MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THỪA KẾ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

TƯỞNG BẰNG LƯỢNG  – TÒA DÂN SỰ TANDTC

I. Tình hình chung

Sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành, số vụ tranh chấp thừa kế mà Tòa án nhân dân các cấp thụ lý có phần giảm hơn trước. Theo số liệu thống kê thì:

Năm 1998 toàn ngành thụ lý sơ thẩm 1055 vụ án thừa kế, đã giải quyết 633 vụ, trong đó đình chỉ, tạm đình chỉ, cho rút đơn 249 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền 34 vụ, hòa giải thành 112 vụ, xét xử 268 vụ.

Thụ lý phúc thẩm toàn ngành: 226 vụ, đã giải quyết 153 vụ, trong đó giữ nguyên bản án sơ thẩm 54 vụ, sửa một phần bản án sơ thẩm 46 vụ, sửa toàn bộ bản án 12 vụ, hủy án và đình chỉ 3 vụ, hủy để xét xử lại 23 vụ, hủy chuyển vụ án sang cơ quan khác 3 vụ, còn lại là hình thức giải quyết khác.

Năm 1999 toàn ngành thụ lý sơ thẩm 2234 vụ thừa kế, đã giải quyết 1190 vụ, trong đó tạm đình chỉ, đình chỉ, cho rút đơn 390 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền 78 vụ, hòa giải thành 235 vụ, xét xử 487 vụ.

Năm 2000 (theo số liệu tháng 9) toàn ngành đã thụ lý sơ thẩm 1438 vụ, đã giải quyết 917 vụ, trong đó tạm đình chỉ, đình chỉ, cho rút đơn 331 vụ, chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết 52 vụ, hòa giải thành 133 vụ, xét xử 401 vụ.

Số vụ thụ lý phúc thẩm toàn ngành là 464 vụ (số liệu 9 tháng) đã giải quyết 332 vụ, trong đó giữ nguyên bản án sơ thẩm 115 vụ, sửa một phần bản án sơ thẩm 84 vụ, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm 37 vụ, hủy án và đình chỉ 12 vụ, hủy bản án để xét xử lại 49 vụ, hủy bản án và chuyển cơ quan khác 4 vụ, còn lại là các hình thức giải quyết khác.

Sở dĩ có tình trạng Tòa án các cấp thụ lý giảm là do tại Nghị quyết của Quốc hội số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997, kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 9 đã có quyết nghị giao cho Chính phủ căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội tiếp tục nghiên cứu, khảo sát để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành  nghị quyết quy định về các giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1/7/1991 giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức, bao gồm 7 loại trong đó có: Thừa kế nhà ở.

Vì vậy các cơ quan chức năng đã tạm ngừng thụ lý, giải quyết loại việc trên. Sau khi có Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991, các Tòa án bắt đầu thụ lý giải quyết một số việc về thừa kế, trừ trường hợp thừa kế mở trước 1/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia thì vẫn tạm thời chưa thụ lý, giải quyết.

Mặt khác, có trường hợp tranh chấp di sản thừa kế không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như việc tranh chấp quyền sử dụng đất, mà đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo Luật Đất đai năm 1993. Vì loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân, còn theo quy định tại Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 và Thông tư liên tịch số 02 ngày 28/7/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, mà đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 hoặc tranh chấp tài sản là các công trình kiến trúc, cây lâu năm trên đất thì tranh chấp di sản thừa kế đó mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Đó là những lý do làm cho số việc tranh chấp thừa kế được Tòa án các cấp thụ lý, giải quyết ít hơn so với thực tế tranh chấp trong nhân dân.

1. Về chương I: Những quy định chung

Trong quá trình áp dụng phần quy định chung của pháp luật thừa kế chúng tôi nhận thấy trên thực tế chủ thể tranh chấp di sản thừa kế tuyệt đại đa số là giữa cá nhân với cá nhân, chỉ có một số rất ít tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức, cơ quan Nhà nước.

Đối tượng tranh chấp trong các vụ án thừa kế chủ yếu là nhà đất ở và các tài sản trên đất như cây lâu niên, công trình phụ trên đất. Thường giá trị số tài sản này chiếm gần như toàn bộ giá trị số di sản mà các bên yêu cầu giải quyết. Cũng có một số vụ tài sản mà hai bên tranh chấp là tiền, vàng, đồ dùng sinh hoạt như xe đạp, xe máy, xe ô tô du lịch hoặc tài sản tranh chấp vừa có nhà và các tài sản sinh hoạt khác. Việc tranh chấp tài sản là tư liệu sản xuất được giải quyết tại Tòa án mới chỉ xuất hiện vài năm gần đây, số vụ không nhiều và thường là giá trị khối di sản đó cũng không lớn lắm. Đối với các tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp tại Tòa án hầu như không có.

– Về áp dụng pháp luật có một thực tế là: kể từ khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành đến nay, khi giải quyết các tranh chấp thừa kế, nếu việc thừa kế mở trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực thì có những vụ áp dụng Pháp lệnh thừa kế, nếu các giao dịch đó có nội dung và hình thức khác với qui định của Bộ luật Dân sự, nhưng không vi phạm điều cấm hoặc không trái đạo đức xã hội theo qui định của Bộ luật Dân sự; còn các trường hợp khác, cũng như trường hợp thừa kế mở sau khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thì Tòa án mới áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự để xét xử. Đây là một trong những vấn đề phức tạp khi áp dụng pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian qua, nhìn chung chất lượng xét xử của các Toà án về các vụ án thừa kế có nhiều tiến bộ, song vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót, xét xử thiếu thống nhất, hoặc lúng túng khi vận dụng pháp luật, được thể hiện dưới các khía cạnh sau:

– Việc xác định thời điểm mở thừa kế chưa chính xác, như không xác định đúng thời điểm mở thừa kế, có vụ là do giấy khai tử không ghi chi tiết, nên khó xác định, nhưng có nhiều vụ là do người để lại di sản thừa kế đã chết lâu, giấy tờ không còn lưu giữ, chỉ dựa vào trí nhớ, nên mỗi người khai mỗi khác, việc điều tra xác minh không cụ thể, tỉ mỉ nên không làm rõ được thời điểm chết; có vụ mở thừa kế nhiều lần, nhưng Tòa án chỉ tính thời điểm mở thừa kế một lần để chia vì vậy đã bỏ sót người được hưởng thừa kế, chia thừa kế cho cả người đã chết trước người để lại di sản.

– Việc xác định khối di sản cũng có nhiều trường hợp xác định không đúng. Có trường hợp bỏ sót khối di sản là do xác định sai thời điểm mở thừa kế, song có vụ xác định sai khối di sản là do người quản lý khối di sản đã tự ý bán bớt một phần di sản. Tòa án không đưa phần đã bán vào khối di sản; không xác định rõ phần quyền sở hữu về tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác; đặc biệt có vụ di sản đã có sự thay đổi về quyền sở hữu khi Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo nhà cửa hay đã chuyển phần diện tích đất thổ cư thành đất phần trăm khi thực hiện chính sách đất đai, nên đất đó không còn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người để lại di sản, nhưng Tòa án vẫn đưa đất đó vào khối di sản để chia, hoặc tài sản mà người để lại thừa kế đã cho, bán trước khi mở thừa kế vẫn tính vào khối di sản, hoặc người để lại di sản chỉ cho sử dụng chứ chưa định đoạt, chuyển quyền sở hữu cho người khác nhưng Tòa án lại tách ra khỏi khối di sản. Có một thời gian ngắn việc xác định di sản là quyền sử dụng đất không thống nhất, đường lối xét xử không ổn định dẫn đến có trường hợp chỉ xác định di sản là giá trị vật liệu nhà, cây lâu niên trên đất… còn giá trị quyền sử dụng đất không coi là di sản, hoặc chỉ coi giá trị vật liệu nhà và phần đất trên có căn nhà là di sản, còn diện tích đất xung quanh nhà không coi là di sản. Vì đất đó đã được người khác đứng tên trong sổ địa chính hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên người đã đứng tên hoặc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được công nhận là chủ sử dụng đất hợp pháp. Hiện nay, riêng đất trên có nhà, công trình kiến trúc, cây lưu niên; và đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 cho người để lại di sản thì đường lối giải quyết đã thống nhất và đi vào ổn định. Tuy nhiên đối với trường hợp khi mở thừa kế trên đất có nhà, cây lưu niên nhưng sau này do chiến tranh, thiên tai v.v… làm cho nhà và cây lưu niên không còn hoặc do người quản lý di sản tự ý phá đi làm lại nhà mới từ lâu hoặc đối với trường hợp trên đất không có tài sản, đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản mà người để lại di sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993, nhưng người đang quản lý, sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 thì có coi đất đó là di sản hay không? Hiện vẫn còn ý kiến khác nhau trong mỗi ngành cũng như giữa các ngành chức năng với nhau. Các vướng mắc liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất còn nhiều khía cạnh khác nữa, chúng tôi sẽ trình bày sâu ở phần thừa kế quyền sử dụng đất khi có dịp. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến vướng mắc lúng túng trong thực tiễn xét xử khi xác định khối di sản là quyền sử dụng đất.

