CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 7 – MODUL 2

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP

1. So sánh đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sở hữu với đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng;

2. Phân tích các đặc điểm về đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng;

3. Cho 10 ví dụ về đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng tài sản;

4. Tại sao đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng là tài sản đặc định và là vật không tiêu hao;5. So sánh hợp đồng thuê tài sản với hợp đồng mượn tài sản;

6. Cho biết hậu quả pháp lý khi các bên trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng không đặc định hóa tài sản cùng loại là đối tượng của hợp đồng;

7. Cho biết hậu quả pháp lý khi các bên trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng thỏa thuận đối tượng của hợp đồng là vật tiêu hao;

8. Cho biết hình thức và thủ tục đối với hợp đồng thuê nhà ở và quyền sử dụng đất;

9. Cho biết hậu qủa pháp lý khi bên cho thuê là người không có quyền cho thuê tài sản;

10. Phân tích các qui định pháp luật có liên quan khi tài sản thuê thuộc sở hữu chung của nhiều đồng sở hữu chủ;

11. Nêu 3 ví dụ về hợp đồng thuê tài sản đòi hỏi bên cho thuê phải tuân thủ những điều kiện nhất định;

12. Cho biết hậu qủa pháp lý đối với hợp đồng thuê tài sản có sự khuyết thiếu về điều khoản cơ bản;

13. Hãy nếu 3 ví dụ về điều khoản tùy nghi trong hợp đồng thuê tài sản;

14. Phân tích trách nhiệm dân sự của bên cho thuê trong trường hợp họ chậm chuyển giao hoặc chuyển giao không đúng, không đủ tài sản thuê cho bên thuê;

15. Phân tích các trường hợp cho thuê lại và hậu qủa pháp lý của nó;

16. Cho biết những biện pháp bảo đảm có thể được áp dụng cho hợp đồng thuê tài sản và biện pháp xử lý khi bên thuê vi phạm nghĩa vụ;

17. Cho biết các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê tài sản không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể hợp đồng;18. Hãy cho biết những điểm khác biệt của hợp đồng thuê nhà ở, quyền sử dụng đất so với các hợp đồng thuê tài sản thông thường khác;

19. Cho biết khi nào quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng thuê tài sản thông thường, khi nào là đối tượng của hợp đồng thuê khoán;

20. Nêu các đặc điểm cơ bản của hợp đồng thuê khoán, so sánh với các hợp đồng thuê tài sản thông thường;

21. Xác định hậu quả pháp lý của hợp đồng thuê khoán, trong đó các bên không có thỏa thuận về khấu hao cơ bản đối với tài sản thuê;

22. Xác định hậu quả pháp lý của hợp đồng thuê khoán, trong đó các bên không có thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng. Cho 3 ví dụ cụ thể;

23. So sánh giữa giá thuê khoán với giá thuê tài sản;

24. So sánh giữa hợp đồng thuê tài sản với hợp đồng vay tài sản;

25. So sánh hợp đồng thuê khoán tài sản, trong đó các bên có thỏa thuận bên thuê khoán thanh toán tiền thuê bằng tài sản với hợp đồng trao đổi tài sản;

26. Cho biết các trường hợp bên thuê tài sản không phải trả tiền thuê tài sản cho bên cho thuê;

27. Phân tích các đặc điểm của hợp đồng mượn?28. So sánh hợp đồng mượn với hợp đồng vay không lãi;

29. So sánh hợp đồng mượn với hợp đồng tặng cho;

30. Nêu những điểm khác biệt giữa hợp đồng mượn nhà ở với hợp đồng mượn tài sản thông thường;

31. Phân tích hậu quả pháp lý trong trường hợp tài sản mượn không thuộc sở hữu của bên cho mượn.

2. KHẲNG ĐỊNH  ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

1. Hợp đồng thuê tài sản là hợp đồng thực tế;

2. Đối tượng của hợp đồng thuê tài sản chỉ có thể là vật đặc định hoặc vật không tiêu hao;

3. Bên cho thuê tài sản là chủ sở hữu tài sản thuê;

4. Khi bên thuê được bên cho thuê miễn thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê thì hợp đồng thuê được chuyển thành hợp đồng mượn tài sản;

5. Khi các bên trong hợp đồng thuê tài sản thỏa thuận bên thuê tài sản trả tiền thuê bằng tài sản cùng loại với tài sản thuê, thì hợp đồng đó trở thành hợp trao đổi tài sản;

