NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ về phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau như khởi kiện và thụ lý, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của toà án. Tại phiên toà sơ thẩm, toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong các giai đoạn trước, những yêu cầu của các đương sự được xem xét, đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và toàn diện với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trên cơ sở kết quả phiên toà, hội đồng xét xử sẽ quyết định ra bản án hoặc các quyết định về việc giải quyết vụ án, trong đó xác định các quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt là cơ sở để toà án ra bản án, quyết định chính xác, khách quan, góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm giải quyết được dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; ổn định giao lưu dân sự, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế XHCN được bảo đảm.

Trong những năm gần đây, số lượng các tranh chấp dân sự ngày càng ra tăng và phức tạp. “…Tuy nhiên, trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót…”[1], “… nhiều trường hợp việc điều tra, xác minh, xây dựng hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt việc chấp hành các thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót…”[2]. Bên cạnh đó, các quy định của các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ về phiên toà sơ thẩm còn sơ sài, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v.. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao …

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và toà án nói riêng. Đó là: “…Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, Hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”. Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của toà án tại phiên toà sơ thẩm. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, trong đó với 45 điều từ Điều 196 đến Điều 241, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, đầy đủ và chặt chẽ hơn trước, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các đương sự , người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v..

I. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm

Ba pháp lệnh PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996 ( sau đây gọi tắt là ba pháp lệnh thủ tục) không có những quy định chung về phiên toà sơ thẩm. BLTTDS có hẳn một mục, gồm 17 điều, từ Điều 196 đến Điều 212 quy định về những quy định chung về phiên toà sơ thẩm, trong đó chứa đựng nhiều quy định mới so với ba pháp lệnh trước kia.

1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm.

Để đảm bảo cho các hoạt động tiến hành phiên toà diễn ra đúng thời gian, địa điểm, công khai, khách quan thì việc tiến hành phiên toà sơ thẩm ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc chung được quy định từ Điều 3 đến Điều 24, BLTTDS còn quy định thêm hai nguyên tắc tại các điều 196, 197. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên toà.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS). Theo quy định này, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; và phát biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia không quy định về nguyên tắc này nhưng thực chất nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” là việc kế thừa nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng miệng và liên tục” đã được quy định trong “Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96- NCPL ngày 8/2/1997 của TANDTC”. Quy định này nhằm bảo đảm cho tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện.

Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi. Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197). Sở dĩ BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm bảo đảm cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ. Tòa án phải xét xử xong từng vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án.

1.2. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm và việc thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.

Theo PlTTGQCVADS thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.Theo các PlTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế và vụ án lao động gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của ba pháp lệnh trước kia và xuất phát từ thực tiễn Điều 52 BLTTDS quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Ba pháp lệnh thủ tục không quy định việc có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào đó của hội đồng xét xử vì một lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa. Điều 198 BLTTDS quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên toà. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do chánh án toà án quyết định.

1.3.Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để đảm bảo việc xét xử trực tiếp nên tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà. Ba pháp lệnh thủ tục quy định về những người tham gia phiên toà sơ thẩm trong một điều luật, nhưng BLTTDS quy định tại các điều, từ điều 199 đến điều 207. Theo đó, những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên. Về cơ bản thành phần những người tham gia phiên toà sơ thẩm không khác trước, tuy nhiên khác với các pháp lệnh trước kia, theo quy định của BLTTDS kiểm sát viên chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại ( khoản 2 Điều 21 BLTTDS).

1.4. Vấn đề hoãn phiên toà sơ thẩm

* Về căn cứ hoãn phiên toà

Theo khoản 1 Điều 208 BLTTDS hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:

– Trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký toà án, kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người dự khuyết để thay thế ( Điều 51, 207);

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng ( Điều 199, 200, 201, 203);

– Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch ( khoản 2 Điều 72). Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử ( Điều 206);

– Người làm chứng vắng mặt trong trường hợp lời khai của họ là cần thiết tại phiên toà; người giám định vắng mặt, trong trường hợp cần xem xét kết luận giám định tại phiên toà.

– Khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung tại phiên toà.

* Về thời hạn hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định về thời hạn hoãn phiên toà nên nếu phiên toà bị hoãn thời hạn giải quyết vụ án thường bị kéo dài. Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên toà không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

* Quyết định hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định rõ việc hoãn phiên toà có được thực hiện bằng quyết định hay không, sau khi hoãn phiên toà toà án có phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để xác định lại thời gian địa điểm mở phiên toà hay không dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các toà án. Để tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, BLTTDS quy định rõ việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều 208 BLTTDS. Quyết định hoãn phiên tòa phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về nội quy phiên toà, bản án sơ thẩm, biên bản phiên toà, chuẩn bị khai mạc phiên toà.

2. Thủ tục tiến hành phiên toà

So với các pháp lệnh thủ tục trước kia, các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy định trong BLTTDS chi tiết, cụ thể hơn, gồm 27 điều, từ Điều 213 đến Điều 239. Hơn nữa, trình tự của mỗi bước cũng có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền dân chủ và quyền tự định đoạt của các đương sự, xác định rõ quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.1.Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên toà

Các pháp lệnh chỉ có một điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà, BLTTDS có hẳn một mục về thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm bốn điều luật. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn đề mới so với các pháp lệnh nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới quan trọng của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên toà và thư ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên toà đã được triệu tập. Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù các pháp lệnh không quy định nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng xét xử chủ động giải quyết khi có người tham gia tố tụng vắng mặt.

2.2. Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”. Cách gọi đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự. Đối với vụ án dân sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải là việc truy xét của nhà nước về một hành vi vi phạm pháp luật.

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước rất nhiều. Trước kia các pháp lệnh quyđịnh khi khởi kiện các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng không có văn bản nào quy định trường hợp nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về toà án. Vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v.. Còn theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không ( Điều 217). Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại pjiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụngcủa các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Theo quy định của các pháp lệnh trước kia, việc hoà giải tại phiên toà sơ thẩm không mang tính chất bắt buộc và nếu xét thấy có khả năng hoà giải hội đồng xét xử sẽ hoà giải tại phần thủ tục tranh luận. Khác với trước kia, theo BLTTDS tại phiên toà toà án không hoà giải mà trong phần hỏichủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.

Sau khi nghe các đương sự trình bày xong, sẽ đến phần hỏi tại phiên toà. Về thứ tự người hỏi tại phiên toà cũng có sự thay đổi. Trước kia theo các pháp lệnh, sau khi hội đồng xét xử hỏi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi. Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt độngtư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Về nội dung hỏi, khác với trước kia hội đồng xét xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trong thủ tục này, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228). Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.

2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia chỉ quy định một điều luật về tranh luận tại phiên toà, còn BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án v.v.. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị là: “Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa”. Vì vậy, những quy định về tranh luận tại phiên toà cũng có nhiều thay đổi.

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận. Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa;

Về trình tự tranh luận, các pháp lệnh trước kia các đương sự trình bày quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Đề vai trò của người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trình tranh luận đạt kết quả, Điều 232 BLTTDS quy định khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến (theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan). Để đảm bảo cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ được sử dụng tất cả các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn chế thời gian tranh luận nhưnh chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

2.4. Nghị án và tuyên án

a, Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Các pháp lệnh thủ tục trước đây chỉ có một điều luật về nghị án với nội dung đơn giản và không cụ thể. Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và 237 với những nội dung trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”. Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án. Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, thứ tự biểu quyết khi nghị án cũng được quy định cụ thể là hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, BLTTDS còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.[3] Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án.

b, Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v.. không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc. Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v.. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

II. Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 là sự thống nhất ba pháp lệnh : PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ. Bộ luật đã có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Trong quy định về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, BLTTDS đã khắc phục được nhiều hạn chế của các pháp lệnh thủ tục trước đây. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy, nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, thủ tục tranh luận đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, tạo một bước đột phá trong việc mở rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng. Tuy vậy, BLTTDS còn có những bất cập nhất định. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có mặt của người đại diện tại phiên tòa sơ thẩm dân sự.

2. Theo ba pháp lệnh thủ tục trước kia, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, tòa án đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này. Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án. Theo chúng tôi, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà. Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành([4]).

Theo chúng tôi “lý do chính đáng” tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v..

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn [5]. Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà. Vì vậy, theo tôi đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà.

3. “Phạm vi yêu cầu” (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) quy định tại Điều 218 là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, nên hiểu phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi về giá trị của yêu cầu. Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu được nêu trong đơn khởi kiện chứ không phải là yêu cầu tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứ cứ phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

4. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. Theo chúng tôi, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. sẽ thay đổi . Cho nên, BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó.

5. Trong thủ tục hỏi tại phiên toà, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử nhưng hiện tại không phải toà án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án.

1.1. 6. Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án”. Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch bản án phải chính xác, vì vậy cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được công việc của mình đồng thời phải đảm bảo đủ thời gian cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Theo chúng tôi, Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”. Pháp luật tố tụng dân sự một số nước về phiên toà sơ thẩm dân sự.

Xây pháp luật TTDS nói chung và các qui định pháp luật về phiên toà sơ thẩm dân sự nói riêng phù hợp với thực tiễn Việt nam, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế là một vấn đề không đơn giản. Mặc dù khi nghiên cứu pháp luật TTDS Việt nam qua các giai đoạn lịch sử trước đó và pháp luật hiện hành, chúng ta có thể kế thừa những qui định hợp lý đã từng tồn tại, nhưng ngày nay( nghề luật ngày càng trở nên mang tính quốc tế và trong thề giới hiện đại các luật gia không thể tự giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu pháp luật của chính nước mình)[6]. Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số nét cơ bản về phiên toà sơ thẩm dân sự một số nước trên thế giới nhằm so sánh và tham khảo.

