CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 4 (QUI ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG) – MODUL 2

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP:

– So sánh giữa hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương;

– So sánh hợp đồng chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng với hợp đồng chấm dứt khi một bên hủy bỏ hợp đồng;

– So sánh giữa hành vi pháp lý đơn phương với với hợp đồng đơn vụ;

– So sánh giữa hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ. Cho 03 ví dụ về mỗi loại hợp đồng này;

– So sánh giữa hợp đồng có đền bù và không có đền bù. Cho 03 ví dụ cho mỗi loại hợp đồng này;

– Lấy 3 ví dụ về hợp đồng mẫu và hãy cho biết sự khác biệt giữa hợp đồng mẫu với hợp đồng không thuộc loại này;

– So sánh giữa hợp đồng phụ và phụ lục hợp đồng;

– Nêu các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự do ý chí của một bên chủ thể hợp đồng. Cho ví dụ cụ thể cho mỗi trường hợp;

– Phân tích hậu quả pháp lý đối với các trường hợp: bên đề nghị giao kết hợp đồng chết, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, một trong hai bên trong hợp đồng đã giao kết chết;

– Phân tích và cho ví dụ cụ thể về các nguyên tắc giao kết hợp đồng;

– So sánh nguyên tắc thực hiện hợp đồng song vụ và đơn vụ;

– Tìm 3 mẫu hợp đồng khác nhau (căn cứ vào tiêu chí phân loại hợp đồng), được đăng tại địa chỉ sau: http://tracuuluat.net/?type=27 (hoặc địa chỉ khác mà bạn biết) và hãy nhận diện các điều khoản cơ bản, thông thường và tùy nghi ở mỗi hợp đồng đó;

– Phân tích và cho ví dụ về các nguyên tắc giải thích hợp đồng dân sự;

– Phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng? Vận dụng cụ thể phân tích điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mẫu (hoặc các loại hợp đồng khác);

– Phân tích các trường hợp nghĩa vụ không thể thực hiện trong hợp đồng song vụ;

– Phân biệt sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và nguyên tắc giải quyết khi các bên trong hopự đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại;

– Hãy nêu 10 ví dụ có phân tích về hợp đồng dân sự vô hiệu có liên quan đến đối tượng của hợp đồng;

– Phân tích các qui định pháp luật liên quan đến hình thức của hợp đồng;

– Nêu ý nghĩa của các điều khoản cơ bản trong hợp đồng.

Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp bên đề nghị giao kết chuyển đề nghị giao kết tới nhiều chủ thể khác nhau;

– So sánh nguyên tắc giao kết hợp đồng với nguyên tắc thực hiện hợp đồng

– So sánh hợp đồng liên quan đến quyền và lợi ích của người thứ ba và hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba;

– Qui định của pháp luật về đại diện trong giao kết hợp đồng;

– Cho biết hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng thông qua người đại diện;

– Cho biết và nêu ví dụ về các trường hợp chấm dứt hợp đồng không phụ thuộc vào ý chí của hai bên chủ thể hoặc một trong hai bên chủ thể;

– Cho biết qui định pháp luật và nêu ví dụ về hợp đồng vô hiệu tương đối;

– Cho biết qui định pháp luật và nêu ví dụ về hợp đồng vô hiệu tuyệt đối;

– Cho biết qui định pháp luật và nêu ví dụ về hợp đồng vô hiệu một phần.

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp tên gọi của hợp đồng và nội dung của hợp đồng mâu thuẫn với nhau. Ví dụ: Tên gọi là hợp đồng mượn nhưng lại mang nội dung của hợp đồng vay tài sản;

– Hãy cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp các bên trong hợp đồng không thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng;

– Xác định bên đề nghị và bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp đối tượng của được nêu trong đề nghị là tài sản thuộc sở hữu chung;

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp một bên trong hợp đồng chuyển nhượng các quyền của mình trong hợp đồng cho người khác;

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp một bên hợp đồng là pháp nhân bị tổ chức lại, giải thể hoặc phá sản;

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp các bên hợp đồng thỏa thuận thay thế đối tượng của hợp đồng;

– Xác định hình thức và nội dung đề nghị giao kết đối với hợp đồng mẫu;

– Phân biệt giữa đề nghị thương thuyết hợp đồng với đề nghị hợp đồng;

– Phân tích ý nghĩa của hình thức hợp đồng;

– Khi một bên hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu bạn là bên kia thì bạn giải quyết nào?

– Nếu các bên xác lập một hợp đồng với hình thức miệng, dựa trên những căn cứ nào để xác định hiệu lực của hợp đồng này?

– Trong trường hợp cùng một quan hệ hợp đồng, các bên lại lập nhiều hợp đồng khác nhau về hình thức, có nội dung khác nhau, hãy xác định hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp này;

– Cho ví dụ về giao kết hợp đồng thông qua người đại diện và hãy xác định trách nhiệm dân sự của các bên trong trường hợp người đại diện giao kết hợp đồng vượt quá thẩm quyền đại diện;

– Trong trường hợp phát sinh tranh chấp hợp đồng hãy cho biết phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mà các bên có thể lựa chọn áp dụng?

