MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN NHỮNG QUI ĐỊNH PHẤP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ THỦY –  Khoa Luật Thương mại – ĐH Luật TP.HCM

Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nó tồn tại và thực hiện các chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để ban hành những quy định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối một phần của cải xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.

Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu tạo khả năng và nguồn thu để thuế khóa tồn tại, phát triển. Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Thuế được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần điều chỉnh nền kinh tế và điều tiết thu nhập trong xã hội. Mặc dù, hệ thống pháp luật thuế đã được Nhà nước quan tâm sửa đổi thường xuyên cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, nhưng hàng năm tình trạng thất thu thuế vẫn xảy ra và trở thành mối quan tâm không chỉ của Nhà nước mà còn đối với các doanh nghiệp và dân cư. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu thuế là người dân chưa được tuyên truyền một cách đầy đủ, có hệ thống về vai trò của thuế cũng như những quy định của pháp luật thuế nên sự tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước còn thấp, tình trạng trốn thuế xảy ra thường xuyên, thậm chí có nhiều người còn quan niệm trốn thuế là đương nhiên. Tình trạng trên đây xảy ra một phần cũng do những quy định của pháp luật về quản lý thuế ở Việt Nam chưa hoàn thiện, các quy định còn nhiều bất cập, tính hiệu quả chưa cao. Thậm chí pháp luật thuế còn chưa quan tâm đúng mức đến tính thực thi cũng như chưa đưa vào các văn bản pháp luật thuế những quy định về quản lý thuế mang tính hiệu quả, vì vậy, chưa đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ đóng góp của người dân.

Để thuế thực sự là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là công cụ kích thích nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội, bài viết này xin đề cập đến tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nước, xã hội, người dân và hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế tại Việt Nam.

Chúng ta đều biết rằng, thuế có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia đó. Có một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thích hợp là một trong những yếu tố đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ cao.

Nền kinh tế của Việt Nam trước đây vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, mọi chi tiêu của Nhà nước hầu như đều được Nhà nước tự cân đối thông qua vay nợ và phát hành thêm tiền vào lưu thông. Chính cơ chế bao cấp đã tạo một thói quen cho người dân sự ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước. Thậm chí đa số người dân không hiểu được tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nước và trách nhiệm của người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước. Do vậy, trong tiềm thức, người dân cho rằng trốn thuế không có gì là xấu xa. Người ta có thể lên án hành động trọm cắp một đồ vật có giá trị vài trăm ngàn đồng của một cá nhân nhưng hành động trốn thuế hàng tỷ đồng của một chủ doanh nghiệp tư nhân thì lại cho là bình thường. Nhận thức cho thấy sự hiểu biết về tính dân chủ của dân chúng chưa cao; và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thủ tục hành chính rườm rà, nạn tiêu cực phát triển.

Chúng ta thử xem xét tình huống sau đây: Người dân ở một nước phát triển khi thấy trộm vào nhà mình, họ gọi ngay cho cảnh sát. Nếu cảnh sát đến muộn, dẫn đến việc điều tra bị chậm trễ gây thiệt hại là họ sẽ kiện người cảnh sát đó, vì họ cho rằng tiền lương của người này do họ trả thông qua nghĩa vụ nộp thuế của họ cho Nhà nước. Vì vậy, người này phải có trách nhiệm phục vụ lại cho dân chúng. Ở Việt Nam, nếu rơi vào trường hợp trên, sẽ rất ít người chọn phương án khiếu kiện, thậm chí nếu người cảnh sát đến kịp thời, có lẽ đa số người bị hại thấy mình hàm ơn người cảnh sát và phải tìm cách”bồi dưỡng” để trả ơn. Sở dĩ có hành động trên đây vì đa số người dân chưa ý thức được tiền lương của công chức Nhà nước do ai trả và trong thực tế họ chưa thực hiện tốt nghĩa vụ về thuế với Nhà nước nên chưa nhận thức đúng về trách nhiệm của công chức Nhà nước đối với nhân dân. Cũng chính từ thực tế này đã dẫn đến tình trạng tiêu cực, nhũng nhiễu trong các cơ quan bộ máy Nhà nước. Một số công chức Nhà nước chưa hiểu được trách nhiệm của họ đối với dân chúng, họ làm việc để phục vụ ai, tiền lương mà Nhà nước trả cho họ do đâu mà có nên tìm mọi cách gây phiền hà cho người dân. Về phía người dân, do chưa ý thức rõ về quyền và nghĩa vụ của mình khi đóng thuế cho Nhà nước, chưa thực hiện tốt nghĩa vụ thuế nên họ cũng chưa thật sự có thái độ phản ứng dứt khoát khi bị gây phiền hà, sách nhiễu.

Như vậy, việc tuyên truyền nội dung từng sắc thuế và nghĩa vụ nộp thuế đối với người dân đóng vai trò rất quan trọng. Thực hiện tốt điều này sẽ giúp dân chúng hiểu được nghĩa vụ phải nộp thuế của họ đối với Nhà nước và trách nhiệm của công chức Nhà nước đối với nhân dân để từ đây tránh được tình trạng nhũng nhiễu trong các cơ quan bộ máy Nhà nước, tránh được tình trạng tiêu cực xảy ra. Khi Nhà nước thu đúng, đủ tiền thuế vào ngân sách, Nhà nước sẽ có quỹ ngân sách dồi dào, đồng thời tăng khả năng tích lũy cho nền kinh tế. Thực tế những năm gần đây, Nhà nước đã quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế nhưng lại chưa chú trọng đến việc tuyên truyền hệ thống pháp luật thuế trong dân chúng. Các quy định pháp luật về quản lý thuế vừa bất cập, thiếu tính đồng bộ lại không mang tính khả thi. Thói quen mua bán hàng hóa phải lấy và xuất hóa đơn hầu như còn quá mới mẻ trong dân chúng. Đại bộ phận dân chúng không quan tâm đến việc số tiền thuế cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ mà mình đã trả cho người bán có vào túi Nhà nước hay không. Người dân thì vậy, còn những người đảm nhiệm công việc thu thuế cho Nhà nước hầu như cũng chưa thật sự thấy được tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nước, xã hội. Rất nhiều cán bộ có thẩm quyền thu thuế đã thông đồng với đối tượng nộp thuế để trốn thuế. Thậm chí, những công chức Nhà nước cũng chưa có ý thức trong việc chấp hành pháp luật thuế. Họ chỉ thắc mắc tại sao lương Nhà nước trả cho họ quá thấp, trong khi đó họ không hiểu rằng do thu ngân sách Nhà nước ít cho nên phần chi cho tiền lương của công chức Nhà nước cũng rất hạn hẹp. Chúng ta phải hình dung rằng, chiếc bánh ngân sách được làm chủ yếu từ nguyên liệu thuế, mà phần nguyên liệu này do các tổ chức, cá nhân trong xã hội đóng góp nên, nếu nguyên liệu ít, chiếc bánh sẽ nhỏ và ngược lại. Như vậy, mỗi người trong chúng ta phải có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ về thuế với Nhà nước, có quỹ ngân sách Nhà nước dồi dào thì tiền lương của công chức mới cao, các chế độ chính sách xã hội mới được đảm bảo và phần tích lũy cho nền kinh tế mới nhiều. Thực hiện được điều này, hoạt động quản lý thuế của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng. Quản lý thuế là những biện pháp mà Nhà nước đề ra để thu đúng, thu đủ tiền thuế vào ngân sách, tránh tình trạng thất thu thuế xảy ra, đồng thời cũng tránh tình trạng lạm thu đối với nền kinh tế. Nếu ngân sách Nhà nước bị thất thu sẽ ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Còn nếu tình trạng lạm thu xảy ra sẽ là một trong những nguyên nhân kìm hãm nền kinh tế phát triển. Như vậy, nếu hoạt động quản lý thuế của Nhà nước tốt sẽ tạo được quỹ ngân sách dồi dào đồng thời là một trong những yếu tố kích thích nền kinh tế phát triển.

Để hoạt động quản lý thuế của Nhà nước đạt hiệu quả cao, đồng thời đảm bảo công bằng trong nghĩa vụ đóng góp về thuế của người dân đối với Nhà nước, chúng tôi xin có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế, cụ thể:

Thứ nhất, Cần có quy định thống nhất và chặt chẽ hoạt động mua bán hàng hóa buộc phải sử dụng hóa đơn, chứng từ.

Từ khi chúng ta chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thói quen mua bán hàng hóa phải xuất và lấy hóa đơn hầu như không được người bán và người mua quan tâm. Khi người tiêu dùng mua hàng hóa, họ chỉ quan tâm đến giá cả và chủng loại hàng hóa mà họ cần mua, chứ chưa quan tâm đến việc phải có chứng cứ pháp lý để khiếu kiện khi hàng hóa kém chất lượng hoặc không đúng quy cách đã thỏa thuận. Trong khi đó hóa đơn mua hàng, ở một số nước phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam là bằng chứng pháp lý rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Người tiêu dùng chỉ thấy sự phiền hà khi phải đòi hóa đơn từ người bán mà chưa thấy được nếu có tờ hóa đơn trong tay thì vấn đề chứng minh hàng hóa đó được mua ở đâu, trách nhiệm của người bán khi hàng hóa kém chất lượng, hư hỏng…

Đã đến lúc, Nhà nước phải có những quy định để buộc hoạt động mua bán hàng hóa phải có hóa đơn. Muốn thực hiện được điều này, Nhà nước phải hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể, thay vì đánh thuế trên từng cá nhân có thu nhập cao như hiện nay, chúng ta nên đánh thuế theo hộ gia đình (dựa trên quan hệ huyết thống ba đời: ông bà, cha mẹ, con cái). Nhà nước nên thu thuế theo hướng sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết cho cuộc sống, số thu nhập còn lại chia đều cho các thành viên trong gia đình đến một mức độ nhất định thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Cách thu thuế như trên vừa đảm bảo bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp của cá nhân vừa tạo thói quen cho người dân khi mua hàng hóa phải lấy hóa đơn. Bởi vì nếu họ không lấy hóa đơn, thì những khoản chi phí họ bỏ ra để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày sẽ không được coi là chi phí để trừ vào thu nhập chịu thuế. Để quy định này mang tính khả thi, trước tiên cơ quan thuế phải thực hiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế thật tốt. Cơ quan thuế phải phối hợp với cơ quan công an và chính quyền địa phương để tiến hành cấp và quản lý mã số thuế cho từng hộ gia đình. Điều này, bước đầu sẽ gặp khó khăn, nhưng về lâu dài, chúng ta cũng phải tiến hành. Bởi vì, có như vậy, người dân mới thực sự hiểu được quyền và nghĩa vụ tài chính của mình đối với Nhà nước.

Thứ hai, Nhà nước cần quy định và quản lý các hoạt động mua bán hàng hóa phải thanh toán qua ngân hàng.

Hiện nay, việc thanh toán bằng tiền mặt được người dân sử dụng rất phổ biến. Thậm chí ngay cả các doanh nghiệp khi tiến hành thanh toán với nhau họ cũng sử dụng hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Thói quen này đã dẫn đến hoạt động quản lý Nhà nước về tiền tệ rất khó khăn. Cụ thể, ngân hàng Nhà nước thì khó kiểm soát được khối lượng tiền trong lưu thông, do vậy, việc đề ra các biện pháp để ổn định giá trị đồng tiền chưa được kịp thời. Hơn nữa, khi nền kinh tế chủ yếu sử dụng bằng tiền mặt sẽ dẫn đến chi phí in tiền cao, đồng thời Nhà nước rất khó kiểm soát các quan hệ mua bán hàng hóa diễn ra trên thị trường. Chính sự bất cập này đã dẫn đến các đối tượng nộp thuế càng có điều kiện để trốn thuế nhất là hoạt động bán hàng hóa cho người tiêu dùng vì đây là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi các quan hệ mua bán hàng hóa buộc phải thanh toán qua ngân hàng, Nhà nước sẽ dễ kiểm soát được thu nhập của các tổ chức, cá nhân cũng như tạo điều kiện cho cơ quan thuế quản lý tốt đối tượng nộp thuế. Chính vì những lý do trên đây mà pháp luật nên quy định thống nhất các quan hệ mua bán hàng hóa phải thanh toán thông qua ngân hàng. Tuy nhiên do đặc thù 70% dân số Việt Nam là ở nông thôn nên trước mắt chúng ta chỉ quy định bắt buộc đối với những đối tượng cư trú ở vùng thành thị mà thôi. Để thực hiện được điều này, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan như ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Kho bạc Nhà nước, cơ quan thuế. Cụ thể, ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phải quy định rõ những quan hệ mua bán nào buộc phải thanh toán qua ngân hàng, Kho bạc Nhà nước cần tiến hành chi trả tiền lương vào tài khoản của các cá nhân nhận lương từ ngân sách Nhà nước tại ngân hàng. Cơ quan thuế thì phải quản lý mã số thuế của đối tượng nộp thuế tương ứng với số tài khoản của cá nhân và tổ chức tại ngân hàng. Sau khi làm thí điểm đối với những đối tượng được Nhà nước trả lương một thời gian, pháp luật cần quy định tất cả các khoản chi trả tiền lương của các doanh nghiệp đối với người lao động cũng phải tiến hành chi trả thông qua tài khoản của các cá nhân tại ngân hàng. Giải pháp này, trước mắt đối với Việt Nam có thể sẽ rất khó khăn nhưng thiết nghĩ, trước sau gì chúng ta cũng phải làm. Bởi vì thực hiện được điều này, chúng ta mới có sự thay đổi căn bản phong cách làm việc của hệ thống ngân hàng Việt Nam, giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể sánh với hệ thống ngân hàng các nước phát triển. Trên thực tế, hoạt động thanh toán qua ngân hàng và chi trả tiền lương thông qua tài khoản tại ngân hàng đã được các nước phát triển áp dụng từ lâu. Cách thức quản lý này đã đem lại những hiệu quả đáng kể, cụ thể, cơ quan thuế rất dễ dàng trong việc thực hiện quản lý thu nhập và chi tiêu của các doanh nghiệp cũng như các cá nhân; hệ thống ngân hàng có điều kiện nắm giữ tiền nhàn rỗi trong công chúng để tiến hành cho vay lại đối với nền kinh tế; Ngân hàng Nhà nước sẽ giảm bớt được chi phí in tiền và thuận tiện trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ. Chính vì những lý do trên đây, chúng tôi xin đưa ra kiến nghị, ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên sớm ban hành văn bản buộc các tổ chức, cá nhân (đối với công chức Nhà nước và những người làm công ăn lương tại các doanh nghiệp) phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng đối với hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ. Về phía Bộ tài chính cần sớm quy định về việc quản lý và cấp mã số thuế cho các cá nhân, hộ gia đình. Riêng đối với các tổ chức tín dụng là ngân hàng thì phải có nhiệm vụ mở và quản lý tài khoản của các tổ chức, cá nhân và tiến hành thanh toán qua ngân hàng cho những chủ thể này. Thực hiện đồng bộ những đề xuất trên đây, thì hoạt động quản lý thuế của Nhà nước mới mang lại hiệu quả cao.

