MỘT THỬA ĐẤT KHÔNG ĐƯỢC CẤP HAI LOẠI GIẤY

Mặc dù Chính phủ đã đề ra kế hoạch hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào cuối năm 2005, nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành. Ông Đặng Hùng Võ, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết ý kiến chung quanh vấn đề này.

* Cho đến thời điểm này, tỷ lệ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mới đạt rất thấp. Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên, thưa ông?

– Một trong những lý do gây chậm trễ là, nghĩa vụ tài chính có nơi vẫn còn tính chưa hợp lý, hoặc đã hợp lý nhưng không phù hợp với khả năng tài chính của người dân, dẫn đến tình trạng người dân không làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc có giấy rồi cũng không làm thủ tục tài chính để nhận giấy.

Tuy nhiên, điều này cũng đã được xử lý tại Nghị định 17/2006/NĐ-CP bằng việc cho phép ghi nợ nghĩa vụ tài chính trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng cho đến nay vẫn chưa được thực hiện, vì vẫn còn những ý kiến chưa thống nhất giữa các bộ, ngành về việc ghi nợ này.

Có ý kiến đề nghị cho ghi nợ đối với tất cả các trường hợp, nhưng có ý kiến cũng cho rằng, cần xem xét cho ghi nợ đối với một số trường hợp có khó khăn.

* Quan điểm của Bộ Tài nguyên và Môi trường về vấn đề này ra sao?

– Quan điểm của Bộ Tài nguyên và Môi trường là cho ghi nợ đối với tất cả các trường hợp, bởi vì khi chúng ta cho ghi nợ thì đã không cho phép người dân có giấy được thực hiện các quyền rồi, tức là khi họ có nhu cầu thực hiện quyền thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính trước. Đây cũng là một quy định phù hợp với hoàn cảnh thu nhập thực tế hiện nay của người dân.

* Riêng đối với đất ở tại đô thị thì sao, thưa ông?

– Tồn đọng cơ bản hiện nay là đối với đất ở tại đô thị. Đến nay, mới cấp được khoảng 45%. Việc chậm hiện nay có một nguyên nhân nữa cũng rất khách quan của hệ thống quản lý, đó là việc thi hành Luật Nhà ở, trong đó có quy định phải đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, trong khi các tỉnh hiện nay triển khai thực hiện việc này khá bị động vì có nhiều vướng mắc giữa hai loại giấy mà chưa có cách xử lý. Cần lưu ý một số hệ quả pháp lý mà chúng ta phải lường trước trong việc cấp một loại giấy mới đối với đất có nhà ở.

* Hệ quả pháp lý đó là gì?

– Tôi thí dụ như đất có nhà ở thì theo quy định của Luật Nhà ở, việc cấp giấy là tuỳ theo nguyện vọng của người có nhà ở, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc cấp giấy lại là bắt buộc, vì Nhà nước phải thừa nhận ranh giới của thửa đất, chứ không thể ai muốn sử dụng đến đâu cũng được. Việc cấp mỗi loại giấy lại thụ lý theo một chu trình khác nhau, trừ khi đã thống nhất được các cơ quan thụ lý hồ sơ.

Điều này có thể xảy ra trường hợp một thửa đất được cấp song song hai loại giấy. Lúc đó sẽ dẫn đến chuyện dùng giấy để thế chấp hoặc thực hiện các quyền song hành bằng hai loại giấy khác nhau. Đây là một hệ quả pháp lý mang tính tiêu cực.

* Vậy phải làm gì để khắc phục tình trạng này?

– Để giải quyết vấn đề này, cần phải có hướng dẫn thật chi tiết và làm rõ trách nhiệm quản lý đất, mà Nhà nước phải là người đúng ra xác định ranh giới thửa đất, với việc đăng ký quyền sở hữu về nhà ở, làm sao cho có một trình tự thủ tục không làm phiền nhiễu đến người dân. Việc xử lý thế nào phải do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện, không nên để người dân phải qua quá nhiều “cửa” khi tiến hành thủ tục xin cấp giấy.

Trong trường hợp người dân đổi từ giấy này sang giấy kia thì phải quy định rất chặt chẽ về việc thu hồi giấy đã cấp trước khi cấp giấy mới để tránh trường hợp có hai loại giấy song hành.

Nếu chúng ta có một hệ thống đăng ký thống nhất thì không phải làm việc này, nhưng do pháp luật đã quy định và trong khi chưa có Luật Đăng ký bất động sản thì chúng ta phải làm chặt chẽ để tránh những hệ quả pháp lý rất xấu, nếu một thửa đất có hai loại giấy.

SOURCE: BÁO ĐẦU TƯ

TÌNH HÌNH KHIẾU KIỆN và giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tại Tòa án nhân dân

TƯỞNG DUY LƯỢNG & NGUYỄN VĂN CƯỜNG – Tòa Dân sự Toà án nhân dân tối cao

I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ

1. Các dạng tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế của nước ta đã phát triển và tăng trưởng nhanh, đời sống của nhân dân đã được nâng lên đáng kể. Có một bộ phận nhân dân đã trở nên giàu có. Tuy nhiên, đa phần dân chúng chỉ có mức thu nhập khiêm tốn, đối với họ tài sản giá trị nhất thường là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Từ khi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trở thành một đối tượng của giao lưu dân sự, người dân không chỉ có quyền sử dụng đất mà còn có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất, thì các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà, và đặc biệt là quyền sử dụng đất cũng hết sức đa dạng và phong phú, có thể khái quát dưới các dạng sau: tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng tặng cho nhà, hợp đồng thuê nhà, mượn nhà, đổi nhà, hợp đồng gửi nhà, hợp đồng ủy quyền trong các giao dịch về nhà và các tranh chấp có liên quan đến nhà khác như: tranh chấp liên quan đến địa dịch, xác lập quyền sở hữu nhà theo pháp luật quy định, tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất trong lĩnh vực ly hôn, thừa kế, tranh chấp liên quan đến hành vi lấn chiếm nhà đất, tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất; đổi đất, cho mượn, tranh chấp ranh giới, tranh chấp lối đi chung, tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất…

2. Tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao thì hàng năm Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết một số lượng lớn các vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cụ thể như sau:

a/ Năm 1999 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 8.380 vụ và đã giải quyết được 4.916 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 8.000 vụ và đã giải quyết được 4.657 vụ. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 1.901 vụ và đã giải quyết được 1.332 vụ.

b/ Năm 2000 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 8.499 vụ và đã giải quyết được 5.848 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 8.257 và đã giải quyết được 5.176 vụ.

Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 667 vụ và đã giải quyết được 399 vụ.

c/ Năm 2001 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 15.920 vụ và đã giải quyết được 10.179 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 15.330 vụ và

đã giải quyết được 9.812 vụ. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 2.541 vụ và đã giải quyết được 8.776 vụ.

d/ Năm 2002 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 12.690 vụ và đã giải quyết được 9.058 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 12.299 vụ và đã giải quyết được 8.776 vụ. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 2.074 vụ và đã giải quyết được 1.725 vụ.

So với số liệu các vụ án dân sự khác mà Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao đã thống kê trong năm 2003 thì thấy rằng:

Năm 2002 các Tòa án đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 64.311 vụ án dân sự nói chung và đã giải quyết được 48.109 vụ.

Trong tổng số các vụ án dân sự nói trên thì có 12.690 vụ tranh chấp về nhà, đất chiếm tỉ lệ 19,7%. Trong số 48.109 vụ đã được giải quyết có 9.058 vụ tranh chấp về nhà, đất chiếm tỉ lệ 18,8%.

Số liệu thống kê nói trên chỉ có tính chất tương đối, vì trong biểu mẫu thống kê không có sự bóc tách rõ ràng, ví dụ: trong án ly hôn và thừa kế chỉ có mục chung là tài sản, không có đề mục thể hiện rõ có bao nhiêu vụ có sự phân chia tài sản là nhà đất… Dù vậy, qua các số liệu thống kê nói trên cũng cho chúng ta thấy:

+ Các tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất có xu hướng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước và phức tạp về tính chất, mức độ, loại tranh chấp.

+ Tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất xảy ra ở tất cả các vùng, các địa phương trong cả nước; có nơi, có lúc đã trở thành điểm nóng.

+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất tất cả các loại đất (đất ở, đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp…).

+ Nhiều chủ thể tham gia tranh chấp nhà, đất (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, doanh nghiệp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…), trong đó có những chủ thể không cùng cư trú ở một địa phương mà ở nhiều địa phương khác nhau (ở các thành phố về nông thôn, miền núi để chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ các tỉnh về thành phố mua nhà, đất…).

+ Các tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất có tính chất gay gắt, kéo dài, khó thương lượng, hòa giải giữa các đương sự.

3. Nguyên nhân của các tranh chấp

a) Nguyên nhân khách quan:

a1. Do hoàn cảnh lịch sử để lại, tình hình nhà, đất ở các vùng trong cả nước trải qua nhiều thời kỳ lịch sử diễn biến phức tạp, có nơi xáo trộn lớn.

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách quan trọng về nhà, đất. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải quyết. Có những vấn đề mới phát sinh khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng Nhà nước chưa làm tốt chức năng quản lý trong lĩnh vực nhà, đất; có những vấn đề tồn tại từ nhiều năm được xem như hậu quả của cách quản lý, chính sách của các thời kỳ trước đây mà chưa kịp thời khắc phục.

a2. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường nhà, đất thực sự có giá trị. Ở góc độ kinh tế nhà, đất được coi như một loại hàng hóa trên thị trường, được mang ra mua bán, trao đổi theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại không được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài, nên Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có hiệu quả.

Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho mượn, cho thuê, bị quốc hữu hóa… hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây, chính quyền địa phương đã giao đất không có văn bản hoặc văn bản không rõ ràng cho người khác sử dụng ổn định.

b) Nguyên nhân chủ quan:

b1. Do từ trước đến nay có nhiều văn bản pháp luật về nhà, đất chưa phù hợp với thực tế cuộc sống, dẫn đến pháp luật về nhà, đất ở nước ta không ổn định, thường xuyên thay đổi nên chưa phát huy được hiệu quả điều chỉnh như mong muốn, làm cho các quan hệ xã hội có liên quan đến nhà, đất cũng bất ổn định theo, có những văn bản mới được ban hành phải sửa đổi, bổ sung vì không phù hợp với đời sống xã hội của đất nước cũng như xu thế phát triển. Nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau.

Trong quá trình thực hiện pháp luật về đất đai giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan tư pháp còn có sự hiểu, vận dụng khác nhau do các quy định trong Bộ luật dân sự, Luật đất đai và văn bản dưới luật khác còn có điểm chưa hợp lý, thiếu nhất quán hoặc chưa cụ thể, thiếu sự giải thích, hướng dẫn kịp thời của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Một trong những tồn tại lớn nhất của các văn bản pháp luật về nhà, đất là khi có các thay đổi lớn về chính sách pháp luật, ví dụ: từ chỗ công dân có quyền sở hữu đất, có quyền mua bán đất, sau khi có Hiến pháp 1980, đất thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước cấm công dân mua bán đất, khi Hiến pháp 1992 có hiệu lực công dân lại có quyền chuyển nhượng. Mỗi lần có thay đổi lớn như vậy, Nhà nước ta thiếu các quy định cụ thể về các thời kỳ quá độ chuyển tiếp giữa các thời điểm ban hành văn bản pháp luật mới và các quan hệ xã hội được xác lập theo các quy định của các văn bản pháp luật cũ, do đó gây ra lỗ hổng lớn về pháp luật, gây ra sự mâu thuẫn, tranh chấp. Các cơ quan chức năng thiếu căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp. Ví dụ: nhiều giao dịch có liên quan đến quyền sử dụng đất đai phát sinh trước ngày có luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, nhưng sau ngày các Luật này có hiệu lực mới phát sinh tranh chấp, do không có các quy định thật rõ ràng nên các cơ quan chức năng áp dụng các quy định của Luật mới hoặc có nơi áp dụng pháp luật ở thời điểm giao dịch… để giải quyết, từ đó gây nên sự bất ổn định trong xã hội.

b2. Sự yếu kém của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý nhà, quản lý đất đai, cấp đất, giao đất, thu hồi đất, trong việc quy hoạch đất đai, công tác địa chính, xây dựng bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý, theo dõi việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xử lý các vi phạm pháp luật đất đai, giải quyết tranh chấp, khiếu kiện.

Sau khi có Hiến pháp năm 1980, Nhà nước cấm công dân mua bán đất và cho đến nay Nhà nước cho phép chuyển nhượng… quyền sử dụng đất, với điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1993, nhưng cơ quan có thẩm quyền chậm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dù không có giấy chứng nhận công dân vẫn chuyển nhượng… quyền sử dụng đất, dẫn đến tranh chấp gay gắt, khó giải quyết. Cũng có không ít trường hợp vì lợi ích cục bộ hoặc vì động cơ tư lợi mà một số cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật đất đai như: cấp đất sai thẩm quyền, “bán” đất trái phép hoặc vì không nắm vững các quy định của Luật đất đai nên cho phép hoặc làm ngơ để cho các cá nhân, tổ chức chuyển nhượng quyền sử dụng đất tràn lan không đúng pháp luật. Dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất không chấp nhận việc chuyển nhượng đó, các bên chuyển nhượng đất bất hợp pháp sẽ đòi lại tiền, đòi lại đất dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện và việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là rất phức tạp.

b3. Nhà nước chưa có chủ trương nhất quán về việc giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất trong các trường hợp cho ở nhờ, mượn đất, thuê đất, đất được giao khi tập đoàn giải thể… Có nơi Ủy ban nhân dân có thẩm quyền không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của chủ cũ và cũng không xem xét đến việc có buộc người đang sử dụng đất bồi thường thiệt hại về đất cho chủ cũ hay không, ngược lại có nơi cho bồi thường thành quả lao động, nhưng đối tượng phải bồi thường lại quy định không đúng (ví dụ: tập đoàn giao đất cho ông A, ông A đã bán qua tay nhiều người, nay anh C đang sử dụng đất, chủ cũ đòi lại đất, địa phương quy định cho C phải bồi thường thành quả lao động cho chủ đất cũ), sau đó chủ cũ lại khởi kiện ra Tòa dân sự đòi người đang sử dụng đất phải bồi thường thành quả, hoa màu, giá trị sử dụng đất.

b4. Nhà nước chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho việc nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam, để nó hình thành tự phát nên đã gây nhiều hậu quả tiêu cực. Nhà nước không quản lý được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thất thu thuế, không xử lý kịp thời tình trạng đầu cơ đất.

b5. Duy trì quá lâu và chậm sửa đổi các quy định về khung giá các loại đất, việc định giá đất còn có sự chênh lệch lớn, không sát với giá trị thực tế của đất đai trên thị trường chuyển nhượng, gây nên tình trạng khiếu nại, tranh chấp về giá chuyển nhượng, đền bù, bồi thường, thanh toán giá trị khi chia đất…

b6. Ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Một số người vẫn giữ quan niệm cũ về sở hữu đất đai, cho rằng mình là chủ sở hữu đất của ông, cha, dòng họ… và đòi lại đất của ông, cha, dòng họ để lại. Một số người lại cố tình vi phạm pháp luật về đất đai như: lấn chiếm đất công, chuyển nhượng trái phép đất đai để kiếm lời, vi phạm này diễn ra ở nhiều nơi trong thời gian dài nhưng không được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh, dẫn đến vừa qua Nhà nước đã có những quy định chấp nhận việc đã rồi, chấp nhận thực tế để giữ ổn định.

4. Một số trường hợp sai sót và vướng mắc khi giải quyết tranh chấp liên quan quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

– Tài sản chung của vợ chồng là nhà và quyền sử dụng đất nhưng một bên định đoạt không có sự đồng ý của bên kia, nhưng có Tòa án lại công nhận một phần hợp đồng, có bản án hủy toàn bộ hợp đồng mua bán.

– Nhà, đất là của đồng sở hữu, đồng thừa kế một bên đứng bán, có trường hợp Tòa án công nhận toàn một hợp đồng hoặc một phần hợp đồng là hợp pháp, có trường hợp hủy toàn bộ hợp đồng.

Cả hai trường hợp nêu trên áp dụng điều luật nào trong các điều quy định về hợp đồng vô hiệu trong Bộ luật dân sự (BLDS); có ý kiến cho rằng một trong số các đồng sở hữu định đoạt tài sản chung mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu là vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, phải áp dụng Điều 137 BLDS và nếu áp dụng điều luật này là đúng thì có nhiều điểm bất hợp lý. Vì vậy, có ý kiến cho rằng trường hợp nói trên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không áp dụng Điều 137 BLDS, nhưng những người theo quan điểm này cũng chưa chỉ ra được áp dụng điều nào trong BLDS.

– Hai bên mua bán nhà hoặc quyền sử dụng đất (đã có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật) được thể hiện bằng văn bản nhưng chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc mới chỉ có xác nhận của chính quyền xã, phường, hoặc đã nộp thuế trước bạ nhưng chưa có công chứng, có trường hợp có công chứng nhưng chưa sang tên quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất thì xảy ra tranh chấp, khi nào được phép công nhận hợp đồng, khi nào không được phép công nhận hợp đồng. Hiện nay, các Tòa án giải quyết chưa thống nhất và quan điểm giữa các thẩm phán, luật sư và cơ quan chức năng nhiều khi rất khác nhau.

– Trường hợp các bên mua bán đất từ những năm 80 hoặc những năm 90 nhưng khi hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng đất đó, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên mua đã làm nhà cấp 4 hay nhà cao tầng, quá trình tranh chấp kéo dài nay một bên kiện hợp đồng mua bán đất mà xử hủy hợp đồng vô hiệu như Thông tư liên tịch số 01 năm 2002 là gặp rất nhiều bất hợp lý.

– Đối với trường hợp khi ký kết hợp đồng mua bán nhà, đất các bên có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nhưng khi thực hiện hợp đồng các bên lại thanh toán trong hợp đồng mua bán nhà bằng tiền ngoại tệ, hiện nay có hai quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, hợp đồng mua bán nhà nêu trên vi phạm vào điều cấm của pháp luật nên vô hiệu, nhưng cũng có quan điểm cho rằng, việc thanh toán bằng ngoại tệ là vi phạm các quy định về quản lý ngoại hối, nhưng ở giai đoạn thực hiện hợp đồng nên không nhất thiết phải hủy hợp đồng mua bán nêu trên, mà chỉ cần buộc các bên phải thực hiện lại giai đoạn thực hiện hợp đồng.

– Trường hợp Việt kiều về nước mua bán nhà, đất (họ không thuộc đối tượng Nghị định của Chính phủ cho phép) hoặc Việt kiều kết hôn bất hợp pháp với người Việt Nam ở trong nước và họ bỏ tiền ra mua bán nhà, đất hoặc mua đất để xây dựng nhà. Khi xảy ra tranh chấp thì giải quyết như thế nào? Có chia cho họ nhà đất không? Khi Tòa án hủy hôn nhân bất hợp pháp? Là một trong những vấn đề vướng mắc và lúng túng trong xét xử hiện nay.

– Trường hợp tặng cho có điều kiện. Trên thực tế có trường hợp chủ sở hữu tặng cho người khác nhà, đất nhưng với điều kiện người được tặng, cho phải làm một công việc nào đó (ví dụ như nuôi dưỡng chủ sở hữu hoặc một người khác đến khi chết và chịu trách nhiệm thờ cúng…), nhưng người được tặng đã không thực hiện điều kiện này một cách trọn vẹn nên chủ sở hữu, người có quyền sử dụng yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng tặng cho, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về vấn đề này.

– Một bên thuê nhà của nhà nước đã chuyển nhượng quyền thuê nhà cho người khác, nhưng không có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền thì giải quyết thế nào? Hiện các thẩm phán xét xử có quan điểm rất khác nhau.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

1. Mặt tích cực

Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết được một số lượng lớn các vụ tranh chấp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Thông qua việc giải quyết các vụ tranh chấp, Tòa án đã góp phần quan trọng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền lợi của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người sở hữu nhà, sử dụng đất hợp pháp; góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế của đất nước.

2. Mặt tồn tại

Trong một số trường hợp đường lối giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa cấp Tòa án còn khác nhau, chưa bảo đảm nguyên tắc áp dụng thống nhất pháp luật, tỉ lệ số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị, bị hủy, cải sửa còn khá cao. Nhiều vụ còn phải xử đi xử lại nhiều lần, nên chưa bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chưa được dư luận xã hội đồng tình.

Nguyên nhân của tình trạng trên bao gồm:

– Một bộ phận đội ngũ cán bộ xét xử còn hạn chế về năng lực.

– Pháp luật đất đai của nước ta thường xuyên thay đổi, thiếu nhiều quy định cụ thể, văn bản dưới luật rất nhiều nhưng tản mạn, còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau như đã phân tích ở trên.

– Việc quản lý hồ sơ về nhà, đất của các cơ quan chức năng rất lỏng lẻo, thiếu chính xác, có trường hợp cung cấp thông tin không đầy đủ, có trường hợp mỗi lúc cung cấp thông tin cho Tòa án một khác, dẫn đến Tòa án ra phán quyết khác nhau.

– Bộ luật dân sự quy định về vấn đề quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đai chưa phù hợp với thực tiễn hoặc không thống nhất đối với các ngành luật khác, có vấn đề phát sinh tranh chấp mà vẫn không có điều luật điều chỉnh (ví dụ: vấn đề cầm cố nhà, đất hoặc bán quyền thuê nhà, đất…).

– Một số điều luật quy định trong Bộ luật dân sự, khi áp dụng vào thực tiễn còn nhiều bất cập, còn nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chưa được các ngành có liên quan hướng dẫn kịp thời (ví dụ: cách xác định trường hợp nào được coi là nhà nước “giao đất”, trường hợp nào bị coi giao đất không hợp pháp… vấn đề giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu như thế nào cho phù hợp với thực tiễn…).

– Các cơ quan có trách nhiệm ở Trung ương chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai, chậm sửa đổi, bổ sung các văn bản không còn phù hợp, gây khó khăn cho các Tòa án áp dụng pháp luật khi xét xử các vụ tranh chấp.

III. KIẾN NGHỊ NHỮNG BIỆN PP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ N, ĐẤT

1. Hoàn thiện Bộ luật dân sự

– Sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự phải dựa trên cơ sở Hiến pháp 1992 và quán triệt Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.

– Sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự phải dựa trên sự đòi hỏi của thực tế cuộc sống xã hội hiện tại và dự báo của thay đổi trong tương lai.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và Việt Nam đã tham gia và sẽ tham gia nhiều điều ước Quốc tế đa phương và song phương, chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự phải phù hợp với xu thế chung của pháp luật thế giới và đồng thời chúng ta gìn giữ và tiếp tục phát huy những phong tục tập quán và truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta đã hình thành từ lâu đời, phù hợp với cuộc sống của nhân dân.

– Sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự theo hướng là Bộ luật gốc điều chỉnh các quan hệ xã hội, có như vậy mới góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật dân sự, luật đất đai, luật kinh tế, luật thương mại một cách hài hòa, tránh trường hợp chồng chéo hoặc tạo ra những khoảng trống không có luật điều chỉnh, không thống nhất giữa các ngành luật.

– Sửa đổi, bổ sung các điều luật điều chỉnh các mối quan hệ được xác lập trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm, tạo ra một sân chơi lành mạnh, bình đẳng cho các chủ thể tham gia vào các giao dịch về nhà, đất. Tránh sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào các giao lưu dân sự, nhất là trong quan hệ hợp đồng dân sự.

– Các điều luật phải cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu, tránh tình trạng mang tính chất chung chung hoặc không rõ ràng, vừa ban hành đã phải có văn bản hướng dẫn.

– Cần cụ thể hơn nữa những quy định về giao dịch liên quan đến nhà, đất trong Bộ luật dân sự, đặc biệt là phần giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, xác định thiệt hại trong hợp đồng mua bán nhà, đất bị vô hiệu…

– Cần bổ sung công nhận án lệ là nguồn của luật dân sự, cho phép các nhà thực thi pháp luật được phép áp dụng án lệ.

Hiện nay, chúng ta không công nhận án lệ nên rất khó áp dụng pháp luật trong thực tế. Vì, các quan hệ phát sinh từ nhà, đất luôn thay đổi và rất sinh động nên pháp luật về nhà, đất phải thường xuyên sửa đổi và hướng dẫn bằng văn bản nhưng mỗi lần sửa đổi và hướng dẫn phải qua nhiều thủ tục rất phức tạp và khó khăn, ví dụ: muốn sửa đổi Luật, Bộ luật phải đợi mỗi kỳ họp Quốc hội hoặc Tòa án tối cao mỗi lần ra văn bản hướng dẫn phải họp rất nhiều chứ chưa nói đến các thông tư liên tịch, nhiều khi các văn bản pháp luật vừa mới ban hành ra rất công phu nhưng đã bị lạc hậu, chưa kể đến sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau giữa các văn bản pháp luật cũ và văn bản pháp luật mới.

2. Hoàn thiện pháp luật đất đai

Việc hoàn thiện pháp luật về đất đai phải quán triệt các quan điểm sau:

– Luật đất đai sửa đổi, bổ sung phải thể hiện rõ nguyên tắc thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị hàng hóa đặc biệt một cách chính thống về luật pháp, việc giao dịch có liên quan đến quyền sử dụng đất thông qua thị trường bất động sản do Nhà nước quản lý và điều tiết. Nhà nước thực hiện quyền năng chủ sở hữu đất đai, quản lý thống nhất đất đai.

Phải xác lập cơ chế quản lý, sử dụng đất đai trên nguyên tắc: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước đại diện chủ sở hữu đất đai, thống nhất quản lý đất đai, giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài phù hợp với quy hoạch, kế hoạch; có cơ chế hữu hiệu bảo đảm quyền sở hữu, quyền định đoạt của Nhà nước bằng pháp luật, chế tài hành chính, kinh tế và cả hình sự.

