QUI CHẾ ĐỐI VỚI THẨM PHÁN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Các quy chế đối với Thẩm phán là yếu tố quan trọng quyết định đến sự công bằng, chính xác trong việc xử án. Với các nước khác nhau có những quy định về vấn đề này không giống nhau.

Ở Hàn Quốc, để đảm bảo cho các thẩm phán không bị lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào khác của Nhà nước, các Thẩm phán được đảm bảo về mặt pháp lý, quyền bất khả bãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán. Thẩm phán được bảo vệ trước mọi sự đe doạn và tấn công khi làm nhiệm vụ. Không Thẩm phán nào có thể bị sa thải khỏi cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các Thẩm phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ luật nếu chưa có Quyết định kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành lập tại Toà án tối cao. Tuy nhiên, Chánh án Toà án tối cao có thể ra quyết định buộc thôi việc đối với những thẩm phán có hạn chế về sức khoẻ theo đề nghị của Hội đồng thẩm phán Toà án tối cao.

Ở Malaixia, các Thẩm phán phải đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, trừ khi bị sa thải do những hành vi sai trái. Lương của Thẩm phán được quy định bằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Chánh án Toà án tối cao. Chỉ có Thẩm phán mới có quyền tài phán. Hiến pháp cho các Thẩm phán thẩm quyền khá rộng. Với tính chất độc lập của mình, cơ quan Tư pháp không phải chịu một sự kiểm sát nào của cơ quan hành pháp, trừ cơ sở vật chất, nhân viên do Bộ Tư pháp quản lý. Song cơ quan hành pháp không thể can thiệp vào chuyên môn của cơ quan xét xử. Họ không nhận bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh nào trong khi thực hiện hoạt động xét xử của mình. Tuy nhiên, khi xét xử, Thẩm phán rất chú trọng tời lập luận của Luật sư và Công tố viêc trước khi đưa ra những phán quyết cuối cùng theo quy định của pháp luật. Khi Thẩm phán nghi ngờ là có tội hay không có tội thì bị cáo được xem như là vô tội. Trong trường hợp bị cáo có tội thì Thẩm phán cho bị cáo nói lời sau cùng trước khi đưa ra quyết định của Toà án.

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, về nguyên tắc, các Thẩm phán không thể bị thuyên chuyển khỏi chức vụ mà họ đang giữ nếu không có sự đồng ý của họ, trừ trường hợp thuyên chuyển trong khuôn khổ của trình tự tố tụng. Các Thẩm phán có quyền tài phán, độc lập xét xử. Sự độc lập này thể hiện họ không phải chịu bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh nào khi thực hiện nhiệm vụ xét xử của mình.

SOURCE: HAIPHONG.GOV.VN

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ MỘT CHẾ ĐỊNH QUAN TRỌNG TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2006

HƯƠNG LAN

Ngày nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm thực hiện các quyền đó ngày càng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế cũng như đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Đối với nền kinh tế trong nước, làm tốt việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, bảo đảm động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thương mại; khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tạo uy tín cho sản phẩm. Hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành mạnh, có vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế.

Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Đây là một bước tiến dài trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Có thể nói, với việc thông qua một đạo luật thống nhất về sở hữu trí tuệ, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã xích lại gần hơn với thế giới.

Một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 là vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Luật dành riêng một phần gồm 3 chương, 22 điều quy định về vấn đề này, bao gồm các nội dung về quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp xử lý về hành chính, dân sự, hình sự hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ…. Trong đó có một số điểm đáng chú ý sau:

1. Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định rõ các quyền mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được phép tiến hành, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời chỉ rõ được vai trò chủ động của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Cụ thể, khoản 1, Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng biện pháp công nghệ, nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; khởi kiện ra toà án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Điểm b, khoản 1, Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, hành vi không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó, bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bị xử phạt hành chính. Quy định này đã gián tiếp khẳng định rõ hơn trong Luật quyền của chủ thể, quyền sở hữu trí tuệ trong việc yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm.

2. Các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được quy định cụ thể và có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng trong Luật Sở hữu trí tuệ, giúp các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ cũng như phối hợp với nhau tốt hơn trong quá trình xử lý hành vi vi phạm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền sở hữu.

Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án, trong trường hợp cần thiết, Toà án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.

Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.

3. Luật Sở hữu trí tuệ đã đề cao khía cạnh dân sự của quyền sở hữu trí tuệ thông qua các quy định về xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự.

Các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ xử lý tại toà dân sự sẽ được xem xét đầy đủ làm cho việc xử lý vi phạm đúng đắn, hiệu quả. Đây cũng là sự khẳng định rõ hơn của pháp luật, coi quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự (quyền nhân thân, quyền tài sản) mà việc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu toà dân sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình bị xâm phạm là một quyền hết sức quan trọng, đồng thời là một công cụ hữu hiệu giúp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Làm rõ về vấn đề này, Luật Sở hữu trí tuệ dành 9 điều (từ Điều 202 đến Điều 209), trong đó gồm các nội dung khá chi tiết về các biện pháp dân sự, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, các biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Đáng chú ý là quy định về nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra trong trường hợp xử lý vi phạm bằng biện pháp dân sự. Cụ thể, thiệt hại được xác định bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất được xác định trên cơ sở xác định các tổn thất thực tế, nếu không xác định được thì mức bồi thường thiệt hại do toà án ấn định, nhưng không quá năm trăm triệu đồng. Thiệt hại về tinh thần có thể được bồi thường từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Quy định về xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự trong Luật Sở hữu trí tuệ đã nâng cao vai trò của hệ thống cơ quan tư pháp, giảm bớt sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào các vấn đề mang tính dân sự, tránh việc hành chính hoá các quan hệ dân sự.

4. Về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ đã phân định rõ ràng những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính bằng quy định tại Điều 211.

Cụ thể, các hành vi xâm phạm quyền sở hứu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính: Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó; Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hứu trí tuệ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này; Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

Một điểm quan trọng ở nội dung xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính trong Luật Sở hữu trí tuệ là quy định về mức tiền phạt đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Khoản 4, Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ quy định mức tiền phạt theo giá trị hàng hoá vi phạm, được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá đó. Quy định này đã khắc phục được một hạn chế vẫn thường xảy ra trong xử lý vi phạm hành chính là pháp luật ấn định một khung tiền phạt chung cho một loại hành vi vi phạm nào đó, mà trong nhiều trường hợp, vi phạm hành chính thuộc loại này đem lại lợi nhuận cho chủ thể vi phạm hoặc gây ra thiệt hại, tổn thất cho nhà nước, xã hội lớn hơn rất nhiều lần so với mức tiền phạt được quy định, dẫn đến mục đích của việc xử lý vi phạm hành chính không phát huy được tác dụng.

Thay lời kết: Có thể nói, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 được xem là một bước tiến quan trọng trong ngành lập pháp nước ta, góp phần xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn bảo hộ và các thủ tục bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách kịp thời, hiệu quả, công bằng và ít phiền hà, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, cũng như hướng đến việc gia nhập WTO trong một tương lai gần.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP SỐ THÁNG 11/2006

 

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA CÁC QUI ĐỊNH VỀ THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

So với Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995, các qui định về thừa kế trong BLDS 2005 đã có nhiều điểm mới. Về cơ cấu, bố cục của các chương mục và số lượng các điều luật không có sự thay đổi lớn, ngoài việc tăng thêm một điều luật mới (Điều 687). Về nội dung, có một số điểm mới sau đây:

1. NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG:

Phần này có tất cả 14 điều, nhưng có 7 điểm mới được sửa đổi, bổ sung. Ngoài sửa đổi mang tính kỹ thuật tại Điều 635 thì việc sửa đổi, bổ sung trong 6 trường hợp còn lại đã làm thay đổi cơ bản về nội dung của các điều luật.

1.1. Thứ nhất, sửa đổi qui định về di sản

Khoản 2 Điều 637 BLDS 1995 qui định quyền sử dụng đất là một loại di sản thừa kế. Điều 634 BLDS 2005 bỏ qui định tại khoản 2 của Điều luật tương ứng và chỉ qui định thành 1 đoạn: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Điều này không có nghĩa là từ nay, pháp luật không thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại di sản. Quyền sử dụng đất vẫn là một loại di sản thừa kế vì theo BLDS 2005 và Luật Đất đai 2003 thì quyền sử dụng đất là một loại tài sản và được để lại thừa kê1. Khi soạn thảo BLDS 1995, trong giới luật học có nhiều tranh cãi về việc thừa nhận “quyền sử dụng đất” là tài sản, vì nhiều người cho rằng, quyền sử dụng đất chỉ là nội dung của quyền sở hữu đất đai. Để làm rõ việc công nhận khả năng thừa kế của quyền sử dụng đất, khoản 2 Điều 637 BLDS 1995 qui định quyền sử dụng là một loại di sản đặc biệt. Cho đến nay, việc thừa kế quyền sử dụng đất dần dần đã được xã hội chấp nhận. Vì thế, BLDS 2005 không cần thiết phải qui định thêm về di sản là quyền sử dụng đất. Sự sửa đổi này là tích cực và tiến bộ hơn về kỹ thuật lập pháp so với Luật cũ vì nó làm cho điều luật trở nên tinh gọn hơn nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật.