– Về việc trả thù lao cho người quản lý di sản đã được quy định trong Điều 643, nhưng khi vận dụng vào xét xử còn rất nhiều khác nhau về việc trích thù lao (mặc dù giữa các vụ đó có các điểm tương đồng) như có vụ thì trích rất cao, có vụ rất ít và có vụ không trích thù lao; không tách bạch rõ ràng giữa việc trả thù lao do quản lý di sản với việc thanh toán phần công sức đóng góp do làm tăng giá trị khối tài sản…

– Tuy việc từ chối nhận di sản được quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự, nhưng hầu hết các Tòa án không áp dụng quy định tại khoản 2 và 3 Điều 645. Phần lớp trường hợp đương sự từ chối nhận di sản chỉ cần họ khai báo rõ ràng tại Tòa án là được Tòa án chấp nhận, dù thời hạn từ chối nhận di sản cách thời điểm mở thừa kế có khi cả chục năm, chúng tôi cho đó là cách xử lý phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, góp phần tăng cường đoàn kết trong nhân dân.

– Trường hợp người không được quyền hưởng di sản (Điều 646): trong thực tiễn thường gặp nhất là một bên xuất trình di chúc, bên kia khai đó là di chúc giả mạo, cũng có một số ít vụ bên khai di chúc đó đã được bên kia sửa chữa hoặc hủy di chúc nên di chúc không còn. Qua giám định di chúc (mà một bên coi là giả mạo), qua các chứng cứ khác, Toà án bác di chúc mà một bên xuất trình và chia di sản theo pháp luật cho tất cả các thừa kế, kể cả người đã xuất trình di chúc giả; chỉ có một số ít vụ, Tòa án đã xử không cho người giả mạo di chúc được hưởng di sản. Sở dĩ có nhiều vụ sau khi một bên xuất trình di chúc, mặc dù bị Tòa án bác di chúc, nhưng vẫn cho họ hưởng thừa kế là do hồ sơ không phản ảnh rõ di chúc này do ai làm giả hay ai sửa chữav.v…

2. Về Chương thừa kế theo di chúc

Nếu nghiên cứu dưới góc độ lý luận; kỹ thuật lập pháp và thực tiễn thì có nhiều vấn đề của luật thực định trong chương này cần phải được xem xét, sửa đổi cho rõ ràng, cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Tuy nhiên trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến những sai sót, vướng mắc, thiếu thống nhất hoặc tuy có thống nhất nhưng là sự tự “thống nhất” không áp dụng quy định nào đó của luật trong thực tiễn xét xử thời gian vừa qua như sau:

Có lẽ điểm nổi bật nhất là sự đánh giá khác nhau giữa các Thẩm phán, giữa Tòa án các cấp, giữa Luật sư, Kiểm sát viên trong việc xác định di chúc đó là hợp pháp hay không hợp pháp khi người để lại di sản có nhiều di chúc khác nhau; hoặc tuy có một di chúc nhưng di chúc đó không thực hiện đầy đủ các quy định mà điều luật đã ghi rõ, ví dụ như di chúc miệng (Điều 645) không có người làm chứng, hoặc tuy có đủ hai người làm chứng nhưng họ lại không ghi chép lại ngay hoặc sau đó mới nói lại cho người trong hành thừa kế biết và người trong hàng thừa kế mới ghi chép lại, cũng có vụ người làm chứng lại là người trong diện hưởng thừa kế theo pháp luật còn người kia là người được hưởng thừa kế theo di chúc viết v.v…

Đối với di chúc viết: có bản di chúc không ghi đầy đủ các nội dung như quy định của Điều 656  (không ghi nơi cư trú, thậm chí có trường hợp không ghi rõ nơi có di sản) nhưng vẫn được các Tòa án chấp nhận di chúc đó là hợp pháp, nếu có căn cứ kết luận đó chính là di chúc do người để lại di sản viết ra khi minh mẫn, sáng suốt, không bị ai ép buộc.

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, có rất nhiều trường hợp không phải tự tay người để lại di sản viết mà họ đánh máy, điểm chỉ hay ký rõ ràng, hoặc di chúc có người làm chứng, nhưng những người làm chứng đều là các thừa kế ký vào bản di chúc, còn số người không phải trong diện thừa kế tuy họ có chứng kiến nhưng họ không ký bản di chúc, có trường hợp chỉ có một người ký. Sau này các thừa kế công nhận đó là di chúc của người để lại di sản thì hầu hết được Tòa án công nhận di chúc đó là hợp pháp. Nếu không công nhận di chúc, rất dễ bị Tòa án cấp trên cho là xét xử sai, sửa hoặc hủy án.

Cũng có trường hợp (di chúc viết hoặc di chúc miệng) nội dung di chúc chỉ giao quản lý, sử dụng di sản có điều kiện, nhưng khi điều kiện đã thay đổi, Tòa án vẫn sử dụng theo di chúc; một bên lập di chúc đã định đoạt toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, nhưng có thẩm phán khi xét xử vẫn công nhận toàn bộ di chúc chúng tôi cho là không đúng; nhưng nếu công nhận một phần di chúc thì được ngành coi là xét xử đúng (Trong luật chưa quy định rõ trường hợp này).

Điều 672 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, đó là “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con đã thành niên mà không có khả năng lao động”. Nhưng có vụ người để lại di sản, khi viết di chúc đã không dành lại “phần di sản bằng 2/3 suất của một thừa kế theo pháp luật” cho các đối tượng nói trên, song Tòa án vẫn công nhận toàn bộ di chúc của họ hợp pháp là không đúng; việc áp dụng Điều 676 giải thích nội dung di chúc cũng còn rất khác nhau. Những tranh chấp di sản dùng vào việc thờ cúng khi giải quyết còn gặp vướng mắc và lúng túng dẫn đến sai sót. Nguyên nhân là do điều luật chỉ thiên về việc hướng dẫn cách xử sự của công dân trong một số tình huống, mà chưa dự liệu những trường hợp khác, ví dụ như các thừa kế không thống nhất được với nhau, tranh chấp gay gắt hoặc họ không dùng di sản đó vào việc thờ cúng mà phá đi làm nhà ở… thì giải quyết thế nào? Đó là những khoảng trống pháp lý cần phải được bổ khuyết.

3. Về Chương thừa kế theo pháp luật

Khi áp dụng các quy định của chương này, sai sót thường gặp là không xác định hết những người trong diện được hưởng thừa kế, nên đã bỏ sót họ, hoặc không xác định đúng những người được hưởng thừa kế thế vị, dẫn đến phải hủy bỏ bản án để điều tra xét xử lại.

Việc áp dụng Điều 682 Bộ luật Dân sự về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng, vướng mắc khi xác định “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con”, để cho họ được hưởng di sản thừa kế.

Có một điều cũng đáng lưu ý là: Khi áp dụng chương 2 và 3 (thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật); có một sai sót chung và cũng hay gặp vướng mắc, lúng túng nhiều là khi giải quyết thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đó là các di chúc định đoạt quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản diễn ra trước ngày giải phóng miền Nam năm 1975, trước khi có Hiến pháp năm 1992; vấn đề định giá đất theo khung giá hay theo giá thị trường; vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết các thừa kế quyền sử dụng đất v.v…. Những vấn đề trên, ý kiến giữa các thẩm phán và các cơ quan chức năng cũng còn rất khác nhau.

4. Về Chương thanh toán và phân chia di sản

Sai sót nhiều nhất khi áp dụng các điều luật của Chương này là trong khi khối di sản có thể chia đều hiện vật cho các thừa kế, thì có Tòa án lại chỉ chia cho một số người hoặc một người; nhất là việc định giá không đúng với giá trị thực của di sản, thì việc khiếu kiện sau khi xét xử càng gay gắt. Các trường hợp xử như vậy đều bị sửa án, hoặc hủy bản án để xét xử lại.

Ngoài ra các sai sót do điều tra sơ sài, không tạo dựng đủ các căn cứ cho các quyết định trong bản án như không đi, vẽ sơ đồ, xác định diện tích, giá trị di sản, số lượng di sản, v.v… không đầy đủ; cũng có trường hợp sai sót do phần quyết định không rõ ràng, thiếu cụ thể hay chồng chéo lên nhau, nên không thể thi hành án được; bỏ sót tài sản không phân chia.

5. Về các nguyên nhân dẫn đến các sai sót, vướng mắc khi áp dụng pháp luật thừa kế

1. Do tính ổn định không cao của pháp luật dân sự, đặc biệt là pháp luật đất đai, dẫn đến đường lối giải quyết các tranh chấp thừa kế liên quan đến nhà, đất không ổn định. Mỗi lần pháp luật có sự sửa đổi lớn gây ra những lúng túng và sự khác biệt trong quan điểm giải quyết giữa các ngành, giữa các thẩm phán. Hậu quả của sự lúng túng, không thống nhất là không ít bản án bị cải, sửa, hủy. Mặt khác pháp luật, nhất là pháp luật tố tụng chưa đầy đủ, cụ thể cũng là nguyên nhân dẫn đến sai sót khi xét xử.

