HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

TS. ĐINH DŨNG SỸ – Ban XDPL – VPCP

          1. Thực trạng hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam có tới 45 văn bản quy phạm pháp luật có các quy định liên quan đến tài sản Nhà nước (Danh mục kèm theo). Bao gồm: Hiến pháp và 29 bộ luật, luật; 07 pháp lệnh; 06 nghị định và 02 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chưa kể nhiều văn bản quy phạm pháp luật cấp Bộ trưởng và của cơ quan chính quyền nhà nước cấc cấp (Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân), quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tài sản nhà nước (TSNN) của cơ quan nhà nước cấp trên. Chỉ riêng các đạo luật, pháp lệnh liên quan đến TSNN cũng có thể chia thành 05 nhóm, gồm: (i) Hiến Pháp; (ii) Bộ luật Dân sự; (iii) Các luật về tổ chức bộ máy nhà nước; (iv) Các luật chung về lĩnh vực tài chính, tài sản có liên quan đến TSNN; (v) Các luật chuyên ngành điều chỉnh về từng loại TSNN cụ thể.

          Trên cơ sở hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến TSNN, có thể đánh giá khái quát thực trạng pháp luật về lĩnh vực này hiện nay như sau:

1.1. Tồn tại một hệ thống gồm nhiều văn bản ở nhiều cấp độ pháp lý khác nhau liên quan đến quản lý và sử dụng TSNN.

Nhìn vào số liệu tổng kết trên đây có thể nói, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến TSNN là khá nhiều, từ văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất như Hiến pháp đến Bộ luật Dân sự, các đạo luật chuyên ngành và cả các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp nhất như các quyết định, thông tư của các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Trong đó,

Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản khảng định quyền sở hữu Nhà nước đối với tài sản cũng như chứa đựng các chế độ và nguyên tắc chung nhất về quản lý và sử dụng TSNN. Tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 có quy định về TSNN như sau: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Tất nhiên, vì là đạo luật cơ bản nên các quy định về mọi lĩnh vực nói chung, về TSNN nói riêng ở Hiến pháp chỉ mang tính nguyên tắc, xác định các chế độ chung nhất, chưa có những quy định cụ thể, đủ để điều chỉnh mọi vấn đề của đời sống kinh tế – xã hội, đòi hỏi cần phải được tiếp tục luật hoá. Ngoài ra, Hiến pháp còn có Điều 18 quy định về chế độ quản lý, sử dụng đối với đất đai – loại tài sản đặc biệt quan trọng thuộc sở hữu toàn dân. Cụ thể, 02 điều trên đây của Hiến pháp năm 1992 về TSNN tập trung vào việc xác định 2 vấn đề cơ bản có tính nền tảng là:

– Xác định các loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Thực ra Điều 17 nói trên không quy định trực tiếp các loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước mà quy định về các loại tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, cách quy định của Điều 17 cũng đã gián tiếp khảng định rằng, các loại tài sản “của Nhà nước” (thuộc sở hữu nhà nước) đều thuộc sở hữu toàn dân (đây là vấn đề cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, chúng tôi xin được trao đổi tiếp về vấn đề này vào một dịp khác).

– Xác định các nguyên tắc chung nhất về chế độ quản lý và sử dụng TSNN. Điều 18 Hiến pháp nói về tài sản là đất nhưng cũng chính là xác định các nguyên tắc cơ bản của quản lý và sử dụng TSNN, gồm: (i) Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền thống nhất quản lý TSNN; (ii) Việc quản lý TSNN của Nhà nước được thực hiện thông qua các công cụ là theo quy hoạch và theo pháp luật; (iii) TSNN phải được giao cho các tổ chức và cá nhân trực tiếp quản lý và sử dụng; (iv) Các tổ chức và cá nhân được giao quản lý và sử dụng TSNN phải bảo đảm sử dụng tài sản đúng mục đích và có hiệu quả; có trách nhiệm khai thác hợp lý, tiết kiệm và phát triển TSNN.

Các quy định của Hiến pháp năm 1992 nói trên là cơ sở nền tảng cho việc ban hành các đạo luật cũng như pháp lệnh quy định, điều chỉnh về quản lý, sử dụng TSNN nói chung cũng như từng loại TSNN nói riêng.

Bộ luật Dân sự với tính cách là Bộ luật tư lớn nhất điều chỉnh mọi quan hệ dân sự của cá nhân. Quan hệ tài sản là loại quan hệ chủ yếu thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS, nên vấn đề tài sản và quyền tài sản trở thành chế định gốc, chế định nền tảng của BLDS. Trong BLDS có rất nhiều các quy định về tài sản nói chung như: khái niệm tài sản, quyền sở hữu tài sản, các hình thức sở hữu tài sản, bảo vệ quyền sở hữu và nhiều quy định khác liên quan đến các quyền về tài sản và các giao dịch về tài sản, trong đó có những quy định rất quan trọng, xác định những nguyên tắc nền tảng của chế độ sở hữu cũng như quyền sở hữu tài sản nói chung, quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản nói riêng.

So với Hiến pháp, BLDS đã khảng định rõ hơn về tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước, cũng tức là gần như đã đưa ra một khái niệm thứ hai về TSNN so với định nghĩa trong Hiến pháp 1992. Điều 200 của BLDS quy định: Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định.

Định nghĩa trên đây về tài sản thuộc sở hữu nhà nước đã cụ thể hoá một bước về định nghĩa tài sản thuộc sở hữu toàn dân (cũng là TSNN) trong Hiến pháp như đã nói ở trên. Và mặc dù đã xác định cụ thể hơn và có tiến bộ hơn về quan niệm TSNN so với định nghĩa trong Hiến pháp, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, định nghĩa về TSNN tại Điều 200 của BLDS nói trên vẫn còn thể hiện tính nguyên tắc, chưa đầy đủ trong xác định tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cách quy định như Điều 200 BLDS là hợp lý, vì BLDS cũng vẫn chỉ là Bộ luật gốc về tài sản và quyền tài sản, còn các quy định điều chỉnh về từng loại taì sản cụ thể sẽ còn được cụ thể hoá trong các đạo luật độc lập khác, như Luật đất đai, Luật khoáng sản, Luật tài nguyên nước, Luật dầu khí, Luật doanh nghiệp… và ở trên nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề sở hữu như: gắn với hình thức sở hữu nào; cơ chế quản lý sử dụng ra sao; hoặc các nội dung của quyền sở hữu, đặc biệt là quyền định đoạt đối với tài sản, nhất là các tài sản thuộc sở hữu nhà nước nhưng lại được giao cho các tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng, thậm chí định đoạt (chuyển đổi, chuyển nhượng).

Ngoài việc định nghĩa, hay nói đúng hơn là xác định các loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước, BLDS (từ Điều 201 đến Điều 207)cũng đã đưa ra  những nguyên tắc rất cơ bản và cũng rất quan trọng về cơ chế quản lý, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với TSNN cũng như quyền và nghĩa vụ cơ bản của các chủ thể là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quản lý, sử dụng TSNN. Các nguyên tắc này chính là cơ sở nền tảng để xây dựng các đạo luật, pháp lệnh điều chỉnh cụ thể về từng loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

Các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, như Luật tổ chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức HĐND và UBND… Các đạo luật này mặc dù không quy định nhiều và cụ thể về TSNN nhưng cũng có những quy định liên quan đến TSNN, và chủ yếu là dưới khía cạnh thẩm quyền đối với TSNN của các cơ quan chính quyền nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương. Ví dụ: Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 có một số điều quy định về thẩm quyền của Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội có liên quan đến TSNN, như các điều 2, 28…; Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 cũng có những điều quy định về thẩm quyền của Chính phủ liên quan đến thống nhất quản lý TSNN cũng như đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với TSNN (Điều 8, 9); hoặc Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, tại các điều 11, 82 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực kinh tế có liên quan đến quản lý, sử dụng TSNN.

Các đạo luật chung về chế độ tài chính – ngân sách, kế toán, đầu tư, doanh nghiệp… cũng có nhiều quy định liên quan đến quản lý, sử dụng TSNN như Luật ngân sách nhà nước, Luật kế toán, Luật đấu thầu, Luật chuyển giao công nghệ, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp… Các đạo luật này không có những quy định cụ thể điều chỉnh về từng loại TSNN nhưng thường có những quy định mang tính nguyên tắc chung nhất về hình thành, quản lý và sử dụng TSNN nói chung hoặc đối với một nhóm các loại TSNN. Chảng hạn như: Luật ngân sách nhà nước quy định chế độ hình thành, quản lý và sử dụng tài sản bằng tiền thuộc Quỹ ngân sách nhà nước; Luật đấu thầu quy định việc sử dụng vốn nhà nước trong đầu tư bằng cách thông qua các hình thức lựa chọn nhà thầu theo những quy trình luật định, nhằm tạo sự công bằng và minh bạch trong quản lý và sử dụng vốn nhà nước cũng như tăng cường hiệu quả kinh tế từ đầu tư vốn của Nhà nước; Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp quy định về việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước để đầu tư kinh doanh, bảo đảm quyền của chủ sở hữu cũng như đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với TSNN, bảo đảm việc đầu tư kinh doanh từ vốn, TSNN đạt hiệu quả kinh tế, tránh thất thoát, lãng phí TSNN.

Hệ thống các đạo luật về quản lý, sử dụng từng loại TSNN cụ thể. Đây là bộ phận pháp luật phong phú nhất, đa dạng nhất, quy định chế độ pháp lý về quản lý, sử dụng từng loại TSNN cụ thể. Thuộc loại này có các luật như: Luật đất đai; Luật nhà ở; Luật khoáng sản; Luật tài nguyên nước; Luật bảo vệ và phát triển rừng; Luật đê điều; Luật dầu khí; Luật Giao thông đường bộ; Luật giao thông đường thuỷ; Pháp lệnh bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn; Pháp lệnh dự trữ quốc gia và nhiều đạo luật, pháp lệnh khác.

Nội dung của bộ phận pháp này không đi vào các quy định chung chung về TSNN mà đi vào thiết kế các chế độ cụ thể đối với từng loại TSNN. Căn cứ trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự cũng như các đạo luật chung khác về các nguyên tắc, các chế độ chung nhất về TSNN, các đạo luật này cụ thể hoá chế độ quản lý, sử dụng cụ thể cho từng loại TSNN, phù hợp với đặc điểm hình thành, quản lý, sử dụng cũng như bảo vệ, tái tạo và phát triển đối với từng loại TSNN. Ví dụ: Luật Đất đai là đạo luật lớn, điều chỉnh việc quản lý và sử dụng cũng như bảo vệ, tôn tạo một loại tài sản đặc biệt quan trọng của quốc gia đó là đất đai. Luật cũng đã bao quát đầy đủ các vấn đề từ xác định quyền sở hữu, việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai đến các quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; Luật Nhà ở khác với Luật đất đai ở chỗ: nếu Luật đất đai điều chỉnh về một loại tài sản – đất đai thuộc sở hữu của một chủ thể duy nhất là sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện quyền của chủ sở hữu và thực hiện thống nhất quản lý, các tổ chức, cá nhân chỉ được giao quản lý và sử dụng đất thì Luật nhà ở lại có phạm vi điều chỉnh loại tài sản của nhiều loại chủ thể sở hữu khác nhau. Tuy nhiên, Luật nhà ở cũng có một phần quy định về nhà công vụ và chế độ quản lý, sử dụng nhà công vụ.

          Ngoaì ra còn một hệ thống các văn bản dưới luật khác của nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành, nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Hiến pháp, các đạo luật và pháp lệnh có liên quan đến TSNN.

1.2. Có sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong hệ thống các văn bản điều chỉnh về quản lý, sử dụng TSNN

          Sự tồn tại một hệ thống gồm quá nhiều văn bản ở nhiều cấp độ pháp lý khác nhau như nói trên đã không tránh khỏi những nhược điểm cố hữu của một hệ thống pháp luật nói chung là sự chồng chéo, thiếu thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn giữa các văn bản trong hệ thống đó. Thực tiễn có tình trạng là: các đạo luật, pháp lệnh thường chỉ đưa ra những quy định có tính nguyên tắc chung nhất về quản lý và sử dụng TSNN, điều mà chúng ta hay gọi là tình trạng “luật khung”; từ đó cần có nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở cấp thấp hơn để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, hình thành một hệ thống các văn bản gồm nhiều tầng nấc giá trị pháp lý khác nhau như đã nói trên; tạo nên sự chồng lấn, thiếu thống nhất, thậm chí không tránh khỏi những mâu thuẫn về mặt nguyên tắc, cơ chế quản lý chung giữa các văn bản; văn bản cấp dưới lại nhắc lại các quy định của các luật, pháp lệnh và chi tiết hoá cụ thể các vấn đề cần điều chỉnh hoặc hướng dẫn thực hiện nên đôi khi điều đó tạo ra những “giá trị pháp lý đảo”, văn bản cấp trên phải chờ văn bản cấp dưới hướng dẫn mới có thể áp dụng được, hoặc có tình trạng cả người thực thi pháp luật đến người chấp hành pháp luật đều chỉ cần biết đến các văn bản cấp thấp (văn bản hướng dẫn thi hành, thậm chí chỉ cần biết đến các thông tư của các Bộ) mà không cần biết đến các đạo luật và pháp lệnh.

1.3. Thiếu các quy định mang tính nguyên tắc, các chế độ pháp lý chung nhất về quản lý và sử dụng TSNN

Mặc dù các quy định về quản lý, sử dụng TSNN tồn tại ở rất nhiều văn bản như đã dẫn ở phần 1.1 nói trên, song lại thiếu những quy định mang tính nguyên tác chung, là kim chỉ nam trong việc thống nhất quản lý TSNN. Các quy định của Hiến pháp cũng như Bộ luật Dân sự chưa đưa ra đủ những nguyên tắc và các quy định chung về quản lý, sử dụng TSNN. Hệ thống các luật về từng loại tài sản cụ thể chỉ quy định về các quy trình, quy phạm mang tính kỹ thuật trong quản lý và sử dụng TSNN mà chưa thể hiện rõ nội dung quản lý TSNN với tính chất TSNN là một nguồn lực của Nhà nước; chưa thể hiện rõ quan điểm Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất TSNN trong mọi trường hợp cũng như chưa quy định rõ trách nhiệm khai thác, sử dụng có hiệu quả đối với các tài sản đó. Và cũng chính điều đó đã tạo ra hệ quả là mỗi luật quy định một kiểu, vừa thiếu sự thống nhất về mặt nguyên tắc chung, vừa có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo nhau. Cần thống nhất quan điểm rằng, đã là TSNN thì dù có được điều chỉnh ở các đạo luật khác nhau, bảo đảm phù hợp với đặc điểm hình thành, khai thác và bảo vệ, tái tạo đối với từng loại tài sản thì vẫn cần phải dựa trên những nguyên tắc chung nhất về quản lý nhà nước đối với các tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Do vậy, mặc dù đến nay Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật quy định, điều chỉnh về từng loại TSNN cụ thể nhưng vẫn rất cần thiết phải có một đạo luật chung về TSNN (hay tài sản công như cách gọi của một số nước) làm kim chỉ nam cho việc xây dựng nguyên tắc điều chỉnh của các đạo luật cụ thể. Tất nhiên, việc nghiên cứu xây dựng đạo luật chung về TSNN cần phải xử lý hài hoà về mặt kỹ thuật, tránh sa vào các quy định cụ thể gây chồng lấn với các luật khác hoặc không phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản.

1.4. Đồng thời cũng thiếu các quy định về quản lý, sử dụng TSNN ở một số lĩnh vực.

Mặc dù còn tản mát, thiếu thống nhất nhưng về cơ bản hệ thống các luật hiện hành đã điều chỉnh hầu hết các loại tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, từ các tài sản tự nhiên như tài nguyên thiên nhiên đến các tài sản hình thành trong đầu tư, kinh doanh của khu vực kinh tế nhà nước và các tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo luật định. Tuy nhiên, cũng có một số lĩnh vực, việc quản lý, sử dụng TSNN hiện nay vẫn dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản dưới luật, cần phải được luật hoá, như quản lý và sử dụng TSNN ở các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

Chính từ những hạn chế nói trên của hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý và sử dụng TSNN, cũng như xuất phát từ những tồn tại trong thực tiễn tổ chức quản lý, sử dụng TSNN hiện nay (chúng tôi xin không phân tích khía cạnh này của vấn đề) đòi hỏi cần phải nghiên cứu xây dựng và ban hành một đạo luật mới về quản lý và sử dụng TSNN, nhằm hệ thống hoá và chuẩn hoá lại các nguyên tắc cũng như chế độ chung nhất về quản lý, sử dụng TSNN; luật hoá việc quản lý và sử dụng TSNN ở một số lĩnh vực mà hiện nay vẫn chưa có luật điều chỉnh; đồng thời củng cố một bước hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước đối với TSNN; chấn chỉnh việc quản lý và sử dụng TSNN hiện nay cũng như tăng cường việc quản lý và sử dụng hiệu quả đối với nguồn lực quan trọng này.

          2. Xác định phạm vi và một số nội dung điều chỉnh của Dự án Luật quản lý và sử dụng TSNN trong mối quan hệ với hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến TSNN.

          2.1. Về phạm vi điều chỉnh của Luật

Khái niệm tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành (Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật Dân sự năm 2005 – như đã phân tích ở Phần 1 nói trên) có phạm vi rất rộng, bao gồm tài sản tự nhiên như: đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời; phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư ở các doanh nghiệp; công trình thuộc các ngành, lĩnh vực… và các tài sản khác mà pháp luật quy định thuộc sở hữu nhà nước.

Mỗi loại TSNN nói trên đều có những điểm khác biệt nhất định, đòi hỏi cần phải có những cơ chế quản lý, sử dụng khác nhau. Vì lẽ đó, cho đến nay Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật (Luật đất đai, Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đê điều, Luật khoáng sản, Luật nhà ở, Luật doanh nghiệp…) để quản lý và sử dụng từng loại tài sản cụ thể cho phù hợp với đặc điểm hình thành, mục đích sử dụng cũng như yêu cầu về bảo vệ, tái tạo và phát triển đối với từng loại TSNN. Tuy nhiên, cũng có một số lĩnh vực việc quản lý và sử dụng TSNN hiện nay vẫn dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản dưới luật, cần phải được luật hoá, như quản lý và sử dụng TSNN ở các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

Từ thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng TSNN nói trên, chúng tôi cho rằng, Luật quản lý, sử dụng TSNN trước hết phải xác định được các nguyên tắc, các quy định chung nhất về quản lý, sử dụng TSNN áp dụng cho mọi loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để quản lý và sử dụng TSNN ở mọi chủ thể, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, nhưng không sa vào các quy định cụ thể về quản lý, sử d��ng đối với từng loại tài sản hiện đã có các luật khác điều chỉnh, như: đất đai, nhà ở, tài nguyên khóang sản, vốn góp của Nhà nước trong các doanh nghiệp v.v…; thứ hai, phải luật hoá cụ thể và đầy đủ các quy định về quản lý, sử dụng TSNN ở một số lĩnh vực mà hiện nay chưa có luật điều chỉnh, đó là: quản lý và sử dụng TSNN ở các cơ quan nhà nước; các đơn vị sự nghiệp công lập; tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Việc xác định phạm vi điều chỉnh như trên vừa bảo đảm được tính khái quát của Luật đối với mọi loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước, vừa luật hoá được những lĩnh vực chưa có luật điều chỉnh, lại vừa tránh được sự chồng chéo với các luật chuyên ngành khác hiện đang tồn tại, điều chỉnh về từng loại tài sản cụ thể.

2.2. Về nguyên tắc thị trường trong xác định giá trị TSNN

Về vấn đề này chúng tôi cho rằng, Nhà nước cần có sự thay đổi về cơ chế quản lý và sử dụng TSNN hiện nay, quan điểm là TSNN phải được ghi chép, phản ánh đúng giá trị, được quản lý và sử dụng có hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Do vậy, Luật này cần thống nhất một nguyên tắc chung là giá trị TSNN cần phải được xác định theo nguyên tắc thị trường, ngoại trừ những quan hệ quản lý và sử dụng TSNN mà việc xác định giá thị trường của tài sản là không phù hợp. Ví dụ: khi Nhà nước giao đất cho các cơ quan nhà nước, giao đất sử dụng cho quốc phòng, an ninh, phúc lợi xã hội, nhà nước không định giá đất theo giá thị trường. Bởi vì đây là quan hệ giao tài sản, không có tính đền bù như trong các quan hệ mua bán, các cơ quan, đơn vị được giao tài sản để sử dụng không phải trả tiền cho Nhà nước và cũng không sử dụng TSNN vào mục đích kinh doanh thu lợi nhuận nên việc xác định giá thị trường của tài sản trong trường hợp này là không phù hợp, gây lãng phí và cũng có thể nói là không cần thiết. Hoặc một ví dụ khác: khi Nhà nước giao tài sản là một toà nhà mới xây dựng để làm trụ sở cho một cơ quan nhà nước thì theo quy định hiện hành, Nhà nước giao theo giá trị tổng quyết toán xây dựng toà nhà đó để theo dõi và hạch toán, đó chưa phải là giá thị trường của công trình.

2.3. Vấn đề quản lý tài sản trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

          Có ý kiến cho rằng, việc quản lý, sử dụng TSNN trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh có nhiều đặc thù, do đó không nên điều chỉnh trong Luật này mà nên quy định bằng một Nghị định riêng của Chính phủ. Trước khi ban hành, Chính phủ phải báo cáo UBTVQH về Nghị định này. Theo chúng tôi, nếu phạm vi điều chỉnh của Luật được xác định rõ là: Luật này đưa ra những nguyên tắc chung nhất trong quản lý và sử dụng đối với mọi loại TSNN và quy định cụ thể đối với những lĩnh vực chưa có luật điều chỉnh, thì những vấn đề đặc thù đối với từng loại tài sản hoặc từng lĩnh vực quản lý và sử dụng tài sản hoặc là đã được thể hiện trong các luật chuyên ngành hoặc sẽ được quy định chi tiết bởi các văn bản dưới luật của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật này. Do vậy, chúng tôi cho rằng, đối với tài sản thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nếu là tài sản thông thường thì việc quản lý, sử dụng phải tuân theo các quy định của Luật này như đối với các TSNN thông thường khác, đối với những tài sản đặc biệt (nhất là những tài sản quốc phòng, an ninh liên quan đến bảo vệ bí mật quốc gia) thì Chính phủ sẽ có Nghị định hướng dẫn riêng trên cơ sở các nguyên tắc và quy định chung của Luật này. Đây không phải là loại nghị định chưa có luật điều chỉnh (nghị định không đầu) nên cũng không cần thiết phải có thêm thủ tục báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội như theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2.4. Về TSNN tại các cơ quan nhà nước Việt Nam ở nước ngoài

Về vấn đề này cũng có ý kiến cho rằng, nên có một Nghị định riêng để quy định những vấn đề đặc thù như đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói trên. Theo chúng tôi, việc quản lý, sử dụng TSNN tại các cơ quan nhà nước Việt Nam ở nước ngoài về cơ bản cũng giống như các cơ quan nhà nước khác ở trong nước, ngoại trừ một số đặc thù riêng theo thoả thuận hoặc liên quan đến luật pháp của nước sở tại, nhưng không phải là quá nhiều đặc thù như lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Do vậy, Chính phủ không cần thiết phải ban hành một Nghị định riêng như đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh mà chỉ cần có một số quy định đặc thù được thể hiện trong Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này là đủ.

