Mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

PGS, TS. ĐOÀN NĂNG – Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ

Hiện nay Bộ Luật Dân năm 1995 sự đang được sửa đổi, bổ sung; đạo luật chuyên ngành thống nhất về sở hữu trí tuệ và đạo luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ cũng đã được Quốc hội cho phép soạn thảo và dự kiến sẽ đều được Quốc hội thông qua trong các năm 2005 và 2006. Vì vậy các cơ quan soạn thảo đang phải thảo luận để xác định ranh giới giữa Bộ Luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.

Trong phạm vi bài này, tôi tập trung phân tích mối quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành về sở hứu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ với Bộ Luật Dân sự nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc xác định phạm vi, nội dung điều chỉnh cụ thể của các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ, về chuyển giao công nghệ và của chính Bộ Luật dân sự.

1. Hệ thống pháp luật dân sự của nước ta hiện nay – nhìn từ góc độ quan hệ với các đạo luật chuyên ngành có liên quan

Các quan hệ dân sự là loại quan hệ xã hội phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, từ sản xuất kinh doanh đến sinh hoạt hàng ngày của con người. Các quan hệ đó bao gồm cả quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản. Pháp luật dân sự quy định địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giao lưu dân sự, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự. Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất dân sự đòi hỏi phải có các nguyên tắc, phương pháp đặc thù. Các nguyên tắc, phương pháp đặc thù này đã được khẳng định trong Bộ Luật dân sự năm 1995. Song các quan hệ dân sự rất phong phú, đa dạng. Vì vậy, ngoài các nguyên tắc, phương pháp đặc thù chung của toàn bộ các quan hệ dân sự, các quan hệ dân sự trong từng lĩnh vực kinh tế – xã hội đều có những đặc điểm riêng của mình và đòi hỏi phải có các quy định đặc thù của pháp luật để điều chỉnh.

Chính vì vậy các quy định của pháp luật dân sự nước ta hiện nay thực tế gồm 02 nhóm lớn là các quy định có tính nguyên tắc chung cho tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự và các quy định dân sự cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Các quy định có tính nguyên tắc chung cho mọi lĩnh vực quan hệ dân sự hiện nay được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự năm 1995, các quy định dân sự cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như thương mại, hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt, bảo hiểm, v.v… Có thể khẳng định hệ thống các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam bao gồm không chỉ các quy định của Bộ Luật Dân sự năm 1995 mà còn gồm cả các quy định dân sự chứa đựng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành thuộc nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điều cần lưu ý ở đây là các văn bản pháp luật chuyên ngành không phải chỉ bao gồm các quy định có tính chất dân sự mà gồm cả các quy định phi dân sự. Do Bộ Luật dân sự năm 1995 chỉ chủ yếu gồm các quy định chung, có tính chất nguyên tắc, cho nên phần lớn các quy định cụ thể phù hợp với đặc thù của các lĩnh vực quan hệ dân sự cụ thể của đời sống phải được xây dựng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, các quy định dân sự cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng trên cơ sở và nhằm thực hiện các quy định có tính nguyên tắc trong Bộ Luật Dân sự. Cũng có thể nói, các quy định dân sự trong các văn bản pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng nhằm cụ thể hoá các quy định có tính nguyên tắc chung của Bộ Luật Dân sự vào lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Như vậy, trong lĩnh vực dân sự, Bộ Luật dân sự là văn bản gốc hay đạo luật gốc. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các quy định pháp luật dân sự phải là một hệ thống thống nhất trong đa dạng; không thể chấp nhận tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ Luật Dân sự và các quy định dân sự trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, không có cơ sở để bác bỏ việc xây dựng các quy định chung có tính nguyên tắc cho các lĩnh vực quan hệ xã hội chuyên ngành ngay trong Bộ Luật Dân sự. Tuy nhiên, việc để các quy định có tính nguyên tắc này thành một điều, một mục, một chương hay một phần riêng trong Bộ luật này chỉ là vấn đề kỹ thuật. Ví dụ, vấn đề hôn nhân và gia đình được quy định thành các nguyên tắc tại các điều 35, 36, 37, 38, 39, 40 của Chương II Phần những quy định chung của Bộ Luật dân sự năm 1995, đồng thời Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình để điều chỉnh tất cả những vấn đề còn lại; vấn đề hợp đồng bảo hiểm được quy định tại các điều từ điều 571 đến điều 584 của Mục 11, chương XII, Phần thứ III Bộ Luật dân sự năm 1995, những vấn đề còn lại về bảo hiểm có văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh; vấn đề chuyển quyền sử dụng đất được quy địnhtrong Phần thứ V của Bộ Luật dân sự năm 1995, các vấn khác về đất đai được quy định tại Luật Đất đai; v.v… Việc lựa chọn phương án nào hoàn toàn do cơ quan lập pháp quyết định cho đáp ứng yêu cầu cụ thể về nâng cao hiệu lực điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự cụ thể. Sự trùng lặp trong một số quy định của Bộ Luật dân sự năm 1995 với các đạo luật chuyên ngành liên quan là không tránh khỏi và đang tồn tại một cách khách quan. Về mặt lý luận, một sự trùng lặp có thể chấp nhận được nếu không gây mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi áp dụng pháp luật.

Nói cách khác, chúng ta không sợ trùng lặp mà chỉ sợ mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi áp dụng pháp luật. Tóm lại, về một vấn đề dân sự, có thể vừa quy định tại Bộ Luật dân sự vừa quy định tại một hay thậm chí một số đạo luật chuyên ngành theo hướng Bộ Luật dân sự chỉ quy định nguyên tắc chung còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung của Bộ Luật Dân sự vào điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành, nhưng không được chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên nếu về cùng một vấn đề cụ thể mà có sự khác nhau (không phải mâu thuẫn hay chồng chéo) giữa Bộ Luật dân sự và quy định của đạo luật chuyên ngành thì phải cho phép áp dụng quy định cụ thể, đặc thù của đạo luật chuyên ngành, bởi vì quy định cụ thể của đạo luật chuyên ngành bảo đảm chỉ cụ thể hoá các quy định chung của Bộ Luật Dân sự vào điều kiện cụ thể của chuyên ngành.

Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng, sẽ là thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật, nếu Bộ Luật dân sự chỉ khẳng định quyền dân sự của các tổ chức, cá nhân, nhà nước bảo hộ quyền này của các tổ chức, cá nhân, còn tất cả các quy định cần phải được áp dụng được tập trung vào một văn bản chuyên ngành. Mặt khác cũng cần lưu ý rằng, thông thường Bộ Luật dân sự đòi hỏi phải có sự ổn định cao hơn, trong khi đó đối với những lĩnh vực quan hệ dân sự chuyên ngành cụ thể có khả năng biến đổi nhanh cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, việc tập trung các quy định dân sự cụ thể vào một văn bản chuyên ngành sẽ tạo điều kiện cho chúng ta dễ dàng hơn trong việc sửa đổi, bổ sung văn bản chuyên ngành, không phải đồng thời sửa đổi, bổ sung cùng một lúc cả Bộ Luật dân sự và đạo luật chuyên ngành liên quan. Đây cũng chính là một trong những vấn đề các cơ quan xây dựng pháp luật cần phải quan tâm nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật và cho cả chính mình.

2. Phương án xử lý mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ

Đối với nước ta, lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đều là những lĩnh vực tương đối mới. Tronh những lĩnh vực này có nhiều loại quan hệ xã hội phát sinh và đều đòi hỏi phải được điều chính về mặt pháp lý. Có thể chia các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực này thành một số loại chính sau đây: quan hệ dân sự, quan hệ hành chính, quan hệ hình sự, quan hệ tố tụng (bao gồm cả tố tụng hành chính, tố tụng dân sự và tố tụng hình sự). Với cách phân chia nêu trên, có thể nói hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật nước ta về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ bao gồm 04 nhóm chính như sau:

– Các quy phạm pháp luật dân sự;

– Các quy phạm pháp luật hành chính;

– Các quy phạm pháp luật hình sự;

– Các quy phạm pháp luật tố tụng. Hiện nay các quy phạm pháp luật dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ đều được xây dựng trên cơ sở Phần thứ sáu của Bộ Luật Dân sự (Chương I và Chương II về sở hữu trí tuệ, Chương III về chuyển giao công nghệ). Các quy phạm pháp luật hành chính về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp luật về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002). Các quy phạm pháp luật hình sự về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở Bộ Luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Các quy phạm pháp luật tố tụng về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính v.v… Để thi hành các bộ luật, luật và pháp lệnh nêu trên, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền khác đã ban hành một loạt văn bản dưới luật về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ hoặc có chứa đựng các quy định về/liên quan đến sở hữu trí tuệ, về/liên quan đến chuyển giao công nghệ. Như vậy, có thể nói hệ thống các văn bản pháp luật về/liên quan đến sở hữu trí tuệ khá đồ sộ ( khoảng hơn 40 văn bản) và về/liên quan đến chuyển giao công nghệ cũng không nhỏ , bao gồm các văn bản thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như văn bản pháp luật dân sự, văn bản pháp luật hành chính, văn bản pháp luật hình sự, văn bản pháp luật về tố tụng v.v..

Cũng như các lĩnh vực chuyên ngành khác, Bộ luật Dân sự là trụ cột của toàn bộ hệ thống các quy định của pháp luật dân sự về SHTT và về chuyển giao công nghệ, bất kể các quy định đó được ghi nhận ở đâu. Trên thực tế hiện nay các quy định dân sự chung nhất về SHTT và về chuyển gia công nghệ đều được ghi nhận trong Bộ Luật dân sự; một số quy định dân sự về/liên quan đến SHTT và về chuyển gia công nghệ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác; hầu hết các quy định còn lại, đặc biệt các quy định cụ thể về SHTT và về chuyển gia công nghệ được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp Bộ, ngành. Tuy nhiên, theo cách lập luận tại Mục 1 ở trên, dù hầu hết các quy định có tính chất dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ không được ghi nhận ở Bộ Luật Dân sự thì các quy định đó vẫn đương nhiên là bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam mà nòng cốt là Bộ Luật dân sự.

Như đã trình bày ở mục 01 nêu trên, chúng ta khẳng định lại rằng các quy định có tính chất dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ là bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật dân sự, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi quy định, đặc biệt các quy định cụ thể có tính chất đân sự chuyên sâu về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ đều phải đưa hết vào Bộ luật Dân sự. Khuôn khổ của Bộ luật dân sự hiện hành cũng không cho phép đưa hết các quy định cụ thể có tính chất đân sự chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ vào Bộ Luật Dân sự. Chúng ta rất cần các đạo luật chuyên ngành để có thể quy định thật đầy đủ, cụ thể và minh bạch về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ cả ở góc độ dân sự và phi dân sự nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề này đã được giải quyết vì Quốc hội đã có Nghị quyết cho phép xây dựng và trình thông qua hai đạo luật chuyên ngành này. Khi xây dựng hai đạo luật chuyên ngành về sở hứu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ song song với Bộ luật Dân sự thì đương nhiên chúng ta phải giải quyết vấn đề Bộ luật Dân sự có cần tiếp tục quy định về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ hay không, và nếu cần thì quy định đến mức nào. Hiện nay các chuyên gia đang còn có ý kiến khác nhau, nhưng được chia thành hai nhóm quan điểm với 02 phương án giải quyết mối quan hệ giữa hai đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ với Bộ Luật Dân sự như sau:

– Theo phương án thứ nhất, Bộ Luật dân sự chỉ nên giữ lại các quy định dân sự có tính chất chung nhất hay có tính nguyên tắc về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ và được phân tán vào các chỗ thích hợp của các chương mục từ phần I đến Phần V của Bộ Luật để bỏ hẳn các chương về quyền sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ ở Phần VI của Bộ luật vì các lý do sau đây:

+ Bộ luật dân sự (sửa đổi) là đạo luật gốc, quy định các nguyên tắc dân sự cơ bản áp dụng chung cho mọi quan hệ dân sự trong mọi lĩnh vực, chứ không nên có các quy định mang tính nguyên tắc đặc thùcủa từng lĩnh vực, đặc biệt là những lĩnh vực có luật chuyên ngành. Luật Sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ là hai đạo luật chuyên ngành, điều chỉnh các quan hệ dân sự và cả các quan hệ hành chính liên quan đến sở hữu trí tuệ và chuyển gia công nghệ, trong đó các quy định dân sự chuyên biệt cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển gia công nghệ đều phải dựa trên cơ sở và phù hợp với nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật dân sự. Vì Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ là hai đạo luật chuyên ngành độc lập, nên trong hai đạo luật này cũng phải có các quy định mang tính nguyên tắc, kể cả nguyên tắc về quan hệ dân sự của lĩnh vực này.

+ Nếu trong Bộ luật dân sự (sửa đổi) cũng có các chương, phần quy định về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, cho dù là quy định mang tính nguyên tắc của các lĩnh vực này thì sẽ tạo thêm một tầng nấc văn bản về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, gây phức tạp khi vận dụng và viện dẫn pháp luật, dễ tạo ra sự chồng chéo, khó tránh khỏi sự không thống nhất về nội dung và khi cần sửa đổi các quy định để đáp ứng yêu cầu phát triển rất nhanh chóng của thực tiễn cuộc sống thì phải sửa đổi, bổ sung đồng thời cả Bộ Luật dân sự lẫn hai đạo luật chuyên ngành này.

+ Trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) không cần một chương hay phần riêng quy định về quyền sở hữu trí tuệ cũng như một chương hay phần riêng về chuyển giao công nghệ vì bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc dân sự chung chỉ cần có một vài nguyên tắc về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ là đủ. Ví dụ đối với sở hữu trí tuệ chỉ cần một điều tại Phần thứ hai về tài sản và quyền sở hữu để khẳng định về nguyên tắc : quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, được Nhà nước công nhận và bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

+ Việc đưa các quy định về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ vào thành một phần riêng trong Bộ luật Dân sự còn tạo ra một sự khác biệt về cấu trúc của hệ thống quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ của nước ta so với hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ của các nước khác trên thế giới. Nừu chúng ta có sự tương thích với pháp luật các nước về hai vấn đề này thì thuận lợi hơn cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

– Theo phương án thứ hai, nên giữ nguyên các chương về quyền sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ ở Phần VI của Bộ Luật, nhưng lược giản tối đa, chỉ để lại một số ít điều quy định có tính chất nguyên tắc chung nhất về quan hệ dân sự trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng như trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ . Tất cả những vấn đề còn lại về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ sẽ được quy định trong các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ. Những người ủng hộ phương án 02 cho rằng, quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu cũng như chuyển giao công nghệ là các quyền dân sự cơ bản của tổ chức, cá nhân cho nên phải có vị trí xứng đáng trong Bộ Luật dân sự; giữ Phần thứ sáu về quyền sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, và chỉ để lại các quy định có tính nguyên tắc chung về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ một mặt thể hiện vai trò đạo luật gốc của Bộ luật dân sự, mặt khác để tránh phá vỡ cấu trúc vốn có của Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, những người ủng hộ ý kiến này cũng không xác định được thế nào là nguyên tắc chung về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ và Dự thảo Phần thứ sáu Bộ luật Dân sự sửa đổi (bản công bố để lấy ý kiến nhân dân) có quá nhiều quy định chi tiết, đặc biệt Chương Quyền tác giả hầu như vẫn bao gồm toàn bộ các quy định cụ thể của Bộ luật Dân sự hiện hành. Nếu so sánh lập luận của các chuyên gia bảo vệ 02 phương án nêu trên, chúng ta thấy cả 02 phương án đều đã có thực tiễn xử lý ngay trong Bộ Luật dân sự hiện hành. Ví dụ vấn đề hôn nhân và gia đình đã được xử lý theo phương án thứ nhất, vấn đề đất đai được xử lý theo phương án thứ hai.

Cả hai phương án đều nhất trí phải có những quy định nhất định về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ trong Bộ Luật dân sự, nhưng khác nhau về mức độ quy định và có thiết kế thành các chương, phần riêng hay không. Chúng ta có thể chọn phương án thứ hai với điều kiện không để chồng chéo và mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ Luật dân sự và đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ đạo luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên phương án này sẽ làm cho pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như về chuyển giao công nghệ có nhiều tầng nắc không cần thiết.

húng ta cũng có thể theo phương án thứ nhất với điều kiện các quy định chung về sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu được chỉnh sửa để bao quát được cả loại tài sản vô hình của các tổ chức, cá nhân là tài sản trí tuệ, bao quát cả vấn đề sở hữu và chuyển giao công nghệ. Đây là việc chúng ta hoàn toàn có thể làm được và sẽ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc áp dụng pháp luật về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, tránh được tình trạnh tản mạn, nhiều tầng nấc của pháp luật sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ. Tóm lại, tôi cho rằng phương án thứ nhất ưu việt hơn. Chúng ta nên ủng hộ phương án này.

 SOURCE: VCCI.COM.VN

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỚI CÁC ĐẠO LUẬT CHUYÊN NGÀNH VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

PGS, TS. ĐOÀN NĂNG – Vụ trưởng Vụ PC, Bộ KH&CN

Hiện nay Bộ Luật Dân năm 1995 sự đang được sửa đổi, bổ sung; đạo luật chuyên ngành thống nhất về sở hữu trí tuệ và đạo luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ cũng đã được Quốc hội cho phép soạn thảo và dự kiến sẽ đều được Quốc hội thông qua trong các năm 2005 và 2006. Vì vậy các cơ quan soạn thảo đang phải thảo luận để xác định ranh giới giữa Bộ Luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.

Trong phạm vi bài này, tôi tập trung phân tích mối quan hệ giữa các đạo luật chuyên ngành về sở hứu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ với Bộ Luật Dân sự nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc xác định phạm vi, nội dung điều chỉnh cụ thể của các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ, về chuyển giao công nghệ và của chính Bộ Luật dân sự.

1. Hệ thống pháp luật dân sự của nước ta hiện nay – nhìn từ góc độ quan hệ với các đạo luật chuyên ngành có liên quan

Các quan hệ dân sự là loại quan hệ xã hội phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, từ sản xuất kinh doanh đến sinh hoạt hàng ngày của con người. Các quan hệ đó bao gồm cả quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản. Pháp luật dân sự quy định địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giao lưu dân sự, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự. Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất dân sự đòi hỏi phải có các nguyên tắc, phương pháp đặc thù. Các nguyên tắc, phương pháp đặc thù này đã được khẳng định trong Bộ Luật dân sự năm 1995. Song các quan hệ dân sự rất phong phú, đa dạng. Vì vậy, ngoài các nguyên tắc, phương pháp đặc thù chung của toàn bộ các quan hệ dân sự, các quan hệ dân sự trong từng lĩnh vực kinh tế – xã hội đều có những đặc điểm riêng của mình và đòi hỏi phải có các quy định đặc thù của pháp luật để điều chỉnh.

Chính vì vậy các quy định của pháp luật dân sự nước ta hiện nay thực tế gồm 02 nhóm lớn là các quy định có tính nguyên tắc chung cho tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự và các quy định dân sự cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Các quy định có tính nguyên tắc chung cho mọi lĩnh vực quan hệ dân sự hiện nay được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự năm 1995, các quy định dân sự cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như thương mại, hàng hải, hàng không, đường bộ, đường sắt, bảo hiểm, v.v… Có thể khẳng định hệ thống các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam bao gồm không chỉ các quy định của Bộ Luật Dân sự năm 1995 mà còn gồm cả các quy định dân sự chứa đựng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành thuộc nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điều cần lưu ý ở đây là các văn bản pháp luật chuyên ngành không phải chỉ bao gồm các quy định có tính chất dân sự mà gồm cả các quy định phi dân sự. Do Bộ Luật dân sự năm 1995 chỉ chủ yếu gồm các quy định chung, có tính chất nguyên tắc, cho nên phần lớn các quy định cụ thể phù hợp với đặc thù của các lĩnh vực quan hệ dân sự cụ thể của đời sống phải được xây dựng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, các quy định dân sự cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng trên cơ sở và nhằm thực hiện các quy định có tính nguyên tắc trong Bộ Luật Dân sự. Cũng có thể nói, các quy định dân sự trong các văn bản pháp luật chuyên ngành phải được xây dựng nhằm cụ thể hoá các quy định có tính nguyên tắc chung của Bộ Luật Dân sự vào lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Như vậy, trong lĩnh vực dân sự, Bộ Luật dân sự là văn bản gốc hay đạo luật gốc. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các quy định pháp luật dân sự phải là một hệ thống thống nhất trong đa dạng; không thể chấp nhận tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ Luật Dân sự và các quy định dân sự trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, không có cơ sở để bác bỏ việc xây dựng các quy định chung có tính nguyên tắc cho các lĩnh vực quan hệ xã hội chuyên ngành ngay trong Bộ Luật Dân sự. Tuy nhiên, việc để các quy định có tính nguyên tắc này thành một điều, một mục, một chương hay một phần riêng trong Bộ luật này chỉ là vấn đề kỹ thuật. Ví dụ, vấn đề hôn nhân và gia đình được quy định thành các nguyên tắc tại các điều 35, 36, 37, 38, 39, 40 của Chương II Phần những quy định chung của Bộ Luật dân sự năm 1995, đồng thời Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình để điều chỉnh tất cả những vấn đề còn lại; vấn đề hợp đồng bảo hiểm được quy định tại các điều từ điều 571 đến điều 584 của Mục 11, chương XII, Phần thứ III Bộ Luật dân sự năm 1995, những vấn đề còn lại về bảo hiểm có văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh; vấn đề chuyển quyền sử dụng đất được quy địnhtrong Phần thứ V của Bộ Luật dân sự năm 1995, các vấn khác về đất đai được quy định tại Luật Đất đai; v.v… Việc lựa chọn phương án nào hoàn toàn do cơ quan lập pháp quyết định cho đáp ứng yêu cầu cụ thể về nâng cao hiệu lực điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự cụ thể. Sự trùng lặp trong một số quy định của Bộ Luật dân sự năm 1995 với các đạo luật chuyên ngành liên quan là không tránh khỏi và đang tồn tại một cách khách quan. Về mặt lý luận, một sự trùng lặp có thể chấp nhận được nếu không gây mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi áp dụng pháp luật.

Nói cách khác, chúng ta không sợ trùng lặp mà chỉ sợ mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi áp dụng pháp luật. Tóm lại, về một vấn đề dân sự, có thể vừa quy định tại Bộ Luật dân sự vừa quy định tại một hay thậm chí một số đạo luật chuyên ngành theo hướng Bộ Luật dân sự chỉ quy định nguyên tắc chung còn đạo luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung của Bộ Luật Dân sự vào điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành, nhưng không được chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên nếu về cùng một vấn đề cụ thể mà có sự khác nhau (không phải mâu thuẫn hay chồng chéo) giữa Bộ Luật dân sự và quy định của đạo luật chuyên ngành thì phải cho phép áp dụng quy định cụ thể, đặc thù của đạo luật chuyên ngành, bởi vì quy định cụ thể của đạo luật chuyên ngành bảo đảm chỉ cụ thể hoá các quy định chung của Bộ Luật Dân sự vào điều kiện cụ thể của chuyên ngành.

Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng, sẽ là thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật, nếu Bộ Luật dân sự chỉ khẳng định quyền dân sự của các tổ chức, cá nhân, nhà nước bảo hộ quyền này của các tổ chức, cá nhân, còn tất cả các quy định cần phải được áp dụng được tập trung vào một văn bản chuyên ngành. Mặt khác cũng cần lưu ý rằng, thông thường Bộ Luật dân sự đòi hỏi phải có sự ổn định cao hơn, trong khi đó đối với những lĩnh vực quan hệ dân sự chuyên ngành cụ thể có khả năng biến đổi nhanh cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, việc tập trung các quy định dân sự cụ thể vào một văn bản chuyên ngành sẽ tạo điều kiện cho chúng ta dễ dàng hơn trong việc sửa đổi, bổ sung văn bản chuyên ngành, không phải đồng thời sửa đổi, bổ sung cùng một lúc cả Bộ Luật dân sự và đạo luật chuyên ngành liên quan. Đây cũng chính là một trong những vấn đề các cơ quan xây dựng pháp luật cần phải quan tâm nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật và cho cả chính mình.

2. Phương án xử lý mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ

Đối với nước ta, lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đều là những lĩnh vực tương đối mới. Tronh những lĩnh vực này có nhiều loại quan hệ xã hội phát sinh và đều đòi hỏi phải được điều chính về mặt pháp lý. Có thể chia các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực này thành một số loại chính sau đây: quan hệ dân sự, quan hệ hành chính, quan hệ hình sự, quan hệ tố tụng (bao gồm cả tố tụng hành chính, tố tụng dân sự và tố tụng hình sự). Với cách phân chia nêu trên, có thể nói hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật nước ta về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ bao gồm 04 nhóm chính như sau:

– Các quy phạm pháp luật dân sự;

– Các quy phạm pháp luật hành chính;

– Các quy phạm pháp luật hình sự;

– Các quy phạm pháp luật tố tụng. Hiện nay các quy phạm pháp luật dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ đều được xây dựng trên cơ sở Phần thứ sáu của Bộ Luật Dân sự (Chương I và Chương II về sở hữu trí tuệ, Chương III về chuyển giao công nghệ). Các quy phạm pháp luật hành chính về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp luật về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002). Các quy phạm pháp luật hình sự về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở Bộ Luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Các quy phạm pháp luật tố tụng về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính v.v… Để thi hành các bộ luật, luật và pháp lệnh nêu trên, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền khác đã ban hành một loạt văn bản dưới luật về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ hoặc có chứa đựng các quy định về/liên quan đến sở hữu trí tuệ, về/liên quan đến chuyển giao công nghệ. Như vậy, có thể nói hệ thống các văn bản pháp luật về/liên quan đến sở hữu trí tuệ khá đồ sộ ( khoảng hơn 40 văn bản) và về/liên quan đến chuyển giao công nghệ cũng không nhỏ , bao gồm các văn bản thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như văn bản pháp luật dân sự, văn bản pháp luật hành chính, văn bản pháp luật hình sự, văn bản pháp luật về tố tụng v.v..

Cũng như các lĩnh vực chuyên ngành khác, Bộ luật Dân sự là trụ cột của toàn bộ hệ thống các quy định của pháp luật dân sự về SHTT và về chuyển giao công nghệ, bất kể các quy định đó được ghi nhận ở đâu. Trên thực tế hiện nay các quy định dân sự chung nhất về SHTT và về chuyển gia công nghệ đều được ghi nhận trong Bộ Luật dân sự; một số quy định dân sự về/liên quan đến SHTT và về chuyển gia công nghệ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác; hầu hết các quy định còn lại, đặc biệt các quy định cụ thể về SHTT và về chuyển gia công nghệ được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp Bộ, ngành. Tuy nhiên, theo cách lập luận tại Mục 1 ở trên, dù hầu hết các quy định có tính chất dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ không được ghi nhận ở Bộ Luật Dân sự thì các quy định đó vẫn đương nhiên là bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam mà nòng cốt là Bộ Luật dân sự.