1.4.1. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Thuỵ Điển[7]:

Pháp luật Việt Nam và Thuỵ Điển đều thuộc hệ thống pháp luật Civil law nhưng có nhiều điểm khác biệt. Các quy định về tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật năm 1734. Đây là Bộ luật quy định về Đất đai, dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có cả các quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Hệ thống toà án được chia thành 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm. Toà sơ thẩm được thiết lập ở các địa phương, có chức năng xét xử cả hình sự và dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được bắt đầu bằng việc hai bên trao đổi tài liệu viết cho nhau. Sau đó, bên nguyên đơn sẽ gửi đơn đến toà án. Toà án sẽ gặp gỡ hai bên để hoà giải. Phiên toà sơ thẩm dân sự được mở nếu sau phiên toà trù bị, các bên vẫn còn có tranh chấp và không hoà giải được. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trên những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp liên quan đến bí mật riêng tư, liên quan đến người dưới 18 tuổi, một số vụ việc về gia đình… thì toà án xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Thành phần tham gia xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc về dân sự như tranh chấp về tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại…không có bồi thẩm, có thể một thẩm phán hoặc ba thẩm phán ( đối với vụ án phức tạp) . Các vụ việc về hôn nhân gia đình, lao động, liên quan đến… vì cần phải xem xét đến yếu tố đạo đức, xã hội nên có bồi thẩm tham gia với thành phần là 1 thẩm phán và 3 bồi thẩm.

Khác với pháp luật Việt Nam, Viện công tố chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự chứ không tham gia vào vụ án dân sự.

– Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do thì toà án vẫn mở phiên toà xét xử vắng mặt họ chứ không cần đến lần thứ hai như quy định của pháp luật Việt Nam.

– Về vấn đề tranh tụng tại phiên toà : không như pháp luật nước ta, ở Thuỵ Điển, thẩm phán chỉ lắng nghe ý kiến của người làm chứng, lập luận của các bên đương sự, có vấn đề gì không rõ, thẩm phán nêu một số câu hỏi để người làm chứng, đương sự trình bày. Sau khi nghe tất cả các bên tranh tụng thẩm phán sẽ đưa ra quyết định ai là người thắng kiện.

Điểm cần lưu ý

1.4.2. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ[8]

Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng dân sự khởi đầu với một văn bản viết lời buộc tội của nguyên đơn và hình thức bồi thường anh ta muốn, được gọi là “đơn kiện”. Sau đó toà án gửi trát đòi ra hầu toà, yêu cầu phải trả lời đơn kiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi nhận được nó.

Bị đơn phải thừa nhận hoặc phủ nhận từng lời cáo buộc và đưa ra những lý lẽ biện hộ. Anh ta cũng có thể đưa ra lời buộc tội chống lại nguyên đơn, một bị đơn khác hoặc một người vốn chưa được nêu tên trong vụ việc(điểm này có nét tương đồng với quy định của BLTTDS Việt Nam về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn). Trong văn bản trả lời, anh ta còn có thể yêu cầu toà án bác bỏ vụ kiện do không có lời buộc tội xác đáng, do thiếu quyền hạn pháp lý đối với nội dung vụ kiện hoặc bản thân bị đơn. Anh ta cũng có thể cho rằng nguyên đơn đã khởi kiện tại một toà án không thích hợp hoặc bị đơn không được thông báo một cách hợp lệ về vụ việc sắp xảy ra.

Giai đoạn tiếp theo là một“quá trình điều tra”khái quát, thường là quá trình

trình này không liên quan đến toà án. Tuy nhiên, một bên tìm kiếm chứng cứ có thể yêu cầu toà án giúp đỡ để buộc bên đối lập không chịu hợp tác hoặc những người khác phải cung cấp thông tin. Tương tự như vậy, bên bị hạch sách chứng cứ một cách bất hợp lý có thể yêu cầu toà án bảo vệ.

Việc điều tra có thể bao gồm những câu hỏi dạng viết cần phải được trả lời sau khi đã tuyên thệ trước toà; yêu cầu cung cấp những tài liệu thích hợp; kiểm tra về thể lực và tâm thần nếu có đơn kiện về gây thương tổn; yêu cầu thừa nhận những điều không thuộc phạm vi tranh chấp. Trước khi xét xử, mỗi bên đều có thể đề nghị phán quyết ngay về bất kỳ vấn đề nào thiếu chứng cứ. Nếu vụ việc tiếp tục được xét xử, toà án có thể ra một lệnh tiền xét xử, xác định những vấn đề sẽ được quyết định trong xét xử và đưa ra các điều khoản khác để tiến hành.

Phiên toà thường được tiến hành công khai trước dân chúng tại một toà án chỉ với một thẩm phán, nếu các bên không đồng ý với điều này thì thành phần xét xử sẽ có thêm ban bồi thẩm gồm từ 6 đến 12 bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên. Các bên cũng có quyền đòi loại ra một số bồi thẩm viên nhất định. Thẩm phán điều hành quy trình xét xử và tuyên bố luật pháp được áp dụng. Sau những lời tuyên bố mở đầu, bên nguyên đơn, người có trách nhiệm dẫn chứng đưa ra bằng chứng của mình còn bị đơn phải trình bày lập luận của mình. Thẩm phán có thể bác bỏ tất cả hoặc bất kỳ lời cáo buộc nào tỏ ra không có sức thuyết phục. Sau đó, mỗi bên được phép trình bày một tuyên bố kết thúc và thẩm phán giải thích luật cho ban bồi thẩm nhưng ban bồi thẩm phải tự mình quyết định sự thật là gì và theo đó quyết định về vụ án. Cũng giống như pháp luật tố tụng Việt Nam , bản án được quyết định dựa trên đa số. Trong trường hợp không có ban bồi thẩm thì thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết.

Kết luận

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời với nhiều quy định mới nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, trong đó có quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Song có thể nhận thấy rằng, trên thực tế, đây là điều không dễ dàng, nó đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực rất lớn.

Xét về mặt nghiên cứu lý luận thì phiên toà sơ thẩm dân sự không phải là vấn đề mới mẻ, nhưng xét trên phương diện thực tiễn thì đây là vấn đề còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm.

Trong khoá luận này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá những quy định của BLTTDS về các thủ tục cần tiến hành tại phiên toà sơ thẩm dân sự, từ việc chuẩn bị mở phiên toà cho đến khi nghị án và tuyên án, kể cả những việc phải tiến hành sau phiên toà sơ thẩm. Trong quá trình phân tích tác giả có nêu lên những tình huống và những hạn chế thiếu sót trên thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của phiên toà sơ thẩm và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự; đó là các kiến nghị về việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, người viết cũng đề cập đến một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về vấn đề nghiên cứu để tăng sự phong phú cho việc trình bày khoá luận.

Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, sự tiếp xúc với thực tiễn chưa nhiều nên chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp của các thày, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này./.


[1] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000

[2] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999

[3] Tài liệu hội thảo “ BLTTDS- nhừng điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(1)Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể.

[5] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.

[6] Luật so sánh

[7] Về pháp luật tố tụng dân sự- Kỷ yếu Dự án VIE/ 95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội 5/2000, tr 30-35.

[8] Tạp chí Điện tử – Triển vọng kinh tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1999.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau như khởi kiện và thụ lý, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của toà án. Tại phiên toà sơ thẩm, toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong các giai đoạn trước, những yêu cầu của các đương sự được xem xét, đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và toàn diện với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trên cơ sở kết quả phiên toà, hội đồng xét xử sẽ quyết định ra bản án hoặc các quyết định về việc giải quyết vụ án, trong đó xác định các quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt là cơ sở để toà án ra bản án, quyết định chính xác, khách quan, góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm giải quyết được dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; ổn định giao lưu dân sự, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế XHCN được bảo đảm.

Trong những năm gần đây, số lượng các tranh chấp dân sự ngày càng ra tăng và phức tạp. “…Tuy nhiên, trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót…”[1], “… nhiều trường hợp việc điều tra, xác minh, xây dựng hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt việc chấp hành các thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót…”[2]. Bên cạnh đó, các quy định của các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ về phiên toà sơ thẩm còn sơ sài, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v.. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao …

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và toà án nói riêng. Đó là: “…Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, Hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”. Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của toà án tại phiên toà sơ thẩm. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, trong đó với 45 điều từ Điều 196 đến Điều 241, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, đầy đủ và chặt chẽ hơn trước, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các đương sự , người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v..

I. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm

Ba pháp lệnh PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996 ( sau đây gọi tắt là ba pháp lệnh thủ tục) không có những quy định chung về phiên toà sơ thẩm. BLTTDS có hẳn một mục, gồm 17 điều, từ Điều 196 đến Điều 212 quy định về những quy định chung về phiên toà sơ thẩm, trong đó chứa đựng nhiều quy định mới so với ba pháp lệnh trước kia.

1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm.

Để đảm bảo cho các hoạt động tiến hành phiên toà diễn ra đúng thời gian, địa điểm, công khai, khách quan thì việc tiến hành phiên toà sơ thẩm ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc chung được quy định từ Điều 3 đến Điều 24, BLTTDS còn quy định thêm hai nguyên tắc tại các điều 196, 197. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên toà.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS). Theo quy định này, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; và phát biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia không quy định về nguyên tắc này nhưng thực chất nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” là việc kế thừa nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng miệng và liên tục” đã được quy định trong “Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96- NCPL ngày 8/2/1997 của TANDTC”. Quy định này nhằm bảo đảm cho tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện.

Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi. Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197). Sở dĩ BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm bảo đảm cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ. Tòa án phải xét xử xong từng vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án.

1.2. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm và việc thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.

Theo PlTTGQCVADS thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.Theo các PlTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế và vụ án lao động gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của ba pháp lệnh trước kia và xuất phát từ thực tiễn Điều 52 BLTTDS quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Ba pháp lệnh thủ tục không quy định việc có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào đó của hội đồng xét xử vì một lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa. Điều 198 BLTTDS quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên toà. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do chánh án toà án quyết định.