2.5. Về tài sản nhà nước tại tổ chức Đảng, đoàn thể và tại các hội

Theo quy định của Luật ngân sánh nhà nước, vấn đề tài chính của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được chia làm 2 loại: một loại do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động, một loại do tổ chức tự bảo đảm kinh phí hoạt động, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ trong một số trường hợp cụ thể. Theo đó, chúng tôi cho rằng, tại dự án Luật này, Nhà nước cũng cần có quan điểm rõ ràng và dứt khoát đối với TSNN ở các tổ chức này là:

– Đối với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội (Đảng Cộng sản, Mặt trận tổ quốc cùng 06 tổ chức thành viên). Các tổ chức này do Nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động nên việc quản lý, sử dụng TSNN cũng giống như ở các cơ quan nhà nước. Đối với tài sản mà Nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho các tổ chức thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này;

– Đối với các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hôi – nghề nghiệp, nên khảng định rõ quan điểm chuyển các tổ chức này sang hoạt động tự chủ, tạo sự độc lập cho các tổ chức này và giảm dần gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Theo đó, TSNN ở các tổ chức này nên xử lý theo hướng: các tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước mà Nhà nước đã giao cho các tổ chức này quản lý, sử dụng thì giao luôn quyền sở hữu cho các tổ chức, trừ các tài sản là bất động sản (gồm đất đai, trụ sở làm việc và các công trình gắn liền với đất) vẫn thuộc sở hữu nhà nước, các tổ chức này chỉ có quyền quản lý và sử dụng; đối với tài sản được hình thành từ nguồn hỗ trợ của ngân sách nhà nước theo quy định của Luật ngân sách thì cũng khảng định rõ quan điểm là thuộc quyền sở hữu của các tổ chức đó. Tuy nhiên, việc hỗ trợ theo quy định của Luật ngân sách nhà nước hiện hành cũng rất hạn chế, chỉ trong một số trường hợp cụ thể (đặc biệt là không hỗ trợ để xây dựng trụ sở).

2.6. Về vấn đề thuê và cho thuê TSNN. Đối với việc thuê tài sản, theo chúng tôi, Luật này nên quy định theo hướng: Nhà nước cho phép cơ quan nhà nước được đi thuê trụ sở làm việc và tài sản khác trong trường hợp chưa bố trí được kinh phí để đầu tư xây dựng, mua sắm hoặc thấy việc đi thuê tài sản hiệu quả hơn việc đầu tư mua sắm. Về vấn đề cho thuê tài sản, cần quy định cơ quan hành chính nhà nước không được cho thuê tài sản, trừ trường hợp để tận dụng và khai thác hết năng lực tài sản thì có thể cho các cơ quan, đơn vị khác mượn và được phép thu để bù đắp chi phí, không được kinh doanh; đối với đơn vị sự nghiệp công lập thì được cho thuê tài sản, nếu là đơn vị hạch toán kinh doanh thì phải nộp thuế, nếu không kinh doanh thì tiền cho thuê tài sản sau khi bù đắp chi phí, phần còn lại phải nộp vào NSNN.

2.7. Về một số cơ chế mới trong quản lý và sử dụng TSNN

          Dự thảo Luật cần thể hiện một số quan điểm, cơ chế mới trong quản lý, sử dụng TSNN, như: (i) Nhà nước có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào việc đầu tư để hình thành, phát triển, khai thác và bảo vệ TSNN; (ii) Đối với các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập mà Nhà nước phải đầu tư, trang cấp tài sản, trong một số trường hợp như nói tai điểm 2.6 trên đây, được thuê tài sản để sử dụng đối với một số tài sản như trụ sở, ô tô; (iii) Cho phép sử dụng một số loại TSNN để cho thuê, như cho thuê quyền khai thác tài sản là cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu, cảng…), hoặc cho thuê TSNN dư thừa, tạm thời chưa dùng đến; (iv) Việc mua bán, thanh lý, đi thuê và cho thuê TSNN phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường, thông qua cơ chế đấu thầu, đấu giá; (v) Cho phép đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ trong quản lý, sử dụng TSNN.

Đây là những cơ chế, chính sách mà Chính phủ đang thí điểm áp dụng hoặc đang bước đầu được chính thức áp dụng và cũng là những nội dung phù hợp với định hướng đổi mới quản lý và sử dụng TSNN của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, cần phải được luật hoá. Tuy nhiên, cũng cần phải làm rõ trong dự thảo Luật nguyên tắc nhất quán là vừa phát triển và sử dụng có hiệu quả TSNN nhưng cũng phải bảo đảm thoả đáng lợi ích của những tổ chức, cá nhân được giao hoặc được thuê khai thác, sử dụng TSNN, nhất là bảo đảm thoả đáng quyền của các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế.  Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư để hình thành, phát triển TSNN nhưng cũng phải bảo đảm cho các thành phần kinh tế được hưởng lợi thoả đáng từ việc đầu tư đó.

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CÓ LIÊN QUAN  ĐẾN QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

 

Thứ tự Tên văn bản quy phạm pháp luật

 

Năm ban hành

1

Hiến pháp

1992

2

Bộ Luật Dân sự

2005

3

Luật Tổ chức Quốc hội

2001

4

Luật Tổ chức Chính phủ

2001

 

5

Luật Tổ chức HĐND và UBND

2003

6

Bộ luật hình sự

1999

7

Luật Ngân sách nhà nước

2002

8

Luật Giáo dục

2005

9

Luật doanh nghiệp

2005

10

Luật đầu tư

2005

11

Luật Đấu thầu

2005

12

Luật Xây dựng

2005

13

Luật về chuyển giao công nghệ

2006

14

Luật kế toán

2003

14

Luật đất đai

2003

16

Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất (sửa đổi năm 1999)

1994

17

Luật nhà ở

 

18

Luật Tài nguyên nước

 

19

Bộ luật hàng hải

2005

20

Luật Thuỷ sản

2003

21

Luật giao thông đường thủy nội địa

2005

22

Luật giao thông đường bộ

2001

23

Luật đường sắt

2005

24

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam

2006

25

Luật Đê điều

2006

26

Luật Khoáng sản (sửa đổi năm 2005)

1996

27

Luật dầu khí (sửa đổi năm 2000)

1993

28

Luật bảo vệ và phát triển rừng

2004

29

Luật điện lực

2004

30

Luật Di sản văn hoá

2001

31

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính

2002

32

Pháp lệnh Dự trữ quốc gia

2004

33

Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi

2001

34

Pháp lệnh Khai thác bảo vệ công trình thuỷ văn

1994

35

Pháp lệnh khai thác bảo vệ công trình giao thông

1994

36

Pháp lệnh khai thác, bảo vệ công trình quốc phòng

1994

37

Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi năm 1998)

1990

38

Nghị định số 14/1998/NĐ-CP quản lý tài sản nhà nước

1998

39

Nghị định  số 137/2006/NĐ-CP quy định phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản xác lập quyền sở hữu nhà nước

2006

40

Nghị định số 61/CP về mua bán và kinh doanh nhà ở

1994

41

Nghị định số 132/2005/NĐ-CP thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước

2005

42

Nghị định số 199/2004/NĐ-CP Ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác

2004

43

Nghị định số 18/2006/NĐ-CP về xử lý tài sản chìm đắm ở biển

2006

44

Quyết định số 202/2006/QĐ-TTg Về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập

2006

45

Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg về ban hành quy chế đầu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất

2005

 

SOURCE: CHINHPHU.VN

DỰ THẢO LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

QUỐC HỘI
_______________

Luật số:  /2007/QH 12

Dự thảo

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

__________________________

QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Khóa XI, kỳ họp thứ ……

DỰ THẢO LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Tài sản nhà nước

Tài sản nhà nước là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức; phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật; đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên, tài sản kết cấu hạ tầng, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời và các tài sản khác mà pháp luật quy định là của nhà nước.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh

1. Luật này quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức; tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước; quyền, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước; quyền và nghĩa vụ của các đối tượng được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước.

2. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản kết cấu hạ tầng, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, vốn bằng tiền, hàng hoá, tài sản không có hình thái vật chất và các tài sản nhà nước khác không thuộc khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan và các quy định tại Chương I, Chương II, Chương III, Chương IX và Chương X Luật này.

Điều 3. Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài sản nhà nước.

2. Đối tượng được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước gồm:

a) Cơ quan nhà nước;

b) Đơn vị sự nghiệp công lập;

c) Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp.

d) Doanh nghiệp;

e) Các đối tượng khác được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước.

3- Các đối tượng khác có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Điều 4. Áp dụng pháp luật

1. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải tuân thủ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của luật chuyên ngành thì áp dụng theo các quy định của chuyên ngành. Đối với tài sản được hình thành từ đầu tư kinh phí của Nhà nước ở Doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

3. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 5. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Tài sản chuyên dùng là những tài sản mà công dụng của nó chỉ dùng để phục vụ cho hoạt động đặc thù của một ngành, một lĩnh vực nhất định.

2. Xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc xác lập sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật đối với những tài sản mà trước thời điểm xác lập quyền sở hữu nhà nước chưa phải là của Nhà nước.

3. Tài sản không còn nhu cầu sử dụng là những tài sản vẫn sử dụng được bình thường nhưng đối tượng được giao trực tiếp sử dụng không còn nhu cầu sử dụng.

4. Tài sản không sử dụng được là những tài sản bị hư hỏng, không còn phát huy được công năng hữu ích theo mục đích chế tạo ban đầu.

5. Bán tài sản nhà nước (trừ đất đai) là việc Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình để nhận một khoản tiền hoặc một lợi ích tương ứng.

6. Phương án xử lý tài sản nhà nước là tập hợp các đề xuất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hình thức xử lý đối với tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật (tiêu huỷ, bán, chuyển giao cho các cơ quan chuyên ngành xử lý, điều chuyển cho các đối tượng sử dụng).

7. Thu hồi tài sản nhà nước là việc Nhà nước quyết định chấm dứt quyền sử dụng tài sản của đối tượng đang trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước.

8. Điều chuyển tài sản nhà nước là việc Nhà nước quyết định chuyển quyền sử dụng tài sản nhà nước từ đối tượng sử dụng này sang cho đối tượng sử dụng khác tiếp tục sử dụng trong khu vực nhà nước.

9. Cho thuê tài sản nhà nước là việc Nhà nước giao quyền sử dụng, khai thác tài sản nhà nước cho đối tượng trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước theo hợp đồng cho thuê.

10. Chuyển đổi mục đích sử dụng tài sản nhà nước là việc Nhà nước quyết định cho phép sử dụng tài sản vào mục đích khác so với mục đích sử dụng trước đó.

11. Tiêu huỷ tài sản nhà nước là việc xoá bỏ sự tồn tại của tài sản đó.

Điều 6. Nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Mọi tài sản nhà nước đều được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc quản lý, sử dụng, bảo tồn và phát triển tài sản nhà nước;

2. Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan và trách nhiệm phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài sản;

3. Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức;

4. Tài sản nhà nước phải được quản lý, hạch toán, ghi chép đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật. Việc xác định giá trị tài sản trong các quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh liên kết, thanh lý tài sản thực hiện theo nguyên tắc thị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Tài sản nhà nước phải được bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa theo yêu cầu định mức kinh tế kỹ thuật, chế độ quy định;

6. Thực hiện công khai việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Điều 7. Chính sách quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước.

2. Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia cùng Nhà nước đầu tư để hình thành, phát triển, khai thác và bảo vệ tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật.

3. Công tác quản lý tài sản nhà nước phải được tăng cường và hiện đại hoá theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt.

4. Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về tài sản nhà nước các cấp, đảm bảo đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

CHƯƠNG II

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Điều 8. Nội dung quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước

1. Xây dựng, lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển, khai thác, sử dụng tài sản nhà nước;

2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

3. Tổ chức lập và quản lý hồ sơ về tài sản nhà nước;

4. Quản lý việc đầu tư xây dựng, mua sắm, khai thác, sửa chữa, bảo dưỡng, điều chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, góp vốn liên doanh liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản nhà nước;

5. Kiểm kê, đánh giá, định giá tài sản nhà nước;

6. Xác lập quyền sở hữu của nhà nước về tài sản theo quy định của pháp luật;

7. Quản lý các hoạt động dịch vụ về tài sản nhà nước;

8. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu quản lý tài sản nhà nước;

9. Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý tài sản nhà nước;

10. Kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

11. Kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Điều 9. Trách nhiệm của Chính phủ.

1. Thống nhất quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước; thực hiện phân cấp quyền hạn, trách nhiệm trong quản lý tài sản nhà nước;

2. Trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết về quản lý tài sản nhà nước;

3. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền về quản lý tài sản nhà nước;

4. Thực hiện chức năng chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.

5. Thực hiện phân cấp quyền hạn và trách nhiệm cho các cơ quan nhà nước trong quản lý tài sản nhà nước.

Điều 10. Trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ

1. Quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, trang thiết bị tin học, điện thoại, xe ô tô phục vụ công tác và những tài sản quan trọng, giá trị lớn, trang bị thống nhất tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;

2. Quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước đối với những tài sản có vai trò ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, có tác động đến phát triển kinh tế xã hội vùng lãnh thổ; quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm, khai thác, thu hồi, điều chuyển, bán, liên doanh liên kết, cho thuê, tiêu huỷ một số loại tài sản nhà nước theo phân cấp của Chính phủ;

Điều 11. Trách nhiệm của Bộ Tài chính

1. Giúp Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về tài sản nhà nước;

2. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

3. Quản lý tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc trung ương quản lý và tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước thuộc trung ương quản lý theo phân cấp của Chính phủ;

4. Quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước về tài sản theo quy định tại Điều 51 Luật này;

5. Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác quản lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo quy định pháp luật;

6. Kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các Bộ, ngành, địa phương và các đối tượng được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước;

7. Xử lý tài sản nhà nước theo phân cấp của Chính phủ;

8. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ nếu có sai phạm trong quản lý nhà nước về tài sản nhà nước thuộc lĩnh vực được phân công.

Điều 12. Trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương

1. Giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực được giao theo phân cấp của Chính phủ;

2. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách, chế độ quản lý, sử dụng tài sản chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước ngành, lĩnh vực được giao theo quy định của pháp luật;

3. Chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước chuyên dùng tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý;

4. Trực tiếp quản lý tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý;

6. Quyết định xác lập quyền sở hữu tài sản của nhà nước theo quy định tại Điều 51 Luật này;

7. Xử lý tài sản nhà nước theo phân cấp của Chính phủ;

8. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ nếu để xảy ra sai phạm trong quản lý nhà nước về tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý.

Điều 13. Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân các cấp

1. Quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài sản nhà nước (trừ đất đai) thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo thẩm quyền.

2. Quyết định biện pháp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo thẩm quyền.

3. Giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại địa phương.

Điều 14. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp

1. Quản lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo quy định của pháp luật;

2. Ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo phân cấp của Chính phủ;

3. Ban hành quy định về phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức cho các ngành, các cấp thuộc địa phương quản lý theo quy định của pháp luật sau khi có ý kiến của Hội đồng nhân dân cùng cấp;

4. Tổ chức quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo quy định Luật này và pháp luật khác có liên quan;

5. Xử lý tài sản nhà nước theo phân cấp của Chính phủ;

6. Quyết định xác lập quyền sở hữu tài sản của nhà nước theo quy định Luật này và pháp luật có liên quan.

7. Uỷ ban nhân dân cấp dưới chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp trên; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ nếu để xảy ra các sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

Điều 15. Quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và công dân

Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các thành viên của Mặt trận và công dân có quyền hạn và trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

CHƯƠNG III

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC GIAO TRỰC TIẾP SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Điều 16. Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước

1. Cơ quan, đơn vị, tổ chức được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước có quyền:

a) Sử dụng tài sản nhà nước phục vụ hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ được giao;

b) Trong phạm vi quyền hạn được giao, được quyết định các biện pháp nhằm bảo vệ, phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước được giao;

c) Được nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình sử dụng tài sản nhà nước được giao;

d) Được khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi quyền sử dụng tài sản bị xâm phạm.

2. Cơ quan, đơn vị, tổ chức được nhà nước giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước có nghĩa vụ:

a) Sử dụng tài sản nhà nước đúng mục đích được giao; đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ;

b) Sử dụng tài sản nhà nước được giao có hiệu quả, tiết kiệm;

c) Giữ gìn tài sản nhà nước được giao theo chế độ quy định;

d) Kê khai, lập và quản lý hồ sơ tài sản được giao; hạch toán, ghi chép tài sản; báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được giao theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và của Luật này;

e) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước đối với việc sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức trong việc sử dụng tài sản nhà nước

1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước có quyền:

a) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định pháp luật;

b) Xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các sai phạm trong sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý.

2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước có nghĩa vụ:

a) Ban hành và tổ chức thực hiện quy chế quản lý việc sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý theo chế độ quy định;

b) Chấp hành đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, đảm bảo sử dụng tài sản đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ, có hiệu quả và tiết kiệm.

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra sai phạm trong sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý;

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước

1. Cá nhân được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước có quyền:

a) Sử dụng tài sản nhà nước phục vụ hoạt động trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao;

b) Được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình sử dụng tài sản nhà nước được giao;

c) Được khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi quyền sử dụng tài sản bị xâm phạm;

2. Cá nhân được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước có nghĩa vụ:

a) Sử dụng tài sản nhà nước có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích được giao; đúng tiêu chuẩn, chế độ do Nhà nước quy định;

b) Bảo vệ, giữ gìn tài sản nhà nước được giao;

c) Trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng vào mục đích khác, ngoài nhiệm vụ của Nhà nước thì phải thanh toán đầy đủ các chi phí sử dụng, phải bồi thường theo quy định của pháp luật nếu để xảy ra hư hỏng, thất thoát, mất tài sản nhà nước.

CHƯƠNG IV

QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Điều 19. Nguồn hình thành tài sản tại cơ quan nhà nước

1. Nhà nước giao tài sản cho cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng;

2. Nhà nước cấp kinh phí cho cơ quan nhà nước để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản;

Điều 20. Trụ sở làm việc

1. Trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước do Nhà nước đầu tư xây dựng hoặc đi thuê.

2. Việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc phải thực hiện theo đúng quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước.

3. Quy mô trụ sở phải đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn, định mức sử dụng, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy theo đúng mục tiêu cải cách hành chính được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4. Kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

5. Quản lý đầu tư xây dựng trụ sở làm việc thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

6. Thuê trụ sở làm việc

a) Trường hợp không có khả năng đầu tư xây dựng hoặc việc đầu tư xây dựng không có hiệu quả thì đi thuê trụ sở làm việc.

b) Việc thuê trụ sở làm việc phải phù hợp với tiêu chuẩn, định mức được sử dụng; đúng chính sách, chế độ và phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước.

c) Thẩm quyền quyết định việc đi thuê trụ sở làm việc do cơ quan có thẩm quyền quyết định việc đầu tư trụ sở quyết định theo quy định của pháp luật.

d) Kinh phí thuê trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước do ngân sách nhà nước đảm bảo.

Điều 21. Mua sắm tài sản nhà nước

1. Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí mua sắm tài sản cho các cơ quan nhà nước.

2. Việc mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước phải căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn, chế độ sử dụng tài sản do Nhà nước quy định và trong phạm vi dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao.

3. Thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước

a) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định việc mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý;

b) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định việc mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

4. Việc mua sắm phải thực hiện công khai, đúng trình tự theo quy định của pháp luật.

5. Chỉ sử dụng kinh phí mua sắm tài sản nhà nước đã ghi trong dự toán ngân sách được giao; trường hợp cần thiết phải mua sắm ngoài dự toán thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

6. Trường hợp xét thấy việc thuê tài sản phục vụ hoạt động có hiệu quả hơn việc phải mua sắm, thì thủ trưởng cơ quan trực tiếp sử dụng tài sản quyết định việc đi thuê tài sản phục vụ hoạt động. Kinh phí thuê tài sản do ngân sách nhà nước đảm bảo.

Điều 22. Lập, quản lý hồ sơ và kê khai tài sản

1. Lập và quản lý hồ sơ tài sản

a) Cơ quan được giao trực tiếp sử dụng tài sản phải lập, quản lý lưu trữ hồ sơ tài sản của mình theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

b) Cơ quan tài chính các cấp thống nhất quản lý, lưu trữ hồ sơ tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

c) Thực hiện hiện đại hoá việc quản lý hồ sơ tài sản nhà nước.

2. Kê khai tài sản nhà nước:

a) Cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý, sử dụng những tài sản nhà nước nêu tại điểm b khoản này phải thực hiện kê khai tài sản khi có một trong các biến động nêu tại điểm c khoản này.

b) Tài sản nhà nước phải kê khai gồm:

– Nhà, đất thuộc khuôn viên trụ sở làm việc;

– Nhà, đất sử dụng làm nhà ở công vụ;

– Ô tô các loại;

– Các tài sản khác theo quy định của Chính phủ.

c) Việc kê khai tài sản nêu điểm b khoản này được thực hiện khi:

– Tài sản đang sử dụng nhưng chưa thực hiện việc kê khai;

– Có sự thay đổi về quy mô tài sản;

– Có thay đổi về tài sản do mua sắm mới, tiếp nhận, thanh lý, điều chuyển, bị thu hồi, bán, góp vốn liên doanh liên kết, cho thuê, tiêu huỷ tài sản;

– Đơn vị sử dụng thay đổi tên gọi, chia tách, sáp nhập hoặc thành lập mới theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

d) Chính phủ quy định nội dung, trình tự, thủ tục kê khai tài sản nhà nước.

Điều 23.  Hạch toán, theo dõi tài sản nhà nước

1. Tài sản nhà nước phải được hạch toán kịp thời, đầy đủ cả về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

2. Cơ quan sử dụng tài sản nhà nước phải lập thẻ tài sản.

Bộ Tài chính quy định cụ thể việc lập thẻ tài sản.

Điều 24. Sửa chữa, bảo dưỡng tài sản nhà nước

1. Tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước phải được sửa chữa, bảo dưỡng theo đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật của từng loại tài sản.

2. Kinh phí sửa chữa, bảo dưỡng tài sản nhà nước được ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 25. Thu hồi tài sản nhà nước

1. Tài sản nhà nước bị thu hồi trong các trường hợp:

a) Đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản sai chế độ, vượt thẩm quyền do nhà nước quy định;

b) Không sử dụng gây lãng phí hoặc sử dụng vào các mục đích trái với quy định.

