VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN ĐỐI VỚI VIỆC MỞ RỘNG TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

TƯỞNG DUY LƯỢNG & NGUYỄN VĂNNG – Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao

I. CHỦ THỂ THAM GIA TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

1. Nhận thức về tranh tụng mở rộng tại Tòa án:

Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cái lẽ, cãi nhau để tranh lấy phần phải”. Như vậy, từ điển Hán Việt chỉ giải thích theo ngữ nghĩa của từ tranh chấp, chứ không phải “tranh” theo một trình tự tố tụng.

Còn theo từ điển tiếng Việt thì tranh tụng là việc “yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình”. Do đó, tranh tụng chỉ đặt ra khi cá nhân, cơ quan, tồ chức cho rằng quyền lợi của họ hay của người khác bị xâm phạm và yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ cho họ. Yêu cầu này được Tòa án chấp nhận giải quyết theo trình tự tố tụng pháp luật quy định, khi việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, tranh tụng trong tố tụng dân sự diễn ra từ khi bắt đầu khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung cho đến kết thúc giai đoạn tranh luận tại phiên tòa.

Các đương sự tham gia vào các giai đoạn này luôn đưa ra yêu cầu Tòa án xét xử theo hướng có lợi cho mình và đồng thời đưa ra lý lẽ để biện minh cho yêu cầu của mình đặt

ra là đúng pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay có quan điểm cho rằng tố tụng của Việt Nam là

tố tụng xét hỏi, do đó tranh tụng chỉ có trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa. Bởi lẽ, từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa các thẩm phán phải trực tiếp điều tra, thu thập chứng cứ,

có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp, có căn cứ về yêu cầu của các bên. Thực tế cho thấy, trước giai đoạn tranh luận, không có việc các bên đương sự đối đáp, tranh tụng trực tiếp với nhau, chỉ đến giai đoạn tranh luận thì mới xuất hiện sự tranh tụng, còn điều tra, xét hỏi tại phiên tòa thực chất là quá trình Tòa án tìm ra sự thật vụ án, chưa xuất hiện tranh tụng trong các giai đoạn này. Chúng tôi cho rằng cách hiểu về tranh tụng trong quan điểm này, chỉ coi sự đối đáp trực tiếp mới là tranh tụng sẽ không đầy đủ. Có lẽ cách hiểu đúng về thuật ngữ tranh tụng phải bao gồm cả đối đáp trực tiếp và cả sự “đối đáp” gián

tiếp. Trong đó một yếu tố không thể thiếu để có được sự tranh tụng thực sự đó là việc các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ, thông tin cho nhau, qua đó, các bên đưa ra lập luận, lý lẽ, chứng cứ được thể hiện bằng văn bản nhằm bác bỏ quan điểm phía bên kia.

Do đó, dù Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự còn nhiều hạn chế nhưng các quy định của Pháp lệnh đã phần nào thể hiện sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, còn dự thảo 12 Bộ luật tố tụng dân sự đã thể hiện một cách rõ nét sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, vai trò của các bên đương sự trong tố tụng đã được đề cao rất nhiều, nó thể hiện ngay trong trách nhiệm của các bên đương sự trong quá trình tố tụng.

2. Chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự:

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự, bao gồm:

– Đương sự trong vụ án dân sự có thể là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được Viện kiểm sát khởi tố

vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa

vụ của họ.

– Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người sau đây có thể được chấp nhận làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư không bị cấm thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không phải là cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an; Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.

– Các cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi chức năng của mình có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện kiểm sát xem xét việc khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

– Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động.

– Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền,

lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật lao động nghiêm trọng khác.

– Người đại diện.

Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự, như: đại diện cho đương sự là người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự hoặc đại diện cho cơ quan, tổ chức… Tuy nhiên, các trường hợp sau đây sẽ bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự: nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người đại diện mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền,

lợi ích hợp pháp của người được đại diện; nếu họ đang là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án; cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự.

Thực tiễn tùy từng vụ án mà các đối tượng có thể tham gia tranh tụng do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Họ cũng có thể tham gia từ khi thụ lý vụ án, nhưng cũng có thể tham gia vào những giai đoạn tố tụng khác nhau. Khi tham gia tranh tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ được quy định trong tố tụng dân sự.

3. Sự khác nhau giữa tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng trong tố tụng hình sự:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra trong các phiên tòa mà phần tranh tụng chủ yếu là ở phần tranh luận; tại đây giữa các bên đã đối đáp nhau một cách trực tiếp. Chủ thể tranh tụng trong tố tụng hình sự bao gồm: Viện kiểm sát và người bị hại, nguyên đơn dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại, đại diện cho bị hại, nguyên đơn dân sự…, luật

sư của các bên và bị cáo.

Như vậy, trong tranh luận sẽ hình thành 2 tuyến chủ thể chủ yếu, đó là người buộc tội, còn một bên là người gỡ tội. Mặc dù bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nhưng bị cáo và những người thuộc tuyến chủ thể này có quyền chứng minh sự vô tội của mình, họ đưa ra các căn cứ, lý lẽ, lập luận bác bỏ sự buộc tội của phía bên kia. Về nguyên tắc thì các bên đều bình đẳng với nhau trong quá trình tranh tụng. Nhưng thực tế bên bị buộc tội khó có thể có được sự bình đẳng thực sự trong tranh tụng, vì chính họ có thể bị thiếu những điều kiện, phương tiện và khả năng để thực hiện được sự bình đẳng trong tranh tụng. Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra tại phiên tòa, còn tranh tụng tố tụng trong dân sự diễn ra kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và giữa các bên trong quá trình tranh tụng hoàn toàn bình đẳng. Trong tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát là cơ quan đại diện quyền lực cho nhà nước, luôn luôn là một chủ thể phải tham gia tranh tụng với tư cách là người buộc tội, còn trong dân sự Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức xã hội chỉ tham gia tranh tụng khi họ là người khởi kiện hoặc khởi tố vụ án. Đây có thể là những dấu hiệu

cơ bản để phân biệt tranh tụng trong tố tụng hình sự với tranh tụng trong tố tụng dân sự.

II. VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Tranh tụng là một hoạt động quan trọng trong tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng. Nó chỉ diễn ra trong hoạt động tư pháp. Tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là hoạt động của chủ thể trong quá trình chứng minh về tính hợp pháp và có căn cứ của các yêu cầu mà họ đặt ra hoặc chứng minh về tính bất hợp pháp, thiếu căn cứ về các yêu cầu mà phía đương sự bên kia đưa ra. Trong quá trình tranh tụng các bên đương sự sẽ đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, những lập luận nhằm bảo vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của đối phương. Do đó, tất cả các hoạt động như trình bày các yêu cầu của mình trong đơn, các bản tự khai trong đó đưa ra các lý lẽ, chứng cứ, lập luận, yêu cầu, phản yêu cầu, cung cấp chứng cứ, bằng chứng hoặc sự đối chất qua các bên, quá trình trao đổi

tài liệu chứng cứ cho nhau diễn ra trước khi mở phiên tòa, chính là quá trình các đương

sự thực hiện sự tranh tụng. Trong suốt quá trình tố tụng đó, vai trò của thẩm phán là rất quan trọng, thậm chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá trình tranh tụng. Mặc dù thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là một chủ thể, hay là một bên trong quá trình tranh tụng nhưng với tư cách là người đại diện cho nhà nước, thực thi công lý, họ có vai trò là người trọng tài, là người hướng dẫn cho các bên đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng đúng pháp luật.

Nếu việc tranh tụng đó diễn ra tại phiên tòa thì vai trò của thẩm phán được thể hiện một cách rõ nét đầy đủ nhất. Bởi vì cũng chính tại phiên tòa là nơi sẽ diễn ra đỉnh điểm của sự tranh tụng, nó hàm chứa đầy đủ các dấu hiệu, đặc điểm của việc tranh tụng và cũng tại giai đoạn này vai trò của thẩm phán trong tranh tụng cũng được thể hiện một

cách nổi bật, thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm vào những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn, cần làm rõ của vụ kiện.

Thông qua kết quả tranh tụng, thẩm phán đánh giá nội dung thực chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của mỗi bên, trên cơ sở đó căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tố tụng thì thẩm phán lại có vai trò khác nhau:

1. Giai đoạn khởi kiện, khởi tố và thụ lý, điều tra vụ án:

Thẩm phán kiểm tra đơn khởi kiện, quyết định khởi tố có đủ điều kiện thụ lý hay không. Chỉ có các trường hợp sau đây thì đơn khởi kiện, khởi tố sẽ không được thụ lý:

– Thời hiệu khởi kiện đã hết;

– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ các vụ án ly hôn mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc các vụ kiện đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho ở nhờ, mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện;

– Hết thời hạn được thông báo mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, khởi tố;

– Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Còn trong trường hợp khác thẩm phán phải thụ lý, nếu trong trường hợp đơn khởi kiện, khởi tố không đúng quy định của pháp luật thì yêu cầu người khởi kiện, khởi tố sửa đổi,

bổ sung đơn khởi kiện, quyết định khởi tố.

Sau khi thụ lý, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho các nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và đồng thời yêu cầu họ đưa ta các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu của mình đưa ra là chính đáng và ngược lại đối với bên bị yêu cầu, nếu họ không chấp nhận yêu cầu của phía bên kia thì cũng phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để bác bỏ yêu cầu của phía bên kia. Vấn đề này thể hiện thông qua đơn khiếu nại, giải trình, lấy lời khai đương sự, đối chất các chứng cứ tài liệu

do các bên xuất trình…

Trong quá trình tranh tụng các đương sự có thể yêu cầu hoặc Tòa án thấy cần thiết có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu là giấy tờ, ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án; trưng cầu giám định; quyết định,

định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác việc thu thập chứng cứ, sắp tới khi Bộ luật tố tụng dân sự thông qua, với yêu cầu nâng cao vai trò nghĩa vụ chứng minh của đương sự, để các bên có được thông tin khi thực hiện việc tranh tụng thì thẩm phán phải yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ của mình cho phía bên kia. Vì vậy, nếu thiếu vai trò tích cực của thẩm phán thì vấn đề tranh tụng của các đương sự không được thực hiện một cách triệt để. Đây là giai đoạn tranh tụng thể hiện bằng các hành vi pháp

lý, thông qua các hình thức văn bản là chủ yếu nhằm chuẩn bị cho tranh tụng có sự đối đáp trực tiếp tại phiên tòa.

2. Vai trò của thẩm phán đối với vấn đề tranh tụng trong phiên tòa:

* Về thủ tục xét hỏi

– Bắt đầu vào thủ tục xét hỏi, Hội đồng xét xử lần lượt nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của họ… Nếu tổ chức xã hội hoặc Viện kiểm sát… là người khởi tố thì Viện kiểm sát, tổ chức khởi kiện được trình bày và phát biểu trước. Người trình bày có quyền nêu rõ nội dung sự việc và yêu cầu, đồng thời xuất trình các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.

– Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện, hội đồng xét xử yêu cầu người làm chứng nói rõ những việc liên quan đến việc tranh chấp mà họ biết.

+ Trước khi nghe lời trình bày của người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu người làm chứng tuyên thệ trước Tòa là chỉ nói đúng sự thật.

+ Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu, người giám hộ giúp đỡ để hỏi.

– Hội đồng xét xử tiến hành xem xét các vật chứng và hướng dẫn cho đại diện Viện kiểm sát, đại diện của tổ chức, các đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự xem xét các vật chứng tại phiên tòa.

Nếu vật chứng không đưa đến phiên tòa được, khi cần thiết Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đến xem xét tại chỗ.

– Chủ tọa phiên tòa công bố bản kết luận giám định, nếu người giám định vắng mặt hoặc mời người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Người giám định có quyền giải thích bổ sung trên cơ sở kết luận giám định tại phiên tòa.

– Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát lần lượt đặt câu hỏi đối với từng vấn đề đang

có tranh chấp, câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, người được hỏi phải trả lời ngắn gọn và đúng vấn đề được hỏi và yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ kiện mà người đó đã biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

– Nếu thấy cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể cho đối chất ngay tại phiên tòa giữa những người đã trình bày về những điểm có mâu thuẫn.

– Những người tham gia tố tụng khác có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn

đề cần được hỏi thêm hoặc yêu cầu thu thập thêm chứng cứ. Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu đó và căn cứ vào tình tiết vụ án đề quyết định.

Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, luật sư… thực hiện đặt câu hỏi với phía bên kia, đối với người làm chứng, giám định và những người tham gia tố tụng khác về các tình tiết liên quan đến vụ án.

+ Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh tính hợp pháp của chứng cứ, nếu thấy việc đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ kiện.

+ Trường hợp chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm vật chứng, nếu không thực hiện được ngay, thì có thể phải dừng phiên tòa.

Trong quá trình xét hỏi, Hội đồng xét xử mà đặc biệt vai trò của thẩm phán chủ tọa là người chủ trì, điều khiển đảm bảo phiên tòa diễn ra một cách trật tự. Hội đồng xét xử phải khách quan tập trung lắng nghe lời khai của các bên, của các nhân chứng… lời phát biểu của luật sư, của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.

* Thủ tục tranh luận tại phiên tòa.

– Sau khi kết thúc việc xét hỏi, nếu không phải hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ việc xét xử thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận.

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bảo vệ quyền, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó lần lượt lập luận về các tình tiết của vụ kiện, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý và đề xuất hướng giải quyết vụ kiện. Nếu Viện kiểm sát khởi tố vụ kiện hoặc cá nhân, tổ chức khởi kiện lợi ích của người khác thì Kiểm sát viên, cá nhân hoặc đại diện của tổ chức đó trình bày ý kiến của mình đầu tiên.

– Trong trường hợp đương sự có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa, trình bày

ý kiến trước thì người đại diện hợp pháp có quyền bổ sung hoặc nếu người đại diện hợp pháp trình bày ý kiến trước thì đương sự được quyền trình bày ý kiến bổ sung.

– Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng thông thường họ chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Tuy nhiên, đối với tình tiết hoặc chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nội dung tranh chấp, Chủ tọa phiên tòa có thể để các bên tranh luận thêm. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ kiện.

– Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển việc tranh luận, để việc tranh luận có chất lượng thì chủ tọa phải xác định những vấn đề mà các bên cần tranh luận với nhau, hướng việc tranh luận vào trọng tâm, vào những điều cần phải làm rõ để xác định sự thật, xác định được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

– Nếu qua tranh luận thấy việc điều tra vụ án chưa toàn diện thì có thể dừng phiên tòa

để điều tra bổ sung, nếu cần thấy phải xem xét thêm vật chứng, xét hỏi thêm thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại giai đoạn xét hỏi và sau đó lại tiếp tục tranh luận.

Tóm lại, quy trình tranh tụng như trên cho thấy thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng tranh tụng, nếu không có thẩm phán tham gia thì không thể có tranh tụng như luật quy định. Đối với các đương sự họ là nhân vật trọng tâm, là chủ thể chính của việc tranh tụng còn thẩm phán giữ vai trò là người tổ chức, điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật và là người trọng tài để đưa ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ, các quy định của pháp luật mà các đương sự đã chứng minh là đúng đắn trong quá trình tranh tụng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2 /2004

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC MUA BÁN TÀI SẢN ĐẤU GIÁ TẠI TRUNG TÂM ĐẤU GIÁ CỦA SỞ TƯ PHÁP

1. Thủ tục gửi bán tài sản đấu giá

Hồ sơ tài sản bán đấu giá gồm có:

1. Các giấy tờ về quyền sở hữu

a. Đối với động sản: giấy chủ quyền xe gắ máy, mô-tô, ô-tô, tàu, thuyền, …; tờ khai hàng hóa nhập khẩu, giấy phép vận hành (đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng).

b. Đối với bất động sản: giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, biên lai nộp thuế trước bạ, biên lai thu tiền sử dụng đất, họa đồ hiện trạng nhà đất.v. v.

2. Bản liệt kê mô tả chi tiết kèm theo tài sản bán đấu giá (theo mẫu).

3. Biên bản định giá tài sản của hội đồng định giá (nếu có).

4. Quyết định bán tài sản (nếu có).

Riêng đối với tài sản của cơ quan thi hành án dân sự còn phải kèm theo các văn bản sau đây:

– Bản án hoặc quyết định của Tòa án kê biên tài sản để thi hành án.

– Quyết định thi hành án.

– Quyết định cưỡng chế thi hành án (nếu có).

– Quyết định kê biên tài sản bán đấu giá của Chấp hành viên.

– Biên bản định giá tài sản.

– Quyết định bán tài sản để thi hành án.

– Quyết định giải tỏa tài sản thế chấp (nếu có).

– Các giấy tờ liên quan khác.

 

2. Thủ tục mua tài sản đấu giá

a. Điều kiện của người tham gia đấu giá

– Cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự (từ 18 tuổi trở lên), không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (theo quy định từ điều 23 đến điều 25 Bộ luật dân sự).

– Tổ chức đủ tư cách pháp nhân (điều 94 Bộ luật ddân sự).

b. Những người sau đây không được tham gia đấu giá:

– Người không có quyền mua tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật.

– Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

– Những người làm việc trong tổ chức bán đấu giá tài sản, cha ,mẹ, vợ, chồng, con của những người đó.

– Những người trực tiếp thực hiện việc giám định tài sản bán đấu giá, cha, mẹ, vợ, chồng, con của những người đó.

c. Thời gian đăng ký tham gia đấu giá

Người muốn tham gia đấu giá tài sản phải đăng ký mua chậm nhất là 2 ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá và phải nộp trước khoản tiền bằng 1% giá khởi điểm. Trong trường hợp mua được tài sản bán đấu giá thì khoản tiền đặt trước được trừ vào tiền mua, nếu không mua được thì khoản tiền đặt trước này được Trung tâm trả lại ngay sau khi cuộc bán đấu giá kết thúc. Người tham gia đấu giá đã nộp tiền đặt trước nhưng sau đó không tham gia đấu giá thì khoản tiền đặt trước đó nộp vào ngân sách Nhà nước (trừ trường hợp bất khả kháng )

d. Tổ chức bán đấu giá

Sau khi hết thời hạn đăng ký mua tài sản đấu giá, tài sản có ít nhất 2 khách hàng đăng ký mua thì Trung tâm sẽ tổ chức bán đấu giá. Quý khách hàng sẽ được Trung tâm gởi giấy mời tham gia đấu giá trong đó quy định rõ thời gian, địa điểm bán đấu giá, và khách hàng phải mang theo số tiền 10% giá khởi điểm để Trung tâm kiểm tra trước khi bán đấu giá và nộp ngay nếu mua được tài sản (để hạn chế khách hàng bỏ mua sau khi đấu giá thành). Cuộc bán đấu giá được tổ chức công khai và khách hàng phải trả từ giá khởi điểm trở lên, người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất.

e. Giao tài sản bán đấu giá cho người mua

Tài sản bán đấu giá sẽ được Trung tâm phối hợp với bên ủy quyền giao cho người mua trong thời hạn 07 ngày sau khi người mua nộp đủ tiền (đối với động sản) hoặc sau 30 ngày (đối với bất động sản) trừ trường phải cưỡng chế thi hành án.

f. Chuyển quyền sở hữu cho người mua

Đối với tài sản phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, Trung tâm làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với động sản là 15 ngày, đối với bất động sản là 30 ngày, trừ trường hợp có sự thoả thuận khác.

3. Thông tin về tài sản bán đấu giá (THÔNG TIN NÀY ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. CÁC BẠN CÓ THỂ HỎI CỤ THỂ TẠI SỞ TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG NƠI BẠN CƯ TRÚ)

Trước khi tiến hành bán đấu giá bảy ngày đối với động sản và ba mươi ngày đối với bất động sản, Trung tâm niêm yết việc bán đấu giá tại trụ sở Trung tâm (19/5 Hoàng Việt, phường 4, quận Tân Bình, điện thoại: 8 119849) và nơi có bất động sản (UBND phường, xã).

Đồng thời với việc niêm yết việc bán đấu giá, Trung tâm thông báo hai lần về việc bán đấu giá mỗi lần cách nhau ba ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hiện nay, việc thông báo công khai được Trung tâm đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng thứ bảy và báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh thứ  hai hàng tuần.

SOURCE: SỞ TƯ PHÁP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NHỮNG LỢI THẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

THS. NGUYỄN THANH BÌNH – Khoa luật Thương mại, trường ĐH Luật TP. HCM

So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay ở nước ta, thì loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần (hình thức pháp lý liên kết các nhà đầu tư, các chủ thể kinh doanh cùng nhau hùn vốn để thành lập và tổ chức vận hành công ty theo những mục đích nhất định) có nhiều lợi thế hơn hẳn. Lợi thế hơn hẳn đó xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lý mà pháp luật qui định và được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập

Pháp luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty. Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo qui định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án. Khi công ty mua sắm các tài sản mới, thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty chứ không thuộc sở hữu của các cổ đông công ty vì lúc này công ty cổ phần là một pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với các cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông không được xem tài sản mà công ty mới mua sắm là tài sản của cá nhân mình; mặc dù trên thực tế cổ đông là chủ sở hữu một số quyền lợi có giá trị của công ty cổ phần như:quyền tham gia quản lý, điều hành công ty theo qui định, quyền được chia cổ tức, quyền được chia tài sản theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể … Tuy nhiên, với tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty.

Các cổ đông trong công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn

Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của công ty cổ phần tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phương thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu của công ty cổ phần, nhưng cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo qui định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty. Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình. Xét về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình. Cả công ty cổ phần lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành. Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nước thì các thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm cá nhân vô hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không.

Như vậy, xuất phát từ sự tồn tại độc lập của công ty cổ phần so với các cổ đông nên công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng, do đó các rủi ro của cổ đông khi đầu tư vào công ty cổ phần chỉ giới hạn trong số lượng giá trị cổ phiếu mà cổ đông đó đầu tư. Ngược lại, khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân thì mức độ rủi ro là vô hạn. Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư đầu tư vào công ty cổ phần nhiều hơn so với đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn. Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hiểu rằng khi mình đầu tư vào công ty cổ phần với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông thì không bao giờ mình bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu tư vào công ty cổ phần nên họ ít sợ rủi ro hơn người đầu tư vốn vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, những người này phải thấp thỏm lo âu khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xấu đi, vì họ có thể mất toàn bộ tài sản bất kỳ khi nào. Chính lợi thế này mà các công ty cổ phần có khả năng huy động rất lớn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình .

Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do

Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều qui định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới. Vì khác với các loại công ty khác, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông. Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là hàng hóa nên các cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng. Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán.

Công ty cổ phần có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt

Công ty cổ phần không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn. Vốn là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực. Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong công ty cổ phần sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty. Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty. Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là yếu tố năng động nhất. Các qui luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển của công ty cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế. Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người. Điều này đặt ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn.

Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi.

Theo các qui định của Luật Doanh nghiệp thì công ty cổ phần ở Việt Nam có thể qui định và phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau như: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi (trong cổ phiếu ưu đãi có: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ưu đãi khác…) và các loại trái phiếu. Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho kinh doanh của công ty. Ngoài ra, khi xây dựng giá trị các cổ phiếu của công ty thì các công ty thường xác lập mệnh giá của cổ phiếu thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu tư dù cho khả năng tài chính không nhiều nhưng vẫn có khả năng tham gia đầu tư vốn vào công ty cổ phần.

Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại

Với các loại hình doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, sự tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu doanh nghiệp hay các thành viên hợp danh; bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết, sự rút lui hay sự khánh tận của chủ doanh nghiệp tư nhân hay của một trong các thành viên hợp danh của công ty. Nhưng đối với công ty cổ phần thì hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể xảy ra đối với các cổ đông trong công ty; bởi vì công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết có xảy ra đối với các cổ đông thì công ty cổ phần vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mà hoàn toàn không hề bị ảnh hưởng gì. Đây chính là một ưu điểm bảo đảm cho việc kinh doanh của công ty diễn ra một cách liên tục và ổn định. Mặt khác, các luật công ty hiện đại của một số nước đều không hạn chế thời gian tồn tại của công ty cổ phần trừ những trường hợp như: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa thuận chấm dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty qui định. Chính sự ổn định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã tạo cho các công ty cổ phần có được sự thu hút mạnh mẽ và được ưa chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác .

Công ty cổ phần có cơ chế quản lý tập trung cao

Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý. Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra Ban giám đốc và Ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty cổ phần. Như vậy, trong công ty cổ phần việc quản lý được tập trung hóa cao vào Ban giám đốc mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông như đối với công ty hợp danh; bởi vì trong công ty hợp danh việc quản lý công ty được thực hiện bởi các thành viên hợp danh với tư cách là những người chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của công ty nên họ được toàn quyền quản lý công ty và nhân danh công ty trong các hoạt động. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở việc luật công ty hiện đại của một số nước còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông của công ty. Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Rõ ràng việc qui định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được công ty thuê làm công tác quản lý, mặt khác tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho công ty cổ phần có được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có qui mô lớn. Khác với doanh nghiệp tư nhân là việc quản lý mang tính chất nội bộ gia đình, công ty cổ phần có một cơ chế quản lý hợp lý, minh bạch rõ ràng.