1.2. Bổ sung qui định về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

BLDS 1995 qui định người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong “phạm vi di sản” mà họ được hưởng. BLDS 2005 đã bổ sung cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” vào cuối khoản 1 và cuối khoản 3. Đây chỉ là sự thay đổi nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn về pháp lý. Về nguyên tắc, nghĩa vụ của người thừa kế đối với khoản nợ do người chết để lại vẫn nằm trong giới hạn và theo tỷ lệ di sản mà họ nhận được từ người chết, nhưng phạm vi này có thể không tương ứng với tỷ lệ di sản, thậm chí có thể lớn hơn phần di sản mà người thừa kế thực tế được hưởng, nếu các bên có thỏa thuận khác. Đây là một qui định mềm dẻo, vừa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của những người thừa kế và quyền lợi chính đáng của chủ nợ, vừa đề cao nguyên tắc tự định đoạt trong quan hệ dân sự, khuyến khích con cháu của người chết thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ mà người chết để lại, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc “trả nợ không làm xấu đi tình trạng của người thừa kế và món nợ mà người thừa kế phải gánh chịu không được vượt quá di sản”. Mặt khác, nội dung điều luật trở nên mềm dẻo hơn, mở ra một không gian tự do nhiều hơn để giữa nội bộ những người thừa kế với nhau và với chủ nợ có thể tự thỏa thuận để thực hiện nghĩa vụ dân sự do người chết để lại, mà không bị gò bó, cứng nhắc như qui định tương ứng của Luật cũ. Qui định này thể hiện tư tưởng tiến bộ, phù hợp với xu thế chung của pháp luật dân sự trên thế giới, tôn trọng và đề cao nguyên tắc tự do, tự nguyện trong các quan hệ dân sự.

1.3. Sửa đổi qui định về việc thừa kế của những người chết cùng một thời điểm

Điều 644 BLDS 1995 qui định: những người thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm thì không được thừa kế của nhau. Theo Ban soạn thảo BLDS 1995, thì qui định như là để bảo đảm sự công bằng giữa những người thừa kế của nhau. Hơn nữa, nếu thừa nhận họ có quyền thừa kế của nhau, thì di sản của mỗi người có thể phải chia mãi cho nhau mà không bao giờ chấm dứt. Thực tế cho thấy, qui định này không phù hợp với nguyên tắc xác định hàng thừa kế và tập tục chia thừa kế của các cộng đồng người Việt Nam. Tập quán “nước mắt chảy xuôi” thể hiện ở chỗ, khi ông bà, cha mẹ qua đời thì di sản của họ được truyền lại cho con cháu. Nếu con cháu của người thừa kế chết trước được thừa kế thế vị, mà con cháu của người thừa kế chết cùng thời điểm với người để lại di sản lại không được thừa kế thế vị, thì thật là vô lý và bất công. Do đó, Điều 641 BLDS 2005 đã sửa đổi theo hướng vẫn không thừa nhận quyền thừa kế của những người thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm, nhưng ghi nhận trường hợp ngoại lệ là nếu con, cháu được thừa kế của cha mẹ hoặc của ông bà mà chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì cháu hoặc trực hệ sẽ được thừa kế thế vị theo qui định chung. Qui định này chấm dứt sự tranh cãi bấy lâu nay về việc thừa kế thế vị của cháu hay chắt khi người thừa kế là con chết cùng thời điểm với người để lại di sản; đồng thời cũng bảo đảm sự rõ ràng, nhất quán trong việc áp dụng pháp luật.

1.4. Bổ sung qui định về quyền từ chối nhận di sản thừa kế

Khoản 3 Điều 642 BLDS 2005 bổ sung qui định: “Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế”. Bổ sung này không làm thay đổi tinh thần Điều luật, nhưng làm rõ hơn tính chất “mặc nhiên” “tự động” của quyền thừa kế; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để xác định những vấn đề có liên quan trong việc giải quyết nợ của người chết, xác định kỷ phần thừa kế bắt buộc, tiến hành các thủ tục phân chia di sản, xác định tư cách tố tụng trong việc kiện chia di sản… Nhưng theo chúng tôi, qui định này vẫn không làm “vô hiệu hóa” quyền từ chối nhận di sản. Trên thực tế, người thừa kế vẫn có quyền không nhận di sản cho đến khi di sản được phân chia mà không ai có thể buộc họ phải nhận, kể cả tòa án. Bởi vì khi di sản được chia theo thủ tục thỏa thuận hoặc thủ tục tư pháp, thì người thừa kế vẫn có quyền từ chối nhận di sản. Như vậy, nếu vận dụng các thủ tục này, thì việc ràng buộc người thừa kế “không được quyền từ chối thừa kế sau 6 tháng, kể từ ngày mở thừa kế” như tinh thần của Điều luật chỉ còn có ý nghĩa hạn chế.

1.5. Bổ sung qui định về di sản không có người thừa kế thì thuộc về Nhà nước

Điều 647 BLDS 1995 qui định Nhà nước hưởng di sản không có người thừa kế nhưng Nhà nước không phải là người thừa kế sau cùng. Tuy nhiên, Điều luật đã không qui định rõ là Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng không nhất quán. Nhiều trường hợp, cơ quan chức năng không quan tâm đến nghĩa vụ của người chết đối với người khác, nên đã làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan. Khắc phục điểm yếu này, Điều 644 BLDS 2005 bổ sung như sau:

Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước.”

Qui định này vẫn không làm thay đổi nguyên tắc Nhà nước được hưởng di sản không người thừa kế, nhưng xác định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi nhận di sản không người thừa kế: phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, qua đó thể hiện sự tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan đến di sản.

1.8. Bổ sung qui định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

Điều 648 BLDS 1995 không qui định về thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại. Thông tư liên ngành số 03/1996 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao dựa vào Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội để hướng dẫn thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là “không hạn chế thời gian”. Qui định này đã gây ra một hậu quả tiêu cực về mặt tố tụng: bất cứ lúc nào, chủ nợ cũng có thể khởi kiện đòi nợ do người chết để lại. Thực tế đó không chỉ gây khó khăn cho tòa án trong việc điều tra, xác minh tìm chứng cứ và gây ra sự bất ổn trong các quan hệ dân sự, mà còn đe dọa xâm phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế, những người đã thực hiện nghĩa vụ từ rất lâu, nhưng không lưu giữ được chứng từ… Khắc phục nhược điểm này, BLDS 2005 đã bổ sung qui định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là 3 năm, tính từ ngày mở thừa kế. Có nghĩa, sau 3 năm kể từ ngày mở thừa kế, các chủ nợ không mẫn cán đòi nợ người thừa kế thì quyền đòi nợ chấm dứt2. Thế nhưng qui định này vẫn còn những bất cập, như: Trên thực tế, có những món nợ đã đến ngày hết thời hiệu khởi kiện theo qui định chung, nhưng khi người có nghĩa vụ chết thì được cộng thêm 3 năm nữa, làm cho thời hiệu khởi kiện thực tế kéo dài thêm rất lâu so với qui định chung; mặt khác, có những nghĩa vụ chưa tới hạn mà người có nghĩa vụ chết, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm nào: bắt đầu từ ngày đáo hạn hay bắt đầu khi người có nghĩa vụ chết, là điều còn nhiều tranh cãi. Hơn nữa, qui định thời hiệu chung cho các loại nghĩa vụ của người sống chỉ có hai năm3, nhưng đòi nợ của người đã chết thì đến những 3 năm, chưa kể khoảng thời gian trước khi con nợ chết chưa được luật cho trừ ra, là điều khó lý giải. Thiết nghĩ qui định này cần có sự giải thích và hướng dẫn của các cơ quan liên ngành để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

2. THỪA KẾ THEO DI CHÚC

Chương XXIII gồm 28 điều luật, trong đó có 7 điều luật được sửa đổi, bổ sung. Ngoài những sửa đổi mang tính kỹ thuật tại khoản 3 Điều 650 và Điều 657, thì 5 điểm mới còn lại đều có những thay đổi cơ bản về mặt nội dung.

2.1. Sửa đổi qui định về quyền của người lập di chúc

Khoản 4 Điều 648 BLDS 2005 qui định về quyền của người lập di chúc cơ bản vẫn giữ nội dung gần giống như Luật cũ, nhưng bỏ đi cụm từ “trong phạm vi di sản”. Qui định này sẽ có tác động tiêu cực đến việc người lập di chúc định đoạt di sản có kèm theo món nợ. Nếu người thừa kế tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nhiều hơn phần di sản mà mình được hưởng thì không có gì đáng nói, nhưng để cho người lập di chúc toàn quyền ấn định nghĩa vụ tài sản cho những người thừa kế để buộc họ phải thực hiện tất cả các món nợ do người chết để lại, thì thật là bất công, trong khi Điều 642 BLDS 2005 lại không cho phép người thừa kế được quyền từ chối nhận di sản sau 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Chẳng may người thừa kế không có điều kiện để biết nội dung di chúc hoặc không thể thực hiện quyền từ chối đúng thủ tục và trong thời hạn qui định, thì chắc chắn họ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ do người chết để lại, cho dù nghĩa vụ đó có thể lớn hơn di sản mà người chết để lại rất nhiều, hoặc ngay cả khi họ không được hưởng di sản. Qui định này tạo ra sự bất công và xâm phạm quyền lợi chính đáng của người thừa kế, nhất là với con, cháu chưa thành niên hoặc những người thừa kế không có khả năng kinh tế. Pháp lệnh Thừa kế và BLDS 1995 đã rất thành công trong việc xóa bỏ tục lệ lạc hậu phong kiến “phụ trái, tử hoàn”4(4). Thiết nghĩ luật không nên buộc người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại vượt quá phần di sản mà họ được nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận.

2.2. Sửa đổi và bổ sung qui định về di chúc miệng

Khoản 1 Điều 651 BLDS 2005 bỏ đoạn cuối trong khoản 1 của Điều 654 và nội dung này được chuyển thành khoản 5 của Điều 652 BLDS 2005. Sự sửa đổi này không làm thay đổi nội dung mà chỉ có tác dụng làm cho Điều luật tinh gọn.

