ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996) được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá IX. Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội là các giao lưu dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật Dân sự (dưới đây viết tắt là BLDS) đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: BLDS là luật chung trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng theo nguyên tắc tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm, nhưng thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật của nước ta cho thấy nhiều văn bản pháp luật đều khoanh vùng áp dụng của các văn bản đó nên hiệu lực áp dụng của BLDS đã bị hạn chế rất nhiều; một số quy định trong BLDS không còn phù hợp với thực tế; có những quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ, quy định quá chung; trong BLDS có những quy định thuộc quan hệ hành chính; nhiều luật mới có nội dung liên quan đên BLDS được ban hành nhưng BLDS chưa được điều chỉnh cho phù hợp dẫn đến sự mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống pháp luật; trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS còn có những quy định chưa tương thích với các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế.
Vì vậy, việc xây dựng Bộ luật Dân sự mới là cần thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai.
Bộ luật Dân sự năm 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006. Bộ luật quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
II. CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Việc xây dựng BLDS năm  2005 đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
1.     Quán triệt và kịp thời thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng, đồng thời cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 (đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 tháng 12/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều).
2.     Xây dựng BLDS theo hướng BLDS là luật chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể.
3.     Hạn chế sự can thiệp mang tính hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự; tôn trọng và phát huy sự tự thoả thuận, tự quyết định của các chủ thể.
4.     Kế thừa và phát triển các quy định đã đi vào cuộc sống, đồng thời tiếp tục pháp điển hoá pháp luật dân sự để không phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
5.     Nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta.
III. CƠ CẤU CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005 gồm 7 phần, 36 chương, 777 điều.
1.     Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLDS năm 2005 gồm 9 chương (từ Chương I đến Chương IX), 162 điều, quy định về nhiệm vụ và hiệu lực của BLDS, những nguyên tắc cơ bản, địa vị pháp lý của các chủ thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác, các vấn đề về giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn và thời hiệu.
2.     Phần thứ hai “Tài sản và quyền sở hữu” gồm 7 chương (từ Chương X đến Chương XVI) với 117 điều (từ Điều 163 đến Điều 279) quy định về nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu, các loại tài sản, nội dung quyền sở hữu, các hình thức sở hữu, xác lập và chấm dứt quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, những quy định khác về quyền sở hữu.
3.     Phần thứ ba “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” gồm 5 chương (từ Chương XVII đến Chương XXI), 351 điều (từ Điều 280 đến Điều 630), quy định về nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự, hợp đồng dân sự; thực hiện công việc không có uỷ quyền, nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
4.     Phần thứ tư “Thừa kế” gồm 4 chương (từ Chương XXII đến Chương XXV), 57 điều (từ Điều 631 đến Điều 687). Trong Phần này có những quy định chung về thừa kế; thừa kế theo di chúc; thừa kế theo pháp luật; thanh toán và phân chia di sản.
5.     Phần thứ năm “Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất” gồm 8 chương (từ Chương XXVI đến Chương XXXIII), 48 điều (từ Điều 688 đến Điều 735) quy định về các hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sự dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất.
6.     Phần thứ sáu “Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” gồm 3 chương (từ Chương XXXIV đến Chương XXXVI), 22 điều (từ Điều 736 đến Điều 749), quy định về quyền tác giả (như đối tượng, nội dung, thời điểm phát sinh quyền tác giả…) và quyền liên quan đến quyền tác giả (đối tượng liên quan đến quyền tác giả, chủ sở hữu và nội dung quyền đối với cuộc biểu diễn, cuộc phát sóng…); quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới; chuyển giao công nghệ.
7.     Phần thứ bảy “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” gồm 20 điều (từ Điều 758 đến Điều 777).

IV. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Các quy định tại Điều 1 của BLDS năm 2005 đã thể hiện được BLDS là luật chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể. Quan hệ dân sự, theo quy định của BLDS năm 2005, được hiểu rộng, bao gồm cả các quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Như vậy, BLDS năm 2005 quy định những vấn đề chung nhất, còn các luật chuyên ngành khác về hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động chỉ quy định những vấn đề đặc thù trong lĩnh vực đó. Trong trường hợp các luật trong các lĩnh vực đó không có các điều luật cụ thể để áp dụng thì áp dụng các quy định của BLDS năm 2005 phù hợp để giải quyết.
Đây là sự bổ sung cần thiết trong việc hoàn thiện pháp luật của nước ta, vì quy định này bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
2. Những nguyên tắc cơ bản của BLDS năm 2005
Một điểm mới của BLDS năm 2005 là khẳng định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận (Điều 4). Nếu như Điều 7 của BLDS năm 1995 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm” thì Điều 4 của BLDS năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội“. Đây là sửa đổi rất quan trọng, vì quy định này cho phép các chủ thể trong quan hệ dân sự “được làm những gì mà pháp luật không cấm” thay vì “được làm những gì phù hợp với quy định của pháp luật”.
Những nguyên tắc cơ bản của BLDS năm 1995 tiếp tục được khẳng định trong BLDS năm 2005 và được sắp xếp lại cho phù hợp hơn.
3. Quy định về bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, tổ chức.
Nhìn chung trong BLDS năm 2005 quy định “tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” được giữ nguyên như trong BLDS năm 1995. Tuy nhiên, để bảo vệ triệt để quyền dân sự của cá nhân, tổ chức, trong BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm quy định: khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ. Bên cạnh đó, khi các chủ thể có quyền dân sự bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ như: buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại. Mặt khác, vấn đề “phạt vi phạm” trước đây được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 12 BLDS  năm 1995 với tư cách là một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự nay đã được đưa ra khỏi Điều 9 của BLDS năm 2005. Vấn đề phạt vi phạm này được quy định bổ sung tại Khoản 7, Điều 402 BLDS năm 2005, cho phép các bên có thể thoả thuận về phạt vi phạm với tư cách là một trong các nội dung của hợp đồng dân sự.
Để tăng cường hơn nữa việc bảo vệ các quyền dân sự của các bên trong quan hệ dân sự, BLDS năm 2005 đã có quy định mới bổ sung thêm vào Điều 12 “không ai được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự”. Như vậy, việc dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực không chỉ bị nghiêm cấm trong giải quyết các tranh chấp dân sự như đã quy định trước đây trong BLDS năm 1995, mà BLDS năm 2005 đã bổ sung quy định nhằm nghiêm cấm việc dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay từ khi các bên tham gia quan hệ dân sự.
4. Về quyền nhân thân
4.1 Đăng ký hộ tịch là quan hệ giữa cơ quan nhà nước và công dân. Đây là quan hệ hành chính, do đó các quy định về đăng ký hộ tịch đã được đưa ra khỏi BLDS năm 2005. Các vấn đề cụ thể về đăng ký hộ tịch do các văn bản pháp luật về hộ tịch điều chỉnh. BLDS năm 2005 chỉ quy định một số quyền về hộ tịch dưới góc độ là quyền nhân thân của cá nhân và đưa vào quy định tại Mục 2 về quyền nhân thân của cá nhân, đó là quyền được khai sinh (Điều 29) và quyền được khai tử (Điều 30).
4.2 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân là một vấn đề nhạy cảm, rất phức tạp trong cuộc sống. Để tránh việc sử dụng tuỳ tiện hình ảnh của cá nhân đã và đang xảy ra trong thời gian qua, cần có văn bản quy phạm pháp luật riêng để quy định những trường hợp cụ thể. Vì vậy BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm một số quy định vào Khoản 2 , Điều 31 như sau:
“Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác”.
Ngoài ra, để tạo cơ sở pháp lý cho việc quy định cụ thể hơn về việc sử dụng hình ảnh của cá nhân, tại Điều 31 BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm Khoản 3 hoàn toàn mới so với BLDS năm 1995 là:
“Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
4.3 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.
Trong thời gian gần đây, yêu cầu của việc giải phẫu tử thi trong ngành y tế là rất lớn và rất cần thiết nhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứu, chữa bệnh. Theo quy định của BLDS năm 1995 thì trên thực tế rất ít trường hợp sau khi chết, người nhà của người quá cố cho phép mổ tử thi, vì việc mổ tử thi là vấn đề nhạy cảm và thuộc về tâm linh của người Á đông, nên đối với việc mổ tử thi cần phải được sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ của người quá cố. Để khắc phục những bất cập nêu trên, tại Khoản 4, Điều 32 BLDS năm 2005 đã quy định các trường hợp cụ thể được phép giải phẫu tử thi nhằm đảm bảo tính khả thi trong thực tế cuộc sống hiện nay:
“Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;
b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;
c) Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết”.
Ngoài những quy định về quyền nhân thân trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm một số quyền nhân thân, đó là  quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34); quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); quyền xác định lại giới tính (Điều 36) dưới góc độ là các quyền dân sự của cá nhân. Đây là những vấn đề mới mà trong thực tiễn đặt ra và yêu cầu giải quyết về mặt pháp lý. Tuy nhiên, những vấn đề này được quy định trong BLDS  năm 2005 chỉ mang tính nguyên tắc, dưới giác độ là các quyền dân sự; còn các quy định cụ thể sẽ do các văn bản riêng điều chỉnh.
4.4 Quyền hiến bộ phận cơ thể, quyền hiến xác, quyền hiến bộ phận cơ thể sau khi chết và quyền nhận bộ phận cơ thể người.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay là để duy trì sự sống, rất nhiều người bệnh cần phải thay hay ghép một số bộ phận cơ thể (ví dụ như thay thận, ghép gan …), Điều 33 và Điều 34 của BLDS  năm 2005 quy định: cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học để tránh tình trạng việc cá nhân sử dụng các bộ phận cơ thể của mình vì mục đích thương mại.
Tuy nhiên, BLDS năm 2005 chỉ quy định mang tính nguyên tắc vấn đề này, còn việc hiến và sử dụng xác, các bộ phận cơ thể của người sống cũng như của người chết, quyền nhận bộ phận cơ thể người do các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định cụ thể, chi tiết hơn.
Đồng thời, với các quy định bổ sung về quyền hiến bộ phận cơ thể, quyền hiến xác, quyền hiến bộ phận cơ thể sau khi chết nêu trên, BLDS năm 2005 còn quy định quyền nhận bộ phận cơ thể người tại Điều 35: Cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người khác chỉ để chữa bệnh cho mình. Nghiêm cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại.
4.5 Quyền xác định lại giới tính
Việc chuyển đổi giới tính là vấn đề mới và rất phức tạp về mặt xã hội, chưa có tính phổ biến và chưa phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội ở nước ta hiện nay. Do đó cần phải có thời gian để tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thêm kinh nghiệm các nước khác trên thế giới và khu vực.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số địa phương (ví dụ như Thành phố Hồ Chí Minh) đã tiến hành phẫu thuật nhằm xác định lại giới tính. Một yêu cầu bức xúc được đặt ra về việc phải có pháp luật điều chỉnh về vấn đề này. Đáp ứng thực tiễn đó, Điều 36 BLDS năm 2005 đã quy định việc xác định lại giới tính như sau:
“Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính. Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính.
Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, BLDS năm 2005 quy định việc xác định lại giới tính của một người chỉ được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác, mà cần có sự can thiệp của y học, nhằm xác định rõ về giới tính, chứ không quy định quyền thay đổi giới tính một cách tuỳ tiện. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tình hình xã hội và truyền thống đạo đức của nước ta hiện nay.
Quyền đối với họ, tên là quyền dân sự gắn với nhân thân của mỗi cá nhân. Quyền thay đổi họ tên là quyền dân sự cơ bản của mỗi cá nhân. BLDS  năm 2005 quy định cá nhân có quyền được xác định lại giới tính. Do đó, việc thay đổi lại họ, tên của cá nhân sau khi cá nhân đó đã được xác định lại giới tính (ví dụ như từ nam chuyển sang nữ) để tránh việc gây nhầm lẫn trong cuộc sống là yêu cầu thực tế, chính đáng của công dân. Từ đó, quyền thay đổi họ, tên trong trường hợp cá nhân đã thay đổi giới tính như đã nêu trên được bổ sung thêm tại Điều 27 BLDS  năm 2005 là: Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợpcá nhân đó đã được xác định lại giới tính.
5. Nơi cư trú (Điều 52)
Điều 48 BLDS năm 1995 quy định: “Nơi cư trú của một cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú”. Khái niệm về nơi cư trú trong BLDS năm 1995 mang nặng ý nghĩa quản lý về mặt hành chính, không phù hợp dưới góc độ dân sự. Bởi vậy, BLDS năm 2005 đã quy định nơi cư trú phù hợp với quan hệ dân sự, lấy tiêu chí quan trọng nhất để xác định nơi cư trú của cá nhân, đó là nơi cá nhân thường xuyên sinh sống.
6. Quy định về hộ gia đình
Cũng như BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 quy định 4 loại chủ thể trong đó có hộ gia đình. Khác với BLDS năm 1995, hộ gia đình ngoài yếu tố là các thành viên có tài sản chung, BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm một điều kiện nữa là các thành viên phải cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đã quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể của quan hệ giao đất, giao rừng, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, tài sản chung của hộ gia đình ngoài những loại tài sản đã được quy định trong BLDS năm 1995 như: tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên, được tặng cho chung, tài sản mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ, quyền sử dụng đất hợp pháp, BLDS năm 2005 còn bổ sung thêm các loại tài sản khác cũng là tài sản chung của hộ gia đình như: quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình cho phù hợp với pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hiện hành. Ngoài ra, tài sản được thừa kế chung là tài sản chung của hộ gia đình cũng đã được bổ sung thêm vào Điều 108 – Tài sản chung của hộ gia đình trong BLDS năm 2005.
BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình (Điều 109). Theo quy định mới này thì các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận. Tuy nhiên, việc định đoạt tài sản chung là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình được quy định chặt chẽ hơn tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Nếu so sánh với các tài sản khác, thì tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình thường có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế – xã hội của cả hộ gia đình nên việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình thì cần phải được tất cả các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý. Đối với các loại tài sản chung khác của hộ gia đình thì việc định đoạt tài sản này chỉ cần được đa số thành viên của hộ gia đình từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.
7. Về giao dịch dân sự
7.1.Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Khoản 2 Điều 122 quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”. Đây là sửa đổi quan trọng so với quy định tại Khoản 4, Điều 131  BLDS  năm 1995 vì Khoản 2, Điều 122 BLDS  năm 2005 khẳng định:  chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định thì hình thức giao dịch mới là điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Quy định này sẽ hạn chế khả năng giao dịch dân sự bị tuyên là vô hiệu chỉ vì có vi phạm về hình thức giao dịch trong mọi trường hợp.
7.2. Về hình thức giao dịch dân sự. Điều 124 BLDS năm 2005 bổ sung quy định:”Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản” cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay.
PHẦN THỨ HAI
TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU

Phần này có nhiều quy định được giữ BLDS năm 1995. Bên cạnh đó, có một số điểm sửa đổi, bổ sung so với quy định của Bộ luật dân sự năm 1995:
1. Về tài sản ( Điều 163)
Điều 163 của BLDS năm 2005 quy định: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Như vậy, “vật có thực” theo quy định của BLDS năm 1995 đã được sửa thành “vật”. Việc bỏ cụm từ “có thực” làm cho khái niệm “vật” được hiểu theo nghĩa rộng hơn: bao gồm cả vật đang có và sẽ được hình thành trong tương lai. Trên thực tế có nhiều vật đang được hình thành nhưng đã là đối tượng của giao dịch. Ví dụ: công trình đang được xây dựng, tàu thuyền đang đóng hoặc sẽ đóng, vụ lúa, hoa quả sẽ có trong vụ thu hoạch sắp tới…Quy định như vậy sẽ phù hợp hơn, đáp ứng được nhu cầu về giao dịch trong nền kinh tế thị trường.
2. Về đăng ký quyền sở hữu tài sản (Điều 167)
Điều 167 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp  pháp luật có quy định khác”.
Điều 167 BLDS năm 2005 đã sửa Điều 174 BLDS năm 1995 vì Điều này quy định quá khái quát, gây khó khăn trong việc áp dụng vì chưa quy định rõ những loại tài sản nào được đăng ký.
Cơ chế đăng ký quyền sở hữu tài sản là một cơ chế nhằm công khai hoá quyền sở hữu của chủ thể. Khi quyền sở hữu đã thuộc về một chủ thể thì về nguyên tắc, tất cả các chủ thể khác phải tôn trọng quyền sở hữu của chủ thể đó. Để mọi người biết về quyền sở hữu của mình thì phải có cơ chế công khai quyền này. Ở nhiều nước trên thế giới áp dụng hai cơ chế riêng về cách biểu thị công khai đối với động sản và bất động sản. Đối với động sản: chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu. Đối với bất động sản: đăng ký là biện pháp công khai hoá các quyền về bất động sản.
Như vậy, ở Việt Nam quy định tại Điều 167 của BLDS năm 2005 là phù hợp với thông lệ thế giới: đối với bất động sản thì đăng ký là biện pháp công khai hoá quyền sở hữu; đây là một cơ chế pháp lý nhằm làm cho thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, minh bạch, bảo đảm sự an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao dịch về bất động sản. Đây là một nguyên tắc rất cơ bản trong việc thực hiện quyền sở hữu và một số quyền khác đối với bất động sản. Còn đối với động sản thì chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu, chỉ trừ những trường hợp mà pháp luật có quy định rõ là đối với loại tài sản đó áp dụng chế độ đăng ký. BLDS quy định khái quát như vậy, còn những vấn đề cụ thể như trình tự, thủ tục đăng ký, cơ quan đăng ký…sẽ do Luật đăng ký bất động sản quy định. Hiện nay Luật đăng ký bất động sản đang được soạn thảo và sẽ được ban hành trong thời gian tới.
3. Về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (Điều 168)
Điều 168 BLDS năm 2005 quy định:
“1. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Như vậy, Điều 168 BLDS năm 2005 là sự kế thừa các quy định của BLDS năm 1995 và phù hợp với một số văn bản pháp luật hiện hành (như Luật đất đai) về nguyên tắc đăng ký: đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu. Tuy nhiên, nguyên tắc này bị loại trừ trong trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về hình thức sở hữu (Điều 172 và các Điều tại Chương XIII)
Điều 172 quy định: Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,  các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Như vậy, các hình thức sở hữu theo quy định của BLDS năm 2005 là 6 hình thức sở hữu. Hình thức sở hữu toàn dân trong BLDS năm 1995 đã được sửa thành hình thức sở hữu nhà nước. Quy định như vậy nhằm làm rõ chủ thể của quyền sở hữu. Bổ sung thêm sở hữu của tổ chức chính trị, xã hội – nghề nghiệp vì hiện nay đã xuất hiện loại tổ chức này. Hình thức sở hữu hỗn hợp trong BLDS năm 1995 đã được đưa vào sở hữu chung thành một Điều (Điều 217).
5. Về chịu rủi ro về tài sản (Điều 166)
Đây là điều mới bổ sung nhằm khẳng định, về nguyên tắc, chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Trường hợp chủ sở hữu trực tiếp chiếm hữu tài sản thì chủ sở hữu phải chịu rủi ro đối với tài sản, điều này không có vấn đề gì phải bàn. Trong trường hợp chủ sở hữu không trực tiếp chiếm hữu mà là người khác chiếm hữu tài sản theo thoả thuận với chủ sở hữu thì ai phải chịu rủi ro? Quy định của Điều 166 cho thấy: nếu pháp luật có quy định hoặc trong hợp đồng có thoả thuận cụ thể về việc chịu rủi ro thì thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc theo như thoả thuận trong hợp đồng; nếu không thì chủ sở hữu phải chịu rủi ro.
6. Về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản (Điều 173)
Điều này đã giữ lại nội dung theo quy định của BLDS năm 1995 là “Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật” (khoản 1). Ngoài ra, Điều này được bổ sung thêm 4 khoản mới. Nội dung của các khoản mới được bổ sung là:
– Liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; các quyền khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 2).
– Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định tại khoản 2 Điều này  (Khoản 3).
– Các quyền đối với tài sản mà đã được quy định tại khoản 2 Điều 173 được bảo vệ theo cách thức bảo vệ quyền sở hữu (khoản 4).
– Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản phải đăng ký bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề theo thoả thuận và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
7. Về bảo vệ quyền, lợi ích của chủ sở hữu và của người chiếm hữu ngay tình
Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo quy định của pháp luật (Điều 169). Đây là nguyên tắc chung, rất cơ bản trong việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu. Tuy nhiên, ở đây cũng có một số ngoại lệ. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì lợi ích của chủ sở hữu và người chiếm hữu ngay tình sẽ được giải quyết như thế nào. BLDS năm 2005 đã giải quyết vấn đề này thông qua các quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình ( Điều 257) và quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình (Điều 258)
Đây là hai điều mới được bổ sung nhằm bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời bảo vệ được lợi ích của người chiếm hữu ngay tình. Cách thức bảo vệ người chiếm hữu ngay tình có sự khác nhau, tuỳ thuộc vào tài sản là động sản hay bất động sản, có đăng ký quyền sở hữu hay không đăng ký quyền sở hữu.
Điều 257 quy định: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.
Điều 258 quy định: Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