Thứ ba, Nhà nước cần có biện pháp quản lý hóa đơn chứng từ hiệu quả. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định 89/2002/NĐ-CP quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn chứng từ và Bộ tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 120/2002/TT-BTC hướng dẫn NĐ 89/CP. Hai văn bản trên đây phần nào đã quy định rõ những hành vi vi phạm chế độ hóa đơn chứng từ và mức xử phạt cụ thể cho từng hành vi, tuy nhiên với mức phạt cao nhất được quy định là 50.000.000 VND thiết nghĩ vẫn chưa đủ mạnh để răn đe đối với những hành vi vi phạm về hóa đơn chứng từ. Hiện nay, một vấn đề đang gây đau đầu cho các nhà quản lý thuế và là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây thất thu cho ngân sách Nhà nước là tình trạng hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành được đem ra bán một cách công khai trên thị trường. Hành vi này gây thiệt hại lớn cho Nhà nước không chỉ ở góc độ hợp thức hóa các khoản chi tiêu không đúng chế độ trong các cơ quan bộ máy Nhà nước mà còn tạo điều kiện cho một số các doanh nghiệp lợi dụng để rút tiền hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước. Trước tình trạng trên đây, Bộ tài chính cần có cơ chế quản lý hóa đơn thích hợp. Theo chúng tôi, Bộ tài chính nên hạn chế tối đa việc bán hóa đơn cho các doanh nghiệp mà dần tiến tới để các doanh nghiệp tự in hóa đơn sau khi đã đăng ký với cơ quan thuế. Khi các doanh nghiệp tự in hóa đơn thì phải có trách nhiệm đối với số lượng hóa đơn do mình phát hành, nếu để thất thoát thì tự các doanh nghiệp đó phải có trách nhiệm bồi thường cho Nhà nước. Đồng thời, Bộ tài chính phải xây dựng định chế quản lý hóa đơn rõ ràng. Cụ thể, đối với các doanh nghiệp phát hành hóa đơn phải chịu trách nhiệm đối với hóa đơn của mình khi đã phát hành. Người thụ hưởng hóa đơn có quyền kiểm soát hóa đơn vì đã ủy quyền cho bên bán hàng nộp thuế thay mình. Cơ quan thuế có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hóa đơn khi tiến hành quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Để thực hiện tốt những đề xuất trên, chúng tôi xin kiến nghị, Nhà nước nên có văn bản quy định bảo vệ quyền sở hữu của người mua hàng có hóa đơn hợp pháp, bằng cách công nhận quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ của người mua hàng nếu có tranh chấp dân sự xảy ra để tạo ý thức tự kiểm tra, kiểm soát đối với chứng từ, hóa đơn của doanh nghiệp đã phát hành.

Thứ tư, Pháp luật cần quy định rõ chế tài đối với hành vi trốn thuế và hành vi chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Chúng ta cũng biết rằng, dựa vào tính chất động viên vào ngân sách Nhà nước, thuế được phân thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu là thuế thu trực tiếp vào đối tượng nộp thuế, đối tượng nộp thuế phải trích một phần thu nhập của mình để nộp vào ngân sách Nhà nước. Còn thuế gián thu là loại thuế thu gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ. Đối với sắc thuế này, người bán sẽ thu hộ Nhà nước từ người mua thông qua giá bán, sau đó có nghĩa vụ nộp vào ngân sách Nhà nước. Như vậy, với cách phân loại trên đây, nếu đối tượng nộp thuế không nộp thuế vào ngân sách Nhà nước thì pháp luật không thể đánh đồng hai hành vi này để cho rằng đều là hành vi trốn thuế. Theo chúng tôi, đối với thuế trực thu, nếu đối tượng nộp thuế không đóng thuế cho Nhà nước thì có thể coi là hành vi trốn thuế vì người này đã không trích một phần từ thu nhập của họ để nộp vào ngân sách Nhà nước. Nhưng đối với thuế gián thu, nếu đối tượng nộp thuế (người bán hàng) đã tiến hành thu thuế thay Nhà nước thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ mà sau đó không nộp vào ngân sách Nhà nước thì phải coi đây là hành vi chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Trên thực tế, theo quy định của pháp luật thì hai hành vi trên đều được coi là hành vi trốn thuế và áp dụng Điều  161 Bộ luật Hình sự để xác định trách nhiệm hình sự với mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù giam. Theo chúng tôi quy định trên đây chưa thật sự hợp lý; bởi vì, thứ nhất, chúng ta không thể gộp hai hành vi khác nhau để đưa vào một tội trong Bộ luật Hình sự; thứ hai, mức hình phạt quy định đối với các hành vi này là quá nhẹ, không tương xứng với hành vi vi phạm và chưa đảm bảo được tính răn đe giáo dục đối với loại tội này. Chính vì những lý do trên đây, chúng tôi xin kiến nghị, Bộ luật Hình sự nên phân biệt rõ hai loại tội danh trên đây căn cứ vào hành vi phạm tội như đã phân tích ở trên, đồng thời phải tăng mức hình phạt đối với loại tội này để đảm bảo tính răn đe và tương xứng với mức độ nguy hiểm mà hành vi này gây ra đối với Nhà nước và xã hội.

Tóm lại, để góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đảm bảo khả năng tích lũy của nền kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, đồng thời kích thích nền kinh tế phát triển chúng ta cần phải quan tâm đến việc tuyên truyền pháp luật thuế và hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế. Thực tế những năm gần đây, vấn đề thất thu thuế đang là mối quan tâm của không chỉ Nhà nước mà còn đối với các doanh nghiệp và tầng lớp dân cư. Nếu hệ thống thuế của chúng ta bất cập, không đảm bảo công bằng về nghĩa vụ đóng góp của các chủ thể trong xã hội sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất công trong xã hội. Có một hệ thống thuế hoàn thiện và công bằng cũng như cơ chế quản lý thuế thích hợp sẽ giúp cho các chủ thể trong xã hội nhận thức được rằng, thực hiện tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước vừa là quyền vừa là nghĩa vụ. Số thu từ thuế sẽ được Nhà nước hoàn trả gián tiếp lại cho người dân thông qua việc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, đảm bảo các chính sách về mặt xã hội và tăng tích lũy cho nền kinh tế.

Muốn đất nước phát triển, các chế độ xã hội được đảm bảo, Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa đến việc tuyên truyền hệ thống pháp luật thuế trong dân chúng, phải giúp người dân hiểu rằng thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với Nhà nước là hành động yêu nước. Để thực hiện được điều này thì từ phía Nhà nước phải xây dựng được hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, những quy định về quản lý thuế phải hiệu quả, đảm bảo thuế vừa là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ kích thích nền kinh tế phát triển lại vừa là công cụ nhằm điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2004

NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHƯƠNG THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỘ LUẬT DÂN SỰ

TƯỞNG BẰNG LƯỢNG –  Tòa dân sự TANDTC

I. Những vướng mắc:

Điều 637 Bộ luật Dân sự đã quy định:

“1. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

2. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại phần thứ 5 của Bộ luật này”.

Do đó quyền sử dụng đất đã trở thành một “loại tài sản” của công dân, công dân có quyền để lại thừa kế.

Như vậy thừa kế là một hình thức để công dân chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp từ người này sang người khác. Việc chuyển quyền sử dụng đất dưới hình thức thừa kế được coi là hoàn thành khi đã làm xong thủ tục và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng khi chuyển quyền sử dụng đất dưới hình thức thừa kế, thì còn đòi hỏi điều kiện nào nữa không? Vấn đề này hiện nay đang có những ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng Điều 693 đã quy định hộ gia đình, cá nhân có quyền chuyển quyền sử dụng đất cho người khác khi có đủ điều kiện dưới đây:

1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai;

2. Trong thời hạn còn được sử dụng đất;

3. Được phép chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai;

4. Đất không có tranh chấp.

Việc thừa kế quyền sử dụng đất cũng là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất, nên phải tuân theo quy định ở Điều 693. Vì vậy yếu tố đầu tiên một người muốn có quyền để ại thừa kế quyền sử dụng đất là người đó phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, dù một người đang sử dụng đất hợp pháp, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo Luật đất đai năm 1993, thì diện tích đất đó không được coi là di sản, không được áp dụng pháp luật thừa kế để phân chia. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất mà người chết để lại sẽ được giải quyết theo chính sách đất đai. Ủy ban nhân dân sẽ cấp đất đó cho hộ chưa có đất… chứ không được căn cứ vào pháp luật thừa kế để chia.

Ý kiến thứ hai cho rằng thừa kế quyền sử dụng đất cũng là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất; song theo lời văn và cách quy định ở đoạn 3 Điều 691 và các Điều 8 đến Điều 744 Bộ luật Dân sự thì việc để thừa kế quyền sử dụng đất không phải tuân theo Điều 693.

Điều 693 chỉ áp dụng cho các trường hợp chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất, còn nếu áp dụng điều kiện ở Điều 693 cho việc để thừa kế quyền ử dụng đất như ý kiến trên là không đúng, sẽ dẫn đến sự bất hợp lý sau:

– Các vụ thừa kế quyền sử dụng đất, có vụ mở thừa kế trước khi có Luật đất đai năm 1993 tức là người có quyền sử dụng đất hợp pháp chết trước khi Luật đất đai năm 1993 an hành thì làm sao họ có thể có giấy chứng nhận theo Luật đất đai 1993.

– Có trường hợp chết sau khi có Luật đất đai năm 1993, nhưng vì Nhà nước chưa cấp kịp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ, thì họ cũng không thể có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1993. Việc đòi hỏi công dân phải có giấy chứng nhận theo Luật đất đai năm 1993, thì mới được để quyền thừa kế quyền sử dụng đất là điều vô lý.

– Các vụ thừa kế có tranh chấp mới đưa đến Ủy ban nhân dân hoặc đến Tòa án giải quyết, mà điều kiện thứ 4 của Điều 693 lại đòi hỏi “đất không có tranh chấp” thì mới được chuyển quyền sử dụng thì sẽ dẫn đến dù đã đủ 3 điều kiện ở các khoản 1, 2, 3 Điều 693 cũng sẽ không có việc chia thừa kế quyền sử dụng đất ở bất kỳ lúc nào. Mặt khác, về bản chất “cái” được coi là di sản có giá trị tài sản là quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ không phải là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực ra chỉ là một hình thức pháp lý, Nhà nước công nhận một ai đó có quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ nó không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất và theo quy định ở Điều 38 Luật đất đai thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý nghĩa để phân biệt thẩm quyền giải quyết giữa Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân. Vì vậy, theo chúng tôi luật chỉ đòi hỏi một người muốn để thừa kế quyền sử dụng đất phải là người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Tức là người đang sử dụng đất hoàn toàn có thể chứng minh được họ ã xác lập quyền sử dụng đất như quy định ở Điều 690, đồng thời thời hạn sử dụng đất của họ vẫn còn. Vì vậy chỉ cần thỏa mãn 1 trong 3 trường hợp quy định ở Điều 739 là họ được để thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác.

Nếu cách hiểu này là đúng, thì các vụ tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất dù thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thì Ủy ban nhân dân cũng phải căn cứ vào Chương VI, phần thứ 5 Bộ luật Dân sự để giải quyết. Song thực tế, các Ủy ban nhân dân khi giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, đã căn cứ vào chính sách đất đai để giải quyết, tức là xem bên nào có ít đất hoặc đã quản lý, sử dụng đất thổ cư, đất thổ canh đó từ lâu, thì giao đất cho họ, chứ không căn cứ vào pháp luật thừa kế để chia, đó là điều không hợp lý, dẫn đến có sự không công bằng, không thống nhất trong đường lối giải quyết các tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền sử dụng đất.

Từ phân tích trên cho thấy để có nhận thức thống nhất khi áp dụng pháp luật cần có sự giải thích rõ Điều 691, Điều 693 với các quy định trong Chương thừa kế quyền sử dụng đất.

Điều 793 quy định 3 trường hợp được để thừa kế quyền sử dụng đất, nhưng ở khoản 1 Điều 739 thì có ghi “được Nhà nước giao đất”; song ở khoản 2 Điều 739 chỉ ghi “được giao đất”, vậy thì ai giao? Tại sao không ghi rõ như ở khoản 1 là “được Nhà nước giao đất”? phải chăng do sơ suất trong kỹ thuật lập pháp hay khoản 2 Điều 739 quy định như vậy là nhằm đề cập đến đối tượng giao đất là chủ thể bất kỳ? Như vậy thuật ngữ “được Nhà nước giao đất” ở khoản 1 Điều 739 hiểu theo nghĩa nào? Nghĩa hẹp là trường hợp Nhà nước Việt Nam giao đất, còn hiểu theo nghĩa rộng là các cơ quan có thẩm quyền của chế độ ta và cơ quan có thẩm quyền của chế độ cũ, các tổ chức tôn giáo… đã giao đất cho ọ sử dụng. Vậy đối với trường hợp đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản do cơ quan, cá nhân không có thẩm quyền giao đất nhưng trên thực tế họ đã giao “đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản” và hiện nay người được giao đất đã kê khai, đăng ký được đứng tên trong sổ địa chính hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 có được coi là “được Nhà nước giao đất” không? Có được để thừa kế không?

Thực tế có những trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước ta, hoặc Nhà nước cũ hoặc đạo thánh giao đất; có trường hợp khai khẩn, lấn chiếm “đất công” từ lâu; có trường hợp thuê đất của Nhà nước cũ; có trường hợp thuê đất của tư nhân dưới thời ngụy (mà hiện nay vẫn xảy ra những vụ tranh chấp đòi lại đất); có trường hợp cơ quan không có thẩm quyền giao đất, nhưng đã giao đất; có trường hợp công dân mượn đất của nhau sử dụng từ thời ngụy, hoặc sau ngày giải phóng miền Nam; có trường hợp đất nông nghiệp của cha ông truyền lại v.v… có khi người đang sử dụng đất đã kê khai trong sổ địa chính; có trường hợp chưa kê khai lần nào, hoặc người cho thuê đất thì kê khai, người đang sử ụng từ lâu không kê khai v.v… Vậy trường hợp nào được coi là Nhà nước giao đất, trường hợp nào không được coi là được Nhà nước giao đất, không được để thừa kế? Phần “đất công” thì giải quyết thế nào? Theo chúng tôi người sử dụng đất “công” được nói ở trên, đều là những trường hợp chưa được cơ quan có thẩm quyền chính thức công nhận cho họ được sử dụng với tư cách là người “chủ” hợp pháp của đất đó, họ thuộc trường hợp không có hoặc không có đủ giấy tờ hợp lệ về đất ở. Vì vậy, trước khi Nghị định 0/CP, Nghị định số 45/CP được ban hành thì, về pháp lý sẽ không phát sinh quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất như các trường hợp được Nhà nước cấp đất hợp pháp khác. Tuy nhiên sau khi Nghị định 60/CP ngày 5-7-1994 và Nghị định số 45/CP ngày 13-8-1996 của Chính phủ ra đời thì Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng hợp pháp về đất ở cho các trường hợp không có hoặc không đủ giấy tờ hợp lệ về đất ở tại đô thị.

Từ quy định nói trên chúng tôi đề nghị đối với các loại đất ở thuộc các địa bàn khác như thị xã, thị trấn, vùng nông thôn) cũng sẽ phải được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho công dân, để tạo ra sự thống nhất về đường lối giải quyết loại đất này…

– Tại khoản 3 Điều 739 quy định “cá nhân có quyền sử dụng đất do người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”. Vậy hiểu thế nào cho đúng về cụm từ “chuyển quyền sử dụng đất phù hợp”?… Có những trường hợp mua bán đất (thổ cư, đất vườn, đất ruộng…) từ những năm 80, việc mua bán vào thời điểm đó là bất hợp pháp, đến nay họ cũng mới chỉ kê khai trong sổ địa chính. Có trường hợp đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận theo Luật đất đai năm 1987 hoặc theo Luật đất đai năm 1993, có trường hợp họ đã xây nhà trên đất đó nhưng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vậy họ có được để thừa kế quyền sử dụng đất hay không?

Những vấn đề trên rất cần có sự giải thích, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, mới có thể đi đến nhận thức thống nhất và mới áp dụng đúng pháp luật.

II. Những kiến nghị cụ thể:

Thừa kế quyền sử dụng đất chỉ là một trong 6 chương của Phần thứ 5: “Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất”. Có những quy định ở chương thừa kế quyền sử dụng đất liên quan rất chặt chẽ với các quy định khác trong Phần thứ 5 này. Để có sự thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo thì phải sửa đổi, bổ sung các chương khác của Phần thứ 5 Bộ luật Dân sự. Song phạm vi nghiên cứu là những vấn đề thừa kế, vì vậy chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong Chương 6: thừa kế quyền sử dụng đất.

Qua nghiên cứu chương này chúng tôi thấy cần có sự sửa đổi căn bản. Một khi pháp luật đã thừa nhận quyền sử dụng đất là một quyền tài sản, được để lại thừa kế thì không nên quy định có loại đất không được thừa kế, ví dụ như đất chuyên dùng, đất nông nghiệp ể trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản cấp cho hộ gia đình không được thừa kế (Điều 744), hoặc có người được hưởng thừa kế, có người không thỏa mãn các điều kiện ử dụng đất lại không được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 740) dẫn đến sự không công bằng, vì vậy chúng tôi đề nghị:

1. Về người được để thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 739):

Theo quy định tại Điều 730 Bộ luật Dân sự, chỉ có các loại đất sau đây mới có thể là đối tượng của quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất:

“1. Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản;

2. Cá nhân, thành viên hộ gia đình được giao đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở;

3. Cá nhân có quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 22 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29-3-1999 lại quy định:“những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:

a. Cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

b. Thành viên của hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

c. Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất mà đã trả tiền thuế đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm”.

