BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2008: DIỄN BIẾN KHÓ LƯỜNG

HUY THỦY

Thị trường bất động sản (TTBĐS) năm 2007 diễn biến ngày càng tăng vọt. Năm 2008, giá nhà, đất dự đoán sẽ khó lường.
Năm 2007 là thời điểm mà thị trường bất động sản (TTBĐS) sôi động nhất từ trước tới nay. Theo đánh giá của ông Bùi Quang Hiếu, Giám đốc công ty Bất động sản và Xây dựng Việt San: “Cuối năm 2006 đầu năm 2007, giá nhà đất trên địa bàn TP HCM cũng như Hà Nội bắt đầu leo thang cùng với làn sóng nguồn vốn từ thị trường chứng khoán đổ sang. Đơn cử như TP HCM, tháng 10/2007, giá đất các dự án nằm trong top của khu Nam Sài Gòn và lân cận khu đô thị mới Thủ Thiêm đột ngột tăng thêm khoảng 15 triệu đồng/m2. Cơn sốt này đã nâng mặt giá đất của các dự án như An Phú – An Khánh (Quận 2), Him Lam (Quận 7) đạt ngưỡng cao nhất từ trước đến nay, từ 40 – 45 triệu đồng/m2”.
Còn ở Hà Nội, giá nhà đất cao ở mức… không tưởng. Nhiều vị trí như Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào… thị trường đang giao dịch rất cao cho dù khung giá đất của Nhà nước năm 2007 đã có, tuy nhiên khung giá trên cũng mới chỉ bằng khoảng 50% giá thực tế, nhưng đó vẫn là căn cứ để giới kinh doanh và người dân sử dụng làm “chỗ dựa” thanh toán cho nhau. Vì thế, nhiều người Hà Nội chỉ đi xem và… mơ về một mảnh đất cho riêng mình. Tại địa bàn Hà Nội, tốc độ thi công các dự án nhà ở đang diễn ra rất chậm. Mỗi toà nhà kể từ lúc khởi công cho đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng thường xuyên bị kéo dài mà chưa có những chế tài ấn định thời gian xây dựng để đưa dự án vào sử dụng. Điều này đã làm cho Hà Nội đang có rất nhiều dự án xây dựng dở dang, thi công chậm chạp, thậm chí nhiều dự án, nhiều khu đô thị đã được phê duyệt, nhiều dự án đã đấu giá đất xong từ nhiều năm đến nay vẫn còn là bãi đất trống trong lúc thị trường đang thiếu căn hộ cung ứng cho người sử dụng. Năm 2007 hàng trăm quỹ đầu tư có vốn hàng tỷ USD đã đổ vốn vào hàng loạt dự án xây dựng văn phòng cho thuê, khách sạn cao cấp và một số dự án phát triển các khu đô thị mới. Trong khi đó, quỹ đất của thành phố gần như không phát triển thêm nhiều. Do đó, tình trạng khan hiếm quỹ đất là điều tất nhiên dẫn đến cung vượt quá cầu làm cho giá đất liên tục leo thang.
Với tốc độ gia tăng đầu tư từ nước ngoài vào VN như hiện nay chắc chắn giá đất trong năm 2008 sẽ tăng ít nhất 30%. Riêng với Hà Nội năm 2008, giá đất ở Hà Nội sẽ biến động lớn với mức tăng bình quân 20%. Cũng có khi thị trường nhà đất năm 2008 sẽ là một năm thăm dò, vì tác động của hàng loạt chính sách mới có liên quan như thuế Chống đầu cơ đất đai, Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực vào đầu năm 2009. Giá đất biến động sẽ tiếp cận với giá chuyển nhượng đất thực tế trên thị trường nhưng không gây đột biến lớn. Tăng giá cũng tác động tích cực tới công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các dự án bởi người bị thu hồi đất sẽ có lợi hơn. Tuy nhiên, vấn đề này cũng khiến tăng chi ngân sách cho giải phóng mặt bằng.
Trong thời gian tới, đầu tư vào cái gì cũng có thể gặp phải rủi ro như vàng, ngoại tệ, chứng khoán, nó như một nhịp tim, đi lên đi xuống. Riêng bất động sản nó như nấc thang đi lên, đôi khi có dao động một chút. Nhà đầu tư về đất cần nên suy nghĩ chín chắn, về vị trí đất, vị trí nhà chứ không chỉ đầu tư ào ào sẽ nguy hại. Ông Bùi Quang Hiếu đưa ra nhận định: “Vào thời điểm khoảng tháng 3 dương lịch đến tháng 9 dương lịch đầu tư bất động sản thuận lợi nhất, người dân sẽ bán đất nhiều và người mua ít đi bởi nhiều lý do trong đó có yếu tố phong thủy và thói quen văn hoá của người Việt”. Tuy nhiên, đó mới chỉ là nhận định mang tính chủ quan, còn thực tế thì lại phụ thuộc vào nhiều diễn biến khách quan của thị trường.

SOURCE:http://www.cpv.org.vn/tiengviet/diendan/details.asp?topic=28&subtopic=114&leader_topic=181&id=BT2310865347

DỰ THẢO THÔNG TƯ Hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra

BỘ TÀI CHÍNH
__________
Số: /2007/TT-BTC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc____________________________________________

Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm 2008

Căn cứ Luật quản lý Thuế;

Căn cứ Điều 20, Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;

Căn cứ Điều 15, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan gây ra như sau:

I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

a) Cơ quan quản lý thuế trực tiếp quản lý cán bộ, công chức thuế, cán bộ công chức hải quan (sau đây gọi tắt là cơ quan quản lý thuế) phải bồi thường đối với thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan trong thi hành công vụ.

b) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; Kịp thời giải quyết bồi thường thiệt hại một cách công khai, công bằng và đúng pháp luật.

c) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan (sau đây gọi tắt là cán bộ công chức thuế, hải quan) phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan đã bồi thường cho người bị thiệt hại; việc hoàn trả được thực hiện theo quy định tại Mục II, Thông tư này.

2. Tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan có khả năng gây thiệt hại cho mình thì phải cảnh báo cho cán bộ, công chức thuế, hải quan hoặc cơ quan quản lý thuế biết.

Trường hợp phát sinh yêu cầu bồi thường thiệt hại, tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan (sau đây gọi tắt là người bị thiệt hại) phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan tới việc xác định mức bồi thường thiệt hại.

3. Các trường hợp bồi thường thiệt hại

Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại trong các trường hợp sau:các đơn vị +VCCI)

a) Quyết định hoàn thuế; ấn định thuế không đúng quy định của pháp luật;

b) Xử lý và ra quyết định xử phạt hành chính thuế sai quy định của pháp luật về thuế;

c) Xử lý và ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các quyết định khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trái quy định;

d) Áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không đảm bảo căn cứ và yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật về thuế, hải quan;

Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại về tiền, tài sản cho người bị thiệt hại nhưng được xác định là hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế không phải bồi thường thiệt hại; Trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì cơ quan quản lý thuế chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của cán bộ công chức thuế, hải quan gây ra.

4. Điều kiện bồi thường thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện sau:

a) Người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời hạn 2 năm kể từ thời điểm bị thiệt hại;

b) Có hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, hải quan trong khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân người nộp thuế, người khai hải quan thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 3, mục I Thông tư này;

c) Có thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra.

5. Mức bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khắc phục hậu quả

a) Đối với thiệt hại là tiền, việc xác định trách nhiệm khắc phục hậu quả và mức bồi thường thiệt hại của cơ quan quản lý thuế như sau:

– Đối với khoản tiền bị tịch thu, tiền phạt vi phạm hành chính hoặc ấn định thuế, truy thu thuế sai quy định, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm khắc phục ngay hậu quả bằng cách trả lại số tiền đã tịch thu, phạt sai quy định hoặc số tiền thuế đã thu thừa (nếu chưa nộp vào ngân sách nhà nước) hoặc làm thủ tục thoái thu ngân sách để trả lại cho người bị thiệt hại (nếu đã nộp vào ngân sách nhà nước); đồng thời bồi thường tiền lãi của các khoản tiền đó.

– Đối với khoản tiền hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm hoàn tiếp số tiền còn thiếu; đồng thời phải bồi thường tiền lãi của khoản tiền hoàn thuế thiếu, hoàn thuế chậm.

Lãi suất để tính tiền lãi là lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ra quyết định bồi thường. Trường hợp khoản tiền bị thiệt hại là ngoại tệ thì quy đổi theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xác định số tiền bồi thường.

b) Đối với tài sản bị tạm giữ, tịch thu sai quy định, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại như sau:

– Trường hợp tài sản chưa bán, chưa bị mất và không bị hư hỏng: trả lại tài sản cho người bị thiệt hại và bồi thường các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản và chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả;

– Trường hợp tài sản bị hư hỏng nếu có thể sửa chữa khắc phục thì trả lại tài sản cho người bị thiệt hại và bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa, các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản và chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả; Nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa được, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp nhận tài sản để xử lý và bồi thường thiệt hại như đối với tài sản bị mất;

– Trường hợp tài sản bị mất: bồi thường toàn bộ giá trị thực tế của tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản; chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ (nếu tài sản đã mua bảo hiểm, đóng lệ phí trước bạ); chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả;

– Trường hợp tài sản đã bán đấu giá: thoái trả số tiền thu do bán đấu giá tài sản và bồi thường khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản; khoản tiền chênh lệch giữa số tiền đã thoái trả với giá trị thực tế của tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại, hoặc có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ (nếu tài sản đã mua bảo hiểm, đóng lệ phí trước bạ); chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại nếu do người bị thiệt hại trả.

Thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản trong thời gian bị tạm giữ, bị tịch thu sai quy định được xác định theo giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng trên thị trường (nếu có giá thuê); hoặc xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản mang lại trong điều kiện bình thường (nếu không có giá thuê) .

6. Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại

a) Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (trong đơn ghi rõ: tên, địa chỉ của người bị thiệt hại; tên, địa chỉ của cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, công chức thuế, hải quan đã gây thiệt hại; căn cứ pháp lý yêu cầu cơ quan quản lý thuế bồi thường; Các thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường). Căn cứ đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, Cơ quan quản lý thuế phải tổ chức xác minh, đánh giá hành vi vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra; lập hồ sơ xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trên cơ sở kết quả xác minh, đánh giá về hành vi vi phạm gây thiệt hại và các thiệt hại xảy ra, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) phải thành lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại (sau đây gọi tắt là Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại) và thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại biết về dự kiến thời gian, địa điểm thương lượng hoặc giải quyết yêu cầu bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan ngay sau khi gây ra thiệt hại tự nguyện bồi thường và được cơ quan quản lý thuế, người bị thiệt hại đồng ý bằng văn bản về mức, phương thức, thời hạn bồi thường thì không phải lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại.

Trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 4, Mục I, Thông tư này thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm cải chính các quyết định sai phạm và xin lỗi người bị thiệt hại bằng văn bản.

b) Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại làm việc tập thể quyết định theo đa số để xác định mức bồi thường thiệt hại; trách nhiệm hoàn trả và mức, phương thức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở đó lập Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và có văn bản kiến nghị với người có thẩm quyền ra Quyết định bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có Quyết định thành lập Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại.

Thành phần Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại (từ 03 đến 05 thành viên), bao gồm: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) làm Chủ tịch Hội đồng; Người phụ trách công tác tài chính – kế toán cơ quan quản lý thuế làm ủy viên; Thủ trưởng trực tiếp của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; Chủ tịch công đoàn hoặc uỷ viên ban chấp hành công đoàn cơ quan quản lý thuế (nếu thủ trưởng cơ quan là chủ tịch công đoàn); Các chuyên gia trong lĩnh vực bị thiệt hại (nếu cần). Trong quá trình làm việc, Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại có thể mời người có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại tham dự cuộc họp.

c) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại,Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) phải căn cứ vào mức và phương thức bồi thường thiệt hại do Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại kiến nghị để tổ chức thương lượng giữa cơ quan quản lý thuế với người bị thiệt hại và ra quyết định bồi thường thiệt hại; Quyết định bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào kết quả thương lượng, trường hợp thương lượng không thành thì căn cứ vào kiến nghị của Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại để xem xét, quyết định. Nếu người bị thiệt hại không đồng ý với Quyết định bồi thường thiệt hại của cơ quan quản lý thuế thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên hoặc yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Quyết định bồi thường thiệt hại phải nêu rõ số tiền bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại; phương thức bồi thường thiệt hại (tiền mặt hay chuyển khoản); thời hạn bồi thường thiệt hại (không quá 45 ngày kể từ ngày ký Quyết định bồi thường thiệt hại); và phải gửi cho cơ quan thực hiện bồi thường, đối tượng được bồi thường thiệt hại và người có nghĩa vụ hoàn trả.

d) Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện bằng tiền và chi trả một lần (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác) theo đúng quy định về mức, phương thức và thời hạn bồi thường ghi trong Quyết định. Quá thời hạn ghi trong Quyết định mà cơ quan quản lý thuế chưa thực hiện bồi thường thì phải trả tiền lãi tính trên số tiền được bồi thường và thời gian chậm bồi thường; lãi suất để tính tiền lãi là lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố và có hiệu lực tại thời điểm cơ quan quản lý thuế thực hiện việc bồi thường.

7. Kinh phí bồi thường thiệt hại: căn cứ vào Quyết định bồi thường thiệt hại của cấp có thẩm quyền, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tạm sử dụng nguồn kinh phí hoạt động và các quỹ của cơ quan (bao gồm cả các khoản được trích để lại sử dụng từ nguồn thu do xử lý vi phạm hành chính) để bồi thường cho người bị thiệt hại.

Nguồn kinh phí đã sử dụng để bồi thường được bù đắp từ khoản tiền hoàn trả của cán bộ, công chức gây thiệt hại. Đối với trường hợp số tiền hoàn trả không đủ so với số tiền đã bồi thường thì cơ quan quản lý thuế trực tiếp quản lý cán bộ, công chức gây thiệt hại có phải lập dự toán và kèm theo đầy đủ hồ sơ liên quan đến việc bồi thường thiệt hại gửi cơ quan quản lý thuế cấp trên trực tiếp để xem xét, tổng hợp, báo cáo Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan để được cấp bổ sung kinh phí còn thiếu do bồi thường thiệt.

Trên cơ sở tổng số kinh phí được giao khoán theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan phải bố trí dự toán kinh phí bồi thường thiệt hại chung của cả hệ thống mình để kịp thời bù đắp số kinh phí còn thiếu mà cơ quan quản lý thuế thuộc phạm vi quản lý đã tạm ứng để bồi thường thiệt hại.

Việc quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành về Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.

II. HOÀN TRẢ KHOẢN TIỀN BỒI THƯỜNG CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC THUẾ, HẢI QUAN

1. Cán bộ, công chức thuế, hải quan phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại khi thực hiện một trong những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại quy định tại khoản 3, Mục I Thông tư này. Trong trường hợp người bị thiệt hại đã có cảnh báo về hành vi vi phạm và khả năng gây thiệt hại mà cán bộ, công chức thuế, hải quan vẫn cố tình thực hiện thì phải hoàn trả toàn bộ khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

2. Xác định trách nhiệm và mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại:

a) Việc xác định trách nhiệm và mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào số tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại, mức độ lỗi của hành vi vi phạm và khả năng kinh tế của cán bộ, công chức thuế, hải quan.

Trường hợp nhiều người có hành vi vi phạm pháp luật cùng gây thiệt hại thì mỗi người vi phạm phải liên đới hoàn trả số tiền bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế đã bồi thường. Trách nhiệm hoàn trả của mỗi người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người; Trường hợp không xác định được mức độ lỗi của từng người thì mỗi người phải hoàn trả theo phần bằng nhau.

b) Cán bộ công chức thuế, hải quan gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường cho người bị thiệt hại (trừ các khoản khắc phục hậu quả bằng cách trả lại số tiền đã tịch thu, phạt sai quy định hoặc số tiền thuế đã nộp thừa; khoản tiền thu được từ việc cơ quan quản lý thuế bán thanh lý tài sản hoặc bán đấu giá tài sản mà cơ quan quản lý thuế trả cho người bị thiệt hại) cụ thể như sau:

– Đối với thiệt hại là tiền, tuỳ từng trường hợp để xác định cụ thể các khoản hoàn trả trong số các khoản mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm a, khoản 5, Mục I Thông tư này, bao gồm: tiền lãi các khoản tiền bị tịch thu, phạt vi phạm hành chính, ấn định thuế, truy thu thuế sai quy định của pháp luật hoặc tiền lãi của khoản tiền hoàn thuế thiếu, hoàn thuế chậm.

– Đối với thiệt hại là tài sản do bị tạm giữ, tịch thu sai quy định, tuỳ theo từng trường hợp để xác định các khoản phải hoàn trả trong số các khoản mà cơ quan quản lý thuế đã bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b, khoản 5, Mục I Thông tư này, bao gồm: giá trị tài sản bị mất; khoản chênh lệch giữa số tiền bán đấu giá với giá trị thực tế của tài sản theo giá thị trường của tài sản cùng loại, cùng tính năng, tiêu chuẩn và mức độ hao mòn trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường; chi phí sửa chữa tài sản bị hư hỏng; các khoản thu nhập bị mất do không sử dụng tài sản và chi phí xác định mức bồi thường thiệt hại; chi phí mua bảo hiểm và lệ phí trước bạ (nếu có).

c) Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại được xem xét giảm trách nhiệm hoàn trả trong các trường hợp sau:

– Vi phạm lần đầu; hoặc đã chủ động áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm giảm bớt hậu quả thiệt hại.

– Vi phạm gây thiệt hại do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần.

– Các điều kiện để thực thi công vụ bị hạn chế (nếu có đủ cơ sở để chứng minh).

– Thiệt hại xảy ra quá lớn mà khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại không có khả năng hoàn trả được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó. Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại yêu cầu giảm mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải có tài liệu chứng minh khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài không đủ để hoàn trả toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại xảy ra.

3. Trình tự, thủ tục hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có Quyết định bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) tổ chức họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại để xem xét, giải quyết việc hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại. Hội đồng có trách nhiệm xem xét, đánh giá tính chất của hành vi gây vi phạm thiệt hại, xác định trách nhiệm cụ thể của từng cán bộ, công chức thuế, hải quan có liên quan gây thiệt hại; xem xét các tình tiết giảm nhẹ; đánh giá khả năng kinh tế của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại; Trên cơ sở đó, có văn bản kiến nghị với cấp có thẩm quyền mức và phương thức hoàn trả. (Cán bộ, công chức thuế hải quan gây ra thiệt hại có thể được mời tham dự cuộc họp của Hội đồng để giải trình cụ thể vụ việc làm cơ sở xem xét nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại);

b) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Biên bản họp Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại và văn bản kiến nghị về mức và phương thức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp (trường hợp người gây thiệt hại là thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường) có trách nhiệm ký Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại.

Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải nêu rõ: Số tiền hoàn trả; Phương thức và thời hạn hoàn trả. Việc hoàn trả có thể thực hiện một lần bằng tài sản riêng (thời hạn 45 ngày, kể từ ngày ký quyết định hoàn trả) hoặc trừ dần vào thu nhập hàng tháng của cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại nhưng tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% tổng thu nhập từ tiền lương và phụ cấp (nếu có)

c) Thực hiện Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại

– Cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả ghi trong Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại cho cơ quan quản lý thuế đã trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại.

