GÓP Ý DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI) VỀ ĐIỀU KHOẢN MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM VÀ HẠN CHẾ QUYỀN LỢI TRONG HỢP ĐỒNG

TS. LÊ NẾT –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) (BLDS) lần này, khoản 3 Điều 390 qui định: “Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hay loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia, thì điều khoản này không có hiệu lực”. Điều khoản này liên quan đến một vấn đề ngày càng xuất hiện nhiều trong thực tế mà từ trước đến nay vẫn còn bỏ ngỏ: liệu những điều khoản dẫn đến hậu quả một bên được miễn trừ hay hạn chế nghĩa vụ trong hợp đồng có hiệu lực hay không? Đây là một vấn đề khá phức tạp song không thể lẩn tránh trong BLDS, do hậu quả của những điều khoản đó gây ra là rất lớn. Trong bài này, tôi xin đề cập những vấn đề pháp lý liên quan đến điều khoản miễn trừ trách nhiệm và phân tích cách giải quyết trong BLDS (sửa đổi).

1.1. Điều khoản miễn trừ trách nhiệm là gì?

Một điều khoản miễn trừ trách nhiệm (exclusion clause) được định nghĩa là “một điều khoản, trong hợp đồng hay trong thông báo, miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm theo luật định của một bên”1. Các hình thức miễn trừ trách nhiệm được qui định rất đa dạng, tuy nhiên có thể phân thành hai loại: trực tiếp và gián tiếp.

Một thí dụ về điều khoản miễn trừ trực tiếp là điều khoản sau đây trong hợp đồng giáo dục giữa Trường British International School (Vietnam) và phụ huynh học sinh tại TP Hồ Chí Minh:

“Quí vị cần hiểu rõ rằng quí vị tự chịu rủi ro khi gửi con đến đây. Nhà trường không chịu trách nhiệm gì đối với các tai nạn hay thiệt hại xảy ra đối với con cái quí vị”2; hay nội qui của bãi giữ xe tại Toà nhà Saigon Trade Center có ghi: “Bãi giữ xe không chịu trách nhiệm về mọi mất mát xảy ra cho khách gửi xe”3.

Một biến thể của điều khoản miễn trừ trách nhiệm là điều khoản hạn chế trách nhiệm (limitation clause). Thí dụ trong hợp đồng vận chuyển hành khách giữa Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam và hành khách có ghi: “Hành khách được bảo hiểm tại Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) với số tiền bảo hiểm tối đa là 30 triệu đồng. Khi tai nạn xảy ra, Bảo Việt sẽ bồi thường trực tiếp cho hành khách. Khoản tiền bồi thường này là toàn bộ những gì hành khách có thể được bồi thường do thiệt hại của hành khách, dù trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trong hay ngoài hợp đồng. Ngoài ra, hành lý trên tàu hành khách tự chịu trách nhiệm”4. Điều khoản miễn trừ trách nhiệm gián tiếp được thể hiện dưới hai dạng: điều khoản bồi hoàn (indemnity clause) và điều khoản hạn chế hay từ bỏ quyền khởi kiện (waiver). Thí dụ trong hợp đồng thuê văn phòng giữa chủ toà nhà M. tại trung tâm TP Hồ Chí Minh và khách hàng có qui định: “Bên thuê sẽ bồi hoàn cho Bên cho thuê mọi chi phí phát sinh do Bên thứ ba khởi kiện Bên cho thuê về thiệt hại xảy ra trong phạm vi toà nhà mà Bên thuê quản lý”. Điều này có nghĩa là nếu một khách đến thăm tòa nhà bị mất đồ đạc thì chủ toà nhà sẽ không phải chịu trách nhiệm mà bên thuê sẽ chịu trách nhiệm. Trong cùng hợp đồng trên, bên thuê có thể cam kết: “Các bên bảo đảm đây là hợp đồng có hiệu lực. Bên thuê từ bỏ mọi quyền khởi kiện liên quan đến việc yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu hợp đồng này”. Ngoài ra: “Mọi yêu cầu bồi thường thiệt hại của Bên thuê đối với Bên cho thuê phải được khởi kiện trong vòng 6 tháng kể từ khi thiệt hại xảy ra”. Cả hai điều khoản trên đều là những điều khoản từ bỏ hay hạn chế quyền khởi kiện.

1.2. Bản chất của miễn trừ trách nhiệm: xác định lại hay trốn tránh trách nhiệm?

Hiện nay, BLDS (1995) không qui định gì về điều khoản miễn trừ trách nhiệm. Theo nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt (Điều 7 BLDS), các bên có quyền tự do tự nguyện giao kết hợp đồng, miễn là nội dung và mục đích của hợp đồng không trái pháp luật, đạo đức xã hội (Điều 137 BLDS). Có quan điểm cho rằng, một số điều khoản miễn trừ trách nhiệm có thể được coi như trái pháp luật và đạo đức xã hội, và vì thế bị vô hiệu. Cách giải thích này khá gượng ép và chưa hoàn chỉnh. Khái niệm “pháp luật” trong Điều 137 BLDS chỉ bao gồm các qui phạm mệnh lệnh (ius cogens).5 Đối với các qui phạm tùy nghi (ius dispositivum) thì các bên có thể tự thỏả thuận. Thí dụ, nếu Khách sạn Sài Gòn – Phú Quốc không biết bên trong phong bì của khách lưu trú tại khách sạn là H.K.A. có gì thì không thể chịu trách nhiệm về mất mát xảy ra trong phong bì đó được. Vì thế, khách sạn có quyền ghi trong hợp đồng gửi giữ đồ vật trong khách sạn: “Khách sạn không chịu trách nhiệm về mọi mất mát xảy ra trừ trường hợp khách hàng kê khai giá trị tài sản gửi giữ.” Như vậy, bản chất của điều khoản miễn trừ trách nhiệm không phải là trốn tránh trách nhiệm mà chỉ để xác định lại trách nhiệm mà thôi.6 Hơn nữa, nhiều trường hợp khó xác định qui phạm nào là mệnh lệnh và qui phạm nào là tùy nghi. Thí dụ, Điều 13 BLDS hiện nay qui định các biện pháp bảo vệ quyền dân sự, trong đó có bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên các bên có thể hạn chế hay thay đổi phương thức bảo vệ quyền dân sự theo thỏa thuận. Thí dụ, thay vì đòi bồi thường thiệt hại toàn bộ, các bên có thể tự thỏa thuận một mức thiệt hại ấn định (phạt vi phạm) và chỉ phải trả khoản tiền phạt vi phạm khi thiệt hại xảy ra mà thôi. Như vậy, Điều 13 BLDS là qui phạm mệnh lệnh hay qui phạm tuỳ nghi? Nếu là qui phạm tùy nghi thì theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thoả thuận, các bên có quyền thỏa thuận với nhau về việc từ bỏ hay hạn chế quyền khởi kiện được không? Cũng có người lập luận rằng việc từ bỏ quyền khởi kiện tuy pháp luật không cấm (và vì thế không trái pháp luật) song trái đạo đức xã hội. Nhưng thế nào là “đạo đức xã hội” trong trường hợp này thì thật khó xác định.

Các quan điểm tranh luận hàn lâm sẽ không dẫn đến kết luận gì nếu chúng ta không căn cứ vào thực tiễn của vấn đề. Trên thực tế, các bên không thể tự nguyện cam kết thỏa thuận được nếu một bên mạnh hơn bên kia trong đàm phán.7 Các điều khoản miễn trừ trách nhiệm xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là trong các hợp đồng có các điều khoản được soạn sẵn. Trong các hợp đồng này, một bên qui định các điều kiện của hợp đồng, bên kia không được phép đàm phán, chỉ có thể hoặc chấp nhận, hoặc không giao kết hợp đồng. Thí dụ về hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường sắt tại Khoản 1.1 là một thí dụ. Như vậy, các điều khoản miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm thực chất là các điều kiện của bên mạnh thế trong hợp đồng áp đặt cho bên yếu thế trong hợp đồng. Bên mạnh thế tước đoạt các quyền lợi của bên yếu thế mà lẽ ra họ có thể có nếu hợp đồng không có các điều khoản như vậy. Khi không thể có sự tự nguyện tuyệt đối giữa các bên trong hợp đồng, pháp luật phải qui định dự trên giả thiết là nếu như các bên có sự tự nguyện tuyệt đối, thì họ sẽ thỏa thuận như thế nào. Nếu chúng ta giả thiết rằng nếu các bên tuyệt đối tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận, thì họ sẽ thỏa thuận theo hướng có lợi nhất cho họ, thì một điều khoản miễn trừ trách nhiệm có thể được chấp nhận nếu nó có lợi cho đôi bên. Khoản 2 Điều 408 BLDS 1995 cũng qui định khi có một điều khoản không rõ ràng thì phải giải thích sao cho có lợi nhất cho tất cả các bên. Một giải pháp có lợi cho đôi bên được gọi là giải pháp công bằng. Như vậy, vấn đề là ở chỗ không phải chúng ta cho hay không cho phép sử dụng điều khoản miễn trừ trách nhiệm, mà là ở chỗ các điều khoản đó có công bằng và hợp lý hay không. Cách giải quyết của BLDS (sửa đổi), theo đó mọi điều khoản miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng soạn sẵn đều vô hiệu, là chưa bắt đúng căn bệnh của các điều khoản soạn sẵn. Các trình bày tiếp theo sẽ cho thấy tại sao một điều khoản miễn trừ trách nhiệm đôi khi vẫn có lợi cho đôi bên.

