VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN ĐỐI VỚI VIỆC MỞ RỘNG TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

TƯỞNG DUY LƯỢNG & NGUYỄN VĂNNG – Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao

I. CHỦ THỂ THAM GIA TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

1. Nhận thức về tranh tụng mở rộng tại Tòa án:

Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cái lẽ, cãi nhau để tranh lấy phần phải”. Như vậy, từ điển Hán Việt chỉ giải thích theo ngữ nghĩa của từ tranh chấp, chứ không phải “tranh” theo một trình tự tố tụng.

Còn theo từ điển tiếng Việt thì tranh tụng là việc “yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình”. Do đó, tranh tụng chỉ đặt ra khi cá nhân, cơ quan, tồ chức cho rằng quyền lợi của họ hay của người khác bị xâm phạm và yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ cho họ. Yêu cầu này được Tòa án chấp nhận giải quyết theo trình tự tố tụng pháp luật quy định, khi việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, tranh tụng trong tố tụng dân sự diễn ra từ khi bắt đầu khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung cho đến kết thúc giai đoạn tranh luận tại phiên tòa.

Các đương sự tham gia vào các giai đoạn này luôn đưa ra yêu cầu Tòa án xét xử theo hướng có lợi cho mình và đồng thời đưa ra lý lẽ để biện minh cho yêu cầu của mình đặt

ra là đúng pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay có quan điểm cho rằng tố tụng của Việt Nam là

tố tụng xét hỏi, do đó tranh tụng chỉ có trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa. Bởi lẽ, từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa các thẩm phán phải trực tiếp điều tra, thu thập chứng cứ,

có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp, có căn cứ về yêu cầu của các bên. Thực tế cho thấy, trước giai đoạn tranh luận, không có việc các bên đương sự đối đáp, tranh tụng trực tiếp với nhau, chỉ đến giai đoạn tranh luận thì mới xuất hiện sự tranh tụng, còn điều tra, xét hỏi tại phiên tòa thực chất là quá trình Tòa án tìm ra sự thật vụ án, chưa xuất hiện tranh tụng trong các giai đoạn này. Chúng tôi cho rằng cách hiểu về tranh tụng trong quan điểm này, chỉ coi sự đối đáp trực tiếp mới là tranh tụng sẽ không đầy đủ. Có lẽ cách hiểu đúng về thuật ngữ tranh tụng phải bao gồm cả đối đáp trực tiếp và cả sự “đối đáp” gián

tiếp. Trong đó một yếu tố không thể thiếu để có được sự tranh tụng thực sự đó là việc các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ, thông tin cho nhau, qua đó, các bên đưa ra lập luận, lý lẽ, chứng cứ được thể hiện bằng văn bản nhằm bác bỏ quan điểm phía bên kia.

Do đó, dù Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự còn nhiều hạn chế nhưng các quy định của Pháp lệnh đã phần nào thể hiện sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, còn dự thảo 12 Bộ luật tố tụng dân sự đã thể hiện một cách rõ nét sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, vai trò của các bên đương sự trong tố tụng đã được đề cao rất nhiều, nó thể hiện ngay trong trách nhiệm của các bên đương sự trong quá trình tố tụng.

2. Chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự:

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự, bao gồm:

– Đương sự trong vụ án dân sự có thể là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được Viện kiểm sát khởi tố

vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa

vụ của họ.

– Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người sau đây có thể được chấp nhận làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư không bị cấm thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không phải là cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an; Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.

– Các cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi chức năng của mình có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện kiểm sát xem xét việc khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

– Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động.

– Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền,

lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật lao động nghiêm trọng khác.

– Người đại diện.

Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự, như: đại diện cho đương sự là người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự hoặc đại diện cho cơ quan, tổ chức… Tuy nhiên, các trường hợp sau đây sẽ bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự: nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người đại diện mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền,

lợi ích hợp pháp của người được đại diện; nếu họ đang là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án; cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự.

Thực tiễn tùy từng vụ án mà các đối tượng có thể tham gia tranh tụng do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Họ cũng có thể tham gia từ khi thụ lý vụ án, nhưng cũng có thể tham gia vào những giai đoạn tố tụng khác nhau. Khi tham gia tranh tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ được quy định trong tố tụng dân sự.

3. Sự khác nhau giữa tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng trong tố tụng hình sự:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra trong các phiên tòa mà phần tranh tụng chủ yếu là ở phần tranh luận; tại đây giữa các bên đã đối đáp nhau một cách trực tiếp. Chủ thể tranh tụng trong tố tụng hình sự bao gồm: Viện kiểm sát và người bị hại, nguyên đơn dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại, đại diện cho bị hại, nguyên đơn dân sự…, luật

sư của các bên và bị cáo.

Như vậy, trong tranh luận sẽ hình thành 2 tuyến chủ thể chủ yếu, đó là người buộc tội, còn một bên là người gỡ tội. Mặc dù bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nhưng bị cáo và những người thuộc tuyến chủ thể này có quyền chứng minh sự vô tội của mình, họ đưa ra các căn cứ, lý lẽ, lập luận bác bỏ sự buộc tội của phía bên kia. Về nguyên tắc thì các bên đều bình đẳng với nhau trong quá trình tranh tụng. Nhưng thực tế bên bị buộc tội khó có thể có được sự bình đẳng thực sự trong tranh tụng, vì chính họ có thể bị thiếu những điều kiện, phương tiện và khả năng để thực hiện được sự bình đẳng trong tranh tụng. Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra tại phiên tòa, còn tranh tụng tố tụng trong dân sự diễn ra kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và giữa các bên trong quá trình tranh tụng hoàn toàn bình đẳng. Trong tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát là cơ quan đại diện quyền lực cho nhà nước, luôn luôn là một chủ thể phải tham gia tranh tụng với tư cách là người buộc tội, còn trong dân sự Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức xã hội chỉ tham gia tranh tụng khi họ là người khởi kiện hoặc khởi tố vụ án. Đây có thể là những dấu hiệu

cơ bản để phân biệt tranh tụng trong tố tụng hình sự với tranh tụng trong tố tụng dân sự.

II. VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Tranh tụng là một hoạt động quan trọng trong tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng. Nó chỉ diễn ra trong hoạt động tư pháp. Tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là hoạt động của chủ thể trong quá trình chứng minh về tính hợp pháp và có căn cứ của các yêu cầu mà họ đặt ra hoặc chứng minh về tính bất hợp pháp, thiếu căn cứ về các yêu cầu mà phía đương sự bên kia đưa ra. Trong quá trình tranh tụng các bên đương sự sẽ đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, những lập luận nhằm bảo vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của đối phương. Do đó, tất cả các hoạt động như trình bày các yêu cầu của mình trong đơn, các bản tự khai trong đó đưa ra các lý lẽ, chứng cứ, lập luận, yêu cầu, phản yêu cầu, cung cấp chứng cứ, bằng chứng hoặc sự đối chất qua các bên, quá trình trao đổi

tài liệu chứng cứ cho nhau diễn ra trước khi mở phiên tòa, chính là quá trình các đương

sự thực hiện sự tranh tụng. Trong suốt quá trình tố tụng đó, vai trò của thẩm phán là rất quan trọng, thậm chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá trình tranh tụng. Mặc dù thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là một chủ thể, hay là một bên trong quá trình tranh tụng nhưng với tư cách là người đại diện cho nhà nước, thực thi công lý, họ có vai trò là người trọng tài, là người hướng dẫn cho các bên đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng đúng pháp luật.

Nếu việc tranh tụng đó diễn ra tại phiên tòa thì vai trò của thẩm phán được thể hiện một cách rõ nét đầy đủ nhất. Bởi vì cũng chính tại phiên tòa là nơi sẽ diễn ra đỉnh điểm của sự tranh tụng, nó hàm chứa đầy đủ các dấu hiệu, đặc điểm của việc tranh tụng và cũng tại giai đoạn này vai trò của thẩm phán trong tranh tụng cũng được thể hiện một

cách nổi bật, thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm vào những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn, cần làm rõ của vụ kiện.

Thông qua kết quả tranh tụng, thẩm phán đánh giá nội dung thực chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của mỗi bên, trên cơ sở đó căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tố tụng thì thẩm phán lại có vai trò khác nhau:

1. Giai đoạn khởi kiện, khởi tố và thụ lý, điều tra vụ án:

Thẩm phán kiểm tra đơn khởi kiện, quyết định khởi tố có đủ điều kiện thụ lý hay không. Chỉ có các trường hợp sau đây thì đơn khởi kiện, khởi tố sẽ không được thụ lý:

– Thời hiệu khởi kiện đã hết;

– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ các vụ án ly hôn mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc các vụ kiện đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho ở nhờ, mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện;

– Hết thời hạn được thông báo mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, khởi tố;

– Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Còn trong trường hợp khác thẩm phán phải thụ lý, nếu trong trường hợp đơn khởi kiện, khởi tố không đúng quy định của pháp luật thì yêu cầu người khởi kiện, khởi tố sửa đổi,

bổ sung đơn khởi kiện, quyết định khởi tố.

Sau khi thụ lý, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho các nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và đồng thời yêu cầu họ đưa ta các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu của mình đưa ra là chính đáng và ngược lại đối với bên bị yêu cầu, nếu họ không chấp nhận yêu cầu của phía bên kia thì cũng phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để bác bỏ yêu cầu của phía bên kia. Vấn đề này thể hiện thông qua đơn khiếu nại, giải trình, lấy lời khai đương sự, đối chất các chứng cứ tài liệu

do các bên xuất trình…

Trong quá trình tranh tụng các đương sự có thể yêu cầu hoặc Tòa án thấy cần thiết có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu là giấy tờ, ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án; trưng cầu giám định; quyết định,

định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác việc thu thập chứng cứ, sắp tới khi Bộ luật tố tụng dân sự thông qua, với yêu cầu nâng cao vai trò nghĩa vụ chứng minh của đương sự, để các bên có được thông tin khi thực hiện việc tranh tụng thì thẩm phán phải yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ của mình cho phía bên kia. Vì vậy, nếu thiếu vai trò tích cực của thẩm phán thì vấn đề tranh tụng của các đương sự không được thực hiện một cách triệt để. Đây là giai đoạn tranh tụng thể hiện bằng các hành vi pháp

lý, thông qua các hình thức văn bản là chủ yếu nhằm chuẩn bị cho tranh tụng có sự đối đáp trực tiếp tại phiên tòa.

2. Vai trò của thẩm phán đối với vấn đề tranh tụng trong phiên tòa:

* Về thủ tục xét hỏi

– Bắt đầu vào thủ tục xét hỏi, Hội đồng xét xử lần lượt nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của họ… Nếu tổ chức xã hội hoặc Viện kiểm sát… là người khởi tố thì Viện kiểm sát, tổ chức khởi kiện được trình bày và phát biểu trước. Người trình bày có quyền nêu rõ nội dung sự việc và yêu cầu, đồng thời xuất trình các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.

– Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện, hội đồng xét xử yêu cầu người làm chứng nói rõ những việc liên quan đến việc tranh chấp mà họ biết.