2. Bộ luật Dân sự ra đời là một thuận lợi rất lớn cho công tác xét xử. Song có những quy định của pháp luật thừa kế, pháp luật đất đai và các quy định pháp luật khác liên quan chưa thật nhất quán, có điểm chưa hợp lý hoặc chưa chặt chẽ, rõ ràng, nên khó áp dụng; có vấn đề chưa được Bộ luật quy định.

Do Bộ luật có hiệu lực thi hành đã hơn 4 năm nhưng chưa có một văn bản hướng dẫn đầy đủ, có hệ thống về thừa kế, dẫn đến việc hiểu, giải thích rất khác nhau giữa các ngành, các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất v.v…

3. Có một bộ phận Thẩm phán do trình độ còn hạn chế, nên khi kiểm tra xét xử còn phạm những sai lầm rất sơ đẳng; có thẩm phán cấp trên do trình độ không hơn thẩm phán cấp dưới, nên việc cải, sửa, hủy án, y án không đúng. Bên cạnh đó có Thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu đi điều tra, nên hồ sơ làm rất sơ sài nghiên cứu hồ sơ không kỹ, không chịu khó nghiên cứu văn bản, không cập nhật kịp thời các văn bản mới.

Lương Thẩm phán không cao, không đủ đảm bảo cho cuộc sống, làm cho các Thẩm phán chưa thật yên tâm, toàn ý với nghề; có Thẩm phán bị chi phối vì lý do này khác, nên chưa thật vô tư, khách quan trong xét xử cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án thừa kế.

II. Từ thực tiễn xét xử chúng tôi xin có một số kiến nghị tổng quát như sau

1. Chúng tôi cảm thấy Bộ luật Dân sự quy định có phần thiên về hướng dẫn cách xử sự cho công dân, nhưng hầu hết các quy định trong phần thừa kế lại có tính chất dứt khoát; đã thế lại có những quy định chưa sát với tâm lý, tập quán của người dân; trong khi người dân chưa hiểu biết về các quy định này, không hành xử đầy đủ như luật yêu cầu về hình thức thể hiện văn bản. Dù nội dung là đúng ý chí của họ; dẫn đến khó khăn khi áp dụng pháp luật, thậm chí có trường hợp áp dụng theo thực tế cuộc sống, chứ không theo quy định của luật, ví dụ vấn đề từ chối nhận di sản (Điều 645). Vì vậy khi quy định phải tính đến yếu tố tâm lý và trình độ dân trí chung của người dân.

2. Cần phải quy định trong Bộ luật Dân sự theo hướng toàn bộ các tranh chấp thừa kế đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân giải quyết, thì mới tạo ra sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và đường lối xử lý (hiện nay việc tranh chấp thừa kế, nếu thuộc thẩm quyền Tòa án giải quyết thì di sản đó sẽ được chia cho các thừa kế, nếu thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thì nhiều trường hợp người đang quản lý di sản được hưởng cả, chứ không áp dụng các quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự để giải quyết).

3. Cần quy định rõ một số loại quyền cũng thuộc di sản thừa kế (Ngoài quyền sử dụng đất đã được quy định trong Bộ luật Dân sự thì còn có các quyền khác như: quyền sử dụng nhà cho thuê…. Ở Việt Nam nhà nước đã chính thức công nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhà cho thuê, nên quyền này đã được chuyển hóa thành một giá trị nhất định). Vấn đề thừa kế tài sản của doanh nghiệp tư nhân, cần quy định sao cho việc xử lý di sản không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

4. Cần phải quy định rõ hơn nữa về chủ thể trong quan hệ thừa kế mà người thừa kế là: cơ quan, tổ chức… (đặc biệt nếu là cơ quan, tổ chức nước ngoài?).

Cần phải bổ sung vấn đề thừa kế có nhân tố nước ngoài.

Những điều quy định về người quản lý di sản cũng cần có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn xét xử. Không thể để tồn tại quy định bất hợp lý trong luật là người vừa quản lý, sử dụng di sản cũng được hưởng thù lao theo cách thức giống như người chỉ quản lý di sản.

Đưa vào và bổ sung thêm quy định về hạn chế phân chia di sản vào chương các quy định chung của phần thừa kế.

5. Chương thừa kế theo di chúc có rất nhiều điểm không hợp lý về nội dung cũng như cách thức thể hiện. Vì vậy cần có sự sửa đổi căn bản để có thể thực hiện trên thực tế việc tôn trọng ý chí đích thực của người để lại di sản, quy định rõ ràng, đầy đủ và chặt chẽ hơn di chúc miệng và di chúc bằng văn bản, di chúc chung của vợ chồng, vấn đề giải thích di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng v.v… cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

6. Chương thừa kế quyền sử dụng đất cũng nên sửa đổi căn bản theo hướng mọi người đều có quyền hưởng di sản là quyền sử dụng đất (nếu có hạn chế thì chỉ hạn chế việc được nhận hiện vật là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản đối với những trường hợp không có nhu cầu, điều kiện canh tác, v.v…). Liên quan đến việc sửa phần thừa kế quyền sử dụng đất phải sửa cả phần thứ 5

Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai để tạo ra sự nhất quán thì mới tháo gỡ được các vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.

Trên đây chỉ là một vài kiến nghị chung, còn về các kiến nghị có tính chất cụ thể, chi tiết vào từng điều luật cần bổ sung, sửa đổi, hủy bỏ của phần thừa kế thì chúng tôi sẽ trình bày tiếp khi có dịp.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001

 

GÓP PHẦN TÌM HIỂU KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS. BÙI NGỌC CHƯỞNG – PGS. MAI TRUNG HẬU – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

1- Về các khái niệm thị trường, kinh tế thị trường, cơ chế thị trường. Thị trường là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, đồng thời là một trong những hình thức biểu hiện quan hệ sản xuất của những người sản xuất hàng hóa, nên thị trường hoàn toàn có thể mang bản chất xã hội – kinh tế khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của quan hệ sản xuất, trước hết vào chế độ sở hữu thống trị trong từng chế độ xã hội cụ thể.

Kinh tế thị trường (thực chất là tên gọi khác của kinh tế hàng hóa) là nền kinh tế dựa vào thị trường để vận động và phát triển. Từ thế kỷ XIX Ph. Ăng-ghen đã dùng phạm trù “kinh tế tiền tệ” để đối lập với kinh tế tự nhiên. Người viết: “Chính từ đó mà nền kinh tế tiền tệ, đang phát triển, đã thâm nhập, giống như một chất a-xít ăn mòn, vào lối sống cổ truyền của các cộng đồng nông thôn, dựa trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên” (1). V.I. Lê-nin cũng dùng phạm trù kinh tế tiền tệ để nói về một trong hai đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa “một là, chế độ đó dựa vào kinh tế tiền tệ, hai là,… dựa trên cơ sở mua và bán sức lao động” (2). Như vậy, kinh tế thị trường hay kinh tế tiền tệ là phương thức kinh tế đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó các sản phẩm xã hội được trao đổi thông qua vật trung gian là tiền tệ. Nó là một hệ thống kinh tế tồn tại khách quan trên một trình độ phát triển tương ứng của lực lượng sản xuất và trở thành một bộ phận quan trọng của quan hệ sản xuất tương ứng. Nó không phải là một kiểu tổ chức kinh tế do con người tạo ra bằng ý chí chủ quan của mình, mà hình thành một cách khách quan.

Cơ chế thị trường, hay cơ chế kinh tế thị trường không đồng nhất với kinh tế thị trường. Cơ chế kinh tế thị trường hay cơ chế thị trường là guồng máy vận hành của nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường tuy phụ thuộc vào tính chất và yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường, song nó bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, do con người thiết lập nên trên cơ sở nắm bắt các quy luật phát triển khách quan. Nó phản ánh sự vận dụng của con người bằng việc tổ chức ra guồng máy kinh tế “tự do” hay có điều tiết của nhà nước theo yêu cầu vận động khách quan của nền kinh tế thị trường trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Cơ chế thị trường vận động có sự tham gia của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật nhất là quan hệ thị trường cung – cầu và giá cả. Bản chất sâu xa của cơ chế thị trường là cơ chế vận hành theo sự chi phối của quy luật giá trị. Tuy vậy, trong một nền kinh tế hàng hóa cụ thể, sự vận động chung còn tùy thuộc vào chế độ sở hữu thống trị, chịu sự tác động qua lại với các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất chủ đạo, hơn nữa còn chịu sự chi phối của quy luật kinh tế chủ đạo trong phương thức sản xuất đó.