Như vậy, Nghị định 17 của Chính phủ đã bổ sung thêm “hai loại đất” có thể để thừa kế, đó là “đất chuyên dùng” và “đất được Nhà nước cho thuê…”. Thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy việc mở rộng phạm vi loại đất được để lại thừa kế như Nghị định 17/1999/NĐ-CP kể trên là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân. Chính vì vậy quy định về phạm vi loại đất được để lại thừa kế trong Điều 739 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng giống như quy định trong Điều 22 ghị định 17/1999/NĐ-CP và Điều 739 có hai phương án sửa đổi:

– Phương án 1: Về Điều 739 được sửa lại như sau: “Điều 739. Người được để thừa kế quyền sử dụng đất.

Những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:

1. Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

2. Cá nhân, thành viên hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

3. Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã tiền thuê đất cho nhiều năm;

4. Cá nhân có quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.

– Phương án 2: Nếu sửa đổi theo hướng tất cả các loại đất mà cá nhân, hộ gia đình có được một cách hợp pháp đều được để thừa kế thì Điều 739 Bộ luật Dân sự có thể sửa đổi như sau:

Điều 739. Người được để thừa kế quyền sử dụng đất.

Khi có quyền sử dụng đất hợp pháp, những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:

1. Cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, đất chuyên dùng;

2. Cá nhân, hộ gia đình thuê đất mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm”.

Nếu chúng ta vẫn tiếp tục công nhận hộ gia đình là chủ thể trong một số quan hệ dân sự, thì chỉ quy định như điều luật trên là đủ. Chủ thể cá nhân có thể là người độc thân, nhưng cũng có thể là thành viên hộ gia đình, họ tham gia giao dịch, tham gia quan hệ pháp luật hành chính (được Nhà nước giao đất) với tư cách là chủ thể độc lập, một cá nhân trong quan hệ đó. Còn nếu thành viên trong hộ gia đình tham gia các quan hệ pháp luật dân sự, hành chính vì lợi ích của hộ gia đình, thì chủ thể của quan hệ đó phải là hộ gia đình, còn thành viên đó chỉ là người đại diện cho hộ gia đình khi tham gia quan hệ pháp luật. Với lý do đó, chúng tôi không đưa thành viên hộ gia đình vào điều luật. Chúng tôi cũng không đưa khoản 3 Điều 739 Bộ luật Dân sự vào phương án 2 nói trên, bởi vì nếu đã quy định “khi có quyền sử dụng đất hợp pháp…” thì câu này đã có ý nghĩa khái quát là dù họ có được quyền sử dụng các loại đất nói trên bằng cách tham gia các giao dịch như chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế… hay được Nhà nước giao đất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai thì các giao dịch đó mới có giá trị pháp lý, quyền sử dụng mà họ có được mới được công nhận là hợp pháp.

Nếu chúng ta sửa đổi Bộ luật Dân sự theo hướng không coi hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, thì Điều 739 Bộ luật Dân sự sẽ phải thiết kế theo hướng khác.

2. Về điều kiện hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản:

– Điều 740 về điều kiện hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản. Hiện nay có hai quan điểm khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng đối với những người thuộc diện được hưởng thừa kế, nhưng không đủ điều kiện để được giao đất sử dụng thì họ phải được hưởng giá trị tương ứng với phần thừa kế của họ. Vì vậy, khi chia thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, Tòa án phải định giá diện tích đất tranh chấp để buộc những người được sử dụng đất trả lại cho thừa kế bên kia một số tiền thì mới đảm bảo sự công bằng.

Loại ý kiến thứ 2: Theo lời văn của Điều 740, 741, 742 thì loại đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản bị hạn chế so với các loại đất khác. Nếu một người không đủ điều kiện quy định ở Điều 740 thì không “được thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật” và ngược lại nếu đủ điều kiện thì “được thừa kế’…

Vì vậy nếu họ không đủ điều kiện theo quy định ở Điều 740, thì họ không những không được giao đất, mà pháp luật cũng không đặt ra việc chia giá trị cho họ. Ví dụ ông A chết ể lại 5.000m2 đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản. Ông A có 3 con là B, C, D. Hai anh B, C đều là sĩ quan quân đội đóng quân ở xa, anh D làm nông nghiệp ở quê đang sử dụng đất dưới hạn mức, nên anh D được thừa kế toàn bộ 5.000m2 đất, anh D cũng không phải trả giá trị cho B và C.

Chúng tôi cho rằng cách hiểu này là đúng với lời văn của các điều luật. Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi thấy có những điểm chưa thật hợp lý. Quyền sử dụng đất là một quyền tài sản. Sau khi được giao quyền sử dụng đất, người này có quyền chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền, vì pháp luật không cấm họ làm điều đó, mà chỉ quy định điều kiện được chuyển nhượng…, pháp luật đã tạo cho họ được hưởng lợi toàn vẹn, còn người thừa kế khác không được gì, trong khi chính vợ con của người không được hưởng thừa kế lại đang làm nông nghiệp ở tỉnh khác, nhưng không có đất hoặc có quá ít đất nông nghiệp nên phải đi làm thuê kiếm sống. Do tính chất kinh tế, xã hội của loại đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nên không được để đất hoang và bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất, nên chỉ giao đất cho người có nhu cầu, có điều kiện trực tiếp sử dụng… Song vẫn nên tính đến sự công bằng, mà vẫn thực hiện được chính sách đất đai. Vì vậy, theo chúng tôi điều luật này cần sửa đổi theo hướng cho người không được sử dụng đất thừa kế, thì được hưởng giá trị quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 740 thì đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, thì chỉ những người có đủ các điều kiện theo quy định của điều luật mới ó quyền hưởng thừa kế quyền sử dụng đất.

Vậy cần hiểu thế nào về cụm từ “có điều kiện trực tiếp sử dụng đất…” được quy định ở Điều 740?

Có ý kiến cho rằng phải là người có điều kiện trực tiếp cày cuốc trên thửa đất đó mới được coi là “có điều kiện trực tiếp sử dụng”. Tuy nhiên có ý kiến lại cho rằng không bắt buộc họ phải là người trực tiếp cày, cuốc mà chỉ cần họ là người tổ chức, quản lý để thực hiện việc canh tác diện tích đó đúng mục đích, cũng được coi là “có điều kiện trực tiếp ử dụng đất…”, vì hiện nay Nhà nước khuyến khích phát triển trang trại, nên vai trò người tổ chức, quản lý sản xuất là rất quan trọng. Họ là người thuê nhân công cày cuốc, chăm sóc, tưới bón, nhưng đồng thời họ là người quyết định trồng cây gì, con gì, vào lúc nào, chăm bón ra sao. Vì vậy, loại người lao động bằng “đầu” là chủ yếu này cũng phải được coi là người “trực tiếp sử dụng đất”.

Tuy nhiên, nếu họ lại đi thuê toàn bộ, thuê cả người quản lý sản xuất hoặc khoán theo kiểu phát canh thu tô thì có coi họ là người trực tiếp sử dụng không?

Nếu người để lại di sản đã di chúc cho một người chưa có đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nhưng người được hưởng di sản theo di chúc lại không có nhu cầu sử dụng đất (họ đang là cán bộ Nhà nước), hoặc không có đủ điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích thì họ có được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất không?

– Khoảng cách về không gian giữa nơi có đất thừa kế và người hưởng thừa kế đang cư

trú có bị chi phối bởi điều kiện “có điều kiện trực tiếp sử dụng đất” không? Nếu bị chi phối bởi điều kiện đó, thì khoảng cách xa bao nhiêu sẽ bị coi là không “có điều kiện trực tiếp sử dụng đất”. Ví dụ: ông A di chúc cho con là B được hưởng thừa kế 1.000m2 đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và anh B đang có nhu cầu sử dụng đất, nhưng hiện nay anh có rất ít đất để sản xuất. Song đất của ông A ở tỉnh H mà anh B lại đang sinh sống ở tỉnh Y, vậy anh B có được hưởng thừa kế đất theo di chúc của ng A không? Trường hợp di sản thừa kế phải chia theo pháp luật thì có chia đất nông nghiệp đó cho anh B không? Nếu quy định về người thừa kế ở quá xa, không chia đất thừa kế, nhưng anh B có đơn và có lời khai xin chia đất với lý do anh sẽ chuyển về nơi đang có đất thừa kế của bố anh, sau khi bản án có hiệu lực, anh B liền bán số đất được chia thì giải quyết thế nào?

– Nếu người được hưởng thừa kế đang sử dụng đất vừa đúng hạn mức quy định tại địa phương hoặc cao hơn hạn mức, có được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản không? Sử dụng vượt hạn mức bao nhiêu thì không được hưởng thừa kế? Cần hướng dẫn để có nhận thức thống nhất.

Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản mà Nhà nước giao cho hộ gia đình để sản xuất khi một thành viên chết có coi phần đất của họ là di sản thừa kế để chia và họ có quyền viết di chúc định đoạt phần quyền sử dụng đất đó không? Hình thức giao đất như thế nào thì được coi là giao cho hộ gia đình, trường hợp nào ược coi là giao cho cá nhân, thành viên của hộ gia đình? Chúng tôi thấy trường hợp trong một gia đình có nhiều thế hệ, có gia đình cho một người con đứng tên, cũng có khi là chỉ ông bố hoặc cả bố và mẹ đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có trường hợp để mỗi cặp vợ – chồng – con đứng tên một phần diện tích, còn ông bà đứng tên một phần diện tích, nhưng trên thực tế vẫn canh tác chung, ăn chung.

Có trường hợp đã tách hộ, nhưng các hộ đều đồng ý để cho một người đứng tên toàn bộ diện tích đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản (đứng tên trên diện tích của cả hộ bố, mẹ, hộ gia đình người anh, em…) thì giải quyết chia thừa kế như thế nào? Đối với những loại đất mà pháp luật cho phép được thừa kế thì những ai có quyền hưởng thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật, những vấn đề nêu trên còn có ý kiến khác nhau.

Mặt khác, luật pháp có sự phân biệt: đất cấp cho hộ gia đình và đất cấp cho cá nhân với chế độ pháp lý khác nhau. Nhưng trên thực tế, Ủy ban nhân dân là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không chú ý ghi rõ trên giấy chứng nhận là cấp cho hộ gia đình hay cấp cho cá nhân, do đó Tòa án gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết.

Hiện nay việc giải quyết tranh chấp đất gặp nhiều vướng mắc, hoặc chưa thống nhất vì do mỗi người, mỗi ngành hiểu và vận dụng pháp luật khác nhau. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần sớm giải thích, hướng dẫn.

Tuy đất đai là một loại tài nguyên đặc biệt của quốc gia. Nó không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội nên phải chú ý đến việc không được để đất hoang, và bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất. Do đó chế độ pháp lý về đất đai nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng sẽ có những nét đặc thù so với các loại tài sản khác, nhằm giảm thiểu sự tích tụ đất nói chung đặc biệt là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản vào tay một số người, dẫn đến người lao động không có đất để sản xuất. Song xử lý vấn đề này trong quan hệ thừa kề cần phải tính đến sự công bằng, bình đẳng (tương đối) giữa các thừa kế, mà vẫn thực hiện được chính sách đất đai. Vì vậy, theo chúng tôi Luật nên quy định theo hướng người không có nhu cầu, không có điều kiện… sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản thì không chia hiện vật cho họ, nhưng họ vẫn có quyền được hưởng giá trị. Vì vậy, Điều 740 cần thiết kế lại như sau:

Điều 740: Điều kiện để được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản.

Người có đủ các điều kiện sau đây thì được giao quyền sử dụng đất thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản:

1- Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích;

2- Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Với cách quy định như trên, khi có tranh chấp, Tòa án thấy người thừa kế nào không có đủ điều kiện để được chia hiện vật (tức giao quyền sử dụng đất thừa kế) thì sẽ chia cho họ phần giá trị tương ứng với quyền lợi của họ. Như vậy sẽ công bằng và không vướng mắc trong thực tiễn giải quyết như đã phân tích ở trên.

Nếu sửa Điều 740 theo hướng này, thì Điều 741, 742 cũng cần phải có sự sửa đổi tương ứng.

Đối với đất cấp cho hộ gia đình, tuy là cấp chung cho cả hộ song tùy theo từng địa phương mà diện tích được cấp khác nhau nhưng đều có một điểm chung là đất của các hộ được cấp theo đầu nhân khẩu trong hộ. Tức là mỗi khẩu sẽ được cấp một sào hay năm sào là phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương. Như vậy dù đất cấp cho hộ gia đình nhưng mỗi thành viên trong hộ đều được biết là phần quyền lợi của mình có bao nhiêu trong số đất được cấp chung cho hộ đó. Vì vậy, khi một thành viên trong hộ chết, thì phần đất của họ được cấp chung trong hộ, nên coi là di sản thừa kế để chia. Muốn giữ ổn định diện tích canh tác cho hộ gia đình thì Luật chỉ cần quy định người thừa kế trong hộ được chia hiện vật, còn người thừa kế không nằm chung trong hộ sẽ được chia giá trị. Đó là sự ưu tiên đối với người trong hộ.

3. Những vấn đề cần sửa đổi về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Cùng với việc sửa đổi Bộ luật Dân sự, cần sớm sửa đổi Điều 38 Luật đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan theo hướng tất cả các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất do Tòa án giải quyết và nếu quyền sử dụng đất đó được coi là quyền tài sản hợp pháp của người chết để lại thì nên coi là di sản và được chia thừa kế (không phân biệt đất đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa…).

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 7/2002

NGHĨA VỤ GIỮ BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

THS. NGUYỄN THANH TÚ – KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI – ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế tri thức. Việc giữ bí mật thông tin ngày càng được đề cao trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Trong quá trình giao dịch với khách hàng, tổ chức tín dụng nắm rất nhiều thông tin khách hàng, đó là những thông tin liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính hay những thông tin liên quan đến các vấn đề riêng tư cá nhân của khách hàng… Những thông tin này rất nhạy cảm, có thể có giá trị kinh tế cao, cần phải được bảo vệ để không bị người khác khai thác, sử dụng. Chính vì thế, tổ chức tín dụng phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng1. Một tổ chức tín dụng không giữ bí mật thông tin khách hàng thường sẽ mất lòng tin của khách hàng nói riêng và của công chúng nói chung. Tuy nhiên, tổ chức tín dụng không thể vì giữ bí mật thông tin khách hàng mà làm ảnh hưởng đến lợi ích chung hay tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động phạm pháp như khủng bố, rửa tiền, lừa đảo… Trong những trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng có thể cung cấp thông tin khách hàng cho bên thứ ba. Do đó, pháp luật cần phải có chế định về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, các trường hợp ngoại lệ và chế tài thích hợp nếu tổ chức tín dụng vi phạm nghĩa vụ này.

Theo pháp luật ngân hàng Việt Nam, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng được quy định tại Điều 17 và Điều 104 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997. Cho đến năm 2000, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 70/2000/NĐ- CP ngày 21/11/2000 về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng; sau đó Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2001/TT-NHNN ngày 4/4/2001 hướng dẫn thực hiện Nghị định trên. Tuy nhiên, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện nay còn chưa đầy đủ với nhiều hạn chế. Vấn đề đặt ra trong bài viết là xác định cơ sở của nghĩa vụ, phạm vi của nghĩa vụ, các trường hợp ngoại lệ và xem xét quy định của pháp luật ngân hàng Việt Nam về vấn đề này. Qua đó bài viết có một số đề xuất liên quan đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng.

II. KHÁI QUÁT VỀ NGHĨA VỤ VÀ CƠ SỞ CỦA NGHĨA VỤ

Nghĩa vụ giữ (bảo vệ) bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng trong chừng mực nào đó có thể tương tự như nghĩa vụ của bác sĩ, luật sư hay kiểm toán viên. Tuy nhiên, nghĩa vụ này không chỉ dừng lại ở vấn đề đạo đức hay quy tắc nghề nghiệp mà nó thực sự là một nghĩa vụ pháp lý mà tất cả các tổ chức tín dụng phải tuân thủ trong quá trình hoạt động ngân hàng của mình.

Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng thường được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật về ngân hàng của các quốc gia theo hệ thống luật thành văn2. Đối với các quốc gia theo hệ thống án lệ, tòa án các quốc gia này cũng có nhiều phán quyết nêu rõ nghĩa vụ của ngân hàng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng3.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở pháp lý hay nguồn gốc, xuất phát điểm của nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng. Ở Đức, nơi mà các quyền cơ bản, đặc biệt là quyền riêng tư của cá nhân và của pháp nhân được quy định cụ thể trong Hiến pháp liên bang, theo một số luật gia, nghĩa vụ này xuất phát và được bảo vệ bởi Hiến pháp liên bang4. Dưới góc độ nhân quyền, có quan điểm cho rằng nghĩa vụ này xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng thông tin cá nhân, đời sống riêng và bí mật thư tín – một trong những nguyên tắc cơ bản của nhân quyền, được quy định tại Điều 8 Công ước Châu Âu về nhân quyền (EHRC). Thậm chí có quan điểm cho rằng nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng dựa vào các quy định của luật hình sự, bởi vì theo Điều 47 Luật Liên bang về ngân hàng và ngân hàng tiết kiệm của Thụy Sĩ, chủ thể vi phạm nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng, dù cố ý hay vô ý đều bị phạt tù (tối đa 6 tháng) hoặc bị phạt tiền (lên tới 50,000 Franc Thụy Sĩ)5. Chính quy định giữ bí mật thông tin khách hàng nghiêm khắc này của pháp luật Thụy Sĩ là một trong những yếu tố quan trọng thu hút khách hàng gửi tiền, tài sản và tiến hành các giao dịch với các ngân hàng Thụy Sĩ, giúp Thụy Sĩ trở thành một nước có công nghiệp ngân hàng rất phát triển.

Tuy nhiên quan điểm phổ biến hiện nay là nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng một mặt là nghĩa vụ hàm chứa trong thỏa thuận về giữ bí mật thông tin trong hợp đồng ký kết giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, mặt khác là nghĩa vụ xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ chủ thể pháp lý hay bảo vệ quyền con người và quyền riêng tư cá nhân trong luật dân sự6.

Khi tiến hành giao dịch hay tham gia vào các hoạt động ngân hàng được tiến hành bởi các tổ chức tín dụng, các cá nhân hay pháp nhân đều có sự tin tưởng và tín thác (trust) đối với tổ chức tín dụng đó. Vì vậy, có thể hợp đồng giao dịch giữa tổ chức tín dụng và khách hàng không quy định cụ thể, rõ ràng nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng, nhưng các bên tham gia hợp đồng cần phải ngầm hiểu rằng đó là nghĩa vụ bắt buộc của tổ chức tín dụng trong quá trình tiến hành hoạt động ngân hàng. Mặt khác nghĩa vụ này còn xuất phát từ nguyên tắc thiện chí, tôn trọng lợi ích của nhau trong các giao dịch dân sự, thương mại. Chính vì vậy, pháp luật một số quốc gia cho rằng nghĩa vụ này là nghĩa vụ mặc nhiên của tổ chức tín dụng xuất phát từ điều khoản ngầm về giữ bí mật thông tin trong hợp đồng. Điều này đặc biệt được khẳng định rõ trong pháp luật của các quốc gia theo hệ thống án lệ7.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng tiềm năng8 hay các thông tin của các đối tác của khách hàng hay không bởi giữa tổ chức tín dụng và khách hàng tiềm năng và giữa tổ chức tín dụng với đối tác của khách hàng không có (hoặc chưa) ký kết hợp đồng. Những thông tin của khách hàng tiềm năng hay thông tin của các đối tác của khách hàng (đối tác đó không có quan hệ trực tiếp với tổ chức tín dụng) mà tổ chức tín dụng nắm được đều có thể có giá trị kinh tế, nếu bị tiết lộ có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng tiềm năng hay đối tác của khách hàng. Điều này chưa thể giải thích rõ ràng nếu dựa trên cơ sở hợp đồng9.

Do đó, độc lập với các quan hệ hợp đồng, nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng cũng có thể dựa trên các quy định pháp lý về bảo vệ các vấn đề riêng tư và quyền cá nhân10. Việc bảo vệ này rất quan trọng đối với khách hàng bởi song song với nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng theo hợp đồng như đã phân tích ở trên, việc bảo vệ quyền riêng tư và quyền cá nhân có thể rộng hơn nghĩa vụ giữ bí mật thông tin theo hợp đồng. Bên cạnh đó, việc bảo vệ vấn đề riêng tư và quyền cá nhân có thể dùng để giải thích cho nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin của khách hàng tiềm năng và thông tin của đối tác của khách hàng11.

Hiện nay, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hầu như chưa công nhận điều khoản ngầm hay nghĩa vụ ẩn, không được quy định rõ, cụ thể trong hợp đồng mặc dù có thừa nhận nguyên tắc thiện chí và hợp tác12. Trên thực tế, khách hàng chưa thể viện dẫn Điều 135 và 408 Bộ luật Dân sự về giải thích giao dịch dân sự và hợp đồng dân sự để chứng minh rằng tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin mà khách hàng cung cấp cho tổ chức tín dụng hay các thông tin mà tổ chức tín dụng thu thập được trong quá trình giao dịch nếu các bên không có thỏa thuận trước về nghĩa vụ này. Trong khi đó rất ít hợp đồng được ký kết giữa tổ chức tín dụng và khách có điều khoản về nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin khách hàng13. Và nếu có thì nghĩa vụ này cũng chỉ được quy định hết sức sơ sài, không đầy đủ14.

Nếu xem các hợp đồng được ký kết giữa tổ chức tín dụng và khách hàng là hợp đồng dịch vụ thì theo quy định tại khoản 5 Điều 525 Bộ luật Dân sự, tổ chức tín dụng (bên làm dịch vụ) có nghĩa vụ: “giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian làm dịch vụ, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Khi các bên không có thỏa thuận về việc giữ bí mật thông tin thì khách hàng chỉ có thể dựa vào các quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam cũng không có quy định cụ thể về việc giữ bí mật các thông tin liên quan đến giao dịch tài chính và tình hình tài chính của cá nhân, pháp nhân và các thông tin liên quan; đặc biệt không có các quy định pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của một pháp nhân cho dù về mặt lý luận cũng như thực tiễn, một pháp nhân cũng cần có các quyền riêng tư như một cá nhân trong chừng mực có thể áp dụng được cho pháp nhân15. Ngoài ra, các thông tin được khách hàng cung cấp cho tổ chức tín dụng trong quá trình tham gia hoạt động ngân hàng mà không có thỏa thuận trước về giữ bí mật thì không thỏa mãn quy định tại điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định số 54/2000/NĐ- CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh vì chủ sở hữu đã không bảo mật thông tin bằng các biện pháp cần thiết, nên không thể được bảo vệ theo quy định của Nghị định này.

Tuy nhiên, pháp luật ngân hàng Việt Nam cũng đã có những quy định ban đầu về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng. Luật các tổ chức tín dụng tại khoản 3 Điều 17 quy định nghĩa vụ của tổ chức tín dụng “bảo đảm bí mật số dư tiền gửi của khách hàng”, tại khoản 2 Điều 104 khẳng định: “tổ chức tín dụng được quyền từ chối yêu cầu của tổ chức, cá nhân về việc cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản của khách hàng…”.

Như vậy, khoản 2 Điều 104 Luật các tổ chức tín dụng chưa thực sự quy định rõ nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng mà chỉ xem đây là quyền (có thể thực hiện hoặc không) của tổ chức tín dụng từ chối yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản của khách hàng cho bên thứ ba, còn khoản 3 Điều 17 chỉ dừng lại ở nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật số dư tiền gửi của khách hàng. Nhưng khi quy định chi tiết Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định số 70/2000/NĐ-CP đã khẳng định đây chính là nghĩa vụ của tổ chức tín dụng và nội dung thông tin cần giữ bí mật đã được mở rộng, không chỉ dừng lại ở số dư tiền gửi của khách hàng mà bao hàm tất cả các thông tin có liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng.

III. PHẠM VI CỦA NGHĨA VỤ

Về mặt lý luận, thông tin khách hàng mà tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giữ bí mật bao hàm tất cả các thông tin mà tổ chức tín dụng có được do khách hàng cung cấp hay các thông tin mà tổ chức tín dụng có thể thu thập được thông qua quá trình tiến hành hoạt động ngân hàng của mình. Tuy nhiên, những thông tin này phải là những thông tin có giá trị, cần giữ bí mật, nếu bị tiết lộ sẽ có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Nếu một khách hàng có tài khoản thanh toán tại một tổ chức tín dụng và số hiệu tài khoản này được khách hàng công bố trên các giấy tờ giao dịch hàng ngày của mình thì việc tổ chức tín dụng cung cấp số hiệu tài khoản đó cho bên thứ ba không vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng.

Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng không giới hạn ở một nhóm khách hàng cụ thể nào mà đối với tất cả khách hàng tham gia hoạt động ngân hàng với tổ chức tín dụng đó. Theo quy định của pháp luật ngân hàng Việt Nam: “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”16.

Như vậy, khách hàng của tổ chức tín dụng không chỉ là người gửi tiền, gửi tài sản mà còn là người đi vay, người được cung cấp các dịch vụ thanh toán, người mua, bán ngoại tệ và các giấy tờ có giá, người thuê mua tài chính, người được tư vấn tài chính… Trong quá trình tiến hành hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng nắm được các thông tin liên quan đến các khách hàng này. Mọi khách hàng đều mong muốn được giữ bí mật những thông tin đó và họ có sự tin tưởng, tín thác đối với tổ chức tín dụng nên tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phải giữ bí mật thông tin của tất cả khách hàng.

Đồng thời, nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng không chỉ giới hạn ở khách hàng hiện hữu mà còn cả khách hàng tiềm năng, những người đã từng là khách hàng và cả đối tác của khách hàng.

Đối với khách hàng tiềm năng, một cá nhân hay một doanh nghiệp tuy chưa từng có giao dịch với tổ chức tín dụng nhưng có thể đến tổ chức tín dụng đó để xin vay vốn. Khi đó trong hồ sơ vay vốn của cá nhân hay doanh nghiệp phải có những thông tin cần phải giữ bí mật với bên thứ ba như tình hình tài chính của cá nhân, doanh nghiệp và dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh17. Nếu tổ chức tín dụng và cá nhân hay doanh nghiệp này chưa (hoặc không) ký kết hợp đồng tín dụng nhưng thông tin này bị tổ chức tín dụng tiết lộ cho đối thủ cạnh tranh thì việc tiết lộ thông tin này có thể gây thiệt hại lớn cho cá nhân, doanh nghiệp. Thêm vào đó, tổ chức tín dụng cũng có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng sau khi tổ chức tín dụng và khách hàng chấm dứt giao dịch vì những thông tin này vẫn còn giá trị nếu bị đối thủ cạnh tranh của khách hàng khai thác hay những thông tin này vẫn cần được giữ bí mật vì vấn đề riêng tư.

Ngoài ra, trong quá trình giao dịch với khách hàng, tổ chức tín dụng cũng có thể biết được các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của các đối tác của khách hàng. Ví dụ như trong thanh toán bằng thư tín dụng, ngân hàng thông báo (ngân hàng của bên bán) có thể không có mối quan hệ trực tiếp với bên mua hàng. Nhưng ngân hàng thông báo có thể biết được những thông tin như khối lượng, giá cả, thời gian nhận hàng, thời gian thanh toán… của bên mua. Nếu đối thủ của bên mua hàng được ngân hàng thông báo cung cấp những thông tin này thì đối thủ đó có thể có biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép bên mua hàng và kết quả là có thể gây thiệt hại cho bên mua hàng. Do đó tổ chức tín dụng cũng phải có nghĩa vụ giữ bí mật những thông tin của đối tác của khách hàng.

Pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật các tổ chức tín dụng và Nghị định số 70/2000/NĐ- CP, Thông tư số 02/2001/TT-NHNN, đã có quy định về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, nhưng còn rất hạn chế. Pháp luật chỉ dừng lại ở nghĩa vụ đối với các thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng, tức khách hàng ở đây chỉ dừng lại ở người gửi tiền và gửi tài sản hiện hữu. Và mặc dù các văn bản pháp luật này có quy định về nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin của khách hàng là người gửi tiền, gửi tài sản nhưng chưa có quy định cụ thể về chế tài đối với tổ chức tín dụng trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ này.

Như vậy, rất nhiều khách hàng trong quá trình tham gia hoạt động ngân hàng với các tổ chức tín dụng (bao gồm khách hàng không phải là người gửi tiền, gửi tài sản cũng như khách hàng tiềm năng, những người đã từng là khách hàng, hay đối tác của khách hàng) cũng có nhu cầu được tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin mà họ cung cấp cho tổ chức tín dụng hay thông tin mà tổ chức tín dụng thu thập được. Nhưng pháp luật Việt Nam hiện hành chưa quy định trách nhiệm của tổ chức tín dụng giữ bí mật những thông tin liên quan đến nhóm khách hàng này. Do đó trong quá trình giao dịch giữa khách hàng với tổ chức tín dụng, khách hàng thường ngại tiết lộ thông tin với tổ chức tín dụng; các dự án, phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh trong hồ sơ xin vay vốn của khách hàng tại tổ chức tín dụng thường sơ sài, không đúng thực tế, gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong quá trình đánh giá, xét duyệt cho vay.

Đây cũng chính là một trong những lý do khiến cho hoạt động dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ tư vấn tài chính của tổ chức tín dụng Việt Nam cho khách hàng không phát triển.

IV. CÁC TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ CỦA NGHĨA VỤ

Tuy tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng nhưng nghĩa vụ này không phải là tuyệt đối, nó cũng có những trường hợp ngoại lệ nhất định cần được pháp luật quy định cụ thể.

Thứ nhất, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin theo yêu cầu của khách hàng hay người được khách hàng ủy quyền theo quy định của pháp luật. Vì đây là những thông tin của khách hàng nên khi khách hàng yêu cầu thì tổ chức tín dụng phải cung cấp những thông tin đó cho khách hàng hay người được khách hàng chỉ định. Điều này đã được quy định rõ tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP.

Thứ hai, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật. Việc cung cấp thông tin này là bắt buộc do luật định nhưng cũng phải tuân thủ những thủ tục cần thiết18.

Thứ ba, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin của khách hàng vì lợi ích công cộng. Một trong những nguyên tắc của luật dân sự là nguyên tắc tôn trọng, đảm bảo lợi ích công cộng hay lợi ích chung. Tổ chức tín dụng phải cung cấp các thông tin của khách hàng liên quan đến những khoản tiền bất hợp pháp, hay hành vi rửa tiền, lừa đảo… cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền19. Ngoài ra, tổ chức tín dụng cần cung cấp thông tin của khách hàng cho ngân hàng trung ương20, tổ chức bảo hiểm tiền gửi nhằm giúp các định chế này có kế hoạch, chính sách thích hợp phục vụ cho lợi ích hung, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng. Ngoại lệ này đã được quy định tản mạn trong Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật Hình sự 1999… nhưng Nghị định số 70/2000/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết lại không quy định đầy đủ và khái quát về trường hợp ngoại lệ này.

Thứ tư, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin của khách hàng vì lợi ích chính đáng của tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng nhưng nghĩa vụ này không thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng.