+ Trước khi nghe lời trình bày của người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu người làm chứng tuyên thệ trước Tòa là chỉ nói đúng sự thật.

+ Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu, người giám hộ giúp đỡ để hỏi.

– Hội đồng xét xử tiến hành xem xét các vật chứng và hướng dẫn cho đại diện Viện kiểm sát, đại diện của tổ chức, các đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự xem xét các vật chứng tại phiên tòa.

Nếu vật chứng không đưa đến phiên tòa được, khi cần thiết Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đến xem xét tại chỗ.

– Chủ tọa phiên tòa công bố bản kết luận giám định, nếu người giám định vắng mặt hoặc mời người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Người giám định có quyền giải thích bổ sung trên cơ sở kết luận giám định tại phiên tòa.

– Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát lần lượt đặt câu hỏi đối với từng vấn đề đang

có tranh chấp, câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, người được hỏi phải trả lời ngắn gọn và đúng vấn đề được hỏi và yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ kiện mà người đó đã biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

– Nếu thấy cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể cho đối chất ngay tại phiên tòa giữa những người đã trình bày về những điểm có mâu thuẫn.

– Những người tham gia tố tụng khác có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn

đề cần được hỏi thêm hoặc yêu cầu thu thập thêm chứng cứ. Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu đó và căn cứ vào tình tiết vụ án đề quyết định.

Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, luật sư… thực hiện đặt câu hỏi với phía bên kia, đối với người làm chứng, giám định và những người tham gia tố tụng khác về các tình tiết liên quan đến vụ án.

+ Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh tính hợp pháp của chứng cứ, nếu thấy việc đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ kiện.

+ Trường hợp chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm vật chứng, nếu không thực hiện được ngay, thì có thể phải dừng phiên tòa.

Trong quá trình xét hỏi, Hội đồng xét xử mà đặc biệt vai trò của thẩm phán chủ tọa là người chủ trì, điều khiển đảm bảo phiên tòa diễn ra một cách trật tự. Hội đồng xét xử phải khách quan tập trung lắng nghe lời khai của các bên, của các nhân chứng… lời phát biểu của luật sư, của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.

* Thủ tục tranh luận tại phiên tòa.

– Sau khi kết thúc việc xét hỏi, nếu không phải hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ việc xét xử thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận.

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bảo vệ quyền, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó lần lượt lập luận về các tình tiết của vụ kiện, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý và đề xuất hướng giải quyết vụ kiện. Nếu Viện kiểm sát khởi tố vụ kiện hoặc cá nhân, tổ chức khởi kiện lợi ích của người khác thì Kiểm sát viên, cá nhân hoặc đại diện của tổ chức đó trình bày ý kiến của mình đầu tiên.

– Trong trường hợp đương sự có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa, trình bày

ý kiến trước thì người đại diện hợp pháp có quyền bổ sung hoặc nếu người đại diện hợp pháp trình bày ý kiến trước thì đương sự được quyền trình bày ý kiến bổ sung.

– Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng thông thường họ chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Tuy nhiên, đối với tình tiết hoặc chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nội dung tranh chấp, Chủ tọa phiên tòa có thể để các bên tranh luận thêm. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ kiện.

– Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển việc tranh luận, để việc tranh luận có chất lượng thì chủ tọa phải xác định những vấn đề mà các bên cần tranh luận với nhau, hướng việc tranh luận vào trọng tâm, vào những điều cần phải làm rõ để xác định sự thật, xác định được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

– Nếu qua tranh luận thấy việc điều tra vụ án chưa toàn diện thì có thể dừng phiên tòa

để điều tra bổ sung, nếu cần thấy phải xem xét thêm vật chứng, xét hỏi thêm thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại giai đoạn xét hỏi và sau đó lại tiếp tục tranh luận.

Tóm lại, quy trình tranh tụng như trên cho thấy thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng tranh tụng, nếu không có thẩm phán tham gia thì không thể có tranh tụng như luật quy định. Đối với các đương sự họ là nhân vật trọng tâm, là chủ thể chính của việc tranh tụng còn thẩm phán giữ vai trò là người tổ chức, điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật và là người trọng tài để đưa ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ, các quy định của pháp luật mà các đương sự đã chứng minh là đúng đắn trong quá trình tranh tụng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2 /2004

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC MUA BÁN TÀI SẢN ĐẤU GIÁ TẠI TRUNG TÂM ĐẤU GIÁ CỦA SỞ TƯ PHÁP

1. Thủ tục gửi bán tài sản đấu giá

Hồ sơ tài sản bán đấu giá gồm có:

1. Các giấy tờ về quyền sở hữu

a. Đối với động sản: giấy chủ quyền xe gắ máy, mô-tô, ô-tô, tàu, thuyền, …; tờ khai hàng hóa nhập khẩu, giấy phép vận hành (đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng).

b. Đối với bất động sản: giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, biên lai nộp thuế trước bạ, biên lai thu tiền sử dụng đất, họa đồ hiện trạng nhà đất.v. v.

2. Bản liệt kê mô tả chi tiết kèm theo tài sản bán đấu giá (theo mẫu).

3. Biên bản định giá tài sản của hội đồng định giá (nếu có).

4. Quyết định bán tài sản (nếu có).

Riêng đối với tài sản của cơ quan thi hành án dân sự còn phải kèm theo các văn bản sau đây:

– Bản án hoặc quyết định của Tòa án kê biên tài sản để thi hành án.

– Quyết định thi hành án.

– Quyết định cưỡng chế thi hành án (nếu có).

– Quyết định kê biên tài sản bán đấu giá của Chấp hành viên.

– Biên bản định giá tài sản.

– Quyết định bán tài sản để thi hành án.

