GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ – NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA LÀNG, XÃ VIỆT NAM

Mai Văn Hai

Những mâu thuẫn, xung đột gia đình, dòng họ xảy ra ở nhiều nơi dưới sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa đặt ra câu hỏi: liệu gia đình, dòng họ có còn là những giá trị cơ bản trong đời sống làng, xã hay sẽ bị mai một dần, thậm chí tan rã?

1- Quan niệm về gia đình, dòng họ

Trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, các giá trị cơ bản của văn hóa làng, xã như gia đình, dòng họ đang giảm dần ý nghĩa đối với một bộ phận người dân. Nhiều quan niệm cho rằng, cuộc sống gia đình với sự lo toan cơm áo gạo tiền làm tiêu hao nhiều thời gian, sức lực; các chuẩn mực gia đình gò bó, cản trở tự do cá nhân, từ đó hạ thấp, thậm chí phủ định hoàn toàn vai trò của gia đình. Với dòng họ, tư tưởng “gia trưởng, ngôi thứ”, sự ganh đua, hiện tượng cục bộ, bè phái… cũng góp phần tạo ra những quan niệm tiêu cực, làm giảm bớt vai trò của dòng họ.

Tuy nhiên, gia đình, dòng họ trong quan niệm của đa số người dân vẫn có vai trò quan trọng. Điều này thống nhất ở các nhóm đối tượng khác nhau về giới, lứa tuổi, mức sống, nghề nghiệp… Nghiên cứu tại hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ (Bắc Ninh) cho thấy, trong tổng số 420 hộ gia đình được phỏng vấn, có 97 – 99,6% khẳng định hiện nay gia đình, dòng họ vẫn rất quan trọng.

Người dân đánh giá cao vai trò của gia đình hiện nay vì họ cho rằng, gia đình là nơi không chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm và tái sản sinh giống nòi mà còn là nơi tốt nhất cho việc di dưỡng tuổi già, sự phát triển của trẻ em… Trong tâm tưởng của người dân, dòng họ cũng có vai trò không kém. Gần 100% số người được hỏi cho rằng đến nay, các câu nói theo khẩu ngữ dân gian như: “một giọt máu đào hơn ao nước lã” hay “xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì” là “vẫn đúng”; số người phủ định chỉ có từ 0,5% đến 3,5%. Thậm chí, quan niệm của đa số người dân còn khẳng định gia đình, dòng họ hiện nay có vai trò lớn hơn trong quá khứ và ở tương lai vai trò đó vẫn sẽ vẫn tiếp tục được phát huy.

2 – Những hành vi thực tiễn sống động

– Gia đình

Từ góc nhìn văn hóa, những quan niệm trên rất quý báu. Tuy nhiên, trong điều kiện gia đình và dòng họ đang chịu nhiều biến động mạnh mẽ dưới tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, không ít băn khoăn đặt ra: liệu sự đánh giá như trên có lạc quan quá hay không? Giải đáp nỗi băn khoăn này đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc xem xét quan niệm mà còn phải tìm hiểu về hành vi của người dân. Nói rộng ra là phát hiện cơ sở xã hội nào đã bảo đảm cho sự đánh giá của người dân là đúng với những gì họ nghĩ.

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, sau 20 năm đổi mới, gia đình ở Việt Nam đã có nhiều biến đổi. Hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ được nghiên cứu như đã nêu cũng không là ngoại lệ. Về mặt kinh tế, từ chỗ chỉ có chức năng tiêu thụ dưới thời hợp tác xã bao cấp, khi đổi mới, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh nên ngành nghề phát triển, mức sống cao hơn, điều kiện sống được cải thiện… Trong quan hệ gia đình, nếu trước đây những bất cập nổi bật là sự bất bình đẳng, sự thủ tiêu lợi ích cá nhân, cá tính, thì ngày nay – sau nhiều cuộc cải cách xã hội – quan hệ giữa vợ và chồng, bố mẹ và con cái có tính dân chủ hơn, vị thế người phụ nữ được nâng lên, quyền tự do của mỗi cá nhân được coi trọng.

Xét theo cơ cấu, ở mỗi gia đình, số con đã giảm xuống, việc sinh con trai để “nối dõi tông đường” không còn là nguyên tắc bất di bất dịch, tỷ lệ ly hôn ở hai địa phương này cũng chỉ chiếm chưa đến 1%. Từ góc độ văn hóa tinh thần, các hình thức hưởng thụ văn hóa mới như: xem truyền hình, nghe ra-đi-ô, đọc sách báo… đã chiếm tỷ lệáp đảo. Nếp sống mới khuyến khích việc đưa các cháu nhỏ tới lớp mẫu giáo để bố mẹ, ông bà có thêm thời gian lao động, nghỉ ngơi cũng được hầu hết các nhóm xã hội ủng hộ…

Rõ ràng, những biến đổi theo chiều hướng ngày càng no đủ, bình đẳng, dân chủ và văn minh như trên đang làm tăng thêm vai trò và củng cố vị trí vững chắc của gia đình.