2. Thẩm quyền quyết định thu hồi tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thực hiện theo phân cấp của Chính phủ.

Điều 26. Điều chuyển tài sản nhà nước

1. Trong trường hợp cần thiết hoặc nếu có phương án sử dụng tài sản có hiệu quả cao hơn thì Nhà nước quyết định điều chuyển tài sản nhà nước từ cơ quan đang sử dụng sang cho đối tượng khác tiếp tục sử dụng.

2. Cơ quan sử dụng tài sản điều chuyển có trách nhiệm bàn giao tài sản theo đúng quyết định điều chuyển tài sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản nhà nước thực hiện theo phân cấp của Chính phủ.

Điều 27. Thanh lý tài sản nhà nước

1. Tài sản nhà nước được thanh lý trong các trường hợp sau:

a) Tài sản hết thời hạn sử dụng, nếu tiếp tục sử dụng có thể gây hậu quả xấu đến sức khoẻ con người hoặc gây ô nhiễm môi trường sống; tài sản hư hỏng không thể sử dụng được hoặc việc sửa chữa có hiệu quả.

b) Các tài sản khác phải thanh lý theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ cho việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng theo quy hoạch hoặc đổi mới công nghệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

2. Thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thực hiện theo phân cấp của Chính phủ.

3. Việc thanh lý tài sản thực hiện đúng chế độ.

4. Tiền thu được từ việc thanh lý tài sản, sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

5. Bộ Tài chính quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện việc thanh lý tài sản.

Điều 28. Bán tài sản nhà nước

1. Nhà nước bán tài sản nhà nước trong các trường hợp sau:

a) Những tài sản mà Nhà nước không còn nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả;

b) Các trường hợp cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

2. Việc bán tài sản nhà nước phải được thực hiện thông qua đấu giá trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Quyền sở hữu tài sản đã bán thuộc về người mua, kể từ khi người mua thực hiện xong nghĩa vụ đối với Nhà nước về việc mua tài sản.

Trường hợp tài sản nhà nước đã bán gắn liền với đất, thì Nhà nước đảm bảo quyền sử dụng đất cho người mua theo quy định của pháp luật về đất đai.

4. Thẩm quyền quyết định bán tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thực hiện theo phân cấp của Chính phủ.

5. Tiền bán tài sản nhà nước sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 29. Tiêu huỷ tài sản nhà nước

1. Tài sản nhà nước gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng, gây hại sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng thì được thực hiện tiêu huỷ.

2. Thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài sản nhà nước

a) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định việc tiêu huỷ tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo quy định pháp luật;

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định  hoặc phân cấp quyết định tiêu huỷ tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

3. Kinh phí tiêu huỷ tài sản nhà nước do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 30. Cho thuê tài sản nhà nước

Tài sản mà nhà nước không có nhu cầu sử dụng, nhưng Nhà nước không bán thì Nhà nước cho thuê sử dụng có thời hạn. Việc cho thuê tài sản nhà nước thực hiện theo quy định tại Chương VII Luật này.

Điều 31. Kiểm kê, báo cáo tài sản nhà nước

1. Cơ quan được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước định kỳ hàng năm thực hiện việc kiểm kê và báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

2. Việc kiểm kê đánh giá lại tài sản nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

3. Cơ quan quản lý, sử dụng tài sản nhà nước định kỳ phải báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo chế độ do Bộ Tài chính quy định.

4. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổng kiểm kê đánh giá lại tài sản nhà nước trong phạm vi cả nước.

Điều 32. Công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài sản nhà nước công bố công khai việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của từng cơ quan thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước thực hiện công khai việc mua sắm, đầu tư xây dựng, việc sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

3. Chính phủ quy định nội dung, phương thức công khai về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Điều 33. Quản lý tài sản nhà nước của các cơ quan nhà nước tại nước ngoài

1. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của các cơ quan nhà nước Việt Nam ở ngoài nước được thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại Chương này và phù hợp với quy chế ngoại giao và pháp luật nước sở tại.

2. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý tài sản nhà nước của các cơ quan nhà nước Việt Nam ở nước ngoài.

CHƯƠNG V

QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI  ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

Điều 34. Nguồn hình thành tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập

1. Nhà nước giao tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý sử dụng;

2. Đơn vị sự nghiệp công lập mua sắm tài sản bằng tiền do ngân sách nhà nước cấp, có nguồn gốc từ ngân sách nhà nư­ớc và từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, các quỹ hợp pháp của đơn vị có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

Điều 35. Quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập

Việc quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như quản lý tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước quy định tại Chương IV luật này, trừ các trường hợp quy định tại Điều 36 và Điều 37 Luật này.

Điều 36. Quản lý việc sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập

1. Trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật, thì đơn vị phải thực hiện xác định giá trị tài sản trước khi sử dụng vào mục đích hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết.

2. Việc quản lý tài sản nhà nước sử dụng vào mục đích hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo nguyên tắc quản lý vốn nhà nước giao cho đơn vị.

3. Tài sản nhà nước sử dụng vào mục đích hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập phải được trích khấu hao theo quy định của pháp luật. Đơn vị sự nghiệp công lập được sử dụng tiền khấu hao tài sản để tái tạo tài sản mới.

4. Đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ động khai thác, sử dụng tài sản để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.

5. Đơn vị sự nghiệp công lập có nghĩa vụ bảo tồn, phát triển tài sản được giao; hạch toán kế toán và báo cáo đầy đủ thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước.

6. Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ quản lý, chế độ sử dụng và thẩm quyền quyết định việc sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, góp vốn liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập.

Điều 37. Quyền và nghĩa vụ của đơn vị sự nghiệp công lập

1. Tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật phục vụ hoạt động theo chức năng của mình; được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích;

2. Tổ chức ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước đã giao theo quy định của pháp luật;

3. Được sử dụng tiền khấu hao tài sản cố định và tiền thanh lý tài sản để đầu tư tái tạo tài sản mới.

4. Phải bảo toàn và phát triển vốn và tài sản nhà nước giao theo quy định của pháp luật;

5. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước theo quy định của pháp luật.

Điều 38. Xử lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập khi chuyển đổi sang loại hình cơ sở ngoài công lập

1. Đối với tài sản nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp công lập khi chuyển đổi sang loại hình ngoài công lập theo quy định của pháp luật phải thực hiện kiểm kê, đánh giá lại tài sản nhà nước tại đơn vị theo giá thị trường để bán hoặc cho thuê. Cơ sở ngoài công lập đang sử dụng những tài sản này được ưu tiên mua hoặc thuê.

2. Cơ sở ngoài công lập tiếp tục được sử dụng đất theo phương thức giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định pháp luật đất đai.

3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển đơn vị sự nghiệp công lập sang loại hình cơ sở ngoài công lập có quyền quyết định việc bán và cho thuê phần tài sản thuộc sở hữu nhà nước cho cơ sở ngoài công lập theo quy định quản lý tài sản hiện hành.

Điều 39. Xử lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập khi chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp

1. Đơn vị sự nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển sang loại hình doanh nghiệp, được Nhà nước tiếp tục giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

2. Nhà nước thực hiện kiểm kê, đánh giá lại tài sản nhà nước khác theo giá thị trường để thực hiện giao vốn cho đơn vị. Đơn vị có nghĩa vụ bảo toàn, phát triển vốn nhà nước giao theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển đơn vị sự nghiệp công lập sang loại hình doanh nghiệp quyết định việc giao vốn cho doanh nghiệp theo quy định hiện hành.

Điều 40. Xử lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập khi cổ phần hoá

1. Đơn vị sự nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền quyết định cổ phần hoá được Nhà nước tiếp tục giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

2. Nhà nước thực hiện kiểm kê, đánh giá lại tài sản nhà nước khác theo giá thị trường để bán hoặc góp vốn theo quy định của luật doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan.

Điều 41. Cho thuê tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập

Tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập khi sử dụng để cho thuê thực hiện theo quy định tại Chương VII Luật này.

CHƯƠNG VI

QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP, TỔ CHỨC XÃ HỘI, TỔ CHỨC XÃ HỘI- NGHỀ NGHIỆP

Điều 42. Nguồn hình thành tài sản nhà nước tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp

1. Nhà nư­ớc giao tài sản cho tổ chức quản lý và sử dụng;

2. Nhà nước cấp kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, mua sắm theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước;

Điều 43. Quản lý tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội

1. Nhà nước giao hoặc bố trí dự toán để tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước; giao đất không thu tiền sử dụng đất cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội làm trụ sở làm việc;

2. Tài sản nhà nước giao cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội quản lý, sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ chức đó. Việc quản lý, sử dụng những tài sản này thực hiện theo quy định tại Chương IV.

3. Tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được Nhà nước cấp kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí để đầu tư xây dựng, mua sắm thì việc quản lý, sử dụng thực hiện theo quy định tại Chương IV.

4. Tài sản nhà nước đã được Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thì quyền sở hữu tài sản thuộc về tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

5. Thẩm quyền quyết định giao quyền sở hữu tài sản nhà nước cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội:

a) Chính phủ quyết định giao tài sản nhà nước cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thuộc trung ương quản lý.

b) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao tài sản nhà nước cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thuộc địa phương quản lý.

Điều 44. Quản lý tài sản nhà nước tại các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp;

1. Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp được Nhà nước cho thuê trụ sở làm việc hoặc cho thuê đất làm trụ sở, cơ sở hoạt động theo quy định của pháp luật.

2. Tài sản nhà nước giao cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp quản lý, sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ chức đó. Việc quản lý, sử dụng những tài sản này thực hiện theo quy định tại Chương IV Luật này.

3. Việc quản lý những tài sản mà Nhà nước đã hỗ trợ kinh phí để đầu tư, mua sắm tại tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp do các tổ chức này quyết định theo quy định của pháp luật.

4. Tài sản tại các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp được đầu tư xây dựng, mua sắm không phải từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì thuộc quyền sở hữu của tổ chức đó.

CHƯƠNG VII

CHO THUÊ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Điều 45. Tài sản nhà nước được sử dụng để cho thuê

1. Tài sản nhà nước theo quy định của Luật này được sử dụng để cho thuê gồm:

a) Tài sản nhà nước đang sử dụng để phục vụ hoạt động tại đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức mà dư thừa hoặc chưa được xử lý theo quy định của Luật này thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng để cho thuê;

b) Tài sản là kết cấu hạ tầng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng để cho thuê.

2. Việc cho thuê tài sản nhà nước là đất đai, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, mặt nước, mặt biển và các tài sản nhà nước khác thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan.

Điều 46. Thẩm quyền quyết định cho thuê tài sản nhà nước

1. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định việc cho thuê tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo quy định pháp luật đối với tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 45 Luật này.

Trường hợp sử dụng nhà đất là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp là tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức để cho thuê phải có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

2. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương quyết định cho thuê tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo quy định pháp luật đối với tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 Luật này sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định cho thuê tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

Điều 47. Quản lý, sử dụng tiền thu được từ cho thuê tài sản nhà nước

Tiền thu được từ cho thuê tài sản nhà nước sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan được quản lý, sử dụng theo quy định của Chính phủ.

Điều 48. Quyền và nghĩa vụ của đối tượng thuê tài sản nhà nước

1. Đối tượng thuê tài sản nhà nước có quyền:

a) Được nhà nước bảo vệ quyền sử dụng, khai thác tài sản nhà nước và lợi ích hợp pháp trong suốt thời hạn thuê;

b) Thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước đang thuê;

c) Được ưu tiên mua lại tài sản nhà nước đang thuê khi nhà nước bán theo quy định của pháp luật;

d) Các quyền và lợi ích hợp pháp khác thoả thuận tại hợp đồng cho thuê tài sản và quy định của pháp luật.

2. Đối tượng thuê tài sản nhà nước có nghĩa vụ:

a) Giữ gìn, bảo vệ tài sản thuê, trường hợp làm thất thoát, hư hỏng thì phải bồi thường;

b) Sử dụng tài sản thuê theo đúng công dụng của tài sản, đúng mục đích thuê đã thoả thuận.

c) Trả tiền thuê cho nhà nước đầy đủ, đúng hạn đã thoả thuận.

d) Thực hiện việc duy tu, bảo dưỡng tài sản theo hợp đồng thuê.

e) Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác theo thoả thuận tại hợp đồng cho thuê tài sản và quy định của pháp luật.

Điều 49. Hợp đồng thuê

Hợp đồng thuê tài sản bao gồm các nội dung sau đây:

1. Tên, địa chỉ của bên cho thuê và bên thuê;

2. Các thông tin về tài sản;

3. Giá thuê tài sản;

4. Phương thức và thời hạn thanh toán;

5. Thời hạn cho thuê tài sản; thời hạn giao, nhận tài sản;

6. Quyền và nghĩa vụ của các bên;

7. Yêu cầu sử dụng và trách nhiệm sửa chữa, cải tạo (nếu có);

8. Yêu cầu về tình trạng tài sản khi trả lại bên cho thuê;

10. Giải quyết tranh chấp;

11. Các nội dung khác do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.

CHƯƠNG VIII

XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN

Điều 50. Tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước

1. Tài sản bị tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

2. Tài sản vô chủ, không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn giấu, chìm đắm được tìm thấy; tài sản đánh rơi, bị bỏ quên; tài sản không có người nhận thừa kế quy định tại Điều 239, Điều 240, Điều 241, Điều 644 Luật Dân sự;

3. Tài sản của các dự án sử dụng vốn ngoài nước chuyển giao cho nhà nước Việt Nam khi kết thúc hoạt động;

4. Tài sản do nhà đầu tư chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng đã ký kết giữa nhà đầu tư và Nhà nước Việt Nam;

5. Tài sản của chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu cho nhà nước Việt Nam dưới hình thức biếu, tặng, cho, đóng góp, viện trợ và các hình thức chuyển giao khác.

6. Các tài sản khác theo quy định của pháp luật được xác lập quyền sở hữu nhà nước.

Điều 51. Thẩm quyền xác lập quyền sở hữu tài sản của Nhà nước

1. Đối với tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quỹ nhà nước:

a) Thẩm quyền quyết định tịch thu sung quỹ đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

b) Thẩm quyền quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước đối với tài sản của người bị kết án được thực hiện theo quy định của pháp luật về hình sự;

c) Thẩm quyền quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước đối với vật chứng vụ án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Đối với các tài sản khác:

a) Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với:

– Tài sản của các dự án sử dụng vốn ngoài nước do Trung ương quản lý, sau khi kết thúc hoạt động được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam;

– Tài sản do nhà đầu tư chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng đã ký kết đối với các dự án do Trung ương quản lý.

– Tài sản được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu dưới các hình thức biếu, tặng, cho, đóng góp, viện trợ và các hình thức chuyển giao khác theo quy định của pháp luật cho Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương;

b) Căn cứ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được giao và các quy định khác của pháp luật có liên quan, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; quyết định hoặc phân cấp quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với vật bị chôn dấu, chìm đắm, vật bị đánh rơi, bỏ quên được tìm thấy;

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với:

– Bất động sản trên địa bàn được xác định là vô chủ hoặc không xác định được chủ sở hữu;

– Di sản không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng người đó không được quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản;

– Tài sản của các dự án sử dụng vốn ngoài nước do địa phương quản lý sau khi kết thúc hoạt động được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam;

– Tài sản do nhà đầu tư chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng đã ký kết đối với các dự án do địa phương quản lý.

– Tài sản được chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu dưới hình thức biếu, tặng cho, đóng góp, viện trợ và các hình thức chuyển giao khác theo quy định của pháp luật cho các tổ chức thuộc địa phương.

Điều 52. Quản lý tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước

1. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý hoặc được tạm giao quản lý có trách nhiệm quản lý tài sản đã được xác lập quyền sở hữu nhà nước có trách nhiệm trách nhiệm tổ chức thực hiện bảo quản nhằm duy trì hiện trạng tài sản cả về số lượng và chất lượng.

2. Cơ quan đang quản lý hoặc được giao tạm quản lý tài sản có trách nhiệm lập phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Điều 53 Luật này.

Điều 53. Thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước

1. Thủ tướng Chính phủ quyết định phương án xử lý đối với tài sản là di sản văn hoá vật thể bao gồm di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác;

2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định phương án xử lý theo quy định của pháp luật đối với:

a) Tài sản quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật này do cơ quan nhà nước ở Trung ương quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước;

b) Tài sản quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 Luật này;

c) Người có thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 Luật này thì có quyền quyết định phương án xử lý tài sản sau khi có ý kiến thống nhất của cơ quan tài chính nhà nước cùng cấp (trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ quyết định xác lập và phê duyệt phương án xử lý tài sản). Riêng trường hợp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định phương án xử lý tài sản, phải có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính.

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý đối với:

Tài sản quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật này do cơ quan nhà nước ở địa phương quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước;

Tài sản quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 51 Luật này.

Điều 54. Quản lý tài chính đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước.

1. Tiền thu được từ việc xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan. Cấp nào phê duyệt phương án xử lý thì tiền thu được nộp vào ngân sách nhà nước của cấp đó.

2. Trường hợp xử lý tài sản không có nguồn thu hoặc số thu không đủ bù đắp chi phí, thì chi phí do ngân sách nhà nước chi trả. Tài sản do cấp nào xử lý thì chi phí do ngân sách cấp đó chi trả.

3. Trường hợp tài sản điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước, thì chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản do cơ quan, đơn vị, tổ chức được tiếp nhận tài sản chi trả.

CHƯƠNG IX

KIỂM TRA, THANH TRA, KIỂM TOÁN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Điều 55. Kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Bộ Tài chính, Thanh tra chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên phạm vi cả nước theo phân công của Chính phủ.

2. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

3. Nội dung kiểm tra, thanh tra gồm:

a) Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chế độ chính sách pháp luật quản lý nhà nước về tài sản nhà nước của các cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý tài sản nhà nước;

b) Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chế độ chính sách pháp luật của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước.

Điều 56. Kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật.

Điều 57. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo việc vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

2. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Điều 58. Các hành vi sau đây bị coi là vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhà nước dưới mọi hình thức;

2. Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước làm thiệt hại tài sản nhà nước;

3. Sử dụng không đúng mục đích, sử dụng sai chế độ, tiêu chuẩn, vượt định mức do Nhà nước quy định; sử dụng lãng phí hoặc không sử dụng tài sản được giao gây lãng phí;

4. Huỷ hoại tài sản nhà nước;

5. Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài sản nhà nước;

6. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước trong sử dụng tài sản; không thực hiện đăng ký tài sản nhà nước, không báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định.

Điều 59. Xử lý đối với người quản lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Người nào lợi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhà nước dưới mọi hình thức; cố ý làm trái các quy định của Nhà nước làm thất thoát tài sản nhà nước; thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài sản nhà nước thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, bồi thường hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 60. Xử lý vi phạm pháp luật đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp sử dụng tài sản nhà nước mà sử dụng không đúng mục đích, sử dụng sai chế độ, sai tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định; không sử dụng tài sản được giao gây lãng phí; huỷ hoại tài sản nhà nước; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước trong sử dụng tài sản; không thực hiện đăng ký tài sản nhà nước, không báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, không lập và quản lý hồ sơ tài sản nhà nước, không hạch toán, theo dõi tài sản nhà nước theo quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính, bồi thường hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG X

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 61. Quản lý tài sản nhà nước đối với lĩnh vực an ninh, quốc phòng

Căn cứ vào các nguyên tắc quy định của Luật này, Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

Điều 62. Hiệu lực thi hành.

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2009.

2. Những quy định về quản lý tài sản nhà nước tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trước đây trái với quy định tại Luật này thì thực hiện theo quy định của Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ ….  thông qua ngày….. tháng…. năm …

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

NGUYỄN PHÚ TRỌNG

BÀN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ

LUẬT GIA TRƯƠNG HỒNG DƯƠNG

Bảo hiểm y tế (BHYT) chính sách xã hội tất yếu, đã được Đảng, Nhà nước ta khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng: Hiến pháp 1992″…kết hợp phát triển y tế nhà nước với y tế tư nhân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm lo sức khoẻ“; Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới đã khẳng định: ” Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân nhằm từng bước đạt tới sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, thực hiện sự chia sẻ giữa người khoẻ với người ốm; người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già…”; Nghị quyết Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh:” Phát triển và nâng cao chất lwongj bảo hiểm y tế; xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dâ; phát triển mạnh các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiẻm y tế cộng đồng. Mở rộng diện các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập khám bệnh, chữa bệnhtheo bảo hiểm y tế. Hạn chế và giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh. Đổi mới phương thức thanh toán viện phí qua Quỹ Bảo hiểm y tế”.

BHYT là một trong 4 nội dung đổi mới của hệ thống y tế nước ta trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Sang những năm đầu của thế kỷ 21, BHYT vẫn đang tiếp tục phát triển và được coi là một cơ chế quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng nền y tế theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

Sau hơn 14 năm triển khai thực hiện, BHYT ngày nay đã bao phủ trên 37% dân số, trở thành một trong những nguồn tài chính quan trọng cho ngành y tế. Từ khi Điều lệ BHYT đầu tiên được ban hành vào năm 1992 đến nay, đã có 3 Nghị định của Chính phủ và nhiều thông tư hướng dẫn đã được ban hành nhằm điều chỉnh, sửa đổi chính sách BHYT, thể hiện sự quan tâm của Chính phủ trong việc phát triển BHYT, đồng thời cũng chứng tỏ có nhiều khó khăn trong quá trình triển khai chính sách bảo hiểm y tế trong điều kiện nền kinh tế của nước ta đang từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.

Bảo hiểm y tế đang là vấn đề thời sự được dư luận xã hội quan tâm, điều này cho thấy, BHYT đang là một nhu cầu thiết yếu đối với đại đa số nhân dân, nhất là  nhóm đối tượng người nghèo, thu nhập thấp. Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, bên cạnh những mặt được, mặt tích cực, cơ bản, chính sách BHYT vẫn còn một số bất bất cập. Chính sách BHYT hiện hành bộc lộ một số yếu tố ảnh hưởng tới tính bền vững tài chính của quỹ BHYT như: mức phí, phương thức thanh tóan không hợp lý, thiếu cơ chế phù hợp trong quản lý, sử dụng thuốc và giá thuốc, thiếu chế tài hạn chế lựa chọn bất lợi. Số liệu thống kê năm 2004, 2005 và số liệu ban đầu của 2006 đã cho thấy, tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT đã lớn hơn tổng số thu BHYT; xu hướng bội chi ngày càng lớn là không thể khắc phục, nếu không có các giải pháp sửa đổi chính sách và sửa đổi cách tổ chức thực hiện.