1.3. Điều khoản miễn trừ trách nhiệm và sự tự nguyện của các bên

Trước tiên, điều khoản miễn trừ trách nhiệm có một số ích lợi nhất định. Thí dụ trong hợp đồng gửi giữ tài sản ở Khách sạn Sài Gòn – Phú Quốc, các bên biết được rủi ro của mình tới đâu khi tham gia hợp đồng. Nếu H.K.A. muốn bảo đảm cho khoản tiền (ví dụ) 20.000 USD mà cô gửi tại khách sạn đó, thì cô phải kê khai tài sản gửi giữ với người gửi giữ, và khách sạn đó sẽ phải có biện pháp bảo vệ thích ứng đối với một khoản tiền lớn. Nếu cô không kê khai, thì tài sản đó chỉ được bảo vệ ở mức độ vừa phải (thí dụ, không đưa vào két sắt mà chỉ lưu ở ngăn kéo quầy tiếp tân). Như vậy, lợi ích thứ nhất của điều khoản miễn trừ trách nhiệm là sẽ làm giảm chi phí phòng chống rủi ro của các bên khi giao kết hợp đồng, khiến các bên nắm được rủi ro của mình. Lợi ích thứ hai của các điều khoản miễn trừ trách nhiệm là ở chỗ nó có thể giảm chi phí kiện tụng (thí dụ vụ kiện giữa H.K.A. và Khách sạn Sài Gòn – Phú Quốc nêu trên).8 Lợi ích thứ ba của các điều khoản miễn trừ là làm giảm chi phí giao dịch, đàm phán hợp đồng và cho phép các bên mạnh dạn đầu tư. Thí du, nếu rủi ro quá lớn thì không ai dám mở nhà trẻ, cây xăng hay văn phòng luật sư. Như vậy xét về tính hiệu quả thì các điều khoản miễn trừ nghĩa vụ có vai trò quan trọng.

Tuy nhiên các nhận xét nói trên chỉ đúng khi các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Ở đây chúng ta phải hiểu sự tự nguyện theo nghĩa rộng, bao gồm cả việc các bên giao kết hiểu rõ mình giao kết những gì, chứ không phải chỉ là việc không có lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn hay mất khả năng nhận thức (Điều 139, 140, 141 BLDS 1995). Khoản 2 Điều 406 BLDS 1995 qui định trong trường hợp có những điều khoản không rõ ràng ở một hợp đồng được soạn sẵn, bên soạn hợp đồng sẽ chịu bất lợi khi giải thích hợp đồng (contra proferentem).9 Tại Anh, qui tắc contra proferentem được thể hiện trong hàng loạt tiền lệ. Trong vụ Wallis v. Pratt [1911] AC 394, bên soạn hợp đồng nêu ra một điều khoản qui định rằng mình sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu hạt giống của mình cung cấp không đảm bảo chất lượng. Toà án đã phán quyết rằng tuy bên bị thiệt hại không được bồi thường, song họ có quyền hủy hợp đồng và trả lại hạt giống và bên gây thiệt hại phải trả lại tiền, vì điều khoản miễn trách nhiệm không miễn trừ quyền hủy hợp đồng. Trong vụ Andrews v. Singer [1934] 1 KB 17, bên bán viện dẫn một điều khoản, theo đó họ không chịu trách nhiệm do vi phạm bất cứ nghĩa vụ luật định nào. Tòa án phán quyết rằng người bán tuy không chịu trách nhiệm theo luật định, song vẫn phải chịu trách nhiệm đối với những gì mình cam kết trong hợp đồng. Vì đối tượng của hợp đồng là một chiếc xe hơi Singer mới, song bên mua phát hiện chiếc xe đã qua sử dụng, nên bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường do “xe mới” là cam kết trong hợp đồng. Tương tự, vì một điều khoản miễn trừ trách nhiệm là những điều khoản “bất thường”, nó không thể được đưa vào hợp đồng một cách “bình thường”, mà phải được ghi chữ in đậm hay viết hoa để bên không soạn hợp đồng khỏi phải chịu bất công do thiếu kinh nghiệm khi đọc dự thảo.10 Cách giải thích theo cách bất lợi cho bên soạn hợp đồng vẫn được áp dụng cho đến ngày nay ở nhiều nước khác.11 Để kết luận, ta có thể trích dẫn Điều 2.20 trong Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (Principles of International Commercial Contracts): “Một điều khoản bất ngờ trong hợp đồng soạn sẵn không được phía bên kia lường trước trong giới hạn hiểu biết của mình, sẽ không có hiệu lực, trừ trường hợp được bên kia chấp nhận một cách rõ ràng.”12 Ngoài ra, điều khoản này còn qui định “để xác định xem một điều khoản có các tính chất nói trên hay không, cần phải xem xét nội dung, ngôn từ hay cách diễn đạt của điều khoản”.

1.4 . Tính hợp lý của điều khoản miễn trừ trách nhiệm

Khi một điều khoản miễn trừ trách nhiệm được qui định rõ ràng và không trái với qui định bắt buộc của pháp luật, hay pháp luật qui định không rõ, thì điều khoản miễn trừ trách nhiệm đó có hiệu lực hay không? Nếu xét theo nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt, thì không có lý do gì không cho phép những điều khoản đó có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu điều khoản miễn trừ trách nhiệm đụng chạm đến những quyền và nghĩa vụ cơ bản (thí dụ quyền khởi kiện hay nghĩa vụ bồi thường do lỗi bất cẩn của mình gây ra) thì sẽ giải quyết ra sao? Câu hỏi này đã được Tòa án tối cao Anh quốc trả lời trong vụ Photo Production v. Securicor [1980] AC 827. Nguyên đơn là chủ một kho hàng đã thuê bị đơn làm dịch vụ bảo vệ. Một lần, nhân viên bảo vệ của bị đơn đốt lửa sưởi ấm, vô ý làm lửa lây lan và cháy kho hàng. Nguỵên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại trị giá 648.000 bảng Anh. Bị đơn viện dẫn đến một điều khoản trong hợp đồng, theo đó họ không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhân viên của họ gây ra, trừ khi các thiệt hại này có thể được bị đơn biết trước. Điều khoản này quá rõ ràng và không cần phải giải thích gì thêm. Vấn đề đối với Tòa án Tối cao (House of Lords) là ở chỗ điều khoản miễn trừ trách nhiệm như vậy có hiệu lực hay không. Thẩm phán Denning cho rằng điều khoản miễn trừ như vậy là vô hiệu, vì nó phản lại nội dung cơ bản của hợp đồng gửi giữ, theo đó bên nhận gửi giữ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình (hay nhân viên của mình) gây ra. Các thẩm phán khác không đồng ý. Theo Luật về Điều khoản bất công (Unfair Contract Terms Act – UCTA 1977), Điều 11(1), một điều khoản miễn trừ trách nhiệm có thể được coi là có hiệu lực nếu điều khoản đó có nội dung hợp lý. Trong trường hợp này, do giá trị hợp đồng bảo vệ quá thấp (100 bảng cho một năm), và giá trị kho hàng quá cao, việc miễn trừ trách nhiệm như vậy là hợp lý – theo nguyên tắc “tiền nào của nấy”. Nếu nguyên đơn muốn bị đơn gánh chịu trách nhiệm nhiều hơn, thì họ phải tăng tiền công cho bị đơn. Nếu không, họ phải mua bảo hiểm. Như vậy, để xét tính hợp lý của một điều khoản, Tòa án không chỉ nhìn vào nội dung của điều khoản đó, mà phải nhìn vào nội dung giao dịch giữa hai bên một cách tổng thể, xem mỗi bên được gì, mất gì khi giao kết hợp đồng có nội dung như vậy. Nếu điều khoản miễn trừ trách nhiệm được đánh đổi bằng một mức giá hấp dẫn cho bên kia thì điều khoản đó có thể được chấp nhận.