PHẦN THỨ BA
NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Sau gần 10 năm thực hiện (1995 – 2005), các quy định của Bộ luật dân sự về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khẳng định quyền tự do hợp đồng, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao lưu dân sự. Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định này cũng phần nào bộc lộ những hạn chế, bất cập đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội. Chế định hợp đồng trong BLDS năm 1995 chủ yếu là điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng dân sự. Hạn chế này xuất phát từ việc phân biệt hai hệ thống pháp luật về hợp đồng: hợp đồng dân sự (do Bộ luật dân sự điều chỉnh) và hợp đồng kinh tế (do Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Luật Thương mại điều chỉnh). Việc phân biệt này đã làm cho các quy định pháp luật về hợp đồng chồng chéo, trùng lắp, nhiều khi mâu thuẫn nhau, gây ra rất nhiều khó khăn trong thực tế áp dụng và không bảo vệ được tuyệt đối quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng.
Nhằm khắc phục các hạn chế nêu trên, chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự trong BLDS năm 2005 đã được sửa đổi theo hướng các nguyên tắc, các quy đinh chung về hợp đồng được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, kinh tế hay thương mại. Mặt khác, nhiều quy định về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự được sửa đổi, bổ sung theo quan điểm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, quyền tự do cam kết, thoả thuận của các bên, kết hợp với việc đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên về cam kết, thỏa thuận của mình.
1. Các quy định về nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự (từ Điều 280 đến 317)
1.1. Về khái niệm nghĩa vụ dân sự (Điều 280): BLDS năm 2005 quy định cụ thể hơn khái niệm nghĩa vụ dân sự so với BLDS năm 1995, theo đó, nghĩa vụ dân sự không chỉ là việc phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác mà còn bao gồm cả việc phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá khác.
1.2. Về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Điều 290 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo đó bên có nghĩa vụ trả tiền phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận, nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi của số nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác. So với BLDS năm 1995, BLDS mới không quy định bắt buộc trong luật đồng tiền thanh toán phải là đồng tiền Việt nam mà để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành khác quy định nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong giao dịch dân sự.
1.3. Về việc chấm dứt nghĩa vụ dân sự do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự: Điều 383 quy định về việc chấm dứt nghĩa vụ dân sự do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự thay thế Điều 389 cũ. Theo BLDS năm 1995 thì khi thời hiệu khởi kiện đã hết thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt, tuy nhiên điểm mới của BLDS năm 2005 là chỉ khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự hết thì nghĩa vụ dân sự mới chấm dứt mặc dù có thể thời hiệu khởi kiện đã hết.
1.4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Điều 307 BLDS mới quy định rõ hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút. BLDS cũng quy định rõ trách nhiệm của người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại ngoài việc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai.
2. Các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 318 đến Điều 373)
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thể hiện các quan điểm cơ bản sau đây:
2.1. Xác định đúng bản chất của các biện pháp bảo đảm, từ đó BLDS năm 2005 không quy định phạt vi phạm là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, mà các bên có thể thỏa thuận về phạt vi phạm là một trong các nội dung của hợp đồng (khoản 7 Điều 402); phân biệt cầm cố và thế chấp tài sản căn cứ vào một tiêu chí cơ bản, đó là trong trường hợp cầm cố, bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ; trong trường hợp thế chấp, bên thế chấp được giữ tài sản thế chấp. Sự thay đổi này nhằm tránh các khó khăn khi phân biệt động sản, bất động sản và đơn giản hoá các quy định về cầm cố, thế chấp. Nhằm giảm sự khác biệt so với pháp luật của các nước trong quá trình hội nhập quốc tế, BLDS quy định bảo lãnh là đồng thời chuyển bảo lãnh bằng tài sản cụ thể thành cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba. Từ đó, sẽ không còn quy định về bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003, mà được chuyển thành thế chấp quyền sử dụng đất và pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ không điều chỉnh đăng ký bảo lãnh.
2.2. Nhiều quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được sửa đổi, bổ sung theo quan điểm tôn trọng quyền tự chủ, quyền tự do cam kết, thoả thuận của các bên, kết hợp với việc đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên về cam kết, thỏa thuận của mình.
Quan điểm nêu trên được cụ thể hoá rõ nét trong các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng cầm cố, thế chấp và bảo lãnh, tạo ra khả năng cho phép các bên linh hoạt hơn khi xử lý các tình huống phát sinh trong thực tế, mà thông thường pháp luật không thể dự liệu hết được, cụ thể như sau:
Các bên được thỏa thuận về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa, có thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai và mở rộng khả năng dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Các bên được cầm cố, thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu giá trị tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng cầm cố, thế chấp lớn hơn tổng giá trị các khoản nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, về nguyên tắc mọi tài sản đều có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, đặc biệt trong lĩnh vực bảo đảm bằng quyền sử dụng đất. Từ đó, tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có vào thời điểm giao kết hoặc sẽ có trong tương lai, tài sản hữu hình, giấy tờ có giá và các quyền tài sản, nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tế trong khi nguồn tài sản dùng để bảo đảm còn hạn chế.
2.3. BLDS thể hiện quan điểm về việc cầm cố, thế chấp tuy có hạn chế một số quyền của bên cầm cố, bên thế chấp đối với tài sản bảo đảm, nhưng không vì thế mà làm đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của họ. Từ đó, một số quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên đã được sửa đổi cơ bản, ví dụ: bên thế chấp được bán tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp (khoản 3, 5 Điều 349). Đồng thời, BLDS cũng đưa ra cơ chế để bên nhận thế chấp vẫn thu hồi được nợ.
Ngoài ra, BLDS đã tôn trọng quyền của các bên trong việc xử lý tài sản bảo đảm, phù hợp với yêu cầu thực tế, đó là các bên có quyền thoả thuận về biện pháp xử lý tài sản bảo đảm; nếu không thoả thuận được thì bán đấu giá.
2.4. Nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của các quan hệ về giao dịch bảo đảm, BLDS quy định các giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm (Điều 323, Điều 325). Bộ luật pháp điển hóa các quy định đã được thực tế kiểm nghiệm và có hiệu quả tích cực đối với quá trình đẩy mạnh đầu tư vốn trong và ngoài nước. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin cho  mọi người có nhu cầu tìm hiểu trước khi quyết định tiến hành các giao dịch có liên quan đến tài sản, đồng thời, qua đó xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý để thực thanh toán nghĩa vụ.
3. Các quy định về  Hợp đồng dân sự (từ Điều 388 đến Điều 593)
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng dân sự thể hiện quan điểm cơ bản, đó là xây dựng chế định hợp đồng trong BLDS thành nền tảng cho pháp luật về hợp đồng nói chung, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Trong trường hợp pháp luật chuyên ngành về hợp đồng cụ thể có quy định riêng, thì ưu tiên áp dụng các quy định riêng đó. Vì vậy, phạm vi áp dụng của các quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS được mở rộng, áp dụng chung cho các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế như hiện nay. Cũng chính vì thế, kể từ ngày BLDS có hiệu lực (ngày 01.01.2006) Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực.
Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự được sửa đổi để phù hợp với các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
3.1.Tôn trọng quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được thoả thuận về hình thức, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.
BLDS  năm  2005 xác định thời điểm giao kết hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thỏa thuận giữa các bên, không phụ thuộc vào yếu tố hình thức, thủ tục của hợp đồng. Xuất phát từ đó, BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404).
Về nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết nêu trên (Điều 405). Tuy nhiên cần lưu ý đó là các bên có thể thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, ví dụ: Luật Đất đai quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp là thời điểm đăng ký.
3.2.  Hợp đồng dân sự vô hiệu
Mục 7 BLDS năm 2005 không quy định các trường hợp hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó, mà viện dẫn áp dụng những quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138, vì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự. Nhằm khắc phục tình trạng nhiều hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu một cách không cần thiết, BLDS năm 2005 khẳng định hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ khi pháp luật có quy định cụ thể (Điều 401) và xác định vô hiệu trong mối quan hệ giữa hợp đồng chính, hợp đồng phụ (Điều 410). Đồng thời, bổ sung trường hợp hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 411).
3.3. Thực hiện hợp đồng (từ Điều 412 đến Điều 422)
Đây là một trong những giai đoạn quan trọng của hợp đồng, vì mục đích của các bên có đạt được hay không phụ thuộc vào vấn đề hợp đồng được thực hiện tốt hay không. Do đó, khi thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 412 BLDS. Ngoài ra, BLDS bổ sung quyền cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ (Điều 416), thực hiện hợp đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm (Điều 422).
3.4. Về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự
Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu được áp dụng theo  Điều 136 BLDS, vì hợp đồng là một loại của giao dịch dân sự. Ngoài ra, BLDS bổ sung thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm (Điều 427).
3.5. Về đối tượng của hợp đồng mua bán: Điều 429 quy định: “đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch”, theo quy định của Điều 163 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. BLDS năm 1995 quy định đối tượng của hợp đồng mua bán chỉ có thể là vật và quyền tài sản. Do đó, BLDS lần này mở rộng và quy định rõ hơn về đối tượng của hợp đồng mua bán so với BLDS năm 1995.
3.6. Về thời điểm chuyển quyền sở hữu: Điều 432 BLDS năm 1995 quy định: “Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm bên mua nhận tài sản…”. Điều 439 BLDS năm 2005 sửa đổi theo hướng quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.  Việc quy định như vậy đã mở rộng hơn đối tượng tiếp nhận tài sản, có thể là chuyển giao cho chính bên mua hoặc cho bên được bên mua uỷ quyền nhận, mặt khác cũng là để phù hợp với  thực tế hoạt động thương mại và quy định của Luật Thương mại về vấn đề thời điểm chuyển quyền sở hữu. Bộ luật cũng bổ sung quy định trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.
3.7.Về hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở: Điều 450 quy định: “Hợp đồng mua bán nhà ở phải lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, BLDS năm 2005 đã mở rộng hơn so với BLDS năm 1995, cho phép trong một số trường hợp nếu pháp luật quy định không nhất thiết phải bằng văn bản thì các bên có thể tự do thoả thuận theo các hình thức khác. Theo BLDS năm 1995 thì hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.
3.8. Về vấn đề bán đấu giá tài sản: Điều 456 quy định “tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc pháp luật có quy định” như vậy, so với BLDS năm 1995, BLDS mới cho phép tất cả các cá nhân, tổ chức có quyền bán đấu giá tài sản của mình, không nhất thiết phải là “cơ quan, tổ chức do pháp luật quy định” như BLDS năm 1995.
3.9.Về vấn đề họ, hụi, biêu, phườngđược quy định tại Điều 479: đây là một vấn đề mới được bổ sung vào BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống dân sự mà lâu nay Toà án chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết. Tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp nên BLDS chỉ quy định mang tính nguyên tắc trên cơ sở hụi, họ là quan hệ tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau không nhằm mục đích kinh doanh, Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi. Những vấn đề cụ thể sẽ do các cơ quan hữu quan hướng dẫn thực hiện.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng(từ Điều 604 đến Điều 630)
Việc sửa đổi, bổ sung phần này nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng, bảo vệ người bị thiệt hại và tăng cường trách nhiệm của người gây thiệt hại, từ đó đẩy mạnh việc phòng ngừa thiệt hại xảy ra. Trong phần này có một số sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:
4.1.Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm (Điều 607). Quy định này là cần thiết nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp kéo dài và khó khăn trong việc thu thập, xác minh chứng cứ phục vụ việc xét xử.
4.2. BLDS  quy định các bên thỏa thuận về mức bồi thường, bù đắp tổn thất về tinh thần trong các trường hợp gây thiệt hại do sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; nếu không thỏa thuận được, thì áp dụng mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với trường hợp xâm phạm về sức khỏe (khoản 2 Điều 609); mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu đối với trường hợp xâm phạm về tính mạng (khoản 2 Điều 610), mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu đối với trường hợp xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, uy tín (khoản 2 Điều 611).
4.3. BLDS 2005 bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể (Điều 628) và mồ mả (Điều 629). Đây là những vấn đề mà thực tế đang có vướng mắc nhưng chưa có pháp luật điều chỉnh. Theo đó, cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác xâm phạm thi thể, mồ mả người khác phải bồi thường thiệt hại, thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Đối với trường hợp xâm phạm thi thể người khác, ngoài khoản tiền bồi thường thiệt hại, người xâm phạm còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền đó. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
PHẦN THỨ TƯ
THỪA KẾ

Những nguyên tắc cơ bản về thừa kế không thay đổi  so với BLDS năm 1995. Tuy nhiên về nội dung một số điều được chỉnh sửa, bổ sung và làm rõ hơn để phù hợp và tính khả thi hơn.
1. Vấn đề chứng thực của Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn và chứng nhận của công chứng Nhà nước
Vấn đề chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn và  chứng nhận của công chứng Nhà nước  hầu như được đưa ra khỏi BLDS năm 2005. Do di chúc thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết nên dù rằng di chúc không có công chứng Nhà nước hay chứng thực của Uỷ ban cấp xã, phường, thị trấn nhưng nếu di chúc do chính tay họ viết nên thì vẫn được coi là hợp pháp nếu như họ tuân thủ những quy định tại Điều 653 BLDS năm 2005. Hơn nữa, đối với những người trên máy bay, trên tàu biển, trên các phương tiện giao thông,… hoặc là phạm nhân, họ có thể đưa cho người phụ trách chứng thực. Việc bỏ sự “độc quyền” trong chứng thực, chứng nhận của Uỷ ban các cấp và công chứng Nhà nước là bước cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc thi hành pháp luật.
2. Di sản (Điều 634): Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Như vậy BLDS năm 2005 đã  bỏ khoản 2 Điều 637 cũ của BLDS năm 1995 là “Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định của phần thứ năm của Bộ luật này”. Bởi vì, BLDS năm 2005 đã coi quyền sử dụng đất là một tài sản, và  tại  Điều 174 Bộ luật này cũng khẳng định đất đai thuộc bất động sản. Chính vì vậy,  việc bỏ quy định như khoản 2 trên đây  là hòan toàn phù hợp với các nội dung cụ thể của BLDS .
3. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 637): tại Điều 640 BLDS năm 1995 đã được bổ sung nội dung nhằm làm rõ hơn phần trách nhiệm của  những người thừa kế chỉ phải gánh chịu “nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại”  và khẳng định rõ  từng người thừa kế cũng chỉ “…thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận”  với quy định mới còn mở rộng thêm “trừ trường hợp có thoả thuận khác” đó là, trong những trường hợp  người thừa kế có thể vì danh dự gia đình, tình nghĩa cha con, vợ chồng đã đứng ra chịu toàn bộ cho dù họ phải “bỏ tiền túi” của mình để thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại khi không có di chúc hoặc được giao nghĩa vụ thừa kế như quy định tại khoản 4 Điều 648; với quy định như vậy không bị bó và khống chế chỉ trong phạm vi di sản của người chết để lại.
4. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm (Điều 641): về nguyên tắc thì những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì không được quyền thừa kế của nhau; BLDS năm 2005 đã mở ra trường hợp ngoại lệ đối với thừa kế thế vị, nhằm mục đích bảo đảm quyền thừa kế của gia đình dòng họ và chuyển di sản của họ cho người thừa kế gần nhất của mình. Như vậy, trong trường hợp ông và bố chết cùng thời điểm thì cháu vẫn được thừa kế di sản của ông mình.

5. Từ chối nhận di sản (Điều 642): đã thể hiện một cách nhân đạo nhằm bảo vệ quyền lợi của người thừa kế, trong trường hợp vì một lý do nào đó mà họ  chưa kịp bày tỏ ý chí của mình là nhận hay không nhận thừa kế thì sau sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế, họ vẫn không mất đi quyền được nhận thừa kế của mình.
6. Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước (Điều 644): về nguyên tắc không thay đổi, tuy nhiên có bổ sung về mặt nội dung, đó là “…sau khi đã  thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước” điều này đã bảo vệ được quyền lợi của các chủ nợ cũng như những người có quyền lợi có liên quan đến tài sản có liên quan.
7. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 645):
Với quy định mới đã làm rõ hơn về  hai loại thời hiệu:
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế, bác bỏ quyền thừa kế;
–  Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản.
Việc bổ sung quy định “thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản  của người chết để lại..”, đã xác định quyền về tài sản của các chủ nợ cũng như những người khác có liên quan đến di sản chỉ được bảo vệ trong thời hiệu là ba năm. Sau ba năm kể từ lúc mở thừa kế ( kể từ khi con nợ chết), nếu người có quyền không yêu cầu thì họ sẽ  bị mất quyền đó.
Việc quy định như vậy không chỉ đảm bảo được tính ổn định trong giao lưu dân sự của người thừa kế mà còn phân biệt giữa các loại thời hiệu với nhau đó là: thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế và bác bỏ quyền thừa kế là mười năm  và thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ là ba năm.
8. Quyền của người lập di chúc (Điều 648): Ngoài những quyền quy định tại Điều 651 BLDS năm 1995: chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; chỉ định người giữ di chúc, quản lý di sản, người phân chia di sản thì quyền của  người lập di chúc không bị bó hẹp trong quyền  giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản nữa, mà người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ như chăm sóc cho bố, mẹ, ông, bà…hoặc có thể thoả thuận để thanh toán nghĩa vụ về tài sản cho mình vượt quá phần tài sản có của người lập di chúc để lại và được người thừa kế đồng ý.
9. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng (Điều 668) :  Di chúc chung của vợ chồng là loại di chúc đặc biệt được xác lập do hai người có tài sản chung hợp nhất, cùng định đoạt chung. BLDS năm 2005  đã sửa đổi hiệu lực của loại di chúc đặc biệt và phức tạp này cho phù hợp với tính chất và đảm bảo được trọn vẹn ý chí của hai người. Theo đó, di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết.

10. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác (Điều 680): Di sản của người chết để lại là nguồn gốc để phát sinh tranh chấp xảy ra giữa bố mẹ chồng với con dâu, giữa bố mẹ vợ với con rể  trong trường hợp người chồng hoặc người vợ chết trong giai đoạn đang giải quyết ly hôn tại Toà án. BLDS năm 2005 đã  xác định rõ hơn cho dù rằng vợ chồng đang có vấn đề không thể chung sống với nhau, có đơn kiện tại Toà xin ly hôn hay được Toà cho ly hôn nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì quyền thừa kế của người còn lại (nếu người kia chết) vẫn được bảo vệ. Điều 680 BLDS  năm 2005  quy định: “vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Toà án cho ly hôn bằng một bản án hoặc bằng Quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản”. Quy định này đã tháo gỡ nhiều sự thắc mắc và tránh được những vụ tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Hơn nữa, về lý luận thì quan hệ thừa kế của vợ và chồng được xác định trên cơ sở hôn nhân, vì vậy tại thời điểm mở thừa kế nghĩa là có một bên vợ hoặc chồng chết mà cuộc hôn nhân đó vẫn còn, thì người còn lại vẫn được hưởng di sản của người đã chết hay nói một cách khác là họ có quyền thừa kế của nhau. Quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi nào có Quyết định hoặc Bản án của Toà án đã có hiệu lực
11. Hạn chế phân chia di sản (Điều 686): Để phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, BLDS năm 2005  đã bổ sung đoạn 2 Điều 686: “trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế”. Với thời hạn là ba năm không được chia di sản đã hạn chế được những người thừa kế vì đồng tiền mà  đánh mất đi tình cảm tốt đẹp của mình, đã bắt bố hoặc mẹ hoặc người thân của mình phải bán di sản (ví dụ như: ngôi nhà nhỏ có cửa hàng kinh doanh, hoặc máy móc là công cụ sản xuất) là phương tiện kiếm sống duy nhất của người thân để chia thừa kế.
12. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế (Điều 687): Đây là một Điều hoàn toàn mới được đưa vào BLDS năm 2005 nhằm giải quyết sự bất cập trong thực tiễn. Có những vụ kiện đòi thừa kế xảy ra đến hàng chục năm  mà những người thừa kế vẫn yêu cầu chia di sản nhiều lần, trong khi khối di sản không chỉ đã bị biến đổi theo thời gian (được tôn tạo, sửa chữa) hoặc vì đập phá xây dựng mới, mà còn được mua đi bán lại nhiều lần. Quy định mới này đã giải quyết bằng cách không chia bằng hiện vật, mà thanh toán lại bằng tiền tại thời điểm mở thừa kế cho  những trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế. Đây là giải pháp tối ưu, không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người thừa kế mà còn tôn trọng tính ổn định trong giao dịch dân sự.
PHẦN THỨ NĂM
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1. Những quy định chung:
1.1.Mở rộng chủ thể tham gia chuyển quyền sử dụng đất (Điều 688)
BLDS năm 2005 không chỉ quy định việc chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân  như BLDS năm 1995 mà còn bổ sung thêm chủ thể được chuyển quyền sử dụng đất là pháp nhân và các chủ thể khác (ví dụ: tổ hợp tác).
1.2. Mở rộng hình thức xác lập quyền sử dụng đất (Điều 688)
Theo quy định tại Điều 690 của BLDS năm 1995, hộ gia đình, cá nhân được xác lập quyền sử dụng đất dưới ba hình thức: được Nhà nước giao đất; được Nhà nước cho thuê đất; được nhận chuyển quyền sử dụng.
Theo quy định tại Điều 688 của BLDS năm 2005, cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập quyền sử dụng đất dưới bốn hình thức:
– Được Nhà nước giao đất;
– Được Nhà nước cho thuê đất;
– Được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như (nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp chỉ mới có một trong các giấy tờ hợp lệ hoặc một số trường hợp khác quy định tại Điều 50 của Luật đất đai năm 2003);
– Được người khác chuyển quyền  sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
1.3. Tôn trọng sự thoả thuận về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất  (Điều 690)
Điều 694 của BLDS năm 1995 quy định: “Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cơ sở bảng giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo khung giá của Chính phủ quy định”. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 12 của Luật đất đai năm 1993 và Điều 56 của Luật đất đai năm 2003 thì giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo khung giá của Chính phủ quy định không áp trong việc chuyển quyền sử dụng đất.
Thực tế cho thấy, trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các tổ chức với nhau, giữa các hộ gia đình, cá nhân với nhau là quan hệ dân sự không ai áp dụng bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mà các bên thoả thuận giá chuyển nhượng đất theo giá thị trường tại địa phương đó tại thời điểm chuyển nhượng. Để phù hợp với Điều 56 của Luật đất đai năm 2003, Điều 690 của  BLDS năm 2005 quy định: “Giá chuyển quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định”.
1.4. Mở rộngquyền năng của người sử dụng đất
BLDS năm 1995 chỉ quy định người sử dụng đất có 5 quyền; quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất. BLDS năm 2005 bổ sung thêm quyền cho thuê lại quyền sử dụng, quyền tặng cho quyền sử dụng đất và quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
2. Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
2.1. Bỏ quy định điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất
2.2. Về  nghĩa vụ của bên chuyển đổi quyền sử dụng đất (Điều 695 )

Tại khoản 5 Điều 703 của BLDS năm 1995 quy định: “trong trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất thì bên được thanh toán số tiền chênh lệch do giá trị quyền sử dụng đất chuyển đổi cao hơn phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất đối với phần chênh lệch đó. Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1999 thì trong trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối cho nhau để phù hợp với điều kiện canh tác thì được miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, BLDS năm 2005 đã bỏ quy định về việc nộp thuế chuyển đổi quyền sử dụng đất nếu “bên được thanh toán số tiền chênh lệch do giá trị quyền sử dụng đất chuyển đổi cao hơn phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất đối với phần chênh lệch đó”. Bổ sung “nghĩa vụ của các bên chuyển đổi phải nộp lệ phí chuyển đổi”.
3. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
3.1. Bỏ quy định điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3.2. Về nghĩa vụ của bên chuyển nhượng sử dụng đất (Điều 699)
Khoản 1 Điều 709 của BLDS năm 1995 quy định: “bên chuyển quyền sử dụng đất có nghĩa vụ xin phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Thực tế cho thấy, quy định này không hợp lý vì Luật đất đai đã cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải xin phép mà chỉ phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.  Do đó, BLDS năm 2005 đã bỏ quy định này.

