Trách nhiệm tài sản của pháp nhân: HỮU HẠN HAY VÔ HẠN?

TS. PHAN HUY HỒNG* – TS. LÊ NẾT –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề tưởng chừng như đã rõ ràng, chân lý dường như đã ngự trị trong giáo trình. Nhưng cuộc tranh luận về việc công ty hợp danh có hay không có tư cách pháp nhân – dấy lên sau sáng kiến của các nhà soạn luật Luật Doanh nghiệp 2005(1) – đã làm bộc lộ những khoảng cách trong nhận thức.

Cuộc tranh luận đó khơi dậy nhu cầu lật lại một số vấn đề rất căn bản của pháp luật dân sự và kinh tế: Tài sản của pháp nhân là gì, tài sản đó bao gồm những gì? Pháp nhân chịu trách nhiệm tài sản đến đâu? Và công ty hợp danh có thể là pháp nhân?

1. Về tài sản của pháp nhân

a) Tài sản của pháp nhân là gì?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân là phải “có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”. Nhiều người hiểu và diễn giải quy định này như một điều kiện duy nhất. Thực chất, nó chứa đựng hai điều kiện, thứ nhất là “có tài sản độc lập” và thứ hai là “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”. Tuy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng đây là hai điều kiện độc lập với nhau về mặt pháp lý. Bằng chứng rõ ràng nhất là trường hợp công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 (LDN 1999). Loại công ty này có tài sản độc lập, nhưng không (chỉ) tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó (vấn đề này còn được đề cập trong bài viết).

Và ngay cả đối với từng điều kiện cũng không có cách hiểu thống nhất. Đặc biệt là đối với điều kiện “có tài sản độc lập”. Thực tế này bắt nguồn từ việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối với tư liệu sản xuất trong các hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa với hệ quả xóa nhòa ranh giới giữa công luật và tư luật.

“Tài sản độc lập” trong chế định pháp nhân của tư luật có nghĩa là tài sản đó thuộc sở hữu của pháp nhân, không đồng thời thuộc sở hữu của thành viên pháp nhân. Tài sản mà thành viên dùng để góp vốn trở thành sở hữu của pháp nhân. Trong pháp luật doanh nghiệp nước ta điều đó được thể hiện trong quy định “người cam kết góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty”2. Quy định này bao hàm sự mặc nhiên công nhận công ty là một chủ thể của pháp luật sở hữu hay là chủ thể sở hữu. Người góp vốn mất quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn, nhưng trở thành chủ sở hữu hay chủ sở hữu chung đối với công ty.3 Nói một cách khái quát, pháp nhân có đầy đủ năng lực pháp luật sở hữu, là chủ thể của pháp luật sở hữu. Tuy nhiên, cũng chính quy định đó cho thấy “tài sản độc lập” không phải là đặc điểm riêng biệt của pháp nhân. Công ty hợp danh cũng có tài sản độc lập, nhưng đối với nhà làm Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì loại công ty này không phải là pháp nhân. Có “tài sản độc lập” nghĩa là có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân và tài sản của thành viên pháp nhân. Đối với công ty hợp danh điều đó hoàn toàn tương tự. Nhưng chính ở đây có thể quan sát thấy sự nhầm lẫn khá phổ biến: nhiều người nghĩ rằng đối với công ty hợp danh không có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và tài sản của thành viên hợp danh, bởi vì họ đã hiểu điều kiện “có tài sản độc lập” và điều kiện “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó” như một điều kiện duy nhất.

Nhưng trong pháp luật xã hội chủ nghĩa thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, “tài sản độc lập” đã không còn được hiểu mà cũng không thể còn được hiểu theo nghĩa như trên. Bởi vì tài sản trong nhà máy, xí nghiệp trở thành sở hữu toàn dân. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với tư cách là các chủ thể thực hiện kế hoạch chỉ được nhà nước giao quyền quản lý tài sản. Sự định đoạt của bộ máy quản lý doanh nghiệp đối với tài sản được giao quyền quản lý dựa trên cơ sở ủy quyền của chủ sở hữu nhà nước. Chủ sở hữu nhà nước nằm ngoài doanh nghiệp. Ngày nay, trong quá trình soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2005 điều đó được gọi là “cơ chế quản lý phi tập trung”.

Sự chuyển sang “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” làm hồi sinh chế định pháp nhân tư luật. Các đạo luật về doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế tư nhân hay kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều có quy định rõ ràng loại doanh nghiệp nào có tư cách pháp nhân.4 Và chính các loại doanh nghiệp đó là chủ sở hữu đối với tài sản mà chủ đầu tư dùng góp vốn điều lệ và đối với tài sản tích lũy được từ hoạt động kinh doanh.

Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà từ đây tồn tại song song hai loại pháp nhân ngay trong lĩnh vực kinh doanh (pháp nhân kinh tế). Một loại pháp nhân là chủ sở hữu tài sản mà chủ đầu tư góp vào vốn điều lệ và tài sản tự tích lũy được; còn loại pháp nhân là DNNN thì vẫn chỉ là “người quản lý” tài sản do Nhà nước giao.5 Chính vì vậy mà có cách hiểu “tài sản độc lập” bao gồm tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước giao cho pháp nhân quản lý.6

Sự xuất hiện thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với sự tham gia của các DNNN là bên liên doanh Việt Nam và quá trình cổ phần hóa DNNN đã hình thành nên những doanh nghiệp thuộc sở hữu hỗn hợp theo quy định tại Điều 226 BLDS 1995. Nay, theo quy định của BLDS 2005 thì sở hữu hỗn hợp là một dạng thức của sở hữu chung theo phần, được gọi là sở hữu chung hỗn hợp (Điều 218, 216, 214 BLDS 2005). Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp thực hiện như đối với sở hữu chung theo phần (khoản 3 Điều 218, 216 BLDS 2005). Nhưng ngay ở đây, chính các doanh nghiệp là chủ sở hữu tài sản, còn các nhà đầu tư – trong đó có Nhà nước – là chủ sở hữu chung hỗn hợp của doanh nghiệp. Đây chính là điểm kết nối để tiến tới một chế định pháp nhân “đồng nhất” trong tương lai.

Đến Luật DNNN 2003 dường như có thêm bước chuyển biến trong quan niệm. Luật xác định công ty nhà nước là công ty do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (khoản 1 Điều 3). Nhà nước sở hữu vốn điều lệ chứ không phải sở hữu tài sản giao cho doanh nghiệp. Ngoài ra luật còn giải thích “vốn của công ty (nhà nước) bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại công ty, vốn do công ty tự huy động và các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật” (Điều 12). Tuy nhiên, “cơ quan quyết định cao nhất” của công ty vẫn nằm ngoài công ty; Hội đồng quản trị (HĐQT) chỉ là “cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước” (Điều 29), còn trong công ty không có HĐQT thì giám đốc vẫn chỉ là “người điều hành công ty” (Điều 23). Vẫn là cơ chế quản lý phi tập trung hay còn gọi là “cơ chế bộ chủ quản”.

Chỉ có thể đạt được một chế định pháp nhân “đồng nhất” khi toàn bộ DNNN được chuyển đổi thành công ty TNHH hay công ty cổ phần (CP) như mục tiêu mà các nhà làm Luật Doanh nghiệp 2005 đặt ra. Có nghĩa là khi “tài sản độc lập” được hiểu theo một nghĩa duy nhất: chính pháp nhân là chủ sở hữu đối với các tài sản đó. Nhà nước cũng như các nhà đầu tư tư nhân là chủ sở hữu hay chủ sở hữu chung đối với công ty.

b) Tài sản của pháp nhân có thể bao gồm những gì?

Câu trả lời thực chất rất đơn giản: Tài sản của pháp nhân bao gồm tất cả những gì thuộc về quyền sở hữu của pháp nhân. Pháp luật chỉ công nhận quyền sở hữu khi nó được xác lập một cách hợp pháp. Tính hợp pháp của việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản về nguyên tắc được xác định theo pháp luật nơi có tài sản đó, trừ hai ngoại lệ đối với động sản trên đường vận chuyển và đối với tàu bay dân dụng và tàu biển (Điều 766 BLDS 2005).

Tuy nhiên, đối với một số trường hợp, câu hỏi tài sản đó có thuộc về sở hữu của pháp nhân hay không vẫn còn được trả lời khác nhau.

Trước hết, tài sản thuộc về sở hữu của pháp nhân là tài sản được thành viên pháp nhân dùng để góp vốn. Đối với các loại công ty TNHH và công ty CP thì điều đó đã rõ ràng, vì theo quy định của pháp luật doanh nghiệp thì thành viên hay cổ đông phải chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn cho công ty (khoản 1 Điều 22 LDN 1999, khoản 1 Điều 28 LDN 2005). Tài sản đó có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng hay các tài sản hữu hình khác, giấy tờ có giá, quyền tài sản khác hay tài sản thuộc sở hữu trí tuệ. Tài sản góp vốn tạo thành vốn tự có và vốn ban đầu của công ty. Riêng đối với công ty CP, do giá phát hành cổ phần có thể cao hơn mệnh giá cổ phần nên khoản vốn cổ phần thu được có thể cao hơn vốn điều lệ.

Tài sản thuộc sở hữu pháp nhân còn là tài sản tích lũy được từ quá trình hoạt động kinh doanh, trước hết là lợi nhuận chưa chia. Ngoài ra, tài sản thuộc sở hữu pháp nhân còn có thể là tài sản được tặng, cho hay được thừa kế. Tài sản do pháp nhân góp vốn vào doanh nghiệp khác trở thành sở hữu của doanh nghiệp đó, nhưng pháp nhân trở thành chủ sở hữu chung đối với doanh nghiệp đó hay chủ sở hữu đối với phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đó.

Riêng đối với tài sản vay, vẫn còn quan điểm cho rằng không phải là của pháp nhân. Tuy nhiên pháp luật dân sự đã quy định rõ rằng “bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” (Điều 472 BLDS 2005, Điều 469 BLDS 1995). Đổi lại quyền sở hữu đối với tài sản vay, bên vay gánh vác nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Xuất phát từ quan hệ tài sản như vậy, pháp luật kế toán xem tổng tài sản (asset) bằng tài sản nợ (debt) cộng tài sản có (equity). Thậm chí trong tổng tài sản của pháp nhân, tài sản hình thành từ nguồn vốn vay có thể lớn hơn nhiều tài sản từ nguồn vốn tự có7.

Như vậy, tài sản độc lập của pháp nhân (hay tài sản thuộc quyền sở hữu của pháp nhân) bao gồm vốn tự có của pháp nhân (còn gọi là vốn chủ sở hữu), tài sản mà pháp nhân tích lũy được từ hoạt động kinh doanh, tài sản được tặng cho, thừa kế, và cả tài sản vay.

2. Về trách nhiệm tài sản của pháp nhân

Trách nhiệm dân sự của pháp nhân được thể hiện ở điều kiện thứ hai trong quy định tại khoản 3 Điều 84 BLDS 2005. Theo đó pháp nhân tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập của mình như trình bày ở mục trên. Điều kiện này bao hàm hai nội dung như sau:

Thứ nhất, tài sản chịu trách nhiệm là tài sản độc lập của pháp nhân. Đó là tài sản tất cả các loại mà pháp nhân sở hữu. Bởi vậy ta có thể nói pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Điều này hoàn toàn tương tự như phạm vi trách nhiệm của các chủ thể pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) không phải là pháp nhân khác, chẳng hạn như cá nhân. Cá nhân và pháp nhân đều chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Nhưng vậy thì tại sao người ta nói chế độ trách nhiệm tài sản của cá nhân là chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn, còn chế độ trách nhiệm tài sản của pháp nhân là chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn? Đấy là vấn đề thuộc nội dung thứ hai của điều kiện.

Thứ hai, pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, nhưng cũng chỉ bằng toàn bộ tài sản của mình mà thôi. Nội dung này thể hiện mối quan hệ giữa pháp nhân với thành viên pháp nhân và được thể hiện ở quy định tại khoản 2 và 3 Điều 93 BLDS 2005. Theo đó pháp nhân không chịu trách nhiệm thay cho thành viên đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, còn thành viên thì không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.

Mối quan hệ này còn được thể hiện rõ hơn ở các quy định đối với pháp nhân kinh doanh. Theo pháp luật doanh nghiệp, thành viên công ty TNHH hay cổ đông công ty CP đều (chỉ) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp hay đã góp vào doanh nghiệp8. Thành viên pháp nhân đương nhiên được giải phóng khỏi trách nhiệm tài sản khi hoàn thành nghĩa vụ góp vốn. Nói cách khác: Thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà họ muốn góp và đã cam kết góp vào công ty, hay rủi ro của họ được hạn chế trong phạm vi đó, hay thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn.9 Như vậy khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” là để chỉ phạm vi trách nhiệm của thành viên chứ không phải phạm vi trách nhiệm của pháp nhân: thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình, pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.

Bởi vậy, nói “pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn” là không chính xác. Mà chính xác phải là: Chế độ trách nhiệm tài sản của pháp nhân là chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn. Hạt nhân của chế độ trách nhiệm tài sản đó là trách nhiệm hữu hạn của từng thành viên trong phạm vi phần vốn góp của mình.10

3. Công ty hợp danh là pháp nhân?

Vấn đề này được đặt ra khi Ban soạn thảo LDN 2005 muốn đưa vào luật này quy định “công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm đăng ký kinh doanh” và vì vậy đã gây nên cuộc tranh luận đáng quan tâm. Có hai quan điểm đối lập nhau đã được nêu ra trong Tờ trình về dự án Luật doanh nghiệp.11 Các trình bày ở đây nhằm bình luận về cả hai quan điểm đó và lập luận một quan điểm khoa học riêng.

a) Về quan điểm “tài sản độc lập” đồng nghĩa với “trách nhiệm hữu hạn”

Đây là quan điểm đối lập với Ban soạn thảo, coi “tài sản độc lập” đồng nghĩa với “trách nhiệm hữu hạn” của thành viên và cho rằng quy định công ty hợp danh là pháp nhân không phù hợp với Luật Dân sự; bởi vì, “thành viên chịu trách nhiệm vô hạn, nên tài sản của công ty không độc lập với tài sản của thành viên”.

Quan điểm này hoàn toàn trái với quan điểm đã được trình bày trong bài viết này. Tài sản độc lập không đồng nghĩa với trách nhiệm hữu hạn. Đây đã là một thực tế lập pháp. Các thành viên công ty hợp danh đều phải chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn cho công ty (khoản 1 Điều 22 LDN 1999). Như vậy công ty hợp danh là một chủ thể pháp luật sở hữu độc lập với thành viên. Cả các tài sản hình thành từ nguồn khác như tài sản tích lũy được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản vay hay tài sản được tặng, cho hay thừa kế đều thuộc quyền sở hữu của công ty và chỉ thuộc quyền sở hữu của công ty. Trong khi đó công ty hợp danh có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn, do thành viên hợp danh “phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty” (khoản 1 (b) Điều 95 LDN 1999).

Như vậy, việc phủ nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh vì loại công ty này không có tài sản độc lập với thành viên là trái với thực tế lập pháp. Chúng ta không được nhầm lẫn giữa hai khái niệm “tư cách pháp nhân” (đồng nghĩa với “là pháp nhân”) và “tư cách chủ thể”: Công ty hợp danh không phải là pháp nhân nhưng vẫn có tư cách chủ thể (legal entity), như tư cách chủ thể của pháp luật sở hữu, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật thương mại v.v.. Chỉ khi một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành nào đó (chẳng hạn pháp luật về cho thuê tài chính)12 đòi hỏi chủ thể tiến hành các hoạt động được quy định bởi luật chuyên ngành phải là pháp nhân thì khi đó công ty hợp danh không được tiến hành các hoạt động đó.

b) Về quan điểm “thừa nhận công ty hợp danh là pháp nhân không trái với quy định của BLDS”

Đây là quan điểm của Ban soạn thảo LDN 2005. Ban soạn thảo cho rằng “tài sản độc lập” của pháp nhân không gắn với trách nhiệm hữu hạn hay vô hạn của thành viên. “Một tổ chức có tài sản độc lập có nghĩa là tài sản của nó được hình thành theo quy định tương ứng của pháp luật và đương nhiên thuộc về sở hữu của tổ chức đó; tất cả tài sản của tổ chức đều mang danh của tổ chức đó”.

Trong chừng mực đó các tác giả bài viết tán đồng với quan điểm của Ban soạn thảo. Tuy nhiên, khi Ban soạn thảo cho rằng “việc thừa nhận công ty hợp danh không trái với quy định của Bộ luật Dân sự” thì có nghĩa là quy định tại khoản 3 Điều 84 BLDS đã được hiểu hoàn toàn khác. Ban soạn thảo thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh và như vậy đồng thời thừa nhận chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn của loại công ty này (vì thành viên hợp danh chịu trách nhiệm tài sản vô hạn). Điều đó cho phép hiểu rằng Ban soạn thảo không xem chế độ trách nhiệm hữu hạn là điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân.

Và chính điều đó, theo quan điểm được trình bày trong bài viết này (xem mục 2) là trái với các quy định của BLDS. Bởi vì sự “tự chịu trách nhiệm bằng tài tài sản đó (tài sản độc lập của mình)” (khoản 3 Điều 84 BLDS 2005) có nghĩa là “thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện” (khoản 3 Điều 93 BLDS 2005).

c) Vậy công ty hợp danh có thể là pháp nhân?

Điều đó hoàn toàn có thể được, nếu các nhà làm luật muốn như vậy. Nhưng họ không thể lập luận rằng chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn không phải là điều kiện bắt buộc để một tổ chức được công nhận là pháp nhân.

LDN có thể quy định công ty hợp danh là pháp nhân vì mục đích riêng của luật.13 Các nhà làm luật có thể ban cho loại công ty này tư cách pháp nhân, mặc dù nó có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn, và như vậy làm tổn hại đến chế định pháp nhân của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, các nhà làm luật có thể lập luận điều đó vì một lợi ích lớn hơn. Bởi vậy, vấn đề đặt ra ở đây là lợi ích đó là gì?

Việc công nhận công ty hợp danh là pháp nhân có thể tạo nên một loại hình doanh nghiệp phù hợp cho các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp (thành viên hợp danh) lựa chọn loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn, nhưng lại có tư cách pháp nhân. Một mặt, chế độ trách nhiệm vô hạn bất lợi cho thành viên hợp danh vì không được hạn chế rủi ro. Nhưng mặt khác, chế độ trách nhiệm vô hạn lại nâng uy tín tín dụng của công ty trong giao dịch pháp luật. Tư cách pháp nhân giúp công ty có được khả năng gia nhập thị trường như các loại công ty khác. Chẳng hạn như ví dụ đã nêu: nếu là pháp nhân, công ty hợp danh có thể hoạt động cho thuê tài chính hay nói cách khác là các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp có thể lập công ty hợp danh để hoạt động cho thuê tài chính.