Tóm lại: Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực. Nhìn lại các loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện và sở thích của mình; nhưng chúng

ta không thể phủ nhận những lợi thế hơn hẳn của loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Chính những ưu điểm vượt trội như thế, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư vào hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty cổ phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam.

VỀ BẢO LÃNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THAM GIA CÁC HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA DỰ ÁN BOT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN THỊ LÁNG – Chi nhánh Văn phòng luật Pricewater house cooper Legal

Một trong những mục tiêu của pháp luật về đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT là phải khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm tối đa hóa tốc độ và phạm vi của dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cho sự phát triển các công trình cơ sở hạ tầng. Để thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT, Nhà nước cần phải có các hình thức khuyến khích và một số hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các dự án BOT. Mức độ và loại hình hỗ trợ của mỗi Chính phủ nước chủ nhà tùy thuộc vào rủi ro có tính quốc gia, tính khả thi của dự án, nhu cầu của Nhà nước đó đối với dự án và vị trí có tính cạnh tranh của nước chủ nhà.

Xuất phát từ nhu cầu trên, Nhà nước ta đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư và cụ thể hóa chúng tại Quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và Hợp đồng xây dựng – chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ (Quy chế BOT). Theo đó các biện pháp khuyến khích đầu tư đối với dự án BOT bao gồm cả những biện pháp tài chính và hành chính. Các biện pháp này tập trung khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực đã được thể hiện trong các danh mục dự án khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư, vào các địa bàn khuyến khích đầu tư.

Một trong những hình thức khuyến khích đầu tư quan trọng nhất đối với các dự án BOT là các hình thức bảo lãnh của Chính phủ. Khác với các dự án đầu tư thông thường khác, các hình thức bảo đảm có tính truyền thống như thế chấp đất đai không được các bên cho vay của một dự án BOT quan tâm tới. Xét trên quan điểm của bên cho vay các công cụ bảo lãnh khác như bảo lãnh gián tiếp đối với doanh thu thông qua hợp đồng bao tiêu dài hạn, theo đó Chính phủ bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ đối với dự án BOT của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bảo đảm của Chính phủ nhằm bảo vệ cho doanh nghiệp BOT tránh khỏi cạnh tranh để bảo đảm nguồn thu theo dự kiến thường là các hình thức hỗ trợ tài chính quan trọng hơn. Các thỏa thuận bảo lãnh phù hợp với tính chất của một dự án BOT thường được quy định trong hợp đồng dự án, hợp đồng mua và hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên cần phải có các quy định pháp luật cụ thể để bảo vệ một cách hợp pháp các hình thức bảo lãnh này, đây là các hình thức có tầm quan trọng đối với sự thành công của dự án BOT. Việc thiếu các điều khoản quy định về bảo vệ và thực hiện các thu xếp bảo lãnh trong hệ thống pháp lý của một quốc gia làm cho các ngân hàng hết sức e ngại khi cho các dự án BOT vay vốn.

Cụ thể hóa các nguyên tắc nói trên các quy định pháp luật hiện hành của chúng ta về đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT đã có nhiều quy định về các bảo đảm và cam kết đầu tư của Chính phủ. Cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác, doanh nghiệp BOT được hưởng các bảo đảm của Nhà nước Việt Nam đối với việc đầu tư của họ. Ngoài những bảo đảm chung của Nhà nước Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư đầu tư theo phương thức BOT còn được hưởng các cam kết đặc biệt của Chính phủ Việt Nam trong việc ủy quyền cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thay mặt Chính phủ bảo lãnh việc thực hiện các cam kết về nghĩa vụ tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án; bảo lãnh các nghĩa vụ của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc bán nguyên liệu, mua sản phẩm hoặc dịch vụ chủ yếu để thực hiện dự án BOT. Đây là một nội dung mới của Quy chế đầu tư BOT năm 1998 nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự án BOT tại Việt Nam.

Bảo lãnh trách nhiệm thanh toán và trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hợp đồng phụ của dự án là một vấn đề quan trọng mà các chủ đầu tư hay nhà tài trợ dự án đều yêu cầu Chính phủ thực hiện. Nhận thức được vấn đề này, Điều 10 Nghị định 62 /1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ quy định trong trường hợp cần thiết Chính phủ Việt Nam có thể ủy quyền cho Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay mặt Chính phủ bảo lãnh việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp Việt Nam. Quy định này nhằm tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến dự có thẩm quyền. Đồng thời đây là bước tiến bộ đáng kể so với Quy chế đầu tư BOT năm 1993 ban hành kèm theo Nghị định 87/CP. Quy chế BOT năm 1993 quy định chỉ cho phép bảo đảm nghĩa vụ tài chính đối với bên Việt Nam như được quy định trong hợp đồng BOT và thậm chí việc bảo đảm đó chỉ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng Việt Nam thực hiện. Theo Nghị định 62 việc bảo đảm đó có thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được Chính phủ ủy quyền thực hiện.

Thực tế cho thấy trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã cấp các bảo lãnh cho một số chủ đầu tư dự án BOT khi họ có yêu cầu. Tuy vậy, liên quan đến vấn đề bảo lãnh của Chính phủ vẫn còn phát sinh rất nhiều vấn đề gay cấn cần phải được nghiên cứu kỹ trong thời gian tới nhằm rút ngắn việc đàm phán các bảo lãnh của Chính phủ và tránh các quy định còn mơ hồ chồng chéo dưới đây:

Thứ nhất về phạm vi của bảo lãnh Chính phủ và các trường hợp bồi thường theo hợp đồng. Việc bảo lãnh của Chính phủ đối với nghĩa vụ thanh toán và trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án được coi là cách thức chia sẻ rủi ro của Chính phủ nước sở tại đối với các dự án BOT, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là luật pháp phải quy định rõ mức độ bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án BOT là đến đâu. Theo quy định của luật pháp Paskistăng, Chính phủ Paskităng bảo đảm thanh toán cho các công ty BOT bất kỳ và tất cả các khoản tiền là nghĩa vụ phải thanh toán cho công ty BOT theo hợp đồng BOT mà tổ chức đó không thanh toán khi đến hạn hoặc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của tổ chức đó theo Bảo hiểm rủi ro mà trong đó nghĩa vụ của Chính phủ Pakistăng sẽ bao gồm cả việc bồi thường bằng tiền.

Ở Việt Nam, mặc dù Quy chế BOT có quy định về việc bảo lãnh của Chính phủ đối với nghĩa vụ thanh toán và các nghĩa vụ khác của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hợp đồng dự án nhưng phạm vi bảo lãnh chưa được quy định rõ ràng. Vì vậy thực tế phát sinh mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà đầu tư trong dự án BOT và Chính phủ Việt Nam trong quá trình đàm phán dự án. Theo cách hiểu của một số người, phạm vi bảo lãnh chỉ thu hẹp trong phạm vi các hợp đồng phụ quan trọng như hợp đồng mua bán các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu của dự án (như hợp đồng mua bán điện, mua bán khí). Nhưng trên thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài đều yêu cầu một phạm vi bảo lãnh rất rộng, bao gồm hầu như tất cả các hợp đồng phụ của dự án như hợp đồng thuê đất, hợp đồng mua nước ký với các Công ty cấp nước của địa phương (đối với các dự án BOT về điện), hợp đồng sử dụng cơ sở hạ tầng…vì họ cho rằng các đối tác Việt Nam tham gia dự án đều là các doanh nghiệp Nhà nước, do vậy trách nhiệm của Chính phủ là phải bảo lãnh cho trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp này. Các trường hợp vi phạm theo hợp đồng phụ này đều được coi là vi phạm của Chính phủ và Chính phủ đều phải có trách nhiệm bồi thường cho doanh nghiệp BOT tùy theo mức độ vi phạm. Vì vậy thực tế này đặt ra là cần phải quy định rõ ràng trong luật pháp về phạm vi bảo lãnh nhằm tránh dồn quá nhiều rủi ro cho Chính phủ đồng thời cũng đảm bảo cho quyền lợi của các nhà đầu tư dự án.

Thứ hai liên quan đến hình thức bảo lãnh của Chính phủ. Mặc dù Nghị định 62 quy định việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thay mặt Chính phủ bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của Doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án trong một số trường hợp đặc biệt như Bộ Công nghiệp bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của Tổng công ty điện lực Việt Nam theo hợp đồng mua bán điện ký với Doanh nghiệp BOT, nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lo ngại rằng Bộ Công nghiệp không có thẩm quyền cấp bảo lãnh vì theo Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công nghiệp không có chức năng cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp cũng như không có chức năng tham gia các giao dịch thương mại. Ngoài ra, họ lo ngại rằng Bộ Công nghiệp không có khả năng thanh toán đối với bảo lãnh cấp cho Doanh nghiệp vì Bộ là cơ quan quản lý Nhà nước và hoạt động trên cơ sở kinh phí do Ngân sách cấp. Theo các quy định về Luật Ngân sách Nhà nước các nhà đầu tư vẫn lo ngại rằng Bộ Tài chính có thể từ chối cấp kinh phí cho Bộ Công nghiệp để thanh toán cho bảo lãnh đã cấp nếu như khoản chi đó không nằm trong dự trù Ngân sách đã được phê duyệt. Như vậy xuất phát từ việc chưa hoàn thiện và đầy đủ của hệ thống pháp luật Việt Nam nên các lo ngại của nhà đầu tư nước ngoài liên quan đến thẩm quyền của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán cho Doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án thể hiện ở chỗ (i) Cơ quan bảo lãnh có thể không có thẩm quyền cấp bảo lãnh; (ii) Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể không có khả năng thanh toán; (iii) Bộ Tài Chính có thể từ chối cấp vốn thanh toán cho bảo lãnh của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, mặc dù có quy định về bảo lãnh của Chính phủ nhưng các nhà đầu tư được cung cấp bảo lãnh cũng không thỏa mãn. Chính phủ không phải là người trực tiếp cấp bảo đảm. Chính phủ uỷ quyền cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cung cấp các bảo đảm đó mà thực tế không phải mọi cơ quan ủy quyền đều được đánh giá ngang nhau dưới đánh giá của các ngân hàng nước ngoài. Một số cơ quan được ủy quyền có liên quan trực tiếp tới tài chính một số cơ quan khác không có được quyền này. Chính vì vậy nhà đầu tư thường tìm cách gần với các quy định có hiệu lực cao nhất càng tốt mặc dù họ hoàn toàn đồng ý với các bảo đảm do Chính phủ trực tiếp cấp. Thực tế cho thấy có dự án tuy đã được UBND địa phương bảo lãnh về tài chính, nhưng chủ đầu tư vẫn yêu cầu Bộ tài chính cấp bảo lãnh lần nữa trong trường hợp UBND không thực hiện được các cam kết. Như vậy phía Việt Nam phải thực hiện bảo lãnh tài chính 2 lần, mất rất nhiều thời gian và nói chung theo các luật sư nước ngoài họ tin tưởng và cho rằng Bộ tài chính cấp bảo lãnh là hợp lý và thuận tiện cho việc thu xếp tài chính sau này hơn.

Thứ ba liên quan đến việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp cấp bảo lãnh trên cơ sở ủy quyền của Chính phủ cũng phát sinh một hạn chế khác là liệu cơ quan được ủy quyền có phải giống với cơ quan ký kết hợp đồng BOT? Trong trường hợp này, xuất hiện một vấn đề là nếu cơ quan được ủy quyền là Ủy ban nhân dân như trong trường hợp dự án Lyonnaise tại TP. Hồ Chí Minh thì những tổ chức đó cũng không được xem là những cơ quan có tài chính theo đánh giá của các nhà cho vay.

Thứ tư hiện nay chưa có quy định những cơ quan được ủy quyền nào có thể bảo lãnh hoặc thực sự thực hiện những bảo đảm đó? Luật Ngân hàng Nhà nước không cho phép Ngân hàng Nhà nước cung cấp bảo lãnh các khoản vay đối với các tổ chức và cá nhân. Nghị định 90 của Chính phủ quy định rằng Bộ tài chính có thể bảo lãnh cho các tổ chức hoặc cá nhân nhưng chỉ đối với các khoản vay nước ngoài. Các Bộ và Ủy ban nhân dân là các cơ quan quản lý hành chính, Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước là các cơ quan quản lý tài chính do vậy không có cơ sở pháp lý rõ ràng (ngoài các hướng dẫn dự án cụ thể) cho các cơ quan được uỷ quyền được cung cấp bảo lãnh. Nhà đầu tư sẽ quan tâm đến khả năng của các cơ quan được uỷ quyền để tìm ra nguồn tài chính để thực hiện các nghĩa vụ được bảo đảm. Các nhà cung cấp vốn và tài trợ dự án của dự án BOT vì vậy thường kết luận rằng Bộ Tài chính là cơ quan duy nhất đáp ứng là nhà bảo lãnh tài chính cấp bộ bảo lãnh nghĩa vụ tài chính.

Ngoài ra, cơ chế thực hiện việc thanh toán bảo lãnh và tiền bồi thường chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hiện đang được các cơ quan liên quan (Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp…) nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ và hiện tại vẫn chưa có những quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề này. Cũng liên quan đến bảo lãnh nêu trên của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu bảo lãnh cần được cụ thể hóa thông qua các dàn xếp theo hợp đồng phù hợp giữa nhà đầu tư và Nhà nước.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ  2/2004

THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
*****
Số: 2662/2007/QĐ-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******Huế, ngày 03 tháng 12 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký;
Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số: 518/TTr-TN&MT-ĐK ngày 20 tháng 11 năm 2007
,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về thủ tục thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1108/2006/QĐ-UBND ngày 26 tháng 04 năm 2006 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh ban hành Quy định về thủ tục thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh; Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp, Tài chính, Xây dựng; Cục trưởng Cục Thuế; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Huế và các huyện; Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và người sử dụng đất chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
– Như Điều 3;
– Bộ Tài nguyên và Môi trường (b/c);
– TVTU; TT HĐND tỉnh;
– Đoàn ĐBQH tỉnh; UBMTTQ VN tỉnh;
– Cục Kiểm tra VBQPPL-Bộ Tư pháp;
– CT và các PCT UBND tỉnh;
– Các sở, ban, ngành thuộc tỉnh;
– Viện KSND tỉnh; TAND tỉnh;
– Thanh tra tỉnh;
– Báo TT Huế, Đài PTTH tỉnh;
– VP: CVP và PCVP Mai Hùng Tuân,
Trung tâm Công báo; CV:TH,KNTC;
– Lưu: VT,NĐ.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Thúy Hòa

QUY ĐỊNH

VỀ THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2662/2007/QĐ-UBND ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quy định này được áp dụng cho những hộ gia đình, cá nhân được hưởng quyền thừa kế về quyền sử dụng đất ở theo pháp luật nhưng những người được hưởng thừa kế không tự phân chia được di sản hoặc được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất chưa chia thuộc quyền sử dụng chung của những người thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh.

Giấy chứng nhận trong trường hợp người nhận thừa kế quyền sử dụng đất là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ.

Điều 2. Về xác định những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật

Việc xác định số người được thừa kế quyền sử dụng đất ở theo quy định tại Bộ Luật Dân sự phải do một trong số những người đồng thừa kế đứng ra khai báo hàng thừa kế và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung khai báo. Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật được lập theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Quy định này và có xác nhận của Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn (cấp xã) nơi có đất là di sản thừa kế.

Điều 3. Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Sau khi người đại diện thừa kế đã lập Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật và được Uỷ ban Nhân dân cấp xã xác nhận theo quy định tại Điều 2 Quy định này thì tiến hành lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành và nộp tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp huyện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 4. Việc ghi tên những người đồng thừa kế trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tất cả những người đồng thừa kế có tên trong Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật đều được ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Trường hợp đã xác định được đầy đủ tất cả số người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật:

Nếu tại Mục I trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ chỗ để ghi tên của tất cả những người sử dụng chung thửa đất thì giấy chứng nhận chỉ ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đã đứng ra lập Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật, tiếp theo ghi “cùng với những người sử dụng đất có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; thông tin về những người sử dụng đất còn lại phải được in hoặc viết vào trang phụ “Danh sách những người sử dụng chung thửa đất” theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Trang phụ sau khi lập được đóng dấu giáp lai với trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dấu giáp lai của Uỷ ban Nhân dân huyện, thành phố Huế). Tại khoản 5, Mục II của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ghi toàn bộ diện tích thửa đất đó vào mục hình thức “Sử dụng chung” và ghi “không” vào mục “Sử dụng riêng”.

2. Trường hợp chưa xác định được đầy đủ những người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật:

Trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất mà có nhiều người được thừa kế theo pháp luật nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa xác định được đầy đủ những người đó thì cấp một (01) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích để thừa kế. Việc cử người đại diện ghi tên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải bằng văn bản thỏa thuận của những người được thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật đã xác định được có chứng thực của Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc chứng nhận của Công chứng Nhà nước. Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “Người đại diện là”, sau đó ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đại diện, tiếp theo ghi “cùng với những người nhận thừa kế có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; lập danh sách những người khác được nhận thừa kế quyền sử dụng theo pháp luật đã được xác định, cuối danh sách được ghi “và một số người thừa kế khác chưa được xác định”; danh sách những người được nhận thừa kế đã được xác định lập theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Tại mục IV (phần ghi chú) của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi: “Chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”.

3. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trường hợp xác định được thêm người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật thì người đã đứng ra lập Tờ khai khai bổ sung những người thừa kế theo pháp luật, để được ghi bổ sung vào danh sách kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, 2 Điều này

4. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng chung thửa đất đã phân chia được di sản theo quy định tại Điều 5 Quy định này; thì người được hưởng di sản về thừa kế quyền sử dụng đất lập thủ tục để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp huyện.

Điều 5. Trường hợp các đồng thừa kế tự thoả thuận được việc phân chia di sản nhà, đất

Khi những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất có nhu cầu phân chia thừa kế quyền sử dụng đất và các đồng thừa kế tự thoả thuận được việc phân chia di sản nhà, đất; nhận thừa kế quyền sử dụng đất trong trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất thì được lựa chọn hình thức công chứng tại các Phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất; sau đó lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được thừa kế tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ đất đai của cấp huyện.

Điều 6. Trách nhiệm thi hành

1. Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quy định này.

2. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Huế và các huyện chỉ đạo  các phòng ban chuyên môn và Uỷ ban Nhân dân các xã, phường, thị trấn thực hiện Quy định này.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị các địa phương phản ánh về Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp để báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo giải quyết./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Thúy Hòa

VÀI NÉT VỀ CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY THEO LUẬT CÔNG TY CỦA ÚC

THS. BÙI XUĀN HẢI   –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, NCS ĐH La Trobe Úc

1. Luật công ty (company law) của Úc, một quốc gia theo truyền thống thông luật, được hiểu là hệ thống các qui tắc pháp lý điều chỉnh về: (1) việc thành lập, chấm dứt hoạt động của các công ty và địa vị pháp lý của chúng; (2) mối quan hệ giữa các chủ thể -thành viên, người quản lý điều hành – trong công ty với nhau và giữa chúng với công ty; (3) một số vấn đề pháp lý của mối quan hệ giữa công ty với các đối tác bên ngoài công ty như khách hàng, chủ nợ…1. Luật công ty của Úc gồm có hai nguồn cơ bản là: (1) các văn bản pháp luật (legislations), trong đó có đạo luật công ty (the Corporations Act 2001) và các qui định về công ty (the Corporations Regulations) 2…vv; và (2) các án lệ (case law)- nguồn luật đặc trưng của các quốc gia theo truyền thống common law. Do các yếu tố lịch sử, các án lệ được coi là nguồn luật của luật công ty Úc không chỉ là án lệ của các Tòa án Úc mà còn bao gồm cả các án lệ của Tòa án nước Anh. Tuy nhiên, Đạo luật công ty

(Corporations Act 2001) được coi là có vị trí đặc biệt quan trọng, là xương sống của luật công ty Úc hiện nay.

2. Về các loại hình công ty

Việc phân loại các công ty theo luật công ty Úc chỉ có ý nghĩa chủ yếu trong việc xác định trách nhiệm của các thành viên công ty và vấn đề có hay không việc công ty huy động vốn từ công chúng qua việc phát hành cổ phiếu. Ngoài những vấn đề kể trên, hầu hết các qui định của luật thành văn (statutory law) và luật án lệ (case law) đều được áp dụng chung cho tất cả các loại hình công ty.

Theo Điều 112 (1) của Đạo luật công ty 2001, các nhà đầu tư có quyền đăng ký thành lập công ty tại Úc theo các hình thức dưới đây:

1. Công ty sở hữu chủ (proprietary company) 3. Loại công ty này gồm có hai hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares) và công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital)

2. Công ty công cộng (public company). Loại công ty này gồm có bốn hình thức sau đây: (1) Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares), (2) công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee), (3) công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital), và (4) công ty không trách nhiệm (no liability company).

2.1. Công ty công cộng và công ty sở hữu chủ

Theo luật Úc, các công ty đều được công nhận là pháp nhân (a separate legal entity), chỉ cần có ít nhất là một thành viên (có thể là thể nhân hoặc pháp nhân) và chúng phải đăng ký dưới hình thức là công ty công cộng hoặc công ty sở hữu chủ. Đạo luật công ty 2001 tuy có qui định cụ thể về các dấu hiệu pháp lý của công ty sở hữu chủ (Điều 113), nhưng không cần có các qui định trực tiếp về dấu hiệu của công ty công cộng. Theo Điều 113 (2) thì công ty sở hữu chủ không được có nhiều hơn 50 thành viên không phải là người lao động của công ty (non-employee shareholders), trong khi đó, các công ty công cộng thì không bị hạn chế số lượng thành viên. Trong thực tế, hầu hết các công ty sở hữu chủ được cơ quan thuế Úc (Australia Taxation Office) xếp vào loại kinh doanh nhỏ (small business), chúng có số lượng thành viên ít và họ thường có mối quan hệ gia đình với nhau. Về bộ máy quản lý Điều hành, nếu như công ty sở hữu chủ chỉ cần phải có ít nhất một giám đốc (director) và không bắt buộc phải có thư ký công ty (secretary), thì các công ty công cộng phải có ít nhất ba giám đốc và ít nhất một thư ký công ty 4. Hơn nữa, chỉ có công ty công cộng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, và vì thế chúng phải tuân thủ thêm một số các qui định của pháp luật công ty và chứng khoán nhằm mục đích bảo vệ các cổ đông công chúng cũng như hoạt động lành mạnh của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, cũng giống như các công ty cổ phần ở Việt nam, không phải tất cả các công ty công cộng của Úc đều có cổ phiếu niêm yết ở thị trường chứng khoán. Đến giữa năm 2003, trong tổng số trên 20 ngàn công ty công cộng, chỉ có khoảng 1400 công ty niêm yết cổ phiếu của mình tại thị trường chứng khoán mà thôi 5.

Do khác nhau về bản chất cho nên mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với các công ty sở hữu chủ được giảm nhẹ đi rất nhiều so với các công ty công cộng. Chẳng hạn, khác với công ty công cộng, các công ty sở hữu chủ thường không phải nộp báo cáo tài chính hàng năm, có thể không cần triệu tập họp đại hội đồng cổ đông thường niên, không cần phải mở cửa văn phòng công ty hàng ngày, bộ máy quản lý điều hành đơn giản hơn… Với các lợi thế của mình, mô hình công ty sở hữu chủ được coi là rất thích hợp cho qui mô kinh doanh vừa và nhỏ. Vì vậy, có tới 97% trong tổng số gần 1,3 triệu công ty (thời điểm giữa năm 2003) ở quốc gia chỉ có khoảng 20 triệu dân này là các công ty sở hữu chủ 6.

2.3. Bốn loại hình công ty theo chế độ trách nhiệm của thành viên

Việc phân loại công ty theo chế độ trách nhiệm của các thành viên cũng đã được thể hiện trong Điều 112 (1) của Đạo luật công ty 2001. Cho dù là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ thì tất cả đều phải đăng ký dưới một trong bốn hình thức công ty dưới đây (tuy nhiên nếu là công ty sở hữu chủ thì chỉ có thể là công ty TNHH (bởi) cổ phiếu hoặc công ty trách nhiệm vô hạn):

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee),

3. Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital),

4. Công ty không trách nhiệm (no-liability company)7.

a. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)

Có thể khẳng định chắc chắn rằng, đây là loại hình công ty có vị trí tuyệt đối trong nền kinh tế Úc (với số lượng trên 1, 2 triệu, chiếm tới khoảng 98% tổng số các công ty). Công ty TNHH bởi cổ phiếu có thể đăng ký dưới hình thức là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ, chúng phải có vốn cổ phần, cổ phiếu của công ty được coi là tài sản riêng của mỗi thành viên và chúng được tự do chuyển nhượng. Theo qui định tại Điều 9 và Điều 516 của Đạo luật công ty 2001 thì công ty TNHH bởi cổ phiếu là công ty được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là có giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn chưa góp (nếu có) trên các cổ phiếu mà họ nắm giữ 8. Khi công ty bị mất khả năng thanh toán, các thành viên của công ty không có nghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình để trả các khoản nợ của công ty.

b. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee),

Mô hình công ty này đã tồn tại khá lâu ở Anh, Úc và cả ở Malaysia, Hongkong 9. Tuy nhiên, các công ty loại này chỉ chiếm khoảng 1% tổng số các công ty ở Úc. Trước đây, Úc cho đăng ký cả loại hình công ty TNHH bởi sự bảo đảm và cổ phiếu (companies limited both by shares and by guarantee), nhưng theo Đạo luật công ty 2001 thì chúng đã không còn được cho đăng ký thành lập nữa. Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, công ty TNHH bởi sự bảo đảm không có vốn cổ phần (share capital) và chỉ có thể đăng ký dưới hình thức công ty công cộng chứ không thể là công ty sở hữu chủ. Vì thế, cho dù có qui mô nhỏ, loại công ty này vẫn không được hưỡng sự ưu ái “giảm nhẹ” nghĩa vụ mà pháp luật dành cho các công ty sở hữu chủ trong sự so sánh với nghĩa vụ của các công ty công cộng.