2. KHẲNG ĐINH ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

– A và B xác lập một hợp đồng song vụ, theo thỏa thuận trong hợp đồng A phải thực hiện nghĩa vụ vào ngày 1/5/2007 còn B phải thực hiện nghĩa vụ vào ngày 1/8/2007. Tuy nhiên, đến hết ngày 1/8/2007 A vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp này, B có quyền không thực hiện nghĩa vụ của mình đến khi A thực hiện nghĩa vụ của A;

– Hiệu lực của hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng;

– Những hình thức sau là một trong những hình thức đề nghị giao kết hợp đồng:

           + Hoạt động quảng cáo hàng hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng;

           + Phân phát các tờ cataloc giới thiệu sản phẩm;

            + Phân phát tập báo giá sản phẩm.

– Các thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là hợp đồng;

– Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị hợp đồng;

– Trong giao kết hợp đồng cả hai bên vừa đồng thời là bên đề nghị hợp đồng vừa là bên được đề nghị;

– Tên gọi của hợp đồng phản ánh nội dung chủ yếu của hợp đồng;

– Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đồng thời là thời điểm các bên hợp đồng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đã được thỏa thuận trong hợp đồng;

– Các thỏa thuận trong một hợp đồng có hiệu lực có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các bên trong hợp đồng và không thể thực hiện khác với những thỏa thuận đó;

– Hợp đồng vì lợi ích của nguời thứ ba là hợp đồng có ba nguời tham gia giao kết trong đó nguời thứ ba được hưởng các lợi ích từ hợp đồng;

– Trong trường hợp nguời thứ ba từ chối hưởng các lợi ích từ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực đối với các bên giao kết hợp đồng;

– Khi một bên trong hợp đồng chết sẽ làm chấm dứt hợp đồng đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác;

– Khi đối tượng của hợp đồng không còn thì không làm chấm dứt hợp đồng, trừ khi đối tượng của hợp đồng là vật đặc định;

– Khi các bên trong hợp đồng chỉ thỏa thuận về phạt hợp đồng mà không có thỏa thuận về bồi thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên vi phạm nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại;

– Trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại khi một bên trong hợp đồng vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng là loại điều khỏan thông thường. Do đó, không phụ thuộc vào việc các bên có thỏa thuận hay không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, bên gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại;

– Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng;

      – Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là hợp đồng vô hiệu tòan bộ;

     – Thời hạn thực hiện hợp đồng là điều khỏan không thể thiếu trong mọi hợp đồng;

    – Chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng hoàn thành được hiểu là các bên trong hợp đồng đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng;

     – Hợp đồng chấm dứt do một bên tuyên bố hủy bỏ hợp đồng chỉ áp dụng khi có sự thỏa thuận của các bên;

   – Nếu không có thỏa thuận gì khác, thời hạn thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được tính từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực;

– Hợp đồng chấm dứt do một bên tuyên bố hủy bỏ hợp đồng được tính từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực;

– Hợp đồng chấm dứt do đối tượng hợp đồng không còn được hiểu đối tượng không còn và các bên không có hoặc không thỏa thuận được về thay thế đối tượng khác;

–  Việc thay đổi đối tượng của hợp đồng không làm thay đổi nội dung của hợp đồng, trừ điều khoản liên quan đến đối tượng;

– Việc thay đổi đối tượng của hợp đồng không làm chấm dứt hợp đồng.

LUẬT PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC

I/ TRUNG QUỐC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THUẾ
Trung Quốc hiện đang đẩy nhanh tiến trình sửa đổi và hoàn thiện hệ thống thuế nhằm chuẩn bị cho hội nhập quốc tế khi nước này trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Từ đầu năm 2001 Trung Quốc bắt đầu áp dụng một số chế độ thuế thống nhất đối với các công ty Trung Quốc và các công ty ĐTNN. Trung Quốc thực thi biểu thuế thu nhập công ty, thuế sử dụng đất canh tác vào mục đích công nghiệp, dịch vụ, thuế phương tiện vận tải thống nhất đối với các công ty trong nước, cũng như các công ty có vốn ĐTNN, Trung Quốc thay đổi một số sắc thuế (dự kiến vào cuối quý 2/2001) như thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập cá nhân. Trung Quốc sẽ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt cao đối với các mặt hàng xa xỉ và các hàng hoá có hại cho môi trường. Tuy nhiên, đối với thuốc lá và các sản phẩm rượu, Trung Quốc sẽ bãi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt mà sẽ áp dụng mức thuế trung bình nhằm ngăn chặn tình trạng trốn thuế và nhập khẩu lậu; sẽ thi hành biểu thuế thu nhập cá nhân mới, theo hướng tăng thuế đối với người có thu nhập cao. Tuy nhiên, mức thu nhập, theo đó để bắt đầu tính thuế thu nhập cao sẽ tăng gấp 1,5 hoặc 2 lần so với mức hiện hành.

