KHÁI NIỆM LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ

 THS. PHẠM KIM ANH -  Khoa luật Dân sự trường ĐH luật TP.HCM

Trong khoa học pháp lý tồn tại quan điểm cho rằng cơ sở phát sinh trách nhiệm pháp luật dân sự là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật dân sự. Một trong những yếu tố cấu thành đó là lỗi của người vi phạm. Theo nguyên tắc chung thì lỗi là điều kiện cần thiết để áp dụng trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Chính vì vậy mà quy phạm về trách nhiệm do có lỗi được đưa vào Bộ Luật dân sự. Khoản 1 Điều 309 Bộ Luật dân sự (BLDS) quy định rằng, người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Mặc dù pháp luật dân sự coi lỗi là điều kiện tiên quyết để áp dụng trách nhiệm dân sự nhưng lại không đưa ra định nghĩa rõ ràng về lỗi. Điều này đã gây ra một số bất cập trong việc xác định trách nhiệm khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, đặc biệt là trong trách nhiệm dân sự liên đới.

Trong một số giáo trình luật dân sự cũng như trong một số ấn phẩm pháp lý khác các tác giả định nghĩa lỗi như là căn cứ để xác định trách nhiệm dân sự dựa trên trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra1. Khi so sánh khái niệm lỗi ở trên với định nghĩa lỗi trong khoa học luật hình sự cũng như so sánh khoản 2 Điều 309 BLDS với Điều 9 và Điều 10 Bộ Luật hình sự (BLHS) chúng ta nhận thấy rằng các tác giả trên và người soạn thảo khoản 2 Điều 309 BLDS đã lấy toàn bộ ý tưởng dùng để xây dựng yếu tố lỗi trong cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS. Theo quan điểm của chúng tôi thì cách xác định và đánh giá lỗi để áp dụng trách nhiệm dân sự hoàn toàn khác với cách xác định và đánh giá lỗi để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự là hai chế định hoàn toàn khác nhau và được xây dựng trên những nguyên tắc hoàn toàn khác nhau, vì vậy không thể xây dựng định nghĩa lỗi trong trách nhiệm dân sự dựa trên cơ sở định nghĩa lỗi trong trách nhiệm hình sự.

Theo quan điểm của chúng tôi thì cần thiết phải có một định nghĩa đúng đắn về lỗi trong pháp luật dân sự.

Theo Luật La Mã, lỗi (Culpa) là sự không tuân thủ hành vi mà pháp luật yêu cầu: “Không có lỗi nếu như tuân thủ tất cả những gì được yêu cầu”. Trong Luật La Mã, lỗi cũng được phân chia thành lỗi cố ý (dolus) và lỗi vô ý (culpa) và nói chung giống quy định của khoản 2 Điều 309 BLDS Việt Nam. Tuy nhiên trong Luật La Mã có một điều khác biệt đó là trong trường hợp lỗi cố ý thì thỏa thuận của các bên về miễn trừ trách nhiệm không có hiệu lực. Trong Luật La Mã lỗi vô ý được nói đến nhiều hơn bởi rằng lỗi cố ý đã quá rõ ràng để áp dụng trách nhiệm. Được coi là lỗi vô ý nếu như không nhìn thấy trước được những gì mà mọi người chu đáo, cẩn thận có thể nhìn thấy. Lỗi vô ý cũng được chia thành hai loại. Lỗi vô ý không đáng kể tức là người có lỗi không thể hiện mức độ quan tâm chu đáo mà một người chủ nhân hậu hay một người đứng đầu chu đáo phải có. Lỗi vô ý nghiêm trọng tức là khi người có lỗi không thể hiện được mức độ quan tâm cần phải có ở tất cả mọi người trong hoàn cảnh tương tự, mà trong hành động (không hành động) của họ không thể hiện được sự hiểu biết tất cả những gì mà những người bình thường khác đều biết được2.

Các Luật gia La Mã xây dựng kiểu người chu đáo và cần mẫn để làm tiêu chuẩn khi xác định mức độ quan tâm, chu đáo của người vi phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình cũng như mức độ trách nhiệm của họ. Vì lỗi vô ý không đáng kể là sự không tuân thủ những tiêu chuẩn do các luật gia La Mã quy định nên loại lỗi này được gọi là lỗi theo tiêu chuẩn trừu tượng.

Các nhà làm luật La Mã còn nói đến một loại lỗi vô ý nữa tức là lỗi được xác định theo tiêu chuẩn cụ thể. Khi người vi phạm không thực hiện sự quan tâm phải có như khi thể hiện nó trong công việc của mình.

Như vậy Luật La Mã không đả động gì đến trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra khi xác định lỗi. Chúng ta thấy rằng các luật gia La Mã trên cơ sở các điều kiện thực tế thời bấy giờ đã đưa ra khái niệm lỗi hợp lý trong trách nhiệm dân sự.

Khái niệm lỗi trong Luật dân sự cũng như trong khoa học pháp luật dân sự của các nước Châu Âu lục địa cơ bản giống với khái niệm lỗi được định nghĩa trong luật dân sự La Mã. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi rằng các hệ thống pháp luật nói trên được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật La Mã.

Pháp luật của các nước Châu Âu lục địa coi lỗi của người vi phạm nghĩa vụ là điều kiện cơ bản của trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ. Luật dân sự của các nước này xuất pháp từ nguyên tắc suy đoán có lỗi, tức là người vi phạm phải chứng minh rằng mình không có lỗi. Ví dụ: Điều 1147 BLDS Cộng hòa Pháp, Mục 282 BLDS của Đức, quy định rằng người có quyền chỉ phải chứng minh người có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.

Mặc dù pháp luật của các nước nói trên không định nghĩa khái niệm lỗi, nhưng có quy định các hình thức lỗi khác nhau: Cố ý và vô ý. Để phân biệt các hình thức lỗi, người ta sử dụng tiêu chí là mức độ quan tâm chu đáo mà người có nghĩa vụ cần phải thể hiện khi thực hiện nghĩa vụ. Ở đây các nhà làm luật không nói đến khả năng của một người có nghĩa vụ cụ thể mà chỉ nói đến những tiêu chuẩn trừu tượng: Đó là sự thể hiện sự quan tâm lo lắng phù hợp với tập quán lưu thông dân sự hoặc đặc trưng của người chủ cần mẫn. Trong luật dân sự của Đức tiêu chuẩn quan tâm đúng đắn của thương gia lương thiện được sử dụng để xác định lỗi của người vi phạm nghĩa vụ (Mục 346 BLDS Đức). Trong một số nghĩa vụ riêng biệt mang tính chất không hoàn lại người ta sử dụng tiêu chí ít khắt khe hơn trong việc đánh giá hành vi của người vi phạm nghĩa vụ, cụ thể là: Mức độ quan tâm mà người có nghĩa vụ thể hiện trong công việc của chính mình để thay thế cho tiêu chuẩn trừu tượng là sự quan tâm đặc trưng của người chủ tốt hoặc phù hợp với tập quán của lưu thông dân sự kinh tế. Quan điểm này được thể hiện trong các quy phạm điều chỉnh trách nhiệm dân sự theo hợp đồng gửi giữ, ủy quyền và một số loại khác.