Theo Điều 9 của Đạo luật công ty 2001, công ty TNHH bởi sự bảo đảm là công ty được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là hữu hạn trong phạm vi số vốn mà thành viên đó đã cam kết đóng góp vào tài sản của công ty khi công ty bị thanh lý (chấm dứt hoạt động). Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, các thành viên của công ty TNHH bởi sự bảo đảm không phải đóng góp vốn ngay khi công ty được thành lập và cả trong quá trình công ty đang hoạt động, cho nên công ty này không có vốn cổ phần và do vậy, rất khó khăn trong việc huy động vốn từ đó nó bị hạn chế tham gia các hoạt động kinh doanh. Chính vì lẽ đó, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh thương mại; song, chúng thích hợp cho các mục tiêu phi lợi nhuận như các trường học hay câu lạc bộ, các hội từ thiện, … mà chủ yếu hoạt động bằng nguồn vốn từ bên ngoài bởi sự đóng góp của các hoạt động mang tính xã hội10.

Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, thành viên của công ty này chỉ có nghĩa vụ đóng góp tài sản (vốn) khi mà công ty bị thanh lý, chấm dứt hoạt động (winding up), tuy nhiên nghĩa vụ đóng góp của mỗi thành viên cũng chỉ là hữu hạn trong phạm vi mà họ đã cam kết bảo đảm (guarantee) mà thôi11. Bởi thế cho nên, khi công ty TNHH bởi sự bảo đảm không có khả năng trả nợ, nếu muốn thu hồi nợ, các chủ nợ của công ty cần phải làm thủ tục để yêu cầu thanh lý công ty, bởi vì chỉ bằng cách thanh lý công ty các thành viên của loại công ty này mới bị bắt buộc phải góp vốn (tài sản) cho dù chỉ là hữu hạn trong phạm vi mà họ đã cam kết vào tài sản của công ty.

c. Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with share capital)

Chỉ có khoảng vài trăm công ty loại này ở Úc, chúng được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty12. Trước năm 1998, Úc cho đăng ký thành lập đối với cả các công ty trách nhiệm vô hạn không có vốn cổ phần, nhưng sau đó nước này chỉ cho đăng ký loại công ty này nếu chúng có vốn cổ phần (share capital) mà thôi. Công ty trách nhiệm vô hạn có thể đăng ký dưới hình thức công ty sở hữu chủ hoặc công ty công cộng.

Theo Luật công ty Úc, mặc dù tất cả các công ty đều được coi là pháp nhân, nhưng điều đó không có nghĩa là các nghĩa vụ của pháp nhân chỉ được thanh toán bằng tài sản riêng của chính nó, cũng không có nghĩa là các thành viên của pháp nhân đều được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Thế nhưng, cần phải hiểu rằng, theo luật công ty Úc, chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên công ty phải được hiểu là đối với công ty chứ không phải đối với các chủ nợ của công ty. Vì thế các chủ nợ của loại công ty này không có quyền trực tiếp khởi kiện đòi các thành viên phải thanh toán số nợ mà công ty của họ không trả được trong khi công ty đó còn đang hoạt động. Do vậy, để thu hồi nợ các chủ nợ của công ty sẽ phải tiến hành thủ tục đòi thanh lý công ty, khi tiến hành thanh lý công ty thì các nguyên tắc pháp lý về trách nhiệm vô hạn của thành viên sẽ được áp dụng, nếu

tài sản của công ty không đủ đáp ứng việc thanh toán cho các chủ nợ, thì mỗi thành viên công ty sẽ phải chịu trách nhiệm không có giới hạn về các nghĩa vụ của công ty 13. Đặc điểm này tương đối giống với chế độ trách nhiệm vô hạn của các thành viên trong hợp danh, tuy nhiên, hợp danh theo pháp luật của các bang ở Úc có một số điểm bất lợi hơn trong kinh doanh so với mô hình công ty trách nhiệm vô hạn.

Với chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên như thế, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh thương mại và hoạt động kinh doanh có qui mô lớn. Một số lĩnh vực hoạt động kinh doanh mang tính nghề nghiệp đặc thù mà pháp luật yêu cầu các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn, người ta thường thành lập công ty trách nhiệm vô hạn hơn là kinh doanh theo hình thức hợp danh bởi vì họ muốn có được những lợi ích của mô hình công ty như về tư cách pháp nhân, thuế, huy động vốn … trong sự so sánh với hợp danh 14

d. Công ty không trách nhiệm (No liability company)

Đây là mô hình công ty khá đặc biệt, nó được công nhận lần đầu tiên tại bang Victoria vào năm 1871 và gắn liền với sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp khai thác mỏ ở Úc. Nói đến công ty không trách nhiệm, người Úc biết ngay đến lĩnh vực kinh doanh của nó là ngành khai thác mỏ. Theo qui định tại Điều 112 (2), Đạo luật công ty 2001, một công ty được đăng ký dưới hình thức công ty không trách nhiệm nếu như: (1)

nó có vốn cổ phần; (2) Điều lệ của công ty khẳng định rằng đối tượng duy nhất của nó là mục đích khai thác mỏ (mining purposes)15, và (3) Điều lệ của công ty không có qui định về việc công ty có quyền đòi hỏi các cổ đông phải góp đủ tiền trên các cổ phiếu mà họ chưa nộp đủ.

Để cảnh báo công chúng, pháp luật qui định ở phần cuối của tên công ty phải ghi rõ chữ no liability hay NL. Luật công ty Úc qui định loại hình công ty không trách nhiệm chỉ có thể đăng ký dưới hình thức công ty công cộng chứ không thể là công ty sở hữu chủ. Chế độ trách nhiệm của thành viên công ty không trách nhiệm chủ yếu thể hiện qua việc góp vốn cổ phần, phân chia giá trị còn lại của công ty và giới hạn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ của công ty. Khác với các loại hình công ty đã nói ở trên, sự chấp nhận góp vốn vào công ty này không tạo nên quan hệ hợp đồng giữa người cam kết góp vốn và công ty trong việc đóng góp số vốn đó hay chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công ty (Điều 254M(2) Đạo luật công ty).

Thành viên công ty không có nghĩa vụ pháp lý phải thanh toán (góp) vốn cổ phần trên cổ phiếu của họ theo yêu cầu của công ty ngay cả khi công ty đang hoạt động và kể cả khi công ty bị thanh lý. Tuy nhiên, trong thời gian mà thành viên chưa nộp đủ tiền cổ phiếu, họ sẽ không có quyền được hưởng cổ tức và nếu yêu cầu góp vốn không được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì các cổ phiếu đó sẽ bị mất quyền, khi đó công ty có thể tổ chức bán đấu giá công khai số cổ phiếu này trong thời hạn sáu tuần kể từ khi cổ phiếu đến thời hạn được thanh toán (Điều 254Q(2) ). Tuy vậy, luật vẫn cho phép người có cổ phiếu bị mất quyền được nộp tiền để chuộc lại số cổ phiếu đó bao gồm tiền cổ phiếu và các chi phí khác liên quan (Điều 254R(1)). Nếu thành viên công ty không kịp thời thanh tóan đủ tiền thì họ sẽ bị mất các lợi ích có được của các cổ phiếu đó.

Khi công ty không trách nhiệm chấm dứt hoạt động, gía trị còn lại sau khi thanh toán xong các khoản nợ của công ty sẽ được phân chia cho các cổ đông theo số lượng cổ phiếu mà họ đang nắm giữ mà không quan tâm đến số tiền mà họ đã thanh toán trên cổ phiếu, tuy nhiên những cổ phiếu mà chưa được cổ đông thanh toán đủ (nhưng chưa bị mất quyền) sẽ chưa được phân chia cho đến khi nào họ thanh toán đủ số tiền còn chưa đóng đủ (Điều 254 B (2)).

Mặc dù nhà đầu tư phải lựa chọn để đăng ký thành lập một trong số các loại công ty nói trên, nhưng trong quá trình hoạt động các công ty đều có thể làm thủ tục chuyển đổi loại hình khá dễ dàng, chẳng hạn từ một công ty sở hữu chủ thành công ty công cộng và ngược lại, cũng như từ một công ty trách nhiệm vô hạn sang công ty có chế độ TNHH (Điều 162). Tuy nhiên, các công ty chuyển đổi phải đáp ứng một số điều kiện nhất định và làm thủ tục đăng ký với văn phòng của Ủy ban chứng khoán và đđầu tư Úc (ASIC) (Điều 164). Bên cạnh sự chuyển đổi tự nguyện như trên, luật công ty Úc cũng có qui định  về việc ASIC có quyền yêu cầu một công ty sở hữu chủ buộc phải chuyển đổi thành công ty công cộng (và sau đó ASIC có thể tự quyết định việc chuyển đổi nếu công ty bị yêu cầu không thực hiện trong một thời hạn nhất định) nếu nó không còn thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc của một công ty sở hữu chủ theo Điều 113 của đạo luật công ty.16

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem H. Pamela, R. Ian & S. Geof. Commercial Applicatoin of Company Law, 5th ed, CCH Australia Limiter, Sydney, 2004, Sđd., tr. 23.

2 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd , tr. 26, 35.

3 Theo Từ điển pháp luật – Black’s Law Dictionary, do West Group xuất bản năm 2001 (tr. 565) và Oxford Advanced Learner’s Dictionary xuất bản 2000 (tr. 1017) thì có thể tạm dịch là công ty sở hữu chủ. Tuy nhiên proprietary company cũng tương đồng với private company của Anh hay close corporation trong pháp luật Hoa Kỳ. Các công ty sở hữu chủ ở Úc cũng được luật công ty chia thành hai loại: loại lớn (large proprietary company) và loại nhỏ (small proprietary company); nếu là công ty loại lớn thì sẽ phải thực hiện nhiều hơn một số nghĩa vụ so với công ty loại nhỏ (chủ yếu là về báo cáo tài chính và kiểm toán).

4 Luật công ty Úc qui định các công ty có nhiều giám đốc (directors) và vai trò của mỗi giám đốc có thể khác nhau. Thư ký công ty (secretary) không có trong thực tiễn cũng như trong luật thực định của Việt Nam. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng, thư ký công ty khác hoàn toàn với thư ký Giám đốc (Tổng giám đốc) có thể có trong các công ty ở nước ta.

5 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd , tr. 7 & 92.

6 Số liệu của Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia (Uc Securities and Investments Commission) Annual Report 2002-2003,tr . 66. Đây chỉ là số liệu thống kê các công ty, không bao gồm các chủ thể kinh doanh khác như kinh doanh cá thể (sole trader), hợp danh (partnership), liên doanh (joint venture), …vv. Trong khi đó, nước ta với dân số khoảng 82 triệu, mặc dù đã có sự tăng lên rất nhanh từ khi có Luật doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp của Việt nam cũng chỉ khoảng 150 ngàn đã phần nào phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường ở mỗi nước.

7 Ba loại công ty đầu tiên cũng là những loại hình công ty được công nhận ở trong luật công ty của nhiều nước như: Anh, Hongkong, Malaysia. Xem thêm: L.D. Paul. Gower and Davies’ Principles of Modern Company Law (7th ed), Thomson, Sweet & Maxwell, London, 2003, pp.7-9, 16; và K. Arjunan & Low. C.K. Lipton & Herzberg Understanding Company Law in Malaysia, LBC Information Services, Sydney, 1995, pp. 30-42; và K. Arjunan & Low. C.K. Lipton & Herzberg Understanding Company Law in Hongkong, LBC Information Services, Sydney, 1996, tr .29-36.

8 Australia Corporations And Securities Legislation- Vol 1, CCH Sydney, 2004.

9 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd, tr. 92.

10 Xem L. Phillip & H. Abe, Understanding Company Law, Lawbook Co, Sydney,2004, tr. 65-66

11 Điều 517, Đạo luật công ty 2001.

12 Điều 9, Đạo luật công ty 2001.

13 L. Paul, Sđd, tr. 667.

14 S. Brendan & O. Jennifer. Law In Commerce, Butterworths, Sydney, 2001, p. 300 and L. Phillip & H. Abe, Sđd, tr. 66.

15 Mining purposes đã được định nghĩa khá cụ thể tại Điều 9 của Đạo luật công ty 2001.

16 Xem thêm điều 165 đạo luật công ty 2001.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

VÀI KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC MÔN LUẬT DÂN SỰ THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN

THS. PHẠM KIM ANH  – Khoa luật Dân sự, trường ĐH Luật TP.HCM

1. Trước những đòi hỏi bức bách của xã hội về nguồn nhân lực có trình độ cao, có đủ năng lực để giải quyết những vấn đề ngày càng phức tạp trong thực tiễn, việc đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành một tất yếu. Một trong những phương pháp dạy – học mới (song song tồn tại với các phương pháp dạy học khác như: phương pháp trắc quan, phương pháp tình huống, phương pháp thảo luận, tranh luận, phương pháp sắm vai… mà chúng tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác) được các chuyên gia giáo dục, các nhà giáo lão thành trong ngành đánh giá cao, được thực tiễn khẳng định là đã phát huy được nhiều thế mạnh trong việc đào tạo là phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, hướng vào sinh viên. Lấy việc tập trung vào hoạt động của sinh viên làm nền tảng, những nét đổi mới cơ bản của phương pháp này hướng vào hai nhân vật với một số đòi hỏi riêng trong quá trình dạy và học.

– Giáo viên: trong giờ học, người giáo viên không thuyết giảng như trước đây mà chỉ đóng vai trò là người dẫn dắt, định hướng, gợi mở vấn đề (và khi cần có thể chỉ ra cách giải quyết vấn đề khuôn mẫu). Ở đây, tùy theo từng tình huống cụ thể mà thầy cô giáo là người hướng dẫn sinh viên học tập, trao đổi với sinh viên, giải đáp những thắc mắc cuả sinh viên về những kiến thức đề cập trong bài học, hoặc là người khuyến khích sinh viên sáng tạo, tự bổ sung cho bài đã học bằng vốn tri thức tiếp thu từ các nguồn khác nhau như sách vở, báo chí, đời sống… Đối với những ý kiến, những bài viết, bài vấn đáp sáng tạo, có nhiều ý tưởng mới của sinh viên, thầy cô giáo nên đưa ra lời khen ngợi hay khuyến khích bằng cách cho điểm cao…

Sinh viên: phải là người chủ động tự học, tự chuẩn bị bài từ trước, năng động, sáng tạo trong giờ học tại lớp, biết phát huy vốn kiến thức của mình để xây dựng bài học mới; mạnh dạn nêu những thắc mắc hoặc trao đổi mở rộng bài học với thầy cô giáo, chủ động

nêu ý kiến cá nhân trong khi tìm hiểu hoặc học bài xong, biết vận dụng các vấn đề từ bài học vào những trường hợp tương tự…

Những phần việc kể trên không chỉ khiến cho sinh viên trở thành nhân vật trung tâm trong lớp học mà còn tạo cho sinh viên có cơ hội để hoàn toàn chủ động trong suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện vấn đề từ bài học thông qua sự dẫn dắt của các thầy cô giáo; từ đó sinh viên có khả năng làm chủ các kiến thức thu nhận được trong nhà trường, biết vận dụng chúng một cách linh hoạt vào cuộc sống, công tác sau này. Còn đối với các thầy cô giáo, thông qua cách dạy trên, vừa cung cấp cho sinh viên những tri thức nền tảng vừa giúp họ

có khả năng tư duy, có năng lực hành động năng động và mạnh mẽ. Theo logic này, muốn biến quá trình học tập của sinh viên thành quá trình tự tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh tri thức mới, người giáo viên phải biết tổ chức điều khiển sinh viên thực sự tham gia vào hoạt động học tập.

2. Xuất phát từ nội dung, mục tiêu và đặc trưng của môn học mà mình đảm trách, theo nhận thức trên, tại Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã mạnh dạn vận dụng phương pháp dạy – học theo hướng tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm vào môn học Luật dân sự.

Như chúng ta đã biết, môn học Luật dân sự được chia ra làm hai phần cơ bản, thời lượng giảng dạy khoảng 150 tiết. Phần chung bao gồm các qui phạm pháp luật qui định những vấn đề có tính nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ hệ thống luật dân sự như: đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, nhiệm vụ, nguyên tắc, chủ thể, khách thể của quan

hệ pháp luật dân sự, giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn và thời hiệu… Phần riêng dựa vào tính chất của các quan hệ xã hội được điều chỉnh mà chia thành các chế định thích ứng như: chế định quyền sở hữu, chế định nghĩa vụ – hợp đồng, chế định quyền thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ. Trong từng chế định riêng nói trên lại có những qui định chung cho riêng phần đó. Trong thực tế, chúng ta đều hiểu rõ, môn học Luật dân sự được xây dựng trên cơ sở ngành luật nhưng không trùng với ngành luật này; vì vậy việc phải xây dựng chương trình môn học như thế nào, bằng cách nào, phải có phương pháp giảng dạy sao cho đúng đây là một bộ môn khoa học pháp lý (chứ không phải chỉ là giảng văn bản pháp luật) là vấn đề chúng tôi rất quan tâm.

3. Trong quá trình dạy môn học Luật dân sự ở trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tích cực, chúng tôi đã bước đầu hướng tới một số công việc cụ thể trong nhận thức và hành động dưới đây.

3.1. Chúng tôi cho rằng, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, về nguyên tắc phải có một chiến lược đồng bộ từ những vấn đề ở tầm vĩ mô đến những vấn đề cụ thể như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học… Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực chỉ là một bộ phận của chiến lược đó. Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp,

nhằm khắc phục những bất cập như: chương trình, sách giáo khoa, phương tiện dạy học,

cơ sở vật chất… chưa đáp ứng được việc đổi mới đồng bộ, chúng tôi xác định rõ phương châm của việc đổi mới phương pháp dạy học môn học Luật dân sự theo hướng trên chỉ mới đạt ở mức tạo điều kiện để sinh viên được suy nghĩ nhiều hơn, nói nhiều hơn, làm nhiều hơn, hạn chế tới tối đa việc sử dụng phương pháp dạy học truyền thống với cách dạy chủ đạo thầy giảng, sinh viên nghe và ghi chép.

Muốn đáp ứng được yêu cầu trên, trong quá trình dạy học, người giáo viên phải tạo ra được sự tác động qua lại giữa vốn kinh nghiệm đã có của sinh viên với các vấn đề pháp luật mà bài học đặt ra. Người giáo viên phải bằng mọi cách huy động và sử dụng tối đa vốn kinh nghiệm đã có của sinh viên trong việc vận dụng luật để giải thích, xử lý, đánh giá các tình huống pháp luật, phán đoán và lựa chọn những hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực pháp luật. Bên cạnh đó, người giáo viên cũng phải đưa ra được các bài tập tình huống về các vấn đề tranh chấp dân sự… để sinh viên tập giải quyết theo vốn tri thức và kinh nghiệm mà bản thân sinh viên tích lũy được trong quá trình tự nghiên cứu giáo trình luật và tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật. Cách dạy học như vậy sẽ tạo cơ hội để các em kiểm chứng, trắc nghiệm vốn hiểu biết trong quá trình tự học cũng như vốn kinh nghiệm của mình trong cuộc sống. Ở đây, tính độc lập, năng động, tự giác trong việc chiếm lĩnh tri thức mới, khắc sâu những tri thức pháp luật đã học của sinh viên sẽ có

cơ hội phát huy ở mức độ cao hơn.

3.2. Chúng tôi cũng rất chú trọng tới việc đưa ra những tình huống, những vấn đề điển hình, chứa đựng nhiều mâu thuẫn và có thể có nhiều hướng giải quyết khác nhau trong bài học trên lớp. Đây là một trong những đặc trưng chủ yếu của giờ học đổi mới theo hướng tích cực. Đặc trưng này giữ vai trò chủ đạo trong dạy học tích cực vì, theo quy luật chung, “tư duy chỉ bắt đầu khi và ở nơi xuất hiện tình huống có vấn đề”. Tình huống của những vấn đề độc đáo mà bài học đặt ra không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với việc thu hút trí tuệ, tình cảm, suy nghĩ, kích thích các em suy nghĩ, giải thích, phân tích phán đoán mà còn là cơ sở giúp các em lựa chọn được những phương án giải quyết tốt nhất, đáp ứng được yêu cầu áp dụng luật vào những tình huống tương tự trong tương lai. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, những tình huống có vấn đề được nêu trong bài học mà giáo viên chủ động lựa chọn từ trước phải là những tình huống chứa vấn đề điển hình, đòi hỏi sinh viên phải huy động toàn bộ năng lực sẵn có, phải cố gắng đạt tới một trình độ kinh nghiệm pháp luật cao mới giải quyết được chúng. Có thể nói, học và thảo luận qua những tình huống có chứa vấn đề cao là một trong những cách tốt nhất giúp sinh viên trưởng thành nhanh chóng ở nhiều mặt.

3.3. Chúng tôi còn đưa ra chủ trương và thực hiện thường xuyên việc khuyến khích sinh viên thể hiện quan điểm lập trường riêng về một vấn đề pháp luật trong giờ học. Những

quan điểm ấy phải được các em thể hiện bằng những ý kiến cụ thể, theo cách hiểu và diễn đạt riêng của mình. Vấn đề không phải ở chỗ sinh viên đồng ý hay không đồng ý, tán thành hay không tán thành, đúng hay sai mà là ở chỗ ý kiến của sinh viên phải có sự phân tích, giải thích, lập luận rõ ràng, khúc chiết, được công khai tranh luận, qua đó làm

lộ rõ được mục đích bảo vệ quan điểm lập trường riêng của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, cho

dù đây chỉ là giả định nhưng các ý kiến riêng của sinh viên vẫn phải nằm trong và phù hợp với các qui định của pháp luật. Chính sự lý giải, tranh luận giữa các ý kiến đó sẽ là

cơ sở làm cho sinh viên hiểu kỹ, hiểu sâu và lĩnh hội tốt tri thức hơn. Nếu việc làm này được tiến hành thường xuyên hơn, có kết quả tốt hơn, chúng ta sẽ tạo ra cho xã hội một lớp trí thức ngành luật kế cận vừa có bản lĩnh, có quan điểm lập trường vững vàng vừa có tinh thần dân chủ cao trong thực tiễn hoạt động pháp luật.

3.4. Để kết hợp và phát huy tối đa những điều nói trên, chúng tôi thấy không thể không duy trì, phát triển không ngừng mối quan hệ giao tiếp sư phạm thân thiện, dân chủ, bình đẳng, tự nguyện giữa giáo viên và sinh viên. Trong giờ học tích cực, giáo viên với vai trò

là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, gợi mở tạo điều kiện để học sinh bộc lộ và trao đổi ý kiến của mình, sao cho mọi ý kiến đều được đưa ra xem xét, tranh luận công khai một cách tự nhiên, cởi mở. Muốn làm được những điều trên, sinh viên phải có một bước chuẩn bị rất công phu ở nhà, phải tự nghiên cứu tài liệu và sách giáo khoa. Người giáo viên, ngoài việc giới thiệu tài liệu cho sinh viên tham khảo còn phải xây dựng được từ trước nhiều tình huống có vấn đề khác nhau buộc sinh viên phải suy nghĩ. Từ các câu trả

lời của sinh viên trên lớp, giáo viên phải tiếp tục tạo ra các tình huống mới và hướng dẫn các sinh viên tìm ra những cách khác nhau trong việc tiếp cận, giải quyết thỏa đáng các tình huống đó. Cuối cùng, trên cơ sở áp dụng những quy phạm pháp luật dân sự, giáo viên sẽ tổng hợp, chốt lại các vấn đề, làm rõ những yêu cầu cần phải đạt được của bài học. Theo đánh giá sơ bộ của chúng tôi, với phương pháp này, trước mắt chúng ta có thể giúp sinh viên hiểu bài ngay tại lớp; còn trong tương lai, tạo cho các em thói quen năng động, có đủ khả năng đóng góp ý kiến cho việc bổ sung, sửa đổi hoàn thiện pháp luật ….

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

PHẠM SI HẢI QUỲNH –  Khoa Luật Thương mại – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Trong giao kết hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có khả năng đánh giá, dự đoán các rủi ro. Nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng giúp bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm.