2- Kinh tế thị trường không phải chỉ là sản phẩm của chế độ tư hữu. Trước đây, người ta vẫn nghĩ rằng kinh tế hàng hóa chỉ phát sinh và tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu. Nhưng nguyên nhân hình thành hàng hóa và trao đổi hàng hóa trong buổi đầu của lịch sử ra đời của nó lại chính là sở hữu công cộng tồn tại riêng rẽ nhau giữa các cộng đồng nguyên thủy khi đã có sự phân công, “chuyên môn hóa” sản xuất giữa các cộng đồng đó. C. Mác viết: “… sự trao đổi các sản phẩm phát sinh ở những điểm tiếp xúc giữa các gia tộc, thị tộc, cộng đồng khác nhau, vì ở thời kỳ đầu của nền văn minh thì không phải là những cá nhân riêng biệt, mà là các gia tộc, thị tộc, v.v.. mới tiếp xúc với nhau như những đơn vị độc lập”(3) và “… sự chuyển hóa sản phẩm thành hàng hóa là kết quả của sự trao đổi giữa các công xã khác nhau, chứ không phải giữa những thành viên của cùng một công xã”(4).

Ph. Ăng-ghen cũng viết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của người dã man: đó là sự phân công xã hội lớn đầu tiên… Vì vậy mà lần đầu tiên, đã có thể có sự trao đổi đều đặn. ở các giai đoạn phát triển trước đây, chỉ có thể có những sự trao đổi ngẫu nhiên mà thôi; “…” Lúc đầu, sự trao đổi được tiến hành giữa các bộ lạc thông qua những tù trưởng thị tộc của mỗi bên; nhưng khi những đàn gia súc bắt đầu chuyển thành sở hữu riêng, thì sự trao đổi giữa cá nhân với nhau ngày càng chiếm ưu thế và cuối cùng trở thành hình thức trao đổi duy nhất. Nhưng vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổi với những bộ lạc lân cận, là gia súc; gia súc đã trở thành hàng hóa dùng để đánh giá tất cả các hàng hóa khác… – tóm lại, gia súc đã nhận được chức năng tiền tệ…”(5), “… sự phân công lớn lần thứ hai đã diễn ra: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp… Vì nền sản xuất bị tách ra thành hai ngành chính, nông nghiệp và thủ công nghiệp, nên đã ra đời nền sản xuất trực tiếp nhằm trao đổi, – đó là nền sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa xuất hiện thì đồng thời thương nghiệp cũng xuất hiện, không những trong nội bộ và ở biên giới của bộ lạc, mà cả với những nước ở hải ngoại nữa. Tuy nhiên, tất cả tình hình đó vẫn còn ở hình thái chưa phát triển; những kim loại quý bắt đầu trở thành thứ hàng hóa – tiền tệ phổ biến và chiếm ưu thế, nhưng người ta chưa đem đúc thành tiền, mà chỉ đem trao đổi theo trọng lượng”(6). Cũng theo Ph. Ăng-ghen: “Thời đại văn minh đã củng cố và phát triển tất cả những sự phân công đã có… và thời đại văn minh còn bổ sung vào đó một sự phân công thứ ba, một sự phân công chỉ đặc trưng cho nó, có một ý nghĩa quyết định: sự phân công này sản sinh ra một giai cấp không còn tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là những thương nhân” (7).

Những ý kiến nêu trên của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, cho phép chúng ta khẳng định rằng: Kinh tế thị trường (kinh tế hàng hóa) không chỉ gắn với chế độ sở hữu tư nhân mà còn gắn với chế độ sở hữu công cộng thuộc các cộng đồng khác nhau như đã từng diễn ra trong lịch sử.

3- Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa có nguồn gốc lịch sử từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn trước đó, nhưng lại có sự khác biệt lớn: Kinh tế hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H – T – H (bán hàng lấy tiền để mua hàng), còn nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức mà C. Mác đã nêu là T – H – T (lấy tiền mua hàng, bán hàng lấy được tiền nhiều hơn số tiền đã mua). Công thức này phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư của lao động làm thuê. Giá trị thặng dư biểu hiện trên bề mặt xã hội dưới hình thức lợi nhuận. Kinh tế hàng hóa giản đơn dưới sự tác động của quy luật giá trị dẫn đến phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, hình thành mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu lớn của chủ nghĩa tư bản không chỉ chịu tác động của quy luật giá trị mà còn chịu tác động của quy luật giá trị thặng dư, là quy luật kinh tế cơ bản, hay tuyệt đối (theo C. Mác) và tồn tại trong hệ thống các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa tư bản.

4- Từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến lên phương thức sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nảy sinh tất yếu kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tuy vẫn chịu tác động của quy luật giá trị (quy luật chung của kinh tế thị trường), nhưng đồng thời cũng chịu tác động của quy luật kinh tế cơ bản (quy luật quy định mục đích khách quan của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội), và các quy luật kinh tế khác của xã hội xã hội chủ nghĩa.

Do có sự khác nhau về bản chất giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nên cơ chế thị trường của hai nền kinh tế này cũng khác nhau. Cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho sự vận hành của nó phù hợp với các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, trong đó quy luật sản xuất ra giá trị thặng dư giữ vai trò quyết định, nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều cho các nhà tư bản, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia. Còn cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho sự vận hành của nó phù hợp với quy luật kinh tế cơ bản và các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa xã hội. Ở đây, Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có vai trò rất quan trọng. Nhà nước định hướng nền kinh tế thị trường bằng những chính sách kinh tế vĩ mô và luật pháp, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và quy luật phát triển có kế hoạch cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đưa những tiến bộ khoa học – kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, làm ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá rẻ, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trên cơ sở đó, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho mỗi thành viên và cả cộng đồng, củng cố và phát triển vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa.

5- Đã có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì tất nhiên cũng có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nước ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Đó là một thực tế khách quan. Do đó, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng coi đó là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế. Đây không chỉ là một định hướng nền kinh tế, mà hơn thế nữa còn là vấn đề chính trị, thể hiện lập trường chính trị đúng đắn, kiên định của Đảng ta, là cái phân biệt trước hết với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đúng như V.I. Lê-nin đã viết: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế… không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất” (8).

Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta như Đại hội IX của Đảng chỉ rõ, bao gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể với những hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế đó dựa trên những hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí có lúc đối lập nhau về bản chất kinh tế – xã hội, vừa hợp tác cùng có lợi, vừa cạnh tranh phát triển trong một chỉnh thể, tạo thành những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, do đó cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vẫn diễn ra hằng ngày, hằng giờ nhưng có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. Nền kinh tế thị trường vận hành theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở các nhân tố cơ bản về kinh tế, chính trị sau đây:

Về kinh tế: Trong các thành phần kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Có quan điểm cho rằng, nếu thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì không thực hiện được bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Quan niệm như thế là hoàn toàn không đúng. Nếu phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về thực chất là phủ nhận cơ sở kinh tế, công cụ kinh tế, lực lượng kinh tế quan trọng của Nhà nước để thực hiện việc định hướng xã hội chủ nghĩa. Thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không có nghĩa là làm mất đi sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà ngược lại, Nhà nước thấy rõ vai trò động lực phát triển mạnh mẽ của việc hình thành luật chơi chung cho các thành phần kinh tế trên cơ sở tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để bảo đảm tính hiệu quả chung về kinh tế – xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đang tìm cách hoàn thiện hệ thống pháp chế, xây dựng một hành lang pháp lý bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế phát triển hết khả năng của mình trong sự hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Để củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Nhà nước cần chú trọng trước hết đến việc làm cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, trong đó phải sớm khắc phục tình trạng kém hiệu quả của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước bằng cách đẩy mạnh đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Các giải pháp cơ bản trước mắt là, kiên quyết xóa bỏ bộ chủ quản, để các doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi và đóng góp cho ngân sách nhà nước theo luật định. Các bộ chỉ thực hiện việc quản lý nhà nước theo pháp luật, không can thiệp vào công việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Xúc tiến mạnh mẽ việc cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, thực hiện chế độ “đồng sở hữu”, “chế độ quản lý dân chủ” và chế độ “tham gia phân phối lợi nhuận” của tất cả các thành viên. Đối với các doanh nghiệp có tầm quan trọng đối với quốc kế, dân sinh, nhà nước có thể giữ lại không cổ phần hóa, cũng phải tiến hành đổi mới theo hướng dân chủ hóa. Việc bổ nhiệm các chức danh quản lý, đặc biệt là giám đốc doanh nghiệp, nên thông qua chế độ thi tuyển để chọn người có đạo đức, phẩm chất, có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi (coi giám đốc cũng là một nghề) và kèm theo đó là phải có chế độ đãi ngộ nhân tài thật thỏa đáng. Thực hiện cơ chế để công nhân tham gia quản lý và giám sát hoạt động của doanh nghiệp, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp phải được công khai hóa, minh bạch hóa.