Đặc điểm chung của pháp luật các nước Châu Âu lục địa là trao cho các bên của quan hệ nghĩa vụ quyền tự xác định cơ sở miễn trừ trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên theo nguyên tắc thì thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm dân sự của các bên do lỗi cố ý được coi là không có hiệu lực. Ví dụ: Mục 276 BLDS Đức.

Trong mọi trường hợp khi người vi phạm muốn được miễn trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ thì họ phải chứng minh rằng mình không có lỗi. Theo nguyên tắc người vi phạm nghĩa vụ đạt được mục đích này chỉ trong trường hợp nếu họ chứng minh được rằng nghĩa vụ không được thực hiện do những yếu tố khách quan không phụ thuộc họ gây ra. Điều này có nghĩa là các yếu tố nói trên làm cho việc thực hiện nghĩa vụ trở thành không thể được. Các yếu tố miễn trừ trách nhiệm dân sự của người vi phạm nghĩa vụ do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo pháp luật của các nước Châu Âu lục địa được gọi là yếu tố bất khả kháng.

Người vi phạm theo nguyên tắc được miễn trừ trách nhiệm nếu chứng minh được rằng việc thực hiện nghĩa vụ là hoàn toàn không thể được. Luật pháp và thực tiễn xét xử ở các nước này luôn theo nguyên tắc: Pacta sunt servanda (ví dụ Điều 1134 BLDS Pháp), tức là không có lỗi, không có trách nhiệm. Tòa án không xem xét những viện cớ của người vi phạm nghĩa vụ về các lý do như: sự thay đổi giá cả thị trường, điều kiện kỹ thuật, việc người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ đối với người vi phạm và những yếu tố khác làm cho việc thực hiện nghĩa vụ trở nên khó khăn hơn. Nguyên tắc Pacta sunt servanda phù hợp với các nước công nghiệp phát triển bởi vì nền kinh tế ở các nước này tương đối ổn định, không có những cuộc khủng hoảng trầm trọng, sự tự do cạnh tranh được pháp luật bảo đảm ở một mức độ cao3.

Khác với pháp luật của các nước châu Âu lục địa, pháp luật của các nước Anh – Mỹ không coi lỗi là điều kiện tiên quyết để áp dụng trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ. Mức độ và hình thức của lỗi hoàn toàn không có ý nghĩa trong việc xác định phạm vi mức độ của trách nhiệm.

Trên góc độ pháp lý đối với người vi phạm nghĩa vụ hoàn toàn không quan trọng khi sự vi phạm là có chủ ý, vô ý hay hoàn toàn không có lỗi. Những ngoại lệ của nguyên tắc này không đề cập đến những quy định chủ yếu của trách nhiệm dân sự. Lỗi chỉ được xem xét khi xác định phạm vi bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm ngoài hợp đồng, nhưng chỉ trong một số trường hợp. Như vậy nguyên tắc lỗi không ảnh hưởng đến phạm vi bồi thường thiệt hại vẫn là nguyên tắc bất biến.

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật Anh là hợp đồng phải được thực hiện trong mọi trường hợp và không phụ thuộc vào lỗi của người vi phạm. Nếu một người nào đã nhận lấy nghĩa vụ theo hợp đồng thì không thể từ chối thực hiện nó. Nguyên tắc này được gọi là trách nhiệm tuyệt đối. Trách nhiệm tuyệt đối về mặt lôgic xuất phát từ nội dung và bản chất của hợp đồng trong luật pháp Anh. Hợp đồng được coi như là lời hứa, sự đảm bảo của bên con nợ đối với chủ nợ. Ở đây con nợ không phải bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thực tế mà chỉ bảo đảm việc nhập vào tài sản của chủ nợ một số tiền nhất định. Theo quan điểm này thì việc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ không thể xảy ra, bởi vì tiền bao giờ cũng có thể trả được, trừ trường hợp con nợ bị phá sản.

Pháp luật Mỹ không điều chỉnh thủ tục áp dụng các hình thức lỗi khác nhau đối với một số loại nghĩa vụ hợp đồng riêng biệt mà quy định cơ sở miễn trừ trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ: Điều 2 – 613 Bộ Luật thương mại thống nhất của Mỹ quy định rằng để thực hiện hợp đồng cần phải có hàng hóa tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trong trường hợp hàng hóa bị thiệt hại không phải do lỗi của bất kỳ một bên nào trước thời điểm rủi ro được chuyển cho người mua, nếu hàng hóa bị thiệt hại toàn bộ thì hợp đồng mất hiệu lực; nếu hàng hóa bị thiệt hại một phần và không còn phù hợp với điều kiện của hợp đồng thì người mua có thể yêu cầu kiểm tra hàng hóa và theo sự lựa chọn của mình hoặc coi hợp đồng mất hiệu lực hoặc tiếp nhận hàng hóa và yêu cầu giảm giá, tuy nhiên trong trường hợp này người mua sẽ mất quyền yêu cầu đối với người bán về chất lượng của hàng hóa.

Tóm lại, pháp luật Anh – Mỹ không coi lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự, vì vậy họ không đưa ra định nghĩa khái niệm lỗi. Còn Luật La Mã và các nước Châu Âu lục địa coi lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự, tuy nhiên họ không định nghĩa lỗi trên cơ sở trạng thái tâm lý của chủ thể mà khi xem xét lỗi họ dựa trên tiêu chuẩn mức độ quan tâm của chủ thể đến việc thực hiện nghĩa vụ của mình.

Trở lại với khái niệm lỗi trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật dân sự Việt Nam. Theo quan điểm của chúng tôi trong Luật dân sự không thể coi lỗi là trạng thái tâm lý, là nhận thức của chủ thể đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra. Ví dụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa thì người mua phải trả tiền khi nhận hàng. Nếu người mua không trả tiền tức là có lỗi và phải chịu trách nhiệm dân sự do luật định. Không thể dùng trạng thái tâm lý để định giá lỗi của người mua như quan niệm truyền thống về lỗi. Để xác định lỗi của người mua chúng ta sử dụng tiêu chí khác, tiêu chí đó là đối với người bình thường khi mua hàng thì phải thanh toán, thế nhưng người này đã không thanh toán tiền mua hàng, vì vậy bị coi là có lỗi, lỗi này được coi là lỗi cố ý. Một ví dụ khác, một người cho người khác (không có bằng lái) mượn xe máy nhưng không hỏi người này có bằng lái hay chưa, và người này khi lưu thông gây tai nạn. Đương nhiên theo luật thì người cho mượn xe này phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cùng người mượn xe. Chúng ta hãy xem xét lỗi của từng người. Lỗi của người cho mượn xe là không xử sự như những người bình thường khác tức là đã không quan tâm đến việc người mượn xe có bằng lái hay không, rõ ràng lỗi ở đây được thể hiện bằng mức độ quan tâm chứ không phải sự nhận thức đối với hành vi. Giả sử người cho mượn xe biết người mượn xe không có bằng lái nhưng vẫn cho mượn thì theo quan niệm lỗi là trạng thái tâm lý thì người cho mượn nhận thức được hành vi cho mượn của mình và nhận thức được hậu quả có thể xảy ra khi người điều khiển xe máy không có bằng lái. Sự nhận thức ở đây mang tính trừu tượng và không dựa trên một tiêu chí cụ thể nào. Còn nếu xem xét lỗi là mức độ quan tâm của chủ thể thì sẽ đơn giản hơn nhiều và có tiêu chí cụ thể để đánh giá sự quan tâm đó. Tiêu chí đó được thể hiện là không một người bình thường nào lại cho người không có bằng lái mượn xe máy khi mà theo quy định của pháp luật người điều khiển xe máy phải có bằng lái. Như vậy người cho mượn xe đã không hành động như những người bình thường khác, vì vậy bị coi là có lỗi.

