên tắc “quyền ưu tiên sử dụng” (first to use) một cách chính thức trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế lại không giống nhau. Nếu như trong hệ thống pháp luật Châu Âu, nguyên tắc “quyền ưu tiên sử dụng” được áp dụng trong sự kết hợp với nguyên tắc “quyền ưu tiên nộp đơn” (first to file) cùng với sự cân nhắc của Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác thì trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, nguyên tắc này lại phải được áp dụng trong sự xem xét, cân nhắc của Tòa án trên cơ sở các nguyên tắc chung của Luật công bằng (Equity). Điều này thật ra cũng dễ hiểu vì Hoa Kỳ là một quốc gia theo hệ thống Luật Chung (Commmon Law), và trong hệ thống này thì các nguyên tắc của Luật công bằng là một trong những nguyên tắc chủ đạo chi phối tất cả các lĩnh vực của đời sống pháp lý.

Cho đến nay, không có một định nghĩa chính xác về khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng” ở Hoa Kỳ. Điều này cũng tương tự như tình trạng thực tế hiện nay ở Châu Âu cũng như ở rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Vì vậy, việc xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không là rất phức tạp. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ, đều trao thẩm quyền cho các cơ quan chức năng (thông thường là Tòa án hoặc các Văn phòng quốc gia về Sở hữu công nghiệp) trong việc xác định sự nổi tiếng của các nhãn hiệu hàng hóa trong những trường hợp cụ thể. Và lẽ dĩ nhiên những quyết định hay sự xem xét như thế trước tiên sẽ phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản chung đã được quy định bởi pháp luật.

Theo những quy định tại Điều 3 của Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa năm 1995, chủ sở hữu của nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng sẽ có quyền, phù hợp với nguyên tắc của Luật công bằng và tuỳ thuộc vào sự xem xét của Tòa án, yêu cầu một Lệnh của Tòa án chống lại mọi sự sử dụng nhằm mục đích thương mại của người khác đối với nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại, nếu sự sử dụng như thế được bắt đầu sau khi nhãn hiệu hàng hóa của chủ sở hữu trở nên nổi tiếng và những sự sử dụng đó có thể làm lu mờ hay làm giảm chất lượng hay khả năng phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng.

Và để có thể xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không, Tòa án sẽ phải cân nhắc, xem xét đến các yếu tố sau đây:

– Mức độ của tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của nhãn hiệu;

– Khoảng thời gian và mức độ sử dụng nhãn hiệu trong mối liên hệ với hàng hóa hay dịch vụ mà nhãn hiệu được sử dụng;

– Khoảng thời gian và quy mô của các hoạt động quảng cáo hay phổ biến nhãn hiệu;

– Phạm vi địa lý của các khu vực thương mại mà nhãn hiệu được sử dụng;

– Các kênh lưu thông đối với hàng hóa hay dịch vụ mà qua đó nhãn hiệu được sử dụng;

– Mức độ công nhận nhãn hiệu trong các khu vực thương mại và các kênh lưu thông hàng hóa hay dịch vụ được sử dụng bởi chủ sở hữu nhãn hiệu;

– Bản chất và mức độ của việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giống hay tương tự của bên thứ ba;

– Nhãn hiệu đã được đăng ký theo Đạo luật ngày 03/03/1881 hoặc Đạo luật ngày 20/02/1905, hoặc đăng ký nguyên tắc hay chưa.22

Vấn đề trọng tâm của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng theo pháp luật Hoa Kỳ chính là sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa. Thuật ngữ này đã được đưa ra và sử dụng trong một thời gian khá dài trước khi được đề cập trong luật. Nó được định nghĩa lần đầu tiên bởi Schechter vào năm 1927 để bảo vệ chống lại “sự biến mất dần dần hay sự phân tán những đặc tính và sự nhận biết của công chúng đối với nhãn hiệu hàng hóa bởi sự sử dụng nó cho những sản phẩm phi cạnh tranh”. Một năm sau đó, Thẩm phán Learned Hand, trong vụ kiện “Yale Electric Corporation v. Robertson” (năm 1928), đã chấp thuận một Lệnh cho phép chống lại sự sử dụng của bị đơn đối với nhãn hiệu hàng hóa tương tự với nhãn hiệu của nguyên đơn nhưng chỉ cho những hàng hóa phi cạnh tranh.23

Ở góc độ chung nhất, khái niệm về “sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa” được hiểu là sự làm giảm đi khả năng của nhãn hiệu nổi tiếng trong việc nhận biết và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ, bất kể có tồn tại hay không tồn tại một sự cạnh tranh giữa chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng và các bên khác, hay khả năng gây nhầm lẫn, lỗi lầm hay lừa dối.24 Định nghĩa này rõ ràng đã khẳng định rằng nguy cơ gây nhầm lẫn, mặc dù là một căn cứ cơ bản của sự xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa, không phải là một yếu tố được yêu cầu cho sự lu mờ theo quy định của pháp luật. Hơn nữa, lịch sử lập pháp Hoa Kỳ đã cho chúng ta thấy một điều rằng khái niệm về sự lu mờ được mô tả bao gồm tất cả những hình thức của sự làm lu mờ được thừa nhận một cách hợp pháp.25

Nhìn chung, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ có rất nhiều điểm khác biệt so với pháp luật Châu Âu cũng như các hệ thống pháp luật khác trên thế giới. Điều này là do đặc điểm kinh tế – chính trị và truyền thống pháp luật quy định. Những thành tựu mà Hoa Kỳ đã đạt được trong quá trình bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng là hết sức thực tế. Điều này đã được chứng minh thông qua những số liệu thống kê về số lượng các nhãn hiệu hàng đầu thế giới trong những năm vừa qua.26

V. LỜI KẾT

Ở Việt Nam, về cơ bản chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng khá phong phú và ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong một chừng mực nhất định, có thể nói hệ thống pháp luật của chúng ta đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của thực tiễn, cho dù những đóng góp đó còn quá nhỏ bé so với nhu cầu to lớn đang được đặt ra. Những quy định cụ thể liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, đặc biệt là đối với nhãn hiệu nổi tiếng là còn rất thiếu, nếu không nói là hầu như chưa có gì đáng kể.

Có thể nói những quy định nói trên của pháp luật Việt Nam là không khác nhiều so với các quy định của pháp luật Châu Âu và Hoa Kỳ như đã phân tích ở các phần trước. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa rằng hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng của chúng ta đã đủ hoàn chỉnh. Chúng ta cần phải nhận thấy một điều quan trọng là việc đánh giá hệ thống các quy định pháp luật này cần phải được đặt trong các yếu tố kinh tế – xã hội. Và nếu nhìn nhận từ góc độ đó, rõ ràng các quy định pháp luật của chúng ta hiện nay còn có rất nhiều vấn đề phải khắc phục, chẳng hạn như vấn đề liên quan đến tính hợp lý, tính khả thi, tính khoa học… Đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung ở Việt Nam, việc tham khảo và tranh thủ các thành tựu pháp lý quốc tế và các nước là hết sức cần thiết. Trong đó, hệ thống pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ là những hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới mà Việt Nam cần nghiên cứu học hỏi.

Chú thích:

1 David I Bandbride, Sở hữu trí tuệ, tại Luân Đôn, 1999, tr. 521.

2 Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được ban hành ngày 20/03/1883 tại Paris với hơn 100 quốc gia ký kết, công ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 07/03/1884, được sửa đổi nhiều lần như tại Brussels ngày 14/12/1900, tại Washington ngày 02/06/1911, tại Hague ngày 06/11/1925, tại Luân Đôn ngày 02/06/1934, tại Lisbon ngày 31/10/1958 và ại Stockholm ngày 14/07/1967. Sau đó, Công ước được tiếp tục sửa đổi tại Brussels năm 1990 và tại Washington năm 1991.

3 Điều khoản này được bổ sung và ghi nhận vào Công ước trong lần sửa đổi năm 1967 ở Stockholm.

4 Điều 6bis, khoản 1, Công ước Paris.

5 Điều 6bis, khoản 2 và 3, Công ước Paris.

6 Hiệp định về những ảnh hưởng ở khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ được ký kết ngày 15/04/1994 tại Marakech và sau đó cấu thành một bộ phận quan trọng của WTO.

7 Điều 16.2. Hiệp định TRIPs.

8 Chẳng hạn, Tòa phúc thẩm Paris của Pháp đã tuyên thừa nhận nhãn hiệu PONTIAC là nhãn hiệu nổi tiếng cho xe hơi bởi vì “một bộ phận lớn công chúng đã biết đến tên gọi này như là một nhãn hiệu cho một loại xe hơi cao cấp ở Pháp” (bản án tuyên ngày 08/12/1962); hoặc nhãn hiệu hàng hóa cũng có thể được xem là nổi tiếng ngay cả khi nó không thật sự nổi tiếng một cách đặc biệt (theo một Quyết định khác của Tòa phúc thẩm Paris tuyên ngày 19/10/1970); hoặc trong một số trường hợp khác, Tòa án có thể tham khảo một cuộc điều tra thị trường để xác định một nhãn hiệu có phải là nổi tiếng hay không.

9 Tạp chí Managing Intellectual Property, ngày 02/05/2001, chuyên mục Russia, bài “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng”, http://elin.lub.lu.se, truy cập lần cuối ngày 22/07/2004.

1010 Bài viết “Legislative changes boost status of well-known marks”, Yvonne Chua, Howard Tsang. Tạp chí Managing Intellectual Property, phát hành tại London, tháng 12/2002 – tháng 02/2003, tr. 75; http://proquest.umi.com, truy cập lần cuối ngày 22/07/2004.

11 Điều 15.1 – Hiệp định TRIPS.

12 Peter Groves, Anthony Martino, Claire Miskin, John Richards – “Intellectual property and the Internal market of the European Community”, xuất bản năm 1993 bởi Nxb Graham & Trotman, 1999, tr. 56.

13 Xem Điều 4 – Văn bản hướng dẫn 104/89/EEC.

14 Đây là hai nguyên tắc cơ bản được các quốc gia trên thế giới áp dụng trong việc cho đăng ký bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó, nguyên tắc quyền ưu tiên đăng ký được sử dụng phổ biến hơn so với nguyên tắc quyền ưu tiên sử dụng.

15 Xem khoản 1 – Điều 4 – Văn bản hướng dẫn 89/104/EEC.

16 Xem khoản 2 – Điều 8 – Quy định về nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng 40/94/EC.

17 Trong ấn phẩm bằng tiếng Đức của Văn bản hướng dẫn, thuật ngữ này còn được hiểu như là “rủi ro do nhầm lẫn” (risk of confusion)

18 Phán quyết của Tòa án ngày 11/11/1997 về vụ kiện “Sabel v. Puma AG”, số C – 251/95, Tạp chí Tòa án Châu Âu năm 1997, tr. I – 06191.

19 Xem ý kiến của luật sư trong vụ kiện “Masca Mode v. ADIDAS [2000] ETMR. 561 và phán quyết của Tòa án công lý Châu Âu [2000] ETMR. 723 và xem Tạp chí Sở hữu trí tuệ Châu Âu năm 2002, bài “Trade Mark Law and Domain Names: Back to Basics?”, Spyrus M. Maniatis, giảng viên về IP, Đại học Queen Mary, London, tr. 398.

20 Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa (Federal Trade Mark Dilution Act – FTDA) (H.R. 1295) được thông qua bởi Hạ viện Hoa Kỳ ngày 16/12/1995 và bởi Thượng viện vào ngày 29/12/1995.

21 Ý kiến của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ kiện số 01 – 1015 giữa “Victor Mosely and Cathy Mosely, dab Victor’s Little Secret, Petitioners v. V Secret Catalogue, Inc., et al.” [tháng 4/2003].

22 Xem Điều 3 – Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa năm 1995. Và xem “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng – Sự so sánh các điều kiện thực thi nhãn hiệu hàng hóa và các hệ thống pháp luật nhãn hiệu hàng hóa giữa Nhật Bản và Trung Quốc”, Xia Qing, tr. 11.

23 Tạp chí “Public policy and Marketing”, bài “Famous marks now federally protected against dilution”, các tác giả Jeffrey M. Samuels và Linda B. Samuels, tr. 309.

24 Xem Điều 4 – Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa năm 1995.

25 Xem “Mead Data Central v, Toyota Motor Sales, USA”, năm 1989, tr. 1031. “Coca Cola Company v. Gemini Rising” năm 1972, tr. 1183. “American Express Company v. Vibra Approved Laboratories Corporation”, năm 1989, tr. 2006.

26 Xem chú thích số 64.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2006

So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với CÁC MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI

THS. BÙI XUÂN HẢI – ĐH Luật TP.HCM, NCS Luật ĐH La Trobe, Australia

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc tìm hiểu về các mô hình pháp luật điển hình nước ngoài là rất cần thiết cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật về các chủthể kinh doanh. Bài viết này phân tích những điểm cơ bản trong sự so sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần (CTCP) theo luật công ty Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới, mà chủ yếu là của Anh, Mỹ và Đức.

1. Khái quát chung

Luật công ty hiện đại của các dòng họ luật trên thế giới đều phân chia quyền lực trong CTCP, tức là thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công ty, giữa các cổ đông (shareholders) và người quản lý công ty (managers hay directors). Những lý thuyết quan trọng về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước, mà đặc biệt là trong nghiên cứu mang tính kinh điển của Berler và Means.1 Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản trị (the separation of ownership and control), đặc biệt trong các CTCP có nhiều cổ đông, nhất là các công ty niêm yết (listed firms), nơi mà các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ. Cũng từ đó, các lý thuyết về đại diện (agency theory) đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các cổ đông và các nhà quản trị, người ta bàn nhiều về bản chất mối quan hệ giữa cổ đông với người quản lý công ty, việc làm thế nào để hạn chế các hành vi tư lợi của người quản lý và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.2 Những lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance) gắn liền với các ý niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của quản trị công ty tốt.3

Nói một cách khái quát, cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt là các công ty niêm yết, thường theo một trong hai mô hình sau đây: (i) mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng (unitary board hay one-tier board model), và (ii) mô hình hội đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng (dual board hay two-tier board model). Nói đến cấu trúc hội đồng đơn hay kép là nói đến cấu trúc của bộ máy quản lý – điều hành của công ty, chứ không phải của toàn bộ cấu trúc quản trị công ty.

2. Cấu trúc hội đồng một tầng (one-tier board model)

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng (hội đồng đơn) có trong luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (common law) như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada v.v.; cũng như không ít các nước thuộc dòng họ luật thành văn (civil law). Cấu trúc hội đồng đơn, về cơ bản, được xây dựng theo mô hình luật công ty theo kiểu Anglo-American, mà luật công ty Hoa Kỳ là điển hình. Nếu như hơn một thế kỷ trước, trong hệ thống thông luật, người Anh thường tự hào rằng chính họ là những người cung cấp chủ yếu các học thuyết và quy tắc pháp lý về công ty kinh doanh; thì nửa thế kỷ trở lại đây, vai trò này đã bị mất vào tay người Mỹ. Là một thành viên của Liên minh châu Âu (European Union – EU), người Anh đã và đang vất vả trong việc cạnh tranh với người Đức trong việc xây dựng mô hình luật công ty của khối liên minh cũng như gây ảnh hưởng đến các nước thành viên EU. Mô hình quản trị công ty Hoa Kỳ đã lặng lẽ xâm lăng các xứ sở của cả dòng họ common law và civil law, ở ngay cả châu Âu lục địa như Tây Ban Nha, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ý, Aixơlen v.v..

Luật công ty Hoa Kỳ, đặc biệt là luật về công ty của bang Delaware, nơi mà quá nửa trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ chọn để đăng ký kinh doanh, nổi tiếng về cấu trúc hội đồng đơn và sự thân thiện với, hay nói đúng hơn là tập trung quyền lực cho, người quản lý công ty.4 Trong khi Hoa Kỳ có luật chứng khoán liên bang, thì hệ thống luật công ty của họ lại là của các tiểu bang. Vì thế, các bang ở Mỹ đều phải tham gia cuộc đua để có một luật công ty hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Trong cuộc đua này, những tiểu bang dẫn đầu phải kể đến là Delaware, New York, và California. Đó cũng là một trong các lý do khiến cho giới luật học Hoa Kỳ và luật công ty Hoa Kỳ phát triển hết sức mạnh mẽ.

Theo luật công ty Anh–Mỹ, cấu trúc quản trị nội bộ của một CTCP gồm có: đại hội đồng cổ đông (shareholders’ meeting) (ĐHĐCĐ) và hội đồng giám đốc (board of directors) (HĐGĐ). Bộ phận quản trị – điều hành của CTCP chỉ do một cơ quan đảm nhiệm là HĐGĐ – cấu trúc hội đồng đơn (unitary board model). ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn các thành viên của HĐGĐ (thường có từ ba đến hai chục thành viên), đươc gọi là các directors. Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay của HĐGĐ, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty qui định phải thuộc về ĐHĐCĐ. Luật công ty của các nước thuộc dòng họ Anglo-American thường có một qui định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của hội đồng giám đốc (hay các giám đốc).5 Sự phân chia quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan của bộ máy quản trị CTCP vẫn thường thấy trong luật công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Cũng vì thế, HĐGĐ của các công ty theo mô hình Anh – Mỹ có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với những người đồng nghiệp của họ trong hội đồng quản trị công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Thậm chí, ở một số nước, HĐGĐ có một quyền có lẽ sẽ làm ngạc nhiên các cổ đông Việt Nam và nhiều nước khác, đó là việc HĐGĐ – những người làm thuê – lại quyết định việc chia cổ tức cho các cổ đông – những ông bà chủ!

HĐGĐ bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng đầu của bộ phận điều hành là tổng giám đốc (TGĐ) (chief executive officer (CEO) hay managing director (MD)). Pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không có qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của TGĐ (statutory power) như trong pháp luật công ty Việt Nam hay Trung Quốc. Quyền lực của TGĐ sẽ do HĐGĐ quyết định trên cơ sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau. Khác với mô hình TGĐ theo luật Anh – Mỹ, trong mô hình quản trị CTCP theo luật Việt Nam và Luật Công ty 2005 của Trung Quốc thì Tổng giám đốc CTCP xuất hiện như một cơ quan trong bộ máy quản trị, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ đông hay HĐQT chỉ có thể trao thêm chứ không được lấy bớt đi.6 Tuy nhiên, trên thực tế, TGĐ trong mô hình quản trị của Hoa Kỳ được coi là mô hình TGĐ mạnh, nhất là khi Chủ tịch HĐGĐ kiêm nhiệm luôn chức vụ TGĐ, hoặc HĐGĐ ủy quyền mạnh cho TGĐ. Nếu như Chủ tịch HĐGĐ các công ty lớn ở Anh ít kiêm nhiệm chức TGĐ, thì đồng nghiệp Hoa Kỳ của họ lại hay kiêm nhiệm hai chức danh này. Nhưng sau các vụ phá sản của một vài công ty lớn xảy ra đầu thế kỷ 21 ở Mỹ như Enron, WorldCom, Tyco v.v., việc phân tách hai chức danh này trong các CTCP lớn ở Mỹ đã là một xu thế rõ rệt.7

Mô hình quản trị CTCP theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh-Mỹ không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như ban kiểm soát (BKS) trong luật công ty Việt Nam và luật công ty Trung Quốc hay như hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức. Tuy nhiên, trong các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên của HĐGĐ là thành viên độc lập không điều hành (independent non-executive directors) đang thắng thế. Xu hướng này cũng được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu như Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD), các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như Ủy ban Chứng khoán (Securities and Exchange Commission – SEC) của Hoa Kỳ, ASX (Australian Stock Exchange) của Australia; cũng như các ủy ban độc lập của chính phủ nghiên cứu về quản trị công ty (corporate governance) như các Ủy ban Cadbury và Hampel của Anh, Bosch của Úc v.v.. Các thành viên độc lập không điều hành của HĐGĐ sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh giá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của HĐGĐ và giám sát hoạt động của bộ phận điều hành. Tuy nhiên, sự giám sát của một nhóm thành viên trong HĐGĐ đối với các thành viên khác được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả. Bởi vậy, sự giám sát này có thể thiếu tính độc lập và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản trị của CTCP trong cấu trúc quản trị hội đồng hai tầng, cũng như trong luật công ty của Việt Nam và Trung quốc.

3. Cấu trúc hội đồng hai tầng (two-tier board model)

Cấu trúc hội đồng kép có nguồn gốc từ nước Đức, xứ sở của dòng họ luật German civil law. Lịch sử luật công ty của nhân loại không thể phủ nhận thực tế rằng người Đức, cùng với người Anh và người Mỹ đã đóng góp rất lớn cho sự hình thành và phát triển của các lý thuyết và nguyên tắc pháp lý của các mô hình công ty hiện đại ngày nay. Cấu trúc hội đồng kép với sự tham gia của người lao động trong các CTCP (Aktiengesellschaft-AG) đã từng được cho là trái tim của nền dân chủ công nghiệp Đức. Nó cũng phản ánh những ý niệm mang tính lý thuyết khác nhau về công ty giữa người Đức, một trường phái điển hình của dòng họ luật châu Âu lục địa, và Anh – Mỹ của dòng họ luật án lệ.

Sự tham gia của người lao động vào cấu trúc quản trị CTCP theo luật Đức thể hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hướng về những người có quyền lợi liên quan (stakeholder-oriented corporate governance), khác với mô hình quản trị kiểu Anh-Mỹ nhằm hướng tới cổ đông (shareholder-oriented corporate governance).8 Nếu mô hình quản trị công ty Anh–Mỹ tập trung vào bảo vệ nhà đầu tư, chủ yếu là cổ đông; thì cấu trúc quản trị của người Đức và châu Âu, và cả Nhật Bản thường hướng vào việc bảo vệ cả người lao động và chủ nợ. Các nhà làm luật Đức đã khá khôn khéo trong việc sử dụng cơ chế mang tính cấu trúc để dung hòa lợi ích giữa cổ đông và người lao động trong nền dân chủ công nghiệp, đặc biệt là trong các giai đoạn khó khăn xây dựng nước Đức sau chiến tranh. Ở Đức, người lao động có thể được tham gia trực tiếp vào công việc quản trị CTCP; và người làm thuê ở Nhật cũng luôn được quan tâm trong thực tiễn quản trị với chế độ lao động suốt đời và có nhiều nhà quản trị là những ngườilao động lâu năm trong công ty.9

Các chủ nợ ở Đức, Nhật, và châu Âu được bảo vệ mạnh mẽ hơn người cho vay ở Mỹ. Khác với ở Mỹ, nơi mà các cổ đông định chế (institutional investors) thường kiểm soát các CTCP thì các ngân hàng ở Nhật, Đức và châu Âu có vai trò rất lớn trong việc quản trị các CTCP. Sự bảo vệ quá mạnh mẽ người cho vay và người lao động đã làm cho tư bản vốn của những nước này kém năng động hơn so với các nước theo mô hình thị trường tự do kiểu Anh – Mỹ. Giới luật học thế giới, đặc biệt là ở Anh – Mỹ và Đức, đã tốn nhiều giấy mực để bình luận và đánh giá mô hình hội đồng kép với sự tham gia của ngườilao động của nước Đức. Cũng rất thú vị là, chẳng những các giáo sư luật Anh – Mỹ không thích cấu trúc quản trị CTCP vì có phần nặng nề và bảo thủ của người Đức, mà ngay cả nhiều học giả, giáo sư về luật công ty hàng đầu của Đức như Klaus J. Hopt, Horst Siebert, Harald Baum cũng hoài nghi về tính hiệu quả của cấu trúc quản trị này trong môi trường toàn cầu hóa. Nước Đức có thể sẽ giảm mất tính cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài nếu họ cứ cứng nhắc áp đặt cấu trúc quản trị CTCP của mình cho các nhà đầu tư đến từ các nền văn minh công nghiệp khác. Một thực tế là, mô hình hội đồng kép của người Đức ít được áp dụng trên thế giới; và sự cạnh tranh của luật công ty Anh-Mỹ cũng đã khiến người Đức gặp nhiều khó khăn.10 Người Đức cũng đã chẳng mấy thành công để thuyết phục các nước EU láng giềng, nơi mà luật dân sự và thương mại Đức đã ăn sâu cắm rễ, áp dụng cấu trúc quản trị CTCP với mô hình hội đồng kép và sự tham gia của người lao động. Cho đến hiện nay, chỉ có ba nước châu Âu lựa chọn mô hình của người Đức là Áo, Thụy Sĩ và Hà Lan. Một vài láng giềng của người Đức cũng đã tiếp nhận ở mức độ nhất định về đại diện người lao động tham gia vào cấu trúc quản trị CTCP như Đan Mạch, Luxembourg và Thụy Điển.11 Gần đây, Tòa án Châu Âu đã cho phép các công ty đăng ký tại một nước thành viên EU có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh tại các thành viên khác, mà nó vẫn được quản trị theo mô hình của luật công ty ở nước đăng ký thành lập.12 Người Đức cũng thực sự thấy cần phải thay đổi khi mà nhiều nhà đầu tư Đức trong những năm gần đây, đã sang đăng ký thành lập công ty ở một nước EU khác, rồi sau đó quay trở lại Đức hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa của một công ty nước ngoài.

Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i) cấu trúc quản trị- điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc (two-tier board model), và (ii) có thể có sự tham gia nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên (co-determination). Cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP (AG) theo luật Đức gồm có: đại hội đồng cổ đông, hội đồng giám sát (Aufsichtsrat) (HĐGS), và hội đồng quản trị (Vorstand) (BQT).13 Theo luật Đức, việc quản lý-điều hành CTCP được phân chia cho hai cơ quan là: HĐGS và BQT, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, HĐGS nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép (dual board) hay hội đồng hai tầng (two-tier board).

Về nguyên tắc, ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn thành viên của HĐGS. Song, người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của HĐGS theo đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty năm 1952 và 1976.14 Theo đó, tỷ lệ số thành viên của HĐGS do người lao động bầu chọn và cổ đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Đại diện do phía người lao động và cổ đông bầu chọn trong HĐGS đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đối với các CTCP sử dụng trên 500 lao động, một phần ba tổng số thành viên của HĐGS sẽ do phía người lao động bầu chọn. Nếu công ty sử dụng trên 2000 lao động, thì một nửa số thành viên của HĐGS phải là đại diện do người lao động và công đoàn

bầu chọn,15 song, chủ tịch của HĐGS sẽ phải là người do cổ đông lựa chọn, và người này sẽ có lá phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau (casting vote).16 HĐGS có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của BQT (Vorstand). Không những thế, HĐGS còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của BQT.17 BQT thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên của BQT cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với HĐGS.18

Như vậy, HĐGS trong cấu trúc hội đồng hai tầng, ví dụ theo luật Đức, không giống với BKS hayHĐQT trong các CTCP ở Việt Nam. Bởi lẽ: (i) BKS trong CTCP ở Việt Nam do ĐHĐCĐ bầu và chỉ có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của bộ máy quản trị; (ii) nó không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của bộ máy quản lý, điều hành; (iii) cũng không có chức năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về quản trị công ty như HĐGS theo luật Đức.19 Thứ hai, HĐQT theo luật Việt Nam là cơ quan quản lý công ty do ĐHĐCĐ bầu chọn, và chỉ bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn mà thôi. Khác với ở Đức, người lao động trong các CTCP ở Việt Nam không có quyền lựa chọn và cử đại diện của mình tham gia HĐQT cũng như BKS. HĐQT trong các CTCP ở Việt Nam có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm TGĐ và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Nó cũng giám sát bộ máy điều hành, nhưng nó không có chức năng giám sát rộng như HĐGS theo luật Đức vì một phần quyền lực này đã thuộc về BKS của công ty theo luật định. Thứ ba, thành viên của HĐGS theo luật Đức không thể đồng thời có mặt trong BQT, trong khi thành viên của HĐQT trong CTCP của Việt Nam thì có thể nắm giữ các chức vụ điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty

4. Một vài kết luận

Theo luật thực định của Việt Nam, cụ thể là Luật Doanh nghiệp 2005, thì cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấu trúc hội đồng một tầng theo mô hình luật công ty Anh –Mỹ, cũng chẳng phải cấu trúc hai tầng như mô hình của luật Đức. Nó có vẻ là cấu trúc mang tính pha trộn (hybrid model) giữa hai mô hình nói trên. Mô hình quản trị CTCP của Việt Nam cũng không giống mô hình quản trị CTCP Nhật Bản, nơi mà cấu trúc quản trị cũng là sự pha trộn giữa hai mô hình Đức và Mỹ, nó được thể hiện trong Bộ luật Thương mại Nhật 1899 (Commercial Code 1899) và gần đây là Đạo luật Công ty 2005 (the Company Code 2005).20

Điều thú vị là, cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP theo luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với Luật Công ty 2005 của Trung Quốc (sửa đổi Luật Công ty 1993), nơi mà cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP cũng gồm có các cơ quan: ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ, và BKS.21 Như đã phân tích ở trên, HĐQT của CTCP trong luật công ty Việt Nam không giống với HĐGĐ (board of directors) trong luật công ty Anh–Mỹ, cũng không phải là HĐGS (Aufsichtsrat) hay BQT (Vorstand) theo mô hình luật công ty của Đức. HĐQT trong luật công ty Việt Nam không có quyền hạn rộng lớn như HĐGĐ trong cấu trúc hội đồng đơn ở nhiều nước common law. Song, nó có thẩm quyền rộng hơn so với BQT của cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty của một số nước châu Âu. Nếu thành viên BQT theo luật công ty Đức là do HĐGS bổ nhiệm, miễn nhiệm, thì thành viên HĐQT của các CTCP ở Việt Nam lại do ĐHĐCĐ trực tiếp lựa chọn.

Chức năng giám sát trong các CTCP, đặc biệt là các công ty niêm yết, đã và đang là vấn đề được quan tâm trong giới nghiên cứu về luật công ty ở các nước phát triển và công nghiệp hóa. Có thể nói rằng, so với mô hình cơ quan giám sát trong cả hai cấu trúc quản trị phổ biến trên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình BKS độc lập từ HĐQT và do ĐHĐCĐ bầu trong các CTCP ở Việt Nam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu BKS làm việc thực sự như được thiết kế trong luật. Sự hoài nghi về hiệu quả hoạt động của BKS trong các CTCP Việt Nam không phải là không có cơ sở khi mà: (i) vẫn còn tâm lý xem thường vị trí của nó trong các cổ đông và người quản lý công ty, (ii) phần lớn thành viên BKS là người lao động, dưới quyền quản lý – điều hành của chính những người mà họ có bổn phận giám sát. Mô hình BKS không phải do các nhà làm luật Việt Nam gần đây sáng tạo ra, mà nó chính là sự phát triển từ các qui định của Luật Công ty 1990, và xa hơn nữa là, các đạo luật về công ty của chế độ cũ.22 Luật Công ty 1990 đã được xây dựng trên nền tảng của các qui định về công ty trong luật công ty thời thuộc địa Pháp và Bộ luật Thương mại 1972 của chế độ Sài Gòn.

Bên cạnh sự khác nhau về cấu trúc quản trị, sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan trong CTCP theo luật công ty Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải bàn, đặc biệt là giữa ĐHĐCĐ, HĐQT và TGĐ của công ty. Thứ hai, khi mà thế giới đang phát triển theo hướng làm hài hòa những khác biệt (harmonization), các nhà làm luật khôn ngoan đã chấp nhận linh hoạt các mô hình quản trị công ty đểthu hút đầu tư nước ngoài. Vì lẽ đó, một số nước công nghiệp phát triển, chẳng hạn Pháp và Ý, đã ban hành luật cho phép các công ty lựa chọn cấu trúc quản trị trong số các mô hình được pháp luật qui định trên cơ sở các hình mẫu phổ biến trên thế giới. Ví dụ, các CTCP ở Pháp (société anonyme – SA), có thể lựa chọn một trong ba mô hình quản trị: (i) mô hình hội đồng kép theo kiểu Đức, (ii) mô hình hội đồng đơn với sự phân tách hai chức vụ chủ tịch và tổng giám đốc, và (iii) mô hình hội đồng đơn với chức chủ tịch tổng giám đốc (président directeur générale) do một người nắm giữ. 23 Và nên chăng, để có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các nền văn minh pháp lý và mô hình quản trị công ty khác nhau, pháp luật Việt Nam cũng nên biết hài hòa hóa những sự khác biệt qua những qui định mang tính mở và linh hoạt của pháp luật về quản trị công ty.

Chú thích:

1 Trong tác phẩm The Modern Corporation and Private Property (Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân) của Adolf A. Berle & Gardiner C. Means, xuất bản năm 1932 và tái bản năm 1968. Về phân tích các luận điểm của Berle và Means, có thể xem.

2 Về sự tổng hợp các ý niệm liên quan đến agency theory của các học giả thuộc các lĩnh vực khác nhau như luật học, kinh tế, và quản trị học, xem thêm Kathleen M. Eisenhardt, ‘Agency Theory: An Assessment and Review’ trong Thomas Clarke (ed), Theories of Corporate Governance: The Philosophical Foundations of Corporate Governance, 2004, tr. 86-87; H.N. Butler & F.S. McChesney, ‘Why They Give at the Office: Shareholder Welfare and Corporate Philanthropy in the Contractual Theory of the Corporation’ trong Thomas W. Joo (ed), Corporate Governance: Law, Theory and Policy, 2004, tr. 5.

3 Về các quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và OECD về quản trị công ty (corporate governance), xem Bui Xuan Hai, ‘Vietnamese Company Law: The Development and Corporate Governance Issues’, Bond Law Review 18.1, 2006, tr. 31-34.