Nói tóm lại, muốn đưa doanh nghiệp nhà nước phát triển mạnh mẽ, vấn đề then chốt là phải có một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, một đội ngũ công nhân lành nghề, chế độ quản lý dân chủ và có hiệu quả. Muốn vậy, phải củng cố tổ chức của Đảng trong doanh nghiệp, lựa chọn những cán bộ, đảng viên am hiểu về kinh tế để tăng cường đội ngũ cán bộ lãnh đạo của các tổ chức đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là hai nhân tố chính trị căn bản bảo đảm sự thành công của đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai nhân tố này thể hiện tính tự giác, khắc phục tính tự phát của kinh tế thị trường và mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế đang do chủ nghĩa tư bản chi phối, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đề ra các chính sách kinh tế vĩ mô và thiết lập cơ chế thị trường sao cho các thành phần kinh tế khác nhau vận động theo cùng một hướng tạo thành một hợp lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, ai muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn thay thế sự lãnh đạo của Đảng bằng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo quan điểm dân chủ tư sản phương Tây, thực chất là phủ nhận con đường đúng đắn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

6- Vấn đề là ở chỗ, phải củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ then chốt xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh việc cải cách nền hành chính quốc gia, nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu của nó, đang và sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để bắt kịp thời đại, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý. Điều đó có nghĩa là phải tạo ra được một bước ngoặt chiến lược về ý thức, nhận thức đối với tri thức khoa học, công nghệ (theo nghĩa rộng), làm cho khoa học, công nghệ ngày càng phục vụ đắc lực hơn cho sự nghiệp cách mạng. Trước hết là sử dụng công nghệ thông tin vào công tác lãnh đạo và quản lý, qua đó Đảng và Nhà nước có thể lựa chọn được những phương án tối ưu cho công tác lãnh đạo và quản lý, xử lý kịp thời và đúng đắn những tình huống phức tạp trong kinh tế và chính trị.

Lãnh đạo và quản lý khoa học không thể tách rời lương tri (đạo đức). Như người ta thường nói “khoa học mà không có lương tri thì chỉ là sự tàn lụi của tâm hồn”. Do đó, trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần đưa vấn đề củng cố nền tảng đạo đức cách mạng của Đảng, của cán bộ, đảng viên lên hàng đầu. Có quy chế bắt buộc cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng dưới sự theo dõi, giám sát của tổ chức đảng và của quần chúng. Trước hết, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vốn đang là vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội. Làm cho Đảng thật sự trong sạch và vững mạnh, xứng đáng là đại biểu cho lương tâm và trí tuệ của thời đại, củng cố vững chắc mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Đó chính là sức mạnh vô địch của Đảng cầm quyền.

Đảng và Nhà nước quan tâm sử dụng đội ngũ chuyên gia cao cấp trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế – tài chính để giúp Đảng trong công tác lãnh đạo và Nhà nước trong công tác quản lý. Có chính sách và cơ chế tuyển chọn nhân tài, đưa họ vào những cương vị xứng đáng, để họ đem hết tài năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong “xã hội thông tin”, giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách với các nước có nền công nghiệp tiên tiến.

Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển đội ngũ những doanh nhân trẻ có đủ đức độ và tài năng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Đây là lực lượng nòng cốt, làm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hết sức coi trọng việc xây dựng, phát triển giai cấp công nhân theo hướng hiện đại hóa, trí thức hóa; không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của họ, để họ làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình trong việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trong khi xây dựng những chính sách và cơ chế thông thoáng đối với các thành phần kinh tế, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững, Nhà nước cần thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát, thực hành tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả từng đồng vốn đầu tư, kịp thời ngăn chặn và xử lý những hiện tượng tiêu cực trên thị trường trái với định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước kiến tạo nên một thị trường cạnh tranh lành mạnh, văn minh.


(1) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 21, tr 168

Xem: V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, t 3, tr 737

(3) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1993, t 23, tr 510-511

(4) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1994, t 25, phần I, tr 270

(5) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1995, t 21, tr 237-238

(6) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, t 21, tr 242 – 243

(7) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, t 21, tr 246

(8) V.I. Lê-nin: Sđd, t 42, tr 349-350

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SÔ 1 (122) NĂM 2007

THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH

▪ Hồ sơ cần thiết:

– Đơn khởi kiện (theo mẫu)

– Các tài liệu liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ nhà, đất, hợp đồng…)

– Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có sao y) nếu là cá nhân;

– Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có sao y) nếu là pháp nhân.

– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

▪ Lệ phí:

1/ Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.

2/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 50.000 đồng.

3/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định như sau:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a/ Từ 1.000.000 đồng trở xuống.

50.000 đồng

b/ Từ trên 1.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

5% của giá trị tài sản có tranh chấp.

c/ Từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

5.000.000 đồng + 4% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 100.000.000 đồng.

d/ Từ trên 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

9.000.000 đồng + 3% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 200.000.000 đồng.

  đ/ Từ trên 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.

18.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 500.000.000 đồng.

e/ Từ trên 1.000.000.000 đồng .

28.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 1.000.000.000 đồng.

4/ Mức án phí dân sự phúc thẩm đối với tất cả các vụ án dân sự là 50.000 đồng.

5/ Đối với vụ án hôn nhân và gia đình mà có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, thì ngoài việc chịu án phí quy định tại mục 2, các đương sự còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch quy định tại mục 3 tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng.

Nộp tiền tạm ứng án phí

Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong các vụ án dân sự không có giá ngạch hoặc có giá ngạch từ 1.000.000 đồng trở xuống phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 50.000 đồng, trong các vụ án dân sự có giá ngạch quy định tại các điểm b, c, d, đ, e mục 3 phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 50% của mức án phí sơ thẩm mà án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo theo mức quy định tại Điều 8 của Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

Trích “Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí án”.

▪ Thời gian giải quyết:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

▪ Địa điểm tiếp nhận:
Tổ thụ lý – Văn phòng Tòa án nhân dân ở địa phương

SOURCE: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÀI Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬT THỰC ĐỊNH HIÊN HÀNH VÀ QUAN ĐIỂM KHOA HỌC TRONG BÀI “HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ”

THS. NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Nhân đọc bài “Hòa giải trong Tố tụng dân sự – Nhìn từ góc độ kinh tế” của tiến sĩ luật Lê Nết trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 2 (33)/2006 (từ trang 31 đến trang 38), chúng tôi xin có vài ý kiến trao đổi về vấn đề liên quan đến luật thực định hiện hành và quan điểm khoa học được tác giả thể hiện trong bài viết ở các nội dung sau:

1. Về những vấn đề liên quan đến quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện hành về hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân

1.1 Thứ nhất: Về vấn đề giá trị pháp lý của biên bản hòa giải trong tố tụng dân sự

Tại phiên hòa giải thư ký ghi biên bản hòa giải. Nếu các bên đương sự thoả thuận được tất cả mọi vấn đề tranh chấp thì đó là biên bản hòa giải thành. Trường hợp các bên không thống nhất thì đó là biên bản hòa giải không thành. Các biên bản này là căn cứ pháp lý để Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên trong quy định của pháp luật không bao giờ cho phép các đương sự kháng cáo đối với biên bản này theo thủ tục phúc thẩm và cũng không có thủ tục giám đốc thẩm áp dụng đối với biên bản hòa giải thành. Quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) chỉ cho phép đương sự có quyền thay đổi ý kiến trong biên bản (khoản 1 Điều 187). Hơn nữa quyền kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự chỉ áp dụng đối với bản án, quyết định chứ không thể áp dụng đối với biên bản hòa giải.

Vì vậy khi TS. Lê Nết viết rằng: “Biên bản hòa giải sau này có thể coi là sai về mặt tố tụng và bị kháng cáo, thậm chí giám đốc thẩm” (trang 37) chúng tôi cho rằng chưa chính xác so với quy định trong BLTTDS hiện hành.

1.2 Thứ hai: Vấn đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 của BLTTDS: “Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực thi hành ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”.

Tuy nhiên trong bài viết khi viện dẫn Điều 187 và 188 BLTTDS tác giả nhận đinh: “Việc phải đợi thêm 7 ngày sau khi có biên bản hòa giải mới ra quyết định công nhận hòa giải của các bên, rồi 15 ngày sau quyết định này mới có hiệu lực sẽ khiến cho các bên có thời gian suy nghĩ lại hay cố tình kéo dài vụ việc bằng cách phản đối lại những gì mình đã thoả thuận trong biên bản trước đó… Thời gian phúc thẩm quyết định công nhận hòa giải thành nếu có chỉ dựa trên những căn cứ do việc áp dụng pháp luật của Thẩm phán có sai sót chứ không phải do đương sự không đồng ý với những gì mình đã ký trong biên bản mà không có lý do chính đáng” (trang 38).

Trong nội dung này chúng tôi có hai ý kiến:

– Theo quy định của Điều 187 sau khi Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự thì đương sự không được quyền thay đổi ý kiến đã thể hiện trong biên bản hòa giải thành nữa. Họ chỉ có quyền này trong hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản, tức trước thời điểm ban hành quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự . Do vậy không thể hiểu là đương sự có thể gây khó khăn cho bên kia sau khi đã có quyết định bằng việc thay đổi ý kiến của mình.

– Theo quy định tại Điều 188, quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự có hiệu lực ngay, không bao giờ có thủ tục phúc thẩm đối với quyết định này. Do đó khi tác giả phân tích Điều 188 theo hướng cho rằng quyết định này sau 15 ngày mới có hiệu lực và có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (trang 38) là không đúng với quy định của pháp luật hiện hành.