– Quyết định giải tỏa tài sản thế chấp (nếu có).

– Các giấy tờ liên quan khác.

 

2. Thủ tục mua tài sản đấu giá

a. Điều kiện của người tham gia đấu giá

– Cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự (từ 18 tuổi trở lên), không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (theo quy định từ điều 23 đến điều 25 Bộ luật dân sự).

– Tổ chức đủ tư cách pháp nhân (điều 94 Bộ luật ddân sự).

b. Những người sau đây không được tham gia đấu giá:

– Người không có quyền mua tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật.

– Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

– Những người làm việc trong tổ chức bán đấu giá tài sản, cha ,mẹ, vợ, chồng, con của những người đó.

– Những người trực tiếp thực hiện việc giám định tài sản bán đấu giá, cha, mẹ, vợ, chồng, con của những người đó.

c. Thời gian đăng ký tham gia đấu giá

Người muốn tham gia đấu giá tài sản phải đăng ký mua chậm nhất là 2 ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá và phải nộp trước khoản tiền bằng 1% giá khởi điểm. Trong trường hợp mua được tài sản bán đấu giá thì khoản tiền đặt trước được trừ vào tiền mua, nếu không mua được thì khoản tiền đặt trước này được Trung tâm trả lại ngay sau khi cuộc bán đấu giá kết thúc. Người tham gia đấu giá đã nộp tiền đặt trước nhưng sau đó không tham gia đấu giá thì khoản tiền đặt trước đó nộp vào ngân sách Nhà nước (trừ trường hợp bất khả kháng )

d. Tổ chức bán đấu giá

Sau khi hết thời hạn đăng ký mua tài sản đấu giá, tài sản có ít nhất 2 khách hàng đăng ký mua thì Trung tâm sẽ tổ chức bán đấu giá. Quý khách hàng sẽ được Trung tâm gởi giấy mời tham gia đấu giá trong đó quy định rõ thời gian, địa điểm bán đấu giá, và khách hàng phải mang theo số tiền 10% giá khởi điểm để Trung tâm kiểm tra trước khi bán đấu giá và nộp ngay nếu mua được tài sản (để hạn chế khách hàng bỏ mua sau khi đấu giá thành). Cuộc bán đấu giá được tổ chức công khai và khách hàng phải trả từ giá khởi điểm trở lên, người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất.

e. Giao tài sản bán đấu giá cho người mua

Tài sản bán đấu giá sẽ được Trung tâm phối hợp với bên ủy quyền giao cho người mua trong thời hạn 07 ngày sau khi người mua nộp đủ tiền (đối với động sản) hoặc sau 30 ngày (đối với bất động sản) trừ trường phải cưỡng chế thi hành án.

f. Chuyển quyền sở hữu cho người mua

Đối với tài sản phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, Trung tâm làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với động sản là 15 ngày, đối với bất động sản là 30 ngày, trừ trường hợp có sự thoả thuận khác.

3. Thông tin về tài sản bán đấu giá (THÔNG TIN NÀY ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. CÁC BẠN CÓ THỂ HỎI CỤ THỂ TẠI SỞ TƯ PHÁP ĐỊA PHƯƠNG NƠI BẠN CƯ TRÚ)

Trước khi tiến hành bán đấu giá bảy ngày đối với động sản và ba mươi ngày đối với bất động sản, Trung tâm niêm yết việc bán đấu giá tại trụ sở Trung tâm (19/5 Hoàng Việt, phường 4, quận Tân Bình, điện thoại: 8 119849) và nơi có bất động sản (UBND phường, xã).

Đồng thời với việc niêm yết việc bán đấu giá, Trung tâm thông báo hai lần về việc bán đấu giá mỗi lần cách nhau ba ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hiện nay, việc thông báo công khai được Trung tâm đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng thứ bảy và báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh thứ  hai hàng tuần.

SOURCE: SỞ TƯ PHÁP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NHỮNG LỢI THẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

THS. NGUYỄN THANH BÌNH – Khoa luật Thương mại, trường ĐH Luật TP. HCM

So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay ở nước ta, thì loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần (hình thức pháp lý liên kết các nhà đầu tư, các chủ thể kinh doanh cùng nhau hùn vốn để thành lập và tổ chức vận hành công ty theo những mục đích nhất định) có nhiều lợi thế hơn hẳn. Lợi thế hơn hẳn đó xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lý mà pháp luật qui định và được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập

Pháp luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty. Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo qui định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án. Khi công ty mua sắm các tài sản mới, thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty chứ không thuộc sở hữu của các cổ đông công ty vì lúc này công ty cổ phần là một pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với các cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông không được xem tài sản mà công ty mới mua sắm là tài sản của cá nhân mình; mặc dù trên thực tế cổ đông là chủ sở hữu một số quyền lợi có giá trị của công ty cổ phần như:quyền tham gia quản lý, điều hành công ty theo qui định, quyền được chia cổ tức, quyền được chia tài sản theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể … Tuy nhiên, với tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty.

Các cổ đông trong công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn

Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của công ty cổ phần tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phương thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu của công ty cổ phần, nhưng cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo qui định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty. Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình. Xét về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình. Cả công ty cổ phần lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành. Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nước thì các thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm cá nhân vô hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không.