1.3.Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để đảm bảo việc xét xử trực tiếp nên tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà. Ba pháp lệnh thủ tục quy định về những người tham gia phiên toà sơ thẩm trong một điều luật, nhưng BLTTDS quy định tại các điều, từ điều 199 đến điều 207. Theo đó, những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên. Về cơ bản thành phần những người tham gia phiên toà sơ thẩm không khác trước, tuy nhiên khác với các pháp lệnh trước kia, theo quy định của BLTTDS kiểm sát viên chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại ( khoản 2 Điều 21 BLTTDS).

1.4. Vấn đề hoãn phiên toà sơ thẩm

* Về căn cứ hoãn phiên toà

Theo khoản 1 Điều 208 BLTTDS hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:

– Trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký toà án, kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người dự khuyết để thay thế ( Điều 51, 207);

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng ( Điều 199, 200, 201, 203);

– Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch ( khoản 2 Điều 72). Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử ( Điều 206);

– Người làm chứng vắng mặt trong trường hợp lời khai của họ là cần thiết tại phiên toà; người giám định vắng mặt, trong trường hợp cần xem xét kết luận giám định tại phiên toà.

– Khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung tại phiên toà.

* Về thời hạn hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định về thời hạn hoãn phiên toà nên nếu phiên toà bị hoãn thời hạn giải quyết vụ án thường bị kéo dài. Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên toà không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

* Quyết định hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định rõ việc hoãn phiên toà có được thực hiện bằng quyết định hay không, sau khi hoãn phiên toà toà án có phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để xác định lại thời gian địa điểm mở phiên toà hay không dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các toà án. Để tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, BLTTDS quy định rõ việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều 208 BLTTDS. Quyết định hoãn phiên tòa phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về nội quy phiên toà, bản án sơ thẩm, biên bản phiên toà, chuẩn bị khai mạc phiên toà.

2. Thủ tục tiến hành phiên toà

So với các pháp lệnh thủ tục trước kia, các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy định trong BLTTDS chi tiết, cụ thể hơn, gồm 27 điều, từ Điều 213 đến Điều 239. Hơn nữa, trình tự của mỗi bước cũng có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền dân chủ và quyền tự định đoạt của các đương sự, xác định rõ quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.1.Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên toà

Các pháp lệnh chỉ có một điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà, BLTTDS có hẳn một mục về thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm bốn điều luật. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn đề mới so với các pháp lệnh nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới quan trọng của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên toà và thư ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên toà đã được triệu tập. Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù các pháp lệnh không quy định nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng xét xử chủ động giải quyết khi có người tham gia tố tụng vắng mặt.

2.2. Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”. Cách gọi đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự. Đối với vụ án dân sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải là việc truy xét của nhà nước về một hành vi vi phạm pháp luật.

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước rất nhiều. Trước kia các pháp lệnh quyđịnh khi khởi kiện các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng không có văn bản nào quy định trường hợp nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về toà án. Vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v.. Còn theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không ( Điều 217). Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại pjiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụngcủa các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Theo quy định của các pháp lệnh trước kia, việc hoà giải tại phiên toà sơ thẩm không mang tính chất bắt buộc và nếu xét thấy có khả năng hoà giải hội đồng xét xử sẽ hoà giải tại phần thủ tục tranh luận. Khác với trước kia, theo BLTTDS tại phiên toà toà án không hoà giải mà trong phần hỏichủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.

Sau khi nghe các đương sự trình bày xong, sẽ đến phần hỏi tại phiên toà. Về thứ tự người hỏi tại phiên toà cũng có sự thay đổi. Trước kia theo các pháp lệnh, sau khi hội đồng xét xử hỏi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi. Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt độngtư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Về nội dung hỏi, khác với trước kia hội đồng xét xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trong thủ tục này, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228). Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.

2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia chỉ quy định một điều luật về tranh luận tại phiên toà, còn BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án v.v.. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị là: “Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa”. Vì vậy, những quy định về tranh luận tại phiên toà cũng có nhiều thay đổi.

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận. Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa;

Về trình tự tranh luận, các pháp lệnh trước kia các đương sự trình bày quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Đề vai trò của người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trình tranh luận đạt kết quả, Điều 232 BLTTDS quy định khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến (theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan). Để đảm bảo cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ được sử dụng tất cả các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn chế thời gian tranh luận nhưnh chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

2.4. Nghị án và tuyên án

a, Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Các pháp lệnh thủ tục trước đây chỉ có một điều luật về nghị án với nội dung đơn giản và không cụ thể. Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và 237 với những nội dung trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”. Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án. Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, thứ tự biểu quyết khi nghị án cũng được quy định cụ thể là hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, BLTTDS còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.[3] Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án.

b, Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v.. không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc. Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v.. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

II. Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 là sự thống nhất ba pháp lệnh : PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ. Bộ luật đã có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Trong quy định về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, BLTTDS đã khắc phục được nhiều hạn chế của các pháp lệnh thủ tục trước đây. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy, nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, thủ tục tranh luận đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, tạo một bước đột phá trong việc mở rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng. Tuy vậy, BLTTDS còn có những bất cập nhất định. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có mặt của người đại diện tại phiên tòa sơ thẩm dân sự.

2. Theo ba pháp lệnh thủ tục trước kia, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, tòa án đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này. Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án. Theo chúng tôi, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà. Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành([4]).

Theo chúng tôi “lý do chính đáng” tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v..

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn [5]. Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà. Vì vậy, theo tôi đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà.

3. “Phạm vi yêu cầu” (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) quy định tại Điều 218 là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, nên hiểu phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi về giá trị của yêu cầu. Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu được nêu trong đơn khởi kiện chứ không phải là yêu cầu tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứ cứ phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

4. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. Theo chúng tôi, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. sẽ thay đổi . Cho nên, BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó.

5. Trong thủ tục hỏi tại phiên toà, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử nhưng hiện tại không phải toà án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án.

1.1. 6. Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án”. Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch bản án phải chính xác, vì vậy cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được công việc của mình đồng thời phải đảm bảo đủ thời gian cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Theo chúng tôi, Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”. Pháp luật tố tụng dân sự một số nước về phiên toà sơ thẩm dân sự.

Xây pháp luật TTDS nói chung và các qui định pháp luật về phiên toà sơ thẩm dân sự nói riêng phù hợp với thực tiễn Việt nam, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế là một vấn đề không đơn giản. Mặc dù khi nghiên cứu pháp luật TTDS Việt nam qua các giai đoạn lịch sử trước đó và pháp luật hiện hành, chúng ta có thể kế thừa những qui định hợp lý đã từng tồn tại, nhưng ngày nay( nghề luật ngày càng trở nên mang tính quốc tế và trong thề giới hiện đại các luật gia không thể tự giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu pháp luật của chính nước mình)[6]. Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số nét cơ bản về phiên toà sơ thẩm dân sự một số nước trên thế giới nhằm so sánh và tham khảo.

1.4.1. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Thuỵ Điển[7]:

Pháp luật Việt Nam và Thuỵ Điển đều thuộc hệ thống pháp luật Civil law nhưng có nhiều điểm khác biệt. Các quy định về tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật năm 1734. Đây là Bộ luật quy định về Đất đai, dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có cả các quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Hệ thống toà án được chia thành 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm. Toà sơ thẩm được thiết lập ở các địa phương, có chức năng xét xử cả hình sự và dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được bắt đầu bằng việc hai bên trao đổi tài liệu viết cho nhau. Sau đó, bên nguyên đơn sẽ gửi đơn đến toà án. Toà án sẽ gặp gỡ hai bên để hoà giải. Phiên toà sơ thẩm dân sự được mở nếu sau phiên toà trù bị, các bên vẫn còn có tranh chấp và không hoà giải được. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trên những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp liên quan đến bí mật riêng tư, liên quan đến người dưới 18 tuổi, một số vụ việc về gia đình… thì toà án xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Thành phần tham gia xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc về dân sự như tranh chấp về tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại…không có bồi thẩm, có thể một thẩm phán hoặc ba thẩm phán ( đối với vụ án phức tạp) . Các vụ việc về hôn nhân gia đình, lao động, liên quan đến… vì cần phải xem xét đến yếu tố đạo đức, xã hội nên có bồi thẩm tham gia với thành phần là 1 thẩm phán và 3 bồi thẩm.

Khác với pháp luật Việt Nam, Viện công tố chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự chứ không tham gia vào vụ án dân sự.

– Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do thì toà án vẫn mở phiên toà xét xử vắng mặt họ chứ không cần đến lần thứ hai như quy định của pháp luật Việt Nam.

– Về vấn đề tranh tụng tại phiên toà : không như pháp luật nước ta, ở Thuỵ Điển, thẩm phán chỉ lắng nghe ý kiến của người làm chứng, lập luận của các bên đương sự, có vấn đề gì không rõ, thẩm phán nêu một số câu hỏi để người làm chứng, đương sự trình bày. Sau khi nghe tất cả các bên tranh tụng thẩm phán sẽ đưa ra quyết định ai là người thắng kiện.

Điểm cần lưu ý

1.4.2. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ[8]

Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng dân sự khởi đầu với một văn bản viết lời buộc tội của nguyên đơn và hình thức bồi thường anh ta muốn, được gọi là “đơn kiện”. Sau đó toà án gửi trát đòi ra hầu toà, yêu cầu phải trả lời đơn kiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi nhận được nó.

Bị đơn phải thừa nhận hoặc phủ nhận từng lời cáo buộc và đưa ra những lý lẽ biện hộ. Anh ta cũng có thể đưa ra lời buộc tội chống lại nguyên đơn, một bị đơn khác hoặc một người vốn chưa được nêu tên trong vụ việc(điểm này có nét tương đồng với quy định của BLTTDS Việt Nam về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn). Trong văn bản trả lời, anh ta còn có thể yêu cầu toà án bác bỏ vụ kiện do không có lời buộc tội xác đáng, do thiếu quyền hạn pháp lý đối với nội dung vụ kiện hoặc bản thân bị đơn. Anh ta cũng có thể cho rằng nguyên đơn đã khởi kiện tại một toà án không thích hợp hoặc bị đơn không được thông báo một cách hợp lệ về vụ việc sắp xảy ra.