– Trong quá trình thực hiện Quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại, người có nghĩa vụ hoàn trả được xem xét tạm hoãn thực hiện hoàn trả trong trường hợp: đang điều trị tại các bệnh viện, phụ nữ trong thời ký thai sản; gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú xác nhận. Thời hạn tạm hoãn thực hiện hoàn trả tối đa là 6 tháng. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại có trách nhiệm xem xét và quyết định đối với các trường hợp này.

Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan có nghĩa vụ hoàn trả không thể thực hiện được nghĩa vụ hoàn trả do sự kiện bất khả kháng (chết) thì không phải thực hiện việc hoàn trả.

– Tiền hoàn trả phải được thu, theo dõi chi tiết cho từng lần nộp (nếu nộp nhiều lần) và được dùng để hoàn lại nguồn kinh phí đã sử dụng để bồi thường thiệt hại.

d) Biện pháp đảm bảo thực hiện việc hoàn trả

– Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giám sát, đôn đốc việc thực hiện hoàn trả.

– Người chưa hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả mà xin chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại có trách nhiệm yêu cầu người đó phải hoàn trả phần còn thiếu trước khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu. Trường hợp, người đang thực hiện hoàn trả chưa có điều kiện trả ngay phần còn thiếu, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế nơi ra quyết định hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại phải phối hợp với cơ quan, tổ chức nơi tiếp nhận công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu người đó tiếp tục thực hiện việc hoàn trả.

– Trường hợp, người có nghĩa vụ hoàn trả cố tình trì hoãn, trốn tránh việc hoàn trả thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi người có nghĩa vụ hoàn trả cư trú để có biện pháp đảm bảo thực hiện hoàn trả theo quy định của pháp luật.

e) Trường hợp cán bộ, công chức thuế, hải quan gây thiệt hại không đồng ý với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế về việc hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại thì có quyền khiếu nại lên cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc yêu cầu Toà án giải quyết.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết./.

Nơi nhận:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– Viện kiểm sát nhân dân tối cao

– Toà án nhân dân tối cao

– UBND các tỉnh, TP. trực thuộc TƯ;

– Sở TC các tỉnh, TP. trực thuộc TƯ;

– Kiểm toán Nhà nước

– Công báo; Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);

– Website Chính phủ; Website Bộ Tài chính

– Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;

– Lưu: VT, PC.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG

SOURCE:http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/DraftDetail.aspx?DraftID=243&Version=1

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP PHỔ BIẾN Ở PHÁP (Phần 2)

THS. LÊ MINH PHIẾU-   NCS tại Đại học Montesquieu – Bordeaux IV, Pháp

3. CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƠN GIẢN (Société par actions simplifiée – SAS)

Những người sử dụng hình thức SA cho việc kinh doanh thường hay phàn nàn về sự thiếu mềm dẻo của nó. Sự cứng nhắc này cản trở rất lớn đến những hoạt động đầu tư chung và đến những công ty con chung (liên doanh). Do vậy, để khắc phục những hạn chế này, Hội đồng Quốc gia Các giới chủ Pháp đã kiến nghị sáng lập một hình thức công ty mới: công ty cổ phần đơn giản. Kiến nghị này đã được đáp ứng và ngày 3/1/1994, Luật Công ty Cổ phần Đơn giản đã ra đời.

Lúc đầu, theo mục đích của các nhà lập pháp, đây là công ty có một số lượng ít các thành viên nhưng các thành viên này lại có tiềm lực kinh tế lớn. Do vậy, các thể nhân, các tập đoàn lợi ích kinh tế (Groupement d’intérêt économique GIE), tập đoàn lợi ích kinh tế Châu Âu (Groupement européen d’intérêt économique – GEIE”), các công ty dự phần và hiệp hội không thể trở thành thành viên của công ty này.

Thế nhưng, Luật sửa đổi ngày 12/7/1999 đã tăng thêm những thuận lợi của loại hình công ty này một cách đáng kể bằng việc giảm đi những ràng buộc nhằm giúp cho nó được ưa chuộng hơn. Theo đó, công ty cổ phần đơn giản đã được thâm nhập vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các nhà đầu tư tư nhân: khả năng thành lập công ty cổ phần đơn giản một chủ, cho phép thể nhân được tham gia công ty cổ phần đơn giản… Bằng những sửa đổi này, công ty cổ phần đơn giản thật sự là một loại hình cạnh tranh với công ty trách nhiệm hữu hạn.

Là một dạng công ty cổ phần, công ty cổ phần đơn giản cũng áp dụng những chế định của SA trong khuôn khổ những chế định này phù hợp với những nguyên tắc riêng của công ty cổ phần đơn giản. Các nhà lập pháp Pháp đã loại trừ một cách rõ ràng việc áp dụng những qui định về quản lý công ty, về đại hội đồng cổ đông và về việc chuyển đổi của SA cho SAS (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-1, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 101).

3.1 Thành lập công ty cổ phần đơn giản

Việc thành lập công ty cổ phần đơn giản có thể là bắt đầu từ đầu hay từ việc chuyển đổi các hình thức doanh nghiệp khác. Việc chuyển đổi một công ty sang công ty cổ phần đơn giản đòi hỏi phải có một quyết định trên cơ sở nhất trí giữa các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-3).

Bất kỳ người nào, thể nhân hay pháp nhân, công ty có mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, dù vốn điều lệ bao nhiêu, hiệp hội hay tập đoàn, đều có thể trở thành thành viên của công ty cổ phần đơn giản. Công ty không đòi hỏi phải có nhiều thành viên và do vậy, nhờ vào công ty cổ phần đơn giản, người ta có thể thành lập công ty cổ phần một chủ, được gọi là công ty cổ phần đơn giản một chủ (SASU – Société par actions simplifiée unipersonnelle).

Vốn điều lệ của công ty cổ phần đơn giản ít nhất phải là 37.000 euro. Điều L.227-2 của Bộ luật Thương mại qui định rằng công ty cổ phần đơn giản không thể phát hành chứng khoán ra công chúng. Mục đích của các nhà lập pháp là nhằm đảm bảo tính đóng của công ty. Tuy nhiên, các thành viên của công ty có thể phát hành chứng khoán giữa họ với nhau.

Những qui tắc về hình thức để thành lập và đăng ký kinh doanh công ty cổ phần đơn giản là những qui định được áp dụng cho công ty cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L.227 –1, khoản 3).

3.2 Quản trị và điều hành

Những điều kiện quản lý công ty được điều lệ công ty tự do qui định (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-5). Nó bao gồm điều kiện bổ nhiệm, bãi nhiệm số lượng, nhiệm kỳ, cách thức trả thù lao và cả quyền hành của người quản lý. Duy chỉ có một cơ quan được các nhà lập pháp áp đặt, đó là chủ tịch, người đại diện cho công ty cổ phần đơn giản đối với người thứ ba (Bộ luật Thương mại, Điều L.227 – 6). Điều cần lưu ý là chức năng này, khác với công ty cổ phần, có thể được đảm nhiệm bởi một pháp nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-8). Điều lệ công ty có thể qui định rằng chủ tịch sẽ được chọn trong số những cổ đông thuộc loại xác định nào đó.

Bên cạnh chủ tịch, điều lệ có thể thiết lập các cơ quan khác với những tên gọi, chức năng và phương thức quyết định do điều lệ tự do qui định. Việc kiểm soát công ty cũng do điều lệ qui định.

Chế độ về trách nhiệm dân sự của thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc của công ty cổ phần sẽ điều chỉnh trách nhiệm của chủ tịch và những người quản lý của công ty cổ phần đơn giản (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-8). Giải pháp tương tự cũng được áp dụng đối với trách nhiệm hình sự.

Phương thức thực hiện quyền biểu quyết trong công ty, về nguyên tắc, sẽ do điều lệ qui định; không nhất thiết phải có sự phù hợp giữa tỷ lệ số cổ phần và quyền biểu quyết. Điều lệ cũng sẽ tự do lựa chọn phương thức tham khảo ý kiến của các thành viên. Tuy nhiên, mọi quyết định về việc thay đổi vốn, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi, bổ nhiệm kiểm toán viên, thông qua báo cáo tài chính hàng năm và phân chia lợi nhuận nhất thiết phải thông qua trong khuôn khổ của một hội đồng (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-9, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 125). Việc không tuân theo qui định này có thể bị chế tài hình sự (Bộ luật Thương mại, Điều L.244-2, sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 128).

3.3 Chuyển nhượng cổ phần

Một trong những đổi mới quan trọng của SAS đó là sự cho phép các thành viên công ty có thể đưa vào điều lệ công ty điều khoản không thể chuyển nhượng được (clause d’inaliénabilité). Một khi áp dụng điều khoản này thì cổ phần sẽ không được chuyển nhượng. Thế nhưng điều khoản này không thể áp dụng quá thời hạn 10 năm (Bộ luật Thương mại – Điều L.227 – 14). Hơn nữa, việc vận dụng điều khoản này cũng phải tuân theo một vài điều kiện nhất định (như chỉ áp dụng đối với một vài cổ đông, chỉ áp dụng đối với một tỉ lệ cổ phần nhất định của những người chính yếu của SAS…).

Tương tự như trường hợp trên, điều lệ công ty cũng có thể đưa vào điều khoản ràng buộc các cổ đông phải ưu tiên chào bán cổ phần của mình cho các cổ đông còn lại cho công ty. Điều lệ công ty cũng có thể quy định rằng các cổ đông khi muốn chuyển nhượng cổ phần của mình phải thông báo trước cho các cổ đông khác. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần trong SAS không quá tự do như trong SA, mà cũng không quá bị hạn chế như trong Công ty trách nhiệm hữu hạn (SARL). Và chính những người thông qua điều lệ của công ty sẽ lựa chọn mức độ của sự tự do chuyển nhượng ấy.

3.4 Công ty cổ phần đơn giản một chủ (Société par actions simplifiée unipersonnelle – SASU)

Việc cho ra đời công ty này là một tiến bộ rất đáng kể của Luật năm 1999. Công ty này chỉ có một thành viên, có thể là người quản lý công ty hay không. Đặc điểm một thành viên có thể có ngay từ khi công ty mới được thành lập và cũng có thể xuất hiện trong quá trình tồn tại của công ty cổ phần đơn giản. Công ty cổ phần đơn giản một thành viên, do có sự thay đổi về số lượng thành viên, có thể trở thành nhiều thành viên rồi sau đó có thể trở lại một thành viên mà không cần chuyển đổi pháp lý cho công ty. Như vậy, ở Pháp, ngoài hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (EURL), một cá nhân có thể một mình tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần đơn giản. Tương tự, trong các tập đoàn công ty, công ty cổ phần đơn giản một thành viên là một hình thức khá hấp dẫn để thành lập các công ty con có 100% vốn của một chủ.

Khi công ty cổ phần đơn giản chỉ có một thành viên, chế độ pháp lý của nó có một số đặc điểm riêng như sau:

– Thành viên duy nhất được thực hiện những quyền của thành viên trong công ty cổ phần đơn giản nhưng quyết định tập thể được chuyển sang quyết định đơn phương (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-1, khoản 2); báo cáo về quản lý và về tài chính công ty phải được chủ tịch thực hiện và được thông qua bởi thành viên duy nhất, người mà không thể ủy quyền cho người khác. Các quyết định phải được ghi vào sổ quyết định;

– Khi giải thể công ty, nếu thành viên duy nhất là pháp nhân thì toàn bộ tài sản của công ty sẽ được chuyển cho thành viên duy nhất đó, không cần làm thủ tục thanh lý tư pháp (Bộ luật Dân sự, Điều 1844-5). Nếu thành viên là thể nhân thì phải làm thủ tục thanh lý theo qui định chung;

– Không cần có sự can thiệp của kiểm toán viên đối với những thỏa thuận giữa công ty và người quản lý công ty. Nó chỉ cần ghi vào sổ quyết định.

4. CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN (Société à responsabilité limitée – SARL)

Kể từ khi Luật ngày 11/1/1985 ra đời, công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm hai loại: công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên (có ít nhất hai thành viên) và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (có duy nhất một thành viên).

4.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên (SARL pluripersonnelle)

Công ty trách nhiệm hữu hạn được du nhập vào Pháp bởi Luật ngày 7/3/1925, dựa theo mô hình được sáng lập vào năm 1892 (Gmbh) bởi Luật Công ty TNHH của Đức năm 1892). Hiện nay loại hình này được điều chỉnh bởi các điều từ L.223 –1 đến L. 223-43 của Bộ luật Thương mại.

4.1.1 Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn

Chế độ thành lập không có nhiều điểm đặc biệt, nó chủ yếu theo những quy đinh chung của luật công ty và đặc biệt là theo những qui định về thành lập SA.

– Điều kiện về nội dung:

Về ngành nghề, nguyên tắc chung là tự do, tất cả các hoạt động kinh tế đều có thể được thực hiện dưới hình thức SARL. Tuy nhiên, có một vài ngành nghề không được phép thực hiện dưới hình thức công ty này, chẳng hạn như bảo hiểm (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-1, khoản 4) hay đại lý thuốc lá. Đối với các ngành nghề tự do (luật sư, bác sỹ…), các nhà kinh doanh có thể lựa chọn công ty hành nghề tự do trách nhiệm hữu hạn, một phiên bản khác của SARL cổ điển.

Công ty trách nhiệm hữu hạn không được bao gồm quá 50 thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L. 223-3). Trong trường hợp vượt quá mức mức trần này, công ty có thời hạn 2 năm để chuyển đổi sang SA, hoặc là phải giảm số thành viên xuống đến mức 50, nếu không công ty tự động giải thể. Các thành viên không cần có tư cách thương nhân.

Về vốn pháp định, trước kia, luật qui định rằng, muốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn điều lệ ít nhất phải là 7.500 euro, riêng đối với công ty báo chí là 300 euro và hợp tác xã thủ công là 1.500 euro. Thế nhưng, Luật ngày 5/5/2003, với mục đích làm cho việc thành lập loại hình công ty này trở nên đơn giản hơn và nhanh hơn, đã bỏ qui định về vốn pháp định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, cả nhiều thành viên lẫn một thành viên. Theo đó, kể từ ngày 6/5/2003, ngày có hiệu lực của Luật ngày 5/5/2003, chỉ với 1 euro, nhà đầu tư ở Pháp có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn.

Việc góp vốn có thể thực hiện bằng tiền, bằng tài sản, quyền tài sản hay bằng góp sức (industrie). Việc góp vốn bằng industrie theo cách thức được xác định trong điều lệ (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-7, khoản 2, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 124). Việc góp vốn bằng tài sản và quyền tài sản phải tuân theo những qui định rất chặt chẽ về định giá.

Điều kiện về hình thức:

Những qui định về thủ tục thành lập công ty cổ phần cũng đồng thời được áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn. Tương tự, những sáng lập SARL cũng phải chịu trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những hành vi bất hợp pháp trong quá trình thành lập tương tự như các sáng lập viên của công ty cổ phần.

4.1.2 Quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn

Cấu trúc của SARL gọn nhẹ hơn so với SA vì nó chỉ có một cơ quan điều hành, đó là người quản lý. Quy chế của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiều điểm giống với tổng giám đốc trong SA.

Luật qui định rằng, người quản lý phải là thể nhân. Mặc dù người này không cần phải có tư cách thương nhân nhưng họ không được nằm trong các trường hợp bị cấm hành nghề thương mại. Những vần đề còn lại như độ tuổi, bằng cấp, thâm niên… sẽ do điều lệ công ty qui định. Họ có thể được chọn trong số các thành viên hoặc người thứ ba, với độ tuổi không bị hạn chế và việc kiêm nhiệm các chức vụ không bị giới hạn.

Người quản lý đầu tiên được chỉ định trong điều lệ hay trong một văn bản riêng lẻ (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18). Việc bổ nhiệm người quản lý mới phải được đăng báo và phải được thông báo cho Phòng Đăng ký Thương mại và Doanh nghiệp. Trừ khi điều lệ có qui định khác, nhiệm kỳ của người quản lý kéo dài theo sự tồn tại của công ty. Ngoài lý do chết và từ nhiệm, người quản lý có thể chấm dứt chức vụ do quyết định của các thành viên hay quyết định tư pháp. Quyết định của các thành viên được công nhận khi có một thành viên hoặc nhóm thành viên nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thông qua. Còn quyết định tư pháp được ban hành bởi tòa án khi có thành viên, bất kể là nắm giữ bao nhiêu phần trăm vốn góp, yêu cầu tòa án bãi nhiệm người quản lý với “lý do chính đáng” (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-25, khoản 2).

Đối với công ty chỉ có duy nhất một người quản lý, thì người này được có những quyền rộng rãi nhất để hành xử trong tất cả các tình huống nhân danh công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18). Còn đối với công ty có nhiều người quản lý, thì mỗi người quản lý đều có quyền ngang nhau trong việc ký kết văn bản nhân danh công ty. Chỉ cần một trong số những người quản lý ký vào hợp đồng thì công ty đã ràng buộc trách nhiệm của mình vào hợp đồng đó. Một người quản lý có thể phản đối văn bản mà người quản lý khác đã ký kết, nhưng sự phản đối này không có hiệu lực đối với người thứ ba, trừ khi người quản lý này đã thông báo ý kiến phản đối của mình đối với người thứ ba đó (tức người đã ký hợp đồng với người quản lý kia) trước khi ký hợp đồng. Do vậy, nếu người thứ ba đã biết ý kiến phản đối này mà vẫn ký kết hợp đồng thì hợp đồng đó không thể bắt buộc công ty phải thực hiện. Mặt khác, những người quản lý phải có nhiệm vụ giám sát lẫn nhau và sự thiếu giám sát đó có thể là một nguyên nhân dẫn đến trách nhiệm của người quản lý mà người đồng quản lý kia có thể viện dẫn để biện hộ cho hành vi của mình. Việc tồn tại nhiều người quản lý trong cùng một công ty trách nhiệm hữu hạn đặt ra nhiều khó khăn. Tuy nhiên, điều lệ công ty thường phân công mỗi người quản lý phụ trách một lĩnh vực khác nhau hay đòi hỏi họ phải hành động cùng nhau.

4.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Entreprise unipersonelle à responsabilité limitée – EURL)

Pháp luật Pháp trước kia quan niệm công ty là một hợp đồng được ký kết giữa ít nhất hai thành viên và do vậy, công ty chỉ có một thành viên không thể tồn tại. Thế nhưng, quan niệm đó không phù hợp với thực tiễn và nhu cầu kinh doanh nên cuối cùng, với Luật ngày 11/7/1985, dựa theo mô hình Einmann- GmbH của Đức, các nhà làm luật Pháp đã bắt đầu công nhận công ty một chủ có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Chế độ pháp lý cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chế độ của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên với những qui định riêng cần thiết phù hợp với đặc điểm một thành viên. Việc áp dụng qui định của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mang lại nhiều thuận lợi, nó cho phép nhà làm luật không cần phải thiết kế lại hoàn toàn một hình thức công ty mới. Hơn nữa, nó còn đơn giản hóa việc chuyển từ đặc điểm nhiều thành viên sang đặc điểm một thành viên và ngược lại. Theo đó, nếu thành viên duy nhất chuyển một phần vốn cho người khác hay một người khác góp thêm vốn vào để tăng vốn cho công ty, công ty sẽ trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên mà không cần chuyển đổi pháp lý.