Như đã trình bày ở mục 01 nêu trên, chúng ta khẳng định lại rằng các quy định có tính chất dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ là bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật dân sự, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi quy định, đặc biệt các quy định cụ thể có tính chất đân sự chuyên sâu về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ đều phải đưa hết vào Bộ luật Dân sự. Khuôn khổ của Bộ luật dân sự hiện hành cũng không cho phép đưa hết các quy định cụ thể có tính chất đân sự chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ vào Bộ Luật Dân sự. Chúng ta rất cần các đạo luật chuyên ngành để có thể quy định thật đầy đủ, cụ thể và minh bạch về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ cả ở góc độ dân sự và phi dân sự nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề này đã được giải quyết vì Quốc hội đã có Nghị quyết cho phép xây dựng và trình thông qua hai đạo luật chuyên ngành này. Khi xây dựng hai đạo luật chuyên ngành về sở hứu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ song song với Bộ luật Dân sự thì đương nhiên chúng ta phải giải quyết vấn đề Bộ luật Dân sự có cần tiếp tục quy định về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ hay không, và nếu cần thì quy định đến mức nào. Hiện nay các chuyên gia đang còn có ý kiến khác nhau, nhưng được chia thành hai nhóm quan điểm với 02 phương án giải quyết mối quan hệ giữa hai đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ với Bộ Luật Dân sự như sau:

– Theo phương án thứ nhất, Bộ Luật dân sự chỉ nên giữ lại các quy định dân sự có tính chất chung nhất hay có tính nguyên tắc về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ và được phân tán vào các chỗ thích hợp của các chương mục từ phần I đến Phần V của Bộ Luật để bỏ hẳn các chương về quyền sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công nghệ ở Phần VI của Bộ luật vì các lý do sau đây:

+ Bộ luật dân sự (sửa đổi) là đạo luật gốc, quy định các nguyên tắc dân sự cơ bản áp dụng chung cho mọi quan hệ dân sự trong mọi lĩnh vực, chứ không nên có các quy định mang tính nguyên tắc đặc thùcủa từng lĩnh vực, đặc biệt là những lĩnh vực có luật chuyên ngành. Luật Sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ là hai đạo luật chuyên ngành, điều chỉnh các quan hệ dân sự và cả các quan hệ hành chính liên quan đến sở hữu trí tuệ và chuyển gia công nghệ, trong đó các quy định dân sự chuyên biệt cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển gia công nghệ đều phải dựa trên cơ sở và phù hợp với nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật dân sự. Vì Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ là hai đạo luật chuyên ngành độc lập, nên trong hai đạo luật này cũng phải có các quy định mang tính nguyên tắc, kể cả nguyên tắc về quan hệ dân sự của lĩnh vực này.

+ Nếu trong Bộ luật dân sự (sửa đổi) cũng có các chương, phần quy định về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, cho dù là quy định mang tính nguyên tắc của các lĩnh vực này thì sẽ tạo thêm một tầng nấc văn bản về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, gây phức tạp khi vận dụng và viện dẫn pháp luật, dễ tạo ra sự chồng chéo, khó tránh khỏi sự không thống nhất về nội dung và khi cần sửa đổi các quy định để đáp ứng yêu cầu phát triển rất nhanh chóng của thực tiễn cuộc sống thì phải sửa đổi, bổ sung đồng thời cả Bộ Luật dân sự lẫn hai đạo luật chuyên ngành này.

+ Trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) không cần một chương hay phần riêng quy định về quyền sở hữu trí tuệ cũng như một chương hay phần riêng về chuyển giao công nghệ vì bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc dân sự chung chỉ cần có một vài nguyên tắc về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ là đủ. Ví dụ đối với sở hữu trí tuệ chỉ cần một điều tại Phần thứ hai về tài sản và quyền sở hữu để khẳng định về nguyên tắc : quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, được Nhà nước công nhận và bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

+ Việc đưa các quy định về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ vào thành một phần riêng trong Bộ luật Dân sự còn tạo ra một sự khác biệt về cấu trúc của hệ thống quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ của nước ta so với hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ của các nước khác trên thế giới. Nừu chúng ta có sự tương thích với pháp luật các nước về hai vấn đề này thì thuận lợi hơn cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

– Theo phương án thứ hai, nên giữ nguyên các chương về quyền sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ ở Phần VI của Bộ Luật, nhưng lược giản tối đa, chỉ để lại một số ít điều quy định có tính chất nguyên tắc chung nhất về quan hệ dân sự trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng như trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ . Tất cả những vấn đề còn lại về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ sẽ được quy định trong các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ. Những người ủng hộ phương án 02 cho rằng, quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu cũng như chuyển giao công nghệ là các quyền dân sự cơ bản của tổ chức, cá nhân cho nên phải có vị trí xứng đáng trong Bộ Luật dân sự; giữ Phần thứ sáu về quyền sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, và chỉ để lại các quy định có tính nguyên tắc chung về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ một mặt thể hiện vai trò đạo luật gốc của Bộ luật dân sự, mặt khác để tránh phá vỡ cấu trúc vốn có của Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, những người ủng hộ ý kiến này cũng không xác định được thế nào là nguyên tắc chung về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ và Dự thảo Phần thứ sáu Bộ luật Dân sự sửa đổi (bản công bố để lấy ý kiến nhân dân) có quá nhiều quy định chi tiết, đặc biệt Chương Quyền tác giả hầu như vẫn bao gồm toàn bộ các quy định cụ thể của Bộ luật Dân sự hiện hành. Nếu so sánh lập luận của các chuyên gia bảo vệ 02 phương án nêu trên, chúng ta thấy cả 02 phương án đều đã có thực tiễn xử lý ngay trong Bộ Luật dân sự hiện hành. Ví dụ vấn đề hôn nhân và gia đình đã được xử lý theo phương án thứ nhất, vấn đề đất đai được xử lý theo phương án thứ hai.

Cả hai phương án đều nhất trí phải có những quy định nhất định về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ trong Bộ Luật dân sự, nhưng khác nhau về mức độ quy định và có thiết kế thành các chương, phần riêng hay không. Chúng ta có thể chọn phương án thứ hai với điều kiện không để chồng chéo và mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ Luật dân sự và đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ đạo luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên phương án này sẽ làm cho pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như về chuyển giao công nghệ có nhiều tầng nắc không cần thiết.

húng ta cũng có thể theo phương án thứ nhất với điều kiện các quy định chung về sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu được chỉnh sửa để bao quát được cả loại tài sản vô hình của các tổ chức, cá nhân là tài sản trí tuệ, bao quát cả vấn đề sở hữu và chuyển giao công nghệ. Đây là việc chúng ta hoàn toàn có thể làm được và sẽ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc áp dụng pháp luật về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, tránh được tình trạnh tản mạn, nhiều tầng nấc của pháp luật sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ. Tóm lại, tôi cho rằng phương án thứ nhất ưu việt hơn. Chúng ta nên ủng hộ phương án này.

 SOURCE: VCCI.COM.VN

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG

LẠI XUÂN THANH
Trưởng Ban Vận tải Hàng không, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam
Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Về mối quan hệ về chế định hợp đồng giữa Bộ Luật Dân sự và các luật chuyên ngành, một nguyên tắc xuyên suốt là Bộ Luật Dân sự là luật cơ bản, điều tiết mọi hợp đồng dân sự; các luật chuyên ngành khi quy định về hợp đồng không được trái với các nguyên tắc của Bộ Luật Dân sự. Mặt khác các hợp đồng dân sự thuộc các lĩnh vực kinh tế khác nhau thì có những đặc thù riêng biệt và được điều tiết bởi những chế định khác nhau trong Luật chuyên ngành, ví dụ cùng là hợp đồng vận chuyển hành khách nhưng hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không có những đặc thù riêng và được điều tiết bằng những chế định khác với hợp đồng vận chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên luật chuyên ngành không thể đưa ra toàn bộ những quy định điều tiết quan hệ hợp đồng dân sự thuộc lĩnh vực chuyên ngành mà không cần viện dẫn đến Bộ Luật Dân sự. Điều đó yêu cầu khi dự thảo Bộ Luật dân sự phải tính đến tất cả những đặc thù của các loại hợp đồng dân sự thuộc những lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Hợp đồng vận chuyển hành khách, hàng hoá là hợp đồng dân sự cơ bản nhất trong trong hoạt động HKDD, mang tính chuyên biệt cao. Ngoài các quy định của pháp luật trong nước, hệ thống công ước quốc tế liên quan đến vận chuyển hàng không quốc tế cho đến nay rất phức tạp, bao gồm hệ thống Công ước Vác-xa-va, Guadalajara (1929, 1955, 1971, 1975) và Công ước Montreal (1999). Công ước Montreal là một nỗ lực của thế giới nhằm thay thế hệ thống Công ước Vác-xa-va và Guadalaja bằng một Công ước thống nhất. Việt Nam tham gia Công ước Vác-xa-va 1929 và Nghị định thư Lahay 1955, đang xem xét việc gia nhập Công ước Montreal. Do những điều khoản của Công ước Montreal sửa đổi hệ thống Công ước Vác-xa-va phù hợp với sự phát triển của dịch vụ vận chuyển bằng đường hàng không và theo hướng đảm bảo cao hơn lợi ích của người sử dụng dịch vụ, hầu hết những điều khoản của Công ước Montreal hiện đang được chuyển hoá vào dự thảo Luật HKDDVN (sửa đổi).
Trong khuôn khổ tham luận này, tôi xin nêu một số vấn đề liên quan đến chế định hợp đồng vận chuyển trong dự thảo Bộ Luật Dân sự và Luật HKDD (Luật HKDDVN sửa đổi đang được Ban soạn thảo tổ chức hội thảo cũng trong ngày hôm nay để hoàn thiện trình Chính phủ vào tháng tới).
1. Quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển
Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển trong BLDS là những quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất trong mọi lại hình vận chuyển. Tuy nhiên đối với mỗi Luật chuyên ngành thì lại có thêm những quy định khác nhau đối với quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển, ví dụ nghĩa vụ chăm lo điều kiện sinh hoạt, đi lại của hành khách khi vận chuyển bị chậm hoặc gián đoạn, thông tin kịp thòi về chuyến bay cho hành khách, trả ngay một khoản tiền cho hành khách trong trường hợp có thiệt hại về sức khoẻ nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế tức thời, thực hiện các yêu cầu của người gửi hàng về định đoạt hàng hoá trong quá trình vận chuyển hoặc sau khi hàng đến nơi đến, thông báo ngay cho người có quyền nhận hàng khi hàng đến nơi đến; quyền của người vận chuyển từ chối vận chuyển vì lý do an ninh, vì hàng hoá không được đóng gói, dán nhãn đúng quy cách …vv. Mặt khác các quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển còn được thể hiện trong Điều lệ vận chuyển của mỗi hãng hàng không mà theo quy định của Luật HKDD phải được trình cho Nhà chức trách hàng không phê duyệt. Do vậy điều khoản “Các quyền (hoặc nhĩa vụ) khác theo quy định của pháp luật” cần phải được đưa vào các Điều về quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển.
2. Quyền và nghĩa vụ của người thuê vận chuyển
Quyền và nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển bằng đường hàng không cũng được quy định chi tiết trong Luật HKDD, như miễn giảm cước đối với trẻ em, nghĩa vụ của hành khách rời khỏi tầu bay sau khi kết thúc vận chuyển, nghĩa vụ của người gửi hàng đối với các thông tin và tuyên bố liên quan đến hàng hoá được ghi ở chứng từ vận chuyển, đặc biệt là quyền định đoạt hàng hoá của người gửi hàng trong quá trình vận chuyển hoặc sau khi hàng đến nơi đến …vv. Do vậy điều khoản “Các quyền (hoặc nhĩa vụ) khác theo quy định của pháp luật” cần phải được đưa vào các Điều về quyền và nghĩa vụ của người thuê vận chuyển.
3. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự
Dự thảo BLHS quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết các tranh chấp hợp đồng dân sự là ba năm. Đối với vận chuyển bằng đường hàng không, thời hiệu khởi kiện về bồi thường thiệt hại là 2 năm. Như vậy ngoài quy định cụ thể 3 năm, BLDS cần quy định để áp dụng các thời hiệu khởi kiện khác nhau theo quy định của luật chuyên ngành.
4. Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự
BLDS quy định địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác. Đối với hợp đồng vận chuyển, thông thường hành khách luôn là người đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, trong khi đó hầu như không có một sự thoả thuận riêng biệt nào giữa hành khách và người vận chuyển và về địa điểm giao kết hợp đồng. Nếu quy định địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của hành khách thì không thực tế và rất phức tạp khi giải quyết tranh chấp vì nơi cư trú của hành khách và nơi mua vé rất xa nhau. Do vậy về nguyên tắc địa điểm giao kết hợp đồng trước hết phải là nơi giao kết hợp đồng, sau đó mới đến các tiêu chí khác.
5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Đây là vấn đề phức tạp nhất của chế định hợp đồng vận chuyển. Luật HKDD cũng như các công ước quốc tế về vận chuyển hàng không quy định rất chi tiết về vấn đề này. Một số vấn đề sau đây cần được nghiên cứu, quy định trong BLDS để làm căn cứ cho việc quy định trong các luật chuyên ngành, căn cứ xác định trách nhiệm và giải quyết các tranh chấp:
Việc xác định thời điểm nếu xẩy ra tai nạn hoặc sự cố gây thiệt hại thì người vận chuyển phải chịu trách nhiệm bồi thường, nói cách khác là việc xác định quá trình vận chuyển mà người vận chuyển phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại gây ra do sự cố xẩy ra trong quá trình đó. Đối với vận chuyển hàng hoá và hành lý ký gửi, quá trình này đơn giản và dễ xác định thống nhất là quá trình từ thời điểm giao hàng cho đến thời điểm nhận hàng, tức là quá trình mà người vận chuyển có trách nhiệm bảo quản hàng hoá, hành lý. Đối với vận chuyển hành khách thì việc xác định rất phức tạp và đa dạng. Hệ thống Công ước Vác-sa-va và Công ước Montreal quy định theo hướng xác định các thời điểm mà người vận chuyển có trách nhiệm đối với hành khách (khi hành khách trên tầu bay, trong thời gian thực hiện đưa khách lên tầu bay và xuống tầu bay), tuy nhiên thực tiễn xét xử trên thế giới rất khác nhau. Trong khi đó Luật HKDDVN hiện hành lại quy định bằng vị trí địa lý cụ thể của hành khách (từ thời điểm hành khách vào đường ống để lên tầu bay hoặc ra sân đỗ tầu bay cho đến lúc rời đường ống hoặc sân đỗ). Trong Dự thảo Luật HKDDVN sửa đổi hiện đang có 2 phương án được đưa ra để thảo luận (theo Luật hiện hành và chuyển hoá từ Công ước Montreal). Như vậy vấn đề này cần được quy định thành nguyên tắc trong BLDS để được cụ thể hoá trong các luật chuyên ngành đối với các loại hình vận chuyển khác nhau.
Các loại thiệt hại. Việc quy định nguyên tắc xác định thiệt hại trong BLDS là rất quan trọng vì luật chuyên ngành cũng như Công ước quốc tế đều không quy định cụ thể vấn đề này, mà viện dẫn đến luật dân sự của mỗi quốc gia. BLDS hiện hành và Dự thảo đều quy định có hai loại trách nhiệm bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần. Theo tôi việc phân chia là phân chia loại thiệt hại phải bồi thường, bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần, chứ không phải là phân chia loại trách nhiệm.
Về thiệt hại vật chất, BLDS đã có những nguyên tắc xác định, nhưng lại khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (khoản 1 Điều 283) và ngoài hợp đồng (Mục 2 Chương V Phần Ba). Theo tôi dù trách nhiệm bồi thường phát sinh từ các căn cứ khác nhau nhưng việc xác định thiệt hại phải là như nhau, như vậy các quy định của Mục 2 Chương V Phần Ba cũng được áp dụng đối với việc xác định thiệt hại phải bồi thường phát sinh từ hợp đồng.
Thiệt hại về tinh thần, BLDS không quy định nguyên tắc xác định thiệt hại về tinh thần. BLDS có quy định người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hai, nhưng tổn thất đó là gì, được xác định ra sao thì chưa được quy định.
Bồi thường do vận chuyển chậm. Đối với vận chuyển hàng không, có ba loại trách nhiệm bồi thường thiệt hai: hàng hoá, hành lý bị mất hoặc hư hỏng; tính mạng, sức khoẻ hành khách bị vi phạm; vận chuyển chậm. Trong BLDS chỉ quy định hai loại trách nhiệm đầu, không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vận chuyển chậm. Như vậy cần nghiên cứ đưa điều khoản nguyên tắc về vấn đề này vào BLDS để làm cơ sở cho luật chuyên ngành, tránh xung đột.
Các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại. BLDS quy định về các trường hợp người vận chuyển được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa thoả đáng. Trong vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, ngoài quy định do lỗi của hành khách như trong BLDS, người vận chuyển còn được miễn trong trường hợp thiệt hại hoàn toàn do tình trạng sức khoẻ của hành khách gây ra. Trong vận chuyển hàng hoá, hành lý ký gửi, ngoài trường hợp bất khả kháng như trong BLDS, Luật HKDD còn quy định các trường hợp được miễn khác: do đặc tính tự nhiên hoặc khuyết tật của hàng, do lỗi của người gửi hàng về đóng gói. Những quy định này theo tôi là hợp lý đối với tất cả các loại hình vận chuyển. Như vậy BLDS cần bổ sung quy định cụ thể để tránh xung đột, hoặc bổ sung quy định “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.
Giới hạn trách nhiệm dân sự của người vận chuyển: Đây là quy định có ở tất cả các luật chuyên ngành về vận tải, tuy nhiên chưa thấy đề cập trong BLDS.