4 Xem thêm, Yuwa Wei, Comparative Corporate Governance: A Chinese Perspective, 2003, tr. 136.

5 Chẳng hạn, xem Điều 8.01 của Luật mẫu Công ty kinh doanh Mỹ (the Model Business Corporation Act, bản sửa đổi năm 2002); Điều 198A của Đạo luật công ty Úc 2001 (the Corporations Act 2001); Điều 282 của Đạo luật công ty Anh (the Companies Act 1985); Điều 141 (a) của Đạo luật chung về Công ty bang Delaware (Delaware General Corporation Law).

6 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam; Điều 114 Luật Công ty 2005 của Trung Quốc.

7 Bernard Taylor, Leading the Boardroom Revolution, Corporate Governance: An International Review 12(4), 2004, tr.418.

8 Henry Hansmann & Reinier Kraakman, ‘The End of History for Corporate Law’ trong Jeffrey N. Gordon & Mark J. Roe (eds), Convergence and Persistence in Corporate Governance (2004), tr.36-45; Saleem Sheikh & William Rees (eds), Corporate Governance & Corporate Control (reprinted, 2000), tr. 1.

9 Michael Bradley et al, ‘The Purposes and Accountability of the Corporation in Contemporary Society: Corporate Governance at a Crossroads’, Law and Contemporary Problems 62(3) 1999, tr.57, 61, 62.

10 Xem , tr. 19.

11 Xem Weil and Gotshal & Manges LLP (on behalf of the European Commission – Internal Market Directorate General), Comparative Study of Corporate Governance Codes Relevant to the European Union and its Members States, 2002, tr. 3.

12 Xem Horst Siebert, ‘Corporatist Versus Market Approaches to Governance’ in Klaus J. Hopt et al (eds), Corporate Governance in Context: Corporations, States, and Markets in Europe, Japan, and the US , 2005, tr. 292.

13 , 287. Trong các nghiên cứu bằng tiếng Anh ở các nước phương Tây, Aufsichtsrat được dịch là supervisory board, cònVorstand được dịch là managing board. Xét theo nghĩa của thuật ngữ và chức năng của hai cơ quan này, ở đây, Aufsichtsratxin dịch là Hội đồng giám sát, còn Vorstand là Ban quản trị. Song, một số nhà nghiên cứu Việt Nam gọi Aufsichtsrat là Hội đồng quản trị, ví dụ Phạm Duy Nghĩa, Sự thay đổi trong pháp luật công ty CHLB Đức và so sánh với pháp luật Việt Nam,2006, tại website của Tạp Chí Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/.

14 The Industrial Constitution Act (Betriebsverfassungsgesetz) 1952 và the 1976 legislation (Mitbestimmungsgesetz); xem ,

7. Về bình luận liên quan đến sự tham gia của người lao động vào quản trị CTCP ở Đức, xem thêm, Horst Siebert, sđd, tr.

287-292.

15 Xem lời mở đầu của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005 (bản sửa đổi tháng 6 năm 2005) (German Corporate Governance Code) có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006; xem thêm Klaus J. Hopt, sđđ, tr. 4, 7.

16 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd.

17 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd, section 5.1.1, 5.1.2; xem thêm , 5-6.

18 Xem thêm Section 4 của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005.

19 Xem Điều 123 của Luật Doanh nghiệp 2005.

20 Đạo luật Công ty 2005 của Nhật Bản có hiệu lực từ 1.5.2006, thay thế cho các qui định về công ty trong Bộ thương luật 1899. Về Luật Công ty 2005 của Nhật Bản, xem thêm Eiji Takahashi and Madoka Shimizu, ‘The Future of Japanese Corporate Governance: the 2005 Reform’, Zeitschrift fuer Japanisches Recht / Journal of Japanese Law 19, 2005, tr. 35.

21 Xem Section 2, 3, và 4 của Chapter 4 của Luật Công ty Trung quốc 2005.

22 Xem Điều 41-43 của Luật Công ty 1990; về các qui định thời thuộc địa Pháp, xem Nguyễn Văn Thành, Luật Thương mại, 1973, tr. 262-264. Về sự phát triển của Luật công ty Việt Nam trước năm 1975, xem thêm, Bui Xuan Hai, sđd, tr. 23-26; Bui Xuan Hai & Gordon Walker, ‘Transitional Adjustment Problems in Contemporary Vietnamese Company Law’, Journal of International Banking Law and Regulation 20(11), 2005, U.K, tr. 567-568.

23 Về cấu trúc quản trị CTCP ở Pháp, Ý mà một số nước châu Âu, xem W Paul Bishop, ‘Recent Developments in Corporate Governance Practices in France’ in International Financial Law Review (ed), Corporate Governance 2003, 2003, tr. 97; tr. 16; Joelle Simon, ‘Corporate Governance in France: Company Law and Corporate Governance Codes’ in Klaus Hopt et al (ed), European Corporate Governance in Company Law and Codes, 2004, tr. 12-13; và [3.1].

SOURCE: Tạp chí Khoa học số 6/2006

SO SÁNH CẤU TRÚC QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM VỚI CÁC MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI

THS. BÙI XUÂN HẢI – ĐH Luật TP.HCM, NCS Luật ĐH La Trobe, Australia

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc tìm hiểu về các mô hình pháp luật điển hình nước ngoài là rất cần thiết cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật về các chủthể kinh doanh. Bài viết này phân tích những điểm cơ bản trong sự so sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần (CTCP) theo luật công ty Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới, mà chủ yếu là của Anh, Mỹ và Đức.

1. Khái quát chung

Luật công ty hiện đại của các dòng họ luật trên thế giới đều phân chia quyền lực trong CTCP, tức là thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công ty, giữa các cổ đông (shareholders) và người quản lý công ty (managers hay directors). Những lý thuyết quan trọng về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước, mà đặc biệt là trong nghiên cứu mang tính kinh điển của Berler và Means.1 Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản trị (the separation of ownership and control), đặc biệt trong các CTCP có nhiều cổ đông, nhất là các công ty niêm yết (listed firms), nơi mà các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ. Cũng từ đó, các lý thuyết về đại diện (agency theory) đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các cổ đông và các nhà quản trị, người ta bàn nhiều về bản chất mối quan hệ giữa cổ đông với người quản lý công ty, việc làm thế nào để hạn chế các hành vi tư lợi của người quản lý và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.2 Những lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance) gắn liền với các ý niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của quản trị công ty tốt.3

Nói một cách khái quát, cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt là các công ty niêm yết, thường theo một trong hai mô hình sau đây: (i) mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng (unitary board hay one-tier board model), và (ii) mô hình hội đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng (dual board hay two-tier board model). Nói đến cấu trúc hội đồng đơn hay kép là nói đến cấu trúc của bộ máy quản lý – điều hành của công ty, chứ không phải của toàn bộ cấu trúc quản trị công ty.

2. Cấu trúc hội đồng một tầng (one-tier board model)

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng (hội đồng đơn) có trong luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (common law) như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada v.v.; cũng như không ít các nước thuộc dòng họ luật thành văn (civil law). Cấu trúc hội đồng đơn, về cơ bản, được xây dựng theo mô hình luật công ty theo kiểu Anglo-American, mà luật công ty Hoa Kỳ là điển hình. Nếu như hơn một thế kỷ trước, trong hệ thống thông luật, người Anh thường tự hào rằng chính họ là những người cung cấp chủ yếu các học thuyết và quy tắc pháp lý về công ty kinh doanh; thì nửa thế kỷ trở lại đây, vai trò này đã bị mất vào tay người Mỹ. Là một thành viên của Liên minh châu Âu (European Union – EU), người Anh đã và đang vất vả trong việc cạnh tranh với người Đức trong việc xây dựng mô hình luật công ty của khối liên minh cũng như gây ảnh hưởng đến các nước thành viên EU. Mô hình quản trị công ty Hoa Kỳ đã lặng lẽ xâm lăng các xứ sở của cả dòng họ common law và civil law, ở ngay cả châu Âu lục địa như Tây Ban Nha, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ý, Aixơlen v.v..

Luật công ty Hoa Kỳ, đặc biệt là luật về công ty của bang Delaware, nơi mà quá nửa trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ chọn để đăng ký kinh doanh, nổi tiếng về cấu trúc hội đồng đơn và sự thân thiện với, hay nói đúng hơn là tập trung quyền lực cho, người quản lý công ty.4 Trong khi Hoa Kỳ có luật chứng khoán liên bang, thì hệ thống luật công ty của họ lại là của các tiểu bang. Vì thế, các bang ở Mỹ đều phải tham gia cuộc đua để có một luật công ty hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Trong cuộc đua này, những tiểu bang dẫn đầu phải kể đến là Delaware, New York, và California. Đó cũng là một trong các lý do khiến cho giới luật học Hoa Kỳ và luật công ty Hoa Kỳ phát triển hết sức mạnh mẽ.

Theo luật công ty Anh–Mỹ, cấu trúc quản trị nội bộ của một CTCP gồm có: đại hội đồng cổ đông (shareholders’ meeting) (ĐHĐCĐ) và hội đồng giám đốc (board of directors) (HĐGĐ). Bộ phận quản trị – điều hành của CTCP chỉ do một cơ quan đảm nhiệm là HĐGĐ – cấu trúc hội đồng đơn (unitary board model). ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn các thành viên của HĐGĐ (thường có từ ba đến hai chục thành viên), đươc gọi là các directors. Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay của HĐGĐ, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty qui định phải thuộc về ĐHĐCĐ. Luật công ty của các nước thuộc dòng họ Anglo-American thường có một qui định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của hội đồng giám đốc (hay các giám đốc).5 Sự phân chia quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan của bộ máy quản trị CTCP vẫn thường thấy trong luật công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Cũng vì thế, HĐGĐ của các công ty theo mô hình Anh – Mỹ có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với những người đồng nghiệp của họ trong hội đồng quản trị công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Thậm chí, ở một số nước, HĐGĐ có một quyền có lẽ sẽ làm ngạc nhiên các cổ đông Việt Nam và nhiều nước khác, đó là việc HĐGĐ – những người làm thuê – lại quyết định việc chia cổ tức cho các cổ đông – những ông bà chủ!

HĐGĐ bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng đầu của bộ phận điều hành là tổng giám đốc (TGĐ) (chief executive officer (CEO) hay managing director (MD)). Pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không có qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của TGĐ (statutory power) như trong pháp luật công ty Việt Nam hay Trung Quốc. Quyền lực của TGĐ sẽ do HĐGĐ quyết định trên cơ sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau. Khác với mô hình TGĐ theo luật Anh – Mỹ, trong mô hình quản trị CTCP theo luật Việt Nam và Luật Công ty 2005 của Trung Quốc thì Tổng giám đốc CTCP xuất hiện như một cơ quan trong bộ máy quản trị, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ đông hay HĐQT chỉ có thể trao thêm chứ không được lấy bớt đi.6 Tuy nhiên, trên thực tế, TGĐ trong mô hình quản trị của Hoa Kỳ được coi là mô hình TGĐ mạnh, nhất là khi Chủ tịch HĐGĐ kiêm nhiệm luôn chức vụ TGĐ, hoặc HĐGĐ ủy quyền mạnh cho TGĐ. Nếu như Chủ tịch HĐGĐ các công ty lớn ở Anh ít kiêm nhiệm chức TGĐ, thì đồng nghiệp Hoa Kỳ của họ lại hay kiêm nhiệm hai chức danh này. Nhưng sau các vụ phá sản của một vài công ty lớn xảy ra đầu thế kỷ 21 ở Mỹ như Enron, WorldCom, Tyco v.v., việc phân tách hai chức danh này trong các CTCP lớn ở Mỹ đã là một xu thế rõ rệt.7

Mô hình quản trị CTCP theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh-Mỹ không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như ban kiểm soát (BKS) trong luật công ty Việt Nam và luật công ty Trung Quốc hay như hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức. Tuy nhiên, trong các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên của HĐGĐ là thành viên độc lập không điều hành (independent non-executive directors) đang thắng thế. Xu hướng này cũng được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu như Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD), các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như Ủy ban Chứng khoán (Securities and Exchange Commission – SEC) của Hoa Kỳ, ASX (Australian Stock Exchange) của Australia; cũng như các ủy ban độc lập của chính phủ nghiên cứu về quản trị công ty (corporate governance) như các Ủy ban Cadbury và Hampel của Anh, Bosch của Úc v.v.. Các thành viên độc lập không điều hành của HĐGĐ sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh giá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của HĐGĐ và giám sát hoạt động của bộ phận điều hành. Tuy nhiên, sự giám sát của một nhóm thành viên trong HĐGĐ đối với các thành viên khác được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả. Bởi vậy, sự giám sát này có thể thiếu tính độc lập và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản trị của CTCP trong cấu trúc quản trị hội đồng hai tầng, cũng như trong luật công ty của Việt Nam và Trung quốc.

3. Cấu trúc hội đồng hai tầng (two-tier board model)

Cấu trúc hội đồng kép có nguồn gốc từ nước Đức, xứ sở của dòng họ luật German civil law. Lịch sử luật công ty của nhân loại không thể phủ nhận thực tế rằng người Đức, cùng với người Anh và người Mỹ đã đóng góp rất lớn cho sự hình thành và phát triển của các lý thuyết và nguyên tắc pháp lý của các mô hình công ty hiện đại ngày nay. Cấu trúc hội đồng kép với sự tham gia của người lao động trong các CTCP (Aktiengesellschaft-AG) đã từng được cho là trái tim của nền dân chủ công nghiệp Đức. Nó cũng phản ánh những ý niệm mang tính lý thuyết khác nhau về công ty giữa người Đức, một trường phái điển hình của dòng họ luật châu Âu lục địa, và Anh – Mỹ của dòng họ luật án lệ.

Sự tham gia của người lao động vào cấu trúc quản trị CTCP theo luật Đức thể hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hướng về những người có quyền lợi liên quan (stakeholder-oriented corporate governance), khác với mô hình quản trị kiểu Anh-Mỹ nhằm hướng tới cổ đông (shareholder-oriented corporate governance).8 Nếu mô hình quản trị công ty Anh–Mỹ tập trung vào bảo vệ nhà đầu tư, chủ yếu là cổ đông; thì cấu trúc quản trị của người Đức và châu Âu, và cả Nhật Bản thường hướng vào việc bảo vệ cả người lao động và chủ nợ. Các nhà làm luật Đức đã khá khôn khéo trong việc sử dụng cơ chế mang tính cấu trúc để dung hòa lợi ích giữa cổ đông và người lao động trong nền dân chủ công nghiệp, đặc biệt là trong các giai đoạn khó khăn xây dựng nước Đức sau chiến tranh. Ở Đức, người lao động có thể được tham gia trực tiếp vào công việc quản trị CTCP; và người làm thuê ở Nhật cũng luôn được quan tâm trong thực tiễn quản trị với chế độ lao động suốt đời và có nhiều nhà quản trị là những ngườilao động lâu năm trong công ty.9

Các chủ nợ ở Đức, Nhật, và châu Âu được bảo vệ mạnh mẽ hơn người cho vay ở Mỹ. Khác với ở Mỹ, nơi mà các cổ đông định chế (institutional investors) thường kiểm soát các CTCP thì các ngân hàng ở Nhật, Đức và châu Âu có vai trò rất lớn trong việc quản trị các CTCP. Sự bảo vệ quá mạnh mẽ người cho vay và người lao động đã làm cho tư bản vốn của những nước này kém năng động hơn so với các nước theo mô hình thị trường tự do kiểu Anh – Mỹ. Giới luật học thế giới, đặc biệt là ở Anh – Mỹ và Đức, đã tốn nhiều giấy mực để bình luận và đánh giá mô hình hội đồng kép với sự tham gia của ngườilao động của nước Đức. Cũng rất thú vị là, chẳng những các giáo sư luật Anh – Mỹ không thích cấu trúc quản trị CTCP vì có phần nặng nề và bảo thủ của người Đức, mà ngay cả nhiều học giả, giáo sư về luật công ty hàng đầu của Đức như Klaus J. Hopt, Horst Siebert, Harald Baum cũng hoài nghi về tính hiệu quả của cấu trúc quản trị này trong môi trường toàn cầu hóa. Nước Đức có thể sẽ giảm mất tính cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài nếu họ cứ cứng nhắc áp đặt cấu trúc quản trị CTCP của mình cho các nhà đầu tư đến từ các nền văn minh công nghiệp khác. Một thực tế là, mô hình hội đồng kép của người Đức ít được áp dụng trên thế giới; và sự cạnh tranh của luật công ty Anh-Mỹ cũng đã khiến người Đức gặp nhiều khó khăn.10 Người Đức cũng đã chẳng mấy thành công để thuyết phục các nước EU láng giềng, nơi mà luật dân sự và thương mại Đức đã ăn sâu cắm rễ, áp dụng cấu trúc quản trị CTCP với mô hình hội đồng kép và sự tham gia của người lao động. Cho đến hiện nay, chỉ có ba nước châu Âu lựa chọn mô hình của người Đức là Áo, Thụy Sĩ và Hà Lan. Một vài láng giềng của người Đức cũng đã tiếp nhận ở mức độ nhất định về đại diện người lao động tham gia vào cấu trúc quản trị CTCP như Đan Mạch, Luxembourg và Thụy Điển.11 Gần đây, Tòa án Châu Âu đã cho phép các công ty đăng ký tại một nước thành viên EU có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh tại các thành viên khác, mà nó vẫn được quản trị theo mô hình của luật công ty ở nước đăng ký thành lập.12 Người Đức cũng thực sự thấy cần phải thay đổi khi mà nhiều nhà đầu tư Đức trong những năm gần đây, đã sang đăng ký thành lập công ty ở một nước EU khác, rồi sau đó quay trở lại Đức hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa của một công ty nước ngoài.

Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i) cấu trúc quản trị- điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc (two-tier board model), và (ii) có thể có sự tham gia nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên (co-determination). Cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP (AG) theo luật Đức gồm có: đại hội đồng cổ đông, hội đồng giám sát (Aufsichtsrat) (HĐGS), và hội đồng quản trị (Vorstand) (BQT).13 Theo luật Đức, việc quản lý-điều hành CTCP được phân chia cho hai cơ quan là: HĐGS và BQT, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, HĐGS nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép (dual board) hay hội đồng hai tầng (two-tier board).

Về nguyên tắc, ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn thành viên của HĐGS. Song, người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của HĐGS theo đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty năm 1952 và 1976.14 Theo đó, tỷ lệ số thành viên của HĐGS do người lao động bầu chọn và cổ đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Đại diện do phía người lao động và cổ đông bầu chọn trong HĐGS đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đối với các CTCP sử dụng trên 500 lao động, một phần ba tổng số thành viên của HĐGS sẽ do phía người lao động bầu chọn. Nếu công ty sử dụng trên 2000 lao động, thì một nửa số thành viên của HĐGS phải là đại diện do người lao động và công đoàn

bầu chọn,15 song, chủ tịch của HĐGS sẽ phải là người do cổ đông lựa chọn, và người này sẽ có lá phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau (casting vote).16 HĐGS có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của BQT (Vorstand). Không những thế, HĐGS còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của BQT.17 BQT thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên của BQT cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với HĐGS.18

Như vậy, HĐGS trong cấu trúc hội đồng hai tầng, ví dụ theo luật Đức, không giống với BKS hayHĐQT trong các CTCP ở Việt Nam. Bởi lẽ: (i) BKS trong CTCP ở Việt Nam do ĐHĐCĐ bầu và chỉ có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của bộ máy quản trị; (ii) nó không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của bộ máy quản lý, điều hành; (iii) cũng không có chức năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về quản trị công ty như HĐGS theo luật Đức.19 Thứ hai, HĐQT theo luật Việt Nam là cơ quan quản lý công ty do ĐHĐCĐ bầu chọn, và chỉ bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn mà thôi. Khác với ở Đức, người lao động trong các CTCP ở Việt Nam không có quyền lựa chọn và cử đại diện của mình tham gia HĐQT cũng như BKS. HĐQT trong các CTCP ở Việt Nam có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm TGĐ và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Nó cũng giám sát bộ máy điều hành, nhưng nó không có chức năng giám sát rộng như HĐGS theo luật Đức vì một phần quyền lực này đã thuộc về BKS của công ty theo luật định. Thứ ba, thành viên của HĐGS theo luật Đức không thể đồng thời có mặt trong BQT, trong khi thành viên của HĐQT trong CTCP của Việt Nam thì có thể nắm giữ các chức vụ điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty

4. Một vài kết luận

Theo luật thực định của Việt Nam, cụ thể là Luật Doanh nghiệp 2005, thì cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấu trúc hội đồng một tầng theo mô hình luật công ty Anh –Mỹ, cũng chẳng phải cấu trúc hai tầng như mô hình của luật Đức. Nó có vẻ là cấu trúc mang tính pha trộn (hybrid model) giữa hai mô hình nói trên. Mô hình quản trị CTCP của Việt Nam cũng không giống mô hình quản trị CTCP Nhật Bản, nơi mà cấu trúc quản trị cũng là sự pha trộn giữa hai mô hình Đức và Mỹ, nó được thể hiện trong Bộ luật Thương mại Nhật 1899 (Commercial Code 1899) và gần đây là Đạo luật Công ty 2005 (the Company Code 2005).20

Điều thú vị là, cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP theo luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với Luật Công ty 2005 của Trung Quốc (sửa đổi Luật Công ty 1993), nơi mà cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP cũng gồm có các cơ quan: ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ, và BKS.21 Như đã phân tích ở trên, HĐQT của CTCP trong luật công ty Việt Nam không giống với HĐGĐ (board of directors) trong luật công ty Anh–Mỹ, cũng không phải là HĐGS (Aufsichtsrat) hay BQT (Vorstand) theo mô hình luật công ty của Đức. HĐQT trong luật công ty Việt Nam không có quyền hạn rộng lớn như HĐGĐ trong cấu trúc hội đồng đơn ở nhiều nước common law. Song, nó có thẩm quyền rộng hơn so với BQT của cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty của một số nước châu Âu. Nếu thành viên BQT theo luật công ty Đức là do HĐGS bổ nhiệm, miễn nhiệm, thì thành viên HĐQT của các CTCP ở Việt Nam lại do ĐHĐCĐ trực tiếp lựa chọn.

Chức năng giám sát trong các CTCP, đặc biệt là các công ty niêm yết, đã và đang là vấn đề được quan tâm trong giới nghiên cứu về luật công ty ở các nước phát triển và công nghiệp hóa. Có thể nói rằng, so với mô hình cơ quan giám sát trong cả hai cấu trúc quản trị phổ biến trên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình BKS độc lập từ HĐQT và do ĐHĐCĐ bầu trong các CTCP ở Việt Nam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu BKS làm việc thực sự như được thiết kế trong luật. Sự hoài nghi về hiệu quả hoạt động của BKS trong các CTCP Việt Nam không phải là không có cơ sở khi mà: (i) vẫn còn tâm lý xem thường vị trí của nó trong các cổ đông và người quản lý công ty, (ii) phần lớn thành viên BKS là người lao động, dưới quyền quản lý – điều hành của chính những người mà họ có bổn phận giám sát. Mô hình BKS không phải do các nhà làm luật Việt Nam gần đây sáng tạo ra, mà nó chính là sự phát triển từ các qui định của Luật Công ty 1990, và xa hơn nữa là, các đạo luật về công ty của chế độ cũ.22 Luật Công ty 1990 đã được xây dựng trên nền tảng của các qui định về công ty trong luật công ty thời thuộc địa Pháp và Bộ luật Thương mại 1972 của chế độ Sài Gòn.

Bên cạnh sự khác nhau về cấu trúc quản trị, sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan trong CTCP theo luật công ty Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải bàn, đặc biệt là giữa ĐHĐCĐ, HĐQT và TGĐ của công ty. Thứ hai, khi mà thế giới đang phát triển theo hướng làm hài hòa những khác biệt (harmonization), các nhà làm luật khôn ngoan đã chấp nhận linh hoạt các mô hình quản trị công ty đểthu hút đầu tư nước ngoài. Vì lẽ đó, một số nước công nghiệp phát triển, chẳng hạn Pháp và Ý, đã ban hành luật cho phép các công ty lựa chọn cấu trúc quản trị trong số các mô hình được pháp luật qui định trên cơ sở các hình mẫu phổ biến trên thế giới. Ví dụ, các CTCP ở Pháp (société anonyme – SA), có thể lựa chọn một trong ba mô hình quản trị: (i) mô hình hội đồng kép theo kiểu Đức, (ii) mô hình hội đồng đơn với sự phân tách hai chức vụ chủ tịch và tổng giám đốc, và (iii) mô hình hội đồng đơn với chức chủ tịch tổng giám đốc (président directeur générale) do một người nắm giữ. 23 Và nên chăng, để có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các nền văn minh pháp lý và mô hình quản trị công ty khác nhau, pháp luật Việt Nam cũng nên biết hài hòa hóa những sự khác biệt qua những qui định mang tính mở và linh hoạt của pháp luật về quản trị công ty.

Chú thích:

1 Trong tác phẩm The Modern Corporation and Private Property (Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân) của Adolf A. Berle & Gardiner C. Means, xuất bản năm 1932 và tái bản năm 1968. Về phân tích các luận điểm của Berle và Means, có thể xem.

2 Về sự tổng hợp các ý niệm liên quan đến agency theory của các học giả thuộc các lĩnh vực khác nhau như luật học, kinh tế, và quản trị học, xem thêm Kathleen M. Eisenhardt, ‘Agency Theory: An Assessment and Review’ trong Thomas Clarke (ed), Theories of Corporate Governance: The Philosophical Foundations of Corporate Governance, 2004, tr. 86-87; H.N. Butler & F.S. McChesney, ‘Why They Give at the Office: Shareholder Welfare and Corporate Philanthropy in the Contractual Theory of the Corporation’ trong Thomas W. Joo (ed), Corporate Governance: Law, Theory and Policy, 2004, tr. 5.

3 Về các quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và OECD về quản trị công ty (corporate governance), xem Bui Xuan Hai, ‘Vietnamese Company Law: The Development and Corporate Governance Issues’, Bond Law Review 18.1, 2006, tr. 31-34.

4 Xem thêm, Yuwa Wei, Comparative Corporate Governance: A Chinese Perspective, 2003, tr. 136.

5 Chẳng hạn, xem Điều 8.01 của Luật mẫu Công ty kinh doanh Mỹ (the Model Business Corporation Act, bản sửa đổi năm 2002); Điều 198A của Đạo luật công ty Úc 2001 (the Corporations Act 2001); Điều 282 của Đạo luật công ty Anh (the Companies Act 1985); Điều 141 (a) của Đạo luật chung về Công ty bang Delaware (Delaware General Corporation Law).

6 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam; Điều 114 Luật Công ty 2005 của Trung Quốc.

7 Bernard Taylor, Leading the Boardroom Revolution, Corporate Governance: An International Review 12(4), 2004, tr.418.

8 Henry Hansmann & Reinier Kraakman, ‘The End of History for Corporate Law’ trong Jeffrey N. Gordon & Mark J. Roe (eds), Convergence and Persistence in Corporate Governance (2004), tr.36-45; Saleem Sheikh & William Rees (eds), Corporate Governance & Corporate Control (reprinted, 2000), tr. 1.

9 Michael Bradley et al, ‘The Purposes and Accountability of the Corporation in Contemporary Society: Corporate Governance at a Crossroads’, Law and Contemporary Problems 62(3) 1999, tr.57, 61, 62.

10 Xem , tr. 19.

11 Xem Weil and Gotshal & Manges LLP (on behalf of the European Commission – Internal Market Directorate General), Comparative Study of Corporate Governance Codes Relevant to the European Union and its Members States, 2002, tr. 3.

12 Xem Horst Siebert, ‘Corporatist Versus Market Approaches to Governance’ in Klaus J. Hopt et al (eds), Corporate Governance in Context: Corporations, States, and Markets in Europe, Japan, and the US , 2005, tr. 292.

13 , 287. Trong các nghiên cứu bằng tiếng Anh ở các nước phương Tây, Aufsichtsrat được dịch là supervisory board, cònVorstand được dịch là managing board. Xét theo nghĩa của thuật ngữ và chức năng của hai cơ quan này, ở đây, Aufsichtsratxin dịch là Hội đồng giám sát, còn Vorstand là Ban quản trị. Song, một số nhà nghiên cứu Việt Nam gọi Aufsichtsrat là Hội đồng quản trị, ví dụ Phạm Duy Nghĩa, Sự thay đổi trong pháp luật công ty CHLB Đức và so sánh với pháp luật Việt Nam,2006, tại website của Tạp Chí Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/.

14 The Industrial Constitution Act (Betriebsverfassungsgesetz) 1952 và the 1976 legislation (Mitbestimmungsgesetz); xem ,

7. Về bình luận liên quan đến sự tham gia của người lao động vào quản trị CTCP ở Đức, xem thêm, Horst Siebert, sđd, tr.

287-292.

15 Xem lời mở đầu của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005 (bản sửa đổi tháng 6 năm 2005) (German Corporate Governance Code) có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006; xem thêm Klaus J. Hopt, sđđ, tr. 4, 7.

16 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd.

17 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd, section 5.1.1, 5.1.2; xem thêm , 5-6.

18 Xem thêm Section 4 của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005.

19 Xem Điều 123 của Luật Doanh nghiệp 2005.

20 Đạo luật Công ty 2005 của Nhật Bản có hiệu lực từ 1.5.2006, thay thế cho các qui định về công ty trong Bộ thương luật 1899. Về Luật Công ty 2005 của Nhật Bản, xem thêm Eiji Takahashi and Madoka Shimizu, ‘The Future of Japanese Corporate Governance: the 2005 Reform’, Zeitschrift fuer Japanisches Recht / Journal of Japanese Law 19, 2005, tr. 35.

21 Xem Section 2, 3, và 4 của Chapter 4 của Luật Công ty Trung quốc 2005.

22 Xem Điều 41-43 của Luật Công ty 1990; về các qui định thời thuộc địa Pháp, xem Nguyễn Văn Thành, Luật Thương mại, 1973, tr. 262-264. Về sự phát triển của Luật công ty Việt Nam trước năm 1975, xem thêm, Bui Xuan Hai, sđd, tr. 23-26; Bui Xuan Hai & Gordon Walker, ‘Transitional Adjustment Problems in Contemporary Vietnamese Company Law’, Journal of International Banking Law and Regulation 20(11), 2005, U.K, tr. 567-568.

23 Về cấu trúc quản trị CTCP ở Pháp, Ý mà một số nước châu Âu, xem W Paul Bishop, ‘Recent Developments in Corporate Governance Practices in France’ in International Financial Law Review (ed), Corporate Governance 2003, 2003, tr. 97; tr. 16; Joelle Simon, ‘Corporate Governance in France: Company Law and Corporate Governance Codes’ in Klaus Hopt et al (ed), European Corporate Governance in Company Law and Codes, 2004, tr. 12-13; và [3.1].

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2006

VỀ QUY ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

THS. PHẠM KIM ANH – Khoa Luật Dân sự, ĐH luật TP.HCM

I. Khái niệm danh dự nhân phẩm

Trong đời sống hàng ngày, thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân; tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức, có thể xảy ra do nhiều tác động khác nhau. Đó có thể là những tác động khách quan song cũng có thể do các hành vi trái pháp luật của cá nhân mang lại. Do đó, Nhà nước ta đã phải sử dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả đó. Điều 609 Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều 615 Bộ luật Dân sự có đề cập đến thiệt hại  về danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng không nêu rõ khái niệm thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tế. Do đó, cần xác định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và hành vi nào được coi là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Theo chúng tôi, danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó. Sự đánh giá của xã hội có thể về mặt lao động như nói người cần cù, siêng năng hay lười nhác, có thể về mặt tinh thần thái độ đối với công việc được giao, trong sinh hoạt cá nhân hay cư xử với mọi người xung quanh như người đó sống nghiêm túc hay buông thả, trong quan hệ với mọi người thì thân ái đoàn kết hay ích kỷ.

Như vậy, danh dự của một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được qua những năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa.

Danh dự là một khái niệm rộng gắn liền với một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định. Danh dự của một cá nhân bao gồm các yếu tố sau:

– Lòng tự trọng: tức là sự tự đánh giá mình, tự ý thức về giá trị, vị trí của mình trong xã hội (chà đạp lên lòng tự trọng của người khác chính là xúc phạm đến danh dự của người đó).

– Uy tín: chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo. Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự.

Ngoài ra có thể hiểu danh dự bao gồm cả nhân phẩm. Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người. Chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm đến danh dự người đó.

Danh dự của một tổ chức là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó.

Nhưng cần phân biệt mặc dù nhân phẩm cũng là một yếu tố của danh dự, song giữa danh dự và nhân phẩm cũng có những điểm khác nhau nhất định:

Nếu danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa thì nhân phẩm lại có từ khi con người mới sinh ra. Danh dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhưng nhân phẩm chỉ là một khái niệm được áp dụng đối với cá nhân. Mặc dù danh dự của một con người được hình thành từ những hành vi và cách cư xử, từ công lao và thành tích của người đó có được qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng mọi người dân đều có quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm như nhau không phân biệt vào công lao, công tác và những đặc điểm riêng của người có quyền; những người không có năng lực hành vi dân sự, những người mất năng lực hành vi dân sự cũng có quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm như mọi cá nhân khác.

Cũng giống như những quyền dân sự khác, quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm của cá nhân chấm dứt khi cá nhân đó chết. Tuy nhiên, cũng có trường hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi danh dự và nhân phẩm cho một cá nhân mặc dù cá nhân đó đã chết.

Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thường thể hiện bằng cách: Dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó. Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý.

Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng của những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại. Ví dụ: Nếu nói một em học sinh quay cóp khi thi mà không đúng sự thật thì cũng là điều đáng chê trách và có thể cũng bị dư luận lên án, nhưng không nghiêm trọng bằng việc nói một nhà văn đã ăn cắp văn của người khác.

II. Quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín và hướng hoàn thiện

Với những điều kiện nhất định, những hành vi nói trên có thể cấu thành hai tội hình sự : Tội vu khống và tội làm nhục người khác được qui định tại Điều 116, 117 Bộ luật Hình sự và do đó việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm sẽ được thực hiện bằng những biện pháp hình sự . Tuy nhiên biện pháp hình sự chỉ áp dụng được trong trường hợp người thực hiện hai hành vi nói trên có lỗi cố ý tức người đó phải tự mình bịa hoặc loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm hạ thấp danh dự người khác. Người có hành vi lăng nhục thì cố ý dùng những lời lẽ khinh bỉ, thiếu văn hóa hay những hành động có tính chất thóa mạ để làm nhục người khác.

Song vì danh dự và nhân phẩm của cá nhân còn bị tổn thương ngay cả trong trường hợp người loan truyền những sự kiện sai sự thật, xúc phạm đến người khác do sơ suất mà tin rằng nó đúng sự thật. Hậu quả là sự xúc phạm ở đây là làm cho người ta đánh giá sai về một người nào đó, hoặc là hình dung sai về tư cách, đạo đức, năng lực của người đó. Sự hình dung sai hay đánh giá sai này bắt nguồn từ một tin tức sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý. Trong những trường hợp đó, danh dự và nhân phẩm của cá nhân, uy tín của một tổ chức vẫn được khôi phục bằng những biện pháp dân sự.

Tuy nhiên cần hiểu rõ việc loan truyền những tin tức sai sự thật này phải thuộc về việc làm, xử sự hay trong một chừng mực nào đó phải có động cơ cá nhân làm cho hành vi ấy trở nên xấu xa thì mới phải cải chính. Còn những đánh giá thông thường thì tuy có thể không đúng về thực chất và là một việc không nên làm xét theo nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa nhưng không phải là những nhận xét tổng hợp gây cho người ta một ấn tượng quá xấu về một người nào đó thì không thể yêu cầu cải chính được. Chẳng hạn người ta có thể nói “Thơ Bút Tre chẳng ra gì”, nhưng không thể nhận xét về một người là thằng đầu trộm đuôi cướp, một thằng tham ô… thì người đó có quyền yêu cầu cải chính và nếu bị thiệt hại thì còn có thể đòi bồi thường.

Quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm là một quyền có tính cách tổng quát được quy định trong Hiến pháp chứ không chỉ thuần túy là một quyền dân sự, nhưng luật dân sự có nhiệm vụ cùng các ngành luật khác bằng những phương tiện riêng của mình góp phần bảo vệ danh dự, nhân phẩm của cá nhân, danh dự, uy tín của một tổ chức một khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Vì quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng là quyền nhân thân nên biện pháp dân sự được dùng để bảo vệ cũng được áp dụng theo Điều 27 Bộ luật Dân sự là:

– Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai.

– Tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần.

Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

– Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thiệt hại.

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Ngoài ra, tùy từng trường hợp ngoài việc buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, Tòa án quyết định người gây thiệt hại do hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần. Khái niệm thiệt hại vật chất đã được quy định rõ trong khoản 2 Điều 310 Bộ luật Dân sự, nhưng thiệt hại về tinh thần thì chưa được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể. Khoản 3 Điều 310 chỉ quy định: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại”.

Vấn đề đặt ra, thế nào là thiệt hại về tinh thần và căn cứ để ấn định mức bồi thường thiệt hại?

Theo chúng tôi, tinh thần là tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm… những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người và thiệt hại về tinh thần là thiệt hại gây ra đối với tâm trạng của con người, thể hiện bằng việc con người phải chịu những lo lắng, đau đớn về tinh thần. Ví dụ như: đau đớn do người thân bị mất, băn khoăn lo lắng do uy tín, nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm, mặc cảm do bị tàn phế, do bị bôi nhọ, làm nhục, bắt giam khi không có tội… Thậm chí chỉ một xâm phạm nhỏ như gán cho một tên gọi rất xấu hoặc cưỡng ép kết hôn hay “quấy nhiễu” sau khi ly hôn cũng làm cho người ta rất khổ tâm. Đây chính là những đau đớn, dằn vặt của nội tâm mà người ta phải chịu. Sự đau khổ này biểu hiện cũng không giống nhau. Những thiệt hại về tinh thần do bị xâm phạm sức khỏe, tính mạng cũng khác với thiệt hại về tinh thần do bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Vì vậy, để tránh tùy tiện khi xét xử thì ngoài những thiệt hại thực tế tính ra được thành tiền, đối với những thiệt hại về tinh thần do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín chỉ nên bồi thường có tính chất tượng trưng. Người bị thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín sau khi đã được người gây thiệt hại xin lỗi, cải chính công khai thì sự thiệt hại về tinh thần trong các trường hợp thông thường có thể coi là đã được khôi phục. Làm việc đó chính là đề cao giá trị của con người, khôi phục con người trở lại vị trí cao cả của nó.

Ngoài ra, do trong Bộ luật Dân sự chỉ xác định thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín mà không coi đây là một trường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy chúng tôi đề nghị cần đưa trường hợp này vào mục 3 của Chương V phần thứ ba của Bộ luật Dân sự, trong đó phải có điều luật quy định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và những hành vi nào bị coi là xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và phải bồi thường.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001

* Tác giả hiện là Truởng Khoa Luật dân sự – Đại học Luật TPHCM

VIỆC THAY ĐỔI, BỔ SUNG VÀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Theo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, trong quá trình tố tụng, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các yêu cầu của mình. Cho nên, phạm vi xét xử của phiên toà sơ thẩm dân sự là yêu cầu của đương sự được xác định công khai tại phiên toà. Do đó, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, cụ thể:

– Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không?

– Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không?

– Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không?

1. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời tạo điều kiện cho đương sự phía bên kia biết trước được yêu cầu của đương sự đối lập để chuẩn bị các chứng cứ, tài liệu chống lại yêu cầu đó và thực hiện việc tranh tụng một cách tốt nhất, tại phiên toà sơ thẩm Hội đồng xét xử (HĐXX) chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Tuy nhiên, hiểu như thế nào là “yêu cầu ban đầu” và “vượt quá yêu cầu ban đầu” là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

1.1. Về “yêu cầu ban đầu”

Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn, “yêu cầu ban đầu là yêu cầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” [2, tr 21]. Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, yêu cầu ban đầu là yêu cầu cuối cùng đư­ợc đ­ưa ra trư­ớc khi Toà án mở phiên toà.

Chúng tôi cho rằng, phạm vi xét xử của Toà án chính là quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp giữa các bên đương sự. Nếu giải quyết như hướng dẫn của Nghị quyết số 02, quyền tự định đoạt của các đương sự sẽ bị hạn chế. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ của các chủ thể nhằm mục đích cho việc giải quyết các yêu cầu đó. Khi Toà án ra quyết định đưa ra xét xử tại phiên toà, trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở phiên toà thực chất là việc Toà án nghiên cứu kỹ lại các yêu cầu, các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó. Nếu chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu trong giai đoạn này, Toà án sẽ phải thông báo cho đương sự phía bên kia, thu thập chứng cứ… tức là lại phải có thời gian để chuẩn bị việc xét xử cho yêu cầu mới được thay đổi, bổ sung. Điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không hợp lý. Vì vậy, cần phải hiểu yêu cầu ban đầu cùng là quan hệ pháp luật tranh chấp được đưa ra trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (thường là buổi hoà giải cuối cùng).

1.2. Về “không vượt quá” yêu cầu ban đầu

Theo quy định của Điều 217, khoản 1 Điều 218 BLTTDS tại phiên toà sơ thẩm, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung nếu không v­ượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Nhận thức về cụm từ “vượt quá” có nhiều quan điểm khác nhau.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, theo quy định tại Điều 218 BLTTDS thì quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên toà bị hạn chế theo hướng rút bớt yêu cầu thì được còn theo hướng thêm thì không được [4; tr 4 ].

Ý kiến thứ hai cho rằng, không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn, “không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu” [2, tr 21 ]. Có thể thấy, hướng dẫn trên chưa làm rõ được cụm từ “phạm vi” là phạm vi quan hệ pháp luật tranh chấp hay phạm vi về giá trị yêu cầu.

Theo chúng tôi, không vượt quá yêu cầu ban đầu là không làm xuất hiện thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mới so với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu hay yêu cầu tại phiên toà không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên thông qua tình huống sau.

Ví dụ: Khi khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 30 triệu đồng là tiền mà nguyên đơn đã cho bị đơn vay. Trong trường hợp này, quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản hay giá trị tranh chấp là 30 triệu đồng. Việc xem xét để giải thích cụm từ không vượt quá yêu cầu ban đầu phải xem xét sự giải thích đó có vi phạm các nguyên tắc, quy định của pháp luật tố tụng dân sự hay không và phải tính đến yêu cầu, mục đích của hoạt động tố tụng.

Nếu cho rằng, tại phiên toà nguyên đơn có quyền đưa thêm yêu cầu Toà án giải quyết một quan hệ pháp luật mới (ngoài hợp đồng vay tài sản) là không hợp lý. Bởi “thực tế chứng minh rằng tranh tụng chỉ có hiệu quả nếu mỗi đương sự có được sự hiểu biết đầy đủ và toàn diện các yêu cầu và lý lẽ chống lại mình. Về mặt logíc, người ta chỉ có thể đối đáp lại những gì mà mình biết” [3; tr 45 ]. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu thì đương sự phải đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp đồng thời phải thông báo cho đương sự phía bên kia biết về việc đã bị khởi kiện về vấn đề gì ( quan hệ pháp luật gì). Cho nên, tại phiên toà đương sự không thể có quyền đưa thêm yêu cầu Toà án giải quyết một quan hệ pháp luật mới, điều đó nhằm đảm bảo cho đương sự có cơ hội tiếp cận yêu cầu của đương sự phía bên kia, bảo đảm khả năng bảo đảm quyền bảo vệ của các đương sự và thực hiện tranh tụng.

Nhưng nếu cho rằng, tại phiên toà đương sự cũng không có quyền tăng thêm giá trị cho dù nó không làm phát sinh thêm một quan hệ pháp luật mới là cứng nhắc. Ở đây cần hiểu rằng, các tài liệu chứng cứ mà bên đưa ra yêu cầu phải xuất trình khi khởi kiện để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp là các chứng cứ chứng minh rằng họ có quyền khởi kiện đối với quan hệ pháp luật đó, còn trong quan hệ pháp luật đó ai là người có quyền, ai là người có nghĩa vụ và quyền, nghĩa vụ như thế nào phải khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật mới xác định được. Theo quy định của PLTTDS hiện hành, trong suốt quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều có quyền cung cấp chứng cứ, tài liệu mới và thực tế đã chứng minh nhiều trường hợp những chứng cứ quan trọng thường được các đương sự giữ kín đến phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm mới xuất trình. Thậm chí còn chờ một HĐXX “ưng ý” mới xuất trình. Những chứng cứ mới đó có thể làm tăng giá trị yêu cầu hoặc giảm nghĩa vụ phải thực hiện của đương sự. Vì vậy, chỉ khi nào những chứng cứ mới làm phát sinh một quan hệ pháp luật mới mới gây sự bất lợi cho đương sự phía đối lập và cần phải được tách riêng để giải quyết bằng một vụ việc khác. Còn nếu chỉ là sự gia tăng về giá trị yêu cầu nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới cần giải quyết thì vẫn được chấp nhận. Chỉ khi nào, PLTTDS Việt Nam có quy định về thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ của các đương sự thì yêu cầu về tăng giá trị mới có thể không được chấp nhận.

Từ các lập luận trên chúng tôi cho rằng, trước mắt, nếu giữ nguyên quy định về việc đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình tố tụng thì cần sửa khoản 1 Điều 218 BLTTDS theo hướng: “Tại phiên toà sơ thẩm, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung nếu không làm xuất hiện thêm đương sự mới, không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới cần giải quyết”.

2. Việc rút yêu cầu của đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Rút yêu cầu là việc đương sự từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu mình đã đưa ra. Việc xem xét, giải quyết việc rút yêu cầu của đương sự được quy định tại Điều 217, 218 BLTTDS. Điều 218 BLTTDS quy định: “Trong trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút ”. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng các điều luật này có nhiều ý kiến khác nhau. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên trong từng trường hợp cụ thể.

2.1. Đối với trường hợp, vụ án chỉ có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Khi nguyên đơn rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút (Điều 218 BLTTDS). Vấn đề đặt ra ở đây là hình thức của quyết định đình chỉ xét xử đó như thế nào? Điều 218 của BLTTDS không quy định cụ thể và Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTNDTC cũng không hướng dẫn về vấn đề này.

a, Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu

Có ý kiến cho rằng, khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu, HĐXX ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. Bởi vì, theo điểm c Khoản 1 Điều 192 và Điều 193 BLTTDS thì quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm là quyết định chưa có hiệu lực pháp luật.

Chúng tôi cho rằng, khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu Toà án sẽ đình chỉ việc giải quyết vụ án và quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay. Bởi, khi vụ án chỉ có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu dẫn đến đối tượng xét xử của vụ án không còn nữa. Do đó, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Điều 192, 193 BLTTDS được quy định để áp dụng cho việc đình chỉ giải quyết vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm dân sự. Nhưng BLTTDS không có điều luật nào dẫn chiếu quy định này để áp dụng cho việc đình chỉ giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm dân sự. Hơn nữa, nếu tại phiên toà, đương sự rút đơn khởi kiện và sau đó có thể chống lại quyết định của mình thì Toà án sẽ phải mở phiên toà khác. Điều đó làm kéo dài quá trình tố tụng và Toà án phải chạy theo đương sự. Cho nên, tại phiên toà, nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì họ sẽ không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị. Cách quy định này, buộc các đương sự phải suy nghĩ thận trọng khi rút đơn khởi kiện tại phiên toà đồng thời hạn chế sự can thiệp của VKS vào việc giải quyết vụ án dân sự.

b,Trong trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu

Cách hiểu thứ nhất, khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu, Toà án sẽ xét xử yêu cầu còn lại, yêu cầu mà đương sự đã rút sẽ được HĐXX đánh giá trong phần nhận định nhưng không đề cập trong quyết định của bản án.

Cách hiểu thứ hai, khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu, Toà án sẽ xét xử yêu cầu còn lại, yêu cầu mà đương sự rút sẽ được HĐXX đánh giá trong phần nhận định và ghi nhận trong quyết định của bản án

Theo chúng tôi, khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu, cũng giống như trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu, đương sự sẽ phải cân nhắc và chịu trách nhiệm đối với yêu cầu của mình. Do đó, Toà án sẽ xét xử phần còn lại bình thường. Phần yêu cầu mà đương sự rút sẽ được HĐXX đề cập ở phần nhận thấy, nhận định và quyết định trong phần quyết định của bản án, bởi về nguyên tắc, tất cả những vấn đề được đánh giá trong phần nhận định sẽ phải được ghi nhận trong quyết định của bản án. Quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị.

2.2. Đối với trường hợp, vụ án có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Quyền phản tố của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là điểm mới của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia. Trong tiếng Việt, phản tố là “ngược lại, ngược trở lại” [1; tr 764 ]. Trong TTDS, phản tố được hiểu là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã kiện bị đơn nhưng có liên quan đến quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn nhưng để bảo vệ quyền và lợi ích của chính họ. Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là việc người có quyền lợi nghĩa vụ kiện ngược lại nguyên đơn và bị đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã kiện bị đơn nhưng có liên quan đến quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện.

Để đảm bảo việc giải quyết dứt điểm tranh chấp giữa các bên đương sự một cách nhanh chóng, Điều 219 BLTTDS quy định, trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn. Nếu cả nguyên đơn và bị đơn đều rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự trong những trường hợp này nhằm tránh việc Toà án ra quyết định đình chỉ xét xử, sau đó nếu bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, Toà án lại phải thụ lý và giải quyết các yêu cầu đó. Trong khi đó, quan hệ pháp luật tranh chấp đó đã được Tòa án được Toà án thụ lý và xem xét. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp dân sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự sẽ thay đổi, nên kể từ thời điểm các đương sự thay đổi địa vị tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định theo yêu cầu của nguyên đơn mới, các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được thay đổi.

Tuy nhiên, BLTTDS không quy định về trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, nguyên đơn vẫn còn một phần yêu cầu đối với bị đơn và bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ trả lời yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho nên, trường hợp này không thể dẫn đến việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự. Ngoài ra, BLTTDS không quy định về thời điểm thực hiện việc phản tố của bị đơn và đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì thế, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hay không và hậu quả của việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện như thế nào là những vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

a, Giải quyết hậu quả của việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện

Khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện sẽ có hai vấn đề đặt ra là: giải quyết việc rút yêu cầu của nguyên đơn và giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, HĐXX sẽ ra quyết định tách vụ án, sau đó ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo điểm c Khoản 1 Điều 192 và Điều 193 BLTTDS và đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. HĐXX tiếp tục xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự.

Ý kiến thứ hai cho rằng, khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, mà vẫn bị đơn giữ yêu cầu phản tố thì “Toà án phải xét xử ngay yêu cầu phản tố của bị đơn mới đúng tinh thần của Điều 219 BLTTDS. Trong trường hợp này chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện đã được Toà án thu thập đầy đủ, vì vậy hoàn toàn có cơ sở để xử ngay sau khi chuyển đổi tư cách tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp mà không cần thiết phải kéo dài thời gian giải quyết vụ kiện chỉ vì những thủ tục tố tụng phiền hà” [4; tr 28].

Ý kiến thứ ba cho rằng, khi nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, HĐXX chỉ xem xét với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự. Cuối cùng HĐXX ra bản án để quyết định đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn và quyết định về việc xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa liên quan. Các đương sự có quyền kháng cáo, VKS có quyền kháng nghị đối với toàn bộ bản án. Cách giải quyết này thường được các Toà án áp dụng.

Theo chúng tôi, đối với cách giải quyết thứ nhất, hiện nay chưa có hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tách vụ án dân sự và hiệu lực của quyết định tách vụ án dân sự. Mặt khác, chỉ có thể tách vụ án dân sự được nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu và yêu cầu của nguyên đơn độc lập với yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối với cách giải quyết thứ nhất và thứ ba, như đã phân tích ở trên, việc đương sự có quyền kháng cáo đối với quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự hoặc phần quyết định đình chỉ yêu cầu trong bản án sơ thẩm là điều không hợp lý. Đối với cách giải quyết thứ hai, chưa đề cập về hình thức để chấp nhận việc rút yêu cầu của đương sự và hiệu lực của nó

Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này, HĐXX sẽ đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn mà không đình chỉ giải quyết vụ án vì vụ án vẫn còn yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bởi, thực chất Điều 219 BLTTDS là quy định tiếp nối Điều 218 về trường hợp vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cho nên, HĐXX sẽ đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn trong bản án và phần quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay. HĐXX tiếp tục xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự. Cách giải quyết tương tự cũng được áp dụng trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập.

Từ các phân tích trên, chúng tôi kiến nghị như sau:

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 218 BLTTDS theo hướng: “Trong trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút, quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu có hiệu lực pháp luật ngay”.

Bổ sung Điều 219 BLTTDS thêm khoản 3 theo hướng: “Toà án quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn (nếu có) trong phần quyết định của bản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay ”.

b, Về thời điểm thực hiện quyền phản tố của bị đơn

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Bị đơn chỉ được thực hiện quyền yêu cầu phản tố cùng với việc nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo khoản 1 Điều 176 BLTTDS, tức là không quá ba mươi ngày kể từ ngày bị đơn nhận được thông báo thụ lý [4, tr 17 ].

Quan điểm thứ hai cho rằng: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố vào bất cứ thời điểm nào họ muốn, việc quy định nội dung thay đổi địa vị tố tụng tại Điều 219 trong thủ tục hỏi tại phiên toà sơ thẩm đã thể hiện việc bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố ngay tại phiên toà, HĐXX sẽ quyết định về án phí đối với họ mà không cần phải nộp tiền tạm ứng án phí [4, tr 15 ].

Quan điểm thứ ba cho rằng, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố cho đến trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này vì những lý do sau:

Thứ nhất, nếu trước phiên toà sơ thẩm nguyên đơn có quyền đưa ra yêu cầu và có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện không bị giới hạn bởi phạm vi đơn khởi kiện ban đầu thì bị đơn cũng phải có quyền phản tố đối với các yêu cầu đó của nguyên đơn; còn tại phiên toà sơ thẩm thì nguyên đơn được thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu vì vậy bị đơn cũng chỉ có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố so với yêu cầu ban đầu (nếu có) chứ không được đưa ra yêu cầu phản tố mới.

Thứ hai, nếu bị đơn thực hiện quyền phản tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị đơn vẫn thực hiện được nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí mà không phải hoãn phiên toà. Hơn nữa, “quá trình giải quyết vụ án dân sự thường là tương đối dài nên bị đơn có điều kiện để cân nhắc kỹ việc có đưa ra yêu cầu phản tố hay không” [4, tr 15 ]. Còn tại phiên toà sơ thẩm thì bị đơn mới thực hiện quyền phản tố thì Toà án không thể làm thủ tục gia hạn để giải quyết vụ án bởi “việc xét xử của Toà án… phải được tiến hành liên tục trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 198” [4, Điều 197], trong khi đó việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn thì Toà án cũng phải tiến hành những thủ tục cần thiết như thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn (Điều 178 BLTTDS). Như vậy, nếu quy định bị đơn có quyền phản tố tại phiên toà sơ thẩm sẽ dẫn đến vi phạm về thời hạn tố tụng, không đảm bảo được quyền lợi của đương sự cũng như bình đẳng giữa các đương sự.

Trên cơ sở phân tích các nội dung trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm Khoản 3 Điều 176 BLTTDS theo hướng: “ Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố cho đến trước thời điểm mở phiên toà sơ thẩm”.

Tài liệu tham khảo

1. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, năm 2003.

2. Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTATC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS.

3. Phạm Nh­ư Hư­ng, Nguyên tắc tranh tụng trong luật Tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp, Tạp chí Luật học số 4/2003.

4. Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SỐ 9/2007, TR 61 – 67

XÓA BỎ CÁC KHÁC BIỆT BẤT HỢP LÝ GIỮA DOANH NGHIỆP THUỘC CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ KHÁC NHAU

 

  • Về phạm vi điều chỉnh, Luật DNTN được soạn thảo theo tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng là mở rộng tối đa, bao quát gần hết các loại hình DN đang hoạt động tại Việt Nam. Ngoài DN tư nhân, Luật DNTN sẽ bao gồm các DNNN và các DNĐTNN. Khi luật này có hiệu lực thì các công ty nhà nước cũng sẽ chuyển sang hoạt động theo Luật DN mới. Tuy nhiên, cơ chế cần có thời gian chuyển tiếp nhất định, ví dụ một năm cho các công ty nhà nước để làm thủ tục chuyển đổi. Còn hơn 4000 DN đầu tư nước ngoài, vừa tổ chức hoạt động theo Luật DN, vừa theo Luật Đầu tư hiện hành cũng cần có thời gian chuyển đổi nhưng tôi chắc chắn sẽ nhanh chóng và được hưởng ứng.
    Chúng tôi cũng đã xem xét và quyết định là HTX chưa thuộc diện điều chỉnh của Luật DN mới mặc dù theo quy định của Luật HTX hiện hành, HTX được tổ chức và họat động như một loại hình DN và chịu trách nhiệm trong phạm vi góp vốn và tài sản của HTX – bản chất đó là một doanh nghiệp TNHH.
    Khi thực hiện các cam kết quốc tế, chúng ta cần phải tính đến hai nguyên tắc không phân biệt đối xử (tối huệ quốc và đối xử quốc gia). Tuy nhiên, trên thế giới không có nước nào thực thi nguyên tắc đối xử quốc gia một cách tuyệt đối, vì vậy Việt Nam vẫn có thể áp dụng một số ngoại lệ như bảo lưu đất đai, ngành nghề trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ. Chúng ta cần xem xét chọn lĩnh vực nào để bảo lưu cho phù hợp với thông lệ quốc tế.

Ông Đinh Văn Ân, Viện trưởng, Viện Quản lý kinh tế Trung Ương


  • Một sân chơi chung cho mọi loại hình doanh nghiệp là cần thiết. Tất nhiên DN tư nhân sẽ gặp thách thức là phải cạnh trạnh với những đối thủ mạnh như DNNN và DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng sự cạnh tranh này có thể là một động lực tốt để DN tư nhân trong nước nỗ lực hoàn thiện và phát triển.
    Để DNNN có thể tham gia vào sân chơi chung này, cần quy định trong luật lộ trình cũng như thời hạn cụ thể để hoàn thành chuyển đổi tất cả các DNNN. Thời hạn này càng ngắn thì Nhà nước càng có lợi. Càng để lâu thì Nhà nước càng mất vốn. Các DNNN sẽ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, tức là kìm hãm sự phát triển chung. Càng rút ngắn được thời hạn chuyển đổi DNNN bao nhiêu, tức là rút ngắn thời gian bảo trợ của Nhà nước, thì càng có lợi. Đây là vấn đề cần được quy định cụ thể trong Luật DNTN.

Ông Hoàng Quyết Tiến, Giám đốc, Công ty Cổ phần An Sinh


  • Hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước đều mong muốn có sự đối xử bình đẳng về pháp lý, mà cụ thể là có một khung pháp lý bình đẳng để điều chỉnh các lĩnh vực đầu tư và kinh doanh và mong muốn có một sân chơi bình đẳng cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả DNNN. Tuy nhiên, các DNNN hiện vẫn chưa thuộc diện điều chỉnh của Luật DNTN. Việc các DN này được điều chỉnh bởi một chế độ pháp lý riêng biệt và vẫn chịu sự quản lý của Nhà nước như hiện nay sẽ hạn chế quá trình tạo ra một sân chơi bình đẳng và cản trở các nỗ lực của Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế.
    Dù tham gia cùng sân chơi với các doanh nghiệp trong nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài còn bị cấm hoặc hạn chế ở một số lĩnh vực mà nhà đầu tư trong nước được phép kinh doanh. Ngoài ra quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp còn phụ thuộc vào “điều kiện kinh doanh”; theo dự thảo Luật DNTN thì “điều kiện kinh doanh được thể hiện bằng giấy phép hoặc các yêu cầu khác mà luật, pháp lệnh và nghị định quy định” mà DN phải có trước khi có thể tiến hành kinh doanh một cách hợp pháp.
    Về vấn đề này, Chương V của dự thảo Luật Đầu tư chung quy định thủ tục cấp giấy phép đầu tư hoàn toàn giống với thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành. Các điều kiện thành lập DN có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại dự thảo Luật ĐT chung cũng khắt khe hơn so với những điều kiện hiện hành của Luật Đầu tư nước ngoài.
    Do vậy nếu Chính phủ có ý định duy trì hệ thống cấp phép đối với nhà đầu tư nước ngoài như hiện nay (tùy thuộc vào điều kiện khắt khe hơn về các lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia) thì việc áp dụng hai luật mới nêu trên sẽ không mang lại hiệu quả cao; và có lẽ chúng ta sẽ dễ đạt được mục tiêu đề ra hơn chỉ đơn giản bằng cách sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành.
    Đề nghị các nhà làm luật đảm bảo rằng Luật DNTN sẽ phù hợp với các quy định và pháp luật hiện hành nhưng đồng thời cũng từng bước hủy bỏ hoặc sửa đổi, tùy từng trường hợp cụ thể, tất cả các luật khác có thể hạn chế phạm vi điều chỉnh của luật thống nhất này. Ví dụ như điều chỉnh các quy định và luật liên quan đến giải quyết tranh chấp, bao gồm các quy định và pháp luật về trọng tài, để đảm bảo rằng tất cả các nhà đầu tư và doanh nghiệp đều bình đẳng với nhau về quyền được áp dụng tất cả các thủ tục giải quyết tranh chấp hiện có.

Ông Nicolas Audier, Công ty Luật Gide Loyrette Nouel


  • Luật Doanh nghiệp coi việc thành lập doanh nghiệp là một quyền chứ không phải một đặc quyền. Các nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty đã được đưa vào luật này nhưng Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn tìm hiểu vấn đề này. Luật DNTN cần tính đến các cam kết quốc tế mà Việt Nam đang tham gia. Đã đến lúc Việt Nam cần thể hiện với quốc tế sự nghiêm túc của mình trong việc thực hiện các cam kết này.
    Chẳng hạn, dự thảo Luật DNTN quy định các nhà đầu tư nước ngoài phải có tài sản/vốn đầu tư tối thiểu là 100.000 đô la Mỹ mới đủ điều kiện thành lập một doanh nghiệp tại Việt Nam trong khi quy định này không áp dụng đối với các nhà đầu tư trong nước. Quy định phân biệt đối xử này là vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia trong chương Đầu tư của Hiệp định thương mại Việt-Mỹ. Hơn nữa, tại sao lại là 100.000 đô la Mỹ? Lý luận rằng hạn chế này nhằm bảo vệ cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ trong nước là không thuyết phục vì không những không bảo vệ được mà còn cản trở các doanh nghiệp vừa và nhỏ hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp lớn đã bắt đầu vào Việt Nam thông qua việc đầu tư vào những doanh nghiệp nhỏ. Nhưng vấn đề đáng lo lắng hơn cả là quan niệm về phân biệt đối xử cũng như hiểu biết về nguyên tắc Đối xử Quốc gia ở đây là chưa rõ ràng.

Ông Fred Burke, Tổng Giám đốc, Baker &McKenzie


  • Hiện nay “công ty nhà nước” chưa phải là công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần vì còn thiếu hai đặc điểm quan trọng là khả năng chuyển nhượng cổ phần hoặc phần góp vốn và khả năng quản lý tập trung thống nhất. Vì vậy, công ty nhà nước cần chuyển đối thành công ty TNHH hay cổ phần thì mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật DNTN. Ban soạn thảo cho rằng mấu chốt của quá trình chuyển đổi này là việc phải có “chế độ chủ quản mới phù hợp” thay vì chế độ “hành chính chủ quản” như hiện nay. ít nhất phải làm 3 việc cơ bản sau đây để thiết lập chế độ “chủ quản” mới: một là tách chức năng chủ quản ra khỏi bộ máy thực hiện chức năng hành chính quản lý nhà nước; hai là thay cơ chế hành chính thực hiện chức năng chủ quản sang cơ chế của người đầu tư kinh doanh; và ba là thực hiện quyền của chủ sở hữu một cách tập trung thống nhất.

Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Chính sách Kinh tế Vĩ mô,
Viện Quản lý kinh tế Trung Ương và thành viên Ban Soạn thảo Luật DNTN


  • Việc các Tổng công ty được điều chỉnh bởi Luật DNNN, trong khi đó các công ty thành viên sẽ được điều chỉnh bởi Luật DNTN không có gì mâu thuẫn. Một doanh nghiệp bị điều chỉnh bởi nhiều luật cũng là chuyện bình thường, giống như con người trong xã hội bị điều chỉnh bởi nhiều luật lệ. Tuy nhiên điều bất cập lớn hiện nay là cần có được một luật để có thể đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phải thông qua được một luật chung trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa này. Luật doanh nghiệp chung không nên chỉ cộng hai luật khác nhau lại để giảm thiểu sự trùng lắp mà phải giúp giảm được sự khác biệt. Mọi thành phần tham gia kinh doanh cần có được một sân bình đẳng, khắc phục được các khác biệt, nhất là trong cách đối xử, kể cả về tài chính, địa điểm kinh doanh, xử lý lao động, cơ chế kinh doanh, nghĩa vụ của người kinh doanh, trách nhiệm trước pháp luật.
    Cá nhân tôi không tán thành việc luật đưa ra thời hạn nhất định cho sự chuyển đổi DNNN. Lộ trình chuyển đổi DNNN đã được Chính phủ xác định rõ, không cần phải quy định thêm, quan trọng hơn là việc tổ chức thực hiện để đảm bảo lộ trình đó. Quy định của Nghị quyết TƯ 3 là đến cuối năm 2005 này là cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi DNNN. Nếu theo đúng tiến trình thì cuối năm nay sẽ chỉ còn 1900 DNNN. Theo đúng tinh thần Nghị quyết TƯ khóa 9 rà soát tiếp khoảng 700 DN để đưa ra cổ phần hóa thì đến cuối 2005, hay cùng lắm đến giữa 2006 sẽ chỉ còn 1200 DNNN. Số này là không lớn, và trong đó đã có 400-450 DN là để phục vụ các hoạt động công ích. Với điều kiện phát triển hiện nay của Việt Nam thì 400-450 DN phục vụ công ích là hợp lý. Tất nhiên, đổi mới DNNN cũng như tạo điều kiện để DNNN hoạt động giống như các DN khác là cần thiết, nếu không DNNN sẽ không thể đủ sức cạnh tranh trong xu thế mới. Việc duy trì DNNN sẽ đồng nghĩa với việc Nhà nước phải tăng trợ cấp, mà hiện nay việc tăng trợ cấp là không thể được nữa. Không đổi mới thì DNNN sẽ không còn đáp ứng được yêu cầu định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế đất nước.