Nhưng mặt khác, bên cạnh những yếu tố động, các biến đổi trong gia đình cũng có yếu tố tĩnh ít biến đổi hơn. Lối sống gia đình ở hai địa phương được xem xét vẫn bảo lưu nhiều nét của gia đình cổ truyền. Chẳng hạn, ở Đồng Kỵ, mặc dù là nơi có mức sống rất cao với nguồn thu từ các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ của nhiều hộ mỗi năm hàng trăm triệu, người dân vẫn không xa rời với truyền thống nông nghiệp. Hầu hết các gia đình vẫn giữ đất canh tác, số hộ không còn đất chỉ chiếm 5,6%. Họ vẫn tự sản xuất – kinh doanh trên phần ruộng của mình, số cho thuê, cho mượn không đáng kể. Trong sinh hoạt hằng ngày, gần 100% các gia đình ở cả hai làng đều giữ thói quen ăn chung cho tất cả mọi người trong nhà. Giữa các thế hệ luôn có mối liên hệ chặt chẽ và ấm áp. Nếp sống cổ truyền trong đó bố mẹ ở với con trai trưởng vẫn được giữ…

Như vậy, không chỉ những yếu tố động mà cả những yếu tố tĩnh đều góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, với tư cách là một giá trị trong hệ giá trị văn hóa làng.

– Dòng họ

Ở thời điểm chuyển giao giữa thời kỳ bao cấp sang giai đoạn đổi mới, với việc hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ bị giải thể, các hộ gia đình nông thôn phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh trên phần ruộng được giao khoán lâu dài của mình. Trong điều kiện đó, để có thể tồn tại và phát triển, người nông dân đã quay trở về tìm chỗ dựa trong các mối quan hệ của họ hàng thân tộc nhằm khắc phục những khó khăn của buổi đầu tự lập như: công cụ, sức lao động, vốn liếng, kỹ thuật… Hầu hết các gia đình khi gặp khó khăn đã nhờ vả, nương tựa vào họ hàng nội ngoại, nhất là các mối quan hệ cận huyết. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, công việc kinh doanh ở các địa phương như đã nêu vẫn có sự đan xen đậm nét của các quan hệ họ hàng, làng mạc, thể hiện rõ nét nhất ở việc thuê mướn lao động ưu tiên cho những người thuộc họ tộc thân thích và người làng. Những biểu hiện trên mặc dù không phải là cách giải quyết tối ưu song nó càng khẳng định vai trò của dòng họ trong điều kiện hiện nay.

Về mặt quản lý và quyền lực, người ta thường nói đến tệ kéo bè kéo cánh của dòng họ. Nhưng điều đó hiện nay không còn mang tính phổ biến và ảnh hưởng tiêu cực của nó không lớn. Ngay trước đây ở nông thôn, sự đan xen của nguyên lý tập hợp nhiều người khác nhau như lớp tuổi (giáp), địa vực (xóm, ngõ), sự tự nguyện (phe, phường, hội) và nhất là về kinh tế (giai cấp, tầng lớp) đã làm cho dòng họ không phải là một đơn vị thống nhất và duy nhất để có thể khuynh loát mọi điều. Ngày nay, với sự bổ sung của các nhân tố mới như chính quyền, đoàn thể, các quan hệ dòng họ càng không thể giữ vai trò quyết định trong đời sống chính trị – xã hội làng, xã. Việc “kéo bè kéo cánh” trong các dòng họ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết xóm làng thực sự không phải trầm trọng và mang tính phổ biến như nhiều người vẫn lầm tưởng. Điều đó góp phần nâng cao nét đẹp hình ảnh dòng họ trong đời sống ở nông thôn hiện nay.

Về mặt văn hóa tinh thần, nhờ việc tạo ra niềm cộng cảm dựa trên huyết thống, dòng họ từ xưa đến nay vẫn là một chỗ dựa vững chắc đối với mỗi cá thể trong cộng đồng. Không chỉ dừng lại ở quan niệm, việc đề cao dòng họ về phương diện văn hóa tinh thần còn được thể hiện trong các hành vi cụ thể của mỗi người, như sự tham dự của họ vào các ngày giỗ tổ, trong việc sửa sang từ đường, xây cất mồ mả tổ tiên, cưới xin, ma chay, khuyến học, khuyến tài trong dòng họ. Sự tham gia nhiệt thành và tâm huyết của người dân vào các hoạt động trên khẳng định vai trò của dòng họ vẫn còn quan trọng trong đời sống cộng đồng dân cư làng, xã.

Vai trò của gia đình và dòng họ không chỉ được bảo lưu bền vững ở các làng, xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp mà còn ở cả những nơi có nghề phụ phát triển, hòa nhập và chịu tác động sâu vào nền kinh tế thị trường với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Đồng Kỵ là một làng sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ phát triển với lối sống của người dân đã có phần đô thị hóa, nhưng các giá trị cổ truyền làng, xã vẫn được gìn giữ và phát huy đậm nét. Đó là việc duy trì các bữa ăn chung hằng ngày, việc tổ chức các ngày lễ, tết trong năm, thăm nom cha mẹ, mối quan hệ chặt chẽ giữa ông bà, cha mẹ và con cái trong phạm vi gia đình, việc liên kết làm ăn kinh tế trong dòng họ, giỗ tổ họ… Đây là những nét đẹp và biểu hiện khẳng định sức sống bền vững của gia đình, dòng họ trong lối sống thôn làng của người Việt.