– Phải xây dựng hệ thống pháp luật về đất đai đồng bộ, hoàn chỉnh, kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản không còn phù hợp, sớm nghiên cứu xây dựng Bộ luật đất đai quy định đầy đủ các chế định pháp lý cần thiết cho việc quản lý, sử dụng, khai thác, chuyển nhượng, xử lý vi phạm, tranh chấp… hạn chế sự tản mạn, chồng chéo của pháp luật về đất đai hiện nay.

– Xây dựng khung pháp lý cần thiết cho việc pháp luật thị trường bất động sản ở Việt Nam, xây dựng trung tâm giao dịch bất động sản, phát triển mạng lưới dịch vụ có liên quan, tăng cường vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước.

– Giải quyết dứt điểm những tồn tại về nhà đất do lịch sử để lại theo phương châm ổn định, hợp lý, bảo đảm hiệu quả sử dụng đất.

– Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về đất đai.

– Cần nghiên cứu để sớm ban hành Bộ luật đất đai.

– Cần có quy định cụ thể hơn việc phân loại đất. Mỗi loại đất cần được phân ra các hạng cụ thể hơn, để có chế độ pháp lý phù hợp.

– Cần xác định lại các trường hợp Nhà nước thu hồi đất phục vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng được ưu tiên hơn các trường hợp thu hồi vì mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cho thuê.

– Bảo đảm nguyên tắc công bằng, thống nhất việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhất là giá bồi thường phải được xác định theo từng thời điểm, sát giá thị trường bảo đảm quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất hợp pháp thu hồi đất.

– Củng cố, nâng cao năng lực Tòa án hành chính giải quyết các khiếu kiện hành chính có liên quan đến việc quản lý đất đai, cần sớm sửa đổi Luật khiếu nại, tố cáo, đơn giản hóa các thủ tục để người dân dễ dàng đến Tòa án.

– Cần có sự thay đổi cách quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo hướng dù đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa được cấp giấy, khi có tranh chấp quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

– Đẩy nhanh tốc độ và sớm hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

– Đề nghị Chính phủ quy định về khung giá các loại đất cho phù hợp với điều kiện hiện nay. Cho phép thành lập các trung tâm định giá nhà đất ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giúp các cơ quan Nhà nước xác định giá các loại đất theo từng thời gian, từng vùng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ  4/2003

TÌNH HÌNH KHIẾU KIỆN VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TƯỞNG DUY LƯỢNG – NGUYỄN VĂN CƯỜNG – Tòa Dân sự TANDTC

I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ

1. Các dạng tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế của nước ta đã phát triển và tăng trưởng nhanh, đời sống của nhân dân đã được nâng lên đáng kể. Có một bộ phận nhân dân đã trở nên giàu có. Tuy nhiên, đa phần dân chúng chỉ có mức thu nhập khiêm tốn, đối với họ tài sản giá trị nhất thường là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Từ khi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trở thành một đối tượng của giao lưu dân sự, người dân không chỉ có quyền sử dụng đất mà còn có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất, thì các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà, và đặc biệt là quyền sử dụng đất cũng hết sức đa dạng và phong phú, có thể khái quát dưới các dạng sau: tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng tặng cho nhà, hợp đồng thuê nhà, mượn nhà, đổi nhà, hợp đồng gửi nhà, hợp đồng ủy quyền trong các giao dịch về nhà và các tranh chấp có liên quan đến nhà khác như: tranh chấp liên quan đến địa dịch, xác lập quyền sở hữu nhà theo pháp luật quy định, tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất trong lĩnh vực ly hôn, thừa kế, tranh chấp liên quan đến hành vi lấn chiếm nhà đất, tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất; đổi đất, cho mượn, tranh chấp ranh giới, tranh chấp lối đi chung, tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất…

2. Tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao thì hàng năm Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết một số lượng lớn các vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cụ thể như sau:

a/ Năm 1999 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 8.380 vụ và đã giải quyết được 4.916 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 8.000 vụ và đã giải quyết được 4.657 vụ. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 1.901 vụ và đã giải quyết được 1.332 vụ.

b/ Năm 2000 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 8.499 vụ và đã giải quyết được 5.848 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 8.257 và đã giải quyết được 5.176 vụ.

Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 667 vụ và đã giải quyết được 399 vụ.

c/ Năm 2001 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 15.920 vụ và đã giải quyết được 10.179 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 15.330 vụ và

đã giải quyết được 9.812 vụ. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 2.541 vụ và đã giải quyết được 8.776 vụ.

d/ Năm 2002 Các Tòa án nhân dân đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 12.690 vụ và đã giải quyết được 9.058 vụ; trong đó các Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý 12.299 vụ và đã giải quyết được 8.776 vụ. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm 2.074 vụ và đã giải quyết được 1.725 vụ.

So với số liệu các vụ án dân sự khác mà Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao đã thống kê trong năm 2003 thì thấy rằng:

Năm 2002 các Tòa án đã thụ lý để giải quyết theo trình tự sơ thẩm 64.311 vụ án dân sự nói chung và đã giải quyết được 48.109 vụ.

Trong tổng số các vụ án dân sự nói trên thì có 12.690 vụ tranh chấp về nhà, đất chiếm tỉ lệ 19,7%. Trong số 48.109 vụ đã được giải quyết có 9.058 vụ tranh chấp về nhà, đất chiếm tỉ lệ 18,8%.

Số liệu thống kê nói trên chỉ có tính chất tương đối, vì trong biểu mẫu thống kê không có sự bóc tách rõ ràng, ví dụ: trong án ly hôn và thừa kế chỉ có mục chung là tài sản, không có đề mục thể hiện rõ có bao nhiêu vụ có sự phân chia tài sản là nhà đất… Dù vậy, qua các số liệu thống kê nói trên cũng cho chúng ta thấy:

+ Các tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất có xu hướng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước và phức tạp về tính chất, mức độ, loại tranh chấp.

+ Tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất xảy ra ở tất cả các vùng, các địa phương trong cả nước; có nơi, có lúc đã trở thành điểm nóng.

+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất tất cả các loại đất (đất ở, đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp…).

+ Nhiều chủ thể tham gia tranh chấp nhà, đất (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, doanh nghiệp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…), trong đó có những chủ thể không cùng cư trú ở một địa phương mà ở nhiều địa phương khác nhau (ở các thành phố về nông thôn, miền núi để chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ các tỉnh về thành phố mua nhà, đất…).

+ Các tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất có tính chất gay gắt, kéo dài, khó thương lượng, hòa giải giữa các đương sự.

3. Nguyên nhân của các tranh chấp

a) Nguyên nhân khách quan:

a1. Do hoàn cảnh lịch sử để lại, tình hình nhà, đất ở các vùng trong cả nước trải qua nhiều thời kỳ lịch sử diễn biến phức tạp, có nơi xáo trộn lớn.

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách quan trọng về nhà, đất. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải quyết. Có những vấn đề mới phát sinh khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng Nhà nước chưa làm tốt chức năng quản lý trong lĩnh vực nhà, đất; có những vấn đề tồn tại từ nhiều năm được xem như hậu quả của cách quản lý, chính sách của các thời kỳ trước đây mà chưa kịp thời khắc phục.

a2. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường nhà, đất thực sự có giá trị. Ở góc độ kinh tế nhà, đất được coi như một loại hàng hóa trên thị trường, được mang ra mua bán, trao đổi theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại không được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài, nên Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có hiệu quả.

Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho mượn, cho thuê, bị quốc hữu hóa… hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây, chính quyền địa phương đã giao đất không có văn bản hoặc văn bản không rõ ràng cho người khác sử dụng ổn định.

b) Nguyên nhân chủ quan:

b1. Do từ trước đến nay có nhiều văn bản pháp luật về nhà, đất chưa phù hợp với thực tế cuộc sống, dẫn đến pháp luật về nhà, đất ở nước ta không ổn định, thường xuyên thay đổi nên chưa phát huy được hiệu quả điều chỉnh như mong muốn, làm cho các quan hệ xã hội có liên quan đến nhà, đất cũng bất ổn định theo, có những văn bản mới được ban hành phải sửa đổi, bổ sung vì không phù hợp với đời sống xã hội của đất nước cũng như xu thế phát triển. Nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau.

Trong quá trình thực hiện pháp luật về đất đai giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan tư pháp còn có sự hiểu, vận dụng khác nhau do các quy định trong Bộ luật dân sự, Luật đất đai và văn bản dưới luật khác còn có điểm chưa hợp lý, thiếu nhất quán hoặc chưa cụ thể, thiếu sự giải thích, hướng dẫn kịp thời của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Một trong những tồn tại lớn nhất của các văn bản pháp luật về nhà, đất là khi có các thay đổi lớn về chính sách pháp luật, ví dụ: từ chỗ công dân có quyền sở hữu đất, có quyền mua bán đất, sau khi có Hiến pháp 1980, đất thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước cấm công dân mua bán đất, khi Hiến pháp 1992 có hiệu lực công dân lại có quyền chuyển nhượng. Mỗi lần có thay đổi lớn như vậy, Nhà nước ta thiếu các quy định cụ thể về các thời kỳ quá độ chuyển tiếp giữa các thời điểm ban hành văn bản pháp luật mới và các quan hệ xã hội được xác lập theo các quy định của các văn bản pháp luật cũ, do đó gây ra lỗ hổng lớn về pháp luật, gây ra sự mâu thuẫn, tranh chấp. Các cơ quan chức năng thiếu căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp. Ví dụ: nhiều giao dịch có liên quan đến quyền sử dụng đất đai phát sinh trước ngày có luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, nhưng sau ngày các Luật này có hiệu lực mới phát sinh tranh chấp, do không có các quy định thật rõ ràng nên các cơ quan chức năng áp dụng các quy định của Luật mới hoặc có nơi áp dụng pháp luật ở thời điểm giao dịch… để giải quyết, từ đó gây nên sự bất ổn định trong xã hội.

b2. Sự yếu kém của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý nhà, quản lý đất đai, cấp đất, giao đất, thu hồi đất, trong việc quy hoạch đất đai, công tác địa chính, xây dựng bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý, theo dõi việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xử lý các vi phạm pháp luật đất đai, giải quyết tranh chấp, khiếu kiện.

Sau khi có Hiến pháp năm 1980, Nhà nước cấm công dân mua bán đất và cho đến nay Nhà nước cho phép chuyển nhượng… quyền sử dụng đất, với điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1993, nhưng cơ quan có thẩm quyền chậm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dù không có giấy chứng nhận công dân vẫn chuyển nhượng… quyền sử dụng đất, dẫn đến tranh chấp gay gắt, khó giải quyết. Cũng có không ít trường hợp vì lợi ích cục bộ hoặc vì động cơ tư lợi mà một số cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật đất đai như: cấp đất sai thẩm quyền, “bán” đất trái phép hoặc vì không nắm vững các quy định của Luật đất đai nên cho phép hoặc làm ngơ để cho các cá nhân, tổ chức chuyển nhượng quyền sử dụng đất tràn lan không đúng pháp luật. Dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất không chấp nhận việc chuyển nhượng đó, các bên chuyển nhượng đất bất hợp pháp sẽ đòi lại tiền, đòi lại đất dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện và việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là rất phức tạp.

b3. Nhà nước chưa có chủ trương nhất quán về việc giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất trong các trường hợp cho ở nhờ, mượn đất, thuê đất, đất được giao khi tập đoàn giải thể… Có nơi Ủy ban nhân dân có thẩm quyền không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của chủ cũ và cũng không xem xét đến việc có buộc người đang sử dụng đất bồi thường thiệt hại về đất cho chủ cũ hay không, ngược lại có nơi cho bồi thường thành quả lao động, nhưng đối tượng phải bồi thường lại quy định không đúng (ví dụ: tập đoàn giao đất cho ông A, ông A đã bán qua tay nhiều người, nay anh C đang sử dụng đất, chủ cũ đòi lại đất, địa phương quy định cho C phải bồi thường thành quả lao động cho chủ đất cũ), sau đó chủ cũ lại khởi kiện ra Tòa dân sự đòi người đang sử dụng đất phải bồi thường thành quả, hoa màu, giá trị sử dụng đất.

b4. Nhà nước chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho việc nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam, để nó hình thành tự phát nên đã gây nhiều hậu quả tiêu cực. Nhà nước không quản lý được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thất thu thuế, không xử lý kịp thời tình trạng đầu cơ đất.

b5. Duy trì quá lâu và chậm sửa đổi các quy định về khung giá các loại đất, việc định giá đất còn có sự chênh lệch lớn, không sát với giá trị thực tế của đất đai trên thị trường chuyển nhượng, gây nên tình trạng khiếu nại, tranh chấp về giá chuyển nhượng, đền bù, bồi thường, thanh toán giá trị khi chia đất…

b6. Ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Một số người vẫn giữ quan niệm cũ về sở hữu đất đai, cho rằng mình là chủ sở hữu đất của ông, cha, dòng họ… và đòi lại đất của ông, cha, dòng họ để lại. Một số người lại cố tình vi phạm pháp luật về đất đai như: lấn chiếm đất công, chuyển nhượng trái phép đất đai để kiếm lời, vi phạm này diễn ra ở nhiều nơi trong thời gian dài nhưng không được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh, dẫn đến vừa qua Nhà nước đã có những quy định chấp nhận việc đã rồi, chấp nhận thực tế để giữ ổn định.

4. Một số trường hợp sai sót và vướng mắc khi giải quyết tranh chấp liên quan quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

– Tài sản chung của vợ chồng là nhà và quyền sử dụng đất nhưng một bên định đoạt không có sự đồng ý của bên kia, nhưng có Tòa án lại công nhận một phần hợp đồng, có bản án hủy toàn bộ hợp đồng mua bán.

– Nhà, đất là của đồng sở hữu, đồng thừa kế một bên đứng bán, có trường hợp Tòa án công nhận toàn một hợp đồng hoặc một phần hợp đồng là hợp pháp, có trường hợp hủy toàn bộ hợp đồng.

Cả hai trường hợp nêu trên áp dụng điều luật nào trong các điều quy định về hợp đồng vô hiệu trong Bộ luật dân sự (BLDS); có ý kiến cho rằng một trong số các đồng sở hữu định đoạt tài sản chung mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu là vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, phải áp dụng Điều 137 BLDS và nếu áp dụng điều luật này là đúng thì có nhiều điểm bất hợp lý. Vì vậy, có ý kiến cho rằng trường hợp nói trên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không áp dụng Điều 137 BLDS, nhưng những người theo quan điểm này cũng chưa chỉ ra được áp dụng điều nào trong BLDS.

– Hai bên mua bán nhà hoặc quyền sử dụng đất (đã có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật) được thể hiện bằng văn bản nhưng chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc mới chỉ có xác nhận của chính quyền xã, phường, hoặc đã nộp thuế trước bạ nhưng chưa có công chứng, có trường hợp có công chứng nhưng chưa sang tên quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất thì xảy ra tranh chấp, khi nào được phép công nhận hợp đồng, khi nào không được phép công nhận hợp đồng. Hiện nay, các Tòa án giải quyết chưa thống nhất và quan điểm giữa các thẩm phán, luật sư và cơ quan chức năng nhiều khi rất khác nhau.

– Trường hợp các bên mua bán đất từ những năm 80 hoặc những năm 90 nhưng khi hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng đất đó, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên mua đã làm nhà cấp 4 hay nhà cao tầng, quá trình tranh chấp kéo dài nay một bên kiện hợp đồng mua bán đất mà xử hủy hợp đồng vô hiệu như Thông tư liên tịch số 01 năm 2002 là gặp rất nhiều bất hợp lý.

– Đối với trường hợp khi ký kết hợp đồng mua bán nhà, đất các bên có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nhưng khi thực hiện hợp đồng các bên lại thanh toán trong hợp đồng mua bán nhà bằng tiền ngoại tệ, hiện nay có hai quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, hợp đồng mua bán nhà nêu trên vi phạm vào điều cấm của pháp luật nên vô hiệu, nhưng cũng có quan điểm cho rằng, việc thanh toán bằng ngoại tệ là vi phạm các quy định về quản lý ngoại hối, nhưng ở giai đoạn thực hiện hợp đồng nên không nhất thiết phải hủy hợp đồng mua bán nêu trên, mà chỉ cần buộc các bên phải thực hiện lại giai đoạn thực hiện hợp đồng.

– Trường hợp Việt kiều về nước mua bán nhà, đất (họ không thuộc đối tượng Nghị định của Chính phủ cho phép) hoặc Việt kiều kết hôn bất hợp pháp với người Việt Nam ở trong nước và họ bỏ tiền ra mua bán nhà, đất hoặc mua đất để xây dựng nhà. Khi xảy ra tranh chấp thì giải quyết như thế nào? Có chia cho họ nhà đất không? Khi Tòa án hủy hôn nhân bất hợp pháp? Là một trong những vấn đề vướng mắc và lúng túng trong xét xử hiện nay.

– Trường hợp tặng cho có điều kiện. Trên thực tế có trường hợp chủ sở hữu tặng cho người khác nhà, đất nhưng với điều kiện người được tặng, cho phải làm một công việc nào đó (ví dụ như nuôi dưỡng chủ sở hữu hoặc một người khác đến khi chết và chịu trách nhiệm thờ cúng…), nhưng người được tặng đã không thực hiện điều kiện này một cách trọn vẹn nên chủ sở hữu, người có quyền sử dụng yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng tặng cho, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về vấn đề này.

– Một bên thuê nhà của nhà nước đã chuyển nhượng quyền thuê nhà cho người khác, nhưng không có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền thì giải quyết thế nào? Hiện các thẩm phán xét xử có quan điểm rất khác nhau.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

1. Mặt tích cực

Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết được một số lượng lớn các vụ tranh chấp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Thông qua việc giải quyết các vụ tranh chấp, Tòa án đã góp phần quan trọng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền lợi của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người sở hữu nhà, sử dụng đất hợp pháp; góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế của đất nước.

2. Mặt tồn tại

Trong một số trường hợp đường lối giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa cấp Tòa án còn khác nhau, chưa bảo đảm nguyên tắc áp dụng thống nhất pháp luật, tỉ lệ số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị, bị hủy, cải sửa còn khá cao. Nhiều vụ còn phải xử đi xử lại nhiều lần, nên chưa bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chưa được dư luận xã hội đồng tình.

Nguyên nhân của tình trạng trên bao gồm:

– Một bộ phận đội ngũ cán bộ xét xử còn hạn chế về năng lực.

– Pháp luật đất đai của nước ta thường xuyên thay đổi, thiếu nhiều quy định cụ thể, văn bản dưới luật rất nhiều nhưng tản mạn, còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau như đã phân tích ở trên.

– Việc quản lý hồ sơ về nhà, đất của các cơ quan chức năng rất lỏng lẻo, thiếu chính xác, có trường hợp cung cấp thông tin không đầy đủ, có trường hợp mỗi lúc cung cấp thông tin cho Tòa án một khác, dẫn đến Tòa án ra phán quyết khác nhau.

– Bộ luật dân sự quy định về vấn đề quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đai chưa phù hợp với thực tiễn hoặc không thống nhất đối với các ngành luật khác, có vấn đề phát sinh tranh chấp mà vẫn không có điều luật điều chỉnh (ví dụ: vấn đề cầm cố nhà, đất hoặc bán quyền thuê nhà, đất…).

– Một số điều luật quy định trong Bộ luật dân sự, khi áp dụng vào thực tiễn còn nhiều bất cập, còn nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chưa được các ngành có liên quan hướng dẫn kịp thời (ví dụ: cách xác định trường hợp nào được coi là nhà nước “giao đất”, trường hợp nào bị coi giao đất không hợp pháp… vấn đề giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu như thế nào cho phù hợp với thực tiễn…).

– Các cơ quan có trách nhiệm ở Trung ương chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai, chậm sửa đổi, bổ sung các văn bản không còn phù hợp, gây khó khăn cho các Tòa án áp dụng pháp luật khi xét xử các vụ tranh chấp.

III. KIẾN NGHỊ NHỮNG BIỆN PP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ N, ĐẤT

1. Hoàn thiện Bộ luật dân sự

– Sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự phải dựa trên cơ sở Hiến pháp 1992 và quán triệt Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.

– Sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự phải dựa trên sự đòi hỏi của thực tế cuộc sống xã hội hiện tại và dự báo của thay đổi trong tương lai.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và Việt Nam đã tham gia và sẽ tham gia nhiều điều ước Quốc tế đa phương và song phương, chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự phải phù hợp với xu thế chung của pháp luật thế giới và đồng thời chúng ta gìn giữ và tiếp tục phát huy những phong tục tập quán và truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta đã hình thành từ lâu đời, phù hợp với cuộc sống của nhân dân.

– Sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự theo hướng là Bộ luật gốc điều chỉnh các quan hệ xã hội, có như vậy mới góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật dân sự, luật đất đai, luật kinh tế, luật thương mại một cách hài hòa, tránh trường hợp chồng chéo hoặc tạo ra những khoảng trống không có luật điều chỉnh, không thống nhất giữa các ngành luật.

– Sửa đổi, bổ sung các điều luật điều chỉnh các mối quan hệ được xác lập trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm, tạo ra một sân chơi lành mạnh, bình đẳng cho các chủ thể tham gia vào các giao dịch về nhà, đất. Tránh sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào các giao lưu dân sự, nhất là trong quan hệ hợp đồng dân sự.

– Các điều luật phải cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu, tránh tình trạng mang tính chất chung chung hoặc không rõ ràng, vừa ban hành đã phải có văn bản hướng dẫn.

– Cần cụ thể hơn nữa những quy định về giao dịch liên quan đến nhà, đất trong Bộ luật dân sự, đặc biệt là phần giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, xác định thiệt hại trong hợp đồng mua bán nhà, đất bị vô hiệu…

– Cần bổ sung công nhận án lệ là nguồn của luật dân sự, cho phép các nhà thực thi pháp luật được phép áp dụng án lệ.

Hiện nay, chúng ta không công nhận án lệ nên rất khó áp dụng pháp luật trong thực tế. Vì, các quan hệ phát sinh từ nhà, đất luôn thay đổi và rất sinh động nên pháp luật về nhà, đất phải thường xuyên sửa đổi và hướng dẫn bằng văn bản nhưng mỗi lần sửa đổi và hướng dẫn phải qua nhiều thủ tục rất phức tạp và khó khăn, ví dụ: muốn sửa đổi Luật, Bộ luật phải đợi mỗi kỳ họp Quốc hội hoặc Tòa án tối cao mỗi lần ra văn bản hướng dẫn phải họp rất nhiều chứ chưa nói đến các thông tư liên tịch, nhiều khi các văn bản pháp luật vừa mới ban hành ra rất công phu nhưng đã bị lạc hậu, chưa kể đến sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau giữa các văn bản pháp luật cũ và văn bản pháp luật mới.

2. Hoàn thiện pháp luật đất đai

Việc hoàn thiện pháp luật về đất đai phải quán triệt các quan điểm sau:

– Luật đất đai sửa đổi, bổ sung phải thể hiện rõ nguyên tắc thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị hàng hóa đặc biệt một cách chính thống về luật pháp, việc giao dịch có liên quan đến quyền sử dụng đất thông qua thị trường bất động sản do Nhà nước quản lý và điều tiết. Nhà nước thực hiện quyền năng chủ sở hữu đất đai, quản lý thống nhất đất đai.

Phải xác lập cơ chế quản lý, sử dụng đất đai trên nguyên tắc: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước đại diện chủ sở hữu đất đai, thống nhất quản lý đất đai, giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài phù hợp với quy hoạch, kế hoạch; có cơ chế hữu hiệu bảo đảm quyền sở hữu, quyền định đoạt của Nhà nước bằng pháp luật, chế tài hành chính, kinh tế và cả hình sự.

– Phải xây dựng hệ thống pháp luật về đất đai đồng bộ, hoàn chỉnh, kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản không còn phù hợp, sớm nghiên cứu xây dựng Bộ luật đất đai quy định đầy đủ các chế định pháp lý cần thiết cho việc quản lý, sử dụng, khai thác, chuyển nhượng, xử lý vi phạm, tranh chấp… hạn chế sự tản mạn, chồng chéo của pháp luật về đất đai hiện nay.

– Xây dựng khung pháp lý cần thiết cho việc pháp luật thị trường bất động sản ở Việt Nam, xây dựng trung tâm giao dịch bất động sản, phát triển mạng lưới dịch vụ có liên quan, tăng cường vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước.

– Giải quyết dứt điểm những tồn tại về nhà đất do lịch sử để lại theo phương châm ổn định, hợp lý, bảo đảm hiệu quả sử dụng đất.

– Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về đất đai.

– Cần nghiên cứu để sớm ban hành Bộ luật đất đai.

– Cần có quy định cụ thể hơn việc phân loại đất. Mỗi loại đất cần được phân ra các hạng cụ thể hơn, để có chế độ pháp lý phù hợp.

– Cần xác định lại các trường hợp Nhà nước thu hồi đất phục vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng được ưu tiên hơn các trường hợp thu hồi vì mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cho thuê.

– Bảo đảm nguyên tắc công bằng, thống nhất việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhất là giá bồi thường phải được xác định theo từng thời điểm, sát giá thị trường bảo đảm quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất hợp pháp thu hồi đất.

– Củng cố, nâng cao năng lực Tòa án hành chính giải quyết các khiếu kiện hành chính có liên quan đến việc quản lý đất đai, cần sớm sửa đổi Luật khiếu nại, tố cáo, đơn giản hóa các thủ tục để người dân dễ dàng đến Tòa án.