UCTA 1977 có một số ngoại lệ, đó là các nghĩa vụ liên quan đến lỗi của bên gây thiệt hại do bất cẩn, dẫn đến tai nạn chết người hay thương tật, hay nghĩa vụ liên quan đến việc bảo đảm chất lượng hàng hóa của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng (Điều 4.1, 6.2 và 11). Đây cũng là một kinh nghiệm để Việt Nam có thể tham khảo. Ngoài ra, điều khoản miễn trừ trách nhiệm ít khi được coi là có hiệu lực nếu một bên cố ý vi phạm nghĩa vụ. Trong vụ Overseas Medical Supplies v. Orient Transport [1999] Lloyd’s Rep 273, bên gửi hàng qui định trong hợp đồng rằng đại lý tầu biển phải mua bảo hiểm cho lô hàng của mình. Tuy nhiên đại lý cũng qui định rằng trách nhiệm bồi thường tối đa của mình là 600 bảng Anh cho lô hàng trên. Đại lý tàu biển sau đó đã không mua bảo hiểm và lô hàng bị mất. Bên gửi hàng yêu cầu bồi thường thiệt hại 8400 bảng Anh. Đại lý chỉ chịu bồi thường 600 bảng Anh theo điều khoản hạn chế trách nhiệm. Tòa án cho rằng điều khoản hạn chế trách nhiệm trong trường hợp này không có hiệu lực. Việc hạn chế trách nhiệm chỉ hợp lý trong trường hợp hàng bị mất và đại lý có mua bảo hiểm. Trong trường hợp này, bên gửi hàng sẽ nhận 600 bảng Anh từ đại lý, phần còn lại họ sẽ nhận từ công ty bảo hiểm.

Ở đây, bên gửi hàng chỉ nhận được tổng cộng 600 bảng Anh. Điều này quá khác biệt so với những gì họ có thể tưởng tượng khi gửi hàng và vì vậy bất hợp lý. Tòa án do đó đã yêu cầu đại lý tàu biển phải bồi thường 8400 bảng Anh.

Hiện nay, các Tòa án ở Anh còn tiến thêm một bước nữa, đó là việc qui định mọi điều khoản hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm phải được chứng minh là hợp lý cho các bên trước khi được đưa vào hợp đồng. Trong vụ St Albans City v. International Computers [1996] 4 All ER 481, nguyên đơn là Hội đồng thành phố St Albans thuê bị đơn là công ty phần mềm thiết kế một phần mềm quản trị tài nguyên (ERP) cho mình. Hợp đồng qui định trách nhiệm bồi thường mọi thiệt hại của công ty phần mềm tối đa là 100.000 bảng Anh. Phần mềm sau khi thiết kế đã xuất hiện nhiều lỗi dẫn đến sự cố sập mạng, thiệt hại cho nguyên đơn lên đến 1 triệu bảng Anh. Tòa án đã tuyên bố điều khoản hạn chế trách nhiệm là vô hiệu do các lý do sau: Thứ nhất bị đơn (người soạn hợp đồng) là một công ty có kinh nghiệm trong lĩnh vực phần mềm, trong khi nguyên đơn không có kinh nghiệm, và hầu như đồng ý mọi điều khoản do bị đơn soạn sẵn; Thứ hai là bị đơn không hề giải thích cho nguyên đơn tại sao số tiền hạn chế 100.000 bảng Anh là hợp lý; Thứ ba là số tiền này là quá nhỏ so với số tiền mà bị đơn thu được từ hợp đồng (200.000 bảng Anh). Từ đó, nguyên đơn được bồi thường toàn bộ.

1.5. Kết luận

Mặc dù điều khoản miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm dân sự là những điều khoản “bất thường”, nhưng chúng có những lợi ích nhất định. Các điều khoản này phân định rõ ràng nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng, phân định rủi ro mà mỗi bên phải gánh chịu, cũng như khuyến khích những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư có rủi ro cao. Vì thế, cách giải quyết của Điều 390 Dự thảo BLDS (sửa đổi), theo đó mọi điều khoản miễn trách nhiệm trong hợp đồng được soạn sẵn đều vô hiệu là không tính đến tình hình thực tế và sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của các qui định pháp luật. Nên chăng đặt lại vấn đề: điểm mấu chốt không phải là sự tồn tại của các điều khoản miễn hay hạn chế trách nhiệm, mà là sự bất công mà các điều khoản đó mang lại khi một bên mạnh thế trong hợp đồng (soạn các điều khoản soạn sẵn) áp đặt ý chí của mình lên bên yếu thế hơn. Nếu xét trên phương diện trên, thì câu hỏi ở đầu bài: điều khoản miễn trừ đóng vai trò phân định trách nhiệm hay lẩn tránh trách nhiệm sẽ không còn quan trọng. Nếu chúng ta tham khảo kinh nghiệm của luật Anh hay “Những nguyên tắc của UNIDROIT” trong trường hợp này, thì khoản 3 Điều 390 Dự thảo BLDS (sửa đổi) có thể được qui định như sau:

Nếu trong hợp đồng có những điều khoản miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm của một bên thì bên đó phải chịu bất lợi khi giải thích các điều khoản đó.

– Các điều khoản miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm không được trái với qui định của pháp luật và hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do lỗi của mình gây ra dẫn đến thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ cho bên bị thiệt hại.

– Các điều khoản miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm khác chỉ có hiệu lực nếu nội dung điều khoản đó hợp lý, xét trên tổng thể giao dịch giữa các bên.

Chú thích:

1 Yates, D. (1982) Exclusion Clauses in Contracts (2nd Edition), Sweet & Maxwell, tr. 1.

2 Xem http://www.bisvietnam.com/index.asp?id=2- 7.

3 Báo Công an TP Hồ Chí Minh ngày 5/3/2005: Bãi giữ xe ngày càng lộng hành.

4 Xem http://www.vnn.vn ngày 14/3/2005: Đường sắt Việt Nam không mua bảo hiểm tài sản.

5 Lê Nết (1999), Contracts – Vietnam, International Encyclopaedia of Laws, Tập IV, Bộ III, Tổng Biên tập: Prof. Dr. R. Blanpain, Biên tập: Prof. Dr. J. Herbots, Kluwer Law International, para. 246.

6 McKendrick, E. (2003, 5th Edition) Contract Law. Palgrave Macmillan.

7 Adams, J. and Brownsword, D. (1988) The Unfair Contract Terms Act: A Decade of Discretion, Law Quarterly Review, số 104, tr. 94.

8 Xem VNExpress 14/3/2005, http://vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2005/03/3B9DC419/.

9 Lê Nết, Sđd, para. 74.

10 BCCI v Ali [2001] UKHL 8.

11 Tuy nhiên, đối với điều khoản hạn chế trách nhiệm, nguyên tắc giải thích contra proferentem ít được áp dụng hơn so với điều khoản miễn trừ trách nhiệm. Xem Ailsa Craig v Malvern Fishing [1983] 1 WLR 964.

12 UNIDROIT (1999), Những Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế (Lê Nết dịch), Nxb TP Hồ Chí Minh, tr.236.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2005

 

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHẠT VI PHẠM do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam

TS. DƯƠNG ANH SƠN  – Khoa luật Đại học Quốc  gia TP. HCM

TS. LÊ THỊ BÍCH THỌ – Trường Đại học Luật TP.HCM

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện hành đã nảy sinh những bất cập. Nhiều quy định của pháp luật về hợp đồng trong đó có các quy định về phạt vi phạm đã không còn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự, thương mại trong cơ chế thị trường. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi muốn đi sâu vào việc phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về phạt vi phạm và qua đó có một số ý kiến đóng góp cho việc xây dựng chế định phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại sửa đổi.

1. Chức năng của phạt vi phạm

Xuất phát từ việc phân chia các quan hệ hợp đồng trong hoạt động dân sự và thương mại thành những lĩnh vực riêng biệt và được điều chỉnh bởi các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau mà các quy định về phạt hợp đồng cũng rơi vào tình trạng chung là thiếu thống nhất trong điều chỉnh bằng pháp luật. Hiện ở Việt Nam có ba văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng, đó là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Bộ luật dân sự và Luật thương mại. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế tuy được xem là văn bản pháp luật lỗi thời và có nhiều bất cập nhất hiện nay nhưng lại là một trong những văn bản pháp luật có ảnh hưởng lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng và quá trình lập pháp về hợp đồng. Vấn đề phạt vi phạm đã chưa được thể hiện rõ và nhất quán trong pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 29). Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ thuộc vào việc có hay không có thiệt hại. Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm và số tiền bồi thường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Cũng chính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là một biện pháp được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng kinh tế, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật hợp đồng kinh tế nói riêng, pháp luật quản lý kinh tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồng kinh tế 1.