Ông Hồ Xuân Hùng, Phó Ban Chỉ Đạo Đổi mới và Phát triển DNNN


  • Theo chương trình làm luật của Quốc hội thì ủy ban Kinh tế và Ngân sách sẽ chịu trách nhiệm thẩm định dự luật DNTN. Vấn đề thống nhất các luật về DN đã được đặt ra khi làm Luật DN năm 2000 nhưng lúc đó điều kiện chưa cho phép. Hiện nay, việc ban hành Luật này trở nên bức thiết do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế.
    Để trở thành một Luật chung cho mọi loại hình doanh nghiệp, dự thảo cần sửa phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng vì hiện nay vẫn còn một bộ phận DNNN đã chuyển đổi hoạt động theo Luật DNNN. Chẳng hạn trường hợp của các công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm cổ phần chi phối, về tổ chức hoạt động thì được điều chỉnh bởi Luật DN nhưng về quản lý và quyền sở hữu vốn thì áp dụng Luật DNNN. Theo tôi nên mạnh dạn đưa Luật DNTN vào áp dụng cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Ông Hoàng Thanh Phú, ủy viên thường trực,
Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc Hội


  • Luật DNTN cần xóa bỏ các qui định khác biệt trong tổ chức và vận hành của các loại hình doanh nghiệp theo các luật về DN hiện nay, nhưng đừng vì thế mà áp cho Luật DNTN sứ mệnh tạo mặt bằng pháp lý trong kinh doanh giữa các loại hình DN, vì việc tạo mặt bằng bình đẳng phải được hình thành thông qua các quy định khác nhau như trong Luật Thuế và chính sách ưu đãi đầu tư. Luật doanh nghiệp có thể tạo một mặt bằng pháp lý để mọi doanh nghiệp mới ra đời đều được hưởng bình đẳng. Một khi doanh nghiệp bắt đầu bước vào thương trường, họ sẽ chịu tác động của một môi trường pháp lý phức hợp, bao gồm nhiều lĩnh vực như luật hợp đồng, đất đai, thuế, lao động, tín dụng, phá sản, giải quyết tranh chấp v.v…

Ông Nguyễn Như Phát, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp Luật

SOURCE: KINHDOANH.COM.VN

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP PHỔ BIẾN Ở PHÁP

THS. LÊ MINH PHIẾU- NCS Đại học Montesquieu – Bordeaux IV, Pháp

Một chuyên gia từng tham gia soạn thảo Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã từng đánh giá rằng “Bộ luật doanh nghiệp của “Tây” rất dày nhưng người dân khi tham gia kinh doanh rất nhanh chóng, thuận tiện”1. Thật vậy, với một số lượng các điều khoản đồ sộ, pháp luật doanh nghiệp của Pháp đã quy định khá cụ thể, chi tiết điều chỉnh tường tận các vấn đề của một doanh nghiệp kể từ lúc chuẩn bị ra đời đến lúc đã mất đi. Thế nhưng, mặc dù với số lượng rườm rà các điều khoản như vậy, pháp luật doanh nghiệp Pháp không hề làm bó hẹp sự tự do của các nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp mà ngược lại, sự tự do và linh hoạt của các chủ thể kinh doanh được bảo vệ một cách cao nhất có thể. Và trong những năm gần đây, pháp luật doanh nghiệp Pháp đã trải qua những lần đổi mới lớn – sự thay đổi từ những quan niệm kinh điển về công ty đến những quan niệm mới phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Chính những thay đổi đó đã làm cho chúng càng trở nên linh hoạt và đồng thời trao thêm nhiều sự lựa chọn cho nhà đầu tư hơn.

Để tìm hiểu chi tiết về những vấn đề trên, chúng tôi xin được phép giới thiệu những loại hình doanh nghiệp phổ biến trong pháp luật Pháp, bao gồm công ty cổ phần, công ty hợp vốn cổ phần, công ty cổ phần đơn giản, công ty trách nhiệm hữn hạn, công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản.

1. CÔNG TY CỔ PHẦN (Société anonyme – SA)

Ở Pháp, công ty cổ phần, hay còn gọi là công ty vô danh (société anonyme –SA) được ra đời khá sớm. Ngay vào thời Rechelieu (1632 – 1635), những công ty thuộc địa lớn đã ra đời, nhưng chỉ được thành lập theo sắc lệnh của Hoàng gia. Sau Cách mạng 1789, Luật Allaerd ngày 2/3/1791 về tự do thương mại và công nghiệp2 ra đời đã công nhận quyền tự do thành lập công ty cổ phần. Thế nhưng, Bộ luật Thương mại năm 1807 ra đời đã quy định việc thành lập công ty cổ phần phải được sự cho phép của Chính phủ. Sau đó, Luật ngày 24/7/1867 đã đưa ra một qui chế thật sự cho các công ty cổ phần và đã xóa bỏ sự cho phép của Chính phủ đối với việc thành lập công ty cổ phần. Một thế kỷ sau, Luật năm 1867 đã bị thay thế bởi Luật số 66-537 ngày 24/7/1966 về các công ty thương mại và đây chính là những qui định hiện hành được áp dụng và vào năm 2000, nó trở thành một bộ phận của Bộ luật Thương mại. Luật NRE (Loi relative aux nouvelles régulations économiques – Luật về quy chế kinh tế mới) ngày 15/5/2001 đã sửa đổi nhiều quy định áp dụng đối với công ty cổ phần, đặc biệt là về tổ chức quản lý.

1.1. Thành lập

Để thành lập một công ty cổ phần, các sáng lập viên phải đáp ứng những điều kiện về nội dung và hình thức như sau:

– Về nội dung, ngoài những đòi hỏi chung mà thông thường các công ty phải tuân theo như: ý chí, năng lực, ngành nghề, vốn góp, mục đích, sự tham gia vào kết quả kinh doanh, công ty cổ phần cần phải tuân thủ một số điều kiện đặc trưng: Số lượng cổ đông ít nhất là 7, cổ đông không cần phải có tư cách thương nhân, vốn điều lệ tối thiểu là 37.000 euro3 và không được góp vốn bằng industrie (góp sức4).

– Về hình thức, luật quy định rằng, để hoàn thành việc thành lập công ty cổ phần, các sáng lập viên phải tuân theo các quy định về soạn thảo điều lệ, thực hiện việc góp vốn, chỉ định người quản lý và bước cuối cùng là phải đăng ký kinh doanh.

Việc không tuân thủ những điều kiện đó sẽ dẫn đến nhiều chế tài khác nhau. Những công ty không tồn tại trên thực tế hay mang tính gian lận sẽ bị vô hiệu. Chế tài tương tự đối với trường hợp ngành nghề của công ty trái pháp luật. Tuy nhiên, sự không thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí cũng như sự không có năng lực pháp luật của những người thành lập không phải là nguyên nhân dẫn đến sự vô hiệu của công ty mà công ty vẫn có hiệu lực giữa những người có năng lực hoặc giữa những người mà ý chí của họ được thể hiện hợp lệ, với điều kiện là số lượng của những người còn lại này phải có ít nhất là 7. Đối với những đòi hỏi riêng đối với công ty cổ phần, ví dụ như về số lượng cổ đông tối thiểu hay về mức vốn điều lệ, việc không tuân thủ chúng sẽ không bị cưỡng chế bằng sự vô hiệu. Tuy nhiên, tất cả những người liên quan có thể yêu cầu giải thể công ty vì lý do công ty không đáp ứng quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự đối với những sáng lập viên cũng được đặt ra nếu như do hành vi, sự thiếu thận trọng hay sai lầm của mình mà công ty bị hủy bỏ, chẳng hạn như trường hợp họ làm ngơ khi vốn góp không đúng trên thực tế so với trong điều lệ. Trong trường hợp này, những người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thật vậy, những người sáng lập và người điều hành có thể bị buộc tội đối với việc lưu hành cổ phần bất hợp lệ, tội phạm được cấu thành nếu như cổ phần được phát hành trước khi đăng ký kinh doanh, hoặc sau khi đăng ký kinh doanh nhưng thủ tục này đạt được bằng sự gian lận hoặc trong những điều kiện bất hợp pháp (Điều L.242 – 1 – Bộ luật Thương mại). Điều này tương tự đối với việc gian lận nhằm tăng giá trị của phần vốn góp bằng tài sản bằng hiện vật hay bằng quyền tài sản (Bộ luật Thương mại, Điều 242 – 2).

1.2. Quản lý

Kể từ năm 1966, theo Luật số 66-537 ngày 24/7/1966 về các công ty thương mại, các sáng lập viên công ty cổ phần được quyền lựa chọn một trong hai cơ cấu sau cho việc quản lý doanh nghiệp:

– Bộ máy quản lý theo kiểu Pháp, với hội đồng quản trị và chủ tịch kiêm tổng giám đốc. Chức năng của chủ tịch và tổng giám đốc có thể tách rời;

– Bộ máy quản lý theo kiểu Đức, với hội đồng giám sát và ban giám đốc. Việc bãi nhiệm thành viên ban giám đốc có thể thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông hay của hội đồng giám sát.

* Cơ cấu kinh điển: hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc

Chức danh chủ tịch – tổng giám đốc (P-DG – Président-Directeur Général) được tạo nên bởi Luật ngày 16/11/1940. Luật về các công ty thương mại năm 1966 đã thay thế nó bằng chức danh chủ tịch hội đồng quản trị (Président du Conseil d’administration). Tuy nhiên, trên thực tế, người ta không sử dụng tên gọi mới mà thông thường họ vẫn giữ theo tên cũ và chắc chắn là do uy tín của ký hiệu P-DG. Luật NRE ngày 15/5/2001 đã đưa vào khả năng có thể tách rời chức năng của chủ tịch và tổng giám đốc. Sự sửa đổi này rõ ràng là chịu ảnh hưởng của thực tế ở Mỹ nơi có sự phân biệt giữa directors và officers. Quyền lựa chọn sẽ thuộc về hội đồng quản trị và cơ quan này phải thông báo sự lựa chọn của mình cho các cổ đông và người thứ ba trong những điều kiện luật định (Bộ luật Thương mại, điều L 225-51-1; Nghị định ngày 23/3/1967, Điều 68 được sửa đổi bởi Nghị định ngày 3/5/2002). Việc lựa chọn này sẽ theo một trong hai cách thức sau đây:

– Tách bạch giữa hai chức năng: Chủ tịch là người đại diện cho hội đồng mà mình tổ chức và điều hành công việc trong khi tổng giám đốc đại diện cho công ty với người thứ ba và được trao những quyền rộng rãi nhất để hoạt động trên cương vị của mình;

– Gộp hai chức năng: chủ tịch hội đồng quản trị đảm bảo việc quản lý chung cả công ty. Trong trường hợp này những qui định liên quan đến tổng giám đốc được áp dụng đối với chủ tịch hội đồng quản trị.

Số lượng thành viên của hội đồng quản trị do điều lệ công ty qui định, nhưng ít nhất là 3 thành viên và nhiều nhất là 18 thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225 – 17, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 104). Trong trường hợp sáp nhập, thành viên hội đồng quản trị của công ty bị sáp nhập được trở thành thành viên của công ty sáp nhập, và trong trường hợp này, số lượng thành viên của hội đồng quản trị được vượt quá 18 trong thời hạn 3 năm kể từ ngày sáp nhập, nhưng không được vượt quá 24 thành viên.

Về điều kiện của thành viên hội đồng quản trị, các thành viên hội đồng quản trị phải là chủ sở hữu một số lượng cổ phần được điều lệ công ty qui định (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-25); và có thể chỉ là một cổ phần. Nếu vào thời điểm được bầu làm thành viên hội đồng quản trị mà điều kiện này chưa được đáp ứng thì người được bầu sẽ có thời hạn 3 tháng để đáp ứng đủ điều kiện này.

Mặc dù thành viên hội đồng quản trị không cần phải là thương nhân, nhưng những cá nhân bị cấm hoạt động thương mại không thể trở thành thành viên hội đồng quản trị công ty. Đó là những người bị kết án một số tội hay bị phá sản cá nhân. Ngoài ra, những công chức, nghị sĩ, nhân viên các Bộ, các chức danh bổ trợ tư pháp không thể đồng thời là thành viên hội đồng quản trị một công ty cổ phần nào đó. Ngược lại, luật sư hay công chứng viên có thể được bầu làm thành viên hội đồng quản trị với một số điều kiện do luật định.

Về độ tuổi, người chưa thành niên chưa được thoát quyền5 không thể là thành viên hội đồng quản trị một công ty cổ phần. Hơn nữa, số lượng thành viên hội đồng quản trị có độ tuổi trên 70 không được vượt quá một phần ba tổng số lượng thành viên hội đồng quản trị đương nhiệm (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-19), trừ trường hợp điều lệ công ty có một điều khoản đặc biệt qui định một mức tuổi khác hay một tỷ lệ khác.

Đối với pháp nhân, chủ thể này vẫn có thể trở thành thành viên hội đồng quản trị tương tự như đối với thể nhân, nhưng chỉ với một điều kiện: pháp nhân này phải cử một đại diện thường trực tại trụ sở của công ty và người này phải tuân thủ những điều kiện và chịu trách nhiệm tương tự như một thành viên hội đồng quản trị là thể nhân.

Về vấn đề kiêm nhiệm, mặc dù việc làm thành viên hội đồng quản trị chỉ đòi hỏi phải tham gia vào các cuộc họp định kỳ của hội đồng, không đòi hỏi phải có mặt thường xuyên trong trụ sở của công ty, nhưng các nhà lập pháp Pháp vẫn cho rằng việc vượt quá một số lượng các cương vị cùng thực hiện một lúc sẽ làm cho thành viên hội đồng quản trị không thể hoàn thành công việc một cách chính xác. Ngoài lý do muốn cải thiện tính kỷ luật của thành viên hội đồng quản trị, các nhà làm luật còn mong muốn chống lại sự thiếu độc lập của thành viên hội đồng quản trị do sự kiêm nhiệm gây nên. Do vậy, một thể nhân không thể đồng thời là thành viên của trên 5 hội đồng quản trị hay hội đồng giám sát (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-21, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 110). Mức trần này cũng được áp dụng trong trường hợp đồng thời thực hiện các chức danh thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng giám sát, tổng giám đốc, thành viên ban giám đốc (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-94-1). Tuy nhiên, những chức vụ trong các công ty nước ngoài sẽ không được tính vào. Và mức trần đó cũng không được áp dụng cho pháp nhân. Ngược lại, nếu thể nhân thực hiện chức năng đại diện thường trực thì cũng sẽ tính vào mức trần này. Còn trong các công ty con mà không theo Điều L. 233-16 của Bộ luật Thương mại cũng không được tính.

Đối với chủ tịch hội đồng quản trị, chức danh này do hội đồng quản trị bầu và phải thỏa mãn những điều kiện sau:

– Chủ tịch nhất thiết phải là một thể nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-47);

– Có độ tuổi không được vượt quá 65 tuổi nhưng điều lệ công ty có thể bỏ qua điều kiện này (Bộ luật Thương mại, Điều L.225-48);

– Chủ tịch phải là thành viên hội đồng quản trị và do vậy, phải là cổ đông công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-47).

– Chủ tịch phải tuân theo qui tắc về kiêm nhiệm áp dụng đối với thành viên hội đồng quản trị. Do vậy anh ta không thể thực hiện trên năm chức vụ chủ tịch. Tuy nhiên có một điều khác với thành viên hội đồng quản trị là chức vụ thực hiện trong các công ty con không được tính đến trong việc tính mức trần (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-21, khoản 2).

Tổng giám đốc, về phần mình, được hội đồng quản trị, chứ không phải là đại hội đồng cổ đông, bổ nhiệm (Bộ luật Thương mại, Điều L. 255-51, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 106). Đây là người trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh của công ty, vừa là người đại diện theo pháp luật của công ty. Ứng viên để được bầu làm tổng giám đốc phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:

– Nhất thiết phải là một thể nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-51-1);

– Có độ tuổi không quá 65 tuổi. Điều lệ công ty có thể bỏ qua điều kiện này (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-54);

– Một người không thể thực hiện đồng thời hơn một chức vụ tổng giám đốc hay thành viên tổng giám đốc của các công ty cồ phần có trụ sở trên lãnh thổ Pháp (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-54-1, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 110). Tuy nhiên, có một ngoại lệ là, một chức vụ thứ hai có thể được thực hiện trong công ty con theo qui định tại Điều L. 233-16 của Bộ luật Thương mại;

– Tổng giám đốc có thể không phải là thành viên hội đồng quản trị, trừ khi điều lệ công ty qui định khác.

Theo đề nghị của tổng giám đốc, hội đồng quản trị có thể bầu một hay nhiều thể nhân, có độ tuổi không vượt quá 65 tuổi, trừ trường hợp điều lệ công ty qui định khác, để trợ giúp cho tổng giám đốc với chức danh là tổng giám đốc được ủy nhiệm. Số lượng tối đa của tổng giám đốc được ủy nhiệm do điều lệ công ty qui định, nhưng trong mọi trường hợp, nó không vượt quá năm người (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-53, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 107). Tổng giám đốc được ủy nhiệm không nhất thiết phải là cổ đông, cũng không nhất thiết phải là thành viên hội đồng quản trị.

* Cơ cấu tổ chức mới: ban giám đốc và hội đồng giám sát

Cấu trúc ban giám đốc và hội đồng giám sát là sự du nhập từ luật công ty cổ phần của Đức, nơi có sự phân biệt giữa Vorstand và Aufsichtsrat. Việc du nhập này, với Luật năm 1966, là nhằm đáp ứng mong muốn tách bạch giữa việc điều hành, được thực hiện bởi ban giám đốc, và kiểm soát, được dành cho hội đồng giám sát.

– Ban giám đốc

Số lượng các thành viên của ban giám đốc do điều lệ công ty xác định, nhưng phải nằm trong khoảng từ 2 đến 5 thành viên. Đối với công ty có vốn điều lệ từ 1.500.000 Euro trở lên, công ty có thể chỉ lựa chọn 1 giám đốc, có tư cách như một tổng giám đốc duy nhất (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225 – 58).

Để có thể được bầu làm thành viên của ban giám đốc, các ứng viên phải đáp ứng những điều kiện luật định sau đây:

+ Điều kiện về tuổi tương tự như đối với chủ tịch và tổng giám đốc ở cấu trúc trên, nghĩa là phải dưới 65 tuổi, trừ khi điều lệ công ty bỏ qua qui định này (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225 – 60);

+ Phải là thể nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.225-59);

+ Không nhất thiết phải là cổ đông, trừ khi điều lệ công ty đòi hỏi ngược lại;

+ Không thể đồng thời là thành viên của nhiều ban giám đốc công ty cổ phần có trụ sở trên lãnh thổ Pháp (Bộ luật Thương mại, Điều l. 225-67, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 110). Tuy nhiên, qui định này không áp dụng đối với chức vụ thứ hai được thực hiện trong một công ty con;

+ Thành viên ban giám đốc không thể là thành viên của hội đồng giám sát.

Cũng tương tự như việc tổng giám đốc được hội đồng quản trị chọn, thành viên của ban giám đốc được bầu bởi hội đồng giám sát (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-59). Nhiệm kỳ của ban giám đốc do điều lệ công ty ấn định, nhưng phải nằm trong khoảng giữa 2 và 6 năm (Bộ luật Thương mại, Điều L.225-62); trong trường hợp điều lệ công ty không qui định, nhiệm kỳ sẽ là 4 năm, tức là thời hạn ngắn nhất của nhiệm kỳ thành viên hội đồng quản trị. Cũng giống như thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban giám đốc được bầu lại một cách không hạn chế.

Giống như các cơ quan tập thể khác, ban giám đốc hoạt động trên cơ sở thảo luận. Việc thảo luận cũng như thể thức ra quyết định của cơ quan này do điều lệ công ty qui định. Các cuộc họp sẽ được chủ tọa bởi chủ tịch ban giám đốc, người được hội đồng giám sát chọn trong số các thành viên ban giám đốc.

Các thành viên của ban giám đốc thông thường chuyên môn hóa trong một lĩnh vực hoạt động kinh doanh và do vậy thường phụ trách các phòng tương ứng với lĩnh vực đó. Đây thật sự là việc phân công nhiệm vụ được bảo đảm trên cơ sở sự cho phép của hội đồng giám sát.

– Hội đồng giám sát

Thành viên hội đồng giám sát được chỉ định trong điều lệ công ty và sau đó, được bầu bởi đại hội đồng cổ đông (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-75). Số lượng thành viên hội đồng giám sát do điều lệ công ty qui định, luật chỉ qui định mức tối thiểu là 3 và mức tối đa là 18. Số lượng tối đa này có thể tăng thêm trong trường hợp thành viên hội đồng giám sát được bầu thêm bởi người lao động cũng như bởi người lao động là cổ đông công ty. Tương tự như qui định áp dụng cho hội đồng quản trị, mức trần 19 thành viên có thể tăng lên 24. Cũng tương tự như đối với thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng giám sát phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

+ Phải là cổ đông (Bộ luật Thương mại, Điều 225-72);

+ Giới hạn về độ tuổi tương tự như thành viên hội đồng quản trị, tức là 65 tuổi;

+ Việc kiêm nhiệm các chức vụ phải tuân theo những hạn chế như đối với thành viên hội đồng quản trị;

+ Không được là thành viên của ban giám đốc;

+ Một pháp nhân có thể có một ghế tại hội đồng giám sát (Bộ luật Thương mại, Điều 225-76). Do vậy pháp nhân này phải chỉ định một đại diện thường trực như đối với thành viên hội đồng quản trị.

Nếu như quy chế của thành viên hội đồng giám sát gần giống với quy chế của hội đồng quản trị thì ngược lại, chức năng của hai cơ quan này lại rất khác nhau. Hội đồng quản trị là cơ quan xác định phương hướng hoạt động của công ty và giám sát việc thực thi chúng. Nó giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến sự vận hành của công ty, tiến hành việc kiểm soát và xác minh các hoạt động của công ty khi nó thấy cần thiết. Ngược lại, hội đồng giám sát, giống như tên gọi của mình, chỉ có chức năng kiểm soát và giám sát việc quản lý công ty, như Điều L. 225-68 của Bộ luật Thương mại đã qui định. Còn lại, những công việc quản lý được trao rất nhiều cho ban giám đốc, như Điều L. 225-64 của Bộ luật Thương mại đã qui định, bao gồm “những quyền hành rộng rãi nhất để hành động trong tất cả các tình huống nhân danh công ty”. Chúng ta có thể thấy ban giám đốc có những quyền giống như tổng giám đốc, thủ trưởng kinh doanh của công ty, và cả những quyền như hội đồng quản trị, người quyết định định hướng chiến lược của công ty, trong cấu trúc kinh điển.

Như vậy, luật công ty cổ phần của Pháp đã trao rất nhiều sự tự do cho những người soạn thảo điều lệ công ty cổ phần trong việc lựa chọn phương thức quản lý công ty. Không chỉ dừng lại ở vấn đế đó, các nhà đầu tư ở Pháp còn có nhiều sự lựa chọn khác đáng kể hơn: để đầu tư kinh doanh dưới hình thức một công ty cổ phần, các nhà đầu tư chẳng những hoạt động dưới hình thức công ty vô danh (SA) mà còn có thể hoạt động dưới các dạng công ty cổ phẩn khác, đó là công ty hợp vốn cổ phần và công ty cổ phần đơn giản.

2. CÔNG TY HỢP VỐN CỔ PHẦN (société en commandite par actions – SCA)

Đây là hình thức rất được thịnh hành vào khoảng thời gian từ 1807 đến 1905 ở Pháp và tạo nên “cơn sốt” vào thời bấy giờ. Điều này đặc biệt là do những qui định không mang tính khắt khe của nó. Và chính tính tự do và hài hòa trong tổ chức và hoạt động của loại hình này mà người Mỹ đã học hỏi để tạo nên loại hình limited partnership của họ. Thế nhưng, với sự cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp khác như công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, loại hình này hiện nay không còn được thịnh hành nữa.

Công ty hợp vốn cổ phần được điều chỉnh bởi Điều L. 226-1 và các điều tiếp theo của Bộ luật Thương mại. Thông qua các quy định này cũng như qua thực tiễn, chúng ta có thể nghiên cứu cấu trúc và từ đó, đặc tính của loại hình này.

2.1 Cấu trúc của công ty hợp vốn cổ phần

Công ty hợp vốn cổ phần có nhiều điểm vừa giống với công ty cổ phần, vừa giống với công ty hợp vốn đơn giản. Thật vậy, theo khoản 1, Điều L. 226-1 của Bộ luật Thương mại, những qui định liên quan đến hai loại hình công ty này được áp dụng cho công ty hợp vốn cổ phần với điều kiện là những qui định đó phù hợp với những qui định đặc thù của Điều L. 226-1 và các điều tiếp theo.

Chúng ta sẽ hiểu rõ cấu trúc của công ty này thông qua quy chế của thành viên hợp vốn, thành viên hợp danh và người quản lý trong công ty.

* Thành viên hợp vốn (commanditaire)

Công ty hợp vốn cổ phần, như tên gọi của nó, là một loại công ty cổ phần. Nó khác với công ty hợp vốn đơn giản ở chỗ là nó có thể phát hành chứng khoán. Hơn nữa, những quyền của các thành viên góp vốn không phải được đại diện bằng phần vốn góp, mà là bằng cổ phần. Các thành viên hợp vốn là những cổ đông.

Về mặt tài chính, các thành viên hợp vốn chỉ chịu mất mát trong phạm vi vốn góp của mình. Khi công ty phá sản, thành viên hợp vốn được ưu tiên thanh toán số tiền còn lại trước thành viên hợp danh.

Thành viên hợp vốn bị loại trừ khỏi công việc quản lý nhân danh công ty. Điều đó không cấm họ tham gia vào việc kiểm soát nội bộ và tham gia vào những quyết định quan trọng của công ty nhưng họ không thể trở thành người quản lý công ty. Những quyền của thành viên hợp vốn được thực hiện trong khuôn khổ đại hội đồng thành viên, cơ quan vận hành theo phương thức đại hội đồng cổ đông. Do vậy, thành viên hợp vốn tham gia vào việc thông qua các báo cáo tài chính, quyết định việc phân chia lợi nhuận, tăng vốn điều lệ hay chia tách, hợp nhất, sáp nhập công ty. Tuy nhiên, về vấn đề thay đổi điều lệ, một hay các thành viên hợp danh có quyền phủ quyết (Bộ luật Thương mại, Điều L.226-11). Hội đồng giám sát, được chỉ định bởi đại hội đồng thành viên và chỉ bao gồm các thành viên hợp vốn, đảm bảo sự kiểm soát thường trực việc quản lý công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-9). Hội đồng này phải bao gồm 3 thành viên hợp vốn và đây cũng là số lượng tối thiểu của thành viên hợp vốn trong công ty hợp vốn cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều 226-1).

* Thành viên hợp danh (commandité)

Thành viên hợp danh được chỉ định trong điều lệ công ty. Do vậy, khi có một thành viên hội đồng mới gia nhập công ty thì đòi hỏi phải thay đổi điều lệ công ty, nghĩa là phải có sự đồng ý của hội đồng thành viên hợp vốn và hợp danh. Cũng giống như tất cả các thành viên khác, thành viên hợp danh bắt buộc phải góp vốn vào công ty, thế nhưng, phần vốn góp này không được ghi vào vốn điều lệ mà là trong một tài khoản đặc biệt.

Về mặt tài chính, các thành viên hợp danh của công ty hợp vốn cổ phần có quy chế như thành viên hợp danh trong công ty hợp danh. Họ phải chịu trách nhiệm một cách vô hạn, và liên đới nếu như có nhiều thành viên hợp danh, đối với mọi khoản nợ của công ty. Đổi lại, anh ta được hưởng lợi nhuận ưu đãi được qui định trong điều lệ, thường là phần trăm của lợi nhận thu được.

Về mặt thông qua các quyết định trong công ty, thành viên hợp danh có vai trò rất quan trọng:

– Trừ khi điều lệ công ty qui định khác, sự nhất trí của anh ta là không thể thiếu đối với việc bổ nhiệm và bãi nhiệm người quản lý (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-2); trong một số công ty, sự bổ nhiệm và bãi nhiệm này là một quyền riêng của của thành viên hợp danh.

– Thông qua báo cáo tài chính công ty và việc sử dụng kết quả kinh doanh;

– Có quyền phủ quyết đối với mọi quyết định sửa đổi điều lệ công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-11), chuyển đổi công ty;

– Có quyền phản đối việc đại hội đồng cấp cho người quản lý một khoản thù lao không được qui định trong điều lệ công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-8).

* Người quản lý (gérant)

Công ty hợp vốn cổ phần được điều hành bởi một hay nhiều người quản lý, là thể nhân hay pháp nhân, được chỉ định trong điều lệ công ty. Việc bổ nhiệm người quản lý hoàn toàn do điều lệ công ty qui định. Qui tắc tương tự cũng được áp dụng đối với việc bãi nhiệm, tuy nhiên có thêm một qui định khác là: “người quản lý bị bãi nhiệm bởi tòa án thương mại vì nguyên nhân chính đáng, theo đề nghị của tất cả thành viên hay công ty” (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-2, khoản 1).

Người quản lý không nhất thiết phải là thành viên hợp danh. Anh ta có quyền và nghĩa vụ tương tự như của tổng giám đốc công ty cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-7). Do người quản lý có nhiều quyền như vậy nên trên thực tế, người ta thường chỉ định nhiều người quản lý hay bổ nhiệm một pháp nhân để quản lý công ty.

* Cơ chế kiểm soát

Ngoài hội đồng giám sát có chức năng đảm bảo việc kiểm soát thường trực việc quản lý công ty, việc kiểm soát công ty còn được bảo đảm thông qua một hay nhiều kiểm toán viên do đại hội đồng chỉ định (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-6) và thông qua những qui định từ Điều L. 225-38 đến Điều L.225-43 liên quan đến những thỏa thuận giữa một bên là công ty với bên kia là người quản lý, thành viên hội đồng giám sát hay cổ đông nắm giữ quyền biểu quyết trên 5%.

2.2. Những đặc tính của công ty hợp vốn cổ phần

* Sự mềm dẻo trong tổ chức

Đối với công ty cổ phần, luật điều chỉnh khá chặt chẽ và dành rất ít sự lựa chọn cho những người soạn thảo điều lệ công ty. Thế nhưng, đối với công ty hợp vốn cổ phần thì hoàn toàn ngược lại, luật dành rất nhiều sự tự do cho các bên.

Tuy nhiên, sự mềm dẻo quá mức này cũng mang lại nhiều bất lợi. Do dành nhiều sự tự do cho các bên nên rủi ro đặc biệt thường xảy ra ở các doanh nghiệp gia đình. Những bất đồng trong quan hệ giữa thành viên góp vốn và thành viên hợp danh cũng dễ dẫn đến sự giải thể công ty.

* Sự tương hỗ giữa những nhà kinh doanh

Ngoài công dụng như công ty hợp vốn đơn giản là tạo một kênh cho sự gặp nhau giữa vốn – được góp bởi thành viên hợp vốn, và ý tưởng – được góp bởi thành viên hợp danh, công ty hợp vốn cổ phần còn có những lợi thế quan trọng hơn từ quy chế công ty cổ phần của mình và do vậy, nó có thể phát hành chứng khoán. Các thành viên góp vốn được hưởng những thuận lợi về chuyển nhượng vốn tương tự như cổ đông. Công ty hợp vốn cổ phần có thể huy động vốn dễ dàng hơn, nhờ vào việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu.

Đọc phần 2 bài viết này theo link sau:

http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/2008/02/20/cc-loẠi-hnh-doanh-nghiỆp-phỔ-biẾn-Ở-php-phần-2/

Chú thích:

1 Quang Thiện – Cẩm Hà: Hành trình 10 năm của một bộ luật, Báo Tuổi trẻ Online, Thứ Bảy ngày 29/04/2006, trên mạng http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=135103&ChannelID=6

2 Ngày nay, thuật ngữ này còn được gọi là tự do kinh doanh.

3 Một vài hoạt động đòi hỏi vốn nhiều hơn: 450 000 euro đối với các công ty bảo hiểm, 225 000 euro đối với ngân hàng, nhưng đối với các công ty biên soạn báo chí thì chỉ cần 300 euro hay chỉ 1500 cho các hợp tác xã thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.

4 Việc góp vốn bằng industrie được thực hiện bằng tài năng của người góp vốn, nó được thực hiện bằng: uy tín (nhưng không phải là quyền lực chính trị, vì nếu như thế thì bị xem là phạm tội hình sự), kinh nghiệm, bí quyết (như chủ của các hầm rượu ở Bordeaux, nhà thiết kế trong các công ty tạo mẫu, khả năng ngửi trong ngành công nghiệp nước hoa)…

5 Thoát quyền là một chế định theo đó người chưa thành niên được hưởng những quyền dân sự của người đã thành niên theo những điều kiện, thủ tục nhất định.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2006

MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THỪA KẾ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

TƯỞNG BẰNG LƯỢNG  – TÒA DÂN SỰ TANDTC

I. Tình hình chung

Sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành, số vụ tranh chấp thừa kế mà Tòa án nhân dân các cấp thụ lý có phần giảm hơn trước. Theo số liệu thống kê thì:

Năm 1998 toàn ngành thụ lý sơ thẩm 1055 vụ án thừa kế, đã giải quyết 633 vụ, trong đó đình chỉ, tạm đình chỉ, cho rút đơn 249 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền 34 vụ, hòa giải thành 112 vụ, xét xử 268 vụ.

Thụ lý phúc thẩm toàn ngành: 226 vụ, đã giải quyết 153 vụ, trong đó giữ nguyên bản án sơ thẩm 54 vụ, sửa một phần bản án sơ thẩm 46 vụ, sửa toàn bộ bản án 12 vụ, hủy án và đình chỉ 3 vụ, hủy để xét xử lại 23 vụ, hủy chuyển vụ án sang cơ quan khác 3 vụ, còn lại là hình thức giải quyết khác.

Năm 1999 toàn ngành thụ lý sơ thẩm 2234 vụ thừa kế, đã giải quyết 1190 vụ, trong đó tạm đình chỉ, đình chỉ, cho rút đơn 390 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền 78 vụ, hòa giải thành 235 vụ, xét xử 487 vụ.