– Cần có sự thay đổi cách quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo hướng dù đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa được cấp giấy, khi có tranh chấp quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

– Đẩy nhanh tốc độ và sớm hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

– Đề nghị Chính phủ quy định về khung giá các loại đất cho phù hợp với điều kiện hiện nay. Cho phép thành lập các trung tâm định giá nhà đất ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giúp các cơ quan Nhà nước xác định giá các loại đất theo từng thời gian, từng vùng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ  4/2003

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

THS.  NGUYỄN THỊ THỦY –  Khoa luật thương mại trường ĐH luật TP.HCM

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), theo đó, bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm còn DNBH tiến hành trả tiền bảo hiểm cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (BHTNDSCXCG) là hoạt động bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngưới thứ ba và hành khách trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách. Theo quy định của pháp luật, các chủ xe cơ giới là những chủ thể sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ, có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản đối với người thứ ba. Tuy nhiên, trên thực tế, những chủ xe này có thể không có đủ khả năng về tài chính để bồi thường cho những thiệt hại mà mình đã gây ra, vì vậy, pháp luật buộc các chủ thể này phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự. BHTNDSCXCG thực chất là sự chia sẻ trách nhiệm tài chính giữa doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm, cụ thể nếu bên mua bảo hiểm có lỗi gây thiệt hại đối với người thứ ba buộc phải bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ gánh đỡ một phần trách nhiệm tài chính mà bên mua bảo hiểm đã gây ra.

Mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25/2/2003 về việc ban hành quy tắc, biểu phí và mức bảo hiểm bắt buộc đối với trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Bài viết này xin giới thiệu một số vấn đề pháp lý cơ bản về loại hình bảo hiểm này, đồng thời, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về BHTNDSCXCG.

1. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về BHTNDSCXCG

* Đối tượng và phạm vi áp dụng: Theo quy định của pháp luật, đối tượng mua BHTNDSCXCG là chủ xe cơ giới kể cả chủ xe là người nước ngoài sử dụng xe cơ giới trên lãnh thổ nước CHXHCNVN. Phạm vi áp dụng của loại hình bảo hiểm này bao gồm:

– Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xe cơ giới gây ra thiệt hại về người và tài sản đối với người thứ ba;

– BHTNDSCXCG đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách.

Như vậy, theo quy định trên đây, người được hưởng số tiền bảo hiểm không phải là bên mua bảo hiểm mà là người bị bên mua bảo hiểm gây thiệt hại. Chính vì vậy, một nguyên tắc được đặt ra là, nếu bên bị thiệt hại không kiện đòi bên mua bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại thì trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm không phát sinh. Có hai trường hợp mà DNBH tiến hành bảo hiểm đó là thiệt hại do chủ xe cơ giới gây ra đối với người thứ ba (không phải là hành khách trên chính chiếc xe đó) và thiệt hại đối với những hành khách trên chính chiếc xe của chủ xe cơ giới theo hợp đồng vận chuyển hành khách.

* Mức trách nhiệm bảo hiểm: Trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thanh toán cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới phải bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự về những thiệt hại đã xảy ra đối với người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách do việc sử dụng xe cơ giới gây ra gồm:

– Đối với thiệt hại về người: Bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, bồi dưỡng chăm sóc người bị hại trước khi chết, mai táng phí hợp lý… theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

– Đối với thiệt hại về tài sản: Bồi thường thiệt hại thực tế theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

– Chi phí hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan đến vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra.

Tổng các khoản bồi thường và chi phí nêu trên không được vượt quá mức trách nhiệm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm và không vượt quá số tiền thực tế mà chủ xe cơ giới bồi thường cho nạn nhân theo hòa giải dân sự hoặc quyết định của tòa án.

Theo quy định trên đây, DNBH chỉ phải trả tiền bảo hiểm cho người bị thiệt hại trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm được các bên thỏa thuận và ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm. Số tiền này được xác định theo từng vụ tai nạn mà xe cơ giới gây ra. Theo quy định tại QĐ 23/2003/QĐ-BTC thì mức bảo hiểm tối đa cho mỗi vụ tai nạn là về người 30triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách), về tài sản là 30 triệu đồng/ vụ (đối với người thứ ba). Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận với chủ xe để bảo hiểm theo biểu phí và mức trách nhiệm cao hơn (1) (Điều 4 QĐ23/2002/QĐ-BTC). Như vậy, nếu chủ xe cơ giới gây thiệt hại cho chính hành khách trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải trả tiền bảo hiểm cho những thiệt hại về người mà không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại về tài sản.

Trường hợp thiệt hại thực tế xảy ra lớn hơn số tiền bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm (người gây ra thiệt hại) sẽ phải trả cho bên bị thiệt hại số tiền chênh lệch giữa thiệt hại thực tế và số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả. Chẳng hạn, thiệt hại về tài sản mà bên mua bảo hiểm gây ra là 40 triệu đồng/vụ thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường tối đa là 30 triệu, bên mua bảo hiểm sẽ phải trả cho bên bị thiệt hại 10 triệu đồng còn lại. Nếu chủ xe cơ giới tham gia từ hai hợp đồng bảo hiểm trở lên cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính trên một hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm cấp hợp đồng đầu tiên có trách nhiệm giải quyết bồi thường và thu hồi số tiền bồi thường chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm.

Trong BHTNDSCXCG, trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được xác định theo từng vụ tai nạn. Cụ thể, trong thời hạn bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm gây ra bao nhiêu vụ tai nạn thuộc trường hợp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Vấn đề đặt ra ở đây là pháp luật có buộc người gây ra tai nạn phải là bên mua bảo hiểm (chủ xe cơ giới) thì doanh nghiệp bảo hiểm mới chi trả bảo hiểm hay không? Chúng ta phải hiểu rằng khi giải quyết bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cần xem xét, có phải chính chiếc xe đã mua bảo hiểm gây ra tai nạn hay không? Tai nạn xảy ra có nằm trong phạm vi bảo hiểm hay không? Còn ai là người gây ra tai nạn không phải là căn cứ để giải quyết bồi thường. Ví dụ: A đã mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chiếc xe của mình sau đó A cho bạn của mình là B mượn xe, trong quá trình lưu thông B đã gây tai nạn cho C. Trong trường hợp trên đây, nếu việc gây tai nạn của B không nằm trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho A để A tiến hành bồi thường cho C. Hay nói một cách khác, trong trường hợp trên đây A phải bồi thường cho C theo trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu chiếc xe, sau đó A có quyền đòi doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong giấy chứng nhận bảo hiểm.

* Phạm vi bảo hiểm: Trên thực tế, có nhiều ý kiến cho rằng, nếu thiệt hại gây ra do lỗi của chủ xe cơ giới thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm. Quan điểm này là không chính xác vì BHTNDSCXCG là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ thể mua bảo hiểm đối với người thứ ba. Trách nhiệm này phát sinh khi người mua bảo hiểm có lỗi gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Như vậy, về nguyên tắc, nếu thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm và tránh tình trạng trục lợi bất hợp pháp, pháp luật đã đưa ra những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.

Theo quy định tại Điều 11 QĐ 23/2003/QĐ-BTC (QĐ 23) thì doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra trong các trường hợp sau:

– Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe /lái xe, hoặc của người bị thiệt hại;

– Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường (đối với loại xe yêu cầu phải có);

– Lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ (đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có giấy phép lái xe), lái xe có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá quy định của pháp luật hiện hành, khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng;

– Xe sử dụng để đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa (trừ khi có thỏa thuận khác);

– Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm;

– Thiệt hại có tính chất gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại;

– Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn;

– Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự như chiến tranh;

– Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

Như vậy, loại trừ những trường hợp trên đây thì những thiệt hại còn lại mà bên mua bảo hiểm gây ra cho bên bị thiệt hại, doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành bồi thường là dựa vào yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bên bị thiệt hại đối với bên mua bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm. Về thực chất, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho bên mua bảo hiểm là của bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, trên thực tế, bên mua bảo hiểm có thể tiến hành bồi thường cho người bị thiệt hại trước, sau đó hoàn tất hồ sơ để yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.

BHTNDSCXCG có thể được coi như một sự bảo lãnh về mặt tài chính (trong phạm vi số tiền bảo hiểm) của doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm đối với những thiệt hại mà bên này gây ra cho người thứ ba, chính vì vậy mà luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Trong trường hợp người được bảo hiểm phải đóng tiền bảo lãnh hoặc ký quỹ để đảm bảo cho tài sản không bị lưu giữ hoặc để tránh việc khởi kiện tại tòa án thì theo yêu cầu của người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện việc bảo lãnh hoặc ký quỹ trong phạm vi số tiền bảo hiểm”(khoản 4 Điều 55 Luật Kinh doanh bảo hiểm).

* Hiệu lực bảo hiểm: Hiệu lực bảo hiểm được hiểu là khoảng thời gian làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Cụ thể trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm gây thiệt hại về người, tài sản (đối với người thứ ba) và thiệt hại về tài sản (đối với hành khách vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách) nếu trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì doanh nghiệp phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Theo quy định tại Quyết định 23 thì “Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo quy định ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm”. Giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Nếu không có thỏa thuận gì khác thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm. Luật kinh doanh bảo hiểm quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng (2) (điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Như vậy, hiệu lực của giấy chứng nhận bảo hiểm phát sinh khi hai bên tiến hành giao kết hợp đồng (tức khi bên mua bảo hiểm đóng đủ phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm) nếu các bên không có thỏa thuận gì khác. Trong suốt thời gian bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải giữ giấy chứng nhận bảo hiểm để làm căn cứ pháp lý yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm. Trường hợp tai nạn xảy ra ngoài thời hạn bảo hiểm thì trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phát sinh.

Trường hợp giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe mà chủ xe cơ giới không yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến chiếc xe được bảo hiểm vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới. Tóm lại: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể gánh bớt phần nào tổn thất mà bên mua bảo hiểm gây ra cho người bị thiệt hại. Mục đích của loại hình bảo hiểm này là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại trong một giới hạn nhất định nhưng đồng thời cũng giúp cho bên mua bảo hiểm chia sẻ phần nào tổn thất mà họ gây ra.

2. Một số kiến nghị

Mặc dù, Quyết định 23 ra đời đã cụ thể hóa những quy định về loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong luật kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, một số quy định trong Quyết định 23 đã bộc lộ những bất cập và thiếu tính khả thi trong quá trình thực hiện. Để hoạt động Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thực sự là công cụ bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người bị thiệt hại và góp phần đảm bảo sự lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chúng tôi xin có một số kiến nghị sau:

*Thứ nhất: Về trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc cung cấp thông tin:

Tại điểm a khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định “doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm”. Trên thực tế, quan hệ giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm là hai bên ký kết một hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế trên  cơ sở đôi bên đều bình đẳng. Khi cấp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp những thông tin cần thiết về loại xe, tình trạng xe, mục đích sử dụng… còn bên mua bảo hiểm cũng cần phải biết các thông tin liên quan đến loại hình bảo hiểm mình mua. Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm cung cấp những thông tin không chính xác hoặc sai sự thật về đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm được quyền từ chối chi trả bảo hiểm. Nhưng ngược lại, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không cung cấp những thông tin cần thiết cho bên mua bảo hiểm hoặc cung cấp không chính xác làm bên mua bảo hiểm hiểu sai về quyền lợi bảo hiểm của họ thì xử lý như thế nào, điều này chưa hề được quy định trong các văn bản pháp luật về bảo hiểm nói chung cũng như Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới nói riêng. Đây là một thiếu sót cần phải khắc phục, vì hoạt động kinh doanh bảo hiểm là tương đối mới mẻ tại Việt Nam, sự hiểu biết của người dân về lĩnh vực này chưa cao. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị Bộ Tài chính nên có quy định cụ thể về trường hợp nếu doanh nghiệp bảo hiểm không cung cấp những thông tin hoặc cung cấp thông tin không chính xác cho bên mua bảo hiểm gây thiệt hại thì có trách nhiệm bồi thường và vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nếu nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là do bên mua bảo hiểm không được cung cấp những thông tin cần thiết từ phía doanh nghiệp bảo hiểm.

* Thứ hai: Về hồ sơ yêu cầu bồi thường: Theo quy định tại Điều 20 Quyết định 23 thì hồ sơ yêu cầu bồi thường phải bao gồm các giấy tờ sau:

– Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường (theo mẫu đính kèm).

– Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người như Giấy chứng thương của nạn nhân, Giấy ra viện, Phiếu mổ và các giấy tờ liên quan đến chi phí chăm sóc, cứu chữa, Giấy chứng tử của nạn nhân, các chứng từ điều trị, chi phí mai táng.

– Các giấy tờ chứng minh thiệt hại tài sản như hóa đơn sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại do tai nạn; các giấy tờ chứng minh những chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ xe đã chi ra để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.

– Bản kết luận điều tra tai nạn của công an, trong trường hợp không có bản kết luận điều tra tai nạn của công an, việc bồi thường sẽ căn cứ vào biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm.

Như vậy, muốn được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải có đủ các giấy tờ trên. Theo chúng tôi quy định trên đây là thiếu tính khả thi, cụ thể, trong các giấy tờ trên đây thì bên mua bảo hiểm muốn có được bản kết luận điều tra tai nạn của công an hoặc biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm là rất khó khăn. Thông thường, khi tai nạn xảy ra (nếu không dẫn đến hậu quả chết người), hiện trường phải được giải phóng ngay để tránh ùn tắc giao thông. Trên thực tế không phải bất kỳ vụ tai nạn nào cũng đều có kết luận điều tra của công an mà thường chỉ những vụ tai nạn nào gây hậu quả nghiêm trọng về người hoặc tài sản mới có. Trường hợp không có bản kết luận điều tra thì bên mua bảo hiểm phải giữ hiện trường để chờ doanh nghiệp bảo hiểm đến giám định cũng là điều khó thực hiện. Chính vì quy định không thực tế trên đây, trong nhiều trường hợp bên mua bảo hiểm đã phải tự bỏ tiền túi ra bồi thường mà không thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chia sẻ bớt tổn thất cho mình. Từ bất cập trên đây, chúng tôi xin kiến nghị, thay vì yêu cầu phải có biên bản kết luận điều tra tai nạn của công an hoặc bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm, trong một số trường hợp, pháp luật nên cho phép bên mua bảo hiểm lập một giấy xác nhận tai nạn xảy ra, có chữ ký của bên bị thiệt hại và người làm chứng. Quy định như vậy vừa bảo vệ được quyền lợi của bên mua bảo hiểm lại tránh được tình trạng ùn tắc giao thông khi phải giữ hiện trường chờ công an hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đến giải quyết.

* Thứ ba: Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc chi trả bảo hiểm: Theo quy định của pháp luật thì cơ sở pháp lý để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm là đơn bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm cấp cho bên mua bảo hiểm. Thực chất đơn bảo hiểm là một cam kết chi trả tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm giải quyết. Chẳng hạn, khi xảy ra tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm phải cử người đến hiện trường, nhận những giấy tờ cần thiết từ bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, trên thực tế, khi xảy ra tai nạn, bên mua bảo hiểm phải đến doanh nghiệp bảo hiểm xin giải quyết bồi thường và để được bồi thường cũng rất khó khăn do phải có đủ những giấy tờ khá nhiêu khê (như đã phân tích ở trên). Vì vậy, theo chúng tôi, Bộ Tài chính nên quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc giải quyết bồi thường. Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ đến hiện trường theo thông báo của bên mua bảo hiểm, phải phối hợp với bên mua bảo hiểm hoàn tất những giấy tờ cần thiết để giải quyết bồi thường. Chứ không phải quy định chung chung như hiện nay “Nếu xét thấy cần thiết…”(3) (Khoản 2 Điều 8 QĐ 23). Quy định này là hoàn toàn phù hợp vì doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm thì phải có trách nhiệm giải quyết bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

* Thứ tư: Cần quy định rõ những thủ tục cần thiết nếu bên bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường. Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, tuy nhiên, nếu thiệt hại xảy ra trong phạm vi số tiền bảo hiểm thì bên bị thiệt hại có thể trực tiếp đòi doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay không? Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật kinh doanh bảo hiểm thì “Người thứ ba không có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Thiết nghĩ, quy định trên đây cần phải xem xét lại, theo chúng tôi, nếu thiệt hại xảy ra trong phạm vi số tiền bảo hiểm, pháp luật nên cho phép bên bị thiệt hại trực tiếp đòi bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở chuyển quyền khiếu nại của bên mua bảo hiểm. Quy định như trên sẽ bảo vệ được quyền lợi của bên bị thiệt hại, vì việc đòi bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đảm bảo và nhanh chóng hơn từ người gây ra thiệt hại (bên mua bảo hiểm) do doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng về tài chính, phải đảm bảo uy tín của mình trong kinh doanh. Vì lý do trên đây, theo chúng tôi pháp luật nên quy định cụ thể, trong trường hợp bên bị thiệt hại trực tiếp đòi bồi thường từ phía doanh nghiệp bảo hiểm thì cần phải có những giấy tờ nào, thủ tục cụ thể ra sao? Quy định này là cần thiết vì Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thực chất là bảo vệ quyền lợi về mặt tài chính cho những chủ thể bị bên mua bảo hiểm gây ra thiệt hại.

* Thứ năm: Cần sớm ban hành văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thông qua ngày

22 tháng 12 năm 2000 và có hiệu lực ngày 1/4/2001, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Sự chậm trễ này đã dẫn đến tình trạng, có những vi phạm pháp luật bảo hiểm thương mại không được xử lý trên thực tế do chưa có văn bản quy định cụ thể. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm thương mại và thiết lập kỷ cương của Nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cần ban hành ngay văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này. Trong văn bản xử phạt cần quy định rõ những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại, cách thức xử lý cụ thể trong trường hợp bên mua bảo hiểm cũng như doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm pháp luật về bảo hiểm thương mại. Thực hiện được điều này sẽ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được lành mạnh, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm thương mại.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2003

ĐIỀU KHOẢN GIÁ CẢ và vấn đề giao kết hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

THS. BÙI NGỌC HỒNG  – Khoa Luật Quốc tế – ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh

I. NỘI DUNG ĐIỀU 14 VÀ ĐIỀU 55 CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN

1. Nội dung Điều 14

Điều 14 Công ước Viên quy định (1):

(1) Một đề nghị giao kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều bên xác định được xem là một chào hàng nếu nó đầy đủ và thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của người đề nghị trong trường hợp chào hàng được chấp nhận. Một đề nghị được coi là đầy đủ nếu có nêu rõ hàng hóa và – ngầm định hoặc rõ ràng – xác định hoặc quy định cách thức xác định giá cả và số lượng hàng hóa của hợp đồng.

(2) Một đề nghị không gửi tới một hoặc nhiều bên xác định thì chỉ được xem là lời mời chào hàng, trừ trường hợp bên đưa ra đề nghị đó tuyên bố rõ ràng sẽ chịu ràng buộc trách nhiệm.

Như vậy khoản 1 Điều 14 điều chỉnh một vấn đề hết sức cơ bản trong hợp đồng mua bán – đó là vấn đề chào hàng. Trước hết có thể khẳng định Công ước Viên, thông qua quy định tại khoản 1 Điều 14, đã chọn sử dụng phương thức truyền thống của việc kết lập hợp đồng thông qua mô thức chào hàng – chấp nhận chào hàng. Theo đó, bên chào hàng – thông qua đề nghị giao kết hợp đồng – thể hiện ý định giao kết hợp đồng, đưa ra các điều kiện của giao dịch cho bên được chào hàng. Dựa trên các điều kiện này, bằng quyết định chấp nhận chào hàng, bên được chào hàng kết lập nên hợp đồng với các điều khoản đưa ra trong chào hàng. Trong mô thức này, việc thể hiện ý định giao kết hợp đồng của bên chào hàng trước hết được xác định thông qua các điều kiện đưa ra trong chào hàng. Trong trường hợp được chấp thuận thì các điều kiện trong chào hàng trở thành những điều khoản cốt lõi của hợp đồng. Khoản 1 Điều 14 đã đưa ra các tiêu chí để xác định nội dung chủ yếu cần có của một chào hàng.

Xét trên phương diện thực hiện hợp đồng, chào hàng không chỉ là sự thể hiện ý định giao kết hợp đồng của người đưa ra chào hàng. Chào hàng còn thể hiện các yếu tố cơ bản cần thiết để các bên dựa vào đó thực hiện các nghĩa vụ của mình và qua đó đáp ứng quyền của bên kia2. Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể mà yêu cầu về điều kiện cơ bản của hợp đồng có thể khác nhau. Với hợp đồng mua bán, khoản 1 Điều 14 quy định nội dung chào hàng phải thể hiện tối thiểu ba điều kiện. Đó là: hàng hóa mua bán, số lượng và giá cả. Về giá cả, đó có thể là giá cả cụ thể hoặc phương thức xác định giá cả, được nêu ra rõ ràng hoặc ngầm định trong chào hàng.

Như thế, theo quy định tại khoản 1 Điều 14, bên cạnh những điều kiện khác, một chào hàng bắt buộc phải thể hiện điều kiện về giá cả thì mới được xem là đầy đủ để kết lập nên hợp đồng trong trường hợp chào hàng được chấp nhận.

Tuy nhiên, mệnh đề đảo: “Một chào hàng thiếu điều kiện về giá cả thì việc chấp nhận chào hàng sẽ không kết lập nên hợp đồng” liệu có được chấp nhận hay không? Vấn đề này sẽ được giải quyết sau khi nghiên cứu các quy định tại Điều 55 của Công ước.

2. Nội dung Điều 55 Công ước Viên

Điều 55 quy định3: “Trong trường hợp hợp đồng đã được kết lập có hiệu lực nhưng không đưa ra quy định để xác định giá cả thì, trừ khi có chỉ dẫn ngược lại, các bên trong hợp đồng được xem như đã ngầm định viện dẫn đến giá cả được tính vào thời điểm giao kết hợp đồng áp dụng đối với hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại tương tự của ngành hàng liên quan”.

Việc tìm hiểu quy định tại Điều 55 không thể tách rời quy định tại Điều 14. Trong tương quan đó, có thể thấy Điều 55 giúp xác định phương thức tính giá khi hợp đồng được kết lập giữa các bên được xem là có hiệu lực nhưng bỏ qua không quy định điều kiện về giá cả. Giá cả được tính vào thời điểm giao kết hợp đồng, áp dụng đối với hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại tương tự của ngành hàng liên quan được xem là ngầm định giữa các bên. Tuy nhiên hiệu lực của hợp đồng được xác định dựa trên quy định của luật của quốc gia điều chỉnh vấn đề này trong hợp đồng4.

Quan điểm phổ biến xem Điều 55 của Công ước Viên là quy định để “lấp lỗ hổng” (gap-filling) khi thỏa thuận trong hợp đồng không đề cập đến vấn đề giá cả của hàng hóa5. Quan điểm này tiếp cận quy định tại Điều 55 độc lập với quy định về chào hàng6, xem Điều 55 là quy định nhằm thực hiện hợp đồng (cụ thể là giải quyết vấn đề xác định giá cả khi việc giao kết hợp đồng đã được xem là hợp lệ). Trên phương diện khác, nếu xem sự hiện diện của điều kiện về giá cả trong nội dung của chào hàng (cùng với các điều kiện về hàng hóa và số lượng, theo khoản 1 Điều 14) là một trong những cơ sở quyết định hiệu lực của hợp đồng, thì tương quan giữa quy định của Điều 55 với khoản 1 Điều 14 sẽ không đơn giản như vậy.

3. Mối quan hệ giữa Điều 14 và Điều 55 Công ước Viên

Theo logic của quy định tại Điều 55 Công ước Viên, một hợp đồng có thể được kết lập có hiệu lực mà không cần có thỏa thuận về giá cả. Tuy nhiên, quy định tại Điều 14 có thể dẫn đến suy luận: điều luật này ngầm định rằng một đề nghị giao kết hợp đồng tuy có đầy đủ những điều kiện khác nhưng thiếu điều kiện về giá cả thì sẽ không được xem là một chào hàng hợp lệ7. Vấn đề ở đây là khi một chào hàng như thế (thiếu điều kiện về giá cả) được chấp nhận thì sự chấp nhận đó có làm nên một hợp đồng hay không? Nói cách khác là có sự mâu thuẫn giữa quy định của Điều 14 và Điều 55 hay không? Tùy thuộc vào lập trường của các hệ thống pháp luật khác nhau, vai trò của điều khoản giá cả đối với hiệu lực của hợp đồng được nhìn nhận khác nhau.

Ở những hệ thống pháp luật mà điều kiện về giá cả không bắt buộc đối với hiệu lực của hợp đồng, thì hợp đồng có thể được xem là giao kết hợp lệ dù trong đó các bên không có thỏa thuận nào về giá cả8. Với quan điểm này, quy định tại Điều 55 có chức năng “lấp lỗ hổng”, giúp các bên xác định giá cả để thực hiện hợp đồng trong trường hợp hợp đồng được kết lập không có thỏa thuận về điều này.

Vấn đề chỉ trở nên rắc rối khi câu trả lời đến từ các hệ thống pháp luật xem điều khoản giá cả là một trong những điều khoản bắt buộc đối với hiệu lực của hợp đồng9. Theo quan điểm của các hệ thống pháp luật này, cùng với các điều kiện khác, hợp đồng có những điều khoản cơ bản phải được các bên thỏa thuận thì mới được xem là có hiệu lực pháp luật. Thông thường, điều khoản giá cả là một trong những điều khoản đó. Chào hàng thiếu điều kiện về giá cả, vì thế, sẽ không làm nên một hợp đồng có hiệu lực dù cho người nhận được chào hàng có chấp nhận toàn bộ chào hàng. Các hệ thống pháp luật có cách tiếp cận theo hướng này cho rằng quy định của Điều 55 mâu thuẫn với quy định tại Điều 14 và cần được loại bỏ10.

Điều 14 và Điều 55 thuộc vào số những điều luật gây tranh cãi nhiều nhất trong các phiên họp của ban soạn thảo; và ngay cả đến khi tương quan lực lượng trong hội nghị dẫn đến kết quả là điều luật này được thông qua, vẫn còn những lá phiếu bất đồng11.