Ví dụ điển hình của trường hợp ngoại lệ này là khi tổ chức tín dụng tiến hành khởi kiện khách hàng để thu hồi khoản tiền cho khách hàng vay đã đến hạn nhưng không được trả. Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng sẽ cung cấp các thông tin liên quan đến tài khoản của khách hàng, số tiền mà khách hàng còn nợ tổ chức tín dụng liên quan đến việc vay vốn đó cho luật sư, cho cơ quan tài phán. Hoặc trong trường hợp tài khoản thanh toán của khách hàng không đủ tiền để thanh toán tờ séc thì tổ chức tín dụng thông báo cho người nộp séc về vấn đề này21. Rõ ràng, việc tiết lộ các thông tin đó là hợp pháp. Tổ chức tín dụng còn có thể cung cấp thông tin của khách hàng trong nội bộ tổ chức tín dụng, thậm chí cho các công ty con của mình nhưng không được sử dụng những thông tin đó để tiến hành các hoạt động kinh doanh, tiếp thị22. Ngoài ra các tổ chức tín dụng còn có thể cung cấp thông tin của khách hàng cho nhau để phục vụ cho hoạt động nội bộ của các tổ chức tín dụng trên nguyên tắc có đi có lại, hay tổ chức tín dụng là bên nhận ủy thác cho vay vốn có thể cung cấp thông tin của khách hàng vay vốn cho bên ủy thác cho vay vốn23. Tuy nhiên, Nghị định số 70/2000/NĐ-CP chỉ quy định việc cung cấp thông tin nhằm phục vụ hoạt động nội bộ của tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng24 mà chưa xác định rõ việc cung cấp thông tin nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của tổ chức tín dụng nói chung.

V. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

1. Pháp luật ngân hàng Việt Nam cần quy định rõ và đầy đủ nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng cũng như các trường hợp ngoại lệ của nghĩa vụ này. Điều này có thể được thực hiện bằng việc sửa đổi, bổ sung Điều 104 của Luật các tổ chức tín dụng.

Như đã phân tích, khoản 2 Điều 104 và khoản 3 Điều 17 Luật các tổ chức tín dụng là quy định pháp lý cao nhất hiện nay quy định cụ thể về nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin của một nhóm nhỏ khách hàng. Tuy nhiên tiêu đề của Điều 17 là “Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền” còn tiêu đề của Điều 104 là “Bảo mật thông tin ngân hàng”. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Điều 104 Luật các tổ chức tín dụng để quy định đầy đủ về nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin của tất cả các khách hàng là hợp lý nhất.

2. Pháp luật ngân hàng Việt Nam cũng cần phải quy định cụ thể chế tài trong trường hợp tổ chức tín dụng để lộ bí mật thông tin khách hàng dù cố ý hay vô ý. Nếu không có chế tài cụ thể thì khi xảy ra sai phạm, tổ chức tín dụng hầu như sẽ ít chịu trách nhiệm vì vấn đề khách hàng chứng minh thiệt hại để đòi bồi thường khi bị tiết lộ thông tin là rất khó và sẽ có nhiều tranh cãi. Việc quy định cụ thể chế tài đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghĩa vụ sẽ khiến tổ chức tín dụng chấp hành tốt hơn nghĩa vụ này.

3. Bên cạnh đó, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự bằng việc thêm điều khoản về bảo vệ thông tin riêng tư nói chung và các thông tin liên quan đến tài chính của cá nhân và pháp nhân (đặc biệt là pháp nhân) cũng là một vấn đề cần được đặt ra để nghiên cứu. Tóm lại, hoàn thiện các quy định pháp lý về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng sẽ góp phần gia tăng thêm niềm tin của khách hàng đối với tổ chức tín dụng, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong việc bảo mật thông tin, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Nhất là khi các hoạt động ngân hàng thông qua điện thoại (telephone banking) và thông qua mạng internet (e-banking) đang bước đầu phát triển mạnh ở Việt Nam, việc hoàn thiện các quy định pháp lý như vậy là hết sức cấp thiết.

Chú thích:

1 Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng được hiểu là nghĩa vụ của tổ chức tín dụng, của cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng đó.

2 Ví dụ Điều 47 Luật Liên bang về ngân hàng và ngân hàng tiết kiệm năm 1934 của Thụy Sĩ; Mục 97 (1) Luật các chế định tài chính và hoạt động ngân hàng năm 1989 của Malaysia.

3 Theo phán quyết của Tòa kháng án (Court of Appeals) Anh năm 1923 trong án lệ Tournier v. National Provincial and Union Bank of England ([1924] 1KB 461), lần đầu tiên luật pháp nước Anh đã xác định rõ nghĩa vụ pháp lý của ngân hàng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng. Ở Mỹ, phán quyết của Tòa tối cao bang Idaho năm 1961 trong án lệ Peterson v. Idaho First National Bank (367 P.2d 248 [Ida1]) là phán quyết sớm nhất trong lĩnh vực này.

4 Ví dụ Điều 2 Hiến pháp Liên bang Đức cũng như Điều 13 Hiến pháp Liên bang Thụy Sĩ. Xem O. sandrock and E. Klausing, “Germany”, in Ross Cranston (ed.), European Banking Law, LLP, London, 1993, tr. 91.

5 Xem Ross Cranston, Principles of Banking Law, Clarebdon Press, Oxford, 1997, tr. 182.

6 Xem Franco Taisch, Confidentiality at the Bank Counter or Protection of Personality in the Banking Business, Liechtenstein-Swiss Aspects Syonnis, Liechtensteinische Landesbank Aktiengese-llschaft Series, Vol.19, 1996, tr. 3.

7 Phán quyết Tournier v. National Provincial and Union Bank of England khẳng định: “Điều khoản ẩn trong hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng quy định rằng ngân hàng không được tiết lộ cho người thứ ba, nếu không có sự đồng ý rõ ràng hoặc ngầm, tình trạng tài khoản của khách hàng, các giao dịch của khách hàng với ngân hàng, hay bất cứ thông tin nào liên quan đến khách hàng mà ngân hàng có được thông qua việc quản lý tài khoản của khách hàng…”, hay trong phán quyết Peterson v. Idaho First National Bank: “Ẩn ý trong hợp đồng giữa ngân hàng với khách hàng hoặc người gửi tiền rằng không một thông tin nào có thể bị ngân hàng hay nhân viên của ngân hàng tiết lộ liên quan đến tài khoản của khách hàng hay người gửi tiền…”.

8 Khách hàng tiềm năng ở đây được hiểu là những người đã có những trao đổi thông tin ban đầu với tổ chức tín dụng nhằm đề nghị tổ chức tín dụng giao kết hợp đồng nhưng hợp đồng này chưa được giao kết và trước đây họ cũng chưa từng giao kết bất kỳ hợp đồng nào với tổ chức tín dụng đó.

9 Xem thêm Ross Cranston, chú thích số 7, trang 183.

10 Có thể tìm thấy quy định pháp lý về việc bảo vệ vấn đề riêng tư và quyền cá nhân hay nghĩa vụ bảo vệ một chủ thể pháp lý tại Điều 27, 28 Bộ luật Dân sự Thụy Sĩ; Điều 37, 38, 115 Luật Công ty và cá nhân Liechtenstein. Xem Franco Taisch, chú thích số 9, tr. 5.

11 Xem Franco Taisch, chú thích số 9, tr. 4.

12 Có thể thấy quy định pháp lý về nguyên tắc này tại Điều 22 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành ngày 25/9/1989; Điều 2, Điều 9 Bộ luật Dân sự.

13 Mặt sau của Sổ tiết kiệm của một số ngân hàng (Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn) có quy định nghĩa vụ này. Sổ tiết kiệm của Ngân hàng Ngoại thương trước đây có ghi rõ nghĩa vụ này nhưng từ khi chuyển từ Sổ tiết kiệm sang Chứng nhận tiền gửi có kỳ hạn thì lại không quy định vấn đề này ở mặt sau nữa.

14 Hợp đồng tín dụng ngắn hạn theo mẫu số 01-TD của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (VP Bank) trong phần nghĩa vụ của bên cho vay (VP Bank) có quy định: “Đảm bảo giữ bí mật các thông tin do bên vay cung cấp theo luật định”. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện nay chưa quy định về nghĩa vụ của tổ chức tín dụng giữ bí mật thông tin của khách hàng là bên vay (xem phần 3. Phạm vi của nghĩa vụ) thì “luật định” ở đây được hiểu như thế nào và VP Bank có nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin của Bên vay do VP Bank tự thu thập được hay không?

15 Vấn đề bảo vệ quyền riêng tư của pháp nhân được thừa nhận theo pháp luật của nhiều quốc gia. Ví dụ: Khoản 3 Điều 10 Hiến pháp Liên bang Đức; Điều 115 Luật công ty và cá nhân Liechtenstein.

16 Xem khoản 3 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; khoản 7 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng.

17 Xem Điều 7 và Điều 14 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

18 Xem khoản 4 Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP; Điều 49 – Thu thập chứng cứ – Bộ luật tố tụng hình sự 1988 (Điều 65 Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), Điều 9 Pháp lệnh Thanh tra cũng quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin của co quan tiến hành tố tụng, của tổ chức Thanh tra Nhà nước.

19 Xem Điều 19 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 251 Bộ luật hình sự 1999.

20 Xem Điều 40 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng.

21 Xem Điều 24 Quy chế phát hành và sử dụng séc ban hành kèm theo Nghị định số 30/CP ngày

9/5/1996.

22 Xem thêm E.P.Ellinger, E.Lomnicka, R. Hooley, Modern Banking Law, Oxford University Press,2002, tr. 154 – 156.

23 Xem Điều 6 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP; Điều 10 Quy định về ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 742/2002/QĐ-NHNN ngày 17/7/2002.

24 Xem khoản 2 Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2004

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN TRONG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG KINH TẾ

THS. LÊ THỊ BÍCH THỌ –  ĐH Luật TP.HCM

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) được Quốc hội thông qua ngày 29/9/1989 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về HĐKT ở nước ta. Có thể nói PLHĐKT đã hoàn thành sứ mạng của mình trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tuy vậy, qua hơn 10 năm thực hiện, bên cạnh những thành công, PLHĐKT đã bộc lộ nhiều nhược điểm cũng như sự bất cập cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện phù hợp với các đòi hỏi khách quan của cơ chế quản lý kinh tế mới.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐKT đang có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định đại diện ký kết HĐKT. Một trong các nguyên nhân của tình trạng này là do quy định về đại diện trong ký kết HĐKT còn nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu ở một vấn đề hiện đang có nhiều tranh cãi, đó là vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT.

1. Vấn đề đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật hiện hành:

Đại diện là một hoạt động phổ biến tất yếu trong các lĩnh vực có sự phân công lao động đối với sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ. Nhà sản xuất giao việc mua nguyên vật liệu cho một người được ủy quyền, một công ty giao cho nhân viên bán sản phẩm… Vì rất nhiều lý do, những người này thay vì phải tự mình thực hiện các giao dịch nhưng họ không thể hoặc không muốn trực tiếp thực hiện các hành vi đó. Vì vậy, họ sử dụng những “người giúp đỡ” thực hiện hành vi với bên thứ ba “vì họ”, “theo tài khoản của họ” như những “người được ủy quyền” hoặc “trong lợi ích của họ”. Thuật ngữ đại diện được sử dụng để chỉ những việc mà “người giúp việc” được phép làm và không được phép làm trong khoảng thời gian được thuê cũng như chức danh của họ. Theo quan niệm của thông luật, đại diện không chỉ giới hạn ở trường hợp một người nhận thay mặt cho một người khác mà còn cả các trường hợp mà ở đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về các hành vi vị phạm pháp luật do nhân viên của mình gây ra. Ở đây có sự phân biệt giữa các trường hợp người ủy quyền cho người khác thực hiện các hành vi thay mặt mình, nhân danh mình qua các hợp đồng trách nhiệm thuộc thẩm quyền của người đại diện.

Lý thuyết về sự phân biệt giữa đại diện theo ủy quyền và đại diện theo thẩm quyền được quy định bởi pháp luật là một trong những thành tựu nổi bật của học thuật pháp lý Đức cuối thế kỷ 19. Lý thuyết này đã được đưa vào BGB1 và sau đó được thừa nhận ở các nước theo hệ thống luật dân sự khác. Trên thực tế, không Bộ luật dân sự kế tiếp nào lại không đưa ra sự phân biệt giữa một đại diện thông qua hợp đồng và sự đại diện do thẩm quyền2.

Ở Việt Nam, quan điểm trên cũng được thể hiện trong các văn bản pháp luật về hợp đồng như Bộ luật dân sự, PLHĐKT. Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề này của hai văn bản nói trên cũng khác nhau.

Vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT được ghi nhận tại Điều 9 của PLHĐKT và Điều 5 trong Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành PLHĐKT, theo đó: Người ký hợp đồng là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh. Pháp nhân chỉ có thể tham gia và quan hệ HĐKT thông qua người đại diện của mình và người đại diện nhất thiết phải hành động nhân danh pháp nhân và vì pháp nhân. Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký HĐKT. Theo quy định trên, những người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp hoặc đại diện theo ủy quyền của những người  đại diện hợp pháp.

Đại diện hợp pháp

Đại diện hợp pháp là người được pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định có thẩm quyền ký kết HĐKT. Người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh3 của Doanh nghiệp tư nhân. Đối với cá nhân ký kết HĐKT, theo Điều 42 PLHĐKT người ký hợp đồng phải là những người trực tiếp thực hiện công việc trong HĐKT. Đối với hộ kinh tế cá thể, người ký HĐKT là chủ hộ. Đại diện hợp pháp của phá nhân và người được bổ nhiệm hoặc được bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và đương giữ chức vụ đó. Sử dụng thuật ngữ đại diện hợp pháp để chỉ người có thẩm quyền ký kết hợp đồng theo pháp luật là chưa chính xác vì dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền đều là đại diện hợp pháp. Việc xác định người đứng đầu hợp pháp của pháp nhân theo quy định trên là không đơn giản. Pháp nhân kinh tế có thể là doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tập thể, công ty… Đứng đầu pháp nhân có thể là giám đốc (Tổng giám đốc) đối với doanh nghiệp Nhà nước, là chủ tịch hội đồng quản trị đối với các công ty. Về vấn đề này BLDS quy định chặt chẽ hơn. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền4. Theo đó đại diện theo pháp luật là người được pháp luật quy định hoặc ghi nhận khả năng được là đại diện bởi một sự kiện pháp lý đã được quy định là sự thống nhất của các thành viên ghi trong điều lệ của tổ chức đó. Nội dung này cũng được quy định trong Luật doanh nghiệp 19955.

Vấn đề đại diện theo luật được thừa nhận ở các nước theo hệ thống luật dân sự, song lại không được thừa nhận ở hệ thống thông luật. Theo luật Anh – Mỹ thì ngay cả cha mẹ cũng không là đại diện đương nhiên của người chưa thành niên trong các giao dịch pháp lý. Các hợp đồng được ký với người chưa thành niên đều không có giá trị trừ những hợp đồng “thiết yếu” cho người chưa thành niên. Sự đồng ý của cha mẹ cũng không có ý nghĩa trong việc tạo nên hiệu lực của hợp đồng.

Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Điều 9 PLHĐKT quy định: Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế. Người được ủy quyền chỉ ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không được ủy quyền lại cho người thứ ba. Từ quy định trên có thể nêu lên một số điểm như sau:

– Thứ nhất, Người được ủy quyền phải hành động “nhân danh”, “trên tài khoản” và “vì lợi ích” của người ủy quyền trong giao kết hợp đồng. Trách nhiệm trước bên thứ ba thuộc về người ủy quyền. Người được ủy quyền chỉ được ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không ủy quyền lại cho người thứ ba, nói cách khác người được ủy quyền chỉ được phép hành động trong quyền hạn mà mình được giao. Trong trường hợp người được ủy quyền vượt quá thẩm quyền thì hợp đồng được ký kết sẽ không có hiệu lực. Khác với luật pháp của một số nước như Pháp, Thụy Điển, nếu người được ủy quyền vượt quá thẩm quyền mà người ủy quyền trao cho thì người được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trong quan hệ đối với bên thứ ba, trừ trường hợp bên thứ ba này biết hoặc cần phải biết rằng người được ủy quyền đã vượt quá thẩm quyền.

– Thứ hai, Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền phải ghi rõ họ tên, chức vụ của người ủy quyền, người được ủy quyền, số chứng minh nhân dân của người được ủy quyền, nội dung và thời hạn ủy quyền, ghi rõ số, ngày, tháng, năm của giấy ủy quyền vào bản hợp đồng kinh tế, đồng thời kèm theo văn bản ủy quyền vào HĐKT. HĐKT được ký kết bởi những người không phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân, không phải là người được ủy quyền hoặc được ủy quyền nhưng vượt quá thẩm quyền và nội dung ký hợp đồng không nằm trong phạm vi ủy quyền đó sẽ vô hiệu toàn bộ.