Continue reading

KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM TRONG LUẬT

THS. LÊ DUY NINH – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

I. Mỗi khái niệm (KN) đều có hai mặt, đó là nội hàm và ngoại diên. Về mặt kết cấu lôgíc, nội hàm là chất, ngoại diên là lượng của KN. Mỗi nội hàm có một ngoại diên tương ứng. Nội hàm của KN là tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh trong KN. Do vậy, không phải mọi dấu hiệu của đối tượng đều được phản ánh trong nội hàm.

Trong khoa học pháp lý, nhiều KN được xác định bằng điều luật. Chẳng hạn, nội hàm của KN “tội cướp” được xác định bởi Điều 151 (nay là Điều 133) Bộ luật Hình sự (BLHS), đó là: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác; Làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được; Nhằm chiếm đoạt tài sản. Ngoại diên của KN là tập hợp những đối tượng có cùng nội hàm. Ngoại diên của KN cho biết có bao nhiêu đối tượng khác cùng loại với nó. Ví dụ, ta có KN "vi phạm pháp luật"; vậy tất cả các hiện tượng xảy ra trong thực tế mà thỏa mãn ba dấu hiệu bản chất sau trong nội hàm của KN này đều thuộc ngoại diên của KN (Hành vi – hành động hoặc không hành động của con người – được biểu hiện ra bên ngoài; Hành vi được thực hiện phải trái pháp luật, tức là trái với các quy định chứa đựng trong các quy phạm pháp luật nào đó; Hành vi trái pháp luật được thực hiện phải chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó). Để biết một đối tượng có thuộc ngoại diên của một KN nào đó không thì phải xem đối tượng có đầy đủ mọi dấu hiệu bản chất của KN không.

Continue reading

LUẬT KINH TẾ – MẤY KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC TỪ NƯỚC NGOÀI

TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT  – Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

I. Quan niệm về luật kinh tế

Khái niệm luật kinh tế, lĩnh vực luật kinh tế ( mà ta quen gọi sau này là ngành luật kinh tế) đã ra đời trước khi có sự hiện diện của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Trước khi nhân loại bước vào thế kỷ XX, với sự thống trị của tư tưởng tự do hóa kinh tế, người ta chưa biết đến khái niệm luật kinh tế và “ bàn tay vô hình” của Adam Smith là công cụ duy nhất để điều tiết sự vận động và phát triển của nền kinh tế. Theo đó Nhà nước (công quyền) là “kẻ thù” của cơ chế kinh tế; Nhà nước không được và không thể gây ảnh hưởng tới nền kinh tế.

Vì vậy, cơ chế kinh tế của thời đại đó là cơ chế mà theo C.Mác là “ từ đầu đến ngón chân đều vấy máu”. Những khuyết tật, mặt trái ( hiểu theo nghĩa xã hội) và thiếu định hướng tổng thể là căn bệnh cố hữu của quy luật giá trị. Nói khác đi, bản thân cơ chế thị trường, hiểu theo nghĩa văn minh và nhân đạo, có nhu cầu cần được điều tiết. Continue reading

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ BÁO

Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là mục tiêu trực tiếp của nhiệm kỳ 2006 – 2010, là một trong bốn thành tố trong chủ đề của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “những vấn đề xã hội bao gồm các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển của con người và xã hội như: dân số và nguồn nhân lực, lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và văn hoá, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và cộng đồng”(1). Thực hiện quyền con người trong giải quyết các vấn đề xã hội, một mặt, nhằm đảm bảo tôn trọng và thực hiện các quyền dân sự, chính trị như: quyền hôn nhân và gia đình; quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, và các quyền kinh tế xã hội cơ bản của mọi công dân, bao gồm: quyền lao động việc làm; quyền có mức sống thoả đáng; quyền được giáo dục; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được tham gia vào đời sống văn hoá và được hưởng thụ các giá trị văn hoá, tiến bộ của khoa học; quyền được hưởng an toàn xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội. Mặt khác, thực hiện các vấn đề xã hội là chú trọng quan tâm đến quyền của những người có công với nước, trong đó đặc biệt phải kể đến những gia đình thương binh, liệt sỹ; đồng thời, tạo cơ hội bình đẳng, hỗ trợ các nhóm yếu thế trong xã hội tiếp cận và hưởng thụ quyền, đó là nhóm những người sống ở vùng nông thôn nghèo; vùng dân tộc thiểu số; những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già yếu, cô đơn, người nhiễm HIV/AIDS, người khuyết tật, trong đó có người nhiễm chất độc da cam. Quan điểm của Đảng tập trung giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội xuyên suốt trong 20 năm đổi mới vừa qua là sự thể hiện rõ nhất những nguyên tắc cơ bản và các chuẩn mực về quyền con người: tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người cống hiến, tiếp cận và hưởng thụ quyền; mọi người trong khi hưởng thụ quyền phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng; Đảng và Nhà nước có trách nhiệm quan tâm tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội như nhau, tức là mọi người đều bình đẳng; những người yếu thế được đặc biệt quan tâm hỗ trợ để có cơ hội cống hiến và hưởng thụ. Continue reading