Vai trò của gia đình và dòng họ với những giá trị tốt đẹp và đặc trưng trong nếp sống không những không bị mai một mà còn thích ứng, biến đổi, tạo ra các giá trị mới và có khả năng trường tồn cùng với đời sống làng, xã Việt Nam.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 18 (138) NĂM 2007

Trẻ em Việt nam được người Pháp nhận làm con nuôi: xác định luật áp dụng (Bản án của Tòa Phúc thẩm Grenoble)

NHÂN DANH NHÂN DÂN PHÁP

Tòa phúc thẩm Grenoble, Phòng biện pháp khẩn cấp

Bản án ngày 8 tháng 3 năm 2000

Bên kháng cáo

Ông X

Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954

quốc tịch Pháp

Bà Y

Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966

Quốc tịch Pháp

Phiên tòa gồm

Khi thảo luận và nghị án:

Bà …. Chủ tịch hội đồng

Bà … Thẩm phán

Bà … Thẩm phán

Tham gia phiên tòa còn có

Bà … Thư ký

Bà … Đại diện Viện Công tố

Phần thảo luận

Trong buổi thẩm vấn không công khai tại Phòng thẩm phán ngày 2 tháng 2 năm 2000,

Sau khi chuyển hồ sơ cho đại diện Viện kiểm sát,

Sau khi nghe trình bày của luật sư và đại tụng viên, kết luận viết và trình bày của đại diện Viện kiểm sát,

Hồ sơ vụ án đã chuyển sang phần nghị án trước khi tuyên án công khai tại phiên tòa hôm nay.

Ông X và vợ là bà Y đã gửi kháng cáo đúng thủ tục bằng thư bảo đảm ngày 17 tháng 6 năm 1999 bản án ngày 19 tháng 5 năm 1999 của Tòa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JALLIEU.

Tóm tắt sự việc, trình tự giải quyết và lập luận của các bên

Ngày 19 tháng 7 năm 1996, Ông bà X-Y được Hội đồng dân cử vùng Isere cấp giấy phép nhận con nuôi.

Ngày 4 tháng 8 năm 1998, hai người đến Việt nam để tìm con nuôi.

Ngày 7 tháng 8 năm 1998, cô Z, chưa lập gia đình, mẹ đẻ của cháu A, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1998 (không xác định được người cha), đã ký giấy từ bỏ con tại Ủy ban nhân dân xã Quang Khuê, huyện Ba Bể, tỉnh T. (Thái nguyên).

Ngày 22 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh đã ký quyết định cho phép ông bà X-Y nhận cháu bé làm con nuôi.

Cùng ngày, biên bản giao cháu A cho ông bà X-Y làm con nuôi trọn vẹndứt khoát được lập với sự có mặt của đại diện Sở tư pháp. 

Ngày 21 tháng 8 năm 1999, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đã cấp cho ông bà X-Y giấy chứng nhận cho phép cháu bé định cư tại Pháp.

Trở về Pháp, ngày 18 tháng 9 năm 1998, ông bà X-Y nộp đơn lên Chưởng lý hạt BOURGOIN – JANLIEU xin công nhận cháu A là con nuôi trọn vẹn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1999, Tòa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JANLIEU ra quyết định từ chối yêu cầu chính của ông bà X-Y là xin được công nhận cháu A con nuôi trọn vẹn, mà chỉ chấp nhận yêu cầu thứ yếu công nhận cháu A là con nuôi ơn giản

Ông bà X-Y kháng cáo quyết định sơ thẩm.

Ông bà X-Y lập lụân rằng « Giấy từ bỏ » trong hồ sơ của Tòa là do mẹ đẻ cháu bé ký và đã được Ủy ban nhân dân xác nhận thể hiện rõ cô Z tự nguyện đồng ý cho con nuôi  và nhận thức đầy đủ hệ quả pháp lý của việc nhận con nuôi (trọn vẹn) qui định trong luật của Pháp  ; rằng theo án lệ đã ổn định của Pháp, hai vợ chồng Pháp có thể xin con nuôi trọn vẹn một đứa trẻ mà luật nhân thân của trẻ không qui định hoặc thậm chí cấm việc nhận con nuôi (trọn vẹn) nếu như, không phụ thuộc vào qui định của luật pháp, người đại diện của trẻ đã đồng ý khi nhận thức được đầy đủ hệ quả của việc nuôi con nuôi (trọn vẹn) ; rằng sự đồng ý của mẹ đẻ đứa trẻ đã đáp ứng hết các điều kiện nói trên và rằng việc ông bà nhờ tới trung gian của một người thứ 3 để liên hệ với cháu bé không ảnh hưởng gì đến tính chất của việc đồng ý này.

Ông bà X-Y đề nghị tòa phúc thẩm công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn với tấp cả hệ quả pháp lý kèm theo.

Đại dịên Viện kiểm sát, căn cứ vào những tài liệu ông bà X-Y cung cấp, không có ý kiến phản đối yêu cầu của họ.

Xét rằng

Theo qui tắc đã ổn định trong luật của Pháp thì trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, luật (nhân thân) của người nuôi con nuôi điều chỉnh điều kiện và hệ quả của việc nuôi con nuôi, luật (nhân thân) của con nuôi xác định điều kiện (hiệu lực) của thòa thụân cho con nuôi và vấn đề đại diện của trẻ.