Ở Việt Nam, nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng bảo hiểm được biết đến rất muộn. Lần đầu tiên nó được ghi nhận trong Bộ luật hàng hải năm 1990 và tiếp đến là Bộ luật dân sự 1995 và Luật kinh doanh bảo hiểm 2000. Cho đến nay các quy định này cũng đã nảy sinh những bất cập và thực tiễn áp dụng có rất nhiều vướng mắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này để tìm ra giải pháp toàn diện nhằm giải quyết gốc rễ các bất cập hiện tại liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin lúc này là cần thiết. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp mà một bài viết không thể giải quyết hết. Trong phạm vi bài viết này, những nghiên cứu được giới hạn ở việc phân tích, làm rõ cơ sở nào đã hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin ở các nước cũng như ở Việt Nam và từ đó phác họa sơ lược giải pháp có thể cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực này ở Việt Nam.

1. Sơ lược sự hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin:

Ngay từ xa xưa, khi các hoạt động bảo hiểm, mà cụ thể là bảo hiểm hàng hải, manh nha xuất hiện, người ta đã nhận ra rằng, bản chất của hoạt động bảo hiểm chính là quan hệ chia sẻ rủi ro. Cùng nhau đối mặt và chia sẻ rủi ro – một yếu tố không thể biết trước chính xác vì mang thuộc tính ngẫu nhiên – nên khi thiết lập quan hệ bảo hiểm, các bên chỉ có thể hợp tác, trung thực, thiện chí với nhau thì quan hệ mới diễn ra tốt đẹp, đúng với bản chất “chia sẻ” của nó. Ý tưởng này được phôi thai pháp lý trong một Pháp lệnh vào năm 1369 của Genoa, Italia và được ghi nhận rõ hơn như là một nguyên tắc trong các đạo luật của Barcelona từ năm 1435 đến 14841. Sau đó, từ giữa thế kỷ 15, khi hoạt động bảo hiểm xuất hiện và lan rộng ra nhiều khu vực thương mại quan trọng khác ở Châu Âu, nguyên tắc về sự hợp tác, thiện chí, trung thực – gọi ngắn gọn là nguyên tắc thiện chí – được nhận biết đến rộng rãi hơn. Đến cuối thế kỷ 17, người ta đã ngày càng hiểu thêm rằng, quan hệ bảo hiểm mang một đặc thù: người mua và người nhận bảo hiểm không nắm giữ như nhau đối với dòng thông tin giúp đánh giá, dự đoán rủi ro. Vị thế bất cân xứng này dẫn tới hệ quả kẻ mạnh, người yếu giữa các bên của quan hệ bảo hiểm. Trước vị thế như vậy của các bên thì lúc này nguyên tắc thiện chí lại càng được quan tâm đến.

Vì thế, vào cuối thế kỷ 17, nhiều nước ở Châu Âu đã ghi nhận nguyên tắc thiện chí trong hệ thống pháp luật bảo hiểm của mình2. Kể từ cuối thế kỷ 17 đến nay, pháp luật nhiều quốc gia đã xây dựng và phát triển nguyên tắc thiện chí như là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất đối với hoạt động bảo hiểm. Trải qua sự phát triển và xây dựng tùy thuộc vào hoạt động của thị trường bảo hiểm và vào hệ thống pháp luật riêng từng nước, nguyên tắc thiện chí theo pháp luật của các nước mang nhiều khác biệt. Thế nhưng, trên thực tế, do việc xây dựng nên nguyên tắc ở các nước, đặc biệt là các nước Châu Âu, đều cùng từ xuất phát điểm không đổi thay theo thời gian, cho nên nhìn chung về bản chất, nội dung của nguyên tắc thiện chí theo pháp luật các nước là tương đối thống nhất3. Cụ thể là, nội dung cơ bản của nguyên tắc thiện chí ở các nước đều yêu cầu các bên khi giao kết hợp đồng bảo hiểm phải cung cấp cho nhau một cách tự nguyện, đầy đủ

và trung thực đối với những thông tin giúp đánh giá, dự đoán rủi ro. Ví dụ, theo pháp luật của Pháp thì: “người mua bảo hiểm phải tiết lộ chính xác, vào thời điểm hợp đồng được hình thành, tất cả các trường hợp trong kiến thức của mình và có thể ảnh hưởng tới nhận thức của người bảo hiểm về rủi ro”4. Còn luật của Anh cũng có nội dung gần tương tự:

“người mua bảo hiểm phải tiết lộ cho người bảo hiểm… mọi thông tin quan trọng được biết đến bởi người mua bảo hiểm, và người mua bảo hiểm được coi là biết đến mọi thông tin nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của mình, anh ta phải biết về thông tin đó… mọi thông tin được coi là quan trọng nếu nó ảnh hưởng tới đánh giá của một người bảo hiểm khôn ngoan trong việc định mức bảo hiểm phí, hoặc quyết định liệu có tham gia tiếp nhận [bảo hiểm] rủi ro hay không”5.

Ở Việt Nam, nguyên tắc thiện chí được ghi nhận tại Điều 395 Bộ luật dân sự (BLDS) là một trong những nguyên tắc cơ bản đối với sự hình thành nên không chỉ quan hệ bảo hiểm mà là tất cả các quan hệ hợp đồng khác. Tuy nhiên, nội dung yêu cầu cụ thể của nguyên tắc thiện chí theo Điều 395 BLDS chưa bao giờ được pháp luật làm rõ. Mặc dù vậy, riêng trong pháp luật bảo hiểm, tồn tại một nghĩa vụ mà những yêu cầu của nó mang dáng dấp gần giống những nội dung cụ thể của nguyên tắc thiện chí ở các nước. Nghĩa vụ này là nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

2. Lý giải cụ thể về hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin:

Cùng chung một ý tưởng ban đầu, pháp luật các nước cơ bản giống nhau trong lý giải cụ thể về cơ sở hình thành nên nguyên tắc thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin. Những lý giải tập trung vào hai vấn đề chính: vấn đề pháp lý và vấn đề lợi ích.

* Vấn đề pháp lý:

Trước hết, hợp đồng bảo hiểm là quan hệ chia sẻ rủi ro. Đối tượng của hợp đồng là rủi ro có thể xảy ra. Điều này thể hiện ở chỗ, những hiểu biết về rủi ro là căn cứ chủ yếu để các bên cân nhắc, tính toán lợi ích, thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình về việc có tham gia hay không tham gia hợp đồng, hoặc nếu tham gia thì ở mức độ, điều kiện như thế nào: mức phí bảo hiểm ra sao và các điều kiện bảo hiểm cụ thể là gì. Nói khác đi, nhận thức về rủi ro chính là điểm nút trong quan hệ ý chí giữa các chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm.

Là điểm nút của quan hệ nhưng rủi ro lại không phải là yếu tố định hình rõ ràng. Không giống như đối tượng của các hợp đồng thông thường khác, ví dụ hợp đồng mua bán nhà thì căn nhà có thể được các bên trực quan đánh giá qua các yếu tố cụ thể, rõ ràng như vị trí địa lý, kết cấu, hình dáng… của căn nhà, rủi ro – đối tượng của hợp đồng bảo hiểm – lại chỉ có thể được suy đoán đến một cách gián tiếp thông qua những thông tin liên quan mà mỗi bên có, ví dụ như thông tin về quy mô, tình trạng pháp lý, vị trí địa lý… của đối tượng bảo hiểm…. Tính chất không định hình rõ ràng của rủi ro tiềm ẩn một nguy cơ, theo đó, các bên rất dễ hiểu khác nhau về rủi ro. Nguy cơ này trở nên hiển hiện khi đặc thù quan hệ bảo hiểm là sự bất cân xứng về dòng thông tin giúp đánh giá và dự đoán rủi ro. Cụ thể, người mua bảo hiểm, do quen thuộc hơn với đối tượng bảo hiểm, là người nắm giữ và tiếp cận thông tin về rủi ro nhiều hơn so với người bảo hiểm. Còn người bảo hiểm biết rất ít hoặc thậm chí không có thông tin nào về rủi ro. Hiện tượng dòng thông tin không cân bằng tạo vị thế kẻ mạnh cho người mua bảo hiểm, theo đó bằng việc kiểm soát thông tin mà mình biết về rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể kiểm soát nhận thức về rủi ro của bên bảo hiểm. Trong khi đó, mặc dù người bảo hiểm có thể đối phó với thế mạnh của bên mua bảo hiểm bằng cách tự mình tiến hành điều tra, tìm hiểu về các thông tin, nhưng vì rất nhiều lý do, ví dụ như lý do về thời gian hạn chế của quá trình giao kết hợp đồng, công việc điều tra này không phải lúc nào cũng có thể toàn diện và đạt kết quả đầy đủ, chính xác. Hơn nữa, bản thân công việc điều tra, xác minh nào cũng đi liền với nó là phí tổn và thời gian. Do vậy, có thể nói rằng, dù muốn hay không, thì người bảo hiểm vẫn ở vị thế của kẻ yếu, chịu sự lệ thuộc vào chia sẻ thông tin từ phía người

mua bảo hiểm.

Có thể nói, vị thế kẻ mạnh của người mua bảo hiểm là điều kiện thuận lợi dẫn các bên tới những hiểu biết không đồng đều về một yếu tố cũng không lấy gì làm rõ ràng – yếu tố rủi ro. Rủi ro là điểm nút của quan hệ bảo hiểm, cho nên, những hiểu biết khác nhau về rủi ro tiếp đến tự nó ngăn cản thống nhất ý chí của các bên. Trong khi đó, nguyên tắc tự do ý chí – nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất chi phối mọi loại hình quan hệ hợp đồng bao gồm cả quan hệ bảo hiểm – lại đòi hỏi hợp đồng phải là sự thống nhất ý chí thật của các bên tham gia. Như vậy, giữa tồn tại đặc thù của quan hệ bảo hiểm và nguyên tắc tự do ý chí nảy sinh mâu thuẫn hoàn toàn trái ngược. Một bên mà xu hướng, hệ quả hiển hiện của nó phủ định yêu cầu của bên kia. Nhận thức về mâu thuẫn này, luật pháp các nước, nhằm đảm bảo sự tồn tại và vận hành thông suốt của nguyên tắc tự do ý chí6, đã đưa ra giải pháp là phải lập lại trật tự nắm giữ dòng thông tin nhằm kéo vị thế của các bên trong quan hệ bảo hiểm tới vị trí cân bằng hơn7. Đây chính là cơ sở cho việc áp đặt, hình thành một nghĩa vụ mà theo đó bên mua bảo hiểm, trong mọi khả năng có thể của mình, phải cung cấp cho bên bảo hiểm một cách đầy đủ và trung thực nhất những thông tin liên quan phục vụ việc dự đoán, đánh giá rủi ro. Nghĩa vụ này được gọi là nghĩa vụ thiện chí (nghĩa vụ cung cấp thông tin theo cách gọi của Việt Nam) trong giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Mặc dù về lý thuyết, hiện tượng mất cân bằng của dòng thông tin nghiêng về phía người mua bảo hiểm, thế nhưng trong thực tiễn đa dạng, không loại trừ những trường hợp thông tin nằm trong tay người bảo hiểm mà không đến được với người mua bảo hiểm. Trong những trường hợp như vậy, theo một logic tương tự, thêm vào đó, trước yêu cầu của nguyên tắc hai bên trong quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý, nên nếu như nghĩa vụ thiện chí được áp đặt lên phía người mua bảo hiểm thì cũng cần phải có nghĩa vụ này từ phía người bảo hiểm8. Vì những lý do này, nghĩa vụ thiện chí được hình thành không thuộc về riêng người mua bảo hiểm cho dù trong phần lớn trường hợp, nghĩa vụ này được thực hiện bởi chính người mua bảo hiểm.

Có thể thấy rằng, lý do pháp lý chủ yếu dẫn tới sự hình thành nên nguyên tắc thiện chí– nghĩa vụ cung cấp thông tin – ở các nước chính xuất phát từ việc phải bảo đảm sự tồn tại, vận hành của nguyên tắc tự do ý chí trước đặc thù của quan hệ bảo hiểm. Bên cạnh đó nguyên tắc bình đẳng cũng là lý do để áp đặt nghĩa vụ lên phía người bảo hiểm giống như đã áp đặt lên người mua bảo hiểm.

* Vấn đề lợi ích:

Đặc thù của quan hệ bảo hiểm là tính thiếu đối xứng của dòng thông tin. Trên thực tế, thông tin không chỉ tạo sức mạnh cho người nắm giữ nó đơn giản để kiểm soát ý chí đối tác bên kia mà xét cho cùng, mục đích, nguyên nhân và hệ quả của việc kiểm soát ý chí là tạo thiên lệch lợi ích có lợi cho bản thân bên nắm giữ thông tin. Chính vì vậy, ngoài những lý do pháp lý dẫn tới biện pháp phải thiết lập lại trật tự nắm giữ dòng thông tin trong quan hệ bảo hiểm, thì vấn đề lợi ích cũng được các nước quan tâm đến như là giải thích quan trọng cho sự hình thành biện pháp này.

Phần lớn các trường hợp, thông tin nằm trong tay người mua bảo hiểm. Thế nhưng, để quyết định được mức bảo hiểm phí là bao nhiêu, hoặc quyết định có bảo hiểm hay không, thì người bảo hiểm lại cần có đầy đủ thông tin để đánh giá, dự đoán đúng về rủi ro. Tùy theo thang bậc, mức độ của rủi ro mà người bảo hiểm sẽ đưa ra mức phí bảo hiểm cao hay thấp hoặc thậm chí không nhận bảo hiểm. Vì thế, sự nắm giữ thông tin một phía của người mua bảo hiểm đẩy người bảo hiểm vào một trong hai tình huống: nếu muốn đưa ra một quyết định bảo hiểm hợp lý và đảm bảo lợi ích chính đáng của mình, người bảo hiểm (1) phải tự mình điều tra thông tin và gánh chịu những phí tổn cho công việc điều tra cũng như chấp nhận việc điều tra có thể không toàn diện và đầy đủ; hoặc là (2) phải chịu sự lệ thuộc vào chia sẻ thông tin từ phía người mua bảo hiểm, đồng thời cũng sẽ chịu luôn nguy cơ người mua bảo hiểm không cung cấp đủ các thông tin, từ đó người bảo hiểm sẽ đánh giá thấp rủi ro và đưa ra mức bảo hiểm phí thấp tương ứng hoặc thậm chí nhận bảo hiểm vượt quá khả năng của mình. Cả hai tình huống, người bảo hiểm đều thiệt thòi. Trước thế bất lợi này, các nhà làm luật ở các nước, như một thẩm phán của Anh quốc đã nhận định9, đều xác định phải bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Để làm được điều này thì nguyên tắc thiện chí – với nội dung lập lại trật tự cân bằng của dòng thông tin – là một giải pháp rất phù hợp: khi bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin mà mình biết cho bên bảo hiểm thì một mặt, bên bảo hiểm sẽ không phải, hoặc giảm bớt, gánh chịu phí tổn điều tra; mặt khác sẽ có được những thỏa thuận phù hợp, công bằng về lợi ích. Ngược lại và tương tự, trong số ít trường hợp khi thông tin chỉ nằm trong tay người bảo hiểm, thì việc thiết lập nghĩa vụ thiện chí từ phía người bảo hiểm cũng là cần thiết để bảo vệ lợi ích của người mua bảo hiểm – là bên yếu thế hơn trong trường hợp riêng biệt này.

Như vậy, ở góc độ riêng từng quan hệ bảo hiểm cụ thể, nguyên tắc thiện chí hình thành từ mục đích bảo vệ sự công bằng, lợi ích chính đáng của các bên. Không chỉ thế, vấn đề còn được nhìn nhận từ góc độ lợi ích chung đối với hoạt động của thị trường bảo hiểm. Ở các nước, nguyên tắc thiện chí được ví von như “dầu máy bôi trơn cho bánh xe thị trường bảo hiểm”10. Thứ nhất là bởi vì, quay trở lại với công việc điều tra của người bảo hiểm, rõ ràng công việc này gây ra những phí tổn về thời gian, tiền bạc, và thậm chí đôi khi là bất khả thi đặc biệt là trong trường hợp các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng trong giới hạn thời gian ngắn. Nếu so sánh với việc người mua bảo hiểm chỉ đơn giản cung cấp các thông tin mà mình biết cho người bảo hiểm thì những phí tổn cộng với tính thiếu hiệu quả của công việc điều tra thực sự là những lãng phí không cần thiết. Vì thế, nhìn ở tổng thể thị trường bảo hiểm, có thể nói yêu cầu người mua bảo hiểm phải tự nguyện cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho người bảo hiểm có ý nghĩa một mặt giúp tiết kiệm thời gian, chống lãng phí cho toàn bộ hoạt động của thị trường bảo hiểm11, mặt khác nâng cao hiệu quả của các quyết định bảo hiểm. Thứ hai, việc hình thành nguyên tắc thiện chí có giá trị bảo vệ công bằng lợi ích giữa các bên của quan hệ bảo hiểm, theo đó cụ thể là, trên cơ sở có đầy đủ thông tin, các bên sẽ hiểu rõ như nhau về rủi ro và vì thế sẽ cùng nhau xây dựng và thỏa thuận được mức bảo hiểm phí hợp lý và công bằng12. Ở tầm vĩ mô, mức bảo hiểm phí hợp lý và công bằng là nền tảng của một thị trường bảo hiểm hoạt động lành mạnh và bền vững.

3.Việc hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam:

Nghĩa vụ cung cấp thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật bảo hiểm của Việt Nam vào năm 1990 tại Điều 204, 207 Bộ luật hàng hải (BLHH)13. Nghĩa vụ này được áp dụng riêng cho quan hệ bảo hiểm hàng hải. Vào thời điểm năm 1990, khi BLHH được ban hành, hoạt động bảo hiểm ở nước ta gần như không có. Thêm vào đó, do các hoạt động hàng hải mang tính quốc tế cao, cho nên, từ việc đã nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, các nhà dự thảo BLHH đã cố gắng đưa những nội dung của bộ luật hòa nhập và thống nhất với các nước trên thế giới. Có lẽ vì những lý do này mà nội dung quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong BLHH gần giống với nội dung của nguyên tắc thiện chí ở các nước. Cụ thể là, Điều 204 BLHH quy định: “người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc quyết định của người bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết”.

Năm 1995, hoạt động bảo hiểm ở nước ta gần như không thay đổi so với thời điểm năm 1990. Những hiểu biết kỹ càng và đầy đủ về hoạt động bảo hiểm do vậy trên thực tế là chưa có nhiều. Trong điều kiện như vậy, Bộ luật dân sự (BLDS)14 ra đời và quy định một cách chung nhất về nghĩa vụ cung cấp thông tin tại Điều 577. Nghĩa vụ theo BLDS được hiểu là áp dụng cho mọi loại hình bảo hiểm, bao gồm cả bảo hiểm hàng hải. Trong khi nghĩa vụ cung cấp thông tin trong BLHH được hình thành giống với các nước trên thế giới thì nghĩa vụ này trong BLDS lại được xây dựng theo hướng hoàn toàn khác biệt với quy định tại BLHH. Điểm khác biệt lớn nhất là ở tính tự nguyện và tính đầy đủ của nghĩa vụ. Nếu như nghĩa vụ theo BLHH xác định người mua bảo hiểm phải tự nguyện cung cấp mọi thông tin liên quan mà mình biết cho người bảo hiểm thì theo BLDS, người mua bảo hiểm chỉ cần thụ động cung cấp các thông tin mà người bảo hiểm yêu cầu: “theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm, trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”15.

Những năm 1999, hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có phần sôi động hơn so với nhiều năm trước. Đặc biệt là đã có sự tham gia của các công ty bảo hiểm nhân thọ lớn trên thế giới như AIA, Prudential, Chinfon Manulife…. Sự tham gia thị trường bảo hiểm Việt Nam của các công ty bảo hiểm giàu kinh nghiệm mang vào Việt Nam những hợp đồng mẫu và các thủ tục để xem xét ký kết hợp đồng đã làm rõ một vấn đề cần thiết được pháp luật quan tâm đúng mức, đó là nghĩa vụ cung cấp thông tin. Chính vì vậy, năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH)16 ra đời cùng với những quy định mới và chi tiết hơn về nghĩa vụ cung cấp thông tin tại các Điều 17, 18, 19. Thế nhưng, một lần nữa, giống như đã xảy ra với BLDS, quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong Luật KDBH cũng không giống xu hướng chung của hầu hết các nước trên thế

giới. Cụ thể, Điều 18.2.b của Luật KDBH có nội dung gần tương tự với Điều 577.1 BLDS. Trong khi đó, Điều 19.1 Luật KDBH lại quy định không giống với BLDS và cả BLHH, đó là quy định về một phạm vi nghĩa vụ gần như không có giới hạn của người mua bảo hiểm “bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Điểm tích cực ở Luật KDBH so với quy định của hai đạo luật trước đó là việc lần đầu tiên hệ thống pháp luật của Việt Nam quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm (Điều 19 Luật KDBH). Thế nhưng, quy định này chỉ tập trung vào việc người bảo hiểm phải giải thích, làm rõ các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm. Vì thế có thể nói, nghĩa vụ của người bảo hiểm theo Điều 19 Luật KDBH không mang bản chất là một nghĩa vụ cung cấp thông tin như của các nước trên thế giới.

Hiện nay cả ba quy định tại ba đạo luật trên đều giữ nguyên giá trị hiệu lực thi hành. Như vậy, ở nhiều quốc gia trên thế giới, cho dù có khác nhau về hệ thống pháp luật và những điều kiện cho các hoạt động bảo hiểm, nhưng vẫn có chung nội dung cơ bản của nguyên tắc thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin theo cách gọi của Việt Nam. Còn ở Việt Nam, mặc dù chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất nhưng lại có đến ba loại nghĩa vụ cung cấp thông tin cùng tồn tại.

Cho đến nay ở Việt Nam, chưa có một giải thích chính thức nào được đưa ra từ phía các nhà làm luật về việc vì sao họ xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin. Dường như, việc xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin trên thực tế đã không được thực hiện trong mối liên kết với một mục đích, lý do rõ ràng. Điều này biểu hiện ở hai khía cạnh. Trước hết, thực tiễn ban hành nên các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin cho thấy các nhà làm luật ở Việt Nam, chí ít là ở phương diện thành văn, đã không hề đề cập tới vấn đề này17. Ngay ở phương diện luật học, cho đến nay, cũng chưa có một bàn bạc chính thức nào của các nhà luật học Việt Nam về mối liên hệ nguồn gốc của nghĩa vụ cung cấp thông tin18. Ai đó có thể giải thích rằng, do hệ thống pháp luật bảo hiểm của

Việt Nam tương đối non trẻ còn ở các nước có hệ thống pháp luật bảo hiểm tồn tại và phát triển hàng trăm năm nay19 thì cơ sở lý luận của việc hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin là khá rõ ràng và không cần phải bàn cãi nhiều, cho nên vấn đề coi như là một kinh nghiệm mà các nhà làm luật nước ta đã mặc nhiên thừa nhận để xây dựng nghĩa vụ này tại Việt Nam. Thế nhưng, giải thích này lại trở nên bất hợp lý khi mà hiện nay pháp luật thực định về nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam, một là có biểu hiện không nhất quán với nhau về lý do, mục đích của nghĩa vụ; hai là có rất nhiều điểm không tương thích với cơ sở lý luận của các nước. Ở khía cạnh thứ hai này – khía cạnh pháp luật thực định – có thể kể ra hàng loạt các ví dụ. Đầu tiên, như ở trên đã đề cập, chúng ta thấy có những khác biệt cơ bản giữa quy định tại ba văn bản: BLHH, BLDS và Luật KDBH.