4.2.1 Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể là một kết quả từ việc tập trung tất cả phần vốn góp của SARL vào tay một người. EURL còn có thể được thành lập bởi một quyết định đơn phương của một thể nhân để tạo thành một vỏ bọc pháp lý cho việc kinh doanh hoặc của một pháp nhân, để tạo thành một kỹ thuật cho phép chuyển hoạt động cho các công ty con trong khuôn khổ một tập đoàn. Một người, có thể là thể nhân lẫn pháp nhân, đều có thể thành lập nhiều EURL. Ngược lại, EURL không thể thành lập EURL khác (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-5).

Về ngành nghề, EURL được hoạt động trong các lĩnh vực tương tự như đối với SARL. Những người hành nghề tự do có thể hoạt động trong khôn khổ công ty hành nghề tự do trách nhiệm hữu hạn một chủ (SELARL unipersonelle). Đối với ngành nông nhiệp, các nhà làm luật đã thiết kế một công ty dân sự, có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn nông nghiệp (EARL), mà công ty này có thể là một thành viên.

Thành viên duy nhất nếu là thể nhân do không có tư cách thương nhân, có thể là một người không có năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên. Trong trường hợp này, việc quản lý công ty sẽ do người thứ ba thực hiện.

Về vốn, tương tự như SARL, kể từ ngày 6/5/2003, vốn pháp định đối với EURL đã bị xóa bỏ. Thành viên duy nhất của công ty thực hiện việc góp vốn bằng tiền mặt, bằng tài sản hay quyền tài sản, không thể góp vốn bằng industrie.

4.2.2 Hoạt động của EURL

– Quản lý

Thành viên duy nhất có thể tự đảm nhiệm chức vụ quản lý công ty. Trong trường hợp này, mặc dù thành viên – người quản lý này là người chủ duy nhất của công ty, nhưng không phải là người có thể làm bất cứ điều gì mà phải tuân thủ sự tách bạch tồn tại giữa những công việc của công ty và công việc cá nhân của mình. Do vậy, thành viên duy nhất này mà trong quá trình quản lý, ngoài khoản tiền lương hàng tháng hợp lệ được “thông qua”, không được rút tiền từ quỹ của công ty. Để đảm bảo tính khả thi của quy định này, pháp luật Pháp đã dự liệu khá cụ thể. Nếu như người quản lý là thành viên duy nhất này đã rút công quỹ, thì chế tài sẽ được tuyên như là đã chiếm đoạt tài sản riêng của một pháp nhân. Trong trường hợp phục hồi khả năng thanh toán hay thanh lý tư pháp, nếu như thành viên duy nhất này đã rút tài sản từ công ty thì chế độ trách nhiệm hữu hạn của EURL sẽ không còn được áp dụng1.

Việc quản lý công ty có thể được đảm trách bởi người thứ ba. Trong trường hợp này, về phương diện pháp lý, người quản lý có tư cách như một người được ủy quyền, trong khi về phương diện thuế và lao động, anh ta có tư cách như người lao động làm công ăn lương. Trong trường hợp EURL được thành lập bởi một pháp nhân, người quản lý nhất thiết phải là một thể nhân không phải là thành viên công ty vì trong công ty trách nhiệm hữu hạn, việc quản lý không thể được đảm nhận bởi một pháp nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18, khoản 1).

– Thông qua quyết định

Quyền hạn của hội đồng công ty được thực hiện bởi thành viên duy nhất của công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-21) và khi tiến hành việc này, anh ta không cần phải có nghĩa vụ trriệu tập chính mình (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-31). Chính thành viên duy nhất sẽ là người thông qua báo cáo tài chính của công ty, quyết định phân chia lợi nhuận, sửa đổi điều lệ. Nhưng những quyết định này muốn có hiệu lực phải được ghi vào sổ quyết định.

Thành viên duy nhất cũng chính là người thông qua các thỏa thuận mà công ty ký kết. Và tuy là người nắm giữ 100% số vốn của công ty nhưng thành viên duy nhất không thể tùy tiện ký kết hợp đồng với công ty. Chẳng hạn, việc thành viên duy nhất vay tài sản của công ty là một điều bị cấm, trừ phi thành viên duy nhất là một pháp nhân.

5. CÔNG TY HỢP DANH (Société en nom collectif – SNC)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty xuất hiện từ rất lâu đời. Các nhà sử học đã chứng minh rằng, những công ty đầu tiên xuất hiện trên thế giới (vào thời Trung Cổ ở Châu Âu) chính là những công ty có nhiều điểm tương đồng với công ty hợp danh và có một số khác tương đồng với công ty hợp vốn đơn giản của Pháp hiện nay. Chính vì sự xuất hiện từ rất lâu đời này, cộng với tính đơn giản trong hoạt động của nó, đã giải thích rằng trong một thời gian rất dài, công ty này như một kiểu mẫu gốc của các công ty.

Công ty hợp danh là công ty có đặc điểm thương mại rõ nét nhất. Giống như công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, nó là một công ty thương mại, kể cả khi ngành nghề của công ty không là các hành vi thương mại theo luật của Pháp. Nhưng tính thương mại đặc biệt thể hiện ở yếu tố thành viên công ty: các thành viên này nhất thiết phải có tư cách thương nhân, do vậy, những ai không đáp ứng đủ những điều kiện để trở thành thương nhân thì không thể trở thành thành viên công ty hợp danh.

Công ty hợp danh là loại hình công ty mà các thành viên dễ gặp rủi ro nhất: trách nhiệm của các thành viên vừa vô hạn, vừa liên đới với nhau. Mặc khác, nó cũng là công ty có tính đóng nhất: Luật qui định rằng, khi một trong số các thành viên chết, bị phá sản hay bị cấm thực hiện một hoạt động thương mại, công ty sẽ tự động bị giải thể, trừ khi điều lệ của công ty qui định khác (Bộ luật Thương mại, Điều L.221-16). Việc một thành viên cũ ra khỏi công ty hay một thành viên mới vào công ty cũng đòi hỏi phải có sự nhất trí của tất cả các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.221-13).

Và cuối cùng, đây là công ty mà luật ít can thiệp và thay vào đó là sự tự do hợp đồng của các thành viên được luật trao cho một phạm vi rất rộng rãi.

5.1 Việc sử dụng công ty hợp danh

5.1.1 Việc sử dụng công ty hợp danh bởi thể nhân

Công ty hợp danh, như chúng ta đã thấy, là một cấu trúc khá rủi ro đối với các thành viên, đặc biệt là nếu chúng ta so sánh nó với công ty trách nhiệm hữu hạn. Người ta sẽ không bao giờ chọn công ty hợp danh để thực hiện chung một hoạt động chuyên nghiệp, trừ khi theo truyền thống như đối với các dược sĩ, hoặc trừ khi người ta không thể nào làm khác đi như những người bán lẻ thuốc lá. Thế nhưng, đâu là lý do khiến ngày nay người ta vẫn thành lập công ty hợp danh?

Trước hết là vì công ty hợp danh thể hiện được tính đảm bảo bí mật, bởi vì nó không phải nộp báo cáo tài chính cho thư ký tòa thương mại, trừ khi tất cả các thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này không buộc họ phải phơi bày những tài sản nhạy cảm của mình.

Nhưng chính sự hấp dẫn về thuế mới là điều lý giải cho sự thành công của công ty hợp danh. Nếu như có sự minh bạch về thuế, công ty hợp danh sẽ không bị đóng thuế thu nhập doanh nghiệp; các thành viên phải đóng thuế tương ứng với phần lợi nhuận mà mình có được. Ngược lại, khi kết quả thua lỗ, mỗi thành viên chuyển vào báo cáo thu nhập của mình phần thua lỗ tương ứng của mình trong công ty. Trong một thời gian rất dài, những khoản lỗ từng loại có thể được khấu trừ trên tổng thu nhập. Vì lý do này, công ty hợp danh trở thành một công cụ kỳ diệu để đóng thuế ít hơn. Do vậy mà những người bị đánh thuế cao thường là thành viên của công ty hợp danh.

51.2 Việc sử dụng công ty hợp danh trong khuôn khổ các tập đoàn

Nếu trong sơ đồ tổ chức của các tập đoàn, người ta thấy có nhiều công ty hợp danh, đó là lý do thuế. Khi công ty con thua lỗ, nhờ vào tính minh bạch trong cấu trúc của nó, những khoản lỗ của công ty hợp danh được phép chuyển đến công ty mẹ. Từ cách đó, những khoản lỗ của công ty con được khấu trừ vào kết quả kinh doanh của công ty mẹ và do vậy, công ty mẹ sẽ đóng thuế ít hơn.

5.2 Thành lập công ty hợp danh

Để thành lập công ty hợp danh, số thành viên ít nhất phải là 2. Thành viên có thể là thể nhân hay pháp nhân. Vợ và chồng cũng có thể là các bên của cùng một công ty hợp danh. Các thành viên phải có đầy đủ tư cách thương nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 -1) và phải có năng lực hành vi để hành nghề thương mại. Do đó, người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, dù có người giám hộ cũng không thể là thành viên của công ty hợp danh.

Về ngành nghề, về nguyên tắc, công ty hợp danh có thể hoạt động trong bất cứ ngành nghề nào, kể cả thương mại hay dân sự. Tuy nhiên, có một số ngành nghề bị cấm hoạt động dưới hình thức công ty này như: bảo hiểm và các nghề tự do được pháp luật điều chỉnh. Chẳng hạn, các bác sỹ và luật sư không thể hoạt động nghề nghiệp của mình trong khuôn khổ công ty hợp danh vì họ bị cấm, một cách trực tiếp hay gián tiếp, có tư cách thương nhân.

Luật không quy định một ràng buộc nào về vốn điều lệ đối với công ty hợp danh: không có vốn tối thiểu, không có thời hạn phong tỏa vốn, không cấm việc góp vốn bằng industrie. Trong loại hình công ty này, vốn điều lệ có chức năng phân chia quyền hạn cho các thành viên công ty hơn là để thực hiện bảo đảm sự cam kết cho các khoản nợ, vì trách nhiệm cá nhân của các thành viên đối với các khoản nợ này đã là sự bảo đảm tốt nhất.

Ngoài ra, các quy định khác liên quan đến quá trình thành lập các công ty nói chung cũng sẽ áp dụng cho công ty hợp danh. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một đặc thù riêng của công ty hợp danh: Điều L.235 – 2 của Bộ luật Thương mại quy định rằng việc hoàn thành thủ tục đăng báo là bắt buộc và sự không hoàn thành nó có thể dẫn đến chế tài là công ty bị vô hiệu.

5.3 Người quản lý công ty hợp danh

5.3.1 Qui chế đối với người quản lý

Luật chứa đựng các quy định khá chi tiết về qui chế của người quản lý công ty hợp danh, nhưng những quy định này phần lớn chỉ đơn giản là để bổ sung trong trường hợp điều lệ công ty chưa có quy định. Điều đó có nghĩa là các thành viên có một sự tự do rất rộng rãi để tố chức công việc quản lý phù hợp.

Thật vậy, các thành viên sẽ chỉ định một hoặc nhiều người quản lý, hoặc là theo nguyên tắc nhất trí, hoặc là trên cơ sở đa số theo quy định trong điều lệ công ty. Không hề có một quy tắc bắt buộc trong việc chỉ định người quản lý và điều lệ sẽ tố chức việc quản lý theo ý muốn của các thành viên. Tất cả hình thức khác nhau đều có thể được:

– Các thành viên có thể chỉ định một hay nhiều người quản lý, nếu trong điều lệ không quy định thì tất cả các thành viên đều là người quản lý (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 3, khoản 1);

– Người quản lý có thể là thành viên hay môt người thứ ba;

– Tên của người quản lý có thể được ghi trong điều lệ hoặc không;

– Người quản lý có thể là một thể nhân hay một pháp nhân. Trong trường hợp người quản lý là một pháp nhân, người lãnh đạo pháp nhân quản lý có những nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự và dân sự như khi anh ta là người quản lý nhân danh chính mình;

– Người quản lý có thể là người Pháp hay người nước ngoài. Và trong cả hai trường hợp trên, người quản lý phải có thẻ thương nhân nếu công ty hành nghề một hoạt động chuyên nghiệp (professionel).

Cũng như tất cả các công ty khác, việc chỉ định hay chấm dứt chức vụ của người quản lý phải được thông báo đến Phòng đăng ký thương mại và doanh nghiệp.

Phương thức bãi nhiệm người quản lý thông thường do điều lệ quy định. Trong trường hợp điều lệ không quy định, Điều L.221 – 12 của Bộ luật Thương mại sẽ được áp dụng:

– Nếu tất cả thành viên là người quản lý, việc bãi nhiệm một người quản lý phải được quy định trên cơ

sở nhất trí của tất cả các thành viên khác. Điều đó kéo theo sự giải thể công ty, trừ khi điều lệ công ty hay các thành viên quy định khác (theo sự nhất trí). Người quản lý bị bãi nhiệm có thể quyết định rút khỏi công ty và yêu cầu bồi hoàn phần đóng góp của mình;

– Nếu việc quản lý được giao cho một hay nhiều thành viên được chỉ định trong điều lệ, qui tắc bãi nhiệm trên đây cũng được áp dụng;

– Nếu người quản lý là một thành viên không được chỉ định trong điều lệ, anh ta sẽ bị bãi nhiệm theo điều kiện được điều lệ quy định và điều này không kéo theo việc giải thể công ty. Trong trường hợp điều lệ không quy định, quyết định sẽ được thông qua trên cơ sở sự nhất trí của các thành viên khác;

– Nếu người quản lý không phải là thành viên, người này sẽ bị bãi nhiệm theo điều kiện do điều lệ công ty quy định. Nếu điều lệ công ty không quy định, thì sẽ quyết định theo đa số của các thành viên.

Người quản lý cũng có thể bị bãi nhiệm bởi Tòa án, theo yêu cầu của các thành viên, vì lý do chính đáng.

5.3.2 Quyền hạn của người quản lý

Trong quan hệ giữa các thành viên, nếu như trong điều lệ không có những quy định cụ thể về quyền hạn, người quản lý có thể thực hiện tất cả các hành vi quản lý trong lợi ích của công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 4). Trong quan hệ với người thứ ba, người quản lý sẽ không làm ràng buộc trách nhiệm của công ty nếu như những hành vi của anh ta không nằm trong ngành nghề của công ty. Nếu như có nhiều người quản lý thì mỗi người đều ràng buộc trách nhiệm công ty tương tự nhau. Do vậy, để tránh nhầm lẫn, khi ký kết hợp đồng với công ty, người ta cần phải xác minh tư cách của người quản lý và cả phạm vi ngành nghề của công ty.

5.3.3 Trách nhiệm của người quản lý

Trong trường hợp người quản lý vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ hay có sự sai sót trong quản lý, anh ta phải chịu trách nhiệm dân sự đối với công ty như người thứ ba. Về trách nhiệm hình sự, những tội đặc trưng về việc lạm dụng tài sản của công ty hay khai báo không trung thực về tài chính của công ty chỉ được viện dẫn trong các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Người quản lý công ty hợp danh chỉ chịu trách nhiệm hình sự theo luật chung.

5.4 Thành viên công ty hợp danh

Điều nổi bật trước tiên của thành viên công ty hợp danh là trách nhiệm vô hạn và liên đới của họ. Về tính chất của trách nhiệm này tương tự như các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh của Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật Pháp quy định rõ ràng hơn trong vấn đề thực thi trách nhiệm này. Khi công ty có một món nợ, hiển nhiên là chủ nợ phải yêu cầu công ty thanh toán trước tiên; nhưng nếu điều này không thành công, chủ nợ sẽ yêu cầu các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 1). Sau 8 ngày kể từ ngày chủ nợ gửi yêu cầu yêu cầu công ty thanh toán nợ mà công ty vẫn chưa thanh toán, chủ nợ có thể yêu cầu các thành viên thanh toán. Tính liên đới của trách nhiệm cho phép chủ nợ có thể yêu cầu bất kỳ thành viên nào của công ty thanh toán toàn bộ số nợ cho mình. Người “được lựa chọn” chỉ có thể phải thực hiện, không thể yêu cầu chủ nợ phải yêu cầu công ty cũng như không thể đòi chủ nợ chia yêu cầu đến tất cả các thành viên. Hơn nữa, khác với trong công ty dân sự, sự phá sản hay thanh lý tư pháp công ty dẫn đến sự phá sản hay thanh lý thành viên công ty (Bộ luật Thương mại, Điều 624 – 1).

Sau đó, người mà đã trả tất cả khoản nợ có thể quay lại yêu cầu công ty thanh toán lại, anh ta cũng có thể yêu cầu đến các đồng thành viên trong công ty và trong trường hợp này, các đồng thành viên khác phải hoàn lại số nợ cho người đã thanh toán theo tỷ lệ được quy định trong điều lệ công ty hoặc, nếu trong điều lệ công ty không quy định, theo tỷ lệ phần đóng góp vào vốn điều lệ (Bộ luật Dân sự, Điều 1844, khoản 1).

Về chế độ chuuyển nhượng phần vốn góp, phần vốn góp không thể chuyển nhượng được như cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 13). Việc chuyển nhượng sẽ tuân theo những quy định của điều lệ công ty như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn.

5.5 Kiểm toán viên

Việc chỉ định kiểm toán viên nội bộ chỉ bắt buộc nếu công ty vượt qua những mức sàn quy định. Và ngay cả trong trường hợp những mức sàn này không đạt được, các thành viên vẫn có thể bổ nhiệm một hoặc nhiều kiểm toán viên để kiểm soát hoạt động tài chính công ty.

6. CÔNG TY HỢP VỐN ĐƠN GIẢN (Société en commandite simple)

Công ty hợp vốn đơn giản có nhiều khía cạnh tương tự như công ty hợp vốn cổ phần, nhưng nó có điểm khác biệt cơ bản với công ty này là ở chỗ vốn của nó không được đại diện bởi những chứng khoán có thể chuyển nhượng. Công ty hợp vốn đơn giản có thời thịnh hành dưới Chế độ cũ của Pháp2, nó cho phép một thương nhân có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn được tận dụng phần vốn góp của thành viên góp vốn – người nắm giữ vốn nhưng không thể tự tiến hành các hoạt động thương mại do quy chế của mình, như quý tộc, tăng lữ, thẩm phán… Dưới sự lấn át của công ty cố phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp vốn đã trở nên lỗi thời.

Thông thường, những công ty này được ra đời trên cơ sở chuyển đổi từ công ty hợp danh để có thể kết nạp người thừa kế của thành viên hợp danh đã chết làm thành viên hợp vốn do thừa kế này chưa thành niên (nên không có tư cách thương nhân và do vậy không thể là thành viên hợp danh.

Công ty hợp vốn đơn giản, giống như công ty hợp vốn cổ phần, là một công ty bất bình đẳng, cho phép hợp tác giữa những nhà kinh doanh (thành viên hợp danh) và nhà đầu tư (thành viên hợp vốn).