Nếu luật Việt nam chỉ qui định trường hợp nhận con nuôi đơn giản, thì theo lụât của Pháp, việc nhận con nuôi trọn vẹn tại Pháp một đứa trẻ mà luật nhận thân gốc không qui định hoặc thậm chí cấm chế định này, vẫn có thể được chấp nhận với điều kiện người đại diện hợp pháp của trẻ đã đồng ý sau khi nhận thức được đầy đủ hệ quả pháp lý qui định trong luật của Pháp về việc nhận con nuôi trọn vẹn, cụ thể là  tính chất đầy đủ và vĩnh viễn của việc nuôi con nuôi và việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lý giữa đứa trẻ và gia đình gốc.

Trong vụ kiện, tài liệu cho thấy thủ tục cho phép nuôi con nuôi, với tính chất thủ tục hành chính tại Việt nam, là phù hợp với luật pháp nước này : Giấy từ bỏ ký ngày 7 tháng 8 năm 1998 trước mặt Ủy ban nhân dân xã ; chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh T. bằng quyết định ngày 22 tháng 8 năm 1998 theo đề xuất của Sở tư pháp, đã cho phép ông bà X nhận đứa trẻ làm con nuôi.

Thi hành quyết định này, Biên bản giao con nuôi đã được lập cùng ngày xác nhận việc cháu A đã được giao cho ông bà X-Y để làm con nuôi « trọn vẹn và vĩnh viễn », với sự có mặt của Giám đốc sở tư pháp và mẹ đẻ cháu bé,.

Sau hết, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đã cấp giấy chứng nhận cho phép đứa trẻ định cư tại Pháp.

Việc cô Z, mẹ đẻ của đứa trẻ là người duy nhất được quyền cho phép nuôi con nuôi do người cha vắng mặt là không thể bác bỏ.

Giấy từ bỏ ký ngày 7 tháng 8 năm 1998 do cô Z viết có nội dung như sau :

« Tôi đồng ý để con gái tôi có tên như trên làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn của ông X và bà Y, quốc tịch Pháp, cư trú tại V. Tôi tự nguyên giao con tôi cho người nước ngoài nhận làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn và cam kết không bao giờ đòi lại ».

Cam kết trên, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Quang Khê nơi cư trú của cô Z xác thực, đã thể hiện đồng ý cho con nuôi trọn vẹn là tự nguyện và cô Z nhận thức được việc chấm dứt vĩnh viễn mọi quan hện (pháp lỹ) với đứa trẻ.

Việc đồng ý được tái khẳng định bởi vì mẹ đẻ của cháu bé có mặt ngày 22 tháng 8 năm 1998 trong lễ bàn giao con nuôi và ký vào biên bản mà không bảo lưu.

Vì vậy, việc đồng ý của cô Z là tự nguyên và nhận thức được hậu quả hành vi của mình.

Việc ông bà X-Y đã nhờ tới trung gian của một người thứ 3 chỉ để liên hệ với mẹ đẻ của cháu bé không ảnh hưởng gì đến nội dung của việc đồng ý này.

Do vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu nhận con nuôi trọn vẹn của nguyên đơn vì chế định này, ngược lại với chế định nhận con nuôi đơn giản, duy nhất có thể đảm bảo sự hòa nhập hoàn toàn của đứa trẻ vào gia đình cha mẹ nuôi cững như trong xã hội Pháp và phù hợp với lợi ích của con nuôi.

Vì lý do trên,

Tòa

quyết định công khai, bằng bản án tranh tụng cấp cho các bên theo qui định của pháp luật,

Về hình thức: chấp nhận đơn kháng cáo của ông bà X-Y

Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của ông bà X-Y, sửa án sơ thẩm ngày 19 tháng năm 1999 và quyết định lại như sau

Tuyên công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn cháu A, giới tính nữ, sinh gnày 10 tháng 5 năm 1998, tại bệnh viện đa khoa Bắc cạn, tỉnh T, Việt nam, của ông X, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954 và bà Y vợ ông X, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966, cả hai cư trú tại tỉnh U.

Tuyên cháp bé từ nay sẽ mang họ cha X và tên …

Lệnh chuyển bản án để ghi chú vào Sổ Đăng ký hộ tịch (Trung tâm về hộ tịch tại Nantes) và việc ghi chú này sẽ thay cho giấy khai sinh của con nuôi

Án phí sẽ do Kho bạc nhà nước thanh toán

Bản án đã được Bà …tuyên công khai và bà … đã ký.

Bản sao có giá trị thi hành được cấp cho

S.C.P. CALAS
S.C.P. GRIMAUD
Me RAMILLON
S.C.P. PERRET & POUGNAND
S.E.LA.R.L. DAUPHIN & NEYRET

SOURCE: vietnamese-law-consultancy.com

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU CẢI CÁCH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN – THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI

TS. LÊ NẾT –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Điều khoản giải quyết tranh chấp bao giờ cũng là một phần của bất cứ hợp đồng thương mại quốc tế nào. Thông thường, các bên hay chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là trọng tài nước ngoài hơn là Tòà án Việt Nam hay trọng tài Việt Nam. Tại sao vậy? Trước khi ban hành Pháp lệnh Trọng tài, chúng ta có thể giải đáp những thắc mắc trên là do cơ chế trọng tài cũ còn nặng nề những qui định từ thời kỳ bao cấp của trọng tài kinh tế. Song từ khi Pháp lệnh Trọng tài ra đời,1 các giải pháp được đề ra trong Pháp lệnh rất tương đồng với các thủ tục trọng tài của Trung tâm Luật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) hay của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC). Như vậy tại sao thủ tục trọng tài tại Việt Nam vẫn chưa được tín nhiệm. Báo cáo này xin đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp thông qua con đường trọng tài tại Việt Nam, và những vướng mắc chưa giải quyết.