Từ những khác biệt căn bản này, có thể khẳng định, đã không thể có một lý do, mục đích nhất quán cho việc hình thành nên các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin. Tiếp đến về tính không tương thích với cơ sở lý luận của các nước. Hiện nay, ngoại trừ quy định tại Luật KDBH (Điều 19), các đạo luật liên quan đến pháp luật bảo hiểm khác đều không xác định nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm. Bản thân nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm theo quy định của Luật KDBH cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích các điều khoản của hợp đồng hơn là một nghĩa vụ cung cấp cho người mua bảo hiểm các thông tin liên quan đến rủi ro mà người mua bảo hiểm không biết. Cho nên, có thể nói, không tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm theo cách hiểu đúng nghĩa về nó trong hệ thống pháp luật bảo hiểm hiện hành ở Việt Nam. Điều này đi ngược lại với vấn đề mà pháp luật các nước đều quan tâm giải quyết: tự do ý chí, nguyên tắc bình đẳng và mục đích bảo vệ lợi ích cho người mua bảo hiểm. Một ví dụ nữa là, Điều 18.2.b Luật KDBH và Điều 577.1 BLDS quy định “theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm, trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”20. Quy định này xác định nghĩa vụ của người mua bảo hiểm chỉ là việc trả lời các thông tin mà người bảo hiểm yêu cầu. Thế nhưng, không phải bao giờ thông tin được yêu cầu cũng bao gồm tất cả thông tin giúp đánh giá đúng đắn rủi ro. Trong trường hợp người mua bảo hiểm nắm giữ các thông tin quan trọng nhưng không được yêu cầu cung cấp thông tin này và từ đó quyết định không chia sẻ thông tin với người bảo hiểm thì rõ ràng, người mua bảo hiểm vẫn thực hiện đúng với yêu cầu của nghĩa vụ cung cấp thông tin theo Điều 18.2.b Luật KDBH và Điều 577.1 BLDS. Trong khi đó, việc không chia sẻ thông tin của người mua bảo hiểm như vậy đã xâm phạm tự do ý chí, cũng như lợi ích của người bảo hiểm. Như thế, quy định tại hai điều luật đang dẫn đã không hề có giá trị bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Tương tự, hiện nay, các quy định tại Luật KDBH (Điều 19.2) và BLDS (Điều 577.2) chỉ cung cấp một biện pháp pháp lý để người bảo hiểm đối phó lại với những vi phạm nghĩa vụ của người mua bảo hiểm trong trường hợp duy nhất khi người mua bảo hiểm “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật…. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu người mua bảo hiểm cố ý im lặng không cung cấp một thông tin quan trọng nào đó thì người bảo hiểm sẽ không có một biện pháp pháp lý nào để đối phó lại. Trong khi đó, trước và do sự im lặng của người mua bảo hiểm, người bảo hiểm hoàn toàn có thể bị nhầm lẫn, lệch lạc trong việc đánh giá rủi ro dẫn tới bị thiệt hại lợi ích. Rõ ràng, quy định của BLDS và Luật KDBH về hậu quả pháp lý của “hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin” đã không quan tâm tới việc bảo vệ cho thích đáng và đầy đủ các trường hợp khi quyền lợi của người bảo hiểm bị xâm hại …

4. Kết luận:

Như vậy, việc tìm hiểu về cơ sở lý luận mà các nhà lập pháp Việt Nam đã dựa vào đó để cho ra đời, hình thành và xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin đã không có câu trả lời vì rằng trên thực tế, không có một tồn tại rõ ràng và nhất quán nào như vậy. Sự không rõ ràng, nhất quán của cơ sở lý luận hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin đi cùng với nó là hàng loạt các vấn đề: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc bình đẳng bị xâm phạm trong nhiều trường hợp mà không được xử lý, lợi ích chính đáng của các bên bị bỏ quên không được bảo vệ và vì thế không thiết lập được một cơ chế nền tảng cho hoạt động lành mạnh và bền vững của thị trường bảo hiểm…. Tất cả các vấn đề này đặt ra nhu cầu phải xác định lại từ đầu, một cách thống nhất và rõ ràng, những ý tưởng, mục đích, lý do làm cở sở cho việc xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin.

Trước nhu cầu như vậy, tác giả mạnh dạn đề nghị cần phải có những thừa nhận và áp dụng tư tưởng, kinh nghiệm của các nước vào quá trình thống nhất lại các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam. Đề nghị này xuất phát bởi những lý do sau:

+ Hiện nay, pháp luật hợp đồng ở Việt Nam (Điều 395 BLDS) đã thừa nhận và khẳng định nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng như là hai nguyên tắc cơ bản và không thể xâm phạm trong quá trình hình thành hợp đồng. Yêu cầu của hai nguyên tắc này về cơ bản tương tự với các nước trên thế giới21.

+ Đặc thù bất cân xứng về dòng thông tin không chỉ xảy ra trong quan hệ bảo hiểm ở các nước trên thế giới mà cũng tồn tại không thay đổi trong quan hệ bảo hiểm xảy ra ở Việt Nam. Trước đặc thù này thì việc áp dụng và bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng tất yếu đến việc hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam giống như đã hình thành ở các nước.

+ Vấn đề bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tham gia bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay cũng cần được quan tâm giống như pháp luật các nước đã thực hiện. Về lợi ích chung của thị trường, việc tạo điều kiện để tiết kiệm thời gian, chống lãng phí cho hoạt động của thị trường cũng được đặt ra nhất là khi thị trường bảo hiểm ở Việt Nam đang trong giai đoạn chập chững để đi vào quỹ đạo. Và hơn nữa, việc xây dựng nên một thiết chế tạo điều kiện để mức bảo hiểm phí hình thành công bằng và hợp lý cũng cần được quan tâm phục vụ mục đích cho thị trường bảo hiểm hoạt động lành mạnh và bền vững.

Trên cơ sở thừa nhận những xuất phát điểm cho việc hình thành nên các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giống như ở các nước, tác giả đề nghị sơ lược một số các giải pháp cụ thể khi xây dựng các quy định như sau:

Thứ nhất, Luật về nghĩa vụ cần làm rõ và đề cao yêu cầu về: (1) tính tự nguyện của các bên khi cung cấp thông tin; và (2) tính xác thực của các thông tin được cung cấp. Cụ thể, mọi hành vi cố ý hay vô ý, im lặng hoặc cung cấp sai đều cần được coi là vi phạm và phải được xử lý. Kiến nghị này xuất phát từ các lý do: một là, nguyên tắc tự do ý chí – lý do đầu tiên cũng là mục đích cuối cùng của nghĩa vụ cung cấp thông tin, chỉ quan tâm tới việc có hay không tính thống nhất ý chí của các bên trước thực tại bất cân xứng của dòng thông tin, cho nên, bất kể dưới hình thức nào, nếu thông tin mà chỉ một bên biết lại không cho bên kia biết gây ra bất nhất ý chí giữa hai bên, thì vi phạm nguyên tắc tự do ý chí, đồng nghĩa với nó là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin; hai là, dù dưới hình thức nào, vô ý hay cố ý, im lặng hay cung cấp sai, chỉ cần thông tin không đồng đều thì ngay lập tức có một bên sẽ thiệt thòi về lợi ích; lúc này mục đích bảo vệ lợi ích của mỗi bên cũng như thiết lập cho thị trường bảo hiểm một cơ chế hình thành mức bảo hiểm phí công bằng, hợp lý sẽ không đạt được; ba là, bản chất của quan hệ bảo hiểm là quan hệ chia sẻ.

Thứ hai, do cốt yếu của các lý do (pháp lý và lợi ích) đều nhằm và chỉ nhằm vào sự hiểu biết của hai bên về rủi ro, cho nên, phạm vi nội dung các thông tin mà mỗi bên phải cung cấp cần được giới hạn và chỉ được giới hạn trong những thông tin có liên quan giúp đánh giá và dự đoán rủi ro.

Cuối cùng, trước yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng và việc bảo vệ lợi ích của cả người mua bảo hiểm, đồng thời trước thực tế đa dạng không hề loại trừ trường hợp chỉ có người bảo hiểm nắm giữ được một số những thông tin quan trọng, nên nghĩa vụ cung cấp thông tin cần được đặt ra đối với người bảo hiểm với nội dung yêu cầu giống như nghĩa vụ của người mua bảo hiểm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 W S Holdsworth, History of English Law, 3rd ed (1992); vol 8 trang 290-293.

2 Rohard, The Doctrine of “Utmost good faith” in the Marine Insurance Law of some Civil Law

Countries, CIM Yearbook 1994, trang 309.

3 Alexander von Ziegler, The “Utmost good faith” in Marine insurance law on the continent, trong cuốn

Marine Insurance at the turn of the Millennium, Vol 2, p.21, Antwerp 2000, do Marc Huybrechts biên soạn.

4 Điều 172.19.3 Luật bảo hiểm, 1967 ( Code des Assurances).

5 Điều 18 Đạo Luật bảo hiểm hàng hải 1906 (Marine insurance Act 1906).

6 Luật pháp các nước, ví dụ như ở Anh, không tiếp cận vấn đề theo giác độ chung của nguyên tắc tự do ý

chí mà trực tiếp xem xét vấn đề ở một nội dung cụ thể của nguyên tắc: ngăn chặn yếu tố lừa dối.

7 Nili Cohen, The effect of the duty of Good faith on a previously common law system: the experience of

Israeli Law, trong cuốn Good faith in Contract, concept and context, Ashgate, (1995).

8 Peter Macdonald Eggers and Patrick Foss, Good faith and insurance contracts, LLP, 1998, tr.44.

9 Mellor, J trong vụ Uzielli v Commercial Union Insurance Co (1865) 12 LT 399, 401.

10 M A Clarke, The Law of Insurance Contracts, LLP, 3rd ed (1997), đoạn 23-1A.

11 Peter Macdonald Eggers and Patrick Foss, đã dẫn.

12 Mellor, J trong vụ Uzielli v Commercial Union Insurance Co (1865) 12 LT 399, 401.

13 Bộ luật hàng hải được ban hành vào năm 1990 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 01 năm 1991.

14 Bộ luật dân sự được ban hành vào năm 1995 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/1996.

15 Điều 577.1 BLDS.

16 Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban hành vào năm 2000 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 04

năm 2001.

17 Trong các Tờ trình quốc hội của Chính phủ (Số 5529/PC ngày 30/09/1995 và số 1037/CP-PC ngày 13 tháng 11 năm 2000) về dự thảo Luật dân sự và Dự án Luật kinh doanh bảo hiểm, cũng như trong quá trình tranh luận, đóng góp ý kiến của các đại biểu quốc hội khi thông qua các Luật nói trên đều không đề cập đến vấn đề này. Tổng Cục hàng hải khi dự thảo Bộ luật hàng hải cũng không làm rõ nội dung này.

18 Gần đây, trong bài viết Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng

Việt Nam, Phạm Duy Nghĩa (bài viết trong cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng

ở Việt Nam hiện nay do TS. Nguyễn Như Phát và TS. Lê Thị Thu Thủy chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003, trang 18-34) đề cập đến sự cần thiết phải điều chỉnh thông tin bất cân xứng. Tuy nhiên, bài viết này chưa bàn đến các mối liên hệ nguồn gốc pháp lý và vấn đề lợi ích của nghĩa vụ cung cấp thông tin theo pháp Việt Nam hiện hành.

19 Ví dụ như các nước Anh, Pháp, Đức…

20 Đây là quy định tại Điều 577.1 BLDS. Xin lưu ý, Điều 18.2.b Luật KDBH có nội dung tương tự nhưng không có loại trừ: “trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”, và các thông tin cũng được

yêu cầu liên quan đến hợp đồng bảo hiểm thay vì phải liên quan đến đối tượng bảo hiểm như trong Điều

577.1.

21 Về nguyên tắc tự do ý chí, xin xem thêm TS. Lê Thị Bích Thọ, Tự do ý chí trong giao kết hợp đồng, trong cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay do TS. Nguyễn Như Phát và TS. Lê Thị Thu Thủy chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003, trang 35-51.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2004

ĐĂNG KÝ, CẤP BIỂN SỐ MÔ TÔ, XE GẮN MÁY

I- CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ THỰC HIỆN CÁC CÔNG VIỆC LIÊN QUAN.

Bộ luật Dân sự ngày 14/06/2005;

Luật Giao thông đường bộ ngày 29/06/2001;

– Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giao thông đường bộ;

– Thông tư số 01/2007/TT-BCA-C11 ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

– Thông tư số 34/2003/TT-BTC ngày 16/04/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

– Quyết định số 411/2007/QĐ-CAT(PV11) của Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An ban hành Quy định việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế”một cửa” tại Công an các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An

– Quyết định số 979/QĐ-CAT ngày 16/04/2006 của Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An ban hành “Quy định tạm thời về việc đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bằng máy tính theo phương pháp chọn ngẫu nhiên”;

(Tải về các văn bản pháp quy tại số của văn bản)

……………………………………………………………………………………………………….

II- ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài đang cư trú hoặc có trụ sở trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

III- CÁC THỦ TỤC GIẤY TỜ CẦN THIẾT

1- Hồ sơ đăng ký xe gồm có:

a) Giấy khai đăng ký xe (chủ xe tự khai theo đúng mẫu quy định)

b) Giấy tờ của chủ xe: cần có một trong những giấy tờ sau:

   b.1. Giấy CMND (trường hợp chưa đến tuổi được cấp CMND hoặc CMND bị mất thì xuất trình hộ khẩu).

   b.2. Giấy chứng minh QĐND; giấy chứng minh ANND, CSND, kèm theo giấy giới thiệu của đơn vị công tác.

   b.3. Thẻ học viên, sinh viên, kèm theo giấy giới thiệu của nhà trường. (nếu là sinh viên)

   b.4. Chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về sinh sống, làm việc tại Việt Nam: giấy khai báo tạm trú, thường trú và xuất trình hộ chiếu (còn giá trị).

   b.5. Chủ xe là cơ quan, tổ chức Việt Nam: giấy giới thiệu kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe.

   b.6. Người được uỷ quyền đăng ký xe phải có giấy uỷ quyền của chủ xe có xác nhận của UBND cấp xã hoặc cơ quan, đơn vị công tác và xuất trình CMND.

Các trường hợp b.2, b.3, b.5, b.6, cơ quan đăng ký xe lưu các giấy giới thiệu, giấy uỷ quyền trong hồ sơ xe. Các trường hợp khác trả lại giấy tờ cho chủ xe.

c) Các giấy tờ của xe gồm:

– Chứng từ mua bán, cho tặng xe; lệ phí trước bạ và chứng từ nguồn gốc của xe.

c.1. Chứng từ mua bán, cho, tặng xe. Phải có một trong các loại giấy tờ sau đây:

– Quyết định hoặc hợp đồng theo quy định của pháp luật.

– Giấy bán, cho, tặng hoặc văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật.

– Hoá đơn bán hàng theo đúng quy định của Bộ Tài chính (trường hợp mua tài sản thanh lý xe của cơ quan hành chính sự nghiệp phải có hoá đơn bán tài sản thanh lý; trường hợp mua hàng hoắ là tài sản dự trữ quốc gia phải có hoá đơn bán hàng dự trữ quốc gia).

– Xe của đồng sở hữu khi bán, cho tặng phải có đủ chữ ký hoặc giấy uỷ quyền bán thay của các chủ sở hữu.

c.2. Chứng từ lệ phí trước bạ, gồm:

– Biên lai hoặc chứng từ nộp lệ phí trước bạ.

– Tờ khai và thông báo nộp lệ phí trước bạ.

Trường hợp xe được miễn lệ phí trước bạ, chỉ cần tờ khai lệ phí trước bạ.

c.3. Chứng từ nguồn gốc xe

– Đối với xe nhập khẩu: cần có một trong các loại giấy tờ sau:

+ Tờ khai nguồn gốc xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính.

+ Giấy phép nhập khẩu xe của cơ quan Hải quan.

+ Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu phi mậu dịch theo quy định của Bộ Tài chính và biên lai thu thuế xuất, nhập khẩu.

+ Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu theo quy định phải có) hoặc lệnh ghi thu, ghi chi hoặc giấy nộp tiền qua kho bạc hoặc chuyển khoản hoăc uỷ nhiệm chi qua ngân hàng ghi rõ đã nộp thuế.

+ Bộ hồ sơ của các dự án bàn giao lại (nếu là xe của các dự án viện trợ hoặc bàn giao lại).

– Đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước:

+ Xe lắp ráp: Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của cơ sở sản xuất, lắp ráp

+ Tờ khai nguồn gốc xe hai bánh gắn máy nhập khẩu (đối với xe được lắp ráp từ bộ linh kiện theo quy định của Tổng cục Hải quan phải có tờ khai nguồn gốc xe hai bánh gắn máy nhập khẩu).

– Đối với mô tô, xe máy có nguồn gốc trong các trường hợp sau đây phải có các chứng từ theo quy định từ điểm 3.3.3 đến điểm 3.3.10 mục A, phần II Thông tư số 01/2007/TT-BCA ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về việc tổ chức, đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ:

+ Theo quyết định của các cấp, cơ quan có thẩm quyền (xe xử lý tịch thu sung quỹ Nhà nước; xe có quyết định xử lý vật chứng; xe do Toà án phát mại hoặc chuyển giao để đảm bảo thi hành án; xe cầm cố thế chấp do Ngân hàng phát mại; xe thuộc diện phải truy thu thuế nhập khẩu).

+ Xe dự trữ quốc gia.

+ Xe bị mất chứng từ nguồn gốc

+ Xe của công ty cho thuê tài chính đăng ký xe theo nơi cư trú hoặc đặt trụ sở hoạt động của bên thuê.

+ Xe của cơ quan Công an, Quân đội bán ra dân sự

+ Xe là tài sản chung của vợ chồng.

+ Xe có kết cấu tương tự.

2-  Hồ sơ sang tên, di chuyển xe gồm:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho tặng xe, người mua xe phải đến cơ quan đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe.

a) Xe sang tên trong tỉnh Nghệ An, giấy tờ cần có:

– Giấy khai đăng ký xe: chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định của Bộ Công an.

– Giấy chứng nhận đăng ký xe.

– Chứng từ mua bán, cho tặng xe .

– Chứng từ lệ phí trước bạ.

Khi sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số) và cấp lại giấy đăng ký xe theo tên của chủ xe mới.

Đối với trường hợp sang tên mô tô, xe máy khác huyện thì chủ xe phải đến Công an cấp huyện đã đăng ký xe đó (không phải đưa xe đến kiểm tra) làm thủ tục rút hồ sơ gốc của xe chuyển về Công an cấp huyện nơi chủ xe mới đăng ký.

b) Xe sang tên di chuyển đến tỉnh khác hoặc đến thành phố trực thuộc Trung ương, giấy tờ cần có:

– 02 giấy khai sang tên di chuyển theo đúng mẫu quy định của Bộ Công an (chủ xe phải tự khai).

– Giấy đăng ký xe.

– Chứng từ mua bán, cho tặng xe .

Phải nộp lại biển số xe; không phải đưa xe đến kiểm tra.

Trường hợp xe di chuyển nguyên chủ thì không phải xuất trình chứng từ mua bán, cho tặng xe, nhưng phải xuất trình quyết định điều động công tác hoặc di chuyển hộ khẩu.

3- Hồ sơ đổi, cấp lại đăng ký, biển số xe gồm.

Những trường hợp phải đổi lại đăng ký xe, biển số xe: xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn, đăng ký xe bị rách, hư hỏng, biển số xe hư hỏng, mờ.

– Tờ khai xin cấp lại đăng ký, biển số (theo mẫu)

– Công văn đề nghị đổi lại đăng ký, biển số xe (đối với cơ quan, tổ chức).

– Đơn đề nghị đổi lại đăng ký, biển số xe (đối với cá nhân).

– Đăng ký hoặc biển số xe cũ.

Không bắt buộc phải mang xe đến để kiểm tra (trừ trường hợp xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn).

Cơ quan đăng ký xe cấp lại đăng ký, biển số xe (theo số cũ) trừ trường loại biển 3 số thì phải đổi sang biển 4 số.

4- Hồ sơ cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất gồm.

Chủ xe bị mất đăng ký, biển số xe phải có văn bản đề nghị cấp lại; tờ khai xin cấp lại (theo mẫu) không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe.

……………………………………………………………………………………………………….

IV. THỜI GIAN TRẢ KẾT QUẢ.

1- Hồ sơ đăng ký xe:

– Không quá 01 ngày (trong ngày), kể từ khi nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

2-  Hồ sơ đăng ký sang tên, di chuyển xe:

– Không quá 01 ngày (trong ngày), kể từ khi nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

3- Đổi đăng ký, biển số xe:

– Đổi lại đăng ký: Không quá 1 ngày (trong ngày), kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định;

– Đổi lại biển số: Không quá 10 ngày, kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

4- Hồ sơ cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất.

– Cấp lại đăng ký: Không quá 3 ngày, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định;

– Cấp lại biển số: Không quá 10 ngày, kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

……………………………………………………………………………………………………….

V. LỆ PHÍ.

1. Đăng ký mới (cấp giấy đăng ký kèm theo biển số).

a) Xe ô tô, máy kéo, xe lam và các loại xe có kết cấu tương tự: 150.000 đ/xe

b) Xe ô tô con từ 7 chỗ ngồi  trở xuống (chủ xe có hộ khẩu thường trú tại thành phố Vinh) không hoạt động KDVT hành khách: 800.000đ/xe.

c. Sơmi rơ moóc đăng ký rời, rơ moóc: 100.000đ/xe.

d. Xe mô tô, xe máy.

– Chủ xe có hộ khẩu thường trú tại các huyện, thị xã Cửa Lò: 50.000đ/xe

– Chủ xe có hộ khẩu thường trú tại thành phố Vinh (theo giá tính lệ phí trước bạ).

+ Xe có giá trị từ 15.000.000đ trở xuống: 200.000đ/xe.

+ Xe có giá trị trên 15.000.000đ đến 40.000.000đ: 400.000đ/xe.

+ Xe có trị trị trên 40.000.000đ: 800.000đ/xe.

2. Cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký

a) Cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký kèm theo biển số:

– Xe ô tô (trừ xe ôtô con từ 7 chỗ ngồi trở xuống không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách di chuyển từ khu vực có mức thu thấp về thành phố Vinh): 150.000đ/xe.

– Xe ô tô con từ 7 chỗ ngồiửtở xuống không hoạt động KDVT hành khách chuyển từ khu vực có mức thu thấp về thành phố Vinh: lệ phí 800.000đ/xe.

– Sơ mi rơ moóc, rơ moóc: 100.000đ/xe

– Xe máy (trừ xe máy di chuyển từ khu vực có mức thu nhập thấp về thành phố Vinh): 50.000đ/xe

– Xe máy di chuyển từ khu vực có mức thu nhập thấp về thành phố Vinh (theo giá trị tính trước bạ).

+ Trị giá từ 15.000.000đ trở xuống: 200.000đ/xe

+ Trị giá từ trên 15.000.000đ đến 40.000.000đ: 400.000đ/xe

+ Trị giá trên 40.000.000đ: 800.000đ/xe

b. Cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký không kèm theo biển số ô tô, xe mô tô, xe máy: 30.000 đ/xe

c. Nếu cấp lại biển số thì thu theo giá mua biển số thực tế.

3. Cấp giấy đăng ký kèm theo biển số tạm thời cho xe ô tô, xe máy: 50.000đ/xe.

4. Đóng lại số khung, số máy: 50.000đ/xe

CÁC BẠN LIÊN HỆ VỚI PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG NƠI CƯ TRÚ ĐỂ CÓ THÔNG TIN CỤ THỂ

(THÔNG TIN TRONG BÀI NÀY ĐƯỢC THAM KHẢO TỪ NGHEAN.GOV.VN)

QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUI ĐỊNH BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 158/2002/QĐ-UB NGÀY 25/11/2002 CỦA UBND THÀNH PHỐ QUI ĐỊNH VỀ THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG, CHO THUÊ, CHO THUÊ LẠI, THỪA KẾ, THẾ CHẤP (HOẶC BẢO LÃNH), GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
******
Số: 156/2004/QĐ-UB
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********  Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2004

QUYẾT ĐỊNH

CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUI ĐỊNH BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 158/2002/QĐ-UB NGÀY 25/11/2002 CỦA UBND THÀNH PHỐ QUI ĐỊNH VỀ THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG, CHO THUÊ, CHO THUÊ LẠI, THỪA KẾ, THẾ CHẤP (HOẶC BẢO LÃNH), GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân;
Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 28/10/1995;
Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Pháp Lệnh thủ đô Hà nội;
Căn cứ Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của UBND thành phố Hà nội qui định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp (hoặc bảo lãnh), góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà trên địa bàn thành phố Hà nội;
Căn cứ Quyết định số 129/2004/QĐ-UB ngày 13/8/2004 của UBND thành phố Hà nội qui định về thành lập Đăng ký đất và nhà Hà nội;
Căn cứ Văn bản số 2162/TNMT-ĐĐ ngày 02/7/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
Trong khi Nhà nước chưa có qui định về đăng ký bất động sản gắn liền với đất; Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất tại tờ trình số: 6119/TTr-TNMT&NĐ-CS ngày 27 tháng 8 năm 2004,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số Điều của bản qui định ban hành kèm theo Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của Uỷ ban nhân dân thành phố qui định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp (hoặc bảo lãnh), góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà trên địa bàn thành phố Hà nội, cụ thể như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khoản (II), Điều 2 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết thủ tục hồ sơ theo chức năng và địa bàn quản lý như sau:

“1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn:

a) Chứng thực các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Văn bản khai nhận thừa kế hoặc Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

b) Cập nhật vào Sổ địa chính, theo dõi biến động đất đai khi người sử dụng đất, sở hữu nhà thực hiện các quyền của mình.

2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện:

a) Cấp Giấy chứng nhận theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân thành phố để người sử dụng đất, sở hữu nhà thực hiện các quyền của mình mà có một trong các giấy tờ qui định tại tiết (c), điểm (1), khoản (I), Điều 2 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB.