Khoản 2 của Điều 651 bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên”, làm cho Điều luật trở nên rõ nghĩa hơn. Theo Luật cũ, di chúc miệng cũng được coi là bị hủy bỏ sau 6 tháng kể từ ngày lập mà người di chúc vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, sáng suốt, nhưng không qui định thủ tục để hủy bỏ và ai có quyền tuyên bố hủy bỏ di chúc miệng. Bổ sung thêm hai từ “mặc nhiên” nhằm xác định rõ phạm vi áp dụng của Điều luật, tránh làm cho Điều luật được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng không thống nhất..

2.3. Bổ sung qui định về điều kiện để công nhận di chúc hợp pháp

Điều 652 BLDS 2005 có một bổ sung rất quan trọng: “Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. Theo đó, nhà làm luật đã qui định thêm về thời hạn xác định và thủ tục để lập bản ghi chép nội dung di chúc miệng.

Pháp lệnh Thừa kế 1990 thừa nhận giá trị của di chúc miệng nhưng không qui định thủ tục ghi chép lại di chúc miệng. Khi tranh tụng tại tòa án, hầu hết các di chúc miệng đều bị tòa án bác bỏ vì không có cơ sở để tin cậy nếu chỉ dựa vào lời khai đơn phương của một bên nhân chứng hoặc khi các nhân chứng có lời khai mâu thuẫn. Khắc phục bất cập này, BLDS 1995 qui định về thủ tục lập nội dung di chúc miệng là: những người làm chứng “phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó”. Nhưng “ngay sau đó” là bao lâu thì không thể xác định được, nên thực tế có nhiều người làm chứng đã để rất lâu sau mới chịu lập văn bản ghi nội dung di chúc miệng. Điều này đã gây ra khó khăn cho tòa án trong việc thẩm định giá trị của di chúc miệng và muốn bác bỏ nó thì cũng thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng.

Luật mới xác định chính xác khoảng thời gian mà người làm chứng phải viết lại nội dung di chúc miệng là “5 ngày, sau khi người di chúc miệng thể ý chí sau cùng”. Với thủ tục chặt chẽ này, hy vọng việc lập di chúc miệng sẽ đi vào qui củ hơn, bảo đảm độ chính xác và tin cậy cao hơn, ngăn ngừa sự thể hiện ý chí chủ quan của người làm chứng, tăng cường trách nhiệm của người làm chứng di chúc. Qui định này cũng thể hiện quyết tâm của nhà lập pháp nhằm loại bỏ khả năng người làm chứng có thể tự ý sửa chữa, viết lại nhiều lần hay đánh tráo văn bản ghi nội dung di chúc miệng.

2.4. Sửa đổi qui định về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

Điều 671 BLDS 1995 qui định: “Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”. Qui định này tỏ ra phiền toái vì vấn đề thỏa thuận như vậy rất ít gặp trên thực tế và nếu các bên không thỏa thuận thì sẽ dẫn tới một điều bất hợp lý là tuy là di chúc được lập chung, nhưng di sản của từng người để lại sẽ được chia riêng. Điều đó gây khó khăn cho việc thi hành di chúc vì chỉ có một giao dịch, nhưng có đến hai thời điểm có hiệu lực khác nhau. Cũng vì thế mà nguyên tắc “củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình” sẽ không thể thực hiện được. Khắc phục nhược điểm này, Điều 668 BLDS 2005 qui định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Qui định này tỏ ra hợp lý hơn so với qui định tương ứng trong BLDS 1995, vì một di chúc chỉ có thể có một thời điểm có hiệu lực.

Tuy vậy, qui định này, tự thân nó, cũng còn vẫn chứa đựng nhiều bất cập. Liệu một di chúc chung của vợ, chồng có còn duy trì hiệu lực hay không, nếu vợ chồng được tòa án cho ly hôn hoặc được tòa án cho phép chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, sau thời điểm di chúc chung được lập?. Mặt khác, qui định này đã xâm phạm đến quyền thừa kế hợp pháp của người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế bắt buộc của người vợ hoặc chồng chết trước và làm ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Theo đó, nhiều câu hỏi phức tạp đặt ra mà không dễ tìm lời giải đáp: người thừa kế hợp pháp của người vợ hay chồng chết trước có được khởi kiện để chia thừa kế của người chết hay không? Nếu thời hiệu khởi kiện thừa kế (10 năm) đã hết, nhưng di chúc vẫn chưa có hiệu lực pháp luật (vì người vợ hay người chồng còn lại vẫn còn sống) thì người thừa kế của người chết trước có được quyền khởi kiện nữa không? Nếu di sản hư hỏng hay giảm sút giá trị thì ai chịu trách nhiệm?…

Thiết nghĩ nhà làm luật nên giải thích rõ thêm vấn đề này để việc nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất.

2.5. Sửa đổi qui định về công bố di chúc

Khoản 3 Điều 672 BLDS 2005 bỏ đoạn “bản sao di chúc phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế”. Phù hợp với thực trạng pháp luật công chứng, chứng thực hiện nay (do quá tải trong hoạt động công chứng và pháp luật không bắt buộc mọi bản sao đều phải có công chứng), luật không bắt buộc phải công chứng, chứng thực bản sao tờ di chúc. Qui định này tỏ ra thông thoáng, thể hiện tính thực tiễn cao, làm cho Điều luật mang tính khả thi hơn, tạo điều thuận lợi hơn cho việc công bố di chúc mà vẫn bảo đảm sự minh bạch vì tại khoản 4 của Điều luật đã qui định quyền được đối chiếu bản sao di chúc với bản gốc của nó.

3. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Phần này gồm có 7 điều luật qui định về việc thừa kế theo pháp luật, nhưng có 3 điều khoản được sửa đổi, bổ sung. Tuy số nội dung bị sửa đổi, bổ sung không nhiều, nhưng đây là những điểm mới làm thay đổi cơ bản nội dung của điều luật:

3.1. Bổ sung qui định hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba

Điểm b khoản 1 Điều 679 BLDS 1995 qui định hàng thừa kế thứ hai không có cháu nội, cháu ngoại của người chết. BLDS 2005 bổ sung người thừa kế là “cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại”. Tương tự, điểm c khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 cũng bổ sung thêm người thừa kế là “chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”. Như vậy, theo qui định mới, thì ông, bà và cháu là “hàng thừa kế thứ hai của nhau”; các cụ và chắt là “thừa kế hàng thứ ba của nhau”. Việc bổ sung này đã gây ra nhiều tranh cãi trên thực tế.

Có ý kiến cho rằng, diện thừa kế theo pháp luật được đặt trên 3 mối quan hệ cơ bản về gia đình: quan hệ huyết thống (trực hệ và bàng hệ), quan hệ hôn nhân (vợ – chồng hợp pháp) và quan hệ nuôi dưỡng (con nuôi và con riêng của vợ hoặc của chồng…). Thật bất hợp lý và không công bằng, nếu con hoặc cháu trực hệ (cháu nội, cháu ngoại) hoặc chắt trực hệ (chắt nội, chắt ngoại) không được đưa vào hàng thừa kế, trong khi những người khác có quan hệ huyết thống bàng hệ lại được thừa kế của người chết. Cũng không công bằng khi để cho ông, bà được thừa kế hàng thứ hai của cháu, nhưng cháu không được thừa kế ở hàng thứ hai của ông bà; tương tự, chắt không được thừa kế ở hàng thứ ba của cụ.

Có ý kiến ngược lại cho rằng, qui định của luật mới thừa nhận cháu vào hàng thừa kế thứ hai và chắt vào hàng thừa kế thứ ba của người để lại di sản sẽ tạo ra sự bất cập, mâu thuẫn và chồng chéo giữa các điều luật. Vì ngoài việc được xếp vào hàng thừa kế thứ hai (đối với cháu nội, cháu ngoại) hoặc hàng thừa kế thứ ba (đối với chắt nội, chắt ngoại) thì các đối tượng này còn được xếp vào diện được thừa kế thế vị. Nếu cho cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị thì qui định cháu thừa kế theo hàng thứ hai và chắt ở hàng thứ ba sẽ trở nên vô nghĩa, vì lúc đó việc thừa kế của hàng thứ hai và của hàng thứ ba sẽ không xảy ra. Nếu cho họ vừa được thừa kế theo hàng, vừa thừa kế thế vị thì lại vi phạm nguyên tắc chia thừa kế ưu tiên cho hàng thừa kế trước.

Tuy vậy, chúng tôi cho rằng qui định như trên là tiến bộ và phần nào khắc phục được những bất cập của BLDS 1995 về thừa kế thế vị; đồng thời, qui định này cũng không mâu thuẫn với qui định khác về hàng thừa kế vì những cơ sở sau đây:

Thứ nhất, qui định của luật hiện hành về hàng thừa kế và thừa kế thế vị đã không bảo vệ hữu hiện quyền lợi chính đáng của cháu, chắt trong quan hệ thừa kế. Thực tế cho thấy không phải lúc nào con chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu cũng được thừa kế thế vị. Tương tự, không phải lúc nào cha, mẹ của chắt chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt đương nhiên được thừa kế thế vị. Quyền được thừa kế thế vị của cháu, chắt trong thực tế thường gặp nhiều rủi ro khiến cho họ không được thế vị, vì cha mẹ của họ không đủ điều kiện để hưởng thừa kế của người để lại di sản. Không đủ điều kiện để được hưởng di sản là rất đa dạng, bao gồm những trường người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản; hoặc bị truất quyền hưởng di sản; hoặc từ chối di sản. Nếu cha mẹ của cháu hoặc cha mẹ của chắt thuộc 1 trong 3 trường hợp vừa nêu thì tất nhiên là cháu, chắt sẽ không thể được hưởng thế vị. Khi hàng thừa kế thứ nhất không còn bất kỳ ai đủ điều kiện để được thừa kế, thì di sản sẽ được chia cho hàng thứ hai; hàng thừa kế thứ hai không ai đủ điều kiện thì di sản sẽ chuyển xuống cho hàng thứ ba. Do đó, nếu chỉ áp dụng qui định về thừa kế thế vị thì sẽ không bảo đảm quyền được thừa kế của cháu, chắt trực hệ và cũng không bảo đảm sự công bằng trong mối quan hệ thừa kế qua – lại giữa cháu với ông bà hoặc giữa chắt với các cụ. BLDS 2005 qui định bổ sung điểm này là cần thiết, vừa khắc phục bất cập trong quan hệ thừa kế giữa cháu với ông, bà và giữa chắt với các cụ, vừa tạo điều kiện tối đa để cháu hoặc chắt có cơ hội được hưởng thừa kế.