Trong Bộ luật dân sự, phạt vi phạm được nói đến chủ yếu với tư cách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, còn trong Luật thương mại nó được coi là một trong những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng. Xuất phát từ các quy định nói trên của pháp luật mà nhiều người có quan điểm, theo đó việc trả tiền phạt vi phạm được coi là biện pháp trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Quan điểm này chỉ phù hợp trong nền kinh tế phi thị trường, kế hoạch hoá. Bởi vì khi đó các chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, thương mại chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước và khi đó việc ký kết và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được xem là kỷ luật của Nhà nước. Trong cơ chế kinh tế thị trường thì mục đích của việc áp dụng phạt vi phạm có nội dung hoàn toàn khác. Vì vậy, cách hiểu trên trở nên không thích hợp.

Phạt vi phạm, theo quan điểm của chúng tôi, thực hiện hai chức năng: thứ nhất, phạt vi phạm được xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ, điều này được khẳng định bởi phạt vi phạm được quy định trong chương các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ2, mặt khác phạt vi phạm thúc đẩy các bên chú ý đến việc thực hiện nghĩa vụ dưới sự đe dọa phải chịu hậu quả bất lợi do không thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi phạm. Hai chức năng này của phạt vi phạm cũng được thể hiện trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới.

Phạt vi phạm hợp đồng có thể được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận tại hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Vậy đâu là sự khác biệt giữa hai chức năng của phạt vi phạm trong hai trường hợp nói trên?

Đối với trường hợp phạt vi phạm theo hợp đồng, khi các bên đưa điều kiện phạt vi phạm vào hợp đồng với mục đích thúc đẩy bên chậm thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đầy đủ, thì việc sử dụng phạt vi phạm trước hết với tư cách là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên trong trường hợp này phạt vi phạm cũng có thể được sử dụng với tư cách là một hình thức của trách nhiệm vật chất với mục đích là đền bù cho bên bị vi phạm, đặc biệt là khi các bên chỉ thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại.

Phạt vi phạm do pháp luật quy định, theo quan điểm của một số tác giả3, không thể thực hiện chức năng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bởi vì phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia vào quan hệ nghĩa vụ đó với mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ nói trên. Quan điểm này theo chúng tôi là thiếu thuyết phục bởi những lý do sau đây: thứ nhất, phạt vi phạm được quy định ngay trong phần các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của pháp luật nhiều nước; thứ hai, mặc dù phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia quan hệ nghĩa vụ đó nhưng khi ký kết hợp đồng các bên không thể không biết quy định của pháp luật về điều đó.

Với tư cách là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, trong khoa học pháp lý Việt Nam có quan điểm cho rằng có thiệt hại xảy ra hay không không phải là yếu tố quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt vi phạm 4, điều này có nghĩa là phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra. Về vấn đề này theo chúng tôi cần phải xác định rõ, chế tài phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra hay có thiệt hại xảy ra là yếu tố quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng song trong một số trường hợp không cần phải xác định mức độ thiệt hại.

Muốn giải quyết được vấn đề này chúng ta cần phải xác định rõ, phạt vi phạm với tư cách là một hình thức của trách nhiệm, mang tính trừng phạt hay là mang tính đền bù. Nếu cho rằng phạt vi phạm có tính trừng phạt thì rõ ràng nó sẽ được áp dụng ngay cả khi hành vi vi phạm hợp đồng không gây ra thiệt hại, còn nếu phạt vi phạm mang tính đền bù thì nó chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm hợp đồng có gây ra thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, phạt vi phạm là một trong hai hình thức của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt mà chỉ có chức năng đền bù. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính trừng phạt là chức năng của phạt vi phạm5. Cách nhìn nhận này trong pháp luật của các nước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Trong thực tiễn có những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước thì rõ ràng họ đã vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng và tất nhiên toà án sẽ không ra phán quyết thoả mãn yêu cầu của họ. Bởi vì trong mọi trường hợp toà án có nghĩa vụ phải ra phán quyết không những đúng pháp luật mà còn phải công bằng.

Như vậy có thể nói rằng mục đích của việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hoàn toàn giống với mục đích của việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Một câu hỏi có thể được đặt ra là, nếu mục đích của phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đều là khôi phục quyền lợi vật chất của bên bị vi phạm thì đâu là sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại, việc chứng minh có thiệt hại và mức độ thiệt hại do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra là vấn đề không đơn giản và mất nhiều thời gian. Bởi vậy, việc áp dụng phạt vi phạm như là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có những ưu điểm sau:

– Thứ nhất, là công cụ thuận tiện để đền bù những tổn thất, mất mát của người có quyền do hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra;

– Thứ hai, cho phép thiệt hại được đền bù một cách nhanh chóng. Chỉ cần có sự vi phạm hợp đồng và sự vi phạm này không phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm do các bên thoả thuận là người bị thiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm trả số tiền mà hai bên đã thỏa thuận;

– Thứ ba, khi sử dụng hình thức bồi thường thiệt hại, bên có quyền không những cần phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại, mà còn phải chứng minh được rằng họ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại. Điều này gây cho bên bị vi phạm rất nhiều điều bất lợi và trong một số trường hợp sẽ dẫn đến việc bên vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm, bởi vì do những lý do nào đó họ không thể chứng minh một cách đầy đủ những thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Còn khi sử dụng biện pháp phạt vi phạm thì bên vi phạm phải chứng minh những sự kiện nói trên nếu họ không muốn chịu trách nhiệm;

– Thứ tư, tránh được những chi phí phát sinh trong quá trình chứng minh thiệt hại, mức độ của thiệt hại. Rõ ràng, việc chứng minh mức độ thiệt hại không phải là việc dễ dàng trong thực tế, bên bị thiệt hại trong nhiều trường hợp phải nhờ đến sự giúp đỡ của những người khác và chi phí này cũng được coi là thiệt hại thực tế và bên vi phạm phải gánh chịu.

2. Căn cứ áp dụng phạt vi phạm

Xuất phát từ quan điểm cho rằng việc trả tiền phạt vi phạm được coi là sự trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên trong khoa học pháp lý Việt Nam không có quan điểm thống nhất về căn cứ áp dụng phạt vi phạm. Trong Pháp luật thực định, căn cứ để áp dụng phạt vi phạm được quy định không thống nhất. Bộ luật dân sự không trực tiếp quy định căn cứ để áp dụng phạt vi phạm, song một cách gián tiếp có thể hiểu thông qua Điều 379 của Bộ luật dân sự, phạt vi phạm được xem là một hình thức của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và vì vậy căn cứ để áp dụng phạt vi phạm phải tuân theo nguyên tắc chung, đó là giống với căn cứ áp dụng hình thức bồi thường thiệt hại. Luật thương mại Việt Nam quy định căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm là không thực hiện hợp đồng và thực hiện không đúng hợp đồng (Điều 227). Theo quan điểm của một số luật gia6, những quy định này không có nghĩa là đã cho phép áp dụng chế tài phạt hợp đồng đối với mọi hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà không cần xét đến yếu tố lỗi. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Tuy nhiên nếu căn cứ theo Điều 227 Luật thương mại thì có thể hiểu rằng, nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng điều khoản phạt vi phạm thì khi có sự không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng, bên có quyền yêu cầu trả tiền phạt ngay cả khi không có lỗi và không có thiệt hại.

Xuất phát từ sự phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi, Dự thảo Luật thương mại sửa đổi bỏ Điều 227 là hợp lý.

3. Mức phạt vi phạm

Pháp luật của Việt Nam quy định giới hạn tối đa của mức phạt vi phạm, không phụ thuộc vào thoả thuận của các bên (Điều 228 Luật thương mại quy định mức phạt tối đa 8% giá trị nghĩa vụ vi phạt, Điều 378 Bộ luật dân sự lại quy định mức phạt vi phạm không quá 5% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế lại quy định mức phạt vi phạm không quá 12% giá trị của nghĩa vụ bị vi phạm -phụ thuộc vào loại nghĩa vụ bị vi phạm). Theo quy định của các điều luật nói trên, trong trường hợp các bên có thỏa thuận mức phạt vi phạm thì dù thiệt hại có lớn bao nhiêu đi nữa thì bên vi phạm chỉ phải trả tiền tối đa trong giới hạn đó. Như vậy liệu các quy định của pháp luật về giới hạn mức phạt có phù hợp với mục đích của áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng hay không.

Pháp luật của những nước, phạt vi phạm được coi là một trong những hình thức của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, không quy định giới hạn của mức phạt vi phạm, mà chỉ quy định rằng mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận khi ký kết hợp đồng. Sở dĩ có quy định như vậy bởi vì pháp luật của các nước đó coi chức năng của phạt vi phạm là đền bù những tổn thất mà bên bị vi phạm phải chịu và mức phạt vi phạm cũng phải tương đương với mức độ tổn thất mà các bên nhìn thấy trước tại thời điểm ký kết hợp đồng.