6. Quyền tài sản không thể là đối tượng của hợp đồng thuê hoặc mượn tài sản;

7. Chủ thể của hợp đồng thuê khoán bắt buộc một bên phải là người đang trực tiếp sản xuất, kinh doanh;

8. Bên thuê khoán chỉ có thể là pháp nhân;

9. Khi hợp đồng thuê, mượn tài sản thiếu một trong các điều khoản cơ bản thì hợp đồng không có hiệu lực;

10. Biện pháp bảo đảm cho hợp đồng thuê chỉ có thể là ký cược;

11. Khi các bên thỏa thuận đối tượng của hợp đồng thuê tài sản là vật tiêu hao, thì bên cho thuê phải chịu rủi ro về đối tượng hợp đồng thuê;

12. Giữa hợp đồng thuê và hợp đồng mượn chỉ có điểm khác nhau duy nhất là bên thuê phải trả tiền thuê, còn bên mượn không phải đáp ứng lại bất kỳ lợi ích vật chất nào;

13. Hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng thực tế.

CÂU HỎI THẢO LUẬN CHO VẤN ĐỀ 3 – MODUL 2

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP:

– Hãy nhận diện sinh viên các trường cao đẳng, đại học vay ưu đãi tại ngân hàng chính sách xã hội là loại giao dịch có bảo đảm hay không có bảo đảm?

– So sánh chủ thể của các biện pháp bảo lãnh, ký quĩ và tín chấp;

– So sánh đối tượng của các biện pháp ký quĩ, ký cược, đặt cọc với các biện pháp cầm cố, thế chấp;

– Nêu và phân tích các điều kiện đối với chủ thể của tín chấp;

– Xác định và so sánh hậu quả pháp lý khi người có nghĩa vụ (bên bảo đảm) vi phạm nghĩa vụ trong các biện pháp thế chấp, đặt cọc, ký cược;

– Xác định các trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, nhưng bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;

– Phân biệt trường hợp bên bảo lãnh bảo đảm nghĩa vụ mà không xác định cụ thể tài sản bảo đảm với trường hợp bên bảo lãnh bảo đảm nghĩa vụ có xác định cụ thể tài sản bảo đảm;

– Xác định quyền và nghĩa vụ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh;

– Xác định trách nhiệm dân sự của bên có nghĩa vụ với tư cách là bên bảo đảm khi họ vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm;

2. KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG SAI? TẠI SAO?

– Cũng như cầm cố, tài sản đặt cọc, ký cược thuộc sở hữu của bên nhận bảo đảm trong trường hợp bên bảo đảm vi phạm nghĩa vụ;

– Một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ phải đảm bảo hai điều kiện: Tài sản phải thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ trong nghĩa vụ được bảo đảm và phải có giá trị lớn hơn giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm;

– Tải sản hình thành trong tương lai chỉ có thể là đối tượng của biện pháp cầm cố, thế chấp;

– Cũng như cầm cố, đặt cọc và ký cược có hiệu lực từ thời điểm bên đặt cọc, bên ký cược chuyển giao tài sản đặt cọc, ký cược cho bên nhận đặt cọc, nhận ký cược;

– Trong trường hợp một cá nhân dùng uy tín cá nhân hoặc uy tín của một tổ chức mà họ là người đại diện để bảo đảm nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, nếu được bên có quyền chấp nhận thì đó là bảo đảm bằng biện pháp tín chấp;

– Giao dịch bảo đảm chỉ được xác lập giữa các chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự;

– Ký quĩ là biện pháp bảo đảm được áp dụng cho bảo đảm nghĩa vụ có chủ thể là các tổ chức;

– Hộ gia đình nghèo có thể được vay tín chấp nếu đại diện của hộ là thành viên của một tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở;

– Một cá nhân có thể thực hiện nhiều khoản vay tín chấp nếu họ thuộc diện nghèo và là thành viên của nhiều tổ chức chính trị – xã hội;

– Trong trường hợp bên được bảo lãnh có tài sản đủ để thực hiện nghĩa vụ vi phạm thì bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình;

– Một người đang thực hiện khoản vay tín chấp mà có tài sản để bảo đảm thì phải thay đổi sang biện pháp bảo đảm bằng tài sản;

– Các bên trong hợp đồng thuê có đối tượng là bất động sản có thể áp dụng biện pháp ký cược nếu có thỏa thuận;

– Về nguyên tắc, tài sản ký cược có giá trị bằng hoặc lớn hơn giá trị tài sản thuê, trừ khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật qui định khác;

– Nhiều người cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới giữa họ;

– Các bên có thể thỏa thuận khác với qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự khi một trong hai bên quan hệ đặt cọc vi phạm nghĩa vụ.