2. Những vướng mắc khi thực hiện quy định về đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế:

Về hình thức pháp lý của việc ủy quyền

PLHĐKT mới chỉ đề cập đến một loại hình thức ủy quyền không thường xuyên mà chưa làm rõ hình thức của ủy quyền thường xuyên là loại ủy quyền thường gặp. Khái niệm văn bản ở đây cũng được hiểu rất hạn hẹp: phải là văn bản có đầy đủ các nội dung được pháp luật quy định. Thực tế áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này có một số vấn đề cần được làm rõ:

– Một là, trong trường hợp người ký HĐKT không phải là người đứng đầu của doanh nghiệp mà là người phó được phân công phụ trách kinh doanh ký kết hợp đồng hoặc những thành viên khác của pháp nhân không có văn bản ủy quyền riêng kèm theo hợp đồng. Thẩm quyền ký kết hợp đồng của những người này trên thực tế đã được xác định tại văn bản phân công, phân cấp hoặc điều lệ của doanh nghiệp. Các văn bản trên có được coi là văn bản ủy quyền thường xuyên để ký kết HĐKT không? Việc áp dụng trên thực tế đối với vấn đề này là không thống nhất tùy thuộc vào sự vận dụng của cơ quan giải quyết tranh chấp. Có ý kiến không coi văn bản phân công là văn bản ủy quyền thường xuyên vì:

+ Trái với quy định về ủy quyền;

+ Bản phân công không được ghi trong văn bản HĐKT;

+ Sẽ hạn chế được tình trạng khi thấy có lợi thì xuất trình bản phân công nội bộ còn không thì thôi.

Ý kiến khác lại thừa nhận vì cho rằng thông qua việc phân công trách nhiệm, người đại diện hợp pháp đã biểu thị sự trao quyền cho người được phân công thực hiện một loại công việc thường xuyên, lâu dài.

Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ hai chỉ hợp lý trong trường hợp bản phân công trên được công bố công khai trên phương tiện mà các chủ thể khác có nghĩa vụ phải biết. Trong trường hợp sự phân công được thể hiện trong điều lệ hoạt động của pháp nhân và được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì bản phân công đó phải được hiểu là văn bản ủy quyền thướng xuyên và không nhất thiết phải kèm theo hợp đồng, song pháp luật cũng cần quy định rõ là ngay khi ký hợp đồng, các bên phải nêu rõ trong hợp đồng tư cách của người ký kết.

– Hai là, thực tế có nhiều hợp đồng được ký bởi một thành viên của pháp nhân không có ủy quyền, nhưng trên thực tế hợp đồng đã được thực hiện và người đại diện theo pháp luật không có ý kiến phản đối thì có coi hợp đồng này không có hiệu lực pháp lý không? Theo chúng tôi, trong trường hợp này cần phải xác địn yếu tố chủ quan của người đại diện hợp pháp. Đó là việc người này có biết hoặc có buộc phải biết việc ký kết hợp đồng nói trên không? Nếu đại diện hợp pháp của pháp nhân biết hoặc buộc phải biết tức là đã có sự mặc nhiên thừa nhận của họ về việc ủy quyền thì đó là điều kiện làm cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý.

– Ba là, văn bản hợp đồng do các đối tượng như trên ký và được đóng dấu của cơ quan. Trường hợp này, chúng tôi cho rằng cần xem việc đóng dấu của pháp nhân vào văn bản hợp đồng là đã thừa nhận có sự ủy quyền, bởi lẽ về nguyên tắc, việc xác định ai được ký tên, đóng dấu cho loại văn bản nào là thuộc về sự phân công trong nội bộ, nhưng con dấu lại thể hiện mối quan hệ với bên ngoài. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng mà không được lấy lý do không có văn bản ủy quyền để vô hiệu hợp đồng, trừ trường hợp có sự cố ý làm trái của người ký hợp đồng.

Về thời hạn xác định ủy quyền

Việc xác định ủy quyền sau khi HĐKT đã được ký kết: về nguyên tắc, việc ủy quyền đòi hỏi phải được xác định trước khi ký HĐKT và văn bản ủy quyền phải được đính kèm theo HĐKT. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều HĐKT do phó giám đốc doanh nghiệp ký, không có sự ủy quyền của giám đốc nhưng sau đó được giám đốc doanh nghiệp phê chuẩn bằng một văn bản ủy quyền cho phó giám đốc đối với HĐKT đã ký. Vậy việc phê chuẩn này có được chấp nhận không? Vấn đề này cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng pháp luật có tính nguyên tắc của nó. Do vậy, hành vi xác lập ủy quyền trong trường hợp nêu trên là trái luật nên không được thừa nhận. Việc xuất trình giấy ủy quyền phải được thực hiện trước khi ký kết HĐKT và phải được ghi trong văn bản HĐKT như luật định. Có cách hiểu khác cho rằng việc phê chuẩn này là hợp pháp vì đó là sự thể hiện ý chí của người được đại diện. Việc xác lập ủy quyền sau khi ký kết hợp đồng kinh tế cần được coi là có giá trị pháp lý. Lại cũng có quan điểm cho rằng trong trường hợp này cần phân biệt sự xác lập ủy quyền trước và sau tố tụng: Theo quan điểm này nếu sự phê chuẩn được thực hiện trước khi phát sinh tranh chấp đối với hợp đồng thì sự phê chuẩn đó là hợp lệ. Văn bản phê chuẩn được coi là văn bản bổ sung kèm theo văn bản HĐKT đã ký. Nếu sự phê chuẩn được thực hiện sau khi đã phát sinh tranh chấp, đã khởi kiện thì sự phê chuẩn không được thừa nhận vì lúc này việc phê chuẩn được hiểu như một cách hợp thức hóa để trốn tránh trách nhiệm.

Chúng tôi cho rằng nên xử lý vấn đề nêu trên theo quan điểm thứ ba. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các đơn vị giao kết thực hiện một cách có hiệu quả HĐKT đã ký.

Về người được ủy quyền: PLHĐKT không quy định cụ thể ai có quyền và ai không có quyền đại diện theo ủy quyền mà chỉ quy định rất chung là: người đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc cá nhân đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền cho người khác ký thay. Vấn đề đặt ra là: có phải tất cả mọi người ai cũng có thể được ủy quyền để ký HĐKT hay không? BLDS đã đề cập đến vấn đề này tại khoản 2 Điều 152 như sau: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sư thì không được làm người đại diện theo ủy quyền. Trong lĩnh vực HĐKT, vấn đề này cần được quy định bằng cách chỉ rõ giới hạn các chủ thể không được đại diện theo ủy quyền. Người không là thành viên trong pháp nhân, người không chuyên về lĩnh vực nào đó có được ủy quyền không? Cần phải hạn chế đối tượng được ủy quyền để tránh những thiệt hại trong việc ký kết HĐKT.

Về việc ủy quyền ký kết HĐKT đối với các chi nhánh của pháp nhân: Việc ủy quyền ký kết hợo đồng đối với các đơn vị có tư cách pháp nhân không đầy đủ cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Điều này liên quan đến các đơn vị thành viên của các công ty, tổng công ty, các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, các chi nhánh của pháp nhân. Các chủ thể này muốn ký kết HĐKT phải được các công ty, tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước nói trên ủy quyền. Điều này cần được quy định trong điều lệ của các doanh nghiệp.

Thực tế trong thời gian gần đây, việc các chi nhánh của pháp nhân ký kết hợp đồng nhằm mục đích kinh doanh nhưng không có ủy quyền của người có thẩm quyền, hoặc có ủy quyền nhưng người ủy quyền lại để cho người được ủy quyền chịu trách nhiệm trực tiếp về những hậu quả xảy ra. Hiện tượng này khá phổ biến và là một trong những vấn đề vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án kinh tế tại các tòa án địa phương. Từ tình hình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã có công văn số 11/KHXX ngày 23/1/1996 hướng dẫn như sau:

a) Nếu chi nhánh được sự ủy quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân kí hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh thì đó là hợp đồng kinh tế hợp pháp, khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

b) Nếu chi nhánh nhân danh pháp nhân kí hợp đồng mà không được ủy quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân, thì hợp đồng đó là vô hiệu theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 8 PLHĐKT, và khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

c) Nếu chi nhánh không nhân danh pháp nhân mà tự mình giao kết hợp đồng thì đó chỉ là hợp đồng dân sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này do Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

Qui định tại điểm c trên đây, theo chúng tôi có thể sẽ làm nảy sinh những bất hợp lí như sau

+ Chi nhánh của pháp nhân là một tổ chức có tư cách pháp nhân không đầy đủ hoặc không có tư cách pháp nhân. Chi nhánh là một đơn vị thành viên của pháp nhân, vì vậy không thể nhân danh mình kí kết hợp đồng được, nếu có thì người kí hợp đồng chỉ có thể nhân danh cá nhân mình mà thôi.

+ Theo qui định của pháp luật, chi nhánh không là chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, cũng không là chủ thể của hợp đồng dân sự nên hợp đồng mà chi nhánh kí không thể coi là hợp đồng dân sự của chi nhánh đó như hướng dẫn của công văn 11/KHXX được.

+ Chi nhánh của pháp nhân thông thường là đơn vị hạch toán báo sổ, tài sản của chi nhánh là tài sản của pháp nhân. Nếu coi chi nhánh là chủ thể của hợp đồng dân sự như qui định tại công văn 11/KHXX của Tòa án nhân dân tối cao thì ai sẽ chịu trách nhiệm tài sản trong trường hợp chi nhánh vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên kia?

Bên cạnh đó, một vấn đề bức xúc có liên quan đến việc ủy quyền trong ký kết hợp đồng kinh tế của chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các trường hợp ký kết gián tiếp (bằng tài liệu giao dịch) phải được thực hiện bởi chính đại diện hợp pháp của pháp nhân. Thực tế các giao dịch trong lĩnh vực dịch vụ là hoạt động thường xuyên, liên tục, lặp đi lặp lại những nội dung như nhau với các chủ thể khác nhau đòi hỏi người ký với một khối lượng lớn. Vì vậy, thông thường các chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực này (như hoạt động dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm…) thường ký kết hợp đồng bằng tài liệu giao dịch bởi những người được ủy quyền. Đòi hỏi nêu trên của pháp luật tạo nên sự bất hợp lý trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về ủy quyền.

Từ những trình bày trên về đại diện trong ký kết HĐKT có một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cần được xem xét:

– Một là, xác định đại diện đương nhiên ký kết hợp đồng. Do chủ thể của quan hệ HĐKT chủ yếu là các tổ chức, nên việc xác định người đại diện của chủ thể là rất quan trọng. Pháp luật quy định đối với doanh nghiệp là công ty nếu trong trường hợp điều lệ công ty không quy định gì khác thì đại diện theo pháp luật của công ty là giám đốc. Xuất phát từ quy định này cho thấy đại diện hợp pháp của pháp nhân không phải chỉ là người do pháp luật quy định mà còn có thể là người được các pháp nhân lựa chọn theo nguyên tắc tự do lựa chọn của các chủ thể. Vì vậy, có thể hiểu quan hệ đại diện ở đây thực chất là quan hệ ủy quyền. Người đại diện là người được pháp nhân ủy quyền để thực thi các nhiệm vụ được giao thay mặt pháp nhân.

– Hai là, hình thức thể hiện sự ủy quyền không nên chỉ giới hạn ở các văn bản ủy quyền mà phải hiểu một cách rộng hơn, đó là các hình thức khác tương ứng với các hợp đồng (văn bản, bằng miệng hoặc các tài liệu khác thể hiện ý chí đích thực của các bên). Lâu nay chúng ta chỉ quan tâm đến hình thức thể hiện mà không chú ý đến ý chí đích thực của người ủy quyền, vì vậy đã thường xuyên xảy ra tình trạng: nếu thấy bất lợi thì yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do ký kết không đúng thẩm quyền. Theo chúng tôi, cần căn cứ vào ý chí thực của các bên trong khi ký kết, hoặc ngay cả đối với các hợp đồng đã được ký kết và đã được thực hiện để xác định theo hướng thừa nhận có ủy quyền.

– Ba là, cần có quy định rõ trách nhiệm của người được ủy quyền trong trường hợp người này ký kết hợp đồng không nhân danh người ủy quyền, không vì lợi ích của người ủy quyền.

– Bốn là, không nên lấy việc phân định các cách thức ký kết HĐKT làm cơ sở để loại trừ ủy quyền trong ký kết gián tiếp như hiện nay.

– Năm là, cần có quy chế đại diện cho các đơn vị thành viên của pháp nhân (chi nhánh).

– Sáu là, cần sử dụng thuật ngữ pháp lý thống nhất, thay cho khái niệm “đại diện hợp pháp” là “đại diện theo pháp luật” và “đại diện theo ủy quyền”.

Tài liệu tham khảo:

1 Burgerliche Gesetzbuch: Bộ luật dân sự Đức

2 Zweigert&Kotz: Introductointo comperrative Law.

3 Điều 9 pháp lệng hợpđồng kinh tế và điều 5,6 Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990

4 Điều 150 Bộ luật dân sự

5 Khoản 1, Điều 41 Luật Doang nghiệp: Trường hợp điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng thàng viên là người đại diện theo pháp luật, thì giám đốc(Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của tổng công ty

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2001

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VIỆC THỪA NHẬN QUYỀN LẬP DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ – CHỒNG

THS. LÊ MINH HÙNG –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Nhiều luật gia ủng hộ cho quyền lập di chúc chung của vợ, chồng để định đoạt tài sản chung, thay vì mỗi bên chỉ được lập di chúc cá nhân. Vấn đề tưởng chừng như đơn giản và không có gì phải bàn cãi, vì quan điểm ấy không chỉ được bênh vực bởi luân lý mà còn được thừa nhận cả về mặt pháp lý. Nhưng qua công tác nghiên cứu, giảng dạy cũng như qua tiếp cận với thực tiễn pháp lý về di chúc chung của vợ, chồng đã cho thấy, đây là một vấn đề khá phức tạp mà luật hiện hành chưa qui định đầy đủ, rõ ràng. Các thiếu sót, bất cập của luật, đã dẫn tới hậu quả là, làm cho vấn đề này càng trở nên rắc rối thêm, thậm chí còn tạo ra nhiều mâu thuẫn so với các qui định khác có liên quan. Từ đó, đòi hỏi cần phải lật lại vấn đề: liệu BLDS 2005 có nên tiếp tục thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng để định đoạt tài sản chung của họ hay không?

1. Lịch sử vấn đề và những thiếu sót, bất cập trong các qui định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ – chồng

1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề

Xem xét trong Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có qui định về vấn đề này. Đối chiếu với Luật La Mã cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng 1.

Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ – chồng lại được thừa nhận trong tục lệ của ta từ lâu. Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thức di chúc thông dụng và việc vợ – chồng cùng nhau lập di chúc chung, là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ 2. Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ – chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ – chồng.

Luật thực định thời cận đại cũng đã bắt đầu ủng hộ giải pháp mang tính luân lý đó. Nghiên cứu các Bộ Dân luật của các chế độ trước, thì thấy các Bộ Dân luật Bắc và Dân luật Trung đều thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng 3. Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 cũng cho phép vợ – chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung4.

Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta cũng thừa nhận vợ, chồng có quyền lập di chúc chung. Thông tư 81-TANDTC ngày 24/71981 đã từng nhắc đến di chúc chung của vợ, chồng. Pháp lệnh Thừa kế 1990 tuy không trực tiếp qui định về di chúc chung của vợ, chồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung5. Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng được qui định khá rõ trong BLDS 1995 và BLDS 2005 6. Các qui định này trong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với qui định của BLDS 1995 7. Mặc dù vậy, việc qui định về di chúc chung trong BLDS 2005 vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, bất cập và chưa phù hợp với thực tế.

Có thể nói, pháp luật cận đại và luật hiện hành Việt Nam thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng là thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nhưng như vậy sẽ gây ra sự mâu thuẫn với các quy định khác về di chúc làm nảy sinh nhiều bất cập không thể giải quyết được, thậm chí, còn làm phá vỡ tính hệ thống của chế định quyền thừa kế.