Đối với người mượn xe xác định theo mức độ quan tâm cẩn thận của chủ thể thì tiêu chí để xác định lỗi của người này là: Tất cả những người bình thường khác không điều khiển xe máy phân khối lớn khi không có bằng, không có bằng lái vẫn điều khiển xe máy, vì vậy bị coi là có lỗi.

Trong Luật dân sự, nhiều trường hợp hành vi vi phạm nghĩa vụ diễn ra trong một quá trình và có thể nói là không liên quan gì đến trạng thái tâm lý hay nhận thức của người vi phạm. Ví dụ theo hợp đồng gửi giữ tài sản, người giữ tài sản phải chịu trách nhiệm khi tài sản bị hư hỏng hay mất mát. Việc tài sản bị hỏng hay mất mát rõ ràng do lỗi của người giữ tài sản. Ở đây tiêu chí để xác định lỗi của người giữ tài sản không phải là trạng thái tâm lý hay sự nhận thức mà là mức độ quan tâm của người giữ tài sản đến việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Nói một cách khác trong trường hợp này người giữ tài sản bị coi là có lỗi vì đã không thể hiện được sự quan tâm chu đáo mà bất kỳ một người bình thường nào trong hoàn cảnh tương tự cần phải có để thực hiện nghĩa vụ của mình.

Khác với nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự trong nhiều trường hợp được áp dụng do hành vi của người khác gây ra. Điều 625 BLDS quy định rằng, trường học, bệnh viện, các tổ chức khác nếu có lỗi trong việc quản lý thì phải liên đới cùng cha mẹ, người giám hộ bồi thường thiệt hại do người chưa đủ 15 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự gây ra cho người khác trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác quản lý những người đó, nếu trường học, bệnh viện, các tổ chức khác không có lỗi thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường. Theo điều luật này, việc xác định lỗi của trường học, bệnh viện hay các tổ chức khác rõ ràng không thể dựa trên cơ sở trạng thái tâm lý hay sự nhận thức của các tổ chức đó đối với hành vi của người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự và hậu quả do hành vi đó gây ra, mà lỗi của các tổ chức nói trên phải được xác định dựa trên cơ sở mức độ quan tâm mà các tổ chức đó biểu hiện khi thực hiện nghĩa vụ quản lý người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự.

Theo quan điểm của chúng tôi, nếu xác định lỗi của pháp nhân dựa trên cơ sở trạng thái tâm lý tức là nhận thức của chủ thể, trong trường hợp này nhận thức của pháp nhân là một việc hết sức khó khăn trong luật dân sự. Bộ Luật dân sự, khoản 2 Điều 309 chỉ quy định chung chung hai hình thức lỗi. Trong khoa học pháp lý vấn đề lỗi của pháp nhân trong việc vi phạm nghĩa vụ dân sự chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. Theo quan điểm của một số luật gia thì không thể coi lỗi của các nhân viên riêng biệt là lỗi của pháp nhân, mà lỗi của pháp nhân là lỗi của cả tập thể như là một thể thống nhất4. Một số khác lại cho rằng lỗi của pháp nhân chỉ có thể được biểu hiện qua hành vi có lỗi của các thành viên pháp nhân khi thực hiện nghĩa vụ lao động nghề nghiệp của mình. Ví dụ: lỗi của Công ty kinh doanh trong việc chậm giao hàng do thiếu nhân công hay máy móc bị hỏng được thể hiện trong hành vi có lỗi của người lãnh đạo, người này đã không áp dụng kịp thời những biện pháp để khắc phục những thiếu sót sai lầm trong hoạt động của công ty mình. Lỗi của pháp nhân cũng có thể được thể hiện trong hành vi có lỗi của công nhân khi gia công những sản phẩm không phù hợp.

Khi phân tích các quan điểm trên chúng ta thấy rằng chúng đều có một điểm chung đó là lỗi của pháp nhân được xây dựng trên cơ sở trạng thái tâm lý sự nhận thức hoặc là của một cá nhân riêng biệt hoặc là của tập thể thống nhất, đối với hành vi của mình và hậu quả của nó. Sở dĩ có các quan điểm nói trên là vì tất cả các tác giả đó đều quan niệm lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi trái luật.

Một người khi thực hiện công việc của mình theo hợp đồng lao động với pháp nhân đã gây thiệt hại cho người thứ ba thì rõ ràng người này phải chịu trách nhiệm trước pháp nhân bởi đã thực hiện không đúng nghĩa vụ lao động được quy định trong hợp đồng. Trong trường hợp này người vi phạm có thể chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi trái luật đó có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm và hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm dân sự trước người thứ ba mà pháp nhân hay tổ chức quản lý người đó phải chịu trách nhiệm. Như vậy chúng ta thấy rằng lỗi của pháp nhân trong trường hợp này không phải là trạng thái tâm lý hay là sự nhận thức mà là pháp nhân không quan tâm một cách đúng mức đến hành động của nhân viên mình.

Theo quan điểm của chúng tôi, trong khoa học pháp lý của Việt Nam, khái niệm lỗi được xây dựng trên cơ sở trạng thái tâm lý do ảnh hưởng của các luật gia của Liên Xô cũ mà các luật gia này xây dựng khái niệm lỗi trên hai phương pháp nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, việc đưa vào khoa học Luật dân sự một cách gượng ép những qui định và phương pháp nghiên cứu các môn khoa học khác: như tâm lý học, khoa học Luật hình sự… thúc đẩy sự xuất hiện quan điểm về lỗi được nói ở trên. Các luật gia của Liên Xô cũ cho rằng, mặc dù lỗi là một khái niệm pháp lý nhưng chỉ với sự giúp đỡ của các thủ pháp pháp lý thì không thể làm rõ bản chất của nó, bởi vì những nguyên tắc cơ bản của triết học về tự do ý chí và sự cần thiết về sự hoạt động tích cực của con người trong sự tác động thay đổi thế giới khách quan là tiền đề tâm lý chung của khái niệm lỗi.