2. Về quan điểm khoa học liên quan đến thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự

2.1 Thứ nhất: Chúng tôi đồng quan điểm với tác giả khi cho rằng: hòa giải trong tố tụng khác với hòa giải ngoài tố tụng. Tuy nhiên, khi tác giả lập luận và đưa ra nhận định về hòa giải trong tố tụng: “Như vậy, hòa giải là biện pháp có hòa giải” (trang 32) thì, theo chúng tôi, cách nhận định này không thể hiện đúng bản chất pháp lý của hòa giải trong tố tụng dân sự do tòa án thực hiện. Bởi lẽ hòa giải trong tố tụng là do tòa án chủ động triệu tập đương sự theo quy định của pháp luật. Khi đương sự có mặt, Thẩm phán sẽ chủ trì phiên hòa giải, đương sự có toàn quyền định đoạt trong quá trình hòa giải, nhưng Thẩm phán có nghĩa vụ xem xét để công nhận hoặc không công nhận nội dung các bên đã thỏa thuận trong phiên hòa giải. Do vậy nếu hiểu: Hòa giải là biện pháp có hòa giải thì không thể hiện được tính chất của hòa giải nói chung và hòa giải trong tố tụng dân sự nói riêng. Đồng thời cũng không thể phân biệt được hòa giải trong tố tụng khác với hòa giải ngoài tố tụng về bản chất pháp lý của khái niệm.

Theo chúng tôi, hòa giải trong tố tụng là thủ tục bắt buộc do tòa án chủ động thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm giúp các bên đương sự thoả thuận giải quyết tranh chấp trong quá trình tố tụng. Kết quả của việc hòa giải có thể được tòa án công nhận và có giá trị pháp lý để thi hành.

2.2 Thứ hai: Chúng tôi không đồng tình với quan điểm của tác giả cho rằng: “Muốn đẩy nhanh phương thức hòa giải nên chăng tòa án nên tăng mức bồi thường thiệt hại cho bên thua kiện khi đưa vụ án ra xét xử. Luật Sở hữu trí tuệ vừa thông qua ngày 25/11/2005 vừa qua đã lựa chọn phương án này. Tại Chương V của Luật có quy định tòa án có quyền tự ấn định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại do hành vi của bị đơn gây ra. Mức bồi thường thiệt hại được ấn định tối đa là 500 triệu đồng” (trang 34).

Theo chúng tôi, nếu tòa án tự mình ấn định mức bồi thường thiệt hại là trái pháp luật. Ngược lại, tòa chỉ được xác định mức bồi thường dựa trên cơ sở những chứng cứ bên yêu cầu cung cấp mà được pháp luật chấp nhận. Việc tác giả viện dẫn Chương V của Luật Sở hữu trí tuệ để lý giải điều này lại càng không đúng. Vì toàn bộ Chương V của Luật Sở hữu trí tuệ là các quy định về: “Chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan”. Chúng tôi không tìm thấy trong Chương V của Luật Sở hữu trí tuệ có bất kỳ một quy định nào liên quan đến nội dung được trình bày trong bài viết của tác giả.

Tuy nhiên tại chương XVII của Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 205 có quy định căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định: “Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:

a/ Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;

b/ Giá chuyển giao quyền sử dụng đối với đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;

c/ Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và b khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do tòa án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không quá năm trăm triệu đồng…”.

Điều này có nghĩa nguyên đơn phải chứng minh được mình có thiệt hại vật chất do bị đơn gây ra nhưng không có căn cứ áp dụng theo cách tính tại điểm a và b nêu trên thì tòa án sẽ xem xét tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại để ấn định một mức bồi thường cụ thể nhưng không quá năm trăm triệu đồng. Như vậy khi nguyên đơn không chứng minh được mình có thiệt hại do hành vi của bị đơn gây ra thì tòa không thể buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn.

3.3 Thứ ba: Tại trang 32 tác giả nhận định: “Nhìn chung Luật tố tụng dân sự Việt Nam đã có những cải cách để làm tốt được vai trò thứ nhất thông qua các quy định gần đây trong Luật Sở hữu trí tuệ, song vẫn chưa làm tốt được vai trò thứ hai”. Và vai trò thứ nhất trong cách lý giải của tác giả tại trang 32 là:

“Thứ nhất là làm cho quá trình kiện tụng và thi hành án khó khăn hơn (các bên khi đó sẽ chọn phương án hòa giải cho nhanh chóng)”.

Chúng tôi cho rằng quan điểm này về mặt khoa học không phù hợp bởi Luật Sở hữu trí tuệ không phải là sự triển khai tiếp theo của Luật Tố tụng dân sự về cả nội dung cũng như mục đích. Do đó không thể nhận định rằng Luật Tố tụng dân sự thực hiện được vai trò của nó thông qua các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Mặt khác, dù hiểu thế nào đi chăng nữa cũng không thể cho rằng vai trò của Luật Tố tụng dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ là nhằm làm cho quá trình kiện tụng và thi hành án khó khăn hơn để từ đó các bên e ngại mà phải chọn việc hòa giải thay cho việc xét xử. Cách lập luận này e rằng trái với quan điểm lập pháp của nhà nước pháp quyền trong bối cảnh của công cuộc cải cách tư pháp hịên nay. Bởi vì sự ra đời và hiện diện của Luật Tố tụng dân sự là nhằm giúp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp trước cơ quan tài phán nhà nước. Vì vậy, sự tiến bộ của Luật là các quy định thông thoáng, phù hợp để bảo đảm cho đương sự thực hiện tốt nhất quyền tố tụng của họ chứ không nhằm cản trở hoặc làm cho họ sợ mà không dám tham gia tố tụng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2006

CÔNG VĂN SỐ 12/ĐKGDBD-NV VỀ GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP, BẢO LÃNH BẰNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

BỘ TƯ PHÁP
CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA
GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
******
Số: 12/ĐKGDBĐ-NV
V/v: Giải đáp một số vướng mắc khi đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2006

Kính gửi: Ngân hàng TMCP Á Châu

Trả lời Công văn số 126/CV-PC.06 ngày 17/01/2006 của Quý Ngân hàng về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai (sau đây gọi tắt là công văn số 126/CV-PC.06), Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm có ý kiến như sau:

1. Về tài sản bảo đảm là tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai

Theo quy định tại khoản 2 Điều 320 Bộ luật dân sự thì “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

Như vậy, để xác định mọt tài sản bảo đảm là vật hình thành trong tương lai thì chỉ căn cứ vào thời điểm vật đó thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Cụ thể, nếu vật thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết thì được coi là vật hình thành trong tương lai, không phụ thuộc vào việc đó là động sản hay bất động sản, đã được hình thành hay đang trong quá trình hình thành (ví dụ như công trình đang được đầu tư, xây dựng mới, hay sản phẩm đang trong quá trình sản xuất).

Căn cứ vào quy định nêu trên tại Bộ Luật Dân sự, chúng tôi cho rằng:

Thứ nhất, việc ngân hàng ACB nhận bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai là công trình xây dựng hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, công trình xây dựng là tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tại thời điểm nghĩa vụ được xác lập (ngân hàng thực hiện việc cho vay) hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết, khách hàng vay chưa hoàn tất thủ tục xác lập quyền sở hữu của mình đối với công trình đó. Do đó, công trình có thể là đang được xây dựng hoặc đã hoàn thành việc xây dựng nhưng chưa làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Về thời hạn thực hiện giấy phép xây dựng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 16/2006/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì:

“trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng mà công trình chưa được khởi công thì người xin cấp giấy phép xây dựng phải xin gia hạn giấy phép xây dựng”.

Như vậy, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng, người được cấp giấy phép xây dựng phải khởi công công trình xây dựng, nếu không thì phải xin gia hạn giấy phép xây dựng. Quy định trên hoàn toàn không có nghĩa là công trình phải được xây dựng xong trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp giấy phép xây dựng. Do vậy, việc “Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận 7, quận 12, quận Gò Vấp yêu cầu tại thời điểm đăng ký thế chấp, bảo lãnh, giấy phép xây dựng không được quá thời hạn 12 tháng” (trích Công văn số 126/CV-PC.06) là không có căn cứ pháp lý và không phù hợp với quy định về hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

3. Về đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Theo quy định tại điểm 2.3 khoản 2 Mục I của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT thì việc “thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai” là một trong những trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nếu các tài sản nêu trên cùng được thế chấp, bảo lãnh theo một hợp đồng. Khi thực hiện đăng ký đối với trường hợp nêu trên, người yêu cầu đăng ký chỉ nộp một bộ hồ sơ đăng ký, trong đó quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm được kê khai trong cùng một Đơn.

Như vậy, việc “cơ quan đăng ký yêu cầu phải tách thành hai đơn: Đơn đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và Đơn đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất” (trích Công văn số 126/CV-PC.06) là trái với quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT.

Trên đây là ý của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, xin gửi Quý Ngân hàng nghiên cứu, tham khảo.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh;
– Vụ Đất đai – Bộ TN và MT (để phối hợp);
– Vụ Pháp chế – Ngân hàng Nhà nước (để biết);
– Cục trưởng Cục ĐK (để báo cáo);
– Lưu Cục ĐK, Phòng NV.