Chậm nhất là 06 tháng kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình và cá nhân, Uỷ ban nhân dân các quận, huyện phải hoàn tất thủ tục pháp lý về lập Sổ địa chính theo qui định đối với từng thửa đất của từng hộ gia đình và cá nhân; đồng thời chuyển giao toàn bộ giấy tờ gốc về nhà đất của người được cấp Giấy chứng nhận (bản sao Giấy mầu hồng và bản gốc Giấy mầu xanh) cho Văn phòng Đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất (sau đây gọi tắt là Văn phòng Đăng ký) để lưu trữ và quản lý.

b) Chứng thực các giao dịch dân sự về quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở của Hộ gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, chia, văn bản khai nhận thừa kế thuộc địa bàn quản lý.

c) Giải quyết thủ tục hồ sơ đăng ký trước bạ sang tên chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân và cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp có chia tách hoặc nhập thửa đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp.

d) Đăng ký các biến động về nhà đất vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện; sau đó, chuyển giao toàn bộ hồ sơ gốc về Văn phòng Đăng ký để lưu trữ quản lý, cập nhật và chỉnh lý biến động vào Giấy chứng nhận (bản lưu tại cơ quan quản lý).

đ) Giải quyết thủ tục hồ sơ về đăng ký cho thuê quyền sử dụng đất; đăng ký, xoá đăng ký thế chấp, bảo lãnh; đăng ký, xoá đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn quận, huyện.

3. Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất:

a) UBND Thành phố uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Uỷ ban nhân dân thành phố đã cấp trong trường hợp có sự chia tách hoặc nhập thửa đất từ Giấy chứng nhận.

b) Ký duyệt hồ sơ đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận đối với những hồ sơ do Văn phòng Đăng ký thụ lý, thẩm định và trình duyệt.

4. Văn phòng Đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất (Văn phòng Đăng ký):

a) Thực hiện đăng ký quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp.

b) Lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính gốc trên địa bàn thành phố; Tiếp nhận kết qủa biến động đất và nhà từ Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất và cơ quan có thẩm quyền để tập hợp chỉnh lý biến động thống nhất hệ thống hồ sơ địa chính gốc.

c) Thụ lý, kiểm tra và thẩm định hồ sơ trước khi trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên về: chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế; chuyển quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình và cá nhân (đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp).

Trường hợp có tách, nhập thửa đất từ Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp thì kiểm tra, thẩm định trước khi trình Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp đổi Giấy chứng nhận.

d) Thực hiện các dịch vụ hành chính công về đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, lập trích lục bản đồ do chia tách, nhập thửa, trích sao hồ sơ địa chính. Giải quyết thủ tục hồ sơ về đăng ký cho thuê quyền sử dụng đất; đăng ký, xoá đăng ký thế chấp, bảo lãnh; đăng ký, xoá đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp).

5. Phòng Công chứng:

a) Chứng nhận các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ, gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Văn bản khai nhận thừa kế hoặc Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố.

b) Chứng nhận các giao dịch dân sự về quyền sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, chia, văn bản khai nhận thừa kế quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố.

6. Cục Thuế Hà nội (hoặc Chi Cục thuế quận, huyện được uỷ nhiệm thu):

Căn cứ khung giá nhà, đất hiện hành và Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà và sử dụng đất để xác định các khoản nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của các bên khi thực hiện các quyền nói trên; tổ chức thu, nộp ngân sách theo qui định”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (kể cả nhà ở căn hộ chung cư cao tầng) bao gồm: mua bán, trao đổi, tặng cho, chia, thừa kế như sau:

“I. Hồ sơ chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở:

1. Đơn đề nghị chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (theo mẫu quy định – Đơn không phải lấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về nhà đất xin chuyển quyền không tranh chấp, khiếu kiện).

2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (bản gốc).

3. Hộ khẩu thường trú tại Hà nội (đối với hộ gia đình, cá nhân), bản sao công chứng Giấy phép đăng ký hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà nội (đối với tổ chức) của bên nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

4. Trích lục thửa đất (trường hợp có tách, nhập thửa đất) do đơn vị có chức năng đo đạc địa chính thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất hoặc Văn phòng Đăng ký hoặc Phòng Địa chính nhà đất và Đô thị quận, huyện thực hiện; Bản vẽ mặt bằng hiện trạng nhà ở (trường hợp có chia tách diện tích nhà ở) do đơn vị có tư cách pháp nhân thực hiện.

5. Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở.

II. Trình tự thực hiện:

1. Chuyển quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà ở, đất ở (không tách, nhập thửa đất):

a) Bước 1: Hồ sơ ban đầu nộp tại một trong các Phòng Công chứng trên địa bàn thành phố hoặc tại Uỷ ban nhân dân quận, huyện nơi có nhà, đất do người sử dụng đất, sở hữu nhà tự lựa chọn.

Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan kể trên phải hoàn thành thủ tục chứng nhận hoặc chứng thực Hợp đồng hoặc Văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở theo qui định.

b) Bước 2: Bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đến cơ quan Thuế để nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất ở và lệ phí trước bạ nhà ở, đất ở theo qui định.

Cơ quan Thuế, căn cứ vào Hợp đồng đã được chứng nhận hoặc chứng thực xác định các khoản thuế, lệ phí nói trên trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc và tổ chức thu theo qui định.

c) Bước 3: Bên nhận chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nộp toàn bộ hồ sơ, chứng từ đã được thực hiện theo các bước trên tại Văn phòng Đăng ký (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) hoặc tại Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp) để làm thủ tục đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận.

Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ nói trên:

c1. Văn phòng Đăng ký:

– Kiểm tra, thẩm định và trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận và trả cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở.

– Đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào hồ sơ gốc lưu trữ (bản mầu xanh Giấy chứng nhận); đồng thời chuyển “bản sao” hồ sơ chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận đã được đăng ký trước bạ sang tên (bản mầu hồng và mầu xanh) cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện để cập nhật biến động vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện.

c2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện:

– Hoàn tất thủ tục ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận (bản mầu hồng) và trả cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

– Đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện; đồng thời, chuyển giao toàn bộ hồ sơ gốc chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận (bản mầu hồng) đã được đăng ký trước bạ sang tên cho Văn phòng Đăng ký để đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào hồ sơ gốc lưu trữ (bản mầu xanh Giấy chứng nhận).

2. Chuyển một phần quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (có chia tách, nhập thửa đất):

a) Bước 1: Hồ sơ ban đầu nộp tại Văn phòng Đăng ký (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) hoặc tại Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp).

Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ:

a1. Văn phòng Đăng ký kiểm tra và đối chiếu hồ sơ gốc (trường hợp chưa rõ ràng có thể kiểm tra tại thực địa) nếu đủ điều kiện thì gửi hồ sơ kèm theo phiếu chuyển xác nhận đủ điều kiện đến Phòng công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân các quận, huyện nơi có nhà đất đó để làm thủ tục chứng nhận hoặc chứng thực Hợp đồng hoặc văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở.

Cơ quan thực hiện chứng nhận hoặc chứng thực Hợp đồng hoặc văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc.

a2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện kiểm tra và đối chiếu Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện, nếu đủ điều kiện (trường hợp chưa rõ ràng có thể kiểm tra tại thực địa) thì chứng thực hoặc chuyển hồ sơ cho Phòng công chứng để chứng nhận Hợp đồng hoặc văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở.

b) Bước 2: Nộp các khoản nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, thực hiện như bước 2 qui định tại tiết (1), điểm (II), khoản (2), Điều này.

c) Bước 3:

c1. Văn phòng Đăng ký:

– Kiểm tra, thẩm định và trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận đối với phần diện tích nhà, đất còn lại sau khi chia tách và trả cho chủ sở hữu. Thời hạn thực hiện không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp Giấy chứng nhận theo uỷ quyền cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Thời hạn thực hiện không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào hồ sơ gốc lưu trữ (bản mầu xanh Giấy chứng nhận); đồng thời chuyển “bản sao” hồ sơ chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận đã được đăng ký trước bạ sang tên (bản mầu hồng và mầu xanh) cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện để cập nhật biến động vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện.

c2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện:

– Hoàn tất thủ tục ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận đối với phần diện tích nhà, đất còn lại sau khi chia tách và trả cho chủ sở hữu. Thời hạn thực hiện không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Cấp Giấy chứng nhận theo phân cấp cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (phần được chia tách hoặc nhập). Thời hạn thực hiện không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Cập nhật biến động vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện; đồng thời, chuyển giao toàn bộ giấy tờ gốc chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận mầu hồng và bản gốc Giấy chứng nhận mầu xanh cho Văn phòng Đăng ký để lưu trữ và quản lý.

3. Chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Bản án hoặc Quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc theo Hợp đồng bán đấu giá bất động sản:

Hồ sơ ban đầu phải có Bản án hoặc Quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc Hợp đồng bán đấu giá bất động sản. Trình tự giải quyết thực hiện theo qui định tại tiết (1) và tiết (2), điểm II khoản 2, Điều này (trừ thủ tục công chứng, chứng thực không phải thực hiện).

4. Trường hợp thừa kế nhà ở, đất ở đồng thời với việc chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì cơ quan thụ lý hồ sơ giải quyết thủ tục khai nhận thừa kế đồng thời với thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Trường hợp Giấy chứng nhận cấp cho đồng sở hữu (sở hữu chung), nay một hoặc một số đồng sở hữu chuyển phần quyền sở hữu nhà và sử dụng đất của mình cho một hoặc một số đồng sở hữu còn lại thì thủ tục giải quyết việc chuyển quyền được thực hiện theo trình tự, thủ tục được qui định tại tiết (2), điểm (II), khoản 2 Điều này.

Khi giải quyết hồ sơ chuyển quyền, cơ quan thụ lý hồ sơ chỉ cần xác định số diện tích nhà, diện tích đất (xác định trên đơn vị diện tích – không cần trích lục thửa đất và mặt bằng hiện trạng nhà) của mỗi chủ sở hữu chuyển quyền cho chủ sở hữu còn lại”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản II, Điều 6 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về chuyển quyền sở hữu nhà không phải là nhà ở (bao gồm: nhà chuyên dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) gắn liền với quyền sử dụng đất ở giữa các tổ chức kinh tế như sau:

“ II. Trình tự thực hiện:

1. Bước 1: Hồ sơ nộp tại Văn phòng Đăng ký. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, Văn phòng Đăng ký kiểm tra và đối chiếu hồ sơ gốc, nếu đủ điều kiện thì gửi hồ sơ kèm theo phiếu chuyển xác nhận đủ điều kiện chuyển quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đến Phòng công chứng để làm thủ tục chứng nhận Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

2. Bước 2: Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng công chứng làm thủ tục chứng nhận Hợp đồng chuyển quyền.

3. Bước 3: Nộp các khoản nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, thực hiện như bước 2 qui định tại điểm (II), khoản (2), Điều này.

4. Bước 4: Văn phòng Đăng ký làm thủ tục trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận cho bên nhận chuyển quyền trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đã được hoàn tất theo các bước trên; đồng thời vào sổ cập nhật theo dõi biến động đất đai và trả Giấy chứng nhận cho bên nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

Trường hợp có tách nhập thửa đất, Văn phòng Đăng ký trình Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp đổi Giấy chứng nhận cho bên nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận không quá 07 ngày làm việc”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản III mục A, khoản III mục B Điều 9 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất như sau:

“ III. Trình tự thực hiện:

1. Bước 1: Các bên thế chấp hoặc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc tại một trong các Phòng công chứng trên địa bàn thành phố để làm thủ tục chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Đối với tổ chức kinh tế thì thủ tục làm tại Phòng công chứng.

Cơ quan thực hiện chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu là hộ gia đình, cá nhân mà Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp) hoặc Văn phòng Đăng ký (nếu là tổ chức kinh tế hoặc hộ gia đình và cá nhân mà Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) phải hoàn tất thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất vào hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận sau đó trả lại kết quả cho bên nhận thế chấp, bảo lãnh.

3. Việc xoá đăng ký thế chấp, xoá đăng ký bảo lãnh được thực hiện tại cơ quan đã đăng ký thế chấp, bảo lãnh”.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản II mục A, khoản III mục B Điều 10 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về trình tự góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất như sau:

“ Trình tự thực hiện:

1. Bước 1: Các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc tại một trong các Phòng công chứng trên địa bàn thành phố để làm thủ tục chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đối với tổ chức kinh tế thì thủ tục làm tại Phòng công chứng.

Cơ quan thực hiện chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu là hộ gia đình, cá nhân mà Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp) hoặc Văn phòng Đăng ký (nếu là tổ chức kinh tế hoặc hộ gia đình và cá nhân mà Giáy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) phải hoàn tất thủ tục đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Sổ địa chính và Giấy chứng nhận sau đó trả lại kết quả cho bên nhận góp vốn.

3. Việc xoá đăng ký góp vốn được thực hiện tại cơ quan đã đăng ký góp vốn”.

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố; Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất, Cục trưởng Cục thuế; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các quận, huyện; Thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan; Giám đốc Văn phòng Đăng ký; Tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân là người sử dụng đất, sở hữu nhà khi thực hiện các quyền của mình trên địa bàn thành phố Hà nội chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Lê Quý Đôn

CÁC BẠN TẢI T ẠI ĐÂY QUYẾT ĐỊNH SỐ 158/2002/QĐ-UB NGÀY 25/11/2002 CỦA UBND THÀNH PHỐ QUI ĐỊNH VỀ THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG, CHO THUÊ, CHO THUÊ LẠI, THỪA KẾ, THẾ CHẤP (HOẶC BẢO LÃNH), GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THẨM PHÁN THEO LUẬT PHÁP LIÊN BANG NGA

Pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc phải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọn nhẹ. Ở Cộng hoà Liên bang Nga, nghề thẩm phán là một trong những nghề rất được xã hội trọng vọng và pháp luật dành cho nhiều ưu đãi.

Một bộ phận cốt lõi của hệ thống tư pháp là cơ quan xét xử. Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có đội ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp, chí công, vô tư­.

Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạt động xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như­ quyền lợi của họ. Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn, quyền tài phán và quyền đư­ợc bảo vệ. Thẩm phán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn đư­ợc mở rộng đến nơi ở, nơi làm việc, phư­ơng tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bị truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Thẩm phán có thể không bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phê chuẩn của Toà án. Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ đư­ợc áp dụng khi Thẩm phán đ­ương nhiệm mà còn cả khi họ về hư­u, từ chức.

Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán đư­ợc hư­ởng lư­ơng, lư­ơng hư­u và phụ cấp tư­ơng xứng. Thẩm phán đư­ợc cấp nhà, đ­ược miễn hoặc ư­u tiên trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như­: đư­ợc quyền sử dụng các phư­ơng tiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, được quyền giữ chỗ trư­ớc, phục vụ ­ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụ điện thoại Thẩm phán và các thành viên trong gia đình được phục vụ và điều trị y tế không phải trả tiền. Tính mạng, sức khoẻ và tài sản của Thẩm phán đ­ược bảo hiểm bắt buộc lấy từ ngân sách Liên bang. Thẩm phán nghỉ hư­u mà vẫn tiếp tục nhiệm vụ của Thẩm phán thì đ­ược trả đủ lư­ơng h­ưu và tiền lương.

Ph­ương Yến (St) – HAIPHONG.GOV.VN

VIỆC THUÊ GIÁM ĐỐC KHÓ THỰC HIỆN – VƯỚNG TỪ ĐÂU?

Trong muôn vàn hoạt động thuê, sự thuê giám đốc DNNN là khó khăn, nhiêu khê hơn cả. Cho đến nay, tròn 10 năm kể từ năm 1997 chính phủ có chủ trương cho thuê giám đốc, việc thuê giám đốc DNNN vẫn đang trong giai đoạn thí điểm và đáng buồn hơn, cơ quan quản lý khó mà tổng kết những thí điểm này để phổ biến đại trà vì thành quả của nó còn quá nghèo nàn.

Trong mọi hoạt động liên quan đến kinh tế và xã hội, muốn đạt hiệu quả thiết thực phải chuyên môn hoá. Nghĩa là phải phân định rõ ràng: Việc nào mình tự làm tốt thì làm, việc nào thuê người khác làm hiệu quả thì nên thuê.

Trên thực tế, nhiều đơn vị hành chính và kinh tế đã tổ chức việc thuê khá hiệu quả. Thí dụ như tháng 8 vừa qua, UBND TP.Hà Nội đã thuê một đối tác nước ngoài thiết kế quy hoạch khu vực phía bắc thủ đô, hay một số NHTM quốc doanh thuê tư vấn và giám sát quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp. nhiều lĩnh vực được thuê đã trở nên khá phổ biến là: Thuê kê khai thuế, hải quan; thuê tư vấn thành lập DN; thuê thẩm định công nghệ; thuê kiểm toán nội bộ…

Trong muôn vàn hoạt động thuê, sự thuê giám đốc DNNN là khó khăn, nhiêu khê hơn cả. Cho đến nay, tròn 10 năm kể từ năm 1997 chính phủ có chủ trương cho thuê giám đốc, việc thuê giám đốc DNNN vẫn đang trong giai đoạn thí điểm và đáng buồn hơn, cơ quan quản lý khó mà tổng kết những thí điểm này để phổ biến đại trà vì thành quả của nó còn quá nghèo nàn.

Sau nhiều năm thai nghén, năm 2003, Chính phủ cho phép 5 TCty thực hiện thí điểm mô hình thuê chưc danh tổng giám đối, gồm: TCty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, TCty Công nghiệp ô tô Việt Nam, TCty Thiết bị kỹ thuật điện, TCty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng, TCty Xây dựng Sông Hồng. Sau gần 4 năm thực hiện, tính đến cuối năm 2006, vẫn chưa đơn vị nào thuê được tổng giám đốc. Theo đề án của các TCty, mức lương cho tổng giám đốc có thể nói là chấp nhận được với khoảng giãn cách từ 35 đến 50 triệu đồng/tháng, cộng với nhiều khoản tiền gửi theo doanh thu, lợi nhuận, mở rộng thị phần. Tuy nhiên, cái vướng nhất nổi lên là trao quyền cho tổng giám đốc được thuê đến đâu? Trách nhiệm của tổng giám đốc đến đâu? Nắm trong tay hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng của nhà nước, nếu để DN bị thua lỗ, cụt vốn, tổng giám đốc phải bồi thường, nhẹ nhất là bị mất chức. Trách nhiệm lớn như thế thì tổng giám đốc phải được quyền quyết định “ê-kíp” làm việc của mình. Nhưng trong DNNN xưa nay việc bổ nhiệm các chức danh từ trưởng phòng đến phó giám đốc đều phải được sự chấp nhận của Đảng uỷ, HĐQT.

DNNN mang trong mình nhiều cơ chế, việc điều hành DNNN đòi hỏi nhiều trách nhiệm, trong khi đó quyền lợi; quyền hạn bị hạn chế và bị giám sát bởi cả một bộ máy như HĐQT, Đảng uỷ TCty, cơ quan chủ quản… Vì thế, tìm được một ứng cử viên tổng giám đốc có năng lực, chấp nhận điều hành một TCty Nhà nước vô cùng khó khăn.

Bước sang năm 2007, 3 trong số 5 TCty nói trên là TCty Xây dựng Sông Hồng, TCty Thuỷ tinh và Gỗm xây dựng đã chuyển sang mô hình Cty mẹ – Cty con hoặc tập đoàn kinh tế như Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam nên không thực hiện đề án thí điểm thuê tổng giám đốc nữa. 2 đơn vị còn lại là TCty Công nghiệp ô tô ( vinamotor) và TCty Thiết bị kỹ thuật điện (VEC) tiếp tục thí điểm. Kết quả là VEC đã tuyển được giám đốc. Người ứng cử và trúng cử chính là… Tổng giám đốc đương nhiệm. Đáng chú ý là không có ứng cử viên bên ngoài tham dự, mặc dù đã thông báo rộng rãi trên báo chí một tháng, sau đó gia hạn thêm một tháng nữa. Còn Vinamotor vẫn đang trong quá trình… tuyển.

Qua hơn 4 năm thí điểm, mới chỉ có 1 DNNN thuê được tổng giám đốc, mà lại chính là tổng giám đốc đương nhiệm thì chắc chắn đề án thí điểm thuê tổng giám đốc  DNNN có điều gì đó chưa ổn hoặc tổ chức hoạt động của DNNN hiện có “vấn đề”. Bởi vì, khi luật DN 2005 cho phép thuê giám đốc (khoản 1, Điều 70; khoản 2,3 Điều 74) nhiều cty TNHH, cty cổ phần, DNTN đã thuê được giám đốc, tổng giám đốc. Điều đó cho thấy, mặc dù đã có luật DN 2005 ( thường gọi là Luật DN thống nhất) nhưng cơ chế của DNNN vẫn còn nặng nề, không dễ gì “ thống nhất” được với DN ngoài quốc doanh.

Nguồn tinTạp chí Thương Mại

MUA, BÁN, SÁT NHẬP ĐỔ BỂ VÌ SAO?

Những doanh nghiệp gặt hái được thành công lớn trong kinh doanh – như hãng phần mềm Microsoft của tỷ phú Bill Gates, và tập đoàn Berkshire Hathaway của ông trùm đầu tư Warren Buffet – thường được chèo lái bởi những người có đầu óc nhìn xa trông rộng, đem đến sự thay đổi cho các lĩnh vực mà doanh nghiệp của họ hoạt động.

Nhưng không may, trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập (M&A), đôi khi kết cục của lối nghĩ lớn này lại là thảm họa.

Không ít những thỏa thuận trị giá nhiều tỷ USD được tiến hành dựa trên các mối quan hệ cá nhân và cái tôi của các nhà quản lý, những kế hoạch vĩ đại với hy vọng làm biến đổi bộ mặt của một ngành công nghiệp, và niềm tin cho rằng giá trị của doanh nghiệp sau khi sáp nhập sẽ lớn hơn rất nhiều so với tất cả những gì riêng lẻ trước đó cộng lại. Và dĩ nhiên, những thỏa thuận này còn được thúc đẩy bởi các ngân hàng và giới luật sư tìm cách tìm kiếm lợi nhuận trên mảnh đất mua bán và sáp nhập.

Vài ví dụ tiêu biểu

Giới kinh doanh hiện đang chứng kiến không ít những vụ đổ bể của các thỏa thuận sáp nhập trước đó từng diễn ra tốt đẹp.

Ngày 4/10 vừa qua, hãng sản xuất ôtô Đức DaimlerChrysler đã quyết định đổi tên thành Daimler, trút bỏ những tàn tích cuối cùng của vụ mua lại hãng Chrysler vào năm 1998 với giá 40 tỷ USD. Mặc dù tiếp tục duy trì cổ phần 19,9% trong Chrysler, các cổ đông của Daimler vẫn sẽ rất vui mừng được quên đi quãng thời gian “sống chung” này – một thời kỳ đầy rẫy những kiện tụng liên quan đến thỏa thuận mua lại, thiếu những mẫu xe thu hút, sự xung đột về văn hóa và cách thức điều hành giữa các nhà quản lý của phía Mỹ và phía Đức, cũng như thâm hụt tài chính nặng nề.

Tháng 5 vừa qua, Daimler đã đồng ý bán lại phần lớn cổ phần của tập đoàn cho một công ty đầu tư tư nhân có tên Cerberus Capital Management với giá chỉ 6 tỷ USD.

Vào ngày 1/10 vừa qua, trang web bán đấu giá trực tuyến eBay thừa nhận là mình đã trả “hớ” trong thỏa thuận trị giá 2,6 tỷ USD mua lại công ty dịch vụ điện thoại Internet Skype vào năm 2005. eBay cho biết, họ đã phải chi tới 1,4 tỷ USD cho công ty này, và những người sáng lập ra Skype là Niklas Zennström và Janus Friis ra đi với không một lời giã biệt những người trước đó đã từng “ve vãn” họ.

Và đã nhiều năm sau vụ sáp nhập giữa Time Warner và AOL, Time Warner vẫn phải đang nỗ lực để làm cho vụ sáp nhập này đem lại hiệu quả. Động thái mới đây nhất của Time Warner là tập tung AOL vào thị trường quảng cáo và chuyển trụ sở của AOL từ Virginia về Manhattan.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, đã có không ít những thỏa thuận lớn đã đem lại những kết quả tuyệt vời. Một trong những thỏa thuận tốt đẹp nhất là thỏa thuận năm 1965 sáp nhập Pepsi-Cola và Frito-Lay để tạo thành PepsiCo.. Trong những thập kỷ sau đó, Pepsico đã trở thành một người khổng lồ toàn cầu với 15 thương hiệu, mỗi thương hiệu đạt doanh thu trên 100 triệu USD mỗi năm.

Vào tháng 7/2005, nhiều người đã nghi ngờ khi tập đoàn truyền thông News Corp của tỷ phú Rupert Murdoch bỏ ra 580 triệu USD để mua lại mạng xã hội ảo MySpace. Tuy nhiên, các nhà phân tích tính toán rằng, hiện nay, MySpace có giá khoảng 10 tỷ USD. Như vậy, rõ ràng là tỷ phú truyền thông Murdoch đã giành được khoản hời lớn.

Thất bại do đâu?

Trong hầu hết những vụ M&A gặp thất bại, phía mua lại là một công ty lớn nằm dưới sự điều hành của các nhà quản lý chuyên nghiệp và sự giám sát của hội đồng quản trị. Các công ty mục tiêu của họ được nhà phân tích theo sát, được các cố vấn xem xét kỹ và được các cổ đông – mà trong số này có nhiều tổ chức đầu tư chuyên nghiệp – thông qua. Tuy nhiên, tất cả bọn họ vẫn không thể ngăn chặn được kết cục xấu như trong trường hợp của Time Warner, eBay hay Daimler. Lý do tại sao?