Thành viên hợp danh (có thể chỉ có 1 thành viên hợp danh duy nhất trong công ty), có địa vị pháp lý trương tự như thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Họ phải có tư cách thương nhân, có quyền rất lớn trong việc quản lý công ty và phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với mọi khoản nợ của công ty. Ngược lại, thành viên góp vốn có một vị trí thứ hai trong công ty bởi lẽ họ gánh chịu ít rủi ro hơn. Họ không phải có tư cách thương nhân và trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong phạm vi vốn góp của mình. Và khác với trong công ty hợp vốn cổ phần, thành viên hợp vốn không phải là cổ đông côngty.

Như vậy, có thể nói, công ty hợp vốn đơn giản có bản chất giống như công ty hợp danh mà trong đó có thành viên góp vốn theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 của Việt Nam.

CÁC BẠN ĐỌC PHẦN 1 BÀI THEO LINK SAU: http://phapluatdansu.edu.vn/2008/02/19/cc-loẠi-hnh-doanh-nghiỆp-phỔ-biẾn-Ở-php/

Chú thích:

1 Giả định này không phải chỉ nằm trên lý thuyết: Ví dụ, như bản án của Tòa phúc thẩm Renné, ngày 08/01/1992.

2 Chế độ cũ (Ancien Régime): từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, chỉ giai đoạn từ lúc phục hồi quyền lực hoàng gia dười thời Louis XI (1461-1483) và Cách mạng Pháp (1789-1799). Xem thêm: http://www.hku.hk/french/dcmScreen/lang2044/histoire_ancienregime.htm

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2006

BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT CHÂU ÂU VÀ HOA KỲ

THS. PHAN NGỌC TĀM –  Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài năm trở lại đây, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng thế giới đã được đưa vào thị trường Việt Nam và trở thành những nhãn hiệu quen thuộc của người tiêu dùng trong nước như nước giải khát Pepsi, Coca Cola, xe hơi Ford, Toyota, sản phẩm thời trang Gucci, CK… Những nhãn hiệu này đã và đang đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia, đòi hỏi chúng ta cần phải có một cách nhìn nhận đúng đắn và có sự quan tâm cần thiết đến việc bảo hộ đối tượng này một cách hiệu quả và kịp thời trên thực tế. Trong thời gian qua, Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng. Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng như Công ước Paris và Thoả ước Madrid từ năm 1949. Và những qui định mang tính nguyên tắc của các văn bản này về cơ bản đã được chuyển hóa và vận dụng một cách phù hợp trong hệ thống pháp luật quốc gia, đặc biệt là trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Tuy nhiên, những cố gắng kể trên nhìn chung chỉ thể hiện ở bề nổi và mang tính vĩ mô nhiều hơn chứ chưa đi vào giải quyết một cách kịp thời và hiệu quả những nhu cầu thực tiễn mà xã hội đang đặt ra, đặc biệt là đối với việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng.

Trong bối cảnh nước ta đang tiến đến rất gần mục tiêu hội nhập vào nền kinh tế thế giới, mà đích đến cụ thể của quá trình đó chính là việc gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam sẽ trở thành một thị trường thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Và một thực tế trước mắt mà bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy là sẽ có rất nhiều các nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ nổi tiếng thế giới xuất hiện trên thị trường Việt Nam. Nhu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ càng thể hiện rõ hơn bao giờ hết. Chúng ta cần có những động thái cụ thể và hiệu quả hơn trong công tác lập pháp cũng như trong quá trình áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để tạo lập một môi trường pháp lý an toàn nhằm tạo sự tin cậy và an tâm đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Với bài viết này, tác giả mong muốn làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về nhãn hiệu nổi tiếng cũng như cung cấp một số thông tin liên quan đến các hệ thống pháp luật được coi là khá tiến bộ trong lĩnh vực này, đó là hệ thống pháp luật của Liên Minh Châu Âu và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.

II. KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIÊU HÀNG HÓA NỔI TIẾNG

Nhãn hiệu (Trademark) là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nó đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác. Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu hàng hóa luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu hàng hóa. Vì vậy nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Nhãn hiệu hàng hóa đã trải qua một lịch sử phát triển khá dài trong suốt quá trình phát triển của nền thương mại thế giới. Từ thời La Mã cổ đại, việc các nhà sản xuất chạm nổi hay đóng dấu lên các sản phẩm của mình là khá phổ biến. Đó là một hình thức thể hiện của nhãn hiệu hàng hóa, qua những hình thể chạm nổi hay các con dấu mà họ có thể phân biệt xuất xứ hàng hóa của các nhà sản xuất với nhau.

Ngày nay, nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng một cách phổ biến hơn với nhiều thể loại hơn. Và nó là một hình thức rất có giá trị của quyền sở hữu trí tuệ bởi vì nó gắn liền với chất lượng cũng như sự mong đợi của người tiêu dùng đối với hàng hóa và dịch vụ.1 Nhiều sản phẩm hàng hóa đã trở nên đồng nhất với tên nhãn hiệu của chúng, chẳng hạn như nước giải khát Coca Cola, cà phê Nestcafé, quần Jean Levi’s… Những sản phẩm này thực sự đã trở nên nổi tiếng và được biết đến một cách rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Đây cũng là một thành công quan trọng của các nhà sản xuất và các thương nhân trong việc quảng bá sản phẩm của họ. Tuy nhiên, chính sự nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa cũng mang lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp vì nó sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác. Ngày càng có nhiều các hàng hóa và dịch vụ tương tự với những hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng được sản xuất và điều này đã gây ra sự nhầm lẫn của người tiêu dùng trong việc lựa chọn và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ thật sự mà họ mong muốn. Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là phải làm thế nào ngăn chặn các hiện tượng xâm phạm đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng như thế. Mặc dù đã được biết đến từ rất lâu, song cho đến hiện nay cách hiểu về “nhãn hiệu nổi tiếng” vẫn còn đang rất khác nhau trong các điều ước quốc tế cũng như trong pháp luật các nước. Công ước Paris năm 1883 2 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã lần đầu tiên đề cập đến nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng tại Điều 6bis 3 bằng cách quy định nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia thành viên trong việc từ chối hay hủy bỏ mọi sự đăng ký cũng như ngăn cấm mọi sự sử dụng của nhãn hiệu hàng hóa mà nó được coi là một sự sao chép, một sự bắt chước, một bản dịch hoặc có thể gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nổi tiếng4; và quy định về khoảng thời gian cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ sự đăng ký đối với những nhãn hiệu xâm phạm.5 Tuy nhiên, Công ước lại không hề đưa ra một định nghĩa chính thức và rõ ràng về “nhãn hiệu nổi tiếng”. Chỉ có một căn cứ duy nhất để xác định một nhãn hiệu hàng hóa trở nên nổi tiếng, đó là sự chấp nhận hay thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký hay quốc gia nơi sản phẩm được sử dụng.

Theo những quy định của Hiệp định TRIPs,6 vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhìn chung dựa trên các nguyên tắc được ấn định bởi Công ước Paris với những sự thay đổi và bổ sung phù hợp. Theo đó, khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” không chỉ được sử dụng cho đối tượng là hàng hóa mà còn được sử dụng cho cả các đối tượng dịch vụ, và Hiệp định cũng ghi nhận một số căn cứ chung để xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nổi tiếng hay không 7. Ngoài ra, Hiệp định cũng mở rộng phạm vi các nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ, bao gồm cả các nhãn hiệu được coi là rất nổi tiếng.

Bên cạnh các điều ước quốc tế nói trên, chúng ta cũng có thể tìm thấy các quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, chẳng hạn, Đạo luật về Nhãn hiệu hàng hóa năm 1938 và sau đó được sửa đổi bởi Đạo luật Nhãn hiệu hàng hóa năm 1994 của Vương quốc Anh, Đạo luật Lanham năm 1946 của Hoa Kỳ (được sửa đổi bởi Đạo luật Liên bang về Sự mờ nhạt nhãn hiệu hàng hóa năm 1995), Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa của Hàn Quốc, Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa và Bộ luật về Sở hữu trí tuệ của Pháp, Luật nhãn hiệu hàng hóa Canada năm 1985… Tuy nhiên, pháp luật của không ít quốc gia đã không đưa ra được một hệ thống các tiêu chí cụ  thể để xác định “nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng”. Do vậy, trên thực tế khái niệm này sẽ được xác định bởi các Tòa án hay các cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.8

Theo luật về nhãn hiệu hàng hóa của Nga năm 1992, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng cũng như những vụ việc, tình huống liên quan đến việc chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu sự công nhận đối với nhãn hiệu nổi tiếng ở Nga sẽ được xem xét bởi Phòng Patent tối cao (Supreme Patent Chamber).9 Ở Trung Quốc, thông qua các quy định hiện hành của Luật Nhãn hiệu hàng hóa và các quy định hướng dẫn thi hành Luật Nhãn hiệu hàng hóa, lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận một cách chính thức nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong hệ thống pháp luật của họ dù rằng Trung Quốc đã chính thức trở thành thành viên của công ước Paris từ rất sớm. Luật Nhãn hiệu hàng hóa của Trung Quốc đã đưa ra một định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng hơi khác so với các nước khác. Cụ thể, nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký mà nó có một bộ phận khách hàng thực tế và được coi là nổi tiếng trong bộ phận công chúng liên quan. Như vậy, một nhãn hiệu hàng hóa có thể là nhãn hiệu nổi tiếng ở các nước khác nhưng chưa được đăng ký ở Trung Quốc thì sẽ không được xem là nhãn hiệu nổi tiếng để được hưởng chế độ pháp lý về bảo hộ theo Luật Nhãn hiệu hàng hóa của nước này.10

Mặc dù có những sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, chúng ta vẫn có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng. Theo đó, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng (well-known trademark) được hiểu là nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi bởi nhiều người trong những phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc được xem xét, thừa nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ hay được sử dụng.

Như vậy, nhãn hiệu nổi tiếng trước hết phải là một nhãn hiệu hàng hóa, bao gồm các “ký tự, hình ảnh hay dấu hiệu hoặc sự kết hợp của những yếu tố đó được sử dụng cho những hàng hóa hay dịch vụ bởi một người mà người đó đã sản xuất, gia công, đảm bảo hay bán những hàng hóa, dịch vụ đó nhằm mục đích thương mại để phân biệt với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác”.11 Tuy nhiên, với cách hiểu như đã đề cập ở phần trước, nhãn hiệu nổi tiếng có những đặc trưng nổi bật so với các nhãn hiệu hàng hóa thông thường khác. Đó là:

Thứ nhất, một nhãn hiệu nổi tiếng phải là nhãn hiệu có tính phân biệt. Thông qua một nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, người tiêu dùng có thể nhận biết ngay loại hàng hóa hay dịch vụ mà nhãn hiệu đó được sử dụng. Ví dụ, khi nói đến nhãn hiệu Coca Cola, người tiêu dùng sẽ nghĩ ngay đến nước giải khát, hoặc khi nói đến Toyota, họ sẽ nghĩ ngay đến xe hơi…

Thứ hai, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thường có tính phổ biến cao. Một nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được biết đến bởi nhiều người ở nhiều khu vực địa lý khác nhau. Chẳng hạn, Ford là một nhãn hiệu xe hơi của Hoa Kỳ nhưng nó lại được biết đến bởi người tiêu dùng trên hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Thứ ba, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thường có giá trị kinh tế lớn và rất lớn. Nó cấu thành một bộ phận tài sản quan trọng trong khối lượng tài sản của doanh nghiệp. Thật vậy, có không ít nhãn hiệu nổi tiếng đã trở thành một phần tài sản quan trọng, thậm chí đóng vai trò quyết định, trong khối lượng tài sản các công ty sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Trên thực tế, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng của mình như là một loại vốn để đưa vào các hoạt động đầu tư, kinh doanh…

Một nhãn hiệu hàng hóa chỉ có thể trở thành nhãn hiệu nổi tiếng nếu nó thỏa mãn những yêu cầu hay tiêu chí nhất định do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng minh hoặc theo quy định của pháp luật. Bất kể sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật của các quốc gia trong lĩnh vực lập pháp cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật, chúng ta cũng có thể khái quát các trường hợp chung nhất mà theo đó một nhãn hiệu hàng hóa sẽ được công nhận là nổi tiếng. Đó là: Sự lặp đi lặp lại của nhãn hiệu trong một bộ phận công chúng liên quan; Mức độ được biết đến của nhãn hiệu trong công chúng; Quy mô và khoảng thời gian sử dụng nhãn hiệu; Thời gian, mức độ và phạm vi địa lý của bất kỳ sự quảng cáo hay thông tin cho nhãn hiệu; Mức độ của tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của nhãn hiệu nổi tiếng; Bản chất của những loại hàng hóa, dịch vụ và những kênh lưu thông cho những hàng hóa, dịch vụ mà nhãn hiệu được sử dụng; Bản chất và mức độ sử dụng của những nhãn hiệu giống hoặc tương tự bởi bên thứ ba; Lịch sử của quá trình thực thi quyền trong việc bảo hộ nhãn hiệu; Những quốc gia nơi nhãn hiệu đã được đăng ký.

Những yếu tố được đề cập trên đây chỉ là những căn cứ chung được thừa nhận một cách rộng rãi trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể cũng như quan điểm lập pháp riêng của mỗi quốc gia mà họ có thể đưa ra các quy định cụ thể liên quan đến việc thừa nhận nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng.

III. BẢO HỘ NHÃN HIÊU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT LIÊN MINH CHÂU ÂU

Các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở Cộng đồng Châu Âu được ghi nhận trong hai văn bản pháp luật quan trọng được ban hành liên quan một cách trực tiếp đến pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa, đó là Văn bản hướng dẫn đầu tiên năm 1988, 104/89/EEC, về hài hòa pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của các quốc gia và Quy định của Hội đồng năm 1993, 40/94/EC, về Nhãn hiệu hàng hóa Cộng đồng.

Văn bản hướng dẫn 104/89/EEC được ban hành không phải nhằm mục đích thống nhất tất cả các hệ thống pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của các quốc gia. Mục đích của nó chỉ là hướng đến cố gắng làm giảm đi sự khác biệt giữa các hệ thống nhãn hiệu hàng hóa quốc gia là nguyên nhân gây ra những rào cản cho thương mại và ảnh hưởng đến sự lưu thông tự do hàng hóa, dịch vụ cũng như hạn chế sự phát triển của các thị trường đơn lẻ. Văn bản hướng dẫn nhấn mạnh những nội dung mấu chốt của luật thực định hơn là những vấn đề của luật hình thức.12 Có ba điều khoản quan trọng của văn bản liên quan đến cơ chế đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cũng như việc xác lập quyền thông qua đăng ký, đó là:

– Điều 3: Chỉ ra những căn cứ cho việc từ chối hay vô hiệu hóa sự đăng ký của các nhãn hiệu hàng hóa;

– Điều 4: Đề cập đến những trường hợp được coi là gây ra sự xung đột với những nhãn hiệu hàng hóa trước đó;

– Điều 5: Xác lập quyền thông qua thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa.

Quy định 40/94/EC của Hội đồng Châu Âu năm 1993 chủ yếu đề cập đến những vấn đề liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng. Vì thế, nó còn được biết đến với tên gọi Quy định về Nhãn hiệu hàng hóa Cộng đồng (Community Trade Mark Regulation – CTMR). Quy định này cũng đưa ra những nguyên tắc chung nhất về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng, và những phương thức và trình tự cụ thể của quá trình đăng ký và bảo hộ quốc tế đối với đối tượng này ở khu vực châu Âu sẽ được quy định bởi pháp luật quốc gia.

Văn bản hướng dẫn 89/104/EEC đã đề cập một số vấn đề liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thông qua việc quy định những căn cứ làm cơ sở cho việc từ chối hay hủy bỏ đăng ký đối với những nhãn hiệu hàng hóa được coi là xung đột với các nhãn hiệu hàng hóa trước đó.13 Trong đó, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng là một trong những căn cứ quan trọng mà các cơ quan có thẩm quyền phải cân nhắc, xem xét khi tiếp nhận và đánh giá đơn đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Châu Âu.

Nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng có thể được bảo hộ ngay cả khi chúng chưa được đăng ký bởi cơ quan có thẩm quyền. Điều này có nghĩa rằng, đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, việc bảo hộ không chỉ được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “quyền ưu tiên đăng ký” (first – to – file) mà còn dựa trên nguyên tắc “quyền ưu tiên sử dụng” (first – to – use)14.

Theo những quy định tại Điều 4 của Văn bản hướng dẫn 89/104/EEC, một nhãn hiệu hàng hóa sẽ không thể được đăng ký, hoặc nếu đã được đăng ký sẽ có thể bị tuyên bố vô hiệu ở các quốc gia Châu Âu nếu nó bị coi là giống hoặc tương tự với những nhãn hiệu đã được đăng ký được sử dụng cho những hàng hóa hay dịch vụ tương tự, hoặc nó có thể gây ra sự nhầm lẫn với những nhãn hiệu Cộng đồng trước đó.15 Khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa trước đó” (earlier trademark) được hiểu bao gồm cả những nhãn hiệu được thừa nhận là nổi tiếng phù hợp với quy định tại Điều 6bis của Công ước Paris 1883. Điều này cũng tiếp tục được khẳng định một lần nữa tại Quy định về nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng năm 1993.16

Căn cứ về nguy cơ gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu hàng hóa trước đó là một căn cứ quan trọng cho việc từ chối yêu cầu đăng ký đối với một nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, việc xác định thuật ngữ “nguy cơ gây nhầm lẫn” (likelihood of confusion)17 là rất khó khăn trên thực tế, nhất là trong việc phân biệt nó với những thuật ngữ tương tự khác. Chẳng hạn, trong phán quyết của Tòa án về vụ kiện “Sabel v. Puma AG”, thuật ngữ “nguy cơ gây nhầm lẫn” mà nó bao gồm cả “nguy cơ liên tưởng” (likelihood of association) với những nhãn hiệu hàng hóa trước đó được giải thích theo nghĩa rằng sự nhầm lẫn liên tưởng mà công chúng có được giữa hai nhãn hiệu hàng hóa như là kết quả của sự giống hay tương tự về mặt ngữ nghĩa học sẽ không trở thành một căn cứ có ý nghĩa cho việc quyết định rằng có một “nguy cơ gây nhầm lẫn” theo quy định tại Điều 4 (1) (b) của Văn bản hướng dẫn. Sự tồn tại của một “nguy cơ liên tưởng” sẽ không đồng nghĩa với sự tồn tại một “nguy cơ gây nhầm lẫn” trên thực tế. Hay nói cách khác, “nguy cơ liên tưởng” ở đây không có giá trị thay thế cho một “nguy cơ gây nhầm lẫn”.18 Bởi vì điều này và cũng dựa trên kết quả nghiên cứu mà nó đã chỉ ra rằng PUMA không phải là một nhãn hiệu nổi tiếng đặc biệt ở Châu Âu, Tòa án đã tuyên rằng cơ quan có thẩm quyền không thể từ chối đăng ký cho nhãn hiệu SABEL.