Về các vướng mắc, bài viết sẽ tập trung đi vào hai vấn đề mấu chốt: chọn trọng tài viên và thời gian giải quyết tranh chấp. Đó là vì khi soạn thảo điều khoản giải quyết tranh chấp, vấn đề các bên quan tâm sẽ là “khi tranh chấp xảy xa, tôi có được xử công bằng và nhanh chóng không?” Liên quan đến câu hỏi trên sẽ là hai câu hỏi: “ai sẽ xử vụ tranh chấp của chúng tôi?”, và “tốn bao nhiêu thời gian để có được kết quả?”.

1. Chọn trọng tài viên

Khoản 3 Điều 49 có qui định: “Trọng tài viên do các bên chọn hoặc do Tòa án chỉ định có thể là Trọng tài viên có tên trong danh sách hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài của Việt Nam hoặc là Trọng tài viên nước ngoài theo quy định của pháp luật về trọng tài nước đó”. Tuy nhiên, qui định tại Điều 49 không nói rõ bên nước ngoài có quyền chọn trọng tài viên theo “pháp luật về trọng tài nước đó” không, nếu hợp đồng qui định sẽ giải quyết tranh chấp theo luật Việt Nam và pháp luật trọng tài của Việt Nam. Để cho rõ, theo tôi, câu “theo quy định của pháp luật về trọng tài nước đó” có thể được lược bỏ.

Vấn đề chọn trọng tài viên nước ngoài là một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay của Pháp lệnh. Mặc dù có qui định tại Điều 49, Điều 25 Pháp lệnh Trọng tài lại qui định rằng trọng tài viên sẽ được chọn trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài. Một thực tế xảy ra là phần lớn các Trung tâm trọng tài ở Việt Nam chỉ có người Việt Nam là thành viên. Đây là điều sẽ làm cho bên nước ngoài e ngại. Họ không thể chọn người nước ngoài làm trọng tài viên vì không có tên trọng danh sách. Nếu họ phải chọn một trọng tài viên là người Việt Nam, các nghi vấn tiếp theo sẽ là: “tôi có thể tin trọng tài viên đó không? Trọng tài viên đó có vô tư không? Trọng tài đó có đủ khả năng giải quyết vấn đề phức tạp của tôi không?”. Nếu họ không chắc những vấn đề đó, sẽ rất khó thuyết phục các bên chọn một Trung tâm trọng tài Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, việc một số trung tâm vẫn qui định tiếng Việt là ngôn ngữ của trọng tài (trong khi Pháp lệnh cho phép các bên lựa chọn) cũng là một lý do tại sao các bên nước ngoài ngại lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam.

Một số trung tâm trọng tài cho rằng nếu cho phép các bên chọn trọng tài ngoài danh sách thì trung tâm không thể nào chịu trách nhiệm về chất lượng cũng như tư cách đạo đức của trọng tài viên. Các lo ngại này không phải không có cơ sở. Tuy nhiên họ có thể tránh chịu trách nhiệm bằng qui định “trung tâm sẽ không chịu trách nhiệm về hành vi của trọng tài viên trong trường hợp trọng tài viên đó do một bên chọn ngoài danh sách của trung tâm”. Đây cũng là cách mà Quy tắc Trọng tài ICC đã chọn (Điều 34).

Thiết nghĩ, để cho nhất quán với Điều 49, thì Điều 25 của Pháp lệnh Trọng tài nên qui định rằng các bên có quyền chọn trọng tài viên ngoài danh sách. Đi xa hơn nữa, các trung tâm trọng tài trong nước có thể mời các chuyên gia nước ngoài vào danh sách các trọng tài viên của mình.

2. Thời gian tố tụng

Trong Pháp lệnh vẫn còn các bẫy về thời gian khiến thủ tục trọng tài theo luật Việt Nam có thể bị kéo dài một cách không cần thiết và không dự đoán được. Các bẫy đó nằm ở ba điểm: vắng mặt trong phiên xử, thẩm quyền trọng tài và thời gian xét xử.

Đối với vấn đề thứ nhất, các bên có thể vắng mặt trong phiên xử nếu có “lý do chính đáng” (Điều 40), và không định nghĩa thế nào là lý do chính đáng cũng như thời hạn thông báo. Như vậy, các bên có thể liên tục vắng mặt với “lý do chính đáng”. Trong khi đó, Qui tắc UNCITRAL qui định các bên chỉ được phép vắng mặt nếu thông báo cho Hội đồng trọng tài trước phiên xử ít nhất 15 ngày. Qui tắc ICC cũng qui định tương tự (Điều 20-21).

Đối với vấn đề thứ hai, Pháp lệnh cho phép các bên phản đối thẩm quyền trọng tài cũng như tư cách của trọng tài viên trong bất cứ thời gian nào trước khi quyết định trọng tài được đưa ra. Như vậy, mọi cố gắng giải quyết tranh chấp có thể uổng phí nếu sau đó bị đơn nại rằng hội đồng trọng tài không có thẩm quyền hay có một trọng tài viên không vô tư khi làm nhiệm vụ. Trong khi đó, Qui tắc UNCITRAL qui định bị đơn chỉ được phép phản đối thẩm quyền của trọng tài không muộn hơn khi nộp bản tự bảo vệ. Qui tắc ICC còn qui định việc không nộp bản tự bảo vệ có nghĩa là bị đơn đã từ bỏ quyền phản đối đơn kiện. Pháp lệnh không có qui định như vậy, khiến cho bị đơn có thể phản đối đơn kiện kể cả khi không có bản tự bảo vệ.