Sự khác biệt trong cách hiểu về mối quan hệ giữa các quy định của khoản 1 Điều 14 và Điều 55 Công ước Viên có nguồn gốc sâu xa từ sự khác biệt trong quan điểm của các hệ thống pháp luật khác nhau về vấn đề giao kết hợp đồng12. Cụ thể trong trường hợp này là quy định của pháp luật quốc gia về vai trò của điều kiện giá cả đối với hiệu lực của hợp đồng. Nếu một hợp đồng được xem là kết lập hợp pháp mà không cần có sự hiện diện của điều khoản giá cả, thì sẽ không có mâu thuẫn giữa hai điều luật và ngược lại. Đấy cũng là lời đáp cho câu hỏi: “Một chào hàng thiếu điều kiện về giá cả thì việc chấp nhận chào hàng sẽ không kết lập nên hợp đồng” liệu có được chấp nhận hay không?

Xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa quy định của khoản 1 Điều 14 và quy định của Điều 55 Công ước Viên, quan điểm trong giới nghiên cứu cũng chưa thống nhất. Tựu trung có 2 nhóm quan điểm: nhóm thứ nhất cho rằng có sự mâu thuẫn giữa quy định tại hai điều luật; nhóm thứ hai cho rằng quy định tại Điều 55 không mâu thuẫn, mà có tính bổ sung cho quy định tại khoản 1 Điều 14. Cụ thể, nhóm quan điểm thứ nhất, tiêu biểu là Giáo sư Allan Farnsworth, cho rằng hợp đồng không thể được xem là kết lập có hiệu lực (validly concluded) nếu không dựa trên một chào hàng hợp lệ13. Vì thế việc áp dụng quy định tại Điều 55 tạo ra mâu thuẫn với quy tắc được xác lập tại Điều 14. Nhóm quan điểm thứ hai, tiêu biểu là Giáo sư John O. Honnold, cho rằng theo Điều 55 một hợp đồng có thể có hiệu lực mặc dù không có quy định nào về giá cả, và rằng hai điều luật này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau14. Theo Giáo sư John O. Honnold, ý định giao kết hợp đồng còn có thể được thể hiện qua nhiều yếu tố khác chứ không chỉ giới hạn trong những những điều kiện thể hiện trong chào hàng. Công ước Viên thông qua các quy định tại Điều 14, khoản 3 Điều 8 và khoản 3 Điều 18 đã điều chỉnh vấn đề kết lập hợp đồng trên cả hai khả năng: (i) hợp đồng được kết lập thông qua trao đổi chào hàng và chấp nhận chào hàng (Điều 14); (ii) hợp đồng được kết lập thông qua các diễn tiến khó tách biệt giữa chào hàng và chấp nhận chào hàng. Các diễn tiến này thể hiện thông qua hành vi của các bên hoặc các tập quán, các cách thức quen thuộc mà các bên đã thiết lập trong các giao dịch giữa họ. Nối tiếp và bổ sung nhau, các diễn tiến này dần dần phát triển quan hệ hợp đồng giữa các bên. Điều này được điều chỉnh bởi quy định tại khoản 3 Điều 8 và khoản 3 Điều 18 của Công ước15.

Cách tiếp cận mang tính chính thức hiện nay là của Ủy ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL), tổ chức đã cho ra đời điều ước này. Theo tóm tắt mang tính hướng dẫn của UNCITRAL, quy định tại Điều 55 được hiểu trong tương quan với Điều 14 (1) như sau:16

Điều 55 Hợp đồng với điều khoản giá cả để ngỏ 55A Giá trị ràng buộc của hợp đồng để ngỏ quy định về giá cả;các quan điểm không thống nhất:

55A1 Điều 14 không chấp nhận giá trị ràng buộc đối với chào hàng không hợp lệ

55A2 khẳng định của mục 55A1 chỉ áp dụng khi sự vắng mặt của quy định về giá cả cho thấy rằng các bên không có ý định giao kết hợp đồng

55A3 Khi các bên có ý định giao kết hợp đồng, Điều 55 bổ sung cho hợp đồng

55A31 Thỏa thuận ngầm định về mức giá thông thường đối với hàng hóa của hợp đồng

55A32 Vấn đề: Nếu không có mức giá nói chung, sử dụng quy định tại Điều 9 (các tập quán, thực tiễn thực hiện hợp đồng đã hình thành giữa các bên)

55A4 thuật ngữ “Validly concluded” trong Điều 55 viện dẫn đến luật quốc gia áp dụng để giải quyết vấn đề hiệu lực của hợp đồng.

Đối chiếu với các quan điểm tiêu biểu trong giới nghiên cứu nêu ở trên, có thể nói quan điểm của John O. Honnold gần hơn với giải thích của UNCITRAL về Điều 55.

Xét về bản chất của quan hệ, yếu tố quyết định để xem một hợp đồng đã được xác lập hay chưa là sự thể hiện ý định giao kết hợp đồng của các bên. Vấn đề đặt ra là bằng cách nào xác định yếu tố đó. Khoản 1 Điều 14 đưa ra các tiêu chí để xác định một chào hàng hợp lệ, lấy đó làm một cơ sở quan trọng để xem xét ý định giao kết hợp đồng của bên đưa ra chào hàng. Nhưng cũng trong Công ước Viên, quy định tại các Điều 8, 9 và khoản 3 Điều 18 còn sử dụng các yếu tố khác để giải thích ý định của các bên tham gia vào giao dịch như: hành vi của các bên trong hợp đồng, các tập quán, thói quen mà các bên đã xác lập giữa họ với nhau. Trên góc độ thực tế, quy định trong các khoản 3 Điều 8 và khoản 3 Điều 18 mở ra khả năng giải thích linh hoạt hơn và trong nhiều trường hợp các quy định này tỏ ra hữu hiệu trong việc làm rõ thực chất ý định của các bên trong quan hệ. Ngược lại, cách giải thích ý định của các bên thông qua việc dựa trên các tiêu chí trong chào hàng giúp cụ thể hóa khái niệm chào hàng, khiến cho chào hàng trở thành công cụ định lượng cho yếu tố ý định giao kết hợp đồng của các bên. Dung hòa quan điểm của các truyền thống pháp luật khác nhau, Công ước Viên đã kết hợp cả hai cách quy định này. Trong quá trình thực hiện Công ước Viên, cách giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa Điều 14 và Điều 55 cũng đã được thể hiện phần nào qua các phán quyết giải quyết tranh chấp của trọng tài và tòa án. Thực tiễn này sẽ được khảo sát trong phần dưới đây.

II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 14 VÀ ĐIỀU 55 CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN

Trong phần này, chúng tôi phân tích một số tình huống tương đối điển hình, lấy từ thực tiễn của các tòa án và các trung tâm trọng tài áp dụng Công ước Viên giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giới hạn trong phạm vi các tranh chấp có liên quan đến quy định tại Điều 14 và Điều 55 của Công ước.

Tình huống thứ nhất17:

Nguyên đơn là người bán (Hà Lan), bị đơn là người mua (Thụy Sĩ). Theo hợp đồng, người bán sẽ cung cấp nguyên vật liệu để người mua sản xuất một lượng hàng theo thỏa thuận. Hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả. Sau khi sử dụng hết 10% nguyên liệu thì giao dịch không được thực hiện nữa, người mua trả phần nguyên liệu còn lại cho người bán. Người bán khởi kiện đòi thanh toán cho toàn bộ lượng nguyên liệu đã giao.

Kết quả tòa án đã ra phán quyết buộc người mua thực hiện đúng yêu cầu của người bán. Tòa án, áp dụng quy định của khoản 3 Điều 8 Công ước Viên, giải thích ý định giao kết hợp đồng dựa trên hành vi của các bên sau khi giao kết được xác lập. Theo đó, người mua đã yêu cầu người bán gửi hóa đơn tiền hàng mà không đưa ra một sự hạn định nào, mặc dù người mua đã biết rõ là sẽ không sử dụng hết số nguyên liệu đó. Vì các bên không có thỏa thuận về giá cả, tòa án đã sử dụng quy định tại Điều 55 Công ước Viên để đưa ra mức giá buộc người mua thanh toán cho người bán.

Qua vụ việc trên, chúng ta có thể rút ra rằng: mặc dù không có thỏa thuận về giá cả, nhưng dựa trên xử sự của các bên, cơ quan giải quyết tranh chấp có thể giải thích để xác định sự thể hiện của ý định tham gia giao kết hợp đồng và lấy đó làm cơ sở để xác định sự tồn tại của hợp đồng. Trong trường hợp này, Điều 55 sẽ được áp dụng.

Tình huống thứ hai18:

Nguyên đơn là một công ty của Áo (người mua), bị đơn là một công ty của U-crai-na (người bán). Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh do bị đơn U- crai-na từ chối giao hàng. Bị đơn từ chối bồi thường, nại lý do là hợp đồng chưa được kết lập giữa hai bên.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài đã vận dụng các quy định về nội dung của chào hàng, tại khoản 1 Điều 14 Công ước Viên. Bản telex của bị đơn (người bán) trả lời nguyên đơn xác định hàng hóa và số lượng hàng mua bán theo hợp đồng, nhưng không thể hiện giá cả của hàng hóa. Thay vào đó, bản telex có đề nghị: giá cả của hàng hóa theo hợp đồng sẽ được thỏa thuận 10 ngày trước ngày đầu năm mới. Các bên sau đó đã không đạt được thỏa thuận về giá cả. Người bán báo cho người mua là không thể ký kết hợp đồng đối với lượng hàng hóa đã thỏa thuận. Người mua không đồng ý.

Giải quyết vụ việc, trọng tài căn cứ trên bản telex cho rằng khi một bên đưa ra thời điểm để thỏa thuận về giá cả thì điều đó cho thấy cần có những thỏa thuận tiếp tục trong tương lai, hay nói cách khác hai bên vẫn chưa đạt được sự thống nhất về điều kiện này. Trọng tài giải quyết vụ việc này cũng chỉ ra rằng quy định tại Điều 55 của Công ước Viên không thể được áp dụng trong trường hợp này, vì những gì thể hiện trong bản telex cho thấy các bên đã ngầm định về sự cần thiết phải đạt được thỏa thuận về giá cả trong tương lai.

Từ lập luận đó, căn cứ các quy định tại khoản 1 Điều 14, trọng tài cho rằng hợp đồng chưa được kết lập. Vì thế, trọng tài bác yêu cầu của nguyên đơn.

Qua vụ việc này chúng ta nhận thấy rằng không phải bất cứ hợp đồng nào thiếu quy định về giá cả cũng có thể được áp dụng quy định của Điều 55. Tòa án chỉ tính đến việc áp dụng Điều 55 khi có căn cứ để cho rằng các bên đã bỏ qua không thỏa thuận vấn đề giá cả. Trong trường hợp các bên cần thỏa thuận về một điều kiện nhưng vì lý do nào đó mà chưa đạt được thỏa thuận, thì chúng ta không có quyền kết luận là các bên đã ngầm định về một cách giải quyết nào cả. Thỏa thuận là nguyên tắc tối thượng trong hợp đồng19. Trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận thì, dù vì bất cứ lý do gì, cũng không thể ràng buộc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đối với các bên được. Sự thỏa thuận rằng sẽ tiếp tục đàm phán về điều kiện giá cả, nếu sau đó các bên không thống nhất được cách giải quyết, là yếu tố loại bỏ việc áp dụng quy định tại Điều 55.

III. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT

1. Nhận xét

Từ các phân tích về khoản 1 Điều 14 và Điều 55, kết hợp thực tiễn áp dụng của hai điều luật này, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Nhận thức về nội dung của hai điều luật:

Với các quy định tại khoản 1 Điều 14 và Điều 55, một cách tóm tắt, có thể nói rằng theo Điều 14, chào hàng là một trong những cơ sở để xác định ý định giao kết hợp đồng. Một chào hàng chỉ được coi là hợp lệ khi thể hiện được các điều kiện về hàng hóa, số lượng và giá cả. Một chào hàng hợp lệ khi được chấp nhận sẽ kết lập nên hợp đồng. Tuy nhiên, theo Điều 55, yêu cầu nói trên của Điều 14 chỉ áp dụng trong trường hợp sự thiếu thỏa thuận về giá cả cho thấy các bên không có ý định giao kết hợp đồng. Nói cách khác, khi có cơ sở khẳng định các bên đã thực sự có ý định giao kết hợp đồng thì Điều 55 có thể được áp dụng. Khi đó, giá cả được xem là ngầm định giữa các bên được xác định bằng cách viện dẫn đến giá cả được tính vào thời điểm giao kết hợp đồng, áp dụng đối với hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại tương tự của ngành hàng liên quan. Hiệu lực của hợp đồng được xác định dựa trên quy định của luật quốc gia. Điều này dẫn đến hệ quả là tùy thuộc vào luật quốc gia áp dụng giải quyết vấn đề hiệu lực của hợp đồng, một thỏa thuận mua bán hàng hóa theo Công ước Viên có thể được coi là đã được kết lập và có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý, mặc dù trong thỏa thuận đó không có điều kiện về giá cả.

Hướng tiếp cận của cơ quan giải quyết tranh chấp:

Nghiên cứu các vụ việc trên, người viết đồng tình với quan điểm của Giáo sư Gabuardi về cách tiếp cận của tòa án và trọng tài: “Trong khi không lên tiếng trong cuộc tranh luận của giới học thuật, tòa án đã tiếp cận vấn đề điều khoản giá cả để ngỏ (open-price terms) theo hướng: Điều 14 và Điều 55 giải quyết các vấn đề khác nhau. Điều 14 giải quyết vấn đề điều khoản giá cả để mở vào thời điểm kết lập hợp đồng, trong khi Điều 55 giải quyết vấn đề này khi các bên đã đi vào thực hiện”20.

Các trường hợp áp dụng quy định tại Điều 55:

Khi có căn cứ cho thấy các bên thực sự có ý định ràng buộc khi giao kết hợp đồng nhưng đã bỏ qua không đưa điều kiện giá cả vào trong thỏa thuận giữa họ thì lúc đó Điều 55 có thể sẽ được áp dụng. Về nguyên tắc, việc áp dụng Điều 55 đòi hỏi đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (a) Hợp đồng có hiệu lực và (b) Trong hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả.

Các trường hợp không áp dụng quy định tại Điều 55: Về nguyên tắc, Điều 55 sẽ không được áp dụng khi hợp đồng rơi vào một trong các khả năng:

– Hợp đồng bị xem là chưa được kết lập: Trường hợp sự thiếu vắng của điều kiện giá cả cho thấy có ít nhất một bên không có ý định giao kết hợp đồng. Điều kiện giá cả không phải là đã được bỏ qua mà chỉ là chưa thống nhất được.

– Đã có phương thức xác định giá cả: Đây là trường hợp các bên trong hợp đồng đã thiết lập như một tiền lệ, một thói quen giữa họ về cách xác định giá cả. Mặc dù trong hợp đồng không có quy định về giá cả, nhưng thông qua các giao dịch trước đó các bên đã hình thành một thực tiễn thực hiện điều kiện này. Vì thế, có thể xem rằng các bên đã ngầm định áp dụng giá cả theo cách được xác định trong các giao dịch trước đó21. Có thể nói đây là biểu hiện của trường hợp “có chỉ dẫn ngược lại” trong quy định của Điều 55 Công ước.

– Hợp đồng vô hiệu: Trường hợp này hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả và điều đó khiến hợp đồng bị xem là vô hiệu theo quy định của luật quốc gia được viện dẫn để điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng.

2. Một số đề xuất

Như đã phân tích ở phần trên, trong buôn bán quốc tế vẫn xảy ra những tranh chấp mà nguyên nhân là do nhận thức không đúng về quy định tại các Điều 14 và 55 của Công ước Viên. Ngày nay, khi tỷ lệ hàng hóa được sản xuất theo tiêu chuẩn ngày càng tăng, trong bối cảnh thị trường mở rộng và thông tin thông suốt trên phạm vi quốc tế, người ta ngày càng có xu hướng dựa vào các bản báo giá (price-list) của các công ty. Mặt khác, các tiện ích của phương tiện truyền thông hiện đại cũng hướng đến hỗ trợ cho việc đặt hàng không qua thỏa thuận về giá22. Tất cả những diễn biến này cho thấy rằng khả năng các bên tham gia vào giao dịch mua bán mà không thỏa thuận về điều kiện giá cả là hoàn toàn có thể xảy ra. Những tranh chấp phát sinh trong hoàn cảnh này có thể buộc các bên phải trở lại với các quy định tại Điều 55 và Điều 14 của Công ước. Một số khuyến nghị sau đây có thể là bổ ích đối với doanh nghiệp:

Đưa điều kiện giá cả vào thỏa thuận hợp đồng: Các bên nên dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng thương vụ mà xây dựng thỏa thuận phù hợp về điều kiện giá cả. Ở mức đơn giản nhất cũng nên có quy định về cách thức xác định giá cả. Để tránh các tranh chấp có thể phát sinh từ việc bỏ qua điều khoản giá cả, tổ chức Phát triển luật quốc tế đã đưa ra điều khoản mẫu giúp các bên nhanh chóng đưa thỏa thuận về vấn đề này vào hợp đồng.

Theo đó, điều khoản này có thể rất đơn giản như sau: “Giá của hàng hóa mua bán là giá thị trường tại thời gian và địa điểm giao hàng (hoặc gửi hàng)”23. Một quy định ngắn gọn như vậy đã có thể giúp giải quyết được nhiều vấn đề. Vừa có cách thức xác định giá, vừa đáp ứng yêu cầu về sự linh hoạt theo diễn biến thị trường, hạn chế thiệt thòi quá mức cho một bên khi thị trường biến động đột ngột và như thế giúp hạn chế khả năng phát sinh tranh chấp.

Liên lạc, trao đổi để khẳng định các điều kiện của giao dịch: trong trường hợp nghi ngờ có sự chưa rõ ràng trong ý định của người chào hàng thì nên trao đổi để làm rõ. Một cuộc điện thoại hay vài bức fax có thể giúp giải quyết nhanh chóng vấn đề này, tránh được những rủi ro tiềm tàng do hiểu lầm hoặc sự mập mờ trong các cam kết.

Nhận thức rõ quy định của Công ước Viên về chào hàng có nhiều điểm khác so với quy định pháp luật trong nước: điều kiện của chào hàng đơn giản hơn, hợp đồng có thể được kết lập có hiệu lực mà không nhất thiết phải có điều khoản về giá cả. Đây là điều khác với quy định hiện hành trong pháp luật của ta. Trong thực tế, nhận thức này có ý nghĩa khi hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Viên24.

Ở khía cạnh lập pháp, cũng cần cân nhắc khả năng của hệ thống pháp luật khi quyết định mức độ tham gia vào Công ước Viên: Điều 92 của Công ước Viên cho phép các nước giới hạn mức độ tham gia Công ước, có thể là toàn bộ hoặc từng phần. Từ các phân tích trên, có thể nói nếu Việt Nam chọn tham gia toàn phần đối với Công ước Viên thì chắc chắn phải có những điều chỉnh trong quy định pháp luật về hợp đồng, trong đó có quy định về nội dung của chào hàng, các quy định điều chỉnh mối liên hệ giữa các điều kiện trong chào hàng với vấn đề hiệu lực của hợp đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tạm dịch từ bản tiếng Anh của Công ước Viên.

•2 Tất nhiên chào hàng có thể và thường không thể hiện tất cả các điều kiện của giao dịch. Nhiều điều kiện của giao dịch sẽ được giải thích bởi luật áp dụng. Pháp luật có thể ràng buộc các bên thỏa thuận một số điều khoản nhất định.

•3 Xem chú thích số 2.

4 Vấn đề hiệu lực của hợp đồng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên (Điều 4, điểm a). Theo quy định tại Điều 7(2) của Công ước, vấn đề này sẽ được điều chỉnh bởi luật quốc gia theo dẫn chiếu của các quy phạm chọn luật trong tư pháp quốc tế.

5 Xem Ronald A. Brand, Fundamentals of Interna-tional Business Transactions, Kluwer Law Interna-tional,

(2000), p.134. Xem G. Eorsi trong bi Open-price Contracts, FARNSWORTH, in BIANCA-BONELL, COMMENTARY ON THE INTERNA-TIONAL SALES LAW, pp. 406-407.

6 Điều khoản giá cả (trong chào hàng và sau đó là trong hợp đồng) theo quan điểm này không nhất thiết là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Nội dung của chào hàng chỉ được xem là một trong các yếu tố thể hiện ý định giao kết hợp đồng.

7 Thuật ngữ “chào hàng hợp lệ” ở đây được dịch từ thuật ngữ “sufficiently definite”, dùng để chỉ một chào hàng mà về nội dung thể hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14(1) (hàng hóa, giá cả và số lượng).

8 Xem các ý kiến của các đại biểu Feltham (Vương quốc Anh), của Vindding Kruse (Đan Mạch), của Sevon (Phần Lan) tại hội nghị thông qua Công ước. John O. Honnold, Documentary History of the Uniform Law for International Sales, Kluwer Law and Taxation Publishers, p.584.

9 Ví dụ quy định của pháp luật các nước châu Âu lục địa như Áo, Bỉ, Hà Lan, Pháp cũng như của CH XHCN Xô-viết trước đây đều theo hướng này. Xem Petar Sarcevic and Paul Volken (Editors), International Sale of Goods-Dubrovnik Lectures, Oceana Publications, Inc. (1986), p.208. Với Việt Nam, theo quy định pháp luật hiện hành (2004), giácả cũng là điều khoản bắt buộc phải có đối với hiệu lực của hợp đồng (Điều 401 Bộ luật dân sự 1995, Điều 50 Luật thương mại 1997).

10 Xem ý kiến của các đại biểu Minami (Nhật Bản), Andruyushin (Cộng hòa Blat-xia). John O. Honnold. Sđd. tại chú thích số (9), tr.584.

11 Điều 55 (trong Dự thảo lúc đó là Điều 51) đã được thông qua với 40 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 5 phiếu trắng. Xem John Honnold, Sđd. ở chú thích số 9, tr.746.

12 Ngoài ra còn có nguyên nhân từ quy trình soạn thảo. Hai điều luật này nếu nằm trong hai văn bản độc lập thì khó có thể bị xem là mâu thuẫn. Công ước Viên hình thành từ hai dự thảo riêng biệt là Kết lập hợp đồng (Formation Draft) và Mua bán hàng hóa (Sales Draft). Các dự thảo được soạn thảo tách biệt, và quyết định kết hợp hai dự thảo vào một điều ước chỉ được đưa ra khi việc soạn thảo đã tương đối hoàn tất, thông qua phiên họp thứ 11 của Ủy ban soạn thảo. Quy định tại Điều 14 và 55 vốn thuộc về hai dự thảo tách biệt đó. Xem Yearbook, IX (1978), p.13.

13 Xem chú thích số 8.

14 Theo Paul Amato, U.N. CISG- The Open Price Term and Uniform Application: An Early Interpretation by the Hungarian Courts, 13 Journal of Law and Commerce, p.10, (1993).

15 Xem John O. Honnold, Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention, 2nd Edition, Kluwer Law and Taxation Publishers, p.192, p.193.

16 Xem UNCITRAL Outline of the CISG [The UNCITRAL Thesaurus] (A/CN.9/SER.C/GUIDE/1 English 12 September 1995). Tạm dịch từ bản tiếng Anh: Article 55. Open-price contracts: 55A Enforceability of agreements that do not make provision for the price; conflicting views: (55A1) Article 14 denies enforcement for lack of definiteness; (55A2) Article 14 denies enforcement only when lack of provision for price indicates that parties do not intend to be bound; (55A3) When parties intend to be bound, Article 55 upholds the agreement;

(55A31) Implied agreement on price generally charged for such goods (55A312) Problem: No general price; see art. 9 (practices and usages); (55A4) “Validly concluded” in article 55 refers to applicable domestic law outlawing such agreements.

17 Case số 215. Như trên.

18 Case số 139. Như trên.

19 Nguyên tắc này cũng chi phối vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Nếu chứng minh được các quy định trong hợp đồng được hình thành không phải qua tự nguyện tự do thỏa thuận, thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực pháp lý.

20 Xem Carlos A. Gabuardi, Open Price Term in the CISG, the UCC and Mecican Commercial Law. DistritoB-6 No. 571, Col. Leones, Monterrey, N.L. MEXICO. (2001).

21 Xem Điều 9 Công ước Viên. Trường hợp này là một ví dụ về thỏa thuận ngầm định về giá cả, được giải quyết theo Điều 14 và các điều khác có liên quan, mà không phải là Điều 55.

22 Xem Xem G. Eorsi, chú thích số 6, Sđd. tr.405.

23 International Development Law Organization, Development Lawyers Course DLC 20E- International Sale of Goods, (April 14-15, 2003), email: waltla@aol.com, Suggested Contractual Provisions/Forms Related to

Certain Articles Of CISG.

24 Tất nhiên, trên cơ sở của quy định tại Điều 6 Công ước Viên, các bên trong hợp đồng có quyền có những thỏa thuận khác với quy định của Công ước.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

ĐIỀU KHOẢN GIÁ CẢ VÀ VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

THS. BÙI NGỌC HỒNG  – Khoa Luật Quốc tế – ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh

I. NỘI DUNG ĐIỀU 14 VÀ ĐIỀU 55 CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN

1. Nội dung Điều 14

Điều 14 Công ước Viên quy định (1):

(1) Một đề nghị giao kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều bên xác định được xem là một chào hàng nếu nó đầy đủ và thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của người đề nghị trong trường hợp chào hàng được chấp nhận. Một đề nghị được coi là đầy đủ nếu có nêu rõ hàng hóa và – ngầm định hoặc rõ ràng – xác định hoặc quy định cách thức xác định giá cả và số lượng hàng hóa của hợp đồng.

(2) Một đề nghị không gửi tới một hoặc nhiều bên xác định thì chỉ được xem là lời mời chào hàng, trừ trường hợp bên đưa ra đề nghị đó tuyên bố rõ ràng sẽ chịu ràng buộc trách nhiệm.