4. Hợp đồng thuê, thuê lại quyền sử dụng đất
4.1. Bổ sung thêm quyền cho thuê lại đất

4.2. Bỏ quy định về điều kiện cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất vì Luật đất đai không quy định điều kiện cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
4.3.  Về nghĩa vụ của bên thuê quyền sử dụng đất ( Điều 707)
Tại khoản 6 Điều 720 của BLDS năm 1995 quy định: “bên thuê quyền sử dụng đất không được cho người khác thuê lại quyền sử dụng đất”. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998,  Luật đất đai năm 2003 đã cho phép người sử dụng đất được cho thuê lại đất. Do đó, BLDS năm 2005 đã bỏ quy định này để phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai.
5.Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
5.1.Bỏ quy định điều kiện thế chấp quyền sử dụng đất.
5.2.Mở rộng phạm vi được thế chấp quyền sử dụng đất (Điều 716)
Theo quy định của BLDS năm 1995 thì đất nông nghiệp chỉ được thế chấp tại Ngân hàng Việt Nam, tại các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà nước cho phép thành lập. Đối với đất ở được thế chấp với các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam ở trong nước. Thực tế cho thấy, quy định này không phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.BLDS  năm 2005 bỏ các quy định này vì , thế chấp quyền sử dụng đất ở đâu là quan hệ dân sự, là quyền của người sử dụng đất không nhất thiết phải thế chấptại Ngân hàng Việt Nam, tại các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà nước cho phép thành lập .

5.3. Mở rộng quyền của bên thế chấp quyền sử dụng đất (Điều 718)
Để tạo điều kiện cho bên thế chấp giá trị quyền sử dụng đất có thể thanh toán được nợ cho bên nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất, BLDS năm 2005 quy định bên thế chấp quyền sử dụng đất có quyền: “Được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất nếu được bên nhận thế chấp đồng ý ”.
6. Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
Nhằm tạo cơ chế thông thoáng trong việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, theo quy định của BLDS năm 2005 (khoản 2 Điều 730) thì tuy giá trị quyền sử dụng đã được góp vốn, nhưng bên góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vẫn “được quyền chuyển nhượng, để thừa kế phần góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật quy định khác”.
7. Thừa kế quyền sử dụng đất
7.1.Người được thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 734)
Theo quy định tại điều 740 của BLDS  năm 1995 đối với đất nông nghiệp, người được thừa kế phải có điều kiện: Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sản xuất nông nghiệp; chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai.
Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, để bảo đảm sự bình đẳng giữa những người thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp, Luật không quy định điều kiện thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp. Do đó, BLDS năm 2005 không quy định điều kiện thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà quy định những người thuộc hàng thừa kế đều được thừa kế đất nông nghiệp, cụ thể là: “Cá nhân được Nhà nước giao đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất, được thuê đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai ”.
7.2. Thừa kế quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho hộ gia đình (Điều 735)
Theo quy định tại Điều 744 của BLDS năm 1995: “Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu trong hộ có thành viên chết thì các thành viên trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng đất do Nhà nước giao cho hộ đó; nếu trong hộ gia đình không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất đó”.
Thực tế cho thấy, không phải tất cả các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp đều được Nhà nước giao đất. Một số hộ gia đình tuy được Nhà nước giao đất, nhưng họ vẫn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì họ có nhu cầu sử dụng đất do gia đình đông người thiếu đất sản xuất hoặc họ có vốn muốn đầu từ vào sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, theo quy định của Bộ luật dân sự thì quyền sử dụng đất cũng là di sản thừa kế, vì vậy, đã là di sản thì mọi người đều được thừa kế để bảo đảm sự bình đẳng. Do đó, Luật đất đai năm 2003, BLDS năm 2005 không quy định điều kiện được thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà quy định mọi người trong hàng thừa kế đều được hưởng thừa kế, cụ thể là : “Đối với trường hợp Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để lại cho những người thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.
PHẦN THỨ SÁU
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

1. BLDS năm 2005 chỉ quy định những vấn đề cơ bản có tính chất nguyên tắc về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
BLDS năm 2005 chỉ quy định những vấn đề có tính chất dân sự chung nhất, những nguyên tắc cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Những vấn đề cụ thể khác không thuộc quan hệ dân sự (như trình tự thủ tục xác lập quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng mới, thủ tục chuyển giao công nghệ) sẽ được quy định trong các luật chuyên ngành (Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ) vì:
Thứ nhất, BLDS là luật chung trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng trên cơ sở tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Do vậy, BLDS chỉ quy định những nguyên tắc chung, cơ bản nhất có tính chất định hướng;
Thứ hai, BLDS cần phải đảm bảo tính ổn định, do vậy để đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của thực tế xã hội, nhất là trong lĩnh vực khoa học công nghệ, thì các vấn đề cụ thể về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ cần được quy định tại các Luật chuyên ngành.
2. Về quyền tác giả
– Nội dung quyền tác giả: BLDS năm 2005 đã phân định rõ ràng hơn các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả so với BLDS năm1995.
– Các quy định về thời điểm phát sinh quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, phân chia quyền của đồng tác giả, chuyển giao quyền tác giả, hợp đồng chuyển giao quyền tài sản (tại các điều 739, 740, 741, 742, 743) đã được thể hiện, khái quát hơn so với các quy định trước đây.
– Các quy định về nội dung các quyền đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của chủ sở hữu các quyền liên quan đến quyền tác giả (tại các điều 745, 746 và 747) được xác định cụ thể hơn nhằm phù hợp với quy định của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, phù hợp với quy định tại Chương II của Hiệp định Thương mại Việt nam –  Hoa kỳ.
3. Quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
– Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp: BLDS năm 2005 đã mở rộng phạm vi đối tượng sở hữu công nghiệp (Điều 750). Cụ thể, đã quy định thêm các đối tượng: bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
– Về thuật ngữ : Thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá” được sử dụng trong quy định của BLDS năm 1995 đã được thay bằng thuật ngữ “nhãn hiệu” trong Điều 750 của BLDS năm 2005, thuật ngữ này cũng dùng để chỉ nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết. Thuật ngữ  “tên gọi xuất xứ hàng hoá” trong BLDS năm 1995 đã được thay bằng thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” trong BLDS năm 2005. Xét về bản chất, tên gọi xuất xứ hàng hoá là một dạng chỉ dẫn địa lý đặc biệt.
– Quyền đối với giống cây trồng: tại điều 750, quyền đối với giống cây trồng được quy định thành một đối tượng độc lập, không nằm trong nhóm các đối tượng sở hữu công nghiệp. Hiện nay, giống cây trồng đã được quy định bảo hộ trong Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên, vấn đề bảo hộ giống cây trồng được quy định trong BLDS.
Như vậy, so với yêu cầu của các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, BLDS năm 2005 đã quy định đầy đủ hơn các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống cây trồng.
4. Chuyển giao công nghệ (Điều 745 – Điều 748)
Để tránh chồng chéo, trùng lặp trong quy định giữa BLDS và Luật Chuyển giao công nghệ (hiện đang trong quá trình soạn thảo), các quy định về chuyển giao công nghệ trong BLDS năm 2005 được khái quát cao, quy định mang tính nguyên tắc về quyền chuyển giao công nghệ, đối tượng chuyển giao công nghệ, các công nghệ không được chuyển giao và hợp đồng chuyển giao công nghệ; các vấn đề cụ thể liên quan đến chuyển giao công nghệ sẽ do Luật Chuyển giao công nghệ quy định.
PHẦN THỨ BẢY
QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Phần thứ bảy “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của BLDS năm 2005 có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
1. Về khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Điều 758): Điều này vẫn kế thừa Điều 826 của BLDS năm 1995 về các căn cứ để xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là chủ thể, căn cứ pháp lý và đối tượng của quan hệ. Tuy nhiên, điều luật mới đã làm rõ hơn một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, về chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, BLDS năm 2005 xác định rõ có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thay vì nói chung chung là có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia như trong Bộ luật dân sự cũ.
Thứ hai, về căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Điều luật mới đã xác định rõ trường hợp quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
2. Về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài (Điều 761): Điều luật mới bổ sung khoản 1 ‘‘Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch’’ để khẳng định rõ về nguyên tắc, căn cứ để xác định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là luật của nước mà người đó là công dân. So với quy định của BLDS năm 1995 thì việc bổ sung như vậy là phù hợp và có tính bao quát hơn.
3. Về quyền sở hữu tài sản (Điều 766): So với BLDS năm 1995 thì Điều này bổ sung thêm khoản 4: việc xác định quyền sở hữu tài sản đối với tàu bay dân dụng và tàu biển phải tuân theo pháp luật chuyên ngành về hàng không dân dụng và hàng hải nước CHXHCN Việt Nam để làm rõ thêm tính đặc thù của hai loại tài sản đặc biệt này, đồng thời phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật trong Bộ luật hàng hải và Luật Hàng không dân dụng.
4. Về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài và thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài (Điều 767 và 768): Đây là hai Điều mới hoàn toàn trong BLDS năm 2005. BLDS năm 1995 không có bất kỳ quy định nào về thừa kế có yếu tố nước ngoài, do đó khi có tranh chấp phát sinh, các Tòa án không có căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ kiện về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Khắc phục hạn chế này, BLDS năm 2005 đã dành hai Điều để quy định về thừa kế, đó là Điều 767 (thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài) và Điều 768 (thừa kế theo di chúc), cụ thể như sau:
Thứ nhất, về thừa kế theo pháp luật, về nguyên tắc việc thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết. Riêng quyền thừa kế đối với bất động sản, phù hợp với thông lệ quốc tế, khoản 2 Điều 767 quy định quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản. Về vấn đề di sản không có người thừa kế, Điều 767 phân biệt hai trường hợp: đối với bất động sản thì thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản; đối với động sản thì thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch. Đây cũng là cách giải quyết trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà chúng ta đã ký với các nước;
Thứ hai, về thừa kế theo di chúc, Điều 768 BLDS năm 2005 quy định năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân; hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc.
5. Về hợp đồng dân sự: về hình thức của hợp đồng BLDS năm 2005 quy định thành 1 điều riêng (Điều 770). Điều này kế thừa khoản 1 Điều 834 của BLDS năm 1995, đồng thời bổ sung thêm khoản 2: ‘‘Hình thức của hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo pháp luật CHXHCN Việt Nam’’.
Ngoài ra, để thích ứng với sự phát triển của các phương thức giao kết hợp đồng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS năm 2005 đã bổ sung thêm một Điều về giao kết hợp đồng dân sự vắng mặt (Điều 771), theo đó, luật áp dụng trong trường hợp này là “luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng”. Thời điểm giao kết của hợp đồng vắng mặt được xác định theo “pháp luật của nước của bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời chấp nhận của bên được đề nghị giao kết hợp đồng’’.
V. TỔ CHỨC THI HÀNH
Để thi hành BLDS năm 2005, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Dân sự, trong đó giao Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm:
1.     Tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật Dân sự từ ngày 01/01/2006.
2.     Phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Dân sự trong cán bộ, công chức và nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Bộ luật Dân sự trong bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan.
Bộ Tư pháp đang khẩn trương phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng kế hoạch thi hành Nghị quyết của Quốc hội, góp phần đưa Bộ luật Dân sự năm 2005 vào cuộc sống.

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/PreLawDetail.aspx?PreLawID=50

LUẬT DOANH NGHIỆP THỐNG NHẤT MỘT BƯỚC TIẾN TRONG CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực từ năm 2000 được coi là một hình mẫu trong soạn thảo và thực thi luật ở Việt Nam. Tuy được đánh giá là rất thành công, nhưng Luật DN mới chỉ “đánh thức” được khu vực tư nhân trong nước.1 Để thu hút hơn nữa nguồn đầu tư trong và ngoài nước và thực hiện cam kết quốc tế về xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng thì Luật DN phải là một luật áp dụng chung cho mọi loại hình DN. Đáp ứng nhu cầu cấp thiết này, Luật doanh nghiệp thống nhất (DNTN) hiện đang được gấp rút xây dựng để có thể trình Dự luật lên Quốc hội vào cuối năm nay. Bản tin này bàn luận về những nét mới của Dự luật cũng như một số ảnh hưởng đến giới doanh nghiệp.

Xoá bỏ các khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

Đúng như tên gọi, Luật DNTN có mục đích kết hợp và tiến tới thay thế các quy định hiện hành về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong các luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Luật DNTN sẽ tạo ra khung pháp lý áp dụng theo loại hình, đặc trưng của doanh nghiệp chứ không theo chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Cụ thể là Luật DNTN sẽ qui định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần. Bất cứ doanh nghiệp nào thuộc một trong bốn loại hình này đều được điều chỉnh bởi Luật DNTN mà không phụ thuộc vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, sự khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thực sự được xóa bỏ hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, mặc dù quyền tự do kinh doanh được mở rộng đáng kể, nhưng họ vẫn còn có thể bị hạn chế hoặc bị từ chối trong một số ngành mà DN trong nước không bị cấm hoặc hạn chế. Tuy nhiên, danh mục những ngành nghề kinh doanh bị cấm hay hạn chế này lại được quy định trong Luật Đầu tư chung (cũng đang trong quá trình soạn thảo). Điều này có nghĩa là các ngành nghề hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh trong Luật Đầu tư chung sẽ phải phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam cũng như nguyên tắc đối xử công bằng trong chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), muốn hoạt động theo Luật DNTN thì phải chuyển đổi loại hình sang công ty TNHH hoặc công ty cổ phần. Có quy định bắt buộc các DNNN phải chuyển sang hoạt động theo luật DNTN hay không, thời gian phải chuyển đổi là bao lâu vẫn đang còn là một ẩn số. Nếu vẫn còn các DNNN nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật DNTN thì chưa thể có một sân chơi chung cho tất cả các thành phần kinh tế.

Mở rộng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

Quyền tự do kinh doanh của DN được hiểu là quyền của DN được tự chủ quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn. Mở rộng quyền tự do kinh doanh của DN cũng có nghĩa là hạn chế sự can thiệp hành chính tùy ý của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của DN.

Một trong những thay đổi được coi là mang tính đột phá của của Luật DNTN lần này là quyền hạn của các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được mở rộng đáng kể. Với Luật DNTN, các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm chứ không chỉ bị giới hạn trong nội dung của giấy phép đầu tư như qui định trong Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành. Đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hưởng chế độ đăng ký kinh doanh giống như các DN tư nhân trong nước, nhờ đó việc thành lập DN trở nên đơn giản, nhanh và ít chi phí hơn so với chế độ cấp phép đầu tư phức tạp, tuỳ tiện và tốn kém hiện nay. Với Luật DN TN, các DN nước ngoài sẽ không bị giới hạn ở một loại hình công ty TNHH như hiện nay mà sẽ được tự do chọn các loại hình doanh nghiệp phù hợp, ví dụ công ty cổ phần với lợi thế về huy động vốn trên thị trường tài chính. Những khống chế về mức sở hữu (30%) đối với đầu tư nước ngoài về cơ bản sẽ được xóa bỏ. Đối với một số ngành, nghề hạn chế kinh doanh áp dụng cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có quy định những điều kiện nhất định mà nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng theo hướng công khai, minh bạch hơn. Những thay đổi này chắc chắn sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Nếu so với Luật DNNN hiện hành, Luật DNTN có vẻ khá “hấp dẫn” đối với các DNNN. Nếu như hiện nay, nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài được tự quyết về công việc kinh doanh của mình thì DNNN vẫn phải chịu ràng buộc hay chi phối bởi sự can thiệp mang tính chất hành chính, chủ quan và thiếu phối hợp của không ít cơ quan nhà nước. Ví dụ, trong các vấn đề liên quan đến sự sống còn của DNNN thì Bộ chuyên ngành quyết về chiến lược, Bộ Nội vụ quyết về nhân sự, Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết về dự án đầu tư, Bộ Tài chính cấp vốn. Với Luật DNTN các DNNN sẽ được “cởi trói”, quyền kinh doanh sẽ được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh sẽ đươc nâng cao, việc quản trị sẽ được cải thiện và sẽ ít phải phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước hơn.

Quản trị doanh nghiệp hợp lý, hiệu quả.

Luật DNTN sẽ tạo một khung quản trị thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế để áp dụng cho các DN trong nước (DN tư nhân, DNNN đã chuyển đổi và DN có vốn đầu tư nước ngoài). Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Khung pháp lý chung sẽ giúp giải quyết những tồn tại trong quản trị DNNN, ví dụ như quyền chủ sở hữu và quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý chưa được xác định đầy đủ và rõ ràng, vẫn còn chế độ “hành chính chủ quản”, cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm người quản lý chưa hợp lý, cơ chế giám sát điều hành kém hiệu quả v.v… Khác với Luật ĐTNN hiện hành, Luật DNTN sẽ không chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề cân bằng quyền lực giữa các bên trong liên doanh mà điều chỉnh cả quản trị của DN 100% vốn đầu tư nước ngoài. 2

Dự thảo Luật DNTN sẽ khắc phục một số hạn chế của Luật DN năm 2000 như vấn đề về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và chủ nợ, cơ chế cung cấp và tiếp cận thông tin, vấn đề trách nhiệm của các bên góp vốn, sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người quản lý, giải quyết mối quan hệ về quản trị, công ty cổ phần, công ty hợp danh v.v… Ngoài ra Dự thảo sẽ bổ sung một chương mới về Công ty mẹ, công ty con và nhóm công ty – một hiện tượng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là mô hình mới ở Việt Nam. Những quy định này mở ra những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo một hướng phát triển mới trong cải cách DNNN và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô kinh doanh một cách hiệu quả mà vẫn kiểm soát được những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động.