Thực tiễn khách quan đang đòi hỏi cần phải có Bộ luật về BHYT để pháp luật hoá mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng. Giúp cho Nhà nước quản lý lĩnh vực BHYT bằng một đạo luật một cách chặt chẽ và thống nhất. Trong phạm vi bài viết này tôi xin được bàn luận về một số vần đề sau:

1. Về phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT

Thực tiễn sau gần 15 năm hoạt động và tham khảo tổng kết khoa học của 178 chương trình BHYT tự nguyện trên Thế giới đã minh chứng cho thấy, BHYT tự nguyện không phải là giải pháp chính để tiến tới BHYT toàn dân. BHYT tự nguyện chỉ có thể là loại hình BHYT bổ sung cho những người có nhu cầu bổ sung thêm vào gói quyền lợi cơ bản trong KCB BHYT của mình. Chính vì lẽ đó để tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2010, thì Luật BHYT nên quy định “BHYT bắt buộc toàn dân” với phạm vi gói “dịch vụ cơ bản”, tuy nhiên sự bắt buộc này cần có lộ trình, với mức đóng cụ thể phù hợp với thu nhập, khả năng đóng góp của từng nhóm đối tượng. Trước hết trong giai đoạn hiện nay với trình độ phát triển của nền kinh tế đất nước và thu nhập của người dân còn ở mức thấp thì việc thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân cho cả nội trú và ngoại trú theo phạm vi gói quyền lợi bảo hiểm y tế tương đối rộng như hiện nay là khó thực hiện, thiếu tính khả thi trong thực tiễn. Theo ước tính chi KCB nội trú của đối tượng BHYT tự nguyện năm 2006 khoảng trên 740 tỷ đồng, trong khi đó số thu năm 2006 khoảng 750 tỷ đồng. Như vậy có thể nói mức thu hiện nay mới tạm đủ để chi trả riêng cho gói quyền lợi nội trú hiện nay. Nhưng nếu tăng mức phí đóng BHYT thì bộ phận đông người lao động khu vực nông nghiệp không có khả năng tham gia, vậy với 70% dân số làm nông nghiệp thì  khả năng tiếp cận được chính sách BHYT là rất khó khăn.

Hơn nữa, thực tế những năm qua cho thấy, BHYT chỉ thực sự có tác dụng đối với người tham gia BHYT không may gặp rủi ro ốm đau phải đi nằm viện điều trị nội trú với những chi phí lớn trong KCB. Đối với những trường hợp ốm đau nhẹ, do thủ tục phức tạp, phiền hà, thời gian chờ đội khám lâu nên nhiều người thường ngại đi khám bệnh bằng thẻ BHYT mà thường đi khám dịch vụ. Từ những lý do trên, Luật BHYT chỉ nên quy định phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT bắt buộc toàn dân là BHYTKCB nội trú.

Ngoài đối tượng chính sách (người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, trẻ em dưới 6 tuổi…được ngân sách Nhà nước bao cấp như hiện nay thì đối tượng khu vực phi chính thức (nông dân, những người không có nguồn thu nhập ổn định) cũng rất cần Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng BHYT, nguồn kinh phí hỗ trợ này nên được lấy từ nguồn ngân sách lâu nay Nhà nước vẫn cấp cho ngành y tế để làm nhiệm vụ CSSK cho người dân tính theo đầu người. Làm được điều này chính là tạo sự công bằng trong hưởng thụ các phúc lợi xã hội của Đảng và Nhà nước ta và tạo điều kiện mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế bắt buộc, đồng thời cũng là  đẩy nhanh lộ trình thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

2. Về phương thức thanh toán và cơ chế chi trả BHYT

Ngay từ khi ra đời BHYT đã được khẳng định là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội nhằm  bảo đảm thanh toán chi phí một phần viện phí cho người tham gia BHYT trong khám bệnh, chữa bệnh. Như vậy, ngay từ khi ra đời BHYT thực chất là chỉ bảo hiểm một phần chi phí cho khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú cho người tham gia không may rủi ro ốm đau, chứ không bao gồm các loại dịch vụ y tế khác như tai nạn giao thông, đánh nhau gây thương tích, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác như phục hồi chức năng sau điều trị… Tuy nhiên với mong muốn mang lại nhiều quyền lợi hơn nữa cho người tham gia BHYT, chính sách BHYT của Nhà nước ta thể hiện bản chất ưu việt và tốt đẹp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn được  sửa đổi theo xu hướng tăng gói quyền lợi cho người tham gia BHYT, trong khi đó mức đóng không tương xứng với mức chi phí của gói quyền lợi hiện nay. Mức đóng đối tượng BHYT tự nguyện luôn thay đổi và thấp hơn mức đóng bình quân chung của nhóm đối tượng bắt buộc. Mức đóng của bảo hiểm y tế tự nguyện không phù hợp với  gói quyền mà người tham gia BHYT hưởng, tính quy luật khách quan trong xác suất thống kê của BHYT bị phá vỡ.

Hằng năm BHYT đã chi trả cho các dịch vụ kỹ thuật mới, thuốc mới đắt tiền cho các cơ sở KCB, nhưng các cơ sở KCB cũng vẫn không cung ứng đủ thuốc và thiết bị vật tư tiêu hao để phục vụ bệnh nhân có BHYT, trong nhiều trường hợp, bệnh nhân có  thẻ BHYT vẫn phải mua thuốc và vật tư tiêu ở các cửa hàng thuốc tư nhân, trong đó có cả những thuốc và vật tư tiêu hao đều thuộc danh mục đã tính vào giá viện phí. Quy định về tạm ứng chi trả BHYT để chi cho KCB ngoại trú, nội trú được tính ứng trước trên tổng số thu của tổng số những người tham gia BHYT có đăng ký KCB ban đầu tại cơ sở KCB trong một thời hạn nhất định, sau đó quyết toán, nếu thiếu thì BHYT sẽ điều tiết từ quỹ sau khi quyết toán cả năm. Quy định như vậy nhằm tăng tính chủ động cho cơ sở KCB trong việc điều trị cho người bệnh có thẻ BHYT, người chi phí ít bù cho người phải chi phí nhiều, người bệnh nhẹ bù cho người bệnh nặng. Không biết vô tình hay hữu ý mà một số cơ sở KCB đã lấy tổng số tiền ứng trước của cơ quan BHXH đem chia cho tổng số người có thẻ BHYT đăng ký tại cơ sở KCB, rồi lấy kết quả đó quy định “trần” chi trả từ Quỹ BHYT cho mỗi bệnh nhân, nếu chi phí quá “trần” thì bệnh nhân hoặc gia đình bệnh nhân tự trả hoặc yêu cầu bệnh nhân mua thêm thuốc…Từ cách  làm này, bệnh viện đã giải thích cho bệnh nhân rằng, BHXH quy định “trần” thanh toán, theo đó, tiền chi phí khám bệnh, chữa bệnh tính trên đầu thẻ BHYT không đủ chi trả để bệnh nhân điều trị nên bệnh nhân BHYT không có thuốc tốt hoặc cơ sở không đủ tiền để mua thuốc cấp cho bệnh nhân. Bên cạnh đó, mặc dù cơ quan BHXH đã cố gắng thoả mãn chi đúng chế độ quy định cho các cơ sở KCB nhưng các cơ sở KCB vẫn chưa hài lòng với phương thức chi trả của BHXH, mọi vấn đề bệnh nhân BHYT thắc mắc đều được các cơ sở KCB đổ lỗi cho BHYT, còn  tổ chức BHXH người có trách nhiệm trực tiếp với người tham gia BHYT lại không thể trực tiếp tiếp xúc và giải thích cho bệnh nhân được, vì người KCB trực tiếp là các nhân viên y tế của cơ sở KCB. Phương thức thanh toán và cơ chế chi trả hiện nay làm cho cơ quan BHXH chịu nhiều sức ép từ nhiều phía, từ người tham gia, từ các cơ sở KCB, từ sức ép của yêu cầu cân đối quỹ. Việc cần tìm ra một phương thức và cơ chế chi trả phù hợp với hoàn cảnh nước ta hiện nay là yêu cầu quan trọng đối với việc xây dựng  Dự án Luật BHYT.

Với nguồn lực luôn có hạn, Luật BHYT cần quy định rõ về các phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT nội trú  giữa cơ quan BHXH và cơ sở KCB, ưu tiên khuyến khích sử dụng các phương thức thanh toán tính chi phí hiệu quả nhằm bảo đảm tính bền vững về tài chính cho hệ thống y tế và quỹ BHYT. Tuy nhiên thực tế cho thấy, với mức phí đóng BHYT quá thấp thì sự thay đổi phương thức thanh toán ít có ý nghĩa.

Vấn đề cùng chi trả đã được áp dụng trước đây, tính hiệu quả của nó đã quá rõ, đặc biệt trong quản lý cũng như kinh tế. Vì vậy Luật cần tiếp tục xem xét hình thức cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh để quy định cho phù hợp. Tuy nhiên, cùng chi trả trong trường hợp nào và đến mức nào thì cần được nghiên cứu kỹ cho phù hợp với khả năng của từng nhóm đối tượng.

3. Vấn đề khám chữa bệnh ngoại trú và nội trú:

Sự hấp dẫn của chính sách BHYT, tính bền vững của các mô hình BHYT phụ thuộc hoàn toàn vào khâu KCB tại các cơ sở KCB. Hay nói khác đi nó phụ thuộc hoàn toàn vào gói quyền lợi mà người được BHYT hưởng thụ trong qúa trình tham gia.

Đối với KCB Ngoại trú:

Thực tế hiện nay cho thấy, việc KCB ngoại trú cho người bệnh có thẻ BHYT có 2 vấn đề chính cần được xem xét và khắc phục trong quá trình xây dựng  Dự án Luật này là:

Thứ nhất, sự không công bằng

Trong chúng ta đại đa số trong nhiều năm qua vẫn đóng BHYT đều đặn nhưng không có điều kiện tiếp cận với y tế hoặc có tiếp cận được thì gặp những thủ tục phiền hà. Do đó, không nhỏ số người bệnh vẫn phải tự mua thuốc khi bị đau ốm, họ đã không muốn đến khám bệnh bằng cơ chế BHYT do thủ tục phức tạp, mất nhiều thời gian, đôi khi còn bị đối xử không bình đẳng với những người khám bệnh theo cơ chế dịch vụ, mặt khác vì số tiền bỏ ra không nhiều nên họ đã tự bỏ tiền túi để tự lo cho mình. 

Thứ hai, sự lãng phí, vì quỹ KCB BHYT đã phải giành tới 45% cho KCB ngoại trú, đây là nguồn chi không nhỏ nhưng lại rất khó kiểm soát và luôn không thoả mãn được nhu cầu, dễ bị lạm dụng. Bên cạnh đó những bệnh hiểm nghèo, mạn tính cần được điều trị ngoại trú thì gặp rất nhiều khó khăn từ khâu thủ tục đến vấn đề thuốc men luôn bị hạn chế.

Theo chúng tôi, trong giai đoạn hiện nay với nguồn lực có hạn chúng ta nên đa dạng loại hình BHYT, trong đó mục tiêu để mọi người dân đều được chữa bệnh khi không may ốm đau, giai đoạn 10 năm đầu (2009 – 2019) trong Luật này nên hướng tới loại hình BHYT bắt buộc toàn dân trong khám chữa bệnh nội trú. Thực tiễn 14 năm cho thấy, BHYT chỉ thực sự tác dụng khi người tham gia BHYT không may bị rủi ro ốm đau phải vào nằm điều trị nội trú. Trong đó cần có quy định rõ ràng hơn về gói quyền BHYT trong các văn bản luật hoặc dưới luật. Gói quyền lợi về chăm sóc sức khỏe của người tham gia BHYT được xác định trên cơ sở mặt bằng chung phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của người tham gia BHYT. Những bệnh cần được cấp thuốc điều trị ngoại trú (các bệnh mãn tính đặc biệt như đái đường, tim mạch … ) theo chế độ BHYT thì được Luật quy định cụ thể. Làm như vậy thì việc sử dụng Quỹ BHYT sẽ hiệu quả hơn, tránh được lãng phí không gây phiền hà cho người bệnh và bảo đảm công bằng hơn. Như vậy trong Dự án Luật này nên quy định chế độ KCB ngoại trú với phạm vi gói quyền lợi: khám và các dịch vụ cho chẩn đoán bệnh, trường hợp bệnh nhân cần điều trị ngoại trú thì được thầy thuốc kê đơn. Quỹ bảo hiểm y tế không chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú cho người tham gia BHYT, trừ một số bệnh mãn tính hoặc  trường hợp đặc biệt theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Đối với KCB Nội trú:

          Chế độ KCB nội trú trong thời gian qua cũng có nhiều bất cập cần được nghiên cứu và điều chỉnh sao cho phù hợp, nhằm giảm thiểu sự chi phối và sự phụ thuộc vào các cơ sở KCB. Giảm sự phiền hà, phân biệt đối xử cho người bệnh có thẻ BHYT và hạn chế tối đa sự lạm dụng quỹ BHYT rất khó kiểm soát như hiện nay.

Quy trình KCB cần được đổi mới, trong đó nhiệm vụ đảm bảo quyền lợi của người tham gia là mục tiêu chính trong quy trình giám định chi phí KCB. Đặc biệt cần giảm thiểu tối đa những phiền hà về thủ tục hành chính trong quá trình KCB mà vẫn bảo đảm kiểm soát được chi phí và quyền lợi của người tham gia.

4. Về mức phí

Thực trạng hiện nay với mức đóng luôn có hạn nhưng phạm vi quyền lợi của người tham gia ngày càng được mở rộng, vấn đề này chúng ta đều biết là duy ý chí và phi thực tiễn. Thực tiễn chứng minh với quỹ BHYT bội chi liên tục và ngày càng lớn qua các năm 2005 – 2006, đặc biệt BHYT tự nguyện càng tham gia đông thì càng bội chi lớn. Nếu không có sự đổi mới về chính sách thì chỉ trong vòng 3 đến 4 năm tới dù mức phí có tăng gấp 5 lần hiện nay thì quỹ BHYT tự nguyện cuối cùng chỉ còn là quỹ của những người ốm.

Với nguồn lực kinh tế y tế luôn có hạn, cần phải có những nghiên cứu xác định cho được mức phí phù hợp với  mức hưởng cho từng phạm vi BHYT. Để giúp cho nhóm, đối tượng có thu nhập thấp (lao động tự do, cho nông dân.) được thụ hưởng chính sách BHYT, Nhà nước cần hỗ trợ khoảng 50% mức phí mua BHYT đối với nhóm cận nghèo, chiêm số đông trong xã hội.

5. Về xã hội hoá công tác BH YT

Xã hội hoá BHYT không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan BHXH, mà là nhiệm vụ và trách nhiệm của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội. Để tiến tới BHYT Toàn dân như Nghị quyết của Đảng thì phải xã hội hoá BHYT, làm cho BHYT thực sự là của dân, do dân và vì dân. Chính vì vậy trong Lụât BHYT cần quy định rõ các mối quan hệ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, Uỷ ban nhân dân các cấp và của mỗi người dân đối với chính sách BHYT.

BHYT là một chính sách an ninh không thể thiếu trong đời sống và luôn tồn tại trong xã hội văn minh, nó mang tính nhân văn cao đẹp.

Trên đây là một số vấn đề đưa ra để độc giả cùng suy ngẫm và góp ý kiến để xây dựng Dự án Luật BHYT sớm ra đời và mang tính thực tiễn cao, đáp ứng được phần nào nguyện vọng mong muốn của người dân trong KCB. và chăm sóc sức khoẻ.

SOURCE: CHINHPHU.VN

PHÁP LUẬT PHẢI VÌ NHÂN DÂN

PHẠM THÚY HẠNH

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là mục tiêu cơ bản của Đảng và Nhà nước ta, đưa nước ta chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước thoát khỏi đói nghèo, phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2020, cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

Để thực hiện mục tiêu đó cần một hệ thống pháp luật thân thiện với nhân dân dân và một Nhà nước phục vụ dân (các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân).  Hệ thống pháp luật ấy phải xuất phát từ nhu cầu thực tế cuộc sống và được áp dụng đầy đủ trong cuộc sống. Đây là yêu cầu  không thể khác trong quá trình xây dựng pháp luật.

Xuất phát từ yêu cầu như đã nói ở trên, có đến khoảng 90% các sáng kiến pháp luật là do Chính phủ kiến nghị, trình Quốc hội ban hành hoặc được Quốc hội uỷ quyền ban hành. Chính phủ tổ chức thực hiện tất cả các văn bản pháp luật được ban hành. Do đó, hầu hết các văn bản pháp luật của Việt Nam thường thiên về tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của Chính phủ, hơn là phục vụ nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cuộc sống, phục vụ nhân dân, phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước.

Hầu hết công việc xây dựng pháp luật hiện hành đều do các công chức nhà nước thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước trong lĩnh vực được phân công chịu trách nhiệm. Đây là tình trạng rất phổ biến hiện nay trong quá trình hình thành các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều các cơ quan quản lý nhà nước coi trọng lợi ích cục bộ hơn lợi ích của cộng đồng, quyền lợi của công dân. Cơ quan soạn thảo và cơ quan quản lý nhà nước muốn luật quy định cái gì, để làm gì và cũng chính họ hướng dẫn, giải thích và áp dụng những quy định pháp luật đó. Chính vì không chú ý đầy đủ đến nhu cầu thực tế cuộc sống, nhân dân ít có điều kiện tham gia vào quy trình xây dựng pháp luật, nên người dân thấy khó hiểu, khó thực hiện nhiều quy định pháp luật.

Việc thực hiện quy trình từ sáng kiến pháp luật, lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm trình Quốc hội, Chính phủ, đến việc soạn thảo, trình, ban hành văn bản pháp luật theo kiểu khép kín (dù luật quy định phải công khai) nên ngày càng xuất hiện nhiều văn bản pháp luật xuất phát từ ý chí chủ quan của một nhóm ở khu vực công quyền có lợi ích cục bộ. Đây là nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhiều văn bản quy phạm pháp luật luôn bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa phương mà hiện nay chưa có biện pháp nào “điều trị”  hữu hiệu được. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của tình trạng tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Nhiều quy định có lợi cho lợi ích cục bộ và có hại cho cộng đồng, cho dân đã được đưa vào văn bản quy phạm pháp luật và căn cứ vào đó được cơ quan quản lý nhà nước thực hiện. Hậu quả của tình trạng này là làm cho hệ thống pháp luật không ổn định, luật càng trở nên khó hiểu đối với dân.

Vậy tại sao ở các nước phát triển, họ ít bị căn bệnh “lợi ích cục bộ” này? Bởi vì nhiệm vụ quan trọng nhất của Chính phủ là tập trung vào việc xây dựng chính sách phù hợp với lợi ích của Đảng cầm quyền, đồng nghĩa với việc xây dựng chính sách bảo vệ lợi ích của những công dân ủng hộ Chính phủ bằng lá phiếu bầu của mình. Thế nên các chính sách của Chính phủ luôn tôn trọng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chỉ có Hiến pháp và Luật do Quốc hội ban hành mới được quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhiệm vụ quan trọng thứ hai của Chính phủ mới là xây dựng văn bản pháp luật. Các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ sẽ diễn giải chính sách đã được hoạch định của Chính phủ thành các điều lụât cụ thể. Đây là công việc được chuyên nghiệp hoá cao, do các công chức nhà nước là chuyên gia pháp luật giỏi chịu trách nhiệm. Công đoạn này có nước còn xã hội hoá, cho phép các tổ chức, doanh nghiệp chuyên nghiệp về pháp luật, không phải cơ quan nhà nước soạn thảo văn bản trên cơ sở chính sách, quan điểm chỉ đạo, yêu cầu của Chính phủ để đảm bảo tính khách quan.

Trong những năm gần đây, Chính phủ cũng đang nỗ lực cải thiện hệ thống pháp luật, đưa các hoạt động trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật dần dần vào khuôn khổ thống nhất. Chính phủ đã ban hành một số văn bản quy định các hoạt động trong quy trình xây dựng pháp luật như: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp lụât sửa đổi (hiện nay đang tiếp tục sửa đổi và trình Quốc hội thông qua), Nghị định 161/2005/NĐ–CP ngày 27/12/2005 hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quyết định 03/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2007 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo, Chỉ thị 31/2006/CT-TTg ngày 25/8/2006 về đẩy mạnh công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh,… Các văn bản này quy định rất nhiều thủ tục, tiêu chí nhưng lại thiếu một tiêu chí quan trọng khi soạn thảo văn bản pháp luật là phải quy định rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện – tức là phải thân thiện với dân.

Việc tham gia ý kiến của nhân dân vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật tuy đã được quy định trong Hiến pháp, Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và một số văn bản khác, nhưng việc lấy ý kiến góp ý trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế hầu như được thực hiện một cách hình thức. Nguyên nhân của tình trạng này là do các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này chưa rõ ràng, chưa cụ thể nên việc thực hiện gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là chưa có quy định về chế tài đối với việc không thực hiện đúng các quy định về việc lấy ý kiến góp của nhân dân. Ngay cả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức được Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định được tham gia ý kiến vào tất cả các văn bản pháp luật nhưng thực tế thì hiệu quả góp ý không cao. Thường thì các tổ chức đại diện của nhân dân nhận được đề nghị đóng góp ý kiến rất muộn, khi gần như đã hoàn tất công việc soạn thảo, thời hạn còn rất ít nên việc đóng góp ý kiến cũng rất khó. Phần lớn các Ban soạn thảo chỉ quan tâm tiếp thu ý kiến của các bộ ngành liên quan khác, còn ý kiến của các tổ chức xã hội rất ít được chú ý. Mặt khác, do nhiều tổ chức đại diện của nhân dân chưa chủ động, tích cực tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật, việc tuyên truyền để nhân dân hiểu được sự cần thiết của việc góp ý vào quy trình xây dựng pháp luật còn rất hạn chế, nên chỉ một số ít tổ chức đại diện cho một nhóm lợi ích trong xã hội nhận thức được trách nhiệm và tầm quan trọng của việc đóng góp ý kiến vào quy trình xây dựng pháp luật.

Thực tế mấy năm gần đây đã có một số tổ chức của doanh nghiệp chủ động đóng góp ý kiến mà không ngồi chờ được hỏi ý kiến như Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI), Hiệp hội công thương Hà Nội,…Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính, mỗi năm hiệp hội bỏ ra hàng trăm triệu đồng để tự nghiên cứu các dự thảo văn bản pháp lụât, đóng góp ý kiến, đề xuất với các cơ quan nhà nước có trách nhiệm về các vấn đề cần được pháp luật điều chỉnh. Trong một vài trường hợp, một số tổ chức của doanh nghiệp và tổ chức xã hội có tham gia đóng góp ý kiến và được các ban soạn thảo tiếp thu về một số nội dung như Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam. Tổ chức xã hội nghề nghiệp có trình độ pháp luật tốt nhất và có mạng lưới rộng khắp ở hầu khắp các tỉnh, thành phố, có khả năng chuyên môn tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật là Hội luật gia thì chẳng mấy khi thấy có đóng góp tương xứng, chỉ có lẻ tẻ một vài ý kiến phản hồi trên báo chí, truyền hình của một số chuyên gia.

Không chỉ tham gia góp ý vào quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, một tổ chức xã hội, hịêp hội doanh nghiệp còn có thể chủ động đề xuất và vận động việc ban hành một số chính sách, pháp luật. Đây thực sự là một nhu cầu của xã hội trong quá trình phát triển và cũng góp phần để các văn bản quy pháp luật được ban hành phản ánh đúng các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế, bảo đảm tính dự báo điều chỉnh của pháp luật.