Giai đoạn tiếp theo là một“quá trình điều tra”khái quát, thường là quá trình

trình này không liên quan đến toà án. Tuy nhiên, một bên tìm kiếm chứng cứ có thể yêu cầu toà án giúp đỡ để buộc bên đối lập không chịu hợp tác hoặc những người khác phải cung cấp thông tin. Tương tự như vậy, bên bị hạch sách chứng cứ một cách bất hợp lý có thể yêu cầu toà án bảo vệ.

Việc điều tra có thể bao gồm những câu hỏi dạng viết cần phải được trả lời sau khi đã tuyên thệ trước toà; yêu cầu cung cấp những tài liệu thích hợp; kiểm tra về thể lực và tâm thần nếu có đơn kiện về gây thương tổn; yêu cầu thừa nhận những điều không thuộc phạm vi tranh chấp. Trước khi xét xử, mỗi bên đều có thể đề nghị phán quyết ngay về bất kỳ vấn đề nào thiếu chứng cứ. Nếu vụ việc tiếp tục được xét xử, toà án có thể ra một lệnh tiền xét xử, xác định những vấn đề sẽ được quyết định trong xét xử và đưa ra các điều khoản khác để tiến hành.

Phiên toà thường được tiến hành công khai trước dân chúng tại một toà án chỉ với một thẩm phán, nếu các bên không đồng ý với điều này thì thành phần xét xử sẽ có thêm ban bồi thẩm gồm từ 6 đến 12 bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên. Các bên cũng có quyền đòi loại ra một số bồi thẩm viên nhất định. Thẩm phán điều hành quy trình xét xử và tuyên bố luật pháp được áp dụng. Sau những lời tuyên bố mở đầu, bên nguyên đơn, người có trách nhiệm dẫn chứng đưa ra bằng chứng của mình còn bị đơn phải trình bày lập luận của mình. Thẩm phán có thể bác bỏ tất cả hoặc bất kỳ lời cáo buộc nào tỏ ra không có sức thuyết phục. Sau đó, mỗi bên được phép trình bày một tuyên bố kết thúc và thẩm phán giải thích luật cho ban bồi thẩm nhưng ban bồi thẩm phải tự mình quyết định sự thật là gì và theo đó quyết định về vụ án. Cũng giống như pháp luật tố tụng Việt Nam , bản án được quyết định dựa trên đa số. Trong trường hợp không có ban bồi thẩm thì thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết.

Kết luận

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời với nhiều quy định mới nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, trong đó có quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Song có thể nhận thấy rằng, trên thực tế, đây là điều không dễ dàng, nó đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực rất lớn.

Xét về mặt nghiên cứu lý luận thì phiên toà sơ thẩm dân sự không phải là vấn đề mới mẻ, nhưng xét trên phương diện thực tiễn thì đây là vấn đề còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm.

Trong khoá luận này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá những quy định của BLTTDS về các thủ tục cần tiến hành tại phiên toà sơ thẩm dân sự, từ việc chuẩn bị mở phiên toà cho đến khi nghị án và tuyên án, kể cả những việc phải tiến hành sau phiên toà sơ thẩm. Trong quá trình phân tích tác giả có nêu lên những tình huống và những hạn chế thiếu sót trên thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của phiên toà sơ thẩm và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự; đó là các kiến nghị về việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, người viết cũng đề cập đến một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về vấn đề nghiên cứu để tăng sự phong phú cho việc trình bày khoá luận.

Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, sự tiếp xúc với thực tiễn chưa nhiều nên chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp của các thày, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này./.


[1] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000

[2] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999

[3] Tài liệu hội thảo “ BLTTDS- nhừng điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(1)Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể.

[5] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.

[6] Luật so sánh

[7] Về pháp luật tố tụng dân sự- Kỷ yếu Dự án VIE/ 95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội 5/2000, tr 30-35.

[8] Tạp chí Điện tử – Triển vọng kinh tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1999.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP.

TS. NGUYỄN HOÀNG LƯUPhó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, là quá trình tất yếu, khách quan nhằm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Sau một năm Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, tác động của nó đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, đặc biệt là đến môi trường kinh doanh.

1. Những kết quả đã đạt được:

Nhận xét chung của các doanh nghiệp đều nhất trí đánh giá việc Việt Nam gia nhập WTO có tác động tốt đến sự phát triển kinh doanh của mình. Ở cấp độ vĩ mô sẽ mở ra những cơ hội mới cho việc mở rộng thị trường, thu hút thêm đầu tư, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ở tất cả các lĩnh vực, đảm bảo sự hài hoà giữa luật lệ, chính sách và quy định của Việt Nam với thông lệ và tiêu chuẩn của quốc tế. Nhận xét này cũng đã được Ban thư ký Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam báo cáo trong Diễn đàn vào đầu tháng 12 vừa qua về : “Điều tra cảm nhận môi trường kinh doanh Việt Nam”. Các doanh nghiệp cũng nhận xét là trong những năm gần đây, đặc biệt năm 2007 môi trường kinh doanh cũng đã được cải thiện đôi chút và từng bước được hoàn thiện.

Thứ nhất: Chính phủ đã có những cải thiện hệ thống pháp lý, luật lệ cho phù hợp khi Việt Nam gia nhập WTO và những sáng kiến cải cách mà Chính phủ cam kết thực hiện. Bên cạnh việc ban hành các văn bản như Luật Doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật kế toán, kiểm toán, luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là đã xây dựng nhiều chương trình, đề án có mục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng phát triển.

Thứ hai: Đã có nhiều tiến bộ của Chính phủ và các doanh nghiệp trong việc gia nhập thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, cơ sở hạ tầng về dịch vụ viễn thông và cung cấp điện năng đã có nhiều nỗ lực tiến bộ.

Thứ ba: TRong năm qua đã có nhiều thay đổi tích cực trong việc đối xử bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài, điều này không những thể hiện ở việc ban hành và có hiệu lực của Luật doanh nghiệp , Luật đầu tư áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp mà còn thể hiện ở cả trong việc thực hiện Luật đất đai, luật thuế, luật kế toán và kiểm toán….

Thứ tư: Việc tiếp cận với các nguồn tài chính, tín dụng của các doanh nghiệp đã có nhiêuì tiến bộ; khoảng 25-30% số doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp đã có điều kiện tiếp cận với các nguồn tài chính, tín dụng khác nhau và được sự hỗ trợ đầy đủ trong việc triển khai các hoạt động kinh doanh.

Thứ năm: Qua điều tra nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đánh gía cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải tiến luật lệ và các quy định cho phù hợp với các quy định và thông lệ kinh doanh quốc tế.

Thứ sáu: Sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nướcvới hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp (các Hiệp hội đa ngành, đa lĩnh vực, ngành nghề…)đã có nhiều biến chuyển và vị thế của Hội, Hiệp hội ngày càng được nâng cao, doanh nghiệp có thành tích được tôn vinh.

2. Tồn tại :

Tuy nhiên, nhìn lại một năm gia nhập WTO , còn tồn tại những vấn đề cần phải giải quyết trong môi trường kinh doanh, cụ thể là:

Thứ nhất : Về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng về giao thông ( đường sắt, đường bộ, cầu, cảng ..v.v) còn kém. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế và dòng đầu tư của nước ngoài. Bên cạnh đó nhiều dự án lớn bị chậm trễ do nhiều nguyên nhân trong đó có vần đề giao thông, cũng như sự phát triển không đồng bộ trong lĩnh vực này như có đường thì chưa có cầu, chưa có bến cảng , kho bãi ..v.v .. làm cho tình hình lại càng khó khăn hơn, gây tốn kém thêm chi phí kinh doanh và làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp.

Thứ hai: Bảo hộ sở hữu trí tuệ ( IPR) : vẫn là vấn đề nóng hiện nay và là một trở ngại gây thiệt hại không chỉ doanh nghiệp nước ngoài mà cả doanh nghiệp trong nước. Tình trạng chiếm dụng thương hiệu, làm nhái sản phẩm của những thương hiệu nổi tiếng hàng giả, hàng kém chất lượng, tranh chấp bản quyền.v.v…vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều chỗ. Sự yếu kém trong bảo bộ sở hữu trí tuệ đã làm hại doanh nghiệp trong nước nhiều hơn doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ ba: Môi trường pháp lý: hệ thống tòa án và thực thi luật pháp còn nhiều hạn chế nguyên nhân do các thủ tục còn rườm rà và chi phí cao, thiếu tính minh bạch.

Thứ tư: Hiệu quả của dịch vụ hành chính vẫn còn yếu kém chưa được tinh giản, tốc độ cải cách hành chính vẫn chậm, nạn quan liêu, tham nhũng vẫn còn nhiều và ngày càng tinh vi, rất khó phát hiện.

Thứ năm: hệ thống thuế và quản lý thuế cũng còn nhiều bất cập từ chính sách thuế như chi phí quảng cáo khuyến mại, thuế giá trị gia tăng đối với hàng khuyến mại, thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ xuất khẩu….đến luật thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế cần có những bước điều chỉnh , cải cách, đồng bộ và thực tiễn hơn

Thứ sáu: nguồn nhân lực có trình độ quản lý và tay nghề cao còn rất thiếu. Theo thống kê chỉ có gần 30% lực lượng lao động là đã qua đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, chưa đồng đều, sử dụng chưa hiệu quả. Ngay ở Hà Nội là trung tâm kinh tế đứng thứ 2 trong cả nước sau thành phố Hồ chí minh thì với hơn nửa triệu lao động được đào tạo có bằng cấp các loại thì số có trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật chiếm 37 %( trong đó số có bằng công nhân kỹ thuật chỉ chiếm 10%) số có trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 21%, số có trình độ đại học và cao đẳng chiếm 40%, và số có trình độ trên đại học là 2%. Đặc biệt số công nhân kỹ thuật bậc cao ( bậc 6, 7/ 7) và số kỹ sư thực hành thạo chuyên môn là rất hiếm.