Chúng tôi cho rằng, việc quy định giới hạn của mức phạt vi phạm làm hạn chế tự do ý chí của các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng. Bởi vì, thứ nhất, pháp luật đã quy định, phạt vi phạm là sự thoả thuận của các bên về số tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm; thứ hai, Khoản 3 Điều 379 Bộ luật dân sự, nếu trong hợp đồng các bên có thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại thì chỉ áp dụng phạt vi phạm mà không áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Theo quy định nói trên thì sẽ như thế nào nếu nếu thiệt hại thực tế lớn hơn rất nhiều so với mức tối đa do pháp luật quy định, ví dụ, 25% hoặc hơn nghĩa vụ bị vi phạm. Có thể có người cho rằng, thế thì tại sao tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên không thoả thuận áp dụng cả hai loại chế tài: phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với lập luận đó và cũng tin rằng, trong thực tiễn ký kết hợp đồng thương mại các bên sẽ thoả thuận áp dụng cả hai biện pháp chế tài nói trên. Nếu trong thực tiễn thương mại các bên sẽ luôn hành động như vậy thì liệu quy định của Điều 378 Bộ luật dân sự, Điều 228 Luật thương mại và quy định tại Khoản 3 Điều 379 Bộ luật dân sự có thực sự phát huy hiệu quả của mình hay không, có thực sự cần thiết hay không. Chúng tôi cho rằng, để các quy định của pháp luật phát huy được hiệu quả của mình thì chúng phải phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại, vì vậy không nên có sự tồn tại tại các Điều 378 Bộ luật dân sự và Điều 228 Luật thương mại.

Một vấn đề cần phải nói đến khi phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về phạt vi phạm là trong thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại trong rất nhiều trường hợp mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận cao hơn rất nhiều so với thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra hoặc thiệt hại thực tế hầu như không xảy ra thì sẽ giải quyết như thế nào. Nếu buộc bên vi phạm phải trả tiền phạt theo mức thoả thuận thì liệu biện pháp này có phù hợp với nguyên tắc: thiệt hại phải được đền bù kịp thời và đầy đủ hay không? Câu trả lời của chúng tôi là hoàn toàn không. Pháp luật của nhiều nước cho phép Toà án điều chỉnh mức phạt vi phạm khi có yêu cầu của một trong các bên trong trường hợp thiệt hại thực tế do vi phạm là quá thấp so với mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận (Điều 333 Bộ luật dân sự của Cộng hoà liên bang Nga, Mục 2 Điều 1152 BLDS Pháp – được thay đổi bằng luật số 75-597 ngày 9/7/1975, Điều 343 Bộ luật dân sự Đức7). Vì vậy theo quan điểm của chúng tôi, trong Bộ luật dân sự sửa đổi và trong Luật thương mại sửa đổi cần phải có quy định cho phép toà án hạ mức tiền phạt mà các bên thoả thuận theo yêu cầu của bên vi phạm nếu họ chứng minh được rằng, thiệt hại thực tế xảy ra thấp hơn rất nhiều so với mức phạt vi phạm mà các bên đã thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng.

4. Mối quan hệ giữa phạt vi phạm với chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ

Trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa thấy có sự phân tích một cách kỹ lưỡng mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm với chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ. Còn trong pháp luật thì theo quy định của Điều 225 Luật thương mại 1997, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế, bên có quyền không được áp dụng các biện pháp chế tài khác như chế tài huỷ hợp đồng, chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm. Chúng tôi cho rằng khi áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ thì không được áp dụng chế tài huỷ hợp đồng là quy định hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Rõ ràng khi đã bắt buộc bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế thì không thể huỷ hợp đồng được. Bởi vì nếu cho phép bên có quyền huỷ hợp đồng khi bên vi phạm đang thực hiện nghĩa vụ của mình thì hậu quả có thể rất lớn. Ví dụ, khi người bán chậm thực hiện nghĩa vụ giao hàng và người mua áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, tức là buộc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng, như vậy trong thời gian người bán đang thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình thì người mua không thể hủy hợp đồng.

Còn quy định của pháp luật không cho phép bên có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm khi đã áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ, theo quan điểm của chúng tôi là không có cơ sở pháp lý và không phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại, bởi vì việc không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ có thể gây thiệt hại cho bên bị vi phạm. Một câu hỏi có thể được đặt ra, tại sao thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu không được đền bù. Có thể có ý kiến cho rằng, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được quyền lựa  chọn biện pháp chế tài, vậy thì trong trường hợp có thiệt hại bên bị thiệt hại không nên sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ mà sử dụng ngay chế tài bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm. Nếu đồng ý với lập luận này thì sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp, ví dụ, người bán chậm giao hàng cho người mua và việc chậm giao hàng này thực sự có gây thiệt hại cho người mua, do nhu cầu kinh doanh của mình nên người mua buộc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng và khi đó ai là người phải gánh chịu thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, trong trường hợp áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ thì có thể hạn chế được mức độ của thiệt hại. Và cũng theo quan điểm của chúng tôi thì buộc thực hiện đúng nghĩa vụ trong nhiều trường hợp cũng có thể được coi là biện pháp hợp lý nhằm hạn chế thiệt hại. Pháp luật của đa số các nước châu Âu lục địa có quy định khác với pháp luật của Việt Nam. Ví dụ, Khoản 2 Điều 1229 Bộ luật dân sự của Pháp, Điều 341 của Bộ luật dân sự Đức quy định rằng, trong trường hợp các bên thoả thuận phạt vi phạm do chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên bị vi phạm khi yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt, được giữ lại quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ. Các quy tắc thống nhất của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) năm 19848 cũng cho phép bên bị vi phạm vừa có quyền yêu cầu bên vi phạm vừa thực hiện đúng nghĩa vụ vừa trả tiền phạt vi phạm trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại.

Từ những phân tích trên đây, theo quan điểm của chúng tôi, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi đã sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ bởi những lý do sau đây:

– Thứ nhất, buộc thực hiện đúng nghĩa vụ và phạt vi phạm tuy là hai biện pháp chế tài nhưng chức năng và ý nghĩa của việc áp dụng chúng lại hoàn toàn khác nhau. Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ là việc bắt buộc bên vi phạm phải thực hiện những gì mà họ đã cam kết, còn khi bị buộc thực hiện đúng nghĩa vụ bên vi phạm hoàn toàn không hề chịu một hậu quả bất lợi nào về vật chất.

– Thứ hai, quy định trên của pháp luật chỉ có thể áp dụng trong trường hợp, ví dụ, khi mà người bán giao hàng không đúng chất lượng và người mua yêu cầu người bán phải thay hàng không đúng chất lượng đó bằng hàng đúng chất lượng và việc thay đổi hàng đó được người bán thực hiện trong thời hạn giao hàng mà các bên đã thoả thuận. Còn nếu người bán thực hiện hành vi đổi hàng sau khi hết thời hạn giao hàng được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì người mua vẫn có quyền đòi tiền phạt. Trong trường hợp hành vi đổi hàng thực hiện trong thời hạn giao hàng nhưng lại kết thúc khi thời hạn giao hàng do các bên thoả thuận đã hết thì người bán vẫn phải trả tiền phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ.

Khoản 1 Điều 225 Luật thương mại 1997 được sửa đổi bằng Điều 288 dự thảo Luật thương mại sửa đổi lần 8 với nội dung như sau: “… Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, bên có quyền không được áp dụng những biện pháp chế tài khác, ngoại trừ chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại”. Chúng tôi cho rằng, quy định của Điều 288 trong dự thảo Luật thương mại sửa đổi sẽ là không phù hợp trong những trường hợp bên vi phạm bị áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ khi thời hạn mà họ phải thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng chưa hết.

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng nên sửa đổi khoản 1 Điều 225 Luật thương mại 1997 với nội dung như sau: “Trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ và các bên không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, bên bị vi phạm có quyền áp dụng những chế tài khác ngoại trừ chế tài huỷ hợp đồng”.

Chú thích:

1 Xem: Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN. 2003. tr. 329.

2 Có quan điểm cho rằng, biện pháp phạt vi phạm chỉ mang chức năng dự phạt mà hoàn toàn không mang chức năng bảo đảm, chúng ta khó có thể đồng ý với quan điểm này. Xem: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN. 2002. tr. 328.

3 Xem: M.I Braginsky; V.V Vitriansky. Luật hợp đồng. NXB Statut. Matxcơva. 1999. tr. 662.

4 Xem: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN 2001. tr. 350

5 Xem: Khoản 2 Điều 330 Bộ luật dân sự Cộng hoà liên bang Nga; khoản 1 Điều 1227 Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp.

6 Xem: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN 2001. tr.351

7 Ngoại trừ trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân trong hoạt động kinh doanh thương mại – Điều 348 Bộ luật thương mại Đức;

8 Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc. Tổng kết hàng năm. Tập XIV. 1983, UN. New-York, 1985.Mặc dù các Quy tắc này không có hiệu lực, nhưng nó thể hiện được thực tiễn thương mại quốc tế cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của nó.