Đối với vấn đề thứ ba (thời gian xét xử), Pháp lệnh không có qui định cụ thể khi nào thì phải kết thúc xét xử và ra quyết định, trong khi đó Qui tắc UNCITRAL qui định phiên họp giải quyết tranh chấp sẽ kết thúc khi các bên không đưa ra thêm được bằng chứng gì. Qui tắc ICC, tại Điều 22 cũng qui định phiên họp giải quyết tranh chấp sẽ kết thúc khi các bên đã có cơ hội trình bày về vụ việc và không được phép mở lại trừ trường hợp Hội đồng cho phép. Điều này khiến cho thủ tục giải quyết tranh chấp được tiến hành nhanh hơn, tránh tình trạng các bên cố tình tạo ra chứng cứ mới và yêu cầu mở lại phiên họp để trì hoãn việc ra quyết định.

3. Các vấn đề khác

Ngoài vấn đề chỉ định trọng tài và thời gian giải quyết tranh chấp, Pháp lệnh còn có một số điểm sau đây sẽ ảnh hưởng đến kết quả giải quyết tranh chấp.

– Đối chứng giám định: Đối với những vấn đề kỹ thuật, hoặc các qui định liên quan đến pháp luật nước ngoài, đôi khi hội đồng trọng tài không đủ kiến thức để giải quyết. Khi đó, các bên có thể mời giám định (Điều 32 Pháp lệnh Trọng tài). Tuy nhiên khác với Qui tắc UNCITRAL, Pháp lệnh không qui định về việc đối chứng giữa các giám định viên nếu giám định viên mỗi bên nói mỗi khác (expert interrogation).

– Nguyên tắc giải quyết tranh chấp: Pháp lệnh tuy qui định các trình tự tố tụng trọng tài, song không qui định rõ trọng tài viên sẽ xem xét vụ việc dựa trên tiêu chí nào, cũng không nêu bật được nguyên tắc giải quyết tranh chấp. Trong khi đó Qui tắc UNCITRAL qui định trọng tài viên có thể tiến hành giải quyết theo bất cứ phương thức nào, tuy nhiên nội dung của phán quyết phải đảm bảo tính công bằng cho các bên, và phải cho các bên cơ hội để trình bày quan điểm của mình. Qui tắc ICC cũng qui định như vậy (Điều 15). Thiết nghĩ, một điều khoản về nguyên tắc giải quyết trọng tài sẽ hạn chế rủi ro khi phán quyết sai về mặt nội dung do không nhìn nhận đúng vấn đề, do áp dụng luật sai hay do luật không qui định rõ ràng. Điều này chưa hẳn là do trọng tài viên không vô tư, khách quan (khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh), vì thế nên không thể hủy phán quyết trong những trường hợp như vậy. Trong Pháp lệnh, Tòa án chỉ có thể hủy phán quyết trọng tài nếu có vi phạm về tố tụng (Điều 54). Nếu các đối tác nước ngoài không tin tưởng về trình độ trọng tài viên Việt Nam và luật áp dụng là luật Việt Nam, thì họ cũng không đủ can đảm để thỏa thuận rằng phán quyết của trọng tài là chung cuộc và bắt buộc phải thi hành. Vì vậy, xác định một tiêu chuẩn giải quyết tranh chấp trọng tài về mặt nội dung là rất cần thiết.

Quyết định trọng tài từng phần hay tạm thời: Các qui định tại Qui tắc UNCITRAL cho phép hội đồng trọng tài ra các quyết định từng phần và tạm thời (interim, interlocutory, partial awards) song vẫn được coi là quyết định sau cùng ràng buộc đối với các bên. Thí dụ, trong tranh chấp có ba điểm, song chỉ có hai điểm rõ ràng và một điểm còn chưa rõ. Hội đồng trọng tài có thể ra phán quyết tạm thời hay từng phần đối với những phần đã rõ. Trong Pháp lệnh hiện chưa có qui định như vậy.

– Chi phí: Chi phí trọng tài hiện nay tại các Trung tâm trọng tài Việt Nam còn tương đối thấp và không qui định rõ các bên có thể phải trả thêm chi phí đi lại, lưu trú của trọng tài viên nếu mời trọng tài viên từ địa phương khác hay từ nước ngoài hay không. Điều này cũng ảnh hưởng phần nào đến khả năng lựa chọn những người có trình độ nhất để giải quyết tranh chấp, nếu họ không cư trú gần nơi giải quyết tranh chấp.