Như vậy, xuất phát từ sự tồn tại độc lập của công ty cổ phần so với các cổ đông nên công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng, do đó các rủi ro của cổ đông khi đầu tư vào công ty cổ phần chỉ giới hạn trong số lượng giá trị cổ phiếu mà cổ đông đó đầu tư. Ngược lại, khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân thì mức độ rủi ro là vô hạn. Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư đầu tư vào công ty cổ phần nhiều hơn so với đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn. Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hiểu rằng khi mình đầu tư vào công ty cổ phần với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông thì không bao giờ mình bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu tư vào công ty cổ phần nên họ ít sợ rủi ro hơn người đầu tư vốn vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, những người này phải thấp thỏm lo âu khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xấu đi, vì họ có thể mất toàn bộ tài sản bất kỳ khi nào. Chính lợi thế này mà các công ty cổ phần có khả năng huy động rất lớn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình .

Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do

Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều qui định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới. Vì khác với các loại công ty khác, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông. Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là hàng hóa nên các cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng. Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán.

Công ty cổ phần có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt

Công ty cổ phần không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn. Vốn là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực. Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong công ty cổ phần sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty. Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty. Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là yếu tố năng động nhất. Các qui luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển của công ty cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế. Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người. Điều này đặt ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn.

Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi.

Theo các qui định của Luật Doanh nghiệp thì công ty cổ phần ở Việt Nam có thể qui định và phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau như: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi (trong cổ phiếu ưu đãi có: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ưu đãi khác…) và các loại trái phiếu. Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho kinh doanh của công ty. Ngoài ra, khi xây dựng giá trị các cổ phiếu của công ty thì các công ty thường xác lập mệnh giá của cổ phiếu thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu tư dù cho khả năng tài chính không nhiều nhưng vẫn có khả năng tham gia đầu tư vốn vào công ty cổ phần.

Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại

Với các loại hình doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, sự tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu doanh nghiệp hay các thành viên hợp danh; bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết, sự rút lui hay sự khánh tận của chủ doanh nghiệp tư nhân hay của một trong các thành viên hợp danh của công ty. Nhưng đối với công ty cổ phần thì hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể xảy ra đối với các cổ đông trong công ty; bởi vì công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết có xảy ra đối với các cổ đông thì công ty cổ phần vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mà hoàn toàn không hề bị ảnh hưởng gì. Đây chính là một ưu điểm bảo đảm cho việc kinh doanh của công ty diễn ra một cách liên tục và ổn định. Mặt khác, các luật công ty hiện đại của một số nước đều không hạn chế thời gian tồn tại của công ty cổ phần trừ những trường hợp như: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa thuận chấm dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty qui định. Chính sự ổn định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã tạo cho các công ty cổ phần có được sự thu hút mạnh mẽ và được ưa chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác .

Công ty cổ phần có cơ chế quản lý tập trung cao

Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý. Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra Ban giám đốc và Ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty cổ phần. Như vậy, trong công ty cổ phần việc quản lý được tập trung hóa cao vào Ban giám đốc mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông như đối với công ty hợp danh; bởi vì trong công ty hợp danh việc quản lý công ty được thực hiện bởi các thành viên hợp danh với tư cách là những người chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của công ty nên họ được toàn quyền quản lý công ty và nhân danh công ty trong các hoạt động. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở việc luật công ty hiện đại của một số nước còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông của công ty. Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Rõ ràng việc qui định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được công ty thuê làm công tác quản lý, mặt khác tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho công ty cổ phần có được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có qui mô lớn. Khác với doanh nghiệp tư nhân là việc quản lý mang tính chất nội bộ gia đình, công ty cổ phần có một cơ chế quản lý hợp lý, minh bạch rõ ràng.

Tóm lại: Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực. Nhìn lại các loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện và sở thích của mình; nhưng chúng

ta không thể phủ nhận những lợi thế hơn hẳn của loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Chính những ưu điểm vượt trội như thế, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư vào hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty cổ phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam.

VỀ BẢO LÃNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THAM GIA CÁC HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA DỰ ÁN BOT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

THS. NGUYỄN THỊ LÁNG – Chi nhánh Văn phòng luật Pricewater house cooper Legal

Một trong những mục tiêu của pháp luật về đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT là phải khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm tối đa hóa tốc độ và phạm vi của dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cho sự phát triển các công trình cơ sở hạ tầng. Để thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT, Nhà nước cần phải có các hình thức khuyến khích và một số hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các dự án BOT. Mức độ và loại hình hỗ trợ của mỗi Chính phủ nước chủ nhà tùy thuộc vào rủi ro có tính quốc gia, tính khả thi của dự án, nhu cầu của Nhà nước đó đối với dự án và vị trí có tính cạnh tranh của nước chủ nhà.

Xuất phát từ nhu cầu trên, Nhà nước ta đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư và cụ thể hóa chúng tại Quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và Hợp đồng xây dựng – chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ (Quy chế BOT). Theo đó các biện pháp khuyến khích đầu tư đối với dự án BOT bao gồm cả những biện pháp tài chính và hành chính. Các biện pháp này tập trung khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực đã được thể hiện trong các danh mục dự án khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư, vào các địa bàn khuyến khích đầu tư.

Một trong những hình thức khuyến khích đầu tư quan trọng nhất đối với các dự án BOT là các hình thức bảo lãnh của Chính phủ. Khác với các dự án đầu tư thông thường khác, các hình thức bảo đảm có tính truyền thống như thế chấp đất đai không được các bên cho vay của một dự án BOT quan tâm tới. Xét trên quan điểm của bên cho vay các công cụ bảo lãnh khác như bảo lãnh gián tiếp đối với doanh thu thông qua hợp đồng bao tiêu dài hạn, theo đó Chính phủ bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ đối với dự án BOT của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bảo đảm của Chính phủ nhằm bảo vệ cho doanh nghiệp BOT tránh khỏi cạnh tranh để bảo đảm nguồn thu theo dự kiến thường là các hình thức hỗ trợ tài chính quan trọng hơn. Các thỏa thuận bảo lãnh phù hợp với tính chất của một dự án BOT thường được quy định trong hợp đồng dự án, hợp đồng mua và hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên cần phải có các quy định pháp luật cụ thể để bảo vệ một cách hợp pháp các hình thức bảo lãnh này, đây là các hình thức có tầm quan trọng đối với sự thành công của dự án BOT. Việc thiếu các điều khoản quy định về bảo vệ và thực hiện các thu xếp bảo lãnh trong hệ thống pháp lý của một quốc gia làm cho các ngân hàng hết sức e ngại khi cho các dự án BOT vay vốn.