Việc công nhận công ty hợp danh có tư cách pháp nhân không phải là một sáng tạo của pháp luật Việt Nam. Trong pháp luật công ty của Đức có loại “công ty hợp vốn cổ phần” (Kommanditgesellschaft auf Aktien) là một loại công ty pha trộn giữa công ty CP và công

ty hợp vốn.14 Như công ty CP ở chỗ vốn điều lệ của nó được chia thành cổ phần, một bộ phận thành viên tham gia vào công ty mà chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn cổ phần của họ. Giống công ty hợp vốn ở chỗ nó có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm tài sản vô hạn). Bản thân công ty hợp vốn theo luật Đức là loại công ty không có tư cách pháp nhân, tương tự như loại công ty hợp danh có thành viên góp vốn theo quy định của LDN 1999. Mặc dù có thành viên chịu trách nhiệm tài sản vô hạn, nhưng loại công ty hợp vốn cổ phần này được pháp luật công ty Đức quy định là pháp nhân (khoản 1 Điều 278 Luật Công ty cổ phần). Và như vậy điều đó cũng trái với chế định pháp nhân của Bộ luật Dân sự Đức. Tuy nhiên, pháp luật công ty Đức quy định như vậy để nhằm tạo cơ sở cho loại công ty này được tham gia vào các giao dịch pháp luật như các loại công ty là pháp nhân khác. Khi trình bày về chế định pháp nhân, các giáo sư Đức xem trường hợp công ty hợp vốn cổ phần như một ngoại lệ.

4. Thay lời kết

Trong lần nói chuyện với nhau bên lề một cuộc hội thảo, các tác giả bài viết này rất bất ngờ khi biết rằng họ đều từng được sinh viên luật thắc mắc tại sao lại thấy giáo viên lắc đầu khi họ trả lời “tài sản vay là tài sản của pháp nhân” hay “trách nhiệm dân sự của pháp nhân là vô hạn, trách nhiệm dân sự của thành viên là hữu hạn”. Nhưng câu chuyện đó đã có thể bị lãng quên nếu như không có cuộc tranh luận trong quá trình góp ý các dự thảo Luật Doanh nghiệp mới về việc công ty hợp danh có thể là pháp nhân hay không. Tất cả điều đó đã gợi cảm hứng cho bài viết này, cảm hứng về một đề tài rất cũ, trong khi có xu hướng theo đuổi những đề tài rất mới. Nhưng đấy là sự “quay trở lại tương lai”, bởi vì để có một hệ thống pháp luật hiện đại thì những vấn đề cơ bản phải được giải quyết trước hết.

Chú thích:

1 Đó là sáng kiến đưa quy định “công ty hợp danh có tư cách pháp nhân” vào Luật Doanh nghiệp.

2 So sánh khoản 1 Điều 22 LDN 1999.

3 Nhận thức đúng mối quan hệ pháp lý này còn có thể giúp nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp có quyết định đầu tư hợp lý, chẳng hạn ký hợp đồng cho công ty thuê mặt bằng thay vì góp vốn bằng quyền sử dụng đất cho công ty. Nếu góp vốn bằng cách chuyển quyền sử dụng đất cho công ty thì giá trị tài sản góp vốn được định vào thời điểm góp vốn. Giá trị tài sản góp vốn đó sẽ không thay đổi, cho dù giá trị quyền sử dụng đất sau đó (lúc này là của công ty) biến động tăng hay giảm.;

4 So sánh Điều 26, 46, 51 LDN 1999, Điều 6, 15 Luật Đầu tư nước ngoài 1996/2000.

5 So sánh Điều 1 Luật DNNN 1995: DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

6 Xem: Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập I, Nxb Công an nhân dân 1997, tr. 98: Tài sản của pháp nhân “không chỉ là tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân mà có thể được Nhà nước giao cho tổ chức được quyền quản lý của pháp nhân đó.”

7 Khi thẩm định hồ sơ đầu tư với mục cho vay hoặc tài trợ vốn, thông thường các tổ chức tín dụng hay tổ chức tài trợ đòi hỏi nhà đầu tư phải có ít nhất 30% vốn tự có trong tổng vốn đầu tư. Các nhà làm luật Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã từng chuyển tiêu chí kinh tế này thành điều kiện pháp lý, theo đó vốn pháp định (vốn tự có) của doanh nghiệp có vốn ĐTNN ít nhất phải bằng 30% tổng vốn đầu tư, chỉ trong một số trường hợp tỉ lệ này có thể thấp hơn

nhưng không được dưới 20% (xem Điều 16 Luật ĐTNN 1996/2000, Điều 14, 23 Nghị định 24/2000/NĐ-CP).

8 So sánh khoản 1 (b) Điều 26, khoản 1 (b) Điều 51 LDN 1999; khoản 1 (b) Điều 37, khoản 1 (c) Điều 76 LDN 2005.

9 Đối với người bỏ tiền mua cổ phần do công ty cổ phần phát hành trên thị trường chứng khoán thậm chí người ta không cần nói đến trách nhiệm tài sản của họ, mà chỉ cần nói rằng họ chịu rủi ro bằng khoản tiền đã bỏ ra để mua cổ phần.

10 Tuy nhiên, trách nhiệm thực tế của thành viên có thể vượt qua phạm vi phần vốn góp của mình. Trường hợp đó xảy ra chẳng hạn đối với thành viên công ty TNHH, nếu thành viên đó không góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết hay đã đăng ký nên phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại phát sinh (xem khoản 1 Điều 27, khoản 2 (a) Điều 47 LDN 1999). Theo LDN 2005, thậm chí các thành viên khác còn phải gánh chịu trách nhiệm góp vốn thay cho thành viên không góp đủ số vốn đã cam kết sau thời hạn cam kết lần cuối (xem khoản 2, 3 Điều 38).

11 Tờ trình số 126/CP-XDPL ngày 28/9/2005.

12 Xem Điều 2 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính  (được sửa đổi bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005).

13 Đỗ Văn Đại, Góp ý dự thảo Luật Doanh nghiệp (chung): Cần quy định hợp lý về Công ty hợp danh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2005, tr. 52-56, tham gia vào cuộc tranh luận với ý kiến: “khó có thể chứng minh được việc thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD là mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự. Và giả thiết như điều đó được chứng minh thì cũng không có ảnh hưởng gì về lý luận pháp lý khi chúng ta thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD. Bộ luật Dân sự là luật chung còn Luật Doanh nghiệp là luật chuyên ngành. Vì vậy, có thể coi việc thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD là một ngoại lệ của Bộ luật Dân sự.”

14 Tham khảo Luật Công ty cổ phần của Đức ngày 06/9/1965: Điều 278-290, Bộ luật Thương mại của Đức ngày 10/8/1897: Điều 161-177a.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…./2006

TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN CỦA PHÁP NHÂN: HỮU HẠN HAY VÔ HẠN?

TS. PHAN HUY HỒNG* – TS. LÊ NẾT –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề tưởng chừng như đã rõ ràng, chân lý dường như đã ngự trị trong giáo trình. Nhưng cuộc tranh luận về việc công ty hợp danh có hay không có tư cách pháp nhân – dấy lên sau sáng kiến của các nhà soạn luật Luật Doanh nghiệp 2005(1) – đã làm bộc lộ những khoảng cách trong nhận thức.

Cuộc tranh luận đó khơi dậy nhu cầu lật lại một số vấn đề rất căn bản của pháp luật dân sự và kinh tế: Tài sản của pháp nhân là gì, tài sản đó bao gồm những gì? Pháp nhân chịu trách nhiệm tài sản đến đâu? Và công ty hợp danh có thể là pháp nhân?

1. Về tài sản của pháp nhân

a) Tài sản của pháp nhân là gì?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân là phải “có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”. Nhiều người hiểu và diễn giải quy định này như một điều kiện duy nhất. Thực chất, nó chứa đựng hai điều kiện, thứ nhất là “có tài sản độc lập” và thứ hai là “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”. Tuy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng đây là hai điều kiện độc lập với nhau về mặt pháp lý. Bằng chứng rõ ràng nhất là trường hợp công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 (LDN 1999). Loại công ty này có tài sản độc lập, nhưng không (chỉ) tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó (vấn đề này còn được đề cập trong bài viết).

Và ngay cả đối với từng điều kiện cũng không có cách hiểu thống nhất. Đặc biệt là đối với điều kiện “có tài sản độc lập”. Thực tế này bắt nguồn từ việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối với tư liệu sản xuất trong các hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa với hệ quả xóa nhòa ranh giới giữa công luật và tư luật.

“Tài sản độc lập” trong chế định pháp nhân của tư luật có nghĩa là tài sản đó thuộc sở hữu của pháp nhân, không đồng thời thuộc sở hữu của thành viên pháp nhân. Tài sản mà thành viên dùng để góp vốn trở thành sở hữu của pháp nhân. Trong pháp luật doanh nghiệp nước ta điều đó được thể hiện trong quy định “người cam kết góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty”2. Quy định này bao hàm sự mặc nhiên công nhận công ty là một chủ thể của pháp luật sở hữu hay là chủ thể sở hữu. Người góp vốn mất quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn, nhưng trở thành chủ sở hữu hay chủ sở hữu chung đối với công ty.3 Nói một cách khái quát, pháp nhân có đầy đủ năng lực pháp luật sở hữu, là chủ thể của pháp luật sở hữu. Tuy nhiên, cũng chính quy định đó cho thấy “tài sản độc lập” không phải là đặc điểm riêng biệt của pháp nhân. Công ty hợp danh cũng có tài sản độc lập, nhưng đối với nhà làm Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì loại công ty này không phải là pháp nhân. Có “tài sản độc lập” nghĩa là có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân và tài sản của thành viên pháp nhân. Đối với công ty hợp danh điều đó hoàn toàn tương tự. Nhưng chính ở đây có thể quan sát thấy sự nhầm lẫn khá phổ biến: nhiều người nghĩ rằng đối với công ty hợp danh không có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và tài sản của thành viên hợp danh, bởi vì họ đã hiểu điều kiện “có tài sản độc lập” và điều kiện “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó” như một điều kiện duy nhất.

Nhưng trong pháp luật xã hội chủ nghĩa thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, “tài sản độc lập” đã không còn được hiểu mà cũng không thể còn được hiểu theo nghĩa như trên. Bởi vì tài sản trong nhà máy, xí nghiệp trở thành sở hữu toàn dân. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với tư cách là các chủ thể thực hiện kế hoạch chỉ được nhà nước giao quyền quản lý tài sản. Sự định đoạt của bộ máy quản lý doanh nghiệp đối với tài sản được giao quyền quản lý dựa trên cơ sở ủy quyền của chủ sở hữu nhà nước. Chủ sở hữu nhà nước nằm ngoài doanh nghiệp. Ngày nay, trong quá trình soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2005 điều đó được gọi là “cơ chế quản lý phi tập trung”.

Sự chuyển sang “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” làm hồi sinh chế định pháp nhân tư luật. Các đạo luật về doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế tư nhân hay kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều có quy định rõ ràng loại doanh nghiệp nào có tư cách pháp nhân.4 Và chính các loại doanh nghiệp đó là chủ sở hữu đối với tài sản mà chủ đầu tư dùng góp vốn điều lệ và đối với tài sản tích lũy được từ hoạt động kinh doanh.

Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà từ đây tồn tại song song hai loại pháp nhân ngay trong lĩnh vực kinh doanh (pháp nhân kinh tế). Một loại pháp nhân là chủ sở hữu tài sản mà chủ đầu tư góp vào vốn điều lệ và tài sản tự tích lũy được; còn loại pháp nhân là DNNN thì vẫn chỉ là “người quản lý” tài sản do Nhà nước giao.5 Chính vì vậy mà có cách hiểu “tài sản độc lập” bao gồm tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước giao cho pháp nhân quản lý.6

Sự xuất hiện thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với sự tham gia của các DNNN là bên liên doanh Việt Nam và quá trình cổ phần hóa DNNN đã hình thành nên những doanh nghiệp thuộc sở hữu hỗn hợp theo quy định tại Điều 226 BLDS 1995. Nay, theo quy định của BLDS 2005 thì sở hữu hỗn hợp là một dạng thức của sở hữu chung theo phần, được gọi là sở hữu chung hỗn hợp (Điều 218, 216, 214 BLDS 2005). Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp thực hiện như đối với sở hữu chung theo phần (khoản 3 Điều 218, 216 BLDS 2005). Nhưng ngay ở đây, chính các doanh nghiệp là chủ sở hữu tài sản, còn các nhà đầu tư – trong đó có Nhà nước – là chủ sở hữu chung hỗn hợp của doanh nghiệp. Đây chính là điểm kết nối để tiến tới một chế định pháp nhân “đồng nhất” trong tương lai.

Đến Luật DNNN 2003 dường như có thêm bước chuyển biến trong quan niệm. Luật xác định công ty nhà nước là công ty do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (khoản 1 Điều 3). Nhà nước sở hữu vốn điều lệ chứ không phải sở hữu tài sản giao cho doanh nghiệp. Ngoài ra luật còn giải thích “vốn của công ty (nhà nước) bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại công ty, vốn do công ty tự huy động và các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật” (Điều 12). Tuy nhiên, “cơ quan quyết định cao nhất” của công ty vẫn nằm ngoài công ty; Hội đồng quản trị (HĐQT) chỉ là “cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước” (Điều 29), còn trong công ty không có HĐQT thì giám đốc vẫn chỉ là “người điều hành công ty” (Điều 23). Vẫn là cơ chế quản lý phi tập trung hay còn gọi là “cơ chế bộ chủ quản”.

Chỉ có thể đạt được một chế định pháp nhân “đồng nhất” khi toàn bộ DNNN được chuyển đổi thành công ty TNHH hay công ty cổ phần (CP) như mục tiêu mà các nhà làm Luật Doanh nghiệp 2005 đặt ra. Có nghĩa là khi “tài sản độc lập” được hiểu theo một nghĩa duy nhất: chính pháp nhân là chủ sở hữu đối với các tài sản đó. Nhà nước cũng như các nhà đầu tư tư nhân là chủ sở hữu hay chủ sở hữu chung đối với công ty.

b) Tài sản của pháp nhân có thể bao gồm những gì?

Câu trả lời thực chất rất đơn giản: Tài sản của pháp nhân bao gồm tất cả những gì thuộc về quyền sở hữu của pháp nhân. Pháp luật chỉ công nhận quyền sở hữu khi nó được xác lập một cách hợp pháp. Tính hợp pháp của việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản về nguyên tắc được xác định theo pháp luật nơi có tài sản đó, trừ hai ngoại lệ đối với động sản trên đường vận chuyển và đối với tàu bay dân dụng và tàu biển (Điều 766 BLDS 2005).

Tuy nhiên, đối với một số trường hợp, câu hỏi tài sản đó có thuộc về sở hữu của pháp nhân hay không vẫn còn được trả lời khác nhau.

Trước hết, tài sản thuộc về sở hữu của pháp nhân là tài sản được thành viên pháp nhân dùng để góp vốn. Đối với các loại công ty TNHH và công ty CP thì điều đó đã rõ ràng, vì theo quy định của pháp luật doanh nghiệp thì thành viên hay cổ đông phải chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn cho công ty (khoản 1 Điều 22 LDN 1999, khoản 1 Điều 28 LDN 2005). Tài sản đó có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng hay các tài sản hữu hình khác, giấy tờ có giá, quyền tài sản khác hay tài sản thuộc sở hữu trí tuệ. Tài sản góp vốn tạo thành vốn tự có và vốn ban đầu của công ty. Riêng đối với công ty CP, do giá phát hành cổ phần có thể cao hơn mệnh giá cổ phần nên khoản vốn cổ phần thu được có thể cao hơn vốn điều lệ.

Tài sản thuộc sở hữu pháp nhân còn là tài sản tích lũy được từ quá trình hoạt động kinh doanh, trước hết là lợi nhuận chưa chia. Ngoài ra, tài sản thuộc sở hữu pháp nhân còn có thể là tài sản được tặng, cho hay được thừa kế. Tài sản do pháp nhân góp vốn vào doanh nghiệp khác trở thành sở hữu của doanh nghiệp đó, nhưng pháp nhân trở thành chủ sở hữu chung đối với doanh nghiệp đó hay chủ sở hữu đối với phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đó.

Riêng đối với tài sản vay, vẫn còn quan điểm cho rằng không phải là của pháp nhân. Tuy nhiên pháp luật dân sự đã quy định rõ rằng “bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” (Điều 472 BLDS 2005, Điều 469 BLDS 1995). Đổi lại quyền sở hữu đối với tài sản vay, bên vay gánh vác nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Xuất phát từ quan hệ tài sản như vậy, pháp luật kế toán xem tổng tài sản (asset) bằng tài sản nợ (debt) cộng tài sản có (equity). Thậm chí trong tổng tài sản của pháp nhân, tài sản hình thành từ nguồn vốn vay có thể lớn hơn nhiều tài sản từ nguồn vốn tự có7.

Như vậy, tài sản độc lập của pháp nhân (hay tài sản thuộc quyền sở hữu của pháp nhân) bao gồm vốn tự có của pháp nhân (còn gọi là vốn chủ sở hữu), tài sản mà pháp nhân tích lũy được từ hoạt động kinh doanh, tài sản được tặng cho, thừa kế, và cả tài sản vay.

2. Về trách nhiệm tài sản của pháp nhân

Trách nhiệm dân sự của pháp nhân được thể hiện ở điều kiện thứ hai trong quy định tại khoản 3 Điều 84 BLDS 2005. Theo đó pháp nhân tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập của mình như trình bày ở mục trên. Điều kiện này bao hàm hai nội dung như sau:

Thứ nhất, tài sản chịu trách nhiệm là tài sản độc lập của pháp nhân. Đó là tài sản tất cả các loại mà pháp nhân sở hữu. Bởi vậy ta có thể nói pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Điều này hoàn toàn tương tự như phạm vi trách nhiệm của các chủ thể pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) không phải là pháp nhân khác, chẳng hạn như cá nhân. Cá nhân và pháp nhân đều chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Nhưng vậy thì tại sao người ta nói chế độ trách nhiệm tài sản của cá nhân là chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn, còn chế độ trách nhiệm tài sản của pháp nhân là chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn? Đấy là vấn đề thuộc nội dung thứ hai của điều kiện.

Thứ hai, pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, nhưng cũng chỉ bằng toàn bộ tài sản của mình mà thôi. Nội dung này thể hiện mối quan hệ giữa pháp nhân với thành viên pháp nhân và được thể hiện ở quy định tại khoản 2 và 3 Điều 93 BLDS 2005. Theo đó pháp nhân không chịu trách nhiệm thay cho thành viên đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, còn thành viên thì không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.

Mối quan hệ này còn được thể hiện rõ hơn ở các quy định đối với pháp nhân kinh doanh. Theo pháp luật doanh nghiệp, thành viên công ty TNHH hay cổ đông công ty CP đều (chỉ) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp hay đã góp vào doanh nghiệp8. Thành viên pháp nhân đương nhiên được giải phóng khỏi trách nhiệm tài sản khi hoàn thành nghĩa vụ góp vốn. Nói cách khác: Thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà họ muốn góp và đã cam kết góp vào công ty, hay rủi ro của họ được hạn chế trong phạm vi đó, hay thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn.9 Như vậy khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” là để chỉ phạm vi trách nhiệm của thành viên chứ không phải phạm vi trách nhiệm của pháp nhân: thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình, pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.

Bởi vậy, nói “pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn” là không chính xác. Mà chính xác phải là: Chế độ trách nhiệm tài sản của pháp nhân là chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn. Hạt nhân của chế độ trách nhiệm tài sản đó là trách nhiệm hữu hạn của từng thành viên trong phạm vi phần vốn góp của mình.10

3. Công ty hợp danh là pháp nhân?

Vấn đề này được đặt ra khi Ban soạn thảo LDN 2005 muốn đưa vào luật này quy định “công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm đăng ký kinh doanh” và vì vậy đã gây nên cuộc tranh luận đáng quan tâm. Có hai quan điểm đối lập nhau đã được nêu ra trong Tờ trình về dự án Luật doanh nghiệp.11 Các trình bày ở đây nhằm bình luận về cả hai quan điểm đó và lập luận một quan điểm khoa học riêng.

a) Về quan điểm “tài sản độc lập” đồng nghĩa với “trách nhiệm hữu hạn”

Đây là quan điểm đối lập với Ban soạn thảo, coi “tài sản độc lập” đồng nghĩa với “trách nhiệm hữu hạn” của thành viên và cho rằng quy định công ty hợp danh là pháp nhân không phù hợp với Luật Dân sự; bởi vì, “thành viên chịu trách nhiệm vô hạn, nên tài sản của công ty không độc lập với tài sản của thành viên”.