Như vậy, để có được các văn bản quy phạm pháp luật thân thiện với dân, cần tiếp tục minh bạch hoá quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có các biện pháp cụ thể thực hiện một cách hiệu quả quy trình này, cần môi trường thể chế cho các tổ chức xã hội phát triển (Luật về hội), các quy định về quyền tiếp cận thông tin của người dân và bộ máy nhà nước với các công cụ thực thi quyền lực nhà nước hiệu quả, hoạt động vì mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân. Việc thực hiện các giải pháp này vừa cấp bách, thường xuyên, vừa lâu dài, đòi hỏi nỗ lực của Nhà nước nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật đến năm 2020, để pháp luật ngày càng thân thiện với dân hơn./

SOURCE: CHINHPHU.VN

KINH NGHIỆM DÀNH CHO SINH VIÊN ĐỂ HOÀN THÀNH CÁC BÀI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

 

"Bạn đứng thứ mấy trong lớp không quan trọng, nhưng phải thể hiện được đẳng cấp khi bước chân ra xã hội"

BILL. GATE

 

1. Một vài mẹo nhỏ để bạn có thể làm tốt hơn trong bài kiểm tra

Khi bạn làm bài kiểm tra bạn đang cố gắng chứng minh rằng bạn có thể hiểu bài học và làm một số dạng bài tập nhất định

Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính khách quan, như bài tập đúng sai, trắc nghiệm, điền vào chỗ trống

Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính chủ quan, như những câu trả lời ngắn gọn, những bài luận, thi vấn đáp

Nếu bạn có bất cứ một nghi ngờ nào về sự công bằng của các bài thi, hay khả năng xác định chính xác năng lực của bạn qua các bài kiểm tra, bạn nên nói chuyện với những người làm công tác cố vấn học tập trong trường bạn

Những gợi ý này sẽ giúp bạn tránh những sai lầm do tính chủ quan

Chuẩn bị

  • Chú ý xem xét kết quả của những bài kiểm tra gần đây của bạn Mỗi bài kiểm tra như vậy lại góp phần giúp bạn có thể dễ dàng đương đầu với bài kiểm tra sau hơn Dùng chính những bài kiểm tra đã có của bạn để ôn tập cho bài kiêm tra cuối cùng
  • Đến sớm hôm có giờ kiểm tra Mang theo tất cả những đồ dùng bạn cần như là bút chì, bút bi, máy tính, từ điển và đồng hồ Như vậy bạn sẽ có thể hoàn toàn tập trung vào bài kiểm tra
  • Luôn tạo cho mình một tâm thế thoải mái nhưng phải cảnh giác Chọn một chỗ ngồi thích hợp và đảm bảo rằng bạn có đủ chỗ để làm việc và có thể cảm thấy thoải mái, nhưng đừng chểnh mảng
  • Giữ cho mình được thoải mái và tự tin Nhắc nhở bản thân là bạn đã chuẩn bị rất kĩ càng và sẽ làm rất tốt. Nếu bạn thấy mình đang lo lắng, hãy hít thật sâu, thở thật mạnh để lấy lại thế cân bằng Đừng nói chuyện với mọi người xung quanh về bài kiểm tra vì sự lo lắng là một trạng thái có thể bị lây nhiễm

Làm bài thi

  • Đọc kĩ hướng dẫn của đề bài Điều này có vẻ là đương nhiên, nhưng nó sẽ giúp bạn khắc phục được những sai lầm do không cẩn thận Nếu có thời gian, hãy nhanh chóng lướt qua toàn bài kiểm tra để có một cái nhìn tổng quát Nhận biết những phần quan trọng, vạch ra thật ngắn gọn những ý chính
  • Trả lời các câu hỏi theo cách khoa học nhất

1. Trước tiên là những câu hỏi dễ để tạo cảm giác tự tin, để ngay lập tức ghi được điểm, và định hướng cho bản thân về vốn từ, các khái niệm và những kiến thức bạn đã có (việc này có thể giúp bạn tìm ra mối liên quan với những câu hỏi khó hơn)

2. Sau đó là đến những câu hỏi khó hoặc những câu được nhiều điểm nhất Với dạng bài kiểm tra mang tính chất khách quan, trước tiên, loại trừ những đáp án mà bạn biết là sai, hoặc chắc chắn là sai, không phù hợp, hoặc là hai đáp án rất giống nhau và cả hai đều không thể đúng được Với dạng câu hỏi mang tính chủ quan, vạch ra những ý chính, và sắp xếp những ý đó theo một trình tự phù hợp nhất

  • Xem lại Hãy kiềm chế ý muốn được rời khỏi phòng thi ngay khi bạn đã trả lời hết các câu hỏi Xem lại bài thi để đảm bảo rằng bạn đã trả lời hết tất cả các câu hỏi trong bài, không đánh dấu nhầm trong bài làm của bạn, hay làm sai một vài chỗ đơn giản Đọc lại bài luận của bạn để có thể phát hiện ra các lỗi chính tả, ngữ pháp, dấu câu ..v.v… Quyết định xem những cách thức nào phù hợp với bạn và bám lấy chúng Chỉ ra những cách không hiệu quả và thay thế chúng

———————————————————————————-

2. Dạng bài kiểm tra trả lời câu hỏi đúng sai

    • Đọc thật kĩ hướng dẫn Để biết xem mỗi câu hỏi chỉ có một hay hai phương án trả lời đúng Để biết xem bạn có bị trừ điểm nếu đoán hay không Để biết xem bạn có bao lâu để hoàn thành(điều này sẽ ảnh hưởng tới cách thức làm bài của bạn)
    • Đọc trước toàn bộ bài kiểm tra Đọc thật nhanh qua toàn bộ và làm những câu dễ trước Đánh dấu những câu mà bạn cho rằng theo một cách nào đó thì bạn có thể trả lời chính xác được câu hỏi đó
    • Đọc lại toàn bộ bài kiểm tra lần thứ hai và trả lời những câu hỏi khó hơn Bạn có thể thu thập được một số gợi ý từ lần đọc trước, hoặc cảm thấy thoải mái hơn trong phòng thi
    • Nếu có thời gian, hãy đọc lại toàn bộ câu hỏi và câu trả lời Rất có thể bạn đã hiểu sai ý của đề bài từ lần đọc trước
    • Loại trừ những phương án mà bạn biết là sai Nếu được phép, bạn đánh dấu chỗ sai hay bổ sung những phần cần thiết vào phương án đó để chỉ rõ vì sao nó sai
    • Hãy kiểm tra tính đúng/sai của mỗi phương án Bằng cách này, bạn có thể giảm bớt các lựa chọn của bạn và tiến đến lựa chọn chính xác nhất
    • Những phương án mà về mặt ngữ pháp không phù hợp với ngữ cảnh của câu gốc trong đề bài
    • Những phương án mà bạn cảm thấy hoàn toàn mới lạ đói với bạn
    • Những phương án bao gồm những từ phủ định hay mang tính tuyệt đối Cố thay thế những tư với ý tuyệt đối đó bằng các từ có tính chất hạn chế, chẳng hạn như thỉnh thoảng thay thế cho luôn luôn, hay thử xem một vài người nhất định có thể thay thế cho mọi người hay không, và từ đó, bạn có thể loại bớt những đáp án đó.
    • “Tất cả những ý trên” Nếu bạn thấy có tời ba phương án có vẻ đúng thì tất cả những ý trên đều có khả năng là đáp án chính xác.
    • Số các câu trả lời Loại ra những câu ở trên và dưới để tập trung vào những câu ở giữa
    • Những phương án trông “giông giống” Có lẽ một trong số đó là đáp án chính xác; chọn đáp án tốt nhất nhưng loại ngay những đáp án mang nghĩa giống hệt
    • Hai lần phủ định Tạo ra một câu khẳng định có chung nghĩa với câu có hai lần phủ định rồi xem xét nó
    • Những phương án ngược nhau Nếu hai phương án mà hoàn toàn trái ngược nhau, có lẽ mọt trong hai phương án đó là đáp án chính xác
    • Ưu tiên những phương án có những từ hạn định Kết quả sẽ dài hơn, bao gồm nhiều yếu tố thích hợp hơn cho một câu trả lời
    • Nếu như cả hai đáp án đều có vẻ đúng So sánh xem chúng khác nhau ở điểm gì Rồi dựa vào câu gốc ở đề bài để xem phương án nào phù hợp hơn
    • Luôn đoán nếu không bị trừ điểm khi đoán hoặc loại trừ các khả năng
    • Đừng đoán nếu bạn bị trừ điểm và nếu bạn không có một cơ sở nào cho chọn lựa của bạn
    • Thay đổi đáp án đầu tiên của bạn chỉ khi bạn đã chắc chắn, hoặc có những gợi ý nào trong bài chỉ ra rằng việc bạn thay đổi là đúng đắn

    Tất cả các vế của một phương án đúng đều phải đúng Chỉ cần một vế của phương án ấy sai thì toàn bộ phương án ấy là sai cho dù trong đó có rất nhiều vế đúng

    Hãy rất chú ý tới những mệnh đề phủ định, hạn định, vô điều kiện, hoặc gồm rất nhiều vế

    Những mệnh đề phủ định dễ gây nhầm lẫn Nếu như trong câu có những từ mang nghĩa phủ định như: ” không, không thể” Bỏ qua phần phủ định và đọc những gì còn lại Quyết định xem câu đó là đúng hay sai Nếu nó đúng, thì điều ngược lại với nó, hay phủ định với nó thường sai

    Những từ hạn định là những từ giới hạn hay mở ra một nhận định chung Những từ như:” thỉnh thoảng, đôi khi, thông thường, nói chung” mở ra khả năng về một mệnh đề chính xác, tạo ra một lời tuyên bố vừa phải, dễ dàng thể hiện sự thật, và thường là dấu hiệu của một mệnh đề đúng

    Những từ mang ý tuyệt đối sẽ giới hạn các khả năng “Không, không bao giờ, luôn luôn, tất cả, toàn bộ, chỉ” chỉ ra rằng mệnh đề hay ý đó phải chính xác đến 100%, vì vậy đây thường là một mệnh đề sai.

    Những câu dài thường bao gồm một nhóm các từ được phân cách bởi các dấu câu Chú ý tới “sự thật” của từng vế một Chỉ có một vế sai thôi, thì câu đó vẫn phải được đánh dấu “sai”

    Đoán

    Thường thì những bài kiểm tra đúng/sai có nhiều câu đúng hơn. Bạn có đến hơn 50% trả lời chính xác nếu bạn chọn đáp án đúng. Tuy nhiên, thầy cô của bạn lại sẵn sàng cho nhiều câu sai hơn câu đúng. Xem lại những bài kiểm tra đã làm trước đó để xem xem cách ra đề của thầy cô ra sao.

    ———————————————————————————-

    3. Bài kiểm tra dạng câu hỏi trắc nghiệm

    Những câu hỏi trắc nghiệm thường bao gồm một mệnh đề, hay một phần của một mệnh đề cùng với ba đến năm phương án để bạn lựa chọn

    Cách thức làm dạng bài này

    Các phương án trả lời Tăng cường những lợi thế của bạn, suy nghĩ thật thấu đáo

    Nắm chắc các phương án, đọc kĩ phần gốc của từ, và thử trả lời Chọn phương án gần nhất với câu trả lời của bạn

    Đọc từ gốc với từng phương án Coi mỗi phương án chọn lựa là một câu hỏi đúng/sai và nhiệm vụ của bạn là phải chỉ ra đâu là câu đúng

    Cách để trả lời những câu hỏi khó

    Đoán

    Nhớ rằng bạn đang cần tìm đáp án thích hợp nhất, chứ không chỉ là đáp án đúng, không phải là đáp án luôn đúng trong mọi trường hợp, mà không có ngoại lệ

    ———————————————————————————-

4. Bài kiểm tra dạng câu hỏi trắc nghiệm

Những câu hỏi trắc nghiệm thường bao gồm một mệnh đề, hay một phần của một mệnh đề cùng với ba đến năm phương án để bạn lựa chọn

Cách thức làm dạng bài này

  • Đọc thật kĩ hướng dẫn Để biết xem mỗi câu hỏi chỉ có một hay hai phương án trả lời đúng Để biết xem bạn có bị trừ điểm nếu đoán hay không Để biết xem bạn có bao lâu để hoàn thành(điều này sẽ ảnh hưởng tới cách thức làm bài của bạn)
  • Đọc trước toàn bộ bài kiểm tra Đọc thật nhanh qua toàn bộ và làm những câu dễ trước Đánh dấu những câu mà bạn cho rằng theo một cách nào đó thì bạn có thể trả lời chính xác được câu hỏi đó
  • Đọc lại toàn bộ bài kiểm tra lần thứ hai và trả lời những câu hỏi khó hơn Bạn có thể thu thập được một số gợi ý từ lần đọc trước, hoặc cảm thấy thoải mái hơn trong phòng thi
  • Nếu có thời gian, hãy đọc lại toàn bộ câu hỏi và câu trả lời Rất có thể bạn đã hiểu sai ý của đề bài từ lần đọc trước

Các phương án trả lời Tăng cường những lợi thế của bạn, suy nghĩ thật thấu đáo

Nắm chắc các phương án, đọc kĩ phần gốc của từ, và thử trả lời Chọn phương án gần nhất với câu trả lời của bạn

Đọc từ gốc với từng phương án Coi mỗi phương án chọn lựa là một câu hỏi đúng/sai và nhiệm vụ của bạn là phải chỉ ra đâu là câu đúng

Cách để trả lời những câu hỏi khó

  • Loại trừ những phương án mà bạn biết là sai Nếu được phép, bạn đánh dấu chỗ sai hay bổ sung những phần cần thiết vào phương án đó để chỉ rõ vì sao nó sai
  • Hãy kiểm tra tính đúng/sai của mỗi phương án Bằng cách này, bạn có thể giảm bớt các lựa chọn của bạn và tiến đến lựa chọn chính xác nhất
  • Những phương án mà về mặt ngữ pháp không phù hợp với ngữ cảnh của câu gốc trong đề bài
  • Những phương án mà bạn cảm thấy hoàn toàn mới lạ đói với bạn
  • Những phương án bao gồm những từ phủ định hay mang tính tuyệt đối Cố thay thế những tư với ý tuyệt đối đó bằng các từ có tính chất hạn chế, chẳng hạn như thỉnh thoảng thay thế cho luôn luôn, hay thử xem một vài người nhất định có thể thay thế cho mọi người hay không, và từ đó, bạn có thể loại bớt những đáp án đó.
  • “Tất cả những ý trên” Nếu bạn thấy có tời ba phương án có vẻ đúng thì tất cả những ý trên đều có khả năng là đáp án chính xác.
  • Số các câu trả lời Loại ra những câu ở trên và dưới để tập trung vào những câu ở giữa
  • Những phương án trông “giông giống” Có lẽ một trong số đó là đáp án chính xác; chọn đáp án tốt nhất nhưng loại ngay những đáp án mang nghĩa giống hệt
  • Hai lần phủ định Tạo ra một câu khẳng định có chung nghĩa với câu có hai lần phủ định rồi xem xét nó
  • Những phương án ngược nhau Nếu hai phương án mà hoàn toàn trái ngược nhau, có lẽ mọt trong hai phương án đó là đáp án chính xác
  • Ưu tiên những phương án có những từ hạn định Kết quả sẽ dài hơn, bao gồm nhiều yếu tố thích hợp hơn cho một câu trả lời
  • Nếu như cả hai đáp án đều có vẻ đúng So sánh xem chúng khác nhau ở điểm gì Rồi dựa vào câu gốc ở đề bài để xem phương án nào phù hợp hơn

Đoán

  • Luôn đoán nếu không bị trừ điểm khi đoán hoặc loại trừ các khả năng
  • Đừng đoán nếu bạn bị trừ điểm và nếu bạn không có một cơ sở nào cho chọn lựa của bạn
  • Thay đổi đáp án đầu tiên của bạn chỉ khi bạn đã chắc chắn, hoặc có những gợi ý nào trong bài chỉ ra rằng việc bạn thay đổi là đúng đắn

Nhớ rằng bạn đang cần tìm đáp án thích hợp nhất, chứ không chỉ là đáp án đúng, không phải là đáp án luôn đúng trong mọi trường hợp, mà không có ngoại lệ

———————————————————————————-

5. Những dạng bài kiểm tra bao gồm những câu trả lời ngắn gọn

Mục đích chính của người ra đề có những câu trả lời ngắn gọn là để có thể kiểm tra được tòan bộ bài học Đi qua toàn bộ những ghi chép của bạn và bắt đầu đọc:

  • Chuẩn bị cho bài kiểm tra bằng cách học từ những bản tóm tắt mà ở đó các thông tin đều được cô đọng xúc tích trong một khoảng diện tích nhỏ. Cố gắng phân loại các tài liệu của bạn
  • Dùng những gợi ý ngữ pháp trong phạm vi một mệnh đề để có được câu trả lời chính xác
  • Nếu bạn có thể nghĩ ra nhiều đáp án khác nhau cho một ô trống hay một câu hỏi cần được trả lời ngắn gọn, hãy nói với thầy cô. Thầy cô có thể sẽ cho bạn một vài gợi ý nho nhỏ để bạn có thể trả lời chính xác và ngắn gọn nhất
  • Hãy trình bày câu trả lời của bạn thật đơn giản, thành những câu thật vắn tắt. Gói gọn được càng nhiều ý trong một câu văn sẽ tốt hơn là viết cả một bài dài.

———————————————————————————-

6. Dạng bài kiểm tra được mở sách vở

Trong một bài kiểm tra mà bạn được sử dụng sách vở bạn sẽ được đánh giá dựa trên những gì bạn hiểu chứ không phải là khả năng ghi nhớ

  • Áp dụng sách vở vào những tình huống mới
  • Đánh giá các yếu tố và sự liên quan giữa chúng
  • Biết tổng hợp hoặc bố trí các thông tin bạn có được
  • Sử dụng các tài liệu của bạn để đánh giá một nhận định hay một vấn đề nào đó

Sử dụng tất cả các nguồn thông tin (sách, vở ghi, …) mà thầy cô cho phép. Bạn có thể làm bài ở lớp hay mang về nhà với những câu hỏi bạn đã hoặc chưa từng gặp trước bài kiểm tra

Đừng đánh giá thấp sự chuẩn bị trước cho một bài kiểm tra được mở tài liệu: bạn bị hạn chế về thời gian, vì vậy mà chìa khóa cho việc đạt hiệu quả là bạn phải sắp xếp cho thật hợp lí để có thể nhanh chóng tìm thấy những dữ liệu, lời trích dẫn, ví dụ, và/hoặc những lập luận bạn cần dùng tới trong khi làm bài.

Chuẩn bị

  • Đều đặn làm bài và đọc sách trong các buổi học ở trên lớp
  • Chuẩn bị một cách ngắn gọn, những ghi chép chính xác về những khái niệm và ý chính sẽ có trong bài kiểm tra
  • Chọn lựa thật cẩn thận, những gì bạn dự định sẽ mang vào phòng kiểm tra và chỉ rõ ra những gì bạn không cần mang vào
  • Mang theo cả những bài luận mà bạn tự viết về các thông tin, đó chính là cơ sở cho các lập luận của bạn, và chứng tỏ rằng bạn đã từng nghĩ đến những vấn đề đó trước giờ kiểm tra.
  • Thử dự đóan trước đề bài với những câu hỏi mẫu, nhưng không phải là những câu trả lời mẫu. Thử thách chính mình bằng cách xem bạn có thể trả lời những câu hỏi đó hay không, và bạn sẽ cần phải có những phương án lựa chọn ra sao và bạn cần quan tâm tới những tài liệu nào.

Bố trí những tài liệu tham khảo của bạn, “cuốn sách mở” của bạn Bố trí sao cho các tài liệu đó được đặt ở một vị trí thuận tiện nhất để bạn không phải mất thời gian định vị xem cái bạn đang cần nằm ở đâu

  • Tạo dựng một thói quen cho bản thân với bố cục và cách trình bày của cuốn sách và những tài liệu của bạn
  • Sắp xếp những cuốn sách này cùng với những ghi chép của bạn để có thể nhanh chóng lấy ra những thứ cần thiết, những ý chính, các khái niệm, bằng cách chỉ dẫn hoặc ghi số trang của tài liêu vào trong vở. (Tạo một tập những bút đánh dấu, giấy nhớ, bảng cấc khái niệm, ..v.v… để đánh dấu những ý chính, đề mục, tóm tắt, chương)
  • Viết những bản tóm tắt ngắn gọn về nội dung của từng phần
  • Liệt kê ra những số liệu và công thức một cách riêng biệt để dễ tìm được trong khi làm bài

Làm bài kiểm tra

· Đọc kĩ câu hỏi để nắm được yêu cầu của đề bài Có thể dựa trên những hướng dẫn của chúng tôi trong mục Cách làm bài viết/Các hướng dẫn

· Thu xếp thời gian sao cho hợp lí nhất Nhanh chóng xem tổng số câu hỏi của bài và ghi rõ xem bạn cần bao lâu cho mỗi câu hỏi. Trước tiên, hãy trả lời những câu hỏi mà bạn cảm thấy chắc chắn và/hoặc những câu mà bạn không cần nhiều thời gian để tham khảp các tài liệu Làm những câu phức tạp và khó hơn sau

  • Đừng trả lời thừa Hướng tới việc có những câu trả lời đúng đắn, chính xác, dựa trên những bằng chứng đích thực.

Sử dụng dẫn chứng

  • Để trình bày một ý nào đó
  • Để chứng minh rằng bạn có tận dụng lợi ích của việc được mở tài liệu
  • Vì bạn không thể trình bày tốt hơn thế

Các dẫn chứng có thể rất ngắn Ba hay bốn từ thôi cũng sẽ rất hiệu quả nếu nó thích hợp với câu văn của bạn

Chỉ rõ bạn lấy dẫn chứng từ đâu cũng sẽ quan trọng không kém việc bạn đưa ra lời trích dẫn

Phải chú ý để không dẫn chứng quá nhiều Đây là bài viết của bạn, là những lí luận của bạn; trích dẫn quá nhiều sẽ làm giảm chất lượng chính kiến của bạn

———————————————————————————-

7. Chuẩn bị và trình bày bài thi vấn đáp

Bài thi vấn đáp là một dịp để bạn thể hiện những kiến thức bạn có, cách trình bày/kĩ năng diễn thuyết, cũng như là khả năng giao tiếp của bạn. Đó cũng là sự luyện tập rất tốt cho những lần phỏng vấn việc làm sau này của bạn

Bài kiểm tra có thể diễn ra một cách nghiêm trang hay có phần thoải mái, nhưng bạn cần coi tất cả các bài thi vấn đáp là rất nghiêm túc để tạo ấn tượng tốt. Đối với cả hai loại, bạn cần thật chú ý lắng nghe câu hỏi và trả lời mạch lạc đúng câu hỏi.