Cụ thể hóa các nguyên tắc nói trên các quy định pháp luật hiện hành của chúng ta về đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT đã có nhiều quy định về các bảo đảm và cam kết đầu tư của Chính phủ. Cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác, doanh nghiệp BOT được hưởng các bảo đảm của Nhà nước Việt Nam đối với việc đầu tư của họ. Ngoài những bảo đảm chung của Nhà nước Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư đầu tư theo phương thức BOT còn được hưởng các cam kết đặc biệt của Chính phủ Việt Nam trong việc ủy quyền cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thay mặt Chính phủ bảo lãnh việc thực hiện các cam kết về nghĩa vụ tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án; bảo lãnh các nghĩa vụ của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc bán nguyên liệu, mua sản phẩm hoặc dịch vụ chủ yếu để thực hiện dự án BOT. Đây là một nội dung mới của Quy chế đầu tư BOT năm 1998 nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự án BOT tại Việt Nam.

Bảo lãnh trách nhiệm thanh toán và trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hợp đồng phụ của dự án là một vấn đề quan trọng mà các chủ đầu tư hay nhà tài trợ dự án đều yêu cầu Chính phủ thực hiện. Nhận thức được vấn đề này, Điều 10 Nghị định 62 /1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ quy định trong trường hợp cần thiết Chính phủ Việt Nam có thể ủy quyền cho Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay mặt Chính phủ bảo lãnh việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp Việt Nam. Quy định này nhằm tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến dự có thẩm quyền. Đồng thời đây là bước tiến bộ đáng kể so với Quy chế đầu tư BOT năm 1993 ban hành kèm theo Nghị định 87/CP. Quy chế BOT năm 1993 quy định chỉ cho phép bảo đảm nghĩa vụ tài chính đối với bên Việt Nam như được quy định trong hợp đồng BOT và thậm chí việc bảo đảm đó chỉ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng Việt Nam thực hiện. Theo Nghị định 62 việc bảo đảm đó có thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được Chính phủ ủy quyền thực hiện.

Thực tế cho thấy trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã cấp các bảo lãnh cho một số chủ đầu tư dự án BOT khi họ có yêu cầu. Tuy vậy, liên quan đến vấn đề bảo lãnh của Chính phủ vẫn còn phát sinh rất nhiều vấn đề gay cấn cần phải được nghiên cứu kỹ trong thời gian tới nhằm rút ngắn việc đàm phán các bảo lãnh của Chính phủ và tránh các quy định còn mơ hồ chồng chéo dưới đây:

Thứ nhất về phạm vi của bảo lãnh Chính phủ và các trường hợp bồi thường theo hợp đồng. Việc bảo lãnh của Chính phủ đối với nghĩa vụ thanh toán và trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án được coi là cách thức chia sẻ rủi ro của Chính phủ nước sở tại đối với các dự án BOT, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là luật pháp phải quy định rõ mức độ bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án BOT là đến đâu. Theo quy định của luật pháp Paskistăng, Chính phủ Paskităng bảo đảm thanh toán cho các công ty BOT bất kỳ và tất cả các khoản tiền là nghĩa vụ phải thanh toán cho công ty BOT theo hợp đồng BOT mà tổ chức đó không thanh toán khi đến hạn hoặc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của tổ chức đó theo Bảo hiểm rủi ro mà trong đó nghĩa vụ của Chính phủ Pakistăng sẽ bao gồm cả việc bồi thường bằng tiền.

Ở Việt Nam, mặc dù Quy chế BOT có quy định về việc bảo lãnh của Chính phủ đối với nghĩa vụ thanh toán và các nghĩa vụ khác của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hợp đồng dự án nhưng phạm vi bảo lãnh chưa được quy định rõ ràng. Vì vậy thực tế phát sinh mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà đầu tư trong dự án BOT và Chính phủ Việt Nam trong quá trình đàm phán dự án. Theo cách hiểu của một số người, phạm vi bảo lãnh chỉ thu hẹp trong phạm vi các hợp đồng phụ quan trọng như hợp đồng mua bán các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu của dự án (như hợp đồng mua bán điện, mua bán khí). Nhưng trên thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài đều yêu cầu một phạm vi bảo lãnh rất rộng, bao gồm hầu như tất cả các hợp đồng phụ của dự án như hợp đồng thuê đất, hợp đồng mua nước ký với các Công ty cấp nước của địa phương (đối với các dự án BOT về điện), hợp đồng sử dụng cơ sở hạ tầng…vì họ cho rằng các đối tác Việt Nam tham gia dự án đều là các doanh nghiệp Nhà nước, do vậy trách nhiệm của Chính phủ là phải bảo lãnh cho trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp này. Các trường hợp vi phạm theo hợp đồng phụ này đều được coi là vi phạm của Chính phủ và Chính phủ đều phải có trách nhiệm bồi thường cho doanh nghiệp BOT tùy theo mức độ vi phạm. Vì vậy thực tế này đặt ra là cần phải quy định rõ ràng trong luật pháp về phạm vi bảo lãnh nhằm tránh dồn quá nhiều rủi ro cho Chính phủ đồng thời cũng đảm bảo cho quyền lợi của các nhà đầu tư dự án.