Còn nhiều việc cần phải làm …

Nhìn chung dự thảo Luật DNTN đang được xây dựng theo xu hướng tích cực. Dự luật đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,3 đó là: i) mở rộng quyền tự do kinh doanh để tất cả các doanh nghiệp được kinh doanh và đầu tư trong mọi lĩnh vực luật pháp không cấm cũng như được tự chủ và tự chịu trách nhiệm về doanh nghiệp của mình; ii) đổi mới chức năng quản lý hành chính nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và tăng cường tính minh bạch; iii) phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và cam kết của Chính phủ Việt Nam trong các thoả thuận hội nhập. Cho đến nay, Dự luật đang nhận được sự hưởng ứng lớn từ phía cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, để Luật DNTN có thể phát huy được hiệu lực và đi vào cuộc sống thì cần có sự thống nhất giữa nội dung của Dự luật này và các quy định hiện hành khác có liên quan (ví dụ luật DNNN, Luật đầu tư, một số luật chuyên ngành và các cam kết quốc tế). Vì vậy cần thiết phải có sự rà soát lại để huỷ bỏ hoặc sửa đổi các quy định trong các văn bản luật có thể làm hạn chế tác dụng của Luật DNTN. Đặc biệt, trong bối cảnh Luật DNTN và Luật Đầu tư chung đều đang trong quá trình soạn thảo, việc phân định về phạm vi áp dụng của Luật DNTN với Luật Đầu tư chung là một vấn đề dù rất phức tạp nhưng hết sức quan trọng đối với hiệu lực của cả hai dự luật này.


(1) Đóng góp của khu vực tư nhân trong nước khoảng 10% GDP, 27% tổng đầu tư xã hội, gần 5% tổng số việc làm. Còn DN Nhà nước (DNNN) và DN có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) chiếm 50% GDP thì không hoạt động theo Luật DN. (Nguyễn Đình Cung, Báo cáo đánh giá những ưu và nhược điểm của Luật Doanh nghiệp, tháng 9 năm 2004)
(2) Thực tế là một số DN có vốn đầu tư nước ngoài đã tìm cách lấp khoảng trống này bằng cách áp dụng các nguyên tắc quản trị DN của Luật DN vốn chỉ dành cho các DN trong nước. VCCI, Đề tài nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật về thành lập tổ chức và hoạt động của DN, Tháng 12 năm 2004.
(3) Ban nghiên cứu Thủ tướng Chính phủ, Đề xuất về Tư tưởng chỉ đạo cũng như nội dụng chính của Luật Doanh nghiệp Thống nhất và Luật Đầu tư chung, tháng 4 năm 2004.

SOURCE: KINHDOANH.COM.VN

HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ

TS. LÊ NẾT –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Trong dân gian đã có câu “vô phúc đáo tụng đình”; song lại có câu “dĩ hòa vi quý”. Trong Luật Dân sự, luật cũng đề cao nguyên tắc hòa giải.1 Vì vậy từ lâu, hòa giải đã trở thành thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự.2 Không những vậy, Luật Tố tụng dân sự còn phải điều chỉnh hành vi của người tham gia tố tụng sao cho họ hòa giải với nhau tốt hơn là đưa vụ án ra xét xử. Phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng dân sự vì vậy dựa trên hai cơ sở: (1) bảo đảm quyền khởi kiện của bên có quyền trong giao dịch dân sự, song (2) khuyến khích các bên hòa giải.

Để giải quyết được hai vấn đề trên, không những phải nắm những nguyên tắc của luật, mà còn phải hiểu được tâm lý, hành vi của các bên tham gia tố tụng, để sao cho khi Luật Tố tụng dân sự đưa ra quy định A thì các bên sẽ lựa chọn hành vi B, là hành vi hướng đến hòa giải hơn là đưa vụ án ra xét xử. Trong lĩnh vực này, môn kinh tế học về hành vi (còn gọi là lý thuyết đấu trí/lý thuyết trò chơi – game theory) có thể cung cấp cho chúng ta nhiều kinh nghiệm thú vị. Bài viết này phân tích vai trò của kinh tế luật trong việc nghiên cứu hành vi của các bên tham gia tố tụng, khuyến khích họ thương lượng, hòa giải với nhau. Bài viết tập trung vào quá trình hòa giải bắt buộc trong tố tụng. Ngoài quá trình này, việc hòa giải của các bên còn có thể tiến hành thông qua các hình thức hòa giải ngoài tố tụng do các tổ hòa giải ở cơ sở hay các tổ chức trọng tài tiến hành.3

1. Các yếu tố cấu thành của quá trình hòa giải và nguyên tắc hòa giải

Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”.4 Từ điển pháp lý của Rothenberg cũng định nghĩa hòa giải (reconciliation) là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”.5 Một định nghĩa khác của hòa giải (mediation) là “việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt”.6 Cả ba khái niệm nêu trên cho thấy hòà giải có ba yếu tố. Thứ nhất là phải có tranh chấp giữa hai bên. Thứ hai là có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít. Thứ ba là trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (trong tố tụng dân sự là thẩm phán) để cho ý kiến tư vấn, đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không gọi là hòa giải mà là thương lượng.

Trong Đấu trí và Luật,7 chúng ta biết rằng người ta phân đấu trí ra thành hai loại: đấu trí hợp tác và đấu trí bất hợp tác. Khi bên A kiện bên B ra tòa, họ đang ở trong một cuộc đấu trí bất hợp tác. Nhiệm vụ của kinh tế luật là phải tìm cơ chế để các bên có thể biến đổi từ đấu trí bất hợp tác thành đấu trí hợp tác. Trong bất kỳ cuộc đấu trí nào cũng có hai yếu tố, đó là chiến lược (strategy) và kết quả (payoff). Nhiệm vụ của đấu trí là phải tạo cơ chế sao cho kết quả của hợp tác bao giờ cũng cao hơn kết quả của việc bất hợp tác. Ngoài ra, còn phải tạo ra cho các bên niềm tin rằng kết quả là không thể khác được. Có như vậy các bên mới thực hiện chiến lược theo hướng hợp tác (hòa giải).

Một trong những cách để đưa các bên mau chóng đến hòa giải là thiết kế một cuộc đấu trí giống như trò chơi cắt bánh. Bên A cắt, bên B chọn. Khi vấn đề này xảy ra, bên A phải có cách giải quyết sao cho cả hai bên cùng có lợi, vì nếu không thì bên B sẽ chọn phần có lợi cho mình. Trên thực tế trường hợp này ít xảy ra, vì khi tranh chấp các bên đều có những quan điểm nhất định về quyền lợi của mình. Không thể đặt bên này vào trường hợp bên kia. Cũng không thể nói: tôi đề nghị chúng ta chia đôi số thiệt hại (trong một vụ tranh chấp về lỗi của mỗi bên khi thiệt hại xảy ra) để đạt thỏa thuận, khi rõ ràng một bên có lỗi nhiều hơn bên kia khi để xảy ra thiệt hại.

Cách giải quyết thứ hai là dựa trên đấu trí Rubinstein.8 Trong cuộc đấu trí này, một bên được quyền đưa ra yêu cầu, bên kia có quyền từ chối hay đồng ý. Trong trường hợp bên kia từ chối, thì hai bên sẽ cùng không được gì. Khi đó, bên đề nghị phải đề nghị sao cho hợp lý. Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm của đấu trí Rubinstein cho thấy rằng khi trò chơi này xảy ra, các bên có xu hướng chia đều lợi ích, khiến cho việc đạt được thỏa thuận diễn ra mau chóng hơn.

Như vậy, hòa giải là biện pháp có hòa giải. Vấn đề đặt ra là thẩm phán nên cư xử như thế nào để bên tham gia tranh chấp không thể lợi dụng hòa giải để kéo dài vụ kiện hay tẩu tán tài sản. Muốn như vậy, qúa trình hòa giải cần phải được diễn ra nhanh chóng. Giải pháp để đạt được mục đích này thì nhiều người đã phân tích về khía cạnh tâm lý,9 song về khía cạnh kinh tế và pháp lý, người ta thường tập trung vào hai giải pháp sau đây nhằm thúc đẩy tiến trình hòa giải diễn ra nhanh chóng hơn. Thứ nhất là làm cho quá trình kiện tụng và thi hành án khó khăn hơn (các bên khi đó sẽ chọn phương án hòa giải cho nhanh chóng). Thứ hai là hoàn thiện các qui định về hòa giải theo hướng cung cấp thông tin cho các bên để họ có thể quyết định hòa giải nhanh chóng hơn, đồng thời đặt ra những cơ chế như đấu trí Rubinstein (đã nêu trên đây) để mọi sự chậm trễ trong quá trình hòa giải đều phải trả giá. Nhìn chung, Luật Tố tụng dân sự của Việt Nam đã có những cải cách để làm tốt được vai trò thứ nhất thông qua các qui định gần đây trong Luật Sở hữu trí tuệ, song vẫn chưa làm tốt được vai trò thứ hai. Nhận định này được phân tích trong hai mục dưới đây.

2. Khuyến khích hòa giải bằng cách qui định thủ tục hòa giải bắt buộc và tạo khó khăn cho quá trình tố tụng xét xử

a. Định hướng hành vi của các bên trong tố tụng qua qui định về án phí hay qui trình xét xử thông qua bồi thẩm đoàn

Xét về góc độ kinh tế, con người ai cũng tự nguyện lựa chọn giải pháp có lợi nhất cho mình. Khi quá trình xét xử trở nên khó khăn, người ta sẽ chọn giải pháp ít tốn kém hơn, là hòa giải. Thí dụ, Luật Tố tụng dân sự của Việt Nam hiện nay chọn giải pháp tăng tiền tạm ứng án phí nếu giá ngạch của vụ kiện tăng. Điều này sẽ làm các bên ngần ngại trước khi khởi kiện vụ án và tìm kiếm giải pháp hòa giải. Tuy nhiên, cách này có thể sẽ không hiệu quả, vì nếu các bên không khởi kiện thì sẽ không có thủ tục hòa giải trước tòa Các thủ tục hòa giải ngoài tòa thông thường sẽ có hiệu quả kém hơn. Kinh nghiệm giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế cho thấy khả năng hòa giải thường thành công sau khi nguyên đơn đã khởi kiện và gây sức ép cho bị đơn.10

Như vậy làm thế nào để vừa bảo vệ quyền khởi kiện của các bên, vừa khuyến khích các bên hòa giải? Giải pháp của Luật Tố tụng dân sự Hoa Kỳ có thể là cách để chúng ta tham khảo. Thứ nhất, để đảm bảo công dân có quyền bảo vệ quyền lợi của mình, pháp luật Hoa kỳ khuyến khích công dân kiên tụng. Để khởi kiện một vụ án, nguyên đơn chỉ phải trả một khoản án phí nhỏ, khoảng 150 USD. Sau đó, tòa án sẽ xem xét khả năng tiếp tục vụ kiện. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bên phải cung cấp cho nhau mọi chứng cứ mà mình có; trong trường hợp đặc biệt do tòa án yêu cầu, kể cả những chứng cứ không có lợi cho mình. Thủ tục này gọi là thủ tục khám phá – discovery.11 Quá trình này làm giảm chi phí tìm chứng cứ cho các bên. Sau giai đoạn này, các bên sẽ xem xét xem tranh chấp có thể được giải quyết theo con đường hòa giải hay ra tòa. Việc hòa giải được khuyến khích, vì điều này làm giảm chi phí kiện tụng và tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt của các bên. Nếu tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì trước tiên các bên phải trình bày trước bồi thẩm đoàn (jury). Các vị bồi thẩm là những công dân bình thường, không nhất thiết phải có kiến thức về pháp luật. Các vị bồi thẩm (thông thường 11 người) sẽ đưa ra ý kiến của mình diễn biến sự việc và phán quyết xem ai sai, ai đúng, đồng thời ấn định mức bồi thường thiệt hại (trừ trường hợp các bên có quy định khác).12 Các phán quyết này phải là phán quyết nhất trí. Bên thua kiện có thể kháng án lên tòa phúc thẩm, tuy nhiên tòa án chỉ có thể xem xét những vấn đề thuộc về áp dụng luật, chứ không xem xét lại diễn biến vụ kiện, trừ trường hợp bên thua kiện trưng ra được những bằng chứng mới. Như vậy, điều này cũng tiết kiệm được chi phí tranh tụng và giảm được gánh nặng cho tòa án.13

Điểm độc đáo của tố tụng Hoa Kỳ trong việc khuyến khích các bên hòa giải là sự khó dự đoán của các phán quyết do bồi thẩm đoàn đưa ra. Do phần lớn các vị bồi thẩm chưa từng được đào tạo luật nên họ chỉ xử theo lương tâm của họ. Điều này khiến cho các luật sự dẫu lách luật giỏi cũng chưa chắc giải quyết tranh chấp, vì vấn đề là ở lương tâm của bồi thẩm đoàn và khả năng thuyết phục của luật sư. Đây là những vấn đề không thể dự đoán trước. Do các bên không có khả năng tính được khả năng thắng hay thua của vụ kiện, nên họ có khuynh hướng hòa giải hơn là đưa vụ kiện ra xét xử. Do mức bồi thường thiệt hại của bồi thẩm đoàn qui định có thể rất lớn, nên bên biết mình khó thắng kiện sẽ tìm cách hòa giải và nhận lỗi hơn là ra tòa và phải chịu bồi thường thiệt hại với số tiền lớn. Ngoài ra, mức độ bồi thường thiệt hại còn phụ thuộc vào cách sắp xếp vụ xử. Cooter và Ulen (2003) đưa ra một vấn đề khá thú vị.14 Đó là, trong một vụ kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu bên nguyên đơn nêu ra thiệt hại của mình trước Bồi thẩm đoàn, thì bồi thẩm đoàn thông thường có khuynh hướng kết tội bị đơn. Tuy nhiên nếu giấu không nói thiệt hại (chỉ nói về hành vi trái luật), thì bồi thẩm đoàn sẽ có cái nhìn chính xác hơn. Như vậy, tâm lý học cũng là vấn đề cần quan tâm trong tố tụng dân sự để tìm cách giải quyết những vấn đề liên quan đến việc làm thế nào để cho các bên e ngại việc đưa vụ án ra xét xử và lựa chọn hình thức hòa giải. Theo thống kê của Toà án Tối cao Hoa Kỳ, nhờ những biện pháp kể trên (áp dụng phương thức xét xử bằng bồi thẩm đoàn, và cho phép bồi thẩm đoàn được áp đặt mức bồi thường thiệt hại cao), chỉ có khoảng 10% các vụ tranh chấp là phải giải quyết tại Tòa án.

Ở Việt Nam, do đặc thù của hệ thống pháp luật kế thừa từ truyền thống Châu Âu lục địa, chúng ta không xây dựng hệ thống bồi thẩm đoàn. Việt Nam cũng không cho phép đưa ra những phán quyết bồi thường thiệt hại có tính chất trừng phạt (punitive damages), vì vậy việc thất bại trong hòa giải chưa chắc đã làm bị đơn e sợ. Muốn đẩy nhanh phương thức hòa giải, nên chăng tòa án nên tăng mức bồi thường thiệt hại cho bên thua kiện khi đưa vụ án ra xét xử. Luật Sở hữu trí tuệ vừa thông qua ngày 25/11/2005 vừa qua đã lựa chọn phương án này. Tại Chương V của Luật có qui định Tòa án có quyền tự ấn định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại do hành vi của bị đơn gây ra. Mức bồi thường thiệt hại được ấn định tối đa là 500 triệu đồng. Ngoài ra, bên thua kiện còn phải thanh toán các chi phí luật sư cho bên thắng kiện. Điều này sẽ khiến cho bên biết mình sắp thua kiện phải suy tính kỹ giữa hai giải pháp: một là thừa nhận hành vi xâm phạm và chịu mức bồi thường thiệt hại theo hòagiải ở mức thấp hơn, hai là không thừa nhận hành vi xâm phạm và đưa vụ án ra xét xử. Khi đó nếu bị đơn thắng, họ sẽ được bồi hoàn chi phí luật sư. Nếu bị đơn thua, họ phải đối diện với mức bồi thường thiệt hại rất cao, đồng thời với việc phải hoàn trả phí luật sư. Điều này sẽ khuyến khích các bên hòa giải nhanh hơn. Hy vọng kinh nghiệm thành công của tố tụng dân sự liên quan đến các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ được nhân rộng ở các dạng tố tụng dân sự khác.

b. Định hướng hành vi của các bên trong tố tụng thông qua qui định về bồi hoàn phí luật sư

Hiện nay, chúng ta vẫn có quan điểm là dùng mức án phí cao để cho các bên cân nhắc hình thức hòa giải hơn là khởi kiện. Như đã trình bày ở trên, giải pháp này không hiệu quả. Trong khi đó việc điều chỉnh hành vi của các bên có thể hữu hiệu hơn nếu qui định bên thua phải trả phí luật sư. Quan điểm này có đúng không?

Phí luật sư là một trong những chi phí rất lớn cho các bên khi tham gia tố tụng, đôi khi còn cao hơn án phí. Tuy các qui định về án phí đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cản các bên giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án, các qui định bất thành văn về phí luật sư mới thực sự là mối quan ngại của các bên trong việc quyết định xem có nên khởi kiện hay theo đuổi vụ kiện hay không. Các nghiên cứu về kinh tế quan tâm đến vấn đề phí luật sư để đưa ra câu trả lời cho một vấn đề hiện nay vẫn còn tranh cãi: đó là luật có nên cho phép bên thắng kiện được đòi bồi hoàn phí luật sư hay không? Hiện nay theo qui định của Bộ luật Tố tụng Dân sự hay của Bộ luật Dân sự của Việt Nam, không có điều khoản nào cho hay không cho phép bên thắng kiện được bồi hoàn phí luật sư. Trên thực tế, rất ít thẩm phán tuyên bố cho phép bên nguyên đơn được đòi phí luật sư. Lý do là vì nhiều người quan niệm thuê luật sư là quyền chứ không phải nghĩa vụ. Vì thế bị đơn không phải là nguyên nhân trực tiếp để nguyên đơn gánh chịu phí luật sư. Không ai nghĩ rằng nếu không thuê luật sư thì nguyên đơn cũng khó lòng trình bày ý kiến của mình trước tòa một cách thuyết phục. Điều này gián tiếp ảnh hưởng đến kết quả của vụ kiện.

Ở nhiều nước Châu Âu, đặc biệt là Anh, cho phép bên thắng kiện được yêu cầu bên thua kiện trả phí luật sư. Một số nhà nghiên cứu như Rasmusen (1998) cho rằng điều này làm cho bị đơn ngần ngại không dám “ngoan cố”, từ đó dễ dàng chịu thua trước nguyên đơn để tránh phải trả án phí.15 Tuy nhiên, cũng chưa có kết quả thống kê nào cho thấy việc cho phép bên thắng kiện đòi bồi hoàn phí luật sư của bên thua kiện sẽ làm các bên mau chóng đạt được hòa giải hơn. Katz (1999) đã tiến hành nghiên cứu nhiều thực nghiệm song chỉ nhận thấy kết quả rõ rệt nhất của việc cho phép bồi hoàn là ở chỗ các bên sẽ sẵn sàng bỏ tiền ra thuê luật sư hơn trước kia, đồng thời các luật sư sẽ cạnh tranh với nhau về chất lượng hơn là về giá cả.16 Dẫu sao, cũng chưa có nghiên cứu nào phủ định việc bồi hoàn phí luật sư có tác dụng tích cực đến việc thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng của tố tụng dân sự, đó là giảm chi phí cho các bên trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, và khuyến khích các bên hòa giải.

Tuy nhiên, có quan điểm lo ngại rằng việc cho phép bên thắng kiện được bồi hoàn phí luật sư sẽ khiến các bên tiêu quá nhiều tiền vào việc thuê luật sư, và thông thường bên nào thuê luật sư giỏi nhất sẽ thắng kiện. Hiện tại chưa biết điều này có phải là sự thật không, và đây là vấn đề mà cả hai chuyên ngành kinh tế và luật cần nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu một hệ thống pháp luật mà kết quả phụ thuộc vào luật sư bên nào giỏi, chứ không phải vì bên nào thực hiện đúng luật hơn, thì hệ thống pháp luật đó có vấn đề. Vì thế, thiết nghĩ chúng ta đừng nên cho rằng luật sư giải quyết được tất cả các vấn đề của vụ kiện, mà nên nghĩ rằng luật sư là công cụ để giúp tòa án tìm hiểu sự thật, và không nên để xảy ra tình trạng đáng tiếc, đó là một bên thua kiện vì không đủ tiền thuê luật sư, hay một bên được kiện song tiền trả luật sư còn cao hơn tiền được bồi thường.

Để giải quyết vấn đề này, luật tố tụng dân sự có thể qui định rằng tòa án có thể (không bắt buộc) ra quyết định buộc bên thua kiện phải hoàn trả phí luật sư nếu chi phí này là hợp lý, hoặc nếu các bên đã có thỏa thuận trước trong hợp đồng rằng bên thua kiện sẽ hoàn trả chi phí luật sư. Khi đó, câu hỏi đặt ra sẽ là: chi phí như thế nào thì sẽ được coi là hợp lý? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lại phải quan tâm đến câu hỏi: yêu cầu bên thua kiện phải hoàn trả phí luật sư để làm gì? Để giảm bớt gánh nặng cho bên thắng kiện, hay để bên biết mình sẽ thua đừng cố kéo dài quá trình hòa giải? Nếu mục đích chúng ta muốn đạt được là mục đích thứ hai, thì mức độ hợp lý sẽ phụ thuộc vào khả năng kinh tế của bên thua kiện. Nếu bên thua kiện có hoàn cảnh khó khăn, tòa án có thể chỉ bắt họ bồi hoàn một khoản tiền án phí vừa phải. Ngược lại, nếu bên thua kiện là một công ty có tiềm lực kinh tế lớn, tòa án cần áp dụng mức bồi thường phí luật sư cao, bằng chi phí thực tế mà nguyên đơn phải gánh chịu. Thậm chí nếu bị đơn không chịu thi hành bản án, thì sẽ phải gánh chịu các khoản lãi phát sinh từ định mức bồi thường.