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CHỦ THỂ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

THS. NGUYỄN VĂN HÙNG –  ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh

Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp mới ở nước ta. Địa vị pháp lý của nó được quy định từ Điều 46 đến Điều 50 chương IV của Luật Doanh nghiệp (Luật DN). Kể từ thời điểm Luật DN có hiệu lực đến nay, loại hình doanh nghiệp này đã thực sự đi vào các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, thỏa mãn phần nào nhu cầu của một số chủ thể trong việc lựa chọn hình thức đầu tư, góp phần vào việc đa dạng hóa các quan hệ kinh tế trong điều kiện từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường theo thông lệ quốc tế cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng chế định pháp luật này, một số quy định liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp cũng như một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đã thể hiện một số điểm bất hợp lý. Bên cạnh đó còn có một số quan điểm cho rằng việc công nhận sự tồn tại của loại hình doanh nghiệp này, đặc biệt là trong trường hợp luật cho phép một cá nhân cũng có quyền thành lập doanh nghiệp sẽ triệt tiêu loại hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Nói cách khác, quy định này có thể làm thay đổi tính chất pháp lý đặc thù của DNTN từ tính chất “chịu trách nhiệm vô hạn” thành tính chất “chịu trách nhiệm hữu hạn”. Vì vậy, chế định pháp luật này có thể phá vỡ đặc điểm truyền thống của DNTN cũng như làm thay đổi tính chất riêng của loại hình công ty TNHH.

Continue reading

QUAN NIÊM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NƯỚC TA

THS. TỐNG CŌNG CƯỜNG  – Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử, thiết nghĩ chúng ta tìm hiểu sự áp dụng của nguyên tắc này qua hai mô hình tố tụng là mô hình tranh tụng thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và mô hình thẩm xét ở các nước châu Âu lục địa, trong đó điển hình là Pháp.

Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm.1 Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại. Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm.2 Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm.3 Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định.4 Continue reading

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO LUẬT

THS. LÊ TIẾN CHÂU –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Xây dựng đội ngũ nhà giáo nói chung, đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở đào tạo luật nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm trong sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Bác Hồ đã từng nói: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người”. Muốn “trồng người” thật tốt trước hết chúng ta phải xây dựng đội ngũ những người “trồng người”. Đây chính là là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Đánh giá những kết quả đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo những năm qua, chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng đã ghi nhận “những năm qua chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước”.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo vẫn chưa được các cấp có thẩm quyền quan tâm đầy đủ. Chỉ thị 40-CT/TW đánh giá “số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế xã hội… Chế độ chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này”. Continue reading

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. TRẦN THỊ VÂN ANH – TBT TẠP CHÍ KHOA HỌC VỀ PHỤ NỮ

Hội nhập kinh tế là một từ được nhắc nhiều trong thời gian gần đây. Vậy hội nhập sẽ mang đến cơ hội hay thách thức đối với phụ nữ? và so với nam giới họ sẽ được hay mất nhiều hơn khi đất nước bước vào giai đoạn hội nhập?

Có thể ví hội nhập kinh tế gần giống như việc chúng ta chuyển dần từ đi chợ cóc sang mua bán ở siêu thị. Có nhiều hàng hoá và cơ hội lựa chọn hơn song phải đi xa hơn, phải tuân thủ nhiều luật lệ hơn và có thể cần nhiều tiền hơn.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ CON HEO NÁI TRÔI SÔNG

TẤN VŨ – MỸ DUNG

Hai bà nông dân tranh nhau quyết liệt một con heo nái trôi sông. Chính quyền địa phương và tòa đều bối rối, phải chờ heo… đẻ mới có cơ sở phán quyết! TAND huyện Điện Bàn (Quảng Nam) đang thụ lý vụ tranh chấp một con heo nái đang mang thai trôi sông giữa hai bà Đặng Thị Thơ và Đoàn Thị Tuyết, cùng ngụ xã Điện Bàn. Đây là một vụ tranh chấp quyết liệt mà chính quyền địa phương đã từng hòa giải nhưng không thành. Ai là chủ heo?