Thứ hai, qui định này và qui định về thừa kế thế vị chẳng những không chồng chéo, mâu thuẫn mà còn bổ sung cho nhau. Nếu cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị, có nghĩa di sản sẽ không được chuyển xuống cho các hàng thứ hai và hàng thứ ba, nên sẽ không có chuyện một người vừa được thừa kế thế vị vừa được hưởng thừa kế theo hàng. Nhưng nếu chẳng may cháu hoặc chắt không được thừa kế thế vị thì vẫn có thể được hưởng thừa kế theo hàng.

Tuy vậy, qui định này cũng không bảo đảm triệt để quyền thừa kế của cháu, chắt trực hệ vì trong nhiều trường hợp các cháu hoặc chắt vừa không được thừa kế thế vị vừa không được thừa kế theo hàng. Nếu cha, mẹ của cháu hoặc cha mẹ chắt đều không đủ điều kiện để được hưởng di sản; đồng thời ở hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn người thừa kế khác đủ điều kiện để hưởng thừa kế; hoặc tương tự, nếu ở hàng thừa kế thứ hai vẫn còn người thừa kế khác đủ điều kiện hưởng thừa kế, thì cháu hoặc chắt sẽ không được hưởng thừa kế của người để lại di sản, vì họ không được chia thừa kế theo hàng và cũng không được thừa kế thế vị.

Qui định này cũng tỏ ra không công bằng giữa người thừa kế đồng vị với nhau, đó là giữa cháu hoặc chắt có cha, mẹ không đủ điều kiện thừa kế so với cháu hoặc chắt có cha, mẹ đủ điều kiện hưởng thừa kế. Cháu hoặc chắt nói đến trong trường hợp thứ nhất không được thừa kế thế vị và cũng không được thừa kế theo hàng nếu hàng trước còn người khác đủ điều kiện thừa kế; còn cháu hoặc chắt nói đến trong trường hợp sau sẽ được hưởng thừa kế thế vị, tức là thay vào vị trí của cha, mẹ hoặc ông bà để hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất. Do đó, qui định mới vẫn chưa khắc phục được bất cập trong BLDS 1995 mà chúng ta muốn sửa.

Thiết nghĩ, để bảo đảm quyền được thừa kế của cháu, chắt đối với di sản do ông, bà hoặc các cụ để lại, không nên chỉ bổ sung họ vào hàng thừa kế, mà nên bổ sung luôn cả vào diện thừa kế thế vị, mới có thể bảo đảm triệt để quyền thừa kế của con cháu trực hệ.

3.2. Bổ sung qui định về thừa kế thế vị

Nhằm bảo đảm sự nhất quán trong việc hưởng thừa kế thế vị của cháu trực hệ, chắt trực hệ trong trường hợp người thừa kế là con hoặc cháu nội, cháu ngoại chết cùng thời điểm với người để lại di sản so với trường hợp chết trước người để lại di sản, Điều 677 BLDS 2005 đã bổ sung như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha, mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha, mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

Sự bổ sung này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho cháu hoặc chắt trực hệ được hưởng thừa kế của người để lại di sản. Không có lý do nào mà người con của người thừa kế là con “chết trước” được hưởng thế vị, mà người con của người thừa kế là con “chết cùng thời điểm” lại không được thế vị. Suy cho cùng, “người con chết trước” người để lại di sản hay “người con chết cùng thời điểm” với người để lại di sản hoàn toàn giống nhau về bản chất: thứ nhất, cả hai trường hợp người thừa kế đều là con, cháu trực hệ của người để lại di sản; thứ hai, họ đều đã không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Sự bổ sung này của Luật mới làm chấm dứt tình trạng tranh cãi trong việc áp dụng qui định về thừa kế thế vị, chấm dứt việc “phân biệt đối xử” một cách bất hợp lý trong luật thực định bấy lâu nay và đảm bảo sự công bằng trong việc thừa kế thế vị giữa các cháu, chắt.

Sự sửa đổi này cũng cho chúng ta thấy một điểm rất thú vị của pháp luật là, mặc dù cả hai trường hợp người thừa kế là con hoặc cháu chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản đều làm phát sinh quyền được thừa kế thế vị đối với các cháu hoặc chắt trực hệ của người để lại di sản. Nhưng giữa hai trường hợp này trên thực tế vẫn có điểm khác nhau. Vì đối với người con hay người cháu được thừa kế mà chết trước người để lại di sản, thì người để lại di sản cũng được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất (cha thừa kế của con) hoặc thứ hai (ông, bà thừa kế của cháu), hoặc được hưởng thừa kế bắt buộc phần di sản do người này để lại. Ngược lại, nếu con hoặc cháu chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì họ không được thừa kế của nhau. Người để lại di sản không được hưởng thêm phần di sản từ người con, cháu chết cùng thời điểm với mình, nhưng vẫn dành phần di sản để chia thừa kế thế vị cho cháu hoặc chắt theo qui định chung. Ví dụ: A có con là B và C. B có vợ là H, có con là K. A có tài sản riêng là 100 triệu. B có tài sản riêng là 90 triệu. Nếu B chết trước A thì A được thừa kế của B 30 triệu, nên khi A chết, di sản của A là 130 triệu, và khi A chết thì K (thế vị cho B) và C được hưởng thừa kế của A, mỗi người 65 triệu. Nhưng nếu A và B chết cùng thời điểm, thì A và B không được thừa kế của nhau. Do đó, B chết, H và K được mỗi người 45 triệu từ B. A chết, C và K (thế vị cho B) mỗi người chỉ được 50 triệu mà thôi. Phần di sản của A truyền lại cho những người thừa kế của mình giảm đi rõ rệt. Mặc dù vậy, qui định như trên trong Luật mới là hoàn toàn hợp lý.

4. THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN

Phần này trong BLDS 1995 có 6 điều luật và được sửa đổi, bổ sung 2 điều khoản trong BLDS

2005. Cụ thể:

4.1. Bổ sung qui định về các trường hợp hạn chế phân chia di sản

Ngoài hai căn cứ hạn chế phân chia di sản được qui định tại Điều 689 BLDS 1995, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 cũng đưa điều khoản hạn chế phân chia di sản khi một bên vợ hoặc chồng chết trước mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ chồng còn sống và gia đình5… Qui định này đã được thực tế chấp nhận và phát huy tính tích cực trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan. Kế thừa qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, nhà làm luật đã bổ sung vào Điều luật tương ứng trong BLDS 2005 nội dung:

Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế”. Đây là qui định tiến bộ, thể hiện rõ nguyên tắc củng cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ của Điều luật, chúng ta thấy vẫn còn những vấn đề bất cập chưa được giải quyết rốt ráo trong Điều 689 BLDS 1995 cũng như Điều 686 BLDS 2005. Cụ thể:

– Đoạn 1 vẫn chưa qui định một khoảng thời gian tối đa cho việc hạn chế phân chia di sản hay căn cứ chấm dứt việc hạn chế phân chia. Điều này gây ra những bất cập mới là, sẽ có những trường hợp đáng lẽ phải chấm dứt tình trạng hạn chế phân chia di sản để bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người thừa kế khác, thì lại không có căn cứ pháp lý để công nhận sự chấm dứt đó. – Qui định mới cũng đã không dự liệu được khả năng di sản bị sụt giảm nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc vô ý của người hưởng dụng, của người thứ ba hay do nguyên nhân bất khả kháng; luật cũng không qui định quyền được giám sát hay quyền yêu cầu của những người thừa kế để đòi chấm dứt sự hạn chế phân chia di sản đối với người hưởng dụng, cũng như quyền yêu cầu được thanh toán giá trị phần di sản bị tổn thất khi xảy ra tình huống trên.

– Cả hai khoản trong Điều luật đều cho phép hạn chế phân chia di sản trong một thời hạn. Sự hạn chế này trên thực tế sẽ làm cho thời hiệu khởi kiện 10 năm bị ảnh hưởng (ngắn đi so với qui định của pháp luật). Vậy thì pháp luật có cho phép thời hiệu khởi kiện được kéo dài tương ứng với thời hạn bị hạn chế phân chia di sản hay không? Nếu có thì cơ sở pháp lý là ở đâu?

Đây là những điểm bất cập mà nhất thiết phải được bổ khuyết hoặc phải được giải thích, hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm tránh sự tranh cãi và sự tùy tiện, thiếu nhất quán khi áp dụng pháp luật.

4.2. Bổ sung Điều luật mới về phân chia di sản khi có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Điều 687 BLDS 2005 qui định:

1. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Điều luật này khắc phục tình trạng bỏ sót người thừa kế khi chia thừa kế; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để yêu cầu người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế phải hoàn trả phần di sản mà họ được chia trước khi quyền thừa kế của họ bị bác bỏ. Điều luật qui định rõ thời điểm qui đổi giá trị kỷ phần di sản là thời điểm di sản được phân chia trên thực tế, nhằm xác định rõ ràng về cách tính giá trị phần di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng khi có tranh chấp.