Thứ bảy : Vẫn còn sự bất bình đẳng trong sự việc phát triển các vùng miền. Tình trạng chỉ tập trung phát triển ở thành thị , còn nông thôn và các vùng sâu, vùng xa còn chưa được chú trọng đúng mức là vẫn còn chưa được cải tiến từ nhận thức đến hành động. Ngay tại các vùng miền cũng có sự phân bổ không đồng đều về nguồn ngân sách và sự chỉ đạo dẫn đến tình trạng mất cân đối. Bởi vậy doanh nghiệp hoạt động ở vùng nông thôn và các vùng miên xa xôi gặp rất nhiều khó khăn ( nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng, nguồn thông tin…)

3. Kiến nghị và giải pháp cần cải thiện môi trường kinh doanh.

Thứ nhất: Rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác có liên quan đều lo ngại về sự phục hồi hàng loạt các “ giấy phép con” khi cho ra đời những luật lệ và quy định mới; bởi vậy cần xóa bỏ những giấy phép không cần thiết, đấy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

Thứ hai: việc tiếp tục ngăn chặn, kiểm soát nạn quan liêu, tham nhũng phải được làm chặt chẽ, quyết liệt. Cần công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc, người chịu trách nhiệm ở tất cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện . Công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước những công chức gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân và doanh nghiệp, những người thiếu trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba: Tiếp tục cải cách việc soạn thảo và ban hành thực thi các văn bản pháp luật ( cấp phép, đầu tư , thương mại , sở hữu trí tuệ) theo hướng tinh giản, thực tiễn, đồng bộ, chuẩn mực, có sự tham gia ý kiến rộng rãi của đông đảo các tầng lớp nhân dân và doanh nghiệp, và được thực thi nghiêm minh, công bằng, không có trường hợp ngoại lệ đối với việc cấp phép đầu tư , giấy phép kinh doanh và bảo vệ sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Cần rà soát lại các văn bản pháp quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

Thứ tư: Cải cách, đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực: Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện nguồn nhân lực. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu. Để thực hiện mục tiêu trên cần tổng điều tra, đánh giá lại nguồn nhân lực nói chung và nhân lực kỹ thuật nói riêng; thực hiện quy hoạch sắp xếp hệ thống,các trường, cơ sở dậy nghề, các trường đào tạo của Nhà Nước, hướng vào đào tạo cơ bản, tập trung dài hạn theo hệ chuẩn và những ngành nghề mũi nhọn, công nghệ cao.

Coi trọng phát hiện bồi dưỡng, thu hút sử dụng và đãi ngộ đội ngũ tri thức, chuyên gia trình độ cao, đặc biệt là các nhân tài, phát triển thị trường lao động có tổ chức.

Thứ năm: Cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện: cần cho phép và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển hạ tầng. Đồng thời cần có nhiều nỗ lực hơn nữa đẩy nhanh sự phát triển cơ sở hạ tầng trên bộ, bao gồm đường sá, cầu cống.

Thứ sáu: Cần tiếp tục hỗ trợ việc phát triển các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời hỗ trợ các Hiệp hội doanh nghiệp cho xứng với tầm vóc là người đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp. Để thực hiện điều này Nhà nước cần ban hành Luật về phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, luật về Hiệp hội và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn để triển khai.

SOURCE: trade.hochiminhcity.gov.vn

WTO – KINH NGHIỆM MỘT NĂM TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ

LS. LÊ CÔNG ĐỊNH  – Công ty luật DC LAW

Việt Nam trở thành Thành viên chính thức của WTO thực sự mở ra cánh cửa cơ hội để phát triển đất nước, tất nhiên vẫn còn nhiều việc phía trước cần phải làm. Một năm trôi qua cho thấy chúng ta có nhiều vấn đề cần phải giải quyết từ những góc độ khác nhau của nền kinh tế. Bài viết này nêu lên một số vấn đề cần điều chỉnh từ kinh nghiệm của các luật sư tư vấn cho các doanh nghiệp đang hoạt động, kinh doanh tại thị trường Việt Nam trước và sau thời điểm Việt Nam trở thành hội viên WTO.

Vai trò điều hành và quản lý nền kinh tế của chính phủ

Trong môi trường cạnh tranh để định hình nền kinh tế thị trường, một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp là tăng cường khả năng quản trị. Giải pháp quản trị này có hai mặt, thứ nhất tự thân doanh nghiệp thay đổi và, thứ hai, chính phủ với tư cách là người hỗ trợ doanh nghiệp cũng phải thay đổi, tức là cải tổ cách thức điều hành và quản lý nền kinh tế của chính phủ theo hướng rõ ràng, minh bạch. Đây cũng là nguyên tắc của WTO và là yêu cầu đối với các Thành viên của tổ chức này.

Sự hiệu quả của mỗi chính phủ được đo lường bằng những luật lệ và chính sách tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp kinh doanh và tăng lợi nhuận. Luật lệ và chính sách được ban hành chỉ nhằm mục đích tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp yên tâm kiếm tiền và đóng thuế. Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn do những luật lệ hay chính sách hay việc thực thi từ phía các cơ quan nhà nước, thì ngày đó chúng ta vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện thêm chính sách và việc thực thi chúng để có một hệ thống, cơ chế điều hành nền kinh tế hiệu quả hơn.

Theo kết quả của một cuộc khảo sát gần đây đối với giới doanh nhân trong nước – những người đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia bằng chính của cải và kỹ năng quản lý của mình – đã dẫn đến một kết quả đáng ngạc nhiên là khá nhiều doanh nghiệp không cảm thấy hài lòng về cơ chế chính sách và hệ thống hành chính liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ.

Trong một nhà nước pháp trị có hệ thống luật pháp minh bạch được xây dựng trên những tiêu chuẩn mà Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đòi hỏi, cơ quan hành pháp cần tránh ấn định các quy tắc hạn chế hoặc ngăn cản quyền kinh doanh chính đáng của công dân mà Hiến pháp đã công nhận.

Việc cải tổ cách thức điều hành và quản lý nền kinh tế của chính phủ cũng đòi hỏi sự thay đổi cách suy nghĩ của các cán bộ trong bộ máy hành chính trong việc điều hành một nền kinh tế thị trường chuyên nghiệp. Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực, nên cần làm ngay và kiên trì từng bước.

Cải cách lập pháp và lập quy

Cải cách lập pháp và lập quy đã được tiến hành từ hơn mười năm nay với nhiều thành tựu. Tuy nhiên, trọng tâm của công cuộc cải tổ mang tầm vóc quốc gia này hầu như chỉ nhằm giải quyết những vấn đề nội tại của hệ thống luật pháp, hơn là hướng đến mục tiêu cải cách kinh tế hoặc tạo điều kiện để cả hai tiến trình này được thực thi đồng thời trong mối liên kết chặt chẽ. Do vậy, trọng tâm sắp tới của cải cách luật pháp cần phải được xác định rõ ràng là phát triển kinh tế. Để đạt mục tiêu như vậy cần lưu tâm đến các vấn đề quan trọng dưới đây.

Thứ nhất, cách soạn thảo luật hiện tại, đặc biệt trong lĩnh vực thuế và hải quan, hầu như không tính đến khả năng tuân thủ luật và lợi ích của đối tượng được áp dụng là các doanh nghiệp. Nguyên nhân là vì cho đến nay luật lệ chuyên ngành vẫn do chính các bộ ngành liên quan soạn thảo và các cơ quan này thường chỉ quan tâm đến sự tiện dụng của mình trong việc quản lý nhà nước.

Hãy trao cho các đại biểu quốc hội quyền soạn thảo những dự án luật. Họ sẽ tự trưng cầu ý kiến và sự hỗ trợ về chuyên môn từ các chuyên gia trong công việc lập pháp của mình. Tất nhiên các bộ vẫn được trao quyền đề xuất dự án luật, song chỉ hạn chế trong một số trường hợp đặc biệt và dự án đó phải được đệ trình lên quốc hội để tranh luận.

Thứ hai, việc soạn thảo các văn bản dưới luật của các cơ quan công quyền hiện chú trọng nhiều vào việc áp đặt nhiều thủ tục phức tạp và biện pháp trừng phạt khi vi phạm thủ tục đó, trong khi sự vi phạm của chính cơ quan công quyền thì không được quan tâm nhiều, hoặc nếu có thì cũng chỉ là những quy định chung chung. Bên cạnh đó, việc áp dụng và giải thích không nhất quán các cam kết WTO theo hướng mặc nhiên hạn chế hoặc ngăn cản quyền của nhà đầu tư nước ngoài cũng là điều đáng báo động hiện nay.

Để minh bạch hóa quy trình lập quy, cần tránh việc các cơ quan công quyền khi ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành luật tự ý giải thích luật theo ý của mình hoặc đặt ra các thủ tục mà luật không minh định. Phải cân bằng giữa lợi ích nhà nước và quyền lợi của công dân.

Thay đổi quan niệm về vai trò giải thích luật của tòa án

Vai trò của tòa án đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền rất quan trọng bởi vì nó liên quan đến niềm tin của giới doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài, đối với việc thực thi các cam kết WTO của Việt Nam.

Thứ nhất, tòa án cần thủ giữ vai trò kiến tạo đường hướng án lệ để giải thích luật pháp do Quốc hội ban hành. Đời sống pháp lý hàng ngày của xã hội rất cần những đường hướng án lệ để giúp làm sáng tỏ nhiều điều luật tối nghĩa mà cơ quan lập pháp vô tình tạo ra khi soạn thảo luật. Không một định chế nào khác ngoài tòa án có quyền giải thích luật. Thói quen trao cho cơ quan lập pháp hoặc hành pháp quyền hướng dẫn cách áp dụng luật bấy lâu nay cần phải chấm dứt, đơn giản là vì những cơ quan này không có thẩm quyền như vậy và hướng dẫn của họ không có giá trị ràng buộc đối với người dân.

Khi vận dụng luật để xét xử, thẩm phán có quyền đưa ra quan điểm cá nhân để giải thích luật, quan điểm đó nếu đúng đắn và hợp lý sẽ trở thành án lệ để các tòa án khác noi theo khi xét xử những vụ án tương tự trong tương lai. Đặc biệt, quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao khi can thiệp bằng một phán quyết chung thẩm, trong đó xác nhận hoặc bác bỏ cách giải thích luật của tòa sơ thẩm, sẽ tạo thành đường hướng án lệ mới mà mọi tòa án về sau, kể cả cơ quan hành pháp và người dân, phải quan tâm khi áp dụng luật. Như vậy, bằng hoạt động tài phán hàng ngày của mình, tòa án góp phần đáng kể vào việc duy trì sự ổn định của hệ thống luật pháp quốc gia.

Thứ hai, trong khi luật pháp vẫn còn chưa hoàn thiện và đầy đủ, thì tòa án bằng quyền tài phán của mình cần thủ giữ vai trò tạo lập và duy trì trật tự pháp lý và trật tự xã hội, tránh tình trạng vô tình góp phần tạo ra những bất công hoặc tiền lệ xấu cho hành vi ứng xử của công dân trong xã hội.

Trên thực tế, nhiều vụ tranh chấp đã được tòa án giải quyết với kết quả bất lợi đối với bên có quyền lợi chính đáng bị vi phạm, nhiều khi chỉ vì thẩm phán khi xét xử chỉ biết áp dụng luật một cách máy móc. Tuân thủ luật là điều quan trọng và cần thiết đối với thẩm phán trong hoạt động xét xử, song mục đích tối hậu của quyền tài phán vẫn là lẽ công bằng và sự ổn cố của xã hội, chính luật pháp cũng được ban hành chỉ nhằm mục đích mang lại công lý và trật tự mà thôi. Không nên nhầm lẫn giữa một bên là phương tiện và bên kia là mục đích.

* * * *

Trên đây là một vài nhận xét và góp ý mà giới luật sư trong phạm vi công việc hàng ngày thường gặp và hy vọng có sự điều chỉnh với mong ước điều đó có thể giúp tạo ra một tiền đề tốt thúc đẩy hơn nữa tiến trình cải cách nền kinh tế quốc gia./.

SOURCE: trade.hochiminhcity.gov.vn

SẼ HỢP PHÁP HÓA CỜ BẠC, CÁ ĐỘ

NGUYỄN THƯỜNG

Tienphongonline – Theo ông Phạm Văn Hoàng – Trưởng phòng Xổ số, vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính) thì đây là phương pháp quản lý tối ưu mà thế giới đã lựa chọn. Tất nhiên, song hành là những công cụ giám sát, kiểm tra chặt chẽ, khoa học từ tư duy đến tổ chức, thi hành.

Hợp pháp hóa đánh bạc có thể sẽ được hiện thực hóa sau khi hai bộ Tài chính, KH&ĐT hoàn tất việc rà soát, đề xuất và trình Chính phủ các dự thảo pháp quy.

“Bất diệt” và lợi hại

Các sòng bạc, trường gà, đường dây cá độ bóng đá của Năm Cam, Thắng “tài dậu”, Khánh “trắng”, Dung “hà”… từng làm kinh hoàng xã hội. Rất nhiều sới bạc người Việt ở Campuchia, Trung Quốc với quy mô khổng lồ quy tập các đại gia khát nước…

Các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều tụ điểm có bảo kê, công nghệ hiện đại, cấu kết với chính quyền và cơ quan bảo vệ luật pháp. Cá độ từng làm mục ruỗng cả một nền bóng đá quốc gia, còn dẫn dắt cả những con bạc “triệu đô” tai to mặt lớn.

Ngày 26/5 vừa qua, tại khách sạn Food Centrer of Saigon, liên doanh của một DN thuộc Công an TPHCM, 45 con bạc bị bắt thì có tới 32 khách nội địa. Rồi ngày 4/8 gần đây, công an lại hốt được 28 người Việt “nội địa” đang sát phạt tại Casino Hoàng Gia (Quảng Ninh), nơi từng có một công chức trẻ đốt 4 triệu USD rồi sa lưới pháp luật… 

Ngành công an thống kê: hiện cả nước có hơn 200 “chủ đề” (tổ chức chơi số đề) doanh thu từ 500 triệu đến hàng tỷ đồng/chủ/ngày đêm. Và cứ trong 24 tiếng đồng hồ thì có tới hàng ngàn người qua biên giới Campuchia, Trung Quốc đánh bạc với con số hàng chục triệu USD.

Ở “chiếu trên” thì vậy, còn trong đời sống thì có thể bắt gặp các hình thức đánh bạc ở bất cứ đâu, ai, lứa tuổi nào và thời gian nào với các trò bài lá, đánh cờ ăn tiền, bi-a, bida, cá độ bóng đá, ném vòng, bắn súng, chọi gà… Đánh bài dân gian có thể tổ chức ở quán cà phê, cơ quan, gia đình, nhà nghỉ, trên tàu xe, ngoài vỉa hè…

Tháng 8 vừa qua, tại Tam Đảo công an cất vó nhiều lãnh đạo TCT Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội cũng vì sát phạt.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng, bước đầu nên chọn những trò có hình thức, quy mô dễ chơi, dễ quản lý và mức độ thắng thua vừa phải.

Mối liên kết của tội phạm có tổ chức, lũng đoạn chính quyền, ma túy, mại dâm… cần cảnh giác cao độ. Để khống chế mặt trái như bần cùng hóa, giàu có bất ngờ, sự cám dỗ quá đáng v.v… thì bên cạnh việc kiểm soát quảng cáo, chúng ta cần tạo những sân chơi phi cờ bạc thật hấp dẫn, phong phú và đại chúng.

Ông Hoàng cho biết, hiện hai cơ quan được giao là Bộ KHĐT và Bộ Tài chính nghiên cứu rà soát thực trạng các cơ sở đang kinh doanh đặt cược, đánh bạc và đề xuất các văn bản pháp lý quản lý mô hình này.

Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, đánh bạc hấp dẫn bởi nó là hoạt động giải trí có động lực, có tính cộng đồng cao.

Về lý thuyết, nó có luật chơi minh bạch và công bằng, sòng phẳng và có hiệu ứng nhanh (trả tiền ngay). Chơi bạc có hàm lượng tính hồi hộp, căng thẳng, cân não đòi hỏi bản lĩnh và sự may rủi.

Nhưng điều quyến rũ nhất là lợi nhuận quá lớn so với đồng vốn và thời gian đầu tư…

Vì vậy từ khi đánh bạc ra đời, chưa ở nước nào và khi nào đánh bạc bị triệt tiêu hoàn toàn. Nó đã là một nhu cầu và một thực tế bất diệt. Đa số quốc gia phát triển đã thừa nhận điều này.

Đến nay đánh bạc bằng Internet; chơi xổ số, kinh doanh chứng khoán bằng công nghệ thông tin đã phá bỏ biên giới và mọi rào cản quốc gia thì nhận định trên càng đúng hơn. Với câu chuyện này Việt Nam  không  ngoại lệ.

Cũng theo ông Doanh, nếu không thừa nhận đánh bạc thì những hiệu ứng mặt trái của nó không những khó hạn chế mà do thiếu thông tin nên chúng càng thêm nguy hại.

Ngược lại những mặt tích cực mà rõ nét nhất là thuế thu từ lĩnh vực này, một khối lượng tài chính khổng lồ lại gieo mầm cho những tội phạm mới.

Bộ Tài chính thống kê: kinh doanh xổ số (hình thức duy nhất mang tính đánh bạc, vui chơi có thưởng được cấp phép rộng rãi ở Việt Nam) dù mới chỉ là một phần nhỏ trong lĩnh vực đánh bạc nhưng mỗi năm doanh thu cũng chiếm tới 2,4% GDP và nộp ngân sách đạt 2,5% tổng thu trên toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực này là niềm mơ ước của nhiều ngành kinh tế: 22%/năm!

Đánh bạc trái phép còn là công cụ rửa tiền đáng sợ. Ngược lại nó cũng là một hoạt động quan trọng trong cơ cấu du lịch, giải trí.

Quản lý bằng “móng tay nhọn”

Ở Việt Nam, theo ông Phạm Văn Hoàng – Trưởng phòng xổ số, Vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính): Từ năm 2003 về trước, mọi hình thức đặt cược, đánh bạc đều bị cấm, trừ hình thức chơi xổ số.

Theo xu thế hội nhập, năm 2003 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 32 cho phép một số khách sạn (4 sao trở lên, lưu lượng khách quốc tế lớn) được kinh doanh trò chơi có thưởng bằng máy điện tử và bàn chơi. Nay có khoảng trên dưới 20 điểm.

Về kinh doanh Casino, Chính phủ cấp phép tùy từng dự án cụ thể và hiện có 4 điểm là Đồ Sơn (Hải Phòng), Hoàng Gia, Lợi Lai (Quảng Ninh) và Lào Cai. Xét về số lượng các đơn vị có phép thì Việt Nam hơi nhiều so với các nước cùng khu vực hoặc các quốc gia tương đồng về kinh tế xã hội.

Về công tác quản lý những DN kinh doanh loại hình đặc biệt này được giao cho cơ quan công an các địa phương cùng những bộ ngành liên quan, theo nguyên tắc: chỉ dành cho người có hộ chiếu nước ngoài.

Tuy nhiên, trên thực tế thì tại tất cả những cơ sở đã được kiểm tra đều phát hiện có người Việt (không có hộ chiếu) tham gia. Có cơ sở đã biến thành sân chơi của những ông lớn ham sát phạt, may rủi. Và những khoản tiền khổng lồ đó thường là tiền “không sạch”. Đó là hàng triệu USD của Bùi Tiến Dũng (PMU 18), của những cán bộ biến chất hoặc tội phạm có tổ chức.

Ông Hoàng cho rằng quản lý loại hình kinh doanh đặc biệt phải có những công cụ đặc biệt do các cơ quan chuyên trách đảm nhận. Hiện chúng ta đang quản lý theo hình thức kiêm nhiệm và phương pháp lồng ghép (chung với các nhiệm vụ phòng chống tệ nạn khác). Các cơ sở kinh doanh manh mún, nhỏ lẻ, dàn trải và quá cận kề với địa bàn dân cư…

Ông Hoàng nói, chủ trương mới sẽ thừa nhận và hợp pháp hóa đánh bạc, cá độ. Các văn bản mới sẽ được soạn thảo trên quan điểm: mở nhưng phải chặt. Việc này nhằm giải quyết nhu cầu giải trí và nằm trong xu thế phát triển của một xã hội toàn diện. Nhà nước thu được nguồn thuế lớn từ đây.

Hợp pháp hóa đánh bạc, cá độ còn là phương pháp hữu hiệu để chống cờ bạc, sát phạt phi pháp và bảo vệ quyền lợi người chơi. Sẽ hạn chế số lượng DN bằng cách sàng lọc, chọn những DN có quy mô lớn, khó lẩn tránh kiểm soát.

Ví dụ, DN kinh doanh casino phải có 4 tỷ USD trở lên và phải là một tổ hợp giải trí, nghỉ dưỡng, khách sạn liên hoàn. Các DN phải đặt vấn đề “trách nhiệm xã hội” lên hàng đầu.

Ví dụ: phải phát tờ rơi khuyến cáo khách hàng hãy biết cân đối thu chi. Không được đặt máy rút tiền tự động gần nơi vui chơi… Sơ đồ thiết kế phòng chơi phải báo cáo, trình duyệt. Máy chơi điện tử phải chịu sự quản lý ngặt nghèo về phần mềm.

Các tụ điểm tổ chức đánh bạc, cá độ phải nối máy với cơ quan quản lý để theo dõi trực tiếp. Tỷ lệ thắng tối thiểu phải được đăng ký. Có thể tách khu vực kinh doanh đặc biệt này ra những đặc khu.

Đối với người chơi, cần kiểm soát nguồn gốc tiền tham gia, thành lập danh sách những người không được chơi (có máu sát phạt, từng cầm cố, vay mượn quá sức vì cờ bạc…). Nên quy định mỗi người chơi chỉ được nhận một lần thưởng (trò chơi có thưởng)…

SOURCE: TIENPHONGONLINE

VAI TRÒ CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TRONG KINH DOANH

Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng; khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng đã nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.

Trong kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.

Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm…

Xét về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (giao dịch bảo đảm) mang tính phái sinh. Vấn đề được đặt ra là quan hệ bảo lãnh có phải là quan hệ hợp đồng hay chỉ là cam kết đơn phương? Hợp đồng bảo lãnh ngân hàng được ký kết giữa những chủ thể nào? Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo lãnh thì cơ quan tài phán có thể xem xét một cách độc lập với quan hệ phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh hay không?

Cam kết bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) nếu đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Để được ngân hàng bảo lãnh, bạn cần có đủ các điều kiện sau:

  1. Phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
  2. Mục đích đề nghị bảo lãnh là hợp pháp.
  3. Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, thanh toán với ngân hàng
  4. Phải có tài sản đảm bảo hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh. Quy định về đảm bảo cho bảo lãnh nói rõ: “Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh bao gồm ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật”.
  5. Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong thời hạn cam kết.
  6. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh hoặc bên được bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài, thì ngoài các điều kiện trên, khách hàng còn phải thực hiện các quy định về quản lý vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, quy định về quản lý ngoại hối và các quy định có liên quan khác.
  7. Đối với trường hợp nhận bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu, khách hàng phải đảm bảo các quy định của pháp luật về thương phiếu.

Vậy cam kết của người bảo lãnh có thể xem là hành vi giao kết hợp đồng hay không? Có quan điểm cho rằng, cam kết của người bảo lãnh không thể xem là hợp đồng, vì đây chỉ là sự cam kết đơn phương.

Bộ luật dân sự Việt cũng như của các nước đều xác định các bên có thể thoả thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Với nội dung quy định như vậy, Bộ luật dân sự đã thể hiện rõ là quan hệ bảo lãnh phát sinh trên cơ sở thoả thuận từ việc đưa ra cam kết của người bảo lãnh. Việc ghi nhận yếu tố thoả thuận này chứng tỏ quan hệ bảo lãnh không phát sinh mang tính đơn phương bằng cam kết của riêng bên bảo lãnh.

Trong thực tiễn pháp lý, quan niệm “quan hệ bảo lãnh là quan hệ hợp đồng” vẫn còn khá phổ biến. Theo Từ điển pháp luật của Mỹ, thì bảo lãnh là sự thoả thuận, mà theo đó người bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện.

Như vậy, có thể thấy rõ rằng việc xác định yếu tố thoả thuận trong quan hệ bảo lãnh (dấu hiệu cơ bản của quan hệ hợp đồng) được thể hiện khá rõ trong tư tưởng pháp lý. Vì vậy, sự thoả thuận giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh (bên chấp nhận hành vi bảo lãnh của bên bảo lãnh) là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ bảo lãnh. Đối với cam kết bảo lãnh mà bên bảo lãnh đưa ra thì không nên xem đó chỉ là cam kết đơn phương, mà về bản chất pháp lý thì đó là văn bản dự thảo hợp đồng và nếu không được bên nhận bảo lãnh chấp nhận thì quan hệ bảo lãnh không được thiết lập.

Việc xác định đúng bản chất pháp lý của bảo lãnh là cơ sở để phân định cơ cấu chủ thể của nó. Dựa trên các biểu hiện bên ngoài, việc bảo lãnh có ba bên, bao gồm bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh; nhưng về mặt pháp lý, quan hệ bảo lãnh chỉ đòi hỏi bắt buộc hai bên là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Nhiều chuyên gia pháp luật cho rằng việc tham gia ký kết của bên được bảo lãnh không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lãnh, mặc dù cam kết của bên được bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ với bên bảo lãnh sau khi họ thực hiện nghĩa vụ thay cho mình là cơ sở để người bảo lãnh đưa ra cam kết bảo lãnh. Theo quy định thì cam kết bảo lãnh được đưa ra và chấp nhận giữa hai bên là “người thứ ba” (người bảo lãnh) và “bên có quyền” (người nhận bảo lãnh). Còn việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh được quy định như sau: khi người bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi đã bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác. Theo quan điểm pháp luật của nhiều nước, thì Ngân hàng được phép sử dụng uy tín và khả năng tài chính của mình để đảm bảo cho người nhận bảo lãnh.

Với các quy định trên đây, bên được bảo lãnh là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp đồng bảo lãnh mà không phải là bên đóng vai trò thiết lập hợp đồng bảo lãnh là bên bắt buộc ký kết hợp đồng bảo lãnh. Về mặt nguyên tắc, các bên có thể ký kết hợp đồng bảo lãnh gồm 3 bên, là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Tuy nhiên, do bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh không phải là các chủ thể thuộc cấu trúc chủ thể của hợp đồng bảo lãnh, nên họ không có các quyền và nghĩa vụ tương ứng như quan hệ giữa người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh thưa kiện lẫn nhau, thì tư cách của họ không phải là tư cách của các bên ký kết hợp đồng bảo lãnh, mà là tư cách của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người được bảo lãnh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lãnh.

Khi ngân hàng thực hiện bảo lãnh thì các quan hệ sau đây phát sinh:

– Thứ nhất, quan hệ giữa ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh).

– Thứ hai, quan hệ dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (bên có nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh) phát sinh do thoả thuận giữa các bên trong việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng và nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng với tổ chức tín dụng.

Như vậy, căn cứ vào cấu trúc chủ thể ký kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng theo quy định của pháp luật, sẽ tồn tại 2 loại quan hệ hợp đồng, là quan hệ hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng. Việc phân định rõ hai loại quan hệ tồn tại song song này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh chấp.

Tại Việt Nam, theo quy định của Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, thì bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng; còn bên nhận bảo lãnh (bên có quyền) là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Mặc dù Quy chế bảo lãnh ngân hàng không trực tiếp quy định các loại chủ thể cụ thể là bên nhận bảo lãnh, nhưng căn cứ vào các loại hình bảo lãnh mà các tổ chức tín dụng được phép thực hiện, thì có thể xác định bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia các loại hợp đồng như hợp đồng tín dụng, các loại hợp đồng cung ứng dịch vụ, sản phẩm phát sinh quan hệ thanh toán, các loại hợp đồng phát sinh trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng…

Điều 4 Quy chế bảo lãnh ngân hàng quy định khách hàng được bảo lãnh gồm có: doanh nghiệp nhà nước, các loại doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng, hộ kinh doanh cá thể.

Như vậy, căn cứ vào loại chủ thể và mục đích tham gia ký kết hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự.

Vấn đề được đặt ra là trong trường hợp phát sinh tranh chấp từ hợp đồng bảo lãnh ngân hàng hay từ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng thì có thể xem xét các tranh chấp này độc lập với hợp đồng chính (hợp đồng ký kết giữa bên nhận bảo lãnh với bên được bảo lãnh) hay không?

Trước đây, theo quy định của Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/ 01/1990 của Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi có vi phạm hợp đồng kinh tế được thực hiện cùng với giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế. Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 165/1999/NĐ – CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm thì quy định trên đây của Nghị định số 17/HĐBT hết hiệu lực thi hành. Đến nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này.