Ngoài ra, còn có một nguyên tắc quan trọng khác liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Châu Âu quy định rằng việc bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng sẽ không chỉ bị giới hạn trong phạm vi những hàng hóa và dịch vụ tương tự. Theo đó, phạm vi bảo hộ sẽ được mở rộng cho cả những trường hợp nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng cho những loại hàng hóa hay dịch vụ không tương tự khi những sự sử dụng như thế có thể gây thiệt hại hoặc tạo ra những điều kiện bất lợi cho danh tiếng của nhãn hiệu trước đó.19 Và khi một nhãn hiệu đã được công nhận là nổi tiếng tại một trong những nước thành viên của Liên minh, nó sẽ đương nhiên trở thành nhãn hiệu nổi tiếng trong toàn Liên minh.

Như vậy, nhãn hiệu nổi tiếng ở Châu Âu sẽ được bảo hộ chủ yếu thông qua các Điều ước quốc tế và các Văn bản pháp luật thống nhất của Liên minh. Bên cạnh đó, các hệ thống pháp luật độc lập của các quốc gia thành viên cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra các tiêu chí và quy định cụ thể về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trên lãnh thổ quốc gia mình.

IV. BẢO HỘ NHÃN HIÊU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ

Những thành công mà Hoa Kỳ đạt được cho đến nay là nhờ những chính sách và chiến lược đúng đắn trong việc kích thích quảng cáo và nâng cao chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp. Đó là một sự thật không thể chối cãi. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói riêng và hệ thống các chính sách về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Chính sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật này đã tạo được một nền tảng cơ bản và tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nền kinh tế.

Khác với các quốc gia Châu Âu và nhiều nước trên thế giới, Hoa Kỳ chưa phải là thành viên của Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như một số các cam kết quốc tế khác về lĩnh vực này. Do vậy, về nguyên tắc Hoa Kỳ sẽ không chịu sự ràng buộc bởi các quy định của các điều ước quốc tế này. Điều này cũng có nghĩa rằng Hoa Kỳ sẽ không thể kế thừa và tận dụng được những thành tựu pháp lý quốc tế liên quan đến lĩnh vực này một cách chính thức như nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở Hoa Kỳ hiện nay lại thật sự tỏ ra khá hoàn chỉnh và hiệu quả ở cả cấp độ liên bang lẫn tiểu bang.

Việc thực thi pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Hoa Kỳ hiện nay chủ yếu dựa trên những quy định của Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa năm 1946 mà nó còn được biết đến với tên gọi Đạo luật Lanham. Thế nhưng Đạo luật này lại không đề cập một cách cụ thể đến nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng. Đến năm 1995, Nghị viện Hoa Kỳ mới thông qua một Đạo luật mới, Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa (FTDA).20 Đạo luật này được ban hành nhằm bổ sung, sửa đổi Đạo luật về Nhãn hiệu hàng hóa năm 1946, cụ thể là sửa đổi nội dung của Điều 43, quy định về sự đền bù hay bồi thường cho việc làm lu mờ đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng. Đạo luật sửa đổi này đã mô tả các yếu tố để xác định một nhãn hiệu hàng hóa là phân biệt và nổi tiếng, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa chính xác về thuật ngữ “sự lu mờ” (dilution), theo đó, sự lu mờ sẽ được hiểu là việc làm giảm khả năng của nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong việc xác định và phân biệt đối với hàng hóa hay dịch vụ mang nhãn.21 Bằng việc đưa ra những quy định mới này, lần đầu tiên nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng được pháp điển hóa trong hệ thống lập pháp Hoa Kỳ.

Mặc dù có những sự khác biệt cơ bản so với hệ thống pháp luật Châu Âu về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng, nhưng đối với việc quy định nguyên tắc cơ bản điều chỉnh lĩnh vực này, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và Châu Âu lại có một điểm tương đồng, đó là sự ghi nhận nguyên tắc “quyền ưu tiên sử dụng” (first to use) một cách chính thức trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế lại không giống nhau. Nếu như trong hệ thống pháp luật Châu Âu, nguyên tắc “quyền ưu tiên sử dụng” được áp dụng trong sự kết hợp với nguyên tắc “quyền ưu tiên nộp đơn” (first to file) cùng với sự cân nhắc của Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác thì trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, nguyên tắc này lại phải được áp dụng trong sự xem xét, cân nhắc của Tòa án trên cơ sở các nguyên tắc chung của Luật công bằng (Equity). Điều này thật ra cũng dễ hiểu vì Hoa Kỳ là một quốc gia theo hệ thống Luật Chung (Commmon Law), và trong hệ thống này thì các nguyên tắc của Luật công bằng là một trong những nguyên tắc chủ đạo chi phối tất cả các lĩnh vực của đời sống pháp lý.

Cho đến nay, không có một định nghĩa chính xác về khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng” ở Hoa Kỳ. Điều này cũng tương tự như tình trạng thực tế hiện nay ở Châu Âu cũng như ở rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Vì vậy, việc xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không là rất phức tạp. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ, đều trao thẩm quyền cho các cơ quan chức năng (thông thường là Tòa án hoặc các Văn phòng quốc gia về Sở hữu công nghiệp) trong việc xác định sự nổi tiếng của các nhãn hiệu hàng hóa trong những trường hợp cụ thể. Và lẽ dĩ nhiên những quyết định hay sự xem xét như thế trước tiên sẽ phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản chung đã được quy định bởi pháp luật.

Theo những quy định tại Điều 3 của Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa năm 1995, chủ sở hữu của nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng sẽ có quyền, phù hợp với nguyên tắc của Luật công bằng và tuỳ thuộc vào sự xem xét của Tòa án, yêu cầu một Lệnh của Tòa án chống lại mọi sự sử dụng nhằm mục đích thương mại của người khác đối với nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại, nếu sự sử dụng như thế được bắt đầu sau khi nhãn hiệu hàng hóa của chủ sở hữu trở nên nổi tiếng và những sự sử dụng đó có thể làm lu mờ hay làm giảm chất lượng hay khả năng phân biệt của nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng.

Và để có thể xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không, Tòa án sẽ phải cân nhắc, xem xét đến các yếu tố sau đây:

– Mức độ của tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của nhãn hiệu;

– Khoảng thời gian và mức độ sử dụng nhãn hiệu trong mối liên hệ với hàng hóa hay dịch vụ mà nhãn hiệu được sử dụng;

– Khoảng thời gian và quy mô của các hoạt động quảng cáo hay phổ biến nhãn hiệu;

– Phạm vi địa lý của các khu vực thương mại mà nhãn hiệu được sử dụng;

– Các kênh lưu thông đối với hàng hóa hay dịch vụ mà qua đó nhãn hiệu được sử dụng;

– Mức độ công nhận nhãn hiệu trong các khu vực thương mại và các kênh lưu thông hàng hóa hay dịch vụ được sử dụng bởi chủ sở hữu nhãn hiệu;

– Bản chất và mức độ của việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giống hay tương tự của bên thứ ba;

– Nhãn hiệu đã được đăng ký theo Đạo luật ngày 03/03/1881 hoặc Đạo luật ngày 20/02/1905, hoặc đăng ký nguyên tắc hay chưa.22

Vấn đề trọng tâm của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng theo pháp luật Hoa Kỳ chính là sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa. Thuật ngữ này đã được đưa ra và sử dụng trong một thời gian khá dài trước khi được đề cập trong luật. Nó được định nghĩa lần đầu tiên bởi Schechter vào năm 1927 để bảo vệ chống lại “sự biến mất dần dần hay sự phân tán những đặc tính và sự nhận biết của công chúng đối với nhãn hiệu hàng hóa bởi sự sử dụng nó cho những sản phẩm phi cạnh tranh”. Một năm sau đó, Thẩm phán Learned Hand, trong vụ kiện “Yale Electric Corporation v. Robertson” (năm 1928), đã chấp thuận một Lệnh cho phép chống lại sự sử dụng của bị đơn đối với nhãn hiệu hàng hóa tương tự với nhãn hiệu của nguyên đơn nhưng chỉ cho những hàng hóa phi cạnh tranh.23

Ở góc độ chung nhất, khái niệm về “sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa” được hiểu là sự làm giảm đi khả năng của nhãn hiệu nổi tiếng trong việc nhận biết và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ, bất kể có tồn tại hay không tồn tại một sự cạnh tranh giữa chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng và các bên khác, hay khả năng gây nhầm lẫn, lỗi lầm hay lừa dối.24 Định nghĩa này rõ ràng đã khẳng định rằng nguy cơ gây nhầm lẫn, mặc dù là một căn cứ cơ bản của sự xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa, không phải là một yếu tố được yêu cầu cho sự lu mờ theo quy định của pháp luật. Hơn nữa, lịch sử lập pháp Hoa Kỳ đã cho chúng ta thấy một điều rằng khái niệm về sự lu mờ được mô tả bao gồm tất cả những hình thức của sự làm lu mờ được thừa nhận một cách hợp pháp.25

Nhìn chung, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ có rất nhiều điểm khác biệt so với pháp luật Châu Âu cũng như các hệ thống pháp luật khác trên thế giới. Điều này là do đặc điểm kinh tế – chính trị và truyền thống pháp luật quy định. Những thành tựu mà Hoa Kỳ đã đạt được trong quá trình bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng là hết sức thực tế. Điều này đã được chứng minh thông qua những số liệu thống kê về số lượng các nhãn hiệu hàng đầu thế giới trong những năm vừa qua.26

V. LỜI KẾT

Ở Việt Nam, về cơ bản chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng khá phong phú và ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong một chừng mực nhất định, có thể nói hệ thống pháp luật của chúng ta đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của thực tiễn, cho dù những đóng góp đó còn quá nhỏ bé so với nhu cầu to lớn đang được đặt ra. Những quy định cụ thể liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, đặc biệt là đối với nhãn hiệu nổi tiếng là còn rất thiếu, nếu không nói là hầu như chưa có gì đáng kể.

Có thể nói những quy định nói trên của pháp luật Việt Nam là không khác nhiều so với các quy định của pháp luật Châu Âu và Hoa Kỳ như đã phân tích ở các phần trước. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa rằng hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng của chúng ta đã đủ hoàn chỉnh. Chúng ta cần phải nhận thấy một điều quan trọng là việc đánh giá hệ thống các quy định pháp luật này cần phải được đặt trong các yếu tố kinh tế – xã hội. Và nếu nhìn nhận từ góc độ đó, rõ ràng các quy định pháp luật của chúng ta hiện nay còn có rất nhiều vấn đề phải khắc phục, chẳng hạn như vấn đề liên quan đến tính hợp lý, tính khả thi, tính khoa học… Đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung ở Việt Nam, việc tham khảo và tranh thủ các thành tựu pháp lý quốc tế và các nước là hết sức cần thiết. Trong đó, hệ thống pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ là những hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới mà Việt Nam cần nghiên cứu học hỏi.

Chú thích:

1 David I Bandbride, Sở hữu trí tuệ, tại Luân Đôn, 1999, tr. 521.

2 Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được ban hành ngày 20/03/1883 tại Paris với hơn 100 quốc gia ký kết, công ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 07/03/1884, được sửa đổi nhiều lần như tại Brussels ngày 14/12/1900, tại Washington ngày 02/06/1911, tại Hague ngày 06/11/1925, tại Luân Đôn ngày 02/06/1934, tại Lisbon ngày 31/10/1958 và ại Stockholm ngày 14/07/1967. Sau đó, Công ước được tiếp tục sửa đổi tại Brussels năm 1990 và tại Washington năm 1991.

3 Điều khoản này được bổ sung và ghi nhận vào Công ước trong lần sửa đổi năm 1967 ở Stockholm.

4 Điều 6bis, khoản 1, Công ước Paris.

5 Điều 6bis, khoản 2 và 3, Công ước Paris.

6 Hiệp định về những ảnh hưởng ở khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ được ký kết ngày 15/04/1994 tại Marakech và sau đó cấu thành một bộ phận quan trọng của WTO.

7 Điều 16.2. Hiệp định TRIPs.

8 Chẳng hạn, Tòa phúc thẩm Paris của Pháp đã tuyên thừa nhận nhãn hiệu PONTIAC là nhãn hiệu nổi tiếng cho xe hơi bởi vì “một bộ phận lớn công chúng đã biết đến tên gọi này như là một nhãn hiệu cho một loại xe hơi cao cấp ở Pháp” (bản án tuyên ngày 08/12/1962); hoặc nhãn hiệu hàng hóa cũng có thể được xem là nổi tiếng ngay cả khi nó không thật sự nổi tiếng một cách đặc biệt (theo một Quyết định khác của Tòa phúc thẩm Paris tuyên ngày 19/10/1970); hoặc trong một số trường hợp khác, Tòa án có thể tham khảo một cuộc điều tra thị trường để xác định một nhãn hiệu có phải là nổi tiếng hay không.

9 Tạp chí Managing Intellectual Property, ngày 02/05/2001, chuyên mục Russia, bài “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng”, http://elin.lub.lu.se, truy cập lần cuối ngày 22/07/2004.

1010 Bài viết “Legislative changes boost status of well-known marks”, Yvonne Chua, Howard Tsang. Tạp chí Managing Intellectual Property, phát hành tại London, tháng 12/2002 – tháng 02/2003, tr. 75; http://proquest.umi.com, truy cập lần cuối ngày 22/07/2004.

11 Điều 15.1 – Hiệp định TRIPS.

12 Peter Groves, Anthony Martino, Claire Miskin, John Richards – “Intellectual property and the Internal market of the European Community”, xuất bản năm 1993 bởi Nxb Graham & Trotman, 1999, tr. 56.

13 Xem Điều 4 – Văn bản hướng dẫn 104/89/EEC.

14 Đây là hai nguyên tắc cơ bản được các quốc gia trên thế giới áp dụng trong việc cho đăng ký bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó, nguyên tắc quyền ưu tiên đăng ký được sử dụng phổ biến hơn so với nguyên tắc quyền ưu tiên sử dụng.

15 Xem khoản 1 – Điều 4 – Văn bản hướng dẫn 89/104/EEC.

16 Xem khoản 2 – Điều 8 – Quy định về nhãn hiệu hàng hóa cộng đồng 40/94/EC.

17 Trong ấn phẩm bằng tiếng Đức của Văn bản hướng dẫn, thuật ngữ này còn được hiểu như là “rủi ro do nhầm lẫn” (risk of confusion)

18 Phán quyết của Tòa án ngày 11/11/1997 về vụ kiện “Sabel v. Puma AG”, số C – 251/95, Tạp chí Tòa án Châu Âu năm 1997, tr. I – 06191.

19 Xem ý kiến của luật sư trong vụ kiện “Masca Mode v. ADIDAS [2000] ETMR. 561 và phán quyết của Tòa án công lý Châu Âu [2000] ETMR. 723 và xem Tạp chí Sở hữu trí tuệ Châu Âu năm 2002, bài “Trade Mark Law and Domain Names: Back to Basics?”, Spyrus M. Maniatis, giảng viên về IP, Đại học Queen Mary, London, tr. 398.

20 Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa (Federal Trade Mark Dilution Act – FTDA) (H.R. 1295) được thông qua bởi Hạ viện Hoa Kỳ ngày 16/12/1995 và bởi Thượng viện vào ngày 29/12/1995.

21 Ý kiến của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ kiện số 01 – 1015 giữa “Victor Mosely and Cathy Mosely, dab Victor’s Little Secret, Petitioners v. V Secret Catalogue, Inc., et al.” [tháng 4/2003].

22 Xem Điều 3 – Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa năm 1995. Và xem “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng – Sự so sánh các điều kiện thực thi nhãn hiệu hàng hóa và các hệ thống pháp luật nhãn hiệu hàng hóa giữa Nhật Bản và Trung Quốc”, Xia Qing, tr. 11.

23 Tạp chí “Public policy and Marketing”, bài “Famous marks now federally protected against dilution”, các tác giả Jeffrey M. Samuels và Linda B. Samuels, tr. 309.

24 Xem Điều 4 – Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu hàng hóa năm 1995.

25 Xem “Mead Data Central v, Toyota Motor Sales, USA”, năm 1989, tr. 1031. “Coca Cola Company v. Gemini Rising” năm 1972, tr. 1183. “American Express Company v. Vibra Approved Laboratories Corporation”, năm 1989, tr. 2006.

26 Xem chú thích số 64.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2006

So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với CÁC MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI

THS. BÙI XUÂN HẢI – ĐH Luật TP.HCM, NCS Luật ĐH La Trobe, Australia

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc tìm hiểu về các mô hình pháp luật điển hình nước ngoài là rất cần thiết cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật về các chủthể kinh doanh. Bài viết này phân tích những điểm cơ bản trong sự so sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần (CTCP) theo luật công ty Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới, mà chủ yếu là của Anh, Mỹ và Đức.

1. Khái quát chung

Luật công ty hiện đại của các dòng họ luật trên thế giới đều phân chia quyền lực trong CTCP, tức là thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công ty, giữa các cổ đông (shareholders) và người quản lý công ty (managers hay directors). Những lý thuyết quan trọng về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước, mà đặc biệt là trong nghiên cứu mang tính kinh điển của Berler và Means.1 Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản trị (the separation of ownership and control), đặc biệt trong các CTCP có nhiều cổ đông, nhất là các công ty niêm yết (listed firms), nơi mà các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ. Cũng từ đó, các lý thuyết về đại diện (agency theory) đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các cổ đông và các nhà quản trị, người ta bàn nhiều về bản chất mối quan hệ giữa cổ đông với người quản lý công ty, việc làm thế nào để hạn chế các hành vi tư lợi của người quản lý và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.2 Những lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance) gắn liền với các ý niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của quản trị công ty tốt.3

Nói một cách khái quát, cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt là các công ty niêm yết, thường theo một trong hai mô hình sau đây: (i) mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng (unitary board hay one-tier board model), và (ii) mô hình hội đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng (dual board hay two-tier board model). Nói đến cấu trúc hội đồng đơn hay kép là nói đến cấu trúc của bộ máy quản lý – điều hành của công ty, chứ không phải của toàn bộ cấu trúc quản trị công ty.

2. Cấu trúc hội đồng một tầng (one-tier board model)

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng (hội đồng đơn) có trong luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (common law) như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada v.v.; cũng như không ít các nước thuộc dòng họ luật thành văn (civil law). Cấu trúc hội đồng đơn, về cơ bản, được xây dựng theo mô hình luật công ty theo kiểu Anglo-American, mà luật công ty Hoa Kỳ là điển hình. Nếu như hơn một thế kỷ trước, trong hệ thống thông luật, người Anh thường tự hào rằng chính họ là những người cung cấp chủ yếu các học thuyết và quy tắc pháp lý về công ty kinh doanh; thì nửa thế kỷ trở lại đây, vai trò này đã bị mất vào tay người Mỹ. Là một thành viên của Liên minh châu Âu (European Union – EU), người Anh đã và đang vất vả trong việc cạnh tranh với người Đức trong việc xây dựng mô hình luật công ty của khối liên minh cũng như gây ảnh hưởng đến các nước thành viên EU. Mô hình quản trị công ty Hoa Kỳ đã lặng lẽ xâm lăng các xứ sở của cả dòng họ common law và civil law, ở ngay cả châu Âu lục địa như Tây Ban Nha, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ý, Aixơlen v.v..