SOURCE: Tạp chí Khoa học Pháp lý số 01/2005

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHẠT VI PHẠM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TS. DƯƠNG ANH SƠN – TS. LÊ THỊ BÍCH THỌ

Khoa luật ĐHQG TP. HCM – ĐH Luật TP.HCM

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện hành đã nảy sinh những bất cập. Nhiều quy định của pháp luật về hợp đồng trong đó có các quy định về phạt vi phạm đã không còn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự, thương mại trong cơ chế thị trường. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi muốn đi sâu vào việc phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về phạt vi phạm và qua đó có một số ý kiến đóng góp cho việc xây dựng chế định phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại sửa đổi.

1. Chức năng của phạt vi phạm.

Xuất phát từ việc phân chia các quan hệ hợp đồng trong hoạt động dân sự và thương mại thành những lĩnh vực riêng biệt và được điều chỉnh bởi các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau mà các quy định về phạt hợp đồng cũng rơi vào tình trạng chung là thiếu thống nhất trong điều chỉnh bằng pháp luật. Hiện ở Việt Nam có ba văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng, đó là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Bộ luật dân sự và Luật thương mại. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế tuy được xem là văn bản pháp luật lỗi thời và có nhiều bất cập nhất hiện nay nhưng lại là một trong những văn bản pháp luật có ảnh hưởng lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng và quá trình lập pháp về hợp đồng. Vấn đề phạt vi phạm đã chưa được thể hiện rõ và nhất quán trong pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 29). Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ thuộc vào việc có hay không có thiệt hại. Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm và số tiền bồi thường thiệt hại sẽ lớn hơn thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Cũng chính vì điều đó mà phạt vi phạm được xem là một biện pháp được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng kinh tế, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật hợp đồng kinh tế nói riêng, pháp luật quản lý kinh tế nói chung đồng thời phòng ngừa vi phạm hợp đồng kinh tế 1.

Trong Bộ luật dân sự, phạt vi phạm được nói đến chủ yếu với tư cách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, còn trong Luật thương mại nó được coi là một trong những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng. Xuất phát từ các quy định nói trên của pháp luật mà nhiều người có quan điểm, theo đó việc trả tiền phạt vi phạm được coi là biện pháp trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Quan điểm này chỉ phù hợp trong nền kinh tế phi thị trường, kế hoạch hoá. Bởi vì khi đó các chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, thương mại chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước và khi đó việc ký kết và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được xem là kỷ luật của Nhà nước. Trong cơ chế kinh tế thị trường thì mục đích của việc áp dụng phạt vi phạm có nội dung hoàn toàn khác. Vì vậy, cách hiểu trên trở nên không thích hợp.

Phạt vi phạm, theo quan điểm của chúng tôi, thực hiện hai chức năng: thứ nhất, phạt vi phạm được xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ, điều này được khẳng định bởi phạt vi phạm được quy định trong chương các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ2, mặt khác phạt vi phạm thúc đẩy các bên chú ý đến việc thực hiện nghĩa vụ dưới sự đe dọa phải chịu hậu quả bất lợi do không thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi phạm. Hai chức năng này của phạt vi phạm cũng được thể hiện trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới.

Phạt vi phạm hợp đồng có thể được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận tại hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Vậy đâu là sự khác biệt giữa hai chức năng của phạt vi phạm trong hai trường hợp nói trên?

Đối với trường hợp phạt vi phạm theo hợp đồng, khi các bên đưa điều kiện phạt vi phạm vào hợp đồng với mục đích thúc đẩy bên chậm thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đầy đủ, thì việc sử dụng phạt vi phạm trước hết với tư cách là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên trong trường hợp này phạt vi phạm cũng có thể được sử dụng với tư cách là một hình thức của trách nhiệm vật chất với mục đích là đền bù cho bên bị vi phạm, đặc biệt là khi các bên chỉ thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại.

Phạt vi phạm do pháp luật quy định, theo quan điểm của một số tác giả3, không thể thực hiện chức năng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bởi vì phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia vào quan hệ nghĩa vụ đó với mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ nói trên. Quan điểm này theo chúng tôi là thiếu thuyết phục bởi những lý do sau đây: thứ nhất, phạt vi phạm được quy định ngay trong phần các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của pháp luật nhiều nước; thứ hai, mặc dù phạt vi phạm do pháp luật quy định không ràng buộc với bất kỳ một nghĩa vụ cụ thể nào hay với bất kỳ các bên cụ thể nào tham gia quan hệ nghĩa vụ đó nhưng khi ký kết hợp đồng các bên không thể không biết quy định của pháp luật về điều đó.

Với tư cách là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, trong khoa học pháp lý Việt Nam có quan điểm cho rằng có thiệt hại xảy ra hay không không phải là yếu tố quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt vi phạm 4, điều này có nghĩa là phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra. Về vấn đề này theo chúng tôi cần phải xác định rõ, chế tài phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra hay có thiệt hại xảy ra là yếu tố quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng song trong một số trường hợp không cần phải xác định mức độ thiệt hại.

Muốn giải quyết được vấn đề này chúng ta cần phải xác định rõ, phạt vi phạm với tư cách là một hình thức của trách nhiệm, mang tính trừng phạt hay là mang tính đền bù. Nếu cho rằng phạt vi phạm có tính trừng phạt thì rõ ràng nó sẽ được áp dụng ngay cả khi hành vi vi phạm hợp đồng không gây ra thiệt hại, còn nếu phạt vi phạm mang tính đền bù thì nó chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm hợp đồng có gây ra thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, phạt vi phạm là một trong hai hình thức của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt mà chỉ có chức năng đền bù. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính trừng phạt là chức năng của phạt vi phạm5. Cách nhìn nhận này trong pháp luật của các nước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Trong thực tiễn có những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước thì rõ ràng họ đã vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng và tất nhiên toà án sẽ không ra phán quyết thoả mãn yêu cầu của họ. Bởi vì trong mọi trường hợp toà án có nghĩa vụ phải ra phán quyết không những đúng pháp luật mà còn phải công bằng.

Như vậy có thể nói rằng mục đích của việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hoàn toàn giống với mục đích của việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Một câu hỏi có thể được đặt ra là, nếu mục đích của phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đều là khôi phục quyền lợi vật chất của bên bị vi phạm thì đâu là sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại, việc chứng minh có thiệt hại và mức độ thiệt hại do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra là vấn đề không đơn giản và mất nhiều thời gian. Bởi vậy, việc áp dụng phạt vi phạm như là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có những ưu điểm sau:

– Thứ nhất, là công cụ thuận tiện để đền bù những tổn thất, mất mát của người có quyền do hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra;

– Thứ hai, cho phép thiệt hại được đền bù một cách nhanh chóng. Chỉ cần có sự vi phạm hợp đồng và sự vi phạm này không phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm do các bên thoả thuận là người bị thiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm trả số tiền mà hai bên đã thỏa thuận;

– Thứ ba, khi sử dụng hình thức bồi thường thiệt hại, bên có quyền không những cần phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại, mà còn phải chứng minh được rằng họ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại. Điều này gây cho bên bị vi phạm rất nhiều điều bất lợi và trong một số trường hợp sẽ dẫn đến việc bên vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm, bởi vì do những lý do nào đó họ không thể chứng minh một cách đầy đủ những thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Còn khi sử dụng biện pháp phạt vi phạm thì bên vi phạm phải chứng minh những sự kiện nói trên nếu họ không muốn chịu trách nhiệm;

– Thứ tư, tránh được những chi phí phát sinh trong quá trình chứng minh thiệt hại, mức độ của thiệt hại. Rõ ràng, việc chứng minh mức độ thiệt hại không phải là việc dễ dàng trong thực tế, bên bị thiệt hại trong nhiều trường hợp phải nhờ đến sự giúp đỡ của những người khác và chi phí này cũng được coi là thiệt hại thực tế và bên vi phạm phải gánh chịu.

2. Căn cứ áp dụng phạt vi phạm

Xuất phát từ quan điểm cho rằng việc trả tiền phạt vi phạm được coi là sự trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên trong khoa học pháp lý Việt Nam không có quan điểm thống nhất về căn cứ áp dụng phạt vi phạm. Trong Pháp luật thực định, căn cứ để áp dụng phạt vi phạm được quy định không thống nhất. Bộ luật dân sự không trực tiếp quy định căn cứ để áp dụng phạt vi phạm, song một cách gián tiếp có thể hiểu thông qua Điều 379 của Bộ luật dân sự, phạt vi phạm được xem là một hình thức của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và vì vậy căn cứ để áp dụng phạt vi phạm phải tuân theo nguyên tắc chung, đó là giống với căn cứ áp dụng hình thức bồi thường thiệt hại. Luật thương mại Việt Nam quy định căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm là không thực hiện hợp đồng và thực hiện không đúng hợp đồng (Điều 227). Theo quan điểm của một số luật gia6, những quy định này không có nghĩa là đã cho phép áp dụng chế tài phạt hợp đồng đối với mọi hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà không cần xét đến yếu tố lỗi. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Tuy nhiên nếu căn cứ theo Điều 227 Luật thương mại thì có thể hiểu rằng, nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng điều khoản phạt vi phạm thì khi có sự không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng, bên có quyền yêu cầu trả tiền phạt ngay cả khi không có lỗi và không có thiệt hại.