Những bài thi chuẩn theo một loạt những câu hỏi đã được soạn trước. Phương thức đánh giá thường được bố trí theo kiểu đúng/sai, và mang tính cạnh tranh cao. Với loại kiểm tra này, bạn nên hỏi ý kiến trước nếu bạn muôn đưa thêmvào những thông tin liên quan hay đã được kiểm chứng.

Những bài thi có phần thoải mái, thân mật, những câu hỏi thường mở hơn và câu trả lời của bạn có thể dài hơn, và những đánh giá bạn đưa ra có thể chủ quan hơn. Câu trả lời thương không hoàn toàn chính xác(đúng hoặc sai), và giá trị của câu trả lời sẽ được nâng lên nếu bạn đưa ra được phương hướng giải quyết, cũng như là một chút những giao tiếp ngoài lề giữa ban giám khảo và thí sinh.

Có ba yếu tố để có được một bài thi vấn đáp hoàn chỉnh

Chuẩn bị

Hỏi thầy cô của bạn, bài thi gồm những phần nào Học. Nếu bạn không học thì bạn sẽ không thể làm tốt được Xem hướng dẫn Chuẩn bị cho bài kiểm tra Xem hướng dẫn Dự đoán nội dung của bài kiểm tra

Viết ra những câu hỏi bạn mong là sẽ có

Thảo luận với những người trong nghề hoặc đã từng thi Tập trả lời với các bạn cùng lớp Tập trả lời trước gương theo đúng cách mà bạn định trả lời khi đi thi, để xem xem cách ứng xử như vậy đã được chưa

Ghi nhớ rõ ngày thi, thời gian địa điểm, kiểm tra lại tất cả những thông tin này với người hướng dẫn

Nếu bạn sử dụng máy tính, máy chiếu, hay các phương tiện truyền thông tin, luyện tập với các dụng cụ ấy trước ngày thi, và kiểm tra lại khoảng trước một tiếng trong ngày thi nếu có thể.

Bài thi

Hãy ăn mặc và ứng xử thật lành nghề.Tạo một ấn tượng tốt. Ăn mặc đẹp và phù hợp, tắt máy di động hoặc máy nhắn tin

Đến sớm một chút để có thể giải quyết những vấn đề mới phát sinh, nhưng phải đợi đến đúng giờ của cuộc hẹn thì mới vào. Đây là lúc để tập trung thư giãn chứ không phải là nhồi nhét hay cố xem lại.

Khi bài thi bắt đầu ngay phút mà bạn bước vào: Ngay lập tức giới thiệu bạn là ai Tập trung tối đa theo người hướng dẫn viên, hãy tỏ ra hững thú và cười tươi! Giữ một thái độ tốt và tăng cường giao tiếp bằng mắt Nếu có những tác nhân gây sao nhãng (tiếng ồn, …) bạn có thể đề cập tới sự sao nhãng hay hồi hộp của mình

Luôn tập trung trong suốt buổi phỏng vấn Hãy là một người biết lắng nghe và trả lời thật thông minh

Đừng nói luyên thuyên nếu như bạn không biết câu trả lời Trình bày rõ ràng rằng bạn không có câu trả lời và hỏi xem bạn có thể vạch ra những ý chính để trả lời, để giải quyết vấn đề, hoặc cách thức mà bạn định thực hiện được không.

Luôn giữ bình tĩnh và tự tin Nếu bạn cảm thấy buổi phỏng vấn không tốt. Có thể là người phỏng vấn đang thử bạn đó thôi.

Hãy trả lời các câu hỏi nhiều hơn là chỉ nói “có” hoặc “không” Nhấn mạnh vào phần tích cực chứ không phải tiêu cực Sử dụng hai hoặc ba ý hay ví dụ để thể hiện những hiểu biết của bạn

Chú ý đến những tín hiệu báo buổi phỏng vấn sắp kết thúc (chẳng hạn như người phỏng vấn nhìn đồng hồ, kéo ghế ra đằng sau, hoặc hoàn tất một loạt các câu hỏi)

Hỏi xem bạn có thể trả lời thêm để được đánh giá tốt hơn hay không

Cám ơn người hướng dẫn

Tiếp theo

Tóm tắt lại những gì bạn đã thể hiện; bạn làm tốt và không tốt ở chỗ nào Ghi chép lại tất cả

Chú ý xem bạn có thể làm gì để lần sau sẽ tốt hơn

Chú ý xem có một “sự kiện” nào đặc biệt trong lúc phỏng vấn hay không

Nếu bạn có câu hỏi hay nhận xét về tài liệu hoặc cách trình bày của bạn, đừng chần chừ, hãy nói cho người hướng dẫn của bạn. Đừng thử thách thầy cô, mà hãy cố gắng nắm rõ cách trình bày của bạn.

Nếu bạn có bất kì một thắc mắc nào về sự đánh giá không hợp lí sau khi đã nói với thầy cô, hãy trao đổi với trung tâm tư vấn hay những người có vị thế cao hơn trong trường, hoặc cơ sở đó.

———————————————————————————-

8. Bài kiểm tra viết Biết cách bố cục và trình bày sạch đẹp sẽ rất có lợi Trước khi đặt bút làm bài

Bố trí thời gian để trả lời tất cả các câu hỏi và có thời gian quay lẹi kiểm tra và chỉnh sửa

· Nếu bạn phải trả lời sáu câu hỏi trong vòng sáu mươi phút, bạn chỉ được cho phép mình làm mỗi câu trong vòng bảy phút

· Nếu những câu hỏi phức tạp, hãy đánh dấu ưu tiên cho chúng trong lúc phân bố thời gian

· Khi hết thời gian cho một câu hỏi, hãy ngừng viết, để cách ra, và tiếp tục với câu hỏi sau. Câu trả lời dang dở sẽ được hoàn thành trong khoảg thời gian bạn dành để xem lại bài

· Sáu câu trả lời dang dở vẫn sẽ có lợi hơn là chỉ có ba câu hoàn tất

Đọc trước tất cả các câu hỏi để xem bạn có thể có những cách giải quyết nào

· Chú ý đến cách mà câu hỏi được đặt ra, hoăc tới những hướng dẫn, hoặc những từ như là “so sánh”, “đối chiếu”, “bình luận” ..v.v… Xem định nghĩa của những khái niệm này trong mục “Thuật ngữ trong bài luận”

· Có một vài câu hỏi mà câu trả lời sẽ đến với bạn ngay lập tức

Vạch ra những ý chính, trong khi chúng còn rất rõ trong đầu bạn. Nếu không, những ý này có thể bị cản lại (hoặc không sẵn sàng để sử dụng) khi bạn cần phải viết chúng ra. Như vậy bạn sẽ không phải ngồi cắn bút hay hoang mang (sự hồi hộp chính là cảm giác khi bạn lo sợ vì bị cắt ngang)

Trước khi trả lời một câu hỏi, hãy cố thử trình bày chúng theo ngôn ngữ của bạn

· Bây giờ hãy so sánh những gì bạn nghĩ với bản gốc Chúng có cùng mang một ý nghĩa hay không? Nếu không thì có nghĩa là bạn đã hiểu sai câu hỏi. Bạn sẽ phải ngạc nhiên khi mà chúng thường không trùng khớp với nhau.

Nghĩ kĩ trước khi bạn viết: Vạch ra các ý chính cho mỗi câu trả lời Đánh số các ý theo đúng thứ tự mà bạn sẽ trình bày

· Đi thẳng vào vấn đề Nêu ý chính của bạn ngay từ câu đầu tiên Sử dụng đoạn văn đầu tiên để đưa ra một cái nhìn tổng quát cho toàn bài luận của bạn Sử dụng những đoạn còn lại để làm rõ hơn những ý chính mà bạn đã nêu ở trên Củng cố những ý của bạn với các thông tin cụ thể, ví dụ, hoặc những trích dẫn từ sách vở của bạn

· Thầy cô thường bị thuyết phục bởi sự cô đọng, hoàn tất và rõ ràng của một bài làm được bố cục thích hợp

· Nếu bạn cứ viết với hi vọng những gì mình đang viết có thể đúng là một sự lãng phí thời gian và thường vô ích

· Việc biết chút ít và trình bày cái điều ít ỏi ấy một cách thành công, rốt cuộc lại còn tốt hơn là biết nhiều mà trình bày nghèo nàn – khi được thầy cô chấm

Viết và trả lời câu hỏi

Bắt đầu bằng một câu mang sức nặng để chỉ rõ ý chính của bài luận. Tiếp tục đoạn văn mở đầu này bằng việc nêu ra những điểm mấu chốt

Phát triển những nhận định của bạn

· Bắt đầu mỗi đọan văn với một ý chính đã nêu ở mở bài

· Phát triển mỗi ý thành một đoạn văn hoàn chỉnh

· Sử dụng những từ nối để liệt kê và nối các ý lại với nhau

· Chú ý đến thời gian cách sắp xếp và bố trí

· Tránh sử dụng những sự khẳng định quá mạnh khi cần; một sự khăng định quá chắc chắn và mạnh mẽ là biểu hiện của sự can đảm, là dấu hiệu của một người có học

· Hãy kiểm tra lại câu trả lời nếu bạn cảm thấy không chắc chắn Sẽ tốt hơn nếu như bạn viết “vào cuối thế kỷ 19” chứ không phải “vao` nam1894” khi bạn không nhớ thật chính xác nếu đó là năm 1884 hay 1984. Trong nhiều trường hợp, một khoảng thời gian tương đối đã là quá đủ, bởi vì, đáng tiếc thay 1894 là chính xác, nhưng có thể bạn lại đang nhầm và như vậy thì chắc chắn bạn sẽ bị trừ điểm.

Tóm tắt lại trong khổ kết của bạn Nhắc lại ý quan trọng nhất của cả bài và giải thích vì sao nó lại quan trọng đến vậy.

Xem lại

Hoàn thành nốt những câu trả lời còn đang dang dở, nhưng phải bố trí đủ thời gian để xem lại tất cả các câu còn lại

Xem lại, chỉnh sửa các lỗi chính tả, nhưng câu văn chưa đầy đủ, những từ còn để trống, những phần ngày tháng, thời gian, số liệu mà bạn nhầm.

Không đủ thời gian?

Vạch ra các ý chính và chép lại chúng vào bài kiểm tra

———————————————————————————-

9. Các thuật ngữ hoặc chỉ dẫn cho bài luận, bản báo cáo và cho việc trả lời các câu hỏi

Những từ sau là những “chỉ dẫn”đòi hỏi bạn phải trả lời, cung cấp thông tin theo một cách nhất định. Hãy đọc những điều này và quan trọng nhất là bạn hiểu được rằng có rất nhiều cách để trả lời một câu hỏi hay viết một bài luận.

So sánh: Đánh giá về chất lượng hoặc tính chất để tìm ra những điểm tương đồng. “So sánh” thường có nghĩa là “so sánh với”: nhiệm vụ của bạn là nhấn mạnh những điểm giống nhau cho dù bạn vẫn có thể nhắc tới những điểm khác nhau.

Đối chiếu: Nhấn mạnh vào sự khác biệt, không tương đồng của các sự kiện, tính chất hay vấn đề.

Lí luận: Nêu lên những đánh giá của bạn, những cách sửa đổi hay những lời khen. Bàn về sự hạn chế hay những điểm mạnh hay những đóng góp của kế hoạch được đề ra trong câu hỏi.

Định nghĩa: Định nghĩa cần phải chính xác, rõ ràng và có cơ sở. Không cần phải quá chi tiết nhưng sự hạn chế của định nghĩa đó cần được nêu ra một cách ngắn gọn. Bạn phải nắm rõ việc một cái gì đó nó nằm trong một nhóm nào và cái gì là cái để phân biệt một thứ xác định với các nhóm khác.

Miêu tả: Trong khi miêu tả, bạn cần thuật lại chi tiết, phác họa theo một hình thức tường thuật nào đó.

Biểu đồ Đối với dạng câu hỏi yêu cầu có biểu đồ, bạn nên phác vẽ một sơ đồ, một hình vẽ, hay một hình tượng trưng vào trong bài kiểm tra của bạn.

Liệt kê Từ “liệt kê” ám chỉ việc trả lời bằng việc nêu ra một dãy, một loạt các ý . Với dạng câu hỏi này, bạn nên nêu từng thứ một theo đúng dạng mà đề bài yêu cầu.

Đánh giá: Trong một bản đánh giá, bạn cần đưa ra những nhận xét cẩn thận về những vấn đề, quan trọng nhất là những lợi ích và hạn chế của vấn đề đó. Đánh giá cũng cần dựa trên những cơ sở xác định tuy nhiên bạn có quyền đưa thêm những nhận định của cá nhân bạn về ưu và nhược điểm của vấn đề bạn đang đề cập tới.

Giải thích: Điều mà bạn nhất thiết phải làm khi gặp dạng bài giải thích là phải chỉ ra rõ ràng nguồn gốc của tài liệu mà bạn cần giải thích. Cách tốt nhất để làm dạng bài này là trả lời câu hỏi: “như thế nào và vì sao”, dung hòa những sự khác biệt trong suy nghĩ và kết quả của các thử nghiệm thực tế, và nêu nguyên do ở những chỗ cần thiết. Mục đích là nêu rõ nguyên nhân dẫn đến cái mà bạn đang phải xem xét, nghiên cứu.

Trình bày: Một câu hỏi yêu cầu bạn trình bày thường đòi hỏi bạn phải giải thích và làm rõ câu trả lời của bạn đối với một vấn đề bằng cách đưa ra những dẫn chứng, tranh ảnh, biểu đồ, hay những ví dụ có cơ sở.

Làm sáng tỏ: Dạng câu hỏi này cũng tương tự với dạng câu hỏi yêu cầu bạn phải giải thích một vấn đề nào đó. Bạn có nhiệm vụ phiên dich, minh họa, giải quyết hay nhận xét về một vấn đề và thường là đưa ra những đánh giá và phản ứng của bạn đối với điều ấy.

Bào chữa, biện hộ: Khi bạn được yêu cầu bào chữa, biện luận cho một cái gì đó, bạn cần phải chứng minh hoặc chỉ ra những cơ sở xác đáng cho nhận định của mình. Trong dạng câu hỏi này, những chứng cớ cần được trình bày sao cho thật thuyết phục.

Thống kê: Thống kê cũng giống với liệt kê. Với dạng bài này, nhiệm vụ của bạn là nêu ra một dãy các mục, hay trình bày thành một bảng. Bạn cần phải trả lời theo một hình thức thật chuẩn.

Thảo những nét chính: Câu trả lời cho dạng đề bài này là miêu tả một cách có tổ chức. Bạn đưa ra các ý chính và những tài liệu bổ sung cần thiết, bỏ qua những chi tiết nhỏ, và trình bày các ý theo một bố cục hợp lí hoặc phân loại các ý.

Chứng minh: Dạng bài này yêu cầu bạn phải kiểm tra, xác minh xem một điều gì có đúng hay không. Trong những bài tập như thế này, bạn cần gây dựng ý kiến của mình dựa trên sự chắc chắn bằng cách đánh giá và thuật lại những kinh nghiệm thực tiễn, hoặc bằng những suy luận lôgic.

Liên hệ: Nếu đề bài yêu càu bạn chỉ ra mối liên quan hay liên hệ, câu trả lời của bạn cần phải nhấn mạnh vào sự kết nối và cần được viết với giọng trần thuật.

Xem lại: Một bài dạng này có nghĩa là bạn phải kiểm tra một cái gì đó hết sức kĩ lưỡng. Bạn nên phân tích và đánh giá một cách ngắn gọn thành một dãy các ý được sắp xếp dựa trên các ý chính của vấn đề.

Phát biểu: Với những câu hỏi ngay lập tức yêu cầu bạn phân loại, nêu, phát biểu hay trình bày, bạn cần thể hiện những ý chính một cách ngắn gọn, với giọng văn trần thuật. Bạn có thể bỏ qua các chi tiết cụ thể, ví dụ minh họa.

Tóm tắt: Khi bạn được yêu cầu tóm tắt hay trình bày một cách vắn tắt, bạn phải trình bày các ý chính một cách thật sự cô đọng. Bạn nhất thiết phải bỏ qua các chi tiết cụ thể, ví dụ minh họa và sự kĩ lưỡng quá mức.

Mô tả sự phát triển: Nếu bạn được yêu cầu mô tả sự phát triển của một cái gì đó, bạn phải chỉ ra chuỗi những bước phát triển, sự hình thành của cái đó ngay từ lúc ban đầu. Việc tràn thuật như vậy có thể sẽ cần tới sự tìm tòi và suy luận.

==================

SOURCE:

Cẩm nang và chiến lược dành cho học tập được lập và duy trì bởi Joe Landsberger như một trang web giáo dục. Những lời khuyên trong cuốn cẩm nang này được sử dụng rộng rãi cho các học sinh sinh viên trên toàn nước Mỹ và trên thế giới. Được dịch sang Tiếng Việt bởi Nguyễn Thanh Hương, sinh viên trường Lafayette College, Pennsylvania, Hoa Kỳ, thực tập sinh của Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ – Đông Dương (US-Indochina Educational Foundation) dưới sự giúp đỡ tài chính của Quỹ Freeman Assist. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Đào Tú Anh (Hà Nội) và Trần Hà Hải (Thành Phố Hồ Chí Minh).

TÌM HIỂU THÊM KINH NGHIỆM HỌC TẬP TẠI ĐÂY

SƠ ĐỒ QUI TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT CỦA QUỐC HỘI

3483045

SOURCE: CHINHPHU.VN

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2008 Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội

Thị trường bất động sản Việt Nam sau giai đoạn hình thành, phát triển với những động thái phức tạp, đầy kịch tính, bao gồm cả sự tiếp nối, lẫn đan xen do những cơn sốt nóng cũng như sự trầm lắng khá mạnh với dư âm dài, đã và đang tác động nhiều chiều đến đời sống kinh tế – xã hội ở không ít địa phương, cả thành thị, lẫn nông thôn. Về tổng quát, có thể chỉ ra một số đặc trưng và triển vọng chủ yếu của thị trường bất động sản Việt Nam năm 2008.

1. Những biến động của hoạt động giao dịch trên thị trường bất động sản thường mang tính cục bộ, địa phương và gắn với các nhân tố chủ quan, nhất là với các động thái chính sách quản lý và đầu tư của Nhà nước

Có thể dự báo, các đợt sốt tăng giá, sụt giảm, hoặc “đóng băng” giá cũng như các giao dịch trên thị trường bất động sản trong thời gian tới sẽ gắn với nguyên nhân trực tiếp từ các điều chỉnh lớn trong chính sách quản lý nhà nước về đất đai và nhà ở, từ cấp quốc gia, lẫn phạm vi địa phương. Thực tế cho thấy, ngoại trừ cơn sốt giá bùng phát đầu tiên vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước do chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, khiến giá nhà, giá đất đồng loạt tăng lên theo mức thủy triều chung mặt bằng giá xã hội lúc bấy giờ (từ giá bao cấp quá thấp, sang bước đầu theo giá thị trường…), các cơn sốt giá sau đó trên thị trường bất động sản thường không diễn ra đồng loạt, cùng lúc trên phạm vi toàn quốc, mà chỉ xảy ra cục bộ ở từng địa phương, dựa vào mức độ và cách thức khác nhau trong việc duy trì chế độ 2 giá về bất động sản… Tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản của chính sách 2 giá và các ưu đãi kiểu bao cấp về đất cho khu vực kinh tế nhà nước nói chung đã, đang và sẽ còn đậm nét, thậm chí vượt khỏi sự kiểm soát do sự cộng hưởng bởi tình trạng lạm dụng, tham nhũng, “vận động hành lang”.

Những cơn sốt giá hoặc trầm lắng trên thị trường bất động sản những năm qua và cả trong thời gian tới còn có quan hệ tương hỗ hết sức chặt chẽ với “phong trào” lập quy hoạch: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch giao thông vận tải, quy hoạch kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết kiến trúc…, thậm chí nhiều khi chỉ là quy hoạch “treo”, sơ sài ở mức ý tưởng, thiếu tính khả thi, chậm đi vào cuộc sống.

Đặc biệt, những chương trình, dự án đầu tư lớn phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hoặc hạ tầng xã hội từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước các cấp như vốn ODA, vay thương mại trong nước qua phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương…, hay từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, nhất là từ nguồn vốn nước ngoài, cũng sẽ tiếp tục gây xung lực ảnh hưởng rất mạnh đến nhiệt độ của thị trường bất động sản. Một con đường nội đô, hoặc liên tỉnh, thậm chí liên huyện, liên xã, một con đường cao tốc được xây dựng, một đô thị mới hay chỉ là một chung cư cao cấp do các “địa gia” chuyên nghiệp trong nước và nước ngoài làm chủ thầu cũng đủ để làm bùng phát cơn sốt giá, đẩy các giao dịch trên thị trường bất động sản, dù thật và ảo trở nên nhộn nhịp, nhất là vùng đất dọc các con đường và quanh khu đô thị đó.

Ngoài ra, sự nóng – lạnh của thị trường bất động sản ở nước ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục chịu ảnh hưởng đậm nét của sự nhận thức và kỹ năng thích ứng của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp, nhân dân về vai trò, cơ chế và xu hướng vận động của thị trường nhà, đất. Các hoạt động đầu cơ, lũng đoạn, thậm chí kích động thị trường sốt nóng giả tạo và “tâm lý đám đông”, “hiệu ứng đám đông”, vừa có tính phong trào, vừa “nghe ngóng xem sao” trong việc mua – bán bất động sản cũng là kết quả và biểu hiện thước đo của mức độ nhận thức và thích ứng này.

2. Giảm dần chênh biệt giá cả bất động sản giữa các địa phương, thậm chí ngay trong một khu vực và tăng mức mặt bằng giá chung trên thị trường bất động sản

Giá cả bất động sản có thể chênh lệch nhau hàng chục cho đến hàng trăm lần giữa các địa phương, thậm chí ngay trong một thành phố, một tỉnh. Nếu 1m2 đất ở mặt tiền phố Hàng Gai – Hà Nội có giá hàng vài chục cây vàng, thì có khi 1m2 đất ở huyện Sóc Sơn – Hà Nội có giá chỉ trên dưới 1 chỉ cho đến 1 cây vàng. Độ chênh tới mức chóng mặt về giá của thị trường bất động sản Việt Nam được gắn liền với nhu cầu, khả năng, tập quán kinh doanh “mặt phố”, “mặt tiền” của người sở hữu; gắn với tình trạng phát triển kết cấu hạ tầng và vệ sinh môi trường của khu vực có bất động sản muốn bán – mua; với “chất lượng” hàng xóm (bao gồm cả bất động sản liền kề và người chủ của chúng), với hình dạng, khuôn khổ, quy mô bất động sản; thậm chí cả với các yếu tố tâm linh và tín ngưỡng khác của địa phương và cá nhân… Tuy nhiên, về dài hạn sẽ có sự xích gần nhau về giá cả trên thị trường bất động sản giữa các địa phương, vùng lãnh thổ với nhau, cũng như giữa các khu vực trên cùng một địa bàn, trong đó tốc độ tăng giá sẽ cao hơn ở các khu vực thích hợp cho du lịch, nghỉ dưỡng có môi trường sinh thái tốt, các vùng ven đô và gần các công trình hạ tầng quan trọng, cũng như các khu đô thị cao cấp… Hơn nữa, trong thời gian tới, cùng với việc điều chỉnh tăng khung giá đất mới của các thành phố lớn lên sát giá trần của nhà nước (từ 1-1-2008 giá đất cao nhất ở Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 67,5 triệu đồng – bằng giá trần quy định của chính phủ và tăng 30% so với giá 2007), thì tác động tiêu cực của chính sách 2 giá sẽ giảm bớt, song tổng mặt bằng giá đất chắc chắn sẽ có sự điều chỉnh gia tăng chung đáng kể.