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Trần Đông Tùng

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Thi hành án là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác nó là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân khi bị xâm hại. Hiệu quả của hoạt động thi hành án phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án.

Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 đã chỉ rõ cần “ Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án”. Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và thực tiễn thi hành án dân sự, từ đó đóng góp các ý kiến cho vào việc xây dựng trình tự, thủ tục thi hành án khoa học, hợp lí hơn, có tính đến các đặc thù của từng loại hình thi hành án, khắc phục được những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (viết tắt là PLTHADS) là vấn đề rất quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án.

1. Về cơ cấu các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Những quy định về thủ tục thi hành án hiện nay được quy định tại Chương 3 PLTHADS gồm 19 điều áp dụng chung cho cả thi hành án dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động và phần dân sự trong bản án và hành chính. Có thể thấy, so với tính chất phức tạp và đa dạng của việc thi hành các bản án, quyết định dân sự ; hôn nhân và gia đình; kinh doanh thương mại ; lao động ; các quyết định về tài sản trong các bản án về hình sự, hành chính và quyết định trọng tài thương mại thì các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án trong PLTHADS là chưa tương xứng, chưa tính đến đặc thù của từng loại việc, cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu của việc thi hành mỗi loại án cụ thể này. Đặc điểm của đối tượng thi hành án dân sự là các quyết định dân sự (theo nghĩa rộng) mang tính chất tài sản và nhân thân ; còn đặc điểm của thi hành án hình sự là hình phạt và các biện pháp tư pháp khác ; thi hành án hành chính là thi hành các quyết định liên quan đến các cơ quan nhà nước. Vì vậy, các quy định về thủ tục thi hành án dân sự trong Bộ luật thi hành án (viết tắt là BLTHA) phải tính đế những đặc điểm chung của các loại bản án, quyết định đó, đồng thời phải tính đến đặc thù của từng loại bản án, quyết định. Vì vậy, các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án trong BLTHA cần phải tách bạch thành hai phần khác nhau : phần những quy định chung về thủ tục thi hành án và phần những quy định cụ thể về thủ tục thi hành án đối từng loại thủ tục thi hành án dân sự, thi hành án kinh doanh, thương mại, thi hành án lao động và thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự và hành chính. Cách quy định này về mặt khoa học sẽ rất rõ ràng và thực tế các cơ quan thi hành án sẽ dễ áp dụng.

Trong phần những quy định chung về thủ tục thi hành án là phần cần quy định những vấn đề chung nhất để từ đó thực hiện thủ tục, cách thức thi hành bản án, quyết định dân sự như : bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành ; căn cứ thi hành án ; thời hiệu thi hành án ; thẩm quyền ra quyết định thi hành án ; thông báo quyết định thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người có quyền , nghĩa vụ liên quan … Phần thứ hai về thủ tục thi hành án của BLTHA, cần chia thành các chương, mỗi chương quy định về đặc thù của từng loại hình thi hành án. Theo chúng tôi có thể chia thành các chương sau: Thủ tục thi hành án dân sự và hôn nhân gia đình ; thủ tục thi hành án kinh doanh thương mại (bao gồm việc thi hành các bản án của cả tòa án và quyết định của trọng tài) ; thủ tục thi hành án phá sản ; thủ tục thi hành án lao động ; thủ tục thi hành án hành chính ; thủ tục thi hành án hình sự.

2. Về việc cấp bản án, quyết định của tòa án

Bản án, quyết định của tòa án là cơ sở pháp lý để các đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án và để cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án. Cho nên, trách nhiệm cấp bản án, quyết định của tòa án cho đương sự và trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định của tòa án cho cơ quan thi hành án thuộc về tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó. Thời hạn cấp, chuyển giao các loại bản án, quyết định được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng BLTHA, vấn đề có xác định rõ thời điểm mà Tòa án đã tuyên bản án, quyết định cấp bản án quyết định cho đương sự hay không là vấn đề có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất, cho rằng cần thiết phải xác định rõ thời điểm tòa án cấp bản án, quyết định cho đương sự là thời điểm khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành như Điều 18 PLTHADS hiện nay ; việc không xác định rõ thời điểm toà án cấp bản án, quyết định có thể gây ra sự nhầm lẫn đối với một số toà án và đặc biệt đối với các đương sự. Ý kiến thứ hai cho rằng, việc xác định rõ thời điểm tòa án cấp bản án, quyết định cho đương sự là không cần thiết và thừa.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai bởi các lý do sau. Bản án, quyết định dân sự của toà án có hiệu lực thi hành có thể là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có hiệu lực thi hành ngay. Việc xác định thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với các bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thường đơn giản vì đó là những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án hoặc ra quyết định. Còn đối với bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm chỉ có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị không bị ai kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị. Việc xác định thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với loại bản án, quyết định này là vấn đề phức tạp.

Theo quy định tại Điều 245 của BLTTDS:

– Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự có mặt tại phiên toà. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết;

– Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người kháng cáo nhận được quyết định.

Về nguyên tắc, các chủ thể kháng cáo được thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định. Nếu kháng cáo ngoài thời hạn quy định của pháp luật là kháng cáo quá hạn. Theo Điều 247 BLTTDS thì sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình lí do kháng cáo quá hạn của người kháng cáo và tài liệu, chứng cứ nếu có cho toà án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm ba thẩm phán để xem xét việc kháng cáo quá hạn. Khi hội đồng xét đơn kháng cáo quá hạn ra quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì bản án, quyết định đó sẽ chưa có hiệu lực pháp luật và bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Theo quy định tại Điều 252 BLTTDS, thời hạn kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp viện kiểm sát không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án. Thời hạn kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ của toà án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày, kể từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.

Như vậy, thời điểm bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với mỗi đương sự có thể là khác nhau nhưng ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực thi hành sẽ là ngày mà không còn chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị và bản thân các đương sự không thể tự xác định được điều đó để yêu cầu toà án cấp bản án, quyết định có ghi để thi hành cho mình mà chỉ có toà án đã tuyên bản án, quyết định mới xác định được chính xác. Vì vậy, về nguyên tắc, toà án chỉ có thể cấp cho người được thi hành án, người phải thi hành án bản án, quyết định có ghi “để thi hành” khi bản án, quyết định đó đã có hiệu lực thi hành ; bản thân dấu giáp lai “để thi hành” của tòa án đã chứng tỏ bản án, quyết định đó đã có hiệu lực thi hành rồi nên việc nhắc lại thêm một lần nữa về kỹ thuật lập pháp là thừa Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện nay và trong tương lai, các phán quyết của trọng tài thương mại cũng được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự nên BLTHA cần quy định cả việc cấp quyết định trọng tài của trung tâm trọng tài. Do đó, điểu luật về cấp bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài cần quy định như sau: “Toà án đã tuyên bản án hoặc quyết định hoặc, trọng tài đã ra quyết định trọng tài đó phải cấp cho người được thi hành án, người phải thi hành án bản án, quyết định có ghi để thi hành… »

3. Về thủ tục yêu cầu thi hành án

Hiện nay, Điều 19 PLTHADS mới chỉ quy định về quyền yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án, người phải thi hành án. Tuy nhiên khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án khi việc thực hiện quyền cầu của đương sự đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định, bao gồm : người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án ; yêu cầu thi hành án đối với bản án, quyết định dân sự có ghi “để thi hành“, thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án ; còn thời hiệu thi hành án và đúng mẫu đơn yêu cầu thi hành án. Nhưng không phải người dân nào khi thực hiện yêu cầu thi hành án đều hiểu được các điều kiện đó gồm những vấn đề gì ? Để tạo điều kiên cho người dân khi thực hiện quyền yêu cầu thi hành án cũng như thuận lợi cho cơ quan thi hành án khi xét đơn yêu cầu, theo chúng tôi, trong phần chung về thủ tục thi hành án của BLTHA cần quy định điều luật về thủ tục yêu cầu thi hành án dân sự theo hướng như sau :

“1. Người yêu cầu thi hành án phải làm đơn gửi cơ quan thi hành án có thẩm quyền theo quy định tại Điều… của Bộ luật này.

2. Đơn yêu cầu thi hành án phải được gửi trong thời hiệu thi hành án.

3. Đơn yêu cầu thi hành án phải có các nội dung chính sau đây:

…..

4. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án là bản sao bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài có ghi để thi hành và các tài liệu khác cần thiết cho việc thi hành án».

4. Thủ tục ra quyết định thi hành án và giải thích bản án, quyết định

Tại khoản 2 Điều 22 và Điều 23 PLTHADS quy định thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của toà án (trong trường hợp thi hành án chủ động) hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án (trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu). Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp bản án, quyết định của toà án tuyên không rõ ràng hoặc có sai sót, cần phải có giải thích hoặc việc xét xử lại của toà án mới có thể thi hành án được. Tại Điều 382 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, toà án phải có văn bản giải thích… “. Do đó, thời hạn 5 ngày làm việc không thể đủ để cơ quan thi hành án làm công văn yêu cầu toà án giải thích và toà án trả lời cơ quan thi hành án. Nếu cơ quan thi hành án vẫn ra quyết định thi hành án theo đúng thời hạn sẽ dẫn đến việc cơ quan thi hành án tiếp tục thực hiện bản án, quyết định sai của toà án. Cách giải quyết sẽ hợp lí và phù hợp với thực tiễn trong trường hợp này sẽ là chờ kết quả giải thích của toà án sau đó mới ra quyết định thi hành án. Vì vậy, BLTHA cần quy định theo hướng: thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của toà án hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu toà án giải thích bản án, quyết định.