SOURCE: VCCI.COM.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ (DỰ THẢO SỬA ĐỔI) VÀ LUẬT THƯƠNG MẠI (DỰ THẢO SỬA ĐỔI)

TS. LÊ HOÀNG OANH – Vụ Pháp chế – Bộ Thương mại

1. Sự thống nhất giữa chế định hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) và Dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi)
BLDS được xây dựng là “đạo luật gốc” điều chỉnh các vấn đề liên quan đến “luật tư”, theo đó các luật chuyên ngành đưa các quy định đặc thù của mình phù hợp với các nguyên tắc chung của BLDS.
Nhìn chung, chế định hợp đồng trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã thể hiện được vai trò là tư tưởng chỉ đạo cho các quy định về hợp đồng trong dự thảo LTM (sửa đổi). Tuy nhiên, có thể đơn cử một số điểm chưa hoàn toàn thống nhất giữa các quy định trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) và Dự thảo LTM (sửa đổi) về chế định hợp đồng như sau:
Thứ nhất, về hình thức của hợp đồng mua bán tài sản/hàng hoá
Các quy định về hình thức của hợp đồng trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) không thống nhất với nhau và không thống nhất với các quy định trong Dự thảo LTM (sửa đổi).
Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã đưa ra 2 nhóm quy định liên quan đến hình thức giao dịch dân sự.
Nhóm quy định thứ nhất coi thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử (thuật ngữ chung gọi là thông điệp dữ liệu) là văn bản. Nhóm quy định này thể hiện tại Khoản 1 Điều 115 Dự thảo BLDS (sửa đổi):
Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Các giao dịch dân sự thông qua các hình thức điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là giao dịch bằng văn bản.
Nhóm quy định thứ hai coi thông điệp dữ liệu là một hình thức độc lập với văn bản. Nhóm quy định này được thể hiện tại Điểm c Khoản 2 Điều 373 và Khoản 1 Điều 384 Dự thảo BLDS (sửa đổi):
Theo Điểm c Khoản 2 Điều 373 Dự thảo BLDS (sửa đổi), hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng phát sinh khi đề nghị ở dạng thông điệp dữ liệu “được đưa vào hệ thống thông tin của bên được đề nghị”.
Khoản 1 Điều 384 Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định:
Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể hoặc thông điệp dữ liệu, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
Tương tự như vậy, Dự thảo LTM (sửa đổi) đưa ra quy định về hình thức của hợp đồng không thống nhất với nhau và không thống nhất với Dự thảo BLDS (sửa đổi).
Khoản 1 Điều 27 Dự thảo LTM (sửa đổi) không coi thông điệp dữ liệu là hình thức của hợp đồng:
Hợp đồng mua bán hàng hoá được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Tuy nhiên, Điều 15 Dự thảo LTM (sửa đổi) lại thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu tương đương như văn bản.
Như vậy, cần có sự thống nhất giữa các quy định về hình thức của hợp đồng trong các quy định của Dự thảo BLDS (sửa đổi) và Dự thảo LTM (sửa đổi), theo hướng “thông điệp dữ liệu” phải được coi là một hình thức giao dịch độc lập (ngoài các hình thức giao dịch bằng lời nói, bằng văn bản và bằng hành vi cụ thể). Một thông điệp dữ liệu được mã hoá và truyền gửi trên Internet sẽ bị chia nhỏ thành từng gói dữ liệu và không mang tính chất của một văn bản (các dữ liệu thông tin được sắp xếp không theo một hệ thống nhất định và không cho phép đọc hiểu được nội dung). Việc thừa nhận hình thức giao dịch này độc lập với các hình thức giao dịch khác là phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế đồng thời phù hợp với Dự thảo Luật Giao dịch điện tử đang được soạn thảo.
Liên quan đến quy định coi thông điệp dữ liệu là một hình thức giao dịch độc lập với các hình thức giao dịch khác, Dự thảo BLDS (sửa đổi) cần bổ sung các quy định có liên quan như: giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; địa điểm giao kết của hợp đồng dân sự (Điều 386)…
Có thể nói quy định về hình thức của hợp đồng trong BLDS (sửa đổi) rất có ý nghĩa trong thực tiễn, đặc biệt là việc áp dụng các quy định đối với hợp đồng vô hiệu khi không tuân thủ các quy định về hình thức của hợp đồng.
Thứ hai, thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản/hàng hoá
Thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản/hàng hoá được quy định không thống nhất trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) và Dự thảo LTM (sửa đổi)
Khoản 1 Điều 420 Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định:
“Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Điều 65 Dự thảo LTM (sửa đổi) quy định, về cơ bản có hai thời điểm chuyển quyền sở hữu, hoặc là “kể từ thời điểm bên mua nhận được hàng hoá” hoặc là “kể từ thời điểm bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá hợp pháp”.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản được thực hiện không chỉ thông qua việc giao tài sản/ hàng hoá mà còn được thực hiện thông qua việc chuyển giao chứng từ sở hữu tài sản/ hàng hoá hợp pháp, do vậy, thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản/ hàng hoá từ bên bán sang bên mua thông qua việc chuyển giao chứng từ sở hữu hợp pháp không phải là trường hợp đặc thù, cụ thể đối với các giao dịch thương mại, mà còn xảy ra khá phổ biến đối với các giao dịch mua bán tài sản trong dân sự. Ví dụ như việc mua bán nhà là một minh chứng điển hình, các bên có thể mua bán nhà trên sơ đồ địa chính và chuyển giao quyền sở hữu thông qua các giấy tờ sở hữu hợp pháp của bên bán.
Do vậy, đề nghị chỉnh sửa, bổ sung quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trong BLDS, kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao hoặc kể từ thời điểm bên mua nhận được chứng từ sở hữu tài sản hợp pháp (như quy định trong Dự thảo LTM (sửa đổi))
2. Quán triệt mối quan hệ hữu cơ giữa nguyên tắc chủ đạo của BLDS (sửa đổi) so với những quy định đặc thù của Luật chuyên ngành (LTM sửa đổi)
Nhìn chung, chế định hợp đồng trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) được xây dựng mang tính nguyên tắc cho các giao dịch thương mại trong LTM (sửa đổi). Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng những quy định của Dự thảo BLDS (sửa đổi) về chế định hợp đồng thì một thực tế có thể xảy ra là, trong nhiều trường hợp các chủ thể kinh doanh trên thị trường không đủ cơ sở pháp lý để tiến hành các giao dịch của mình, đồng thời sẽ phát sinh những vấn đề trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
Cũng cần nhận thức rằng, chế định hợp đồng phải được coi là một trong những chế định“xương sống” của LTM. Do vậy, việc tăng hàm lượng quy định về chế định hợp đồng là rất cần thiết, thể hiện tính đặc thù của các giao dịch thương mại so với các giao dịch dân sự
Xin đơn cử 2 ví dụ sau đây sẽ giúp cho chúng ta thấy rằng, không phải mọi trường hợp có thể áp dụng những nguyên tắc chung về chế định hợp đồng trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) để giải quyết mọi mối quan hệ trong các giao dịch thương mại; đồng thời bên cạnh các quy định của BLDS, LTM cần phải thể hiện vai trò là đạo luật chuyên ngành trong các quy định về thương mại.
Thứ nhất, về nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá
Dự thảo LTM (sửa đổi) không đưa ra quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng, với ngụ ý rằng, các nội dung chủ yếu này sẽ do các bên thoả thuận, nhằm tránh trường hợp áp dụng tuỳ tiện hợp đồng vô hiệu do không thoả mãn các quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng như LTM 1997.
Một thực tế có thể nảy sinh trong giao dịch mua bán hàng hoá khi bên mua và bên bán tiến hành việc xác lập giao dịch mua bán hàng hoá (chào hàng, chấp nhận chào hàng). Trong trường hợp này đương nhiên phải là vận dụng các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS (sửa đổi) vì LTM (sửa đổi) không có quy định. Theo Khoản 2 Điều 372 Dự thảo BLDS (sửa đổi), “đề nghị giao kết hợp đồng được coi là thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng, nếu bên đề nghị nêu rõ một số nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời”, trong khi đó nội dung chủ yếu của hợp đồng được căn cứ theo Khoản 2 Điều 385 BLDS, bao gồm:
– Đối tượng của hợp đồng;
– Số lượng, chất lượng;
– Giá, phương thức thanh toán;
– Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
– Quyền, nghĩa vụ của các bên;
– Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Như vậy, trong trường hợp này các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá (trong LTM sửa đổi) phải áp dụng các quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng trong BLDS (sửa đổi) và việc áp dụng này không phù hợp với thực tế của các giao dịch mua bán hàng hoá cũng như pháp luật và tập quán thương mại quốc tế. Do vậy, việc bổ sung quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng trong Dự thảo LTM (sửa đổi) là rất cần thiết, theo đó cần sửa đổi quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng trong LTM 1997, tập trung vào ba điều khoản: đối tượng, số lượng và giá cả trong giao kết hợp đồng. Đây được xem là những điều khoản quan trọng nhất, là cốt lõi của hợp đồng mua bán hàng hoá theo pháp luật và tập quán thương mại quốc tế. Chẳng hạn như pháp luật thương mại của Pháp, Bỉ, đối tượng và giá cả là những điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá; pháp luật thương mại của Anh, Mỹ lại không coi điều khoản giá cả là điều khoản chủ yếu, việc định giá có thể được dựa trên nguyên tắc “giá thích hợp” (Điều 8 Luật Bán hàng của Anh 1979; Điều 2-305 BLTM của Mỹ). Đối với pháp luật một số nước khác và Công ước Viên 1980, bên cạnh các điều khoản về đối tượng và giá cả, điều khoản về số lượng hàng hoá cũng được coi là điều khoản chủ yếu, điều khoản bắt buộc của hợp đồng mua bán hàng hoá, ngoài ra các bên có thể thoả thuận và ghi vào hợp đồng các điều khoản khác.
Việc quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá mang tính thực tiễn trong các giao dịch thương mại có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng các giao dịch mua bán hàng hoá mà còn hạn chế các tranh chấp có thể nảy sinh cũng như tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan giải quyết tranh chấp áp dụng pháp luật.
Thứ hai, việc xác lập giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
Đây cũng là một nội dung rất quan trọng trong các giao dịch mua bán hàng hoá, song không được quy định trong Dự thảo LTM (sửa đổi) mà được áp dụng chung trong BLDS (sửa đổi). Việc giao kết hợp đồng dân sự được quy định chủ yếu từ Điều 372 đến Điều 380 Dự thảo BLDS (sửa đổi). Có thể nói những quy định này không phải trong mọi trường hợp đều có thể thoả mãn việc xác lập giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong LTM (sửa đổi). Bởi lẽ Dự thảo BLDS (sửa đổi) chỉ đưa ra các quy định đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng… một cách thuần tuý trong các giao dịch dân sự. Việc xác lập giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại được thể hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, không chỉ là chào bán hàng và chào mua hàng (như LTM 1997) mà còn được thể hiện ở các hình thức như chào hàng cố định, chào hàng tự do… với nội dung và giá trị pháp lý khác nhau.
Ví dụ như, trong chào hàng tự do, các điều khoản chủ yếu của hợp đồng không bắt buộc bên chào hàng phải quy định đầy đủ, cụ thể và không ràng buộc trách nhiệm pháp lý của người chào hàng. Đối với chào hàng cố định, đơn chào hàng phải có đủ các điều kiện chủ yếu của hợp đồng và có tính ràng buộc trách nhiệm pháp lý của người chào hàng trong một khoảng thời gian nhất định theo đơn chào hàng hoặc theo quy định của pháp luật từng nước (Điều 14, Điều 16 Công ước Viên 1980)… Hơn nữa, bản thân quy định về chấp nhận đơn chào hàng (chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong Dự thảo BLDS) được quy định rất linh hoạt trong hoạt động thương mại.
Ngoài các nội dung nêu trên, nhiều quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá nói riêng, hợp đồng thương mại nói chung cần phải bổ sung trong Dự thảo LTM (sửa đổi) để đảm bảo tính khả thi và đi vào cuộc sống. Việc bổ sung các quy định quá chi tiết về hợp đồng thương mại trong BLDS (sửa đổi) là không cần thiết và không phù hợp với nguyên tắc là đạo luật chung cho các luật chuyên ngành.

SOURCE: VCCI.COM.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG

PHẠM TUẤN ANH – TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Đã từ lâu, hợp đồng là một hình thức thiết lập quan hệ trong đời sống xã hội. Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của Hợp đồng đã chứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá và tiền tệ; và vai trò, vị trí của chế định Hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Khi nền kinh tế càng phát triển, xã hội văn minh thì việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ Hợp đồng càng cần thiết, càng được coi trọng và hoàn thiện.
Ở nước ta, việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ Hợp đồng đã được áp dụng từ lâu, song nó chỉ được hoàn thiện hơn và phát triển mạnh khi nước ta bước vào công cuộc đổi mới với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ tính từ năm 1999 đến nay nhiều Bộ luật, Luật, Pháp lệnh của Quốc hội ban hành đã và đang điều chỉnh các quan hệ Hợp đồng như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 1996, Luật Thương mại 1998… Tuy nhiên, do có những hạn chế về mặt khách quan, chủ quan mà những văn bản pháp luật về quan hệ Hợp đồng chưa thực sự mang tính “chuẩn mực” để điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân… trong đời sống xã hội.
Bộ luật Dân sự được ban hành năm 1996. Đây là một Bộ luật cơ bản được xây dựng trên cơ sở khung pháp luật kinh tế thị trường ở nước ta và tiến độ lập pháp tương đối tiến bộ. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự vẫn chưa thể hiện hết “tầm cỡ” là đạo luật chủ yếu chi phối tất cả các quan hệ Hợp đồng.
– Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (được ban hành ngày 25/09/1989), đây là văn bản pháp luật đã điều chỉnh quan hệ kinh tế một cách chung nhất trong bối cảnh những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Ngoài những thành công của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế trong việc quản lý kinh doanh, góp phần tăng cường pháp luật trong lĩnh vực kinh tế bước đầu tạo đà cho việc sản xuất kinh doanh theo pháp luật trong cơ chế kinh tế mới thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày càng tỏ ra không còn phù hợp với thực tiễn sôi động của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, cũng đã có nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại, sửa đổi hay huỷ bỏ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế hoặc đưa những chế định Hợp đồng trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế vào Bộ luật Dân sự.
– Luật Thương mại được ban hành ngày 10/08/1997, có hiệu lực từ ngày 01/01/1998. Đây là pháp luật điều chỉnh mối quan hệ trong hoạt động thương mại có tác động lớn đến môi trường pháp lý kinh doanh hiện nay. Tuy nhiên, sau hơn 07 năm có hiệu lực áp dụng cũng đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và thiếu đồng bộ (không nói là có những điều mâu thuẫn) so với những đạo luật khác như Bộ luật Dân sự,…
Việc sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta là một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng và Nhà nước. Nó cũng nằm trong mục tiêu là cải cách tư pháp nà Đại hội Đảng lần thứ VIII đặt ra. Việc chúng ta tập trung góp ý sửa đổi Bộ luật Dân sự để nó xứng đáng vị trí, tầm vóc của nó trong hệ thống pháp luật nói chung này như để nó trở thành một đạo luật “mẫu” trong việc điều chỉnh các quan hệ Hợp đồng hiện nay là một việc làm cần thiết.
Với phạm vi bài viết này, chúng tôi cũng chỉ đề cập đến một khía cạnh trong Bộ luật Dân sự đó là chế định Hợp đồng và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
I. MỘT SỐ DẤU HIỆU PHÁP LÝ ĐỂ PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG
Như chúng ta đã biết, trong quá trình hoạt động của các chủ thể (cá nhân, pháp nhân… ) thường xuyên có tham gia quan hệ với nhau về sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hoá, cung ứng dịch vụ… Hình thức pháp lý của các quan hệ đó chính là Hợp đồng.
Có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại Hợp đồng như:
– Căn cứ vào cơ cấu chủ thể của Hợp đồng
– Mục đích của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ cụ thể
– Hình thức thể hiện sự thoả thuận của các chủ thể.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy ba căn cứ pháp lý trên là ba điều kiện cơ bản để phân định giữa các loại Hợp đồng kinh tế hay Hợp đồng dân sự, Hợp đồng thương mại,…
Về căn cứ chủ thể, chúng tôi thấy rằng chủ thể trong Hợp đồng dân sự có thể là cá nhân, có thể là pháp nhân.
– Trong Hợp đồng kinh tế chủ thể pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh. Trong quan hệ Hợp đồng kinh tế thì bắt buộc một bên là pháp nhân, như vậy phạm vi chủ thể của Hợp đồng kinh tế là rất hẹp.
– Chủ thể trong Hợp đồng thương mại là thương nhân ở đây được hiểu là cá nhân, là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình… có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật, thường xuyên hoạt động kinh doanh thương mại.
Như vậy, có thể thấy rằng về chế định chủ thể trong Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và Luật Thương mại …. thì Bộ luật Dân sự quy định rộng hơn so với Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng Thương mại.
– Về mục đích Hợp đồng:
 Hợp đồng dân sự ký kết nhằm mục đích tiêu dùng.
 Hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm mục đích kinh doanh.
 Hợp đồng thương mại được ký kết có thể là nhằm mục đích kinh doanh và cũng có thể nhằm mục đích tiêu dùng.
– Về hình thức của Hợp đồng
 Hợp đồng dân sự có thể giao kết bằng văn bản, có thể giao kết bằng lời nói.
 Hợp đồng kinh tế được giao kết bằng văn bản.
 Hợp đồng thương mại: Hình thức Hợp đồng có thể bằng văn bản, ngoài ra còn giao dịch bằng điện báo, telex, fax…
Một số nhận xét:
1. Việc phân biệt Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng dân sự… có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay trong việc lựa chọn luật để điều chỉnh quan hệ Hợp đồng và xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng.
Tuy nhiên, khi phân tích những dấu hiệu pháp lý cơ bản nêu trên của Hợp đồng vẫn còn những vướng mắc nhất định như:
– Việc các định chủ thể là pháp nhân: Tất nhiên việc xác định pháp nhân phải căn cứ vào các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, cần phải xác định pháp nhân kinh tế và pháp nhân thuộc dạng hành chính sự nghiệp.
Hiện nay, còn có một số dạng pháp nhân như các trường học dân lập, một số đơn vị thuộc pháp nhân hành chính nhưng hoạt động kinh doanh có thu có thể xem những đơn vị này là chủ thể (pháp nhân) có hoạt động kinh doanh hay không.
– Việc xác định mục đích của Hợp đồng trong một số trường hợp xác định chủ thể tham gia ký kết Hợp đồng nhằm mục đích gì cũng khó xác định như trong trường hợp cá nhân có đăng ký kinh doanh ký Hợp đồng kinh tế thì rất khó phân định họ nhằm mục đích kinh doanh hay tiêu dùng hoặc một pháp nhân mua điện thoại di động để giám đốc sử dụng trong hoạt động kinh doanh.
– Về hình thức Hợp đồng: Việc xác định hình thức của Hợp đồng có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, do có sự phân định khác nhau trong dấu hiệu pháp lý này của các dạng Hợp đồng (Dân sự, Kinh tế…) nên nhiều khi Toà án cũng xác định chưa chuẩn xác về quan hệ Hợp đồng tranh chấp như: Trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm (người mua là pháp nhân chủ nộp tiền, cơ quan bảo hiểm cấp giấy chứng nhận, hay hai chủ thể kinh doanh giao kết Hợp đồng trên máy điện thoại…).
2. Về Hợp đồng vô hiệu và đường lối xử lý Hợp đồng vô hiệu:
Hợp đồng vô hiệu, về nguyên tắc không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết từ thời điểm ký kết. Việc xác định kết luận và xử lý Hợp đồng vô hiệu thuộc thẩm quyền của Toà án, song hiện nay Chế định Hợp đồng vô hiệu chỉ được đề cập trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và Bộ luật Dân sự. Trong khi đó đường lối xử lý Hợp đồng vô hiệu của hai văn bản pháp luật lại có điểm khác xa nhau, dẫn đến đường lối giải quyết cũng khác nhau.
3. Vấn đề áp dụng pháp luật:
Trong khi pháp luật của chúng ta chưa hoàn thiện và đồng bộ, thậm chí có sự chồng chéo lên nhau thì việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp trong quan hệ Hợp đồng rất phức tạp. Người Thẩm phán phải lựa chọn luật áp dụng phù hợp với quan hệ Hợp đồng tranh chấp. Ví dụ như trong quan hệ mua bán hàng hoá (trao đổi thương mại) giữa một thương nhân với một cá nhân, tất nhiên chiếu theo các dấu hiệu pháp lý nêu trên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà Dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử thì các Thẩm phán giải quyết tranh chấp dân sự hầu như không áp dụng Luật thương mại để giải quyết. Hoặc trong trường hợp hai pháp nhân ký kết Hợp đồng cho thuê tài sản, địa điểm… thì phải áp dụng những quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết.
II. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
1. Cần xây dựng Bộ luật Dân sự nói chung và phần Hợp đồng nói riêng trong Bộ luật Dân sự với những quy định “chuẩn mực” mang tính chất mẫu để điều chỉnh các quan hệ pháp luật về Hợp đồng nói chung.
Các quan hệ Hợp đồng khác (Hợp đồng thông dụng, Hợp đồng chuyên biệt…) phải được xây dựng trên cơ sở những quy định mẫu của Hợp đồng Dân sự.
2. Cần xây dựng hệ thống pháp luật dân sự nói chung và hệ thống pháp luật kinh tế (kinh doanh, xây dựng, bảo hiểm…) một cách đồng bộ, tiến tới huỷ bỏ những văn bản pháp luật đã lỗi thời, không còn phù hợp với thực tiễn.
Như đã nêu ở phần trên, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ban hành năm 1989 trong bối cảnh nhận thức và tư duy pháp lý chưa thực sự thoát khỏi điều kiện về tư duy kinh tế kế hoạch hoá, chưa dự liệu được những vấn đề phát sinh từ giao dịch trong khung cảnh của nền kinh tế thị trường. Vị thế, so với điều kiện hiện nay Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế bộc lộ nhiều quy định lạc hậu cùng nhân tố với những quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại.
Việc huỷ bỏ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế sẽ không tạo ra lỗ hổng trong pháp luật kinh tế vì ngoài Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại còn có những quy định về Hợp đồng trong các văn bản pháp luật khác cũng có thể được áp dụng để điều chỉnh.
SOURCE: VCCI.COM.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CÁC CHẾ ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI) VÀ DỰ THẢO LUẬT THƯƠNG MẠI (SỬA ĐỔI)

TS. NGUYỄN MINH CHÍ – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

I. Về giao kết hợp đồng dân sự
1. Đề nghị giao kết hợp đồng
Khoản 3, Điều 372: “Trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời, bên đề nghị giao kết hợp đồng không được mời người thứ ba giao kết và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.”
Quy định như thế này là quá chặt và không phù hợp với thực tế. Cần qui định 2 loại đề nghị: tự do (free offer) và cố định (firm offer) như Luật Dân sự và Luật Thương mại các nước thường qui định.
Cần lưu ý tới các hành vi rao vặt, mua, bán phổ biến trong đời sống thực tế hiện nay.
Mục b, khoản 1, Điều 374:
Trường hợp thay đổi, rút lại đề nghị: “… bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.”
Đây không phải là thay đổi, rút lại đề nghị mà đúng hơn là “đề nghị hết hiệu lực” khi phát sinh những điều kiện mà bên đề nghị đưa ra trong đề nghị.
Điều 376: “Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng” nên sửa lại cho chính xác là “chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng.”
Khoản 5 Điều này cần thay cụm từ “trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời” bằng “trong thời hạn hiệu lực của đề nghị” vì khái niệm chờ vừa mơ hồ, vừa không luật.
Khoản 1, Điều 379. Thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng. Quy định này không rõ ràng và dễ gây ra tranh chấp cũng như khó cho toà án trong việc xét xử. ấn định thời hạn trả lời là rất cần thiết và quan trọng, nhưng cái mốc dể xác định có đúng thời hạn hay không lại chưa qui định: tại thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận hay thời điểm bên được đề nghị trả lời chấp nhận? Nhưng đoạn kế tiếp lại nêu “nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời, thì lời chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời”, nên những chấp nhận được gửi trong thời hạn trả lời nhưng lại đến sau khi thời hạn này chấm dứt thì lại không có cách xử lý, dễ gây tranh cãi.
Bởi vậy, khoản 1, Điều 379 này cần được qui định đầy đủ, chi tiết hơn bằng những tiêu chí cụ thể về thời điểm nhận hoặc gửi chấp nhận. Vấn đề này liên quan tới điều 380, 383.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng dân sự
Khoản 1, Điều 385
“Nội dung chủ yếu của hợp đồng do pháp luật qui định; nếu pháp luật không qui định thì theo thoả thuận của các bên”
Quy định thế này tuy không sai nhưng bất ổn, bởi lẽ:
– Hợp đồng là sự thoả thuận của các bên trong đó hàm chứa tất cả các nội dung, kể cả các nội dung chủ yếu;
– Mỗi loại hợp đồng có đặc tính riêng của nó nên cần để các bên tự quyết định và thoả thuận với nhau;
– Đối với một số loại hợp đồng nhất định, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, Nhà nước mới qui định những nội dung chủ yếu mà hợp đồng phải có. Bởi vậy, đoạn này nên sửa là “Nội dung chủ yếu của hợp đồng do các bên thoả thuận trừ một số loại hợp đồng do pháp luật qui định”.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng
Khoản 2, Điều 387: “Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.”
Quy định này không mang tính thực tế vì hiếm khi các bên có thoả thuận “im lặng là đồng ý” trước khi họ gửi cho nhau “đề nghị” và “chấp nhận đề nghị”.
4. Hợp đồng theo mẫu
Điều 390. Không nên qui định như khoản 2, 3 của Dự thảo, đành rằng mục đích của nó là đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các bên. Việc xác định “tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia” là một việc làm dễ gây tranh chấp và làm khó cho toà án.
Đã là hợp đồng thì đó là sự thoả thuận giữa các bên, dù là hợp đồng mẫu. Chúng ta chỉ loại trừ những điều khoản mang tính ép buộc, bất bình đẳng măng tính hiển nhiên và pháp luật ngăn cấm, còn chuyện bất lợi hoặc tăng trách nhiệm, pháp luật không nên can thiệp.
Thế giới người ta thường xử lý như thế này: Hợp đồng mẫu hoàn toàn không bất biến; các bên có thể thương lượng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ một hoặc một số điều khoản trong hợp đồng mẫu này. Luật về B/L là một thí dụ điển hình.
Khoản 2, Điều 392. “Khi một hoặp đồng có thể hiểu theo nhiều nghĩa, thì phải chọn nghĩa nào làm cho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên.”
Quy định này không đúng ở hai phương diện:
– Chọn nghĩa là chọn theo ý chí thực của các bên và theo bản chất của vấn đề;
– Khi một tranh chấp xảy ra, khó (không thì đúng hơn) có chuyện “khi thực hiện có lợi nhất cho các bên”.
Bởi vậy, hãy giành cho toà án quyền giải thích và quyết định theo bản chất của vụ việc và ý chí thực của các bên khi ký hợp đồng.
Khoản 3, Điều 393. “Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.”
Nên xem xét lại mấy vấn đề sau:
– Hợp đồng phụ với phụ lục hợp đồng có gì khác nhau không?
– Thường thì các bên đều thoả thuận rằng phụ lục hợp đồng là bộ phận bổ sung và không tách rời của hợp đồng;
– Phụ lục hợp đồng chỉ giải quyết một hoặc một số vấn đề nhất định nên sự vô hiệu của phụ lục chỉ làm vô hiệu những vấn đề mà nó đề cập tới. Tuy nhiên, trong thực tiễn thương mại (nhất là thương mại quốc tế) vẫn có thể có trường hợp phụ lục đề cập tới vấn đề cốt lõi của hợp đồng mà nếu không được thực hiện, hợp đồng coi như không còn giá trị (như thời hạn giao hàng theo thời vụ; chỉ giao hàng đựoc khi không có chiến tranh hoặc biến động chính trị).
Đề nghị: “Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ thay thế hợp đồng chính.”
II. Về thực hiện hợp đồng dân sự
1. Điều 397 – Thực hiện hợp đồng song vụ “Không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy định tại điều 399 của Bộ luật này”.
Quy định như vậy dễ dẫn đến các bên cho rằng đây là một nguyên tắc cứng nhắc mà trên thực tế có rất nhiều trường hợp một bên không thể thực hiện hợp đồng hoặc phải hoãn việc thực hiện này nếu việc thực hiện của bên kia là tiền đề cho các hành vi của bên phải thực hiện nghĩa vụ. Bởi vậy, nên bỏ đoạn “không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình”.
Điều 399 chỉ qui định “do lỗi của bên kia” thì chưa đầy đủ bởi vì cần phải xác định là lỗi của bên kia phải là nguyên nhận trực tiếp và là tiền đề của việc không thực hiện nghĩa vụ. Bởi vậy, cần phải bổ sung qui định này. Trong thực tiễn thương mại quốc tế, yếu tố nguyên nhân trực tiếp đóng vai trò hết sức quan trọng, ví dụ: người bán không thể nào giao hàng được nếu như người mua không mở L/C, hoặc người bán theo điều kiện giao hàng FOB cũng không thể giao hàng hoặc giao hàng đúng thời hạn nếu người mua không điều tàu hoặc điều tàu đến không đúng hạn (nghĩa vụ thuê tàu là của người mua).
Ngoài ra, tại Điều 399 này còn một vấn đề nữa cần phải xem xét, đó là “khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia, thì có quyền yêu cầu bên kia phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Trong thực tiễn thương mại quốc tế, ngoài chế tài bồi thường thiệt hại, còn có chế tài phạt. Ví dụ: Trong hợp đồng, các bên có thể thoả thuận nếu người bán không giao hàng cho người mua thì người bán phải chịu mức phạt 2% trị giá hợp đồng, hoặc ngược lại nếu người mua không mở L/C thì người này cũng chịu mức phạt 2% như trên. Bởi vậy, cần bổ sung chế tài phạt.
2. Điều 406 – Huỷ bỏ hợp đồng.
Khoản 1 Điều này có ghi “Một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có qui định”.
Qui định như thế này e rằng chưa đầy đủ và chưa sát với thực tế, bởi vì như vậy quyền huỷ bỏ hợp đồng chỉ xảy ra trong 2 trường hợp:
– Các bên đã thoả thuận trong hợp đồng. Trong thực tế thì khi ký kết hợp đồng các bên thường ít qui định và không lường hết trước được những loại vi phạm nào sẽ xảy ra để một bên có quyền huỷ hợp đồng.
– Pháp luật cũng thường chỉ đề ra những nguyên tắc cho việc huỷ hợp đồng, không thể nào có những qui định cụ thể bao hàm hết các trường hợp để huỷ hợp đồng.
Pháp luật và tập quán thương mại quốc tế thường đề ra tiêu chí về mức độ vi phạm để xác định quyền huỷ hợp đồng, tất nhiên đây cũng là một điều khó khăn nhưng trọng tài hoặc toà án khi xét xử các vụ tranh chấp, người ta vẫn có thể vận dụng nguyên tắc này. Các chuyên gia Pháp thì đưa ra khái niệm vi phạm nghiêm trọng, còn tại Điều 314 Luật Thương mại (sửa đổi) có đưa ra trường hợp “một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”. Như vậy, những qui định trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và Luật Thương mại (sửa đổi) có sự khác nhau khá lớn, điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc hiểu và thực hiện hợp đồng giữa các bên, cũng như khó cho trọng tài và toà án trong việc vận dụng qui định này để giải quyết các tranh chấp. Xin lưu ý là việc vận dụng khác nhau sẽ để lại những hệ quả khác nhau đối với quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng. Bởi vậy, trong Bộ luật Dân sự cần đưa tiêu chí này vào giống như Luật Thương mại.
3. Điều 408 – Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 3 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Điều này có nghĩa là ngày bắt đầu của thời hiệu khởi kiện là ngày có hành vi vi phạm, nó có thể trùng hợp với ngày phát hiện vi phạm.
Trong khi đó thì tại Điều 321 dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi) lại qui định:
(1) Thời hiệu khởi kiện áp dụng cho tất cả các tranh chấp trong thương mại là 3 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền khiếu nại.
(2) Thời điểm phát sinh quyền khiếu nại là thời điểm phát hiện hành vi vi phạm và trong thời hạn khiếu nại được qui định tại Điều 320 của Luật này.
Như vậy, rõ ràng là việc xác định ngày bắt đầu của thời hiệu khởi kiện trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi) là khác nhau. Tuy rằng trên thực tế trong một số trường hợp thời điểm xảy ra hành vi vi phạm và thời điểm phát hiện hành vi vi phạm có thể trùng nhau. Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế thường thời điểm phát hiện hành vi vi phạm được diễn ra sau thời điểm xảy ra vi phạm, nhất là việc mua bán hàng hoá được thực hiện từ nước này sang nước khác, qua nhiều phương tiện chuyên chở và mất nhiều thời gian để chuyên chở.
Có lẽ, theo chúng tôi qui định trong dự thảo Bộ luật Dân sự là hợp lý hơn, còn việc phát hiện ra hành vi vi phạm có thể chậm hơn và người ta e ngại là nếu bỏ tiêu chí “phát hiện” thì sẽ phương hại đến quyền và lợi ích chính đáng của bên được hưởng quyền lợi. Tuy nhiên, điều này đã được giải quyết trong các qui định về thời hạn khiếu nại đối với hàng hoá, dịch vụ và các nghĩa vụ khác của mỗi bên trong hợp đồng. Việc qui định thời hạn khiếu nại (chứ không phải thời hiệu khởi kiện) có tác dụng trong việc nâng cao trách nhiệm của mỗi bên cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ riêng bên nào.
4. Điều 416 – Trách nhiệm do giao vật không đúng số lượng. Khoản 2 Điều này có ghi: “Trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận, thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
(a) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;
(b) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;
© Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Cần cân nhắc kỹ mục © này bởi vì nếu qui định như trên thì người ta hiểu một cách đơn giản là khi bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận, thì bên mua lập tức và đương nhiên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Qui định như thế này có điểm vô lý và không phù hợp với thực tiễn, nhất là thực tiễn thương mại quốc tế. Có trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận, nhưng không đáng kể, mặc dù người mua được chọn quyền nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu, nhưng do thị trường có những biến động bất lợi cho bên mua, ví dụ giá cả hàng hoá vào thời điểm nhận hàng đang xuống, người mua dễ có thể dựa vào chế định này để huỷ hợp đồng mà lẽ ra không đáng huỷ. Đó là chưa kể đến việc xử lý số lượng lớn hàng đã giao cho người mua: Người bán phải thuê tàu và chịu mọi phí tổn để chở hàng về?; Bán hàng tại nước người mua cho thương nhân khác?; Thương lượng với người mua để người mua tiêu thụ hàng hộ mình với giá thoả thuận hoặc giá thực tế trên thị trường? v.v…
Bởi vậy, nếu đưa chế định huỷ hợp đồng vào điều này thì dứt khoát phải nêu điều kiện để huỷ như trong dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi).
5. Điều 420 – Thời điểm chuyển quyền sở hữu
Về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản mua bán thì về bản chất và nội dung qui định trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi) về cơ bản không có gì khác nhau. Tuy nhiên, đây là vấn đề khá nhạy cảm trong việc hiểu và vận dụng nên 2 đạo luật này cần sử dụng một thuật ngữ đồng nhất là “kể từ thời điểm người bán giao cho người mua” (trong dự thảo Bộ luật Dân sự ghi là “kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao”, còn tại Điều 65 dự thảo Luật Thương mại lại ghi “kể từ thời điểm bên mua nhận được hàng hoá hoặc chứng từ sở hữu hàng hoá hợp pháp”).
Cụm từ “bên mua nhận được hàng hoá” và cụm từ “tài sản được chuyển giao” dễ gây nhầm lẫn và giải thích khác nhau giữa các đương sự cũng như của các cơ quan tài phán.
Cần lưu ý rằng việc xác định lúc nào người bán giao hàng cho người mua lại hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện giao hàng mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng. Ví dụ: theo điều kiện FOB thì người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người mua khi hàng đã được xếp lên tàu tại cảng bốc hàng, trong khi đó theo điều kiện Ex-Ship thì người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người mua khi hàng còn ở trên tàu tại cảng đến với điều kiện con tàu đã cập cảng tại vị trí có thể dỡ hàng theo qui định.
6. Vấn đề cuối cùng là sự đồng nhất hoặc khác biệt giữa thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro.
Theo qui định tại Điều 420 và 421 của dự thảo Bộ luật Dân sự thì dường như hai thời điểm này là trùng nhau, nghĩa là khi tài sản được bên bán giao cho bên mua. Trường hợp việc mua bán tài sản phải có đăng ký quyền sở hữu thì hai thời điểm này cũng trùng nhau, nghĩa là khi hoàn thành thủ tục đăng ký. Tuy nhiên, cần cân nhắc thêm qui định “bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác”. Trong trường hợp này, có thể hiểu được rằng thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký là thời điểm bên bán đã giao hàng cho bên mua hay không, và nếu như vậy có mâu thuẫn gì với khái niệm “bên mua chưa nhận tài sản” hay không?
Còn trong dự thảo Luật Thương mại từ Điều 60 đến Điều 65 có qui định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá là thời điểm bên mua nhận được hàng hoá hoặc chứng từ sở hữu hàng hoá hợp pháp, đồng thời qui định thời điểm chuyển rủi ro trong một loạt các trường hợp như có địa điểm giao hàng xác định, không có địa điểm giao hàng xác định, giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển, mua bán hàng hoá trên đường vận chuyển, chuyển rủi ro trong các trường hợp khác. Đặc biệt, chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá trên đường vận chuyển thì thời điểm giao kết hợp đồng được coi là thời điểm chuyển rủi ro, do đó có thể hiểu được rằng thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên bán giao hàng cho bên mua khi hàng hoá còn đang được đặt trên phương tiện vận chuyển hoặc tại một kho bãi nào đó trên đường vận chuyển hay không? Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 64 dự thảo Luật Thương mại qui định “… rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển sang bên mua kể từ thời điểm hàng hoá được đặt dưới quyền chiếm hữu của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng”. Qui định này tỏ ra khó hiểu, hơn nữa, liệu quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua đã phải là điều kiện chủ yếu để xác định thời điểm chuyển rủi ro hay không, đoạn “… và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng” cũng không rõ ràng dễ dẫn đến việc hiểu và xử lý trở nên khó khăn, phức tạp.

SOURCE: VCCI.COM.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM : NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP THÁO GỠ.

(Tham luận tại Hội thảo Quốc tế  Vận động chính sách: Thực tiễn và Pháp luật) 

Luật gia Vũ Xuân Tiền – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam

Trong hơn hai mươi năm của quá trình đổi mới, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (gọi chung là văn bản chính sách) của Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể. Song, cũng không thể phủ nhận được rằng, các văn bản chính sách của nước ta còn khá nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao hơn, nghiêm khắc hơn của sự phát triển nền kinh tế quốc dân trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn, toàn diện hơn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là :Công tác vận động chính sách chưa được quan tâm đúng mức và do đó, nó chưa đạt hiệu quả cao.Vậy, thế nào là vận động chính sách ? Vận động chính sách ở Việt Nam đang gặp những vướng mắc gì ? Cần có những giải pháp cấp bách gì để tháo gỡ những vướng mắc hiện nay ? Với những suy nghĩ bước đầu, tham luận này xin trình bày một số ý kiến về những vấn đề nêu trên.

I-                  THẾ NÀO LÀ VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH ?
Từ trước đến nay ở nước ta, khái niệm vận động chính sách là rất xa lạ, thậm chí là khó chấp nhận. Vì vậy, trước khi bàn sâu hơn vào vấn đề cần trao đổi, thiết nghĩ, cũng cần làm rõ thế nào là vận động chính sách ở nước ta trong điều kiện hiện nay ?
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, vận động là việc tuyên truyền, giải thích, động viên làm cho người khác tự nguyện làm một việc gì đó, thông thường là theo một phong trào. Chẳng hạn, vận động toàn dân tham gia thực hiện quy ước văn minh trong tang, lễ, cưới hỏi ; vận động thanh niên tham gia phong trào thanh niên tình nguyện ; vận động toàn dân thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, v.v…Như vậy, khi nói đến vận động, thông thường, chủ thể của việc vận động là Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội…Còn đối tượng của việc vận động là các tầng lớp nhân dân.
Từ khái niệm về vận động nêu trên, có thể nêu, vận động chính sách là việc tuyên truyền, giải thích, động viên những người nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các chính sách tự nguyện xây dựng các chính sách theo nguyện vọng chính đáng của người vận động. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khái niệm nêu trên bao hàm trong nó một quy trình ngược. Bởi lẽ, xây dựng, ban hành các chính sách là quyền của cơ quan Nhà nước các cấp, thể hiện ý chí của người quản lý đối với người bị quản lý. Vì vậy, sẽ khó có  thể xẩy ra việc người bị quản lý lại tuyên truyền, giải thích, động viên những người có chức năng, quyền hạn trong quản lý làm theo nguyện vọng của mình mặc dù đó là những nguyện vọng chính đáng, hợp pháp.
Kết quả những cuộc hội thảo trước đây trong khuôn khổ vấn đề được đặt ra hôm nay, đã kết luận rằng, vận động chính sách (VĐCS) được hiểu là quá trình tác động vào những nhà hoạch định chính sách, những người ra quyết định để tạo ra một chính sách phù hợp hơn, minh bạch và hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho rằng, khái niệm vận động chính sách xuất phát từ thuật ngữ vận động hành lang, có xuất xứ từ nước Anh. Theo nghĩa đó, vận động chính sách ở Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau :
a)      Đó chính là việc đưa ra những ý kiến đề xuất, góp ý, phản biện cho các chính sách kinh tế và xã hội để những nhà hoạch định chính sách, những người ra quyết định đưa ra những chính sách phù hợp hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn ;
b)     Chủ thể của việc vận động phải là những nhà hoạch định chính sách theo một quy trình nhất định ;
c)     Đối tượng của việc vận động là các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp đại diện cho công đồng doanh nghiệp. Việc đưa ra những ý kiến đề xuất, góp ý, phản biện của đối tượng được vận động cũng phải theo những quy định, quy trình nhất định.
Với ý nghĩa nêu trên, vận động chính sách đã và đang trở thành nhu cầu cấp bách ở nước ta vì những lý do sau :
a)     Việc hoạch định và ban hành những chính sách kinh tế, xã hội ở nước ta trong hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua, tuy đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn những hạn chế lớn như : không ít chính sách không phù hợp ngay từ khi ban hành cho nên phải sửa đổi, bổ sung khá nhanh và nhiều lần tạo ra một hệ thống chắp vá, thiếu đồng bộ ; một số chính sách thiếu khách quan, minh bạch, điển hình là các văn bản về chính sách quản lý đất đai ; quản lý đầu tư xây dưng ; chính sách về thuế, phí…. Một số chính sách còn xơ, cứng, mang dấu ấn khá nặng nề của tư duy kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, chậm thay đổi so với yêu cầu của cuộc sống, điển hình là chính sách về quản lý lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội…đối với các doanh nghiệp. Những hạn chế nêu trên tất yếu làm cho các chính sách đã ban hành kém hiệu quả. Các chính sách kinh tế, xã hội được ban hành thuộc phạm trù “thượng tầng kiến trúc”. Do đó, một chính sách sai lầm có thể gây hậu quả lớn có thể so sánh với hậu quả của một cuộc khủng hoảng nền kinh tế quốc dân.
b)    Một trong những cam kết về bảo đảm yêu cầu minh bạch hóa của nước ta khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là : “Ngay từ khi gia nhập, Việt Nam phải công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân; thời hạn dành cho việc góp ý và sửa đổi là 60 ngày; các văn bản nêu trên phải được đăng công khai”. Với cam kết này, tình trạng  “mẹ hát, con khen hay” trong  việc hoạch định các chính sách, ban hành các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội phải chấm dứt. Các chính sách khi được ban hành phải đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của cuộc sống.
Từ những luận cứ trên, cũng cần khẳng định rằng, vận động chính sách – vấn đề chúng ta đang bàn ở đây hôm nay – không đồng nghĩa với với việc “chạy cơ chế” đã từng xẩy ra ở nước ta trong những năm vừa qua.
II-              VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM – NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN
Với cách hiểu về vận động chính sách như đã trình bày ở phần trên, ngay từ năm 2001, với Chỉ thị 16 CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc vận động chính sách ở nước ta đã được thực hiện. Đó là việc tham vấn ý kiến của các doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân về các văn bản Luật, pháp lệnh, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành trước khi ban hành. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – đại diện của cộng đồng doanh nghiệp – được giao thực hiện nhiệm vụ này. Có thể nói, với vai trò là cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quan quản lý Nhà nước trong việc ban hành các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội, với rất nhiều khó khăn về cơ chế, tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã thực hiện rất tốt nhiệm vụ quan trọng này. Rất nhiều hội nghị, hội thảo với sự tham gia của đông đảo đại diện các doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp…đã được tổ chức. Hàng nghìn ý kiến đề xuất, góp ý, phản biện cho dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật đã được đưa ra.
Trong vài năm gần đây, các cơ quan Bộ, ngành được giao chủ trì soạn thảo các dự thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư cũng đã chủ động tổ chức các hội nghị, hội thảo tham vấn như nêu trên. Đồng thời, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, thông qua Website của Chính phủ, các Bộ, ngành cũng thông báo và nhận được nhiều ý kiến đóng góp của nhân dân thông qua kênh thông tin này. Một lực lượng hùng hậu các báo và tạp chí cũng góp phần tích cực trong việc vận động chính sách. Đó là những việc đã làm được và không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, nghiên cứu, phân tích việc vận động chính sách ở nước ta trong thời gian qua, có thế thấy, còn những vướng mắc lớn sau đây cần được nhanh chóng tháo gỡ :
Một là, cơ sở pháp lý của việc vận động chính sách ở nước ta chưa đủ mạnh.
Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật không có quy định bắt buộc phải tham vấn ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp khi ban hành các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội. Việc tham vấn các ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trước khi ban hành các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội được thực hiện theo một Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Đó là văn bản truyền đạt ý kiến của người đứng đầu Chính phủ nhưng vẫn không thể coi là quy định của pháp luật. Vì vậy, việc tham vấn ý kiến vẫn là việc cần làm, nên làm nhưng chưa là việc phải làm trong một quy trình bắt buộc. Từ đó, các cơ quan soạn thảo văn bản có thể làm và cũng có thể không làm với những lý do khách quan đầy sức thuyết phục.
Hai là, việc tham vấn ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chưa triệt để.
Theo Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay ở nước ta, Luật, Pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành là Luật khung. Sau Luật là các Nghị định của Chính phủ. Nghị định lại quy định những nguyên tắc chung, những vấn đề cụ thể hơn lại do các Bộ, ngành hoặc liên ngành hướng dẫn bằng các Thông tư. Song, việc tham vấn ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp chủ yếu lại thực hiện đối với dự thảo Luật, Pháp lệnh và Nghị định. Trong khi đó, cuộc sống lại cần những quy định chi tiết, cụ thể. Những vấn đề chi tiết, cụ thể như vậy lại không được tham vấn. Do đó, khá nhiều trường hợp, những góp ý rất hợp lý, hợp lệ với đầy đủ bằng chứng khoa học, khách quan được nêu ra khi góp ý các Luật, Pháp lệnh, Nghị định đã bị vô hiệu hóa trong các Thông tư hướng dẫn. Tình trạng chậm ban hành các Thông tư hướng dẫn hoặc đưa thêm những nội dung thiếu minh bạch, thiếu khách quan vào các Thông tư hướng dẫn đã gây hậu quả lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Ví dụ, Luật Kinh doanh bất động sản có hiệu lực thi hành từ 1/1/2007. Song, hơn 10 tháng sau, ngày 15/10/2007, Nghị định số 153/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản mới được ban hành. Trong suốt thời gian đó, hầu như không một doanh nghiệp nào được đăng ký kinh doanh ngành nghề kinh doanh bất động sản. Cho đến nay, việc đăng ký kinh doanh bất động sản vẫn chưa được thực hiện vì…chưa có Thông tư hướng dẫn !. Thật kỳ lạ khi việc kinh doanh bất động sản trên thị trường ngầm đã và đang cực kỳ sôi động thì việc cho phép doanh nghiệp kinh doanh bất động sản một cách đàng hoàng, theo đúng quy định của pháp luật lại…vẫn đang trong quá trình nghiên cứu.
Việc các Thông tư hướng dẫn cứ vô tư ra đời không hoặc rất ít Thông tư được tham vấn ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân làm cho các Giấy phép con vẫn liên tục “tái xuất giang hồ” gây nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cam kết về minh bạch hóa của nước ta khi gia nhập WTO cũng chỉ đề cập đến các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành. Do đó, các Thông tư hướng dẫn lại là “cửa” để “lách luật” rất hữu hiệu khi cần thiết.
Ba là, các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản về chính sách kinh tế, xã hội chưa thật khách quan khi dự thảo văn bản và tiếp thu các ý kiến trong quá trình tham vấn.
Hiện nay, trong quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta, vấn đề cần điều chỉnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành nào thì Bộ, ngành đó được giao chủ trì soạn dự thảo và tiếp thu ý kiến tham vấn. Chẳng hạn, vấn đề thuộc về đất đai và bảo vệ môi trường thì cơ quan chủ trì là Bộ Tài nguyên- Môi trường ; tương tư như vậy, vấn đề về lao động – tiền lương – tiền công thì thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ; vấn đề về thuế và kế toán, kiểm toán thì thuộc Bộ Tài chính, v.v… Mặc dù, về hình thức, chúng ta có một Ban dự thảo với đầy đủ thành phần của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan nhưng quyết định cuối cùng khi trình Chính phủ vẫn thuộc về đơn vị chủ trì. Chuyển từ “Nhà nước cai trị” với chức năng chủ yếu là quản lý  thành “Nhà nước dịch vụ” với mhiệm vụ chủ yếu là phục vụ nhân dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhưng đến nay vấn đang là mục tiêu trong tương lai. Vì vậy, thông qua văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hơn nữa quyền lực của Bộ, ngành mình, đẩy các khó khăn cho nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, vẫn là hiện tượng xẩy ra một cách phổ biến hiện nay. Đó là sản phẩm tất yếu khách quan của một cơ chế. Quy luật khách quan của cuộc sống là “ăn quả táo ắt phải rào cây táo”. Vì vậy, chúng ta không trách gì những người chủ trì soạn dự thảo các văn bản và có nhiệm vụ tiếp thu những ý kiến tham vấn về hiện tượng này. Hậu quả của tình trạng nêu trên là, nhiệt tình của nhân dân, các doanh nhân và các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu, góp ý, phản biện cho các văn bản chính sách đã và đang bị triệt tiêu. Bởi vì, họ cho rằng, những góp ý đầy tâm huyết cũng chẳng có tác dụng gì!
Bốn là, quy định pháp lý nào đối với tiếp thu các ý kiến tham vấn và xử lý những vấn đề có ý kiến khác nhau chưa đầy đủ, rõ ràng.
Như đã phân tích, việc tham vấn ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với các văn bản chính sách kinh tế, xã hội ở nước ta vẫn là việc cần làm và nên làm. Do đó, cũng không có một văn bản nào quy định về việc tiếp thu những ý kiến tham vấn tại các hội nghị, hội thảo và trên báo, chí. Thông thường, chỉ những ý kiến nào có lợi cho mục tiêu đã được xác định của cơ quan chủ trì mới được tiếp thu. Hơn thế, đã xuất hiện hiện tượng, cơ quan chủ trì soạn dự thảo chủ động tổ chức những hội nghị, hội thảo lấy ý kiến góp ý nhưng những người tham gia, những ý kiến góp ý đã được dàn xếp, bố trí trước nhằm tạo căn cứ để bảo vệ ý định chủ quan đã “cài” vào văn bản dự thảo.
Nghiêm trọng hơn là việc xử lý những ý kiến khác nhau, thậm chí là trái chiều nhau khi tham vấn, góp ý cho các văn bản về chính sách. Sự khác nhau, thậm chí là trái chiều nhau về một vấn đề nào đó là hiện tượng bình thường. Khi xẩy ra hiện tượng này, người dự thảo ra sức bảo vệ cho ý kiến của mình, người phản biện cũng đưa ra những ý kiến rất thuyết phục. Điểm yếu nhất ở nước ta hiện nay là không có được “trọng tài” trong những trường hợp này. Chúng ta có thể thấy tình trạng này trong những cuộc tranh luận vô cùng sôi động, đầy bổ ích và lý thú khi soạn thảo Luật Đầu tư ; những ý kiến tranh cãi rất quyết liệt và thẳng thắn khi tham gia vào dự thảo Luật Quản lý thuế  và hàng triệu ý kiến góp ý cho dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân vừa qua…
Câu hỏi được đặt ra là : khi có những ý kiến khác nhau, thậm chí là trái chiều nhau, cơ quan nào là trọng tài ?
Câu hỏi nêu trên tuởng chừng là thừa, vì theo quy định, những vấn đề nào thuộc quyền của Quốc hội thì đưa ra Quốc hội xin ý kiến, vấn đề thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thuộc Chính phủ thì những cơ quan này quyết định. Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật về chính sách kinh tế, xã hội thường liên quan đến những vấn đề khoa học, thậm chí là khoa học chuyên ngành khá sâu. Cho nên, ý kiến trọng tài là tỷ lệ phiếu tán thành không phải là hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp.
Năm là, vận động chính sách thông qua tham vấn các ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp như những năm vừa qua là thiếu tính khả thi trong những năm tiếp theo.
Có thể khảng định rằng, vận động chính sách thông qua tham vấn các ý kiến của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp như những năm vừa qua sẽ khó có thể tiếp tục và mang lại hiệu quả trong những năm tới vì những lý do sau :
–         Để phù hợp hơn nữa với những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, số lượng các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội cần ban hành, sửa đổi, bổ sung ở nước ta sẽ rất nhiều. Do đó, thời gian cho việc góp ý những văn bản này đối với nhân dân, đặc biệt là các doanh nhân và các nhà nghiên cứu, cũng sẽ là rất lớn. Trong điều kiện phải dành phần lớn thời gian cho hoạt động kinh doanh, việc dành một thời gian khá lớn để nghiên cứu, góp ý cho dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là tham gia khá nhiều cuộc hội nghị, hội thảo sẽ trở thành bất khả kháng đối với nhiều chủ doanh nghiệp ;
–         Những vấn đề được đề cập, điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật thường là khá phức tạp, liên quan đến nhiều luật khác ở trong nước và trên thị trường quốc tế. Trong cộng đồng doanh nghiệp, số doanh nhân nghiên cứu, hiểu được và góp ý, phản biện được những vấn đề đó không nhiều. Vì vậy, những người có khả năng đọc, hiểu và nêu được những ý kiến phản biện lại phải dành một lượng thời gian lớn hơn nhiều lần. Thông thường, đó lại là những người giữ vai trò quan trọng, quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp. Không ai có thể sẵn sàng  để công việc kinh doanh bị đình trệ hoặc suy giảm để tập trung vào việc nghiên cứu, đưa ra những ý kiến phản biện cho một văn bản Luật, dù đó là văn bản Luật đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân.
III-           NHỮNG GIẢI PHÁP CẤP BÁCH
Vận động chính sách là hoạt động có ý nghĩa lớn ở nước ta trong những năm sắp tới. Làm gì và làm thế nào để tác động vào những nhà hoạch định chính sách, những người ra quyết định để tạo ra một chính sách phù hợp hơn, minh bạch và hiệu quả hơn ? Đó là câu hỏi quan trọng nhất cần được nghiên cứu, giải đáp. Tuy nhiên, giải đáp câu hỏi đó không đơn giản. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực và với một phạm vi rộng. Tù những luận cứ đã nêu trong những phần trên của tham luận này, với những suy nghĩ bước đầu, xin được nêu một số giải pháp cấp bách sau đây :
Thứ nhất, cần có một quy định pháp lý cao hơn về vận động chính sách.
Quy định pháp lý về vận động chính sách sẽ quy định rõ về nguyên tắc, nội dung, hình thức của việc vận động chính sách; trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, của các tầng lớp dân cư, cộng đồng doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu…trong việc thực hiện các nhiệm vụ vận động chính sách. Quy định này có thể được thực hiện thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc thông qua một Nghị định của Chính phủ về vấn đề này ;
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng bảo đảm sự minh bạch, khách quan hơn cho dự thảo các văn bản về chính sách;
Theo hướng này, xin đề nghị :
a)     Không giao cho các Bộ, ngành có liên quan chủ trì soạn dự thảo và trình dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật. Thay vào đó, hình thành những nhóm chuyên gia gồm các Luật sư, Luật gia, các chuyên viên cao cấp có đủ trình độ chuyên môn trực thuộc Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đảm nhiệm việc chủ trì dự thảo, kiểm tra, đánh giá các dự thảo và việc tiếp thu các ý kiến góp ý, phản biện trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt ;
b)    Từng bước cải tiến để tiến tới xóa bỏ các Thông tư hướng dẫn sau Nghị định của Chính phủ. Nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh những trường hợp sử dụng công văn của ngành, thậm chí là công văn nội bộ, để sửa đổi, bổ sung chính sách đã ban hành.
Thực hiện tốt hai nội dung kiến nghị trên cũng chính là từng bước đảm bảo sự độc lập cao hơn nữa giữa chức năng lập pháp và chức năng hành pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN của chúng ta. Khi và chỉ khi đạt được điều đó, Nhà nước XHCN Việt Nam mới thực sự là ‘‘ Nhà nước của dân, do dân và vì dân’’ như tôn chỉ, mục đích cao cả đã đặt ra của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, thí điểm để  tiến tới “xã hội hóa” việc xây dựng các văn bản  về chính sách, kinh tế xã hội.
“Xã hội hóa” việc xây dựng các văn bản về chính sách, kinh tế xã hội là vấn đề mới, có thể là rất xa lạ đối với tư duy của nhiều người ở nước ta. Nội dung cơ bản của việc “xã hội hóa” này bao gồm :
–         Ủy ban pháp luật của Quốc hội là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng dự thảo các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội dưới các hình thức Luật, Pháp lệnh ; Ban Xây dựng pháp luật của Chính phủ chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng dự thảo các văn bản về chính sách kinh tế, xã hội thuộc thẩm quyền của Chính phủ ;
–         Việc xây dựng các dự thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định được hình thành dưới hình thức Dự án nghiên cứu. Cơ quan chủ trì có trách nhiệm lập Hồ sơ dự án, bao gồm : yêu cầu phải đạt được về nội dung, thời hạn, những nội dung thuộc chuyên ngành hẹp và kinh phí thực hiện ;
–         Các dự án nghiên cứu được thông báo công khai và lựa chọn đơn vị soạn dự thảo theo phương thức đấu thầu ;
–         Đơn vị được chọn để thực hiện dự án có trách nhiệm thực hiện tất cả các khâu công việc để đưa ra một dự thảo có đầy đủ căn cứ khoa học bao gồm : kinh nghiệm quốc tế về vấn đề có liên quan và những nội dung có thể vận dụng vào thực tiễn Việt Nam ; kết quả điều tra thực tiễn ; các ý kiến góp ý, phản biện ; việc xử lý những ý kiến chưa thống nhất hoặc trái chiều nhau ; trình bày và bảo vệ những vấn đề được nêu trong dự thảo văn bản trước cơ quan chủ trì và các cơ quan có liên quan,v.v…
–         Cơ quan chủ trì thẩm tra, nghiệm thu và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ tư,triển khai việc xây dựng và phát triển các tổ chức vận động chính sách chuyên nghiệp.
Chúng tôi cho rằng, hiện nay, có khá nhiều tổ chức đủ khả năng “nhận thầu” việc thực hiện các dự án xây dựng chính sách như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một số Viện Nghiên cứu và một số Công ty tư vấn, Công ty Luật…
Tuy nhiên, “nhận thầu” việc thực hiện các dự án xây dựng chính sách kinh tế, xã hội phải là hoạt động có điều kiện, trong đó, điều kiện về nhân lực nghiên cứu và quá trình hoạt động trong lĩnh vực pháp luật có vị trí quan trọng hơn cả. Vì vậy, trước hết phải quy định những điều kiện hoạt động của các tổ chức vận động chính sách chuyên nghiệp và bổ sung hoạt động này vào danh mục ngành nghề đăng ký kinh doanh.
Thứ năm, thúc đẩy nhanh hơn nữa việc chuyển từ “Nhà nước quản lý” sang “Nhà nước dịch vụ”.
Có thể nói, tuy đây là giải pháp cuối cùng được nêu ra và có thể có nhiều ý kiến cho rằng “biết rồi, khổ lắm…” nhưng lại là giải pháp quan trọng nhất. Bởi lẽ, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nền kinh tế nước ta mới đi những bước đầu tiên trong kinh tế thị trường, cho nên, tư duy quản lý hay có thể nói là “tư duy cai trị” vẫn còn rất nặng nề trong hầu hết các cơ quan thuộc bộ máy công quyền của Nhà nước. Với tư duy “cai trị”, các cơ quan công quyền tập trung vào việc củng cố quyền lực để “cai trị” tốt nhất. Ngược lại, với tư duy phục vụ, các cơ quan công quyền phải đặt ra yêu cầu phù hợp, minh bạch và hiệu quả đối với việc quản lý.
Cho nên, khi chưa chuyển được từ “Nhà nước quản lý” sang “Nhà nước dịch vụ” thì việc “tác động vào những nhà hoạch định chính sách, những người ra quyết định để tạo ra một chính sách phù hợp hơn, minh bạch và hiệu quả hơn” sẽ chỉ là “ước mơ xa’’. Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện những biện pháp quyết liệt trong nhiều lĩnh vực để hình thành một “Nhà nước dịch vụ”. Hy vọng rằng, trong tương lai không xa, mục tiêu đó sẽ trở thành hiện thực.
                        ————————————————–

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/TopicDetail.aspx?TopicID=1866

THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP: MỘT SỐ BÌNH LUẬN NGẮN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Góp phần đánh giá LDN 2005 sau một năm thực thi, tôi có một số bình luận ngắn dưới đây:
Về thủ tục đăng ký kinh doanh:

  • Có nhiều lý do để hợp nhất hai mô hình hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân- sau này nên gọi là cá nhân kinh doanh sole proprietorship để tránh gây nhầm lẫn từ khái niệm “doanh nghiệp tư nhân”.
  • Hai mô hình này nên cùng đăng ký kinh doanh ở một cấp, ví dụ tại Phòng ĐKKD cấp quận, huyện; không nên tách biệt DNTN thì đăng ký tại Phòng ĐKKD thuộc Sở KHĐT và hộ kinh doanh đăng ký tại Phòng kinh tế thương mại cấp quận.
  • Trong hai mô hình này, không nên quy định chỉ ĐKKD mới được phép tiến hành kinh doanh; đăng ký chỉ là thống kê theo dõi, không khai sinh ra quyền kinh doanh (thương nhân thực tế) cho loại hình này.
  • Hai mô hình này nên chỉ đánh một loại thuế – thuế thu nhập cá nhân của người chủ, mà không đánh thuế thu nhập doanh nghiệp
  • Không yêu cầu cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân phải có con dấu
  • Từng bước tiến tới thống nhất mã số ĐKKD và mã số thuế; giảm bớt thủ tục cho doanh nghiệp (mặc dù thủ tục hiện nay đã khá đơn giản). Muốn như vậy, cần thiết lập nghĩa vụ chia sẻ thông tin giữa Phòng ĐKKD, cơ quan thuế, VCCI => doanh nhân có nghĩa vụ tham gia VCCI một cách bắt buộc, phải nộp lệ phí thành viên bắt buộc, chịu sự giám sát của các nghiệp đoàn, tổ chức hội nghề dưới sự bảo trợ của VCCI nhằm nâng cao đạo đức và giám sát đạo đức nghề nghiệp (trách nhiệm doanh nhân).
    Khảo sát: Thành lập DNTN ở Hà Nội theo 09 bước dưới đây

TT

Tên việc

Làm ở đâu

Chi phí

Nhận được gì

1

Nộp hồ sơ ĐKKD

18 Yên Phụ
(Phòng 305)

200.000 VND

Giấy biên nhận đã nộp hồ sơ ĐKKD

2

Báo hồ sơ chưa đủ hoặc tên doanh nghiệp đã trùng, gây nhầm

18 Yên Phụ

 

Giấy báo bổ sung hồ sơ

3

Đến nhận chứng nhận ĐKKD

18 Yên Phụ

 

Giấy chứng nhận ĐKKD

4

Đăng ký con dấu

18 Yên Phụ

20.000 VND

Biên lai đã nộp hồ sơ khắc dấu

5

Trả tiền tại doanh nghiệp khắc dấu được chỉ định

 

200.000 VND cho dấu đồng, 300.000 VND cho dấu liền mực

Biên lai thu tiền mua con dấu; Giấy hẹn trả con dấu

6

Nhận con dấu

18 Yên Phụ

 

Nhận con dấu

7

Đăng ký mã số thuế

18 Yên Phụ

 

Giấy biên nhận hồ sơ

8

Nhận mã số thuế

18 Yên Phụ

 

Nhận mã số thuế

9

Đăng báo thành lập DN

Báo, mạng thông tin của cơ quan ĐKKD

 

Biên lai đã nộp tiền đăng báo

Về tên doanh nghiệp:

  • Theo quy định hiện nay, tên hộ kinh doanh được bảo hộ trong phạm vi quận/huyện; tên DNTN, Cty TNHH, CTCP và hợp danh được bảo vệ trong phạm vi của tỉnh, nơi doanh nghiệp đó kinh doanh. Từ đó có quá nhiều DN cùng tên giữa các tỉnh, ví dụ HASICO (Hải Phòng) và HASICO (Hà Nội).
  • Có thể từng bước phối hợp giữa Phòng ĐKKD và NOIP: Nếu doanh nghiệp muốn bảo hộ tên thương mại toàn quốc thì đăng ký với Cục sở hữu công nghiệp; cơ quan ĐKKD thu phí (phí ban đầu khoảng 2 triệu đồng, có thể còn phí duy trì tên hàng năm) và sao chép hồ sơ chuyển cho NOIP.
  • Cũng có thể tiếp tục chuẩn hoá số đăng ký kinh doanh toàn quốc, ví dụ hai số đầu tiên là mã tỉnh, hai số tiếp theo là mã quận, các số tiếp là mã doanh nghiệp; khi đọc mã số doanh nghiệp đi kèm tên doanh nghiệp người kinh doanh cũng có thể đoán ra doanh nghiệp được đăng ký ở địa phương nào.

Về hợp danh

  • LDN 2005 thiết kế mô hình này vẫn chưa thật thành công. Nên xem hợp danh được thành lập bởi khế ước, hơn là một thực thể như công ty. Càng không nên gọi là công ty hợp danh bởi cần phân tách công ty và các hợp danh.
  • Không nên xem hợp danh là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Các thành viên chịu thuế thu nhập cá nhân là đủ./.

SOURCE: VCCI.COM.VN