Như vậy khoản 1 Điều 14 điều chỉnh một vấn đề hết sức cơ bản trong hợp đồng mua bán – đó là vấn đề chào hàng. Trước hết có thể khẳng định Công ước Viên, thông qua quy định tại khoản 1 Điều 14, đã chọn sử dụng phương thức truyền thống của việc kết lập hợp đồng thông qua mô thức chào hàng – chấp nhận chào hàng. Theo đó, bên chào hàng – thông qua đề nghị giao kết hợp đồng – thể hiện ý định giao kết hợp đồng, đưa ra các điều kiện của giao dịch cho bên được chào hàng. Dựa trên các điều kiện này, bằng quyết định chấp nhận chào hàng, bên được chào hàng kết lập nên hợp đồng với các điều khoản đưa ra trong chào hàng. Trong mô thức này, việc thể hiện ý định giao kết hợp đồng của bên chào hàng trước hết được xác định thông qua các điều kiện đưa ra trong chào hàng. Trong trường hợp được chấp thuận thì các điều kiện trong chào hàng trở thành những điều khoản cốt lõi của hợp đồng. Khoản 1 Điều 14 đã đưa ra các tiêu chí để xác định nội dung chủ yếu cần có của một chào hàng.

Xét trên phương diện thực hiện hợp đồng, chào hàng không chỉ là sự thể hiện ý định giao kết hợp đồng của người đưa ra chào hàng. Chào hàng còn thể hiện các yếu tố cơ bản cần thiết để các bên dựa vào đó thực hiện các nghĩa vụ của mình và qua đó đáp ứng quyền của bên kia2. Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể mà yêu cầu về điều kiện cơ bản của hợp đồng có thể khác nhau. Với hợp đồng mua bán, khoản 1 Điều 14 quy định nội dung chào hàng phải thể hiện tối thiểu ba điều kiện. Đó là: hàng hóa mua bán, số lượng và giá cả. Về giá cả, đó có thể là giá cả cụ thể hoặc phương thức xác định giá cả, được nêu ra rõ ràng hoặc ngầm định trong chào hàng.

Như thế, theo quy định tại khoản 1 Điều 14, bên cạnh những điều kiện khác, một chào hàng bắt buộc phải thể hiện điều kiện về giá cả thì mới được xem là đầy đủ để kết lập nên hợp đồng trong trường hợp chào hàng được chấp nhận.

Tuy nhiên, mệnh đề đảo: “Một chào hàng thiếu điều kiện về giá cả thì việc chấp nhận chào hàng sẽ không kết lập nên hợp đồng” liệu có được chấp nhận hay không? Vấn đề này sẽ được giải quyết sau khi nghiên cứu các quy định tại Điều 55 của Công ước.

2. Nội dung Điều 55 Công ước Viên

Điều 55 quy định3: “Trong trường hợp hợp đồng đã được kết lập có hiệu lực nhưng không đưa ra quy định để xác định giá cả thì, trừ khi có chỉ dẫn ngược lại, các bên trong hợp đồng được xem như đã ngầm định viện dẫn đến giá cả được tính vào thời điểm giao kết hợp đồng áp dụng đối với hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại tương tự của ngành hàng liên quan”.

Việc tìm hiểu quy định tại Điều 55 không thể tách rời quy định tại Điều 14. Trong tương quan đó, có thể thấy Điều 55 giúp xác định phương thức tính giá khi hợp đồng được kết lập giữa các bên được xem là có hiệu lực nhưng bỏ qua không quy định điều kiện về giá cả. Giá cả được tính vào thời điểm giao kết hợp đồng, áp dụng đối với hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại tương tự của ngành hàng liên quan được xem là ngầm định giữa các bên. Tuy nhiên hiệu lực của hợp đồng được xác định dựa trên quy định của luật của quốc gia điều chỉnh vấn đề này trong hợp đồng4.

Quan điểm phổ biến xem Điều 55 của Công ước Viên là quy định để “lấp lỗ hổng” (gap-filling) khi thỏa thuận trong hợp đồng không đề cập đến vấn đề giá cả của hàng hóa5. Quan điểm này tiếp cận quy định tại Điều 55 độc lập với quy định về chào hàng6, xem Điều 55 là quy định nhằm thực hiện hợp đồng (cụ thể là giải quyết vấn đề xác định giá cả khi việc giao kết hợp đồng đã được xem là hợp lệ). Trên phương diện khác, nếu xem sự hiện diện của điều kiện về giá cả trong nội dung của chào hàng (cùng với các điều kiện về hàng hóa và số lượng, theo khoản 1 Điều 14) là một trong những cơ sở quyết định hiệu lực của hợp đồng, thì tương quan giữa quy định của Điều 55 với khoản 1 Điều 14 sẽ không đơn giản như vậy.

3. Mối quan hệ giữa Điều 14 và Điều 55 Công ước Viên

Theo logic của quy định tại Điều 55 Công ước Viên, một hợp đồng có thể được kết lập có hiệu lực mà không cần có thỏa thuận về giá cả. Tuy nhiên, quy định tại Điều 14 có thể dẫn đến suy luận: điều luật này ngầm định rằng một đề nghị giao kết hợp đồng tuy có đầy đủ những điều kiện khác nhưng thiếu điều kiện về giá cả thì sẽ không được xem là một chào hàng hợp lệ7. Vấn đề ở đây là khi một chào hàng như thế (thiếu điều kiện về giá cả) được chấp nhận thì sự chấp nhận đó có làm nên một hợp đồng hay không? Nói cách khác là có sự mâu thuẫn giữa quy định của Điều 14 và Điều 55 hay không? Tùy thuộc vào lập trường của các hệ thống pháp luật khác nhau, vai trò của điều khoản giá cả đối với hiệu lực của hợp đồng được nhìn nhận khác nhau.

Ở những hệ thống pháp luật mà điều kiện về giá cả không bắt buộc đối với hiệu lực của hợp đồng, thì hợp đồng có thể được xem là giao kết hợp lệ dù trong đó các bên không có thỏa thuận nào về giá cả8. Với quan điểm này, quy định tại Điều 55 có chức năng “lấp lỗ hổng”, giúp các bên xác định giá cả để thực hiện hợp đồng trong trường hợp hợp đồng được kết lập không có thỏa thuận về điều này.

Vấn đề chỉ trở nên rắc rối khi câu trả lời đến từ các hệ thống pháp luật xem điều khoản giá cả là một trong những điều khoản bắt buộc đối với hiệu lực của hợp đồng9. Theo quan điểm của các hệ thống pháp luật này, cùng với các điều kiện khác, hợp đồng có những điều khoản cơ bản phải được các bên thỏa thuận thì mới được xem là có hiệu lực pháp luật. Thông thường, điều khoản giá cả là một trong những điều khoản đó. Chào hàng thiếu điều kiện về giá cả, vì thế, sẽ không làm nên một hợp đồng có hiệu lực dù cho người nhận được chào hàng có chấp nhận toàn bộ chào hàng. Các hệ thống pháp luật có cách tiếp cận theo hướng này cho rằng quy định của Điều 55 mâu thuẫn với quy định tại Điều 14 và cần được loại bỏ10.

Điều 14 và Điều 55 thuộc vào số những điều luật gây tranh cãi nhiều nhất trong các phiên họp của ban soạn thảo; và ngay cả đến khi tương quan lực lượng trong hội nghị dẫn đến kết quả là điều luật này được thông qua, vẫn còn những lá phiếu bất đồng11.

Sự khác biệt trong cách hiểu về mối quan hệ giữa các quy định của khoản 1 Điều 14 và Điều 55 Công ước Viên có nguồn gốc sâu xa từ sự khác biệt trong quan điểm của các hệ thống pháp luật khác nhau về vấn đề giao kết hợp đồng12. Cụ thể trong trường hợp này là quy định của pháp luật quốc gia về vai trò của điều kiện giá cả đối với hiệu lực của hợp đồng. Nếu một hợp đồng được xem là kết lập hợp pháp mà không cần có sự hiện diện của điều khoản giá cả, thì sẽ không có mâu thuẫn giữa hai điều luật và ngược lại. Đấy cũng là lời đáp cho câu hỏi: “Một chào hàng thiếu điều kiện về giá cả thì việc chấp nhận chào hàng sẽ không kết lập nên hợp đồng” liệu có được chấp nhận hay không?

Xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa quy định của khoản 1 Điều 14 và quy định của Điều 55 Công ước Viên, quan điểm trong giới nghiên cứu cũng chưa thống nhất. Tựu trung có 2 nhóm quan điểm: nhóm thứ nhất cho rằng có sự mâu thuẫn giữa quy định tại hai điều luật; nhóm thứ hai cho rằng quy định tại Điều 55 không mâu thuẫn, mà có tính bổ sung cho quy định tại khoản 1 Điều 14. Cụ thể, nhóm quan điểm thứ nhất, tiêu biểu là Giáo sư Allan Farnsworth, cho rằng hợp đồng không thể được xem là kết lập có hiệu lực (validly concluded) nếu không dựa trên một chào hàng hợp lệ13. Vì thế việc áp dụng quy định tại Điều 55 tạo ra mâu thuẫn với quy tắc được xác lập tại Điều 14. Nhóm quan điểm thứ hai, tiêu biểu là Giáo sư John O. Honnold, cho rằng theo Điều 55 một hợp đồng có thể có hiệu lực mặc dù không có quy định nào về giá cả, và rằng hai điều luật này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau14. Theo Giáo sư John O. Honnold, ý định giao kết hợp đồng còn có thể được thể hiện qua nhiều yếu tố khác chứ không chỉ giới hạn trong những những điều kiện thể hiện trong chào hàng. Công ước Viên thông qua các quy định tại Điều 14, khoản 3 Điều 8 và khoản 3 Điều 18 đã điều chỉnh vấn đề kết lập hợp đồng trên cả hai khả năng: (i) hợp đồng được kết lập thông qua trao đổi chào hàng và chấp nhận chào hàng (Điều 14); (ii) hợp đồng được kết lập thông qua các diễn tiến khó tách biệt giữa chào hàng và chấp nhận chào hàng. Các diễn tiến này thể hiện thông qua hành vi của các bên hoặc các tập quán, các cách thức quen thuộc mà các bên đã thiết lập trong các giao dịch giữa họ. Nối tiếp và bổ sung nhau, các diễn tiến này dần dần phát triển quan hệ hợp đồng giữa các bên. Điều này được điều chỉnh bởi quy định tại khoản 3 Điều 8 và khoản 3 Điều 18 của Công ước15.

Cách tiếp cận mang tính chính thức hiện nay là của Ủy ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL), tổ chức đã cho ra đời điều ước này. Theo tóm tắt mang tính hướng dẫn của UNCITRAL, quy định tại Điều 55 được hiểu trong tương quan với Điều 14 (1) như sau:16

Điều 55 Hợp đồng với điều khoản giá cả để ngỏ 55A Giá trị ràng buộc của hợp đồng để ngỏ quy định về giá cả;các quan điểm không thống nhất:

55A1 Điều 14 không chấp nhận giá trị ràng buộc đối với chào hàng không hợp lệ

55A2 khẳng định của mục 55A1 chỉ áp dụng khi sự vắng mặt của quy định về giá cả cho thấy rằng các bên không có ý định giao kết hợp đồng

55A3 Khi các bên có ý định giao kết hợp đồng, Điều 55 bổ sung cho hợp đồng

55A31 Thỏa thuận ngầm định về mức giá thông thường đối với hàng hóa của hợp đồng

55A32 Vấn đề: Nếu không có mức giá nói chung, sử dụng quy định tại Điều 9 (các tập quán, thực tiễn thực hiện hợp đồng đã hình thành giữa các bên)

55A4 thuật ngữ “Validly concluded” trong Điều 55 viện dẫn đến luật quốc gia áp dụng để giải quyết vấn đề hiệu lực của hợp đồng.

Đối chiếu với các quan điểm tiêu biểu trong giới nghiên cứu nêu ở trên, có thể nói quan điểm của John O. Honnold gần hơn với giải thích của UNCITRAL về Điều 55.

Xét về bản chất của quan hệ, yếu tố quyết định để xem một hợp đồng đã được xác lập hay chưa là sự thể hiện ý định giao kết hợp đồng của các bên. Vấn đề đặt ra là bằng cách nào xác định yếu tố đó. Khoản 1 Điều 14 đưa ra các tiêu chí để xác định một chào hàng hợp lệ, lấy đó làm một cơ sở quan trọng để xem xét ý định giao kết hợp đồng của bên đưa ra chào hàng. Nhưng cũng trong Công ước Viên, quy định tại các Điều 8, 9 và khoản 3 Điều 18 còn sử dụng các yếu tố khác để giải thích ý định của các bên tham gia vào giao dịch như: hành vi của các bên trong hợp đồng, các tập quán, thói quen mà các bên đã xác lập giữa họ với nhau. Trên góc độ thực tế, quy định trong các khoản 3 Điều 8 và khoản 3 Điều 18 mở ra khả năng giải thích linh hoạt hơn và trong nhiều trường hợp các quy định này tỏ ra hữu hiệu trong việc làm rõ thực chất ý định của các bên trong quan hệ. Ngược lại, cách giải thích ý định của các bên thông qua việc dựa trên các tiêu chí trong chào hàng giúp cụ thể hóa khái niệm chào hàng, khiến cho chào hàng trở thành công cụ định lượng cho yếu tố ý định giao kết hợp đồng của các bên. Dung hòa quan điểm của các truyền thống pháp luật khác nhau, Công ước Viên đã kết hợp cả hai cách quy định này. Trong quá trình thực hiện Công ước Viên, cách giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa Điều 14 và Điều 55 cũng đã được thể hiện phần nào qua các phán quyết giải quyết tranh chấp của trọng tài và tòa án. Thực tiễn này sẽ được khảo sát trong phần dưới đây.

II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 14 VÀ ĐIỀU 55 CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN

Trong phần này, chúng tôi phân tích một số tình huống tương đối điển hình, lấy từ thực tiễn của các tòa án và các trung tâm trọng tài áp dụng Công ước Viên giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giới hạn trong phạm vi các tranh chấp có liên quan đến quy định tại Điều 14 và Điều 55 của Công ước.

Tình huống thứ nhất17:

Nguyên đơn là người bán (Hà Lan), bị đơn là người mua (Thụy Sĩ). Theo hợp đồng, người bán sẽ cung cấp nguyên vật liệu để người mua sản xuất một lượng hàng theo thỏa thuận. Hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả. Sau khi sử dụng hết 10% nguyên liệu thì giao dịch không được thực hiện nữa, người mua trả phần nguyên liệu còn lại cho người bán. Người bán khởi kiện đòi thanh toán cho toàn bộ lượng nguyên liệu đã giao.

Kết quả tòa án đã ra phán quyết buộc người mua thực hiện đúng yêu cầu của người bán. Tòa án, áp dụng quy định của khoản 3 Điều 8 Công ước Viên, giải thích ý định giao kết hợp đồng dựa trên hành vi của các bên sau khi giao kết được xác lập. Theo đó, người mua đã yêu cầu người bán gửi hóa đơn tiền hàng mà không đưa ra một sự hạn định nào, mặc dù người mua đã biết rõ là sẽ không sử dụng hết số nguyên liệu đó. Vì các bên không có thỏa thuận về giá cả, tòa án đã sử dụng quy định tại Điều 55 Công ước Viên để đưa ra mức giá buộc người mua thanh toán cho người bán.

Qua vụ việc trên, chúng ta có thể rút ra rằng: mặc dù không có thỏa thuận về giá cả, nhưng dựa trên xử sự của các bên, cơ quan giải quyết tranh chấp có thể giải thích để xác định sự thể hiện của ý định tham gia giao kết hợp đồng và lấy đó làm cơ sở để xác định sự tồn tại của hợp đồng. Trong trường hợp này, Điều 55 sẽ được áp dụng.

Tình huống thứ hai18:

Nguyên đơn là một công ty của Áo (người mua), bị đơn là một công ty của U-crai-na (người bán). Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh do bị đơn U- crai-na từ chối giao hàng. Bị đơn từ chối bồi thường, nại lý do là hợp đồng chưa được kết lập giữa hai bên.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài đã vận dụng các quy định về nội dung của chào hàng, tại khoản 1 Điều 14 Công ước Viên. Bản telex của bị đơn (người bán) trả lời nguyên đơn xác định hàng hóa và số lượng hàng mua bán theo hợp đồng, nhưng không thể hiện giá cả của hàng hóa. Thay vào đó, bản telex có đề nghị: giá cả của hàng hóa theo hợp đồng sẽ được thỏa thuận 10 ngày trước ngày đầu năm mới. Các bên sau đó đã không đạt được thỏa thuận về giá cả. Người bán báo cho người mua là không thể ký kết hợp đồng đối với lượng hàng hóa đã thỏa thuận. Người mua không đồng ý.

Giải quyết vụ việc, trọng tài căn cứ trên bản telex cho rằng khi một bên đưa ra thời điểm để thỏa thuận về giá cả thì điều đó cho thấy cần có những thỏa thuận tiếp tục trong tương lai, hay nói cách khác hai bên vẫn chưa đạt được sự thống nhất về điều kiện này. Trọng tài giải quyết vụ việc này cũng chỉ ra rằng quy định tại Điều 55 của Công ước Viên không thể được áp dụng trong trường hợp này, vì những gì thể hiện trong bản telex cho thấy các bên đã ngầm định về sự cần thiết phải đạt được thỏa thuận về giá cả trong tương lai.

Từ lập luận đó, căn cứ các quy định tại khoản 1 Điều 14, trọng tài cho rằng hợp đồng chưa được kết lập. Vì thế, trọng tài bác yêu cầu của nguyên đơn.

Qua vụ việc này chúng ta nhận thấy rằng không phải bất cứ hợp đồng nào thiếu quy định về giá cả cũng có thể được áp dụng quy định của Điều 55. Tòa án chỉ tính đến việc áp dụng Điều 55 khi có căn cứ để cho rằng các bên đã bỏ qua không thỏa thuận vấn đề giá cả. Trong trường hợp các bên cần thỏa thuận về một điều kiện nhưng vì lý do nào đó mà chưa đạt được thỏa thuận, thì chúng ta không có quyền kết luận là các bên đã ngầm định về một cách giải quyết nào cả. Thỏa thuận là nguyên tắc tối thượng trong hợp đồng19. Trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận thì, dù vì bất cứ lý do gì, cũng không thể ràng buộc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đối với các bên được. Sự thỏa thuận rằng sẽ tiếp tục đàm phán về điều kiện giá cả, nếu sau đó các bên không thống nhất được cách giải quyết, là yếu tố loại bỏ việc áp dụng quy định tại Điều 55.

III. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT

1. Nhận xét

Từ các phân tích về khoản 1 Điều 14 và Điều 55, kết hợp thực tiễn áp dụng của hai điều luật này, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Nhận thức về nội dung của hai điều luật:

Với các quy định tại khoản 1 Điều 14 và Điều 55, một cách tóm tắt, có thể nói rằng theo Điều 14, chào hàng là một trong những cơ sở để xác định ý định giao kết hợp đồng. Một chào hàng chỉ được coi là hợp lệ khi thể hiện được các điều kiện về hàng hóa, số lượng và giá cả. Một chào hàng hợp lệ khi được chấp nhận sẽ kết lập nên hợp đồng. Tuy nhiên, theo Điều 55, yêu cầu nói trên của Điều 14 chỉ áp dụng trong trường hợp sự thiếu thỏa thuận về giá cả cho thấy các bên không có ý định giao kết hợp đồng. Nói cách khác, khi có cơ sở khẳng định các bên đã thực sự có ý định giao kết hợp đồng thì Điều 55 có thể được áp dụng. Khi đó, giá cả được xem là ngầm định giữa các bên được xác định bằng cách viện dẫn đến giá cả được tính vào thời điểm giao kết hợp đồng, áp dụng đối với hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại tương tự của ngành hàng liên quan. Hiệu lực của hợp đồng được xác định dựa trên quy định của luật quốc gia. Điều này dẫn đến hệ quả là tùy thuộc vào luật quốc gia áp dụng giải quyết vấn đề hiệu lực của hợp đồng, một thỏa thuận mua bán hàng hóa theo Công ước Viên có thể được coi là đã được kết lập và có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý, mặc dù trong thỏa thuận đó không có điều kiện về giá cả.

Hướng tiếp cận của cơ quan giải quyết tranh chấp:

Nghiên cứu các vụ việc trên, người viết đồng tình với quan điểm của Giáo sư Gabuardi về cách tiếp cận của tòa án và trọng tài: “Trong khi không lên tiếng trong cuộc tranh luận của giới học thuật, tòa án đã tiếp cận vấn đề điều khoản giá cả để ngỏ (open-price terms) theo hướng: Điều 14 và Điều 55 giải quyết các vấn đề khác nhau. Điều 14 giải quyết vấn đề điều khoản giá cả để mở vào thời điểm kết lập hợp đồng, trong khi Điều 55 giải quyết vấn đề này khi các bên đã đi vào thực hiện”20.

Các trường hợp áp dụng quy định tại Điều 55:

Khi có căn cứ cho thấy các bên thực sự có ý định ràng buộc khi giao kết hợp đồng nhưng đã bỏ qua không đưa điều kiện giá cả vào trong thỏa thuận giữa họ thì lúc đó Điều 55 có thể sẽ được áp dụng. Về nguyên tắc, việc áp dụng Điều 55 đòi hỏi đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (a) Hợp đồng có hiệu lực và (b) Trong hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả.

Các trường hợp không áp dụng quy định tại Điều 55: Về nguyên tắc, Điều 55 sẽ không được áp dụng khi hợp đồng rơi vào một trong các khả năng:

– Hợp đồng bị xem là chưa được kết lập: Trường hợp sự thiếu vắng của điều kiện giá cả cho thấy có ít nhất một bên không có ý định giao kết hợp đồng. Điều kiện giá cả không phải là đã được bỏ qua mà chỉ là chưa thống nhất được.

– Đã có phương thức xác định giá cả: Đây là trường hợp các bên trong hợp đồng đã thiết lập như một tiền lệ, một thói quen giữa họ về cách xác định giá cả. Mặc dù trong hợp đồng không có quy định về giá cả, nhưng thông qua các giao dịch trước đó các bên đã hình thành một thực tiễn thực hiện điều kiện này. Vì thế, có thể xem rằng các bên đã ngầm định áp dụng giá cả theo cách được xác định trong các giao dịch trước đó21. Có thể nói đây là biểu hiện của trường hợp “có chỉ dẫn ngược lại” trong quy định của Điều 55 Công ước.

– Hợp đồng vô hiệu: Trường hợp này hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả và điều đó khiến hợp đồng bị xem là vô hiệu theo quy định của luật quốc gia được viện dẫn để điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng.

2. Một số đề xuất

Như đã phân tích ở phần trên, trong buôn bán quốc tế vẫn xảy ra những tranh chấp mà nguyên nhân là do nhận thức không đúng về quy định tại các Điều 14 và 55 của Công ước Viên. Ngày nay, khi tỷ lệ hàng hóa được sản xuất theo tiêu chuẩn ngày càng tăng, trong bối cảnh thị trường mở rộng và thông tin thông suốt trên phạm vi quốc tế, người ta ngày càng có xu hướng dựa vào các bản báo giá (price-list) của các công ty. Mặt khác, các tiện ích của phương tiện truyền thông hiện đại cũng hướng đến hỗ trợ cho việc đặt hàng không qua thỏa thuận về giá22. Tất cả những diễn biến này cho thấy rằng khả năng các bên tham gia vào giao dịch mua bán mà không thỏa thuận về điều kiện giá cả là hoàn toàn có thể xảy ra. Những tranh chấp phát sinh trong hoàn cảnh này có thể buộc các bên phải trở lại với các quy định tại Điều 55 và Điều 14 của Công ước. Một số khuyến nghị sau đây có thể là bổ ích đối với doanh nghiệp:

Đưa điều kiện giá cả vào thỏa thuận hợp đồng: Các bên nên dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng thương vụ mà xây dựng thỏa thuận phù hợp về điều kiện giá cả. Ở mức đơn giản nhất cũng nên có quy định về cách thức xác định giá cả. Để tránh các tranh chấp có thể phát sinh từ việc bỏ qua điều khoản giá cả, tổ chức Phát triển luật quốc tế đã đưa ra điều khoản mẫu giúp các bên nhanh chóng đưa thỏa thuận về vấn đề này vào hợp đồng.

Theo đó, điều khoản này có thể rất đơn giản như sau: “Giá của hàng hóa mua bán là giá thị trường tại thời gian và địa điểm giao hàng (hoặc gửi hàng)”23. Một quy định ngắn gọn như vậy đã có thể giúp giải quyết được nhiều vấn đề. Vừa có cách thức xác định giá, vừa đáp ứng yêu cầu về sự linh hoạt theo diễn biến thị trường, hạn chế thiệt thòi quá mức cho một bên khi thị trường biến động đột ngột và như thế giúp hạn chế khả năng phát sinh tranh chấp.

Liên lạc, trao đổi để khẳng định các điều kiện của giao dịch: trong trường hợp nghi ngờ có sự chưa rõ ràng trong ý định của người chào hàng thì nên trao đổi để làm rõ. Một cuộc điện thoại hay vài bức fax có thể giúp giải quyết nhanh chóng vấn đề này, tránh được những rủi ro tiềm tàng do hiểu lầm hoặc sự mập mờ trong các cam kết.

Nhận thức rõ quy định của Công ước Viên về chào hàng có nhiều điểm khác so với quy định pháp luật trong nước: điều kiện của chào hàng đơn giản hơn, hợp đồng có thể được kết lập có hiệu lực mà không nhất thiết phải có điều khoản về giá cả. Đây là điều khác với quy định hiện hành trong pháp luật của ta. Trong thực tế, nhận thức này có ý nghĩa khi hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Viên24.

Ở khía cạnh lập pháp, cũng cần cân nhắc khả năng của hệ thống pháp luật khi quyết định mức độ tham gia vào Công ước Viên: Điều 92 của Công ước Viên cho phép các nước giới hạn mức độ tham gia Công ước, có thể là toàn bộ hoặc từng phần. Từ các phân tích trên, có thể nói nếu Việt Nam chọn tham gia toàn phần đối với Công ước Viên thì chắc chắn phải có những điều chỉnh trong quy định pháp luật về hợp đồng, trong đó có quy định về nội dung của chào hàng, các quy định điều chỉnh mối liên hệ giữa các điều kiện trong chào hàng với vấn đề hiệu lực của hợp đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tạm dịch từ bản tiếng Anh của Công ước Viên.