Luật công ty Hoa Kỳ, đặc biệt là luật về công ty của bang Delaware, nơi mà quá nửa trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ chọn để đăng ký kinh doanh, nổi tiếng về cấu trúc hội đồng đơn và sự thân thiện với, hay nói đúng hơn là tập trung quyền lực cho, người quản lý công ty.4 Trong khi Hoa Kỳ có luật chứng khoán liên bang, thì hệ thống luật công ty của họ lại là của các tiểu bang. Vì thế, các bang ở Mỹ đều phải tham gia cuộc đua để có một luật công ty hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Trong cuộc đua này, những tiểu bang dẫn đầu phải kể đến là Delaware, New York, và California. Đó cũng là một trong các lý do khiến cho giới luật học Hoa Kỳ và luật công ty Hoa Kỳ phát triển hết sức mạnh mẽ.

Theo luật công ty Anh–Mỹ, cấu trúc quản trị nội bộ của một CTCP gồm có: đại hội đồng cổ đông (shareholders’ meeting) (ĐHĐCĐ) và hội đồng giám đốc (board of directors) (HĐGĐ). Bộ phận quản trị – điều hành của CTCP chỉ do một cơ quan đảm nhiệm là HĐGĐ – cấu trúc hội đồng đơn (unitary board model). ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn các thành viên của HĐGĐ (thường có từ ba đến hai chục thành viên), đươc gọi là các directors. Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay của HĐGĐ, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty qui định phải thuộc về ĐHĐCĐ. Luật công ty của các nước thuộc dòng họ Anglo-American thường có một qui định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của hội đồng giám đốc (hay các giám đốc).5 Sự phân chia quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan của bộ máy quản trị CTCP vẫn thường thấy trong luật công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Cũng vì thế, HĐGĐ của các công ty theo mô hình Anh – Mỹ có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với những người đồng nghiệp của họ trong hội đồng quản trị công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Thậm chí, ở một số nước, HĐGĐ có một quyền có lẽ sẽ làm ngạc nhiên các cổ đông Việt Nam và nhiều nước khác, đó là việc HĐGĐ – những người làm thuê – lại quyết định việc chia cổ tức cho các cổ đông – những ông bà chủ!

HĐGĐ bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng đầu của bộ phận điều hành là tổng giám đốc (TGĐ) (chief executive officer (CEO) hay managing director (MD)). Pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không có qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của TGĐ (statutory power) như trong pháp luật công ty Việt Nam hay Trung Quốc. Quyền lực của TGĐ sẽ do HĐGĐ quyết định trên cơ sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau. Khác với mô hình TGĐ theo luật Anh – Mỹ, trong mô hình quản trị CTCP theo luật Việt Nam và Luật Công ty 2005 của Trung Quốc thì Tổng giám đốc CTCP xuất hiện như một cơ quan trong bộ máy quản trị, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ đông hay HĐQT chỉ có thể trao thêm chứ không được lấy bớt đi.6 Tuy nhiên, trên thực tế, TGĐ trong mô hình quản trị của Hoa Kỳ được coi là mô hình TGĐ mạnh, nhất là khi Chủ tịch HĐGĐ kiêm nhiệm luôn chức vụ TGĐ, hoặc HĐGĐ ủy quyền mạnh cho TGĐ. Nếu như Chủ tịch HĐGĐ các công ty lớn ở Anh ít kiêm nhiệm chức TGĐ, thì đồng nghiệp Hoa Kỳ của họ lại hay kiêm nhiệm hai chức danh này. Nhưng sau các vụ phá sản của một vài công ty lớn xảy ra đầu thế kỷ 21 ở Mỹ như Enron, WorldCom, Tyco v.v., việc phân tách hai chức danh này trong các CTCP lớn ở Mỹ đã là một xu thế rõ rệt.7

Mô hình quản trị CTCP theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh-Mỹ không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như ban kiểm soát (BKS) trong luật công ty Việt Nam và luật công ty Trung Quốc hay như hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức. Tuy nhiên, trong các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên của HĐGĐ là thành viên độc lập không điều hành (independent non-executive directors) đang thắng thế. Xu hướng này cũng được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu như Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD), các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như Ủy ban Chứng khoán (Securities and Exchange Commission – SEC) của Hoa Kỳ, ASX (Australian Stock Exchange) của Australia; cũng như các ủy ban độc lập của chính phủ nghiên cứu về quản trị công ty (corporate governance) như các Ủy ban Cadbury và Hampel của Anh, Bosch của Úc v.v.. Các thành viên độc lập không điều hành của HĐGĐ sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh giá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của HĐGĐ và giám sát hoạt động của bộ phận điều hành. Tuy nhiên, sự giám sát của một nhóm thành viên trong HĐGĐ đối với các thành viên khác được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả. Bởi vậy, sự giám sát này có thể thiếu tính độc lập và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản trị của CTCP trong cấu trúc quản trị hội đồng hai tầng, cũng như trong luật công ty của Việt Nam và Trung quốc.

3. Cấu trúc hội đồng hai tầng (two-tier board model)

Cấu trúc hội đồng kép có nguồn gốc từ nước Đức, xứ sở của dòng họ luật German civil law. Lịch sử luật công ty của nhân loại không thể phủ nhận thực tế rằng người Đức, cùng với người Anh và người Mỹ đã đóng góp rất lớn cho sự hình thành và phát triển của các lý thuyết và nguyên tắc pháp lý của các mô hình công ty hiện đại ngày nay. Cấu trúc hội đồng kép với sự tham gia của người lao động trong các CTCP (Aktiengesellschaft-AG) đã từng được cho là trái tim của nền dân chủ công nghiệp Đức. Nó cũng phản ánh những ý niệm mang tính lý thuyết khác nhau về công ty giữa người Đức, một trường phái điển hình của dòng họ luật châu Âu lục địa, và Anh – Mỹ của dòng họ luật án lệ.

Sự tham gia của người lao động vào cấu trúc quản trị CTCP theo luật Đức thể hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hướng về những người có quyền lợi liên quan (stakeholder-oriented corporate governance), khác với mô hình quản trị kiểu Anh-Mỹ nhằm hướng tới cổ đông (shareholder-oriented corporate governance).8 Nếu mô hình quản trị công ty Anh–Mỹ tập trung vào bảo vệ nhà đầu tư, chủ yếu là cổ đông; thì cấu trúc quản trị của người Đức và châu Âu, và cả Nhật Bản thường hướng vào việc bảo vệ cả người lao động và chủ nợ. Các nhà làm luật Đức đã khá khôn khéo trong việc sử dụng cơ chế mang tính cấu trúc để dung hòa lợi ích giữa cổ đông và người lao động trong nền dân chủ công nghiệp, đặc biệt là trong các giai đoạn khó khăn xây dựng nước Đức sau chiến tranh. Ở Đức, người lao động có thể được tham gia trực tiếp vào công việc quản trị CTCP; và người làm thuê ở Nhật cũng luôn được quan tâm trong thực tiễn quản trị với chế độ lao động suốt đời và có nhiều nhà quản trị là những ngườilao động lâu năm trong công ty.9

Các chủ nợ ở Đức, Nhật, và châu Âu được bảo vệ mạnh mẽ hơn người cho vay ở Mỹ. Khác với ở Mỹ, nơi mà các cổ đông định chế (institutional investors) thường kiểm soát các CTCP thì các ngân hàng ở Nhật, Đức và châu Âu có vai trò rất lớn trong việc quản trị các CTCP. Sự bảo vệ quá mạnh mẽ người cho vay và người lao động đã làm cho tư bản vốn của những nước này kém năng động hơn so với các nước theo mô hình thị trường tự do kiểu Anh – Mỹ. Giới luật học thế giới, đặc biệt là ở Anh – Mỹ và Đức, đã tốn nhiều giấy mực để bình luận và đánh giá mô hình hội đồng kép với sự tham gia của ngườilao động của nước Đức. Cũng rất thú vị là, chẳng những các giáo sư luật Anh – Mỹ không thích cấu trúc quản trị CTCP vì có phần nặng nề và bảo thủ của người Đức, mà ngay cả nhiều học giả, giáo sư về luật công ty hàng đầu của Đức như Klaus J. Hopt, Horst Siebert, Harald Baum cũng hoài nghi về tính hiệu quả của cấu trúc quản trị này trong môi trường toàn cầu hóa. Nước Đức có thể sẽ giảm mất tính cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài nếu họ cứ cứng nhắc áp đặt cấu trúc quản trị CTCP của mình cho các nhà đầu tư đến từ các nền văn minh công nghiệp khác. Một thực tế là, mô hình hội đồng kép của người Đức ít được áp dụng trên thế giới; và sự cạnh tranh của luật công ty Anh-Mỹ cũng đã khiến người Đức gặp nhiều khó khăn.10 Người Đức cũng đã chẳng mấy thành công để thuyết phục các nước EU láng giềng, nơi mà luật dân sự và thương mại Đức đã ăn sâu cắm rễ, áp dụng cấu trúc quản trị CTCP với mô hình hội đồng kép và sự tham gia của người lao động. Cho đến hiện nay, chỉ có ba nước châu Âu lựa chọn mô hình của người Đức là Áo, Thụy Sĩ và Hà Lan. Một vài láng giềng của người Đức cũng đã tiếp nhận ở mức độ nhất định về đại diện người lao động tham gia vào cấu trúc quản trị CTCP như Đan Mạch, Luxembourg và Thụy Điển.11 Gần đây, Tòa án Châu Âu đã cho phép các công ty đăng ký tại một nước thành viên EU có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh tại các thành viên khác, mà nó vẫn được quản trị theo mô hình của luật công ty ở nước đăng ký thành lập.12 Người Đức cũng thực sự thấy cần phải thay đổi khi mà nhiều nhà đầu tư Đức trong những năm gần đây, đã sang đăng ký thành lập công ty ở một nước EU khác, rồi sau đó quay trở lại Đức hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa của một công ty nước ngoài.

Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i) cấu trúc quản trị- điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc (two-tier board model), và (ii) có thể có sự tham gia nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên (co-determination). Cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP (AG) theo luật Đức gồm có: đại hội đồng cổ đông, hội đồng giám sát (Aufsichtsrat) (HĐGS), và hội đồng quản trị (Vorstand) (BQT).13 Theo luật Đức, việc quản lý-điều hành CTCP được phân chia cho hai cơ quan là: HĐGS và BQT, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, HĐGS nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép (dual board) hay hội đồng hai tầng (two-tier board).

Về nguyên tắc, ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn thành viên của HĐGS. Song, người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của HĐGS theo đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty năm 1952 và 1976.14 Theo đó, tỷ lệ số thành viên của HĐGS do người lao động bầu chọn và cổ đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Đại diện do phía người lao động và cổ đông bầu chọn trong HĐGS đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đối với các CTCP sử dụng trên 500 lao động, một phần ba tổng số thành viên của HĐGS sẽ do phía người lao động bầu chọn. Nếu công ty sử dụng trên 2000 lao động, thì một nửa số thành viên của HĐGS phải là đại diện do người lao động và công đoàn

bầu chọn,15 song, chủ tịch của HĐGS sẽ phải là người do cổ đông lựa chọn, và người này sẽ có lá phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau (casting vote).16 HĐGS có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của BQT (Vorstand). Không những thế, HĐGS còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của BQT.17 BQT thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên của BQT cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với HĐGS.18

Như vậy, HĐGS trong cấu trúc hội đồng hai tầng, ví dụ theo luật Đức, không giống với BKS hayHĐQT trong các CTCP ở Việt Nam. Bởi lẽ: (i) BKS trong CTCP ở Việt Nam do ĐHĐCĐ bầu và chỉ có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của bộ máy quản trị; (ii) nó không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của bộ máy quản lý, điều hành; (iii) cũng không có chức năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về quản trị công ty như HĐGS theo luật Đức.19 Thứ hai, HĐQT theo luật Việt Nam là cơ quan quản lý công ty do ĐHĐCĐ bầu chọn, và chỉ bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn mà thôi. Khác với ở Đức, người lao động trong các CTCP ở Việt Nam không có quyền lựa chọn và cử đại diện của mình tham gia HĐQT cũng như BKS. HĐQT trong các CTCP ở Việt Nam có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm TGĐ và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Nó cũng giám sát bộ máy điều hành, nhưng nó không có chức năng giám sát rộng như HĐGS theo luật Đức vì một phần quyền lực này đã thuộc về BKS của công ty theo luật định. Thứ ba, thành viên của HĐGS theo luật Đức không thể đồng thời có mặt trong BQT, trong khi thành viên của HĐQT trong CTCP của Việt Nam thì có thể nắm giữ các chức vụ điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty

4. Một vài kết luận

Theo luật thực định của Việt Nam, cụ thể là Luật Doanh nghiệp 2005, thì cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấu trúc hội đồng một tầng theo mô hình luật công ty Anh –Mỹ, cũng chẳng phải cấu trúc hai tầng như mô hình của luật Đức. Nó có vẻ là cấu trúc mang tính pha trộn (hybrid model) giữa hai mô hình nói trên. Mô hình quản trị CTCP của Việt Nam cũng không giống mô hình quản trị CTCP Nhật Bản, nơi mà cấu trúc quản trị cũng là sự pha trộn giữa hai mô hình Đức và Mỹ, nó được thể hiện trong Bộ luật Thương mại Nhật 1899 (Commercial Code 1899) và gần đây là Đạo luật Công ty 2005 (the Company Code 2005).20

Điều thú vị là, cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP theo luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với Luật Công ty 2005 của Trung Quốc (sửa đổi Luật Công ty 1993), nơi mà cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP cũng gồm có các cơ quan: ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ, và BKS.21 Như đã phân tích ở trên, HĐQT của CTCP trong luật công ty Việt Nam không giống với HĐGĐ (board of directors) trong luật công ty Anh–Mỹ, cũng không phải là HĐGS (Aufsichtsrat) hay BQT (Vorstand) theo mô hình luật công ty của Đức. HĐQT trong luật công ty Việt Nam không có quyền hạn rộng lớn như HĐGĐ trong cấu trúc hội đồng đơn ở nhiều nước common law. Song, nó có thẩm quyền rộng hơn so với BQT của cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty của một số nước châu Âu. Nếu thành viên BQT theo luật công ty Đức là do HĐGS bổ nhiệm, miễn nhiệm, thì thành viên HĐQT của các CTCP ở Việt Nam lại do ĐHĐCĐ trực tiếp lựa chọn.

Chức năng giám sát trong các CTCP, đặc biệt là các công ty niêm yết, đã và đang là vấn đề được quan tâm trong giới nghiên cứu về luật công ty ở các nước phát triển và công nghiệp hóa. Có thể nói rằng, so với mô hình cơ quan giám sát trong cả hai cấu trúc quản trị phổ biến trên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình BKS độc lập từ HĐQT và do ĐHĐCĐ bầu trong các CTCP ở Việt Nam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu BKS làm việc thực sự như được thiết kế trong luật. Sự hoài nghi về hiệu quả hoạt động của BKS trong các CTCP Việt Nam không phải là không có cơ sở khi mà: (i) vẫn còn tâm lý xem thường vị trí của nó trong các cổ đông và người quản lý công ty, (ii) phần lớn thành viên BKS là người lao động, dưới quyền quản lý – điều hành của chính những người mà họ có bổn phận giám sát. Mô hình BKS không phải do các nhà làm luật Việt Nam gần đây sáng tạo ra, mà nó chính là sự phát triển từ các qui định của Luật Công ty 1990, và xa hơn nữa là, các đạo luật về công ty của chế độ cũ.22 Luật Công ty 1990 đã được xây dựng trên nền tảng của các qui định về công ty trong luật công ty thời thuộc địa Pháp và Bộ luật Thương mại 1972 của chế độ Sài Gòn.

Bên cạnh sự khác nhau về cấu trúc quản trị, sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan trong CTCP theo luật công ty Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải bàn, đặc biệt là giữa ĐHĐCĐ, HĐQT và TGĐ của công ty. Thứ hai, khi mà thế giới đang phát triển theo hướng làm hài hòa những khác biệt (harmonization), các nhà làm luật khôn ngoan đã chấp nhận linh hoạt các mô hình quản trị công ty đểthu hút đầu tư nước ngoài. Vì lẽ đó, một số nước công nghiệp phát triển, chẳng hạn Pháp và Ý, đã ban hành luật cho phép các công ty lựa chọn cấu trúc quản trị trong số các mô hình được pháp luật qui định trên cơ sở các hình mẫu phổ biến trên thế giới. Ví dụ, các CTCP ở Pháp (société anonyme – SA), có thể lựa chọn một trong ba mô hình quản trị: (i) mô hình hội đồng kép theo kiểu Đức, (ii) mô hình hội đồng đơn với sự phân tách hai chức vụ chủ tịch và tổng giám đốc, và (iii) mô hình hội đồng đơn với chức chủ tịch tổng giám đốc (président directeur générale) do một người nắm giữ. 23 Và nên chăng, để có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các nền văn minh pháp lý và mô hình quản trị công ty khác nhau, pháp luật Việt Nam cũng nên biết hài hòa hóa những sự khác biệt qua những qui định mang tính mở và linh hoạt của pháp luật về quản trị công ty.

Chú thích:

1 Trong tác phẩm The Modern Corporation and Private Property (Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân) của Adolf A. Berle & Gardiner C. Means, xuất bản năm 1932 và tái bản năm 1968. Về phân tích các luận điểm của Berle và Means, có thể xem.

2 Về sự tổng hợp các ý niệm liên quan đến agency theory của các học giả thuộc các lĩnh vực khác nhau như luật học, kinh tế, và quản trị học, xem thêm Kathleen M. Eisenhardt, ‘Agency Theory: An Assessment and Review’ trong Thomas Clarke (ed), Theories of Corporate Governance: The Philosophical Foundations of Corporate Governance, 2004, tr. 86-87; H.N. Butler & F.S. McChesney, ‘Why They Give at the Office: Shareholder Welfare and Corporate Philanthropy in the Contractual Theory of the Corporation’ trong Thomas W. Joo (ed), Corporate Governance: Law, Theory and Policy, 2004, tr. 5.

3 Về các quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và OECD về quản trị công ty (corporate governance), xem Bui Xuan Hai, ‘Vietnamese Company Law: The Development and Corporate Governance Issues’, Bond Law Review 18.1, 2006, tr. 31-34.

4 Xem thêm, Yuwa Wei, Comparative Corporate Governance: A Chinese Perspective, 2003, tr. 136.

5 Chẳng hạn, xem Điều 8.01 của Luật mẫu Công ty kinh doanh Mỹ (the Model Business Corporation Act, bản sửa đổi năm 2002); Điều 198A của Đạo luật công ty Úc 2001 (the Corporations Act 2001); Điều 282 của Đạo luật công ty Anh (the Companies Act 1985); Điều 141 (a) của Đạo luật chung về Công ty bang Delaware (Delaware General Corporation Law).

6 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam; Điều 114 Luật Công ty 2005 của Trung Quốc.

7 Bernard Taylor, Leading the Boardroom Revolution, Corporate Governance: An International Review 12(4), 2004, tr.418.

8 Henry Hansmann & Reinier Kraakman, ‘The End of History for Corporate Law’ trong Jeffrey N. Gordon & Mark J. Roe (eds), Convergence and Persistence in Corporate Governance (2004), tr.36-45; Saleem Sheikh & William Rees (eds), Corporate Governance & Corporate Control (reprinted, 2000), tr. 1.