Quan điểm này hoàn toàn trái với quan điểm đã được trình bày trong bài viết này. Tài sản độc lập không đồng nghĩa với trách nhiệm hữu hạn. Đây đã là một thực tế lập pháp. Các thành viên công ty hợp danh đều phải chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn cho công ty (khoản 1 Điều 22 LDN 1999). Như vậy công ty hợp danh là một chủ thể pháp luật sở hữu độc lập với thành viên. Cả các tài sản hình thành từ nguồn khác như tài sản tích lũy được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản vay hay tài sản được tặng, cho hay thừa kế đều thuộc quyền sở hữu của công ty và chỉ thuộc quyền sở hữu của công ty. Trong khi đó công ty hợp danh có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn, do thành viên hợp danh “phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty” (khoản 1 (b) Điều 95 LDN 1999).

Như vậy, việc phủ nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh vì loại công ty này không có tài sản độc lập với thành viên là trái với thực tế lập pháp. Chúng ta không được nhầm lẫn giữa hai khái niệm “tư cách pháp nhân” (đồng nghĩa với “là pháp nhân”) và “tư cách chủ thể”: Công ty hợp danh không phải là pháp nhân nhưng vẫn có tư cách chủ thể (legal entity), như tư cách chủ thể của pháp luật sở hữu, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật thương mại v.v.. Chỉ khi một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành nào đó (chẳng hạn pháp luật về cho thuê tài chính)12 đòi hỏi chủ thể tiến hành các hoạt động được quy định bởi luật chuyên ngành phải là pháp nhân thì khi đó công ty hợp danh không được tiến hành các hoạt động đó.

b) Về quan điểm “thừa nhận công ty hợp danh là pháp nhân không trái với quy định của BLDS”

Đây là quan điểm của Ban soạn thảo LDN 2005. Ban soạn thảo cho rằng “tài sản độc lập” của pháp nhân không gắn với trách nhiệm hữu hạn hay vô hạn của thành viên. “Một tổ chức có tài sản độc lập có nghĩa là tài sản của nó được hình thành theo quy định tương ứng của pháp luật và đương nhiên thuộc về sở hữu của tổ chức đó; tất cả tài sản của tổ chức đều mang danh của tổ chức đó”.

Trong chừng mực đó các tác giả bài viết tán đồng với quan điểm của Ban soạn thảo. Tuy nhiên, khi Ban soạn thảo cho rằng “việc thừa nhận công ty hợp danh không trái với quy định của Bộ luật Dân sự” thì có nghĩa là quy định tại khoản 3 Điều 84 BLDS đã được hiểu hoàn toàn khác. Ban soạn thảo thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh và như vậy đồng thời thừa nhận chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn của loại công ty này (vì thành viên hợp danh chịu trách nhiệm tài sản vô hạn). Điều đó cho phép hiểu rằng Ban soạn thảo không xem chế độ trách nhiệm hữu hạn là điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân.

Và chính điều đó, theo quan điểm được trình bày trong bài viết này (xem mục 2) là trái với các quy định của BLDS. Bởi vì sự “tự chịu trách nhiệm bằng tài tài sản đó (tài sản độc lập của mình)” (khoản 3 Điều 84 BLDS 2005) có nghĩa là “thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện” (khoản 3 Điều 93 BLDS 2005).

c) Vậy công ty hợp danh có thể là pháp nhân?

Điều đó hoàn toàn có thể được, nếu các nhà làm luật muốn như vậy. Nhưng họ không thể lập luận rằng chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn không phải là điều kiện bắt buộc để một tổ chức được công nhận là pháp nhân.

LDN có thể quy định công ty hợp danh là pháp nhân vì mục đích riêng của luật.13 Các nhà làm luật có thể ban cho loại công ty này tư cách pháp nhân, mặc dù nó có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn, và như vậy làm tổn hại đến chế định pháp nhân của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, các nhà làm luật có thể lập luận điều đó vì một lợi ích lớn hơn. Bởi vậy, vấn đề đặt ra ở đây là lợi ích đó là gì?

Việc công nhận công ty hợp danh là pháp nhân có thể tạo nên một loại hình doanh nghiệp phù hợp cho các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp (thành viên hợp danh) lựa chọn loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn, nhưng lại có tư cách pháp nhân. Một mặt, chế độ trách nhiệm vô hạn bất lợi cho thành viên hợp danh vì không được hạn chế rủi ro. Nhưng mặt khác, chế độ trách nhiệm vô hạn lại nâng uy tín tín dụng của công ty trong giao dịch pháp luật. Tư cách pháp nhân giúp công ty có được khả năng gia nhập thị trường như các loại công ty khác. Chẳng hạn như ví dụ đã nêu: nếu là pháp nhân, công ty hợp danh có thể hoạt động cho thuê tài chính hay nói cách khác là các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp có thể lập công ty hợp danh để hoạt động cho thuê tài chính.

Việc công nhận công ty hợp danh có tư cách pháp nhân không phải là một sáng tạo của pháp luật Việt Nam. Trong pháp luật công ty của Đức có loại “công ty hợp vốn cổ phần” (Kommanditgesellschaft auf Aktien) là một loại công ty pha trộn giữa công ty CP và công

ty hợp vốn.14 Như công ty CP ở chỗ vốn điều lệ của nó được chia thành cổ phần, một bộ phận thành viên tham gia vào công ty mà chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn cổ phần của họ. Giống công ty hợp vốn ở chỗ nó có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm tài sản vô hạn). Bản thân công ty hợp vốn theo luật Đức là loại công ty không có tư cách pháp nhân, tương tự như loại công ty hợp danh có thành viên góp vốn theo quy định của LDN 1999. Mặc dù có thành viên chịu trách nhiệm tài sản vô hạn, nhưng loại công ty hợp vốn cổ phần này được pháp luật công ty Đức quy định là pháp nhân (khoản 1 Điều 278 Luật Công ty cổ phần). Và như vậy điều đó cũng trái với chế định pháp nhân của Bộ luật Dân sự Đức. Tuy nhiên, pháp luật công ty Đức quy định như vậy để nhằm tạo cơ sở cho loại công ty này được tham gia vào các giao dịch pháp luật như các loại công ty là pháp nhân khác. Khi trình bày về chế định pháp nhân, các giáo sư Đức xem trường hợp công ty hợp vốn cổ phần như một ngoại lệ.

4. Thay lời kết

Trong lần nói chuyện với nhau bên lề một cuộc hội thảo, các tác giả bài viết này rất bất ngờ khi biết rằng họ đều từng được sinh viên luật thắc mắc tại sao lại thấy giáo viên lắc đầu khi họ trả lời “tài sản vay là tài sản của pháp nhân” hay “trách nhiệm dân sự của pháp nhân là vô hạn, trách nhiệm dân sự của thành viên là hữu hạn”. Nhưng câu chuyện đó đã có thể bị lãng quên nếu như không có cuộc tranh luận trong quá trình góp ý các dự thảo Luật Doanh nghiệp mới về việc công ty hợp danh có thể là pháp nhân hay không. Tất cả điều đó đã gợi cảm hứng cho bài viết này, cảm hứng về một đề tài rất cũ, trong khi có xu hướng theo đuổi những đề tài rất mới. Nhưng đấy là sự “quay trở lại tương lai”, bởi vì để có một hệ thống pháp luật hiện đại thì những vấn đề cơ bản phải được giải quyết trước hết.

Chú thích:

1 Đó là sáng kiến đưa quy định “công ty hợp danh có tư cách pháp nhân” vào Luật Doanh nghiệp.

2 So sánh khoản 1 Điều 22 LDN 1999.

3 Nhận thức đúng mối quan hệ pháp lý này còn có thể giúp nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp có quyết định đầu tư hợp lý, chẳng hạn ký hợp đồng cho công ty thuê mặt bằng thay vì góp vốn bằng quyền sử dụng đất cho công ty. Nếu góp vốn bằng cách chuyển quyền sử dụng đất cho công ty thì giá trị tài sản góp vốn được định vào thời điểm góp vốn. Giá trị tài sản góp vốn đó sẽ không thay đổi, cho dù giá trị quyền sử dụng đất sau đó (lúc này là của công ty) biến động tăng hay giảm.;

4 So sánh Điều 26, 46, 51 LDN 1999, Điều 6, 15 Luật Đầu tư nước ngoài 1996/2000.

5 So sánh Điều 1 Luật DNNN 1995: DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

6 Xem: Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập I, Nxb Công an nhân dân 1997, tr. 98: Tài sản của pháp nhân “không chỉ là tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân mà có thể được Nhà nước giao cho tổ chức được quyền quản lý của pháp nhân đó.”

7 Khi thẩm định hồ sơ đầu tư với mục cho vay hoặc tài trợ vốn, thông thường các tổ chức tín dụng hay tổ chức tài trợ đòi hỏi nhà đầu tư phải có ít nhất 30% vốn tự có trong tổng vốn đầu tư. Các nhà làm luật Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã từng chuyển tiêu chí kinh tế này thành điều kiện pháp lý, theo đó vốn pháp định (vốn tự có) của doanh nghiệp có vốn ĐTNN ít nhất phải bằng 30% tổng vốn đầu tư, chỉ trong một số trường hợp tỉ lệ này có thể thấp hơn

nhưng không được dưới 20% (xem Điều 16 Luật ĐTNN 1996/2000, Điều 14, 23 Nghị định 24/2000/NĐ-CP).

8 So sánh khoản 1 (b) Điều 26, khoản 1 (b) Điều 51 LDN 1999; khoản 1 (b) Điều 37, khoản 1 (c) Điều 76 LDN 2005.

9 Đối với người bỏ tiền mua cổ phần do công ty cổ phần phát hành trên thị trường chứng khoán thậm chí người ta không cần nói đến trách nhiệm tài sản của họ, mà chỉ cần nói rằng họ chịu rủi ro bằng khoản tiền đã bỏ ra để mua cổ phần.

10 Tuy nhiên, trách nhiệm thực tế của thành viên có thể vượt qua phạm vi phần vốn góp của mình. Trường hợp đó xảy ra chẳng hạn đối với thành viên công ty TNHH, nếu thành viên đó không góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết hay đã đăng ký nên phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại phát sinh (xem khoản 1 Điều 27, khoản 2 (a) Điều 47 LDN 1999). Theo LDN 2005, thậm chí các thành viên khác còn phải gánh chịu trách nhiệm góp vốn thay cho thành viên không góp đủ số vốn đã cam kết sau thời hạn cam kết lần cuối (xem khoản 2, 3 Điều 38).

11 Tờ trình số 126/CP-XDPL ngày 28/9/2005.

12 Xem Điều 2 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính  (được sửa đổi bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005).

13 Đỗ Văn Đại, Góp ý dự thảo Luật Doanh nghiệp (chung): Cần quy định hợp lý về Công ty hợp danh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2005, tr. 52-56, tham gia vào cuộc tranh luận với ý kiến: “khó có thể chứng minh được việc thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD là mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự. Và giả thiết như điều đó được chứng minh thì cũng không có ảnh hưởng gì về lý luận pháp lý khi chúng ta thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD. Bộ luật Dân sự là luật chung còn Luật Doanh nghiệp là luật chuyên ngành. Vì vậy, có thể coi việc thừa nhận tư cách pháp nhân của CTHD là một ngoại lệ của Bộ luật Dân sự.”

14 Tham khảo Luật Công ty cổ phần của Đức ngày 06/9/1965: Điều 278-290, Bộ luật Thương mại của Đức ngày 10/8/1897: Điều 161-177a.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…./2006

NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN NHẬT

THS. PHAN THỊ THĄNH DƯƠNG –  Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Thị trường vốn, nơi trao đổi các lượng giá trị trung và dài hạn, giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, bởi lẽ nó có thể tạo ra tiền đề vật chất cho quá trình sản xuất – kinh doanh, hình thành nên các giá trị mới cho xã hội. Có hai kênh để huy động các nguồn lực tài chính: gián tiếp thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng và trực tiếp qua thị trường chứng khoán (TTCK). Huy động vốn thông qua TTCK tạo điều kiện cho người đầu tư trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm đối với nguồn vốn của mình, chia nhỏ các rủi ro của quá trình đầu tư, đạt hiệu quả tối ưu trong sử dụng vốn do có sự giám sát của nhà đầu tư. Nhận thức được tầm quan trọng của TTCK đối với quá trình tăng trưởng kinh tế, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để phát triển thị trường này từ những năm 1990 (1). Ở các nước có nền kinh tế phát triển, TTCK đã định hình và phát triển hơn 100 năm qua. Vì thế nghiên cứu, học hỏi cách họ điều chỉnh về TTCK và phát hành chứng khoán là điều cần thiết; đặc biệt là chế định về phát hành chứng khoán vì đây là cơ sở pháp lý tạo ra hàng hóa cho TTCK. Nghiên cứu pháp luật về phát hành chứng khoán của Nhật, nơi có thị trường chứng khoán phát triển ở Châu Á, có lượng hàng chứng khoán da dạng, có điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện địa lý, văn hóa, tập quán mang đậm nét Á Đông, là sự lựa chọn cho việc nghiên cứu trong phạm vi bài viết này.

1. Cơ sở – thời điểm hình thành – xu hướng vận động của pháp luật phát hành chứng khoán Nhật Bản

1.1. Nhật là một quốc đảo ở Châu Á có nền kinh tế phát triển nhất châu lục và đứng trong nhóm những nước phát triển nhất thế giới. Có nhiều nguyên do giải thích cho điều này, nhưng có thể nói đây là một quốc gia có TTCK ra đời sớm nhất so với các nước ở Châu Á, theo nguyên mẫu của trường chứng khoán London, vào năm 18742. Cũng từ đây chỉ số chứng khoán Nikkei nổi tiếng đã hình thành. Điều này cho phép Nhật tập hợp được nguồn lực tài chính hùng mạnh để phát triển thị trường hàng hóa, tạo cơ sở cho sự lớn mạnh của toàn bộ nền kinh tế.

1.2. Văn bản pháp lý đầu tiên của Nhật điều chỉnh về chứng khoán là Pháp lệnh về giao dịch cổ phiếu 1874 (The Stock Transaction Ordinance of 1874) mô phỏng theo các quy định thị trường giao dịch chứng khoán London. Từ cơ sở pháp lý này, Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Nhật được mở tại Tokyo và Osaka vào năm 1878. Các công ty chứng khoán bắt đầu kinh doanh bằng việc mua bán trái phiếu chính phủ và sau đó là cổ phiếu. Tuy nhiên TTCK Nhật không thể đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn phát triển kinh tế như vũ bão lúc ấy, bởi lẽ ở Nhật tồn tại những tập đoàn kinh doanh (Zaibatsu) là lực lượng chủ yếu thao túng nền sản xuất. Nhưng Zaibatsu lại không cần dựa vào TTCK để huy động vốn. Cổ phiếu của những tập đoàn này do công ty mẹ và ngân hàng – là thành viên cuả tập đoàn – nắm giữ. Vì thế cổ phiếu trong thời gian này có mặt trên thị trường với số lượng rất khiêm tốn. Điều đó dẫn đến tình trạng đầu cơ do thị trường bị những người mua bán cổ phiếu thao túng, đặc biệt là thông qua giao dịch tương lai3.

1.3. Sau chiến tranh thế giới thứ II, lực lượng đồng minh đặt ra yêu cầu Nhật phải thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế. Cùng với sự tan rã của các tập đoàn kinh tế, cổ phiếu do các công ty đã đến tay công chúng. Số lượng nhà đầu tư nhỏ nhanh chóng gia tăng và chiếm đến 70% ở thời điểm này. Tuy nhiên ngay sau đó tỉ lệ phần trăm các nhà đầu tư cá nhân giảm liên tục do vấn đề thông tin nội bộ tiếp tục bị thao túng.

1.4. Vào 1947 Luật Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán (Securities and Exchange law) được thông qua. Luật này nhanh chóng thay thế cho các quy định khác trước đó. Nó được xây dựng theo nguyên mẫu cuả Luật Chứng khoán Mỹ 1933 và Luật về sở giao dịch chứng khoán 1934.4 Ủy ban chứng khoán (the Securities and Exchange Commission) được thành lập theo quy định cuả pháp luật Nhật cũng tương tự như cơ quan SEC cuả Mỹ. Sở giao dịch chứng khoán theo quy định mới được tổ chức lại và đi vào hoạt động năm 1949.

Theo văn bản này, Nhật đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản cho việc điều hành TTCK, đó là: thứ nhất, mọi giao dịch chứng khoán phải được đăng ký ở nơi giao dịch; thứ hai, giao dịch chứng khoán phải tập trung ở Sở giao dịch; thứ ba, không cho phép thực hiện giao dịch tương lai.5

1.5. Năm 1971, Nhật tiến hành quốc tế hóa TTCK Nhật bằng cách cho phép tự do phát hành trái phiếu bằng đồng Yên Nhật ra nước ngoài, dỡ bỏ quy định cấm đầu tư chứng khoán nước ngoài. Việc cấm phát hành trái phiếu công ty được tháo gỡ. Lúc này, trái phiếu không bảo đảm được phát hành nhiều hơn, còn trái phiếu có bảo đảm thì được các công ty phát hành rộng rãi.

1.6. Hoàn chỉnh định nghĩa chứng khoán theo Luật Chứng khoán được xem là sự sửa đổi bổ sung quan trọng nhất trong những lần sửa đổi bổ sung Luật Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên việc sửa đổi này vẫn chưa được xem là đầy đủ vì không có quy định cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chuyển vốn khỏi thị trường Nhật. Lần đổi mới năm 1998 – 1999, Luật Chứng khoán thứ hai ra đời với hàng loạt những điểm sửa đổi, bổ sung. Nhật bãi bỏ Ủy ban chứng khoán và giao quyền giám sát giao dịch chứng khoán cho Bộ Tài chính (Ministry of Finance). Lần sửa đổi bổ sung này bao gồm việc thay đổi các nội dung từ hệ thống cấp phép cho đến hệ thống đăng ký phát hành chứng khoán, tự do xác định phí môi giới. Đến nay có 34 văn bản về kinh doanh chứng khoán được hướng dẫn bổ sung điều chỉnh về các vấn đề này.6

1.7. Từ khi Luật về chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán ở Nhật ra đời, đến nay về cơ bản đã có nhiều lần sửa đổi bổ sung, chưa kể số lượng văn bản dưới luật góp phần điều chỉnh lĩnh vực này. Tất cả những nỗ lực ấy thể hiện khuynh hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán; chú trọng đơn giản hóa thủ tục phát hành, điều phối thị trường, quan tâm đến chất lượng và thông tin về chứng khoán được phát hành hơn là siết chặt quản lý mang tính mệnh lệnh hành chính. Đặc biệt khuynh hướng mở rộng thị trường phát hành ra ngoài lãnh thổ Nhật với mong muốn tìm thêm nhiều nguồn tài chính từ nước ngoài.