Tóm lại, mặc dù những qui định về thừa kế trong BLDS 2005 không được hoàn mỹ như mong đợi của nhiều người, nhưng trên thực tế nó đã có một bước tiến rất đáng kể cả về kỹ thuật lập pháp cũng như về nội dung. Nhiều bất cập trong BLDS 1995 đã được luật mới sửa đổi, hoàn thiện. Nói như vậy không phải là sau khi Bộ luật mới được thông qua, mọi sự bàn cãi, nghiên cứu thêm về các bất cập khác và các bất cập mới sẽ phát sinh, đều được xếp lại. Đòi hỏi thực tế cuộc sống luôn buộc chúng ta không ngừng phải hoàn thiện những hạn chế trong luật thực định mà chúng ta chưa kịp hoàn thiện lần này, cũng như những vướng mắc sẽ phát sinh khi áp dụng những qui định mới của luật trong thời gian tới.

Chú thích:

1 BLDS 2005 dành một phần riêng để qui định về thừa kế quyền sử dụng đất (từ Điều 688 đến Điều 735) và Luật Đất đai 2003 cũng qui định về thừa kế quyền sử dụng đất rất cụ thể tại các Điều 106, Điều 113 khoản 5, Điều 114 khoản 1, Điều 121 khoản 2 điểm d, Điều 129.

2 Xem thêm khoản 7 Điều 374 và Điều 383 BLDS 2005.

3 Xem thêm các Điều 427 BLDS về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự, Điều 607 về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 2 năm.

4 “Phụ trái, tử hoàn” nghĩa là cha, mẹ mắc nợ thì khi cha, mẹ qua đời, con cháu phải hoàn trả. Đây là tục lệ cũ, ràng buộc con cháu trả nợ thay cho người quá cố, dù họ không được hưởng di sản của người đó.

5 Xem thêm qui định tại khoản 1 Điều 31 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000; mục 4 Nghị quyết số 02/2000/ NQ – HĐTP của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân Tối cao ngày 23/12/2000.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…/2006

TÀI SẢN ĐƯỢC PHÉP MANG VỀ NƯỚC KHI NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI HỒI HƯƠNG

1. Tài sản được mang về nước:

Theo các qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam, hàng hoá là tài sản di chuyển, đồ dùng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi hồi hương về nước mang theo thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, được miễn thuế nhập khẩu. Cụ thể:
– Đối với số tiền thuộc tài sản, thu nhập của người Việt nam ở nước ngoài mang theo khi hồi hương về Việt Nam không hạn chế về số lượng, không phải chịu khoản thuế nào.
– Đối với hàng hoá tiêu dùng như ôtô, xe máy, ti vi, tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ, dàn âm thanh đang sử dụng được miễn thuế nhập khẩu mỗi thứ một chiếc cho mỗi hộ gia đình (hoặc cá nhân) người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang về nước khi được phép về định cư tại Việt Nam.
– Theo qui định hiện hành của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt thì hàng hoá là tài sản di chuyển của cá nhân và gia đình người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang về khi hồi hương không thuộc đối tượng xét miễn thuế tiêu thụ đặc biệt.
Hiện nay, những mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là thuốc lá, rượu, bia, ôtô, xăng dầu.

2. Hồ sơ xin miễn thuế nhập khẩu:

Tờ khai Hải quan; Quyết định cho phép hồi hương tại Việt Nam; Bản kê chi tiết tài sản; Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản.

SOURCE: http://www.ubvk.hochiminhcity.gov.vn

ĐỀ CƯƠNG VẤN ĐỀ 4 – MODUL2: NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

I. TÀI LIỆU

1. Tài liệu bắt buộc:

– Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 388 – 427) đối chiếu tương ứng với Bộ luật dân sự năm 1995;

– Các văn bản qui phạm pháp luật được gợi ý tại các trang 33 -34 Đề cương môn học Luật dân sự Modul 2

– Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập 2 – Đại học Luật hà Nội;

– Các tài liệu khác được liệt kê tại Đề cương môn học Luật dân sự Modul 2 Tr 32 – 33

2. Tài liệu tham khảo lựa chọn:

– Các bài viết hoặc thông tin có liên quan đăng tải trên các tạp chí Luật học, Nghề Luật, Tòa án nhân dân, Nghiên cứu lập pháp, Nhà nước và pháp luật, Khoa học pháp lý … và trên các trang Web.

– Đọc thêm các bài viết sau (được đăng trên weblog này. Click vào chủ đề: Hợp đồng):

+ Lừa dối – yếu tố vô hiệu hợp đồng kinh tế (này gọi chung là hợp đồng);

+ Một số ý kiến về đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế;

+ Nội dung hợp đồng dân sự

+ Một số vấn đề pháp lý về mang thai hộ;

+ Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ do vi phạm hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam;

+ Một số lỗi thương thảo hợp đồng;

+ Hình thức của hợp đồng kinh doanh – Một vấn đề không thể xem nhẹ;

+ Thực hiện hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu;

+ Một số ý kiến về hợp đồng;

+ Một số ý kiến về các chế định liên quan tới hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và Dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi)

+ “Cần sửa đổi một số qui định về hợp đồng dân sự cho phù hợp với thể chế của tổ chức WTO”

+ Hòan thiện chế định hợp đồng

+ Giao dịch điện tử;

+ Tính logic của một hợp đồng kinh doanh

II. YÊU CẦU VỀ KIẾN THỨC:

1. Khái niệm hợp đồng dân sự:

Nội dung 1. Định nghĩa hợp đồng:

Sự thỏa thuận giữa các chủ thể dân sự nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự

Nội dung 2. Đặc điểm của hợp đồng

– Là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của hai hoặc nhiều chủ thể dân sự:

+ Các bên trong hợp đồng có sự khác biệt về lợi ích thỏa thuận để hướng tới tiêu cao nhất là hai bên cùng có lợi;

+ Các chủ thể phải bày tỏ ý chí của mình dưới một hình thức nhất định;

+ Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (bao gồm cả trách nhiệm dân sự) do các bên thỏa thuận (Trừ các quyền, nghĩa vụ được qui định bởi pháp luật);

+ Thỏa thuận có hiệu lực là luật đối với các bên trong hợp đồng;

– Mục đích của hợp đồng là nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự:

+ Sự thỏa thuận giữa các chủ thể là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu không có mục đích làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự;

+ Mục đích của thỏa thuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Đọc thêm các bài viết: Một số ý kiến về hợp đồng; “Một số ý kiến về các chế định liên quan tới hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và Dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi)”; “Tính lo gic của một hợp đồng kinh doanh” ; “Cần sửa đổi một số qui định về hợp đồng dân sự cho phù hợp với thể chế của tổ chức WTO” ; “Hòan thiện chế định hợp đồng”

Nội dung 3. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

– Điều kiện về chủ thể: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và nhà nước. Đọc thêm bài “Một số ý kiến về đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế”;

– Điều kiện về ý chí của chủ thể: Tự nguyện, không cưỡng ép, đe dọa hoặc lừa dối. Đọc thêm bài “lừa dối – yếu tố vô hiệu hợp đồng kinh tế”

– Điều kiện về nội dung và mục đích của hợp đồng: không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đọc thêm bài Một số vấn đề pháp lý về mang thai hộ;

– Điều kiện về hình thức (không áp dụng cho tất cả các hợp đồng)

Đọc thêm bài: “Những điểm mới cơ bản trong phần thứ III – Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng của Bộ luật dân sự năm 2005”

Nội dung 3+1. Hợp đồng dân sự vô hiệu

– Các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu;

– Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu

Đọc thêm bài” “Thực hiện hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu”

2. Hình thức của hợp đồng

Nội dung 4. Định nghĩa hình thức của hợp đồng:

– Định nghĩa:

– Vai trò của hình thức hợp đồng: Đọc tham khảo bài Hình thức của hợp đồng kinh doanh – Một vấn đề không thể xem nhẹ”.

Nội dung 5. Hợp đồng miệng:

Hợp đồng được xác lập thông qua lời nói, xác định cụ thể các vấn đề sau:

– Hợp đồng miệng thường được áp dụng cho các quan hệ hợp đồng nào?

– Việc xác lập hợp đồng miệng có cần người làm chứng không?

Nội dung 6. Hợp đồng văn bản thường:

Nội dung 7. Hợp đồng có công chứng, chứng thực, đăng ký:

– Hợp đồng có công chứng, chứng thực, đăng ký do tự nguyện;

– Hợp đồng có công chứng, chứng thực, đăng ký do pháp luật qui định

Đọc thêm các bài: “Cần phân biệt giữa công chứng và chứng thực”; Pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay”; Thủ tục công chứng các giao dịch bất động sản – liệu đã phù hợp với thực tế; Một số ý kiến về đăng ký giao dịch bảo đảm trên trang http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

Nội dung 8. Hợp đồng có hình thức là hành vi cụ thể

– Lưu ý: Hợp đồng dưới hình thức thông điệp dữ liệu điện tử được coi như có hình thức bằng văn bản. Đọc thêm bài “giao dịch điện tử”.

3. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Nội dung 9. Định nghĩa thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và ý nghĩa của thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Nội dung 10. Xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng (Trừ các trường hopự pháp luật qui định khác).

Nội dung 11. Xác định theo hình thức của hợp đồng:

– Hợp đồng miệng: tính từ thời điểm các bên đã thỏa thuận được nội dung chủ yếu của hợp đồng;

– Hợp đồng bằng văn bản thường: tính từ thời điểm bên sau cùng ký vào hợp đồng.