9 Michael Bradley et al, ‘The Purposes and Accountability of the Corporation in Contemporary Society: Corporate Governance at a Crossroads’, Law and Contemporary Problems 62(3) 1999, tr.57, 61, 62.

10 Xem , tr. 19.

11 Xem Weil and Gotshal & Manges LLP (on behalf of the European Commission – Internal Market Directorate General), Comparative Study of Corporate Governance Codes Relevant to the European Union and its Members States, 2002, tr. 3.

12 Xem Horst Siebert, ‘Corporatist Versus Market Approaches to Governance’ in Klaus J. Hopt et al (eds), Corporate Governance in Context: Corporations, States, and Markets in Europe, Japan, and the US , 2005, tr. 292.

13 , 287. Trong các nghiên cứu bằng tiếng Anh ở các nước phương Tây, Aufsichtsrat được dịch là supervisory board, cònVorstand được dịch là managing board. Xét theo nghĩa của thuật ngữ và chức năng của hai cơ quan này, ở đây, Aufsichtsratxin dịch là Hội đồng giám sát, còn Vorstand là Ban quản trị. Song, một số nhà nghiên cứu Việt Nam gọi Aufsichtsrat là Hội đồng quản trị, ví dụ Phạm Duy Nghĩa, Sự thay đổi trong pháp luật công ty CHLB Đức và so sánh với pháp luật Việt Nam,2006, tại website của Tạp Chí Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/.

14 The Industrial Constitution Act (Betriebsverfassungsgesetz) 1952 và the 1976 legislation (Mitbestimmungsgesetz); xem ,

7. Về bình luận liên quan đến sự tham gia của người lao động vào quản trị CTCP ở Đức, xem thêm, Horst Siebert, sđd, tr.

287-292.

15 Xem lời mở đầu của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005 (bản sửa đổi tháng 6 năm 2005) (German Corporate Governance Code) có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006; xem thêm Klaus J. Hopt, sđđ, tr. 4, 7.

16 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd.

17 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd, section 5.1.1, 5.1.2; xem thêm , 5-6.

18 Xem thêm Section 4 của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005.

19 Xem Điều 123 của Luật Doanh nghiệp 2005.

20 Đạo luật Công ty 2005 của Nhật Bản có hiệu lực từ 1.5.2006, thay thế cho các qui định về công ty trong Bộ thương luật 1899. Về Luật Công ty 2005 của Nhật Bản, xem thêm Eiji Takahashi and Madoka Shimizu, ‘The Future of Japanese Corporate Governance: the 2005 Reform’, Zeitschrift fuer Japanisches Recht / Journal of Japanese Law 19, 2005, tr. 35.

21 Xem Section 2, 3, và 4 của Chapter 4 của Luật Công ty Trung quốc 2005.

22 Xem Điều 41-43 của Luật Công ty 1990; về các qui định thời thuộc địa Pháp, xem Nguyễn Văn Thành, Luật Thương mại, 1973, tr. 262-264. Về sự phát triển của Luật công ty Việt Nam trước năm 1975, xem thêm, Bui Xuan Hai, sđd, tr. 23-26; Bui Xuan Hai & Gordon Walker, ‘Transitional Adjustment Problems in Contemporary Vietnamese Company Law’, Journal of International Banking Law and Regulation 20(11), 2005, U.K, tr. 567-568.

23 Về cấu trúc quản trị CTCP ở Pháp, Ý mà một số nước châu Âu, xem W Paul Bishop, ‘Recent Developments in Corporate Governance Practices in France’ in International Financial Law Review (ed), Corporate Governance 2003, 2003, tr. 97; tr. 16; Joelle Simon, ‘Corporate Governance in France: Company Law and Corporate Governance Codes’ in Klaus Hopt et al (ed), European Corporate Governance in Company Law and Codes, 2004, tr. 12-13; và [3.1].

SOURCE: Tạp chí Khoa học số 6/2006

SO SÁNH CẤU TRÚC QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM VỚI CÁC MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI

THS. BÙI XUÂN HẢI – ĐH Luật TP.HCM, NCS Luật ĐH La Trobe, Australia

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc tìm hiểu về các mô hình pháp luật điển hình nước ngoài là rất cần thiết cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật về các chủthể kinh doanh. Bài viết này phân tích những điểm cơ bản trong sự so sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần (CTCP) theo luật công ty Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới, mà chủ yếu là của Anh, Mỹ và Đức.

1. Khái quát chung

Luật công ty hiện đại của các dòng họ luật trên thế giới đều phân chia quyền lực trong CTCP, tức là thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công ty, giữa các cổ đông (shareholders) và người quản lý công ty (managers hay directors). Những lý thuyết quan trọng về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước, mà đặc biệt là trong nghiên cứu mang tính kinh điển của Berler và Means.1 Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản trị (the separation of ownership and control), đặc biệt trong các CTCP có nhiều cổ đông, nhất là các công ty niêm yết (listed firms), nơi mà các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ. Cũng từ đó, các lý thuyết về đại diện (agency theory) đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các cổ đông và các nhà quản trị, người ta bàn nhiều về bản chất mối quan hệ giữa cổ đông với người quản lý công ty, việc làm thế nào để hạn chế các hành vi tư lợi của người quản lý và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.2 Những lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance) gắn liền với các ý niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của quản trị công ty tốt.3

Nói một cách khái quát, cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt là các công ty niêm yết, thường theo một trong hai mô hình sau đây: (i) mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng (unitary board hay one-tier board model), và (ii) mô hình hội đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng (dual board hay two-tier board model). Nói đến cấu trúc hội đồng đơn hay kép là nói đến cấu trúc của bộ máy quản lý – điều hành của công ty, chứ không phải của toàn bộ cấu trúc quản trị công ty.

2. Cấu trúc hội đồng một tầng (one-tier board model)

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng (hội đồng đơn) có trong luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (common law) như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada v.v.; cũng như không ít các nước thuộc dòng họ luật thành văn (civil law). Cấu trúc hội đồng đơn, về cơ bản, được xây dựng theo mô hình luật công ty theo kiểu Anglo-American, mà luật công ty Hoa Kỳ là điển hình. Nếu như hơn một thế kỷ trước, trong hệ thống thông luật, người Anh thường tự hào rằng chính họ là những người cung cấp chủ yếu các học thuyết và quy tắc pháp lý về công ty kinh doanh; thì nửa thế kỷ trở lại đây, vai trò này đã bị mất vào tay người Mỹ. Là một thành viên của Liên minh châu Âu (European Union – EU), người Anh đã và đang vất vả trong việc cạnh tranh với người Đức trong việc xây dựng mô hình luật công ty của khối liên minh cũng như gây ảnh hưởng đến các nước thành viên EU. Mô hình quản trị công ty Hoa Kỳ đã lặng lẽ xâm lăng các xứ sở của cả dòng họ common law và civil law, ở ngay cả châu Âu lục địa như Tây Ban Nha, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ý, Aixơlen v.v..

Luật công ty Hoa Kỳ, đặc biệt là luật về công ty của bang Delaware, nơi mà quá nửa trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ chọn để đăng ký kinh doanh, nổi tiếng về cấu trúc hội đồng đơn và sự thân thiện với, hay nói đúng hơn là tập trung quyền lực cho, người quản lý công ty.4 Trong khi Hoa Kỳ có luật chứng khoán liên bang, thì hệ thống luật công ty của họ lại là của các tiểu bang. Vì thế, các bang ở Mỹ đều phải tham gia cuộc đua để có một luật công ty hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Trong cuộc đua này, những tiểu bang dẫn đầu phải kể đến là Delaware, New York, và California. Đó cũng là một trong các lý do khiến cho giới luật học Hoa Kỳ và luật công ty Hoa Kỳ phát triển hết sức mạnh mẽ.

Theo luật công ty Anh–Mỹ, cấu trúc quản trị nội bộ của một CTCP gồm có: đại hội đồng cổ đông (shareholders’ meeting) (ĐHĐCĐ) và hội đồng giám đốc (board of directors) (HĐGĐ). Bộ phận quản trị – điều hành của CTCP chỉ do một cơ quan đảm nhiệm là HĐGĐ – cấu trúc hội đồng đơn (unitary board model). ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn các thành viên của HĐGĐ (thường có từ ba đến hai chục thành viên), đươc gọi là các directors. Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay của HĐGĐ, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty qui định phải thuộc về ĐHĐCĐ. Luật công ty của các nước thuộc dòng họ Anglo-American thường có một qui định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của hội đồng giám đốc (hay các giám đốc).5 Sự phân chia quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan của bộ máy quản trị CTCP vẫn thường thấy trong luật công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Cũng vì thế, HĐGĐ của các công ty theo mô hình Anh – Mỹ có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với những người đồng nghiệp của họ trong hội đồng quản trị công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Thậm chí, ở một số nước, HĐGĐ có một quyền có lẽ sẽ làm ngạc nhiên các cổ đông Việt Nam và nhiều nước khác, đó là việc HĐGĐ – những người làm thuê – lại quyết định việc chia cổ tức cho các cổ đông – những ông bà chủ!

HĐGĐ bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng đầu của bộ phận điều hành là tổng giám đốc (TGĐ) (chief executive officer (CEO) hay managing director (MD)). Pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không có qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của TGĐ (statutory power) như trong pháp luật công ty Việt Nam hay Trung Quốc. Quyền lực của TGĐ sẽ do HĐGĐ quyết định trên cơ sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau. Khác với mô hình TGĐ theo luật Anh – Mỹ, trong mô hình quản trị CTCP theo luật Việt Nam và Luật Công ty 2005 của Trung Quốc thì Tổng giám đốc CTCP xuất hiện như một cơ quan trong bộ máy quản trị, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ đông hay HĐQT chỉ có thể trao thêm chứ không được lấy bớt đi.6 Tuy nhiên, trên thực tế, TGĐ trong mô hình quản trị của Hoa Kỳ được coi là mô hình TGĐ mạnh, nhất là khi Chủ tịch HĐGĐ kiêm nhiệm luôn chức vụ TGĐ, hoặc HĐGĐ ủy quyền mạnh cho TGĐ. Nếu như Chủ tịch HĐGĐ các công ty lớn ở Anh ít kiêm nhiệm chức TGĐ, thì đồng nghiệp Hoa Kỳ của họ lại hay kiêm nhiệm hai chức danh này. Nhưng sau các vụ phá sản của một vài công ty lớn xảy ra đầu thế kỷ 21 ở Mỹ như Enron, WorldCom, Tyco v.v., việc phân tách hai chức danh này trong các CTCP lớn ở Mỹ đã là một xu thế rõ rệt.7

Mô hình quản trị CTCP theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh-Mỹ không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như ban kiểm soát (BKS) trong luật công ty Việt Nam và luật công ty Trung Quốc hay như hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức. Tuy nhiên, trong các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên của HĐGĐ là thành viên độc lập không điều hành (independent non-executive directors) đang thắng thế. Xu hướng này cũng được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu như Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD), các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như Ủy ban Chứng khoán (Securities and Exchange Commission – SEC) của Hoa Kỳ, ASX (Australian Stock Exchange) của Australia; cũng như các ủy ban độc lập của chính phủ nghiên cứu về quản trị công ty (corporate governance) như các Ủy ban Cadbury và Hampel của Anh, Bosch của Úc v.v.. Các thành viên độc lập không điều hành của HĐGĐ sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh giá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của HĐGĐ và giám sát hoạt động của bộ phận điều hành. Tuy nhiên, sự giám sát của một nhóm thành viên trong HĐGĐ đối với các thành viên khác được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả. Bởi vậy, sự giám sát này có thể thiếu tính độc lập và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản trị của CTCP trong cấu trúc quản trị hội đồng hai tầng, cũng như trong luật công ty của Việt Nam và Trung quốc.

3. Cấu trúc hội đồng hai tầng (two-tier board model)

Cấu trúc hội đồng kép có nguồn gốc từ nước Đức, xứ sở của dòng họ luật German civil law. Lịch sử luật công ty của nhân loại không thể phủ nhận thực tế rằng người Đức, cùng với người Anh và người Mỹ đã đóng góp rất lớn cho sự hình thành và phát triển của các lý thuyết và nguyên tắc pháp lý của các mô hình công ty hiện đại ngày nay. Cấu trúc hội đồng kép với sự tham gia của người lao động trong các CTCP (Aktiengesellschaft-AG) đã từng được cho là trái tim của nền dân chủ công nghiệp Đức. Nó cũng phản ánh những ý niệm mang tính lý thuyết khác nhau về công ty giữa người Đức, một trường phái điển hình của dòng họ luật châu Âu lục địa, và Anh – Mỹ của dòng họ luật án lệ.

Sự tham gia của người lao động vào cấu trúc quản trị CTCP theo luật Đức thể hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hướng về những người có quyền lợi liên quan (stakeholder-oriented corporate governance), khác với mô hình quản trị kiểu Anh-Mỹ nhằm hướng tới cổ đông (shareholder-oriented corporate governance).8 Nếu mô hình quản trị công ty Anh–Mỹ tập trung vào bảo vệ nhà đầu tư, chủ yếu là cổ đông; thì cấu trúc quản trị của người Đức và châu Âu, và cả Nhật Bản thường hướng vào việc bảo vệ cả người lao động và chủ nợ. Các nhà làm luật Đức đã khá khôn khéo trong việc sử dụng cơ chế mang tính cấu trúc để dung hòa lợi ích giữa cổ đông và người lao động trong nền dân chủ công nghiệp, đặc biệt là trong các giai đoạn khó khăn xây dựng nước Đức sau chiến tranh. Ở Đức, người lao động có thể được tham gia trực tiếp vào công việc quản trị CTCP; và người làm thuê ở Nhật cũng luôn được quan tâm trong thực tiễn quản trị với chế độ lao động suốt đời và có nhiều nhà quản trị là những ngườilao động lâu năm trong công ty.9

Các chủ nợ ở Đức, Nhật, và châu Âu được bảo vệ mạnh mẽ hơn người cho vay ở Mỹ. Khác với ở Mỹ, nơi mà các cổ đông định chế (institutional investors) thường kiểm soát các CTCP thì các ngân hàng ở Nhật, Đức và châu Âu có vai trò rất lớn trong việc quản trị các CTCP. Sự bảo vệ quá mạnh mẽ người cho vay và người lao động đã làm cho tư bản vốn của những nước này kém năng động hơn so với các nước theo mô hình thị trường tự do kiểu Anh – Mỹ. Giới luật học thế giới, đặc biệt là ở Anh – Mỹ và Đức, đã tốn nhiều giấy mực để bình luận và đánh giá mô hình hội đồng kép với sự tham gia của ngườilao động của nước Đức. Cũng rất thú vị là, chẳng những các giáo sư luật Anh – Mỹ không thích cấu trúc quản trị CTCP vì có phần nặng nề và bảo thủ của người Đức, mà ngay cả nhiều học giả, giáo sư về luật công ty hàng đầu của Đức như Klaus J. Hopt, Horst Siebert, Harald Baum cũng hoài nghi về tính hiệu quả của cấu trúc quản trị này trong môi trường toàn cầu hóa. Nước Đức có thể sẽ giảm mất tính cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài nếu họ cứ cứng nhắc áp đặt cấu trúc quản trị CTCP của mình cho các nhà đầu tư đến từ các nền văn minh công nghiệp khác. Một thực tế là, mô hình hội đồng kép của người Đức ít được áp dụng trên thế giới; và sự cạnh tranh của luật công ty Anh-Mỹ cũng đã khiến người Đức gặp nhiều khó khăn.10 Người Đức cũng đã chẳng mấy thành công để thuyết phục các nước EU láng giềng, nơi mà luật dân sự và thương mại Đức đã ăn sâu cắm rễ, áp dụng cấu trúc quản trị CTCP với mô hình hội đồng kép và sự tham gia của người lao động. Cho đến hiện nay, chỉ có ba nước châu Âu lựa chọn mô hình của người Đức là Áo, Thụy Sĩ và Hà Lan. Một vài láng giềng của người Đức cũng đã tiếp nhận ở mức độ nhất định về đại diện người lao động tham gia vào cấu trúc quản trị CTCP như Đan Mạch, Luxembourg và Thụy Điển.11 Gần đây, Tòa án Châu Âu đã cho phép các công ty đăng ký tại một nước thành viên EU có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh tại các thành viên khác, mà nó vẫn được quản trị theo mô hình của luật công ty ở nước đăng ký thành lập.12 Người Đức cũng thực sự thấy cần phải thay đổi khi mà nhiều nhà đầu tư Đức trong những năm gần đây, đã sang đăng ký thành lập công ty ở một nước EU khác, rồi sau đó quay trở lại Đức hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa của một công ty nước ngoài.

Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i) cấu trúc quản trị- điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc (two-tier board model), và (ii) có thể có sự tham gia nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên (co-determination). Cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP (AG) theo luật Đức gồm có: đại hội đồng cổ đông, hội đồng giám sát (Aufsichtsrat) (HĐGS), và hội đồng quản trị (Vorstand) (BQT).13 Theo luật Đức, việc quản lý-điều hành CTCP được phân chia cho hai cơ quan là: HĐGS và BQT, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, HĐGS nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép (dual board) hay hội đồng hai tầng (two-tier board).