Nguyên nhân thứ nhất là yếu tố tâm lý

Trong nhiều vụ M&A, các nhà quản lý đổ ra những khoản tiền lớn vào vụ đánh cược giống như một tay chơi bạc ở Las Vegas đang tuyệt vọng và muốn giành một vụ thắng bạc lớn khi thấy túi tiền của mình đang teo dần. Và kết quả của nỗi sợ hãi hoặc tuyệt vọng thường là những thỏa thuận tồi tệ. Nỗi sợ hãi hoặc tuyệt vọng đó có thể xuất phát từ việc một công ty đối thủ nào đó đang tạo ra một thị trường mới hoặc xâm nhập vào một thị trường đang tồn tại, khiến những công ty đang ở trong thị trường đó phải phản ứng lại.

Trong lĩnh vực công nghệ và viễn thông, có thể kể ra rất nhiều những thỏa thuận đáng buồn là kết quả của những thay đổi có tính chất cách mạng về công nghệ và quy định luật pháp đã gây ra những mối lo ngại, đẩy các nhà quản lý vào những quyết định tồi. Tính cao ngạo, lòng ghen tị và tham vọng không bị kiềm chế cũng là những yếu tố dẫn tới những quyết định thiếu sáng suốt.

“Tâm lý đóng một vai trò lớn trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập”, Hal Ritch, Giám đốc điều hành của công ty tư vấn mua bán và sáp nhập Sagent Advisors, đồng thời từng đứng đầu bộ phận mua bán và sáp nhập của Citigroup, và là một tỷ phú kinh doanh lớn, cho biết.

Nguyên nhân thứ hai là các nhà quản lý cố gắng dùng M&A để giải quyết những vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp phải đối mặt, chẳng hạn như khi thị trường đối mặt với những mối đe dọa về công nghệ hay quy định pháp luật mới. Có thể kể ra đây vài ví dụ.

Trong trường hợp AT&T, tập đoàn này đã cố gắng chuyển từ lĩnh vực điện thoại cố định truyền thống đang chết dần sang một lĩnh vực mới hơn và hứa hẹn hơn là Internet băng thông rộng và cáp quang. M&A đã chứng tỏ là một con đường không hiệu quả cho sự chuyển đổi này. Còn Revco thì cố gắng chuyển ra khỏi lĩnh vực kinh doanh dược phẩm bằng vụ mua lại năm 1983 công ty bán hàng giảm giá Odd Lots. Vụ mua lại này đã đóng dấu chấm hết cho số phận của Revco một thập kỷ sau đó.

Cũng giống như AT&T, hãng sản xuất đồ chơi Mattel cũng gần lâm vào cảnh phá sản khi sử dụng M&A như một công cụ để đuổi kịp công nghệ. Mattel đã chi hàng tỷ USD để mua lại hãng sản xuất game và phần mềm Learning Co. và tiếp đó là một chuỗi kết quả kinh doanh đáng thất vọng và Giám đốc điều hành Jill Barad bị mất việc.

Nguyên nhân thứ ba là, đôi khi, những người trong cuộc tự tin quá mức về những gì sẽ xảy đến trong tương lai cũng như khả năng của họ trong việc kết hợp những mảnh ghép khác nhau lại. Không ít vụ M&A có kết thúc buồn ban đầu được quảng cáo là “thay đổi cục diện cuộc chơi”, “làm biến đổi bộ mặt ngành công nghiệp X”…

Một số bài học

Những thất bại này cũng giải thích những lý do dẫn tới một thỏa thuận thành công. Các công ty có thành tích mua bán và sáp nhập tốt – như hãng sản xuất các thiết bị Internet Cisco Systems – thường có xu hướng tiến hành mua lại dựa trên một nền tảng khá ổn định. Họ có những quy trình giàu tính phương pháp để lựa chọn mục tiêu và biết cách hợp nhất hai doanh nghiệp sau khi tiến hành thỏa thuận. Đặc biệt, họ không bao giờ mua lại những công ty khác vì mục đích tăng lợi nhuận hoặc gia nhập nhanh chóng vào những lĩnh vực kinh doanh mới.

“Chúng tôi không thích những thỏa thuận quá lớn dẫn tới sự thay đổi lớn”, Ned Hooper, Phó chủ tịch phụ trách phát triển doanh nghiệp của Cisco cho biết.

Ông nói thêm: “Chúng tôi cho rằng M&A đem lại hiệu quả tốt nhất khi đó là một phần của một quy trình kinh doanh thường xuyên và ổn định. Những thỏa thuận tốt nhất thường là những thỏa thuận thúc đẩy những lĩnh vực kinh doanh đã có hoặc mở ra những lĩnh vực kinh doanh mới tại các thị trường lân cận. Chúng tôi cũng không thực hiện các thỏa thuận để tăng lợi nhuận trong ngắn hạn.”

Ngoài ra, những doanh nghiệp thành công trong lĩnh vực M&A cũng không chịu nhiều sự ảnh hưởng từ bên ngoài của các ngân hàng đầu tư. Hoopers cũng là người điều hành nhóm M&A của công ty và nhóm này là một phần trong bộ phận phát triển doanh nghiệp, chuyên cung cấp các ý tưởng về M&A cho công ty.

Các nhà quản lý có xu hướng coi những vụ M&A lớn là những kẻ làm hỏng việc khi họ cố gắng thuyết phục bản thân rằng, thời gian đã thay đổi và những quy tắc kinh doanh cơ bản đã không còn phù hợp nữa. Tuy nhiên, Hal Ritch cho rằng: “Những người giỏi nhất trong lĩnh vực M&A có thói quen liên tục tìm kiếm những cơ hội mua lại có khả năng thành công, và không bao giờ phụ thuộc quá nhiều vào việc liệu thị trường sẽ đi lên hay đi xuống vào thời điểm đó”.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc các mục tiêu M&A nhất thiết phải là những công ty đem lại lợi nhuận. Cisco thường mua lại những công ty mới được thành lập chưa có lợi nhuận và miễn là công ty này sở hữu một kế hoạch kinh doanh tốt.

Các công ty mua lại tốt cũng chú ý nhiều đến sự phù hợp về văn hóa giữa hai doanh nghiệp trong thỏa thuận và khả năng hai công ty có thể hòa hợp thành công. Hiện nay, giữa nhân viên trong các bộ phận của AOL và Time Warners vẫn có sự chia rẽ lớn về văn hóa, khiến công ty hợp nhất khó có thể hoạt động thành công.

Và, có một quy tắc chung là, thỏa thuận càng lớn và tham vọng bao nhiêu, khả năng thất bại càng cao bấy nhiêu. Đã rất, rất nhiều lần, những thỏa thuận được quảng cáo là “làm biến đổi doanh nghiệp” rốt cục chỉ chuyển biến một doanh nghiệp vốn đã ngập trong rắc rối thành một doanh nghiệp dở sống dở chết và đi vào con đường phá sản.

SOURCE: VnEconomy

HƯỚNG DẪN HỒ SƠ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

(Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006)

Hồ sơ kết hôn gồm:
Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định (2 bản) có chữ ký của cả 2 bên nam, nữ.
A. Đối với công dân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài:
1- Giấy xác nhận về tình trang hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng.
Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng guấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó.
2- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tân thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
3- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực Hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú.
4- Bản sao công chứng hoặc chứng thực thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).
B. Đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước:
1- Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp phường, xã, thị trấn cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng.
2- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam (Trung tâm Sức khoẻ tâm thần thành phố) cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tân thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
3- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân. Sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn.
Đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật quốc gia thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởc đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái quy định của ngành đó.
Ghi chú:
Hồ sơ được lập thành 02 bộ, nộp tại phòng HT-LLTP-QT (Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh số 141 – 143 Pasteur phường 6, quận 3).
Khi đến nộp hồ sơ kết hôn hai bên nam nữ phải xuất trình CMND, Hộ chiếu, Sổ hộ khẩu. Trong trường hợp chỉ có một bên đến nộp hồ sơ thì bên vắng mặt (phải là người đang cư trú ở nước ngoài) phải có giấy ủy quyền được chứng thực hợp lệ (giấy ủy quyền ghi rõ nội dung ủy quyền nộp hồ sơ kết hôn và lý do ủy quyền). Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ Sở Tư pháp sẽ có thư mời 2 bên nam nữ đến Sở Tư pháp để phỏng vấn. Khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn phải có đầy đủ 2 bên nam nữ, xuất trình CMND, Hộ chiếu, Visa để ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và sổ bộ.
Các văn kiện bằng tiếng nước ngoài phải nộp bản chính, kèm bản dịch ra tiếng Việt của cơ quan có thẩm quyền.
+ Văn kiện được cấp từ cơ quan Đại diện ngoại giao của nước ngoài đang trú đóng tại Việt Nam thì do Bộ Ngoại giao Việt Nam hoặc cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam uỷ nhiệm hợp pháp hóa.
+ Văn kiện được cấp từ nước ngoài do cơ quan Lãnh sự Việt Nam tại nước đó hợp pháp hóa.
+ Trường hợp văn kiện được cấp từ nước ngoài đã mang về Việt Nam nhưng chưa được hợp pháp hóa thì văn kiện này phải thông qua cơ quan Ngoại giao của nước họ đang trú đóng tại Việt Nam thị thực. Sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam hay cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam ủy nhiệm hợp pháp hóa.
Thời hạn giải quyết hồ sơ là 30 ngày.
Sau ngày hẹn trả hồ sơ 07 ngày nếu 2 bên nam nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì hồ sơ sẽ bị huỷ bỏ (không hoàn lại lệ phí). Trường hợp có lý do chính đáng, có yêu cầu khác về thời gian phải có đơn trình bày và hẹn ngày đến ký Giấy chứng nhận kết hôn, nhưng thời hạn kéo dài thêm không quá 90 ngày. Hết thời hạn này đương sự vẫn có yêu cầu kết hôn thì phải làm lại thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.
Địa chỉ cơ quan liên hệ (ở địa phương khác với thành phố Hồ Chí Minh các bạn liên hệ phòng công chứng thuộc sở tư pháp hoặc Sở tư pháp để hỏi thủ tục):
Phòng Công chứng số 1 Số 97 Pasteur, quận 1
Phòng Công chứng số 2 Số 94-96 Ngô Quyền, quận 5
Phòng Công chứng số 3 Số 12 Thống Nhất, quận Thủ Đức
Phòng Công chứng số 4 Số 25/5 Hoàng Việt, quận Tân Bình
Phòng Công chứng số 5 Số 278 Nguyễn Văn Nghi, quận Gò Vấp
Phòng Công chứng số 6 Số 80/1 Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh
Sở Ngoại vụ thành phố Số 06 Alexandre Rhodes, quận 1
Trung tâm sức khỏe tâm thần Số 192 Bến Hàm Tử, quận 5
Sở Tư pháp thành phố thu mỗi hồ sơ đăng ký kết hôn là: 1.000.000VNĐ (Một triệu đồng Việt Nam) thực hiện theo Quyết định số 57/2000/QĐ-BTC ngày 20/4/2000 của Bộ Tài chính.

SOURCE: SỞ TƯ PHÁP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGHỀ LUẬT SƯ Ở SINGAPOR

Hiện nay, Xin-ga-po được coi là một trong những nước có hệ thống pháp luật phát triển khá mạnh ở châu á. Dịch vụ pháp lý nói chung và hành nghề luật sư nói riêng được khuyến khích phát triển. Từ những năm 90 đến nay, các luật sư và hãng luật ở nước này không chỉ hành nghề trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra ở nhiều nước khác trên thế giới.

Theo Điều 12 của đạo luật về hành nghề luật sư ở Xin-ga-po, người muốn hành nghề luật sư phải từ 21 tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt; đã qua thời kỳ tập sự theo quy định và tham gia các lớp tập huấn, các kỳ kiểm tra theo quy định của Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po. Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po là cơ quan thực hiện chức năng đăng ký những người có đủ điều kiện để trở thành luật sư. Ngoài chức năng trên, Uỷ ban còn tiến hành công tác đào tạo và kiểm tra đối với những người có đủ điều kiện muốn trở thành luật sư. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Uỷ ban có thể xem xét và công nhận luật sư đối với các trường hợp ngoại lệ khi người nộp đơn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định trong Điều 12 nêu trên. Ngoài ra, Uỷ ban cũng có thể miễn cho một số người không phải theo học các khoá tập huấn và các kỳ kiểm tra nếu những người này được coi là ‘có đủ kinh nghiệm hoặc có quyền được miễn vì một lý do nào đó‘.

Thời gian tập sự ở Xin-ga-po là 6 tháng. Trong thời gian này, người tập sự không được phép mở văn phòng riêng hay làm thuê, cộng tác để làm nghề luật sư dưới bất cứ hình thức nào trừ khi được Uỷ ban chấp thuận bằng văn bản. Thời hạn tập sự có thể được xét giảm nếu người tập sự là luật sư tư vấn của Anh, Bắc Ailen hay đã hành nghề trong Khối thịnh vượng chung (gồm 54 thành viên, trong đó có 3 nước Đông Nam á là Xin-ga-po, Malaixia và Brunây). Những người này đã đăng ký ở Uỷ ban và đáp ứng đầy đủ các điều kiện trở thành luật sư phải nộp đơn đến Toà án để được công nhận là luật sư. Đơn đồng thời cũng được gửi đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hiệp hội Luật sư và các cơ quan hữu quan khác. Toà án chỉ xem xét công nhận sau khi đã nhận được ý kiến của các cơ quan này.

Chứng chỉ hành nghề luật sư do Lục sự ký và có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến hết năm. Khi một luật sư rút tên khỏi danh sách, chứng chỉ hành nghề của luật sư ngay lập tức sẽ không còn giá trị. Khi có sự thay đổi về họ tên, địa chỉ, địa điểm hành nghề và các dữ liệu cá nhân khác, luật sư phải thông báo cho Lục sự để thay đổi nội dung chứng chỉ hành nghề.

Chứng chỉ hành nghề của các luật sư Xin-ga-po cho phép các luật sư hành nghề với cả tư cách của luật sư bào chữa và luật sư tư vấn. Tại bất kỳ thời điểm nào sau khi công nhận người nộp đơn là luật sư mà Toà án phát hiện ra rằng người nộp đơn đã khai man các nội dung trong đơn, bản khai có tuyên thệ hoặc các giấy tờ liên quan hoặc cố tình che giấu sự thật thì Toà án sẽ xoá tên luật sư đó khỏi danh sách.

Luật sư của Xin-ga-po có quyền hành nghề với cả hai tư cách: Luật sư tư vấn và luật sư bào chữa. Một luật sư có thể hành nghề dưới hình thức cá nhân hoặc hành nghề trong các hãng luật dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn hoặc hợp danh. Hình phạt dành cho người hành nghề trái pháp luật có thể từ 500 đôla Xin-ga-po đến 6 tháng tù giam tuỳ theo mức độ vi phạm. Điều đặc biệt là ở Xin-ga-po tồn tại một loại hình luật sư theo vụ việc. Điều này có nghĩa là Toà án có quyền xem xét và công nhận một người không được công nhận và cấp chứng chỉ theo Đạo luật này là luật sư của một vụ việc cụ thể, nếu người đó được cấp chứng chỉ luật sư của Hoàng gia; không thường xuyên cư trú tại Xin-ga-po nhưng dự định đến Xin-ga-po để tham gia vào một vụ việc nào đó và có khả năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực của vụ việc đó.

Hiện nay các luật sư của Xin-ga-po hành nghề trong các hãng luật có quy mô khác nhau: Những hãng lớn thường có từ 80 luật sư trở lên; loại trung bình thì có khoảng 20 đến 30 luật sư; chiếm đa số vẫn là các hãng luật nhỏ có khoảng 5 luật sư thành viên. Trong đó, các hãng luật lớn thường có các bộ phận chuyên môn về một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, hàng hải, còn những hãng nhỏ ít có sự chuyên môn hoá hơn và thường tập trung vào các lĩnh vực như pháp luật về hình sự, giao thông, xây dựng và thu hồi nợ./.

P.L (St) – HAIPHONG.GOV.VN

 

ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – NHỮNG KHÓ KHĂN CẢN TRỞ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Việc nghiên cứu khái quát bài học từ 20 năm đổi mới doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa quan trọng với việc thực hiện nhanh và có hiệu quả nhiệm vụ này trong thời gian tới.

Nếu năm 1995 cả nước vẫn còn 12.400 doanh nghiệp nhà nước, thì đến tháng 6/2005, cả nước chỉ còn 2.983 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 2.253 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, 440 doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, 290 nông lâm trường quốc doanh với tổng số vốn khoảng 220.000 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có 670 Công ty cổ phần mà nhà nước giữ 51% vốn điều lệ trở lên. Mặc dù đã có những chuyển biến quan trọng và đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhưng nhiều khiếm khuyết, bất cập của các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được khắc phục một cách cơ bản, việc đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước thường được đánh giá là chậm so với yêu cầu. Đã có nhiều công trình phân tích nguyên nhân của tình trạng này. Trong bài này, chúng tôi xin nêu thêm một số yếu tố cản trở quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước và những bài học kinh nghiệm.

Những khó khăn cản trở việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, sự không rõ ràng trong nhận thức và thực thi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.

Trong điều kiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế là vấn đề phức tạp. Nhà nước đóng “vai trò kép” trong nền kinh tế nhiều thành phần: một mặt, là người quản lý vĩ mô hệ thống doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà nước phải được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; mặt khác, lại là người chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước, dù nhiều hay ít, nhà nước vẫn muốn giành cho chúng sự quan tâm riêng. Nhà nước chưa tạo lập được môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế.

Thứ hai, sự không rõ ràng trong nhận thức vai trò của doanh nghiệp nhà nước như “công cụ vật chất” để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này thường được hiểu là: nhà nước sử dụng doanh nghiệp nhà nước để khắc phục các trục trặc của thị trường và nhà nước tác động trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước để qua đó tác động đến doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Nhận thức này dẫn đến 2 hệ luỵ:

– Nhà nước không muốn hoặc khó giảm đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước, bởi lẽ nhà nước luôn muốn có “công cụ vật chất” mạnh. Điều này là yếu tố cản trở việc thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước vốn dĩ hiện đang còn khá phân tán;

– DNNN là một chủ thể bình đẳng với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, nó có quyền tự chủ và phải tự chịu trách nhiệm với hoạt động của mình. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng bị điều tiết bởi các quan hệ thị trường và phải hoạt động thích ứng với các điều kiện của thị trường.

Thứ ba, ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp còn khá nặng nề. Tuy yêu cầu phải chuyển nhanh sang cơ chế thị trường, nhưng một số chính sách của nhà nước vẫn thể hiện tính bao cấp và hành xử của một số cơ quan quản lý nhà nước vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử theo hướng giành ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước, chưa thể hiện quyết tâm đưa doanh nghiệp nhà nước ra đối mặt với cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Sự níu kéo này còn có nguyên nhân từ lợi ích của một số nhóm xã hội và một số cá nhân có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ tư, một số biện pháp của nhà nước còn mang tính chủ quan. Điều này thể hiện rõ nét trong việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt các doanh nghiệp của mình. Song sự định đoạt ấy phải tuân thủ các quy luật khách quan về sự vận động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đáng tiếc là, quyết định về mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nước vẫn chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan. Trong những năm 1970, đó là mô hình liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh, còn trong những năm 1990 là mô hình Tổng Công ty nhà nước. Trong khi yêu cầu phải tiến hành thí điểm thận trọng, thì những chủ trương này lại được triển khai đại trà trong một thời gian ngắn. Trong nhiều trường hợp, quyết định hành chính được sử dụng thay cho quá trình vận động khách quan của các doanh nghiệp.

Thứ năm, chưa tạo được hậu thuẫn vững chắc về chính trị-xã hội cho việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là quá trình phức tạp, vừa chứa đựng những nội dung kinh tế vừa chứa đựng những nội dung chính trị-xã hội.

Việc thực hiện nội dung kinh tế chịu những ràng buộc chính trị-xã hội; việc tạo lập hậu thuẫn chính trị-xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng hàng đầu cho sự thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Thực tế thời gian qua cho thấy, một trong những nguyên nhân làm cho đổi mới doanh nghiệp nhà nước chưa đạt được yêu cầu mong muốn là chưa tạo lập được nền tảng chính trị-xã hội thật sự vững chắc. Đó là: i) chưa hoàn toàn có sự thống nhất trong nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, về các thành phần kinh tế, về vai trò của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; ii) chưa tiên liệu đầy đủ tác động chính trị-xã hội có thể xảy ra, hoặc bị chi phối quá nặng bởi các yếu tố chính trị; iii) chưa xác định rõ ràng cơ chế, chính sách về quyền lợi và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; iv) sự chậm trễ trong tiến hành cải cách hành chính, chưa cắt đứt được cơ chế “lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm” gắn với sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Một số bài học chủ yếu.

1. Đổi mới tư duy và nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là bài học có tính chất bao trùm bảo đảm sự thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Sẽ không thể đổi mới một cách cơ bản hệ thống doanh nghiệp nhà nước nếu dựa trên nền tảng tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội. Cần nhận thức rằng việc phát triển kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong những phương tiện để xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh ở Việt Nam chứ không phải là mục tiêu cần đạt được. Đổi mới tư duy phải được thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành, nhưng trước hết phải là cấp cấp có thẩm quyền cao nhất trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện các quyết sách chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói riêng.

Việc đổi mới tư duy và nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện “trong điều kiện xã hội thuận lợi: bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là trong sinh hoạt Đảng, trong nghiên cứu khoa học, tinh thần tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lý; hệ thống thông tin chính xác… Điều quan trọng là phải coi trọng công tác lý luận nhằm cung cấp nội dung khoa học cho việc đổi mới tư duy”.

2. Xác định lại phạm vi và vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Về phạm vi của các doanh nghiệp nhà nước

Việc xác định lại phạm vi doanh nghiệp nhà nước phù hợp với điều kiện Việt Nam là một trong những cơ sở để hoạch định chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiện nay Việt Nam và nhiều nước coi doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp nhà nước nắm phần vốn hoặc cổ phần chi phối. Việc coi loại thứ hai là doanh nghiệp nhà nước có thể dẫn đến những bất hợp lý trong tư duy và hành xử: sự lạm quyền của người nắm phần vốn chi phối, coi nhẹ quyền của các chủ thể khác cùng góp vốn, trái với tính chất của doanh nghiệp đa sở hữu hoạt động theo nguyên tắc đối vốn. Từ đó, làm hạn chế khả năng động viên các chủ thể kinh tế khác cùng góp vốn với nhà nước thực hiện đầu tư.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chỉ nên coi doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn là doanh nghiệp nhà nước. Theo quan niệm này, phạm vi doanh nghiệp nhà nước sẽ được thu hẹp đáng kể và chắc chắn sẽ: i) không làm ảnh hưởng đến vai trò của doanh nghiệp nhà nước; ii) tạo thuận lợi cho hành xử của nhà nước với doanh nghiệp đích thực của mình; iii) tạo cơ sở thuận lợi mở rộng, quan hệ liên kết giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế khác.

Về vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Việc xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước liên quan đến xác định vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong bài này, chúng tôi không lạm bàn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà chỉ đề cập đôi điều về doanh nghiệp nhà nước như một “công cụ vật chất” của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Luận điểm này chưa dựa trên nền tảng xác định rõ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế ấy, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước, hệ thống pháp luật phải được coi là công cụ chủ yếu của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, thay vì bận tâm vào việc củng cố và tăng cường “công cụ vật chất” của mình, nhà nước cần tập trung trí tuệ, thời gian và công sức vào việc xây dựng hệ thống pháp luật và tạo nền nếp hành xử theo pháp luật.

3. Thực sự đưa doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ tạo động lực huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Khi quyết định theo đuổi cơ chế thị trường cũng có nghĩa phải chấp nhận cạnh tranh như một trong những đặc trưng cơ bản. Trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lợi thế cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Việc giành cho doanh nghiệp nhà nước nhiều ưu đãi, thậm chí vẫn tồn tại những doanh nghiệp độc quyền, không những hạn chế quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, làm doanh nghiệp nhà nước chưa thể trở thành “tấm gương” trong nền kinh tế nhiều thành phần, mà còn tạo nên sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, hạn chế khả năng huy động các nguồn lực của xã hội vào hoạt động đầu tư.

Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể được đẩy mạnh khi thực sự tư duy và hành động theo cơ chế thị trường, đoạn tuyệt hoàn toàn với cơ chế bao cấp, thực sự đưa các doanh nghiệp nhà nước ra cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã khuyến cáo rằng: “Cạnh tranh cải thiện hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước không chỉ vì các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước hoạt động tốt hơn, mà còn vì cạnh tranh sẽ làm rõ các khoản chi phí hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả hay những chi phí sử dụng doanh nghiệp nhà nước để theo đuổi các mục tiêu chính trị-xã hội. Cạnh tranh cũng cung cấp thông tin về hoạt động quản lý: Chính phủ có thể đánh giá vai trò của quản lý, mức độ cố gắng trong quản lý bằng cách so sánh hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước với hiệu quả của đối thủ cạnh tranh. Thực tế đây là điều mà các nước cải cách thành công đã làm: họ tăng cạnh tranh trong nước bằng cách xoá bỏ các kiểm soát giá cả và rào cản gia nhập thị trường, tăng cạnh tranh quốc tế bằng tự do hoá ngoại thương. Không chỉ vậy, các nước này còn giải thể hầu hết các doanh nghiệp nhà nước thuộc khu vực cạnh tranh.