– Hợp đồng có công chứng, chứng thực, đăng ký: Tính từ thời điểm hopự đồng được công chứng, chứng thực, đăng ký (Trừ trường hợp pháp luật qui định khác);

– Hợp đồng là hành vi cụ thể: có hiệu lực từ thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trên thực tế.

4. Nội dung của hợp đồng dân sự

Nội dung12. Định nghĩa nội dung của hợp đồng dân sự

– Định nghĩa:

– Vai trò của nội dung hợp đồng dân sự: Đọc thêm bài “Nội dung hợp đồng dân sự”

Nội dung 14. Điều khoản cơ bản (Các điều khoản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng);

Nội dung 15. Điều khoản thông thường (Điều khoản đã được qui định trong pháp luật);

Nội dung 16. Điều khoản tùy nghi (Điều khoản không có tính chất bắt buộc mà do các bên trong hopự đồng lựa chọn và thỏa thuận).

Lưu ý: Việc phân nội dung hợp đồng thành 3 nhóm điều khoản trên chỉ mang tính chất tương đối. Tự thân một điều khoản có thể bao hàm cả 3 loại điều khỏan cơ bản, thông thường và tùy nghi.

5. Phân loại hợp đồng (Nội dung 17):

– Theo hình thức của hợp đồng: miệng, văn bản, hành vi…

– Theo mối liên hệ quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể: hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ;

– Căn cứ vào sự phụ thuộc về hiệu lực: hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Đọc thêm bài: “Hợp đồng bảo lãnh không thể xem là hợp đồng phụ của hợp đồng tín dụng”;

– Căn cứ về mối liên hệ về lợi ích giữa các chủ thể: hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù;

– Căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế;

– Các hợp đồng đặc biệt:

+ Hợp đồng có điều kiện;

+ Hợp đồng hỗn hợp;

+ Hợp đồng mẫu.

6. Giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự

Nội dung 18. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự:

– Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng;

– Nguyên tắc Tự nguyện trong giao kết hopự đồng;

– Nguyên tắc bình đẳng trong giao kết hợp đồng;

– Nguyên tắc thiện chí, trung thực, hợp tác trong giao kết;

– Nguyên tắc không trái qui định của pháp luật và đạo đức xã hội.

Nội dung 19. Trình tự giao kết hợp đồng:

* Đề nghị giao kết

– Khái niệm

– Nguyên tắc:

+ Mục đích, nội dung của đề nghị phải cụ thể, rõ ràng;

+ Nội dung đề nghị mang nội dung cơ bản của hợp đồng được đề nghị giao kết;

+ Phải hướng tới một chủ thể nhất định: Đích danh hoặc đại chúng

– Xác định điều kiện và hậu quả pháp lý của việc thay đổi, rút lại đề nghị;

– Xác định điều kiện và hậu quả pháp lý của việc bên đề nghị có đề nghị với nguời thứ ba trong khi nguời được đề nghị chưa trả lời.

* Chấp nhận giao kết:

– Điều kiện chấp nhận giao kết:

– Hậu quả pháp lý của việc chấp nhận giao kết;

– Xác định điều kiện và hậu quả pháp lý của việc thay đổi, rút lại chấp nhận giao kết;

Đọc thêm bài “Một số lỗi thương thảo hợp đồng

7.Thực hiện hợp đồng dân sự:

Nội dung 20. Khái niệm và nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự

– Khái niệm

– Nguyên tắc:

+ Thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng;

+ Thiện chí, trung thực, hợp tác;

+ Không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và nguời thứ ba.

Nội dung 21. Nội dung thực hiện hợp đồng dân sự

– Thực hiện hợp đồng song vụ;

– Thực hiện hợp đồng đơn vụ;

– Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của nguời thứ ba.

8. Giải thích hợp đồng dân sự (nội dung 22):

– Ý nghĩa của giải thích hợp đồng dân sự:

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng có điều khỏan không rõ ràng;

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu nhiều nghĩa;

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu (khó giải nghĩa);

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng thiếu một số điều khỏan cơ bản;

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng phải phù hợp với nội dung của hợp đồng;

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng khi ngôn từ hoặc điều khỏan của hợp đồng không phản ánh đúng ý chí chung của tất cả các bên trong hợp đồng;

– Nguyên tắc giải thích hợp đồng khi có điều khoản gây bất lợi cho bên yếu thế trong hợp đồng

9. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng

Nội dung 23. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng dân sự

– Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung hợp đồng;

– Các điều kiện sửa đổi, bổ sung hợp đồng;

– Hậu quả pháp lý của sửa đổi, bổ sung hợp đồng.

– Phụ lục hợp đồng: Hình thức, nội dung của phụ lục, trường hợp nội dung của phụ lục mâu thuẫn với nội dung của hợp đồng? So sánh sánh phụ lục hợp đồng với hợp đồng phụ.

10. Chấm dứt hợp đồng dân sự (nội dung 24)

– Khi hợp đồng đã hoàn thành (khi đã thực hiện toàn bộ nội dung nghĩa vụ hoặc bên có quyền miễn thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ);

– Chấm dứt theo thỏa thuận;

– Một trong hai bên hoặc cả hai bên hợp đồng chết (cá nhân) hoặc chấm dứt hoạt động (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) mà quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng gắn liền với nhân thân của họ;

– Hợp đồng chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Phân tích điều kiện và hậu quả pháp lý khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng;

– Hợp đồng chấm dứt khi một bên hủy bỏ hợp đồng. Phân tích điều kiện và hậu quả pháp lý khi một bên hủy bỏ hợp đồng;

– Hợp đồng chấm dứt khi đối tượng của hợp đồng không còn và không thể thay thế.

Đọc thêm bài: “Vấn đề hủy bỏ đình chỉ hợp đồng do vi phạm trong bộ luật dân sự Việt Nam”

11. Thời hiệu khởi kiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng

Nội dung 25. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự

– Ý nghĩa của việc xác định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự;

– Thời hiệu áp dụng đối với các tranh chấp hợp đồng về hopự đồng dân sự vô hiệu;

– Thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự;

– Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực.

Nội dung 26. Giải quyết tranh chấp hợp đồng

– Tự thỏa thuận;

– Thỏa thuận dưới sự hỗ trợ của các tổ chức (tổ hòa giải cơ sở, trọng tài);

– Kiện giải quyết tranh chấp thông qua thủ thủ tục tố tụng tại tòa án

LƯU Ý:

– CÁC BÀI VIẾT ĐƯỢC NÊU TÊN TRONG ĐỀ CƯƠNG CÁC BẠN CÓ THỂ TÌM ĐỌC TRÊN WEBLOG NÀY;

Đề cương do civillawinfor soạn thảo mang tính chất cá nhân

VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

TS. NGUYỄN VĂN VĀN –  Khoa Luật Thương mại – ĐH luật TP.Hồ Chí Minh

Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một trong những chế định luật được hình thành khá sớm trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới. Luật cổ La Mã đã biết đến các biện pháp thế chấp, cầm cố, bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ1.

Với những nỗ lực nhất định, trong thời gian qua, pháp luật Việt Nam về bảo lãnh được từng bước xây dựng, hoàn thiện. Những văn bản pháp luật quan trọng trong lĩnh vực này phải kể đến: Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về các giao dịch có bảo đảm, Nghị định 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch có bảo đảm và các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực tín dụng ngân hàng…

Tuy nhiên, với yêu cầu sửa đổi bổ sung nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLDS sang toàn bộ các quan hệ tài sản- tiền tệ và quan hệ phi tài sản trong các lĩnh vực kinh tế- thương mại thì những qui định pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong BLDS hiện hành sẽ không thể điều chỉnh được toàn bộ các nhóm quan hệ này. Tự bản thân các qui định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS hiện hành chỉ dừng lại những qui định sơ khai nhất, bộc lộ những khiếm khuyết và bất cập nhất định.

Thực tiễn xét xử các vụ án dân sự, kinh tế tại tòa án cũng thể hiện sự bất nhất trong áp dụng cácqui định pháp luật về bảo đảm. Nhiều bản án sơ thẩm về các giao dịch vay mượn trong dân sự, tín dụng ngân hàng có liên quan đến bảo lãnh, thế chấp, cầm cố bị kháng cáo, kháng nghị để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, bản án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong số đó không ít các vụ án bị Toà phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng cáo kháng nghị, tuyên huỷ, trả lại cấp sơ thẩm xét xử lại.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra những suy nghĩ về các qui định pháp luật liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong sự so sánh đối chiếu với Dự thảo Bộ luật Dân sự (Dự thảo) Trên cơ sở đó đề cập đến một vài vấn đề cần xem xét, nghiên cứu để sửa đổi bổ sung BLDS.

1. Đảm bảo nguyên tắc tự do thoả thuận

Pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xây dựng không nằm ngoài mục đích bảo đảm cho khả năng của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự tự chịu trách nhiệm về tài sản, bảo đảm nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng. Sự cưỡng chế của nhà nước chỉ cần thiết khi các bên không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình. Pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ khả thi và phát huy tính tích cực của nó khi các các qui phạm cụ thể được thể hiện dưới hình thức qui phạm tuỳ nghi, qui phạm trao quyền lựa chọn. Pháp luật về bảo đảm chỉ có thể đưa ra một qui tắc xử sự chung cho các chủ thể, song cũng không nên loại trừ những thoả thuận khác của chính các bên tham gia và giao dịch ấy.