•2 Tất nhiên chào hàng có thể và thường không thể hiện tất cả các điều kiện của giao dịch. Nhiều điều kiện của giao dịch sẽ được giải thích bởi luật áp dụng. Pháp luật có thể ràng buộc các bên thỏa thuận một số điều khoản nhất định.

•3 Xem chú thích số 2.

4 Vấn đề hiệu lực của hợp đồng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên (Điều 4, điểm a). Theo quy định tại Điều 7(2) của Công ước, vấn đề này sẽ được điều chỉnh bởi luật quốc gia theo dẫn chiếu của các quy phạm chọn luật trong tư pháp quốc tế.

5 Xem Ronald A. Brand, Fundamentals of Interna-tional Business Transactions, Kluwer Law Interna-tional,

(2000), p.134. Xem G. Eorsi trong bi Open-price Contracts, FARNSWORTH, in BIANCA-BONELL, COMMENTARY ON THE INTERNA-TIONAL SALES LAW, pp. 406-407.

6 Điều khoản giá cả (trong chào hàng và sau đó là trong hợp đồng) theo quan điểm này không nhất thiết là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Nội dung của chào hàng chỉ được xem là một trong các yếu tố thể hiện ý định giao kết hợp đồng.

7 Thuật ngữ “chào hàng hợp lệ” ở đây được dịch từ thuật ngữ “sufficiently definite”, dùng để chỉ một chào hàng mà về nội dung thể hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14(1) (hàng hóa, giá cả và số lượng).

8 Xem các ý kiến của các đại biểu Feltham (Vương quốc Anh), của Vindding Kruse (Đan Mạch), của Sevon (Phần Lan) tại hội nghị thông qua Công ước. John O. Honnold, Documentary History of the Uniform Law for International Sales, Kluwer Law and Taxation Publishers, p.584.

9 Ví dụ quy định của pháp luật các nước châu Âu lục địa như Áo, Bỉ, Hà Lan, Pháp cũng như của CH XHCN Xô-viết trước đây đều theo hướng này. Xem Petar Sarcevic and Paul Volken (Editors), International Sale of Goods-Dubrovnik Lectures, Oceana Publications, Inc. (1986), p.208. Với Việt Nam, theo quy định pháp luật hiện hành (2004), giácả cũng là điều khoản bắt buộc phải có đối với hiệu lực của hợp đồng (Điều 401 Bộ luật dân sự 1995, Điều 50 Luật thương mại 1997).

10 Xem ý kiến của các đại biểu Minami (Nhật Bản), Andruyushin (Cộng hòa Blat-xia). John O. Honnold. Sđd. tại chú thích số (9), tr.584.

11 Điều 55 (trong Dự thảo lúc đó là Điều 51) đã được thông qua với 40 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 5 phiếu trắng. Xem John Honnold, Sđd. ở chú thích số 9, tr.746.

12 Ngoài ra còn có nguyên nhân từ quy trình soạn thảo. Hai điều luật này nếu nằm trong hai văn bản độc lập thì khó có thể bị xem là mâu thuẫn. Công ước Viên hình thành từ hai dự thảo riêng biệt là Kết lập hợp đồng (Formation Draft) và Mua bán hàng hóa (Sales Draft). Các dự thảo được soạn thảo tách biệt, và quyết định kết hợp hai dự thảo vào một điều ước chỉ được đưa ra khi việc soạn thảo đã tương đối hoàn tất, thông qua phiên họp thứ 11 của Ủy ban soạn thảo. Quy định tại Điều 14 và 55 vốn thuộc về hai dự thảo tách biệt đó. Xem Yearbook, IX (1978), p.13.

13 Xem chú thích số 8.

14 Theo Paul Amato, U.N. CISG- The Open Price Term and Uniform Application: An Early Interpretation by the Hungarian Courts, 13 Journal of Law and Commerce, p.10, (1993).

15 Xem John O. Honnold, Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention, 2nd Edition, Kluwer Law and Taxation Publishers, p.192, p.193.

16 Xem UNCITRAL Outline of the CISG [The UNCITRAL Thesaurus] (A/CN.9/SER.C/GUIDE/1 English 12 September 1995). Tạm dịch từ bản tiếng Anh: Article 55. Open-price contracts: 55A Enforceability of agreements that do not make provision for the price; conflicting views: (55A1) Article 14 denies enforcement for lack of definiteness; (55A2) Article 14 denies enforcement only when lack of provision for price indicates that parties do not intend to be bound; (55A3) When parties intend to be bound, Article 55 upholds the agreement;

(55A31) Implied agreement on price generally charged for such goods (55A312) Problem: No general price; see art. 9 (practices and usages); (55A4) “Validly concluded” in article 55 refers to applicable domestic law outlawing such agreements.

17 Case số 215. Như trên.

18 Case số 139. Như trên.

19 Nguyên tắc này cũng chi phối vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Nếu chứng minh được các quy định trong hợp đồng được hình thành không phải qua tự nguyện tự do thỏa thuận, thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực pháp lý.

20 Xem Carlos A. Gabuardi, Open Price Term in the CISG, the UCC and Mecican Commercial Law. DistritoB-6 No. 571, Col. Leones, Monterrey, N.L. MEXICO. (2001).

21 Xem Điều 9 Công ước Viên. Trường hợp này là một ví dụ về thỏa thuận ngầm định về giá cả, được giải quyết theo Điều 14 và các điều khác có liên quan, mà không phải là Điều 55.

22 Xem Xem G. Eorsi, chú thích số 6, Sđd. tr.405.

23 International Development Law Organization, Development Lawyers Course DLC 20E- International Sale of Goods, (April 14-15, 2003), email: waltla@aol.com, Suggested Contractual Provisions/Forms Related to

Certain Articles Of CISG.

24 Tất nhiên, trên cơ sở của quy định tại Điều 6 Công ước Viên, các bên trong hợp đồng có quyền có những thỏa thuận khác với quy định của Công ước.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

TRANG TRẠI GIA ĐÌNH – MỘT LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP MỚI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

THS. LÊ TRƯỜNG SƠN – Phòng Đào tạo Sau đại học – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Từ năm 1986 đến nay, nhờ đường lối đổi mới của Đảng và chính sách khuyến khích của Nhà nước, hộ nông dân ở nước ta được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. Điều này đã tạo ra động lực mới, khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn và kinh nghiệm sản xuất, quản lý của hàng chục triệu hộ nông dân. Nhờ đó kinh tế nông nghiệp nông thôn đã có một bước chuyển biến tương đối toàn diện, mô hình trang trại ra đời và phát triển khá phổ biến ở tất cả các vùng của đất nước. Từ kinh nghiệm của các nước và thực tế phát triển của mô hình trang trại trong thời gian qua cho thấy, ở nước ta hiện nay và trong tương lai loại hình phổ biến và chủ yếu nhất vẫn là trang trại gia đình của hộ nông dân. Về vấn đề này, Nghị quyết 06 NQ/TƯ ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Ở nông thôn hiện nay đang phát triển mô hình trang trại nông nghiệp, phổ biến là các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả”. Đảng và Nhà nước cũng đã có những chủ trương, chính sách và bước đầu cũng đã tạo dựng được những cơ sở pháp lý cần thiết tạo điều kiện để các trang trại gia đình hình thành và phát triển. Tuy nhiên, khung pháp luật về loại hình này đang ở mức độ ban đầu, cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp lý, còn có nhiều vấn đề lý luận đặt ra, cần được nghiên cứu, lý giải. Trong phạm vi bài viết này tác giả muốn đề cập đến sự cần thiết phải công nhận loại hình trang trại gia đình trong hệ thống các chủ thể kinh doanh trong cơ chế thị trường. Để làm được điều đó, một trong những việc quan trọng đầu tiên phải làm là “nhận dạng” một cách đầy đủ, rõ ràng về loại hình kinh doanh mới này để từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp.

1. Khái niệm và đặc điểm của trang trại gia đình:

Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại của Chính phủ, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản. Mặt khác, theo quy định tại Thông tư liên tịch số

69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

(Bộ NN&PTNT) có hai nhóm đối tượng có thể tham gia đầu tư sản xuất theo mô hình trang trại, đó là hộ nông dân, hộ công nhân viên nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị (gọi chung là hộ gia đình) và cá nhân. Từ đó, hình thành nên hai loại hình kinh doanh là trang trại gia đình và trang trại cá nhân.

Ở đây, tác giả chỉ đề cập đến trang trại gia đình – loại hình kinh doanh đang rất phổ biến và có vai trò quan trọng trong nông nghiệp nông thôn nước ta. Hiện nay, khái niệm

về trang trại gia đình chưa được ghi nhận một cách chính thức trong các văn bản pháp luật của Nhà nước. Theo tác giả, khái niệm về trang trại gia đình bên cạnh việc phải thể hiện được những nét bản chất về kinh tế của trang trại gia đình còn phải xác định được những đặc điểm của trang trại gia đình, làm cho nó phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác trong nông, lâm, ngư nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường. Để làm được điều này, nhất thiết phải dựa trên những đặc điểm của trang trại gia đình đang tồn tại ở nước ta hiện nay.

Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, cũng như thực trạng hình thành và phát triển của trang trại gia đình thời gian vừa qua, có thể thấy trang trại gia đình ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau:

* Thứ nhất: Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.

– Trang trại gia đình là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông, lâm, thủy sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại gia đình là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.

– Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế có một cơ cấu thống nhất, đó là dựa trên cơ

sở hộ gia đình bao gồm chủ hộ và các thành viên khác trong gia đình. Chủ trang trại

(thường là chủ hộ) là người đại diện cho trang trại gia đình trong các quan hệ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Chủ trang trại là người có kiến thức, có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường và trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh

tại trang trại. Đây là những tố chất rất cần thiết cho một nhà kinh doanh trong nền kinh tế

thị trường và về cơ bản chúng không có ở người chủ hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp.

– Tài sản và vốn sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình thuộc quyền sở hữu hoặc

sử dụng (đối với đất đai) chung của các thành viên trong hộ gia đình. Bằng công sức, tài sản và vốn chung các thành viên của hộ gia đình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp dưới hình thức trang trại gia đình. Đồng thời chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh bằng những tài sản chung đó.

– Xuất phát từ bản chất kinh tế của trang trại, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình luôn gắn liền với một vị trí diện tích đất đai nhất định. Thực tế cho thấy, đây vừa là địa điểm sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là trụ sở giao dịch của trang trại gia đình trong các quan hệ nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, để thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường, không ít trang trại gia đình đã mở thêm các địa điểm giao dịch gần các trung tâm thương mại lớn nhằm tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của mình.

– Theo pháp luật hiện nay, trang trại gia đình bước đầu cũng đã được quy định cho một

số quyền và nghĩa vụ trong sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực như : đất đai, thuế, đầu

tư, tín dụng, lao động, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo hộ, v.v… Trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ này, trang trại gia đình hoàn toàn tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm…

– Hiện nay, theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh, trang trại gia đình đang phải đăng ký kinh doanh dưới danh nghĩa hộ kinh doanh

cá thể. Vấn đề đăng ký kinh doanh cho trang trại gia đình hiện vẫn chưa được đề cập đến trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, đây là một việc làm hết sức cần thiết để thể hiện

sự chính thức thừa nhận và bảo hộ của Nhà nước đối với trang trại gia đình, đây còn là cơ

sở để một hộ là trang trại gia đình được hưởng các chính sách ưu tiên và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã xác định đây là một trong những vấn đề bất cập, cần phải được giải quyết kịp thời.

* Thứ hai: Mục đích chủ yếu của trang trại gia đình là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường.

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của trang trại gia đình. Mục tiêu của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thủy sản để bán, khác hẳn với kinh tế hộ tự cấp tực túc là chính. Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức sản xuất nông lâm ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá rõ rệt. Vì vậy, đặc trưng cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá. Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy tiêu chí giá trị nông sản hàng hoá và tỷ suất hàng hoá bán ra trong năm luôn luôn được sử dụng làm thước đo chủ yếu của trang trại.

Ở Việt Nam, thực tiễn sản xuất của các trang trại gia đình trong những năm vừa qua cho thấy, trang trại nào cũng lấy sản xuất hàng hoá là hướng chính và tỷ suất hàng hoá của các trang trại trại phổ biến từ 70 – 80% đối với những trang trại đã đi vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Theo một kết quả điều tra năm 2001 cho thấy: Ở nước ta trong năm 2000, giá trị hàng hoá của các trang trại trong cả nước đạt 4.965,9 tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81,7 triệu đồng, tỷ suất hàng hoá là 92,6%1. Đặc trưng sản xuất hàng hoá cho phép phân biệt rõ ràng ranh giới giữa trang trại gia đình với kinh tế hộ nông dân, sản xuất tự cấp tự túc và với hộ phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn.

* Thứ ba: Trong trang trại gia đình, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.

Trong nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung với quy mô nào đó. Do đó, ở các trang trại gia đình sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất,… được tập trung tới quy mô đủ lớn. Đặc điểm này được quy định bởi chính đặc điểm về mục đích sản xuất của trang trại. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục thống kê, sự tập trung các yếu tố sản xuất của trang trại gia đình được biểu thị

về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu, đó là: Quy mô diện tích ruộng đất của trang trại (nếu là trang trại chăn nuôi thì là số lượng gia súc, gia cầm…) và quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại. Thực tế cho thấy, các trang trại gia đình có quy mô lớn hơn rất nhiều so với kinh tế hộ gia đình nông dân. Theo số liệu điều tra năm 1999 của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội cho thấy: bình quân một trang trại gia đình

có số vốn là 291,43 triệu đồng, trong đó 91,03% là vốn tự có, quy mô đất đai bình quân của một trang trại gia đình là 6,338 ha, trong khi đó bình quân đất đai sản xuất nông nghiệp của một hộ gia đình chỉ là 0,68 ha 2.

* Thứ tư: Lao động trong các trang trại gia đình chủ yếu là dựa trên các thành viên

trong hộ, ngoài ra có thuê mướn lao động.

Lực lượng lao động trong trang trại chủ yếu là chủ trang trại và các thành viên trong gia đình, đây là những người có quan hệ huyết thống, gần gũi như: cha mẹ, vợ chồng, anh em. Lao động được tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, quản lý điều hành linh hoạt, dễ dàng, hiệu quả lao động cao. Ngoài ra, để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, trang trại gia đình còn phải thuê mướn lao động bên ngoài nhất là vào thời vụ gieo trồng, thu hoạch. Quy mô thuê muớn lao động trong trang trại tùy thuộc vào quy mô sản xuất kinh doanh của trang trại. Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại gia đình, đó là:

thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, bình quân 1 trang trại sử dụng 6 lao động (quy ra thường xuyên), lao động trong gia đình chiếm 45%; hầu hết trang trại đều có sử dụng lao động thuê ngoài, số lượng lao động thuê ngoài trong các trang trại chiếm khoảng 55% tổng số lao động trong các trang trại, trong đó chủ yếu là lao động thời vụ (khoảng 70%). Trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản do tính chất sản xuất khá ổn định nên sử dụng lao động thời vụ ít hơn

(từ 10 – 20%)3.

* Thứ năm: Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại gia đình ngày càng mang tính khoa học, chuyên nghiệp.

Trong kinh tế hộ gia đình nông dân do tính chất sản xuất đơn giản và quy mô sản xuất nhỏ với mục đích tự cung tự cấp là chính, do vậy việc điều hành sản xuất của chủ hộ vẫn còn mang nặng tính gia trưởng, người chủ hộ chỉ cần có kinh nghiệm sản xuất và cần cù lao động theo kinh nghiệm cha truyền con nối. Nhưng đối với trang trại gia đình, với mục đích chính là sản xuất hàng hoá và bị các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh chi phối ngày càng nhiều thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn phù hợp nữa. Sản xuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất thâm canh, kế hoạch tài chính, hạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh…. Do vậy việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại đòi hỏi phải dựa trên

cơ sở những kiến thức khoa học và ngày càng mang tính chuyên nghiệp, đi vào chiều sâu. Như vậy, mặc dù cũng dựa trên cơ sở hộ gia đình, nhưng trang trại gia đình có sự khác biệt rất lớn so với hộ gia đình thể hiện ở mục đích, quy mô và trình độ sản xuất. Trang trại gia đình đã và đang ngày càng thể hiện rõ tính chất của một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở nước ta.

Từ những đặc điểm nêu trên, theo chúng tôi, dưới góc độ pháp lý khái niệm về trang trại gia đình với tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập trong nền kinh tế thị trường có thể hiểu như sau: “Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, dựa trên cơ sở hộ gia đình, có mục đích chủ yếu là kinh doanh nông sản hàng hoá, trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ, tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh”. Khái niệm này vừa thể hiện được bản chất về mặt kinh tế của trang trại nhưng đồng thời cũng thể hiện được những đặc trưng của loại hình trang trại gia đình, là cở sở để phân biệt trang trại gia đình với các loại hình kinh doanh khác đang tồn tại trong nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam hiện nay.

2. Phân biệt trang trại gia đình với các loại hình kinh doanh khác:

2.1. Với hộ kinh doanh cá thể:

Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì hộ kinh doanh cá thể là do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh

tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Như vậy, giữa trang trại gia đình và hộ kinh doanh cá thể có điểm giống nhau đó là đều thuộc sở hữu của hộ gia đình (trong trường hợp hộ kinh doanh cá thể do hộ gia đình làm chủ) và đều chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai loại hình kinh doanh này thể hiện ở những điểm

cơ bản sau:

– Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh: Theo quy định của pháp luật, hộ kinh doanh

cá thể có phạm vi kinh doanh rộng hơn so với trang trại gia đình. Hộ kinh doanh cá thể có thể chọn kinh doanh trong bất cứ ngành nghề, lĩnh vực nào mà pháp luật không cấm, và thực tế hộ kinh doanh cá thể kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Trong khi đó, ngay tên gọi và theo quy định tại Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày

02/02/2000 của Chính phủ, Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày

23/6/2000 của Bộ NN&PTNTvà Tổng cục thống kê thì chỉ xem xét để xác định là trang trại trong các ngành nghề: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc sản xuất nông nghiệp là chính và có kiêm nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn. Nói cách khác, hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình chỉ giới hạn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.

– Mục đích, quy mô và trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh: Dựa trên quy định của pháp luật và thực tế cho thấy, hộ kinh doanh cá thể mặc dù cũng có mục đích kinh doanh song chủ yếu có quy mô nhỏ, tổ chức đơn giản và không thường xuyên thuê muớn lao động. Còn đối với trang trại gia đình, các số liệu điều tra cho thấy trang trại gia đình có quy mô sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều so với hộ kinh doanh cá thể. Với mục đích là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hoá với quy mô lớn, mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất của hộ nông dân cá thể, thể hiện ở quy mô sản xuất như : đất đai, đầu con gia súc, lao động và giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá. Đặc điểm này đã được cụ thể hoá thành hai tiêu chí

để phân biệt và xác định là kinh tế trang trại trong thông tư 69/2000/TTLT/BNN-TCTK. Trình độ quản lý và sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình vì vậy cũng khoa học và chuyên nghiệp hơn so với hộ kinh doanh cá thể. Bên cạnh sử dụng lao động gia đình các trang trại gia đình còn phải thường xuyên thuê mướn lao động bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Có ý kiến cho rằng, các trang trại gia đình ở Việt Nam hiện nay thực chất cũng chỉ là

hộ kinh doanh cá thể. Tuy nhiên, theo chúng tôi, mặc dù cũng có mục đích kinh doanh nhưng quy mô kinh doanh và lợi nhuận thu được của hộ kinh doanh cá thể thường giới hạn ở quy mô nhỏ, vừa phải và chủ yếu là nhằm trang trải cho các nhu cầu tiêu dùng của hộ. Trong khi đó, trang trại gia đình được xác định là một loại hình sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hoá với quy mô và lợi nhuận lớn hơn rất nhiều so với hộ nông dân cá thể. Tất nhiên, cũng không loại trừ trên thực tế có một số hộ kinh doanh cá thể có quy mô sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thu được là rất lớn, thậm chí còn hơn cả quy mô của các loại hình khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty… Tuy nhiên, đây chỉ là những trường hợp cá biệt. Theo quy luật thì trong quá trình phát triển đến một lúc nào đó bản thân những hộ cá thể này sẽ cảm thấy sự gò bó, chật hẹp của “chiếc áo” hộ kinh doanh cá thể đang khoác lên mình và sẽ chuyển đổi sang một hình thức pháp lý khác phù hợp hơn. Chính vì vậy, tại khoản 2 Điều 123 Luật doanh nghiệp cũng quy định rõ “Chính phủ hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn đang hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 2/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng chuyển thành Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của luật này. Hộ kinh doanh cá thể có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ”. Trước tình hình đó, nếu cố gò ép trang trại gia đình hoạt động trong khuôn khổ pháp lý của hộ kinh doanh cá thể, theo chúng tôi, là không phù hợp, điều này

sẽ hạn chế và khó khăn cho các trang trại gia đình trong quá trình sản xuất kinh doanh.

2.2. Với hợp tác xã (hoạt động theo Luật hợp tác xã):

– Về sở hữu tài sản và vốn góp: Theo quy định của Luật Hợp tác xã, vốn và tài sản của hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của các xã viên trong hợp tác xã. Trong khi đó, vốn và tài sản của trang trại gia đình thuộc sở hữu chung của hộ gia đình.

– Về tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm trong kinh doanh: Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Hợp tác xã chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ khác bằng toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã. Các thành viên hợp tác xã cùng góp vốn, sức lao động để sản xuất kinh doanh và hưởng lãi theo vốn góp, công sức góp vào hợp tác xã và theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Đồng thời trong phạm vi vốn góp của mình, các xã viên cùng chịu trách nhiệm về các khoản nợ, rủi

ro, thiệt hại, các khoản lỗ của hợp tác xã. Đối với trang trại gia đình được thành lập và hoạt động trên cơ sở hộ gia đình, chủ trang trại và các thành viên trong gia đình cùng góp vốn, sức lao động để sản xuất kinh doanh. Theo quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm dân sự của hộ gia đình thì trang trại gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ về các hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại, nếu tài sản chung của

hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của trang trại thì các thành viên hộ gia đình

phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Nói cách khác, trang trại gia đình chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

– Mặt khác, xét về nội dung, hình thức tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã cũng rất đa dạng. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp thì hình thức phổ biến nhất là hợp tác xã kinh doanh dịch vụ đầu ra, đầu vào cho các hộ gia đình, các trang trại gia đình và mở mang thêm ngành nghề mới, còn sản xuất thuần túy nông nghiệp vẫn do từng hộ gia đình và các trang trại gia đình tiến hành.

2.3. Với doanh nghiệp tư nhân (hoạt động theo Luật doanh nghiệp)

Điểm giống nhau giữa trang trại gia đình và doanh nghiệp tư nhân đêu là những tổ chức kinh tế không có tư cách pháp nhân, và đều phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, giữa trang trại gia đình và doanh nghiệp tư nhân cũng có những điểm khác nhau

cơ bản sau :

Về sở hữu tài sản và vốn góp: Trang trại gia đình thuộc sở hữu của hộ gia đình, các thành viên trong hộ gia đình liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại. Còn doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và thuộc sở hữu của một mình cá nhân chủ doanh nghiệp.

Về quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh: Nhìn chung, doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn hơn nhiều so với trang trại gia đình. Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử dụng lao động làm thuê, kể cả lao động kỹ thuật và quản lý, mức độ tập trung sản xuất, năng lực sản xuất cao hơn nhiều so với trang trại gia đình. Theo pháp luật hiện nay, đối với một số ngành nghề doanh nghiêp tư nhân còn phải đạt được một quy mô tối thiểu mà pháp luật quy định (thể hiện ở mức vốn pháp định). Trong khi đó, trang trại gia đình tuy có thuê mướn thêm lao động làm thuê, nhưng số lao động thuê mướn thường không nhiều lắm, lực lượng lao động chủ yếu trong trang trại vẫn là các thành viên trong hộ.

2.4. Với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (hoạt động theo Luật doanh nghiệp)

Về sở hữu tài sản và vốn góp: Khác với trang trại gia đình thuộc sở hữu của các thành viên trong hộ gia đình, đây là những người có quan hệ họ hàng, thân thiết với nhau (cha me, vợ chồng, anh chị em,…), công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thuộc sở hữu của các thành viên góp vốn. Giữa các thành viên này thường không có quan hệ họ hàng, thân thiết. Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể

là cá nhân hoặc pháp nhân. Số thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên là từ 2 đến 50 thành viên, còn đối với công ty cổ phần số thành viên tối

thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Riêng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì thành viên góp vốn theo quy định của pháp luật phải là một pháp nhân.

Về tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm trong kinh doanh: Nếu như trang trại gia đình là một chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân, các thành viên trong hộ phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại thì công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được pháp luật quy định có tư cách pháp nhân. Trong 2 loại hình công ty này có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các thành viên góp vốn. Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn mà họ góp vào công ty.

Về quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty

cổ phần có quy mô lớn hơn rất nhiều so với trang trại gia đình. Do việc thành lập chỉ quan tâm đến vốn góp, do đó thành viên công ty thường rất đông. Số lượng lao động thuê mướn vì vậy cũng rất lớn. Cơ cấu tổ chức quản lý được quy định chặt chẽ và phức tạp hơn nhiều so với trang trại gia đình (cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn gồm hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc, ban kiểm soát. Còn cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bao gồm đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc, ban kiểm soát…).

2.5. Với công ty hợp danh (hoạt động theo Luật doanh nghiệp)

Điểm giống nhau giữa trang trại gia đình với loại hình công ty hợp danh thể hiện ở chỗ

cả hai loại hình này đều là các tổ chức kinh tế không có tư cách pháp nhân. Cũng giống như các thành viên trong hộ trang trại gia đình, các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty, chính vì vậy giữa các thành viên này thường có mối quan hệ họ, hàng thân thiết với nhau.