Thứ hai, việc xuất hiện quan điểm về trạng thái tâm lý của lỗi trong trách nhiệm dân sự được xác định bởi hệ tư tưởng trong xã hội Xô Viết. Việc lý giải về mặt tâm lý khái niệm lỗi khẳng định một cách có thuyết phục rằng, lỗi là một khái niệm có tính lịch sử, giai cấp. Mỗi giai cấp có quan niệm của mình về luật pháp, về luân lý được sinh ra bởi những quan hệ sản xuất nhất định. Mỗi giai cấp có một quan niệm riêng của mình về lỗi như căn cứ của trách nhiệm5.

Trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau cũng như quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau chúng ta thấy rằng không thể xây dựng định nghĩa khái niệm lỗi dựa trên cơ sở thái độ tâm lý và nhận thức của chủ thể trách nhiệm dân sự đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Theo quan điểm của chúng tôi phải xây dựng khái niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Một cá nhân hay pháp nhân, được coi là không có lỗi nếu khi áp dụng tất cả mọi biện pháp để thực hiện đúng nghĩa vụ đã biểu hiện sự quan tâm chu đáo mà tính chất của nghĩa vụ và điều kiện lưu thông dân sự yêu cầu đối với họ.

Chú thích:

1 Xem: Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2 do Nguyễn Minh Tuấn chủ biên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 1997, tr 45.

2 Luật Tư pháp La Mã, sách giáo khoa do I.B.Novisky, I.C.Petersky chủ biên, Moscow, 1996, tr 347 – 350. Bản tiếng Nga.

3 Vasilev, Luật dân sự và thương mại của các nước tư bản, Moscow, 1993, tr 289. Bản tiếng Nga.

4 Maivayev G.K, Lỗi trong luật dân sự Xô Viết, Kiev, 1955, tr 216. Bản tiếng Nga.

5 Maivayev G.K, Lỗi trong luật dân sự Xô Viết, Kiev, 1955, tr 216. Bản tiếng Nga.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2003

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

THS. LÊ TIẾN CHĀU –  Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

I. Đặt vấn đề

Một trong những yêu cầu cơ bản và quan trọng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam là hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và hành vi xử sự của công dân đều phải dựa trên cơ sở pháp luật. Muốn vậy, chúng ta phải đào tạo được những người có hiểu biết nhất định về pháp luật, trong đó đội ngũ cán bộ công chức nhà nước nói chung, cán bộ của các cơ quan tư pháp nói riêng phải hiểu biết sâu sắc về pháp luật. Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải cách tư pháp thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ của các cơ quan tư pháp vừa có những hiểu biết sâu sắc về pháp luật vừa có bản lĩnh chính trị vưng vàng, có phẩm chất đạo đức tốt là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đúng như Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã khẳng định. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ pháp lý được Bộ Chính trị xác định: “Sắp xếp lại việc đào tạo cử nhân luật tập trung vào hai trường: Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; thống nhất chương trình, giáo trình đào tạo, bảo đảm các sinh viên sau khi tốt nghiệp phải có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và nắm vững kiến thức pháp luật”. Cụ thể hóa Nghị quyết quan trọng này, ngày 19/3/2002 Thủ tướng đã có Chỉ thị sô 10/CT, theo đó Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo “Chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan khác xây dựng đề án sắp xếp lại các trường đào tạo luật theo hướng tập trung vào hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, trình Chính phủ trong quý III năm 2002. Chỉ đạo các cơ sở đào tạo luật xem xét, đánh giá chương trình, giáo trình hiện có, xây dựng Đề án thống nhất chương trình và giáo trình đào tạo luật, bảo đảm các cử nhân luật sau khi ra trường phải có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và nắm vững kiến thức pháp luật”. Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện chỉ thị này. Trong quá trình thảo luận để triển khai xây dựng đề án, đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề “Sắp xếp lại các trường đào tạo luật theo hướng tập trung vào hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP Hồ Chí Minh”.

Có ý kiến cho rằng Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ: việc đào tạo luật chỉ giao cho hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; các cơ sở khác có đào tạo cử nhân luật sẽ không được tiếp tục đào tạo. Vì vậy, các cơ sở hiện nay đang đào tạo luật hoặc là sáp nhập vào một trong hai trường luật hoặc là giải thể. Tuy nhiên, ý kiến khác lại cho rằng Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị là Nghị quyết vê cải cách tư pháp, kết luận trong Nghị quyết chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực tư pháp, điều này có nghĩa là việc giao đào tạo cử nhân luật cho hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là việc đào tạo can bộ pháp lý cho các cơ quan tư pháp. Trong điều kiện chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường thì việc đào tạo luật không chỉ đáp ứng cán bộ cho cơ quan tư pháp mà còn đáp ứng yêu cầu cán bộ cho các cơ quan hành chính và các doanh nghiệp, cũng như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đi xa hơn, còn có ý kiến cho rằng việc đào tạo luật không nên bó hẹp trong phạm vi các trường công lập mà còn có thể giao cho cả các trường ngoài công lập, tức là tất cả các trường công lập và dân lập đều có thể đào tạo luật nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, mỗi ý kiến đều có những lập luận, tiếp cận vấn đề dưới những góc độ khác nhau và đều có những hạt nhân hợp lý. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy hầu hết các ý kiến đều thống nhất cho rằng trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chúng ta không nên hạn chế số lượng các cơ sở đào tạo luật mà cần phải đa dạng các hình thức đào tạo để đáp nhu cầu của xã hội. Vì vậy, không chỉ giao việc đào tạo cử nhân luật cho hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh mà có thê tiếp tục giao cho nhiều cơ sở đào tạo luật như hiện nay, thậm chí có thể mở rộng các cơ sở đào tạo luật. Nhà nước cần tập trung đầu tư về kinh phí, về nhân lực, về đất đai, về cơ chế và các điều kiện khác để ưu tiên cho công tác đào tạo của hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì cùng với Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan khác tiến hành xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn để tiến hành khảo sát, đánh giá lại một cách khách quan, toàn diện về thực trạng đào tạo luật của tất cả các cơ sở hiện nay để xác định các biện pháp, cách thức xử lý thích hợp. Có thể tiếp tục cho phép đào tạo, mở rộng quy mô đào tạo, nhưng cũng có thể thu hẹp, thậm chí không cho phép tiếp tục đào tạo nếu xét thấy chưa đủ điều kiện. Quá trình sắp xếp, quy hoạch lại các trường đào tạo luật cần tham khảo kinh nghiệm nước ngoài.

Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập các đoàn công tác để tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo luật ở các cơ sở đào tạo luật trong cả nước, qua đó thấy được bức tranh toàn cảnh về vấn đề đao tạo luật làm cơ sở cho ban soạn thảo hoàn thành đề án trình Chính phủ xem xét quyết định. Qua khảo sát, có thể khái quát vài nét về thực trạng đào tạo cử nhân luật hiện nay ở nước ta.