Dù vậy, một số điều trong Dự thảo còn qui định một cách khá cứng nhắc, Ví dụ: Điều 301 cho phép một tài sản có thể dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, là một qui định mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn song pháp luật qui định bắt buộc mỗi lần bảo đảm phải lập thành văn bản. Thiết nghĩ, nên bổ sung cụm từ “nếu các bên không có thoả thuận hoặc pháp luật có qui định khác”. Trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, trường hợp cho vay theo hạn mức, nếu qui định như vậy là không khả thi vì các bên hoàn toàn có thể thoả thuận một hợp đồng bảo đảm cho nhiều khoản tín dụng khác nhau, miễn sao tại một thời điểm bất kỳ trong thời gian hợp đồng có hiệu lực tổng giá trị các khoản vay không vượt quá hạn mức đã được thoản thuận.

2. Đảm bảo tính thống nhất giữa các qui định về biện pháp bảo đảm với các qui định khác trong Dự thảo

Trong BLDS hiện hành và cả Dự thảo, nhìn chung, chưa đảm bảo tính thống nhất giữa các chế định trong pháp luật dân sự. Chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không là một bộ phận độc lập trong BLDS mà nó phải được xây dựng và hoàn thiện trong mối quan hệ tương tác với các chế định pháp luật khác về tài sản, quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, thực hiện và chấm dứt nghĩa vụ…là những nội dung liên quan mật thiết với các qui định về các biện pháp bảo đảm, vì vậy cần thiết phải có sự dẫn chiếu thống nhất. Ví dụ, Điều 302 Dự thảo qui định: “Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là vật thuộc quyền sở hữu của mình cho bên có quyền để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”. Nếu như trong BLDS sử dụng thuật ngữ “tài sản là động sản”, trong Dự thảo sửa đổi thành “tài sản là vật”. Điều này có nghĩa: đối tượng của cầm cố chỉ giới hạn là vật có thực, hữu hình, định dạng, còn quyền tài sản và các giấy tờ có giá không thể mang đi cầm cố? Trong Dự thảo có liệt kê các loại vật: vật đặc định, vật đồng dạng, vật tiêu hao, vật không tiêu hao… song khái niệm “vật” thì chưa được giải thích một cách cụ thể.

3. Về phân loại các biện pháp bảo đảm

Rải rác có những qui định pháp trong Dự thảo được lặp lại một cách không cần thiết, ví dụ: Điều 303. Hình thức cầm cố tài sản và Điều 318, Hình thức thế chấp tài sản; Điều 304. Thời hạn cầm cố tài sản và Điều 319. Thời hạn thế chấp; Điều 310. Huỷ bỏ việc cầm cố tài sản và Điều 330. Huỷ bỏ việc thế chấp tài sản; Điều 311. Xử lý tài sản cầm cố và Điều 329. Xử lý tài sản thế; Điều 314. Chấm dứt cầm cố tài sản và Điều 331. Chấm dứt thế chấp tài sản.

Cầm cố và thế chấp là hai biện pháp bảo đảm bằng tài sản có nhiều nội dung pháp lý giống nhau, trừ một số qui định liên quan đến đăng ký giao dịch bảo đảm; quyền và nghĩa vụ của các bên. Nếu như pháp luật hiện hành dựa vào tiêu chí động sản và bất động sản để phân biệt thế chấp và cầm cố, Dự thảo xác định theo tiêu chí có hay không sự chuyển giao tài sản (vật) từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm. Vì vậy, sẽ đơn giản và tiết kiệm hơn nếu gộp cầm cố, thế chấp chung một nhóm biện pháp bảo đảm trong đó hai trường hợp: chuyển giao (tạm thời chấm dứt quyền sử dụng) và không chuyển giao vật, tài sản bảo đảm (tiếp tục quyền sử dụng). Bộ luật Dân sự Nga và một số các nước khác cũng đã giải quyết vấn đề này khá thành công; cụ thể là chỉ qui định một trường hợp là thế chấp. Trong trường hợp không thể gộp chung, có thể sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu mà không phải liệt kê lại nội dung các điều luật trong hai phần thế chấp và cầm cố này.

4.Về phạm vi bảo đảm

Khoản 2 Điều 295 Dự thảo bổ sung: “Các bên được thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.

Theo quan niệm truyền thống và cả trong luật Việt Nam hiện hành: nghĩa vụ được bảo đảm chỉ có thể là nghĩa vụ đã hình thành, đã tồn tại, có thực và đã xác định phạm vi của nghĩa vụ đó, bởi biện pháp bảo đảm là thiết lập một nghĩa vụ phụ, dự phòng, hỗ trợ cho nghĩa vụ chính, trong khi đó Điều 285 BLDS (Điều 256 Dự thảo) ghi nhận những căn cứ phát sinh nghĩa vụ là từ hợp đồng dân sự; hành vi dân sự đơn phương; gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật…Như vậy, các biện pháp bảo đảm nhằm xác lập một nghĩa vụ bổ trợ (nghĩa vụ dự phòng) cho nghĩa vụ chính. Trường hợp nghĩa vụ chính chưa tồn tại, chưa định hình, chưa xác định phạm vi thì khó có thể xác lập nghĩa vụ bảo đảm.

Trong thực tiễn tín dụng ngân hàng, nhằm bảo đảm lợi ích của mình, các ngân hàng xây dựng qui trình xét duyệt và ký kết hợp đồng tín dụng, theo đó hợp đồng thế chấp, bảo lãnh phải được ký kết cùng hoặc trước thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên hợp đồng bảo đảm ấy được xác lập căn cứ vào Giấy đề nghị vay vốn của bên đi vay và kết quả thẩm định hồ sơ xin vay của bộ phận tín dụng.

Dưới góc độ lý luận, đây là vấn đề còn tranh luận chưa có kết luận cuối cùng, bởi pháp luật về kinh tế- dân sự Việt Nam chưa công nhận một cách cụ thể hiệu lực pháp lý của các văn bản dưới dạng: thoả thuận tiền hợp đồng, bản ghi nhớ của các bên trước khi ký hợp đồng.

Chúng tôi cho rằng qui định như trong Dự thảo là phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, để qui định trên được áp dụng một cách nhất quán và chính xác, cần thiết phải ghi nhận hiệu lực và ý nghĩa pháp lý của các thoả thuận tiền hợp đồng cũng như cần có sự giải thích rõ hơn, cụ thể hơn về trường hợp này. Mặt khác cũng nên giới hạn qui định trên chỉ áp dụng đối với biện pháp cầm cố, thế chấp và bảo lãnh bằng tài sản mà không thể áp dụng đối với tất cả các biện pháp bảo đảm khác.

5. Về điều kiện đối với tài sản bảo đảm

Việc đưa ra điều kiện: giá trị tài sản phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ (Điều 301 Dự thảo), là một qui định không cần thiết. Chúng tôi cho rằng việc định giá tài sản bảo đảm tại thời điểm xác lập giao dịch do các bên tiến hành trên cơ sở thoả thuận và chỉ có giá trị tham khảo để xác định mức nghĩa vụ được bảo đảm, không áp dụng khi xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Nếu điều kiện này áp dụng cho thời điểm xử lý tài sản thì càng không chính xác, bởi giá trị tài sản bảo đảm trong nền kinh tế thị trường thay đổi liên tục, mặt khác trong trường hợp một tài sản dùng bảo đảm để thực hiện nhiều nghĩa vụ pháp luật qui định buộc phải đăng ký giao dịch có bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm.

6. Về cơ sở pháp lý phát sinh nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm

Khác với BLDS các nước, BLDS Việt Nam không đề cập một cách trực tiếp về hợp đồng bảo đảm. Thuật ngữ “hợp đồng bảo đảm” không tìm thấy trong Mục 5 BLDS hiện hành và cả trong Dự thảo. Mặc dù trong các biện pháp bảo đảm cụ thể có qui định về hình thức của thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…phải lập thành văn bản có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có qui định.

Theo lô gích thông thường, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên. Giao dịch bảo đảm là thoả thuận lập thành văn bản làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên. Thực chất, quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ bảo đảm là quan hệ hợp đồng. Mặt khác, Nghị định số 165/1999 và Nghị định178/1999 trực tiếp công nhận thoả thuận bảo đảm là quan hệ hợp đồng. Song đây cũng chỉ là những văn bản pháp luật dưới luật, hiệu lực pháp lý của nó không thể vượt trên hiệu lực của BLDS.

Trong thực tiễn cam kết bảo lãnh được lập dưới hình thức văn bản với nhiều tên gọi “hợp đồng bảo lãnh”, “ hợp đồng thế chấp”, “hợp đồng cầm cố”.

Tuy không tồn tại cơ sở nào để phủ nhận quan hệ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh không là quan hệ hợp đồng. Song nếu như BLDS Việt Nam với tính chất là văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất trực tiếp xác nhận, khẳng định rằng quan hệ bảo đảm (trừ phạt vi phạm và chiếm giữ tài sản) là quan hệ hợp đồngthì sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý nhất định và sẽ tốt hơn rất nhiều trong thực tế áp dụng pháp luật về bảo đảm.

Nếu Dự thảo chính thức và trực tiếp ghi nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là quan hệ hợp đồng thì hợp đồng bảo đảm sẽ chịu sự điều chỉnh của các qui định pháp luật về hợp đồng nói chung được qui định trong BLDS. Những qui định ấy bao gồm: Thủ tục, trình tự giao kết hợp đồng, nguyên tắc ký kết hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu…Pháp luật các quốc gia trên thế giới đều trực tiếp công nhận trong BLDS rằng quan hệ bảo đảm là quan hệ hợp đồng2.

7. Về biện pháp phạt vi phạm

Một số quan điểm cho rằng, phạt vi phạm là một chế tài trong dân sự, là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm nghĩa vụ và hợp đồng mà nó hoàn toàn không là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đúng nghĩa. Vì vậy, không nhất thiết phải xếp phạt vi phạm như là một biện pháp bảo đảm3.