Thứ hai liên quan đến hình thức bảo lãnh của Chính phủ. Mặc dù Nghị định 62 quy định việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thay mặt Chính phủ bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của Doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án trong một số trường hợp đặc biệt như Bộ Công nghiệp bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của Tổng công ty điện lực Việt Nam theo hợp đồng mua bán điện ký với Doanh nghiệp BOT, nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lo ngại rằng Bộ Công nghiệp không có thẩm quyền cấp bảo lãnh vì theo Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công nghiệp không có chức năng cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp cũng như không có chức năng tham gia các giao dịch thương mại. Ngoài ra, họ lo ngại rằng Bộ Công nghiệp không có khả năng thanh toán đối với bảo lãnh cấp cho Doanh nghiệp vì Bộ là cơ quan quản lý Nhà nước và hoạt động trên cơ sở kinh phí do Ngân sách cấp. Theo các quy định về Luật Ngân sách Nhà nước các nhà đầu tư vẫn lo ngại rằng Bộ Tài chính có thể từ chối cấp kinh phí cho Bộ Công nghiệp để thanh toán cho bảo lãnh đã cấp nếu như khoản chi đó không nằm trong dự trù Ngân sách đã được phê duyệt. Như vậy xuất phát từ việc chưa hoàn thiện và đầy đủ của hệ thống pháp luật Việt Nam nên các lo ngại của nhà đầu tư nước ngoài liên quan đến thẩm quyền của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán cho Doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án thể hiện ở chỗ (i) Cơ quan bảo lãnh có thể không có thẩm quyền cấp bảo lãnh; (ii) Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể không có khả năng thanh toán; (iii) Bộ Tài Chính có thể từ chối cấp vốn thanh toán cho bảo lãnh của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, mặc dù có quy định về bảo lãnh của Chính phủ nhưng các nhà đầu tư được cung cấp bảo lãnh cũng không thỏa mãn. Chính phủ không phải là người trực tiếp cấp bảo đảm. Chính phủ uỷ quyền cho Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cung cấp các bảo đảm đó mà thực tế không phải mọi cơ quan ủy quyền đều được đánh giá ngang nhau dưới đánh giá của các ngân hàng nước ngoài. Một số cơ quan được ủy quyền có liên quan trực tiếp tới tài chính một số cơ quan khác không có được quyền này. Chính vì vậy nhà đầu tư thường tìm cách gần với các quy định có hiệu lực cao nhất càng tốt mặc dù họ hoàn toàn đồng ý với các bảo đảm do Chính phủ trực tiếp cấp. Thực tế cho thấy có dự án tuy đã được UBND địa phương bảo lãnh về tài chính, nhưng chủ đầu tư vẫn yêu cầu Bộ tài chính cấp bảo lãnh lần nữa trong trường hợp UBND không thực hiện được các cam kết. Như vậy phía Việt Nam phải thực hiện bảo lãnh tài chính 2 lần, mất rất nhiều thời gian và nói chung theo các luật sư nước ngoài họ tin tưởng và cho rằng Bộ tài chính cấp bảo lãnh là hợp lý và thuận tiện cho việc thu xếp tài chính sau này hơn.

Thứ ba liên quan đến việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp cấp bảo lãnh trên cơ sở ủy quyền của Chính phủ cũng phát sinh một hạn chế khác là liệu cơ quan được ủy quyền có phải giống với cơ quan ký kết hợp đồng BOT? Trong trường hợp này, xuất hiện một vấn đề là nếu cơ quan được ủy quyền là Ủy ban nhân dân như trong trường hợp dự án Lyonnaise tại TP. Hồ Chí Minh thì những tổ chức đó cũng không được xem là những cơ quan có tài chính theo đánh giá của các nhà cho vay.

Thứ tư hiện nay chưa có quy định những cơ quan được ủy quyền nào có thể bảo lãnh hoặc thực sự thực hiện những bảo đảm đó? Luật Ngân hàng Nhà nước không cho phép Ngân hàng Nhà nước cung cấp bảo lãnh các khoản vay đối với các tổ chức và cá nhân. Nghị định 90 của Chính phủ quy định rằng Bộ tài chính có thể bảo lãnh cho các tổ chức hoặc cá nhân nhưng chỉ đối với các khoản vay nước ngoài. Các Bộ và Ủy ban nhân dân là các cơ quan quản lý hành chính, Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc Nhà nước là các cơ quan quản lý tài chính do vậy không có cơ sở pháp lý rõ ràng (ngoài các hướng dẫn dự án cụ thể) cho các cơ quan được uỷ quyền được cung cấp bảo lãnh. Nhà đầu tư sẽ quan tâm đến khả năng của các cơ quan được uỷ quyền để tìm ra nguồn tài chính để thực hiện các nghĩa vụ được bảo đảm. Các nhà cung cấp vốn và tài trợ dự án của dự án BOT vì vậy thường kết luận rằng Bộ Tài chính là cơ quan duy nhất đáp ứng là nhà bảo lãnh tài chính cấp bộ bảo lãnh nghĩa vụ tài chính.