1.2. Quyền lập di chúc chung của vợ – chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc

Điều 646 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủ thể hay một cộng đồng chủ thể. Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lý liên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành sau khi cá nhân chết. Như vậy, Điều 663 qui định di chúc chung của vợ, chồng đã tạo ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên. Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến các vấn đề pháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹ thuật pháp lý. Ví dụ như xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung…

Tuy vậy, nếu thiên về nguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình, thì việc qui định về di chúc chung của vợ, chồng là điều cần thiết. Cũng cần phải nói thêm là, trong quan điểm của tục lệ và pháp luật của các chế độ trước, việc thừa nhận quyền lập di chúc chung không chỉ để củng cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình, mà việc lập di chúc chung, trước hết, là nhằm tạo ra giải pháp phòng ngừa, tạo ra sự chế ước đối với người chủ gia đình, theo quan điểm phụ hệ, để bảo vệ quyền thừa kế của những người thân thích khác trong gia đình8.

1.3. Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ – chồng

– Di chúc chung chỉ dùng để định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc chung là để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng. Sẽ đơn giản, nếu vợ, chồng chỉ có tài sản chung. Nhưng sẽ phức tạp, nếu vợ, chồng vừa có tài sản chung, vừa có tài sản riêng, mà họ lại muốn định đoạt cả hai loại tài sản này trong cùng một di chúc. Trong trường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rất khó xử lý, như: vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định như thế nào; phần di chúc định đoạt tài sản riêng có phải là một di chúc riêng; sau khi một bên vợ hoặc chồng chết, thì phần di chúc liên quan tới tài sản riêng của họ có hiệu lực hay chưa… Đây là những vấn đề pháp lý phức tạp mà BLDS 2005 chưa tiên liệu được.

Như vậy, nếu qui định trên được thực hiện đúng, thì vợ, chồng không thể dùng di chúc chung để định đoạt tài sản riêng của mình. Điều này sẽ dẫn tới hai hệ quả là:

(i) Khi vợ, chồng muốn lập di chúc chung thì di chúc đó chỉ được định đoạt tài sản chung. Nếu vợ, chồng muốn định đoạt phần tài sản riêng, thì họ phải lập một tờ di chúc khác. Sẽ phức tạp nếu một người có nhiều sản nghiệp khác nhau (tài sản riêng hoặc tài sản với vợ hay chồng hợp pháp khác). Điều này sẽ gây ra trở ngại tâm lý không nhỏ khi người ta muốn lập di chúc chung, vì như thế sẽ tạo ra thêm nhiều khó khăn cho các bên liên quan, như phải lập nhiều tờ di chúc khác nhau, thay vì chỉ cần duy nhất một tờ di chúc.

(ii) Nếu trong di chúc chung vợ – chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sản riêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau. Điều này dẫn tới việc, chỉ dựa vào một tờ di chúc, 5 Điều 23 khoản 1 Pháp lệnh Thừa kế 1990: “Trong trường hợp di chúc lập chung, mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần tài sản của người chết trước có hiệu lực”. người ta phải chia thừa kế nhiều lần trên cùng sản nghiệp của một người. Từ đó sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác, như việc xác định người thừa kế bắt buộc, người thừa kế thế vị; sự ra đời của những người mới nằm trong hàng thừa kế, sau khi một bên vợ hoặc chồng chết mà di chúc chung vẫn chưa phát sinh hiệu lực; cơ sở để xác định giá trị một suất di sản bắt buộc… là những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết.

– Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ – chồng

BLDS 2005 không qui định rõ những trường hợp bị cấm đoán khi lập di chúc chung. Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử, như việc hai bên lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lực hay không? Di chúc vốn là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và không mang tính chất đền bù. Việc cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau, đã biến loại giao dịch này thành giao dịch pháp lý song phương và mang tính chất có đền bù, làm thay đổi bản chất pháp lý của di chúc. Pháp luật của các chế độ trước tuy có thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, nhưng luôn cấm vợ, chồng lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau. Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn qui định: “… hai người không thể cùng làm chung một chúc thư… lưỡng tương đắc lợi” (tức thừa kế lẫn nhau – Tác giả chú thích). Việc pháp luật hiện hành không cấm đoán vợ, chồng lập di chúc chung thừa kế lẫn nhau, chẳng những sẽ không đạt được mục đích tăng cường tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, mà có thể còn gây nên nhiều hệ luỵ không thể lường trước được, như: sự thông đồng giữa vợ, chồng lập di chúc giả tạo để che đậy những hành vi trái pháp luật; hoặc làm gia tăng nguy cơ khiến các bên phản bội, lừa dối, giả mạo di chúc, hoặc thậm chí, tạo cơ hội cho các bên thực hiện âm mưu xấu nhằm trục lợi bất chính di sản của nhau.

Xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế bắt buộc

Vấn đề thừa kế bắt buộc đối với di sản của cá nhân được qui định rõ tại Điều 699 BLDS 2005. Theo đó, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc (cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên mà không có khả năng lao động) có quyền được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, nếu họ không được hưởng hoặc thực tế được hưởng ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật. Tình huống đặt ra là, di chúc chung chỉ để lại thừa kế cho một số người mà không dành phần di sản cho những người thừa kế bắt buộc kể trên và cũng không dành phần di sản cho một bên vợ hoặc chồng, thì những người đó có được chia thừa kế bắt buộc không? Nếu họ vận dụng qui định tại Điều 699 để xin được hưởng thừa kế bắt buộc thì giải quyết thế nào. Ví dụ: ông A và bà B cùng lập di chúc chung để lại toàn bộ tài sản cho người con cả là C. Di chúc chung của ông A và bà B đã xâm phạm tới quyền được hưởng di sản bắt buộc của các con chưa thành niên khác của ông A và bà B, cũng như của cha, mẹ ông A và cha, mẹ bà B. Vậy, di chúc này có bị vô hiệu một phần không, những người thừa kế bắt buộc này có được khởi kiện đòi chia thừa kế của A, B hay không… là những vấn đề chưa được BLDS 2005 làm rõ, nên chắc chắn sẽ dẫn tới nhiều vướng mắc trong việc thực thi pháp luật. Không loại trừ trường hợp người vợ hay người chồng còn sống, vì lý do nào đó9, đã khởi kiện đòi hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản của người kia trong di chúc chung thì cũng sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết.

1.4. Hình thức của di chúc chung của vợ – chồng

Di chúc cá nhân được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và di chúc viết, theo những thủ tục rất chặt chẽ. Dường như ý chí của nhà làm luật muốn di chúc chung sẽ được lập theo những hình thức tương tự như di chúc cá nhân. Nhưng thực tiễn cho thấy, các hình thức và thủ tục để lập di chúc cá nhân không phải lúc nào cũng có thể áp dụng phù hợp cho di chúc chung của vợ, chồng.

– Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng?

Theo Điều 651, việc lập di chúc miệng chỉ dành cho cá nhân: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Do đó, vợ chồng không thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng, vì các lý do:

 Một là, muốn lập di chúc chung, vợ – chồng phải có sự bàn bạc và thống nhất ý chí chung trước khi cùng nhau lập di chúc. Trong tình trạng bị cái chết đe dọa thì điều này là hạn hữu. Khi không có sự thống nhất quan điểm rõ ràng, thì việc lập di chúc chung sẽ không thể phản ánh đầy đủ và trung thực ý chí cá nhân của mỗi người. Tình trạng này dễ dẫn đến việc một bên quyết định nội dung di chúc chung theo ý chí chủ quan của mình mà không có sự thống nhất ý chí với người kia.

Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng, không cho phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc, mà phải từng người phát biểu. Vậy, sự thể hiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếu từng người trình bày riêng ý nguyện của mình, thì thực ra, đó là di chúc cá nhân; còn nếu một người đại diện trình bày ý chí chung và người kia chấp nhận toàn bộ, thì cũng giống như đã uỷ quyền lập di chúc, mà như vậy thì lại vi phạm nguyên tắc lập di chúc trực tiếp. Hơn nữa, trong hoàn cảnh đặc biệt do cái chết đe dọa cả hai, để một người phát biểu ý chí chung cho người kia nghe và hoàn toàn đồng ý, là không thực tế.

Ba là, sau 3 tháng kể từ ngày di chúc miệng mà một người chết và một người còn sống, thì toàn bộ di chúc miệng hoặc một phần di chúc miệng liên quan tới người còn sống có còn giá trị thi hành nữa hay không? Vì theo Điều 651 khoản 1: “Sau 3 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ”. Trong khi đó, di chúc chung chỉ có hiệu lực khi cả hai người đều đã chết.

Bốn là, đang lúc hoàn cảnh bối rối trước sự sống, chết của cả 2 người, việc tiếp nhận và ghi nhớ ý nguyện của mỗi người có thể sẽ không đầy đủ, không chính xác. Ý nguyện của người chết lại không được thể hiện ra thành một dạng vật chất định hình rõ ràng và cố định, rất dễ quên và cũng dễ bị sửa đổi mà lại không có chứng cứ xác đáng thể hiện sự đồng thuận của vợ, chồng. Việc chứng minh được tính chất đồng thuận, tự nguyện của cả hai vợ chồng trong trường hợp này sẽ không bảo đảm được tối đa tính trung thực, khách quan.

Chính vì thế, việc cho phép vợ chồng lập di chúc chung bằng miệng sẽ trở nên phức tạp và không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho quyền lợi chính đáng của chính người lập di chúc lẫn người thừa kế hợp pháp của họ.

– Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc viết tay mà không có người làm chứng?

Điều 655 BLDS qui định về lập di chúc viết tay của cá nhân: “Người lập di chúc phải tự tay viết và vào bản di chúc”. Về mặt lôgic, hai người không thể cùng một lúc viết cùng một nội dung trên cùng một tờ di chúc. Vậy phải từng người viết xong, rồi sau đó, từng người ký tên vào bản di chúc đó. Vấn đề đặt ra là di chúc do một người viết và người kia chỉ ký tên hoặc điểm chỉ thì có hiệu lực pháp luật không? Hoặc mỗi người viết một đoạn để nói về những quyết định của mình về từng vấn đề khác nhau, rồi sau đó, cùng ký tên vào di chúc thì có được không? Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ một người viết toàn bộ di chúc, rồi cả hai cùng ký vào bản di chúc thì không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay, dễ dẫn đến sự ngụy tạo chữ ký để giả mạo di chúc chung, mà không có cơ sở để giám định bút tích của người lập di chúc. Nhưng việc cả hai cùng nhau và thay nhau viết bằng chữ viết của chính mình để định đoạt tài sản chung, thì không thể thực hiện được trên thực tế, vì như vậy, tức là hai người phải cùng viết giống nhau về cùng một nội dung, thành 2 đoạn khác nhau trên tờ di chúc, mà như vậy thì giống với di chúc cá nhân nhiều hơn. Một bên cũng không thể “uỷ quyền” cho người kia thay mặt để viết ra toàn bộ di chúc, vì trái với nguyên tắc di chúc viết tay phải được viết trực tiếp bằng chữ viết tay. Mặt khác, làm như vậy giống như là viết hộ di chúc, nên sẽ phải tiến hành theo một thủ tục khác, trước mặt ít nhất hai người đủ điều kiện làm chứng để chứng kiến việc lập di chúc chung.

Tóm lại, pháp luật cần phải qui định hình thức riêng cho di chúc chung của vợ chồng, chứ không thể áp dụng giống như di chúc của cá nhân. BLDS 2005 chưa qui định cụ thể vấn đề này là một thiếu sót cần được khắc phục. Tốt nhất, chỉ nên thừa nhận vợ, chồng được lập di chúc bằng hình thức văn bản có người làm chứng hoặc văn bản có công chứng, chứng thực.

1.5. Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung

Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng phải dựa trên nguyên tắc nhất trí. Khoản 2 Điều 664 BLDS 2005 qui định: “Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”. Điều này tạo ra sự thống nhất cao cho việc lập di chúc chung cũng như việc sửa đổi, bổ sung… di chúc chung. Tuy vậy, nếu một bên muốn thay đổi quyết định trong di chúc chung mà bên kia không đồng ý, thì các bên cũng không được quyền thay đổi. Qui định này tạo ra những vấn đề bất cập sau:

– Thứ nhất, qui định này xâm phạm tới quyền tự do định đoạt của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, cũng như vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong việc lập di chúc. Nếu một bên vợ hoặc chồng, vì lý do nào đó mà bắt buộc phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung đã lập, nhưng không được sự đồng ý của người kia, thì việc sửa đổi, bổ sung đó sẽ không được luật chấp nhận. Thiết nghĩ, qui định này đã xâm phạm quyền tự do định đoạt của người có tài sản và xâm phạm tới sự tự nguyện trong việc lập di chúc, thậm chí, xâm phạm tới lợi ích chính đáng của cá nhân khi cấm họ đưa ra những quyết định cá nhân, nhằm bảo đảm lợi ích cho mình. Điều đó cũng không công bằng đối với bên muốn được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung.

– Thứ hai, qui định này cũng tỏ ra thiếu nhất quán vì không cho phép một bên tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi vợ – chồng còn sống, nhưng lại cho phép một bên còn sống có quyền sửa đổi, bổ sung phần di chúc liên quan đến phần tài sản của mình khi một bên vợ hoặc chồng đã chết. Sự thiếu nhất quán trong qui định trên không thể giải thích được, vì thực chất, cả hai trường hợp này đều giống nhau là khi một bên sửa đổi, bổ sung di chúc chung đều không có sự đồng thuận của người kia. Trong khi việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung của vợ, chồng cần phải bảo đảm nguyên tắc nhất trí giữa vợ, chồng với tư cách là các đồng sở hữu chủ của tài sản chung. Do đó, nếu đã cho phép một bên được tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi một bên đã chết, thì cũng cần phải công nhận quyền của một bên được tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ phần di chúc chung liên quan đến tài sản của mình, khi không tìm thấy sự đồng thuận của bên kia.

– Thứ ba, qui định trên cũng chưa dự liệu các khả năng khác khiến di chúc phải bị sửa đổi, bổ sung mà không thể tìm được sự đồng thuận của vợ, chồng do vợ, chồng đã mâu thuẫn và sống ly thân, ly hôn hoặc do một bên vợ hoặc chồng còn sống, nhưng đã bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị mất trí, bị bệnh lú lẫn tuổi già… khiến cho họ không còn thể hiện được ý chí cá nhân được nữa. Điều này chưa được qui định rõ ràng trong luật, nên dễ dẫn đến sự lúng túng và thiếu nhất quán trong việc áp dụng và thực thi pháp luật liên quan đến vấn đề vừa nêu.

Suy cho cùng, lập di chúc chung là sự thể hiện tập trung của nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình. Nhưng việc níu kéo các bên vợ chồng, buộc họ phải nhất trí với nhau, trong hoàn cảnh mâu thuẫn giữa họ không thể dung hoà được nữa, thì việc lập di chúc chung hay cố giữ lại di chúc chung cũng không phải là cách hữu hiệu khiến cho họ trở nên thương yêu, đoàn kết với nhau hơn, mà chưa biết chừng, đó còn là tiền đề làm cho mâu thuẫn giữa các bên càng trở nên trầm trọng thêm, nhất là khi ý nguyện tự do của một bên (muốn sửa đổi, bổ sung di chúc chung) bị bên kia khước từ.

1.6. Hiệu lực của di chúc chung của vợ – chồng

Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây ra rất nhiều tranh cãi giữa các chuyên gia pháp luật thừa kế, khi góp ý cho Dự thảo BLDS 2005. Sở dĩ có sự bất đồng này là do thời điểm có hiệu lực của di chúc chung không trùng với thời điểm mở thừa kế10.