5. Cần bổ sung quy định về xác minh trong thi hành án

Về nguyên tắc, việc thi hành án trước hết phải tôn trọng và khuyến khích sự tự nguyện của các đương sự. Chỉ sau khi hết thời hạn do chấp hành viên ấn định mà các đương sự có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án mới áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, trừ các trường hợp do pháp luật quy định. Vấn đề mấu chốt ở chỗ, cơ quan thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì mới có thể nghĩ đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế gì và xây dựng kế hoạch tổ chức cưỡng chế. Xác minh trong thực tiễn thi hành án là vấn đề vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định việc thi hành án có thành công hay không. Hiện tại, PLTHADS không quy định về thủ tục xác minh trong thi hành án, các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này có đề cập đến một vài khía cạnh của thủ tục xác minh nhưng chưa đầy đủ, cụ thể. Thực tiễn hoạt động thi hành án, các cán bộ thi hành án cũng thường chỉ tiến hành xác minh qua kinh nghiệm, có cơ quan thi hành án xác minh trong thời hạn đương sự tự nguyện thi hành án, có cơ quan thi hành án xác minh khi hết thời hạn đương sự tự nguyện thi hành án… Do đó, cần bổ sung điều luật về xác minh trong thi hành án như thời hạn, thủ tục, chủ thể tiến hành việc xác minh…

6. Về quy định hoãn thi hành án

Theo điểm d khoản 1 Điều 26 PLTHADS, thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án khi tài sản kê biên có tranh chấp mà đang được toà án thụ lí giải quyết theo đơn kiện của người có quyền, lợi ích liên quan. Điều đó có nghĩa trong trường hợp khi có tranh chấp về tài sản kê biên nhưng những người có quyền, lợi ích liên quan chưa khởi kiện hoặc khởi kiện nhưng toà án đang làm thủ tục thụ lí thì thủ trưởng cơ quan thi hành án cũng không có quyền hoãn thi hành án mà phải tiến hành các thủ tục thi hành án sau kê biên như xử lí tài sản kê biên, bán đấu giá. Quy định này coa ưu điểm là có thể đảm bảo cho việc tiến hành nhanh, tránh việc lợi dụng việc tranh chấp để kéo dài thời gian thi hành án ; nhưng ngược lại, nếu sau khi xử lí tài sản kê biên mà toà án thụ lí giải quyết tranh chấp và xác định tài sản đó không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì hậu quả sẽ rất khó khắc phục. Hơn nữa quy định tại điểm d khoản 1 Điều 26 PLTHADS là mâu thuẫn với quy định của khoản 5 Điều 41 PLTHADS. Khoản 5 Điều 41 PLTHADS quy định : « Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên tài sản và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện thì tài sản kê biên được xử lí để thi hành án ». Như vậy, khi có tranh chấp về tài sản kê biên, trong khoảng thời hạn 3 tháng, kể từ ngày kê biên việc thi hành án sẽ không thể thực hiện được mà cần hoãn lại để chờ xem đương sự có khởi kiện hay không, do đó cần bổ sung vào căn cứ hoãn thi hành án theo hướng : “Khi tài sản kê biên có tranh chấp, Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên tài sản và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự, cơ quan thi hành án sẽ hoãn thi hành án trong thời hạn ba tháng ; tranh chấp về tài sản kê biên đang được toà án thụ lí giải quyết theo đơn kiện của người có quyền, lợi ích liên quan”.

Khoản 2 Điều 26 PLTHADS quy định: “Người có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”. Quy định này mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 307 BLTTDS. Theo quy định của BLTTDS, người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Bởi căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là sai lầm, vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Để xác định bản án, quyết định có sai lầm, vi phạm pháp luật hay không, người có thẩm quyền kháng nghị chỉ cần căn cứ vào hồ sơ vụ việc. Những sai lầm, vi phạm pháp luật đó là thuộc về lỗi chủ quan của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Cho nên khi có nghi ngờ bản án, quyết định khả năng có sai lầm, vi phạm pháp luật người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị. Còn tình tiết mới là căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết không có sẵn trong hồ sơ vụ án, muốn xác định được phải thông qua quá trình thu thập chứng cứ và xét xử lại. Vì vậy, người có thẩm quyền kháng nghị không thể yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị do nghi ngờ khả năng có tình tiết mới. Việc xuất hiện tình tiết mới là do khách quan mang lại, nên khi có tình tiết mới, người có thẩm quyền kháng nghị sẽ thực hiện kháng nghị và ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Do đó, BLTHA cần quy định căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp này theo hướng: « Người có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi phát hiện bản án, quyết định có vi phạm pháp luật ».

Ngoài ra, trong quá trình xây dựng BLTHA, có quan điểm cho rằng (quan điểm này được đưa ra trong Dự thảo 17 BLTHADS), cần bổ sung trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới liên quan đến bản án, quyết định đang thi hành mà người được thi hành án hoặc cơ quan thi hành án thấy cần đề nghị toà án giải quyết. Nếu quy định theo hướng này thì người được thi hành án hoặc thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền hoãn thi hành án khi cho rằng bản án, quyết định của toà án tuyên không đúng. Về nguyên tắc bản án, quyết định của toà án khi đã có hiệu lực pháp luật phải được các cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và triệt để thi hành. Không ai có quyền cản trở việc thi hành bản án quyết định đó. Chỉ những người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị hoặc yêu cầu tạm đình chỉ việc thi hành án đối với bản án, quyết định đó. Quy định đó nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của toà án, tránh việc trì hoãn thi hành án một cách tràn lan. Như vậy, nếu quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới liên quan đến bản án, quyết định đang thi hành mà người được thi hành án hoặc cơ quan thi hành án thấy cần đề nghị toà án giải quyết sẽ là không hợp lí và mâu thuẫn với quy định của pháp luật tố tụng. Chúng tôi cho rằng, hướng giải quyết hợp lý trong trường hợp này sẽ là khi phát hiện căn cứ trên cơ quan thi hành án sẽ thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm biết để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét việc kháng nghị và việc có hoãn thi hành án hay không là quyền của họ, đồng thời họ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

6. Về việc tạm đình chỉ thi hành án

Khoản 2 Điều 27 PLTHADS quy định, thời hạn tạm đình chỉ thi hành án theo yêu cầu của người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực không quá sáu tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Mục đích của việc tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp là chờ kết quả giám đốc thẩm. Nếu quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án sẽ tiếp tục thi hành bản án, quyết định đó. Nếu quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án. Vì vậy, thời hạn tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp này phải trùng với thời hạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Nhưng quy định này lại mâu thuẫn với quy định tại Điều 293 BLTTDS về thời hạn mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm: ” Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên toà để giám đốc thẩm vụ án”. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong mọi trường hợp việc mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm đều được tiến hành đúng thời hạn, nhưng cơ quan thi hành án cũng không thể đưa bản án, quyết định đang chờ xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm ra thi hành. Do đó, BLTHA cần quy định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án theo hướng: “Cơ quan thi hành án tạm đình chỉ thi hành án theo yêu cầu của người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực cho đến khi có kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.

7. Về việc đình chỉ thi hành án

Khoản 2 Điều 28 PLTHADS quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp : « Người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế theo quy định của pháp luật ». Theo quy định của pháp luật dân sự, quyền và lợi ích không được chuyển giao cho người thừa kế khi một người chết là quyền và lợi ích gắn liền với nhân thân. Còn khi người được thi hành án chết, quyền và lợi ích về tài sản sẽ được chuyển giao cho người thừa kế của người được thi hành án. Nhưng Điều 28 PLTHADS không quy định đối với trường hợp người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích theo bản án, quyết định được chuyển giao cho người thừa kế nhưng không có người thừa kế Theo quy định của pháp luật dân sự, trong trường hợp người để di sản chết mà không có người thừa kế thì tài sản đó sẽ thuộc về Nhà nước. Vì vậy, nếu người được thi hành án chết không có người thừa kế mà đình chỉ việc thi hành án đồng nghĩa với việc người phải thi hành án được giải phóng việc thực hiện nghĩa vụ, ngân sách Nhà nước bị thất thu và sẽ mâu thuẫn với quy định của pháp luật dân sự. Do đó, để khắc phục bất hợp lý này, BLTHA trong tương lai nên quy định đối với trường hợp này theo hướng: “Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật dân sự quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định được thừa kế nhưng không có người thừa kế thì cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành án ; tài sản thu hồi được nộp vào nhân sách nhà nước”./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: BÀI TÁC GIẢ GỬI, ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ…. (CHƯA XÁC ĐỊNH)