Pháp luật một số quốc gia và một số học thuyết pháp lý các nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống thông luật ghi nhận điều này. Bởi trong pháp luật của các nuớc này không áp dụng chế tài phạt (penalty) mà chỉ áp dụng chế tài liquidated damages (bồi thường thiệt hại theo (đánh giá) dự đoán trước) Vì vậy, bồi thường theo mức xác định trước hoàn toàn không có chức năng là một biện pháp bảo đảm.

Tuy nhiên theo tinh thần của pháp luật Việt Nam thì phạt vi phạm đã hội đủ các nội dung là một biện pháp bảo đảm vì các lý do sau:

– Thứ nhất: phạt vi phạm chỉ được thiết lập trên cơ sở thoả thuận giữa các bên, hoặc theo qui định pháp luật nếu có;

– Thứ hai: Bồi thường thiệt hại chỉ áp dụng khi có thiệt hại thực tế xảy ra, mức bồi thường chỉ xác định được sau khi có vi phạm; phạt vi phạm áp dụng khi bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết mà không tính đến sự hiện hữu của thiệt hại, mức phạt được các bên thoả thuận trước khi có vi phạm.

– Thứ ba: Phạt vi phạm là chế tài bổ sung cho chế tài chính (tất yếu) là bồi thường thiệt hại. Nếu

như bồi thường thiệt hại là nghiễm nhiên khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nó không bao hàm ý nghĩa bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ mà tự bản thân nó là một bộ phận cấu thành nên nghĩa vụ. Phạt vi phạm có thể được xác lập song song với chế tài bồi thường thiệt hại nhằm mục đích cảnh báo một hậu quả bất lợi nếu như bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Phạt vi phạm có vai trò định hướng và ràng buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

8. Về biện pháp cầm giữ tài sản

Cầm giữ tài sản (jus retentionnis) là một trong hai biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn mới được đề cập trong Dự thảo này; song chỉ mới đối với pháp luật Việt Nam bởi biện pháp này được áp dụng rộng rãi trong giao lưu dân sự kinh tế ở các nước, thậm chí biện pháp này đã từng được đề cập trong Luật dân sự La Mã4. Việc bổ sung hình thức bảo đảm mới này là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tế. Trong thời gian qua cũng đã phát sinh các trường hợp cầm giữ tài sản song chưa có pháp luật điều chỉnh.

Vì là một biện pháp bảo đảm mới cho nên Dự thảo chỉ qui định hết sức chung chung, chính điều này có thể dẫn đến nhận thức không chính xác nội dung pháp lý của nó, cho nên có thể sẽ có những nhầm lẫn tai hại trong việc áp dụng pháp luật.

Nội dung của biện pháp bảo đảm này, theo nghĩa truyền thống, có thể được hiểu như sau: Khi bên có quyền (người cầm giữ) đang chiếm hữu hợp pháp một vật (để sau đó hoàn trả cho chủ sở hữu (người có tài sản bị chiếm giữ, người có nghĩa vụ hoặc cho người thứ ba theo chỉ định của chủ sở hữu) thì bên có quyền được quyền tiếp tục cầm giữ vật ấy nếu như những nghĩa vụ trực tiếp phát sinh từ vật ấy không đựơc thực hiện hoặc thực hiện không đúng hạn. Người cầm giữ được quyền chiếm giữ vật ấy cho đến khi nghĩa vụ được thực hiện xong.

Bản chất pháp lý của biện pháp cầm giữ: về hiện tượng, biện pháp này có những điểm tương đồng với biện pháp cầm cố, song lại mang tính chất của biện pháp phạt vi phạm hoặc là giai đoạn đầu của quá trình bảo đảm thực hiện nghĩa vụ để sau đó chuyển thành biện pháp cầm cố. Tuy nhiên giữa chúng có những điểm khác biệt. Nội dung của biện pháp cầm giữ tài sản, trong pháp luật các nước trên thế giới được hiểu như sau:

– Thứ nhất: Đây là một biện pháp bảo đảm duy nhất trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được áp dụng mà không dựa trên sự thoả thuận của các bên liên quan. Vì đây là một biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của bên có quyền. Pháp luật là cơ

sở trực tiếp phát sinh quyền được cầm giữ tài sản, nếu như trước đó các bên không có thoả thuận không áp dụng biện pháp này. Trong khi đó các biện pháp thế chấp, bảo lãnh, cầm cố chỉ áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận. Chính yếu tố này mà trong các tài liệu pháp luật nước ngoài hi đề cập đến biện pháp này thường sử dụng thuật ngữ “quyền chiếm giữ”. Cầm giữ tài sản là cách thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là quyền được pháp luật qui định của người có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ. Song đây không là hình thức “xiết nợ” thường gặp trong thực tiễn.

– Thứ hai: Quyền cầm giữ tài sản chỉ được thực hiện nếu đồng thời hội đủ ba yếu tố sau:

a) Vật cầm giữ đang được bên có quyền nắm giữ nhưng vật ấy thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ, tức bên cầm giữ có nghĩa vụ phải chuyển giao cho chủ sở hữu (cho bên có nghĩa vụ) hoặc cho bên thứ ba theo chỉ định của chủ sở hữu.

b) Nghĩa vụ được bảo đảm phải là nghĩa vụ của người chủ sở hữu vật ấy và nghĩa vụ ấy phải phát sinh trực tiếp từ vật ấy, ví dụ nghĩa vụ trả chi phí chăm sóc, chi phí thức ăn trong trường hợp chăm sóc súc vật nuôi, nếu như chủ sở hữu vật nuôi không chi trả chi phí này thì bên chăm sóc có quyền chiếm giữ chính vật nuôi đó cho đến khi nào chủ sở hữu chi trả xong; bên trông coi, bảo vệ hàng hoá nếu như không nhận được thù lao trông coi, bảo vệ thì được giữ lại hàng hoá đó cho đến khi nào chủ sở hữu hàng hoá thanh toán xong chi phí. Tuy nhiên, nghĩa vụ được bảo đảm ở đây phải là nghĩa vụ trực tiếp phát sinh từ vật chiếm giữ, ví dụ nghĩa vụ của bên mua phải trả tiền cho chính lô hàng bị cầm giữ kể cả các khoản tiền chậm trả và cả các khoản tiền phạt, tiền lưu kho bãi, tiền bảo quản, vận chuyển cả các khoản thiệt hại do chính tài sản gây ra. Những nghĩa vụ không phát sinh một cách trực tiếp từ vật cầm giữ thì bên có quyền không được cầm giữ nó, ví dụ: người thuê nhà không thể (chiếm giữ) trì hoãn việc trả lại nhà thuê khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng thuê nhà nến viện dẫn rằng chủ nhà đang mượn anh ta một số tiền chưa trả. Tuy nhiên pháp luật một số nước qui định rằng không áp dụng yêu cầu này nếu việc chiếm giữ có liên quan đến các chủ thể là các chủ thể kinh doanh, ví dụ: doanh nghiệp A mở tài khoản và nhận các dịch vụ tại Ngân hàng nhưng không thực hiện việc chi trả các khoản tiền phí dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng được được quyền phong toả tài khoản cho đến khi nào khách hàng trả xong nợ.

c) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm giữ tài sản chưa được thực hiện bởi người có nghĩa vụ đúng hạn cam kết.

– Thứ ba: Chiếm giữ tài sản là một biện pháp có những nội dung pháp lý đồng nhất với biện pháp cầm cố vì vậy các qui định về nghĩa vụ bảo quản tài sản trong cầm giữ, xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ chính… có thể dẩn chiếu sang các điều luật tương tự trong phần cầm cố.

– Thứ tư: Cầm giữ tài sản áp dụng thông dụng trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện các nghĩa vụ của mình trong các quan hệ hợp đồng: vận tải, gia công, thuê, ký gửi, ủỷ thác, sửa chữa tàu biển…

Kết luận:

Do đặc thù của pháp luật Việt Nam có sự phân định về quan hệ dân sự và quan hệ kinh tế nên các biện pháp bảo đảm ghi nhận trong BLDS chỉ áp dụng đối với các nghĩa vụ dân sự mà không phải là nghĩa vụ tài sản nói chung, bao hàm cả trong lĩnh vực kinh tế, vì vậy nếu như không giải quyết được vấn đề về phạm vi điều chỉnh của BLDS thì dù có hoàn thiện các qui định này cũng không thể giải quyết được toàn bộ các vấn đề về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng kinh tế, thương mại. Nên chăng, cần thiết phải ban hành một văn bản “Luật về các giao dịch bảo đảm” để điều chỉnh một cách thống nhất, toàn diện các vấn đề liên quan đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, kinh tế trên cơ sở của Nghị định 165/1999/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm.

Tài liệu tham khảo:

1 Nôvicxki. I.B, Pêterecxki.I.C. Luật Dân sự La Mã. M. 1998

2 2 Xem: Luật dân sự, thương mại các nước tư bản, chủ biên: E.A. Vaxilép. M, Nxb Quan hệ quốc tế, 1993 , tr. 303; xem Điều 361, 362 BLDS Cộng hoà Liên bang Nga (Phần I) do Duma Quốc gia thông qua ngày 30/11/1994, sửa đổi bổ sung ngày 20/2/1996 và ngày 12/8/1996. M, Nxb INFRA-M. 1999.

3 3 PGS.TS Trần Đình Hảo, Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong Dự thảo BLDS. Tham luận Hội thảo góp ý Dự thảo BLDS, Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tháng 3/2005.

4 Katkoe M.M. Khái quát về quyền chiếm giữ trong luật La- Mã, Kiev 1910.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2005