Xuất phát từ sự phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi, Dự thảo Luật thương mại sửa đổi bỏ Điều 227 là hợp lý.

3. Mức phạt vi phạm.

Pháp luật của Việt Nam quy định giới hạn tối đa của mức phạt vi phạm, không phụ thuộc vào thoả thuận của các bên (Điều 228 Luật thương mại quy định mức phạt tối đa 8% giá trị nghĩa vụ vi phạt, Điều 378 Bộ luật dân sự lại quy định mức phạt vi phạm không quá 5% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế lại quy định mức phạt vi phạm không quá 12% giá trị của nghĩa vụ bị vi phạm -phụ thuộc vào loại nghĩa vụ bị vi phạm). Theo quy định của các điều luật nói trên, trong trường hợp các bên có thỏa thuận mức phạt vi phạm thì dù thiệt hại có lớn bao nhiêu đi nữa thì bên vi phạm chỉ phải trả tiền tối đa trong giới hạn đó. Như vậy liệu các quy định của pháp luật về giới hạn mức phạt có phù hợp với mục đích của áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng hay không.

Pháp luật của những nước, phạt vi phạm được coi là một trong những hình thức của trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, không quy định giới hạn của mức phạt vi phạm, mà chỉ quy định rằng mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận khi ký kết hợp đồng. Sở dĩ có quy định như vậy bởi vì pháp luật của các nước đó coi chức năng của phạt vi phạm là đền bù những tổn thất mà bên bị vi phạm phải chịu và mức phạt vi phạm cũng phải tương đương với mức độ tổn thất mà các bên nhìn thấy trước tại thời điểm ký kết hợp đồng.

Chúng tôi cho rằng, việc quy định giới hạn của mức phạt vi phạm làm hạn chế tự do ý chí của các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng. Bởi vì, thứ nhất, pháp luật đã quy định, phạt vi phạm là sự thoả thuận của các bên về số tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm; thứ hai, Khoản 3 Điều 379 Bộ luật dân sự, nếu trong hợp đồng các bên có thoả thuận phạt vi phạm mà không thoả thuận bồi thường thiệt hại thì chỉ áp dụng phạt vi phạm mà không áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Theo quy định nói trên thì sẽ như thế nào nếu nếu thiệt hại thực tế lớn hơn rất nhiều so với mức tối đa do pháp luật quy định, ví dụ, 25% hoặc hơn nghĩa vụ bị vi phạm. Có thể có người cho rằng, thế thì tại sao tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên không thoả thuận áp dụng cả hai loại chế tài: phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với lập luận đó và cũng tin rằng, trong thực tiễn ký kết hợp đồng thương mại các bên sẽ thoả thuận áp dụng cả hai biện pháp chế tài nói trên. Nếu trong thực tiễn thương mại các bên sẽ luôn hành động như vậy thì liệu quy định của Điều 378 Bộ luật dân sự, Điều 228 Luật thương mại và quy định tại Khoản 3 Điều 379 Bộ luật dân sự có thực sự phát huy hiệu quả của mình hay không, có thực sự cần thiết hay không. Chúng tôi cho rằng, để các quy định của pháp luật phát huy được hiệu quả của mình thì chúng phải phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại, vì vậy không nên có sự tồn tại tại các Điều 378 Bộ luật dân sự và Điều 228 Luật thương mại.

Một vấn đề cần phải nói đến khi phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về phạt vi phạm là trong thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại trong rất nhiều trường hợp mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận cao hơn rất nhiều so với thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra hoặc thiệt hại thực tế hầu như không xảy ra thì sẽ giải quyết như thế nào. Nếu buộc bên vi phạm phải trả tiền phạt theo mức thoả thuận thì liệu biện pháp này có phù hợp với nguyên tắc: thiệt hại phải được đền bù kịp thời và đầy đủ hay không? Câu trả lời của chúng tôi là hoàn toàn không. Pháp luật của nhiều nước cho phép Toà án điều chỉnh mức phạt vi phạm khi có yêu cầu của một trong các bên trong trường hợp thiệt hại thực tế do vi phạm là quá thấp so với mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận (Điều 333 Bộ luật dân sự của Cộng hoà liên bang Nga, Mục 2 Điều 1152 BLDS Pháp – được thay đổi bằng luật số 75-597 ngày 9/7/1975, Điều 343 Bộ luật dân sự Đức7). Vì vậy theo quan điểm của chúng tôi, trong Bộ luật dân sự sửa đổi và trong Luật thương mại sửa đổi cần phải có quy định cho phép toà án hạ mức tiền phạt mà các bên thoả thuận theo yêu cầu của bên vi phạm nếu họ chứng minh được rằng, thiệt hại thực tế xảy ra thấp hơn rất nhiều so với mức phạt vi phạm mà các bên đã thoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng.

4. Mối quan hệ giữa phạt vi phạm với chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ.

Trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa thấy có sự phân tích một cách kỹ lưỡng mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm với chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ. Còn trong pháp luật thì theo quy định của Điều 225 Luật thương mại 1997, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế, bên có quyền không được áp dụng các biện pháp chế tài khác như chế tài huỷ hợp đồng, chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm. Chúng tôi cho rằng khi áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ thì không được áp dụng chế tài huỷ hợp đồng là quy định hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Rõ ràng khi đã bắt buộc bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế thì không thể huỷ hợp đồng được. Bởi vì nếu cho phép bên có quyền huỷ hợp đồng khi bên vi phạm đang thực hiện nghĩa vụ của mình thì hậu quả có thể rất lớn. Ví dụ, khi người bán chậm thực hiện nghĩa vụ giao hàng và người mua áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, tức là buộc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng, như vậy trong thời gian người bán đang thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình thì người mua không thể hủy hợp đồng.

Còn quy định của pháp luật không cho phép bên có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm khi đã áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ, theo quan điểm của chúng tôi là không có cơ sở pháp lý và không phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại, bởi vì việc không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ có thể gây thiệt hại cho bên bị vi phạm. Một câu hỏi có thể được đặt ra, tại sao thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu không được đền bù. Có thể có ý kiến cho rằng, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được quyền lựa  chọn biện pháp chế tài, vậy thì trong trường hợp có thiệt hại bên bị thiệt hại không nên sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ mà sử dụng ngay chế tài bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm. Nếu đồng ý với lập luận này thì sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp, ví dụ, người bán chậm giao hàng cho người mua và việc chậm giao hàng này thực sự có gây thiệt hại cho người mua, do nhu cầu kinh doanh của mình nên người mua buộc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng và khi đó ai là người phải gánh chịu thiệt hại. Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, trong trường hợp áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ thì có thể hạn chế được mức độ của thiệt hại. Và cũng theo quan điểm của chúng tôi thì buộc thực hiện đúng nghĩa vụ trong nhiều trường hợp cũng có thể được coi là biện pháp hợp lý nhằm hạn chế thiệt hại. Pháp luật của đa số các nước châu Âu lục địa có quy định khác với pháp luật của Việt Nam. Ví dụ, Khoản 2 Điều 1229 Bộ luật dân sự của Pháp, Điều 341 của Bộ luật dân sự Đức quy định rằng, trong trường hợp các bên thoả thuận phạt vi phạm do chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên bị vi phạm khi yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt, được giữ lại quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ. Các quy tắc thống nhất của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) năm 19848 cũng cho phép bên bị vi phạm vừa có quyền yêu cầu bên vi phạm vừa thực hiện đúng nghĩa vụ vừa trả tiền phạt vi phạm trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ. Chúng tôi cho rằng quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại.

Từ những phân tích trên đây, theo quan điểm của chúng tôi, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi đã sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ bởi những lý do sau đây:

– Thứ nhất, buộc thực hiện đúng nghĩa vụ và phạt vi phạm tuy là hai biện pháp chế tài nhưng chức năng và ý nghĩa của việc áp dụng chúng lại hoàn toàn khác nhau. Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ là việc bắt buộc bên vi phạm phải thực hiện những gì mà họ đã cam kết, còn khi bị buộc thực hiện đúng nghĩa vụ bên vi phạm hoàn toàn không hề chịu một hậu quả bất lợi nào về vật chất.