3. Khuyến khích hòa giải bằng việc hoàn thiện cơ chế hòagiải trong và ngoài tố tụng

a. Khuyến khích hòa giải thông qua cơ chế ngoài tố tụng – bài học từ Luật Đất đai

Điều 135, 136 Luật Đất đai 2003 quy định trước khi thụ lý vụ án tranh chấp về đất đai, các bên phải tiến hành hòa giải ở cấp xã.17 Theo qui trình này, nếu các bên có tranh chấp về đất đai không tự hòa giải được, thì gửi đơn đến Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp xã nơi có tranh chấp đề nghị giải quyết. UBND phối hợp với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức xã hội khác thành lập tổ hòa giải để tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn. Các qui định về hòa giải ngoài tố tụng được nêu trong Pháp lệnh về hòa giải ngày 25/12/1998 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá X ban hành. Khi tiến hành hòa giải, tổ hòa giải sẽ căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức phong tục, tập quán tại địa phương và sự tự nguyện giữa các bên. Chỉ riêng tại tỉnh Bình Dương, tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh đã có 626 tổ hòa giải và 3.776 hòa giải viên. Cũng trong năm các tổ hòa giải đã tiếp nhận 2.078 việc, sau giải quyết đạt tỷ lệ hòa giải thành hơn 76%.18 Ngoài việc làm giảm bớt gánh nặng của tòa án, việc tăng cường hòa giải ngoài tố tụng cũng giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời giảm chi phí tố tụng.

Bên cạnh đó, qui trình hòa giải ngoài tố tụng không phải không có vấn đề. Đã có trường hợp nội dung hòa giải được ghi sơ sài, hay thành phần hòa giải thiếu thành viên MTTQ hay các tổ chức khác mà quyết định hòa giải thành không được công nhận. Điều này rất mất thời gian cho các bên giải quyết tranh chấp, trong khi thời hiệu khởi kiện tranh chấp về đất đai cũng như các tranh chấp dân sự thông thường khác (trừ thừa kế) là 2 năm. Ngoài ra, việc một bên vắng mặt khi tổ chức hòa giải cũng không có quy định rõ ràng xem hình thức xử lý như thế nào: tạm hoãn, tạm đình chỉ hòa giải hay ra quyết định hòa giải không thành? Khi phương hướng giải quyết không rõ ràng, thời gian hòa giải sẽ kéo dài lâu hơn và mục tiêu “nhanh chóng, hiệu quả” đề ra từ đầu cho cơ chế hòa giải sẽ không đạt được. Có quan điểm cho rằng, hướng giải quyết cho những vướng mắc trên có thể là không nên câu nệ hình thức hòa giải cơ sở, vì đây chỉ là hoạt động mang tính chất xã hội hơn là pháp lý. Vì thế, việc thiếu sót một vài hình thức trong thủ tục hòa giải cấp xã không thể làm cho tòa án từ chối thụ lý vụ kiện. Nếu không, các bên sẽ lợi dụng sơ hở của pháp luật để tìm mọi cách kéo dài vụ kiện.

b. Khuyến khích hoà giải thông qua cơ chế trong tố tụng – cơ chế cung cấp thông tin và chống lạm dụng thủ tục hoà giải

Để được thủ tục hòa giải đạt kết quả, các bên khi tham gia hòa giải phải được cung cấp đầy đủ thông tin. Ở điều này Luật Tố tụng dân sự của Việt Nam có thể học hỏi ở Luật Tố tụng dân sự của Hoa Kỳ. Như đã trình bày ở phần trên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ở toà án Hoa Kỳ, các bên phải cung cấp cho nhau mọi chứng cứ mà mình có, theo yêu cầu bên kia (discovery). Sau khi chấm dứt thủ tục khám phá, các bên không đưa ra thêm bằng chứng nữa, trừ khi chứng minh được rằng mình nắm được bằng chứng sau thời điểm đưa vụ án ra xét xử. Nhờ thủ tục này mà các bên nắm được các thông tin cần thiết để quyết định có nên hòa giải vụ việc hay không.

Ở Việt Nam, tuy truyền thống luật lục địa sẽ không áp dụng quy trình khám phá kiểu Mỹ, song các quy định của Luật Đất đai về hòa giải cấp cơ sở đã giúp các bên đưa hết lý lẽ của mình ra trước tổ hòa giải. Quá trình này làm giảm chi phí tìm chứng cứ cho các bên. Đây cũng là cơ hội để các bên có thể trao đổi quan điểm, chuẩn bị chứng cứ khi hòa giải không thành. Ngoài Luật Đất đai, Luật Sở hữu trí tuệ cũng cung cấp các cơ chế cần thiết để nguyên đơn có thể nắm những chứng cứ thuộc phạm vi kiểm soát của bị đơn, nhờ các qui định rằng trong tranh chấp liên quan đến qui trình sáng chế, không phải nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh bị đơn đã xâm phạm, mà là bị đơn phải chứng minh mình không xâm phạm qui trình của nguyên đơn. Nguyên do của vấn đề này là do tình trạng mà môn kinh tế học gọi là thông tin bất đối xứng (assymetric information). Theo lý thuyết kinh tế, khi một bên nắm thông tin và bên kia không nắm thông tin, các giải pháp đưa ra chưa chắc đã tối ưu và có lợi cho các bên. Cách thức giải quyết khiếm khuyết này là buộc bên có thông tin phải bộc lộ thông tin, hoặc bằng phép thử, hoặc bằng qui định của pháp luật.19

Ngoài vấn đề cung cấp và bộc lộ thông tin, các quy định quá cứng nhắc ở thủ tục hòa giải trong tố tụng cũng có thể làm một bên tham gia tranh chấp trục lợi. Trong khi đó, pháp luật qui định nếu bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì vụ việc sẽ được đưa ra xét xử.20 Vấn đề là ở chỗ: thế nào là triệu tập hợp lệ, và chuyện gì sẽ xảy ra nếu một bên có mặt một buổi, rồi lại vắng mặt một buổi? Nhiều thư ký tòa án đã căn cứ vào giấy ủy quyền không hợp lệ mà coi một bên vắng mặt trong buổi hòa giải, hoặc giải thích rằng “triệu tập hợp lệ” là phải có tống đạt tại nơi cư trú bởi cơ quan công an. Như vậy bao nhiêu lần tống đạt bằng thư đến nơi cư trú của bị đơn đều bị coi là “không hợp lệ”. Ngay cả khi nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại buổi hòa giải, song không có mặt người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cũng khiến buổi hòa giải được giải thích là không thể tiến hành.21 Ngoài ra, tuy pháp luật qui định thẩm phán phải chủ trì hòa giải, song trong nhiều trường hợp buổi hòa giải do thư ký chủ trì và ghi biên bản. Điều này dẫn đến việc biên bản hòa giải sau này có thể coi là sai về mặt tố tụng và bị kháng cáo, thậm chí giám đốc thẩm. Để giải quyết những khó khăn này, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự nên được bổ sung theo hướng đơn giản hóa thủ tục hòa giải và triệu tập các đương sự đến buổi hòa giải. Nếu có đương sự vắng mặt sau khi đã xác nhận giấy triệu tập đã gửi bằng thư bảo đảm và đương sự đã nhận được, thì đương nhiên coi đó là căn cứ để có thể xét xử vắng mặt đương sự lần sau. Ngoài ra, đương sự không có quyền vắng mặt quá 2 lần không có lý do chính đáng (không cần phải là 2 lần liên tục). Nếu đương sự vắng mặt thì tòa án vẫn hòa giải tranh chấp liên quan đến các đương sự có mặt. Nếu việc hòa giải về bản chất không thể thiếu sự đồng ý của đương sự vắng mặt thì mới coi việc vắng mặt là sự kiện dẫn đến việc tạm hoãn buổi hòa giải.

Một vấn đề nữa là biên bản hòa giải nên được coi là thỏa thuận giữa các bên và có hiệu lực thi hành ngay. Việc phải đợi thêm 7 ngày sau khi có biên bản hòa giải mới ra quyết định công nhận hòa giải của các bên, rồi 15 ngày sau quyết định này mới có hiệu lực sẽ khiến cho các bên có thời gian suy nghĩ lại hay cố tình kéo dài vụ việc bằng cách phản đối lại những gì mình đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải trước đó.22 Thiết nghĩ, nên bãi bỏ quy định về thời gian chờ đợi 7 ngày để ra quyết định công nhận hòa giải các bên. Thời gian phúc thẩm quyết định công nhận hòa giải thành, nếu có, chỉ dựa trên những căn cứ do việc áp dụng pháp luật của thẩm phán có sai sót, chứ không phải là do đương sự không đồng ý với những gì mình đã ký trong biên bản mà không có lý do chính đáng.

Tóm lại, những vấn đề về quá trình hòa giải có thể là đối tượng nghiên cứu không những của khoa học pháp lý mà còn có thể là đối tương nghiên cứu của khoa học kinh tế, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ thể quyền, đồng thời giảm chi phí cho xã hội liên quan đến việc bảo vệ công lý. Một quá trình hòa giải tốt sẽ giúp tòa án phải xác định được nội dung vụ việc tranh chấp. Kể cả khi hòa giải không thành, các thông tin mà tòa án có được qua quá trình hòa giải sẽ giúp tòa án áp dụng được luật vào trong vụ kiện tranh chấp để ra được kết quả.

Để quá trình hòa giải có hiệu quả, nên tạo cơ chế sao cho việc xét xử luôn bắt các bên phải trả giá cao hơn việc hòa giải. Phải tạo được cơ chế giống như đấu trí Rubinstein (đã nêu ở phần đầu), có nghĩa là càng chậm trễ thì càng phải trả giá cao. Nhiều nước đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để đạt được mục đích này, như tố tụng thông qua bồi thẩm đoàn, áp dụng mức bồi thường thiệt hại ấn định hay buộc bên thua kiện phải trả chi phí luật sư. Ở Việt Nam vấn đề này đã được giải quyết thí điểm trong các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ.

Vấn đề cần thiết hơn là phải hoàn thiện cơ chế hòa giải sao cho nó phát huy được ưu điểm vốn có, là nhanh chóng và hiệu quả. Chúng ta đã áp dụng cơ chế bắt buộc hòa giải ngoài tố tụng trong một số trường hợp người dân tranh chấp là do không hiểu luật hay không có bằng chứng. Trường hợp hòa giải bắt buộc ở cấp cơ sở trong Luật Đất đai là thí dụ điển hình. Bên cạnh đó, khi tiến hành hòa giải, cần cung cấp thông tin đầy đủ cho các bên để các bên dễ dàng hình dung được mình sẽ được gì hay mất gì nếu không có hòa giải. Ngoài ra, cần có qui định rõ ràng cách tính bồi thường thiệt hại hay các qui định về chế tài, để các bên nhận thấy nếu không hoà giải, tham gia tố tụng và thua kiện thì sẽ phải trả giá như thế nào. Cuối cùng, cần đơn giản hóa thủ tục hòa giải và nâng cao giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành; có như vậy hiệu quả của biện pháp hòa giải mới cao.

Chú thích:

1 Theo Điều 12, BLDS 2005 thì trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với qui định của pháp luật được khuyến khích. Ngay từ sau năm 1945, đã có nhiều văn bản pháp luật qui định về hòa giải, như Sắc lệnh 90-SL ngày 10/10/1945, 13-SL ngày 24/1/1946, 51-SL ngày 17/4/1946, 85-SL ngày 22/5/1950.

2 Chương XIII, BLTTDS.

3 Xem Điều 2 Pháp lệnh về hòa giải ngày 25/12/1998 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá X ban hành: Về hòa giải cơ sở.

4 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1998, tr. 430.

5 Rothenberg, R. Plain Language Dictionary of Law, Signet, 1996, tr. 410.

6 Sđd, tr. 290.

7 Lê Nết, Đấu trí và Luật. Nxb Đại học Quốc gia, TP. Hồ Chí Minh, 2005.

8 Sđd, tr. 94 – 98. Cuộc đấu trí này mang tên nhà kinh tế học Do Thái Daniel Rubinstein.

9 Xem Fisher, R. và Ury, W. (2000) Getting to Yes – Làm thế nào để đạt được thoả thuận, Nxb TP. Hồ Chí Minh. Để đạt được mục đích này dưới góc độ tâm lý, Fisher và Ury đã đề ra ba nguyên tắc sau đây: (i) tách con người ra khỏi vấn đề, (ii) tập trung vào lợi ích, không tranh cãi về lập trường, và (iii) tạo ra các phương án để đôi bên cùng có lợi.

10 Trong vụ tranh chấp giữa công ty phần mềm DataCraft và công ty EIS (Toà Kinh tế, TAND TP. Hồ Chí Minh, tháng 8/1998), bị đơn chỉ chịu thanh toán khoản nợ sau khi bị khởi kiện ra tòa và nguyên đơn yêu cầu đưa vụ việc lên báo chí trước khi giám đốc EIS sang Mỹ tháp tùng đoàn đại biểu của Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh. Như vậy việc khởi kiện đóng vai trò quan trọng trong việc gây sức ép để các bên hòa giải. Trong vụ tranh chấp giữa công ty Okamoto và công ty giải trí Saigon Wonderland (Tòa Dân sự, TAND TP. Hồ Chí Minh, tháng 2/2002), việc công ty Okamoto khởi kiện công ty Saigon Wonderland, sau đó yêu cầu công ty Phú Mỹ Hưng ra tòa với tư cách bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đã khiến các bên tiến đến hòa giải nhanh chóng hơn, có lợi cho công ty Okamoto.

11 Rule 26(b)(1), Federal Rules of Civil Procedure: “Các bên có thể khám phá (yêu cầu bên kia cung cấp) chứng cứ liên quan đến bất kỳ vấn đề gì, trừ những vấn đề bị cấm theo luật, liên quan đến các yêu cầu hay bào chữa của bất bên nào, kể cả các tài liệu, sách vở hay các vật chứng khác cũng như địa điểm mà bên đó cho là có cất dấu bằng chứng. Trong trường hợp có lý do chính đáng, tòa án có thể yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ”. Xem http://www.law.cornell.edu/rules/frcp/Rule26.htm.

12 Rule 38, Federal Rules of Civil Procedure. Xem http://www.law.cornell.edu/rules/frcp/Rule38.htm.

13 Jonathan Suffrin (2005) thuyết trình về hệ thống tố tụng dân sự Hoa Kỳ tại Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh ngày 15/3/2005.

14 Cooter R. và Ulen, T. (2003) Law and Economics. Addison Wesley, Chương 8.

15 Rasmusen, P. (1998) Games and Information. Edward Elgar, tr. 83.

16 Katz, J. (1999) “Law and Economics – Legal Fees”, trong Geritz, E. (chủ biên, 1999) Encyclopedia of Law and

Economics. Kluwer Law International.

17 Xem thêm Điều 159 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Tuy nhiên lưu ý là theo Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của TAND Tối cao hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai, các tranh chấp

đất đai mà tòa án thụ lý trước ngày 1/7/2004 thì tòa án tiếp tục giải quyết mà không phải trả lại đơn kiện cho đương sự để

tiến hành hoà giải tại UBND cấp xã.

18 Sở Tư pháp Bình Dương (2005) Báo cáo tình hình thực hiện công tác năm 2005 và phương hướng hoạt động năm 2006.

19 Xem Lê Nết, Đấu trí và Luật. Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2005.

20 Điều 182 BLTTDS.

21 Điều 184 khoản 3, BLTTDS (chỉ áp dụng nếu việc hòa giải có liên quan đến người vắng mặt).

22 Điều 187, 188 BLTTDS.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2006

THỦ TỤC LY HÔN

▪ Hồ sơ cần thiết:

– Đơn xin ly hôn (theo mẫu). Nếu hai người thuận tình ly hôn thì đơn ly hôn của vợ hoặc chồng phải có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc sứ quán Việt Nam tại nước ngoài.

– Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

– Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn kiện.

– Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

– Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

– Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

– Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn. Trong trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.

▪ Thời gian giải quyết:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

▪ Địa điểm tiếp nhận:
Tổ thụ lý – Văn phòng Tòa án nhân dân ĐỊA PHƯƠNG

SOURCE: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HOÃN VÀ TẠM NGỪNG PHIÊN TÒA SƠ THẨM

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự có thể trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của Toà án, nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp. Về nguyên tắc, phiên toà sơ thẩm sẽ được tiến hành với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo đúng thời gian, địa điểm được xác định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử ( viết tắt là HĐXX) ra bản án, quyết định về giải quyết toàn bộ vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp vì những lý do khác nhau dẫn đến phiên toà sơ thẩm dân sự không diễn ra theo đúng trình tự nêu trên, phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn hoặc tạm ngừng. Hoãn và tạm ngừng phiên toà là hai khả năng khác nhau có thể xảy ra tại phiên toà nhưng việc hiểu và áp dụng hai trường hợp này trong thực tiễn không được phân biệt rõ ràng. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn trao đổi về hai trường hợp này.

1.Hoãn phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong tiếng Việt “hoãn là chuyển thời điểm đã định để làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hơn”(1). Theo nội hàm của từ này thì hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn. Việc hoãn phiên toà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật quy định

1.1. Căn cứ hoãn phiên tòa

Vì tính chất quan trọng của sự tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định HĐXX phải hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:

– Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND), Thư ký Tòa án mà không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế; vắng mặt Kiểm sát viên trong trường hợp Viện Kiểm sát (VKS) phải tham gia phiên toà hoặc trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế như quy định tại Điều 207 BLTTDS;

– Trường hợp phải thay đổi người giám định mà không có người khác thay thế như quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTDS;

– Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử như quy định tại khoản 2 Điều 206 BLTTDS;

– Trường hợp người làm chứng, người giám định vắng mặt thì tùy từng hoàn cảnh cụ thể, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử như quy định tại Điều 204 và Điều 205 BLTTDS;

– Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng như quy định tại các Điều 199, 200, 201và 203 BLTTDS;

– Trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Bên cạnh đó, nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng mặt người làm chứng, người giám định, người phiên dịch) thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do (Điều 215 BLTTDS). Quy định này cho phép HĐXX sẽ được tuỳ nghi lựa chọn hoãn hay không hoãn. Trên thực tế, các HĐXX thường chọn giải pháp an toàn là hoãn phiên toà. Tuy nhiên, theo chúng tôi HĐXX vẫn có thể tiếp tục phiên toà nếu người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ.

Ngoài ra, đối với các trường hợp khác theo các Điều 199, 201 BLTTDS thì HĐXX giải quyết như sau:

– Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn, bị đơn đồng ý.

So với quy định của pháp luật tố tụng dân sự ( viết tắt là PLTTDS) trước kia, các căn cứ hoãn phiên toà trong BLTTDS đã đầy đủ, chặt chẽ hơn, hạn chế việc hoãn phiên toà tuỳ tiện nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. . Tuy nhiên, một số căn cứ hoãn phiên tòa vẫn chưa rõ ràng, chưa bao quát được các trường hợp xảy ra trong thực tiễn xét xử dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau.

Về trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt tại phiên tòa.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt dù có lý do chính đáng hay không thì HĐXX đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần, đặc biệt với những vụ án có nhiều đương sự, có những đương sự lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS quy định, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì hoãn phiên tòa nhưng không đưa ra cách giải quyết trong trường hợp vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng. Tuy vậy, quy định tại các khoản 2 Điều 200, khoản 2 Điều 201 BLTTDS lại quy định dứt khoát bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được xét xử vắng mặt họ; khoản 2 Điều 199 quy định dứt khoát nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Chính quy định không chặt chẽ và thiếu logic đó của BLTTDS đã dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau của các Toà án trong thời gian đầu khi BLTTDS mới được ban hành. Thẩm phán Bùi Huy Tiến – Thẩm phán toà Kinh tế TANDTC đã thẳng thắn đánh giá rằng: “Đây là một lỗ thủng của BLTTDS”(2). Để giải quyết tình huống này nhiều Thẩm phán cho rằng: “bất luận vắng mặt lần thứ nhất của đương sự có lý do chính đáng hay không thì Toà án vẫn phải hoãn phiên toà và việc xét xử vắng mặt đương sự chỉ có thể tiến hành khi họ được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt“(3). Hơn nữa, BLTTDS cũng không chỉ ra những trường hợp nào được coi là lý do chính đáng nên trong thực tiễn xét xử “ việc hiểu thế nào là lý do chính đáng hiện nay vẫn chưa thống nhất” (4). Có ý kiến cho rằng, lý do được coi là chính đáng khi nó là bất khả kháng đối với đương sự đó như tai nạn, ốm đau, đi công tác xa đột xuất…và tất cả các lý do đó đương sự phải chứng minh được khi HĐXX kiểm tra căn cước ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Cho đến ngày 12/5/2006 Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS ( Viết tắt là NQ 02) đã quy định: “Khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất dù không có lý do chính đáng thì Toà án vẫn hoãn phiên toà” (5). Như vậy, hướng dẫn trên là “bất nhất” với BLTTDS và giống như quy định của PLTTDS trước khi ban hành BLTTDS.

Đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có lý do.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, khi đương sự được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt có lý do chính đáng dù là lần thứ mấy thì HĐXX đều hoãn phiên toà. Bộ luật TTDS không quy định về vấn đề này nhưng NQ 02 hướng dẫn: “Đối với những trường hợp đương sự đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của BLTTDS, đã được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà theo quy định tại các điều từ Điều 150 đến Điều 156 của BLTTDS và đương sự đã chuẩn bị tham dự phiên toà xét xử vụ án, nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay vào thời điểm trước ngày Toà án mở phiên toà hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường đến Toà án để tham dự phiên toà (do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết…) nên họ không thể có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, thì Toà án cũng hoãn phiên toà” (6). Nhưng NQ 02 lại không hướng dẫn rõ hướng dẫn trên áp dụng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ mấy. Rõ ràng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất Toà án phải hoãn phiên toà. Cho nên, cần phải hiểu đây là hướng dẫn cho trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai trở đi mà vẫn vắng mặt tại phiên toà khi có lý do chính đáng. Do đó, quy định của PLTTDS về vấn đề này lại giống như quy định của PLTTDS trước khi có BLTTDS. Cách quy định, giải thích pháp luật về vấn đề này thể hiện sự lúng túng, thiếu nhất quán của các nhà làm luật.

Đối với trường hợp vụ án có nhiều đương sự.

BLTTDS không quy định cách giải quyết trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự nhưng khi Toà án triệu tập họ tham gia phiên toà sơ thẩm thì một trong số họ lại vắng mặt. Tại NQ 02, HĐTPTANDTC hướng dẫn, mỗi đương sự sẽ được quyền vắng mặt một lần khi có lý do chính đáng. Cách giải quyết này nhìn chung là hợp lý vì bảo đảm được sự bình đẳng giữa các đương sự, nhưng đối với những vụ án có nhiều đương sự cách giải quyết này sẽ làm thời hạn giải quyết bị kéo dài. Có Thẩm phán cho rằng, “đối với những vụ án phức tạp có quá nhiều người tham gia tố tụng cần có quy định để tránh phải hoãn phiên toà nhiều lần. Chẳng hạn, trong vụ án chia thừa kế có tới hàng chục đương sự tham gia tố tụng, nếu mỗi đương sự được một lần vắng mặt có lý do chính đáng thì việc hoãn phiên toà cũng phải tới hàng chục lần, do đó cần có quy định thêm trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ” (7)

Chúng tôi cho rằng quan điểm trên là hợp lý vì vừa bảo đảm được quyền lợi của các đương sự, vừa giải quyết nhanh chóng vụ án. Do đó cần bổ sung thêm Khoản 4 Điều 202 theo hướng: “trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ”.

Đối với trường hợp hoãn phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Đây là trường hợp hoãn phiên toà khi HĐXX đã giải quyết về nội dung vụ án; khác với các trường hợp khác HĐXX hoãn phiên toà ở thời điểm trong phần thủ tục bắt đầu. Nếu xem xét về tính chất của hoãn phiên toà thì trường hợp này phải là trường hợp tạm ngừng phiên toà nên cần bỏ căn cứ hoãn phiên toà quy định tại Khoản 4 Điều 230 và quy định đây là căn cứ tạm ngừng phiên toà. Khi xây dựng BLTTDS vấn đề này đã có ý kiến khác nhau. Nhưng có lẽ do thời hạn tạm ngừng phiên toà quá ngắn, tối đa chỉ là 5 ngày làm việc nên thực tế các cơ quan, tổ chức giám định không thể trả lời kết quả giám định và vì thế, trường hợp này BLTTDS vẫn cứ quy định là căn cứ hoãn phiên toà để có thời gian hoãn phiên toà dài hơn.

1.2. Thời hạn hoãn phiên tòa

Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 BLTTDS, khi có căn cứ hoãn phiên toà thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc hoãn phiên tòa do HĐXX quyết định. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa. Thời hạn hoãn phiên toà tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Thời hạn hoãn phiên toà không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm việc mở lại phiên toà xét xử vụ án theo đúng quy định, thì sau khi hoãn phiên toà Toà án phải có kế hoạch mở lại phiên toà trong thời gian sớm nhất mà không nhất thiết phải để đến 30 ngày mới mở lại phiên toà.

1.3. Hình thức hoãn phiên tòa

Việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng một quyết định. Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung về ngày, tháng năm ra quyết định; tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng; vụ án được đưa ra xét xử; lý do của việc hoãn phiên toà; thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Quyết định này được coi như giấy triệu tập mới đối với đương sự. Trong trường hợp có sự thay đổi về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà, thì Toà án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Đây là điểm mới của BLTTDS so với quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước kia. Pháp luật tố tụng dân sự trước kia không quy định việc hoãn phiên toà phải bằng một quyết định nên dẫn đến việc hoãn phiên toà nhiều khi tuỳ tiện, không đúng các căn cứ do pháp luật quy định.

1.4. Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa

Hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn, nên về nguyên tắc chỉ khi phiên toà được mở thì Toà án mới xác định chính xác được chính xác có căn cứ hoãn hay không, do đó quyền hoãn phiên toà chỉ thuộc về HĐXX. Chức năng và mục đích của phiên tòa sơ thẩm dân sự là giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cho nên khi hoãn phiên toà nội dung vụ án chưa xem xét, tức là thời điểm hoãn phiên toà chỉ xảy ra ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Về thẩm quyền hoãn phiên tòa, khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định: “ HĐXX quyết định hoãn phiên toà…”. Vì vậy, thời điểm hoãn phiên toà là trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà và quyền ra quyết định hoãn phiên toà là thuộc về HĐXX.

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hiện nay còn có nhiều trường hợp việc hoãn phiên toà không thực hiện tại phiên toà mà Thẩm phán tự hoãn phiên toà trước khi mở phiên toà với các lý do như đương sự thông báo trước là sẽ không đến phiên toà vào ngày, giờ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc theo giấy triệu tập, HTND có việc đột xuất không tham gia xét xử được… Trong trường hợp, lý do mà đương sự đề nghị hoãn phiên tòa là chính đáng hoặc các trường hợp khác thuộc căn cứ hoãn phiên tòa thì khi mở phiên tòa, HĐXX vẫn phải hoãn phiên tòa. Do đó, việc Thẩm phán hoãn phiên tòa trước khi mở phiên tòa nếu thông báo được cho những người tham gia tố tụng sẽ có lợi cho đương sự có yêu cầu, thuận tiện cho Toà án và tiết kiệm được chi phí tố tụng. Vì vậy, cần sửa khoản 1 Điều 208 BLTTDS theo hướng: “ Tòa án quyết định hoãn phiên toà…”.

Có thể thấy, lần đầu tiên pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định chặt chẽ về căn cứ, thủ tục, thời hạn ra quyết định hoãn phiên toà nhằm tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, từ đó bảo đảm việc bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2. Tạm ngừng phiên toà sơ thẩm dân sự

Xét xử là hoạt động tố tụng và tư duy nên để bảo đảm cho HĐXX và những người tham gia tố tụng dễ dàng theo dõi được diễn biến cũng như các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ thì việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phải xét xử xong dứt điểm từng vụ án một rồi mới được chuyển sang xét xử vụ án khác, không được phép làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp sau khi kết thúc bước 1- thủ tục khai mạc phiên tòa, chuyển sang thủ tục hỏi – bắt đầu đi vào giải quyết phần nội dung vụ án có những lý do khác nhau dẫn đến phiên tòa không thể tiếp tục được, trong trường hợp đó HĐXX phải tạm ngừng phiên toà.

Theo sách Đại Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1998, “tạm ngừng” là từ ghép của hai từ “tạm”“ngừng”. Tạm là chỉ trong thời gian ngắn và sẽ còn thay đổi. Ngừng là dừng lại, không tiếp tục hoạt động. Tạm ngừng là không tiếp tục hoạt động mà phải dừng lại trong thời gian ngắn (8). Như vậy, tạm ngừng phiên tòa có thể hiểu là phiên tòa không tiếp tục các hoạt động tố tụng trong thời gian ngắn khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Căn cứ tạm ngừng phiên toà

Khoản 2 Điều 197 quy định, về nguyên tắc phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà, trừ trường hợp có căn cứ tạm ngừng phiên toà và Toà án chỉ tạm ngừng phiên toà trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật này quy định. Nhưng BLTTDS và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành BLTTDS lại không quy định những trường hợp nào là căn cứ tạm ngừng phiên toà dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các Toà án, thậm chí giữa các Thẩm phán trong cùng một Toà án. Có quan điểm cho rằng, đó là căn cứ được quy định tại Điều 198 “ thay thế thành viên HĐXX trong trường hợp đặc biệt” tức là trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. Theo chúng tôi đây chỉ là một trong các trường hợp phải tạm ngừng phiên toà, bởi thực tế còn có những trường hợp tại phiên toà đương sự xuất trình chứng cứ, tài liệu mới. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án và Toà án phải có trách nhiệm xem xét, đánh giá các chứng cứ, tài liệu đó. Nhưng trong nhiều trường hợp, việc xem xét đánh giá chứng cứ không thể thực hiện được tại phiên toà mà cần phải có thời gian và các điều kiện khác, khi đó phiên toà không thể tiếp tục các hoạt động tố tụng tiếp theo như quy định mà phải dừng lại.

Ví dụ: tại phiên toà đương sự A xuất trình bản di chúc mới, theo đó A được hưởng toàn bộ di sản của ông M, nhưng B phản đối cho rằng đó là di chúc giả do A tạo ra. Để khẳng định chính xác bản di chúc do A xuất trình có phải do ông M lập hay không, B đề nghị trưng cầu giám định; trong trường hợp này HĐXX phải tạm ngừng phiên toà để trưng cầu giám định. Hoặc trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung, HĐXX không thể tiếp tục phiên toà…

Như vậy, trường hợp HĐXX đang giải quyết nội dung vụ án nhưng không thể tiếp tục phiên toà vì cần phải thu thập thêm chứng cứ thì mới có thể giải quyết được vụ án, nên phiên toà phải được tạm ngừng phiên toà nhưng hiện tại BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS không quy định và không hướng dẫn về căn cứ tạm ngừng phiên toà. Trước kia, căn cứ tạm ngừng phiên toà đã được TANDTC hướng dẫn trong Công văn số 305/ NCPL ngày 22/12/1990 giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự : “Trong trường hợp HĐXX tiến hành thẩm vấn tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để điều tra, xác minh thêm… mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX không được hoãn phiên toà mà chỉ có thể tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để điều tra, xác minh thêm trong thời gian thích hợp do HĐXX quyết định. Sau khi đã điều tra, xác minh HĐXX tiếp tục mở lại phiên toà để xét xử vụ án”. Theo chúng tôi, căn cứ tạm ngừng phiên toà được TANDTC hướng dẫn trong công văn 305/ NCPL là phù hợp với tính chất, đặc điểm của tạm ngừng phiên toà.

Vì vậy, theo tôi, cần sửa đổi, bổ sung đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS theo hướng: “Trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ…”. Đồng thời sửa Khoản 4 Điều 230 BLTTDS theo hướng: “ Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung hoặc giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì HĐXX quyết định tạm ngừng phiên toà”.

Thời hạn tạm ngừng phiên toà

Theo quy định tại đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS, thời gian tạm ngừng phiên toà tối đa không quá năm ngày làm việc. Quy định này nhằm đảm bảo việc xét xử nhanh chóng, tránh việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, nếu tạm ngừng phiên toà trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu tức là nội dung vụ án phải được xem xét từ đầu bởi một HĐXX mới thì khoảng thời hạn năm ngày làm việc trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các vụ án phức tạp, có nhiều đương sự không thể đủ thời gian để HĐXX mới có thể tiếp cận, nghiên cứư hồ sơ vụ án. Mặt khác, nếu kiến nghị các căn cứ hoãn phiên toà theo hướng nêu trên thì thời gian năm ngày làm việc cũng không thể đủ để các cơ quan, tổ chức thực hiện được việc giám định hoặc thu thập chứng cứ. Theo chúng tôi việc tạm ngừng phiên toà dài ngày hay ngắn ngày phụ thuộc vào căn cứ tạm ngừng của từng vụ án cụ thể nên không thể quy định cứng nhắc nhưng cũng cần phải giới hạn khoảng thời gian tối đa để tránh việc lợi dụng quy định của pháp luật kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Vì vậy, thời gian tạm ngừng nên quy định như sau: “trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ cho đến khi thực hiện xong việc thu thập chứng cứ nhưng tối đa không quá ba mươi ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà”.

Hình thức tạm ngừng phiên toà

Đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS không quy định về hình thức tạm ngừng phiên toà, dẫn đến trong thực tiễn có những cách thức tạm ngừng phiên toà khác nhau giữa các Toà án. Theo tôi, việc tạm ngừng phiên toà có ảnh hưởng quan trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bởi nhiều trường hợp việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án làm lợi cho một bên đương sự nhiều triệu đồng và ngược lại, đặc biệt là các tranh chấp về kinh doanh, thương mại…Cho nên, bên cạnh việc quy định chặt chẽ căn cứ tạm ngừng phiên toà, thì việc tạm ngừng phiên toà cần được thể hiện dưới hình thức quyết định, trong đó nêu rõ tên vụ án; họ, tên những người tiến hành tố tụng; họ, tên các đương sự; căn cứ tạm ngừng; thời hạn tạm ngừng. Quyết định này phải được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

Tài liệu tham khảo

(1)Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, tr. 450, năm 2003.

(2) Tài liệu tập huấn BLTTDS, Trường Cán bộ Toà án, tr. 108, năm 2004.

(3), (4), (7) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13,20 năm 2005;

(5), (6) Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS.

(8) Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 1998.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 6/2007, TR 33 – 40

KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA TIỀN LỆ PHÁP – HÌNH THỨC PHÁP LUẬT ĐẶC THÙ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ANH – MỸ

THS. PHAN NHẬT THANH – ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật đặc thù trong luật pháp của những quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Đặc trưng của tiền lệ pháp thể hiện ở tính chất khuôn mẫu bắt buộc của nó. Việc áp dụng tiền lệ pháp đòi hỏi sự đối chiếu các tình tiết của vụ việc đang xem xét với tình tiết tương tự đã giải quyết để từ đó có thể áp dụng hình phạt hoặc cách giải quyết đã có. Án lệ cũng đã được áp dụng trong thời kỳ đầu của Nhà nước cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, hình thức pháp luật chủ yếu mà hiện nay chúng ta sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật. Hai nguồn pháp luật tập quán pháp và tiền lệ pháp không được sử dụng về nguyên tắc. Trong những năm gần đây, chúng ta đã có những cách nhìn mới, khách quan hơn về hai loại nguồn pháp luật này1. Theo chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, Nhà nước ta cũng đang nghiên cứu để áp dụng tiền lệ pháp như một nguồn luật chính thức ở Việt Nam2. Nhằm phục vụ yêu cầu chung đó, việc tìm hiểu và nhận thức được khái niệm về tiền lệ pháp, những nguyên tắc và cách thức ban hành hình thức pháp luật này là vô cùng cần thiết và đây cũng chính là nội dung được đề cập trong bài viết này.

1. Khái niệm và các nguyên tắc về tiền lệ pháp

Theo Black’s Law Dictionary thì khái niệm tiền lệ pháp (precedent) được ghi nhận như sau: “1) Tiền lệ pháp là việc làm luật của tòa án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử; 2) Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”3.

Cũng tương tự như vậy, pháp luật nước Anh cũng cho rằng tiền lệ pháp chỉ xuất phát từ phán quyết của thẩm phán tòa án cấp trên. “Khi đưa ra quyết định cho một vụ việc, thẩm phán phải tuân theo các quyết định đã được đưa ra bởi tòa án cấp trên cho vụ việc tương tự”4. Tuy nhiên, để đưa ra phán quyết cho một vụ án, thẩm phán phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản đó là xem xét tình tiết cụ thể đang xảy ra và luật sẽ áp dụng như thế nào đối với các tình tiết đó. Theo nguyên lý tiền lệ phải được tuân thủ (stare decisis), việc áp dụng pháp luật sẽ căn cứ vào những tình tiết tương tự của vụ việc trước đây để đưa ra một phán quyết đồng nhất và thẩm phán phải tuân theo các quyết định trước đây của tòa án cấp trên. Ví dụ trong vụ án Elizabeth Manley5. Elizabeth Manley đã trình báo với cảnh sát rằng có một người đàn ông đã đánh cô và lấy toàn bộ tiền bạc. Tuy nhiên khi cảnh sát tiến hành điều tra đã phát hiện vụ việc trên là không có thật. Tòa án đã kết tội Elizabeth Manley với tội danh “làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng”. Tội danh này không có quy định trong luật. Do đó, tòa đã đưa ra hai lý do và sau đó hình thành nên tiền lệ. Thứ nhất, đặt người vô tội trước nguy cơ bị bắt giữ; thứ hai, là tốn thời gian và công sức của cảnh sát cho quá trình điều tra một vụ việc không có thật.

Vụ án Elizabeth Manley đã hình thành nên tiền lệ trong phán quyết của tòa án: “Bất kỳ người nào đặt người vô tội vào tình trạng bị truy tố và làm cảnh sát phải điều tra một vụ án không có thật thì bị buộc vào tội danh gây rối, ảnh hưởng đến trật tự công cộng”. Sau đó là vụ án của bà May Jones6. Bà Jones đang đi mua sắm ở cửa hàng thì phát hiện mình bị mất chiếc ví. Bà ta nhớ lại trước đây ít phút, có một người đàn ông đã đi lướt quavà chạm vào người bà. Bà ta lập tức báo cảnh sát và miêu tả nhân dạng người đàn ông ấy. Ngày sau đó, cửa hàng gọi điện thoại đến và báo rằng bà Jones đã để quên ví tiền tại cửa hàng. Trong vụ này, bà Jones cũng bị kết tội như cô Manley vì đã làm cảnh sát điều tra một vụ việc không có thật và đặt người vô tội trước rủi ro bị truy tố.

Nguyên tắc tiền lệ cũng ràng buộc với chính tòa cấp trên, có nghĩa là tòa án cấp trên cũng phải tuân thủ tiền lệ do chính mình tạo ra. Cụ thể hơn, các nước theo hệ thống thông luật đã đưa ra một số nguyên tắc trong việc xây dựng án lệ gồm những quy định sau: 7

– Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa án cấp cao hơn trong cùng hệ thống hoặc của chính tòa án đã ra tiền lệ;

– Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống khác chỉ có giá trị tham khảo;

– Chỉ có những phần quyết định dựa trên chứng cứ pháp lý (ratio decidendi) của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc để ra quyết định cho vụ án sau này;

– Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm phán (obiter dictum) sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ;

– Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của tiền lệ.

Như vậy, không phải tất cả những phần nêu ra trong một bản án đều bắt buộc trở thành tiền lệ pháp. Sẽ có những phần bắt buộc và những phần không bắt buộc (tuy rằng phần không bắt buộc này vẫn thuyết phục các bên tham gia vụ án tuân thủ). Theo sự giải thíchvề tiền lệ pháp trong luật so sánh8, “ranh giới cơ bản khi giải thích tiền lệ pháp theo luật Anh là giữa cơ sở pháp lý (ratio decidendi) và sự giải thích thêm – phần bình luận của thẩm phán (obiter dictum)”. Cơ sở pháp lý là nguyên tắc pháp lý để tòa quyết định vụ việc và nó mang tính chất bắt buộc. Còn phần bình luận chỉ là việc nêu ra những lý lẽ, giải thích thêm của thẩm phán về vụ việc đã qua và do đó nó không mang tính bắt buộc cho những trường hợp sau này. Những lý do mà các thẩm phán đưa ra để giải thích thêm nằm ngoài phạm vi của cơ sở pháp lý và họ cũng không cần kiểm tra cũng như xem xét đến hậu quả của nó. Mục đích của việc đưa ra luận cứ này chỉ mang tính chất là giải thích hay minh họa để phân biệt giữa vụ việc này với vụ việc khác mà thôi.

Theo các nhà làm luật Anh thì tiền lệ pháp có rất nhiều ưu điểm9. Thứ nhất, các đối tượng liên quan trong vụ án có thể biết trước các hậu quả pháp lý của vụ việc vì họ biết các quyết định này không phải là các quyết định tùy tiện của các thẩm phán mà các thẩm phán đã dựa vào các quyết định của các vụ việc trước đó. Thứ hai, tiền lệ được đưa ra từ thực tiễn, trong khi các đạo luật lại ít nhiều căn cứ vào lý thuyết và suy luận mang tính lô gích; tiền lệ hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau trong đời sống do đó nó điều chỉnh được hầu hết các quan hệ xã hội phát sinh. Thứ ba, tiền lệ tạo điều kiện cho thẩm phán đưa ra nhiều tư tưởng mới trong lĩnh vực áp dụng pháp luật tùy theo điều kiện, hoàn cảnh xã hội phát sinh ra các quan hệ pháp luật. Thứ tư, đó là tính linh hoạt của tiền lệ pháp, thuộc tính này phụ hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Trong khi sự thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật cần phải một thời gian nhất định thì tiền lệ pháp lại đáp ứng ngay những đòi hỏi của thực tiễn.

Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức tiền lệ pháp gặp phải những bất cập nhất định. Thứ nhất, do các quyết định và bản án quá nhiều và liên tục tăng theo thời gian nên gây rất nhiều khó khăn trong quá trình vận dụng. Thứ hai, bên cạnh tính linh hoạt thì nó cũng chứa đựng sự cứng nhắc vì thẩm phán buộc phải tuân thủ theo những tiền lệ mà họ cho rằng không đầy đủ hoặc không mang giá trị pháp lý cao. Thứ ba, thẩm phán sẽ khó khăn khi nhận định trong những điều kiện hoàn cảnh như nhau nhưng tình tiết vụ việc lại hoàn toàn khác nhau; trong trường hợp này, thẩm phán phải so sánh và hình thành nên một tiền lệ mới, và như vậy sẽ làm phức tạp thêm khi áp dụng luật. Thứ tư, nó không mang tính hệ thống và tính khái quát vì án lệ được hình thành theo những tình tiết của mỗi vụ việc.

Nếu khắc phục hoặc hạn chế được các nhược điểm trên, tiền lệ pháp sẽ trở nên rất đắc dụng và đáp ứng được những đòi hỏi của một xã hội luôn thay đổi và phát triển.

2. Tiền lệ pháp và án lệ

Như phần trên đã nêu lên khái niệm, tiền lệ pháp là việc làm luật của tòa án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử trên cơ sở những vụ việc đã được quyết định trước đây cho những trường hợp hoặc vấn đề tương tự. Và theo Black’s Law Dictionary10, án lệ (case-law) là tập hợp các vụ việc đã được xét xử của cơ quan tư pháp trong quá trình xét xử. Còn trong tác phẩm “Luật So sánh trong một thế giới chuyển đổi” (Comparative Law in a Changing world) của Giáo sư Peter de Cruz – Trường Đại học Staffordshire thì án lệ có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, án lệ là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp. Theo nghĩa hẹp, án lệ là việc đưa ra những nguyên tắc là nền tảng cho những vụ việc xảy ra sau này11.

Như vậy, về mặt bản chất, án lệ cũng chính là tiền lệ pháp vì đều xuất phát từ cơ quan tư pháp và được hình thành qua quá trình xét xử 12. Trước thời kỳ chinh phục nước Anh của người Norman, những vùng khác nhau trên nước Anh lại áp dụng các hệ thống pháp luật khác nhau. Luật Dane được áp dụng ở miền bắc, luật Mercian ở miền trung và luật Wessex ở miền tây và miền nam. Đến khi William lên ngôi vua nước Anh năm 1066, ông đã thiết lập một chính quyền tập trung và bắt đầu tiêu chuẩn hóa luật. Các đại diện của Nhà Vua đi đến các địa phương và giải quyết các tranh chấp theo luật lệ địa phương. Sau đó họ bắt đầu thảo luận về các tập quán khác nhau của các địa phương cũng như những kinh nghiệm trong quá trình xét xử. Cuối cùng họ chọn lọc những vụ việc hợp lý và xây dựng nguyên tắc tiền lệ – stare decisis (“let the decision stand”). Theo nguyên tắc này, bất kỳ nơi nào phát sinh những vấn đề mang tính chất pháp lý thì khi đưa ra quyết định phải tuân theo những trường hợp tương tự đã giải quyết trước đây. Và nguyên tắc này đã dẫn đến sự hình thành thông luật (common law) năm 1250, tức luật hình thành từ các quyết định tư pháp chứ không phải do cơ quan lập pháp ban hành. Những nguyên tắc của thông luật đã được sử dụng cho đến ngày nay trong đó có án lệ (được biết đến như thông luật). Và như vậy, trên cơ sở tiền lệ (stare decisis) được hình thành này, hệ thống thứ bậc của tiền lệ cũng hình thành và áp dụng cho các hệ thống tòa án. Theo đó, thẩm phán khi đưa ra phán quyết phải tuân thủ theo các phán quyết của tòa án cấp trên trong cùng hệ thống. Đây chính là án lệ hay cũng chính là tiền lệ pháp.

Như vậy, tiền lệ pháp và án lệ là hai tên gọi chỉ cùng một khái niệm. Theo đó, tiền lệ pháp (hay án lệ) chỉ do tòa án ban hành theo những trình tự nhất định.

3. Tiền lệ pháp – việc thừa nhận chỉ các quyết định của cơ quan tòa án hay còn bao gồm các quyết định của cả cơ quan hành chính?

Theo các Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1997, năm 2004 và của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005 thì tiền lệ pháp là việc nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan tòa án cấp trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể làm cơ sở để áp dụng đối với các trường hợp tương tự. Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005 còn giải thích rõ thêm là có hai loại tiền lệ cơ bản là tiền lệ hành chính và tiền lệ tư pháp (án lệ). Như vậy, quan điểm chung của các giáo trình này là tiền lệ pháp bao gồm các quyết định của cơ quan hành chính và các quyết định của cơ quan xét xử. Tuy nhiên, theo sự nhận thức về tiền lệ pháp theo hệ thống luật Anh – Mỹ và hệ thống Luật Châu Âu Lục địa, tác giả cho rằng tiền lệ pháp không bao gồm các quyết định của các cơ quan hành chính mà chỉ là các quyết định hay phán quyết của cơ quan tòa án trong đó có tòa vi cảnh (hay tòa hành chính). Nói cách khác, tiền lệ pháp chỉ có thể được hình thành từ cơ quan tư pháp chứ không từ cơ quan lập pháp hay hành pháp. Tác giả nhận thức điều này vì hai lý do. Thứ nhất, về xuất phát điểm của tiền lệ pháp – hình thành từ con đường thông qua quá trình xét xử; điều này phù hợp với chức năng của cơ quan tư pháp. Thứ hai, nếu như các cơ quan hành chính cũng ban hành tiền lệ thì không phù hợp với thẩm quyền và chức năng là cơ quan quản lý – không phải là cơ quan xét xử – và nó sẽ tạo nên một sự chồng chéo trong việc hình thành và áp dụng tiền lệ giữa hai cơ quan hành pháp và tư pháp.

Nhìn chung, với tính chất đặc thù của hình thức pháp luật này, trong quá trình nghiên cứu áp dụng ở Việt Nam, chúng ta cố gắng khắc phục những hạn chế của nó để tiền lệ pháp sẽ góp một phần không nhỏ vào việc hoàn thiện và đa dạng hóa các hình thức pháp luật Việt Nam.

Chú thích:

1.Hoàng Thị Kim Quế, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nuớc và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005.

2 Xem Báo cáo đánh giá nhu cầu cải cách pháp luật đến 2010 của Chính phủ.

3 Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, West Group 1999. Precedent: 1) The making of law by a court in recognizing and applying new rules while administering justice; 2) A decided case that furnishes a basis for determining later cases involving similar facts or issues.

4 Catherin Elliott and Frances Quinn, English Legal System, Longman 2000 – P.8 “In deciding a case, a judge must follow any decision that has been made by a higher court in a case with similar facts…”.

5 Richard Chisholm and Garth Nettheim, Understanding Law, R v. Elizabeth Manley, decided in 1933 by the Court of Criminal Appeal, Butter Worths 1997.

6 Richard Chisholm and Garth Nettheim, sđd.

7 Catherin Elliott and Frances Quinn, sđd.

8 Michael Bogdan, Comparative Law, University of Lund, Faculty of Law, 1994

9 Catherin Elliott and Frances Quinn, sđd.

10 Bryan A. Garner, sđd.

11 Peter de Cruz, Comparative Law in a Changing World, Cavendish Publishing Limited 1999, p. 243

12 Catherine Elliott and Frances Quinn, English legal system, Case law, Longman 2000.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2006

LUẬT PHÁ SẢN 2004 – NHỮNG TIẾN BỘ VÀ HẠN CHẾ

TS. NGUYỄN THÁI PHÚC –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó. Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng những thuộc tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong điều kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc chung… nhằm tác động một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể quan hệ phá sản, giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có của nó. Ngoài ra, việc giải quyết xung đột lợi ích này cũng không thể không tính đến những nhiệm vụ cụ thể đặt ra trước các nhà làm luật ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phát triển kinh tế của mình.

Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và Tòa án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.

Tiếp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29/12/1987, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Phá sản doanh nghiệp (LPSDN) 1993 được nhìn nhận như là sự tiếp nối lôgic trong việc thể chế chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

LPSDN 1993 là đạo luật về phá sản đầu tiên của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được ban hành trong khoảng thời gian ngắn ngủi khi chúng ta mới bước vào nền kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của chúng ta về kinh tế thị trường nói chung và về phá sản nói riêng còn rất hạn chế, ít ỏi. Kinh nghiệm lập pháp về phá sản hoàn toàn không có. Có thể nói LPSDN 1993 được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài.

Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), kể từ khi LPSDN 1993 có hiệu lực từ tháng 7/1994, đến hết năm 2002, toàn Ngành Tòa án chỉ thụ lý có 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong đó chỉ tuyên bố được 46 doanh nghiệp bị phá sản. Như vậy, bình quân hàng năm Tòa án chỉ thụ lý khoảng 17 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Tính theo tỷ lệ so với tổng số doanh nghiệp thì các doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản chỉ chiếm khoảng 0,02 –0,05%. So với một số quốc gia khác, ví dụ tại Pháp tỷ lệ này trong năm 1999 là 2,3% (46.000 doanh nghiệp phá sản so với 2 triệu doanh nghiệp đang hoạt động)1 thì số lượng doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản ở Việt Nam là quá thấp và không phản ánh đúng thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Theo đánh giá của TANDTC – cơ quan soạn thảo Dự án Luật Phá sản (LPS) 2004 thì nguyên nhân chính của tình hình trên là do những hạn chế của LPSDN 1993. Nội dung của LPSDN 1993 có quá nhiều bất cập. Giữa mục tiêu và giải pháp của luật không có sự nhất quán. Nguyên tắc, mục tiêu trước hết của LPSDN 1993 là khôi phục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng LPSDN 1993 chưa tạo được những điều kiện tối đa cho phục hồi doanh nghiệp, mà chỉ tập trung giải quyết hậu quả và thanh lý. Do đó, khó có thể đạt được mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp. Một tồn tại nữa là thiếu thống nhất giữa văn bản luật và các văn bản hướng dẫn, thiếu thống nhất về nguyên tắc xử lý xung đột giữa quy phạm của pháp luật phá sản với quy phạm của các ngành luật khác. Ví dụ điển hình nhất là quy định điều kiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. LPSDN 1993 chỉ quy định doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; nhưng Nghị định 189/CP hướng dẫn lại bổ sung thêm điều kiện là phải kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho việc giải quyết thủ tục phá sản đối với nhiều doanh nghiệp trở nên khó khăn, do không đáp ứng được điều kiện về thời gian, mặc dù doanh nghiệp đã hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và sự tồn tại của nó là hoàn toàn không cần thiết.

LPS 2004 ra đời được đánh giá như là một cố gắng mới của các nhà lập pháp nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với hiện tượng kinh tế khách quan có vai trò không nhỏ này trong đời sống kinh tế bằng việc khắc phục những hạn chế, bất cập của LPSDN 1993, bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 9 năm áp dụng LPSDN 1993, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

I. MỘT SỐ TIẾN BỘ CỦA LPS 2004

1. Hoàn thiện khái niệm phá sản hay khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Đây là khái niệm cực kỳ quan trọng của pháp luật phá sản. Theo tác giả Nguyễn Tấn Hơn, định nghĩa phá sản “có lẽ là khó nhất đối với các nhà lập pháp”2. Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ.

Trong LPSDN 1993 khái niệm này dường như được xây dựng trên cơ sở kết hợp một cách mỹ mãn tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động. Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của con nợ… Khái niệm phá sản còn phải gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng. Với khái niệm như vậy, trên thực tế các chủ nợ sẽ không bao giờ thực hiện được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ của mình bởi lẽ họ phải chứng minh là con nợ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ trễ hạn thanh toán – không trả nợ thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần biết. Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của con nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của con nợ. Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của con nợ.

LPS 2004 (Điều3) khi đưa ra khái niệm phá sản đã đoạn tuyệt với nguyên nhân khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thời hạn thua lỗ. “Không đủ tiền và tài sản để thanh toán các khoản nợ đến hạn bất luận vì lý do gì mà không thể khắc phục được thì đều được coi là đã lâm vào tình trạng phá sản”3. Theo ý kiến của chúng tôi, đây là một bước tiến lớn của pháp luật phá sản nước ta, thể hiện sự can thiệp sớm của Nhà nước vào hiện tượng phá sản. Tính chất nghiêm trọng về hậu quả có tính dây chuyền của hiện tượng phá sản trong đời sống kinh tế đòi hỏi khách quan sự can thiệp sớm của Nhà nước.

2. LPS 2004 khẳng định thủ tục phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt

Một trong những dấu hiệu đặc biệt chính là cấu trúc đặc thù của thủ tục phá sản. Nếu như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự là một quá trình hoạt động của Tòa án và những người tham gia tố tụnghình thành từ những giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra tính hợp pháp, khắc phục những thiếu sót của giai đoạn trước thì thủ tục phá sản là một quá trình hoạt động có cấu trúc hoàn toàn khác. Theo Điều 5 LPS 2004 thủ tục phá sảnlà một thủ tục lớn bao gồm nhiều thủ tục cấu thành (thủ tục nhỏ) và giữa những thủ tục cấu thành đó có mối liên hệ với nhau theo những nguyên tắc khác nhau. Tính thứ tự, nối tiếp nhau không phải là yếu tố bắt buộc giữa các thủ tục cấu thành. Đây là bước phát triển về lý luận của pháp luật phá sản nước ta.

Luật PSDN 1993 tuy cũng có những quy định về phục hồi hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhưng Luật chưa thừa nhận những nội dung đó là những thủ tục cấu thành độc lập, chưa nhìn nhận được tính đặc thù về mối quan hệ giữa các thủ tục đó. Trong Luật PSDN 1993, phục hồi hoạt động kinh doanh gần như là một hoạt động bắt buộc trước hoạt động thanh lý. Chỉ sau khi phục hồi không thành công – thực hiện kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh không đem lại kết quả, con nợ vi phạm cam kết hoặc Hội nghị chủ nợ không chấp nhận kế hoạch phục hồi hoặc con nợ không có kế hoạch thì lúc đó Tòa án mới có thể quyết định chuyển sang tuyên bố phá sản với con nợ và thanh lý tài sản của nó. Giải quyết mối quan hệ giữa hai thủ tục phục hồi và thanh lý như vậy là cứng nhắc và máy móc. Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ ngừng hoạt động, hoàn toàn không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy định, thẩm phán vẫn phải tuần tự thực hiện các quy định của thủ tục phục hồi. Điều này chỉ làm kéo dài thời gian vô ích, không có ý nghĩa gì cả.

Quan điểm của tác giả Nguyễn Tấn Hơn cho rằng thủ tục phá sản là một quá trình bao gồm ba giai đoạn chính yếu:

+ Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn điều tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. Trong giai đoạn này nếu con nợ không muốn rơi vào giai đoạn sau thì phải chứng minh cho Tòa án khả năng thanh toán nợ của mình. Nếu Tòa án nhận thấy con nợ không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn thì áp dụng ngay giai đoạn tiếp theo.

+ Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Giai đoạn này có nội dung chủ yếu là xây dựng phương án hòa giải, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu không hòa giải được hoặc phương án hòa giải thực hiện không thành công thì Tòa án chuyển sang giai đoạn tiếp theo.

+ Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn phá sản và thanh lý tài sản của doanh nghiệp.4

Cách tiếp cận thủ tục phá sản như là hoạt động bao gồm nhiều giai đoạn nối tiếp nhau như trên vừa không phù hợp về lý luận, vừa không phù hợp với thực tiễn. Mỗi giai đoạn tố tụng có nhiệm vụ riêng của mình nhưng việc giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn trước luôn là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn tiếp theo và xét cho cùng là thực hiện nhiệm vụ chung của toàn bộ tiến trình tố tụng. Ví dụ trong tố tụng hình sự giai đoạn điều tra có nhiệm vụ khác với nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm. Đó là nhiệm vụ phát hiện nhanh chóng kịp thời tội phạm và kẻ phạm tội, thu thập đầy đủ các chứng cứ về các tình tiết sự kiện của vụ án. Thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm là xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội. Không giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn điều tra thì không thể giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm và đồng thời cũng không thực hiện được nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự.

Trong thủ tục phá sản nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có tính độc lập với nhau rất lớn. Thực hiện nhiệm vụ của thủ tục này không phải lúc nào cũng là tiền đề để thực hiện nhiệm vụ của thủ tục kia. Ví dụ như nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác hẳn với nhiệm vụ của thủ tục thanh lý tài sản và thực hiện nhiệm vụ của thủ tục phục hồi không phải là tiền đề cho thủ tục thanh lý tài sản mà có thể loại trừ sự cần thiết của chính thủ tục thanh lý tài sản doanh nghiệp…

Điểm tiến bộ được ghi nhận trong LPS 2004 chính là những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ tục phá sản. Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Tòa án có thể quyết định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 LPS 2004) hoặc sau khi thụ lý (khoản 2 Điều 87) hoặc khi đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86). Thủ tục phục hồi không còn là một thủ tục bắt buộc trước thủ tục thanh lý tài sản trong tiến trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Không những thế, khi mà nhiệm vụ của thủ tục này không thể thực hiện được hoặc thực hiện không thành công thì có thể chuyển đổi sang thủ tục thanh lý tài sản ngay (Điều 79, 80).

3. LPS 2004 bảo vệ lợi ích của các chủ nợ triệt để hơn

Bản chất của thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ đặc biệt – đòi nợ tập thể của các chủ nợ thông qua việc yêu cầu Tòa án tuyên bố con nợ bị phá sản để thu hồi vốn của mình. Chừng nào cơ hội đòi nợ thông qua thủ tục phá sản còn thấp thì thủ tục đó không thể hấp dẫn các chủ nợ, không thể nhanh chóng trở thành một công cụ hiệu quả bảo vệ lợi ích các chủ nợ.5

LPSDN 1993 hạn chế khả năng thu hồi vốn của các chủ nợ. Ví dụ như quy định về nghĩa vụ của chủ nợ phải chứng minh con nợ mất khả năng thanh toán vì thua lỗ trong hoạt động kinh doanh khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, quy định thời hạn hai năm thua lỗ hoặc khó khăn trong kinh doanh như là một yếu tố bắt buộc của khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”, quy định về trình tự phục hồi như là giai đoạn bắt buộc trong mọi trường hợp sau khi có quyết định mở thủ tục giải quyết tuyên bố phá sản… LPS 2004 đã khắc phục những hạn chế đó, mở rộng khả năng đòi nợ của các chủ nợ.

Thứ nhất là quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ. Khi thực hiện quyền này chủ nợ không có nghĩa vụ nào ngoài các nghĩa vụ sau:

+ Chứng minh mình là chủ nợ;

+ Chứng minh khoản nợ đã đến hạn thanh toán (xuất hiện quyền đòi nợ);

+ Chứng minh mình đã yêu cầu con nợ thanh toán nợ nhưng con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình.

Như chúng ta thấy, các nghĩa vụ này hoàn toàn trong tầm tay của các chủ nợ.

Thứ hai là LPS 2004 đã bổ sung nhiều biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ; điều này cũng có nghĩa là mở rộng khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ. Từ cổ xưa, pháp luật phá sản đã xác định việc bảo toàn tối đa tài sản của con nợ nhằm bảo vệ lợi ích tài sản của các chủ nợ như là nhiệm vụ trung tâm của thủ tục phá sản. Nhiệm vụ này được quy định đầy đủ hơn trong LPS 2004 so với LPSDN 1993. LPS 2004 đã dành hẳn một chương về những biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ với nhiều biện pháp chưa được biết đến trong LPSDN 1993. Cụ thể:

+ Cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ nếu xét thấy người quản lý của doanh nghiệp không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp (Điều 30);

+ Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48);

+ Đình chỉ thi hành án dân sự (Điều 57);

+ Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58);

+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55);

+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 54);

+ Chủ nợ không có bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44).

II. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA LPS 2004

1. LPS 2004 chưa làm rõ bản chất của thủ tục phá sản

Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt. Tính chất đặc biệt của đó đã được đề cập đến ở phần trên. Về vấn đề này không có nhiều ý kiến khác biệt. Tuy nhiên, về bản chất của thủ tục phá sản nhìn từ góc độ hoạt động của Tòa án thì còn có ý kiến khác nhau. Quan điểm phổ biến hiện nay không nhìn nhận thủ tục phá sản như là một thủ tục mà trong đó hoạt động của Tòa án là hoạt động thực hiện chức năng xét xử. Đây cũng là quan điểm của Ban soạn thảo Luật tổ chức TAND

2002. Nó được thể hiện tại quy định “Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật” (Điều 1). Như vậy, theo quan điểm này thì “xét xử” và “giải quyết” là hai khái niệm khác nhau. Quan điểm này đã được LPSDN 1993 tiếp thu và LPS 2004 tiếp tục kế thừa. Việc phá sản không được thừa nhận như một tranh chấp pháp lý nên hoạt động của Tòa án khi giải quyết phá sản không chịu sự chi phối của những nguyên tắc Hiến định trong hoạt động xét xử của Tòa án. Đấy là các nguyên tắc như khi xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán, nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Nội dung của những nguyên tắc này không thể hiện trong các quy định của LPSDN 1993, LPS 2004. Trong thủ

tục phá sản không có sự hiện diện của Hội thẩm nhân dân và theo Luật thì việc phá sản có thể được giải quyết bởi một thẩm phán. Tuy nhiên, bên cạnh đó Luật quy định quyết định tuyên bố phá sản có thể bị kháng cáo, kháng nghị và quyết định của Tòa án cấp trên là quyết định cuối cùng. Câu hỏi then chốt và có lẽ khó trả lời nhất đối với những người theo quan điểm này là nếu Tòa án không xét xử, chỉ giải quyết việc phá sản thì Tòa án thực hiện chức năng gì trong trong thủ tục phá sản? Theo Hiến pháp thì Tòa án là cơ quan xét xử (Điều 127). Vậy phải chăng ngoài chức năng xét xử – chức năng hiến định, Tòa án còn thực hiện các chức năng khác nữa?

Để làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, trước hết phải làm rõ yêu cầu tuyên bố phá sản là gì? Đó có phải là một tranh chấp pháp lý hay không?

Yêu cầu tuyên bố phá sản là một tranh chấp pháp lý. Khi các chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình nhưng yêu cầu đó không được đáp ứng từ phía con nợ thì xuất hiện xung đột lợi ích tài sản giữa chủ nợ với con nợ. Xung đột này là xung đột pháp lý, bởi lẽ các quan hệ giữa con nợ và chủ nợ luôn là các quan hệ pháp luật nảy sinh trên cở sở các hợp đồng khác nhau. Trong quan hệ hợp đồng giữa các bên vừa có sự thống nhất lợi ích vì hợp đồng chỉ có thể giao kết khi các bên đều thấy có lợi, vừa có sự đối lập lợi ích. Lợi ích của bên này phụ thuộc vào sự chấp hành các cam kết của phía bên kia. Sự vi phạm, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ nghĩa vụ của một bên đương nhiên ảnh hưởng, vi phạm đến lợi ích của bên đối tác. Để có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, chủ nợ buộc phải liên hệ đến Tòa án với yêu cầu tuyên bố phá sản con nợ, vì chỉ như vậy chủ nợ mới có thể thu hồi được nợ. Tại thời điểm Tòa án thụ lý yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản là đã tồn tại xung đột hay tranh chấp pháp lý giữa chủ nợ và con nợ. Trường hợp con nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầu thì bản chất mối quan hệ giữa con nợ và chủ nợ cũng không thay đổi, bởi lẽ con nợ chỉ nộp đơn khi tự nhận thấy đang ở trong tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, có nghĩa là con nợ đang trong tình trạng xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ nợ (không trả được nợ đến hạn). Nói một cách khác là chủ nợ và con nợ đang trong tình trạng xung đột lợi ích pháp lý. Còn tại Hội nghị chủ nợ các bên có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh của con nợ thì đấy cũng là hình thức hòa giải để giải quyết xung đột pháp lý giữa các bên. Điều này cũng giống như hòa giải để giải quyết xung đột pháp lý giữa các bên đương sự để giải quyết tranh chấp trong các thủ tục tư pháp khác. Việc phá sản là một tranh chấp pháp lý. Như vậy bản chất của thủ tục phá sản là thủ tục giải quyết trước hết các xung đột hay tranh chấp lợi ích pháp lý có tính chất tài sản giữa con nợ và chủ nợ.

Còn hoạt động của Tòa án khi giải quyết tranh chấp, xung đột pháp lý đó là gì? Khi có yêu cầu tuyên bố phá sản thì Tòa án phải thụ lý khi người nộp đơn đáp ứng đủ điều kiện theo luật định. Tiếp theo đó Tòa án phải giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, tức là xem xét yêu cầu đó có chính đáng hay không, nghĩa là có căn cứ và có đúng là con nợ mất khả năng thanh toán hay không? Tòa án phải căn cứ vào các bằng chứng, tài liệu do các bên cung cấp để trả lời câu hỏi đó. Nội dung thứ nhất mà Tòa án phải thực hiện là khẳng định có hay không tình trạng “mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn”. Nếu Tòa án xác định con nợ đã mất khả năng thanh toán thì tùy thuộc từng trường hợp cụ thể Tòa án căn cứ vào các quy định của Luật có thể ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thủ tục thanh lý, tuyên bố con nợ bị phá sản. Hai hoạt động quan trọng trên của Tòa án trong thủ tục phá sản chính là nội dung cốt lõi của khái niệm xét xử. Vậy “hoạt động xét xử” có những đặc trưng gì? Trước hết đó là việc tìm kiếm, xác định và minh định cho sự kiện xảy ra. Và trên cơ sở sự kiện khách quan xảy ra trong mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ, “chủ thể của hoạt động tư pháp phải đưa ra được những đánh giá pháp lý cho các sự kiện đó”6. Như vậy, việc phá sản là một tranh chấp pháp lý và giải quyết phá sản là một hình thức thực hiện chức năng xét xử của Tòa án.

Quan niệm này sẽ có thể làm thay đổi nhiều nội dung của thủ tục phá sản theo hướng mở rộng tính công khai, tranh tụng giữa các bên có lợi ích đối lập nhau như là một tiền đề khách quan cần thiết cho các quyết định đúng pháp luật, có căn cứ của Tòa án. Ví dụ, quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của Tòa án cần được thực hiện trong hình thức phiên tòa công khai, có sự hiện diện của bên yêu cầu tuyên bố phá sản và bên còn lại (tùy thuộc ai là người đã nộp đơn yêu cầu), có sự tham gia của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, các bên có quyền trình bày ý kiến của mình theo thể thức tranh tụng trước khi Tòa án ra quyết định của mình, v.v..

2. Khái niệm phá sản

Mặc dù khái niệm này có sự hoàn thiện hơn so với LPSDN 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó. Điều 3 LPS 2004 không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ. Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 01 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu đòi nợ cũng có thể bị xem là lâm vào tình trạng phá sản. Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ. Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì thường có quy định về số nợ cụ thể, về thời hạn trễ hạn thanh toán nợ từ phía con nợ sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ. Ví dụ như Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân. Theo Luật Công ty của Úc chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty vì lý do vỡ nợ nếu công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là AUD $2000 và công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó.7

Thuật ngữ “các khoản nợ” trong Điều 3 không được giải thích. Phân tích Điều 37 cho thấy “các khoản nợ” được hiểu là các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương mại và lao động. Còn các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính… của doanh nghiệp không được đề cập đến. Vậy giải quyết các nghĩa vụ có tính chất tài sản này của doanh nghiệp như thế nào khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?

3. Về các loại chủ nợ

Luật chỉ phân biệt chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 6). Các chủ nợ khác nhau thì có địa vị pháp lý khác nhau trong thủ tục phá sản. Chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình tham gia vào thủ tục phá sản. Điều này thấy rõ trong so sánh về quyền và nghĩa vụ giữa chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm. Về nguyên tắc, LPS 2004 đã thể hiện tinh thần bảo vệ lợi ích của chủ nợ có bảo đảm triệt để hơn so với chủ nợ không có bảo đảm. Đó là lẽ đương nhiên. Nếu lợi ích của chủ nợ không có bảo đảm không được bảo vệ trong thủ tục phá sản thì bản thân chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự sẽ không còn ý nghĩa. Tuy nhiên một số quy định của LPS 2004 không phù hợp với tinh thần chủ đạo đó. Cụ thể, ngay từ khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì quyền được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có bảo đảm đã bị hạn chế – bị tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài sản (Điều 27, Điều 35), trừ trường hợp được Tòa án cho phép. Trong khi đó, các chủ nợ không có bảo đảm vẫn có thể được thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình sau khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.Việc thanh toán các khoản nợ không có bảo đảm chỉ bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 31).

Chủ nợ có khả năng bù trừ nghĩa vụ với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng có lợi thế hơn chủ nợ có bảo đảm. Theo Điều 48 chủ nợ này có quyền thỏa thuận với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để thực hiện việc bù trừ và không có bất kỳ sự hạn chế nào của Luật, không chịu sự giám sát của thẩm phán. Theo ý kiến của chúng tôi, quy định như vậy là không hợp lý.

Ngoài chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần còn một loại chủ nợ nữa mà Luật không đề cập đến mặc dù sự hiện diện của loại chủ nợ này trong thủ tục phá sản là hoàn toàn hiện thực và chủ nợ này có những quyền đặc trưng của mình. Đó là chủ nợ mới – chủ nợ xuất hiện trên cơ sở các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Luật đề cập đến các khoản nợ mới (Điều 31, điểm e) nhưng Luật lại không nói về chủ nợ mới. Luật thừa nhận sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán, Tổ quản lý tài sản (Điều 30). Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể giao kết hợp đồng mới – xuất hiện những chủ nợ mới, các khoản nợ mới. Đây là sự thiếu lôgic và không chặt chẽ của Luật. Về lý thuyết, các chủ nợ mới – khác với các chủ nợ cũ (những chủ nợ xuất hiện trên cơ sở các hợp đồng giao kết trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản) luôn có quyền được ưu tiên thanh toán trong mọi trường hợp. Chỉ có như vậy các quy định của Luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới có tính khả thi. Nếu không có sự bảo đảm của Luật về quyền ưu tiên thanh toán thì không một chủ nợ nào lại giao kết hợp đồng với một con nợ đã có quyết định mở thủ tục phá sản và mọi cố gắng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ là mong muốn chủ quan của nhà lập pháp mà thôi. Quyền ưu tiên thanh toán của chủ nợ mới cần được thừa nhận trong cả thủ tục thanh lý tài sản.

Một vấn đề được đặt ra: Các chủ nợ mới có quyền tham gia vào danh sách chủ nợ hay không? Câu hỏi này không được trả lời rõ ràng trong Luật. Các chủ nợ có bảo đảm mặc dù có quyền ưu tiên thanh toán nhưng vẫn phải có tên trong danh sách chủ nợ để có quyền đòi nợ, có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ. Theo lôgic này thì các chủ nợ mới cũng phải có tên trong danh sách chủ nợ. Tuy nhiên yêu cầu này có một số khó khăn. Vấn đề là danh sách chủ nợ được lập trong thời hạn 75 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản. Sau 13 ngày niêm yết và giải quyết khiếu nại nếu có thì danh sách này được đóng lại. Trong khi đó doanh nghiệp có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh, vẫn phải ký kết các giao dịch mới, có các chủ nợ mới và chỉ chấm dứt hoạt động kinh doanh khi có quyết định thanh lý tài sản (Điều 82). Theo chúng tôi, để giải quyết khó khăn này, Luật cần quy định khả năng bổ sung danh sách chủ nợ trong những trường hợp cần thiết.

4. Về giao dịch vô hiệu (Điều 43)

Luật quy định các giao dịch của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản quy định ở khoản 1 Điều 43 được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu. Nói cách khác là Luật thừa nhận khả năng hồi tố với các loại giao dịch này dù chúng đã thực hiện xong nhằm bảo toàn tài sản của con nợ. Tuy nhiên quy định này của Luật không thể áp dụng cho các giao dịch tương tự thực hiện trong khoảng thời gian từ khi có quyết định thụ lý đến khi có quyết định mở thủ tục phá sản – thời gian này là 30 ngày. Luật chỉ quy định những giao dịch bị cấm hoặc bị hạn chế sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 31). Đây là sự sơ hở của LPSDN 1993 mà LPS 2004 vẫn không khắc phục được.

5. Về người bảo lãnh

Khoản 2 Điều 39 quy định trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh. Quy định này xung đột với các quy phạm của Bộ luật Dân sự (BLDS). Theo khoản 2 Điều 4 LPS 2004 thì khi có sự khác nhau giữa quy định của Luật Phá sản và quy định của luật khác về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Phá sản. Khác nhau có thể hiểu là trái ngược nhau được không? BLDS bảo vệ quyền, lợi ích của chủ nợ có bảo đảm trong mọi trường hợp. Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ mà quyền đòi nợ luôn được bảo đảm bằng chính tài sản bảo đảm. Quy định của khoản 2 Điều 39 LPS 2004 lại biến các chủ nợ có bảo đảm thành các chủ nợ không có bảo đảm. Điều này là một bất lợi lớn cho các chủ nợ có bảo đảm. Hơn thế nữa, quy định này tự nó đã mâu thuẫn với nội dung chủ đạo của LPS 2004 là bảo vệ lợi ích của chủ nợ có bảo đảm trong thủ tục phá sản. Con nợ của chủ nợ có bảo đảm lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có bảo đảm có thể tham gia vào thủ tục phá sản để thu hồi nợ và được ưu tiên thanh toán. Còn khi người bảo lãnh của con nợ lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có bảo đảm lại không được tham gia vào thủ tục phá sản của người bảo lãnh để thu hồi nợ và chỉ có quyền yêu cầu con nợ – người được bảo lãnh trả nợ cho mình? Lôgic nào ở đây? Trong mối quan hệ giữa chủ nợ có bảo đảm – người nhận bảo lãnh và người bảo lãnh phải chăng người bảo lãnh không phải là con nợ của chủ nợ có bảo đảm?

Khoản 3 Điều 62 quy định người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm. Trường hợp đến thời điểm mở thủ tục phá sản mà người bảo lãnh vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho con nợ – người được bảo lãnh thì lúc này ai có quyền tham gia vào danh sách chủ nợ và Hội nghị chủ nợ? Chủ nợ có bảo đảm chăng? Câu trả lời ở đây là không. Ở khía cạnh pháp lý và khía cạnh tâm lý không chủ nợ có bảo đảm nào lại muốn tham gia vào thủ tục phá sản con nợ của mình khi đã có người bảo lãnh. Chủ nợ có bảo đảm trong trường hợp này là chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản của người bảo lãnh do vậy không có lý do gì để chủ nợ có bảo đảm phải tham gia vào thủ tục phá sản con nợ – người được bảo lãnh. Tham gia vào để làm gì? Vậy người bảo lãnh chăng? Câu trả lời cũng là không vì đơn giản là tại thời điểm mở thủ tục phá sản người bảo lãnh chưa trả nợ thay cho con nợ, chưa được thừa nhận là chủ nợ không có bảo đảm của con nợ – người được bảo lãnh. Không được tham gia thủ tục phá sản của con nợ – người được bảo lãnh, người bảo lãnh sẽ ở trong tình trạng bất lợi. Một mặt, đối với chủ nợ có bảo đảm, người bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người được bảo lãnh, mặt khác sau khi thực hiện nghĩa vụ này người bảo lãnh có thể sẽ không bao giờ thực hiện được quyền yêu cầu người được bảo lãnh trả nợ lại cho mình. Lý do cũng rất đơn giản là người được bảo lãnh lúc đó đã bị tuyên bố phá sản, tài sản đã bị thanh lý, đã bị xóa sổ, chấm dứt tồn tại với tư cách là chủ thể kinh doanh. Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ của LPS 2004.

6. Về thủ tục phục hồi

Nội dung của thủ tục phục hồi trong LPS 2004 có nhiều tiến bộ hơn so với LPSDN 1993. Doanh nghiệp muốn hồi phục ngoài ý chí chủ quan của các bên thể hiện trong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cần có những điều kiện cần thiết về khả năng tài chính và có sự khuyến khích của Nhà nước. Một trong những khuyến khích của Nhà nước có thể có ở đây là quy định không tính lãi đối với các khoản nợ khi áp dụng thủ tục phục hồi nhằm giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên LPS 2004 không áp dụng quy định này ở thủ tục phục hồi mà lại áp dụng ở thủ tục thanh lý (Điều 34). Việc giảm nhẹ khó khăn tài chính cho con nợ như giảm nợ, không tính lãi… hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hòa giải giữa con nợ với các chủ nợ. Nói một cách khác là không có sự hỗ trợ, khuyến khích của Luật đối với thủ tục phục hồi…

Về hậu quả của quyết định công nhận Nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh: Theo Điều 72 LPS 2004, thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nghị quyết này có hiệu lực đối với tất cả các bên có liên quan. Kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực hoạt động của doanh nghiệp bị chi phối bởi phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ phương án này và chịu sự giám sát của các chủ nợ và thẩm phán. Một câu hỏi được đặt ra khi Nghị quyết này có hiệu lực thì những điều cấm, hạn chế đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do Luật định tại Điều 31 có đương nhiên chấm dứt hay không? Luật không quy định cụ thể. Nhưng với suy luận lôgic thì câu trả lời ở đây là các điều cấm, hạn chế hoạt động kinh doanh của Điều 31 đương nhiên phải tạm đình chỉ trong thời hạn tối đa là 3 năm – thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoặc phải chấm dứt hiệu lực. Mọi hoạt động của doanh nghiệp không phù hợp với phương án phục hồi đã được Hội nghị chủ nợ thông qua và Tòa án công nhận đều là các giao dịch trái pháp luật có thể bị tuyên bố vô hiệu. Vì vậy LPS 2004 cần bổ sung quy định về hậu quả này khi thẩm phán công nhận Nghị quyết về phương án phục hội của Hội nghị chủ nợ.

7. Về mối quan hệ giữa thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản

Theo truyền thống, tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản là tiền đề pháp lý cho việc thanh lý tài sản của nó. Có nghĩa là phải tuyên bố phá sản với doanh nghiệp sau đó mới có lý do để thanh lý tài sản của nó- chuyển hóa khối tài sản thành tiền và thực hiện việc phân chia số tiền thu được theo thứ tự do luật định để bảo đảm sự công bằng. LPSDN 1993 đi theo truyền thống đó. Còn LPS 2004 lại thừa nhận thủ tục thanh lý tài sản là thủ tục độc lập với thủ tục tuyên bố phá sản và đảo lộn thứ tự của chúng. Người ta tiến hành thủ tục thanh lý tài sản của con nợ trước sau đó mới tuyên bố nó bị phá sản. Thẩm phán ra quyết định tuyên bố con nợ bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86). Ở đây có mấy điểm cần bàn.

Thứ nhất là việc thanh lý tài sản của con nợ mà thực chất là việc định đoạt tài sản trái với ý chí của con nợ dựa trên cơ sở pháp lý nào? Trong quyết định mở thủ tục thanh lý (Điều 81) chỉ nói về căn cứ của việc áp dụng thủ tục thanh lý – tức là khi nào thẩm phán có thể áp dụng thủ tục này chứ không nói đến lý do, cơ sở vì sao Tòa án có thể định đoạt tài sản của một doanh nghiệp đang tồn tại hợp pháp trái với ý muốn của nó? Chúng ta thử hình dung có thể có tình huống sau trong tố tụng dân sự được không: người ta bán tài sản của bị đơn trước rồi sau đó mới tuyên bản án xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn – cơ sở pháp lý và lý do bán tài sản để thi hành bản án? Trong thủ tục giải thể doanh nghiệp cũng có hai nội dung gắn liền nhau giống như thủ tục phá sản là thanh lý tài sản của doanh nghiệp để giải quyết công nợ của nó với các chủ nợ và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh. Trong mối quan hệ giữa hai nội dung này thì thanh lý tài sản là bước sau. Người ta chỉ tiến hành thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp sau khi có quyết định giải thể nó. Quyết định giải thể doanh nghiệp chính là cơ sở pháp lý để thanh lý tài sản của nó và thanh toán công nợ của nó với các chủ nợ (Điều 112 Luật Doanh nghiệp 1999). Rõ ràng trình tự như LPS 2004 là không ổn. Trình tự này cho người ta cảm tưởng rằng việc thanh lý tài sản của con nợ là nội dung quan trọng hơn việc tuyên bố phá sản. Trong khi đó về lý luận thì tuyên bố phá sản đối với con nợ là một cách thức pháp lý thu hồi nợ của các chủ nợ. Các chủ nợ thu hồi nợ bằng yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản với con nợ. Tuyên bố con nợ phá sản phải là cái có trước.

Thứ hai là với trình tự như vậy thì thủ tục phá sản trở nên rườm rà hơn. Có hai quyết định của Tòa án: quyết định mở thủ tục thanh lý và quyết định tuyên bố phá sản. Cả hai quyết định này đều có thể bị khiếu nại và kháng nghị và đòi hỏi thời gian giải quyết. Nếu chúng ta coi thanh lý tài sản chỉ là một nội dung của thủ tục tuyên bố phá sản, dựa trên quyết định tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản gọn nhẹ hơn và lôgic hơn. Thanh lý tài sản có thể có hoặc có thể không nhưng tuyên bố phá sản là một trong những mục tiêu chính của thủ tục phá sản (khi không thể phục hồi doanh nghiệp).

Chú thích:

1 Nhà Pháp luật Việt – Pháp: Tài liệu Hội thảo pháp luật về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, 8-10/1/2001.

2 Nguyễn Tấn Hơn, Phá sản doanh nghiệp – Một số vấn đề thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

3 Đặng Văn Thanh, Dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/ 2004;

4 Nguyễn Tấn Hơn, Sđd.

6 Đào Trí Úc, Vị trí, vai trò, đặc trưng và các nguyên tắc của hoạt động tư pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 7/2003.

7 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Một số định hướng hoàn thiện pháp luật phá sản, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 3/2004.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