II. Khái quát tình hình đào tạo cư nhân luật hiện nay ở nước ta

Hiện nay, cả nước có trên 11 cơ sở đào tạo luật, hàng năm có khoảng 9.000 cử nhân luật tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo này. Chưa có một khảo sát đầy đủ, toàn diện và chính thức số sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường có bao nhiêu phần trăm có việc làm và việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo, bao nhiêu phần trăm về công tác tại các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội hoặc làm nghề tự do… Nhưng có một điều chắc chắn rằng nhu cầu được đào tạo về pháp luật hiện nay trong xã hội là rất lớn, có thể nhận thấy điều này qua một thực tế là những năm gần đây hầu hết số sinh viên luật ra trường đều khá dễ dàng tìm được việc làm, số lượng thí sinh đăng ký dự thi vào các trường luật ở tất cả các hệ đào tạo đều tăng. Qua thực tế khảo sát và khách quan mà nhận xét rằng những năm qua việc đào tạo cử nhân luật ở các cơ sở trong chừng mực nào đó đã đáp ứng phần lớn nhu cầu của xã hội. Không ít sinh viên luật ra trường trong khoảng thời gian ngắn đã giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng. Đội ngũ cán bô giảng dạy ngày càng trưởng thành, với số lượng ngày càng đông và với trình độ ngày càng cao hơn, đội ngũ này không chỉ được đào tạo trong nước mà họ còn được đào tạo ở các nước có nền pháp luật tiên tiến. Chương trình đào tạo ngày càng hiện đại, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và hệ thống pháp luật quốc tế; hệ thống giáo trình khá đầy đủ và đa dạng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập và nghiên cứu khoa học. Phương pháp giảng dạy từng bước được đổi mới. Cơ sở vật chất được đầu tư đầy đủ, khang trang và hiện đại; công tác quản lý ngày càng khoa học và tiên tiến hơn.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy bên cạnh những gì đa đạt được, việc đào tạo cử nhân luật trong thời gian qua vẫn còn không ít những khó khăn và bất cập, vì vậy cần phải có sự đánh giá một cách khách quan, khoa học, dựa trên những thông số thật sự chính xác, trung thực để có biện pháp chấn chỉnh trước khi bàn đến chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo pháp luật. Có thể thấy điều này qua một số thông tin sau đây:

1. Đội ngũ giáo viên

Về số lượng: Mặc dù luôn có sự bổ sung so với những năm trước đây, song qua khảo sát hầu hết các cơ sở đào tạo đều thiếu giáo viên cơ hữu mà phụ thuộc khá nhiều vào số giáo viên thỉnh giảng từ các cơ sở đào tạo khác. Qua báo cáo của các trường cho thấy: cơ sở có số lương giáo viên đông nhất cũng chỉ đạt 62,05 sinh viên/1 giáo viên (trong đó CQ: 17,68/1; TC: 44,37/1); thấp nhất chỉ đạt 101,78 sinh viên/1 giáo viên (trong đó CQ: 22,45/1; TC: 89,33/1); các cơ sở đào tạo khác đạt trung bình từ 72,10 sinh viên/1 giáo viên đến 95,71 sinh viên/1 giáo viên. Tất nhiên tất cả các trường đều sử dụng đội ngũ giáo viên thỉnh giảng (làm cho tỷ lệ sinh viên/giáo viên có giảm xuống), thậm chí có cơ sở đào tạo luật có trên 4.000 sinh viên nhưng không có một giáo viên luật nào mà hoàn toàn phụ thuộc vào giáo viên bên ngoài. Ở đây cần khẳng định rằng việc sử dụng đội ngũ giáo viên thỉnh giảng trong quá trình đào tạo ở các trường cũng có những ưu điểm nhất định, các trường có thể lựa chọn những giáo viên có uy tín, có kinh nghiệm và trình độ; nhà trường lại không phải gánh nặng các khoản lương, phúc lợi và các khoản hỗ trợ khác để trả cho giáo viên… Tuy nhiên, điều này chỉ phát huy hiệu quả khi sử dụng một tỷ lệ giáo viên thỉnh giảng thích hợp, khó có thể chấp nhận tình trạng nhiều cơ sở đào tạo luật hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng bên ngoài.

Về trình độ: Theo báo cáo của các trường thì ngoại trừ các trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (có số lượng giáo viên có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ khá cao, dao động từ 64% đến 84%, trong đó số giáo viên có học vị tiến sỹ chiếm từ 14% đến 34% ), hầu hết ở các cơ sở đào tạo luật khác số lượng giáo viên có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ khá thấp, dao động từ 21,42% đến 42,72%, trong số đó tỷ lệ giáo viên có học vị tiến sỹ rất khiêm tốn, trung bình 22,41%; có không ít cơ sở đào tạo luật có số lượng sinh viên lên trên 2.500 nhưng không có một giáo viên luật nào có học vị tiến sỹ. Chưa có thống kê về số lượng giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, ngoại ngữ cũng như trình độ lý luận chính trị nhưng có một điều chắc chắn rằng tỷ lệ được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức này là rất thấp.

Về cơ cấu: Việc tuyển dụng và đào tạo giáo viên ở các cơ sở đào tạo luật chưa đồng đều ở các bộ môn, có một số bộ môn rất đông giáo viên, thường đó là những bộ môn mà môn học có số tiết lớn, có thể giảng dạy ở nhiều cơ sở khác nhau. Ngược lại có những bộ môn không có giáo viên hoặc có nhưng với số lượng rất hạn chế, tất nhiên đó là những bộ môn mà môn học có số tiết rất ít, không thể giảng ở các cơ sở đào tạo khác. Điều này dẫn đến tình trạng là khi có giáo viên nào đó không thể lên lớp được sẽ không có giáo viên khác thay thế kịp thời, buộc sinh viên phải nghỉ học. Hiện tượng này xảy ra không ít ở các cơ sở đào tạo luật.

Trong khi đó, hầu hết các trường chưa có chiến lược tổng thể và lâu dài để quy hoạch, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy luật cho cơ sở đào tạo của mình, nhiều cơ sở thường bị động trông chờ vào số sinh viên luật ra trường có nguyện vọng xin ở lại trường công tác; việc nâng cao trình độ phần lớn phụ thuộc vào chính sự nỗ lực của bản thân giáo viên. Nhiều cơ sở đào tạo chưa có chính sách cụ thể và hấp dẫn để thu hút những người có khả năng và trình độ cao ở lại trường. Vì vậy, trong một thời gian dài nhiều cơ sở đào tạo luật không tuyển được hoặc có tuyển được nhưng số lượng và trình độ không cao.

2. Chương trình, giáo trình

Về chương trình: Một số cơ sở đào tạo sử dụng chương trình do Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh xây dựng, có cơ sở sử dụng nguyên bản, cũng có cơ sở có một số cải biên để thể hiện nét đặc trưng riêng của trường mình, nhưng nhìn chung là chưa được thực hiện thống nhất, không có sự khác biệt lớn; thậm chí có cơ sở đào tạo mở ngành đào tạo luật kinh doanh và luật thương mại quốc tế, mới nghe thì rất hấp dẫn nhưng chương trình thì lại lấy nguyên xi của các cơ sở đào tạo khác để giảng dạy cho người học mà không có sự giải thích thuyết phục. Trong khi đó chương trình khung của 7 ngành khoa học xã hội, trong đó có ngành luật đã được hội đồng chuyên ngành (do các giáo sư có uy tín và trình độ xây dựng) thông qua đang chờ lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ban hành. Tuy nhiên, khi trao đổi về thông tin này nhiều cơ sở đào tạo luật rất lúng túng.