Tóm lại, doanh nghiệp chọn hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp vì trình độ chuyên môn cao của trọng tài viên và vì thủ tục đơn giản, nhanh chóng. Nếu Pháp lệnh không giải quyết được hai vấn đề này – thông qua việc cho phép chọn trọng tài viên nước ngoài một cách đơn giản hay rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp bằng cách qui định rõ các thời hạn; thì sẽ rất khó để các bên có thể chọn giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Ngoài ra, một số vấn đề khác như nguyên tắc giải quyết tranh chấp hay khả năng ban hành quyết định tạm thời hay từng phần cũng nên được đề cập đến, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thủ tục trọng tài Việt Nam và trọng tài quốc tế, đồng thời tạo thêm niềm tin cho các doanh nghiệp nước ngoài khi làm ăn tại Việt Nam.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ …./2006

VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XÉT XỬ ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Còn nhiều vướng mắc và bất cập do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, không tương thích và do cả trình độ thẩm phán – rất nhiều thẩm phán phát biểu như vậy về thực tiễn xét xử án dân sự có yếu tố nước ngoài. Đây cũng chính là nguyên nhân vì sao số vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài được xét xử chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với số vụ án được thụ lý cũng như so với số vụ án hằng năm mà ngành Tòa án giải quyết.

Hiểu thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài?

Thực tiễn giải quyết án dân sự có yếu tố nước ngoài cho thấy, việc xác định thế nào là “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” rất khó. Theo quy định của Luật Quốc tịch thì “‘Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (khoản 2 Điều 4 Luật Quốc tịch). Vậy thời hạn bao lâu thì được xác định là lâu dài? Trường hợp người Việt Nam đi công tác, học tập hoặc du lịch nhưng họ không về nước khi hết thời hạn có được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay không? Vấn đề này đã được ngành Tòa án đưa ra thảo luận lấy ý kiến, hiện có nhiều quan điểm khác nhau và vẫn chưa thống nhất đường lối giải quyết nên cách hiểu và áp dụng ở các tòa chưa thống nhất. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện.

Cũng chính vì quy định này mà hiện nay đối với các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 mà có yếu tố nước ngoài thì Tòa án chưa thụ lý giải quyết, trường hợp đã thụ lý rồi thì Tòa án tạm đình chỉ chờ hướng dẫn mới (theo Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH/QH10 và Thông tư liên tịch số 01 hướng dẫn thi hành Nghị quyết này). Thực tế, có nhiều vụ án TAND cấp tỉnh đã thụ lý giải quyết và ra quyết định tạm đình chỉ khi xác định có người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bị TANDTC hủy để xác định đương sự có “định cư” ở nước ngoài hay không. Việc xác định vấn đề này hết sức khó khăn, đến nay chưa có văn bản hướng dẫn cơ quan nào có thẩm quyền xác định và cung cấp cho Tòa án.

Hiệp định Tương trợ tư pháp – Nhiều vướng mắc trong thực hiện ủy thác tư pháp

Thực tế, những việc mà Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài kết quả trả lời thường rất chậm, thậm chí nhiều trường hợp không nhận được sự trả lời, ngay cả đối với các nước mà Tòa án đã ký kết và gia nhập điều ước quốc tế. Chính vì vậy việc lấy lời khai, tống đạt các văn bản của Tòa án hoặc xác định tài sản ở nước ngoài là không thực hiện được làm cho vụ án kéo dài, vi phạm thời hạn xét xử.

Đơn cử việc giải quyết án ly hôn có yếu tố nước ngoài, nhiều vụ không thể thụ lý giải quyết do công dân Việt Nam xin ly hôn chỉ cung cấp cho Tòa án bản đăng ký kết hôn có địa chỉ của bên kia, ngoài ra không có một thông tin nào khác. Trước đây, những trường hợp này sau hai lần Tòa án ủy thác tư pháp qua Bộ Tư pháp, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài và Tòa án nước ngoài điều tra tống đạt nhưng hết thời hạn sáu tháng không có kết quả trả lời Tòa án phải tạm đình chỉ vì không tìm được hoặc không có lời khai của bị đơn. Điều này dẫn đến thực tế nhiều cuộc hôn nhân chỉ mang tính hình thức vẫn bị kéo dài ảnh hưởng đến cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của nguyên đơn.

Ông Tạ Quốc Hùng – Phó Chánh án TAND tỉnh Hà Tây cho biết: Mặc dù TANDTC đã ban hành Nghị quyết 01/2003/HĐTP có hướng dẫn: Với những trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài nhưng người nước ngoài đã về nước mà không liên hệ với công dân Việt Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết nhưng thực tế, các Tòa án không phải sau khi thụ lý một vài tháng là có thể đưa ra xét xử, mà vẫn phải tiến hành điều tra, xác minh và ủy thác tư pháp, đến khi không có kết quả trả lời từ phía cơ quan nhận ủy thác tư pháp thì Tòa mới xử cho ly hôn, do đó, các vụ án vẫn kéo dài. Bên cạnh đó thủ tục hợp thức hóa lãnh sự đối với các việc mà Tòa án Việt Nam yêu cầu thì nhiều Tòa án nước ngoài chưa đáp ứng kịp thời cũng gây khó khăn cho việc xét xử.

Và một số bất cập khác

Rất nhiều vụ án trở nên phức tạp do chính sự bất cẩn của chính nguyên đơn khi họ không tìm hiểu kỹ “đối tác” của mình (về nhân thân, địa chỉ…). Điều này không chỉ khiến họ phải gánh chịu thiệt thòi mà còn gây khó khăn, tốn kém về thời gian, công sức cho Tòa án. Cũng có những vụ án gặp vướng do ý thức pháp luật của bị đơn – chẳng hạn bị đơn bỏ về nước trốn tránh nghĩa vụ ra tòa – Tòa án rất khó có biện pháp bắt buộc triệu họ về Việt Nam để tham gia vụ kiện.