1.8. Pháp luật phát hành chứng khoán của Việt Nam nói riêng và pháp luật về chứng khoán ra đời trong bối cảnh hoàn toàn không như ở Nhật; không những thế chậm so với Nhật hơn 100 năm. Điều này xuất phát từ điều kiện khách quan của xã hội Việt Nam dẫn đến nền kinh tế của chúng ta thời gian dài dậm chân tại chỗ, không có nhu cầu nội tại cũng như cơ chế pháp lý để tạo cơ sở cho sự ra đời của các yếu tố chứng khoán. Khác với Nhật, pháp luật chứng khoán và phát hành chứng khoán là sự ghi nhận khách quan những yêu cầu của đời sống xã hội, thì ở Việt Nam đây lại là tiền đề cho những quan hệ về phát hành chứng khoán ra đời vào năm 1998 và thực sự có những dấu hiệu tích cực vào năm 2000. Được như vậy, Việt Nam đã phải thực hiện rất nhiều động thái để kích cung và cầu chứng khoán. Với thời gian ngắn ngủi, con số các văn bản điều chỉnh về chứng khoán cũng đã lên đến hàng chục văn bản.7 Tuy nhiên, pháp luật chứng khoán Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới là tạo cơ chế pháp lý cho phép các quan hệ chứng khoán và đặc biệt là quy chế pháp lý về phát hành chứng khoán Việt Nam phải được xây dựng vận hành theo đúng quy luật của thị trường.

2. Các loại chứng khoán và chủ thể được phép phát hành

2.1. Chứng khoán theo Luật Nhật bao gồm cả chứng chỉ ghi nợ (depository receipts – DRs) và những sản phẩm tài chính khác. Điều 2, Luật Chứng khoán & Sở giao dịch chứng khoán ghi nhận, chứng khoán gồm các loại:

– Trái phiếu chính phủ,

– Trái phiếu chính quyền điạ phương,

– Trái phiếu công ty hoặc pháp nhân có bảo đảm hoặc không có bảo đảm,

– Cổ phiếu, chứng nhận vốn đầu tư, chứng nhận quyền ưu tiên mua trước,

– Chứng chỉ nợ,

– Bản cam kết cho mục đích tài chính do công ty phát hành hoặc được chính phủ bảo đảm,

– Biên nhận ký quỹ,

– Chứng chỉ quỹ đầu tư,

– Thương phiếu,

– Chứng khoán do chính phủ nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài phát hành hoặc thông qua pháp nhân nước ngoài phát hành.8

Định nghĩa về chứng khoán trong luật chứng khoán Nhật hẹp hơn so với quy định trong luật chứng khoán Mỹ. Các quy định cũ chỉ tập trung vào các hình thức pháp lý của chứng khoán và giới hạn chúng trong các quy định mang tính chất truyền thống, chỉ đến quy định này Nhật mới bắt đầu tập trung vào khía cạnh kinh tế. Tuy vậy việc quy định chứng khoán theo nghĩa rộng như Luật Chứng khoán Mỹ có thể bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.Với tiến trình đa dạng hóa chứng khoán, nhiều công cụ tài chính mới tiếp tục được định nghĩa trong Luật nhưng gần như không đủ bao trùm hết. Pháp luật Việt Nam, có phạm vi điều chỉnh của các quy định chứng khoán cũng tuơng tự, nhưng so ra còn hẹp hơn so với quy định về chứng khoán của Nhật, chẳng hạn như không đưa vào thương phiếu, biên nhận ký quỹ. Sở dĩ như vậy vì thị trường Việt Nam còn lạ lẫm với trò chơi chứng khoán, vì thế các nhà làm luật trong giai đoạn đầu đã điều chỉnh theo hướng tăng cường tính an toàn và giảm thiểu rủi ro cho mặt hàng mới này.

Cổ phiếu có giá trị danh nghĩa9 bị cấm phát hành ở Nhật với giá thấp hơn mệnh giá, giá phát hành phải thống nhất với với tất cả các cổ phần (Điều 202, điểm1; 2). Luật Công ty sửa đổi bổ sung 1981 đã cho phép giá danh nghĩa là 50.000 Yên, đến nay giá cổ phiếu thông thường cũng ở mức này (Điều 166, điểm 2, Điều 168-3). Chứng khoán ở Việt Nam được phát hành với mệnh giá khá thấp, chỉ ở mức 10.000 đ đối với cổ phiếu, 100.000 đ đối với trái phiếu – tương ứng bằng khoảng 7,5 Yên và 75 Yên. Kể từ năm 1981, những đơn vị cổ phiếu có mệnh giá thấp kết hợp vào thành cổ phiếu lớn hơn sao cho đạt mức 50.000 Yên/cổ phiếu. Khi cần thiết, công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi để thu hút vốn nhanh và chỉ được thực hiện sau khoảng khi các cổ phiếu đã phát hành trước được bán hết. Số cổ phiếu ưu đãi được phát hành mới không quá 1/3 số cổ phiếu đã phát hành (Điều 242, điểm 2). Các công ty lớn có thể lưạ chọn huy động vốn từ TTCK Nhật hoặc thị trường nước ngoài.10

2.2. Chủ thể phát hành chứng khoán có thể là chính phủ, cơ quan quyền lực địạ phương và các chủ thể kinh doanh có nhu cầu về vốn (Điều 3). Trong thời kỳ đầu cuả TTCK Nhật, loại chứng khoán phổ biến nhất và được phát hành rộng rãi đó chính là trái phiếu chính phủ và một số ít là trái phiếu đô thị. Đây là một động thái nhằm cung hàng cho TTCK Nhật, mặt khác tạo sức mua vì đây là những chứng khoán có độ an toàn cao. Hiện nay, các công ty tuân thủ hệ thống các quy định thông tin không cần phải phát hành tất cả cổ phiếu ngay từ thời điểm được thành lập. Số cổ phiếu còn lại có thể phát hành sau đó khi hoạt động kinh doanh phát triển và theo quyết định của hội đồng quản trị. Như vậy, nhu cầu vốn, nhu cầu thị trường, là điều kiện cho phép một chủ thể có thể trở thành chủ thể phát hành. Điều kiện đủ là chủ thể ấy đáp ứng yêu cầu về thông tin theo quy định của pháp luật để có quyền phát hành loại chứng khoán thích hợp với nhu cầu vốn và khả năng thanh toán khoản của mình.

3. Điều kiện, thủ tục phát hành chứng khoán ra công chúng

3.1. Các chủ thể muốn phát hành chứng khoán mới hoặc chứng khoán ưu đãi phải tiến hành đăng ký với Bộ trưởng Bộ Tài chính (Điều 4, điểm 1). Khi thực hiện đăng ký, nguời phát hành trình Bộ trưởng Bộ Tài chính bảng cáo bạch về chứng khoán và các chứng từ khác liên quan nhằm làm rõ các thông tin phát hành. Tuyên bố đăng ký phát hành chứng khoán có hiệu lực từ ngày thứ 16 kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp nhận tuyên bố trên (Điều 8). Sau khi được chấp thuận, bản đăng ký chứng khoán, bản chào giá và bản cáo bạch phải được công bố cho nhà đầu tư.

Theo Luật Chứng khoán 1998, các chủ thể phát hành chứng khoán phải thực hiện một cách thống nhất và đầy đủ bản đăng ký chứng khoán và thông báo về chứng khoán11. Luật 1998 quy định những chủ thể nào đáp ứng những tiêu chuẩn luật định có thể đưa bản thông báo về chứng khoán vào trong nội dung bản đăng ký chứng khoán; như thế tránh được tình trạng chồng chéo nhau về nội dung. Với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh các loại chứng khoán, những thông tin cần được làm sáng tỏ thường biến đổi theo từng loại chứng khoán phát hành. Bản đăng ký chứng khoán chứa đựng những thông tin: kết quả hoạt động kinh doanh, tình trạng tài chính của công ty và những yếu tố khác liên quan đến bản chất của hoạt động kinh doanh (Điều 5, đoạn 1). Phạm vi thông tin phải cung cấp được mở rộng liên tục, bao gồm cả những thông tin về giá chứng khoán đang lưu hành, giá chứng khoán tương lai và quyền chọn cũng như ảnh hưởng của thị trường hối đoái, xác định số lượng nhà đầu tư (có hơn 50 nhà đầu tư) và cách thức bảo vệ nhà đầu tư (Điều 13).

Bản đăng ký chứng khoán và bản cáo bạch có giá trị cho hoạt động kiểm tra giám sát của Bộ Tài chính, của Sở Giao dịch, hiệp hội nhà bán sỉ chứng khoán (dealer), công ty phát hành chứng khoán vào những thời điểm nhất định.

3.2. Năm 1998 hệ thống giấy phép đã được thay thế bằng hệ thống đăng ký phát hành trừ trường hợp bảo lãnh phát hành và các giao dịch chứng khoán theo hình thức mua bán qua quầy (OTC). Một hệ thống tự đăng ký được hình thành cho phép các chủ thể khi muốn phát hành chứng khoán mới đơn giản hóa thủ tục. Khi ấy họ chỉ cần chuyển tiếp theo bản thông báo gần nhất về đợt phát hành kế tiếp. Điều này có nghĩa rằng trước đó thông tin về chủ thể phát hành đã được phổ biến rộng rãi trong công chúng.

3.3. Tại thị trường sơ cấp các công ty chứng khoán lớn thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Với việc kinh doanh trái phiếu, các công ty chứng khoán đóng vai trò là người bảo lãnh và phân phối trái phiếu mới phát hành ra thị trường Nhật và nước ngoài. 12 Việc xác định quyền của công ty chứng khoán trong việc chào bán cổ phiếu niêm yết, chào bán rộng rãi thông qua các hình thức như Internet được thể hiện trong bản chào giá, và trong bản cân đối giao dịch tóm tắt. Khi phát hành cổ phiếu ra công chúng công ty phát hành có thể chào giá trực tiếp, nhưng thường là phải thông qua công ty chứng khoán nhằm thực hiện bảo lãnh phát hành cho toàn bộ số cổ phiếu phát hành.

3.4. Việc xác định giá cổ phiếu phát hành tùythuộc vào quyết định cuả công ty theo quy định cuả Luật Chứng khoán nhưng giá phát hành này phải được công bố 2 tuần trước khi bán ra công chúng (Điều 280-3-2).

3.5. Phát hành trái phiếu công ty được pháp luật Nhật quy định rất chặt. Trái phiếu có bảo đảm được phổ biến ở Nhật, chỉ có một số ít là trái phiếu không bảo đảm. Để phát hành trái phiếu có bảo đảm, công ty phát hành phải được sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty ủy thác phát hành. Cũng như cổ phiếu, việc phát hành trái phiếu do Hội đồng quản trị quyết định (Điều 296), được tiến hành trực tiếp hoặc thông qua công ty chứng khoán. Thông thường, để việc phát hành thuận lợi, các chủ thể phát hành cần có một công ty quản lý tài chính có vai trò nhận thanh toán và bảo đảm các yêu cầu của người sở hữu trái phiếu. Tuy nhiên khi tổng giá trị trái phiếu phát hành ít hơn 100 triệu Yên hoặc trong trường hợp số trái phiếu phát hành nhỏ hơn 50 thì không cần đến chủ thể này (Điều 297). Thực tế là trong trường hợp phát hành trái phiếu ở Nhật, chủ thể phát hành thường chỉ định người đại diện tài chính của họ đảm nhiệm công việc này. 13

3.6. Khi chứng khoán được chào bán cho số nhà đầu tư ít hơn 50 người, thì chúng buộc phải được bán lại cho nhiều người và phải được lý giải minh bạch (Điều 2, điểm 4). Trường hợp hạn chế bán lại phải được thông báo rõ giữa người chào bán và người được chào bán.

3.7. Tòa án tối cao Nhật quy định rằng trong trường hợp phát hành cổ phiếu mà vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc trung thực, không có quyết định của hội đồng quản trị mà chỉ được phát hành theo ý muốn của người đại diện điều hành, thì việc phát hành đó không có hiệu lực.14

Bản đăng ký chứng khoán hay bản cáo bạch chứa đựng những nội dung không chính xác hoặc nhầm lẫn khi cung cấp thông tin hay những yếu tố cần thiết để đánh giá bản báo cáo thì những người liên quan phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra cho người mua chứng khoán do đã tin tưởng bảng chào giá và hoạt động mua bán là chính xác. Những chủ thể chịu trách nhiệm bao gồm: người điều hành (giám đốc), kiểm toán viên của công ty cung cấp những bản báo cáo và người phát hành, kế toán viên hoặc công ty kế toán, người bảo lãnh (Điều 21).

Ngoài ra, bất cứ ai cập nhật những thông tin không chính xác trong bản đăng ký chứng khoán hoặc bản báo cáo thường kỳ so với các số liệu thực tế thì phải chịu hình phạt tối đa 3 năm tù giam hoặc nộp 3 triệu Yên tiền phạt (Điều 197). Công ty gián tiếp chịu trách nhiệm cho hoạt động cuả người điều hành (Giám đốc), đại lý, và nhân viên của mình. Tiền phạt tối đa đối với chủ thể này là 500 triệu Yên (Điều 207).

Luật cũng đề cập đến những hành vi bị cấm liên quan đến hoạt động phát hành. Một số lượng lớn chứng khoán được cung cấp có thể gây nhiễu cho sự cân bằng cung cầu chứng khoán và tất yếu là giá chứng khoán giảm. Khi cổ phiếu được chào bán mà giá tụt giảm sau khi bảng chào giá được thiết lập thì sẽ có mức cầu thấp đối với những cổ phiếu này. Trong trường hợp người phát hành phải có biện pháp phục hồi giá chứng khoán phát hành.

Luật Chứng khoán cũng đưa ra danh mục những hoạt động bị cấm đối với công ty chứng khoán, người điều hành (Giám đốc) và nhân viên của họ trong quá trình phát hành. Việc mời chào khách hàng mua chứng khoán phát hành bằng cách đưa ra ý kiến mang tính quyết định15 cũng bị cấm (Điều 50). Nói chung, công ty chứng khoán (hay giám đốc, nhân viên của họ) buộc phải giao dịch với khách hàng một cách công bằng và trung thực (Điều 49). Có những trường hợp khách hàng kiện công ty chứng khoán ra tòa vì đã có hành vi mời chào khách hàng không đúng pháp luật. Một số trường hợp tòa án đã quyết định theo hướng có lợi cho khách hàng khi đại diện bán hàng cho công ty chứng khoán đã đưa ra những ý kiến mang tính quyết định khi giới thiệu cho nhà đầu tư các chứng khoán được phát hành. 16

3.8. Chủ thể phát hành chứng khoán được quyền niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán khi hội đủ điều kiện của từng sở giao dịch. Hiện có 8 sở giao dịch chứng khoán ở Nhật. Đó là những thực thể pháp lý có thành viên là một số các công ty chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán có thẩm quyền giám sát các công ty niêm yết để bảo đảm thông tin về giá và giao dịch được phù hợp. Do đó, Sở giao dịch chứng khoán có trách nhiệm xem xét, kiểm tra bản cáo bạch do các công ty cung cấp theo quy định cuả Luật Chứng khoán, nhằm bảo đảm rằng bản cáo bạch về tài chính đầy đủ thông tin và chính xác. Tính đến đầu năm 2004, có 2.432 công ty niêm yết ở Nhật. Ngoài ra, còn có hơn 858 công ty phát hành cổ phiếu được giao dịch qua OTC.17Điều kiện để niêm yết chứng khoán tuân theo các quy định do Sở Giao dịch chứng khoán ban hành không do luật khung quy định như ở Việt Nam. Chẳng hạn, để được niêm yết ở Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo18, chủ thể phát hành phải hội đủ điều kiện:

– Số cổ phiếu niên yết phải lớn hơn 6.000.000 (20.000.000 cổ phiếu đối với trường hợp có nơi hoạt động kinh doanh chính ở ngoài Tokyo),

– Số cổ đông không ít hơn 1.000 và số cổ đông đặc biệt không nắm giữ nhiều hơn 70% số cổ phiếu của công ty,

– Tổng vốn huy động từ 1 tỉ Yên trở lên và mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 Yên,

– Lợi nhuận ròng trong 3 năm trước đó phải đạt đến mức ổn định,

– Đã trả cổ tức của 3 năm trước đó và có khả năng duy trì mức cổ tức tối thiểu là 5 Yên.19

Bên cạnh Sở Giao dịch chứng khoán ở Nhật cũng có thị trường giao dịch qua quầy (OTC) mặc dù vậy hình thức này không phát triển như ở Mỹ. Ở Việt Nam thị trường OTC không được biểu hiện và hình thành một cách rõ ràng mặc dù các giao dịch hiện nay chủ yếu thông qua thị trường OTC. Thực tế, với tên gọi Trung tâm giao dịch chứng khoán, TTGDCK Hà Nội thực chất được tổ chức theo mô hình thị trường OTC, còn TTGDCK TP.HCM đang được định hướng để trở thành Sở giao dịch chứng khoán đúng nghĩa. Điều này cho thấy một tư duy quản lý mang đậm chất hành chính, bao biện đang dần được gỡ bỏ để thay thế bằng tư duy điều hành theo thị trường.

4. Kết luận

4.1. Cho đến nay TTCK Nhật vẫn chưa được xem là thị trường hấp dẫn với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Do truyền thống kinh doanh ở Nhật với những tập đoàn gia đình thống trị, với nền văn hóa chú trọng quan hệ hợp tác nhóm khiến cho mối ràng buộc nội bộ chặt chẽ, nên việc công khai hóa những thông tin dường như chưa đầy đủ và rất dễ có sự liên thông trong cùng tập đoàn. Điều này khá giống ở Việt Nam vì mang đặc thù của nền văn hóa Á châu-“không muốn vạch áo cho người xem lưng” và “tương trợ anh em”. Mệnh giá chứng khoán phát hành với giá cao nên bị xem là khá đắt đỏ, nhưng giá giao dịch trên thị trường lại thường thấp và có rất ít các giao dịch được thực hiện.20 Không giống như Mỹ, nơi có các quy định khá đầy đủ về tập đoàn kinh doanh, về TTCK, Nhật vẫn cho rằng trong lĩnh vực này mình chỉ mới bắt đầu từ con số không.21

4.2. Khi TTCK Nhật đã bước một bước dài qua những giai đoạn từ chập chững, phát triển, suy thoái và đã lại bắt đầu một chu kỳ mới thì Việt Nam mới chỉ đặt những bước đầu tiên. Nhật đang đặt ra vấn đề quan trọng cần được hoàn thiện tương tự như Việt Nam trong cơ chế phát hành chứng khoán là đặc biệt quan tâm đến vấn đề cung cấp thông tin, cơ chế xin phép phát hành được nới lỏng thay vào đó là việc thực hiện đăng ký phát hành khi hội đủ điều kiện cũng như có nhu cầu phát hành. Vấn đề là Việt Nam cần tiếp thu một cách có chọn lọc những quy định này sao cho phù hợp với trình độ phát triển cuả thị trường, nhu cầu của xã hội và khả năng quản lý cuả mình.

Chú thích:

1 Khởi đầu bằng việc ban hành Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Đầu tư nước ngoài.

2 Hiroshida Oda, Japanese Law, tái bản lần 2, Nxb Oxford University, 2001, ISBN 0-19-876456-1, tr. 268

3 Về lịch sử phát triển thị trường chứng khoán Nhật có thể xem thêm trong Japan Securities Intitution , Securities Market in Japan 1988, Tokyo 1988, tr. 14 – 42. Giao dịch tương lai là quan hệ mua bán chứng khoán tại thời điểm hiện tại nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai. Điều nay có thể tạo ra cung – cầu ảo trên thị trường.