3. Sẽ có sự cân đối và đa dạng hơn về cơ cấu các bộ phận thị trường, các hàng hóa và chủ thể tham gia thị trường bất động sản

Bên cạnh sự phát triển khá rầm rộ thị trường nhà chung cư, biệt thự cao cấp, nhà mặt phố và nhà vườn – trang trại…, thị trường bất động sản toàn quốc cũng sẽ có sự phát triển mới nhằm tạo ra sự cân xứng và đồng bộ hơn của bộ phận thị trường nhà cho thuê, nhà dành cho người có thu nhập thấp, nhà bán trả chậm, nhà chuyển đổi, cũng như thị trường bất động sản cầm cố, bất động sản dành cho Việt Kiều và người nước ngoài. Cung – cầu đều gia tăng, các ngôi nhà, mảnh đất – hàng hóa giao dịch trên thị trường bất động sản sẽ ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn và tiện ích hơn cả về mẫu, mã, chủng loại, công năng, chất liệu, quy mô và giá cả…

Những chủ thể tham gia thị trường sẽ không chỉ còn tập trung vào bộ phận những người có thu nhập và mức sống trung lưu trở lên mà sẽ có sự tham gia ngày càng nhiều hơn của các công ty, quỹ đầu tư, kinh doanh bất động sản chuyên nghiệp, cũng như các nông dân và những thị dân có thu nhập thấp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cả người nước ngoài. Bản thân Nhà nước, ngoài những hoạt động quản lý nhà nước có liên quan đến thị trường bất động sản như đã nêu trên, cũng sẽ tham gia tích cực, chủ động và hiệu quả hơn vào thị trường này theo những cách thức mới thích hợp, mang tính thị trường hơn…

4. Các dịch vụ hỗ trợ thị trường bất động sản sẽ phát triển mạnh và mang tính chuyên nghiệp hơn

Trong triển vọng trung hạn, tính tự phát, thiếu tổ chức của thị trường bất động sản – thể hiện qua mức độ ít ỏi các giao dịch chính thức về bất động sản qua các cơ quan nhà nước hoặc trung tâm, sàn giao dịch bất động sản có tổ chức – sẽ có sự cải thiện đáng kể. Các trung tâm, sàn giao dịch bất động sản có tổ chức sẽ gia tăng nhanh chóng và hiện diện nhiều hơn, rộng hơn ở các địa phương, chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn và vững chắc hơn, cũng như chịu các chế tài nghiêm ngặt hơn về chất lượng và nghĩa vụ dịch vụ của mình. Các dịch vụ thanh toán, dịch vụ định giá, dịch vụ đăng ký và thẩm định bất động sản, dịch vụ tư vấn pháp lý và tư pháp, dịch vụ thông tin thị trường bất động sản… sẽ phát triển mạnh và có tính chuyên nghiệp cao hơn. Các cơ sở pháp lý và năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản sẽ có nhiều chuyển biến tích cực hơn.

5. Mối quan hệ trực tiếp giữa thị trường bất động sản với thị trường vàng sẽ nhạt bớt, còn quan hệ với thị trường chứng khoán sẽ đậm nét hơn…

Khác với thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán, thị trường vàng Việt Nam đã sớm hội nhập sâu và gắn kết ngày càng chặt chẽ với thị trường vàng thế giới. Nghĩa là, về nguyên tắc và triển vọng, đời sống của thị trường vàng Việt Nam ngày càng chung nhịp đập với thị trường vàng quốc tế, phản ánh các động thái chủ yếu, nhất là sự lên xuống về giá cả cùng với xu hướng và tốc độ chung của thị trường vàng thế giới. Hơn nữa, các hoạt động và cả các tác động của các yếu tố đầu cơ, tâm lý, cũng như các phản ứng tự phát, “hiệu ứng đám đông”… sẽ ngày càng mờ nhạt dần trên thị trường vàng tương lai. Việc mua vàng tích trữ như dạng tài sản cá nhân cũng không còn hấp dẫn so với các loại tài sản và kinh doanh khác, và do đó không còn là xu hướng mạnh như những thập niên cuối của thế kỷ trước. Nếu các yếu tố chính trị – xã hội trong nước và quốc tế không có những đột biến lớn, thì cũng khó có sự bùng nổ hoặc đổ vỡ đáng kể nào trên thị trường vàng Việt Nam bắt nguồn từ các nhân tố trong nước. Trong khi đó, cả thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản Việt Nam, trong thời gian trước mắt, tính quốc tế về giá cả chưa cao, hơn nữa còn chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các nhân tố phi thị trường trong nước với nhiều tính đột biến và khó tiên liệu hơn…Vì vậy, việc thanh toán bằng vàng trong kinh doanh trên thị trường bất động sản sẽ không còn mang tính chặt chẽ như trước. Mối tương quan trực tiếp và liên thông truyền thống giữa 2 thị trường này, nhất là về giá cả, cũng sẽ mờ nhạt dần…

Tóm lại, về tổng thể và trung hạn, thị trường bất động sản Việt Nam là thị trường có nhiều tiềm năng phát triển và đang từng bước hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện của các thể chế thị trường Việt Nam. Tiềm năng phát triển thị trường bất động sản Việt Nam gắn liền với sự dồi dào của những nguồn quỹ đất công chưa giao, khó giao, đất xen kẽ, hoặc cần thu hồi đưa vào thị trường bất động sản (các công sở hoặc đất đã giao nhưng quá hạn mức hoặc sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả, hay không triển khai khai thác đúng thời hạn quy định). Tiềm năng phát triển thị trường bất động sản còn liên quan đến việc nâng cao hệ số sử dụng đất trên cơ sở tăng năng suất, tận dụng không gian (xây nhà cao tầng), phát triển kết cấu hạ tầng (nhất là đường giao thông) và đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Ngoài ra, tiềm năng phát triển thị trường bất động sản còn liên quan đến việc hoàn thiện chính sách khuyến khích góp quyền sử dụng đất để phát triển quỹ bất động sản cho thuê hoặc trực tiếp phục vụ phát triển sản xuất – kinh doanh của người sở hữu quyền sử dụng đất, chính sách mở cửa thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản trong nước, cũng như liên quan đến việc thay đổi chế độ hộ khẩu và đăng ký nhà đất (sổ đỏ…), quá trình sửa chữa, xây dựng các khu chung cư ở các thành phố, đô thị lớn.

Đặc biệt, triển vọng thị trường bất động sản Việt Nam còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự tăng nhanh chóng nhu cầu và khả năng thanh toán của người dân về mua – bán bất động sản do quá trình đô thị hóa, cải thiện thu nhập và yêu cầu nâng cao chất lượng sống. Về dài hạn, theo chúng tôi, cùng với sự tích lũy kinh nghiệm ứng xử của các cơ quan nhà nước, các nhà đầu tư và nhân dân về thị trường nhà đất, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ ngày càng mở rộng, cân đối, đồng bộ và có tổ chức hơn, mang tính thị trường cao hơn, phát triển lành mạnh hơn, kết gắn chặt chẽ hơn với các thị trường khác trong sự phát triển đồng bộ các thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta, người thận trọng sẽ tiếp tục lựa chọn thị trường bất động sản như một sân chơi quen thuộc và cách thức đầu tư an toàn và thanh thản nhất.

TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 1 (145) 2008

T

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG THI HÀNH CÔNG VỤ

CHÍNH PHỦ

Số : /2007/NĐ-CP

Hà Nội, ngày    tháng     năm 2007

DỰ THẢO ngày 24/5/2007

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

___________________________________________

NGHỊ ĐỊNH

Quy định chế độ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu cơ quan nhà nước

trong thi hành nhiệm vụ, công vụ

______________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH :

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chế độ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu cơ quan nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng đối với người đứng đầu trong các cơ quan nhà nước sau đây:

a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các tổ chức hành chính, tổ chức sự nghiệp trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

b) Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; các Ban thuộc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

2. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân như người đứng đầu cơ quan nhà nước trong lĩnh vực được phân công lãnh đạo, quản lý, điều hành.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. ”Cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước” quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định này là người được phân công giúp người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý, phụ trách một số lĩnh vực nhất định trong cơ quan, đơn vị hoặc một số cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc.

2. ”Chế độ trách nhiệm cá nhân” đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước là toàn bộ các quy định của pháp luật giao cho người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền được giao; trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 6 Nghị định này.

Điều 4. Căn cứ xác định chế độ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu

1. Căn cứ nghĩa vụ, nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi của cán bộ, công chức và những việc cán bộ, công chức không được làm quy định tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức và các văn bản pháp luật khác liên quan.

2. Căn cứ quyền hạn, nhiệm vụ được giao cho người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu.

3. Căn cứ nội dung chế độ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu quy định tại Điều 6 Nghị định này.

Điều 5. Trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu các tổ chức cấu thành cơ quan nhà nước

Người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu các tổ chức cấu thành thuộc cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này cũng phải thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân trong quá trình đề xuất, tham mưu, trình, triển khai thực hiện các nhiệm vụ được phân công liên quan đến chế độ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan nhà nước.

Điều 6. Các hình thức trách nhiệm đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước

1. Người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu  có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ phải chịu một hoặc nhiều hình thức trách nhiệm sau đây:

a) Trách nhiệm kỷ luật;

b) Trách nhiệm dân sự;

c) Trách nhiệm vật chất;

d) Trách nhiệm hình sự;

đ) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Trách nhiệm kỷ luật: người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải bị xử lý kỷ luật. Việc xử lý kỷ luật phải tuân theo các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

3. Trách nhiệm dân sự: người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đến mức phải chịu trách nhiệm dân sự thì ngoài việc xử lý kỷ luật phải bị xử lý về trách nhiệm dân sự. Việc xử lý trách nhiệm dân sự đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự.

4. Trách nhiệm vật chất: người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ làm mất mát, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc gây ra thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật.

5. Trách nhiệm hình sự: người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ,  công vụ có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước phải tuân theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Chương II

CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU

Điều 7. Nội dung chế độ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu

Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt động của cơ quan được giao quản lý trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, bao gồm:

1. Tổ chức, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Triển khai thực hiện kế hoạch công tác được cấp trên giao đầy đủ, đúng thời gian quy định và có chất lượng; quyết định các chủ trương, biện pháp cần thiết để hoàn thành các nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về các quyết định đó;

2. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật, bao gồm: văn bản quy phạm pháp luật; văn bản cá biệt; văn bản áp dụng trong nội bộ cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý và công văn chỉ đạo, điều hành. Sử dụng đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm và nhiệm vụ được giao;

3. Căn cứ các quy định về phân công, phân cấp và nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cấp phó, các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấu thành hoặc từng công chức thuộc quyền mình quản lý, không để tình trạng chồng chéo, trùng lắp về nhiệm vụ hoặc trách nhiệm không rõ ràng; bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao; hoạt động hành chính thuộc thẩm quyền quản lý thông suốt, hiệu lực và hiệu quả;

4. Tổ chức tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đào tạo, nâng lương, nâng ngạch, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ chế độ và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo đúng chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và theo đúng thẩm quyền được giao;

5. Quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản công được giao quản lý, sử dụng; bảo đảm an toàn, phòng chống cháy nổ và an toàn lao động tại cơ quan. Khi sử dụng các nguồn tài chính, các tài sản, trang thiết bị, người đứng đầu cơ quan phải thực hiện đúng chế độ, chính sách do Nhà nước quy định; có trách nhiệm tổ chức quản lý, kiểm tra thường xuyên, không để xảy ra hư hỏng, mất mát, thất thoát, tham nhũng, lãng phí;

6. Thực hiện đúng quy định của pháp luật về văn hóa công sở; không để xảy ra tình trạng cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý có thái độ hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân, doanh nghiệp trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; thực hiện phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật;

7. Thực hiện Quy chế dân chủ trong cơ quan, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 8. Trách nhiệm của cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc phân công nhiệm vụ cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị

1. Cấp có thẩm quyền khi ban hành quyết định bổ nhiệm hoặc phân công nhiệm vụ cho người đứng đầu phải quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của người được bổ nhiệm vào vị trí người đứng đầu theo nguyên tắc:

a) Quyền hạn của người đứng đầu phải tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao theo phân cấp quản lý;

b) Quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ giao cho người đứng đầu phải rõ ràng, cụ thể.

2. Cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc phân công nhiệm vụ cho người đứng đầu phải có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về nguồn nhân lực, tài chính, trang thiết bị, thời gian cho người đứng đầu để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Điều 9. Những trường hợp xử lý trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu

1. Vi phạm nội dung chế độ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu quy định tại Điều 7 Nghị định này.

2. Khi phát hiện cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng không có biện pháp kiên quyết để chấm dứt hành vi vi phạm đó và kịp thời áp dụng biện pháp khắc phục có hiệu quả.

3. Không giao nhiệm vụ hoặc giao nhiệm vụ cho cấp dưới nhưng giao không rõ; không kiểm tra hoặc thiếu kiểm tra, đôn đốc cấp dưới thực hiện.

4. Cấp dưới đã báo cáo, xin chỉ thị những vấn đề thuộc thẩm quyền của người đứng đầu nhưng không giải quyết kịp thời theo quy định.

5. Đưa ra các ý kiến chỉ đạo cấp dưới trái pháp luật, thực hiện chung chung, không rõ ràng, không có chính kiến, gây lãng phí ngân sách, tài sản của Nhà nước; trình, đề xuất, ban hành quyết định trái pháp luật, không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc báo cáo sai sự thật.

6. Cấp phó, người đại diện hoặc người được uỷ quyền làm sai chế độ, chính sách hoặc làm trái các quy định của pháp luật trong thực thi nhiệm vụ, công vụ mà pháp luật đã giao cho người đứng đầu.

7. Cấp phó và cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý tham nhũng, lãng phí.

Điều 10. Trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế điều hành tập thể, đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của tập thể lãnh đạo, nếu ý kiến của đa số thành viên lãnh đạo là sai chủ trương, chính sách và pháp luật mà người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu được phân công lãnh đạo, quản lý lĩnh vực đó không có ý kiến khác thì cũng phải xử lý trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu theo quy định tại Nghị định này.

Chương III

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 11. Khen thưởng

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu hoàn thành xuất sắc chế độ trách nhiệm cá nhân trong thi hành nhiệm vụ, công vụ theo quy định tại Nghị định này và các văn bản pháp luật khác liên quan thì được xem xét khen thưởng theo quy định chung và được xem xét để bổ nhiệm lại, bổ nhiệm chức vụ cao hơn hoặc được cử đi thi nâng ngạch trước thời hạn theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Quy định về xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân quy định tại Nghị định này thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý trách nhiệm theo hình thức quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định này.

Điều 13. Nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân

Khi xử lý người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức theo quy định hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau:

1. Căn cứ sự phân công, phân cấp quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước để xác định mức độ chịu trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu;

2. Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn được giao của người đứng đầu;

3. Căn cứ vào mối quan hệ và nội dung phân công công tác giữa trách nhiệm của người đứng đầu với cấp phó của người đứng đầu trong chỉ đạo, quản lý, điều hành cơ quan nhà nước.

Điều 14. Các trường hợp được miễn, giảm nhẹ trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu

1. Người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu được miễn trách nhiệm cá nhân trong các trường hợp sau:

a) Đã triển khai, đôn đốc và thường xuyên kiểm tra, đề ra các giải pháp cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao;

b) Người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu phụ trách lĩnh vực được phân công ban hành văn bản pháp luật đã tự sửa đổi, bãi bỏ, bổ sung thay thế văn bản trái pháp luật và khắc phục xong hậu quả do việc ban hành và thực hiện văn bản trái pháp luật đó gây ra;

c) Do thiên tai, địch họa, các tai nạn rủi ro khác hoặc trường hợp bất khả kháng mà người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đã có biện pháp phòng chống;

d) Người đứng đầu vắng mặt tại cơ quan, đơn vị và có văn bản ủy quyền cho cấp phó trong thời gian vắng mặt; cấp phó của người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu trong văn bản ủy quyền;

đ) Trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định; trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.

2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân được xem xét giảm nhẹ kỷ luật nếu trước khi xử lý kỷ luật người đó đã tự nhận khuyết điểm, có đơn xin từ chức, xin tự khắc phục hậu quả do hành vi thiếu trách nhiệm của mình gây ra và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Điều 15. Các trường hợp tăng nặng trách nhiệm cá nhân đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân sẽ bị xem xét tăng nặng trách nhiệm cá nhân trong các trường hợp sau:

1. Báo cáo sai sự thật về tình hình thực hiện hoặc kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;

2. Cấp trên hoặc dư luận báo chí phát hiện sơ hở hoặc thiếu sót, đã kịp thời chỉ đạo hoặc có ý kiến nhưng người đứng đầu không thực hiện hoặc không có biện pháp để khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót để xảy ra hậu quả;

3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đã bị xử lý kỷ luật về vi phạm chế độ trách nhiệm cá nhân mà lại tái phạm hoặc thiếu trung thực trong tiếp thu phê bình, kiểm điểm hoặc cố tình né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 16. Hiệu lực và hướng dẫn thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

3. Người đứng đầu các cơ quan khác của nhà nước (Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại cơ quan, đơn vị mình quản lý.

4. Cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị hướng dẫn việc áp dụng Nghị định này đối với các cơ quan thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

Điều 17Trách nhiệm thi hành

1. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

2. Nghị định này cũng áp dụng đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, các Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước, các viên chức nhà nước được bổ nhiệm đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước./.

Nơi nhận:

– Ban Bí thư Trung ương Đảng;

– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ;

– Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,

chống tham nhũng;

– HĐND, UBND các tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương;

– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

– Văn phòng Chủ tịch nước;

– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;

– Văn phòng Quốc hội;

– Toà án nhân dân tối cao;

– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

– Kiểm toán Nhà nước;

– Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

– Các Tập đoàn kinh tế nhà nước, các Tổng công ty 91;

– VPCP: BTCN, các Phó Chủ nhiệm,

Website Chính phủ, Ban Điều hành 112,

Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,

các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

– Lưu: Văn thư, TCCB (10b). Hoà        bản.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC QUI ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

CHÍNH PHỦ

Số : 129/2007/NĐ-CP

Hà Nội, ngày    tháng     năm 2007

Dự thảo

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

___________________________________________

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ

về quản lý nhà nước đối với  các quy định về điều kiện kinh doanh

__________________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 7 tháng 12 năm 2005;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc soạn thảo, ban hành, bổ sung, sửa đổi, đánh giá và thực hiện quy định về các loại điều kiện kinh doanh sau đây:

1. Quy định về giấy phép kinh doanh các loại;

2. Quy định về chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;

3. Quy định về chứng chỉ hành nghề;

4. Quy định về xác nhận yêu cầu về vốn pháp định; và

5. Quy định về các loại điều kiện khác có yêu cầu xác nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Hộ kinh doanh, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các tổ chức kinh doanh khác;

2. Cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

3. Cá nhân, tổ chức đại diện cho các bên có liên quan khác tham gia soạn thảo, ban hành, bổ sung, sửa đổi, đánh giá và giám sát thực hiện các quy định về các loại điều kiện kinh doanh nói tại Điều 1 Nghị định này.

Điều  3. Áp dụng các điều ước quốc tế

Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giấy phép là tên gọi chung cho các hình thức thể hiện việc đáp ứng yêu cầu của pháp luật về các loại điều kiện kinh doanh nói tại các khoản 1 đến 5 Điều 1 Nghị định này.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong Nghị định này được hiểu là:

a. Cơ quan nhà nước có quyền hoặc được uỷ quyền soạn thảo quy định về điều kiện kinh doanh; hoặc

b. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về điều kiện kinh doanh; hoặc

c. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, gia hạn, huỷ bỏ các quyết định hành chính chứng nhận đáp ứng yêu cầu về điều kiện kinh doanh; hoặc

d. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, đánh giá việc thực hiện quy định về điều kiện kinh doanh.

3. Quy định về điều kiện kinh doanh là văn bản quy phạm pháp luật hoặc tập hợp các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này.

Điều 5. Các ngành, nghề  kinh doanh đỏi hòi phải có điều kiện

1. Kinh doanh các ngành, nghề sau đây có thể đòi hỏi phải có điều kiện như quy định tại Điều 1 Luật này bao gồm:

a. Ngành, nghề tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự công cộng;

b. Ngành, nghề tác động trực tiếp đến kiểm soát kinh tế vĩ mô;

c. Ngành, nghề gây ô nhiễm môi trường sinh thái;

d. Ngành, nghề ảnh hưởng trực tiếp ngay lập tức đến sức khỏe hoặc tính mạng con người;

đ.  Khai thác tài nguyên thiên nhiên;

e. Cung cấp dịch vụ công ích;

g. Hoạt động kinh doanh có sử dụng các thiết bị, phương tiện hoặc sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh công cộng, sức khỏe và/hoặc  tính mạng của con người.

Điều 6. Các nguyên tắc áp dụng đối với các quy định về điều kiện kinh doanh

Việc soạn thảo, ban hành và thực hiện các quy định về điều kiện kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc dưới đây:

1. Tên ngành, nghề kinh doanh cụ thể được quy định phải có điều kiện và nội dung của điều kiện áp dụng đối với ngành, nghề đó phải được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung nói tại đoạn 1 Khoản này được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ hoặc chính quyền địa phương các cấp ban hành, thì nội dung quy định đó và các quy định có liên quan về điều kiện kinh doanh không có hiệu lực thi hành.

2. Nội dung các điều kiện mà cá nhân hoặc tổ chức phải đáp ứng để được quyền tiến hành hoạt động kinh doanh phải được quy định cụ thể, rõ ràng và hợp lý ở mức cần thiết bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

3. Nội dung quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, gồm   tên ngành, nghề kinh doanh, tên giấy phép, cơ quan có thẩm quyền cấp, hồ sơ, trình tự thủ tục, thời hạn cấp và điều kiện cấp giấy phép, từ chối cấp hoặc thu hồi, gia hạn giấy phép, thời hạn hiệu lực phải được quy định cụ thể và công bố công khai theo hình thức và cách thức quy định tại Nghị định này.

4. Mọi cá nhân, tổ chức có đủ hồ sơ, thực hiện đúng trình tự, thủ tục và có đủ điều kiện để được cấp giấy phép theo quy định của pháp luật đều có quyền nhận giấy phép đó.