Trình độ thẩm phán cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Do không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thường xuyên nên nhiều thẩm phán không nắm vững, không thường xuyên cập nhật được chuyên môn của tư pháp quốc tế. Mặt khác, nhìn chung trình độ ngoại ngữ của đội ngũ thẩm phán còn hạn chế, rất khó khăn trong việc tiếp cận với pháp luật nước ngoài cũng như khi tiến hành tố tụng trong những vụ án có công dân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài. Hơn nữa, việc mời phiên dịch trong những vụ án này cũng gặp nhiều khó khăn phiền toái khi chúng ta chưa có quy định rõ cơ quan nào có trách nhiệm làm phiên dịch cũng như chi phí của việc mời phiên dịch sẽ được tính dựa trên tiêu chí nào…

SOURCE: Pháp luật Việt Nam

NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI NHẬN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY LÀ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT

VÕ MƯỜI – NHNN Quảng Ngãi

Thời gian qua các tổ chức tín dụng nhận cầm cố tài sản là máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất để bảo đảm tiền vay không những tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có vốn mở rộng, phát triển sản xuất – kinh doanh, mà còn tạo cơ hội cho các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, việc nhận tài sản là máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất để đảm bảo tiền vay đang gặp không ít khó khăn, vướng mắc về thủ tục và khả năng thẩm định.
Máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất của bên cầm cố thường là đã qua quá trình sử dụng nên việc đánh giá, định giá những tài sản này khi nhận cầm cố là khó khăn, đòi hỏi các TCTD phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tài sản đảm bảo, đồng thời phải có khả năng giám sát việc sử dụng tài sản đảm bảo của khách hàng; phải có đội ngũ cán bộ có khả năng chuyên môn về thẩm định giá, hoặc đôi khi phải thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định. Ngoài ra những máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất đều mang những bí quyết công nghệ riêng, thường bị lỗi thời, lạc hậu và nhanh chóng bị mất giá trị, bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hơn nữa do quá trình cạnh tranh nên máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất phải thường xuyên được khách hàng nâng cấp, đổi mới liên tục để phù hợp với sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, khi đã nhận cầm cố và đặc biệt phải bán thanh lý khi người vay không trả được nợ là rất phức tạp và số tiền bán tài sản thường không thu hồi đủ gốc, lãi vay, do ít người có nhu cầu mua lại máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất đã qua sử dụng, thời gian bán tài sản kéo dài làm cho tài sản hư hỏng, xuống cấp, mất giá trị…
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thì khi cầm cố tài sản, bảo lãnh bằng bất động sản, các bên được thoả thuận về việc khách hàng vay, bên bảo lãnh hoặc bên thứ ba giữ tài sản cầm cố. Nghĩa là, khách hàng vay, bên bảo lãnh (gọi là bên bảo đảm) có thể giữ tài sản là máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất (tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu), tuy nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự thì: “cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình cho bên có quyền để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu, thì các bên có thể thoả thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm cố hoặc giao cho người thứ ba giữ”. Như vậy, theo Bộ luật dân sự bên cầm cố chỉ được giữ những tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Rõ ràng, quy định giữa Bộ luật dân sự và quy định của NHNN còn thiếu nhất quán, nên đã gây không ít khó khăn cho các TCTD khi nhận máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất làm bảo đảm tiền vay. Mặt khác, theo quy định tại Nghị định số 59/CP ngày 3/10/1996 và Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 về quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước thì: “Khi doanh nghiệp cho thuê, thế chấp, cầm cố những tài sản là toàn bộ dây chuyền công nghệ chính theo quy định của cơ quan quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật, thì phải được cơ quan ra quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản”. Đồng thời hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay có các tổ chức tín dụng, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày 19/5/2003, trong đó cũng quy định: “Khi doanh nghiệp Nhà nước cầm cố, thế chấp tài sản là toàn bộ dây chuyền công nghệ chính theo quy định của cơ quan quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật, thì phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đó đồng ý bằng văn bản. Việc cầm cố, thế chấp tài sản không phải là dây chuyền công nghệ chính thì do doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức tín dụng thoả thuận”. Theo quy định là vậy, những khi nhận cầm cố thì tổ chức tín dụng không đủ cơ sở để phân biệt được máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ nào là chính, là phụ để đảm bảo hoàn thiện về mặt thủ tục. Bởi vì, hiện nay vẫn chưa có sự quy định nào về tiêu chuẩn, chuẩn mực của dây chuyền công nghệ chính, hay phụ; cũng như quy định các loại giấy tờ gì phải kèm theo. Do vậy, việc nhận cầm cố tài sản là máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất trên thực tế ít được tổ chức tín dụng quan tâm và đã gây cho các doanh nghiệp Nhà nước nhiều thiệt thòi trong quan hệ tín dụng.
Để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho khách hàng trong trường hợp nhận cầm cố tài sản là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, thiết nghĩ ngoài việc tổ chức tín dụng phải nâng cao khả năng chuyên môn và hiểu biết về máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, các cơ quan chức năng có liên quan cũng cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện và cụ thể hoá những quy định của Chỉ thị 59 và Chỉ thị 27 nói trên của Chính phủ./.

SOURCE: ICB.COM.VN