4 Luật số 25, năm 1946

5 Các nguyên tắc nay nhằm ngăn chặn khả năng đầu cơ do thông tin nội bộ có thể bị rò rỉ.

6 T.Nakano and K.Yoda, Financial Supervisorry Agency and the financial planning Bureau of Ministry of Finance, Tokyo 1998.

7 Tham khảo website http://www.ssc.gov.vn/ssc/

8 Tham khảo thêm bản trích dịch Luật Chứng khoán các nước, Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Hà Nội 01/2006, tr. 4.

9 Đây là loại cổ phiếu bình thường ở Nhật, bán đúng theo mệnh giá phát hành, không căn cứ vào giá thị trường của các cổ phiếu phát hành trước đó.

10 Daiwa Securities Invesment banking Dept ed, White paper on Capital Increase 1998, Tokyo 1998, tr. 152.

11Xem thêm những phân tích về hệ thống đăng ký phát hành trong Securities & Exchange Law, Kawamoto & Y.Otake, Tokyo 1998.

12 Securities Market in Japan 1998, sđd, tr. 180-185

13 Securities Market in japan 1998, sđd, tr. 95.

14 Judment of Supreme Court , ngày 14/7/1994 (Hanjy 1512-178)

15 Ý kiến mang tính quyết định (“specific intructions”): được xem là những hướng dẫn hàm chứa những thông tin đặc biệt có khả năng tác động làm thay đổi quyết định của nhà đầu tư.

16 Bản án cuả Toà án Tokyo, Ngày 4/2/1994 (Hanta, 841-271).

17 Mathew Harrison, Asia-Pacific Security Markets, Sweet & Maxwell Asia, 2003, ISBN 962661 2061, tr. 77-78.

18 SGD Tokyo là Sở giao dịch lớn nhất ở Nhật.

19 Mathew Harrison, sđd, tr 148-151

20 Xem The FTC(fair trade Commission), http://www.admix.ftc.go.jp/

21 Hiroshida Oda, Japanese Law, tái bản lần thứ 2, Oxford University Press, 2001, ISBN 0-19-876456-1, tr. 295-299

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2006

VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

THS. LÊ MINH HÙNG –  Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Qui định tại khoản 3 Điều 32 Dự thảo về quyền bảo đảm an toàn thân thể trong“việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người,… thì phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh, thì phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ, vợ hoặc chồng và con đã thành niên của người đó; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên, thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế”.

Qui định này đã đáp ứng được yêu cầu cấp bách và cần thiết trong việc cấp cứu người bệnh. Tuy nhiên, việc trao quyền cho người đứng đầu cơ sở y tế quyết định việc chữa bệnh khi không thể chờ được ý kiến của thân nhân, như cách qui định trên, sẽ gây ra những hậu quả bất lợi cho nhân mạng của bệnh nhân và gây ra tâm trạng bất an cho gia đình, những người thân thích nhất của bệnh nhân. Bởi lẽ, thực tế hiện nay tại một số cơ sở chữa bệnh, người đứng đầu cơ sở chỉ là người quản lý mà không nắm bắt hoặc hiểu biết hết về các lĩnh vực y khoa chuyên sâu. Do đó, để những người này ra các quyết định về việc áp dụng phương pháp chữa bệnh mới, cắt bỏ bộ phận

cơ thể, cấy hoặc ghép nội tạng… thì rất mạo hiểm đối với sự an toàn cơ thể và sinh mạng của người bệnh, trong khi chúng ta chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ về việc ra các quyết định này của người đứng đầu cơ sở chữa bệnh, nhất là đối với các phòng khám cơ sở, các cơ sở chữa bệnh tư nhân… Vì thế, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm đoạn cuối khoản 3 Điều 33 Dự thảo với nội dung như sau “… quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế, dựa trên kết luận của hội đồng y khoa của cơ sở chữa bệnh đó gồm từ 3 bác sỹ chuyên khoa trở lên có liên quan đến căn bệnh cần phải xử lý bằng các phương pháp y khoa kể trên, sau khi đã hội chẩn về căn bệnh đó. Kết luận của Hội đồng phải được lập thành văn bản hoặc thể hiện trong hồ sơ bệnh án của bệnh nhân”. Qui định như vậy sẽ hạn chế tối đa những sai lầm cá nhân của người đứng đầu cơ sở y tế khi ra các quyết định hệ trọng liên quan đến sự sống và sức khỏe, sự an toàn cơ thể của bệnh nhân (trong khi pháp luật hiện hành không có một qui định nào về trách nhiệm, chế tài hay biện pháp cần thiết để hạn chế sai lầm của người này khi ra các qui định đó). Nếu cẩn thận hơn, theo chúng tôi, cần xác định thêm là cơ sở y tế tuyến nào hoặc cấp nào mới có quyền ra những quyết định nói trên. Theo chúng tôi, chỉ nên cho phép những sơ sở chữa bệnh từ cấp huyện trở lên có đủ các bác sỹ chuyên khoa có chuyên môn để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn về phương pháp chữa bệnh thích ứng mới được quyền quyết định việc áp dụng phương pháp chữa bệnh, khi việc áp dụng các phương pháp đã kể trên (không bao gồm các phương pháp y khoa cần thiết để cấp cứu bệnh nhân) trường hợp khẩn cấp mà không thể chờ được ý kiến của thân nhân người bệnh. Đồng thời, việc áp dụng các phương pháp đó phải được thông báo cho những người thân thích nhất gồm những người được nêu trong điều luật, nếu họ có yêu cầu, trừ trường hợp việc thông báo đó xâm phạm bí mật đời tư của bệnh nhân. Nếu chỉ quan tâm đến việc áp dụng các phương pháp đặc biệt để cứu chữa bệnh nhân mà không tạo ra cơ chế bảo đảm cho việc đó được thực hiện một cách an toàn, thì đó sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng -nguy cơ dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc không lường trước được.

2. Qui định về quyền hiến bộ phận cơ thể hoặc hiến xác sau khi chết tại Điều 34 (mới) còn nhiều điểm chưa chặt chẽ.

Việc hiến tặng bộ phận cơ thể hay hiến xác cho khoa học hay chữa bệnh là việc làm cao thượng của người quá cố, là một quyền dân sự thể hiện sự tự định đoạt của cá nhân, cần phải được mọi người trong xã hội tôn trọng. Nhưng sự toàn vẹn cơ thể người chết là một vấn đề nhạy cảm đối với bản thân người chết cũng như đối với gia đình họ. Dân gian rất kiêng kỵ “cái chết không toàn thây” nên dù cho việc hiến bộ phận cơ thể hoặc hiến xác của người chết là một nghĩa cử cao thượng đi nữa, thì cũng rất dễ bị những người thân thích nhất phản đối, dẫn đến việc khó mà lấy được xác hoặc bộ phận trên cơ thể của người chết. Cả về pháp lý và về đạo lý, người ta không thể kiện ra tòa để yêu cầu một phán quyết ngay lập tức của tòa án về việc buộc những người thân của người chết phải giao xác người. Cho dù đã cầm được một quyết định có hiệu lực của tòa án, cơ quan thi hành án cũng khó có thể cưỡng chế thân nhân người chết phải giao xác chết, trong khi gia đình của họ đang tổ chức việc tang. Nếu cứ cưỡng chế để buộc những người này phải giao thi thể của người chết, thì không phù hợp với tình cảm và đạo lý con người. Do đó, việc hiến tặng xác và bộ phận cơ thể như đã nói trên vừa phải được sự đồng ý của người quá cố trước khi chết, đồng thời phải không có sự phản đối của những người thân thích của người chết.

Về nội dung và về kỹ thuật liên quan đến vấn đề này, chúng tôi thiết nghĩ cần phải sửa đổi những điểm sau đây:

2.1. Cần phải bổ sung về thủ tục và điều kiện thể hiện sự đồng ý của người quá cố.

Con người được quyền chết trong sự toàn vẹn thân thể. Nhưng chết là không còn đối chứng, nên không thể dựa vào “lời trăn trối” hay lời kể của một ai đó để chứng minh sự đồng ý của người chết mà việc đồng ý đó phải thể hiện bằng một bằng chứng rõ ràng, chẳng hạn bằng một bức thư, trong di chúc hay bằng một văn bản riêng thể hiện ý nguyện hiến tặng xác hoặc bộ phận cơ thể cho một cơ quan, tổ chức y tế có thẩm quyền và xác định. Do vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung đoạn 1 qui định: “Việc hiến bộ phận cơ thể hoặc hiến xác phải được người chết tự mình thực hiện một cách tự nguyện, bằng văn bản. Nội dung văn bản phải ghi rõ ngày tháng năm lậpvăn bản; họ, tên, tuổi, địa chỉ của người hiến tặng thi thể hay bộ phận cơ thể sau khi chết; chỉ định người có quyền nhận thi thể hay bộ phận cơ thể là cá nhân, tổ chức y tế hữu quan…”.

2.2. Qui định việc người chết hiến xác, bộ phận cơ thể của họ phải được những người thân “đồng ý” như đoạn hai của điều luật là cần thiết và hợp tình, nhưng chưa hợp lý và không khả thi.

Việc lấy xác hoặc bộ phận cơ thể người chết ngoài việc phải được chính người chết đồng ý trước khi chết, nhà làm luật còn phải tính đến thực tế xã hội, những biểu hiện tâm lý, tình cảm và các phong tục tập quán của người Việt Nam. Vì nếu việc lấy xác hoặc bộ phận cơ thể của người chết mà bị những người thân thích của họ (được kể trong điều luật) phản đối, không cho mang xác chết đi, thì người được chỉ định nhận xác hoặc bộ phận cơ thể người chết cũng không thể thực hiện được ý nguyện của người đã chết. Với cách tiếp cận vấn đề như vậy, chúng tôi cho rằng qui định về vấn đề này trong Dự thảo còn có hai điểm bất lợi, đe dọa khả năng có thể lấy được xác hoặc bộ phận cơ thể của người chết:

+ Thứ nhất, điều luật qui định “phải được sự đồng ý” của tất cả những người được liệt kê là không khả thi trong nhiều trường hợp. Qui định như vậy sẽ đe dọa đến sự an toàn pháp lý cho những người trực tiếp tiến hành các hoạt động lấy xác hoặc lấy các bộ phận cơ thể người chết. Vì những người thân thích chưa thể hiện ý chí hoặc có nhiều người đã không có mặt để ký tên thể hiện sự đồng ý cho lấy xác có thể sẽ khởi kiện những người có liên quan đến việc lấy xác hay lấy bộ phận cơ thể người chết. Ngược lại, để có thể lấy được tất cả các chữ ký của những người thân thích của người chết thì quả là chuyện không đơn giản, nhất là những người đang vắng mặt hoặc những người có mặt tuy không phản đối, nhưng lại không chịu ký tên vào văn bản thể hiện sự đồng ý của mình. Đó là chưa kể việc yêu cầu ký tên đồng ý vào văn bản cho lấy xác có thể sẽ gợi thêm cho họ những tình cảm thiêng liêng đối với người chết. Không qui định về “sự đồng ý” của người thân thích thì sẽ không phù hợp với thực tế, nhưng phải có “sự đồng ý” của tất cả những người thân thích thì điều luật sẽ trở nên không khả thi và không thực hiện được quyền định đoạt cá nhân đối với thân thể của mình và vì thế cũng sẽ không thực hiện được ý nguyện cao thượng của người quá cố. Do đó, để dung hòa giữa hai loại quyền nói trên, chúng tôi kiến nghị thay cụm từ “được sự đồng ý của…” trong Dự thảo thành “nếu không bị phản đối bởi…”. Hậu quả của việc “đồng ý” so với hậu quả của việc “không bị phản đối” là rất khác nhau. Theo Dự thảo, việc lấy xác hoặc lấy bộ phận cơ thể của người chết phải được sự đồng ý, tức buộc phải có chữ ký của những người thân thích của người chết, trong một văn bản, khi thể hiện “sự đồng ý”. Ngược lại, nếu qui định “không có sự phản đối” thì chỉ cần họp mặt những người thân thích của người chết như đã kể trong điều luật và lập biên bản ghi nhận việc có thông báo về việc lấy xác hay lấy bộ phận cơ thể của người chết mà không có ai phản đối và người đại diện trong gia đình thay mặt ký tên. Giữa thái độ “phản đối” và thái độ “đồng ý” rõ ràng là có sự khác biệt. So với việc phải thuyết phục tất cả người thân thích “đồng ý”, thì qui định “không phản đối” là dễ thực hiện và khả thi hơn vì khi lấy xác, mà những người thân thích không nói gì, thì đó là mặc nhiên được hiểu là họ “không phản đối”, không cần phải thuyết phục. Ngược lại, nếu bắt buộc phải có sự đồng ý của tất cả những người thân thích thì phải thuyết phục, còn nếu không có đủ chữ ký xác nhận sự đồng ý của những người thân thích như qui định của điều luật trong Dự thảo, thì coi như chưa đủ thủ tục để có thể lấy xác hoặc lấy đi bộ phận cơ thể người chết, và có thể bị kiện vì xâm phạm tới thi thể người chết trái với ý chí những người thân thích của người chết. Đồng thời, phải bổ sung về điều kiện để những người thân thích nhất (cha, mẹ, vợ, chồng, các con của người chết) có quyền phát biểu ý kiến phải là người đã thành niên hoặc chưa thành niên nhưng từ đủ 15 tuổi trở lên.

+ Thứ hai, cần dự trù các trường hợp những người thân thích được liệt kê trong điều luật đều không có năng lực để thể hiện ý chí hoặc người chết là người độc thân, không còn người thân thích. Do vậy, cần bổ sung vào cuối đoạn 2 qui định sau: “…, trừ trường hợp người chết không có ai là người thân thích hoặc không có ai trong số những người thân thích kể trên có đủ năng lực hành vi dân sự để thể hiện ý chí phản đối, thì không cần hỏi ý kiến của những người này. Trong trường hợp này, người có quyền nhận xác vẫn lập biên bản ghi rõ tình trạng không có người thân hoặc lý do mà những thân thích không phản đối”. Qui định này bảo đảm cho điều luật chặt chẽ và khả thi hơn nếu xảy ra tình trạng như vừa nêu. Theo đó, dù cho người chết không có người thân thích hoặc có người thân thích, nhưng không có ai có đầy đủ năng lực hành vi, thì việc lấy xác vẫn được tiến hành bình thường mà không cần phải có đủ thủ tục lập văn bản về việc đồng ý hay phản đối của người thân thích của người chết

3. Qui định về quyền xác định lại giới tính tại Điều 36 Dự thảo (mới) là một điều luật hay và đáp ứng được đòi hỏi của thực tế. Tuy nhiên, nếu qui định không chặt chẽ, sẽ dễ dàng bị lợi dụng để chuyển sang việc “thay đổi giới tính”.

3.1. Xác định lại giới tính của một người bị khuyết khiếm (sinh học) về giới, muốn có sự can thiệp bằng y học để xác định đúng giới tính của mình. Đây là một việc rất cần thiết, là một quyền nhân thân chính đáng của cá nhân. Còn thay đổi giới tính là trường hợp một người có giới tính bình thường, nhưng không chấp nhận giới tính tự nhiên của mình mà muốn thay đổi hiện trạng

đó để chuyển sang giới tính khác. Theo chúng tôi, không nên thừa nhận quyền tự do thay đổi giới tính đối với những người bình thường mà chỉ nên dừng lại ở việc cho phép cá nhân được phép xác định lại giới, tính nếu họ bị dị tật bẩm sinh, vì các lẽ sau:

– Một là, việc thay đổi giới tính của một người sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Dĩ nhiên, nếu việc đó là cần thiết và mang lại một hiệu quả xã hội thiết thực cho cá nhân và cho xã hội thì cho dù có phức tạp cũng nên làm. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, việc thay đổi giới tính cũng chẳng để làm gì cả. Pháp luật trong trường hợp này cần phải thể hiện tốt chức năng bảo vệ, ổn định trật tự xã hội mà ngăn cấm các trường hợp thay đổi giới tính chỉ vì ham muốn cá nhân.

– Hai là, việc một người bình thường muốn thay đổi giới tính là một tình trạng bệnh tâm lý, nên dùng các biện pháp chữa bệnh lý hoặc các liệu pháp thích ứng khác, chứ không nên cứ cho thay đổi giới tính là xong. Ai cũng biết việc thay đổi giới tính sẽ tạo ra các hệ quả rất lớn về những biến đổi cơ thể, như người có giới tính bị thay đổi sẽ không thể thực hiện được các chức năng của giới tính mới (ví dụ: người đàn ông bị thay đổi thành đàn bà thì không thể mang thai và sinh con). Người thay đổi giới tính phải thường xuyên tiêm vào người các chất nội tiết tố cần thiết để “nuôi’ diện mạo mới của mình cũng như để duy trì thể trạng của một con bệnh được ghép một bộ phận cơ thể người khác trên cơ thể của mình (hầu như phải uống thuốc và tiêm thuốc suốt đời). Cơ thể tự nhiên bình thường của tạo hóa dành cho con người là một cơ thể hoàn hảo nhất, không cần thiết phải có sự can thiệp của con người, trừ những trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh. Do đó, không nên qui định mở đường cho sự can thiệp sâu bằng các biện pháp y khoa vào giới tính của cá nhân, với tư cách là một giá trị nhân phẩm chung của con người trong xã hội.

– Ba là, điều kiện kinh tế và tâm lý của xã hội Việt Nam chưa cho phép tự do thay đổi giới tính. Trong quan hệ ứng xử xã hội, như trong tình yêu, trong quan hệ giữa họ hàng thân thích với nhau mà có người thay đổi giới tính, thì họ sẽ nên gọi như thế nào? Con cái hoặc anh chị em, bạn bè của người thay đổi giới tính sẽ kêu họ là cha, anh, chú, cậu đối với một cô gái đã được thay đổi giới tính để thành đàn ông? Những người thân sẽ có tâm trạng và tình cảm như thế nào, nếu người thân của họ thay đổi giới tính? Chắc chắn việc thay đổi về giới tính sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, tâm lý và quan hệ thân thích giữa người thay đổi giới tính với cha, mẹ hay con cái của họ. Chưa kể việc thay đổi giới tính là cách thức lẩn tránh pháp luật trong việc kết hôn giữa những người đồng giới. Trong khi đó, để có thể thay đổi giới tính người ta phải là người có khả năng kinh tế lớn, giàu có vì chi phí rất lớn và những tổn phí để duy trì tình trạng này đến suốt cuộc đời. Pháp luật quá mở rộng quyền tự do thay đổi giới tính thì có thể sẽ xảy ra hậu quả xã hội và các hậu quả pháp lý khó lường.

Từ ba luận điểm trên, chúng tôi cho rằng không nên thừa nhận quyền tự do thay đổi giới tính tại Việt Nam mà chỉ nên cho phép xác định lại giới tính như qui định của Dự thảo là phù hợp, nhưng phải kèm theo những điều kiện và thủ tục chặt chẽ hơn để phòng ngừa những trường hợp lợi dụng qui định này để thay đổi giới tính.

Theo tinh thần của Điều 36 Dự thảo, cá nhân có quyền xác định lại giới tính, nhưng xét về mặt pháp lý thực chất là thay đổi giới tính có điều kiện. Bởi lẽ, theo qui định của điều luật, nhà làm luật thừa nhận “cá nhân có quyền xác định lại giới tính… khi giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học… thì được xác định lại giới tính theo qui định của pháp luật cũng có nghĩa là cho phép cá nhân được thay đổi giới tính xét về mặt pháp lý, trừ trường hợp có kèm những thủ tục pháp lý cần thiết để kiểm soát việc cho phép xác định lại giới tính. Theo tinh thần của điều luật như vừa nêu, thì người ta sẽ dễ dàng lợi dụng qui định này để thay đổi giới tính vì 2 lý do sau:

(i) Giới tính là một yếu tố thuộc về đời tư. Do đó, rất khó phát hiện và khó chứng minh về việc họ có thực tế thay đổi giới tính hay không để làm chứng, khi được yêu cầu làm chứng về việc chứng minh có sự thay đổi giới tính mà không tuân thủ các qui định của pháp luật.

(ii) Sau khi phẫu thuật thay đổi giới tính, thì những “bằng chứng” hay “dấu vết” đó không còn nguyên tình trạng ban đầu, trong khi người ta cũng không biết chính xác là liệu trước đó, đương sự có bị “dị tật bẩm sinh” hoặc bị khiếm khuyết về giới tính “mà chưa thể xác định chính xác giới tính” thật sự hay không. Nếu hồ sơ sức khỏe hoặc bệnh án bị làm sai lệch hay ghi không trung thực, thì cơ quan có thẩm quyền cũng khó có thể kiểm tra, xác minh được.

Hai yếu điểm nói trên tạo sơ hở để cho nhiều người lợi dụng để dễ dàng thay đổi giới tính cũng như tạo ra một cơ hội thuận lợi mở đường cho các chuyên gia giải phẫu thẩm mỹ, các cơ sở chữa bệnh thiếu nghiêm túc và thiếu trách nhiệm mở ra các dịch vụ về lĩnh vực này. Để tránh khả năng lợi dụng điều luật nhằm thay đổi giới tính trái pháp luật đối với trẻ sơ sinh, thì nội dung Điều 36 Dự thảo phải được sửa đổi, bổ sung thêm các điều kiện để có thể xin xác định lại giới tính, chẳng hạn như phải có kết luận pháp y hoặc kết luận của một Hội đồng y khoa gồm các bác sỹ chuyên khoa có liên quan. Việc xác định lại giới tính cũng chỉ nên cho phép thực hiện tại các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước hoặc các cơ sở y tế được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe có liên quan đến việc điều chỉnh lại giới tính.

3.2. Việc cho phép một người có quyền xác định lại giới tính cũng phải tính đến ý chí tự nguyện của người đó hoặc của người đại diện hợp pháp của cá nhân trong trường hợp họ là người chưa thành niên, cũng như bằng chứng thể hiện sự đồng ý đó.

Điều 36 Dự thảo không qui định nếu người muốn xác định lại giới tính là người chưa thành niên thì ai sẽ là người quyết định việc xác định lại giới tính cho họ và nếu họ đạt đến độ tuổi nhất định thì họ có quyền thể hiện ý chí của mình hay không? Theo chúng tôi, chỉ cho phép cha, mẹ (trong trường hợp không còn cha, mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng biểu lộ ý chí thì do ông bà nội và ông bà ngoại có năng lực hành vi dân sự đầy đủ) được quyết định việc xác định lại giới tính cho con (cháu) chưa thành niên và nếu người có giới tính cần xác định lại từ đủ 9 tuổi trở lên, thì phải có ý kiến của người đó. Theo tinh thần Điều 36 Dự thảo thì nhà làm luật chỉ thừa nhận quyền được xác định lại giới tính là quyền của cá nhân đương sự mà không tính đến trường hợp thay đổi giới tính của người chưa thành niên. Như vậy, trong nhiều trường hợp, cá nhân không có khả năng biểu hiện ý chí, thì quyền này không thể được thực hiện. Vì thế, cần sửa đổi, bổ sung điều luật theo hướng xác định rõ khi cho phép người chưa thành niên cần được xác định lại giới tính thì ai có quyền cho phép, quyết định và hình thức thể hiện sự quyết định đó là hình thức gì. Theo chúng tôi, nên chỉ dành cho cha, mẹ hoặc trong trường hợp không có cha mẹ, thì chỉ có ông bà nội và ông bà ngoại mới có quyền quyết định; nếu đó là người chưa thành niên từ đủ 9 tuổi trở lên, thì việc xác định lại giới tính của người đó phải có ý kiến của họ. Việc xác định lại giới tính không nên và không cần thiết đặt ra đối với người thành niên không có khả năngnhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nếu họ có trí tuệ minh mẫn thì mới để cho họ tự mình quyết định.

Từ hai luận điểm nêu trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 36 Dự thảo như sau:

“Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.

Người thành niên có quyền tự mình quyết định việc xác định lại giới tính cho mình. Người chưa thành niên muốn được thay đổi giới tính phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ. Nếu người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc cha mẹ bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ thì việc xác định

lại giới tính của người đó phải được sự đồng ý của ông bà nội, ông bà ngoại. Trong trường hợp người chưa thành niên từ đủ chín tuổi trở lên thì phải có ý kiến của họ về việc đồng ý cho xác định lại giới tính của mình.

Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính, khi có sự kết luận của pháp y có thẩm quyền. Chỉ có những cơ sở y tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe có liên quan mới được phép thực hiện phẫu thuật xác định lại giới tính.

Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo qui định của pháp luật”.

Qui định này vừa bảo đảm quyền được xác định lại giới tính của người chưa thành niên, tôn trọng ý chí cá nhân của họ nếu họ đã đạt được một độ tuổi nhất định có thể nhận thức được phần nào hậu quả của việc xác định lại giới tính (tương tự như việc hỏi ý kiến của người làm con nuôi theo qui định Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình,…); đồng thời, qui định này cũng thể hiện quan điểm hạn chế tối đa các trường hợp thay đổi giới tính không cần thiết, kiểm soát chặt chẽ việc thay đổi giới tính của các cá nhân trong xã hội cũng những hoạt động bất hợp pháp của những cơ sở y tế thiếu nghiêm túc.

Đồng thời với việc qui định hạn chế thay đổi giới tính và các thủ tục bắt buộc phải tuân thủ khi muốn xác định lại giới tính, thiết nghĩ pháp luật cũng cần chuẩn bị biện pháp đồng bộ và các chế tài thích ứng khi cá nhân và cơ sở y tế vi phạm các thủ tục về thay đổi giới tính. Chẳng hạn, nếu cá nhân vi phạm thủ tục thay đổi giới tính thì có được xin đăng ký lại giới tính hay không? Nếu cho đăng ký lại giới tính thì có bị xử lý hành chính hay không? Trong trường hợp các cơ sở y tế (trong nước) thay đổi giới tính của người có yêu cầu xác định lại giới tính mà việc đó là không đúng thủ tục hoặc thuộc trường hợp không có quyền được thay đổi giới tính, thì biện pháp chế tài nào sẽ được áp dụng?…

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2005

VỀ VẤN ĐỀ ĐẦU CƠ ĐẤT ĐAI TRONG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở NƯỚC TA

THS.  LƯU QUỐC THÁI –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Xây dựng và phát triển thị trường bất động sản (TTBĐS) lành mạnh là yêu cầu tất yếu cho việc phát triển kinh tế đất nước.1 Tuy nhiên, thực trạng quá “lộn xộn”, “nóng lạnh” bất thường của TTBĐS cho thấy, yêu cầu này xem ra không dễ chút nào đối với nước ta, một nước có nền quản lý hành chính còn quá yếu kém. Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng nói trên của TTBĐS hầu như ai cũng biết, đó là “nạn đầu cơ”, “kích cầu ảo” làm cho giá cả đất đai nói riêng và giá cả bất động sản (BĐS) nói chung vượt quá giá trị thực của chúng và vượt quá sức chịu đựng của nền kinh tế.2 Hậu quả là TTBĐS đã đóng băng, lần thứ ba trong vòng 10 năm trở lại đây. Hạn chế này đã gây khó khăn rất lớn cho nền kinh tế, mà trực tiếp là các doanh nghiệp (DN) kinh doanh BĐS và các ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho các DN này. Nhiều giải pháp đã được đề xuất để giải quyết khó khăn vừa nêu. Trong đề xuất của Bộ Tài nguyên & Môi trường gửi Chính phủ, đầu cơ đất đai cũng đã được “xác nhận” là nguyên nhân chính gây nên tình trạng bất ổn của TTBĐS ở nước ta.3 Bài viết này sẽ phân tích một số khía cạnh kinh tế và pháp lý về đầu cơ đất đai, đưa ra những giải pháp nhất định để chống đầu cơ đất đai, với hy vọng góp phần làm sáng sủa hơn bức tranh TTBĐS ở nước ta.

1. Đầu cơ đất đai và hậu quả của nó

Đầu cơ là hành vi phổ biến trong bất kỳ xã hội nào có nền sản xuất hàng hóa. Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, đầu cơ được hiểu, nhìn nhận và đánh giá ở các góc độ khác nhau. Hiểu theo nghĩa chung nhất, đầu cơ là hành vi mua bán hàng hóá có giá trị (chẳng hạn đất đai) để kiếm lời cao bằng cách lợi dụng những biến động bất thường của giá cả, thông qua việc tích lũy hàng hóa và chờ cho thị trường khan hiếm (giả tạo) để bán với giá cao.4 Xét dưới góc độ tiêu cực, đầu cơ là thủ đoạn xấu, vì mục đích sinh lợi được thực hiện không phải bằng hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường để đáp ứng nhu cầu của xã hội, mà chỉ vì lợi ích của bản thân người đầu cơ. Chính vì vậy, có những khoảng thời gian nhất định, đặc biệt là trong thời kỳ của nền kinh tế tập trung bao cấp ở Việt Nam, đầu cơ bị coi là hành vi phạm pháp và thậm chí có thể là tội phạm hình sự.5

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hành vi đầu cơ không còn bị ngăn cấm. Một phần là do yêu cầu của thực tế cuộc sống, và hơn nữa vì hành vi mua bán tài sản, hàng hóá (không thuộc vào loại bị cấm mua bán) tất nhiên không phải là hành vi phạm pháp. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay, đầu cơ còn được quan niệm gần như là “đầu tư”. Người đầu cơ mua hàng hóa và tin tưởng rằng, dựa trên cơ sở đánh giá những thông tin có được, hàng hóa sẽ lên giá và sẽ bán ra để được lợi lớn một cách nhanh chóng, dễ dàng.6 Điều này càng diễn ra phổ biến trong lĩnh vực đất đai, bởi đây là loại tài nguyên hạn chế, cầu về đất đai càng ngày càng vượt xa cung. Người đầu cơ đất đai tìm cách tích tụ nhiều đất đai nhưng không phải để dùng cho bản thân mình, và tất nhiên là không vì lợi ích xã hội. Mục đích của họ là kiếm lời nhanh chóng thông qua sự khan hiếm giả tạo được tạo ra bởi hành vi đầu cơ của họ. Hành vi “đầu tư” hợp pháp nhưng sai lệch này tất yếu dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội.

Về phương diện kinh tế, vì đất đai là yếu tố đầu vào của bất kỳ lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào (đặc biệt là kinh doanh BĐS) nên đầu cơ đất đai sẽ làm tăng giá thành sản xuất, hạn chế đầu tư, bởi việc tiếp cận đất đai của các chủ thể kinh doanh sẽ càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó, đầu cơ đất đai sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí đất đai, chuyển mục đích SDĐ tùy tiện, làm cho quy hoạch, kế hoạch SDĐ bị phá vỡ. Kết quả là hạ tầng cơ sở phục vụ cho đời sống kinh tế – xã hội được đầu tư cẩu thả, nhếch nhác; bộ mặt của những khu đô thị mới ở những thành phố lớn mà pháp luật gọi là “đô thị đặc biệt” đang bị “băm nát” một cách nham nhở.7 Điều này tất yếu dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế. Nghiêm trọng hơn trong lĩnh vực kinh doanh BĐS sản là tình trạng đầu tư tự phát, tạo ra kiểu TTBĐS bong bóng và cuối cùng là khủng hoảng kinh tế như một số nước đã phải gánh chịu.8

Về phương diện xã hội, trước hết, các tiện ích xã hội mà đặc biệt là nhà ở cho người dân sẽ không được cải thiện. Thêm nữa, vì đất đai không chỉ là một loại tài sản đơn thuần mà còn là tài sản mang tính cộng đồng, đầu cơ đất đai sẽ dẫn đến sự phân hóa xã hội, khoảng cách giàu nghèo sẽ ngày càng lớn và sẽ dẫn đến mất ổn định xã hội.

2. Các yếu tố góp phần tạo điều kiện cho đầu cơ đất đai phát triển

Như đã nói ở trên, dù đầu cơ nói chung và đầu cơ đất đai nói riêng có tác động xấu đối với đời sống kinh tế, xã hội nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận “sống chung với đầu cơ”, vì hành vi này không thể bị ngăn cấm trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm cách nào để hạn chế đầu cơ đất đai. Để có thể giải quyết được vấn đề, việc làm tất yếu là phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu cơ đất đai ở nước ta. Theo tôi, những nguyên nhân cơ bản sau đây là cơ hội cho đầu cơ đất đai phát triển:

a) Sự thiếu minh bạch và khó tiếp cận các thông tin về đất đai

Cho đến trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành, các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa có cơ chế buộc phải công bố công khai một cách thỏa đáng.9 Đây chính là cơ hội để những người có khả năng tiếp cận thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đầu cơ vào các “điểm nóng”10 để trục lợi. Ngoài ra, không chỉ thông tin về quy hoạch, kế hoạch SDĐ mà các thông tin khác về tình trạng pháp lý của đất đai nói chung, cũng như BĐS nói riêng cũng rất khó để biết được, bởi các thủ tục cần thiết cho việc tiếp cận những thông tin này vẫn chưa được quy định rõ. Hạn chế này làm cho môi trường đầu tư không thông suốt, tạo tâm lý e ngại, thiếu hấp dẫn những nhà đầu tư lớn, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.11

b) Quản lý nhà nước về đất đai còn yếu kém

Sự yếu kém này thể hiện ở các điểm sau:

– Thứ nhất là tính cục bộ trong quản lý đất đai còn quá lớn. Tính cục bộ này không chỉ thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với nhau mà còn cả trong tầm nhìn và phương pháp quản lý. Việc không có sự thống nhất trong vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và quyền sở hữu (QSH) tài sản gắn liền với đất giữa Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Xây dựng và Bộ Tư pháp trong thời gian qua đã thể hiện tính cục bộ trong quan hệ nói trên. Ngoài ra, việc lưu trữ thông tin về đất đai trong hồ sơ địa chính cho đến thời điểm này vẫn còn được thực hiện thủ công trên giấy và theo từng địa phương (đơn vị hành chính cấp tỉnh). Việc sử dụng công nghệ thông tin cho hoạt động này vẫn còn manh mún, thiếu tính hệ thống. Từ đây, sự kết nối giữa các nguồn thông tin về đất đai để đảm bảo tính chính xác, cũng như để kiểm soát việc sử dụng đất của một người ở nhiều địa phương khác nhau không thể thực hiện được. Vì vậy, việc kiểm soát hành vi đầu cơ đất đai là điều không thể.

– Thứ hai là sự trì trệ và thiếu thông thoáng trong quản lý đất đai. Pháp luật buộc người SDĐ phải có GCNQSDĐ (hoặc GCNQSDĐ và QSH tài sản trên đất – gọi chung là GCNQSDĐ) mới được thực hiện giao dịch, nhưng hoạt động cấp GCNQSDĐ lại diễn ra quá chậm. Hiện còn khoảng 10% hộ gia đình, cá nhân SDĐ nông nghiệp ở nông thôn và 70% hộ gia đình, cá nhân SDĐ ở tại đô thị vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ.12 Hạn chế này không chỉ xuất phát từ cơ quan hành chính cấp GCNQSDĐ mà còn có sự góp phần của các cơ quan nhà nước có liên quan, đặc biệt là cơ quan thuế khi thực hiện các khoản thu từ việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của người SDĐ. Thực tế cho thấy, việc người SDĐ “được” cơ quan thuế chấp nhận cho thực hiện nghĩa vụ tài chính (là điều kiện) để được cấp GCNQSDĐ không phải là chuyện dễ dàng.13 Những trở ngại này cùng với thực tế thủ tục hành chính quá phiền hà khi thực hiện quyền của người SDĐ đã làm làm cho các giao dịch ngầm (under table deals) về đất đai chiếm phần lớn trong các giao dịch về nhà đất.14 Đây chính là nguyên nhân làm cho tình trạng đầu cơ đất đai bùng phát, vượt quá tầm kiểm soát của Nhà nước.

– Thứ ba là sự thiếu cương quyết trong xử lý hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Đây là nhân tố “khuyến khích” việc đầu cơ đất đai bằng mọi thủ đoạn, bao gồm cả hành vi phạm pháp, kể cả của cán bộ, công chức nhà nước và các tổ chức, cá nhân SDĐ. Biểu hiện của hạn chế này là việc xử lý vi phạm thường được làm qua loa, chiếu lệ về hình thức. Đối với người SDĐ vi phạm pháp luật thì việc bị xử lý dưới hình thức xử phạt hành chính thường đồng nghĩa với khả năng được hợp thức hóa QSDĐ.15 Đối với cán bộ, công chức có trách nhiệm, việc xử lý hành vi vi phạm thường chỉ dừng lại ở mức độ “kiểm điểm, rút kinh nghiệm sâu sắc”, thậm chí có trường hợp được đề bạt vào những chức vụ cao hơn, những vị trí có khả năng thuận lợi hơn để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật đất đai tương tự.16

c) Pháp luật đất đất đai chưa hoàn thiện một cách thỏa đáng

Trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân, việc đầu cơ đất đai chỉ có thể thực hiện thông qua việc nhận chuyển nhượng QSDĐ trong giao dịch chuyển nhượng QSDĐ. Thực tế cũng có trường hợp đầu cơ đất đai thông qua việc được Nhà nước giao, cho thuê đất. Trường hợp này chỉ xảy ra đối với các chủ thể có “đặc quyền” (Doanh nghiệp nhà nước chẳng hạn), dưới dạng “xí phần” dự án ở những vị trí thuận lợi cho kinh doanh, nhưng sau đó không làm gì cả, mà chỉ chờ bán lại dự án để hưởng chệnh lệch.17 Dạng này về lý thuyết đã bị pháp luật loại trừ và không phổ biến nên chúng ta không bàn ở đây. Như vậy, vấn đề cần làm rõ là yếu tố nào trong pháp luật đất đai hiện hành còn sơ hở, tạo điều kiện cho việc đầu cơ đất đai thông qua nhận chuyển nhượng QSDĐ được thực hiện. Có thể nói, đó chính là do các công cụ quản lý hành chính và tài chính đất đai thể hiện trong pháp luật đất đai hiện hành còn rất nhiều hạn chế.

Về mặt quản lý hành chính, dù có những tiến bộ so với trước đây, Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn có những quy định thể hiện sự can thiệp hơi “thô bạo” vào những quan hệ mang tính thị trường hoặc sự can thiệp không đúng nơi, đúng lúc. Quy định tại Điều 101 Nghị định 181/2004/NĐ-CP (NĐ181) ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai 2003 về việc cấm các DN nghiệp kinh doanh nhà ở phân lô bán nền là một điển hình. Quy định này chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề và thể hiện sự lúng túng của các nhà làm luật trước thực trạng đầu cơ đất đai đã lên đến đỉnh điểm. Thực tế, các chủ thể SDĐ để đầu tư kinh doanh nhà ở và những người đầu cơ vẫn có thể lách luật bằng một hợp đồng góp vốn (mà pháp luật không cấm) để thực hiện dự án với nhau. Như vậy, hoạt động đầu cơ vẫn được tiếp diễn. Chỉ có một điểm khác là khó khăn bắt đầu đến với các DN kinh doanh BĐS kể từ khi có quy định này. Đó là việc các tổ chức tín dụng quay lưng với các DN kinh doanh BĐS, bởi rủi ro trong kinh doanh tiền tệ cao hơn. Rõ ràng pháp luật hiện hành chỉ cấm DN kinh doanh nhà ở phân lô bán nền, chứ không cấm việc thế bảo QSDĐ và kết cấu hạ tầng cơ bản đã xây dựng gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng để vay tiền cho việc thực hiện dự án.18 Vấn đề ở chỗ, nếu nghĩa vụ được đảm bảo bằng QSDĐ này không thể thực hiện được thì tài sản đảm bảo cũng không thể xử lý, vì pháp luật không cho chuyển nhượng QSDĐ trước khi hoàn thành việc xây dựng nhà ở. Tệ hơn nữa, theo khoản 2 Điều 101 NĐ181, nếu người thực hiện dự án không thể tiếp tục thực hiện dự án thì Nhà nước sẽ thu hồi đất; khoản tiền đã đầu tư vào dự án sẽ được trả lại theo nguyên tắc “nhiều nhất là bằng khoản tiền đã bỏ ra”.19 Sự can thiệp phi thị trường, đầy mâu thuẫn này đã làm méo mó quan hệ thị trường, ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều bên trong quan hệ đất đai (trừ lợi ích Nhà nước). Cho nên, hiện tượng TTBĐS đóng băng trong thời gian qua không phải là do cung vượt quá cầu, mà là do giá cả BĐS nói chung và đất đai nói riêng đã vượt quá “khả năng đáp ứng nhu cầu” của những người có nhu cầu thực sự và do hàng hóa của TTBĐS càng ngày càng kém chất lượng, vì không nhận được sự đầu tư thực sự của các chủ dự án. Rất tiếc thực trạng này lại được một số người nhìn nhận theo một góc độ khác. Trong các đề xuất của mình gửi Thủ tướng Chính phủ về vấn đề giải quyết khó khăn cho các DN kinh doanh BĐS và cũng nhằm phá “băng” TTBĐS, Bộ Tài nguyên & Môi trường lại có kiến nghị tạm thời giảm cung về nhà đất bằng cách giảm số lượng và quy mô của các dự án nhà đất mới.20 Cách làm này có thể dẫn đến sự “đổ vỡ” của TTBĐS, bởi cung và cầu về đất đai nói riêng và BĐS nói chung (chủ yếu là nhà ở) đã bị hiểu sai lệch. Nhu cầu thực sự về nhà ở hiện nay hiện vẫn còn rất lớn, nhưng khả năng tài chính để đáp ứng cho nhu cầu này lại hạn chế và nguồn cung có chất lượng cũng không đầy đủ.21

Trái ngược với trường hợp trên, sự can thiệp về mặt hành chính của Nhà nước trong một số trường hợp là cần thiết nhưng lại bị bỏ qua. Cụ thể là quy định về các trường hợp thu hồi đất cho phát triển kinh tế tại Điều 36 NĐ181. Theo đó, chỉ các trường hợp thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế; dự án đầu tư thuộc nhóm A; dự án đầu tư có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức; dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài thì Nhà nước mới dùng biện pháp thu hồi đất của người đang SDĐ để chuyển giao cho nhà đầu tư; các trường hợp còn lại nhà đầu tư phải tự thương lượng với người đang SDĐ, chứ Nhà nước không can thiệp. Rõ ràng, đây là quy định thể hiện sự “lảng tránh thiếu trách nhiệm” của Nhà nước, bằng cách đẩy công việc rất khó khăn vốn thuộc trách nhiệm của Nhà nước sang cho những nhà đầu tư vừa và nhỏ. Điều này sẽ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực về kinh tế xã hội, cụ thể là trong trường hợp nhà đầu tư bị người đang SDĐ làm khó, đòi giá “trên trời”. Dự án đầu tư có thể bị “đứng” lại, quy hoạch, kế hoạch SDĐ của Nhà nước không thể thực hiện được, diện tích đất đã thỏa thuận được sẽ bị lãng phí và dự án đầu tư cuối cùng sẽ phải dừng lại ở mức độ “đầu cơ”.

Chính sách tài chính về đất đai chưa phù hợp và chưa được tận dụng triệt để nhằm hạn chế đầu cơ đất đai. Quan sát các quy định về nghĩa vụ tài chính của người SDĐ trong thời gian qua cho thấy, chính sách tài chính về đất đai thiếu sự nhất quán qua các giai đoạn và càng ngày càng dễ dãi hơn đối với hành vi đầu cơ đất đai. Trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành), hộ gia đình, cá nhân SDĐ ở tại đô thị từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 mà không có giấy tờ về QSDĐ thì phải nộp 20% tiền SDĐ đối với đất trong hạn mức và 100% tiền SDĐ đối với đất vượt hạn mức giao đất. Tuy nhiên, kể từ ngày 01/7/2004 trở về sau, các trường hợp tương tự không phải nộp tiền SDĐ,22 không phân biệt đất sử dụng trong hay ngoài hạn mức giao đất. Bên cạnh đó, quy định về hạn mức giao đất ở trong pháp luật hiện hành cũng chỉ nhằm thực hiện (áp dụng cho) hoạt động giao đất của Nhà nước, không nhằm và cũng không có quy định nào nhằm hạn chế việc tích tụ đất ở, nhà ở.23

Kết hợp với chính sách thuế nhà, đất rất “thông thoáng” hiện nay (là thu như nhau đối với diện tích nhà, đất sử dụng trong và ngoài hạn mức), các quy định về tài chính đất đai hiện hành đã tạo thành một “môi trường pháp lý lý tưởng” cho hoạt động đầu cơ đất đai, bởi đầu cơ đất đai, đặc biệt là đất ở, chỉ có lợi mà thôi.

3. Một số giải pháp nhằm hạn chế đầu cơ đất đai

Từ những phân tích trên, theo tôi những vấn đề cấp bách sau cần được thực hiện để hạn chế đầu cơ đất đai, lành mạnh hóa TTBĐS ở nước ta:

– Thứ nhất, cần đổi mới và tăng cường hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ghi nhận thông tin về đất đai cần được công nghệ hóa và có sự kết nối thông suốt về dữ liệu thông tin địa chính trên toàn quốc. Có như vậy chúng ta mới có thể kiểm soát được việc tích tụ đất đai của các chủ thể SDĐ, làm cơ sở cho việc hạn chế đầu cơ đất đai. Cần hiểu thêm rằng, việc quản lý đất đai không thể dừng lại ở việc quản lý hành chính đơn thuần được nữa, mà phải gắn với việc tự điều tiết của thị trường đất đai (thị trường QSDĐ). Ngoài ra, việc thực hiện nghiêm túc pháp luật và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật đất đai, nhất là với các giao dịch bất hợp pháp, là biện pháp thiết thực nhất để ngăn chặn hành vi đầu cơ đất đai.

– Thứ hai, các thông tin về đất đai và TTBĐS cần phải được minh bạch và tiếp cận một cách dễ dàng hơn, đặc biệt là thông tin về quy hoạch, kế hoạch SDĐ đến từng thửa đất, một cách kịp thời.

Để làm được điều này cần phải nâng cao khả năng lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ. Bên cạnh đó, thông tin về tình trạng pháp lý của từng thửa đất cần phải được tìm hiểu dễ dàng hơn.24 Đây là điều kiện để tạo sự an tâm, mạnh dạn đầu tư cho các DN, góp phần làm nâng cao chất lượng, phong phú hàng hóa cho TTBĐS, từ đó hành vi đầu cơ sẽ không còn có “đất” để tồn tại.

– Thứ ba, quy định hợp lý và sử dụng có hiệu quả hơn công cụ tài chính trong quản lý nhà nước về

đất đai. Chính sách tài chính về đất đai được coi là hoàn thiện, ngoài việc đảm bảo các vấn đề xã hội, chống lãng phí đất đai thì còn phải có tác dụng hạn chế được đầu cơ đất đai. Trong đó, thuế là công cụ hữu hiện nhất để làm chùn tay những người đầu cơ. Chẳng hạn, đối với đất ở mà người SDĐ tích tụ vượt quá nhu cầu bình thường25 thì phải chịu một mức thuế chống đầu cơ cao hơn mức bình thường, theo cách tính lũy tiến. Cách làm này đã được thực hiện ở một số nước phát triển trên thế giới, mà Hàn Quốc, Nhật Bản là những ví dụ điển hình. Để giảm nạn đầu cơ đất đai, Chính phủ các nước này đã quy định thuế lũy tiến đánh vào giá trị của đất đai, tùy thuộc vào thời gian nắm giữ đất đai đã tích tụ. Việc làm này được thực hiện với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, thông qua việc “công nghệ hóa” và “máy tính hóa” đối với hoạt động quản lý đất đai và thu thuế đối với BĐS.26 Đây là việc không dễ dàng đối với điều kiện của Việt Nam, nhưng không phải không thực hiện được nếu chúng ta có thiện chí và quyết tâm thực sự.27

Chú thích:

1 Xem thêm Lưu Quốc Thái, Pháp luật đất đai và vấn đề khung pháp lý cho thị trường bất động sản ở nước ta, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2005, tr. 14-25.

2 Xem: Thị trường bất động sản Việt Nam mang đầy tính đầu cơ,http://www.techcombank.com.vn/view/vn/cate_details.asp?code=302&id=1067;Giá nhà đất đã vượt khỏi sức chịu đựng của nền kinh tế, http://www.vneconomy.com.vn ngày 24/10/2005.

3 Xem Công văn 3646/BTNMT-ĐĐ ngày 13/9/2005 của Bộ Tài nguyên & Môi trường gửi Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý khó khăn cho các DN kinh doanh BĐS trong tình hình nhà đất hiện nay. http://www.monre.gov.vn/monreNet/Modules/Deed_details.aspx?code=302&deedid=116

4 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam 1, Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995, tr. 758.

5 Sắc lệnh 180-SL ngày 20/12/1950; Sắc luật 001-SL ngày 14/4/1957; Bộ Luật Hình sự 1985.

6 Stephen Malpezzi and Susan M. Wachter, The Role of Speculation in Real Estate Cycles, http://

www.bus.wisc.edu/realestate/pdf/pdf/Speculation%20in%20Real%20Estate%20and%20Cycles%20June %2026%202002.pdf –

7 Xem Đặng Ngọc, Khu đô thị mới An Phú – An Khánh: Đang bị băm nát như thế nào?, http://www.laođong.com.vn ngày 13/3/2004  (http://www.laođong.com.vn/pls/bld/display$.htnoidung(84,95249).

8 Thái Lan là một ví dụ điển hình. Xem Bertrand Renaud, Ming Zhang and Stefan Koeberle, How The Thai Real Estate Boom Undid Financial Institutions -What Can Be Done Now?, Conference on Thailand’s Dynamic Economic Recovery and Competitiveness.,http://smealsearch2.psu.edu/cache/papers/Business/295/

http:zSzzSzwww.worldbank.orgzSzhtmlzSzfpdzSzurbanzSzre_devzSzthai.pdf/how-thethai-real.pdf/

9 Điều 28 Luật Đất đai 2003 quy định phải công bố quy hoạch kế hoạch sử dụng đất trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được xét duyệt. Trước đó, Nghị định 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định việc công bố này được thực hiện “sau” 30 ngày, kể từ ngày được xét duyệt. Sự “sơ xuất” này trong khoảng thời gian dài đã làm cho việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được kéo dài vô thời hạn, hành vi đầu cơ vì vậy đã đạt đến đỉnh điểm.

10 Nơi chắc chắn sẽ trở thành địa điểm của các dự án kinh doanh BĐS.

11Mặc dù Nhà nước đã chính thức kêu gọi đầu tư nước ngoài TTBĐS nhưng tình hình không khả quan. Xem Phong Lan, Doanh nghiệp FDI kém mặn mà với địa ốc, http://www.vnexpress.net/Vietnam/kinhdoanh/2005/11/3B9E4117/.

12Development of real estate market in Vietnam (including right of land use market) to meet requirements of socio- economic development and WTO accession, Working papers No 3-2004, http://ciem.org.vn/en/asp/infoDetail.asp?ID=607.

13Chi Mai, Đóng thuế nhà đất cũng bị hành, Báo Tuổi trẻ ngày 2/12/2003, tr .6.

14 Ước tính có khoảng 80% trong tổng số giao dịch về nhà đất là giao dịch không chính thức. Xem An Dung, Thị trường địa ốc vẫn trầm lắng – các nhà quản lý hy vọng biện pháp thúc đẩy?, VNECONOMY, ngày 03/3/3004.

15 Xem: Sai phạm đất đai nhiều, xử lý chưa bao nhiêu, http://vnexpress.net/Vietnam/phap-luat/2002/12/3B9C34D4/

16 Điển hình là vụ vi phạm nghiêm trọng pháp luật đất đai trên địa bàn Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí minh. Trước những khuất tất trong xử lý đối với sai phạm của những cá nhân (trong đó có nhiều người giữ những chức vụ trọng trong cơ quan quản lý đất đai ở địa phương), Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh đã có Công văn 147/CV-ĐĐB yêu cầu Thường trực UBND TP. Hồ Chí Minh giải trình về vấn đề này. Xem http://www.monre.gov.vn ngày 10/9/2004.

17Xem Bộ Tài nguyên & Môi trường: “Kiểm tra tình hình, quản lý, sử dụng đất tại TP. Hồ Chí Minh: Hàng loạt sai phạm cần sớm xử lý”, http://www.monre.gov.vn/monreNet/defaut.aspx?tabid=218&ItemID=460.

18 Điểm d khoản 2 Điều 110 Luật Đất đai 2003.

19 Xem thêm Điều 35 NĐ181.

20 Điểm 3 Công văn 3646/BTNMT-ĐĐ ngày 13/9/2005 của Bộ Tài nguyên & Môi trường.

21 Xem thêm Việt Phong, Giảm cung không thể phá băng bất động sản, http://vnexpress.net/Vietnam/Kinhdoanh/2005/09/3B9E2720/.

22 Khoản 4 Điều 50 Luật đất đai 2003.

23 Xem Điều 79 NĐ 181.

24 Vấn đề thiếu thông tin về đất đai là vấn đề các DN nước ngoài băn khoăn nhất. Xem Hồng Phúc, Đất đai là vấn đề được “kêu” nhiều nhất tại diễn đàn doanh nghiệp 2005, website của Bộ Tài nguyên & Môi trường ngày 12/5/2005, http://www.monre.gov.vn/monreNet/defaut.aspx?tabib=207&ItemID=9259

25 Tất nhiên cần phải có sự tính toán cụ thể để xác định trên cơ sở điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta.

26 Kenneth V. Smith, Real estate taxes in South Korea: highly computerized; và Real estate taxes in Japan: Tool to curb soaring land prices, http://www.ired.com./news/tax/970131.htm.

27 Rất nhiều quan điểm đồng tình với biện pháp này. Xem: Chống đầu cơ nhà đất bằng chính sách thuế, http://www3.thanhnien.com/News/PrintView.aspx?ID=111440.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2006

TRANH CHẤP NHÀ VIỆT KIỀU NHỜ MUA GIÙM: MỖI TÒA XỬ MỘT KIỂU

Việt kiều A nhờ người trong nước đứng tên mua nhà giùm. Khi tranh chấp, có tòa nói A chỉ được trả lại tiền, có tòa bảo A là chủ sở hữu nhà. Có tòa phán phải phảt mại nhà, sung công phần dư sau khi đã thanh toán cho cả hai phía… Xử thế nào mới đúng?

A là chủ sở hữu

Có ý định hồi hương năm 1990, bà T (Việt kiều Pháp) bỏ tiền mua một căn nhà tại TP Hồ Chí Minh để tiện việc sinh sống. Do theo quy định bà không được đứng tên sở hữu nhà ở Việt Nam nên bà phải nhờ em mình đứng tên giùm.

Đến năm 2003, bà về nước, yêu cầu người em giao lại nhà. Tuy nhiên người em cho rằng nhà là của ông. Số tiền mà bà T gửi về và tiền ông mượn chứ không phải là bà T bỏ ra mua… Cuối cùng cả hai phải nhờ tòa can thiệp. Trong đơn gửi đến tòa, bà T yêu cầu tòa công nhận nhà là của bà và cho bà đứng chủ sở hữu.

Tháng 9 năm 2004, TAND TP Hồ Chí Minh xử sơ thẩm, nhận định bà có những chứng cứ chứng minh mình là người mua nhà, người em chỉ đứng tên sở hữu giùm. Tòa kết luận bà T là chủ sở hữu căn nhà. Theo tòa, dựa vào bản án, bà T có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để làm thủ tục sang tên quyền sở hữu.

Mới đây, tháng 3-2005, Tòa phúc thẩm tòa án tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án đã tuyên y án sơ thẩm…

Trả lại tiền cho A

Tương tự năm 1998, ông C. (Việt kiều Mỹ) kết hôn với em gái của ông Q. Ông C. bỏ tiền ra mua nhà, nhờ ông Q đứng tên giùm. Đầu năm 2001, ông C. đề nghị ông Q giao trả nhà nhưng ông Q lắc đầu. Ông C khởi kiện, yêu cầu ông Q. phải trả lại toàn bộ giấy tờ và căn nhà cho ông. Đồng thời, ông cũng xin được đứng tên sở hữu căn nhà này.

Xử sơ thẩm, TAND TP Hồ Chí Minh cho rằng có chứng cứ cho thấy ông C đã gửi trên 100 lượng vàng cho ông Q đứng tên mua nhà, tuy nhiên phần còn lại (hơn 100 lượng) ông không chứng minh được. Như vậy ông C là một trong nhũng chủ sở hữu căn nhà này. Theo quy định, chủ sở hữu chung theo phần thì được hưởng phần tài sản lợi tức phát sinh. Do đó, buộc ông Q có nghĩa vụ phải trả lại tiền cho ông C tương ứng với số tiền ông C đưa mua nhà và lợi tức phát sinh từ căn nhà.

Xét xử phúc thẩm, Tòa phúc thẩm TAND tối cao (tại TP Hồ Chí Minh ) đã đồng ý với quan điểm của tòa sơ thẩm.

Nơi phát mại nơi công nhận sở hữu…

Năm 1997, ông Đ (Việt kiều Mỹ) muốn về nước đầu tư làm ăn và mua một căn nhà tại TP Hồ Chí Minh làm trụ sở nên nhờ ông T đứng tên giùm. Bốn năm sau, biết ông T đang rao bán nhà, ông Đ vội về nước yêu cầu ông T trả nhà. Tuy nhiên ông T không chịu bảo đây là nhà của mình, chỉ mượn tiền ông Đ để mua…

Đầu năm 2004, xử sơ thẩm, TAND TP Hồ Chí Minh nhận định có cơ sở cho thất ông Đ đã gửi tiền về mua nhà, ông T là người đứng tên giùm. Tuy nhiên tại thời điểm đó, luật không cho phép Việt kiều mua nhà nên giao dịch này bất hợp pháp. Vì thế ông Đ chỉ được nhận lại tiền gửi mua nhà. Tòa tuyên phát mại nhà, phần chênh lệch giá giữa lúc mua và bán lúc xét xử sẽ xung quỹ nhà nước. Phía ông T có công xây dựng, bảo quản được hưởng 0,5% trong số tiền chênh lệc giá sung công.

