LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

    PGS.TS. NGUYỄN THU LINH

Việt Nam đang ở trước ngưỡng cửa của WTO sau nhiều năm phấn đấu. Trong quá trình đó các nhà kinh tế, quản lý đã làm nhiều việc để xây dựng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp như: thành lập các tập doàn kinh tế thông qua sát nhập các công ty nhà nước thành các Tổng công ty, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cổ phần hoá doanh nghiệp, từng bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan… Tuy nhiên, có một phương diện rất quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nguồn lực con người là thúc đẩy bình đẳng giới trong việc làm nhằm bảo đảm quyền con người của phụ nữ lại rất ít được nhắc đến trong khi đây cũng là tiêu chuẩn bắt buộc của WTO. Bình đẳng giới cũng là vấn đề được APEC quan tâm trong bối cảnh Việt Nam đăng cai hội nghị này năm 2006. Thực hiện bình đẳng giới là cánh cửa để Việt Nam hội nhập vào thế giới.

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam tham gia vào lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao nhưng chỉ số bình đẳng giới lại thấp hơn các nước trong khu vực. Số liệu năm 2002 cho thấy:

Continue reading

TÌNH HÌNH GIỚI Ở VIỆT NAM DƯỚI ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ

THÚY HIỀN

“Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới,… là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á”, Báo cáo Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID) và Cơ quan phát triển quốc tế Canađa (CIDA).

Continue reading

NGHIÊN CỨU GIỚI Ở VIỆT NAM – Quá trình và xu hướng

NGUYỄN LINH KHIẾU

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau. Để nâng cao tác động của quan điểm giới thiết thực góp phần tạo lập sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể.

Nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào phụ nữ rộng khắp. Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ nữ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoa học và hầu như của toàn xã hội.

Continue reading

NGHIÊN CỨU GIỚI Ở VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH VÀ XU HƯỚNG

Nguyễn Linh Khiếu

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau. Để nâng cao tác động của quan điểm giới thiết thực góp phần tạo lập sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể.

Nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào phụ nữ rộng khắp. Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ nữ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoa học và hầu như của toàn xã hội. Continue reading

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước CẦN THỰC HIỆN CÓ BÀI BẢN

NGUYỄN KIM HỘI– Ngân hàng Công thương Chi nhánh Vĩnh Phúc

Trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao gấp 5 – 6 lần so với khi doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Nhưng cũng còn nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tình hình sản xuất kinh doanh giậm chân tại chỗ do những đơn vị này khi cổ phần hoá thiếu thận trọng, khi xây dựng dự án không tính toán kỹ sản xuất mặt hàng mới hoặc chưa đổi mới công nghệ tân tiến. Công tác tổ chức cán bộ còn cồng kềnh hoặc bộ máy cũ, hoặc dự án kêu gọi vốn cổ phần huy động vốn chưa đạt hiệu quả thiết thực phải vay vốn ngân hàng trên 70% cả vốn cố định và vốn lưu động. Để cổ phần hoá chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề phân bố. Phân bổ nền kinh tế từng bộ, từng tỉnh. Trong qui hoạch cổ phần hoá, để khi cổ phần hoá có đủ các loại sản phẩm tốt, cần thiết. Tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp trong cả nước cùng sản xuất một sản phẩm gây thừa mặt hàng này lại thiếu các mặt hàng khác. Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CẦN THỰC HIỆN CÓ BÀI BẢN

NGUYỄN KIM HỘI – NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VĨNH PHÚC

Trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao gấp 5 – 6 lần so với khi doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Nhưng cũng còn nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tình hình sản xuất kinh doanh giậm chân tại chỗ do những đơn vị này khi cổ phần hoá thiếu thận trọng, khi xây dựng dự án không tính toán kỹ sản xuất mặt hàng mới hoặc chưa đổi mới công nghệ tân tiến. Công tác tổ chức cán bộ còn cồng kềnh hoặc bộ máy cũ, hoặc dự án kêu gọi vốn cổ phần huy động vốn chưa đạt hiệu quả thiết thực phải vay vốn ngân hàng trên 70% cả vốn cố định và vốn lưu động.
Để cổ phần hoá chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề phân bố. Phân bổ nền kinh tế từng bộ, từng tỉnh. Trong qui hoạch cổ phần hoá, để khi cổ phần hoá có đủ các loại sản phẩm tốt, cần thiết. Tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp trong cả nước cùng sản xuất một sản phẩm gây thừa mặt hàng này lại thiếu các mặt hàng khác. Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất. Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT VỀ TÀI SẢN CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI Ở ĐỨC

GS.TS. THOMASRAUSCHER –  ĐH Tổng hợp Leipzip, CHLB Đức

1. GIỚI THIỆU

a. Thi hành các phán quyết của tòa án trong và ngoài Cộng đồng Châu Âu

Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng trong thương mại quốc tế có thể được giải quyết ở tòa án quốc gia có thẩm quyền theo quy định pháp luật của quốc gia đó trừ khi có điều khoản trọng tài trong hợp đồng hạn chế thẩm quyền của tòa án. Khi lựa chọn một tòa án để giải quyết tranh chấp, thẩm quyền giải quyết theo các quy định của tòa án đó không phải là yếu tố duy nhất để xem xét. Khởi kiện ở tòa án nơi nguyên đơn cư trú có vẻ là thuận lợi. Tuy nhiên, việc thi hành phán quyết**

của tòa án của quốc gia nơi nguyên đơn cư trú là rất khó khăn trừ khi phán quyết đó được thi hành do tài sản của bị đơn bị tịch thu. Việc thi hành phán quyết về tài sản (money judgment) ở Đức được điều chỉnh bởi Nghị định của Cộng đồng Châu Âu (EC) số 44/20011 về thẩm quyền, công nhận và thi hành các phán quyết về các vấn đề dân sự và thương mại (Nghị định Brussels I), nếu phán quyết đó là của một tòa án của một quốc gia thành viên EC2, hoặc bởi pháp luật quốc gia, đó là Điều 723, 724, 328 Bộ luật Tố tụng dân sự Đức (ZPO3) nếu phán quyết đó là của một tòa án của một quốc gia không phải là thành viên của EC. Các quy định song phương về công nhận và thi hành phán quyết đang có hiệu lực giữa Đức với quốc gia nơi tòa án ra phán  quyết cũng có thể được áp dụng. Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ – Một vài bước tiếp cận ban đầu

TRẦN VĂN LONG – Viện Khoa học Thanh tra

Theo định nghĩa của Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân (CIVICUS), xã hội dân sự được hiểu là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đây là một khái niệm được đưa ra sau khi có những nghiên cứu về xã hội dân sự tại các nước châu Á, châu Phi của CIVICUS, nó đúng và hàm chứa những yếu tố về xã hội dân sự của các nước trong khu vực này. Khái niệm này có nhiều điểm bao quát, thể hiện được nhiều góc độ, phương diện và hoạt động của xã hội dân sự như: Thể chế hoá, ghi nhận các điều kiện và các nhóm xã hội dân sự không chính thống; coi xã hội dân sự là một diễn đàn, một không gian, nơi mà mọi người có thể đến với nhau và tìm cách gây những ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng, xã hội; xoá mờ ranh giới giữa xã hội dân sự, thị trường, nhà nước và gia đình. Trong khái niệm này, các tổ chức xã hội dân sự được phân chia theo chức năng hơn là theo hình thức, đây là kết quả đạt được của một chuỗi các nghiên cứu tại các nước châu Á và châu Phi (các nước đang phát triển). Điều này mang lại những hiệu quả trong tiếp cận vấn đề, sẽ không có những rào cản về chính trị, pháp lý tại bất kỳ quốc gia nào.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ – MỘT VÀI BƯỚC TIẾP CẬN BAN ĐẦU

TRẦN VĂN LONG – Viện Khoa học Thanh tra

Theo định nghĩa của Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân (CIVICUS), xã hội dân sự được hiểu là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đây là một khái niệm được đưa ra sau khi có những nghiên cứu về xã hội dân sự tại các nước châu Á, châu Phi của CIVICUS, nó đúng và hàm chứa những yếu tố về xã hội dân sự của các nước trong khu vực này. Khái niệm này có nhiều điểm bao quát, thể hiện được nhiều góc độ, phương diện và hoạt động của xã hội dân sự như: Thể chế hoá, ghi nhận các điều kiện và các nhóm xã hội dân sự không chính thống; coi xã hội dân sự là một diễn đàn, một không gian, nơi mà mọi người có thể đến với nhau và tìm cách gây những ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng, xã hội; xoá mờ ranh giới giữa xã hội dân sự, thị trường, nhà nước và gia đình. Trong khái niệm này, các tổ chức xã hội dân sự được phân chia theo chức năng hơn là theo hình thức, đây là kết quả đạt được của một chuỗi các nghiên cứu tại các nước châu Á và châu Phi (các nước đang phát triển). Điều này mang lại những hiệu quả trong tiếp cận vấn đề, sẽ không có những rào cản về chính trị, pháp lý tại bất kỳ quốc gia nào.

Continue reading