Năm 2000 (theo số liệu tháng 9) toàn ngành đã thụ lý sơ thẩm 1438 vụ, đã giải quyết 917 vụ, trong đó tạm đình chỉ, đình chỉ, cho rút đơn 331 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết 52 vụ, hòa giải thành 133 vụ, xét xử 401 vụ.

Số vụ thụ lý phúc thẩm toàn ngành là 464 vụ (số liệu 9 tháng) đã giải quyết 332 vụ, trong đó giữ nguyên bản án sơ thẩm 115 vụ, sửa một phần bản án sơ thẩm 84 vụ, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm 37 vụ, hủy án và đình chỉ 12 vụ, hủy bản án để xét xử lại 49 vụ, hủy bản án và chuyển cơ quan khác 4 vụ, còn lại là các hình thức giải quyết khác.

Sở dĩ có tình trạng Tòa án các cấp thụ lý giảm là do tại Nghị quyết của Quốc hội số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997, kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 9 đã có quyết nghị giao cho Chính phủ căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội tiếp tục nghiên cứu, khảo sát để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành  nghị quyết quy định về các giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1/7/1991 giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức, bao gồm 7 loại trong đó có: Thừa kế nhà ở.

Vì vậy các cơ quan chức năng đã tạm ngừng thụ lý, giải quyết loại việc trên. Sau khi có Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991, các Tòa án bắt đầu thụ lý giải quyết một số việc về thừa kế, trừ trường hợp thừa kế mở trước 1/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia thì vẫn tạm thời chưa thụ lý, giải quyết.

Mặt khác, có trường hợp tranh chấp di sản thừa kế không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như việc tranh chấp quyền sử dụng đất, mà đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo Luật Đất đai năm 1993. Vì loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân, còn theo quy định tại Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 và Thông tư liên tịch số 02 ngày 28/7/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, mà đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 hoặc tranh chấp tài sản là các công trình kiến trúc, cây lâu năm trên đất thì tranh chấp di sản thừa kế đó mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Đó là những lý do làm cho số việc tranh chấp thừa kế được Tòa án các cấp thụ lý, giải quyết ít hơn so với thực tế tranh chấp trong nhân dân.

1. Về chương I: Những quy định chung

Trong quá trình áp dụng phần quy định chung của pháp luật thừa kế chúng tôi nhận thấy trên thực tế chủ thể tranh chấp di sản thừa kế tuyệt đại đa số là giữa cá nhân với cá nhân, chỉ có một số rất ít tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức, cơ quan Nhà nước.

Đối tượng tranh chấp trong các vụ án thừa kế chủ yếu là nhà đất ở và các tài sản trên đất như cây lâu niên, công trình phụ trên đất. Thường giá trị số tài sản này chiếm gần như toàn bộ giá trị số di sản mà các bên yêu cầu giải quyết. Cũng có một số vụ tài sản mà hai bên tranh chấp là tiền, vàng, đồ dùng sinh hoạt như xe đạp, xe máy, xe ô tô du lịch hoặc tài sản tranh chấp vừa có nhà và các tài sản sinh hoạt khác. Việc tranh chấp tài sản là tư liệu sản xuất được giải quyết tại Tòa án mới chỉ xuất hiện vài năm gần đây, số vụ không nhiều và thường là giá trị khối di sản đó cũng không lớn lắm. Đối với các tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp tại Tòa án hầu như không có.

– Về áp dụng pháp luật có một thực tế là: kể từ khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành đến nay, khi giải quyết các tranh chấp thừa kế, nếu việc thừa kế mở trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực thì có những vụ áp dụng Pháp lệnh thừa kế, nếu các giao dịch đó có nội dung và hình thức khác với qui định của Bộ luật Dân sự, nhưng không vi phạm điều cấm hoặc không trái đạo đức xã hội theo qui định của Bộ luật Dân sự; còn các trường hợp khác, cũng như trường hợp thừa kế mở sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thì Tòa án mới áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự để xét xử. Đây là một trong những vấn đề phức tạp khi áp dụng pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian qua, nhìn chung chất lượng xét xử của các Toà án về các vụ án thừa kế có nhiều tiến bộ, song vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót, xét xử thiếu thống nhất, hoặc lúng túng khi vận dụng pháp luật, được thể hiện dưới các khía cạnh sau:

– Việc xác định thời điểm mở thừa kế chưa chính xác, như không xác định đúng thời điểm mở thừa kế, có vụ là do giấy khai tử không ghi chi tiết, nên khó xác định, nhưng có nhiều vụ là do người để lại di sản thừa kế đã chết lâu, giấy tờ không còn lưu giữ, chỉ dựa vào trí nhớ, nên mỗi người khai mỗi khác, việc điều tra xác minh không cụ thể, tỉ mỉ nên không làm rõ được thời điểm chết; có vụ mở thừa kế nhiều lần, nhưng Tòa án chỉ tính thời điểm mở thừa kế một lần để chia vì vậy đã bỏ sót người được hưởng thừa kế, chia thừa kế cho cả người đã chết trước người để lại di sản.

– Việc xác định khối di sản cũng có nhiều trường hợp xác định không đúng. Có trường hợp bỏ sót khối di sản là do xác định sai thời điểm mở thừa kế, song có vụ xác định sai khối di sản là do người quản lý khối di sản đã tự ý bán bớt một phần di sản. Tòa án không đưa phần đã bán vào khối di sản; không xác định rõ phần quyền sở hữu về tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác; đặc biệt có vụ di sản đã có sự thay đổi về quyền sở hữu khi Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo nhà cửa hay đã chuyển phần diện tích đất thổ cư thành đất phần trăm khi thực hiện chính sách đất đai, nên đất đó không còn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người để lại di sản, nhưng Tòa án vẫn đưa đất đó vào khối di sản để chia, hoặc tài sản mà người để lại thừa kế đã cho, bán trước khi mở thừa kế vẫn tính vào khối di sản, hoặc người để lại di sản chỉ cho sử dụng chứ chưa định đoạt, chuyển quyền sở hữu cho người khác nhưng Tòa án lại tách ra khỏi khối di sản. Có một thời gian ngắn việc xác định di sản là quyền sử dụng đất không thống nhất, đường lối xét xử không ổn định dẫn đến có trường hợp chỉ xác định di sản là giá trị vật liệu nhà, cây lâu niên trên đất… còn giá trị quyền sử dụng đất không coi là di sản, hoặc chỉ coi giá trị vật liệu nhà và phần đất trên có căn nhà là di sản, còn diện tích đất xung quanh nhà không coi là di sản. Vì đất đó đã được người khác đứng tên trong sổ địa chính hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên người đã đứng tên hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được công nhận là chủ sử dụng đất hợp pháp. Hiện nay, riêng đất trên có nhà, công trình kiến trúc, cây lưu niên; và đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 cho người để lại di sản thì đường lối giải quyết đã thống nhất và đi vào ổn định. Tuy nhiên đối với trường hợp khi mở thừa kế trên đất có nhà, cây lưu niên nhưng sau này do chiến tranh, thiên tai v.v… làm cho nhà và cây lưu niên không còn hoặc do người quản lý di sản tự ý phá đi làm lại nhà mới từ lâu hoặc đối với trường hợp trên đất không có tài sản, đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản mà người để lại di sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993, nhưng người đang quản lý, sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 thì có coi đất đó là di sản hay không? Hiện vẫn còn ý kiến khác nhau trong mỗi ngành cũng như giữa các ngành chức năng với nhau. Các vướng mắc liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất còn nhiều khía cạnh khác nữa, chúng tôi sẽ trình bày sâu ở phần thừa kế quyền sử dụng đất khi có dịp. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến vướng mắc lúng túng trong thực tiễn xét xử khi xác định khối di sản là quyền sử dụng đất.

– Về việc trả thù lao cho người quản lý di sản đã được quy định trong Điều 643, nhưng khi vận dụng vào xét xử còn rất nhiều khác nhau về việc trích thù lao (mặc dù giữa các vụ đó có các điểm tương đồng) như có vụ thì trích rất cao, có vụ rất ít và có vụ không trích thù lao; không tách bạch rõ ràng giữa việc trả thù lao do quản lý di sản với việc thanh toán phần công sức đóng góp do làm tăng giá trị khối tài sản…

– Tuy việc từ chối nhận di sản được quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự, nhưng hầu hết các Tòa án không áp dụng quy định tại khoản 2 và 3 Điều 645. Phần lớp trường hợp đương sự từ chối nhận di sản chỉ cần họ khai báo rõ ràng tại Tòa án là được Tòa án chấp nhận, dù thời hạn từ chối nhận di sản cách thời điểm mở thừa kế có khi cả chục năm, chúng tôi cho đó là cách xử lý phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, góp phần tăng cường đoàn kết trong nhân dân.

– Trường hợp người không được quyền hưởng di sản (Điều 646): trong thực tiễn thường gặp nhất là một bên xuất trình di chúc, bên kia khai đó là di chúc giả mạo, cũng có một số ít vụ bên khai di chúc đó đã được bên kia sửa chữa hoặc hủy di chúc nên di chúc không còn. Qua giám định di chúc (mà một bên coi là giả mạo), qua các chứng cứ khác, Toà án bác di chúc mà một bên xuất trình và chia di sản theo pháp luật cho tất cả các thừa kế, kể cả người đã xuất trình di chúc giả; chỉ có một số ít vụ, Tòa án đã xử không cho người giả mạo di chúc được hưởng di sản. Sở dĩ có nhiều vụ sau khi một bên xuất trình di chúc, mặc dù bị Tòa án bác di chúc, nhưng vẫn cho họ hưởng thừa kế là do hồ sơ không phản ảnh rõ di chúc này do ai làm giả hay ai sửa chữav.v…

2. Về Chương thừa kế theo di chúc

Nếu nghiên cứu dưới góc độ lý luận; kỹ thuật lập pháp và thực tiễn thì có nhiều vấn đề của luật thực định trong chương này cần phải được xem xét, sửa đổi cho rõ ràng, cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Tuy nhiên trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến những sai sót, vướng mắc, thiếu thống nhất hoặc tuy có thống nhất nhưng là sự tự “thống nhất” không áp dụng quy định nào đó của luật trong thực tiễn xét xử thời gian vừa qua như sau:

Có lẽ điểm nổi bật nhất là sự đánh giá khác nhau giữa các Thẩm phán, giữa Tòa án các cấp, giữa Luật sư, Kiểm sát viên trong việc xác định di chúc đó là hợp pháp hay không hợp pháp khi người để lại di sản có nhiều di chúc khác nhau; hoặc tuy có một di chúc nhưng di chúc đó không thực hiện đầy đủ các quy định mà điều luật đã ghi rõ, ví dụ như di chúc miệng (Điều 645) không có người làm chứng, hoặc tuy có đủ hai người làm chứng nhưng họ lại không ghi chép lại ngay hoặc sau đó mới nói lại cho người trong hành thừa kế biết và người trong hàng thừa kế mới ghi chép lại, cũng có vụ người làm chứng lại là người trong diện hưởng thừa kế theo pháp luật còn người kia là người được hưởng thừa kế theo di chúc viết v.v…

Đối với di chúc viết: có bản di chúc không ghi đầy đủ các nội dung như quy định của Điều 656  (không ghi nơi cư trú, thậm chí có trường hợp không ghi rõ nơi có di sản) nhưng vẫn được các Tòa án chấp nhận di chúc đó là hợp pháp, nếu có căn cứ kết luận đó chính là di chúc do người để lại di sản viết ra khi minh mẫn, sáng suốt, không bị ai ép buộc.

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, có rất nhiều trường hợp không phải tự tay người để lại di sản viết mà họ đánh máy, điểm chỉ hay ký rõ ràng, hoặc di chúc có người làm chứng, nhưng những người làm chứng đều là các thừa kế ký vào bản di chúc, còn số người không phải trong diện thừa kế tuy họ có chứng kiến nhưng họ không ký bản di chúc, có trường hợp chỉ có một người ký. Sau này các thừa kế công nhận đó là di chúc của người để lại di sản thì hầu hết được Tòa án công nhận di chúc đó là hợp pháp. Nếu không công nhận di chúc, rất dễ bị Tòa án cấp trên cho là xét xử sai, sửa hoặc hủy án.

Cũng có trường hợp (di chúc viết hoặc di chúc miệng) nội dung di chúc chỉ giao quản lý, sử dụng di sản có điều kiện, nhưng khi điều kiện đã thay đổi, Tòa án vẫn sử dụng theo di chúc; một bên lập di chúc đã định đoạt toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, nhưng có thẩm phán khi xét xử vẫn công nhận toàn bộ di chúc chúng tôi cho là không đúng; nhưng nếu công nhận một phần di chúc thì được ngành coi là xét xử đúng (Trong luật chưa quy định rõ trường hợp này).

Điều 672 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, đó là “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con đã thành niên mà không có khả năng lao động”. Nhưng có vụ người để lại di sản, khi viết di chúc đã không dành lại “phần di sản bằng 2/3 suất của một thừa kế theo pháp luật” cho các đối tượng nói trên, song Tòa án vẫn công nhận toàn bộ di chúc của họ hợp pháp là không đúng; việc áp dụng Điều 676 giải thích nội dung di chúc cũng còn rất khác nhau. Những tranh chấp di sản dùng vào việc thờ cúng khi giải quyết còn gặp vướng mắc và lúng túng dẫn đến sai sót. Nguyên nhân là do điều luật chỉ thiên về việc hướng dẫn cách xử sự của công dân trong một số tình huống, mà chưa dự liệu những trường hợp khác, ví dụ như các thừa kế không thống nhất được với nhau, tranh chấp gay gắt hoặc họ không dùng di sản đó vào việc thờ cúng mà phá đi làm nhà ở… thì giải quyết thế nào? Đó là những khoảng trống pháp lý cần phải được bổ khuyết.

3. Về Chương thừa kế theo pháp luật

Khi áp dụng các quy định của chương này, sai sót thường gặp là không xác định hết những người trong diện được hưởng thừa kế, nên đã bỏ sót họ, hoặc không xác định đúng những người được hưởng thừa kế thế vị, dẫn đến phải hủy bỏ bản án để điều tra xét xử lại.

Việc áp dụng Điều 682 Bộ luật Dân sự về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng, vướng mắc khi xác định “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con”, để cho họ được hưởng di sản thừa kế.

Có một điều cũng đáng lưu ý là: Khi áp dụng chương 2 và 3 (thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật); có một sai sót chung và cũng hay gặp vướng mắc, lúng túng nhiều là khi giải quyết thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đó là các di chúc định đoạt quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản diễn ra trước ngày giải phóng miền Nam năm 1975, trước khi có Hiến pháp năm 1992; vấn đề định giá đất theo khung giá hay theo giá thị trường; vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết các thừa kế quyền sử dụng đất v.v…. Những vấn đề trên, ý kiến giữa các thẩm phán và các cơ quan chức năng cũng còn rất khác nhau.

4. Về Chương thanh toán và phân chia di sản

Sai sót nhiều nhất khi áp dụng các điều luật của Chương này là trong khi khối di sản có thể chia đều hiện vật cho các thừa kế, thì có Tòa án lại chỉ chia cho một số người hoặc một người; nhất là việc định giá không đúng với giá trị thực của di sản, thì việc khiếu kiện sau khi xét xử càng gay gắt. Các trường hợp xử như vậy đều bị sửa án, hoặc hủy bản án để xét xử lại.

Ngoài ra các sai sót do điều tra sơ sài, không tạo dựng đủ các căn cứ cho các quyết định trong bản án như không đi, vẽ sơ đồ, xác định diện tích, giá trị di sản, số lượng di sản, v.v… không đầy đủ; cũng có trường hợp sai sót do phần quyết định không rõ ràng, thiếu cụ thể hay chồng chéo lên nhau, nên không thể thi hành án được; bỏ sót tài sản không phân chia.

5. Về các nguyên nhân dẫn đến các sai sót, vướng mắc khi áp dụng pháp luật thừa kế

1. Do tính ổn định không cao của pháp luật dân sự, đặc biệt là pháp luật đất đai, dẫn đến đường lối giải quyết các tranh chấp thừa kế liên quan đến nhà, đất không ổn định. Mỗi lần pháp luật có sự sửa đổi lớn gây ra những lúng túng và sự khác biệt trong quan điểm giải quyết giữa các ngành, giữa các thẩm phán. Hậu quả của sự lúng túng, không thống nhất là không ít bản án bị cải, sửa, hủy. Mặt khác pháp luật, nhất là pháp luật tố tụng chưa đầy đủ, cụ thể cũng là nguyên nhân dẫn đến sai sót khi xét xử.

2. Bộ luật Dân sự ra đời là một thuận lợi rất lớn cho công tác xét xử. Song có những quy định của pháp luật thừa kế, pháp luật đất đai và các quy định pháp luật khác liên quan chưa thật nhất quán, có điểm chưa hợp lý hoặc chưa chặt chẽ, rõ ràng, nên khó áp dụng; có vấn đề chưa được Bộ luật quy định.

Do Bộ luật có hiệu lực thi hành đã hơn 4 năm nhưng chưa có một văn bản hướng dẫn đầy đủ, có hệ thống về thừa kế, dẫn đến việc hiểu, giải thích rất khác nhau giữa các ngành, các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất v.v…

3. Có một bộ phận Thẩm phán do trình độ còn hạn chế, nên khi kiểm tra xét xử còn phạm những sai lầm rất sơ đẳng; có thẩm phán cấp trên do trình độ không hơn thẩm phán cấp dưới, nên việc cải, sửa, hủy án, y án không đúng. Bên cạnh đó có Thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu đi điều tra, nên hồ sơ làm rất sơ sài nghiên cứu hồ sơ không kỹ, không chịu khó nghiên cứu văn bản, không cập nhật kịp thời các văn bản mới.

Lương Thẩm phán không cao, không đủ đảm bảo cho cuộc sống, làm cho các Thẩm phán chưa thật yên tâm, toàn ý với nghề; có Thẩm phán bị chi phối vì lý do này khác, nên chưa thật vô tư, khách quan trong xét xử cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án thừa kế.

II. Từ thực tiễn xét xử chúng tôi xin có một số kiến nghị tổng quát như sau

1. Chúng tôi cảm thấy Bộ luật Dân sự quy định có phần thiên về hướng dẫn cách xử sự cho công dân, nhưng hầu hết các quy định trong phần thừa kế lại có tính chất dứt khoát; đã thế lại có những quy định chưa sát với tâm lý, tập quán của người dân; trong khi người dân chưa hiểu biết về các quy định này, không hành xử đầy đủ như luật yêu cầu về hình thức thể hiện văn bản. Dù nội dung là đúng ý chí của họ; dẫn đến khó khăn khi áp dụng pháp luật, thậm chí có trường hợp áp dụng theo thực tế cuộc sống, chứ không theo quy định của luật, ví dụ vấn đề từ chối nhận di sản (Điều 645). Vì vậy khi quy định phải tính đến yếu tố tâm lý và trình độ dân trí chung của người dân.

2. Cần phải quy định trong Bộ luật Dân sự theo hướng toàn bộ các tranh chấp thừa kế đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân giải quyết, thì mới tạo ra sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và đường lối xử lý (hiện nay việc tranh chấp thừa kế, nếu thuộc thẩm quyền Tòa án giải quyết thì di sản đó sẽ được chia cho các thừa kế, nếu thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thì nhiều trường hợp người đang quản lý di sản được hưởng cả, chứ không áp dụng các quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự để giải quyết).

3. Cần quy định rõ một số loại quyền cũng thuộc di sản thừa kế (Ngoài quyền sử dụng đất đã được quy định trong Bộ luật Dân sự thì còn có các quyền khác như: quyền sử dụng nhà cho thuê…. Ở Việt Nam nhà nước đã chính thức công nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhà cho thuê, nên quyền này đã được chuyển hóa thành một giá trị nhất định). Vấn đề thừa kế tài sản của doanh nghiệp tư nhân, cần quy định sao cho việc xử lý di sản không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

4. Cần phải quy định rõ hơn nữa về chủ thể trong quan hệ thừa kế mà người thừa kế là: cơ quan, tổ chức… (đặc biệt nếu là cơ quan, tổ chức nước ngoài?).

Cần phải bổ sung vấn đề thừa kế có nhân tố nước ngoài.

Những điều quy định về người quản lý di sản cũng cần có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn xét xử. Không thể để tồn tại quy định bất hợp lý trong luật là người vừa quản lý, sử dụng di sản cũng được hưởng thù lao theo cách thức giống như người chỉ quản lý di sản.

Đưa vào và bổ sung thêm quy định về hạn chế phân chia di sản vào chương các quy định chung của phần thừa kế.

5. Chương thừa kế theo di chúc có rất nhiều điểm không hợp lý về nội dung cũng như cách thức thể hiện. Vì vậy cần có sự sửa đổi căn bản để có thể thực hiện trên thực tế việc tôn trọng ý chí đích thực của người để lại di sản, quy định rõ ràng, đầy đủ và chặt chẽ hơn di chúc miệng và di chúc bằng văn bản, di chúc chung của vợ chồng, vấn đề giải thích di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng v.v… cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

6. Chương thừa kế quyền sử dụng đất cũng nên sửa đổi căn bản theo hướng mọi người đều có quyền hưởng di sản là quyền sử dụng đất (nếu có hạn chế thì chỉ hạn chế việc được nhận hiện vật là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản đối với những trường hợp không có nhu cầu, điều kiện canh tác, v.v…). Liên quan đến việc sửa phần thừa kế quyền sử dụng đất phải sửa cả phần thứ 5

Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai để tạo ra sự nhất quán thì mới tháo gỡ được các vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.

Trên đây chỉ là một vài kiến nghị chung, còn về các kiến nghị có tính chất cụ thể, chi tiết vào từng điều luật cần bổ sung, sửa đổi, hủy bỏ của phần thừa kế thì chúng tôi sẽ trình bày tiếp khi có dịp.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001

 

GÓP PHẦN TÌM HIỂU KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS. BÙI NGỌC CHƯỞNG – PGS. MAI TRUNG HẬU – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

1- Về các khái niệm thị trường, kinh tế thị trường, cơ chế thị trường. Thị trường là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, đồng thời là một trong những hình thức biểu hiện quan hệ sản xuất của những người sản xuất hàng hóa, nên thị trường hoàn toàn có thể mang bản chất xã hội – kinh tế khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của quan hệ sản xuất, trước hết vào chế độ sở hữu thống trị trong từng chế độ xã hội cụ thể.

Kinh tế thị trường (thực chất là tên gọi khác của kinh tế hàng hóa) là nền kinh tế dựa vào thị trường để vận động và phát triển. Từ thế kỷ XIX Ph. Ăng-ghen đã dùng phạm trù “kinh tế tiền tệ” để đối lập với kinh tế tự nhiên. Người viết: “Chính từ đó mà nền kinh tế tiền tệ, đang phát triển, đã thâm nhập, giống như một chất a-xít ăn mòn, vào lối sống cổ truyền của các cộng đồng nông thôn, dựa trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên” (1). V.I. Lê-nin cũng dùng phạm trù kinh tế tiền tệ để nói về một trong hai đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa “một là, chế độ đó dựa vào kinh tế tiền tệ, hai là,… dựa trên cơ sở mua và bán sức lao động” (2). Như vậy, kinh tế thị trường hay kinh tế tiền tệ là phương thức kinh tế đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó các sản phẩm xã hội được trao đổi thông qua vật trung gian là tiền tệ. Nó là một hệ thống kinh tế tồn tại khách quan trên một trình độ phát triển tương ứng của lực lượng sản xuất và trở thành một bộ phận quan trọng của quan hệ sản xuất tương ứng. Nó không phải là một kiểu tổ chức kinh tế do con người tạo ra bằng ý chí chủ quan của mình, mà hình thành một cách khách quan.

Cơ chế thị trường, hay cơ chế kinh tế thị trường không đồng nhất với kinh tế thị trường. Cơ chế kinh tế thị trường hay cơ chế thị trường là guồng máy vận hành của nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường tuy phụ thuộc vào tính chất và yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường, song nó bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, do con người thiết lập nên trên cơ sở nắm bắt các quy luật phát triển khách quan. Nó phản ánh sự vận dụng của con người bằng việc tổ chức ra guồng máy kinh tế “tự do” hay có điều tiết của nhà nước theo yêu cầu vận động khách quan của nền kinh tế thị trường trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Cơ chế thị trường vận động có sự tham gia của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật nhất là quan hệ thị trường cung – cầu và giá cả. Bản chất sâu xa của cơ chế thị trường là cơ chế vận hành theo sự chi phối của quy luật giá trị. Tuy vậy, trong một nền kinh tế hàng hóa cụ thể, sự vận động chung còn tùy thuộc vào chế độ sở hữu thống trị, chịu sự tác động qua lại với các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất chủ đạo, hơn nữa còn chịu sự chi phối của quy luật kinh tế chủ đạo trong phương thức sản xuất đó.

2- Kinh tế thị trường không phải chỉ là sản phẩm của chế độ tư hữu. Trước đây, người ta vẫn nghĩ rằng kinh tế hàng hóa chỉ phát sinh và tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu. Nhưng nguyên nhân hình thành hàng hóa và trao đổi hàng hóa trong buổi đầu của lịch sử ra đời của nó lại chính là sở hữu công cộng tồn tại riêng rẽ nhau giữa các cộng đồng nguyên thủy khi đã có sự phân công, “chuyên môn hóa” sản xuất giữa các cộng đồng đó. C. Mác viết: “… sự trao đổi các sản phẩm phát sinh ở những điểm tiếp xúc giữa các gia tộc, thị tộc, cộng đồng khác nhau, vì ở thời kỳ đầu của nền văn minh thì không phải là những cá nhân riêng biệt, mà là các gia tộc, thị tộc, v.v.. mới tiếp xúc với nhau như những đơn vị độc lập”(3) và “… sự chuyển hóa sản phẩm thành hàng hóa là kết quả của sự trao đổi giữa các công xã khác nhau, chứ không phải giữa những thành viên của cùng một công xã”(4).

Ph. Ăng-ghen cũng viết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của người dã man: đó là sự phân công xã hội lớn đầu tiên… Vì vậy mà lần đầu tiên, đã có thể có sự trao đổi đều đặn. ở các giai đoạn phát triển trước đây, chỉ có thể có những sự trao đổi ngẫu nhiên mà thôi; “…” Lúc đầu, sự trao đổi được tiến hành giữa các bộ lạc thông qua những tù trưởng thị tộc của mỗi bên; nhưng khi những đàn gia súc bắt đầu chuyển thành sở hữu riêng, thì sự trao đổi giữa cá nhân với nhau ngày càng chiếm ưu thế và cuối cùng trở thành hình thức trao đổi duy nhất. Nhưng vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổi với những bộ lạc lân cận, là gia súc; gia súc đã trở thành hàng hóa dùng để đánh giá tất cả các hàng hóa khác… – tóm lại, gia súc đã nhận được chức năng tiền tệ…”(5), “… sự phân công lớn lần thứ hai đã diễn ra: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp… Vì nền sản xuất bị tách ra thành hai ngành chính, nông nghiệp và thủ công nghiệp, nên đã ra đời nền sản xuất trực tiếp nhằm trao đổi, – đó là nền sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa xuất hiện thì đồng thời thương nghiệp cũng xuất hiện, không những trong nội bộ và ở biên giới của bộ lạc, mà cả với những nước ở hải ngoại nữa. Tuy nhiên, tất cả tình hình đó vẫn còn ở hình thái chưa phát triển; những kim loại quý bắt đầu trở thành thứ hàng hóa – tiền tệ phổ biến và chiếm ưu thế, nhưng người ta chưa đem đúc thành tiền, mà chỉ đem trao đổi theo trọng lượng”(6). Cũng theo Ph. Ăng-ghen: “Thời đại văn minh đã củng cố và phát triển tất cả những sự phân công đã có… và thời đại văn minh còn bổ sung vào đó một sự phân công thứ ba, một sự phân công chỉ đặc trưng cho nó, có một ý nghĩa quyết định: sự phân công này sản sinh ra một giai cấp không còn tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là những thương nhân” (7).

Những ý kiến nêu trên của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, cho phép chúng ta khẳng định rằng: Kinh tế thị trường (kinh tế hàng hóa) không chỉ gắn với chế độ sở hữu tư nhân mà còn gắn với chế độ sở hữu công cộng thuộc các cộng đồng khác nhau như đã từng diễn ra trong lịch sử.

3- Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa có nguồn gốc lịch sử từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn trước đó, nhưng lại có sự khác biệt lớn: Kinh tế hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H – T – H (bán hàng lấy tiền để mua hàng), còn nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức mà C. Mác đã nêu là T – H – T (lấy tiền mua hàng, bán hàng lấy được tiền nhiều hơn số tiền đã mua). Công thức này phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư của lao động làm thuê. Giá trị thặng dư biểu hiện trên bề mặt xã hội dưới hình thức lợi nhuận. Kinh tế hàng hóa giản đơn dưới sự tác động của quy luật giá trị dẫn đến phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, hình thành mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu lớn của chủ nghĩa tư bản không chỉ chịu tác động của quy luật giá trị mà còn chịu tác động của quy luật giá trị thặng dư, là quy luật kinh tế cơ bản, hay tuyệt đối (theo C. Mác) và tồn tại trong hệ thống các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa tư bản.

4- Từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến lên phương thức sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nảy sinh tất yếu kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tuy vẫn chịu tác động của quy luật giá trị (quy luật chung của kinh tế thị trường), nhưng đồng thời cũng chịu tác động của quy luật kinh tế cơ bản (quy luật quy định mục đích khách quan của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội), và các quy luật kinh tế khác của xã hội xã hội chủ nghĩa.

Do có sự khác nhau về bản chất giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nên cơ chế thị trường của hai nền kinh tế này cũng khác nhau. Cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho sự vận hành của nó phù hợp với các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, trong đó quy luật sản xuất ra giá trị thặng dư giữ vai trò quyết định, nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều cho các nhà tư bản, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia. Còn cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho sự vận hành của nó phù hợp với quy luật kinh tế cơ bản và các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa xã hội. Ở đây, Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có vai trò rất quan trọng. Nhà nước định hướng nền kinh tế thị trường bằng những chính sách kinh tế vĩ mô và luật pháp, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và quy luật phát triển có kế hoạch cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đưa những tiến bộ khoa học – kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, làm ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá rẻ, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trên cơ sở đó, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho mỗi thành viên và cả cộng đồng, củng cố và phát triển vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa.

5- Đã có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì tất nhiên cũng có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nước ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Đó là một thực tế khách quan. Do đó, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng coi đó là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế. Đây không chỉ là một định hướng nền kinh tế, mà hơn thế nữa còn là vấn đề chính trị, thể hiện lập trường chính trị đúng đắn, kiên định của Đảng ta, là cái phân biệt trước hết với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đúng như V.I. Lê-nin đã viết: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế… không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất” (8).

Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta như Đại hội IX của Đảng chỉ rõ, bao gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể với những hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế đó dựa trên những hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí có lúc đối lập nhau về bản chất kinh tế – xã hội, vừa hợp tác cùng có lợi, vừa cạnh tranh phát triển trong một chỉnh thể, tạo thành những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, do đó cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vẫn diễn ra hằng ngày, hằng giờ nhưng có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. Nền kinh tế thị trường vận hành theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở các nhân tố cơ bản về kinh tế, chính trị sau đây:

Về kinh tế: Trong các thành phần kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Có quan điểm cho rằng, nếu thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì không thực hiện được bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Quan niệm như thế là hoàn toàn không đúng. Nếu phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về thực chất là phủ nhận cơ sở kinh tế, công cụ kinh tế, lực lượng kinh tế quan trọng của Nhà nước để thực hiện việc định hướng xã hội chủ nghĩa. Thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không có nghĩa là làm mất đi sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà ngược lại, Nhà nước thấy rõ vai trò động lực phát triển mạnh mẽ của việc hình thành luật chơi chung cho các thành phần kinh tế trên cơ sở tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để bảo đảm tính hiệu quả chung về kinh tế – xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đang tìm cách hoàn thiện hệ thống pháp chế, xây dựng một hành lang pháp lý bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế phát triển hết khả năng của mình trong sự hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Để củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Nhà nước cần chú trọng trước hết đến việc làm cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, trong đó phải sớm khắc phục tình trạng kém hiệu quả của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước bằng cách đẩy mạnh đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Các giải pháp cơ bản trước mắt là, kiên quyết xóa bỏ bộ chủ quản, để các doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi và đóng góp cho ngân sách nhà nước theo luật định. Các bộ chỉ thực hiện việc quản lý nhà nước theo pháp luật, không can thiệp vào công việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Xúc tiến mạnh mẽ việc cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, thực hiện chế độ “đồng sở hữu”, “chế độ quản lý dân chủ” và chế độ “tham gia phân phối lợi nhuận” của tất cả các thành viên. Đối với các doanh nghiệp có tầm quan trọng đối với quốc kế, dân sinh, nhà nước có thể giữ lại không cổ phần hóa, cũng phải tiến hành đổi mới theo hướng dân chủ hóa. Việc bổ nhiệm các chức danh quản lý, đặc biệt là giám đốc doanh nghiệp, nên thông qua chế độ thi tuyển để chọn người có đạo đức, phẩm chất, có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi (coi giám đốc cũng là một nghề) và kèm theo đó là phải có chế độ đãi ngộ nhân tài thật thỏa đáng. Thực hiện cơ chế để công nhân tham gia quản lý và giám sát hoạt động của doanh nghiệp, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp phải được công khai hóa, minh bạch hóa.

Nói tóm lại, muốn đưa doanh nghiệp nhà nước phát triển mạnh mẽ, vấn đề then chốt là phải có một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, một đội ngũ công nhân lành nghề, chế độ quản lý dân chủ và có hiệu quả. Muốn vậy, phải củng cố tổ chức của Đảng trong doanh nghiệp, lựa chọn những cán bộ, đảng viên am hiểu về kinh tế để tăng cường đội ngũ cán bộ lãnh đạo của các tổ chức đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là hai nhân tố chính trị căn bản bảo đảm sự thành công của đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai nhân tố này thể hiện tính tự giác, khắc phục tính tự phát của kinh tế thị trường và mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế đang do chủ nghĩa tư bản chi phối, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đề ra các chính sách kinh tế vĩ mô và thiết lập cơ chế thị trường sao cho các thành phần kinh tế khác nhau vận động theo cùng một hướng tạo thành một hợp lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, ai muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn thay thế sự lãnh đạo của Đảng bằng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo quan điểm dân chủ tư sản phương Tây, thực chất là phủ nhận con đường đúng đắn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

6- Vấn đề là ở chỗ, phải củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ then chốt xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh việc cải cách nền hành chính quốc gia, nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu của nó, đang và sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để bắt kịp thời đại, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý. Điều đó có nghĩa là phải tạo ra được một bước ngoặt chiến lược về ý thức, nhận thức đối với tri thức khoa học, công nghệ (theo nghĩa rộng), làm cho khoa học, công nghệ ngày càng phục vụ đắc lực hơn cho sự nghiệp cách mạng. Trước hết là sử dụng công nghệ thông tin vào công tác lãnh đạo và quản lý, qua đó Đảng và Nhà nước có thể lựa chọn được những phương án tối ưu cho công tác lãnh đạo và quản lý, xử lý kịp thời và đúng đắn những tình huống phức tạp trong kinh tế và chính trị.

Lãnh đạo và quản lý khoa học không thể tách rời lương tri (đạo đức). Như người ta thường nói “khoa học mà không có lương tri thì chỉ là sự tàn lụi của tâm hồn”. Do đó, trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần đưa vấn đề củng cố nền tảng đạo đức cách mạng của Đảng, của cán bộ, đảng viên lên hàng đầu. Có quy chế bắt buộc cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng dưới sự theo dõi, giám sát của tổ chức đảng và của quần chúng. Trước hết, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vốn đang là vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội. Làm cho Đảng thật sự trong sạch và vững mạnh, xứng đáng là đại biểu cho lương tâm và trí tuệ của thời đại, củng cố vững chắc mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Đó chính là sức mạnh vô địch của Đảng cầm quyền.

Đảng và Nhà nước quan tâm sử dụng đội ngũ chuyên gia cao cấp trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế – tài chính để giúp Đảng trong công tác lãnh đạo và Nhà nước trong công tác quản lý. Có chính sách và cơ chế tuyển chọn nhân tài, đưa họ vào những cương vị xứng đáng, để họ đem hết tài năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong “xã hội thông tin”, giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách với các nước có nền công nghiệp tiên tiến.

Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển đội ngũ những doanh nhân trẻ có đủ đức độ và tài năng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Đây là lực lượng nòng cốt, làm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hết sức coi trọng việc xây dựng, phát triển giai cấp công nhân theo hướng hiện đại hóa, trí thức hóa; không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của họ, để họ làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình trong việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trong khi xây dựng những chính sách và cơ chế thông thoáng đối với các thành phần kinh tế, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững, Nhà nước cần thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát, thực hành tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả từng đồng vốn đầu tư, kịp thời ngăn chặn và xử lý những hiện tượng tiêu cực trên thị trường trái với định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước kiến tạo nên một thị trường cạnh tranh lành mạnh, văn minh.


(1) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 21, tr 168

Xem: V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, t 3, tr 737

(3) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1993, t 23, tr 510-511

(4) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1994, t 25, phần I, tr 270

(5) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1995, t 21, tr 237-238

(6) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, t 21, tr 242 – 243

(7) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, t 21, tr 246

(8) V.I. Lê-nin: Sđd, t 42, tr 349-350

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SÔ 1 (122) NĂM 2007

THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH

▪ Hồ sơ cần thiết:

– Đơn khởi kiện (theo mẫu)

– Các tài liệu liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ nhà, đất, hợp đồng…)

– Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có sao y) nếu là cá nhân;

– Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có sao y) nếu là pháp nhân.

– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

▪ Lệ phí:

1/ Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.

2/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 50.000 đồng.

3/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định như sau:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a/ Từ 1.000.000 đồng trở xuống.

50.000 đồng

b/ Từ trên 1.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

5% của giá trị tài sản có tranh chấp.

c/ Từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

5.000.000 đồng + 4% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 100.000.000 đồng.

d/ Từ trên 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

9.000.000 đồng + 3% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 200.000.000 đồng.

  đ/ Từ trên 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.

18.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 500.000.000 đồng.

e/ Từ trên 1.000.000.000 đồng .

28.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 1.000.000.000 đồng.

4/ Mức án phí dân sự phúc thẩm đối với tất cả các vụ án dân sự là 50.000 đồng.

5/ Đối với vụ án hôn nhân và gia đình mà có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, thì ngoài việc chịu án phí quy định tại mục 2, các đương sự còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch quy định tại mục 3 tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng.

Nộp tiền tạm ứng án phí

Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong các vụ án dân sự không có giá ngạch hoặc có giá ngạch từ 1.000.000 đồng trở xuống phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 50.000 đồng, trong các vụ án dân sự có giá ngạch quy định tại các điểm b, c, d, đ, e mục 3 phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 50% của mức án phí sơ thẩm mà án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo theo mức quy định tại Điều 8 của Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

Trích “Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí án”.

▪ Thời gian giải quyết:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

▪ Địa điểm tiếp nhận:
Tổ thụ lý – Văn phòng Tòa án nhân dân ở địa phương

SOURCE: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÀI Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬT THỰC ĐỊNH HIÊN HÀNH VÀ QUAN ĐIỂM KHOA HỌC TRONG BÀI “HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ”

THS. NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Nhân đọc bài “Hòa giải trong Tố tụng dân sự – Nhìn từ góc độ kinh tế” của tiến sĩ luật Lê Nết trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 2 (33)/2006 (từ trang 31 đến trang 38), chúng tôi xin có vài ý kiến trao đổi về vấn đề liên quan đến luật thực định hiện hành và quan điểm khoa học được tác giả thể hiện trong bài viết ở các nội dung sau:

1. Về những vấn đề liên quan đến quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện hành về hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân

1.1 Thứ nhất: Về vấn đề giá trị pháp lý của biên bản hòa giải trong tố tụng dân sự

Tại phiên hòa giải thư ký ghi biên bản hòa giải. Nếu các bên đương sự thoả thuận được tất cả mọi vấn đề tranh chấp thì đó là biên bản hòa giải thành. Trường hợp các bên không thống nhất thì đó là biên bản hòa giải không thành. Các biên bản này là căn cứ pháp lý để Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên trong quy định của pháp luật không bao giờ cho phép các đương sự kháng cáo đối với biên bản này theo thủ tục phúc thẩm và cũng không có thủ tục giám đốc thẩm áp dụng đối với biên bản hòa giải thành. Quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) chỉ cho phép đương sự có quyền thay đổi ý kiến trong biên bản (khoản 1 Điều 187). Hơn nữa quyền kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự chỉ áp dụng đối với bản án, quyết định chứ không thể áp dụng đối với biên bản hòa giải.

Vì vậy khi TS. Lê Nết viết rằng: “Biên bản hòa giải sau này có thể coi là sai về mặt tố tụng và bị kháng cáo, thậm chí giám đốc thẩm” (trang 37) chúng tôi cho rằng chưa chính xác so với quy định trong BLTTDS hiện hành.

1.2 Thứ hai: Vấn đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 của BLTTDS: “Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực thi hành ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”.

Tuy nhiên trong bài viết khi viện dẫn Điều 187 và 188 BLTTDS tác giả nhận đinh: “Việc phải đợi thêm 7 ngày sau khi có biên bản hòa giải mới ra quyết định công nhận hòa giải của các bên, rồi 15 ngày sau quyết định này mới có hiệu lực sẽ khiến cho các bên có thời gian suy nghĩ lại hay cố tình kéo dài vụ việc bằng cách phản đối lại những gì mình đã thoả thuận trong biên bản trước đó… Thời gian phúc thẩm quyết định công nhận hòa giải thành nếu có chỉ dựa trên những căn cứ do việc áp dụng pháp luật của Thẩm phán có sai sót chứ không phải do đương sự không đồng ý với những gì mình đã ký trong biên bản mà không có lý do chính đáng” (trang 38).

Trong nội dung này chúng tôi có hai ý kiến:

– Theo quy định của Điều 187 sau khi Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự thì đương sự không được quyền thay đổi ý kiến đã thể hiện trong biên bản hòa giải thành nữa. Họ chỉ có quyền này trong hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản, tức trước thời điểm ban hành quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự . Do vậy không thể hiểu là đương sự có thể gây khó khăn cho bên kia sau khi đã có quyết định bằng việc thay đổi ý kiến của mình.

– Theo quy định tại Điều 188, quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự có hiệu lực ngay, không bao giờ có thủ tục phúc thẩm đối với quyết định này. Do đó khi tác giả phân tích Điều 188 theo hướng cho rằng quyết định này sau 15 ngày mới có hiệu lực và có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (trang 38) là không đúng với quy định của pháp luật hiện hành.

2. Về quan điểm khoa học liên quan đến thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự

2.1 Thứ nhất: Chúng tôi đồng quan điểm với tác giả khi cho rằng: hòa giải trong tố tụng khác với hòa giải ngoài tố tụng. Tuy nhiên, khi tác giả lập luận và đưa ra nhận định về hòa giải trong tố tụng: “Như vậy, hòa giải là biện pháp có hòa giải” (trang 32) thì, theo chúng tôi, cách nhận định này không thể hiện đúng bản chất pháp lý của hòa giải trong tố tụng dân sự do tòa án thực hiện. Bởi lẽ hòa giải trong tố tụng là do tòa án chủ động triệu tập đương sự theo quy định của pháp luật. Khi đương sự có mặt, Thẩm phán sẽ chủ trì phiên hòa giải, đương sự có toàn quyền định đoạt trong quá trình hòa giải, nhưng Thẩm phán có nghĩa vụ xem xét để công nhận hoặc không công nhận nội dung các bên đã thỏa thuận trong phiên hòa giải. Do vậy nếu hiểu: Hòa giải là biện pháp có hòa giải thì không thể hiện được tính chất của hòa giải nói chung và hòa giải trong tố tụng dân sự nói riêng. Đồng thời cũng không thể phân biệt được hòa giải trong tố tụng khác với hòa giải ngoài tố tụng về bản chất pháp lý của khái niệm.

Theo chúng tôi, hòa giải trong tố tụng là thủ tục bắt buộc do tòa án chủ động thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm giúp các bên đương sự thoả thuận giải quyết tranh chấp trong quá trình tố tụng. Kết quả của việc hòa giải có thể được tòa án công nhận và có giá trị pháp lý để thi hành.

2.2 Thứ hai: Chúng tôi không đồng tình với quan điểm của tác giả cho rằng: “Muốn đẩy nhanh phương thức hòa giải nên chăng tòa án nên tăng mức bồi thường thiệt hại cho bên thua kiện khi đưa vụ án ra xét xử. Luật Sở hữu trí tuệ vừa thông qua ngày 25/11/2005 vừa qua đã lựa chọn phương án này. Tại Chương V của Luật có quy định tòa án có quyền tự ấn định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại do hành vi của bị đơn gây ra. Mức bồi thường thiệt hại được ấn định tối đa là 500 triệu đồng” (trang 34).

Theo chúng tôi, nếu tòa án tự mình ấn định mức bồi thường thiệt hại là trái pháp luật. Ngược lại, tòa chỉ được xác định mức bồi thường dựa trên cơ sở những chứng cứ bên yêu cầu cung cấp mà được pháp luật chấp nhận. Việc tác giả viện dẫn Chương V của Luật Sở hữu trí tuệ để lý giải điều này lại càng không đúng. Vì toàn bộ Chương V của Luật Sở hữu trí tuệ là các quy định về: “Chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi không tìm thấy trong Chương V của Luật Sở hữu trí tuệ có bất kỳ một quy định nào liên quan đến nội dung được trình bày trong bài viết của tác giả.

Tuy nhiên tại chương XVII của Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 205 có quy định căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định: “Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:

a/ Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;

b/ Giá chuyển giao quyền sử dụng đối với đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;

c/ Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và b khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do tòa án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không quá năm trăm triệu đồng…”.

Điều này có nghĩa nguyên đơn phải chứng minh được mình có thiệt hại vật chất do bị đơn gây ra nhưng không có căn cứ áp dụng theo cách tính tại điểm a và b nêu trên thì tòa án sẽ xem xét tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại để ấn định một mức bồi thường cụ thể nhưng không quá năm trăm triệu đồng. Như vậy khi nguyên đơn không chứng minh được mình có thiệt hại do hành vi của bị đơn gây ra thì tòa không thể buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn.

3.3 Thứ ba: Tại trang 32 tác giả nhận định: “Nhìn chung Luật tố tụng dân sự Việt Nam đã có những cải cách để làm tốt được vai trò thứ nhất thông qua các quy định gần đây trong Luật Sở hữu trí tuệ, song vẫn chưa làm tốt được vai trò thứ hai”. Và vai trò thứ nhất trong cách lý giải của tác giả tại trang 32 là:

“Thứ nhất là làm cho quá trình kiện tụng và thi hành án khó khăn hơn (các bên khi đó sẽ chọn phương án hòa giải cho nhanh chóng)”.

Chúng tôi cho rằng quan điểm này về mặt khoa học không phù hợp bởi Luật Sở hữu trí tuệ không phải là sự triển khai tiếp theo của Luật Tố tụng dân sự về cả nội dung cũng như mục đích. Do đó không thể nhận định rằng Luật Tố tụng dân sự thực hiện được vai trò của nó thông qua các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Mặt khác, dù hiểu thế nào đi chăng nữa cũng không thể cho rằng vai trò của Luật Tố tụng dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ là nhằm làm cho quá trình kiện tụng và thi hành án khó khăn hơn để từ đó các bên e ngại mà phải chọn việc hòa giải thay cho việc xét xử. Cách lập luận này e rằng trái với quan điểm lập pháp của nhà nước pháp quyền trong bối cảnh của công cuộc cải cách tư pháp hịên nay. Bởi vì sự ra đời và hiện diện của Luật Tố tụng dân sự là nhằm giúp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp trước cơ quan tài phán nhà nước. Vì vậy, sự tiến bộ của Luật là các quy định thông thoáng, phù hợp để bảo đảm cho đương sự thực hiện tốt nhất quyền tố tụng của họ chứ không nhằm cản trở hoặc làm cho họ sợ mà không dám tham gia tố tụng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2006

CÔNG VĂN SỐ 12/ĐKGDBD-NV VỀ GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP, BẢO LÃNH BẰNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

BỘ TƯ PHÁP
CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA
GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
******
Số: 12/ĐKGDBĐ-NV
V/v: Giải đáp một số vướng mắc khi đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2006

Kính gửi: Ngân hàng TMCP Á Châu

Trả lời Công văn số 126/CV-PC.06 ngày 17/01/2006 của Quý Ngân hàng về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai (sau đây gọi tắt là công văn số 126/CV-PC.06), Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm có ý kiến như sau:

1. Về tài sản bảo đảm là tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai

Theo quy định tại khoản 2 Điều 320 Bộ luật dân sự thì “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

Như vậy, để xác định mọt tài sản bảo đảm là vật hình thành trong tương lai thì chỉ căn cứ vào thời điểm vật đó thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Cụ thể, nếu vật thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết thì được coi là vật hình thành trong tương lai, không phụ thuộc vào việc đó là động sản hay bất động sản, đã được hình thành hay đang trong quá trình hình thành (ví dụ như công trình đang được đầu tư, xây dựng mới, hay sản phẩm đang trong quá trình sản xuất).

Căn cứ vào quy định nêu trên tại Bộ Luật Dân sự, chúng tôi cho rằng:

Thứ nhất, việc ngân hàng ACB nhận bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai là công trình xây dựng hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, công trình xây dựng là tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tại thời điểm nghĩa vụ được xác lập (ngân hàng thực hiện việc cho vay) hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết, khách hàng vay chưa hoàn tất thủ tục xác lập quyền sở hữu của mình đối với công trình đó. Do đó, công trình có thể là đang được xây dựng hoặc đã hoàn thành việc xây dựng nhưng chưa làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Về thời hạn thực hiện giấy phép xây dựng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 16/2006/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì:

“trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng mà công trình chưa được khởi công thì người xin cấp giấy phép xây dựng phải xin gia hạn giấy phép xây dựng”.

Như vậy, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng, người được cấp giấy phép xây dựng phải khởi công công trình xây dựng, nếu không thì phải xin gia hạn giấy phép xây dựng. Quy định trên hoàn toàn không có nghĩa là công trình phải được xây dựng xong trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp giấy phép xây dựng. Do vậy, việc “Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận 7, quận 12, quận Gò Vấp yêu cầu tại thời điểm đăng ký thế chấp, bảo lãnh, giấy phép xây dựng không được quá thời hạn 12 tháng” (trích Công văn số 126/CV-PC.06) là không có căn cứ pháp lý và không phù hợp với quy định về hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

3. Về đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Theo quy định tại điểm 2.3 khoản 2 Mục I của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT thì việc “thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai” là một trong những trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nếu các tài sản nêu trên cùng được thế chấp, bảo lãnh theo một hợp đồng. Khi thực hiện đăng ký đối với trường hợp nêu trên, người yêu cầu đăng ký chỉ nộp một bộ hồ sơ đăng ký, trong đó quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm được kê khai trong cùng một Đơn.

Như vậy, việc “cơ quan đăng ký yêu cầu phải tách thành hai đơn: Đơn đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và Đơn đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất” (trích Công văn số 126/CV-PC.06) là trái với quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT.

Trên đây là ý của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, xin gửi Quý Ngân hàng nghiên cứu, tham khảo.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh;
– Vụ Đất đai – Bộ TN và MT (để phối hợp);
– Vụ Pháp chế – Ngân hàng Nhà nước (để biết);
– Cục trưởng Cục ĐK (để báo cáo);
– Lưu Cục ĐK, Phòng NV.

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Trần Đông Tùng

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Thi hành án là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác nó là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân khi bị xâm hại. Hiệu quả của hoạt động thi hành án phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án.

Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 đã chỉ rõ cần “ Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án”. Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và thực tiễn thi hành án dân sự, từ đó đóng góp các ý kiến cho vào việc xây dựng trình tự, thủ tục thi hành án khoa học, hợp lí hơn, có tính đến các đặc thù của từng loại hình thi hành án, khắc phục được những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (viết tắt là PLTHADS) là vấn đề rất quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án.

1. Về cơ cấu các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Những quy định về thủ tục thi hành án hiện nay được quy định tại Chương 3 PLTHADS gồm 19 điều áp dụng chung cho cả thi hành án dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động và phần dân sự trong bản án và hành chính. Có thể thấy, so với tính chất phức tạp và đa dạng của việc thi hành các bản án, quyết định dân sự ; hôn nhân và gia đình; kinh doanh thương mại ; lao động ; các quyết định về tài sản trong các bản án về hình sự, hành chính và quyết định trọng tài thương mại thì các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án trong PLTHADS là chưa tương xứng, chưa tính đến đặc thù của từng loại việc, cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu của việc thi hành mỗi loại án cụ thể này. Đặc điểm của đối tượng thi hành án dân sự là các quyết định dân sự (theo nghĩa rộng) mang tính chất tài sản và nhân thân ; còn đặc điểm của thi hành án hình sự là hình phạt và các biện pháp tư pháp khác ; thi hành án hành chính là thi hành các quyết định liên quan đến các cơ quan nhà nước. Vì vậy, các quy định về thủ tục thi hành án dân sự trong Bộ luật thi hành án (viết tắt là BLTHA) phải tính đế những đặc điểm chung của các loại bản án, quyết định đó, đồng thời phải tính đến đặc thù của từng loại bản án, quyết định. Vì vậy, các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án trong BLTHA cần phải tách bạch thành hai phần khác nhau : phần những quy định chung về thủ tục thi hành án và phần những quy định cụ thể về thủ tục thi hành án đối từng loại thủ tục thi hành án dân sự, thi hành án kinh doanh, thương mại, thi hành án lao động và thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự và hành chính. Cách quy định này về mặt khoa học sẽ rất rõ ràng và thực tế các cơ quan thi hành án sẽ dễ áp dụng.

Trong phần những quy định chung về thủ tục thi hành án là phần cần quy định những vấn đề chung nhất để từ đó thực hiện thủ tục, cách thức thi hành bản án, quyết định dân sự như : bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành ; căn cứ thi hành án ; thời hiệu thi hành án ; thẩm quyền ra quyết định thi hành án ; thông báo quyết định thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người có quyền , nghĩa vụ liên quan … Phần thứ hai về thủ tục thi hành án của BLTHA, cần chia thành các chương, mỗi chương quy định về đặc thù của từng loại hình thi hành án. Theo chúng tôi có thể chia thành các chương sau: Thủ tục thi hành án dân sự và hôn nhân gia đình ; thủ tục thi hành án kinh doanh thương mại (bao gồm việc thi hành các bản án của cả tòa án và quyết định của trọng tài) ; thủ tục thi hành án phá sản ; thủ tục thi hành án lao động ; thủ tục thi hành án hành chính ; thủ tục thi hành án hình sự.

2. Về việc cấp bản án, quyết định của tòa án

Bản án, quyết định của tòa án là cơ sở pháp lý để các đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án và để cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án. Cho nên, trách nhiệm cấp bản án, quyết định của tòa án cho đương sự và trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định của tòa án cho cơ quan thi hành án thuộc về tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó. Thời hạn cấp, chuyển giao các loại bản án, quyết định được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng BLTHA, vấn đề có xác định rõ thời điểm mà Tòa án đã tuyên bản án, quyết định cấp bản án quyết định cho đương sự hay không là vấn đề có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất, cho rằng cần thiết phải xác định rõ thời điểm tòa án cấp bản án, quyết định cho đương sự là thời điểm khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành như Điều 18 PLTHADS hiện nay ; việc không xác định rõ thời điểm toà án cấp bản án, quyết định có thể gây ra sự nhầm lẫn đối với một số toà án và đặc biệt đối với các đương sự. Ý kiến thứ hai cho rằng, việc xác định rõ thời điểm tòa án cấp bản án, quyết định cho đương sự là không cần thiết và thừa.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai bởi các lý do sau. Bản án, quyết định dân sự của toà án có hiệu lực thi hành có thể là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có hiệu lực thi hành ngay. Việc xác định thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với các bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thường đơn giản vì đó là những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án hoặc ra quyết định. Còn đối với bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm chỉ có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị không bị ai kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị. Việc xác định thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với loại bản án, quyết định này là vấn đề phức tạp.

Theo quy định tại Điều 245 của BLTTDS:

– Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự có mặt tại phiên toà. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết;

– Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người kháng cáo nhận được quyết định.

Về nguyên tắc, các chủ thể kháng cáo được thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định. Nếu kháng cáo ngoài thời hạn quy định của pháp luật là kháng cáo quá hạn. Theo Điều 247 BLTTDS thì sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình lí do kháng cáo quá hạn của người kháng cáo và tài liệu, chứng cứ nếu có cho toà án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm ba thẩm phán để xem xét việc kháng cáo quá hạn. Khi hội đồng xét đơn kháng cáo quá hạn ra quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì bản án, quyết định đó sẽ chưa có hiệu lực pháp luật và bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Theo quy định tại Điều 252 BLTTDS, thời hạn kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp viện kiểm sát không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án. Thời hạn kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ của toà án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày, kể từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.

Như vậy, thời điểm bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với mỗi đương sự có thể là khác nhau nhưng ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực thi hành sẽ là ngày mà không còn chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị và bản thân các đương sự không thể tự xác định được điều đó để yêu cầu toà án cấp bản án, quyết định có ghi để thi hành cho mình mà chỉ có toà án đã tuyên bản án, quyết định mới xác định được chính xác. Vì vậy, về nguyên tắc, toà án chỉ có thể cấp cho người được thi hành án, người phải thi hành án bản án, quyết định có ghi “để thi hành” khi bản án, quyết định đó đã có hiệu lực thi hành ; bản thân dấu giáp lai “để thi hành” của tòa án đã chứng tỏ bản án, quyết định đó đã có hiệu lực thi hành rồi nên việc nhắc lại thêm một lần nữa về kỹ thuật lập pháp là thừa Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện nay và trong tương lai, các phán quyết của trọng tài thương mại cũng được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự nên BLTHA cần quy định cả việc cấp quyết định trọng tài của trung tâm trọng tài. Do đó, điểu luật về cấp bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài cần quy định như sau: “Toà án đã tuyên bản án hoặc quyết định hoặc, trọng tài đã ra quyết định trọng tài đó phải cấp cho người được thi hành án, người phải thi hành án bản án, quyết định có ghi để thi hành… »

3. Về thủ tục yêu cầu thi hành án

Hiện nay, Điều 19 PLTHADS mới chỉ quy định về quyền yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án, người phải thi hành án. Tuy nhiên khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án khi việc thực hiện quyền cầu của đương sự đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định, bao gồm : người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án ; yêu cầu thi hành án đối với bản án, quyết định dân sự có ghi “để thi hành“, thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án ; còn thời hiệu thi hành án và đúng mẫu đơn yêu cầu thi hành án. Nhưng không phải người dân nào khi thực hiện yêu cầu thi hành án đều hiểu được các điều kiện đó gồm những vấn đề gì ? Để tạo điều kiên cho người dân khi thực hiện quyền yêu cầu thi hành án cũng như thuận lợi cho cơ quan thi hành án khi xét đơn yêu cầu, theo chúng tôi, trong phần chung về thủ tục thi hành án của BLTHA cần quy định điều luật về thủ tục yêu cầu thi hành án dân sự theo hướng như sau :

“1. Người yêu cầu thi hành án phải làm đơn gửi cơ quan thi hành án có thẩm quyền theo quy định tại Điều… của Bộ luật này.

2. Đơn yêu cầu thi hành án phải được gửi trong thời hiệu thi hành án.

3. Đơn yêu cầu thi hành án phải có các nội dung chính sau đây:

…..

4. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án là bản sao bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài có ghi để thi hành và các tài liệu khác cần thiết cho việc thi hành án».

4. Thủ tục ra quyết định thi hành án và giải thích bản án, quyết định

Tại khoản 2 Điều 22 và Điều 23 PLTHADS quy định thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của toà án (trong trường hợp thi hành án chủ động) hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án (trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu). Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp bản án, quyết định của toà án tuyên không rõ ràng hoặc có sai sót, cần phải có giải thích hoặc việc xét xử lại của toà án mới có thể thi hành án được. Tại Điều 382 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, toà án phải có văn bản giải thích… “. Do đó, thời hạn 5 ngày làm việc không thể đủ để cơ quan thi hành án làm công văn yêu cầu toà án giải thích và toà án trả lời cơ quan thi hành án. Nếu cơ quan thi hành án vẫn ra quyết định thi hành án theo đúng thời hạn sẽ dẫn đến việc cơ quan thi hành án tiếp tục thực hiện bản án, quyết định sai của toà án. Cách giải quyết sẽ hợp lí và phù hợp với thực tiễn trong trường hợp này sẽ là chờ kết quả giải thích của toà án sau đó mới ra quyết định thi hành án. Vì vậy, BLTHA cần quy định theo hướng: thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của toà án hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu toà án giải thích bản án, quyết định.

5. Cần bổ sung quy định về xác minh trong thi hành án

Về nguyên tắc, việc thi hành án trước hết phải tôn trọng và khuyến khích sự tự nguyện của các đương sự. Chỉ sau khi hết thời hạn do chấp hành viên ấn định mà các đương sự có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án mới áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, trừ các trường hợp do pháp luật quy định. Vấn đề mấu chốt ở chỗ, cơ quan thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì mới có thể nghĩ đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế gì và xây dựng kế hoạch tổ chức cưỡng chế. Xác minh trong thực tiễn thi hành án là vấn đề vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định việc thi hành án có thành công hay không. Hiện tại, PLTHADS không quy định về thủ tục xác minh trong thi hành án, các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này có đề cập đến một vài khía cạnh của thủ tục xác minh nhưng chưa đầy đủ, cụ thể. Thực tiễn hoạt động thi hành án, các cán bộ thi hành án cũng thường chỉ tiến hành xác minh qua kinh nghiệm, có cơ quan thi hành án xác minh trong thời hạn đương sự tự nguyện thi hành án, có cơ quan thi hành án xác minh khi hết thời hạn đương sự tự nguyện thi hành án… Do đó, cần bổ sung điều luật về xác minh trong thi hành án như thời hạn, thủ tục, chủ thể tiến hành việc xác minh…

6. Về quy định hoãn thi hành án

Theo điểm d khoản 1 Điều 26 PLTHADS, thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án khi tài sản kê biên có tranh chấp mà đang được toà án thụ lí giải quyết theo đơn kiện của người có quyền, lợi ích liên quan. Điều đó có nghĩa trong trường hợp khi có tranh chấp về tài sản kê biên nhưng những người có quyền, lợi ích liên quan chưa khởi kiện hoặc khởi kiện nhưng toà án đang làm thủ tục thụ lí thì thủ trưởng cơ quan thi hành án cũng không có quyền hoãn thi hành án mà phải tiến hành các thủ tục thi hành án sau kê biên như xử lí tài sản kê biên, bán đấu giá. Quy định này coa ưu điểm là có thể đảm bảo cho việc tiến hành nhanh, tránh việc lợi dụng việc tranh chấp để kéo dài thời gian thi hành án ; nhưng ngược lại, nếu sau khi xử lí tài sản kê biên mà toà án thụ lí giải quyết tranh chấp và xác định tài sản đó không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì hậu quả sẽ rất khó khắc phục. Hơn nữa quy định tại điểm d khoản 1 Điều 26 PLTHADS là mâu thuẫn với quy định của khoản 5 Điều 41 PLTHADS. Khoản 5 Điều 41 PLTHADS quy định : « Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên tài sản và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện thì tài sản kê biên được xử lí để thi hành án ». Như vậy, khi có tranh chấp về tài sản kê biên, trong khoảng thời hạn 3 tháng, kể từ ngày kê biên việc thi hành án sẽ không thể thực hiện được mà cần hoãn lại để chờ xem đương sự có khởi kiện hay không, do đó cần bổ sung vào căn cứ hoãn thi hành án theo hướng : “Khi tài sản kê biên có tranh chấp, Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên tài sản và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự, cơ quan thi hành án sẽ hoãn thi hành án trong thời hạn ba tháng ; tranh chấp về tài sản kê biên đang được toà án thụ lí giải quyết theo đơn kiện của người có quyền, lợi ích liên quan”.

Khoản 2 Điều 26 PLTHADS quy định: “Người có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”. Quy định này mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 307 BLTTDS. Theo quy định của BLTTDS, người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Bởi căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là sai lầm, vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Để xác định bản án, quyết định có sai lầm, vi phạm pháp luật hay không, người có thẩm quyền kháng nghị chỉ cần căn cứ vào hồ sơ vụ việc. Những sai lầm, vi phạm pháp luật đó là thuộc về lỗi chủ quan của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Cho nên khi có nghi ngờ bản án, quyết định khả năng có sai lầm, vi phạm pháp luật người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị. Còn tình tiết mới là căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết không có sẵn trong hồ sơ vụ án, muốn xác định được phải thông qua quá trình thu thập chứng cứ và xét xử lại. Vì vậy, người có thẩm quyền kháng nghị không thể yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị do nghi ngờ khả năng có tình tiết mới. Việc xuất hiện tình tiết mới là do khách quan mang lại, nên khi có tình tiết mới, người có thẩm quyền kháng nghị sẽ thực hiện kháng nghị và ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Do đó, BLTHA cần quy định căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp này theo hướng: « Người có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi phát hiện bản án, quyết định có vi phạm pháp luật ».

Ngoài ra, trong quá trình xây dựng BLTHA, có quan điểm cho rằng (quan điểm này được đưa ra trong Dự thảo 17 BLTHADS), cần bổ sung trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới liên quan đến bản án, quyết định đang thi hành mà người được thi hành án hoặc cơ quan thi hành án thấy cần đề nghị toà án giải quyết. Nếu quy định theo hướng này thì người được thi hành án hoặc thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền hoãn thi hành án khi cho rằng bản án, quyết định của toà án tuyên không đúng. Về nguyên tắc bản án, quyết định của toà án khi đã có hiệu lực pháp luật phải được các cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và triệt để thi hành. Không ai có quyền cản trở việc thi hành bản án quyết định đó. Chỉ những người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị hoặc yêu cầu tạm đình chỉ việc thi hành án đối với bản án, quyết định đó. Quy định đó nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của toà án, tránh việc trì hoãn thi hành án một cách tràn lan. Như vậy, nếu quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới liên quan đến bản án, quyết định đang thi hành mà người được thi hành án hoặc cơ quan thi hành án thấy cần đề nghị toà án giải quyết sẽ là không hợp lí và mâu thuẫn với quy định của pháp luật tố tụng. Chúng tôi cho rằng, hướng giải quyết hợp lý trong trường hợp này sẽ là khi phát hiện căn cứ trên cơ quan thi hành án sẽ thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm biết để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét việc kháng nghị và việc có hoãn thi hành án hay không là quyền của họ, đồng thời họ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

6. Về việc tạm đình chỉ thi hành án

Khoản 2 Điều 27 PLTHADS quy định, thời hạn tạm đình chỉ thi hành án theo yêu cầu của người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực không quá sáu tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Mục đích của việc tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp là chờ kết quả giám đốc thẩm. Nếu quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án sẽ tiếp tục thi hành bản án, quyết định đó. Nếu quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án. Vì vậy, thời hạn tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp này phải trùng với thời hạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Nhưng quy định này lại mâu thuẫn với quy định tại Điều 293 BLTTDS về thời hạn mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm: ” Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên toà để giám đốc thẩm vụ án”. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong mọi trường hợp việc mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm đều được tiến hành đúng thời hạn, nhưng cơ quan thi hành án cũng không thể đưa bản án, quyết định đang chờ xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm ra thi hành. Do đó, BLTHA cần quy định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án theo hướng: “Cơ quan thi hành án tạm đình chỉ thi hành án theo yêu cầu của người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực cho đến khi có kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.

7. Về việc đình chỉ thi hành án

Khoản 2 Điều 28 PLTHADS quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp : « Người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế theo quy định của pháp luật ». Theo quy định của pháp luật dân sự, quyền và lợi ích không được chuyển giao cho người thừa kế khi một người chết là quyền và lợi ích gắn liền với nhân thân. Còn khi người được thi hành án chết, quyền và lợi ích về tài sản sẽ được chuyển giao cho người thừa kế của người được thi hành án. Nhưng Điều 28 PLTHADS không quy định đối với trường hợp người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích theo bản án, quyết định được chuyển giao cho người thừa kế nhưng không có người thừa kế Theo quy định của pháp luật dân sự, trong trường hợp người để di sản chết mà không có người thừa kế thì tài sản đó sẽ thuộc về Nhà nước. Vì vậy, nếu người được thi hành án chết không có người thừa kế mà đình chỉ việc thi hành án đồng nghĩa với việc người phải thi hành án được giải phóng việc thực hiện nghĩa vụ, ngân sách Nhà nước bị thất thu và sẽ mâu thuẫn với quy định của pháp luật dân sự. Do đó, để khắc phục bất hợp lý này, BLTHA trong tương lai nên quy định đối với trường hợp này theo hướng: “Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật dân sự quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định được thừa kế nhưng không có người thừa kế thì cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành án ; tài sản thu hồi được nộp vào nhân sách nhà nước”./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: BÀI TÁC GIẢ GỬI, ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ…. (CHƯA XÁC ĐỊNH)

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996) được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá IX. Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội là các giao lưu dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật Dân sự (dưới đây viết tắt là BLDS) đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: BLDS là luật chung trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng theo nguyên tắc tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm, nhưng thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật của nước ta cho thấy nhiều văn bản pháp luật đều khoanh vùng áp dụng của các văn bản đó nên hiệu lực áp dụng của BLDS đã bị hạn chế rất nhiều; một số quy định trong BLDS không còn phù hợp với thực tế; có những quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ, quy định quá chung; trong BLDS có những quy định thuộc quan hệ hành chính; nhiều luật mới có nội dung liên quan đên BLDS được ban hành nhưng BLDS chưa được điều chỉnh cho phù hợp dẫn đến sự mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống pháp luật; trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS còn có những quy định chưa tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế.
Vì vậy, việc xây dựng Bộ luật Dân sự mới là cần thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai.
Bộ luật Dân sự năm 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006. Bộ luật quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
II. CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Việc xây dựng BLDS năm  2005 đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
1.     Quán triệt và kịp thời thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng, đồng thời cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 (đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 tháng 12/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều).
2.     Xây dựng BLDS theo hướng BLDS là luật chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể.
3.     Hạn chế sự can thiệp mang tính hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự; tôn trọng và phát huy sự tự thoả thuận, tự quyết định của các chủ thể.
4.     Kế thừa và phát triển các quy định đã đi vào cuộc sống, đồng thời tiếp tục pháp điển hoá pháp luật dân sự để không phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
5.     Nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta.
III. CƠ CẤU CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005 gồm 7 phần, 36 chương, 777 điều.
1.     Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLDS năm 2005 gồm 9 chương (từ Chương I đến Chương IX), 162 điều, quy định về nhiệm vụ và hiệu lực của BLDS, những nguyên tắc cơ bản, địa vị pháp lý của các chủ thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác, các vấn đề về giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn và thời hiệu.
2.     Phần thứ hai “Tài sản và quyền sở hữu” gồm 7 chương (từ Chương X đến Chương XVI) với 117 điều (từ Điều 163 đến Điều 279) quy định về nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu, các loại tài sản, nội dung quyền sở hữu, các hình thức sở hữu, xác lập và chấm dứt quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, những quy định khác về quyền sở hữu.
3.     Phần thứ ba “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” gồm 5 chương (từ Chương XVII đến Chương XXI), 351 điều (từ Điều 280 đến Điều 630), quy định về nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự, hợp đồng dân sự; thực hiện công việc không có uỷ quyền, nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
4.     Phần thứ tư “Thừa kế” gồm 4 chương (từ Chương XXII đến Chương XXV), 57 điều (từ Điều 631 đến Điều 687). Trong Phần này có những quy định chung về thừa kế; thừa kế theo di chúc; thừa kế theo pháp luật; thanh toán và phân chia di sản.
5.     Phần thứ năm “Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất” gồm 8 chương (từ Chương XXVI đến Chương XXXIII), 48 điều (từ Điều 688 đến Điều 735) quy định về các hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sự dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất.
6.     Phần thứ sáu “Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” gồm 3 chương (từ Chương XXXIV đến Chương XXXVI), 22 điều (từ Điều 736 đến Điều 749), quy định về quyền tác giả (như đối tượng, nội dung, thời điểm phát sinh quyền tác giả…) và quyền liên quan đến quyền tác giả (đối tượng liên quan đến quyền tác giả, chủ sở hữu và nội dung quyền đối với cuộc biểu diễn, cuộc phát sóng…); quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới; chuyển giao công nghệ.
7.     Phần thứ bảy “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” gồm 20 điều (từ Điều 758 đến Điều 777).

IV. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Các quy định tại Điều 1 của BLDS năm 2005 đã thể hiện được BLDS là luật chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể. Quan hệ dân sự, theo quy định của BLDS năm 2005, được hiểu rộng, bao gồm cả các quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Như vậy, BLDS năm 2005 quy định những vấn đề chung nhất, còn các luật chuyên ngành khác về hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động chỉ quy định những vấn đề đặc thù trong lĩnh vực đó. Trong trường hợp các luật trong các lĩnh vực đó không có các điều luật cụ thể để áp dụng thì áp dụng các quy định của BLDS năm 2005 phù hợp để giải quyết.
Đây là sự bổ sung cần thiết trong việc hoàn thiện pháp luật của nước ta, vì quy định này bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
2. Những nguyên tắc cơ bản của BLDS năm 2005
Một điểm mới của BLDS năm 2005 là khẳng định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận (Điều 4). Nếu như Điều 7 của BLDS năm 1995 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm” thì Điều 4 của BLDS năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội“. Đây là sửa đổi rất quan trọng, vì quy định này cho phép các chủ thể trong quan hệ dân sự “được làm những gì mà pháp luật không cấm” thay vì “được làm những gì phù hợp với quy định của pháp luật”.
Những nguyên tắc cơ bản của BLDS năm 1995 tiếp tục được khẳng định trong BLDS năm 2005 và được sắp xếp lại cho phù hợp hơn.
3. Quy định về bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, tổ chức.
Nhìn chung trong BLDS năm 2005 quy định “tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” được giữ nguyên như trong BLDS năm 1995. Tuy nhiên, để bảo vệ triệt để quyền dân sự của cá nhân, tổ chức, trong BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm quy định: khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ. Bên cạnh đó, khi các chủ thể có quyền dân sự bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ như: buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại. Mặt khác, vấn đề “phạt vi phạm” trước đây được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 12 BLDS  năm 1995 với tư cách là một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự nay đã được đưa ra khỏi Điều 9 của BLDS năm 2005. Vấn đề phạt vi phạm này được quy định bổ sung tại Khoản 7, Điều 402 BLDS năm 2005, cho phép các bên có thể thoả thuận về phạt vi phạm với tư cách là một trong các nội dung của hợp đồng dân sự.
Để tăng cường hơn nữa việc bảo vệ các quyền dân sự của các bên trong quan hệ dân sự, BLDS năm 2005 đã có quy định mới bổ sung thêm vào Điều 12 “không ai được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự”. Như vậy, việc dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực không chỉ bị nghiêm cấm trong giải quyết các tranh chấp dân sự như đã quy định trước đây trong BLDS năm 1995, mà BLDS năm 2005 đã bổ sung quy định nhằm nghiêm cấm việc dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay từ khi các bên tham gia quan hệ dân sự.
4. Về quyền nhân thân
4.1 Đăng ký hộ tịch là quan hệ giữa cơ quan nhà nước và công dân. Đây là quan hệ hành chính, do đó các quy định về đăng ký hộ tịch đã được đưa ra khỏi BLDS năm 2005. Các vấn đề cụ thể về đăng ký hộ tịch do các văn bản pháp luật về hộ tịch điều chỉnh. BLDS năm 2005 chỉ quy định một số quyền về hộ tịch dưới góc độ là quyền nhân thân của cá nhân và đưa vào quy định tại Mục 2 về quyền nhân thân của cá nhân, đó là quyền được khai sinh (Điều 29) và quyền được khai tử (Điều 30).
4.2 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân là một vấn đề nhạy cảm, rất phức tạp trong cuộc sống. Để tránh việc sử dụng tuỳ tiện hình ảnh của cá nhân đã và đang xảy ra trong thời gian qua, cần có văn bản quy phạm pháp luật riêng để quy định những trường hợp cụ thể. Vì vậy BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm một số quy định vào Khoản 2 , Điều 31 như sau:
“Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác”.
Ngoài ra, để tạo cơ sở pháp lý cho việc quy định cụ thể hơn về việc sử dụng hình ảnh của cá nhân, tại Điều 31 BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm Khoản 3 hoàn toàn mới so với BLDS năm 1995 là:
“Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
4.3 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.
Trong thời gian gần đây, yêu cầu của việc giải phẫu tử thi trong ngành y tế là rất lớn và rất cần thiết nhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứu, chữa bệnh. Theo quy định của BLDS năm 1995 thì trên thực tế rất ít trường hợp sau khi chết, người nhà của người quá cố cho phép mổ tử thi, vì việc mổ tử thi là vấn đề nhạy cảm và thuộc về tâm linh của người Á đông, nên đối với việc mổ tử thi cần phải được sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ của người quá cố. Để khắc phục những bất cập nêu trên, tại Khoản 4, Điều 32 BLDS năm 2005 đã quy định các trường hợp cụ thể được phép giải phẫu tử thi nhằm đảm bảo tính khả thi trong thực tế cuộc sống hiện nay:
“Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;
b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;
c) Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết”.
Ngoài những quy định về quyền nhân thân trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm một số quyền nhân thân, đó là  quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34); quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); quyền xác định lại giới tính (Điều 36) dưới góc độ là các quyền dân sự của cá nhân. Đây là những vấn đề mới mà trong thực tiễn đặt ra và yêu cầu giải quyết về mặt pháp lý. Tuy nhiên, những vấn đề này được quy định trong BLDS  năm 2005 chỉ mang tính nguyên tắc, dưới giác độ là các quyền dân sự; còn các quy định cụ thể sẽ do các văn bản riêng điều chỉnh.
4.4 Quyền hiến bộ phận cơ thể, quyền hiến xác, quyền hiến bộ phận cơ thể sau khi chết và quyền nhận bộ phận cơ thể người.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay là để duy trì sự sống, rất nhiều người bệnh cần phải thay hay ghép một số bộ phận cơ thể (ví dụ như thay thận, ghép gan …), Điều 33 và Điều 34 của BLDS  năm 2005 quy định: cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học để tránh tình trạng việc cá nhân sử dụng các bộ phận cơ thể của mình vì mục đích thương mại.
Tuy nhiên, BLDS năm 2005 chỉ quy định mang tính nguyên tắc vấn đề này, còn việc hiến và sử dụng xác, các bộ phận cơ thể của người sống cũng như của người chết, quyền nhận bộ phận cơ thể người do các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định cụ thể, chi tiết hơn.
Đồng thời, với các quy định bổ sung về quyền hiến bộ phận cơ thể, quyền hiến xác, quyền hiến bộ phận cơ thể sau khi chết nêu trên, BLDS năm 2005 còn quy định quyền nhận bộ phận cơ thể người tại Điều 35: Cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người khác chỉ để chữa bệnh cho mình. Nghiêm cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại.
4.5 Quyền xác định lại giới tính
Việc chuyển đổi giới tính là vấn đề mới và rất phức tạp về mặt xã hội, chưa có tính phổ biến và chưa phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội ở nước ta hiện nay. Do đó cần phải có thời gian để tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thêm kinh nghiệm các nước khác trên thế giới và khu vực.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số địa phương (ví dụ như Thành phố Hồ Chí Minh) đã tiến hành phẫu thuật nhằm xác định lại giới tính. Một yêu cầu bức xúc được đặt ra về việc phải có pháp luật điều chỉnh về vấn đề này. Đáp ứng thực tiễn đó, Điều 36 BLDS năm 2005 đã quy định việc xác định lại giới tính như sau:
“Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính. Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính.
Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, BLDS năm 2005 quy định việc xác định lại giới tính của một người chỉ được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác, mà cần có sự can thiệp của y học, nhằm xác định rõ về giới tính, chứ không quy định quyền thay đổi giới tính một cách tuỳ tiện. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tình hình xã hội và truyền thống đạo đức của nước ta hiện nay.
Quyền đối với họ, tên là quyền dân sự gắn với nhân thân của mỗi cá nhân. Quyền thay đổi họ tên là quyền dân sự cơ bản của mỗi cá nhân. BLDS  năm 2005 quy định cá nhân có quyền được xác định lại giới tính. Do đó, việc thay đổi lại họ, tên của cá nhân sau khi cá nhân đó đã được xác định lại giới tính (ví dụ như từ nam chuyển sang nữ) để tránh việc gây nhầm lẫn trong cuộc sống là yêu cầu thực tế, chính đáng của công dân. Từ đó, quyền thay đổi họ, tên trong trường hợp cá nhân đã thay đổi giới tính như đã nêu trên được bổ sung thêm tại Điều 27 BLDS  năm 2005 là: Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợpcá nhân đó đã được xác định lại giới tính.
5. Nơi cư trú (Điều 52)
Điều 48 BLDS năm 1995 quy định: “Nơi cư trú của một cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú”. Khái niệm về nơi cư trú trong BLDS năm 1995 mang nặng ý nghĩa quản lý về mặt hành chính, không phù hợp dưới góc độ dân sự. Bởi vậy, BLDS năm 2005 đã quy định nơi cư trú phù hợp với quan hệ dân sự, lấy tiêu chí quan trọng nhất để xác định nơi cư trú của cá nhân, đó là nơi cá nhân thường xuyên sinh sống.
6. Quy định về hộ gia đình
Cũng như BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 quy định 4 loại chủ thể trong đó có hộ gia đình. Khác với BLDS năm 1995, hộ gia đình ngoài yếu tố là các thành viên có tài sản chung, BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm một điều kiện nữa là các thành viên phải cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đã quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể của quan hệ giao đất, giao rừng, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, tài sản chung của hộ gia đình ngoài những loại tài sản đã được quy định trong BLDS năm 1995 như: tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên, được tặng cho chung, tài sản mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ, quyền sử dụng đất hợp pháp, BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm các loại tài sản khác cũng là tài sản chung của hộ gia đình như: quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình cho phù hợp với pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hiện hành. Ngoài ra, tài sản được thừa kế chung là tài sản chung của hộ gia đình cũng đã được bổ sung thêm vào Điều 108 – Tài sản chung của hộ gia đình trong BLDS năm 2005.
BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình (Điều 109). Theo quy định mới này thì các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận. Tuy nhiên, việc định đoạt tài sản chung là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình được quy định chặt chẽ hơn tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Nếu so sánh với các tài sản khác, thì tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình thường có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế – xã hội của cả hộ gia đình nên việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình thì cần phải được tất cả các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý. Đối với các loại tài sản chung khác của hộ gia đình thì việc định đoạt tài sản này chỉ cần được đa số thành viên của hộ gia đình từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.
7. Về giao dịch dân sự
7.1.Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Khoản 2 Điều 122 quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”. Đây là sửa đổi quan trọng so với quy định tại Khoản 4, Điều 131  BLDS  năm 1995 vì Khoản 2, Điều 122 BLDS  năm 2005 khẳng định:  chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định thì hình thức giao dịch mới là điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Quy định này sẽ hạn chế khả năng giao dịch dân sự bị tuyên là vô hiệu chỉ vì có vi phạm về hình thức giao dịch trong mọi trường hợp.
7.2. Về hình thức giao dịch dân sự. Điều 124 BLDS năm 2005 bổ sung quy định:”Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản” cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay.
PHẦN THỨ HAI
TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU

Phần này có nhiều quy định được giữ BLDS năm 1995. Bên cạnh đó, có một số điểm sửa đổi, bổ sung so với quy định của Bộ luật dân sự năm 1995:
1. Về tài sản ( Điều 163)
Điều 163 của BLDS năm 2005 quy định: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Như vậy, “vật có thực” theo quy định của BLDS năm 1995 đã được sửa thành “vật”. Việc bỏ cụm từ “có thực” làm cho khái niệm “vật” được hiểu theo nghĩa rộng hơn: bao gồm cả vật đang có và sẽ được hình thành trong tương lai. Trên thực tế có nhiều vật đang được hình thành nhưng đã là đối tượng của giao dịch. Ví dụ: công trình đang được xây dựng, tàu thuyền đang đóng hoặc sẽ đóng, vụ lúa, hoa quả sẽ có trong vụ thu hoạch sắp tới…Quy định như vậy sẽ phù hợp hơn, đáp ứng được nhu cầu về giao dịch trong nền kinh tế thị trường.
2. Về đăng ký quyền sở hữu tài sản (Điều 167)
Điều 167 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp  pháp luật có quy định khác”.
Điều 167 BLDS năm 2005 đã sửa Điều 174 BLDS năm 1995 vì Điều này quy định quá khái quát, gây khó khăn trong việc áp dụng vì chưa quy định rõ những loại tài sản nào được đăng ký.
Cơ chế đăng ký quyền sở hữu tài sản là một cơ chế nhằm công khai hoá quyền sở hữu của chủ thể. Khi quyền sở hữu đã thuộc về một chủ thể thì về nguyên tắc, tất cả các chủ thể khác phải tôn trọng quyền sở hữu của chủ thể đó. Để mọi người biết về quyền sở hữu của mình thì phải có cơ chế công khai quyền này. Ở nhiều nước trên thế giới áp dụng hai cơ chế riêng về cách biểu thị công khai đối với động sản và bất động sản. Đối với động sản: chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu. Đối với bất động sản: đăng ký là biện pháp công khai hoá các quyền về bất động sản.
Như vậy, ở Việt Nam quy định tại Điều 167 của BLDS năm 2005 là phù hợp với thông lệ thế giới: đối với bất động sản thì đăng ký là biện pháp công khai hoá quyền sở hữu; đây là một cơ chế pháp lý nhằm làm cho thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, minh bạch, bảo đảm sự an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao dịch về bất động sản. Đây là một nguyên tắc rất cơ bản trong việc thực hiện quyền sở hữu và một số quyền khác đối với bất động sản. Còn đối với động sản thì chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu, chỉ trừ những trường hợp mà pháp luật có quy định rõ là đối với loại tài sản đó áp dụng chế độ đăng ký. BLDS quy định khái quát như vậy, còn những vấn đề cụ thể như trình tự, thủ tục đăng ký, cơ quan đăng ký…sẽ do Luật đăng ký bất động sản quy định. Hiện nay Luật đăng ký bất động sản đang được soạn thảo và sẽ được ban hành trong thời gian tới.
3. Về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (Điều 168)
Điều 168 BLDS năm 2005 quy định:
“1. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Như vậy, Điều 168 BLDS năm 2005 là sự kế thừa các quy định của BLDS năm 1995 và phù hợp với một số văn bản pháp luật hiện hành (như Luật đất đai) về nguyên tắc đăng ký: đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu. Tuy nhiên, nguyên tắc này bị loại trừ trong trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về hình thức sở hữu (Điều 172 và các Điều tại Chương XIII)
Điều 172 quy định: Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,  các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Như vậy, các hình thức sở hữu theo quy định của BLDS năm 2005 là 6 hình thức sở hữu. Hình thức sở hữu toàn dân trong BLDS năm 1995 đã được sửa thành hình thức sở hữu nhà nước. Quy định như vậy nhằm làm rõ chủ thể của quyền sở hữu. Bổ sung thêm sở hữu của tổ chức chính trị, xã hội – nghề nghiệp vì hiện nay đã xuất hiện loại tổ chức này. Hình thức sở hữu hỗn hợp trong BLDS năm 1995 đã được đưa vào sở hữu chung thành một Điều (Điều 217).
5. Về chịu rủi ro về tài sản (Điều 166)
Đây là điều mới bổ sung nhằm khẳng định, về nguyên tắc, chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Trường hợp chủ sở hữu trực tiếp chiếm hữu tài sản thì chủ sở hữu phải chịu rủi ro đối với tài sản, điều này không có vấn đề gì phải bàn. Trong trường hợp chủ sở hữu không trực tiếp chiếm hữu mà là người khác chiếm hữu tài sản theo thoả thuận với chủ sở hữu thì ai phải chịu rủi ro? Quy định của Điều 166 cho thấy: nếu pháp luật có quy định hoặc trong hợp đồng có thoả thuận cụ thể về việc chịu rủi ro thì thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc theo như thoả thuận trong hợp đồng; nếu không thì chủ sở hữu phải chịu rủi ro.
6. Về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản (Điều 173)
Điều này đã giữ lại nội dung theo quy định của BLDS năm 1995 là “Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật” (khoản 1). Ngoài ra, Điều này được bổ sung thêm 4 khoản mới. Nội dung của các khoản mới được bổ sung là:
– Liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; các quyền khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 2).
– Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định tại khoản 2 Điều này  (Khoản 3).
– Các quyền đối với tài sản mà đã được quy định tại khoản 2 Điều 173 được bảo vệ theo cách thức bảo vệ quyền sở hữu (khoản 4).
– Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản phải đăng ký bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề theo thoả thuận và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
7. Về bảo vệ quyền, lợi ích của chủ sở hữu và của người chiếm hữu ngay tình
Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo quy định của pháp luật (Điều 169). Đây là nguyên tắc chung, rất cơ bản trong việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu. Tuy nhiên, ở đây cũng có một số ngoại lệ. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì lợi ích của chủ sở hữu và người chiếm hữu ngay tình sẽ được giải quyết như thế nào. BLDS năm 2005 đã giải quyết vấn đề này thông qua các quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình ( Điều 257) và quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình (Điều 258)
Đây là hai điều mới được bổ sung nhằm bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời bảo vệ được lợi ích của người chiếm hữu ngay tình. Cách thức bảo vệ người chiếm hữu ngay tình có sự khác nhau, tuỳ thuộc vào tài sản là động sản hay bất động sản, có đăng ký quyền sở hữu hay không đăng ký quyền sở hữu.
Điều 257 quy định: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.
Điều 258 quy định: Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

PHẦN THỨ BA
NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Sau gần 10 năm thực hiện (1995 – 2005), các quy định của Bộ luật dân sự về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khẳng định quyền tự do hợp đồng, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao lưu dân sự. Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định này cũng phần nào bộc lộ những hạn chế, bất cập đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội. Chế định hợp đồng trong BLDS năm 1995 chủ yếu là điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng dân sự. Hạn chế này xuất phát từ việc phân biệt hai hệ thống pháp luật về hợp đồng: hợp đồng dân sự (do Bộ luật dân sự điều chỉnh) và hợp đồng kinh tế (do Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Luật Thương mại điều chỉnh). Việc phân biệt này đã làm cho các quy định pháp luật về hợp đồng chồng chéo, trùng lắp, nhiều khi mâu thuẫn nhau, gây ra rất nhiều khó khăn trong thực tế áp dụng và không bảo vệ được tuyệt đối quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng.
Nhằm khắc phục các hạn chế nêu trên, chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự trong BLDS năm 2005 đã được sửa đổi theo hướng các nguyên tắc, các quy đinh chung về hợp đồng được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, kinh tế hay thương mại. Mặt khác, nhiều quy định về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự được sửa đổi, bổ sung theo quan điểm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, quyền tự do cam kết, thoả thuận của các bên, kết hợp với việc đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên về cam kết, thỏa thuận của mình.
1. Các quy định về nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự (từ Điều 280 đến 317)
1.1. Về khái niệm nghĩa vụ dân sự (Điều 280): BLDS năm 2005 quy định cụ thể hơn khái niệm nghĩa vụ dân sự so với BLDS năm 1995, theo đó, nghĩa vụ dân sự không chỉ là việc phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác mà còn bao gồm cả việc phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá khác.
1.2. Về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Điều 290 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo đó bên có nghĩa vụ trả tiền phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận, nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi của số nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác. So với BLDS năm 1995, BLDS mới không quy định bắt buộc trong luật đồng tiền thanh toán phải là đồng tiền Việt nam mà để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành khác quy định nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong giao dịch dân sự.
1.3. Về việc chấm dứt nghĩa vụ dân sự do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự: Điều 383 quy định về việc chấm dứt nghĩa vụ dân sự do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự thay thế Điều 389 cũ. Theo BLDS năm 1995 thì khi thời hiệu khởi kiện đã hết thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt, tuy nhiên điểm mới của BLDS năm 2005 là chỉ khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự hết thì nghĩa vụ dân sự mới chấm dứt mặc dù có thể thời hiệu khởi kiện đã hết.
1.4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Điều 307 BLDS mới quy định rõ hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút. BLDS cũng quy định rõ trách nhiệm của người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại ngoài việc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai.
2. Các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 318 đến Điều 373)
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thể hiện các quan điểm cơ bản sau đây:
2.1. Xác định đúng bản chất của các biện pháp bảo đảm, từ đó BLDS năm 2005 không quy định phạt vi phạm là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, mà các bên có thể thỏa thuận về phạt vi phạm là một trong các nội dung của hợp đồng (khoản 7 Điều 402); phân biệt cầm cố và thế chấp tài sản căn cứ vào một tiêu chí cơ bản, đó là trong trường hợp cầm cố, bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ; trong trường hợp thế chấp, bên thế chấp được giữ tài sản thế chấp. Sự thay đổi này nhằm tránh các khó khăn khi phân biệt động sản, bất động sản và đơn giản hoá các quy định về cầm cố, thế chấp. Nhằm giảm sự khác biệt so với pháp luật của các nước trong quá trình hội nhập quốc tế, BLDS quy định bảo lãnh là đồng thời chuyển bảo lãnh bằng tài sản cụ thể thành cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba. Từ đó, sẽ không còn quy định về bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003, mà được chuyển thành thế chấp quyền sử dụng đất và pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ không điều chỉnh đăng ký bảo lãnh.
2.2. Nhiều quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được sửa đổi, bổ sung theo quan điểm tôn trọng quyền tự chủ, quyền tự do cam kết, thoả thuận của các bên, kết hợp với việc đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên về cam kết, thỏa thuận của mình.
Quan điểm nêu trên được cụ thể hoá rõ nét trong các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng cầm cố, thế chấp và bảo lãnh, tạo ra khả năng cho phép các bên linh hoạt hơn khi xử lý các tình huống phát sinh trong thực tế, mà thông thường pháp luật không thể dự liệu hết được, cụ thể như sau:
Các bên được thỏa thuận về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa, có thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai và mở rộng khả năng dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Các bên được cầm cố, thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu giá trị tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng cầm cố, thế chấp lớn hơn tổng giá trị các khoản nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, về nguyên tắc mọi tài sản đều có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, đặc biệt trong lĩnh vực bảo đảm bằng quyền sử dụng đất. Từ đó, tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có vào thời điểm giao kết hoặc sẽ có trong tương lai, tài sản hữu hình, giấy tờ có giá và các quyền tài sản, nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tế trong khi nguồn tài sản dùng để bảo đảm còn hạn chế.
2.3. BLDS thể hiện quan điểm về việc cầm cố, thế chấp tuy có hạn chế một số quyền của bên cầm cố, bên thế chấp đối với tài sản bảo đảm, nhưng không vì thế mà làm đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của họ. Từ đó, một số quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên đã được sửa đổi cơ bản, ví dụ: bên thế chấp được bán tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp (khoản 3, 5 Điều 349). Đồng thời, BLDS cũng đưa ra cơ chế để bên nhận thế chấp vẫn thu hồi được nợ.
Ngoài ra, BLDS đã tôn trọng quyền của các bên trong việc xử lý tài sản bảo đảm, phù hợp với yêu cầu thực tế, đó là các bên có quyền thoả thuận về biện pháp xử lý tài sản bảo đảm; nếu không thoả thuận được thì bán đấu giá.
2.4. Nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của các quan hệ về giao dịch bảo đảm, BLDS quy định các giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm (Điều 323, Điều 325). Bộ luật pháp điển hóa các quy định đã được thực tế kiểm nghiệm và có hiệu quả tích cực đối với quá trình đẩy mạnh đầu tư vốn trong và ngoài nước. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin cho  mọi người có nhu cầu tìm hiểu trước khi quyết định tiến hành các giao dịch có liên quan đến tài sản, đồng thời, qua đó xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý để thực thanh toán nghĩa vụ.
3. Các quy định về  Hợp đồng dân sự (từ Điều 388 đến Điều 593)
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng dân sự thể hiện quan điểm cơ bản, đó là xây dựng chế định hợp đồng trong BLDS thành nền tảng cho pháp luật về hợp đồng nói chung, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Trong trường hợp pháp luật chuyên ngành về hợp đồng cụ thể có quy định riêng, thì ưu tiên áp dụng các quy định riêng đó. Vì vậy, phạm vi áp dụng của các quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS được mở rộng, áp dụng chung cho các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế như hiện nay. Cũng chính vì thế, kể từ ngày BLDS có hiệu lực (ngày 01.01.2006) Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực.
Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự được sửa đổi để phù hợp với các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
3.1.Tôn trọng quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được thoả thuận về hình thức, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.
BLDS  năm  2005 xác định thời điểm giao kết hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thỏa thuận giữa các bên, không phụ thuộc vào yếu tố hình thức, thủ tục của hợp đồng. Xuất phát từ đó, BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404).
Về nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết nêu trên (Điều 405). Tuy nhiên cần lưu ý đó là các bên có thể thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, ví dụ: Luật Đất đai quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp là thời điểm đăng ký.
3.2.  Hợp đồng dân sự vô hiệu
Mục 7 BLDS năm 2005 không quy định các trường hợp hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó, mà viện dẫn áp dụng những quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138, vì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự. Nhằm khắc phục tình trạng nhiều hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu một cách không cần thiết, BLDS năm 2005 khẳng định hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ khi pháp luật có quy định cụ thể (Điều 401) và xác định vô hiệu trong mối quan hệ giữa hợp đồng chính, hợp đồng phụ (Điều 410). Đồng thời, bổ sung trường hợp hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 411).
3.3. Thực hiện hợp đồng (từ Điều 412 đến Điều 422)
Đây là một trong những giai đoạn quan trọng của hợp đồng, vì mục đích của các bên có đạt được hay không phụ thuộc vào vấn đề hợp đồng được thực hiện tốt hay không. Do đó, khi thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 412 BLDS. Ngoài ra, BLDS bổ sung quyền cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ (Điều 416), thực hiện hợp đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm (Điều 422).
3.4. Về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự
Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu được áp dụng theo  Điều 136 BLDS, vì hợp đồng là một loại của giao dịch dân sự. Ngoài ra, BLDS bổ sung thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm (Điều 427).
3.5. Về đối tượng của hợp đồng mua bán: Điều 429 quy định: “đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch”, theo quy định của Điều 163 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. BLDS năm 1995 quy định đối tượng của hợp đồng mua bán chỉ có thể là vật và quyền tài sản. Do đó, BLDS lần này mở rộng và quy định rõ hơn về đối tượng của hợp đồng mua bán so với BLDS năm 1995.
3.6. Về thời điểm chuyển quyền sở hữu: Điều 432 BLDS năm 1995 quy định: “Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm bên mua nhận tài sản…”. Điều 439 BLDS năm 2005 sửa đổi theo hướng quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.  Việc quy định như vậy đã mở rộng hơn đối tượng tiếp nhận tài sản, có thể là chuyển giao cho chính bên mua hoặc cho bên được bên mua uỷ quyền nhận, mặt khác cũng là để phù hợp với  thực tế hoạt động thương mại và quy định của Luật Thương mại về vấn đề thời điểm chuyển quyền sở hữu. Bộ luật cũng bổ sung quy định trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.
3.7.Về hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở: Điều 450 quy định: “Hợp đồng mua bán nhà ở phải lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, BLDS năm 2005 đã mở rộng hơn so với BLDS năm 1995, cho phép trong một số trường hợp nếu pháp luật quy định không nhất thiết phải bằng văn bản thì các bên có thể tự do thoả thuận theo các hình thức khác. Theo BLDS năm 1995 thì hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.
3.8. Về vấn đề bán đấu giá tài sản: Điều 456 quy định “tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc pháp luật có quy định” như vậy, so với BLDS năm 1995, BLDS mới cho phép tất cả các cá nhân, tổ chức có quyền bán đấu giá tài sản của mình, không nhất thiết phải là “cơ quan, tổ chức do pháp luật quy định” như BLDS năm 1995.
3.9.Về vấn đề họ, hụi, biêu, phườngđược quy định tại Điều 479: đây là một vấn đề mới được bổ sung vào BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống dân sự mà lâu nay Toà án chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết. Tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp nên BLDS chỉ quy định mang tính nguyên tắc trên cơ sở hụi, họ là quan hệ tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau không nhằm mục đích kinh doanh, Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi. Những vấn đề cụ thể sẽ do các cơ quan hữu quan hướng dẫn thực hiện.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng(từ Điều 604 đến Điều 630)
Việc sửa đổi, bổ sung phần này nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng, bảo vệ người bị thiệt hại và tăng cường trách nhiệm của người gây thiệt hại, từ đó đẩy mạnh việc phòng ngừa thiệt hại xảy ra. Trong phần này có một số sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:
4.1.Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm (Điều 607). Quy định này là cần thiết nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp kéo dài và khó khăn trong việc thu thập, xác minh chứng cứ phục vụ việc xét xử.
4.2. BLDS  quy định các bên thỏa thuận về mức bồi thường, bù đắp tổn thất về tinh thần trong các trường hợp gây thiệt hại do sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; nếu không thỏa thuận được, thì áp dụng mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với trường hợp xâm phạm về sức khỏe (khoản 2 Điều 609); mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu đối với trường hợp xâm phạm về tính mạng (khoản 2 Điều 610), mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu đối với trường hợp xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, uy tín (khoản 2 Điều 611).
4.3. BLDS 2005 bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể (Điều 628) và mồ mả (Điều 629). Đây là những vấn đề mà thực tế đang có vướng mắc nhưng chưa có pháp luật điều chỉnh. Theo đó, cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác xâm phạm thi thể, mồ mả người khác phải bồi thường thiệt hại, thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Đối với trường hợp xâm phạm thi thể người khác, ngoài khoản tiền bồi thường thiệt hại, người xâm phạm còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền đó. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
PHẦN THỨ TƯ
THỪA KẾ

Những nguyên tắc cơ bản về thừa kế không thay đổi  so với BLDS năm 1995. Tuy nhiên về nội dung một số điều được chỉnh sửa, bổ sung và làm rõ hơn để phù hợp và tính khả thi hơn.
1. Vấn đề chứng thực của Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn và chứng nhận của công chứng Nhà nước
Vấn đề chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn và  chứng nhận của công chứng Nhà nước  hầu như được đưa ra khỏi BLDS năm 2005. Do di chúc thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết nên dù rằng di chúc không có công chứng Nhà nước hay chứng thực của Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn nhưng nếu di chúc do chính tay họ viết nên thì vẫn được coi là hợp pháp nếu như họ tuân thủ những quy định tại Điều 653 BLDS năm 2005. Hơn nữa, đối với những người trên máy bay, trên tàu biển, trên các phương tiện giao thông,… hoặc là phạm nhân, họ có thể đưa cho người phụ trách chứng thực. Việc bỏ sự “độc quyền” trong chứng thực, chứng nhận của Uỷ ban các cấp và công chứng Nhà nước là bước cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc thi hành pháp luật.
2. Di sản (Điều 634): Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Như vậy BLDS năm 2005 đã  bỏ khoản 2 Điều 637 cũ của BLDS năm 1995 là “Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định của phần thứ năm của Bộ luật này”. Bởi vì, BLDS năm 2005 đã coi quyền sử dụng đất là một tài sản, và  tại  Điều 174 Bộ luật này cũng khẳng định đất đai thuộc bất động sản. Chính vì vậy,  việc bỏ quy định như khoản 2 trên đây  là hòan toàn phù hợp với các nội dung cụ thể của BLDS .
3. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 637): tại Điều 640 BLDS năm 1995 đã được bổ sung nội dung nhằm làm rõ hơn phần trách nhiệm của  những người thừa kế chỉ phải gánh chịu “nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại”  và khẳng định rõ  từng người thừa kế cũng chỉ “…thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận”  với quy định mới còn mở rộng thêm “trừ trường hợp có thoả thuận khác” đó là, trong những trường hợp  người thừa kế có thể vì danh dự gia đình, tình nghĩa cha con, vợ chồng đã đứng ra chịu toàn bộ cho dù họ phải “bỏ tiền túi” của mình để thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại khi không có di chúc hoặc được giao nghĩa vụ thừa kế như quy định tại khoản 4 Điều 648; với quy định như vậy không bị bó và khống chế chỉ trong phạm vi di sản của người chết để lại.
4. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm (Điều 641): về nguyên tắc thì những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì không được quyền thừa kế của nhau; BLDS năm 2005 đã mở ra trường hợp ngoại lệ đối với thừa kế thế vị, nhằm mục đích bảo đảm quyền thừa kế của gia đình dòng họ và chuyển di sản của họ cho người thừa kế gần nhất của mình. Như vậy, trong trường hợp ông và bố chết cùng thời điểm thì cháu vẫn được thừa kế di sản của ông mình.