Đến phiên phúc thẩm, TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh lại cho rằng ông Đ đã đầu tư làm ăn tại Việt nam theo quy định của pháp luật. Chính sách hiện nay là cho phép những Việt kiều như ông Đ được mua nhà trong nước nên việc phát mại nhà là không cần thiết. Tòa đã công nhận cho ông Đ được quyền sở hữu nhà.

Nhiều quan điểm xét xử, vì sao?

Một thẩm phán Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh thừa nhận khi xử các vụ án liên quan đến tranh chấp dạng này thì hầu như cách xử nào cũng đúng (?!). Bởi trước đây, luật chỉ quy định không cho Việt kiều giao dịch nhưng đến nay chưa có một hướng dẫn cụ thể nào nếu nhà đứng tên giùm thì xử lý sao, công nhận sở hữu hay không…Do vậy, không ít trường hợp có sự tréo ngoe trong việc giải quyết án. Có thẩm phán xử thế này, có thẩm phán lại xử khác…

Luật sư Phùng Thị Hòa (Đoàn Luật sư TPHCM) cho biết thêm, cái khó cũng là do sự “nửa vời” của pháp luật. Khi xét xử nhiều thẩm phán nhập nhằng trong việc xác định thời điểm giao dịch , dẫn đến tình trạng muốn công nhận sở hữu cũng được, không công nhận cũng xong. Nhiều trường hợp không công nhận quyền sở hữu vì thẩm phán xách định tại thời điểm giao dịch thì giao dịc đó không hợp pháp. Tuy nhiên, có thẩm phán lại nhận định đến thời điểm tranh chấp , Việt kiều đã hồi hương hay là nhà đầu tư… theo luật thì đượcmua nhà tại Việt Nam nên vẫn được công nhận quyền sở hữu…

Cho sở hữu sai nguyên tắc luật?

Khi xảy ra tranh chấp, phía Việt kiều phải chứng minh mình là người đưa tiền nhờ người trong nước đứng tên nhà giùm cho mình. Nếu không có chứng cứ thì coi như… trắng tay. Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng trường hợp Việt kiều chứng minh được thì việc công nhận quyền sở hữu nhà cho họ là không đúng nguyên tắc luật.

Theo luật sư Hòa, thời điểm nhờ đứng tên giùm, Việt kiều không được phép giao dịch, không có tư cách chủ thể, hợp đồng giữa hai bên là trái pháp luật nên vô hiệu. Mà hợp đồng vô hiệu thì cái gì của ai phải trả về cho người đó.

Một thẩm phán TAND TP Hồ Chí Minh cũng nhận định khi xử lý tranh chấp, tòa phải xác định đúng thời điểm giao dịch (là lúc Việt kiều và người trong nước giao kết đứng tên giùm). Tại thời điểm này, mọi giao kết đều không có giá trị. Do đó, cách xử đúng nhất là tuyên hợp đồng vô hiệu…

Luật sư Hồ Hữu Tỷ (Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh ) lại cho rằng trong một số trường hợp như Việt kiều hồi hương, Việt kiều là nhà đầu tư… thì việc giao quyền sở hữu cho họ là không có gì sai. Bởi trước sau gì thì họ cũng được phép mua nhà, không có lý do gì không công nhận luôn cho tiện!

Thẩm phán Trương Vĩnh Thủy (Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh) cũng đồng ý với quan điểm này…

Một thẩm phán khác tại TAND TP Hồ Chí Minh cho biết người trong nước đứng tên nhà là hợp pháp. Pháp luật cấm Việt kiều không được đứng tên thì họ nhờ người trong nước đứng tên cũng không sai. Giao dịch ở đây là giao dịch nhờ đứng tên chứ không phải là giao dịch mua bán nhà. Bây giờ nhà nước cho phép Việt kiều được mua nhà thì họ yêu cầu chuyển quyền sở hữu. Đó là yêu cầu chính đáng phải được chấp nhận…

Tuy nhiên theo nhiều chuyên gia pháp luật, việc công nhận quyền sở hữu hay không chỉ là quan điểm riêng. Đã đến lúc pháp luật phải có quy định thống nhất: Nếu thấy việc giao nhà là hợp lý thì nên đồng tình. Còn thấy nếu việc giao nhà là sai (vì trước đây đó là giao dịch không hợp pháp) thì cũng nên nói rõ ràng.

SOURCE: vietnamese-law-consultancy.com

VỀ YẾU TỐ TUỔI TRONG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA – BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIỆT NAM

Thông tin về tuổi của người được bảo hiểm (người có tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm). khi giao kết hợp đồng bảo hiểm con người đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá rủi ro và ra quyết định chấp nhận bảo hiểm, trì hoãn chấp nhận bảo hiểm hay từ chối chấp nhận bảo hiểm.

Quy định của pháp luật

Thông tin về tuổi của người được bảo hiểm (người có tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm). khi giao kết hợp đồng bảo hiểm con người đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá rủi ro và ra quyết định chấp nhận bảo hiểm, trì hoãn chấp nhận bảo hiểm hay từ chối chấp nhận bảo hiểm.

Mặt khác, hợp đồng bảo hiểm phải dựa trên nguyên tắc “trung thực tuyệt đối”, doanh nghiệp bảo hiểm hoàn toàn tin tưởng và căn cứ vào các thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp, trong đó có thông tin về tuổi của người được bảo hiểm để giao kết và thực hiện hợp đồng. Do vậy, bên mua bảo hiểm có trách nhiệm kê khai chính xác về tuổi của người được bảo hiểm. Vì nếu không, “trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan. Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm” (Khoản 2, Điều 34 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000). Theo đó, nếu khách hàng có hành vi thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, thì hậu quả pháp lý mà họ phải gánh chịu là:

1) Nhận lại số phí bảo hiểm đã nộp sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan (chi phí kiểm tra sức khỏe, chi phí quản lý, chi phí hoa hồng trả cho đại lý, chi phí phát hành hợp đồng…) nếu hợp đồng có hiệu lực dưới 24 tháng;

2) Nhận giá trị hoàn lại nếu hợp đồng có hiệu lực từ 24 tháng trở lên.

Tuy nhiên, Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH) và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đều không đưa ra khái niệm “giá trị hoàn lại” nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Theo các điều khoản bảo hiểm nhân thọ mà các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra thì giá trị hoàn lại (còn gọi là giá trị giải ước) là số tiền bên mua bảo hiểm được nhận khi bên mua bảo hiểm yêu cầu hủy hợp đồng hoặc khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực theo điều khoản và các điều kiện của hợp đồng.

Mỗi doanh nghiệp có một cách tính giá trị giải ước khác nhau nhưng đều dựa trên cơ sở dự phòng phí bảo hiểm (số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích ra từ phí bảo hiểm và lãi đầu tư thu được nhằm đảm bảo thanh toán đối với các trách nhiệm bảo hiểm đã cam kết trong tương lai). Giá trị giải ước được tính bằng dự phòng phí trừ đi phí giải ước. Việc khấu trừ phí giải ước nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp bảo hiểm thu đủ các chi phí đã bỏ ra liên quan đến hợp đồng đồng thời có thể bao gồm một khoản “tiền phạt” đối với bên mua bảo hiểm vì đã có lỗi trong việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Với cách tính như trên, giá trị giải ước không đồng nhất với số phí bảo hiểm đã nộp sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan. Trong một số trường hợp, giá trị giải ước có thể nhỏ hơn số phí bảo hiểm đã nộp, sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan và ngược lại. Giá trị giải ước vào ngày kỷ niệm hợp đồng là số tiền cụ thể đã được xác định tại phụ lục hợp đồng bảo hiểm và thường nhỏ hơn số phí bảo hiểm đã nộp (khi hợp đồng sắp đến kỳ đáo hạn thì giá trị này có thể bằng hoặc cao hơn số phí bảo hiểm đã nộp). Tại cùng một thời điểm, giá trị giải ước/tổng phí đã đóng là khác nhau theo mỗi sản phẩm, độ tuổi, giới tính, thời hạn bảo hiểm, phương thức đóng phí và cũng có sản phẩm bảo hiểm không có giá trị giải ước, ví dụ như bảo hiểm tử kỳ.

Những bất cập

Theo chúng tôi, quy định tại Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH là chưa đầy đủ, rõ ràng và không phù hợp với luật gốc – Bộ luật Dân sự, thậm chí có sự mâu thuẫn ngay trong bản thân điều luật. Bởi vì:

Thứ nhất, Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH đưa ra chế tài đối với bên mua bảo hiểm có hành vi thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm là “hủy bỏ hợp đồng” nhưng lại áp dụng hai hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau và không đúng bản chất của hủy bỏ hợp đồng được quy định tại Điều 419, Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 425 Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005). Theo đó: “1. Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. … 3. Khi hợp đồng bị hủy bỏ, thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải trả bằng tiền. 4. Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại”.

Về mặt nguyên tắc, hậu quả pháp lý của hợp đồng bị hủy bỏ cũng giống như hợp đồng vô hiệu. Nghĩa là hợp đồng coi như chưa được giao kết, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên (đối với hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường thiệt hại hay trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, khách hàng không có nghĩa vụ phải đóng phí bảo hiểm) và các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu như khi chưa có hợp đồng. Trong trường hợp này, do bên mua bảo hiểm là bên có lỗi nên họ phải bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm những chi phí hợp lý có liên quan mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Vì vậy, nếu bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm thì phải chịu hậu quả pháp lý – nhận giá trị giải ước nếu hợp đồng có hiệu lực từ hai năm trở lên (Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH) là không đúng với bản chất của hợp đồng bị huỷ bỏ được quy định tại Bộ luật Dân sự. Bởi vì, quy định việc hoàn trả giá trị giải ước nghĩa là đồng thời công nhận hợp đồng bảo hiểm đó vẫn có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết đến khi bị hủy. Và như vậy, nếu rủi ro của khách hàng xảy ra trước thời điểm hợp đồng bị hủy doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải bồi thường thiệt hại hoặc trả tiền bảo hiểm.

Thứ hai, không phải hợp đồng bảo hiểm con người nào cũng có giá trị giải ước khi hợp đồng có hiệu lực từ hai năm trở lên. Do đó, quy định “cứng nhắc” như Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH sẽ dẫn đến việc khách hàng thắc mắc, khiếu nại hoặc khởi kiện doanh nghiệp bảo hiểm khi mua các sản phẩm bảo hiểm không có giá trị giải ước, đồng thời làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng trong việc áp dụng luật để giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH chỉ quy định việc bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm mà không đề cập đến yếu tố lỗi (cố ý hay vô ý) của hành vi đó. Vấn đề đặt ra là, giả sử bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật về tuổi của người được bảo hiểm thì lúc đó sẽ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng theo Khoản 2, Điều 34 hay đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí đến thời điểm đình chỉ theo khoản 2 Điều 19 hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu theo điểm d, Khoản 1, Điều 22 Luật KDBH?

Thứ 4, Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH thiếu những quy định về việc loại trừ trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm đối với rủi ro của người được bảo hiểm xảy ra trước thời điểm hợp đồng bị hủy bỏ.

Hướng sửa đổi

Theo chúng tôi, Khoản 2, Điều 34 Luật KDBH nên được sửa đổi như sau: “Trong trường hợp bên mua bảo hiểm cố ý hay vô ý thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng, hoàn trả số phí bảo hiểm đã nộp cho bên mua bảo hiểm sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan và không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay trả số tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm”.

Mặt khác, vì Luật KDBH cũng như Bộ luật Dân sự chưa đề cập đến giá trị thời gian của số tiền mà các bên đã giữ hộ nhau. Chẳng hạn, số tiền bảo hiểm tại thời điểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho bên mua bảo hiểm có giá trị khác với số tiền mà bên mua bảo hiểm hoàn trả lại cho doanh nghiệp bảo hiểm khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực do thông báo sai tuổi, nhất là khi số tiền đó đã được giữ hộ trong một thời gian dài. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên, việc tính đến giá trị thời gian của tiền tệ khi hợp đồng bị huỷ bỏ là cần thiết và cần được thể hiện thống nhất trong Bộ luật Dân sự cũng như trong Luật KDBH.

SOURCE: Tạp chí nghiên cứu lập pháp

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI NGÂN HÀNG NHẬN LẠI TÀI SẢN BẢO ĐẢM TỪ CƠ QUAN THI HÀNH ÁN

ĐÀI HẢI HIỀN

Theo quy định của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn nghị định này, tài sản bảo đảm (TSĐB) tiền vay được xử lý khi đến hạn mà khách hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với các tổ chức tín dụng hoặc vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay. Nhìn chung, việc xử lý TSBĐ là do Ngân hàng cùng bên bảo đảm thực hiện, tuy nhiên trong trường hợp chủ sở hữu tài sản bị khởi tố về hành vi phạm tội thì tài sản bảo đảm có thể bị Cơ quan Thi hành án kê biên và xử lý. Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 14/1/2004 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quy định về việc kê biên và xử lý tài sản bảo đảm như sau:
– Tại điểm 4, Điều 41: Kê biên tài sản.
“Trong trường hợp người phải thi hành án không có tài sản nào khác thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người đó đang cầm cố“,thế chấp nếu tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm…”.
– Tại điều 48: Xử lý tài sản kê biên không bán được.
“… Nếu sai hai lần giảm giá mà tài sản vẫn không bán được thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản theo giá trị đã giảm để thi hành án. Nếu người được thi hành án không nhận thì chấp hành viên trả lại tài sản đó cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác”.
Thực tế, khi áp dụng các điều khoản này của Pháp lệnh Thi hành án, Cơ quan Thi hành án đã kê biên tài sản bảo đảm tiền vay của các Ngân hàng thương mại theo quy định và sau khi xử lý đã trích tiền chuyển ngân hàng để thu nợ cho khách hàng, việc này đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Tuy nhiên, có những trường hợp tài sản sau hai lần giảm giá mà vẫn không bán được. Cơ quan Thi hành án đã giao cho ngân hàng theo giá đã giảm để thi hành án. Việc nhận lại tài sản trong trường hợp này về phía ngân hàng có những vướng mắc như sau:
1. Về nguồn thu nợ: Những khách hàng đã chuyển sang cơ quan pháp luật xử lý hầu hết là những khách hàng có khó khăn về tài chính, ngân hàng chủ yếu là trông chờ thu nợ từ nguồn xử lý tài sản bảo đảm, do vậy mặc dù trong văn bản có quy định mở là “Nếu người được thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác”, Nhưng thực tế ngân hàng vẫn buộc phải nhận vì nếu không nhận tài sản này thì rất khó trông chờ vào nguồn thu khác để thu hồi vốn cho Ngân hàng.
2. Về giá tài sản nhận lại: Pháp lệnh thi hành án quy định Ngân hàng có quyền nhận tài sản theo giá trị đã giảm lần hai để thi hành án, như vậy có thể hiểu đây là giá để trừ nợ cho khách hàng. Điều này bất hợp lý ở chỗ giá tài sản định lần hai này là giá không bán được, tức là giá không được thị trường chấp nhận, do vậy giá bán tài sản thực tế chắc chắn là thấp hơn giá này và sẽ xảy ra hai trường hợp.
Trường hợp 1: Giá tài sản ngân hàng nhận lớn hơn phần nợ vay ngân hàng (theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án, chấp hành viên chỉ kê biên tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm), vậy ngay tại thời điểm nhận, ngân hàng đã phải trích trả ngay số tiền chênh lệch lớn hơn phần nợ vay này để chuyển trả cho Cơ quan Thi hành án để thi hành án. Tuy nhiên, trong quy định về quản lý tài chính của ngân hàng thì không có quy định nguồn nào để hạch toán chi cho khoản này. Mặt khác, khi tài sản ngân hàng nhận lại được đem bán trên thị trường, giá trị thực tế thu về thấp hơn giá nhận (đây là điều tất yếu) thì ngân hàng lấy khoản nào để bù cho phần đã trả lại chênh lệch cơ Cơ quan Thi hành án. Ví dụ: Giá nhận lại tài sản từ Cơ quan Thi hành án là 1 tỷ đồng, nợ vay của khách hàng là 700 triệu đồng, thì chênh lệch 300 triệu đồng ngân hàng phải lấy nguồn đâu để trả ngay cho Cơ quan Thi hành án phần chênh lệch này để thi hành án tiếp, thực tế khi bán tài sản sau khi trừ chi phí hợp lý cần thiết còn 800 triệu đồng, chênh lệch chỉ còn 100 triệu đồng, vậy phần chênh lệch 200 triệu đồng đã trả Cơ quan Thi hành án xử lý như thế nào? Đây là trường hợp mà thực tế rất khó xử lý.
Trường hợp 2, về nghĩa vụ trả nợ: Theo pháp lệnh Thi hành án, giá trị tài sản được kê biên phải lớn hơn nghĩa vụ bảo đảm, như vậy giá đã giảm lần hai của tài sản kê biên mà ngân hàng nhận lại cũng sẽ lớn hơn nghĩa vụ bảo đảm, do đó tài thời điểm Ngân hàng nhận lại tài sản, khách hàng đã hết nghĩa vụ với ngân hàng. Nhưng thực tế lại xảy ra trường hợp là tại thời điểm bán tài sản, giá tài sản lại giảm thấp hơn phần nợ vay, như vậy lúc này khách hàng phải có trách nhiệm với phần trả nợ thiếu không? Nếu khách hàng không có nghĩa vụ gì thì ngân hàng lấy nguồn đâu để bù đắp? Mặt khác việc này cũng chưa đúng với Thông tư số 03/2001/TTKT ngày 23/4/2001 của liên tịch Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính và Tổng cục địa chính hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, có quy định cụ thể là: Tài sản bảo đảm sau khi được xử lý nếu không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. Ví dụ: Giá nhận lại từ Cơ quan Thi hành án là 1 tỷ đồng, nợ vay ngân hàng là 900 triệu đồng, thực tế bán tài sản thu hồi được 800 triệu đồng, vậy còn 100 triệu đồng khách hàng có trách nhiệm trả tiếp không? Theo Pháp lệnh Thi hành án thì khách hàng không có trách nhiệm trả tiếp nhưng theo Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT thì khách hàng phải có trách nhiệm trả tiếp. Vậy hai quy định này là mâu thuẫn với nhau.
Từ phân tích trên cho thấy việc Cơ quan Thi hành án qua hai lần bán đấu giá không thành thì giao lại cho người được thi hành án (ngân hàng) theo giá đã giảm để thi hành án là điều chưa hợp lý, gây nhiều khó khăn cho ngân hàng, mặt khác cũng chưa đúng với hướng dẫn xử lý tài sản bảo đảm của Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT. Do vậy đứng trên góc độ ngân hàng (người được thi hành án) xin đề nghị các cấp thẩm quyền xem xét để sửa lại điều 48 của pháp lệnh thi hành án như sau:
“Nếu sau hai lần giảm giá mà tài sản vẫn không bán được thì người được thi hành án có quyền nhận lại tài sản để xử lý bán công khai theo quy định của pháp luật“,nếu giá tài sản thực tế bán được lớn hơn nghĩa vụ bảo đảm thì người được thi hành án phải có trách nhiệm chuyển số tiền chênh lệch đó cho Cơ quan Thi hành án để thi hành án”.
Với hướng giải quyết này sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm thu hồi vốn vay cho ngân hàng được thuận tiện, nhanh chóng và đúng chế độ quy định về xử lý tài sản bảo đảm. Mong rằng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các cấp thẩm quyền, các ngành liên quan sớm xem xét đến vướng mắc từ thực tế này của các ngân hàng thương mại để tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm thu hồi vốn nhanh phục vụ cho nền kinh tế phát triển./.

SOURCE: ICB.COM.VN