– Thứ hai, quy định trên của pháp luật chỉ có thể áp dụng trong trường hợp, ví dụ, khi mà người bán giao hàng không đúng chất lượng và người mua yêu cầu người bán phải thay hàng không đúng chất lượng đó bằng hàng đúng chất lượng và việc thay đổi hàng đó được người bán thực hiện trong thời hạn giao hàng mà các bên đã thoả thuận. Còn nếu người bán thực hiện hành vi đổi hàng sau khi hết thời hạn giao hàng được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì người mua vẫn có quyền đòi tiền phạt. Trong trường hợp hành vi đổi hàng thực hiện trong thời hạn giao hàng nhưng lại kết thúc khi thời hạn giao hàng do các bên thoả thuận đã hết thì người bán vẫn phải trả tiền phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ.

Khoản 1 Điều 225 Luật thương mại 1997 được sửa đổi bằng Điều 288 dự thảo Luật thương mại sửa đổi lần 8 với nội dung như sau: “… Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, bên có quyền không được áp dụng những biện pháp chế tài khác, ngoại trừ chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại”. Chúng tôi cho rằng, quy định của Điều 288 trong dự thảo Luật thương mại sửa đổi sẽ là không phù hợp trong những trường hợp bên vi phạm bị áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ khi thời hạn mà họ phải thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng chưa hết.

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng nên sửa đổi khoản 1 Điều 225 Luật thương mại 1997 với nội dung như sau: “Trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ và các bên không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ, bên bị vi phạm có quyền áp dụng những chế tài khác ngoại trừ chế tài huỷ hợp đồng”.

Chú thích:

1 Xem: Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN. 2003. tr. 329.

2 Có quan điểm cho rằng, biện pháp phạt vi phạm chỉ mang chức năng dự phạt mà hoàn toàn không mang chức năng bảo đảm, chúng ta khó có thể đồng ý với quan điểm này. Xem: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN. 2002. tr. 328.

3 Xem: M.I Braginsky; V.V Vitriansky. Luật hợp đồng. NXB Statut. Matxcơva. 1999. tr. 662.

4 Xem: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN 2001. tr. 350

5 Xem: Khoản 2 Điều 330 Bộ luật dân sự Cộng hoà liên bang Nga; khoản 1 Điều 1227 Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp.

6 Xem: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam. NXB Công an nhân dân. HN 2001. tr.351

7 Ngoại trừ trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân trong hoạt động kinh doanh thương mại – Điều 348 Bộ luật thương mại Đức;

8 Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc. Tổng kết hàng năm. Tập XIV. 1983, UN. New-York, 1985.Mặc dù các Quy tắc này không có hiệu lực, nhưng nó thể hiện được thực tiễn thương mại quốc tế cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của nó.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2005

GHI VÀO "SỔ ĐỎ" NÊN CHĂNG?

KHẮC LUYỆN

Theo quy định của ngành Ngân hàng, khách hàng vay vốn ngoài điều kiện có dự án/ phương án sản xuất – kinh doanh hiệu quả, còn phải có tài sản bảo đảm (TSBĐ) cho chính khoản vay của mình. Tuy nhiên, hiện khách hàng là tư nhân và hộ gia đình khi vay vốn chủ yếu dùng giấy tờ nhà hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là sổ đỏ) để thế chấp cho ngân hàng. Khi đã thế chấp, khách hàng là người trực tiếp giữ và bảo quản tài sản, còn ngân hàng chỉ giữ bản chính giấy tờ về tài sản thế chấp.
Hầu hết người dân đều cho rằng: ngân hàng đã nắm đường chuôi khi giữ bản gốc giấy tờ về tài sản. Khách hàng không thể nào chuyển nhượng hoặc tặng, cho… dưới bất kỳ hình thức nào. Mặt khác khách hàng còn bị ràng buộc bởi hợp đồng vay vốn và hợp đồng bảo đảm (hợp đồng thế chấp) với ngân hàng vì hợp đồng thế chấp đều phải xác nhận công chứng hoặc chứng thực của các cấp theo luật định. Phía cuối một số loại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại phần ghi chú chỉ ghi: “Người được cấp giấy không được tự ý sửa chữa, tẩy xoá, viết thêm bất kỳ nội dung nào trong giấy chứng nhận và sơ đồ. Khi mất giấy chứng nhận phải báo ngay với cơ quan có thẩm quyền”. Như vậy trong giấy không quy định khi thế chấp phải mang đến cơ quan có thẩm quyền để ghi thông tin đã thế chấp vào giấy này. Vậy tại sao lại ghi vào sổ đỏ như vậy? Một khi khách hàng đã thanh toán hết nợ cho ngân hàng và muốn bán tài sản với lý do chính đáng sẽ rất khó thực hiện vì bị ép giá, người mua rất ngại mua những nhà đã thế chấp.
Từ thực tế trên, thiết nghĩ không chỉ riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường mà các cơ quan chức năng cũng cần xem lại việc quy định ghi các thông tin vào sổ đỏ của người dân, nhất là thông tin về thế chấp để vay vốn ngân hàng. Quy định trên không đảm bảo tính thẩm mỹ cho loại giấy tờ này mà thậm chí nó còn chồng chéo trong cách quản lý hồ sơ. Theo chúng tôi, các cơ quan thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ cần vào sổ theo dõi, khi khách hàng trả hết nợ, được ngân hàng giải chấp thì mang giấy tờ gốc đến để cơ quan này thực hiện xoá thế chấp là được./.

SOURCE: ICB.COM.VN

TÍNH ĐÚNG GIÁ TRỊ TÀI SẢN BẢO ĐẢM: NGƯỜI VAY VÀ NGÂN HÀNG ĐỀU ĐƯỢC NHỜ

KHẮC LUYỆN – NHCT Phú Yên

Hiện nhu cầu vay vốn sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân, cá thể và hộ gia đình (gọi tắt là khách hàng tư nhân) ngày càng tăng. Theo quy định để được vay vốn tại các tổ chức tín dụng, khách hàng phải có tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, hiện nay tài sản bảo đảm của thành phần kinh tế này chủ yếu là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Đây là một loại tài sản nếu tính đúng theo giá trị thực tế thị trường thì khách hàng vay được khá nhiều vốn.
Luật đất đai năm 2003 quy định: Hộ gia đình và cá nhân… được Nhà nước giao đất không phải là đất thuê có quyền thế chấp, bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng (TCTD) được phép hoạt động tại Việt Nam, để vay vốn sản xuất, kinh doanh. Ước tính một hộ cần số tiền vay vài trăm triệu đồng. Nếu phải vay bên ngoài, thủ tục có dễ hơn nhưng lãi suất quá cao. Trong khi đó muốn vay ngân hàng thì phải có tài sản bảo đảm (TSBĐ). TSBĐ có thể là của chính khách hàng, của bên thứ ba hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Hiện nay phần lớn TSBĐ của khách hàng chủ yếu là quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất (Quyền sở hữu nhà ở).
Có một điều nghịch lý là khi nhận thế chấp tài sản quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở, các TCTD thường áp dụng tính theo khung giá quy định của UBND cấp tỉnh, thành phố để xác định mức cho vay. Chính vì vậy, giá trị TSBĐ của khách hàng thường không tương xứng với giá trị thực, nhất là quyền sử dụng đất ở. Bởi giá trị quyền sử dụng đất ở mà UBND các tỉnh, thành phố đưa ra chỉ để áp dụng tính thu thuế chứ không phải để bán và trao đổi trên thị trường.
Mặc dù các ngân hàng thương mại đã có những quy định về phương pháp xác định giá trị TSBĐ là quyền sử dụng đất ở để giúp người dân có cơ hội vay được nhiều vốn hơn: như việc xác định theo thoả thuận giữa ngân hàng cho vay và bên bảo đảm nhưng phải thấp hơn giá đất thực tế chuyển nhượng trên thị trường địa phương tại thời điểm định giá; không vượt quá khung giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định; hoặc mức tối đa không quá 70% giá đất thực tế chuyển nhượng trên thị trường nếu cao hơn giá ghi trong khung giá đất của UBND tỉnh, thành phố nơi có đất. Thế nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho khách hàng vì giá trị tài sản được quy định thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế của nó.
Do vậy, UBND các tỉnh, thành phố cần tính toán lại cho phù hợp hơn để đưa ra mức quy định về giá trị đất, nhà ở cho sát với giá thị trường. Điều này không những giúp các ngân hàng thương mại có cơ sở đầu tư, mà người dân cũng có cơ hội vay được nhiều vốn hơn, không phải đi vay bên ngoài. Đặc biệt, khi giá trị tài sản được tính đúng, tính đủ sẽ giúp tăng thêm nguồn thu đáng kể hằng năm cho Nhà nước./.

SOURCE: icb.com.vn