Giữa trang trại gia đình và công ty hợp danh có những điểm khác nhau cơ bản sau :

Về sở hữu tài sản và vốn góp: Trang trại gia đình do các thành viên trong hộ gia đình đầu tư vốn để sản xuất kinh doanh, thuộc sở hữu của hộ gia đình. Công ty hợp danh thuộc

sở hữu của các thành viên công ty. Theo quy định của pháp luật thì công ty hợp danh phải

có ít nhất hai thành viên hợp danh làm chủ, các thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân. Ngoài ra, trong công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn, thành viên góp vốn

có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

Về chế độ trách nhiệm trong kinh doanh: Trong trang trại gia đình, các thành viên trong hộ gia đình phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại. Còn đối với công ty hợp danh, pháp luật quy định các thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh,

trong khi đó các thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty hợp danh.

Như vậy, trên thực tế trang trại gia đình, với tư cách là một loại hình kinh doanh mới,

đã và đang tồn tại một cách độc lập bên cạnh các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. Trang trại gia đình vừa là một đơn

vị kinh doanh, vừa là một đơn vị xã hội, trong đó các thành viên liên kết với nhau không chỉ bằng quan hệ kinh tế mà sâu sắc hơn là quan hệ huyết thống, gia tộc. Chủ trang trại gia đình và các thành viên cùng tham gia lao động sản xuất trong trang trại của mình. Điều này đã làm cho trang trại gia đình là lực lượng sản xuất nông sản phẩm hàng hoá cho xã hội và tồn tại lâu dài trong nền kinh tế thị trường mà không bị các loại hình doanh nghiệp khác thôn tính bởi quá trình cạnh tranh. Cùng với sự tăng nhanh về số lượng, các trang trại gia đình đã và đang khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của mình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có thái độ đúng đắn đối với sự tồn tại và phát triển của loại hình kinh doanh này, đồng thời phải xây dựng được một khung pháp luật phù hợp làm cơ sở cho Trang trại gia đình hình thành và phát triển trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

1 Thành Lâm (2002), Kinh tế trang trại còn đó những khó khăn, Báo Pháp luật – Bộ Tư pháp, (1), tr.7

2 Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Sinh Cúc, Hoàng Vĩnh Lê (1998), Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam, nxb Thống kê, Hà Nội.

3 Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM (1999),Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ : Kinh tế trang trại ở Nam Bộ, tr.11.

ĐỀN BÙ CHÁY NỔ TRÊN THẾ GIỚI

THỤY MIÊN

Có thể nói vấn đề quan trọng nhất sau một vụ cháy nổ gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản chính là tìm kiếm đền bù. Kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới cho thấy vấn đề này sẽ dễ dàng hơn nếu nạn nhân đã được bảo hiểm. Nếu không, vụ kiện sẽ kéo dài và không dễ thắng kiện.

Keri Ann Malo chỉ mới 6 tuổi đầu khi đại nạn ập đến gia đình cô vào ngày 30.4.1992. Một ngọn lửa hung hãn đã ngốn sạch ngôi nhà của cô tại North Bergen, bang New Jersey (Mỹ), giết chết mẹ và người anh 11 tuổi. Cha của Malo cũng chết sau đó 2 năm vì các vết thương từ vụ cháy. Bản thân Malo bị bỏng 52% cơ thể và phải trải qua 21 cuộc phẫu thuật để giành lại mạng sống từ tay tử thần. Người chị 8 tuổi, cũng may mắn thoát khỏi tai nạn thảm khốc trên, nhưng bị mắc chứng trầm uất và khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Tuy nhiên, mãi đến tháng 6.2007, hai chị em mới nhận được số tiền đền bù 8 triệu USD từ chủ nhà, Công ty cung cấp điện và khí đốt, và một số bên khác có liên quan. Số tiền do công ty bảo hiểm của bị cáo chi.

Trong một trường hợp khác, 3 công nhân làm việc tại nhà máy lọc dầu của hãng Texaco tại Pembroke (Anh) đã trở thành nạn nhân khi nhà máy trên bị cháy vào tháng 7.1994. Mãi đến tháng 11.1999, họ mới thắng kiện trong vụ xử yêu cầu nhà sản xuất phải đền bù thiệt hại vật chất và tinh thần sau vụ nổ. Tổng cộng, phía bị đơn, tức công ty Texaco, phải trả 839.000 bảng Anh cho các nạn nhân. Trong một trường hợp khác, một vụ cháy nhà tại thành phố Rocky Mount, North Carolina (Mỹ) khiến 7 người thiệt mạng vào năm 2000. Những người sống sót đâm đơn kiện ban lãnh đạo thành phố và công ty cho thuê nhà Farouk Hamad. Đến tháng 5.2006, phía bị đơn đồng ý đền bù, với lãnh đạo thành phố trả 3 triệu USD và phía Hamad là 250.000 USD.

Trên đây chỉ là một số ví dụ cho thấy cần phải tốn nhiều thời gian để theo đuổi một vụ kiện sau các tai nạn cháy nổ, nhất là khi nguyên đơn do cá nhân đứng tên. Công cuộc theo đuổi những vụ kiện đòi phía chịu trách nhiệm trong các vụ cháy, nổ đền bù thiệt hại đòi hỏi phải có nhiều thời gian và kiên nhẫn. Vấn đề đền bù diễn ra nhanh hơn đối với những trường hợp có mua bảo hiểm cháy nổ khi kinh doanh, như vụ cháy một khu thương mại tại tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc.

Vào ngày 15.2.2004, một vụ cháy lớn đã xảy ra tại khu thương mại Zhongbai ở thành phố Cát Lâm, Trung Quốc, khiến 53 người thiệt mạng và ít nhất 70 người bị thương. Đến ngày 20.2, gia đình mỗi nạn nhân thiệt mạng đã được đền bù ít nhất 80.000 nhân dân tệ (9.600USD). Theo thỏa thuận, khu thương mại Zhongbai có nghĩa vụ phải trả tiền đền bù theo 2 đợt, với đợt đầu là 50.000 nhân dân tệ (6.000USD) cùng các chi phí chữa trị cho các nạn nhân.

Bảo hiểm cháy nổ đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp đảm bảo lợi ích của cá nhân một khi có tai nạn xảy ra. Vụ cháy Câu lạc bộ Supper Beverly Hills tại Southgate, Kentucky (Mỹ) vào năm 1977, giết chết 165 người, Hãng General Electric đã trả 10 triệu USD để dàn xếp các cáo buộc đã sai lầm khi thiết kế hệ thống dây điện trong tòa nhà. Bảo hiểm và những công ty có liên quan đến việc xây dựng và hoạt động của tòa nhà trên đã trả khoảng 50 triệu USD.

Một trường hợp cháy khác vào năm 1990 khiến 87 người thiệt mạng tại Câu lạc bộ Happy Land Social, thành phố New York, đã được chủ câu lạc bộ và hãng bảo hiểm đền bù với số tiền khoảng 15 triệu USD. Gần đây nhất, vào cuối tháng 6 năm nay, những nạn nhân trong vụ cháy khu chung cư Boardwalk tại thành phố Lawrence, bang Kansas (Mỹ), vào tháng 10.2005 đã được nhận gần 80.000 USD.

SOURCE: Thuỵ Miên – THANHNIEN.COM.VN

SUY NGẪM 1

“Bạo lực giới nói chung và bạo lực giới trong gia đình nói riêng phần lớn là do nam giới gây ra với phụ nữ. Nhưng cần nhận thấy rằng cũng còn có bạo lực của phụ nữ đối với nam giới. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có khoảng 9-10% trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm chính là những bà vợ.

Nhiều công trình nghiên cứu xã hội học trên thế giới cũng cho thấy đôi khi bạo lực giới trong gia đình là gần ngang nhau giữa nam và nữ.

Từ ý trên đây, có thể thấy dường như có sự thiên vị giới trong nghiên cứu bạo lực gia đình. Mà sự thiên vị giới ở đây là chỉ thấy bạo lực giới một chiều. Cần lưu ý rằng phụ nữ không chỉ là nạn nhân của bạo lực gia đình mà còn là thủ phạm của bạo lực gia đình; ngay cả khi họ bị chồng sử dụng bạo lực (vì không ít trường hợp vợ bị chồng đánh do nói nhiều, do cằn nhằn vô lý hoặc ghen tuông vô cớ…).”

Trích từ bài viết mang tên “Nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt nam” của Ts. Hoàng Bá Thịnh – ĐHKHXHNV Hà Nội

CÁC THÔNG TIN VỀ GIỚI CÁC BẠN THAM KHẢO TẠI CHỦ ĐỀ: GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP

ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT SƯ Ở PHÁP

LP

Pháp là một nước có nền dân chủ lâu đời, một nền kinh tế thị trường phát triển, một nền pháp chế hoàn thiện. Số luật sư ở Pháp rất đông, riêng đoàn Luật sư Paris có trên 1, 5 vạn người, Đoàn nhỏ cũng có khoảng vài trăm luật sư. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, việc đào tạo nghề nghiệp cho luật sư rất được chú trọng và được tổ chức chặt chẽ.

Trước tiên, luật sư được đào tạo ở Trung tâm đào tạo luật sư. Sau khi tốt nghiệp, Trung tâm vẫn giám sát việc tập sự của luật sư và đào tạo thường xuyên về nghề nghiệp cho luật sư. Người muốn vào nghề luật sư phải có bằng Đại học luật hoặc tương đương và trải qua một kỳ thi tuyển. Thời gian học là 1 năm. Một số người có thể được miễn học tập ở Trung tâm như Giáo sư luật, Tiến sỹ luật, người đã có nhiều năm làm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Công chứng viên do pháp luật quy định. Các học viên được đào tạo về lý luận và thực tiễn hành nghề luật sư. Chương trình học do Uỷ ban quản lý Trung tâm khu vực quy định với sự nhất trí của Hội đồng quốc gia luật sư và báo cáo với Bộ Tư pháp. Nội dung chương trình chủ yếu là nghiên cứu điều lệ và đạo đức luật sư, thảo các văn bản, bào chữa trước toà, thực hành các thủ tục tố tụng, quản lý một văn phòng luật sư, học một ngoại ngữ. Người tốt nghiệp sẽ được cấp chứng chỉ khả năng hành nghề luật sư.

Để trở thành một luật sư thực thụ, người đã có chứng chỉ khả năng hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư, tuyên thệ trước Toà án phúc thẩm và phải ghi tên vào danh sách những người tập sự thuộc Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp, thời gian tập sự là 2 năm. Trung tâm khu vực quy định những yêu cầu của luật sư tập sự, những việc phải giao cho học viên và giám sát thực hiện. Trung tâm lập danh sách những luật sư hướng dẫn, luật sư được giao nhiệm vụ không được từ chối. Các luật sư tập sự bên cạnh một luật sư, một người chuyên nghề nghiệp pháp lý, một chuyên gia kinh tế trong cơ quan pháp chế có từ 3 luật gia trở lên hoặc có thể tập sự ở một cơ quan công quyền. Ngoài ra, hàng năm, Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp luật sư còn tổ chức bồi dưỡng cho luật sư về các đề tài pháp lý mới hoặc về thực tiễn.

Ở nước ta, sau khi được đào tạo ở Học viện Tư pháp, người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được tham gia tập sự ở các Đoàn luật sư hoặc Văn phòng luật sư. Để nghề luật sư phát triển và thực sự phát huy được ý nghĩa tốt đẹp của nó thì không những cần tăng cường về số lượng mà còn phải quan tâm đến vấn đề chất lượng luật sư. Hiện nay, việc xây dựng một ngôi nhà chung cho Đoàn Luật sư toàn quốc ở Việt Nam là cần thiết để vừa phát huy sức mạnh nội lực đồng thời có thể tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức luật sư nước ngoài về đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cho luật sư.

SOURCE: HAIPHONG.GOV.VN

TĂNG THỜI GIAN NGHỈ THAI SẢN LÊN 6 THÁNG?

LAN HƯƠNG

– Có nên tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng, khi vấn đề tử vong ở trẻ sơ sinh có liên quan đến việc bú mẹ và sức khoẻ của các bà mẹ? Bộ LĐ-TB&XH cùng Bộ Y tế đang chuẩn bị ngồi lại với nhau để bàn về vấn đề này.

Theo báo cáo mới nhất của UNICEF về tình hình trẻ em thế giới 2008, tại Việt Nam cứ mỗi ngày đi qua lại có khoảng 72 trẻ dưới 5 tuổi tử vong; trẻ sơ sinh chiếm hơn một nửa trong số đó.

Bà Đinh Thị Phương Hoà, Phó Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ bà mẹ – trẻ em (Bộ Y tế) cho biết, tiến độ giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh bị chậm lại là do sự quan tâm của các nhà chính sách, các nhà chuyên môn trong nước thời gian qua chưa đúng mức, đúng cách. Trẻ sơ sinh trong độ tuổi từ 0-30 ngày chưa được đầu tư tốt, đây là khoảng trống dẫn đến tỷ lệ tử vong cao.

Thậm chí con số báo cáo nói trên chưa phản ánh đúng thực chất. Theo một kết quả thống kê, chỉ có trên 80% trẻ dưới 5 tuổi có khai sinh, không có khai sinh hiển nhiên không có khai tử!

Theo bà Hòa, những quan niệm sai lầm về việc chăm sóc trẻ sơ sinh là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở trẻ. Chẳng hạn rất nhiều bà mẹ vẫn thường có suy nghĩ muốn làm việc đến tận lúc “lên bàn đẻ” để dành nhiều thời gian chăm sóc con sau này. Họ không hiểu rằng thời gian nghỉ trước sinh là vô cùng quan trọng. Nếu bà mẹ làm việc đến cận ngày sinh sẽ dẫn đến nguy cơ sinh ra những đứa trẻ nhẹ cân, làm tăng nguy cơ tử vong.

Để tạo điều kiện cho các bà mẹ có thêm thời gian chăm sóc con cũng như sức khoẻ bản thân, Vụ Sức khoẻ bà mẹ – trẻ em và Vụ Trẻ em đang nghiên cứu và trình cấp trên về việc cho tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng.

Bà Hòa khuyến cáo: Việc tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng là điều kiện giúp các bà mẹ có cơ hội nghỉ 1 tháng trước khi sinh và có thể thực hiện việc cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời.

Ông Đặng Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Trẻ em, cho biết: “Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ việc tăng thời gian nghỉ thai sản cho chị em phụ nữ bởi điều đó không chỉ giúp các bà mẹ có thêm nhiều thời gian nghỉ ngơi mà quan trọng hơn là giúp trẻ có cơ hội được chăm sóc tốt hơn từ chính bàn tay mẹ, giúp phát triển thế hệ tương lai một cách toàn diện và bền vững.

Nhưng việc nghỉ sinh liên quan đến sửa đổi Luật Lao động và liên quan đến chính sách bảo hiểm. Vì hiện nay, lương của những người trong thời gian nghỉ thai sản là do bảo hiểm xã hội chi trả. Bởi vậy, để giải quyết được vấn đề này phải có sự đồng tình của nhiều cấp cũng như nhận thức đúng tầm quan trọng từ phía các cấp lãnh đạo”.

Ngoài ra, cùng với việc tăng thời gian nghỉ sinh, các cơ quan chức năng cũng cần xem xét đến vấn đề giảm hơn nữa thời gian làm việc của các bà mẹ vào thời gian đầu mới đi làm lại. Đây chính là nguyện vọng của đa số các bà mẹ làm công ăn lương hiện nay.

SOURCE:  Lan Hương-Dân Trí

SỞ HỮU VÀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI IX

THS. NGÔ ĐẠT  –  Khoa Khoa học cơ bản, trường ĐH Luật TP. HCM

1. Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất. Quan hệ sản xuất thể hiện qua ba mặt: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý trong sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm. Mỗi mặt có vai trò, vị trí khác nhau nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Trong đó mặt cơ bản là quan hệ sở hữu vì ai nắm tư liệu sản xuất thì người đó chi phối quá trình tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm làm ra. Nhưng tổ chức quản lý và phân phối luôn có tác động trở lại đối với sở hữu. Do vậy trong ba mặt của quan hệ sản xuất không nên tuyệt đối hóa mặt nào.

Thế nhưng trước đây chúng ta đã có những nhận thức chưa đúng, nổi bật là đã tuyệt đối hóa mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, nên đã đẩy nhanh quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa để xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác nhằm xác lập chế độ công hữu dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.

Đối với sở hữu tập thể, mọi tư liệu sản xuất của người lao động từ cái cày, cái cuốc, con trâu đến ruộng đất đều bị tập thể hóa. Từ đó quá trình sản xuất và phân phối đều do ban quản trị điều hành. Thế nhưng toàn bộ tài sản được tập thể hóa cũng không phải là của xã viên mà cũng không phải của ban quản trị, cũng không phải của nhà nước. Nó chẳng của ai cả, vô hình trung đã trở thành không có chủ đích thực. Quy mô của hợp tác xã càng lớn thì tính vô chủ đối với tư liệu sản xuất càng cao. Do đó phát sinh tình trạng lãng phí, tham ô khá phổ biến. Từ đó dẫn đến hiệu quả kinh tế ngày càng giảm sút và người xã viên không gắn bó cùng hợp tác xã.

Đối với sở hữu toàn dân, loại sở hữu này cũng dẫn đến tình trạng vô chủ vì người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh chỉ là người làm công ăn lương. Còn giám đốc tuy do nhà nước bổ nhiệm nhưng họ cũng là người hưởng lương như người lao động. Quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm do Ủy ban Kế hoạch nhà nước quyết định. Ở đây, kế hoạch: nhà nước giao; vốn: nhà nước cấp; giá: nhà nước định; lãi: nhà nước thu; lỗ: nhà nước bù.

Đây chính là cơ sở kinh tế xã hội làm phát sinh tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham ô, móc ngoặc. Thực chất của chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể ở nước ta là như vậy, nhưng chúng ta lại lầm tưởng đó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và đã cố gắng bảo vệ nó.

Từ tuyệt đối hóa mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, chúng ta đi đến tuyệt đối hóa quan hệ sản xuất, đi ngược lại quy luật kinh tế khách quan là đẩy mạnh việc xây dựng quan hệ sản xuất để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Cách làm này đã không tạo được điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mà trái lại kìm hãm lực lượng sản xuất.

Như vậy, với chế độ công hữu hình thức, áp đặt, chúng ta đã nhanh chóng xóa bỏ các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thực tế là đã triệt tiêu động lực kinh tế làm cho nền kinh tế không phát triển, đời sống khó khăn, tiêu cực phát triển.

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã thổi luồng gió mới vào đời sống kinh tế ở nước ta. Trong đại hội này, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót trong nhận thức và chỉ đạo về sở hữu và các thành phần kinh tế, cũng như việc vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ VI chỉ rõ: Trong nhận thức và trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

Trên cơ sở nhận thức lại lý luận và thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã có những nhận thức mới đúng đắn và khoa học về vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế, từng bước khơi dậy được động lực hoạt động kinh tế trong các thành phần dân cư; nghĩa là thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và những thành phần kinh tế. Từ đó thay đổi cơ chế quản lý và cơ chế phân phối, cụ thể là chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ cơ chế phân phối bình quân sang cơ chế phân phối theo lao động và tài sản đóng góp. Đồng thời đã nhận thức rõ hơn về sở hữu qua các quyền năng như: quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thừa kế, quyền chuyển nhượng, quyền định đoạt, quyền hưởng lợi, nhờ đó khắc phục được tình trạng vô chủ trước đây.

Đại hội Đảng lần thứ VII và chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000, Đảng ta khẳng định: Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong đó có ba hình thức cơ bản đó là: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Trên cơ sở ba hình thức sở hữu cơ bản này mà hình thành nhiều hình thức tổ chức và nhiều thành phần kinh tế. Cụ thể có năm thành phần kinh tế:

– Kinh tế quốc doanh;

– Kinh tế hợp tác;

– Kinh tế tư bản tư nhân;

– Kinh tế cá thể, tiểu chủ;

– Kinh tế tư bản Nhà nước.

Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Các thành phần kinh tế tồn tại lâu dài và nằm trong một cơ cấu kinh tế thống nhất.

Tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới với những thành công và những hạn chế trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Đại hội Đảng lần thứ VIII lại có nhận thức đầy đủ thêm. Để phù hợp với thực tiễn phát triển, Đại hội đã thay cụm từ: kinh tế quốc doanh bằng cụm từ kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác xã thành kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã và đưa thành phần kinh tế tư bản nhà nước lên vị trí thứ ba.

2. Đại hội lần thứ IX của Đảng là đại hội của “ý Đảng lòng dân” về sở hữu và các thành phần kinh tế. Đại hội đã có những bổ sung và phát triển về sở hữu và các thành phần kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của đất nước.

Về sở hữu: Đây là vấn đề cơ bản và quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng. Sở hữu về tư liệu sản xuất là yếu tố hàng đầu quyết định các mối quan hệ sản xuất, quyết định chế độ quản lý và chế độ phân phối.

Vì thế vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất từ xưa đến nay luôn là vấn đề cơ bản và sâu xa của mọi cuộc cải cách kinh tế cũng như của mọi cuộc cách mạng xã hội.

Khi nói đến chế độ sở hữu là nói chung, với hàm nghĩa là cơ sở của chế độ kinh tế. Loài người đã trải qua nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, nhưng tựu trung chỉ có hai chế độ sở hữu cơ bản. Đó là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Mỗi chế độ sở hữu lại có nhiều trình độ và hình thức biểu hiện cụ thể khác nhau. chế độ công hữu có các trình độ và hình thức biểu hiện như: sở hữu công xã, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể…. Chế độ tư hữu cũng có nhiều trình độ và nhiều hình thức như: sở hữu của nông dân cá thể, sở hữu của người sản xuất hàng hóa nhỏ, sở hữu của địa chủ, sở hữu của nhà tư bản.

Hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do đó tất yếu còn đan xen nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất. Tiếp tục phát triển những tư tưởng của Đại hội VII và Đại hội VIII về sở hữu, Đại hội IX khẳng định thêm một số tư tưởng:

– Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất, chủ yếu từng bước được xác lập và chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội xây dựng xong về cơ bản. Xây dựng chế độ đó là một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lâu dài qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao. Phải từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm để xây dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan hệ sản xuất mới nói chung với bước đi vững chắc.

– Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả sản xuất, quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.

Về các thành phần kinh tế: Quy luật của sự phát triển là phát triển không đều. Chính quy luật phát triển không đều về kinh tế, xã hội và tự nhiên đã làm xuất hiện trong nền kinh tế nhiều “kiểu cách làm ăn” với quy mô trình độ khác nhau và phù hợp với nó là những hình thức sở hữu tương ứng. Thêm nữa, để phát triển kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống chính trị – xã hội, Nhà nước phải xây dựng hệ thống những cơ sở kinh tế mới, hình thành nên khu vực Kinh tế nhà nước. Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế, thông qua hợp tác và đầu tư lại hình thành nên Kinh tế tư bản nhà nước. Đây là cơ sở kinh tế của việc hình thành các thành phần kinh tế khác nhau mà ngày nay nhiều khi gọi đó là khu vực kinh tế hay loại hình kinh tế.

Mục tiêu hàng đầu của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là giải phóng sức sản xuất, thực chất là tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân có điều kiện tham gia sản xuất kinh doanh, qua đó động viên tối đa mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước cho công cuộc phát triển kinh tế, nhằm thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Đây chính là cơ sở xã hội của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.

Xuất phát từ thực tiễn những năm gần đây, Đại hội IX tái khẳng định quan điểm đổi mới của Đại hội VI, VII, VIII, đồng thời bổ sung một số điểm mới như sau:

Một là, thay thành phần kinh tế hợp tác bằng thành phần kinh tế tập thể, trong đó hợp tác xã là nòng cốt.

Hai là, nhận thức rõ hơn thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nên đưa thành phần kinh tế này lên vị trí thứ ba sau thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể nhằm phát huy nội lực để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ba là, bổ sung thêm một thành phần kinh tế nữa là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Như vậy hiện nay ở nước ta có sáu thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể trong đó nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Các thành phần kinh tế có thể có các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp, vừa hợp tác vừa cạnh tranh trong cùng một nền kinh tế quốc dân thống nhất. Tất cả các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước chiếm vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân.

Bốn là, phương hướng phát triển các thành phần kinh tế.

+ Thành phần kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế.

Kinh tế nhà nước dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước). Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Các doanh nghiệp nhà nước, bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhà nước giữ vai trò then chốt, phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, nêu gương về năngsuất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật.

Để làm được như vậy, trong 5 năm tới phải cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện có, đồng thời phát triển các doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, một số lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo hướng sau:

* Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sơ các công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Khẩn trương cải thiện tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiện đại hóa một bước các tổng công ty nhà nước.

* Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước không cần 100% vốn.

* Giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nước không cần nắm giữ.

* Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên.

* Về mặt quản lý, nhà nước phải phân biệt về quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với doanh nghiệp dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước. Giao cho hội đồng quản trị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu với quyền tự chủ sản xuất kinh doanh; quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

* Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng xóa bao cấp, thực hiện cạnh tranh bình đẳng trên

thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, nộp đủ thuế và có lãi. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp, có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, thanh tra của nhà nước đối với doanh nghiệp.

+ Thành phần kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt, có thể dựa trên sở hữu tập thể, cũng có thể quyền sở hữu hợp pháp vẫn thuộc về các thành viên, nhưng quyền sử dụng lại mang tính chất tập thể.

Kinh tế tập thể là hình thức liên kết tự nguyện, rộng rãi của người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa không giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn, có thể kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành.

Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học, công nghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ phát triển hỗ trợ hợp tác, giải quyết nợ tồn đọng. Khuyến khích việc tích lũy, phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã.

+ Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ. Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nông thôn và thành thị hoạt động kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của người sở hữu là chủ yếu. Thế mạnh của thành phần kinh tế này là phát huy nhanh có hiệu quả tiền vốn, sức lao động, tay nghề, sản phẩm truyền thống… vì thế nó có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển. Do những ưu thế đó, Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, tiêu thụ sản phẩm… để nó phát triển. Khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.

+ Thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh. Nét nổi bật của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗn hợp và lao động làm thuê, nó được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty đối nhân, công ty đối vốn. Tính đến cuối năm 2001 nền kinh tế nước ta có 24.387 doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp kinh tế tư bản tư nhân không những đóng góp và huy động ngày càng nhiều các nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất, kinh doanh mà còn qua đó giữ vai trò quan trọng trong việc tạo thêm việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống và hoạt động nhân đạo. Với vị thế ấy, Đảng ta chủ trương khuyến khích phát triển rộng rãi kinh tế tư bản tư nhân trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh về chính sách, pháp lý để phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài. Khuyến khích tư bản tư nhân chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động. Đẩy mạnh liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế khác.

+ Thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm tất cả các hình thức hợp tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản trong nước cũng như nước ngoài, nhằm khai thác các nguồn lực cho phát triển và đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Kinh tế tư bản nhà nước là sản phẩm từ sự can thiệp thông minh của Nhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, kinh tế tư bản nhà nước thực sự là cầu nối giữa sản xuất nhỏ và sản xuất lớn, là “nhịp cầu trung gian” đi lên xã hội chủ nghĩa. Nó có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà tư bản, vì lợi ích của bản thân họ cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta. Do đó, Đảng ta chủ trương phát triển đa dạng các hình thức tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước.

+ Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là thành phần kinh tế mới được bổ sung. Sở dĩ như vậy là vì thực tế trong những năm gần đây bộ phận đầu tư kinh doanh của nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trong 10 năm (1991 – 2001) các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá nhanh. Giá trị sản xuất bình quân tăng 22%/năm. Trong năm năm (1996 – 2000) vốn đầu tư nước ngoài thực hiện khoảng 10 tỷ USD chiếm 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, trên 22% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 10% GDP. Từ thực tiễn đó, Đảng ta chủ trương tạo điều kiện để thành phần kinh tế này phát triển thuận lợi, hướng mạnh vào khâu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trường kinh doanh và pháp lý để thu hút ngày một nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài.

Nhìn lại gần 20 năm cải cách, chúng ta đã có được nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu tương ứng. Các thành phần kinh tế tồn tại trong cùng một nền kinh tế quốc dân thống nhất, vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau để phát triển. Để huy động mọi nguồn lực tăng trưởng, trong những năm tới Đảng ta cho rằng cần chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, phát triển mạnh hình thức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội. Nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông dân.

Các bài viết có liên quan: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở HOA KỲ

TS. PHAN THỊ KIM NGĀN – Khoa Khoa học cơ bản trường ĐH Luật TP. HCM

Việc giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ có một số khác biệt với nước ta và một số các nước trong hệ thống luật lục địa. Có một điều đáng ngạc nhiên với nhiều người là giáo dục pháp luật ở Mỹ được khai sinh vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và chỉ thực sự được thúc đẩy trong các thập kỷ vừa qua với các khóa học chi tiết và tổng hợp dành cho nhiều người và với số lượng lớn các trường luật như ngày nay mà theo con số thống kê mới nhất lên đến gần 200 trường. Giáo dục pháp luật đã phát triển mạnh mẽ từ những bước khởi đầu ở thế kỷ 20. Có hai đặc trưng trong giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ: đó là đào tạo một lớp luật sư thực hành và việc giáo dục thường xuyên các kỹ năng cho người hành nghề luật tại các cương vị. Trong bài báo này chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề thứ nhất: đó là việc đào tạo trong các trường luật ở Hoa Kỳ.

1. Những bước phát triển trong quá trình giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ:

Trong các trường luật ở Hoa Kỳ, hệ thống chương trình 3 năm sau đại học với đội ngũ giảng viên chính quy theo chương trình gần như được chuẩn hóa và sử dụng phương pháp xử lý từng trường hợp cụ thể chỉ được hình thành dần dần và xuất hiện vào thế kỷ 20. Do quá trình chống lại sự thống trị của người Anh và bác bỏ tầng lớp quý tộc và sự đôc quyền, người Mỹ có ý thức xây dựng nhà nước theo nguyên tắc bình đẳng tiếp cận pháp luật, dẫn tới sự hoài nghi có tính dân chủ về các đặc quyền nghề nghiệp và các tổ chức chuyên môn. Vì vậy, vào những ngày đầu của nền cộng hòa, các bang không các đòi hỏi giáo dục chính quy hay các kỳ kiểm tra đối với luật sư mà chỉ cần vài năm học nghề ở một văn phòng luật sư. Những trường luật đầu tiên cung cấp nhiều luật sư hàng đầu của nền cộng hòa mới như trường luật Litchfield nổi tiếng ở vùng Tây Connecticut và một vài trường đại học luật liên kết với các trường William và Mary, Harvard và Columbia. Nhưng các trường này lúc đó cũng chỉ đòi hỏi có bằng trung học và chỉ một hai năm học luật. Giáo viên thường là các luật sư bán thời gian. Sinh viên nghe các bài giảng, đọc giáo trình tham khảo hay các bài bình luận về các chủ đề luật.

Vào những năm 1870, sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên, danh tiếng của các trường đại học lớn ở châu Âu (đặc biệt là ở Đức), nhu cầu cấp thiết về tuyển dụng người trong quản lý hoạt động công nghiệp và chính phủ tạo nên sự cần thiết ổn định nghề nghiệp một cách có tổ chức cho các chuyên gia đã dược đào tạo cơ bản. Các luật sư hàng đầu đã thành lập các Hội luật gia mới với mục tiêu đưa ra các yêu cầu mới về giáo dục và thi tuyển để được công nhận hành nghề luật và xây dựng một hệ thống kỷ luật nhằm loại bỏ tệ tham nhũng cũng như cho thôi việc các luật sư và quan tòa không đủ năng lực với động cơ nâng cao tiêu chuẩn giáo dục, năng lực hành nghề và đạo đức. Trường luật Harvard đi tiên phong với mô hình mới, trong đó đòi hỏi sinh viên phải được đào tạo ở bậc đại học và được cấp bằng, và dạy môn luật như một ngành khoa học. Mô hình Harvard dạy các kỹ năng tổng quát để có “tư duy như một luật sư”. Chương trình học kéo dài 3 năm với những khóa học nối tiếp nhau và kỳ thi thường kỳ cho mỗi khóa.Trường thuê các giáo viên toàn thời gian và thành lập khoa. Các giáo viên của trường là những người đầu tiên xuất bản sách về các vụ việc và dạy cho sinh viên theo cách xử lý từng trường hợp một bằng cách làm quen với các tài liêu cơ bản về các vụ việc, học một cách chủ động và phối hợp với nhau thông qua các cuộc trao đổi với giáo viên thay vì chỉ chủ động lắng nghe bài giảng. Chương trình các phiên tòa giả thiết (“moot courts”) cũng được sử dụng ở đây. Các sinh viên giỏi của mỗi lớp sẽ được chọn làm biên tập tập san Luật của Đại học Harvard ( Harvard Law Review), là nơi xuất bản công trình nghiên cứu của các giáo sư luật và các ghi chép cũng như nhận xét của sinh viên luật về các vụ kiện và sự phát triển luật pháp. Công việc này tạo cho sinh viên khả năng thích hợp với các công việc như thư ký cho các thẩm phán tòa tối cao, giáo viên luật hay làm việc trong các hãng luật lớn. Mô hình này dần dần được tất cả các trường áp dụng dù bị phê phán vì ít dạy các vấn đề liên quan đến thực hành nghề luật.

Sau năm 1920, chương trình theo trường phái luật hiện thực (Legal Realists) ra đời với quan điểm rằng nguyên nhân dẫn đến quyết định cuối cùng của quan tòa nằm trong những yếu tố thực tế xã hội nằm đằng sau những phán quyết đó, do đó luật phải được giảng dạy như một sản phẩm xã hội được sinh ra trong mâu thuẫn xã hội và phục vụ các quyền lợi và chính sách xã hội. Trường phái này thúc giục các học giả liên kết luật với các môn khoa học xã hội khác, tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm về tòa án, về các cơ quan và quy trình xây dựng luật và dạy cho sinh viên cách lập luận có kết quả trên cơ sở chính sách xã hội. Chương trình này đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của tổng thống Franklin D. Rooselvelt qua chương trình Chính sách mới, tạo cơ hội cho nhiều giáo sư luật tham gia những hoạt động của chính phủ và luật sư trong các cơ quan chính quyền mới. Sau này các giáo sư luật đã giới thiệu các khóa học mới trong lĩnh vực lập pháp như thuế, lao động, chứng khoán, chống độc quyền và luật công nghiệp. Sách về các vụ kiện nay còn được bổ sung thêm các tài liệu như các quy chế, quy định của các cơ quan hành chính, báo cáo của chính phủ và các nghiên cứu khoa học xã hội.

Các cao trào xã hội trong thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 mang lại nhiều thay đổi mới trong giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ. Trong các trường luật xuất hiện các môn học luật về quyền dân sự, luật môi trường, luật hành chính và điều lệ, vấn đề nghèo đói. Các văn phòng luật ở ngay trong trường học với các vụ việc đựơc xử lý có sinh viên tham gia chứng kiến, thông qua đó sinh viên không chỉ học cách tư duy như một luật sư mà còn có cơ hội đại diện cho các thân chủ khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường với sự giám sát của các luật sư đang hành nghề và các giáo viên luật. Sự kết hợp với các ngành khoa học khác trong giảng dạy luật bắt đầu từ những năm 70 như kinh tế học, triết học về đạo đức và phân tích, lịch sử xã hội, nghiên cứu phụ nữ, khoa học chính trị, tâm lý học, tội phạm học, xã hội học, trong đó ảnh hưởng sâu rộng nhất là giữa luật và kinh tế học. Ngày nay trong đội ngũ giáo viên dạy luật mới, đặc biệt trong các trường danh tiếng, ngoài văn bằng về luật còn có thêm bằng về các khoa học xã hội khác.

Sự thay đổi lớn tiếp theo là chương trình dạy luật phát triển theo hướng nghiên cứu luật toàn cầu như các khóa học về lĩnh vực luật xuyên quốc gia, luật nhân quyền quốc tế, cũng như các lĩnh vực luật chuyên biệt như luật Trung Quốc, luật Nhật Bản và luật Hồi giáo. Sau hai thế kỷ phát triển cô lập, các trường luuật oqr mỹ đã mở cửa à học hỏi từ các sinh viên, các truyền thống và thực nghiệm về luật từ các quốc gia khác trên thế giới.

2. Việc công nhận một trường luật:

Giáo dục pháp luật ở Mỹ được giám sát bởi các tổ chức nghề nghiệp có tính chất nửa tư nhân thông qua quá trình công nhận những tiêu chuẩn của một trường luật đào tạo để cấp bằng thứ nhất về luật. Những tiêu chuẩn này là các yêu cầu về những vấn đề như chương trình giảng dạy, các công việc của khoa, về nhập học và sinh viên, thư viện và công nghệ thông tin, và các cơ sở vật chất khác. Các tiêu chuẩn được xem xét lại thường xuyên để đảm bảo sẽ tập trung vào những vấn đề cốt lõi của chất lượng giáo dục pháp luật. Cứ bảy năm một lần có Ủy ban xem xét lại các trường luật đã được công nhận. Có hai tổ chức đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nhận một trường luật đó là Hội luật gia Hoa Kỳ (the American Bar Association –ABA) và Hiệp hội các trường đại học luật ở Mỹ (the American Association of Law Schools –AALS).

Hội luật gia Hoa Kỳ là nhân tố chính trong việc hình thành nên những kim chỉ nam về đạo đức cho nghề luật thông qua việc ban hành Những qui định hình mẫu của ABA về hành vi nghề nghiệp (the ABA Model Rules for Professional Conduct). Hội luật gia Hoa Kỳ là hiệp hội nghề nghiệp tự nguyện lớn nhất thế giới bao gồm hơn 400.000 thành viên vào năm 2002. Năm 1921, ABA đã đưa ra bản quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của giáo dục pháp luật và xuất bản một danh sách các trường luật tuân theo những tiêu chuẩn này. Các tiêu chuẩn nói trên được đưa ra bởi Hội đồng Bộ phận giáo dục pháp luật và công nhận luật sư của ABA (Council of the ABA Section of Legal Education and Admissions to the Bar). Hội đồng này gồm 21 thành viên có quyền bỏ phiếu với không quá 10 người là trưởng khoa hay giảng viên các trường luật. Các thành viên khác của Hội đồng gồm các thẩm phán, các luật sư, một sinh viên luật và ít nhất 3 thành viên khác không phải là luật sư hay nhân viên trường luật. Quy trình công nhận trường luật do Hội đồng đề ra nhằm đánh giá cẩn thận và toàn diện về một trường luật và sự tuân thủ các tiêu chuẩn công nhận trường luật. Hội đồng trước khi quyết định thông qua những tiêu chuẩn này đã thiết lập nên một quy trình mở rộng thu thập ý kiến và đề nghị sửa đổi chúng của các trưởng khoa, các khoa luật , các hiệu trưởng đại học, lãnh đạo các hội luật sư và các cơ quan tư pháp (the bar and judiciary), và những ai quan tâm đến giáo dục pháp luật. Sự tham gia phối hợp tích cực của các đại diện nói trên là một trong những thế mạnh của quy trình chứng nhận trường luật của ABA.

Một trường luật có thể xin ABA công nhận tạm thời sau 1 năm hoạt động. Trường được công nhận tạm thời có tất cả các quyền của một trường đại học luật được công nhận đầy đủ. Do đó, sinh viên tốt nghiệp của các trường này cũng được công nhận như sinh viên tốt nghiệp của các trường được công nhận hoàn toàn. Trường được công nhận tạm thời được duy trì tư cách đó trong ít nhất 3 năm và không quá 5 năm, đồng thời hoạt động của trường được giám sát chặt chẽ. Mỗi năm có một đoàn đánh giá đến thăm và sau mỗi lần như vậy sẽ có một báo cáo xác minh gửi lên Ủy ban chứng nhận và lên trường. Sau khi được công nhận hoàn toàn, trường đó phải được đánh giá toàn diện trong năm thứ ba sau khi được công nhận và cứ 7 năm sẽ có một cuộc đánh giá đầy đủ.

Hiện nay có tổng cộng 185 trường được công nhận bởi Hôi luật gia Hoa Kỳ để cấp bằng thứ nhất về chuyên ngành luật (J.D). Trong đó có 107 trường là cơ sở tư và 78 trường là cơ sở công được chính quyền bang hay địa phương tài trợ. Tuy nhiên kể cả cơ sở công cũng chủ yếu dựa vào học phí và đóng góp tư nhân trong việc hỗ trợ tài chính cần thiết cho các chương trình luật của trường. Các cơ quan tư pháp ở Mỹ đã xác định rằng những ai tốt nghiệp các trường luật do ABA công nhận đều có thể tham gia hội luật gia trong khu vực tài phán của mình.

Trong phần lớn các bang, nghề luật và việc thực hành pháp luật được sự giám sát của các tổ chức tư nhân khác cũng gọi là Hội luật gia. Có nhiều loại hội luật gia khác nhau như địa phương hay thành phố. Đó cũng là các tổ chức tư nhân tự nguyện. Các Hội luật gia bang cũng có thể đưa ra sự công nhận một trường luật. Ví dụ ở California một số các trường luật nhỏ hơn được công nhận bởi Hội luật gia bang nhưng không được công nhận bởi ABA hay AALS.

3. Tiêu chuẩn xét tuyển và các văn bằng về luật:

Việc được chấp nhận vào học các trường luật ở Mỹ có tỷ lệ cạnh tranh lớn. Để vào học trường luật, thí sinh phải có một bằng đại học chương trình 4 năm ở một trường nào đó với điểm học tập cao và một kỳ kiểm tra quốc gia được chuẩn hoa (the Law School Aptitude Test – LSAT). Chi phí học tập thường là 30.000 USD mỗi năm ở các trường luật tư, và từ 15.000 USD –20.000USD mỗi năm ở các trường công. Tuy nhiên sinh viên có thể được chính phủ cho vay trước để học nên nhiều sinh viên khi tốt nghiệp ra trường phải nghĩ đến khoản trả nợ 100.000 USD hay nhiều hơn thế. Không giống như ở các nước khác, các trường luật ở Mỹ thực hiện giáo dục pháp luật ở cấp sau đại học. Những sinh viên trường luật ở Mỹ thường có tuổi trung bình lớn hơn các sinh viên ở môt số nước khác như Việt nam chẳng hạn, khi đã có đủ kinh nghiệm làm việc, đôi khi lúc họ đã già. Chương trình học luật điển hình kéo dài 3 năm. Nhiều trường cũng đưa ra chương trình học bán thời gian hoặc học vào buổi tối, do đó để kết thúc chương trình phải kéo dài 4 năm hoặc hơn thế. Như vậy để nhận được bằng luật các sinh viên phải trải qua ít nhất là 7 năm đại học.

Văn bằng luật cơ bản ở Mỹ là Juris Doctorate hay “J.D”. Trước năm 1960 văn bằng này gọi chung là Bachelor of Laws hay LL.B. theo thuật ngữ tiếng anh. Thứ bậc cử nhân này không có lợi cho các luật sư làm việc cho chính phủ nên cấp bậc mới được chấp nhận để tránh nhược điểm trên và những người đạt văn bằng này được gọi lại là những người nhận J.D. Nhiều trường đưa ra một văn bằng cấp cao hơn khi hoàn thành thêm một năm chương trình chuyên ngành. Chương trình này cấp bằng Master of Law hay “LL.M.”. Việc học để có văn bằng cao hơn Master không phổ biến ở Mỹ. Chỉ trong một số ít trường đại học là có văn bằng tiến sĩ như vậy, và rất ít sinh viên theo đuổi văn bằng này thậm trí trong chính những trường nói trên.

4. Tiêu chuẩn hành nghề luật sư:

Sau khi hoàn thành 4 năm đại học, rồi 3 năm ở một trường luật được Hội Luật gia quốc gia (ABA) công nhận và cuối cùng đỗ một kỳ thi về luật (Bar examination), phần lớn sinh viên trở thành luật sư. Có khoảng 50-80% thí sinh đỗ kỳ thi về luật ở phần lớn các bang. Sinh viên luật ở Mỹ cần phải có kinh nghiệm làm việc trước khi tham gia kỳ thi luật sư. Thông thường họ có kỳ thi luật sư vào mùa hè năm họ tốt nghiệp. Nói chung họ đều được cho phép thực tập về luật (xuất hiện thước tòa) ở bang mà họ muốn được công nhận. Việc công nhận luật sư ở Mỹ phụ thuộc vào những đòi hỏi và kỳ thi khác nhau do các quy định độc lập đề ra ở mỗi bang trong tổng số 50 bang, quận Columbia, Khối thịnh vượng Puerto Rico và các khu vực tài phán khác. Hơn một nửa khu vực tài phán này yêu cầu người muốn hành nghề luật sư trong khu vực tài phán phải tốt nghiệp trường đại học được ABA công nhận. Những khu vực tài phán cho phép sinh viên tốt nghiệp các trường luật không được ABA công nhận được vào hội luật gia hầu hết đều dành ưu đãi này cho những sinh viên của các trường thuộc khu vực tài phán cụ thể của họ. Chỉ có bang Winscosin dành ưu tiên cho những ai tốt nghiệp hai trường luật trong bang đó được hành nghề luật sư mà không cần qua kỳ thi.

Hầu hết các khu vực tài phán cho phép một luật sư đã được thực tập một số năm nhất định (thường là 5 năm) và làm việc tốt trong khu vực tài phán của mình được công nhận thông qua đề cử mà không phải qua kỳ thi luật sư. Tuy nhiên, một số bang, như Florida hay California, yêu cầu một luật sư thậm trí đã được đề cử công nhận vẫn phải qua kỳ thi luật sư với nội dung chủ yếu nhằm vào các quy tắc thủ tục và đòi hỏi về đạo đức nghề nghiệp.

Kỳ thi điển hình để công nhận luật sư của bang thường kéo dài hai đến ba ngày và gồm ít nhất hai phần: phần thi khách quan (the Multistate Bar Examination) do Đại hội Quốc gia Giám khảo luật sư (the Natioal Conference of Bar Examiners – NCBE) soạn thảo nhằm kiểm tra những kiến thức cơ bản về những vấn đề như hợp đồng, tài sản, luật bồi thường, luật tố tụng và luật hiến pháp, và phần thi viết luận về những chủ đề do mỗi khu vực tài phán tự chọn. Ngày càng nhiều khu vực tài phán sử dụng thi viết Tiểu luận Hợp bang (Multistate Essay Examination) do NCBE soạn thảo. Hơn một nửa khu vực tài phán sử dụng bài Trắc nghiệm Thành tích (Multistate Performance Test- MPT) do NCBE soạn như một phần của thi viết luận. MPT kiểm tra kỹ năng luật sư cụ thể bằng cách đưa cho thí sinh một tình huống thực tế và những nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tình huống đó, sau đó yêu cầu thí sinh đưa ra một văn kiện pháp lý (như di chúc, hợp đồng hay bài bào chữa…).

Tất cả các khu vực tài phán đều tiến hành thẩm tra tính cách khoẻ của những ai muốn hành nghề luật sư. Các luật sư ở Mỹ dù có khác biệt về chuyên môn, danh tính, thu nhập, khách hàng hay hoàn cảnh xuất thân nhưng tất cả cùng làm một nghề có tính thống nhất, được huấn luyện và đào tạo cơ bản chính thức như nhau. Họ đều được nhận làm thành viên của Hội luật gia của một hay nhiều hơn trong số 50 bang theo các qui định do các tòa án bang cao nhất đưa ra. Việc hành nghề của họ phải chịu sự kiểm soát của các hội luật gia, các tòa án bang và các trường luật. Các trường không chỉ giám sát những người theo làm nghề luật mà còn tác động cả đến cơ hội của họ sau khi tốt nghiệp. Các sinh viên tốt nghiệp với thứ hạng cao ở các trường danh tiếng sẽ được tuyển dụng làm các công việc có uy tín nhất và được trả lương cao nhất mhư trong các hãng luật ở các thành phố lớn. Trong khi đó các sinh viên tốt nghiệp thứ hạng thấp sẽ khó khăn khi kiếm việc làm như một luật sư.

5. Giảng dạy luật trong lớp đại học luật ở Mỹ:

Có hai điểm đặc biệt trong giảng dạy pháp luật ở Mỹ là: phương pháp Socrat trong truyền đạt kiến thức và hệ thống tình huống.

Phương pháp Socrat đòi hỏi một lớp học năng động với sự trao đổi các ý kiến, các câu hỏi và câu trả lời giữa các sinh viên và đòi hỏi sinh viên phải tham gia tích cực .Hệ thống tình huống đòi hỏi sinh viên đọc trước các vụ việc do các quan tòa viết ra. Cuốn sách đầu tiên về các vụ việc cho sinh viên học do hiệu trưởng trường đại học luật Harvard, ông Columbus Langdell, viết gồm bộ sưu tập các hợp đồng từ nửa cuối thế kỷ 19.

Phương pháp giảng theo tình huống và phương pháp Socrat được sử dụng chủ yếu ở năm thứ nhất. Ở những năm sau, khi sinh viên được coi là đã có đáng kể kỹ năng phân tích thì phương pháp tình huống không còn hiệu quả nữa. Ở năm thứ nhất các khóa học tương đối đông và học những lĩnh vực rộng. Những khóa sau các lớp học được chọn lọc và chia nhỏ hơn. Các khóa học được gọi là các seminar với số lượng thường là 20 người và đòi hỏi sinh viên nghiên cứu rất nhiều. Đặc trưng của các cuộc thảo luận trên lớp là hướng vào những kết quả nghiên cứu của chính sinh viên.

Đi thực tế (clinics) là một phần trong chương trình trường luật đạt tiêu chuẩn đã có cách đây chừng 30 năm. Các khóa này cho sinh viên các kinh nghiệm thực tế , thường là các phiên tòa, bằng cách cho họ tham gia các vụ án có thực dưới sự giám sát chặt chẽ của khoa. Sinh viên cũng được tạo cơ hội làm việc độc lập trong các văn phòng luật và các tòa án. Sự thay đổi thực chất có ý nghĩa nhất trong giáo dục ở Mỹ 30 năm qua là việc đưa đào tạo kỹ năng nâng cao vào các chương trình học thông qua các khóa giáo dục thực tế và giải quyết tình huống phức tạp.

Giáo dục pháp luật ở Mỹ có truyền thống đào tạo các sinh viên “suy nghĩ” như những luật sư và dạy luật về quyền hạn và nghĩa vụ cũng như luật tố tụng. Ngày nay các sinh viên luật ở Mỹ cũng được đào tạo tốt trong việc “hành động” như những luật sư. Việc đào tạo kỹ năng hiện nay tại các trường luật được ABA công nhận chịu ảnh hưởng lớn của Bản báo cáo Mac Crate 1992 (Legal Education and Professional Development – An Educational Continuum) về những kỹ năng và giá trị cơ bản để có thể đại diện thành công cho quyền lợi của khách hàng. Hầu hết các trường luật ở Mỹ đều kết luận rằng việc kết hợp tham gia giảng dạy của các giảng viên chính thức và các thẩm phán cũng như những người làm trong ngành tư pháp có kinh nghiệm là phù hợp nhất để đào tạo cả về bề rộng và chiều sâu những kỹ năng mà một luật sư mới được công nhận cần có.°

Tài liệu tham khảo:

1. The American Legal System, by Eldon H.Reiley – Professor of Law – University of San Francisco School of Law

2. The American Bar Association and Legal Education in the United States, by John A.Sebert – Electronic Journal of U.S.Department of State, Issues of Democracy, Volume 7 number 2, August 2002.

3. Legal Education in the U.S.:Origin ang Development, by Robert W.Gordon Electronic Journal of U.S.Department of State, Issues of Democracy, Volume 7 number 2, August 2002.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2004