Điều 668 BLDS 2005 qui định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Giải pháp này đã đơn giản hóa việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của BLDS 199511. Mặc dù vậy, việc xác định di chúc chung của vợ chồng phát sinh tại thời điểm người sau cùng chết lại phát sinh những vấn đề phức tạp khác sau đây:

– Thứ nhất, phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước

Thực tế cho thấy, một cá nhân có thể có nhiều sản nghiệp, bao gồm tài sản riêng của cá nhân và phần tài sản chung với vợ hay chồng, chưa kể có thể họ còn có nhiều vợ hay nhiều chồng hợp pháp khác. Nếu xác định di chúc chung chỉ có hiệu lực dựa vào “cái chết sau cùng”, thì sẽ có ít nhất hai lần “chia thừa kế” đối với di sản của người vợ hay người chồng chết trước. Lần thứ nhất là chia thừa kế đối với phần di sản là tài sản riêng hoặc những tài sản chung khác không định đoạt trong di chúc chung, dựa vào thời điểm mở thừa kế. Lần thứ hai là chia thừa kế phần di sản định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng, khi di chúc chung có hiệu lực. Người thừa kế của bên chết trước sẽ phải mất hai lần yêu cầu phân chia di sản và rất có thể, toà án sẽ phải hai lần thụ lý và giải quyết hai vụ tranh chấp khác nhau trên di sản của cùng một người. Điều này không chỉ gây khó khăn cho người thừa kế của người chết trước, làm phức tạp thêm tính chất của vụ việc, mà còn gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế 12, thậm chí, có thể còn vi phạm nguyên tắc “nhất sự bất tái cứu” trong tố tụng (vụ việc đã xét xử xong rồi thì toà án không thụ lý, giải quyết lại), vì phải tiến hành xét xử nhiều lần để phân chia di sản của người chết.

– Thứ hai, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước

Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia di sản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản liên quan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên đang đau yếu cần có tiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền được hưởng di sản. Điều này đã xâm phạm tới quyền thừa kế hợp pháp của công dân được hiến pháp và pháp luật bảo hộ.

– Thứ ba, gây khó khăn cho việc xác định phạm vi những người thừa kế và tư cách của người được thừa hưởng di sản

Nếu những người thừa kế (của vợ, chồng đã quá cố hoặc những người được chỉ định trong di chúc chung) chết sau thời điểm mở thừa kế, nhưng chết trước khi di chúc chung có hiệu lực, thì họ có còn được hưởng thừa kế nữa không, có chia thừa kế thế vị hay thừa kế chuyển tiếp không; hoặc những người trong diện thừa kế hợp pháp (của người vợ hoặc chồng còn sống), nhưng tư cách thừa kế của họ được xác định trước khi di chúc chung có hiệu lực (như vợ, chồng tái hôn hoặc con riêng với người vợ, chồng sau…), thì họ có được thừa kế bắt buộc đối với phần di sản đã được định đoạt trong di chúc chung hay không; hoặc những được chỉ định trong di chúc chung chết trước khi di chúc chung có hiệu lực, nhưng chết sau thời điểm mở thừa kế của người vợ hay chồng đã quá cố, thì họ có thuộc thừa kế theo di chúc chung hay không… là những vấn đề chưa được qui định trong pháp luật hiện hành, làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc xác định tư cách người thừa kế và các qui định khác có liên quan.

– Thứ tư, làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của người chết trước

Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu hết 10 năm đó mà người kia vẫn còn sống, thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn nội dung di chúc chung vi phạm pháp luật, có dấu hiệu lừa dối, giả mạo… mà người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời (do di chúc chung chưa được công bố), đến khi người sau cùng chết mà thời hiệu khởi kiện không còn, thì quyền lợi của người thừa kế của người chết trước cũng như những người thừa kế hợp pháp của cả vợ, chồng có được bảo vệ không, cũng chưa được pháp luật qui định rõ. Vấn đề đã đuợc chúng tôi đề cập trong một bài viết khác về thời hiệu khởi kiện thừa kế 13.

– Thứ năm, nếu tình trạng không phân chia di sản kéo dài quá lâu, khiến cho di sản là tài sản chung không còn nguyên vẹn do bị tiêu huỷ, giảm sút giá trị, hoặc do sự đầu tư, sửa chữa, tu bổ làm tài sản tăng giá trị, thì hậu quả của nó càng hết sức phức tạp, việc xác định giá trị của tài sản chung trong trường hợp này sẽ rất khó khăn, sẽ càng tạo ra nhiều tranh chấp khác rất khó giải quyết.

Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung, không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung, mà sẽ ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa kế di sản của người chết trước, xác định phạm vi những người thừa kế hợp pháp, xác định giá trị di sản của người chết và những biến động của nó… Qua đó, sẽ làm cho việc chia thừa kế theo di chúc chung trở nên khó khăn, phức tạp thêm.

1.7. Vấn đề chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung

Di chúc chung có nhiều tính chất khác biệt so với di chúc cá nhân. Dù vậy, nhà làm luật vẫn không dự liệu các căn cứ riêng biệt đương nhiên làm chấm dứt di chúc chung.

Như đã biết, di chúc chung được hình thành dựa trên hai yếu tố quan trọng của quan hệ vợ – chồng, đó là tình cảm vợ – chồng và tài sản chung của vợ – chồng. Nếu hai yếu tố này mất đi thì di chúc chung cũng không còn ý nghĩa. Trên thực tế sẽ phát sinh nhiều tình huống pháp lý khiến cho hai yếu tố trên bị thay đổi, như trường hợp: các bên vợ chồng ly hôn; chia tài sản chung trong khi hôn nhân đang tồn tại; một bên mất tích hoặc bị toà án tuyên bố chết và người còn lại đã kết hôn với người khác, sau đó người bị tuyên bố chết còn sống trở về, nhưng không thể tái hợp quan hệ vợ chồng; hoặc sau khi có di chúc chung, vợ chồng lại định đoạt tài sản chung vào một mục đích khác, như tặng cho, bán; vợ hay chồng còn sống đã kết hôn với người khác hoặc có những quyết định làm ảnh hưởng tới hiệu lực hoặc sự tồn tại của di chúc chung (như quyết định sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ phần di chúc chung liên quan tới phần tài sản của họ trong tài sản chung của vợ, chồng…). Đây là những trường hợp dẫn đến việc chấm quan hệ vợ – chồng, hoặc chấm dứt tình trạng sở hữu chung đối với tài sản, hoặc trực tiếp làm chấm dứt di chúc chung. Tuy vậy, những tình huống này không được dự liệu của pháp luật, nên sẽ dẫn tới sự lúng túng trong việc thực thi di chúc chung, vì không ai dám chắc là di chúc chung có đương nhiên bị mất hiệu lực, trong những tình huống đó hay không.

2. Những kiến nghị

2.1. Có tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng?

Có thể thấy, pháp luật hiện hành vẫn chưa có giải pháp nào để giải quyết tốt các vấn đề pháp lý phức tạp được đặt ra đối việc lập, sửa đổi, huỷ bỏ di chúc chung và xác định hiệu lực thực thi của di chúc chung. Bản chất của di chúc vốn là giao dịch pháp lý đơn phương của cá nhân. Không thể có sự tham dự ý chí của nhiều cá nhân trong việc lập di chúc. Nếu thừa nhận di chúc chung, pháp luật có thể đạt được mục đích tốt đẹp là hướng các bên trong quan hệ thừa kế cần quan tâm hơn việc tăng cường tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình. Nhưng không nên nhầm lẫn việc tăng cường đoàn kết trong gia đình với việc phải cùng nhau lập di chúc chung. Chưa kể việc lập di chúc chung xong rồi lại bất đồng trong việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung; hay sau khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, nhưng người thừa kế hợp pháp không thể xin phân chia di sản thừa kế hoặc chia thừa kế bắt buộc… thì có thể còn tạo hiệu ứng ngược. Bởi thế, không nên thừa nhận loại hình di chúc chung của vợ chồng và cần qui định minh thị trong luật cấm nhiều người lập di chúc chung, kể cả vợ chồng.

Việc bảo đảm quyền lợi thừa kế của gia đình và của người thân thích không thể trông đợi vào việc lập di chúc chung, mà đã có các giải pháp khác hữu hiệu hơn, như thừa kế bắt buộc, tước quyền thừa kế, thừa kế thế vị, thừa kế theo các hàng thừa kế…

2.2. Trường hợp không thể bãi bỏ các qui định về di chúc chung trong luật thực định, thì cần có những thay đổi toàn diện về vấn đề này trong BLDS 2005

Dường như kiến nghị bãi bỏ qui định di chúc chung của vợ, chồng là không khả thi, vì đây là một thực tiễn pháp lý và tục lệ, đã tồn tại từ lâu trong xã hội Việt Nam. Vấn đề cần thiết hiện nay là, làm sao vẫn duy trì di chúc chung nhưng phải hạn chế tối đa những rắc rối, phức tạp do việc thừa loại di chúc này mang lại. Bởi thế, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau đây phục vụ cho việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các qui định pháp luật có liên quan tới di chúc chung của vợ, chồng:

Thứ nhất, cần phải tách vấn đề di chúc chung của vợ chồng ra khỏi di chúc của cá nhân và thiết

kế thành một mục riêng trong chương thừa kế theo di chúc

Như đã phân tích trên, tuy di chúc chung của vợ chồng cũng là một loại di chúc được lập, sửa đổi, bổ sung và phát sinh hiệu lực gần giống như một di chúc thông thường. Nhưng di chúc chung còn có những đặc thù: (i) do hai ý chí cá nhân cùng tham gia định đoạt dựa trên mối quan hệ hôn nhân đang còn hiệu lực; (ii) dùng để định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng; (iii) có hiệu lực không đồng thời với thời điểm mở thừa kế của bên chết trước… do đó, cần phải được qui định thành một mục riêng; hoặc chí ít, cũng cần phải định rõ những ngoại lệ của di chúc chung so với di chúc cá nhân, trong các điều luật tương ứng qui định về di chúc cá nhân.

Thứ hai, nội dung của mục này cần phải làm rõ các vấn đề sau đây:

+ Qui định quyền lập di chúc chung của vợ chồng, khi hôn nhân đang còn tồn tại, phải tuân thủ các qui định chung về năng lực lập di chúc, các yêu cầu để di chúc có hiệu lực cũng tương tự như di chúc của cá nhân;

+ Qui định về hình thức bắt buộc mà di chúc chung phải tuân thủ. Chỉ nên lập di chúc chung bằng thể thức văn bản có người làm chứng (nếu cả hai đủ điều kiện minh mẫn, sáng suốt, không thuộc trường hợp mù chữ hoặc bị khiếm khuyết thể chất liên quan tới chức năng lập, kiểm tra nội dung di chúc); hoặc văn bản công chứng, chứng thực.

+ Qui định quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của một bên, khi vợ chồng còn sống, vẫn phải có sự đồng ý của vợ, chồng. Nhưng nếu một bên cần sửa đổi mà bên kia nhất quyết không đồng ý hoặc không thể biểu lộ ý chí một cách tự nguyện, thì người kia có quyền tự lập di chúc cá nhân hoặc có quyền sửa đổi, bổ sung một phần di chúc chung trong phạm vi phần tài sản của mình. Điều này làm cho các bên vợ, chồng luôn phải tìm thấy sự đồng thuận, kể cả trong việc lập hay sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung; đồng thời cũng nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân với quyền lợi chung của vợ, chồng trong việc lập di chúc chung. Người ta không thể bị bắt buộc phải lập di chúc chung và càng không thể bị bắt buộc phải giữ nguyên nội dung di chúc chung đã lập, khi không tìm thấy sự đồng thuận ở người bạn đời của mình trong việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung. Cũng cần nói thêm rằng, khi các bên còn sống, di chúc chung vẫn chưa có hiệu lực, và người ta vẫn có nhiều cách để làm mất hiệu lực của di chúc chung, mà không cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc chung đó.

+ Luật cần dự liệu các căn cứ cụ thể làm chấm dứt di chúc chung của vợ chồng một cách đương nhiên, nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để giải quyết các trường hợp tương ứng, tránh gây ra sự lúng túng, thiếu nhất quán hoặc những tranh cãi không cần thiết, khi các bên liên quan tiến hành phân chia di sản dựa trên di chúc chung của vợ – chồng.

+ Cần phải dung hòa giữa quyền của vợ, chồng trong việc lập di chúc chung với lợi ích chính đáng của những người thừa kế của vợ hay chồng. Thừa nhận thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là thời điểm bên sau cùng chết, nhưng cũng cho phép những người thừa kế hợp pháp của người vợ hay chồng chết trước có quyền xin chia thừa kế đối với phần di sản của vợ, chồng không được định đoạt trong di chúc chung. Đối với phần tài sản đã định đoạt trong di chúc chung thì cho phép các bên thừa kế bắt buộc được nhận phần di sản bắt buộc, nếu việc kéo dài tình trạng không phân chia di sản, theo hiệu lực của di chúc chung, có ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi hợp pháp của họ; đồng thời cần phải xác định rõ trong luật khoảng thời gian mà di sản chưa được phân chia thì được trừ vào thời hiệu khởi kiện thừa kế. Và, việc kéo dài thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung sẽ chấm dứt, nếu người còn sống kết hôn với người khác hoặc họ đã lập di chúc khác để thay thế, huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung di chúc chung liên quan tới phần tài sản của họ trong tài sản chung, mà việc đó ảnh hưởng tới sự tồn tại của di chúc chung hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản chung của vợ chồng.

Kết luận

Giữa ý định muốn bỏ định chế di chúc chung của vợ, chồng với việc giữ lại các qui định này, thì quan điểm muốn giữ lại có phần thắng thế do tục lệ, do thực tiễn pháp lý và thực tế đời sống đangđặt ra nhu cầu phải điều chỉnh bằng luật việc vợ, chồng muốn cùng nhau lập di chúc chung. Qua nghiên cứu vấn đề trên cũng cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng hoàn toàn không phải là vấn đề đơn giản. Luật thực định chỉ dùng một hai điều luật ngắn để điều chỉnh vấn đề này, rõ ràng là chưa tương xứng và không đủ liều lượng cần thiết. Việc này cũng giống như dùng chiếc áo trẻ em để mặc cho một cơ thể người lớn. Đó sẽ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất cập và thiếu nhất quán trong việc thực thi pháp luật về vấn đề liên quan. Bây giờ mà kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung qui định về di chúc chung trong BLDS 2005 là quá sớm, nhưng nghiên cứu vấn đề để chuẩn bị tiền đề tư tưởng phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung nội dung này trong BLDS 2005 là việc nên làm ngay và hoàn toàn không phải là quá sớm.

Tài liệu tham khảo:

1 Điều 968 BLDS của Pháp: “Hai hay nhiều người không được lập di chúc chung để lại di sản cho người thứ ba hay để lại di sản cho nhau”, Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 2005, tr. 611.

2 Vũ Văn Mẫu, Les succesions testamentaires en droit vietnmaien (Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam), Luận án

Paris, 1948, tr. 67, dẫn theo Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ. TP Hồ Chí Minh, 1999, tr.167.

3 Điều 313 Dân luật Trung kỳ (tương tự, vấn đề cũng được qui định tại Điều 321 Dân luật Bắc): “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý… Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được”, Nhà in Viễn Đệ, 1947, tr. 94.

4 Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972: “Chúc thư chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi. Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình”. Nxb. Thần Chung, Sài Gòn. 1973, tr. 150.

6 Xem các Điều 663, Điều 664, Điều 668 BLDS 2005.

7 Xem các Điều 667, Điều 671… BLDS 1995.

8 Xem Nguyễn Ngọc Điện, sđd, tr. 172.

9. Ví dụ: phần tài sản của người còn sống trong tài sản chung của vợ, chồng bị tịch thu hoặc bị toà án phân chia để trả nợ riêng của người đó, làm cho một phần di chúc chung liên quan tới tài sản của họ vô hiệu, thì họ có được quyền xin hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản còn lại của người chết trước trong di chúc chung được không?

10 “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết” (khoản 1 Điều 634 BLDS 2005). Thời điểm mở thừa kế có

ý nghĩa quan trọng: là thời điểm làm phát sinh quyền thừa kế, là mốc tính thời hiệu khởi kiện, là thời điểm để xác định giá trị di sản, xác định phạm vi những người thừa kế của người chết.

11 Điều 671 BLDS 1995: “Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực…”. Cũng cần nói thêm là giải pháp này không thoả đáng, vì như thế khác nào thực thi hai di chúc khác nhau của hai cá nhân, làm cho việc phân chia di sản trong khối tài sản chung của vợ, chồng, trên thực tế, trở nên rắc rối và phức tạp.

12 Như việc xác định di sản của người chết, xác định người thừa kế của người chết trước và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nếu người chết có để lại món nợ đối với người thứ ba.

13 Xem: Lê Minh Hùng, Thời hiệu khởi kiện thừa kế – Thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2004, tr. 40

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2006