Về giáo trình: Ngoại trừ trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội có bộ giáo trình tương đối đầy đủ và khá hoàn chỉnh, còn hầu hết các cơ sở đào tạo khác đều chưa có bộ giáo trình riêng của mình mà chủ yếu là các tập bài giảng do các bộ môn tự xây dựng. Riêng Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, ngoài số tài liệu là đề cương bài giảng, hiện nay các chủ biên đang gấp rút hoàn thành để trình hội đồng khoa học đào tạo thông qua (dự kiến trong năm học này) và theo đúng kế hoạch đến hết năm 2007 trường sẽ có bộ giáo trình riêng của mình. Trong khi đó ở các cơ sở đào tạo luật khác kế hoạch biên soạn giáo trình chưa dành được sự quan tâm của những người có trách nhiệm. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng và trình Chính phủ đề an đổi mới toàn diện giáo dục đại học, một trong những nội dung quan trọng là triển khai công tác đào tạo theo cơ chế tín chỉ, cơ chế này dần dần sẽ thay thế cho việc đào tạo theo niên chế và nếu đề án này được Chính phủ thông qua thì yêu cầu các cơ sở đào tạo nói chung và đào tạo luật nói riêng phải có hệ thống giáo trình đầy đủ, có chất lượng để phục vụ cho người học chứ “Không thể chấp nhận công tác đào tạo mà ở đó thầy đọc cho trò ghi như hiện nay”.

3. Hoạt động khoa học

Hoạt động khoa học cũng là nội dung cần được quan tâm. Bởi lẽ, nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ chính của các cơ sở đào tạo và của người thầy. Tuy nhiên hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay ở nhiều cơ sở đào tạo luật chưa dành được sự quan tâm đầy đủ. Kết quả khảo sát cho thấy có cơ sở đã được cho phép đào tạo luật từ những năm 2000, hàng năm cho ra trường hơn 200 sinh viên nhưng chưa thê thực hiện được một đề tài cấp bộ, đề tài cấp trường thì không có gì mới, chủ yếu là khai thác từ các đề tài đã được người khác thực hiện từ trước. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ giáo viên phải dành nhiều thời gian cho việc giảng bài, thậm chí có giáo viên giảng đến 4, 5 môn học. Nhiều cơ sở đào tạo chưa xây dựng cơ chế để xác định trách nhiệm của giáo viên trong công tác nghiên cứu khoa học, chưa tạo được nhiều động lực trong hoạt động khoa học của giáo viên. Trong hoạt động khoa học, đáng chú ý là hoạt động chuyên môn trong các bộ môn và khoa, vấn đề đảm bảo tính chính xác (một trong những yêu cầu bắt buộc của việc giảng dạy luật), tính khoa học trong nôi dung bài giảng chưa được đảm bảo.

4. Về công tác quản lý đào tạo Công tác quản lý đào tạo cũng là một trong những vấn đề rất quan trọng. Bởi lẽ, nếu việc quản lý được thực hiện tốt là một trong những đảm bảo quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, công tác này trong thời gian qua chưa được thực hiện tốt, một số cơ sở chấp hành quy chế chưa nghiêm, cá biệt còn vi phạm nghiêm trọng quy chế đào tạo. Thậm chí có cơ sở đào tạo cho rằng quản lý đào tạo chỉ đơn thuần là vấn đề kiểm tra và thi, một số cơ sở đào tạo không có cán bộ chuyên trách để quản lý đào tạo mà giao cho giáo viên trực tiếp lên lớp đảm nhiệm. Mặt khác, vấn đề đào tao cử nhân luật thiếu sự kiểm tra, giám sát như hiện nay còn do lỗi của nhiều cấp quản lý đào tạo, đặc biệt là trong việc thẩm định, đánh giá để cho phép các trường mở ngành đào tạo luật, cũng như việc giao chỉ tiêu cho các cơ sở đào tạo. Về vấn đề này Chính phủ đánh giá như sau: “Công tác quản lý còn bất cập cả trong định hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo thực hiện…; quản lý nhà nước vừa gò bó, vừa buông lỏng; cơ chế chính sách chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ…” [Nghị Quyết số 50 ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao]. Thực tế hiện nay, đối với các trường đa ngành, Bộ giao chỉ tiêu cho các trường, căn cứ vào nhu cầu của xã hội các trường phân bổ lại cho các khoa. Điều này chỉ có thể được đảm bảo về chất lượng đào tạo khi các khoa có đủ năng lực và có trách nhiệm với xã hội trong công tác đào tạo. Nhưng thực tế cho thây đã có không ít trường giao chỉ tiêu cho khoa theo nhu cầu của xã hội mà chưa thực sự quan tâm vào năng lực đào tạo và những điều kiện đảm bảo của các khoa.

5. Phương pháp đào tạo

Theo đánh giá chung của các thành viên đoàn khảo sát thì ngoại trừ một số cơ sở đào tạo luật đã có những nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp đào tạo, phần lớn các cơ sở đào tạo khác phương pháp đào tạo chậm được đổi mới, phương pháp truyền thống vẫn là phương pháp chủ đạo, giáo viên lên lớp truyền đạt nặng về kiến thức lý luận, ít kiến thức thực tiễn, việc sử dụng tình huống trong công tác đào tạo cử nhân luật chưa nhiều và chưa được quan tâm; các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ cho viêc đổi mới phương pháp giảng dạy còn rất hạn chế…

6. Về cơ sở vật chất

Nhìn chung cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ cho công tác đào tạo luật hiện nay ở một số trường đạt mức độ trung bình. Trong điều kiện hội nhập là một xu hướng tất yếu sẽ đặt ra yêu cầu cạnh tranh trong giáo dục, trong đó có giáo dục pháp luật đòi hỏi các trường phải đổi mới, trong đó có vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở vật chât, các trang thiết bị hiện đại. Với thực trạng cơ sở vật chất như hiện nay là chưa đạt yêu cầu. Ở một số cơ sở đào tạo, lãnh đạo nhà trường đã có rất nhiều cố gắng trang bị nhiều phương tiện kĩ thuật hiện đại để hỗ trơ cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy như: trang bị máy chiếu, máy vi tính xách tay, phòng xử án tập sự, hồ sơ để sinh viên diễn án, thư viện điện tử, nối mạng internet để cho người học có thể nghiên cứu, sưu tầm tài liêu ở các thư viện hiện đại trên thế giới, phòng học dành cho lớp chất lượng cao… Tuy nhiên, diện tích giảng đường, phòng học, phòng làm việc, trung tâm thông tin thư viện, khu thi đấu thể thao, khu sinh hoạt văn hóa, khu ký túc xá sinh viên… còn rất chật chội. Đã nhiều năm qua lãnh đạo nhà trường làm dự án để xin cấp đất xây trụ sở mới khang trang, hiện đại, nhưng vì nhiều lý do khác nhau cho đến nay vẫn chưa có kết quả.