Ngoài ra, cơ chế thực hiện việc thanh toán bảo lãnh và tiền bồi thường chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hiện đang được các cơ quan liên quan (Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp…) nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ và hiện tại vẫn chưa có những quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề này. Cũng liên quan đến bảo lãnh nêu trên của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu bảo lãnh cần được cụ thể hóa thông qua các dàn xếp theo hợp đồng phù hợp giữa nhà đầu tư và Nhà nước.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ  2/2004

THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
*****
Số: 2662/2007/QĐ-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******Huế, ngày 03 tháng 12 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký;
Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số: 518/TTr-TN&MT-ĐK ngày 20 tháng 11 năm 2007
,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về thủ tục thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1108/2006/QĐ-UBND ngày 26 tháng 04 năm 2006 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh ban hành Quy định về thủ tục thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh; Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp, Tài chính, Xây dựng; Cục trưởng Cục Thuế; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Huế và các huyện; Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và người sử dụng đất chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
– Như Điều 3;
– Bộ Tài nguyên và Môi trường (b/c);
– TVTU; TT HĐND tỉnh;
– Đoàn ĐBQH tỉnh; UBMTTQ VN tỉnh;
– Cục Kiểm tra VBQPPL-Bộ Tư pháp;
– CT và các PCT UBND tỉnh;
– Các sở, ban, ngành thuộc tỉnh;
– Viện KSND tỉnh; TAND tỉnh;
– Thanh tra tỉnh;
– Báo TT Huế, Đài PTTH tỉnh;
– VP: CVP và PCVP Mai Hùng Tuân,
Trung tâm Công báo; CV:TH,KNTC;
– Lưu: VT,NĐ.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Thúy Hòa

QUY ĐỊNH

VỀ THỦ TỤC THỪA KẾ ĐỂ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2662/2007/QĐ-UBND ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quy định này được áp dụng cho những hộ gia đình, cá nhân được hưởng quyền thừa kế về quyền sử dụng đất ở theo pháp luật nhưng những người được hưởng thừa kế không tự phân chia được di sản hoặc được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất chưa chia thuộc quyền sử dụng chung của những người thừa kế để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh.

Giấy chứng nhận trong trường hợp người nhận thừa kế quyền sử dụng đất là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ.

Điều 2. Về xác định những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật

Việc xác định số người được thừa kế quyền sử dụng đất ở theo quy định tại Bộ Luật Dân sự phải do một trong số những người đồng thừa kế đứng ra khai báo hàng thừa kế và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung khai báo. Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật được lập theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Quy định này và có xác nhận của Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn (cấp xã) nơi có đất là di sản thừa kế.

Điều 3. Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Sau khi người đại diện thừa kế đã lập Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật và được Uỷ ban Nhân dân cấp xã xác nhận theo quy định tại Điều 2 Quy định này thì tiến hành lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành và nộp tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp huyện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 4. Việc ghi tên những người đồng thừa kế trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tất cả những người đồng thừa kế có tên trong Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật đều được ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Trường hợp đã xác định được đầy đủ tất cả số người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật:

Nếu tại Mục I trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ chỗ để ghi tên của tất cả những người sử dụng chung thửa đất thì giấy chứng nhận chỉ ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đã đứng ra lập Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật, tiếp theo ghi “cùng với những người sử dụng đất có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; thông tin về những người sử dụng đất còn lại phải được in hoặc viết vào trang phụ “Danh sách những người sử dụng chung thửa đất” theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Trang phụ sau khi lập được đóng dấu giáp lai với trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dấu giáp lai của Uỷ ban Nhân dân huyện, thành phố Huế). Tại khoản 5, Mục II của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ghi toàn bộ diện tích thửa đất đó vào mục hình thức “Sử dụng chung” và ghi “không” vào mục “Sử dụng riêng”.

2. Trường hợp chưa xác định được đầy đủ những người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật:

Trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất mà có nhiều người được thừa kế theo pháp luật nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa xác định được đầy đủ những người đó thì cấp một (01) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích để thừa kế. Việc cử người đại diện ghi tên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải bằng văn bản thỏa thuận của những người được thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật đã xác định được có chứng thực của Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc chứng nhận của Công chứng Nhà nước. Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “Người đại diện là”, sau đó ghi họ, tên, năm sinh và số, ngày cấp, nơi cấp giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi đăng ký thường trú của người đại diện, tiếp theo ghi “cùng với những người nhận thừa kế có tên trong danh sách kèm theo Giấy chứng nhận này”; lập danh sách những người khác được nhận thừa kế quyền sử dụng theo pháp luật đã được xác định, cuối danh sách được ghi “và một số người thừa kế khác chưa được xác định”; danh sách những người được nhận thừa kế đã được xác định lập theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Tại mục IV (phần ghi chú) của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi: “Chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”.

3. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trường hợp xác định được thêm người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật thì người đã đứng ra lập Tờ khai khai bổ sung những người thừa kế theo pháp luật, để được ghi bổ sung vào danh sách kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, 2 Điều này

4. Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng chung thửa đất đã phân chia được di sản theo quy định tại Điều 5 Quy định này; thì người được hưởng di sản về thừa kế quyền sử dụng đất lập thủ tục để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp huyện.

Điều 5. Trường hợp các đồng thừa kế tự thoả thuận được việc phân chia di sản nhà, đất

Khi những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất có nhu cầu phân chia thừa kế quyền sử dụng đất và các đồng thừa kế tự thoả thuận được việc phân chia di sản nhà, đất; nhận thừa kế quyền sử dụng đất trong trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất thì được lựa chọn hình thức công chứng tại các Phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất; sau đó lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được thừa kế tại cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý hồ sơ đất đai của cấp huyện.

Điều 6. Trách nhiệm thi hành

1. Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quy định này.

2. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Huế và các huyện chỉ đạo  các phòng ban chuyên môn và Uỷ ban Nhân dân các xã, phường, thị trấn thực hiện Quy định này.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị các địa phương phản ánh về Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp để báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo giải quyết./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Thúy Hòa