Trong trường hợp từ chối cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung giấy phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đưa ra được lý do rõ ràng và hợp pháp bằng văn bản.

5. Các bên có liên quan bao gồm Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và các bên có liên quan khác phải được tham vấn trong việc soạn thảo, rà soát đánh giá, bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh theo  Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Quá trình tham vấn phải tuân thủ đúng các yêu cầu về nội dung, trình tự và thủ tục quy định tại điều 18 của Nghị định này.

Điều 7: Các hành vi bị cấm  trong thực thi các quy định về điều kiện kinh doanh

1. Nghiêm cấm cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

a. Áp đặt hoặc ép buộc thực hiện quy định về điều kiện kinh doanh trái với các nguyên tắc quy định tại Điều 6 Nghị định này.

b. Phân biệt đối xử trong việc xem xét, cấp và thực hiện các quy định về điều kiện kinh doanh đối với cá nhân, tổ chức có địa vị pháp lý và điều kiện như nhau.

c. Ban hành và thực hiện các trình tự, thủ tục cấp giấy phép trái với các quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

d. Yêu cầu cá nhân, tổ chức đề nghị cấp giấy phép phải mua sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ của một hoặc một số cá nhân, tổ chức nhất định mà các sản phẩm hoặc dịch vụ đó giống hoặc tương tự như sản phẩm hoặc dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác.

e. Nhận tiền hoặc lợi ích nào khác dưới mọi hình thức của cá nhân, tổ chức trực tiếp đề nghị cấp hoặc có liên quan đến việc cấp giấy phép, trừ những khoản phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

2. Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức:

a. Kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật đòi hỏi phải có điều kiện, khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

b. Nộp các hồ sơ, tài liệu và cung cấp thông tin có nội dung không chính xác, không trung thực, hoặc giả mạo để đề nghị cấp giấy phép;

c. Hối lộ dưới mọi hình thức cho công chức có liên quan để được cấp giấy phép;

d. Không thực hiện đầy đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Hủy bỏ giấy phép

1. Giấy phép đã được cấp bị hủy bỏ trong các trường hợp sau đây:

a. Giấy phép đã được cấp căn cứ trên hồ sơ có nội dung được kê khai không chính xác, không trung thực, hoặc giả mạo;

b. Cá nhân, tổ chức đề nghị cấp phép đã đưa hối lộ để được cấp giấy phép;

c. Giấy phép đã được cấp cho cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;

d. Cá nhân, tổ chức đã được cấp giấy phép còn đủ tiêu chuẩn hoặc điều kiện theo quy định để được cấp giấy phép đó.

2. Ngay khi huỷ bỏ giấy phép, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh ngành, nghề tương ứng và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, tổ chức có giấy phép bị huỷ bỏ trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải chấm dứt kinh doanh ngành, nghề tương ứng cho đến khi đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có quyền hủy bỏ giấy phép  đã cấp trong các trường hợp khác ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

CHƯƠNG II

GIÁM SÁT CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

Điều 9. Cơ quan giám sát các quy định về điều kiện kinh doanh

1. Thủ tướng chỉ định hoặc quyết định thành lập Cơ quan giám sát các quy định về điều kiện kinh doanh (sau đây gọi là Cơ quan giám sát).

2. Cơ quan giám sát có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, giám sát, đánh giá việc ban hành và thực hiện các quy định về giấy phép nhằm đảm bảo tính hợp pháp, thống nhất, đầy đủ, hợp lý, minh bạch, hiệu quả và hiệu lực của các quy định về điều kiện kinh doanh.

Điều 10. Chức năng và nhiệm vụ  của Cơ quan giám sát

1. Giám sát việc soạn thảo, ban hành và thực hiện các quy định về điều kiện kinh doanh;

2. Giúp Thủ tướng Chính phủ thẩm định sự cần thiết, tính hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước của giấy phép dự kiến áp dụng; tính cụ thể, đầy đủ, minh bạch và dự đoán trước được của quy định về giấy phép đó.

3. Tiếp nhận kiến nghị, đề xuất của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các bên có liên quan khác về bổ sung, sửa đổi các quy định về giấy phép hoặc bãi bỏ các giấy phép không còn cần thiết.

4. Thực hiện rà soát quy định về một, một số hoặc tất cả các giấy phép, khi xét thấy cần thiết; hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên có liên quan.

5. Trực tiếp kiến nghị bổ sung, sửa đổi các quy định về giấy phép không còn phù hợp; kiến nghị bãi bỏ các loại giấy phép không còn cần thiết.

6. Tham vấn, trưng cầu ý kiến phản biện của các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước, khi xét thấy cần thiết.

7. Quản lý và điều hành Văn phòng đăng ký giấy phép quy định tại Điều 14 của Nghị định này.

8. Kiến nghị và tổ chức thực hiện chính sách quốc gia về giấy phép.

9. Chủ trì và phối hợp thực hiện các biện pháp cải cách các quy định về giấy phép.

10. Các quyền và nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.

CHƯƠNG III

SOẠN THẢO, BAN HÀNH, ĐÁNH GIÁ, BỔ SUNG VÀ SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

Điều 11. Nội dung cơ bản của quy định về điều kiện kinh doanh

1. Quy định về điều kiện kinh doanh ít nhất phải có các nội dung cơ bản sau đây :

a. Mục đích quy định về điều kiện kinh doanh;

b. Tên giấy phép;

c.  Tên kinh doanh là đối tượng áp dụng của giấy phép;

d. Đối tượng được cấp giấy phép;

đ. Điều kiện hay tiêu chuẩn mà cá nhân, tổ chức phải có để được cấp giấy phép, bao gồm cả các loại hồ sơ và tài liệu khác kèm theo, nếu có;

e. Trình tự và thủ tục cấp giấy phép;

g. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép và kiểm tra thực hiện giấy phép;

h. Thời hạn xem xét và cấp giấy phép;

i. Thời hạn hiệu lực của giấy phép;

k. Điều kiện hay tiêu chuẩn gia hạn giấy phép;

l. Các trường hợp thu hồi giấy phép;

m. Cơ chế cụ thể về khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính trong trường hợp bị từ chối hoặc kéo dài thời hạn cấp giấy phép vượt quá thời hạn quy định của pháp luật;

n. Xử lý các hành vi vi phạm các quy định về điều kiện kinh doanh.

2. Đối với các quy định về điều kiện kinh doanh hiện hành chưa có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, các bộ, cơ quan ngang bộ phải trình Thủ tướng Chính phủ hoặc trực tiếp bổ sung, sửa đổi các quy định về điều kiện kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước đảm bảo có đủ nội dung theo quy định trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

3. Các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng để  tham vấn, lấy ý kiến, đánh giá tính hợp pháp, hợp lý và đầy đủ của các quy định về điều kiện kinh doanh.

Điều 12. Đánh giá tác động của loại điều kiện kinh doanh

1. Cơ quan soạn thảo quy định về điều kiện kinh doanh phải tiến hành đánh giá tác động của loại điều kiện kinh doanh dự kiến áp dụng. Việc đánh giá tác động phải căn cứ các nguyên tắc quy định tại Điều 6 và các nội dung quy định tại Điều 16 của Nghị định này.

2. Báo cáo đánh giá tác động của điều kiện kinh doanh ít nhất phải làm rõ các vấn đề sau đây:

a. Căn cứ pháp lý của quy định về điều kiện kinh doanh;

b. Lợi ích chung của xã hội cần được bảo vệ thông qua việc áp dụng quy định về điều kiện kinh doanh;

c. Những biện pháp quản lý khác có thể thay thế giấy phép có thể sử dụng để bảo vệ các lợi ích chung của xã hội, so sánh hiệu quả và chi phí của các công cụ quản lý thay thế khác so với loại giấy phép dự kiến áp dụng;

d. Tính hợp lý và khả thi của việc thực hiện điều kiện kinh doanh dự kiến quy định;

đ. Mức độ và phạm vi hạn chế quyền tự do kinh doanh do áp dụng điều kiện kinh doanh dự kiến quy định;

e. Tính đầy đủ và cụ thể của các nội dung quy định về điều kiện kinh doanh nêu tại khoản 1 Điều 16 của Nghị định này;

g. Đánh giá tổng quát về những lợi ích và chi phí, mức độ cần thiết áp dụng loại điều kiện kinh doanh được kiến nghị.

3. Báo cáo đánh giá tác động, Tờ trình và dự thảo văn bản pháp luật có nội dung quy định về Điều kiện kinh doanh phải được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Điều 13. Tham vấn với các bên có liên quan

1. Cơ quan soạn thảo quy định về điều kiện kinh doanh phải tạo điều kiện đảm bảo các cá nhân, tổ chức trực tiếp chịu tác động của loại điều kiện kinh doanh dự kiến áp dụng và các bên có liên quan khác được tham vấn trong quá trình soạn thảo. Việc tham vấn phải đảm bảo được các yêu cầu tối thiểu sau đây :

a. Đảm bảo các bên có liên quan bao gồm các cơ quan nhà nước có liên quan, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp và các bên có liên quan khác cập nhật được các dự thảo có liên quan;

b. Cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết về dự thảo nội dung các quy định về điều kiện kinh doanh;

c. Đảm bảo các bên có liên quan có được thời hạn hợp lý để bình luận, tham vấn và góp ý kiến về dự thảo đó;

d. Đảm bảo các bên có liên quan có cơ hội thuận lợi và phương thức đa dạng để tham gia góp ý kiến, bao gồm hội thảo, trao đổi ý kiến, góp ý bằng văn bản, góp ý bằng thư điện tử và góp ý qua mạng Internet.

2. Cơ quan soạn thảo phải công bố công khai ý kiến đóng góp, bình luận của tất cả cá nhân, tổ chức có liên quan trong quá trình tham vấn.

3. Cơ quan soạn thảo phải tập hợp, tổng hợp ý kiến, bình luận và báo cáo kết quả tiếp thu ý kiến; đối với những ý kiến chưa tiếp thu, thì phải nêu rõ lý do.

4. Báo cáo tổng hợp về việc tiếp thu ý kiến của các bên có liên quan phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra và phải được trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Điều 14. Điều trần

1. Trường hợp dự thảo quy định về điều kiện kinh doanh có ảnh hưởng nghiêm trọng đến một hoặc một số bên có liên quan hoặc tác động trái ngược nhau đối với các bên có liên quan, thì cơ quan soạn thảo phải tổ chức điều trần với sự tham gia của các bên nói trên trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.

2. Trường hợp cơ quan soạn thảo không tổ chức điều trần như quy định tại khoản 1 Điều này, thì Bộ Tư pháp hoặc cơ quan do Thủ tướng chính phủ chỉ định trực tiếp tổ chức điều trần theo yêu cầu của một hoặc các bên có liên quan.

3. Cơ quan soạn thảo hoặc cơ quan tổ chức điều trần quy định tại khoản 2 Điều này phải thông báo công khai về thời gian, địa điểm và các vấn đề điều trần ít nhất 7 ngày trước khi điều trần. Các bên có liên quan phải có được cơ hội và thời gian công bằng, hợp lý đủ để trình bày hết quan điểm của mình với cơ quan soạn thảo.

Điều 15. Trình dự thảo lấy ý kiến của Cơ quan giám sát

1. Trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, cơ quan soạn thảo phải gửi dự thảo, tờ trình, báo cáo đánh giá tác động của giấy phép, báo cáo tổng hợp ý kiến tham vấn và báo cáo tiếp thu ý kiến của các bên có liên quan đến Cơ quan giám sát để lấy ý kiến.

2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Cơ quan giám sát có ý kiến bình luận bằng văn bản.

3. Cơ quan giám sát thẩm định mức độ phù hợp của nội dung dự thảo so với các nguyên tắc, yêu cầu và nội dung quy định tương ứng tại Điều 5 và Điều 16 của Nghị định này; kiến nghị ban hành hoặc không ban hành hoặc kiến nghị bổ sung, sửa đổi dự thảo trước khi ban hành.

4. Cơ quan soạn thảo phải xem xét, tiếp thu ý kiến của Cơ quan giám sát trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành. Trường hợp còn ý kiến khác nhau, cơ quan soạn thảo lập báo cáo riêng kèm theo trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Điều 16. Đánh giá lại và kiến nghị bổ sung, sửa đổi quy định về điều kiện kinh doanh đang có hiệu lực

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nghĩa vụ đánh giá lại; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội  doanh nghiệp và các bên có liên quan khác có quyền đánh giá lại hoặc tham gia đánh giá lại các quy định về điều kiện kinh doanh.

2. Hàng năm, Cơ quan giám sát thực hiện đánh giá lại một, một số hoặc tất cả quy định về giấy phép; các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện đánh giá lại một, một số hoặc tất cả các quy định về  giấy phép thuộc thẩm quyền quản lý.

Khi thực hiện đánh giá lại các quy định về giấy phép, Cơ quan giám sát và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo đảm để Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam, các hiệp hội doanh nghiệp và các bên có liên quan khác được tham vấn trong việc đánh giá lại theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

3. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp và các bên có liên quan khác thực hiện đánh giá lại hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá lại một, một số hoặc tất cả giấy phép bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết và nêu rõ lý do.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện đánh giá lại giấy phép theo đề nghị của các bên có liên quan quy định tại khoản 3 Điều này trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Trường hợp từ chối việc đánh giá lại, các cơ quan nhà nước nói trên phải trả lời bằng văn bản, có nêu rõ lý do.

5. Nội dung đánh giá lại được thực hiện theo nội dung quy định tại Điều 5 và Điều 16 của Nghị định này. Tổ chức đánh giá lại quyết định phương pháp và công cụ đánh giá; có quyền điều tra, phỏng vấn, tham vấn ý kiến trực tiếp của doanh nghiệp và các bên có liên quan khác.

6. Báo cáo đánh giá ít nhất phải có các nội dung sau đây:

a. Phương pháp đánh giá;

b. Phạm vi và đối tượng đánh giá;

c. Các hoạt động đã thực hiện trong quá trình đánh giá;

d. Cơ quan chủ trì và các bên tham gia đánh giá;

đ. Những phát hiện về điểm mạnh, điểm yếu, về lợi ích và phí tổn của quy định được đánh giá.

e. Nhận xét tổng quát và kiến nghị cụ thể đối với quy định về loại giấy phép thuộc phạm vi đánh giá.

7. Cơ quan giám sát phải lập báo cáo tổng hợp hàng năm về hệ thống giấy phép. Báo cáo tổng hợp bao gồm các báo cáo trong năm của Cơ quan giám sát đánh giá về giấy phép, các báo cáo bất thường trong năm của các bên có liên quan, báo cáo đánh giá của các bộ, cơ quan ngang bộ và các báo cáo bình luận trong năm về các dự thảo và các báo cáo khác.

8. Báo cáo hàng năm ít nhất phải có các nội dung sau đây:

a. Thống kê về số loại giấy phép;

b. Đánh giá tổng quan về hệ thống giấy phép;

c. Các chương trình và biện pháp cải cách đã thực hiện trong năm, nếu có;

d. Các thực tiễn tốt nhất và xấu nhất liên quan đến giấy phép;

đ. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan;

e. Kiến nghị các biện pháp cải cách hệ thống giấy phép và thay đổi, bổ sung sửa đổi cụ thể đối với từng loại giấy phép.

9. Báo cáo hàng năm được trình lên Thủ tướng Chính phủ thông qua và công bố công khai, truy cập được qua mạng Internet.

CHƯƠNG IV

ĐĂNG KÝ VÀ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VỀ GIẤY PHÉP KINH DOANH

Điều 17. Đăng ký giấy phép

1. Tất cả các loại giấy phép phải được đăng ký tại Văn phòng Đăng ký giấy phép.

2. Bộ, cơ quan ngang bộ được phân công thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh được quản lý bằng giấy phép phải lập hồ sơ đăng ký loại giấy phép đó.

3. Hồ sơ đăng ký giấy phép bao gồm:

a. Bản giải trình về loại giấy phép được lập theo mẫu do Cơ quan giám sát quy định, gồm tên loại giấy phép, các tài liệu, giấy tờ hợp thành hồ sơ xin giấy phép, tóm tắt các điều kiện để được cấp phép, điều kiện gia hạn giấy phép, trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền cấp phép và thời hạn cấp giấy phép.

b. Các mẫu hồ sơ có liên quan, bao gồm mẫu đơn xin phép, mẫu giấy phép, mẫu đơn gia hạn giấy phép;

c. Tên văn bản quy định về loại giấy phép yêu cầu đăng ký.

4. Các Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh được quản lý gửi hồ sơ đăng ký giấy phép tới Văn phòng. Văn phòng thực hiện đăng ký giấy phép trong thời hạn một ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 18. Công khai và minh bạch

1. Nội dung của quy định về giấy phép quy định tại khoản 1 Điều 16 của Nghị định này phải được công bố đầy đủ tại:

a. Văn phòng đăng ký giấy phép, với hình thức và cách thức tiếp cận được qua mạng Internet;

b. Bảng thông báo tại nơi tiếp nhận hồ sơ cấp giấy phép;

c. Tờ rơi và catalogue do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phát hành.

2. Khi tổ chức, cá nhân xin phép có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp phép có nghĩa vụ hướng dẫn, cung cấp đủ thông tin liên quan đến quy định về giấy phép mà người đó có yêu cầu.

Điều 19. Thực hiện cấp giấy phép

Nếu luật, pháp lệnh và nghị định chuyên ngành không quy định khác, thì hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy phép được thực hiện theo các quy định dưới đây:

1. Hồ sơ yêu cầu cấp giấy phép gồm các tài liệu sau đây:

a. Đơn xin cấp giấy phép. Đơn có thể bằng văn bản hoặc tệp dữ liệu điện tử; trường hợp có mẫu đơn theo quy định thì đơn phải được lập theo mẫu đó.

b. Tài liệu chứng thực địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức xin phép;

c. Các tài liệu chứng thực hoặc chứng minh cá nhân, tổ chức xin phép có đủ các điều kiện để được cấp giấy phép theo quy định của pháp luật;

Cá nhân, tổ chức có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác làm đại diện nộp hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Cá nhân, tổ chức đề nghị cấp giấy phép phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của nội dung hồ sơ nộp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nhận hồ sơ khi hồ sơ có đủ các yêu cầu sau đây:

a. Có đủ các loại giấy tờ, tài liệu theo quy định;

b. Có đủ nội dung theo quy định.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận hồ sơ và cấp giấy phép không được yêu cầu cá nhân, tổ chức đề nghị cấp giấy phép nộp thêm giấy tờ, tài liệu ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Nếu hồ sơ còn có sai sót, thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phải thông báo một lần bằng văn bản hướng dẫn bổ sung, sửa đổi tất cả những sai sót đó trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cho cá nhân, tổ chức đề nghị cấp giấy phép.

Trường hợp không có thông báo hướng dẫn bổ sung, sửa đổi hồ sơ trong thời hạn theo quy định, thì hồ sơ đó được coi là hợp lệ và cá nhân, tổ chức đề nghị cấp giấy phép coi như có đủ điều kiện để được loại cấp giấy phép đó.

7. Tất cả các hồ sơ phải được xem xét và xử lý công bằng và khách quan theo đúng trình tự, thủ tục và căn cứ vào những điều kiện theo quy định của pháp luật.

8. Tổ chức, cá nhân yêu cầu có đủ điều kiện theo quy định đương nhiên được cấp giấy phép tương ứng trong thời hạn quy định.

Giấy phép phải được cấp bằng văn bản, có ghi rõ tên giấy phép, hoạt động kinh doanh được quản lý bằng giấy phép, thời gian cấp, cơ quan và nơi cấp, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép và thời hạn hiệu lực của giấy phép.

9. Việc từ chối cấp phép phải được lập thành văn bản nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phải hướng dẫn người xin phép về cách thức, cơ chế và thời hạn khiếu nại của cá nhân, tổ chức đề nghị cấp giấy phép đến các cơ quan có thẩm quyền.

10. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cấp giấy phép cho cá nhân, tổ chức đã có đủ điều kiện trong thời hạn quy định thì cá nhân, tổ chức đó coi như đã được cấp giấy phép mà họ đã đề nghị. Trong trường hợp này, biên lại nộp đủ lệ phí hoặc phiếu hẹn khi nộp đủ hồ sơ là bằng chứng xác nhận việc coi như họ đã được cấp giấy phép.

11. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép phải xem xét và cấp giấy phép trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp cần thiết, có thể gia hạn thêm một lần và thời gian gia hạn không quá bảy ngày làm việc tiếp theo.

Điều 20. Giám sát việc thực hiện cấp giấy phép

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh được quản lý bằng giấy phép phải giám sát việc cấp loại giấy phép tương ứng, đảm bảo giấy phép đó được cấp đúng đối tượng, đúng trình tự và điều kiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép có trách nhiệm theo dõi, giám sát và kiểm tra hoạt động kinh doanh được cấp phép, đảm bảo người được cấp giấy phép đúng theo nội dung của giấy phép.

3. Việc kiểm tra quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật về kiểm tra. Định kỳ hàng tháng, cơ quan kiểm tra gửi tất cả kết luận của từng vụ kiểm tra đến Cơ quan giám sát. Cơ quan giám sát tập hợp và lưu trữ các kết luận kiểm tra theo hình thức và cách thức mà bất kỳ ai có quan tâm đều tiếp cận được thông qua mạng Internet.

CHƯƠNG V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 21. Thực hiện đăng ký các loại giấy phép hiện hành

1. Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải báo cáo Cơ quan giám sát Danh mục các giấy phép còn hiệu lực thuộc thẩm quyền quản lý cùng với các nội dung của từng loại giấy phép như quy định tại Điều 16 của Nghị định này.

2. Trong thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận báo cáo nói tại khoản 1 Điều này, Cơ quan giám sát phải đánh giá và thực hiện đăng ký các giấy phép có đủ căn cứ pháp lý như quy định tại Điều 22 của Nghị định này.

3. Cơ quan giám sát báo cáo và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các giải pháp đối với các loại giấy phép thiếu cơ sở pháp lý hoặc chưa đủ các nội dung như quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này.

4. Trong thời hạn 1 năm, kể từ khi Nghị định này có hiệu lực, Cơ quan giám sát trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục giấy phép đã đăng ký như quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 22. Tổ chức thực hiện

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Cơ quan giám sát và các cơ quan có liên quan hướng dẫn thi hành Nghị định này.

2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì hoàn tất các công việc cần thiết để thành lập Cơ quan giám sát quốc gia về giấy phép.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Điều 23. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

Nơi nhận:

– Ban Bí thư Trung ương Đảng;

– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng CP;

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,

– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,

– Văn phòng Quốc hội,

– Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội,

– Văn phòng Chủ tịch nước,

– Văn phòng TW và các Ban của Đảng,

– Tòa án nhân dân tối cao,

– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,

– Cơ quan TW của các đoàn thể,

– Học viện Hành chính quốc gia,

– Công báo,

– Website Chính phủ,

– VPCP: BTCN, TBCN, các PCN, BNC,

Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,

các Vụ, Cục, các đơn vị trực thuộc,

– Lưu: KTTH (5b), VT.

TM. THỦ TƯỚNG

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng