CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Đổi mới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được triển khai thực hiện ở nước ta trên 10 năm. Thực chất của quá trình này là sự sắp xếp lại các DNNN, trong đó trọng tâm là tiến hành Cổ phần hoá (CPH) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh. Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu cũng như bản thân doanh nghiệp. Bài viết này sẽ đưa ra một số ý kiến xung quanh vấn đề CPH các DNNN ở Việt Nam.

Cải cách doanh nghiệp

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh. Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và mọi người lao động trong doanh nghiệp (các nhà quản lý, người lao động trực tiếp) đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, của xã hội. Điều này cũng có nghĩa là khi doanh nghiệp không đạt được những mục tiêu cơ bản trên thì phải xem xét đánh giá lại và cần có những thay đổi cần thiết. Trong nhiều trường hợp đó là một sự cải cách triệt để trong hoạt động kinh doanh để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã định. Không làm được như vậy sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ bị đe doạ. Trên thực tế do không nhận ra hay nhận ra nhưng không kịp cải cách, hoặc cải cách không đúng đã làm nhiều doanh nghiệp phá sản, bất kể đó là doanh nghiệp nhỏ hay các tập đoàn kinh tế lớn có phạm vi hoạt động toàn cầu, và cũng không loại trừ doanh nghiệp đó thuộc loại hình sở hữu nào. Như vậy, vấn đề cải cách doanh nghiệp luôn được đặt ra và cải cách là cần thiết để đạt được mục tiêu đã định..

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Ở Việt Nam cải cách hay đổi mới DNNN là yêu cầu khách quan. Do những áp lực cạnh tranh, vì sự tồn tại và phát triển, và vì sự cần thiết phải thực hiện sứ mệnh của các DNNN mà phải tiến hành đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp này. Trong đó CPH là nội dung chính, là hướng cải cách chủ yếu.

Những thành tựu đạt được của quá trình CPH

Sau hơn 13 năm tiến hành đổi mới DNNN (bắt đầu từ năm 1992), đã có 2.996 doanh nghiệp được CPH (tính đến cuối năm 2005), bình quân khoảng trên 200 DN/năm. Đây là con số không nhỏ. Trong vài năm gần đây ngày càng nhiều DNNN được CPH và tốc độ của quá trình này được đẩy nhanh hơn. Riêng năm 2005 cả nước CPH được 724 doanh nghiệp. Nhìn lại quá trình qua có thể thấy chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

* Số DNNN đã CPH chiếm khoảng 24% tổng số DN khi chưa tiến hành sắp xếp lại và CPH (khoảng 12.000 DN vào thời điểm trước năm 1995)

. Có trên 10% vốn của nhà nước trong các DNNN được CPH (khoảng 30.000 tỷ đồng)

* Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các DNNN. Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các DNNN khác.

* Trong các doanh nghiệp đã CPH, 30% số các doanh nghiệp (trên 800 DN) được hoàn toàn độc lập tự chủ trong kinh doanh mà không còn sự chi phối trực tiếp nào của nhà nước (nhà nước không nắm giữ một cổ phần nào, toàn bộ thuộc về tập thể người lao động).

* Việc sắp xếp lại và CPH các DNNN đã hoàn thành trên 61 trong tổng số 64 tỉnh thành.

* Qua CPH, nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết là: nợ xấu, tồn kho vật tư hàng hoá kém phẩm chất, các trang thiết bị và tài sản cũ nát…

* Với các doanh nghiệp đã CPH, bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực lao động mới đang dần được tạo ra.

* Các biện pháp tiến hành CPH ngày càng được hoàn thiện hơn. Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua các tổ chức tư vấn độc lập (thay vì qua hội đồng định giá như trước đây) được áp dụng. Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đấu thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Sau CPH, các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn trên hầu hết các mặt chủ yếu. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế của các DNNN sau CPH tăng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát hơn 850 doanh nghiệp cổ phần (năm 2005) cho thấy: vốn điều lệ tăng bình quân 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập người lao động tăng 12%. Cũng theo điều tra của Ban, có khoảng 87% số doanh nghiệp khẳng định kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp cổ phần hoá tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trước CPH. Có thể nói đây là con số rất ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, khẳng định CPH là một trong những biện pháp hữu ích nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN. Một điều có ý nghĩa quan trọng nữa là, kết quả trên sẽ tạo niềm tin và động lực cho các DNNN khác tiến hành đổi mới hoạt động kinh doanh của mình một cách tích cực hơn.

Những vấn đề còn tồn tại

Bên cạnh những thành tựu đạt được như trên thì cũng còn nhiều vấn đề tồn tại đang đặt ra trong quá trình CPH:

Thứ nhất: Chúng ta đã CPH và sắp xếp lại được khá nhiều doanh nghiệp nhưng xét về chỉ tiêu vốn nhà nước đã CPH thì vẫn chưa tới 10%. Hơn nữa trong số các doanh nghiệp đã được CPH có tới 29% số doanh nghiệp ở đó nhà nước vẫn giữ một lượng cổ phần chi phối (từ 51% trở lên). Nhà nước đang còn nắm khoảng 46,5% vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này. Như vậy, thực chất mới chỉ khoảng 8% vốn kinh doanh của các DNNN đã CPH thuộc về các chủ sở hữu khác-không phải nhà nước (phần lớn là những cổ đông vốn là người lao động trong doanh nghiệp). Con số này là quá ít. Vì nói đến CPH thì chỉ tiêu chủ yếu nhất là CPH vốn kinh doanh, do vậy có thể nói rằng CPH các DNNN được thực hiện rất chậm chạp, chưa nhiều.

Thứ hai: Xét về các DN đã CPH, trong khi về số lượng các doanh nghiệp là không nhỏ nhưng vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp này lại quá ít,  điều này chứng tỏ chúng ta mới chỉ CPH được các DN nhỏ và rất nhỏ. Đó cũng là các doanh nghiệp chủ yếu do các địa phương quản lý. Trên thực tế các doanh nghiệp này không có vai trò đáng kể và không thể hiện được vai trò là những DNNN chủ đạo trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta mới thực hiện được phần dễ nhất trong toàn bộ khối lượng công việc phải làm.

Thứ ba: Về vai trò của Nhà nước. Đến nay, trong các doanh nghiệp đã được CPH thì Nhà nước đang còn nắm quá nhiều vốn. Điều này cho thấy sự chi phối, gây ảnh hưởng của nhà nước vẫn ở mức độ lớn (dưới các hình thức khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp). Do vậy, trong nhiều doanh nghiệp đã CPH chưa thấy có những thay đổi căn bản về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh theo mô hình mới của một công ty cổ phần thực thụ. Các doanh nghiệp này vẫn chưa có hay rất thiếu những cổ đông mới có quyền lực mạnh, các cổ đông chiến lược mới. Việc Nhà nước còn nắm các cổ phần chi phối trong nhiều doanh nghiệp đã CPH cũng cho thấy Nhà nước còn đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực và phạm vi hoạt động kinh doanh, chưa có sự tập trung vốn cần thiết vào các lĩnh vực, các ngành hay các doanh nghiệp trọng điểm mà ở đó cần có sự hiện diện của Nhà nước.

Thứ tư: Những bước tiếp theo của CPH. Như đã nêu ở trên, CPH chủ yếu chỉ thực hiện ở các DN nhỏ và rất nhỏ, và có rất ít doanh nghiệp lớn đã tiến hành CPH (như Vinamilk). Tới đây, theo kế hoạch của Chính phủ, lượng vốn trong các DNNN cần phải CPH khoảng trên 270.000 tỷ đồng. Đây là một lượng vốn rất lớn. Số vốn này đang nằm trong các doanh nghiệp lớn (các tổng công ty, các công ty lớn). Việc tiến hành CPH các doanh nghiệp này không hề đơn giản như đã từng làm trong thời gian qua vì vai trò, tầm quan trọng và phạm vi kinh doanh, phạm vi ảnh hưởng của các doanh nghiệp này rất lớn và phức tạp hơn nhiều. Rõ ràng để CPH thành công các doanh nghiệp này cần phải có những giải pháp thích hợp.

Thứ năm: Những cản trở đối với quá trình CPH các DNNN trong thời gian qua là: Vướng mắc nhiều về đất đai và sở hữu tài sản, chưa có chính sách và cơ chế rõ ràng, CPH còn khép kín, còn có sự phân biệt đối xử trước và sau CPH, chẳng hạn như vay vốn ngân hàng, những khó khăn về giải quyết số lao động dôi dư của các doanh nghiệp, thủ tục hành chính phức tạp và thời gian kéo dài… Đây là những vấn đề nằm ngoài khả năng của doanh nghiệp. Do vậy, nếu nhà nước không giải quyết triệt để các vấn đề này thì không thể đẩy nhanh tiến trình CPH được.

Thứ sáu: Vai trò của các doanh nghiệp. Dường như vấn đề CPH vẫn chưa phải là nhu cầu tự thân, nhu cầu nội tại của các DNNN, thậm chí còn là sự miễn cưỡng. Trong thực tế thực hiện, hầu hết các chương trình hay kế hoạch CPH đều là của các bộ, ngành, hay chính quyền địa phương, chưa có (hoặc nếu có thì cũng rất ít) doanh nghiệp chủ động đề xuất đưa tên mình vào chương trình hay kế hoạch đó. Điều này chỉ có thể lý giải là đối với các doanh nghiệp, CPH không hấp dẫn họ. Hầu hết các DNNN vẫn không muốn, hay né tránh, hoặc tìm cách né tránh thực hiện CPH vì muốn được an toàn hơn và không muốn mất đi lợi ích hay lợi thế đang có. Một trong những lợi thế đang mang lại quá nhiều lợi ích-lợi nhuận siêu ngạch đó là sự độc quyền hoặc những ưu đãi mà các doanh nghiệp vẫn nghĩ là chỉ DNNN mới có được. Ở đây, nhà nước và các DNNN chưa có cùng một suy nghĩ và hành động. Do vậy, nếu còn có sự khác nhau về thái độ và quyết tâm đối CPH, và khi các DNNN vẫn còn e ngại và nghi ngờ, chưa quyết tâm thì vẫn còn nhiều trở ngại cho quá trình CPH.

Đẩy nhanh quá trình CPH-một vài kiến nghị

Đẩy nhanh quá trình CPH các DNNN trong thời gian tới đang còn rất nhiều những thách thức. Giải pháp để vượt qua theo chúng tôi cần tập trung vào những vấn đề chính sau :

1.  Nhà nước phải có những biện pháp chiến lược mới cho quá trình CPH vì các DNNN là đối tượng CPH trong thời gian tới có những điểm khác với các doanh nghiệp đã được CPH trước đây. Trong đó, việc tạo ra được động lực của chính các DNNN này có ý nghĩa quyết định cho sự thành công. Đối với doanh nghiệp, lợi ích chính là động lực mạnh mẽ nhất. Để có được điều này, cần phải làm cho các doanh nghiệp có được và thấy được lợi ích thực sự (so với không thực hiện CPH). Do vậy cần:

* Xoá bỏ nhanh bao cấp dưới mọi hình thức để không còn chỗ dựa tạo đặc quyền, đặc lợi như trước đây và hiện vẫn còn ở mức độ khác nhau của các DNNN (lợi thế hay lợi ích kiểu này không còn nữa).

* Có ưu tiên và nghiên cứu đưa ra những biện pháp khuyến khích và hỗ trợ cần thiết và thiết thực cho các doanh nghiệp đã CPH.

Làm như vậy tức là thay cho việc duy trì những bao cấp khi đang còn là DNNN cần chuyển sang hỗ trợ các doanh nghiệp đã hoàn thành CPH, đặc biệt đối với các DNNN có thành tích và thực hiện tốt quá trình này. Đây cũng là một sự khuyến khích mới.

2. Thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, với những biện pháp quyết liệt hơn, khẩn trương hơn, có lộ trình cụ thể. Tiến hành mở nhanh những vùng, lĩnh vực kinh doanh đang còn độc quyền hay mang tính độc quyền, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia . Cùng với đó tập trung chỉ đạo thực hiện nhanh và kiên quyết việc CPH các DNNN lớn, chiếm giữ một lượng vốn lớn của Nhà nước, đang nắm nhiều lợi thế độc quyền nhưng chậm đổi mới. Đối với các doanh nghiệp này,  thực hiện CPH còn phải được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Họ phải có trách nhiệm thực hiện những chủ trương đổi mới và cải cách, những chiến lược của chủ đầu tư-của Nhà nước. Chỉ có thực hiện thành công ở các doanh nghiệp này thì mới hoàn thành sự nghiệp CPH các DNNN.

3. Tổng điều tra đánh giá hiệu quả thực tế các doanh nghiệp sau CPH để rút ra những kinh nghiệm về thành công và chưa thành công của các doanh nghiệp. Qua đó làm cho mọi doanh nghiệp thấy được lợi ích rõ ràng, những bài học cụ thể từ CPH. Điều này sẽ có tác động làm thay đổi nhận thức, tạo những hiểu biết tốt hơn, từ đó tạo niềm tin và động lực từ bên trong của doanh nghiệp. Đồng thời có chiến lược hỗ trợ một cách có hiệu quả về đào tạo nâng cao năng lực trước, trong và sau CPH.

4. Nhanh chóng thực hiện những biện pháp giải quyết dứt điểm những vướng mắc hiện nay về vấn đề đất đai, tài sản và những vướng mắc về lao động (không để CPH làm thiệt hại đến người lao động trong doanh nghiệp). Đặc biệt cần sớm chấm dứt trên thực tế (không phải chỉ trên giấy tờ, văn bản) sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất là các DNNN đã CPH. Điều này rất quan trọng và sẽ là một nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành CPH có hiệu quả. Chúng ta cũng cần sớm hoàn thiện và tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể áp dụng tốt trình tự tiến hành CPH và cơ chế định giá doanh nghiệp mới, không gặp khó khăn tiếp cận thị trường chứng khoán. Mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia CPH để có những cổ đông mạnh, họ sẽ là một trong những tác nhân quan trọng nhất đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH.

(Nguồn: KTPT – MOI.GOV.VN)

XỬ LÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐANG THẾ CHẤP, BẢO LÃNH KHI BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI VÀ NHỮNG ĐIỀU LƯU Ý

TRẦN THU HUYỀN – NHCT Thái Nguyên

Nghị định 181/ 2004/ NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 quy định rõ việc xử lý quyền sử dụng đất (QSD) đang thế chấp, bảo lãnh khi bị nhà nước thu hồi:
1. Quy định về các trường hợp QSD đất đang thế chấp bảo lãnh tại ngân hàng bị nhà nước thu hồi
Trường hợp thứ nhất: Nhà nước thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế (Khoản 1 Điều 38 của Luật đất đai). Trong trường hợp này bên nhận thế chấp, bên nhận bảo lãnh được người bị thu hồi đất bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.
Trường hợp thứ hai: Đất đang thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp bị thu hồi do:
+ Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không hiệu quả.
+ Người sử dụng đất cố ý huỷ hoại đất;
+ Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước;
+ Đất không được sử dụng trong thời hạn nhà nước quy định (12 tháng đối với đất trồng cây hàng năm; 18 tháng đối với đất trồng cây lâu năm; 24 tháng đối với đất rừng);
+ Đất được Nhà nước giao, cho thuê có nộp tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép. Thì hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh bị chấm dứt và việc hoàn trả khoản vay được xử lý như sau:
+ Trường hợp thế chấp thì bên thế chấp phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật dân sự;
+ Trường hợp bảo lãnh thì bên được bảo lãnh phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dung (HĐTD) đã ký kết; nếu bên được bảo lãnh không có khả năng hoàn trả khoản vay thì bên bảo lãnh phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật về dân sự.
Trường hợp thứ ba: Đất do người sử dụng đất là cá nhân thế chấp, bảo lãnh tại Ngân hàng chết không có người thừa kế thì Nhà nước thu hồi đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh của cá nhân đó bị chấm dứt và quyền sử dụng đất được xử lý như sau:
+ Đối với trường hợp thế chấp bằng Quyền sử dụng đất vay vốn Ngân hàng thì UBND đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hoàn trả khoản vay cho bên nhận thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết; nếu giá trị quyền sử dụng đất được xác định thông qua đấu giá nhỏ hơn khoản vay thì Ngân hàng chỉ được nhận khoản tiền tương đương với giá trị quyền sử dụng đất đã thế chấp.
+ Đối với trường hợp bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất thì bên được bảo lãnh phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo HĐTD đã ký kết; nếu bên được bảo lãnh không có khả năng hoàn trả khoản vay thì UBND đã cấp giấy chứng nhận QSD đất tổ chức bán đấu giá để hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo hợp đồng bảo lãnh (HĐBL) đã ký kết nếu giá trị QSD đất đã bảo lãnh xác định qua đấu giá nhỏ hơn khoản vay thì bên nhận bảo lãnh chỉ được nhận khoản tiền tương đương với giá trị QSD đất đã bảo lãnh.
2. Những vấn đề cần lưu ý cán bộ thẩm định (CBTĐ) khi thẩm định giá trị QSD đất của khách hàng
Khác với trường hợp Giấy chứng nhận QSD đất của khách hàng bị Nhà nước thu hồi do Giấy chứng nhận QSD đất bị cấp sai thẩm quyền, Giấy chứng nhận QSD đất là giả là do nguyên nhân khách quan Ngân hàng không buộc phải biết hay không thể nhận biết được. Ngược lại trong các trường hợp Giấy chứng nhận QSD đất bị Nhà nước thu hồi quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 2003 Ngân hàng bằng các biện pháp nghiệp vụ và nhạy cảm nghề nghiệp hoàn toàn có thể xác định và nhận biết được.
Căn cứ trên các quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tôi mạnh dạn đưa ra một số vấn đề cần lưu ý căn bản đối với cán bộ thẩm định, cán bộ tín dụng (CBTD) khi tiến hành thẩm định tài sản thế chấp, bảo lãnh của khách hàng là QSD đất để vay vốn Ngân hàng, nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro không mong muốn và có thể lường trước của ngân hàng.
Thứ nhất: CBTĐ khi xem xét thẩm định tài sản thế chấp, bảo lãnh hoàn toàn có thể tham khảo phòng tài nguyên môi trường thành phố, địa chính xã, phường về việc có hay không đề án quy hoạch sử dụng đất của Nhà nước trong thời gian tới tại khu vực có đất của khách hàng có nguyện vọng thế chấp, bảo lãnh hoặc trên các thông tin khác của Ngân hàng đề phòng trường hợp khách hàng thông đồng với các cơ quan quản lý Nhà nước cố tình che mắt Ngân hàng.
Tuy nhiên trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phát triển kinh tế; Nhà nước sẽ đền bù cho người có Giấy chứng nhận QSD đất theo giá đất được tính theo cơ chế một giá theo Nghị định 188/NĐ-CP của Chính phủ quy định về giá đất và người bị đền bù có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền vay ngân hàng bằng nguồn tiền Nhà nước bồi thường; trong trường hợp này rủi ro ngân hàng thấp hơn, song không loại trừ khả năng biến động giá thị trường đất khi Nhà nước đền bù thấp hơn quá nhiều so với giá tại thời điểm ngân hàng nhận thế chấp, bảo lãnh hoặc người bị thu hồi đất sử dụng hết số tiền được bồi thường trước khi hoàn trả ngân hàng; đặc biệt lưu ý đối với đất dự án được cấp đã vượt thời gian pháp luật quy định về thời hạn phải sử dụng khi khách hàng đem thế chấp, bảo lãnh.
Thứ hai: Trước khi xem xét món vay CBTD, CBTĐ cần đánh giá việc sử dụng đất của khách hàng có QSD đất có đúng mục đích hay không, việc sử dụng và khai thác quỹ đất được Nhà nước giao, cho thuê có trả tiền có hiệu quả hay không, có cố tình huỷ hoại đất hay không? Nếu có dấu hiệu trên CBTD từ chối không cho vay. Nếu trong trường hợp món vay đã được giải ngân trong quá trình kiểm tra sử dụng món vay, CBTD đặc biệt lưu ý hiện trạng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của khách hàng đang sử dụng như thế nào? Có dấu hiệu sử dụng đất sai với mục đích ban đầu hoặc không có hiệu quả hay cố tình huỷ hoại để có cơ sở lập biên bản và thu hồi vốn vay trước hạn, tránh nguy cơ bị Nhà nước thu hồi đất.
Thứ ba: Cần xem xét các giấy tờ chứng minh người có quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh vay vốn Ngân hàng có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không như tiền thuê đất, tiền sử dụng đất liên tiếp trong vòng năm năm gần nhất.
Thứ tư: Xem xét kỹ thời hạn Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thời hạn trong giấy chứng nhận QSD đất so với thời gian khách hàng đề nghị xin vay, trong trường hợp được gia hạn phải có giấy tờ chứng minh.
Thứ năm: Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án đầu tư có được sử dụng đúng thời hạn Nhà nước quy định hay không? Tiến độ thực tế thực hiện dự án so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư.
Trong trường hợp khách hàng không đáp ứng được hoặc đáp ứng không đầy đủ các vấn đề trên, mặc dù pháp luật bảo vệ quyền của Ngân hàng khi QSD đất của khách hàng đang thế chấp, bảo lãnh bị Nhà nước thu hồi. Song, ngân hàng hoàn toàn có quyền từ chối món vay đó do tài sản thế chấp, bảo lãnh không đáp ứng được điều kiện tín dụng của Ngân hàng dễ gây rủi ro thất thoát./.

SOURCE: ICB.COM.VN

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ CHUYỂN NỢ VAY NGÂN HÀNG THÀNH GÓP VỐN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

THS. NGUYỄN LAN HƯƠNG

Hiện nay Chính phủ đang quyết tâm đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng khả năng hội nhập của các doanh nghiệp (DN), nhất là khi chúng ta đang cận kề “Cửa ngôi nhà WTO”. Quá trình cổ phần hoá nảy sinh vấn đề khá bức xúc: Các doanh nghiệp đang có nợ vay ngân hàng (NH) đề nghị NH chuyển nợ vay thành vốn góp. Bài viết dưới đây xin giới thiệu cùng bạn đọc những qui định hiện có về góp vốn, mua cổ phần và đôi điều suy nghĩ của tác giả về việc chuyển nợ vay thành vốn góp.
Hoạt động góp vốn, mua cổ phần: Hiện nay hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các Tổ chức tín dụng được qui định trong Luật các tổ chức tín dụng, Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 của Thống đốc ngân hàng nhà nước. Trên cơ sở của Luật các Tổ chức tín dụng, Quyết định của Thống đốc NHNN, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã ban hành văn bản số 016/2001/QĐ-HĐQT -NHCT ngày 23/3/2001 qui định chi tiết mục đích, điều kiện, thủ tục và những vấn đề liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần áp dụng trong toàn hệ thống Ngân hàng Công thương .
Điều 69- Luật các Tổ chức tín dụng qui định: “Tổ chức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.”
Điều 80- Luật các Tổ chức tín dụng qui định: “Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.”
Quyết định số 492/2000/QĐ – NHNN5 ngày 28/11/2000 của Ngân hàng Nhà nước qui định đối tượng mà tổ chức tín dụng được góp vốn, mua cổ phần; thủ tục, trình tự và mức góp vốn của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác.
Quyết định số 016 /2001/ QĐ – HĐQT – NHCT ngày 23/03/2001 của Hội đồng quản trị Ngân hàng Công thương Việt Nam: Cụ thể hoá điều kiện và những vấn đề liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT VN).
Tại Điều lệ của NHCT VN (Điều 14§) có qui định: “ Ngân hàng Công thương thực hiện các hoạt động khác sau đây:
– Dùng điều lệ và quĩ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác theo qui định của pháp luật.
– Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại Việt Nam theo qui định của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam”.
Việc chuyển nợ vay thành vốn góp được qui định tại:
1. Nghị định số 69/ 2002/ NĐ-CP ngày 12/07/2002 của Chính phủ về quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước.
2. Thông tư số 05/2003/ TT – NHNN ngày 24/02/2003 hướng dẫn xử lý nợ tồn đọng của DNNN theo nghị định 69/2002 ngày 12/7/2002
Ngân hàng được chuyển nợ thành vốn góp vào doanh nghiệp và được chuyển nhượng phần vốn góp này.Trong trường hợp này, Ngân hàng thương mại phải dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ tương ứng với phần nợ đã chuyển thành vốn góp vào doanh nghiệp và phải đảm bảo tỷ lệ vốn góp theo quy định trong Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 ngày 28/11/2000 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành quy định về việc góp vốn mua cổ phần của tổ chức tín dụng (không vượt quá 11% so với vốn điều lệ của DN đó).
3. Công văn số 1097/CV-NHCT 4 ngày 07/04/2003 của Ngân hàng Công thương VN về việc hướng dẫn thực hiện thông tư 05/2003/TT-NHNN ngày 24/02/2003:
Trường hợp Chi nhánh, SGD có nhu cầu chuyển nợ thành vốn góp thì phải báo cáo, đề nghị NHCT VN và chỉ được thực hiện khi NHCT VN chấp thuận.
Những thuận lợi, vướng mắc trong việc chuyển nợ vay NH thành vốn góp:
1 – Thuận lợi:
+ Tạo cơ hội để thu hồi đối với các khoản nợ khó đòi. Giải quyết, xử lý nợ tồn đọng tại Ngân hàng, làm giảm nợ tồn đọng, thực hiện cơ cấu lại nợ, làm trong sạch báo cáo tài chính của Ngân hàng cũng như của doanh nghiệp.
+ Khi doanh nghiệp được cổ phần hóa, doanh nghiệp này sẽ có những kế hoạch và chiến lược kinh doanh chắc chắn, an toàn và khả thi hơn. Vì vậy khi chuyển nợ vay thành vốn góp tại doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp này có hướng phát triển đi lên, kinh doanh có lãi thì được coi khoản đầu tư của ngân hàng sẽ mang lại lợi nhuận
2 – Khó khăn:
+ Hiện nay, chưa có cơ chế góp vốn của tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp trong nước để thành lập nên 1 pháp nhân mới, hoạt động kinh doanh mà chỉ được mua cổ phần của công ty cổ phần.
+ Việc chuyển nợ vay thành vốn góp đối với doanh nghiệp khó khăn về tài chính trước khi cổ phần hoá sẽ khó mang lại hiệu quả. Do đó sẽ làm giảm hiệu quả của việc góp vốn, mua cổ phần.
+ Theo Điều 2 tại Quyết định số 016/20001/QĐ-HĐQT -NHCT ngày 23/03/2001 có quy định: “NHCT chỉ góp vốn liên doanh, mua cổ phần nào các dự án nếu xét thấy khả thi và có hiệu quả hoặc công ty kinh doanh có lãi (trừ trường hợp cấp có thẩm quyền chỉ định bằng văn bản)”. Việc chuyển nợ vay thành vốn góp ở những doanh nghiệp khó khăn về tài chính trước khi cổ phần hoá sẽ khó mang lại hiệu quả, làm giảm hiệu quả chung của việc góp vốn, mua cổ phần.
+ Ảnh hưởng hoạt động chính của Ngân hàng: Trong tình hình hiện nay, vốn điều lệ của ngân hàng còn thấp và đã phải san sẻ để cấp cho các công ty trực thuộc, góp vốn liên doanh theo qui định của Thống đốc NHNN. Vì vậy, nếu chuyển nhiều các khoản nợ vay thành vốn góp và theo qui định số vốn góp này phải được trích từ vốn điều lệ của ngân hàng sẽ làm vốn điều lệ của ngân hàng bị giảm sút nên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng (cho vay tối đa đối với 1 khách hàng không vượt quá 15c% vốn điều lệ, đầu tư mua sắm tài sản cố định không vượt qúa 50% vốn điều lệ…)
+ Việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng bị hạn chế theo mức quy định tại Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 ngày 28/11/2000 của Thống đốc ngân hàng nhà nước. Nếu khoản nợ vay đã quá đà, lớn hơn 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, thì việc chuyển nợ vay thành vốn góp không thể thực hiện một cách dễ dàng.
+ Góp vốn bằng nợ vay tại doanh nghiệp mà đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó ngân hàng ít am hiểu, không phải sở trường, không có thế mạnh thì dù NH có cổ phần đủ để tham gia Hội đồng quản trị hoặc trực tiếp quản lý DN cũng là một điều bất cập đối với ngân hàng và khó mang lại hiệu quả.
Qua việc phân tích trên đây cho thấy: Ngân hàng chỉ nên chuyển nợ vay thành vốn góp tại những doanh nghiệp tiềm năng hoặc đang làm ăn có lãi (đang trong tiến trình cổ phần hoá, có đề án cải cách hiệu quả, hoạt động kinh doanh phát triển) Có như vậy mới có thể đạt được hiệu quả góp vốn.
Việc phải chuyển nợ vay thành vốn góp tại các doanh nghiệp nhà nước đang làm ăn thua lỗ, không trả được nợ ngân hàng là giải pháp tình thế. Thông thường, các doanh nghiệp có nhu cầu chuyển khoản nợ vay sang làm vốn góp là những khoản nợ vay tồn đọng, không có tài sản bảo đảm và khó có thể thu hồi được. Vì vậy, thông tư 05/2003/TT-NHNN ra đời cho phép việc chuyển nợ vay thành vốn góp là một trong những giải pháp nhằm để xử lý nợ tồn đọng của DNNN. Đây là giải pháp tình thế trong tiến trình cơ cấu lại NHTM và DNNN. Còn bản chất của khoản nợ là không thay đổi -đây là khoản nợ tồn đọng, khó đòi, cho dù nó đã được thay đổi cách hạch toán để làm sạch bảng cân đối kế toán của Ngân hàng cũng như của doanh nghiệp (không còn nợ quá hạn, nợ gia hạn, lãi treo…).

SOURCE: icb.COM.VN

QUY TẮC BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

QUY TẮC BẢO HIỂM BẮT BUỘC
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

(Ban hành theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC
ngày 25 tháng 2 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

CHƯƠNG I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới kể cả chủ xe là người nước ngoài sử dụng xe cơ giới trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
2. Chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong Quy tắc này bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xe cơ giới gây ra thiệt hại về người và tài sản đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Quy tắc này, các khái niệm dưới đây được hiểu như sau:
1. Người thứ ba: là những người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do việc sử dụng xe cơ giới gây ra, trừ những người sau:
– Lái xe, phụ xe trên chính chiếc xe đó;
– Người trên xe và hành khách trên chính chiếc xe đó;
– Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó.
2. Hành khách: là những người được chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách thuộc các hình thức quy định trong Bộ Luật dân sự.
3. Mức trách nhiệm bảo hiểm: là số tiền tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả cho thiệt hại về người và tài sản trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
4. Hành động cố ý gây thiệt hại: là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Điều 3. Hợp đồng bảo hiểm
Giấy chứng nhận bảo hiểm do doanh nghiệp cấp theo yêu cầu của người được bảo hiểm là bằng chứng ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa chủ xe cơ giới và doanh nghiệp bảo hiểm. Nội dung chính của Giấy chứng nhận bảo hiểm được quy định tại Phụ lục 1- Nội dung giấy chứng nhận bảo hiểm ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều 4. Phí bảo hiểm và mức trách nhiệm bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm và chủ xe cơ giới có trách nhiệm thực hiện bảo hiểm theo Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận với chủ xe để bảo hiểm theo biểu phí và mức trách nhiệm cao hơn hoặc phạm vi rủi ro bảo hiểm rộng hơn Quy tắc bảo hiểm, Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều 5. Hiệu lực bảo hiểm

Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo quy định ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm (trừ trường hợp có thoả khác bằng văn bản).
Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe mà chủ xe cơ giới không có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến chiếc xe được bảo hiểm vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới.
Điều 6. Huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm
Trường hợp có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm biết trước 15 ngày. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo huỷ bỏ, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên được huỷ bỏ, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời gian huỷ bỏ, trừ trường hợp trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đã xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến chiếc xe có yêu cầu huỷ bỏ bảo hiểm.
Điều 7. Trách nhiệm của chủ xe cơ giới
1. Khi yêu cầu bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải thông báo đầy đủ và trung thực những nội dung trong Giấy yêu cầu bảo hiểm.
2. Khi tai nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm:
2.1. Cứu chữa, hạn chế thiệt hại về người và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn, báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm để phối hợp giải quyết. Trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ khi có lý do chính đáng), chủ xe cơ giới phải gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông báo tai nạn (Phụ lục 2: Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính);
2.2. Không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp làm như vậy là cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại cho người và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
2.3. Bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm trong phạm vi số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường kèm theo toàn bộ chứng từ cần thiết có liên quan.
3. Chủ xe cơ giới phải trung thực trong việc thu thập và cung cấp các tài liệu, chứng từ trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình xác minh tính chân thực của các tài liệu, chứng từ đó.
4. Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng xe theo quy định tại Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, chủ xe cơ giới phải thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm biết để điều chỉnh lại tỷ lệ phí bảo hiểm cho phù hợp.
Nếu chủ xe cơ giới không thực hiện đầy đủ các trách nhiệm quy định trên thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường tương ứng với thiệt hại do lỗi của chủ xe cơ giới gây ra.
Điều 8. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm
1. Hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để chủ xe cơ giới tham gia bảo hiểm.
2. Trong các vụ tai nạn, nếu xét thấy cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải phối hợp chặt chẽ với chủ xe cơ giới và các cơ quan chức năng ngay từ đầu để giải quyết tai nạn. Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục một cách tốt nhất hậu quả tai nạn.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an để thu thập các giấy tờ cần thiết có liên quan nhằm xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại của vụ tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
4. Khi hồ sơ bồi thường đầy đủ và hợp lệ, doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành xét và giải quyết bồi thường trong thời hạn giải quyết bồi thường quy định tại Điều 13 dưới đây.

Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Điều 9. Trách nhiệm bảo hiểm
Trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thanh toán cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới phải bồi thường theo Bộ Luật Dân sự về những thiệt hại đã xảy ra cho người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển do việc sử dụng xe cơ giới gây ra cụ thể:
1. Đối với thiệt hại về người:
Bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, bồi dưỡng, chăm sóc người bị hại trước khi chết, mai táng phí hợp lý… theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.
Chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận lựa chọn phương pháp trả tiền áp dụng theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người (Phụ lục số 3 – Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
2. Đối với thiệt hại tài sản: bồi thường thiệt hại thực tế theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.
3. Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan tới vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra;
Tổng các khoản bồi thường và chi phí nêu trên không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm và không vượt quá số tiền thực tế chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân theo hoà giải dân sự hoặc quyết định của toà án.
Trường hợp chủ xe cơ giới tham gia từ 2 hợp đồng bảo hiểm trở lên cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính trên một hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm cấp hợp đồng bảo hiểm đầu tiên có trách nhiệm giải quyết bồi thường và thu hồi số tiền bồi thường chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm.
Điều 10. Giám định tổn thất
Mọi tổn thất về tài sản thuộc trách nhiệm bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành giám định thiệt hại (trừ khi có thoả thuận khác) với sự chứng kiến của chủ xe cơ giới, người thứ ba hoặc người đại diện hợp pháp của các bên có liên quan để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại do tai nạn gây ra.
Trường hợp chủ xe cơ giới không thống nhất về nguyên nhân và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm xác định, hai bên sẽ thoả thuận chọn giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp thực hiện việc giám định. Kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp là căn cứ để xác định thiệt hại. Trường hợp kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp khác với kết luận của giám định viên bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp trùng với kết luận của giám định viên bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải chịu chi phí giám định.
Trong trường hợp đặc biệt, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thể thực hiện được việc lập biên bản giám định, thì có thể căn cứ vào các biên bản, kết luận của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và các hiện vật thu được (ảnh chụp, lời khai của các bên có liên quan) để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại.
Điều 11. Loại trừ bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra trong các trường hợp sau:
1. Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe/lái xe, hoặc của người bị thiệt hại;
2. Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường (đối với loại xe yêu cầu phải có);
3. Lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ (đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có giấy phép lái xe); lái xe có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá quy định của pháp luật hiện hành, khi có kết luận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng;
4. Xe sử dụng để đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa (trừ khi có thoả thuận khác);
5. Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm;
6. Thiệt hại có tính chất gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại;
7. Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn;
8. Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự như chiến tranh;
9. Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.
Điều 12. Hồ sơ yêu cầu bồi thường
Hồ sơ bồi thường bao gồm các giấy tờ sau:
1. Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường (Phụ lục 2- Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
2. Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người như Giấy chứng thương của nạn nhân, Giấy ra viện, Phiếu mổ và các giấy tờ liên quan đến các chi phí chăm sóc, cứu chữa, Giấy chứng tử của nạn nhân, các chứng từ điều trị, chi phí mai táng.
3. Các giấy tờ chứng minh thiệt hại tài sản như hoá đơn sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại do tai nạn; các giấy tờ chứng minh các chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ xe đã chi ra để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.
4. Bản kết luận điều tra tai nạn của công an, trong trường hợp không có kết luận điều tra tai nạn của công an, việc bồi thường sẽ căn cứ vào Biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm.

Chương III
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Điều 13. Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường
1. Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới: một năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khả kháng theo quy định của pháp luật.
2. Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm: mười lăm (15) ngày kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường đầy đủ và hợp lệ và không kéo dài quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ.
Trường hợp từ chối bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho chủ xe cơ giới biết lý do từ chối bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm.
3. Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm: ba (3) năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Quá thời hạn trên mọi khiếu nại không còn giá trị.
4. Trường hợp người thứ ba hay hành khách theo hợp đồng vận chuyển bị thiệt hại về người và tài sản do xe cơ giới đã tham gia bảo hiểm gây ra khiếu nại trực tiếp đòi doanh nghiệp bảo hiểm đó bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm liên hệ với chủ xe cơ giới để giải quyết bồi thường theo đúng các quy định tại Quy tắc này.
Điều 14. Giải quyết tranh chấp
Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, nếu không giải quyết được bằng thương lượng giữa các bên liên quan sẽ được đưa ra Toà án tại Việt Nam giải quyết.

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Thứ trưởng
Lê Thị Băng Tâm