5. Từ chối nhận di sản (Điều 642): đã thể hiện một cách nhân đạo nhằm bảo vệ quyền lợi của người thừa kế, trong trường hợp vì một lý do nào đó mà họ  chưa kịp bày tỏ ý chí của mình là nhận hay không nhận thừa kế thì sau sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế, họ vẫn không mất đi quyền được nhận thừa kế của mình.
6. Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước (Điều 644): về nguyên tắc không thay đổi, tuy nhiên có bổ sung về mặt nội dung, đó là “…sau khi đã  thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước” điều này đã bảo vệ được quyền lợi của các chủ nợ cũng như những người có quyền lợi có liên quan đến tài sản có liên quan.
7. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 645):
Với quy định mới đã làm rõ hơn về  hai loại thời hiệu:
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế;
–  Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản.
Việc bổ sung quy định “thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản  của người chết để lại..”, đã xác định quyền về tài sản của các chủ nợ cũng như những người khác có liên quan đến di sản chỉ được bảo vệ trong thời hiệu là ba năm. Sau ba năm kể từ lúc mở thừa kế ( kể từ khi con nợ chết), nếu người có quyền không yêu cầu thì họ sẽ  bị mất quyền đó.
Việc quy định như vậy không chỉ đảm bảo được tính ổn định trong giao lưu dân sự của người thừa kế mà còn phân biệt giữa các loại thời hiệu với nhau đó là: thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế và bác bỏ quyền thừa kế là mười năm  và thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ là ba năm.
8. Quyền của người lập di chúc (Điều 648): Ngoài những quyền quy định tại Điều 651 BLDS năm 1995: chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; chỉ định người giữ di chúc, quản lý di sản, người phân chia di sản thì quyền của  người lập di chúc không bị bó hẹp trong quyền  giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản nữa, mà người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ như chăm sóc cho bố, mẹ, ông, bà…hoặc có thể thoả thuận để thanh toán nghĩa vụ về tài sản cho mình vượt quá phần tài sản có của người lập di chúc để lại và được người thừa kế đồng ý.
9. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng (Điều 668) :  Di chúc chung của vợ chồng là loại di chúc đặc biệt được xác lập do hai người có tài sản chung hợp nhất, cùng định đoạt chung. BLDS năm 2005  đã sửa đổi hiệu lực của loại di chúc đặc biệt và phức tạp này cho phù hợp với tính chất và đảm bảo được trọn vẹn ý chí của hai người. Theo đó, di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết.

10. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác (Điều 680): Di sản của người chết để lại là nguồn gốc để phát sinh tranh chấp xảy ra giữa bố mẹ chồng với con dâu, giữa bố mẹ vợ với con rể  trong trường hợp người chồng hoặc người vợ chết trong giai đoạn đang giải quyết ly hôn tại Toà án. BLDS năm 2005 đã  xác định rõ hơn cho dù rằng vợ chồng đang có vấn đề không thể chung sống với nhau, có đơn kiện tại Toà xin ly hôn hay được Toà cho ly hôn nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì quyền thừa kế của người còn lại (nếu người kia chết) vẫn được bảo vệ. Điều 680 BLDS  năm 2005  quy định: “vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Toà án cho ly hôn bằng một bản án hoặc bằng Quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản”. Quy định này đã tháo gỡ nhiều sự thắc mắc và tránh được những vụ tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Hơn nữa, về lý luận thì quan hệ thừa kế của vợ và chồng được xác định trên cơ sở hôn nhân, vì vậy tại thời điểm mở thừa kế nghĩa là có một bên vợ hoặc chồng chết mà cuộc hôn nhân đó vẫn còn, thì người còn lại vẫn được hưởng di sản của người đã chết hay nói một cách khác là họ có quyền thừa kế của nhau. Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi nào có Quyết định hoặc Bản án của Toà án đã có hiệu lực
11. Hạn chế phân chia di sản (Điều 686): Để phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, BLDS năm 2005  đã bổ sung đoạn 2 Điều 686: “trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế”. Với thời hạn là ba năm không được chia di sản đã hạn chế được những người thừa kế vì đồng tiền mà  đánh mất đi tình cảm tốt đẹp của mình, đã bắt bố hoặc mẹ hoặc người thân của mình phải bán di sản (ví dụ như: ngôi nhà nhỏ có cửa hàng kinh doanh, hoặc máy móc là công cụ sản xuất) là phương tiện kiếm sống duy nhất của người thân để chia thừa kế.
12. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế (Điều 687): Đây là một Điều hoàn toàn mới được đưa vào BLDS năm 2005 nhằm giải quyết sự bất cập trong thực tiễn. Có những vụ kiện đòi thừa kế xảy ra đến hàng chục năm  mà những người thừa kế vẫn yêu cầu chia di sản nhiều lần, trong khi khối di sản không chỉ đã bị biến đổi theo thời gian (được tôn tạo, sửa chữa) hoặc vì đập phá xây dựng mới, mà còn được mua đi bán lại nhiều lần. Quy định mới này đã giải quyết bằng cách không chia bằng hiện vật, mà thanh toán lại bằng tiền tại thời điểm mở thừa kế cho  những trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế. Đây là giải pháp tối ưu, không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người thừa kế mà còn tôn trọng tính ổn định trong giao dịch dân sự.
PHẦN THỨ NĂM
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1. Những quy định chung:
1.1.Mở rộng chủ thể tham gia chuyển quyền sử dụng đất (Điều 688)
BLDS năm 2005 không chỉ quy định việc chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân  như BLDS năm 1995 mà còn bổ sung thêm chủ thể được chuyển quyền sử dụng đất là pháp nhân và các chủ thể khác (ví dụ: tổ hợp tác).
1.2. Mở rộng hình thức xác lập quyền sử dụng đất (Điều 688)
Theo quy định tại Điều 690 của BLDS năm 1995, hộ gia đình, cá nhân được xác lập quyền sử dụng đất dưới ba hình thức: được Nhà nước giao đất; được Nhà nước cho thuê đất; được nhận chuyển quyền sử dụng.
Theo quy định tại Điều 688 của BLDS năm 2005, cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập quyền sử dụng đất dưới bốn hình thức:
– Được Nhà nước giao đất;
– Được Nhà nước cho thuê đất;
– Được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như (nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp chỉ mới có một trong các giấy tờ hợp lệ hoặc một số trường hợp khác quy định tại Điều 50 của Luật đất đai năm 2003);
– Được người khác chuyển quyền  sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
1.3. Tôn trọng sự thoả thuận về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất  (Điều 690)
Điều 694 của BLDS năm 1995 quy định: “Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cơ sở bảng giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo khung giá của Chính phủ quy định”. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 12 của Luật đất đai năm 1993 và Điều 56 của Luật đất đai năm 2003 thì giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo khung giá của Chính phủ quy định không áp trong việc chuyển quyền sử dụng đất.
Thực tế cho thấy, trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các tổ chức với nhau, giữa các hộ gia đình, cá nhân với nhau là quan hệ dân sự không ai áp dụng bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mà các bên thoả thuận giá chuyển nhượng đất theo giá thị trường tại địa phương đó tại thời điểm chuyển nhượng. Để phù hợp với Điều 56 của Luật đất đai năm 2003, Điều 690 của  BLDS năm 2005 quy định: “Giá chuyển quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định”.
1.4. Mở rộngquyền năng của người sử dụng đất
BLDS năm 1995 chỉ quy định người sử dụng đất có 5 quyền; quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất. BLDS năm 2005 bổ sung thêm quyền cho thuê lại quyền sử dụng, quyền tặng cho quyền sử dụng đất và quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
2. Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
2.1. Bỏ quy định điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất
2.2. Về  nghĩa vụ của bên chuyển đổi quyền sử dụng đất (Điều 695 )

Tại khoản 5 Điều 703 của BLDS năm 1995 quy định: “trong trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất thì bên được thanh toán số tiền chênh lệch do giá trị quyền sử dụng đất chuyển đổi cao hơn phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất đối với phần chênh lệch đó. Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1999 thì trong trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối cho nhau để phù hợp với điều kiện canh tác thì được miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, BLDS năm 2005 đã bỏ quy định về việc nộp thuế chuyển đổi quyền sử dụng đất nếu “bên được thanh toán số tiền chênh lệch do giá trị quyền sử dụng đất chuyển đổi cao hơn phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất đối với phần chênh lệch đó”. Bổ sung “nghĩa vụ của các bên chuyển đổi phải nộp lệ phí chuyển đổi”.
3. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
3.1. Bỏ quy định điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3.2. Về nghĩa vụ của bên chuyển nhượng sử dụng đất (Điều 699)
Khoản 1 Điều 709 của BLDS năm 1995 quy định: “bên chuyển quyền sử dụng đất có nghĩa vụ xin phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Thực tế cho thấy, quy định này không hợp lý vì Luật đất đai đã cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải xin phép mà chỉ phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.  Do đó, BLDS năm 2005 đã bỏ quy định này.

4. Hợp đồng thuê, thuê lại quyền sử dụng đất
4.1. Bổ sung thêm quyền cho thuê lại đất

4.2. Bỏ quy định về điều kiện cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất vì Luật đất đai không quy định điều kiện cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
4.3.  Về nghĩa vụ của bên thuê quyền sử dụng đất ( Điều 707)
Tại khoản 6 Điều 720 của BLDS năm 1995 quy định: “bên thuê quyền sử dụng đất không được cho người khác thuê lại quyền sử dụng đất”. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998,  Luật đất đai năm 2003 đã cho phép người sử dụng đất được cho thuê lại đất. Do đó, BLDS năm 2005 đã bỏ quy định này để phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai.
5.Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
5.1.Bỏ quy định điều kiện thế chấp quyền sử dụng đất.
5.2.Mở rộng phạm vi được thế chấp quyền sử dụng đất (Điều 716)
Theo quy định của BLDS năm 1995 thì đất nông nghiệp chỉ được thế chấp tại Ngân hàng Việt Nam, tại các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà nước cho phép thành lập. Đối với đất ở được thế chấp với các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam ở trong nước. Thực tế cho thấy, quy định này không phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.BLDS  năm 2005 bỏ các quy định này vì , thế chấp quyền sử dụng đất ở đâu là quan hệ dân sự, là quyền của người sử dụng đất không nhất thiết phải thế chấptại Ngân hàng Việt Nam, tại các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà nước cho phép thành lập .

5.3. Mở rộng quyền của bên thế chấp quyền sử dụng đất (Điều 718)
Để tạo điều kiện cho bên thế chấp giá trị quyền sử dụng đất có thể thanh toán được nợ cho bên nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất, BLDS năm 2005 quy định bên thế chấp quyền sử dụng đất có quyền: “Được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất nếu được bên nhận thế chấp đồng ý ”.
6. Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
Nhằm tạo cơ chế thông thoáng trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, theo quy định của BLDS năm 2005 (khoản 2 Điều 730) thì tuy giá trị quyền sử dụng đã được góp vốn, nhưng bên góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vẫn “được quyền chuyển nhượng, để thừa kế phần góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật quy định khác”.
7. Thừa kế quyền sử dụng đất
7.1.Người được thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 734)
Theo quy định tại điều 740 của BLDS  năm 1995 đối với đất nông nghiệp, người được thừa kế phải có điều kiện: Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sản xuất nông nghiệp; chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai.
Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, để bảo đảm sự bình đẳng giữa những người thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp, Luật không quy định điều kiện thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp. Do đó, BLDS năm 2005 không quy định điều kiện thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà quy định những người thuộc hàng thừa kế đều được thừa kế đất nông nghiệp, cụ thể là: “Cá nhân được Nhà nước giao đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất, được thuê đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai ”.
7.2. Thừa kế quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho hộ gia đình (Điều 735)
Theo quy định tại Điều 744 của BLDS năm 1995: “Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu trong hộ có thành viên chết thì các thành viên trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng đất do Nhà nước giao cho hộ đó; nếu trong hộ gia đình không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất đó”.
Thực tế cho thấy, không phải tất cả các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp đều được Nhà nước giao đất. Một số hộ gia đình tuy được Nhà nước giao đất, nhưng họ vẫn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì họ có nhu cầu sử dụng đất do gia đình đông người thiếu đất sản xuất hoặc họ có vốn muốn đầu từ vào sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, theo quy định của Bộ luật dân sự thì quyền sử dụng đất cũng là di sản thừa kế, vì vậy, đã là di sản thì mọi người đều được thừa kế để bảo đảm sự bình đẳng. Do đó, Luật đất đai năm 2003, BLDS năm 2005 không quy định điều kiện được thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà quy định mọi người trong hàng thừa kế đều được hưởng thừa kế, cụ thể là : “Đối với trường hợp Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để lại cho những người thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.
PHẦN THỨ SÁU
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

1. BLDS năm 2005 chỉ quy định những vấn đề cơ bản có tính chất nguyên tắc về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
BLDS năm 2005 chỉ quy định những vấn đề có tính chất dân sự chung nhất, những nguyên tắc cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Những vấn đề cụ thể khác không thuộc quan hệ dân sự (như trình tự thủ tục xác lập quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng mới, thủ tục chuyển giao công nghệ) sẽ được quy định trong các luật chuyên ngành (Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ) vì:
Thứ nhất, BLDS là luật chung trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng trên cơ sở tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Do vậy, BLDS chỉ quy định những nguyên tắc chung, cơ bản nhất có tính chất định hướng;
Thứ hai, BLDS cần phải đảm bảo tính ổn định, do vậy để đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của thực tế xã hội, nhất là trong lĩnh vực khoa học công nghệ, thì các vấn đề cụ thể về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ cần được quy định tại các Luật chuyên ngành.
2. Về quyền tác giả
– Nội dung quyền tác giả: BLDS năm 2005 đã phân định rõ ràng hơn các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả so với BLDS năm1995.
– Các quy định về thời điểm phát sinh quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, phân chia quyền của đồng tác giả, chuyển giao quyền tác giả, hợp đồng chuyển giao quyền tài sản (tại các điều 739, 740, 741, 742, 743) đã được thể hiện, khái quát hơn so với các quy định trước đây.
– Các quy định về nội dung các quyền đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của chủ sở hữu các quyền liên quan đến quyền tác giả (tại các điều 745, 746 và 747) được xác định cụ thể hơn nhằm phù hợp với quy định của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, phù hợp với quy định tại Chương II của Hiệp định Thương mại Việt nam –  Hoa kỳ.
3. Quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
– Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp: BLDS năm 2005 đã mở rộng phạm vi đối tượng sở hữu công nghiệp (Điều 750). Cụ thể, đã quy định thêm các đối tượng: bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
– Về thuật ngữ : Thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá” được sử dụng trong quy định của BLDS năm 1995 đã được thay bằng thuật ngữ “nhãn hiệu” trong Điều 750 của BLDS năm 2005, thuật ngữ này cũng dùng để chỉ nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết. Thuật ngữ  “tên gọi xuất xứ hàng hoá” trong BLDS năm 1995 đã được thay bằng thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” trong BLDS năm 2005. Xét về bản chất, tên gọi xuất xứ hàng hoá là một dạng chỉ dẫn địa lý đặc biệt.
– Quyền đối với giống cây trồng: tại điều 750, quyền đối với giống cây trồng được quy định thành một đối tượng độc lập, không nằm trong nhóm các đối tượng sở hữu công nghiệp. Hiện nay, giống cây trồng đã được quy định bảo hộ trong Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên, vấn đề bảo hộ giống cây trồng được quy định trong BLDS.
Như vậy, so với yêu cầu của các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, BLDS năm 2005 đã quy định đầy đủ hơn các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống cây trồng.
4. Chuyển giao công nghệ (Điều 745 – Điều 748)
Để tránh chồng chéo, trùng lặp trong quy định giữa BLDS và Luật Chuyển giao công nghệ (hiện đang trong quá trình soạn thảo), các quy định về chuyển giao công nghệ trong BLDS năm 2005 được khái quát cao, quy định mang tính nguyên tắc về quyền chuyển giao công nghệ, đối tượng chuyển giao công nghệ, các công nghệ không được chuyển giao và hợp đồng chuyển giao công nghệ; các vấn đề cụ thể liên quan đến chuyển giao công nghệ sẽ do Luật Chuyển giao công nghệ quy định.
PHẦN THỨ BẢY
QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Phần thứ bảy “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của BLDS năm 2005 có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
1. Về khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 758): Điều này vẫn kế thừa Điều 826 của BLDS năm 1995 về các căn cứ để xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là chủ thể, căn cứ pháp lý và đối tượng của quan hệ. Tuy nhiên, điều luật mới đã làm rõ hơn một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, về chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, BLDS năm 2005 xác định rõ có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thay vì nói chung chung là có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia như trong Bộ luật dân sự cũ.
Thứ hai, về căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Điều luật mới đã xác định rõ trường hợp quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
2. Về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài (Điều 761): Điều luật mới bổ sung khoản 1 ‘‘Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch’’ để khẳng định rõ về nguyên tắc, căn cứ để xác định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là luật của nước mà người đó là công dân. So với quy định của BLDS năm 1995 thì việc bổ sung như vậy là phù hợp và có tính bao quát hơn.
3. Về quyền sở hữu tài sản (Điều 766): So với BLDS năm 1995 thì Điều này bổ sung thêm khoản 4: việc xác định quyền sở hữu tài sản đối với tàu bay dân dụng và tàu biển phải tuân theo pháp luật chuyên ngành về hàng không dân dụng và hàng hải nước CHXHCN Việt Nam để làm rõ thêm tính đặc thù của hai loại tài sản đặc biệt này, đồng thời phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật trong Bộ luật hàng hải và Luật Hàng không dân dụng.
4. Về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài và thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài (Điều 767 và 768): Đây là hai Điều mới hoàn toàn trong BLDS năm 2005. BLDS năm 1995 không có bất kỳ quy định nào về thừa kế có yếu tố nước ngoài, do đó khi có tranh chấp phát sinh, các Tòa án không có căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ kiện về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Khắc phục hạn chế này, BLDS năm 2005 đã dành hai Điều để quy định về thừa kế, đó là Điều 767 (thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài) và Điều 768 (thừa kế theo di chúc), cụ thể như sau:
Thứ nhất, về thừa kế theo pháp luật, về nguyên tắc việc thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết. Riêng quyền thừa kế đối với bất động sản, phù hợp với thông lệ quốc tế, khoản 2 Điều 767 quy định quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản. Về vấn đề di sản không có người thừa kế, Điều 767 phân biệt hai trường hợp: đối với bất động sản thì thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản; đối với động sản thì thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch. Đây cũng là cách giải quyết trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà chúng ta đã ký với các nước;
Thứ hai, về thừa kế theo di chúc, Điều 768 BLDS năm 2005 quy định năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân; hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc.
5. Về hợp đồng dân sự: về hình thức của hợp đồng BLDS năm 2005 quy định thành 1 điều riêng (Điều 770). Điều này kế thừa khoản 1 Điều 834 của BLDS năm 1995, đồng thời bổ sung thêm khoản 2: ‘‘Hình thức của hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo pháp luật CHXHCN Việt Nam’’.
Ngoài ra, để thích ứng với sự phát triển của các phương thức giao kết hợp đồng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm một Điều về giao kết hợp đồng dân sự vắng mặt (Điều 771), theo đó, luật áp dụng trong trường hợp này là “luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng”. Thời điểm giao kết của hợp đồng vắng mặt được xác định theo “pháp luật của nước của bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời chấp nhận của bên được đề nghị giao kết hợp đồng’’.
V. TỔ CHỨC THI HÀNH
Để thi hành BLDS năm 2005, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Dân sự, trong đó giao Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm:
1.     Tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật Dân sự từ ngày 01/01/2006.
2.     Phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Dân sự trong cán bộ, công chức và nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Bộ luật Dân sự trong bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan.
Bộ Tư pháp đang khẩn trương phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng kế hoạch thi hành Nghị quyết của Quốc hội, góp phần đưa Bộ luật Dân sự năm 2005 vào cuộc sống.

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/PreLawDetail.aspx?PreLawID=50

LUẬT DOANH NGHIỆP THỐNG NHẤT MỘT BƯỚC TIẾN TRONG CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực từ năm 2000 được coi là một hình mẫu trong soạn thảo và thực thi luật ở Việt Nam. Tuy được đánh giá là rất thành công, nhưng Luật DN mới chỉ “đánh thức” được khu vực tư nhân trong nước.1 Để thu hút hơn nữa nguồn đầu tư trong và ngoài nước và thực hiện cam kết quốc tế về xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng thì Luật DN phải là một luật áp dụng chung cho mọi loại hình DN. Đáp ứng nhu cầu cấp thiết này, Luật doanh nghiệp thống nhất (DNTN) hiện đang được gấp rút xây dựng để có thể trình Dự luật lên Quốc hội vào cuối năm nay. Bản tin này bàn luận về những nét mới của Dự luật cũng như một số ảnh hưởng đến giới doanh nghiệp.

Xoá bỏ các khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

Đúng như tên gọi, Luật DNTN có mục đích kết hợp và tiến tới thay thế các quy định hiện hành về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong các luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Luật DNTN sẽ tạo ra khung pháp lý áp dụng theo loại hình, đặc trưng của doanh nghiệp chứ không theo chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Cụ thể là Luật DNTN sẽ qui định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần. Bất cứ doanh nghiệp nào thuộc một trong bốn loại hình này đều được điều chỉnh bởi Luật DNTN mà không phụ thuộc vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, sự khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thực sự được xóa bỏ hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, mặc dù quyền tự do kinh doanh được mở rộng đáng kể, nhưng họ vẫn còn có thể bị hạn chế hoặc bị từ chối trong một số ngành mà DN trong nước không bị cấm hoặc hạn chế. Tuy nhiên, danh mục những ngành nghề kinh doanh bị cấm hay hạn chế này lại được quy định trong Luật Đầu tư chung (cũng đang trong quá trình soạn thảo). Điều này có nghĩa là các ngành nghề hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh trong Luật Đầu tư chung sẽ phải phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam cũng như nguyên tắc đối xử công bằng trong chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), muốn hoạt động theo Luật DNTN thì phải chuyển đổi loại hình sang công ty TNHH hoặc công ty cổ phần. Có quy định bắt buộc các DNNN phải chuyển sang hoạt động theo luật DNTN hay không, thời gian phải chuyển đổi là bao lâu vẫn đang còn là một ẩn số. Nếu vẫn còn các DNNN nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật DNTN thì chưa thể có một sân chơi chung cho tất cả các thành phần kinh tế.

Mở rộng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

Quyền tự do kinh doanh của DN được hiểu là quyền của DN được tự chủ quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn. Mở rộng quyền tự do kinh doanh của DN cũng có nghĩa là hạn chế sự can thiệp hành chính tùy ý của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của DN.

Một trong những thay đổi được coi là mang tính đột phá của của Luật DNTN lần này là quyền hạn của các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được mở rộng đáng kể. Với Luật DNTN, các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm chứ không chỉ bị giới hạn trong nội dung của giấy phép đầu tư như qui định trong Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành. Đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hưởng chế độ đăng ký kinh doanh giống như các DN tư nhân trong nước, nhờ đó việc thành lập DN trở nên đơn giản, nhanh và ít chi phí hơn so với chế độ cấp phép đầu tư phức tạp, tuỳ tiện và tốn kém hiện nay. Với Luật DN TN, các DN nước ngoài sẽ không bị giới hạn ở một loại hình công ty TNHH như hiện nay mà sẽ được tự do chọn các loại hình doanh nghiệp phù hợp, ví dụ công ty cổ phần với lợi thế về huy động vốn trên thị trường tài chính. Những khống chế về mức sở hữu (30%) đối với đầu tư nước ngoài về cơ bản sẽ được xóa bỏ. Đối với một số ngành, nghề hạn chế kinh doanh áp dụng cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có quy định những điều kiện nhất định mà nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng theo hướng công khai, minh bạch hơn. Những thay đổi này chắc chắn sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Nếu so với Luật DNNN hiện hành, Luật DNTN có vẻ khá “hấp dẫn” đối với các DNNN. Nếu như hiện nay, nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài được tự quyết về công việc kinh doanh của mình thì DNNN vẫn phải chịu ràng buộc hay chi phối bởi sự can thiệp mang tính chất hành chính, chủ quan và thiếu phối hợp của không ít cơ quan nhà nước. Ví dụ, trong các vấn đề liên quan đến sự sống còn của DNNN thì Bộ chuyên ngành quyết về chiến lược, Bộ Nội vụ quyết về nhân sự, Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết về dự án đầu tư, Bộ Tài chính cấp vốn. Với Luật DNTN các DNNN sẽ được “cởi trói”, quyền kinh doanh sẽ được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh sẽ đươc nâng cao, việc quản trị sẽ được cải thiện và sẽ ít phải phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước hơn.

Quản trị doanh nghiệp hợp lý, hiệu quả.

Luật DNTN sẽ tạo một khung quản trị thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế để áp dụng cho các DN trong nước (DN tư nhân, DNNN đã chuyển đổi và DN có vốn đầu tư nước ngoài). Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Khung pháp lý chung sẽ giúp giải quyết những tồn tại trong quản trị DNNN, ví dụ như quyền chủ sở hữu và quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý chưa được xác định đầy đủ và rõ ràng, vẫn còn chế độ “hành chính chủ quản”, cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm người quản lý chưa hợp lý, cơ chế giám sát điều hành kém hiệu quả v.v… Khác với Luật ĐTNN hiện hành, Luật DNTN sẽ không chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề cân bằng quyền lực giữa các bên trong liên doanh mà điều chỉnh cả quản trị của DN 100% vốn đầu tư nước ngoài. 2

Dự thảo Luật DNTN sẽ khắc phục một số hạn chế của Luật DN năm 2000 như vấn đề về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và chủ nợ, cơ chế cung cấp và tiếp cận thông tin, vấn đề trách nhiệm của các bên góp vốn, sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người quản lý, giải quyết mối quan hệ về quản trị, công ty cổ phần, công ty hợp danh v.v… Ngoài ra Dự thảo sẽ bổ sung một chương mới về Công ty mẹ, công ty con và nhóm công ty – một hiện tượng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là mô hình mới ở Việt Nam. Những quy định này mở ra những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo một hướng phát triển mới trong cải cách DNNN và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô kinh doanh một cách hiệu quả mà vẫn kiểm soát được những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động.

Còn nhiều việc cần phải làm …

Nhìn chung dự thảo Luật DNTN đang được xây dựng theo xu hướng tích cực. Dự luật đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,3 đó là: i) mở rộng quyền tự do kinh doanh để tất cả các doanh nghiệp được kinh doanh và đầu tư trong mọi lĩnh vực luật pháp không cấm cũng như được tự chủ và tự chịu trách nhiệm về doanh nghiệp của mình; ii) đổi mới chức năng quản lý hành chính nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và tăng cường tính minh bạch; iii) phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và cam kết của Chính phủ Việt Nam trong các thoả thuận hội nhập. Cho đến nay, Dự luật đang nhận được sự hưởng ứng lớn từ phía cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, để Luật DNTN có thể phát huy được hiệu lực và đi vào cuộc sống thì cần có sự thống nhất giữa nội dung của Dự luật này và các quy định hiện hành khác có liên quan (ví dụ luật DNNN, Luật đầu tư, một số luật chuyên ngành và các cam kết quốc tế). Vì vậy cần thiết phải có sự rà soát lại để huỷ bỏ hoặc sửa đổi các quy định trong các văn bản luật có thể làm hạn chế tác dụng của Luật DNTN. Đặc biệt, trong bối cảnh Luật DNTN và Luật Đầu tư chung đều đang trong quá trình soạn thảo, việc phân định về phạm vi áp dụng của Luật DNTN với Luật Đầu tư chung là một vấn đề dù rất phức tạp nhưng hết sức quan trọng đối với hiệu lực của cả hai dự luật này.


(1) Đóng góp của khu vực tư nhân trong nước khoảng 10% GDP, 27% tổng đầu tư xã hội, gần 5% tổng số việc làm. Còn DN Nhà nước (DNNN) và DN có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) chiếm 50% GDP thì không hoạt động theo Luật DN. (Nguyễn Đình Cung, Báo cáo đánh giá những ưu và nhược điểm của Luật Doanh nghiệp, tháng 9 năm 2004)
(2) Thực tế là một số DN có vốn đầu tư nước ngoài đã tìm cách lấp khoảng trống này bằng cách áp dụng các nguyên tắc quản trị DN của Luật DN vốn chỉ dành cho các DN trong nước. VCCI, Đề tài nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật về thành lập tổ chức và hoạt động của DN, Tháng 12 năm 2004.
(3) Ban nghiên cứu Thủ tướng Chính phủ, Đề xuất về Tư tưởng chỉ đạo cũng như nội dụng chính của Luật Doanh nghiệp Thống nhất và Luật Đầu tư chung, tháng 4 năm 2004.

SOURCE: KINHDOANH.COM.VN