Về nguyên tắc, ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn thành viên của HĐGS. Song, người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của HĐGS theo đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty năm 1952 và 1976.14 Theo đó, tỷ lệ số thành viên của HĐGS do người lao động bầu chọn và cổ đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Đại diện do phía người lao động và cổ đông bầu chọn trong HĐGS đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đối với các CTCP sử dụng trên 500 lao động, một phần ba tổng số thành viên của HĐGS sẽ do phía người lao động bầu chọn. Nếu công ty sử dụng trên 2000 lao động, thì một nửa số thành viên của HĐGS phải là đại diện do người lao động và công đoàn

bầu chọn,15 song, chủ tịch của HĐGS sẽ phải là người do cổ đông lựa chọn, và người này sẽ có lá phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau (casting vote).16 HĐGS có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của BQT (Vorstand). Không những thế, HĐGS còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của BQT.17 BQT thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên của BQT cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với HĐGS.18

Như vậy, HĐGS trong cấu trúc hội đồng hai tầng, ví dụ theo luật Đức, không giống với BKS hayHĐQT trong các CTCP ở Việt Nam. Bởi lẽ: (i) BKS trong CTCP ở Việt Nam do ĐHĐCĐ bầu và chỉ có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của bộ máy quản trị; (ii) nó không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của bộ máy quản lý, điều hành; (iii) cũng không có chức năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về quản trị công ty như HĐGS theo luật Đức.19 Thứ hai, HĐQT theo luật Việt Nam là cơ quan quản lý công ty do ĐHĐCĐ bầu chọn, và chỉ bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn mà thôi. Khác với ở Đức, người lao động trong các CTCP ở Việt Nam không có quyền lựa chọn và cử đại diện của mình tham gia HĐQT cũng như BKS. HĐQT trong các CTCP ở Việt Nam có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm TGĐ và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Nó cũng giám sát bộ máy điều hành, nhưng nó không có chức năng giám sát rộng như HĐGS theo luật Đức vì một phần quyền lực này đã thuộc về BKS của công ty theo luật định. Thứ ba, thành viên của HĐGS theo luật Đức không thể đồng thời có mặt trong BQT, trong khi thành viên của HĐQT trong CTCP của Việt Nam thì có thể nắm giữ các chức vụ điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty

4. Một vài kết luận

Theo luật thực định của Việt Nam, cụ thể là Luật Doanh nghiệp 2005, thì cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấu trúc hội đồng một tầng theo mô hình luật công ty Anh –Mỹ, cũng chẳng phải cấu trúc hai tầng như mô hình của luật Đức. Nó có vẻ là cấu trúc mang tính pha trộn (hybrid model) giữa hai mô hình nói trên. Mô hình quản trị CTCP của Việt Nam cũng không giống mô hình quản trị CTCP Nhật Bản, nơi mà cấu trúc quản trị cũng là sự pha trộn giữa hai mô hình Đức và Mỹ, nó được thể hiện trong Bộ luật Thương mại Nhật 1899 (Commercial Code 1899) và gần đây là Đạo luật Công ty 2005 (the Company Code 2005).20

Điều thú vị là, cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP theo luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với Luật Công ty 2005 của Trung Quốc (sửa đổi Luật Công ty 1993), nơi mà cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP cũng gồm có các cơ quan: ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ, và BKS.21 Như đã phân tích ở trên, HĐQT của CTCP trong luật công ty Việt Nam không giống với HĐGĐ (board of directors) trong luật công ty Anh–Mỹ, cũng không phải là HĐGS (Aufsichtsrat) hay BQT (Vorstand) theo mô hình luật công ty của Đức. HĐQT trong luật công ty Việt Nam không có quyền hạn rộng lớn như HĐGĐ trong cấu trúc hội đồng đơn ở nhiều nước common law. Song, nó có thẩm quyền rộng hơn so với BQT của cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty của một số nước châu Âu. Nếu thành viên BQT theo luật công ty Đức là do HĐGS bổ nhiệm, miễn nhiệm, thì thành viên HĐQT của các CTCP ở Việt Nam lại do ĐHĐCĐ trực tiếp lựa chọn.

Chức năng giám sát trong các CTCP, đặc biệt là các công ty niêm yết, đã và đang là vấn đề được quan tâm trong giới nghiên cứu về luật công ty ở các nước phát triển và công nghiệp hóa. Có thể nói rằng, so với mô hình cơ quan giám sát trong cả hai cấu trúc quản trị phổ biến trên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình BKS độc lập từ HĐQT và do ĐHĐCĐ bầu trong các CTCP ở Việt Nam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu BKS làm việc thực sự như được thiết kế trong luật. Sự hoài nghi về hiệu quả hoạt động của BKS trong các CTCP Việt Nam không phải là không có cơ sở khi mà: (i) vẫn còn tâm lý xem thường vị trí của nó trong các cổ đông và người quản lý công ty, (ii) phần lớn thành viên BKS là người lao động, dưới quyền quản lý – điều hành của chính những người mà họ có bổn phận giám sát. Mô hình BKS không phải do các nhà làm luật Việt Nam gần đây sáng tạo ra, mà nó chính là sự phát triển từ các qui định của Luật Công ty 1990, và xa hơn nữa là, các đạo luật về công ty của chế độ cũ.22 Luật Công ty 1990 đã được xây dựng trên nền tảng của các qui định về công ty trong luật công ty thời thuộc địa Pháp và Bộ luật Thương mại 1972 của chế độ Sài Gòn.

Bên cạnh sự khác nhau về cấu trúc quản trị, sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan trong CTCP theo luật công ty Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải bàn, đặc biệt là giữa ĐHĐCĐ, HĐQT và TGĐ của công ty. Thứ hai, khi mà thế giới đang phát triển theo hướng làm hài hòa những khác biệt (harmonization), các nhà làm luật khôn ngoan đã chấp nhận linh hoạt các mô hình quản trị công ty đểthu hút đầu tư nước ngoài. Vì lẽ đó, một số nước công nghiệp phát triển, chẳng hạn Pháp và Ý, đã ban hành luật cho phép các công ty lựa chọn cấu trúc quản trị trong số các mô hình được pháp luật qui định trên cơ sở các hình mẫu phổ biến trên thế giới. Ví dụ, các CTCP ở Pháp (société anonyme – SA), có thể lựa chọn một trong ba mô hình quản trị: (i) mô hình hội đồng kép theo kiểu Đức, (ii) mô hình hội đồng đơn với sự phân tách hai chức vụ chủ tịch và tổng giám đốc, và (iii) mô hình hội đồng đơn với chức chủ tịch tổng giám đốc (président directeur générale) do một người nắm giữ. 23 Và nên chăng, để có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các nền văn minh pháp lý và mô hình quản trị công ty khác nhau, pháp luật Việt Nam cũng nên biết hài hòa hóa những sự khác biệt qua những qui định mang tính mở và linh hoạt của pháp luật về quản trị công ty.

Chú thích:

1 Trong tác phẩm The Modern Corporation and Private Property (Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân) của Adolf A. Berle & Gardiner C. Means, xuất bản năm 1932 và tái bản năm 1968. Về phân tích các luận điểm của Berle và Means, có thể xem.

2 Về sự tổng hợp các ý niệm liên quan đến agency theory của các học giả thuộc các lĩnh vực khác nhau như luật học, kinh tế, và quản trị học, xem thêm Kathleen M. Eisenhardt, ‘Agency Theory: An Assessment and Review’ trong Thomas Clarke (ed), Theories of Corporate Governance: The Philosophical Foundations of Corporate Governance, 2004, tr. 86-87; H.N. Butler & F.S. McChesney, ‘Why They Give at the Office: Shareholder Welfare and Corporate Philanthropy in the Contractual Theory of the Corporation’ trong Thomas W. Joo (ed), Corporate Governance: Law, Theory and Policy, 2004, tr. 5.

3 Về các quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và OECD về quản trị công ty (corporate governance), xem Bui Xuan Hai, ‘Vietnamese Company Law: The Development and Corporate Governance Issues’, Bond Law Review 18.1, 2006, tr. 31-34.

4 Xem thêm, Yuwa Wei, Comparative Corporate Governance: A Chinese Perspective, 2003, tr. 136.

5 Chẳng hạn, xem Điều 8.01 của Luật mẫu Công ty kinh doanh Mỹ (the Model Business Corporation Act, bản sửa đổi năm 2002); Điều 198A của Đạo luật công ty Úc 2001 (the Corporations Act 2001); Điều 282 của Đạo luật công ty Anh (the Companies Act 1985); Điều 141 (a) của Đạo luật chung về Công ty bang Delaware (Delaware General Corporation Law).

6 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam; Điều 114 Luật Công ty 2005 của Trung Quốc.

7 Bernard Taylor, Leading the Boardroom Revolution, Corporate Governance: An International Review 12(4), 2004, tr.418.

8 Henry Hansmann & Reinier Kraakman, ‘The End of History for Corporate Law’ trong Jeffrey N. Gordon & Mark J. Roe (eds), Convergence and Persistence in Corporate Governance (2004), tr.36-45; Saleem Sheikh & William Rees (eds), Corporate Governance & Corporate Control (reprinted, 2000), tr. 1.

9 Michael Bradley et al, ‘The Purposes and Accountability of the Corporation in Contemporary Society: Corporate Governance at a Crossroads’, Law and Contemporary Problems 62(3) 1999, tr.57, 61, 62.

10 Xem , tr. 19.

11 Xem Weil and Gotshal & Manges LLP (on behalf of the European Commission – Internal Market Directorate General), Comparative Study of Corporate Governance Codes Relevant to the European Union and its Members States, 2002, tr. 3.

12 Xem Horst Siebert, ‘Corporatist Versus Market Approaches to Governance’ in Klaus J. Hopt et al (eds), Corporate Governance in Context: Corporations, States, and Markets in Europe, Japan, and the US , 2005, tr. 292.

13 , 287. Trong các nghiên cứu bằng tiếng Anh ở các nước phương Tây, Aufsichtsrat được dịch là supervisory board, cònVorstand được dịch là managing board. Xét theo nghĩa của thuật ngữ và chức năng của hai cơ quan này, ở đây, Aufsichtsratxin dịch là Hội đồng giám sát, còn Vorstand là Ban quản trị. Song, một số nhà nghiên cứu Việt Nam gọi Aufsichtsrat là Hội đồng quản trị, ví dụ Phạm Duy Nghĩa, Sự thay đổi trong pháp luật công ty CHLB Đức và so sánh với pháp luật Việt Nam,2006, tại website của Tạp Chí Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/.

14 The Industrial Constitution Act (Betriebsverfassungsgesetz) 1952 và the 1976 legislation (Mitbestimmungsgesetz); xem ,

7. Về bình luận liên quan đến sự tham gia của người lao động vào quản trị CTCP ở Đức, xem thêm, Horst Siebert, sđd, tr.

287-292.

15 Xem lời mở đầu của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005 (bản sửa đổi tháng 6 năm 2005) (German Corporate Governance Code) có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006; xem thêm Klaus J. Hopt, sđđ, tr. 4, 7.

16 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd.

17 Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức, sđd, section 5.1.1, 5.1.2; xem thêm , 5-6.

18 Xem thêm Section 4 của Bộ Qui tắc quản trị công ty Đức 2005.

19 Xem Điều 123 của Luật Doanh nghiệp 2005.

20 Đạo luật Công ty 2005 của Nhật Bản có hiệu lực từ 1.5.2006, thay thế cho các qui định về công ty trong Bộ thương luật 1899. Về Luật Công ty 2005 của Nhật Bản, xem thêm Eiji Takahashi and Madoka Shimizu, ‘The Future of Japanese Corporate Governance: the 2005 Reform’, Zeitschrift fuer Japanisches Recht / Journal of Japanese Law 19, 2005, tr. 35.

21 Xem Section 2, 3, và 4 của Chapter 4 của Luật Công ty Trung quốc 2005.

22 Xem Điều 41-43 của Luật Công ty 1990; về các qui định thời thuộc địa Pháp, xem Nguyễn Văn Thành, Luật Thương mại, 1973, tr. 262-264. Về sự phát triển của Luật công ty Việt Nam trước năm 1975, xem thêm, Bui Xuan Hai, sđd, tr. 23-26; Bui Xuan Hai & Gordon Walker, ‘Transitional Adjustment Problems in Contemporary Vietnamese Company Law’, Journal of International Banking Law and Regulation 20(11), 2005, U.K, tr. 567-568.

23 Về cấu trúc quản trị CTCP ở Pháp, Ý mà một số nước châu Âu, xem W Paul Bishop, ‘Recent Developments in Corporate Governance Practices in France’ in International Financial Law Review (ed), Corporate Governance 2003, 2003, tr. 97; tr. 16; Joelle Simon, ‘Corporate Governance in France: Company Law and Corporate Governance Codes’ in Klaus Hopt et al (ed), European Corporate Governance in Company Law and Codes, 2004, tr. 12-13; và [3.1].

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2006

VỀ QUY ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

THS. PHẠM KIM ANH – Khoa Luật Dân sự, ĐH luật TP.HCM

I. Khái niệm danh dự nhân phẩm

Trong đời sống hàng ngày, thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân; tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức, có thể xảy ra do nhiều tác động khác nhau. Đó có thể là những tác động khách quan song cũng có thể do các hành vi trái pháp luật của cá nhân mang lại. Do đó, Nhà nước ta đã phải sử dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả đó. Điều 609 Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều 615 Bộ luật Dân sự có đề cập đến thiệt hại  về danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng không nêu rõ khái niệm thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tế. Do đó, cần xác định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và hành vi nào được coi là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Theo chúng tôi, danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó. Sự đánh giá của xã hội có thể về mặt lao động như nói người cần cù, siêng năng hay lười nhác, có thể về mặt tinh thần thái độ đối với công việc được giao, trong sinh hoạt cá nhân hay cư xử với mọi người xung quanh như người đó sống nghiêm túc hay buông thả, trong quan hệ với mọi người thì thân ái đoàn kết hay ích kỷ.

Như vậy, danh dự của một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được qua những năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa.

Danh dự là một khái niệm rộng gắn liền với một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định. Danh dự của một cá nhân bao gồm các yếu tố sau:

– Lòng tự trọng: tức là sự tự đánh giá mình, tự ý thức về giá trị, vị trí của mình trong xã hội (chà đạp lên lòng tự trọng của người khác chính là xúc phạm đến danh dự của người đó).

– Uy tín: chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo. Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự.

Ngoài ra có thể hiểu danh dự bao gồm cả nhân phẩm. Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người. Chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm đến danh dự người đó.

Danh dự của một tổ chức là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó.

Nhưng cần phân biệt mặc dù nhân phẩm cũng là một yếu tố của danh dự, song giữa danh dự và nhân phẩm cũng có những điểm khác nhau nhất định:

Nếu danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa thì nhân phẩm lại có từ khi con người mới sinh ra. Danh dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhưng nhân phẩm chỉ là một khái niệm được áp dụng đối với cá nhân. Mặc dù danh dự của một con người được hình thành từ những hành vi và cách cư xử, từ công lao và thành tích của người đó có được qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng mọi người dân đều có quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm như nhau không phân biệt vào công lao, công tác và những đặc điểm riêng của người có quyền; những người không có năng lực hành vi dân sự, những người mất năng lực hành vi dân sự cũng có quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm như mọi cá nhân khác.

Cũng giống như những quyền dân sự khác, quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm của cá nhân chấm dứt khi cá nhân đó chết. Tuy nhiên, cũng có trường hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi danh dự và nhân phẩm cho một cá nhân mặc dù cá nhân đó đã chết.

Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thường thể hiện bằng cách: Dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó. Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý.

Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng của những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại. Ví dụ: Nếu nói một em học sinh quay cóp khi thi mà không đúng sự thật thì cũng là điều đáng chê trách và có thể cũng bị dư luận lên án, nhưng không nghiêm trọng bằng việc nói một nhà văn đã ăn cắp văn của người khác.

II. Quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín và hướng hoàn thiện

Với những điều kiện nhất định, những hành vi nói trên có thể cấu thành hai tội hình sự : Tội vu khống và tội làm nhục người khác được qui định tại Điều 116, 117 Bộ luật Hình sự và do đó việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm sẽ được thực hiện bằng những biện pháp hình sự . Tuy nhiên biện pháp hình sự chỉ áp dụng được trong trường hợp người thực hiện hai hành vi nói trên có lỗi cố ý tức người đó phải tự mình bịa hoặc loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm hạ thấp danh dự người khác. Người có hành vi lăng nhục thì cố ý dùng những lời lẽ khinh bỉ, thiếu văn hóa hay những hành động có tính chất thóa mạ để làm nhục người khác.

Song vì danh dự và nhân phẩm của cá nhân còn bị tổn thương ngay cả trong trường hợp người loan truyền những sự kiện sai sự thật, xúc phạm đến người khác do sơ suất mà tin rằng nó đúng sự thật. Hậu quả là sự xúc phạm ở đây là làm cho người ta đánh giá sai về một người nào đó, hoặc là hình dung sai về tư cách, đạo đức, năng lực của người đó. Sự hình dung sai hay đánh giá sai này bắt nguồn từ một tin tức sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý. Trong những trường hợp đó, danh dự và nhân phẩm của cá nhân, uy tín của một tổ chức vẫn được khôi phục bằng những biện pháp dân sự.

Tuy nhiên cần hiểu rõ việc loan truyền những tin tức sai sự thật này phải thuộc về việc làm, xử sự hay trong một chừng mực nào đó phải có động cơ cá nhân làm cho hành vi ấy trở nên xấu xa thì mới phải cải chính. Còn những đánh giá thông thường thì tuy có thể không đúng về thực chất và là một việc không nên làm xét theo nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa nhưng không phải là những nhận xét tổng hợp gây cho người ta một ấn tượng quá xấu về một người nào đó thì không thể yêu cầu cải chính được. Chẳng hạn người ta có thể nói “Thơ Bút Tre chẳng ra gì”, nhưng không thể nhận xét về một người là thằng đầu trộm đuôi cướp, một thằng tham ô… thì người đó có quyền yêu cầu cải chính và nếu bị thiệt hại thì còn có thể đòi bồi thường.

Quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm là một quyền có tính cách tổng quát được quy định trong Hiến pháp chứ không chỉ thuần túy là một quyền dân sự, nhưng luật dân sự có nhiệm vụ cùng các ngành luật khác bằng những phương tiện riêng của mình góp phần bảo vệ danh dự, nhân phẩm của cá nhân, danh dự, uy tín của một tổ chức một khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Vì quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng là quyền nhân thân nên biện pháp dân sự được dùng để bảo vệ cũng được áp dụng theo Điều 27 Bộ luật Dân sự là:

– Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai.

– Tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần.

Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

– Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thiệt hại.

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Ngoài ra, tùy từng trường hợp ngoài việc buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, Tòa án quyết định người gây thiệt hại do hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần. Khái niệm thiệt hại vật chất đã được quy định rõ trong khoản 2 Điều 310 Bộ luật Dân sự, nhưng thiệt hại về tinh thần thì chưa được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể. Khoản 3 Điều 310 chỉ quy định: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại”.

Vấn đề đặt ra, thế nào là thiệt hại về tinh thần và căn cứ để ấn định mức bồi thường thiệt hại?

Theo chúng tôi, tinh thần là tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm… những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người và thiệt hại về tinh thần là thiệt hại gây ra đối với tâm trạng của con người, thể hiện bằng việc con người phải chịu những lo lắng, đau đớn về tinh thần. Ví dụ như: đau đớn do người thân bị mất, băn khoăn lo lắng do uy tín, nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm, mặc cảm do bị tàn phế, do bị bôi nhọ, làm nhục, bắt giam khi không có tội… Thậm chí chỉ một xâm phạm nhỏ như gán cho một tên gọi rất xấu hoặc cưỡng ép kết hôn hay “quấy nhiễu” sau khi ly hôn cũng làm cho người ta rất khổ tâm. Đây chính là những đau đớn, dằn vặt của nội tâm mà người ta phải chịu. Sự đau khổ này biểu hiện cũng không giống nhau. Những thiệt hại về tinh thần do bị xâm phạm sức khỏe, tính mạng cũng khác với thiệt hại về tinh thần do bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Vì vậy, để tránh tùy tiện khi xét xử thì ngoài những thiệt hại thực tế tính ra được thành tiền, đối với những thiệt hại về tinh thần do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín chỉ nên bồi thường có tính chất tượng trưng. Người bị thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín sau khi đã được người gây thiệt hại xin lỗi, cải chính công khai thì sự thiệt hại về tinh thần trong các trường hợp thông thường có thể coi là đã được khôi phục. Làm việc đó chính là đề cao giá trị của con người, khôi phục con người trở lại vị trí cao cả của nó.

Ngoài ra, do trong Bộ luật Dân sự chỉ xác định thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín mà không coi đây là một trường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy chúng tôi đề nghị cần đưa trường hợp này vào mục 3 của Chương V phần thứ ba của Bộ luật Dân sự, trong đó phải có điều luật quy định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và những hành vi nào bị coi là xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và phải bồi thường.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001

* Tác giả hiện là Truởng Khoa Luật dân sự – Đại học Luật TPHCM