Trước đó, ngày 7-12-2007, bà Thơ đã gửi đơn tới UBND xã Điện An khiếu nại việc gia đình bà Đoàn Thị Tuyết không chịu trả lại con heo nái trôi sông trong nước lũ cho bà. Bà Thơ trình bày, vào đêm lũ ngày 12 rạng sáng 13-9 âm lịch năm 2007, gia đình bà bị trôi mất một con heo nái. Ông Mính, một nông dân ở thôn bên cạnh đã vớt được con heo này. Sau đó, bà Tuyết, trú cùng thôn với ông Mính đã trả cho ông này 200 ngàn đồng để chở heo về nhà nuôi. Nhiều ngày sau, gia đình bà Thơ đi tìm heo nhưng không thấy. Thế rồi gặp được ông Mính, nghe ông này mô tả hình dáng, đặc điểm của heo cũng như thời gian vớt heo, bà Thơ nhất quyết rằng con heo đó là của nhà mình. Bà quả quyết: “Heo nhà tôi, làm sao tôi quên được. Nó là heo Móng Cái, có vạch trắng quàng cổ, nặng từ 70 đến 80 kg, đã đẻ một lứa và đã phối hai liều tinh ngay vào ngày trước đêm nó bị trôi sông”. Trong khi đó, bà Tuyết khăng khăng rằng con heo đó do tự tay bà nuôi lớn cho đến ngày bị nước lũ cuốn trôi. Bà Tuyết kể lại trong đợt lũ ấy, nhà bà cũng bị trôi một con heo nái. Sau đó, bà nghe ông Mính vớt được nên đến xin heo lại về nuôi. Tương tự như bà Thơ, bà Tuyết cũng cho rằng heo của bà đã hạ sinh được một lứa. Vào ngày 27-9 âm lịch, bà cũng có gọi thú y đến thụ tinh cho nó. Hiện con heo đang trong tình trạng mang thai. Bà Tuyết khẳng định: “Con heo nái này là của tôi. Nó là giống heo Móng Cái, mắt hí, miệng không dài, không ngắn. Heo có tổng cộng 12 vú, hai chân sau bị cong ra phía sau và chưa xác định heo nặng bao nhiêu ký”. Phải chờ… heo đẻ Phó Chủ tịch UBND xã Điện An Trần Văn Chiến cho biết ngày 17-2-2007, UBND xã đã thành lập một hội đồng hòa giải gồm Hội nông dân, hội phụ nữ, thanh tra nhân dân… nhưng thương lượng bất thành vì hai bà đều khăng khăng heo là của mình. Vì thế vụ việc phải chuyển lên nhờ TAND huyện phân xử.

Giải quyết vụ án, TAND huyện Điện Bàn đã tìm gặp Trạm thú y Điện Bàn và Hội Chăn nuôi của huyện để tìm hiểu. Theo cán bộ trạm thú y, một con heo bình thường từ khi thụ tinh đến khi sinh là 114 ngày, trường hợp có tác động bên ngoài thì chỉ chênh lệch từ một đến hai ngày. Tòa cũng tìm gặp người thú y phối giống cho con heo nái nhưng ông ta nói rằng ông không còn nhớ rõ heo là của ai và ngày đã phối giống cho heo. Vì thế, hiện nay tòa phải chờ con heo đến ngày sinh nở để “đoán” heo là của ai.

Theo tòa, nếu đúng như chuyên gia thú y dự đoán thì từ khi con heo sinh nở trừ ra 114 ngày, nếu số ngày đó trùng khớp với lời khai của bà nào thì nhiều khả năng con heo nái này là của bà đó. Ngoài ra, tòa cũng đang tích cực thu thập thêm các chứng cứ khác để có cơ sở phán quyết. Tại trụ sở TAND huyện Điện Bàn, thẩm phán Lê Minh Tân, người trực tiếp giải quyết vụ án than thở: “Chỉ cầu mong cho con heo nái này không bị chết bất tử và sinh nở an toàn cho đến ngày xử án. Cả đời làm án, chưa bao giờ tôi gặp vụ nào “trời ơi” như thế cả!”. Dự kiến vào ngày 19-3 tới, TAND huyện Điện Bàn sẽ đưa vụ án ra xét xử.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẠT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ONLINE