7. Hợp tác quốc tế

Nhiều cơ sở đào tạo đã rất cố gắng trong việc tạo cơ hội tìm kiếm những dự án hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong công tác đào tạo luật, nhiều dự án đã được ký kết, triển khai thực hiện và đã mang lai nhiều kết quả thiết thực, nội dung của sự hợp tác cũng hết sức đa dạng, từ việc đổi mới phương pháp giảng dạy, gửi giáo viên ra nước ngoài học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ… cho đến việc liên kết đào tạo ngay trong nước kết hợp tham quan, khảo sát, nghiên cứu ở nước ngoài; xúc tiến thành lập các trung tâm: kiểm định chất lượng đào tạo, luật so sánh, xây dựng thư viện điện tử, hỗ trợ tài liệu… cho đến việc hỗ trợ các trang thiết bị hiện đại góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy… Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy phần lớn các dự án hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo luật nhìn chung là không lớn, số lượng chưa nhiều, thời gian thực hiện tương đối ngắn, nội dung hợp tác có những dự án chưa thiết thực. Trong điều kiện hội nhập như hiện nay thì công tác hợp tác quốc tế là chưa tương xứng các cơ sở đào tạo cần phải nỗ lực hơn nưa trong thời gian tới.

III. Kết luận và kiến nghị

Từ những phân tích trên có thể rút ra một số kết luận sau đây:

1. Việc đào tạo cử nhân luật trong thời gian qua trong chừng mực nào đó đã đáp ứng phần lớn yêu cầu của xã hội, thực hiện khá tốt chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho người học; quá trình đào tạo, đào tạo lại được tiến hành thường xuyên, góp phần nâng cao trình độ dân trí về pháp luật, là động lực quan trọng để thực hiện thành công chủ trương cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam ngày càng vững mạnh, tạo ra một xã hội học tập.

2. Các cơ sở đào tạo cử nhân luật qua quá trình đào tạo ngay càng trưởng thành hơn về mọi mặt, với những thế mạnh riêng của mình đã tạo ra sự đa dạng và sự cạnh tranh cần thiết trong công tác đào tạo pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

3. Trong sự phát triển chung cua nhiều cơ sở đào tạo, vẫn còn một số cơ sở đào tạo cử nhân luật chưa thực sự chú trọng đến chất lượng đào tạo, trách nhiệm đối với sản phẩm đào tạo của mình chưa rõ ràng, mở rộng quy mô đào tạo vượt quá năng lực cua mình, trong khi các điều kiện tối thiểu, bắt buộc chưa được đảm bảo; công tác quản lý chưa chặt chẽ… dẫn đến chất lượng đào tạo thấp, trong đó yêu cầu: “ Các sinh viên sau khi tốt nghiệp phải có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và nắm vững kiến thức pháp luật…” là khó có thể thực hiện được.

4. Thời gian qua, mặc dù vẫn có sự hỗ trợ giữa các cơ sở đào tạo, đặc biệt là về chương trình, giáo trình, về giáo viên, về hoạt động khoa học… trong đó vai trò hỗ trợ, giúp đỡ của một số giáo viên hai trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh với các cơ sở đào tạo luật khác là rất quan trọng. Tuy nhiên, sự giúp đỡ này chưa trở thành chủ trương chung giữa các trường, còn mang tính cá nhân, tự phát, vai trò đầu tàu của hai trường này chưa được khẳng định mạnh mẽ.

Từ thực trạng nêu trên, chúng tôi cho rằng việc đào tạo cử nhân luật cần phải được đổi mới một cách toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Việc đổi mới công tác đào tạo cử nhân luật cần đặt trong các yêu cầu sau đây:

Một là: yêu cầu về cải cách giáo dục đại học nói chung, giáo dục pháp luật nói riêng.

Hai là: yêu cầu phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Ba là: yêu cầu đảm bảo sự quản lý thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo; phát huy tính chủ động và sáng tạo của các cơ sở đào tạo.

Bốn là: yêu cầu về đội ngũ cán bộ tư pháp cho những năm trước mắt và những năm tiếp theo.

Trên cơ sở những yêu cầu đó chúng tôi kiến nghị:

Thứ nhất: Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn để tiến hành khảo sát, đánh giá một cách cơ bản và toàn diện về năng lực đào tạo: nội dung, chương trình, giáo trình, quy mô, hình thức và phương phap đào tạo; chất lượng đào tạo của tất cả các cơ sở đào tạo luật trong cả nước và trong khoảng thời gian dài để làm cơ sở cho việc điều chỉnh, sắp xếp, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống các cơ sở đào tao luật.

Trên cơ sở kết quả khảo sát và thẩm định năng lực đào tạo của các trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thể hiện mạnh mẽ quan điểm: không tiếp tục cho phép đào tạo cử nhân luật đối với các cơ sở đào tạo khi các cơ sở này chưa đủ năng lực, cho đến khi phấn đấu để đạt được những tiêu chuẩn do Bộ đặt ra. Lộ trình phấn đấu phải do các trường tự đăng ký với Bộ. Đối với các cơ sở đào tạo có các điều kiện khá hơn, Bộ cần nghiên cứu giao chỉ tiêu phù hợp với năng lực đào tạo (trước mắt nên giao chỉ tiêu trực tiếp cho khoa, chưa nên giao cho trường sau đó các trường giao lại cho khoa theo yêu cầu xã hội mà không chú ý đến năng lực đào tạo của đơn vị).

Thứ hai: Khẩn trương xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ về số lượng, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng để đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo pháp luật trong tình hình mới. Các cơ sở đào tạo luật cần phải có quy hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể về những biện pháp, cách thức như: số lượng tuyển dụng, nguồn tuyển dụng, công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ… trong từng giai đoạn cụ thể với cơ chế, chính sách khuyến khích cũng như trách nhiệm cụ thể đối với từng khoa, bộ môn và từng giáo viên…

Thứ ba: Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và cac Bộ ngành có liên quan cần nghiên cứu để giao cơ chế, kinh phí (kể cả kinh phí nhằm phục vụ cho chủ trương cải cách tư pháp), và các điều kiện cần thiết khác để xây dựng hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thành hai trường trọng điểm quốc gia về đào tạo luật ở hai khu vực phía Bắc và phía Nam, thực hiện đúng chủ trương mà Nghị quyết 08/NQ- TW của Bộ Chính trị đã đề ra. Đồng thời làm “đầu tàu” giữ vai trò động lực giúp các cơ sở đào tạo luật khác cùng phát triển.

Thứ tư: Cho phép trường Đại học Luật Hà Nội và trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh mở thêm một số chuyên ngành phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương và vùng, gop phần tạo động lực phát triển; mở rộng thêm khối thi để gia tăng nguồn tuyển sinh và nâng cao chất lượng đầu vào; cho phép đào tạo cao học thực hành cùng với việc đào tạo cao học nghiên cứu.