4. Xác định rõ chủ sở hữu và xoá bỏ cơ chế chủ quản của doanh nghiệp nhà nước

Về chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước

Nếu giới hạn vào các doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn, thì sở hữu cụ thể của doanh nghiệp là nhà nước. Song trong sự cụ thể đó lại chứa đựng nhiều yếu tố trừu tượng: trong hệ thống quản lý nhà nước với nhiều cơ quan ở nhiều cấp khác nhau có sự phân công và phối hợp để thực hiện các quyền và trách nhiệm về quản lý kinh tế, không xác định được rõ cơ quan nào là chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp nhà nước. Hậu quả khó tránh khỏi là tình trạng thiếu trách nhiệm, chồng chéo trùng lắp trong việc thực hiện các chức năng của quản lý nhà nước với doanh nghiệp nhà nước.

Bởi vậy, để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, cần xác định rõ được chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp nhà nước. Với tinh thần nhà nước bỏ vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động kinh tế (trong giới hạn hợp lý), tiền vốn đó phải được quản lý một cách có hiệu quả, Chính phủ có thể thành lập một cơ quan trực thuộc với chức năng quản lý vốn của nhà nước tại doanh nghiệp. Người được giao vốn (Hội đồng Quản trị hoặc Giám đốc doanh nghiệp nhà nước) có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý nhà nước khác thực hiện việc quản lý doanh nghiệp nhà nước theo đúng chức năng được giao như quản lý doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

Về cơ chế chủ quản với doanh nghiệp nhà nước

Chủ trương xoá bỏ chế độ chủ quản đã được nêu ra từ đầu những năm 1990, nhưng đến nay vẫn chưa có chuyển biến cơ bản. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là: i) sự chưa rõ ràng trong xác định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; ii) sự e ngại mất quyền lực và lợi ích khi không còn doanh nghiệp “trực thuộc”; iii) thói quen của người quản lý doanh nghiệp trong việc tìm chỗ dựa để chia sẻ trách nhiệm trong hoạt động sản xuất-kinh doanh. Sự tồn tại cơ chế chủ quản đã dẫn đến hạn chế quyền chủ động và tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước, sự chậm trễ trong sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và ban hành các chính sách phù hợp với cơ chế thị trường.

Việc xoá bỏ cơ chế chủ quản phải được thực hiện trong khuôn khổ cải cách nền hành chính quốc gia. Theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ được tổ chức theo các chức năng mà nhà nước phải thực hiện phù hợp với cơ chế thị trường. Quan hệ giữa các cơ quan này với doanh nghiệp nhà nước được quy định cũng giống như quan hệ với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Như vậy, để thúc đẩy đổi mới doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ làm từ doanh nghiệp, mà trước hết phải làm từ chính các cơ quan quản lý nhà nước, nhà nước phải đổi mới mình làm cơ sở để đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

5. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các vấn đề kinh tế với các vấn đề chính trị-xã hội trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Đây là một trong những điều kiện tiền đề để bảo đảm thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Trong khuôn khổ bài này, xin nhấn mạnh 2 điểm sau đây:

Thứ nhất, xác định đúng hệ mục tiêu mà doanh nghiệp nhà nước cần đạt. Trong thực tế, doanh nghiệp nhà nước thường được đặt nhiệm vụ phải thực hiện hệ đa mục tiêu, gồm cả kinh tế, chính trị và xã hội. Điều này đã gây nên những bất cập trong quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô, chẳng hạn: i) không xác định rõ được mục tiêu trung tâm để tập trung sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; ii) tạo cớ để biện minh cho những kém cỏi trong quản lý hoạt động của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, trừ những doanh nghiệp liên quan đến an ninh, quốc phòng, doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo đúng cơ chế thị trường với mục tiêu kinh tế là trung tâm và trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu xã hội như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Thứ hai, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chắc chắn sẽ động chạm đến tâm tư và lợi ích của nhiều bộ phận dân cư. Bởi vậy, về mặt chính trị, một mặt, nhà nước phải có quyết tâm cao trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, mặt khác, phải bảo đảm tính khả thi của những nội dung đổi mới và tạo sự đồng thuận của cả xã hội về đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

SOURCE: irv.moi.gov.vn

MUA HÀNG KHÔNG TRẢ TIỀN LẠI CÒN GÁN NỢ

Nghe câu chuyện về Cty TNHH May VINA (Cty VN), tại 2258A Hồng Lạc, phường 10, quận Tân Bình, TP.HCM, là khách mua hàng không những không trả tiền mà còn đi gán nợ thì quả là chuyện “tiếu lâm” xưa nay hiếm. Vậy mà, đây lại là câu chuyện có thật 100%, gây bức xúc cho nhà sản xuất cung ứng nguyên liệu – Cty TNHH Dệt kim Nghệ Phong (Cty NP), tại 9C An Dương Vương, Phường 16, quận 8, TP.HCM, khiến Cty này liên tục gửi đơn tới báo chí nhờ can thiệp.

Theo hai hợp đồng mua bán số 09/HĐ/2007 NP-VN ngày 11/6/2007 và số 13 HĐ/2007 NP-VN ngày 28/6/2007, được ông Lâm Hưng Quốc,  Phó Giám đốc Cty NP và bà Lê Vũ Anh Thư, về việc mua, bán nguyên liệu vải nỉ vẩy cá giữa hai Cty Giám đốc Cty VN ký. Các điều khoản trong hai bản hợp đồng này đã được hai Cty cam kết với nhau chặt chẽ, từ việc giao nhận hàng, chất lượng nguyên phụ liệu – đóng gói đến phương thức thanh toán, trách nhiệm và giải quyết tranh chấp… Theo hợp đồng, Cty NP phải có trách nhiệm cung ứng hàng đúng hẹn, đảm bảo chất lượng, số lượng là 8.250 kg nguyên liệu vải Nỉ vẩy cá (trắng, đỏ, đen, xám) có tổng trị giá 972.248.750 đồng cho Cty VN. Cty NP, đã nghiêm túc thực hiện các điều khoản giao kèo trong hợp đồng, được thể hiện rõ trên các chứng từ là các phiếu thu chi; phiếu giao hàng tương ứng với các hoá đơn tài chính số 99997 ngày 28/6/2007; số 84750 ngày 3/7/2007; số 84712 ngày 7/7/2007; số 84715 ngày 10/7/2007; số 84718 ngày 11/7/2007; số 84726 ngày 17/7/2007; số 84729 ngày 19/7/2007; số 84730 ngày 20/7/2007; số 84746 ngày 1/8/2007; số 84751 ngày 3/8/2007. Các chứng từ đã phản ánh rõ việc giao, nhận hàng đầy đủ giữa hai Cty NP – Cty VN. Vậy, lẽ ra cuộc mua, bán này phải được diễn ra bình thường như muôn vàn cuộc mua, bán khác trên thị trường. Tức là, khi người bán (Cty NP) đã giao đủ hàng cho người mua (Cty VN), thì Cty VN phải có trách nhiệm thanh toán trả tiền sòng phẳng, đầy đủ  cho Cty NP, đó mới phải lẽ. Nhưng, lạ thay đến đợt giao hàng lần cuối của Cty NP vào ngày 3/8/2007, thì chỉ được Cty VN thanh toán trả 687.200.000 đồng. Vậy, số tiền Cty VN còn nợ lại Cty NP là 285.048.750 đồng. Tiếc thay, đến nay số tiền nợ trên của Cty NP vẫn đang bị Cty VN chiếm dụng, kèm theo là muôn vàn lý do không thể chấp nhận được, nếu không muốn nói qua vụ việc này đang có dấu hiệu của sự lừa đảo mà Cty VN đang hướng tới nhằm thực hiện hành vi chiếm dụng vốn của Cty NP.
Ông Lâm Hưng Quốc, Phó Giám đốc Cty NP cho biết: Mặc dù, Cty NP rất có thiện chí trên tinh thần hợp tác cùng Cty VN bàn, giải quyết công nợ cho thấu tình, đạt lý nhưng họ đã vấp phải không ít cản trở từ phía Cty VN: lúc đầu Cty VN đã nhiều lần hứa hẹn trả nợ số tiền trên cho Cty NP, song, tới nay vẫn chỉ là lời hứa suông, thậm chí Cty NP cũng không còn cơ hội để có thể liên lạc được với Cty VN, bởi giám đốc Cty này luôn tắt máy hoặc không nghe. Gần đây Cty VN còn trắng trợn mang số tiền nợ của Cty NP đem gán sang cho khách hàng của mình là một đơn vị đại diện của Đan Mạch tại Việt Nam (RIDDLE) bắt họ trả nợ thay, (được thể hiện tại công văn yêu cầu Cty NP đến giải quyết thanh toán nợ ngày 7/11/2007 do bà Lê Vũ Anh Thư, giám đốc Cty VN ký) với nội dung:”Cty VN có ký hợp đồng bán FOB cho khách hàng RIDDLE nhưng vì không đáp ứng được thời gian giao hàng nên đã bị RIDDLE rút toàn bộ số hàng còn lại đưa sang Cty khác sản xuất. Để giải quyết thanh toán với nhà cung cấp vải Cty NP, khách hàng RIDDLE mong muốn được làm việc trực tiếp với Cty NP về những vấn đề còn lại giữa nhà cung cấp vải Cty NP và nhà sản xuất hàng Cty VN”. Thật vô lý, khi RIDDLE là đơn vị ngoài cuộc, không phải là chủ thể trong giao dịch mua, bán này.  
Ngoài ra, tại Công văn số 04/CV-07 VINA ngày 15/10/2007 do bà Lê Vũ Anh Thư, Giám đốc Cty VN ký, gửi báo chí còn có lý do nữa được đưa ra để ngụy biện cho sự trễ nợ là do Cty NP bán hàng không đúng chất lượng, vải bị lỗi tới 80% (biên bản xác nhận vải bị lỗi ngày 27/7/2007). Thay vì, số vải bị lỗi này lẽ ra phải được giữ lại để hai bên cùng nhau bàn, tìm hướng giải quyết (như Điều 4 trong hợp đồng mua bán đã đươc hai Cty ký). Song, lạ thay cũng tại công văn 04/CV-07 ngày 15/10/2007, Cty VN cho biết: hàng bị lỗi cũng đã đưa vào sản xuất cho may thành sản phẩm áo và được XK, nhưng khách hàng RIDDLE vẫn không “hài lòng”. Không lẽ, khách hàng RIDDLE của Cty VN lại dễ dãi tới mức chấp nhận đưa vào sản xuất tới 80% lượng vải lỗi để cho ra thanh phẩm rồi XK, thu lợi nhuận mà chỉ có chút không “hài lòng”? Qua đây, lại một lần nữa cho thấy giám đốc Cty VN, bà Lê Vũ Anh Thư tiếp tục “ngây thơ”, tự cho mình cái quyền thoái thác trách nhiệm với Cty NP, coi thường luật pháp, vi phạm nghiêm trọng hợp đồng kinh tế để rồi bắt Cty NP đến đòi nợ đối tượng mà họ không quen biết, không ký hợp đồng mua bán hàng hoá với Cty NP không biết RIDDLE có trụ sở văn phòng đại diện đóng ở đâu? 
Đến đây, những người biết câu chuyện này có thể đặt ra nhiều câu hỏi liên quan và cho rằng các cơ quan chức năng vào cuộc để giải quyết, đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng này. Tất cả, đang còn là ẩn số rất cần được các cơ quan chức năng vào cuộc.

Nguồn tinTạp chí Thương Mại

QUI ĐỊNH MỚI VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÂN HÀNG

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Trong qúa trình tổ chức bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay cho NH, có không ít quan điểm khác nhau về quy định bán đấu giá tài sản.

Thứ nhất là quy định về số người tham dự cuộc bán đấu giá. Theo Nghị định 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 05) có hiệu lực (10/02/2005) thì số người tối thiểu tham gia một cuộc bán đấu giá đã có sự khác nhau. Cụ thể, điểm 1 Điều 2 của Nghị định 05 quy định cuộc bán đấu giá tài sản phải có từ 2 người trở lên. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 19 của Nghị định 05 cho phép người bán đấu giá tài sản được tiếp tục tổ chức cuộc bán đấu giá và bán tài sản cho người mua trong trường hợp đã hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá tài sản mà chỉ có 1 người đăng ký mua tài sản bán đấu giá và trả giá ít nhất bằng giá khởi điểm, với điều kiện người có tài sản bán đấu giá đồng ý. Quy định trên đây của Nghị định 05 có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

Một số người cho rằng việc người bán đấu giá tài sản tiến hành mở phiên bán đấu giá và bán tài sản cho người mua trong trường hợp chỉ có 1 người tham gia đấu giá không chỉ không phù hợp với quy định tại điểm 1 Điều 2 của Nghị định 05 mà còn không thể hiện được bản chất của hình thức bán đấu giá tài sản: tạo ra tính cạnh tranh giữa những người mua để bán được tài sản với giá cao nhất có thể.

Ngược lại, nhiều người khác lại quan niệm rằng nếu được người có tài bán đấu giá tài sản tiến hành mở phiên bán đấu giá và bán cho người mua trong trường hợp chỉ có 1 người tham gia đấu giá và trả giá không thấp hơn giá khởi điểm là phù hợp với khoản 1 Điều 19 của Nghị định 05.

Để thống nhất áp dung, quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, điểm 1 Điều 2 của Nghị định 05 cần bổ sung câu “trừ trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định này.

Thứ hai là các quan điểm khác nhau về việc trả giá lần đầu thấp hơn giá khởi điểm. Theo thông lệ quốc tế cũng như ở Việt Nam, trước khi tổ chức bán đấu giá tài sản, người bán đấu giá tài sản phải niêm yết, thông báo công khai về bán đấu giá tài sản, trong đó có giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá. Thực tế, người điều hành bán đấu giá tài sản thường yêu cầu những người tham gia đấu giá trả giá lần đầu ít nhất bằng giá khởi điểm để bán được tài sản tại cuộc bán đấu giá đó. Những người tham gia đấu giá đã không thực hiên theo yêu cầu nói trên của người điều hành bán đấu giá tài sản mà trả giá lần đầu thấp hơn giá thời điểm.

Đơn cử như trong thời gian qua, các NHTM đã bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu nợ. Việc bán đấu giá tài sản của các NHTM có vận dụng quy định của Nghị định 86 và người điều hành bán đấu giá cũng cho phép người tham gia đấu giá trả giá lần đầu thấp hơn giá khởi điểm. Do đó, kết quả cuộc bán đấu giá tài sản trên đã bị hủy bỏ để tổ chức bán đấu giá lại.

Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia NH, thì việc huỷ bỏ cuộc bán đấu giá trên là không có cơ sở. Hơn nữa; theo Nghị định 86 trước đây và Nghị định 05 hiện nay, thì người điều hành bán đấu giá tài sản chỉ có quyền và nhiệm vụ yêu cầu những người tham gia đấu giá tài sản trả giá chứ không có quyền cấm người tham gia đấu giá trả lần đầu thấp hơn giá khởi điểm vì hai lý do chính sau đây:

Một là Nghị định 86 và Nghị định 05 đều không quy định nhận người tham gia đấu giá bắt buộc phải trả giá lần đầu không được thấp hơn giá khởi điểm.

Hai là Nghị định 86 và Nghị định 05 đều quy định cuộc bán đấu giá coi như không thành trong trường hợp người trả giá cao nhất và cuối cùng thấp hơn giá khởi điểm. Do vậy, cần hiểu rằng quy định của Chính phủ đã không cấm người tham gia đấu giá tài sản được trả giá thấp hơn giá khởi điểm.

Thứ ba là các quan điểm khác nhau về quy định xác định giá khởi điểm và xử lý khoản tiền đặt trước. Căn cứ vào Nghi định 05, người bán đấu giá tài sản chỉ có trách nhiệm thông báo cho người ủy quyền về giá khởi điểm chứ không xin phê duyệt (chấp thuận giá khởi điểm đã được xác định). Do đó người bán đấu giá tài sản có quyền niêm yết công khai giá khởi điểm đã được xác định cùng với việc bán đấu giá tài sản sau khi đã thông báo cho NH (người ủy quyền) biết, kể cả trường hợp NH không đồng ý với giá khởi điểm đã được xác định. Tuy nhiên, các NH cho rằng quy định nói trên của Nghị định 05 là không bảo vệ được quyền lợi của người nhận thế chấp khi người bán đấu giá tài sản cố tình xác định giá khởi điểm không sát với giá thị trường (thấp hơn so với giá tài sản cùng loại được bán trên thị trường tại thời điểm bán đấu giá) nhằm bán được tài sản. Bởi vì nếu không bán được tài sản thì người có tài sản bán đấu giá chỉ thanh toán cho người bán đấu giá tài sản các chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá tài sản chứ không thanh toán phí đấu giá như trong trường hợp bán được tài sản.

Hậu quả của việc xác định giá khởi điểm; bán tài sản thấp hơn giá thị trường nói trên là người nhận thế chấp không thu được đủ nợ và người thế chấp cũng không trả được hết nợ cho NH do số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Trong khi đó, người bán đấu giá tài sản được thu đủ phí bán đấu giá theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và các chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá tài sản …

SOURCE: SBV.GOV.VN

 

GIÁO TRÌNH CÁC MÔN CHÍNH TRỊ, MÁC – LÊ NIN

1. GIÁO TRÌNH Triết học Mác – Lênin

Tác giả:  GS.TS.Nguyễn Ngọc Long, GS.TS. Nguyễn Hữu Vui

Chuyên ngành: Giáo trình dùng chung bậc đại học

–  Nguồn phát hành: Bộ giáo dục và đào tạo

Sơ lược:

Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý. Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

Từ lâu Triết học đã là môn học bắt buộc đối với sinh viên thuộc tất cả các ngành. Và đây là giáo trình chính thức được giảng dạy trong các trường Đại học và Cao Đẳng

TẢI NỘI DUNG GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC BẬC ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở ĐÂY

2. GIÁO TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tác giả:  PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ, ThS. Nguyễn Huy Tài

Chuyên ngành: Giáo trình dùng chung bậc đại học

–  Nguồn phát hành:    Trường ĐH Cần Thơ

Sơ lược:

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa học. Kết quả từ NCKH là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới có giá trị cao. Thực tế cho thấy, sinh viên khi bắt đầu làm luận văn tốt nghiệp và ngay cả những người mới ra trường làm việc trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi phải có kiến thức và có phương pháp NCKH. Vì vậy, môn học phương pháp NCKH học là nền tảng để trang bị cho các sinh viên tiếp cận NCKH. 

Giáo trình “Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học” được biên soạn với nhiều nội dung cung cấp những thông tin, những kiến thức cơ bản, các bước trong NCKH, những kỹ thuật cần thiết để tiếp cận phương pháp thí nghiệm và cách trình bày các kết quả NCKH. Hy vọng rằng giáo trình này sẽ mang lại những kiến thức bổ ích và những thông tin thiết thực cho sinh viên và những người bắt đầu làm công tác NCKH.

– ISBN: Chưa xác định

– Tài liệu tham khảo:
 – DƯƠNG THIỆU TỐNG. 2002. Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục và Tâm Lý. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh.

 – GOMEZ K.A. and GOMEZ A.A. 1983. Statistical Procedures for Agricultural Research. Los Banos, the Philippines. 

– PAUL C.C. 2004. Methods in Behavioral Research (eighth edition). Mc Graw-Hill College. Mayfield Publishing Company. 

– NGUYỄN BẢO VỆ. 2003. Cẩm nang trình bày luận án tốt nghiệp. Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Cần Thơ. Cần Thơ

 – TRUNG NGUYÊN. 2005. Phương Pháp Luận Nghiên Cứu (Cẩm nang hướng dẫn từng bước dành cho người bắt đầu). Nhà xuất bản Lao động – Xã hội. Hà Nội.

 – VŨ CAO ĐÀM. 2003. Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học (xuất bản lần thứ IX). Nhà xuất bản KH & KT. Hà Nội.

TẢI NỘI DUNG GIÁO TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  CỨU KHOA HỌC TẠI ĐÂY

3. GIÁO TRÌNH KINH TẾ – CHÍNH TRỊ MÁC –  LÊ NIN

Tác giả:  PGS.TS.Nguyễn Văn Hảo-PGS.TS.Nguyễn Đình Kháng-PGS.TS. Lê Danh Tốn

Chuyên ngành: Giáo trình dùng chung bậc đại học

–  Nguồn phát hành: Bộ giáo dục và đào tạo

Sơ lược:

Kinh tế chính trị ra đời và trở thành một môn khoa học độc lập vào thời kỳ hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. A. Môngcrêchiên – nhà kinh tế học người Pháp là người đầu tiên nêu ra danh từ “kinh tế chính trị” để đặt tên cho môn khoa học này vào năm 1615.

Sau đó, C. Mác và Ph. ăngghen đã làm cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong kinh tế chính trị trên tất cả các phương diện về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, nội dung, tính chất giai cấp… của kinh tế chính trị. Kinh tế chính trị do C. Mác và Ph. ăngghen sáng lập là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, dựa vào phép biện chứng duy vật và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế của xã hội tư bản. CMác, Ph. ăngghen và V.I. Lênin đã thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong kinh tế chính trị học. Kinh tế chính trị Mác – Lênin là lý luận sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản.

Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin dành cho các khối ngành không chuyên cung cấp cho độc giả một cái nhìn cụ thể, tổng quát nhất về các vần đề kinh tế chính trị theo quan điểm của Mác và Ăngghen

TẢI GIÁO TRÌNH KINH TẾ – CHÍNH TRỊ MÁC LÊ NIN TẠI ĐÂY

4. GIÁO TRÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Tác giả:  GS.TS.Đỗ Nguyên Phương, TS. Nguyễn Viết Thông

Chuyên ngành: Giáo trình dùng chung bậc đại học

–  Nguồn phát hành: Bộ giáo dục và đào tạo

Sơ lược:

Kế thừa những nhân tố tích cực của các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng trong lịch sử và những tinh hoa của nhân loại; khảo sát và phân tích thực tiễn của chủ nghĩa tư bản, Các Mác và Phriđrích Ăngghen đã sáng lập ra một lý thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội, đó là chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm ba bộ phận hợp thành là triết học Mác – Lênin, kinh tế học chính trị Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, trở thành một học thuyết khoa học và hoàn chỉnh, trở thành hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại, soi đường cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giải phóng nhân loại khỏi chế độ tư hữu, áp bức bất công và nghèo nàn lạc hậu.

Giáo trình gồm mười hai chương đã trình bày khá chi tiết về Chủ nghĩa xã hội khoa học và các vấn đề liên quan.

TẢI GIÁO TRÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở ĐÂY

5. GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ ĐẢNG

Tác giả:  PGS.NGND.Lê Mậu Hãn, PGS.TS.Trình Mưu, GS.TS. Mạch Quang Thắng

Chuyên ngành: Giáo trình dùng chung bậc đại học

–  Nguồn phát hành: Bộ giáo dục và đào tạo

Sơ lược:

Kế thừa những nhân tố tích cực của các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng trong lịch sử và những tinh hoa của nhân loại; khảo sát và phân tích thực tiễn của chủ nghĩa tư bản, Các Mác và Phriđrích Ăngghen đã sáng lập ra một lý thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội, đó là chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm ba bộ phận hợp thành là triết học Mác – Lênin, kinh tế học chính trị Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, trở thành một học thuyết khoa học và hoàn chỉnh, trở thành hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại, soi đường cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giải phóng nhân loại khỏi chế độ tư hữu, áp bức bất công và nghèo nàn lạc hậu.

Giáo trình gồm mười hai chương đã trình bày khá chi tiết về Chủ nghĩa xã hội khoa học và các vấn đề liên quan.

TẢI GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ ĐẢNG Ở ĐÂY

5. GIÁO TRÌNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tác giả:  PGS, TS. Mạch Quang Thắng

Chuyên ngành: Giáo trình dùng chung bậc đại học

–  Nguồn phát hành: Bộ giáo dục và đào tạo

Sơ lược:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh và đã quyết định ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Vì vậy, nghiên cứu, học tập một cách có hệ thống môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong cán bộ, đảng viên, nhất là học sinh, sinh viên thuộc hệ thống nhà trường của cả nước là nhiệm vụ hết sức quan trọng.Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh được biên soạn nhằm phục vụ cho nhu cầu đó.

Giáo trình được biên soạn một cách có hệ thống, chi tiết, cụ thể, chính xác tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, học tập của học sinh, sinh viên cũng như tất cả những độc giả quan tâm.

TẢI GIÁO TRÌNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH  Ở ĐÂY