Thứ năm: Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ ngành khác sớm xây dựng quy hoạch lại mạng lưới các trường đào tạo luật, trong đó cần chú ý đặc biệt đến việc thẩm định các điều kiện cần thiết, bắt buộc như đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất, các trang thiết bị hiện đại và các điều kiện khác trước khi cho phép các trường mở ngành đào tạo luật.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SÔ 4/2005

QUYỀN NHÂN THÂN VỚI HÌNH ẢNH CỦA CÁ NHÂN: BAO NHIÊU LÀ VỪA

Muốn sử dụng phải được chủ đồng ý

Hình ảnh của cá nhân thuộc lĩnh vực riêng tư của mỗi người. Tuy nó không có gì bí mật, cần phải hạn chế sử dụng nhưng một khi muốn sử dụng những hình ảnh của cá nhân ai đó, nhất là sử dụng khai thác vào mục đích kinh doanh (như in lịch, in bìa sách, bao bì mẫu quảng cáo…) thì đều phải hỏi ý kiến “người chủ” hình ảnh đó (người thật có hình đó). Bởi về nguyên tắc, mọi cá nhân đều có quyền đối với hình ảnh của mình. Mỗi người đều có quyền cho hay không cho người khác sử dụng hình ảnh của mình. Nếu chưa được sự đồng ý mà sử dụng đã là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh.

Trường hợp người trong ảnh đã chết hoặc mất trí, không chủ động quyết định được hoặc đối với hình ảnh của trẻ dưới 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của người thân (cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên) hoặc người đại diện của họ đồng ý.

Khái niệm “hình ảnh của cá nhân” nói trên đây bao gồm mọi hình thức tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người cụ thể như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh hoạ chép và suy luận rộng ra có thể cả bức tượng của cá nhân đó nữa.

Đứng về mặt “quyền sở hữu trí tuệ” thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều là loại hình tác phẩm nghệ thuật, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền (chủ sở hữu quyền tác giả) và trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, đồng thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (người chụp ảnh, sao chép, hoạ hình…). Nhưng đứng về mặt “quyền nhân thân của con người”, ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải được sự đồng ý của người có hình ảnh đó.

Mức bồi thường: Tuỳ toà xử

Theo luật, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới bị coi là vi phạm quyền nhân thân, mà kể cả trường hợp không có thiệt hại, thậm chí còn làm lợi cho người có hình ảnh đó, cũng bị coi là vi phạm quyền nhân thân của cá nhân dối với hình ảnh nếu sử dụng hình ảnh của họ mà không có sự đồng ý của họ.

Còn làm sao để được sự đồng ý thì hiện nay luật chưa “đả động” đến. Điều 31 Bộ Luật Dân sự nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó. Có việc này xảy ra tất nhiên phải bồi thường thiệt hại về tinh thần. Nhưng trường hợp không gây ra thiệt hại thì sao? Trong thực tế lâu nay việc sử dụng “ảnh chùa” đã trở thành thói quen của mọi người. Cùng lắm người nào “biết điều” cũng chỉ hỏi ý kiến của người sáng tác (chụp, vẽ ảnh) chứ ít khi chịu tìm đến hỏi ý kiến của “nhân vật trong ảnh”. Bởi người ta vẫn thường đinh ninh rằng người có hình ảnh được sử dụng để “lăng – xê” mình trước xã hội đã là… “khoái” lắm rồi, cần gì phải hỏi ý kiến! Nhưng một khi chuyện dĩ lỡ rồi, người có hình ảnh đó lại tìm cách làm khó dễ, việc xin lỗi không thôi chưa đủ! Tuỳ theo giá trị sử dụng hình ảnh trong việc kinh doanh mà người có hình ảnh đòi phải thanh toán bằng một khoản tiền vài triệu đồng, có khi vài chục triệu và vừa rồi có vụ yêu cầu của phía chủ ảnh lên đến hàng trăm triệu đồng.

Thử đặt câu hỏi: Người sáng tác chụp ảnh đạt yêu cầu chỉ được trả thù lao cùng lắm vài trăm ngàn hay vài triệu đồng mà nhân vật trong ảnh lại ra giá tới hàng trăm triệu đồng thì có quá đáng không? Dù sao một khi không có luật định thì mạnh ai nấy đòi, đòi cho bằng thích, đến khi vụ việc phải kéo nhau đến toà án thì toà cũng chỉ theo thông lệ là… “việc dân sự muốn xử sao cũng được”!

Lại thử đặt câu hỏi trong tình hình hiện nay nếu áp dụng gắt việc này thì mỗi ngày toà phải xử bao nhiêu vụ người trong ảnh kiện báo chí và mỗi ngày báo chí phải tốn bao nhiêu tiền để bù cho cái thông lệ sử dụng ảnh mà chưa được sự đồng ý của người ta.

Một số vụ xài ảnh bị kiện

  • Tháng 1-2003, cô Phan Thị Như Quỳnh gửi đơn khiếu nại Tổng cục Du lịch Việt Nam và tác giả Vũ Quốc Khánh vì sử dụng bức ảnh “Nụ cười Việt Nam” có ảnh của cô mà không xin phép. Bức ảnh này được nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Quốc Khánh chụp năm 1994, đến năm 2000 được Tổng cục Du lịch Việt Nam chọn làm biểu tượng “Việt Nam! Điểm đến của thiên niên kỷ mới!”

  • Đầu năm 2004, gia đình bé Minh Khôi kiện Công ty Biti’s, đòi bồi thường thiệt hại 154 triệu đồng vì Biti’s xài trái phép ảnh của bé Minh Khôi in trên bìa lịch, tập quảng cáo. Tháng 9-2004, TAND quận 6 (TP.HCM) buộc Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường gần ba triệu đồng.

  • Tháng 2-2004, Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC (Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam) xài không xin phép ảnh “Hai bà cháu” trên thẻ gọi điện thoại 1717. Đây là bức ảnh được nghệ sĩ Mạnh Đan chụp năm 1982. Sau đó, VDC phối hợp với đơn vị thiết kế mẫu đến, gặp gia đình thân nhân người được chụp ảnh để nhận lỗi, thoả thuận bồi thường…

  • Tháng 12-2004, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Văn Trí phát hiện bức ảnh in trên tờ vé số An Giang chính là tấm ảnh có tên “Hoa sen” mà ông chụp ở Đồng Tháp Mười. Ông Trí đã hỏi Công ty Xổ số kiến thiết An Giang và Công ty cổ phần In An Giang, được các nơi này cho biết lấy bông sen trên đĩa vi tính, không đề tên tác giả nên không biết và “mong tác giả thông cảm”!

  • Tháng 4-2006, luật sư Phạm Thành Long khiếu nại sân bay Tân Sơn Nhất dùng bức ảnh “Áo dài” của ông làm pano ở đường vào sân bay. Bức ảnh này được ông chụp nhân ngày khai giảng tại cổng trường Trần Phú (Hà Nội), sau đó được công bố lần đầu vào ngày 6-9-2004 trên mạng. Ông đã đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với bức ảnh tại Cục Bản quyền (Bộ Văn hoá – Thông tin). Trước đó, bức ảnh từng bị … “xài chùa” 14 lần khiến ông phải khiếu nại nhiều tờ báo và doanh nghiệp. Kết quả, một doanh nghiệp của Nhật đã phải bồi thường…

SOURCE:  Pháp luật TP.Hồ Chí Minh