Căn cứ vào quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo lãnh ngân hàng (ký kết giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền) và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng (ký kết giữa tổ chức tín dụng với bên được bảo lãnh) có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự. Mặc dù hiện nay ở nước ta, vấn đề cơ sở để phân định hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng không thể giản đơn mà cho rằng tất cả hợp đồng bảo đảm (giao dịch bảo đảm) đều là hợp đồng dân sự. Tuy các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật dân sự, nhưng pháp luật có các quy định mang tính phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự. Bởi vậy, nếu xác định tất cả các hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ (trong đó có hợp đồng bảo lãnh ngân hàng) là hợp đồng dân sự sẽ không phù hợp với pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật về hợp đồng dân sự. Ví dụ, nếu xem là hợp đồng dân sự thì sẽ không phù hợp với pháp luật hợp đồng kinh tế đối với trường hợp tổ chức tín dụng ký hợp đồng bảo lãnh với doanh nghiệp (bên nhận bảo lãnh) để công ty cổ phần (bên được bảo lãnh) dự thầu. Căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì cả hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đều thoả mãn điều kiện của hợp đồng kinh tế, vì các bản hợp đồng trên đều được ký kết giữa các chủ thể kinh doanh, đều thoả mãn điều kiện là phải có một bên tham gia ký kết hợp đồng đủ tư cách pháp nhân và đều nhằm mục đích kinh doanh.

Mặc dù cùng mang tính phái sinh và phụ thuộc vào hợp đồng được bảo đảm (hợp đồng chính), nhưng do hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng có cơ cấu chủ thể mà các quyền, nghĩa vụ tương ứng mang tính độc lập, nên về mặt tố tụng nếu xem tất cả các quan hệ tranh chấp từ các hợp đồng này phụ thuộc vào hợp đồng chính sẽ không hợp lý. Chẳng hạn, nếu tranh chấp phát sinh giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh được xem là tranh chấp mang tính phái sinh, thì rõ ràng tổ chức tín dụng hoặc bên nhận bảo lãnh không thực hiện được quyền khởi kiện một cách độc lập. Mặt khác, nếu các bên tham gia hợp đồng bảo lãnh ngân hàng hoặc hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng không có quyền khởi kiện độc lập và toà án không xem xét tranh chấp một cách độc lập với hợp đồng chính, thì vấn đề đặt ra là họ tham gia tố tụng với tư cách gì? Nếu xem họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn hoặc chỉ với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan thì trong nhiều trường hợp họ không thể chủ động thực hiện các hành vi trong tố tụng như khởi kiện, tham gia phiên toà, kháng cáo để bảo vệ quyền lợi của mình. Chẳng hạn, tổ chức tín dụng và bên được bảo lãnh tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì rõ ràng tranh chấp này có tính độc lập về quyền, nghĩa vụ với hợp đồng chính nên có thể giải quyết một cách độc lập.

Những dẫn giải trên đây cho thấy, dựa trên cơ sở xác định các loại quan hệ hợp đồng liên quan tới bảo lãnh ngân hàng, cũng như nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh, thì pháp luật cần có quy định cụ thể theo hướng cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp có thể xem xét giải quyết các tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh ngân hàng, hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng độc lập nếu các quyền, nghĩa vụ bị tranh chấp không phụ thuộc vào hợp đồng chính. Hướng làm này sẽ tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong việc bảo lãnh của ngân hàng một cách kịp thời, thúc đẩy dịch vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng phát triển, phát huy vai trò to lớn của chúng trong việc tăng tốc độ luân chuyển các nguồn vốn đầu tư.

Nhìn chung, không thể phủ nhận vai trò của bảo lãnh ngân hàng trong kinh doanh ngày nay. Rất nhiều công ty đã có được các khoản vốn cần thiết phục vụ dự án đầu tư kinh doanh của mình thông qua bảo lãnh ngân hàng. Chắc chắn rằng trong tương lai, hoạt động bảo lãnh sẽ còn rất sôi động. Nếu bạn cần đến nguồn vốn đề đầu tư mà đã “đi gõ nhiều cửa” nhưng vẫn chưa huy động được vốn, hãy thử quan tâm đến bảo lãnh ngân hàng xem sao.

Nguồn: Bwportal

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: PHIỀN HÀ, LÃNG PHÍ

MINH CHÂU – DDDN.COM.VN

5 năm hình thành đăng ký giao dịch bảo đảm (GDBĐ) ở VN, nhưng còn quá nhiều vướng mắc, phiền hà để người dân và DN tiếp cận, sử dụng. Quá nhiều chi phí bất hợp lý và lãng phí. Giới NH là đối tượng bức xúc đầu tiên, bởi GDBĐ và bảo đảm tiền vay là một phần quan trọng trong hoạt động của họ.

Văn bản đá nhau

Việc quy định các trường hợp phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của các nghị định cũng khác biệt cơ bản, khiến người thực hiện khó khăn khi áp dụng. Theo NĐ 08/2000/NĐ-CP, khách hàng thế chấp bằng quyền sử dụng đất sẽ không phải đăng ký GDBĐ, nhưng theo Luật Đất đai năm 2003 và NĐ 163 CP vẫn phải đăng ký giao dịch. Đăng ký GDBĐ với mỗi loại tài sản có thủ tục khác nhau, thậm chí cơ quan đăng ký cũng khác nhau…

Nhiều văn bản với nội dung không thống nhất, dẫn đến việc vận dụng thế nào cũng không sai. Khoảng 80 – 90 % tài sản bảo đảm các khoản vay của NH là nhà đất, mà những quy định liên quan đến nhà đất phức tạp, giấy tờ không thống nhất, văn bản được vận dụng khác nhau ở từng địa phương khiến cho NH tốn nhiều thời gian cho thủ tục và tăng chi phí. Hiện còn tồn tại quá nhiều loại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, các nội dung ghi trên giấy không thống nhất… ảnh hưởng đến yếu tố pháp lý trong bảo đảm tiền vay…

Ông Vũ Văn Trình – Trưởng Ban Tín dụng DN của NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận xét: Đăng ký giao dịch đối với quyền sử dụng đất và nhà ở đang bị điều chỉnh bởi 3 thông tư hướng dẫn, vì thế, cần gộp 3 thông tư này thành một thông tư duy nhất.

Tốn phí không nhỏ

Đại diện của NH Công thương cho biết, thời gian và chi phí cho GDBĐ gây tốn phí lớn làm mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của NH cũng như khách hàng. Bà Nguyễn Thị Kim Xuyến – Phó TGĐ NH Đông Á đề xuất: Cần thống nhất thời gian đăng ký để người dân chủ động. Nên áp dụng thời gian đăng ký giấy hồng, giấy đỏ là 1 ngày và giấy tờ cũ là 3 ngày.

Ông Trình cho biết, theo quy định, mức lệ phí là 60.000 đồng/giao dịch cầm cố thế chấp. Nhưng một số địa phương “vận dụng” mỗi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi liền với 1 đơn yêu cầu đăng ký thế chấp và thu mỗi đơn 60.000 đồng. Tại Phòng đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường HN, còn thu 60.000 đồng/đơn và 330.000 đồng tiền đăng ký thế chấp. Thu cắt cổ như vậy, nhưng NH biết kêu ai? Tất cả những chi phí này cuối cùng đổ lên đầu người đi vay.

Đại diện Habubank cho biết: Không hiếm đăng ký viên hành xử như công chứng viên, đặt ra những câu hỏi bất hợp lý như: Tại sao số tiền vay lớn? Mục đích vay là gì? Tại sao chia thành nhiều hợp đồng tín dụng mà không gộp thành một?… Thậm chí nhiều khoản thu không có hóa đơn hay phiếu thu. NH này kiến nghị: Bộ Tư pháp và các bộ ngành liên quan chỉ đạo kiên quyết và tăng cường kiểm tra các cơ quan đăng ký GDBĐ, cơ quan công chứng…

Tài sản tương lai bảo đảm thế nào?

Một vướng mắc tại hầu hết các NH là việc bảo đảm được hình thành trong tương lai. Ông Bùi Minh Khải – Phó Ban Pháp chế NH Đầu tư phát triển phân tích: Theo quy định của Luật Công chứng: “Đối tượng của giao dịch, hợp đồng là có thật” vẫn bị cơ quan công chứng hiểu nhầm là cái phải tồn tại, Điều này vô hình trung đã loại trừ các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, tài sản hình thành trong tương lai mà bộ Luật Dân sự và quy định về GDBĐ đều ghi nhận. Cần hiểu cái “có thật” là đối tượng của hợp đồng, giao dịch thực sự có chứ không phải các bên lập hợp đồng khống có tính chất lừa dối.

Ông Trần Dũng – Trưởng Ban Pháp chế của NHTMCP Sài Gòn cho biết: Luật quy định cụ thể về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, nhưng chưa quy định về việc bán tài sản hình thành trong tương lai. Như vậy, NH làm sao xửá lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ? Theo thủ tục hiện hành, việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai phải thực hiện công chứng và đăng ký GDBĐ đến 2 lần làm lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc cho Nhà nước, DN và khách hàng. Bà Nguyễn Thị Mười – Phó TGĐ Sài Gòn công thương NH đánh giá: Theo NĐ 163, bên nhận bảo đảm chưa thể có được sự bảo đảm an toàn về mặt pháp lý khi nhận tài sản này. Tài sản hình thành trong tương lai cho dù có được xác lập hợp pháp song luôn có nguy cơ rủi ro. Tháng 5/2007, Bộ Tư pháp đã yêu cầu các phòng công chứng cần linh hoạt khi xác định đâu là giấy tờ chứng minh quyền sở hữu vì điều này bất khả thi với việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, hiện nay yêu cầu công chứng đối với loại hợp đồng này vẫn bị đa số phòng công chứng từ chối thực hiện.

5 năm đã trôi qua kể từ khi triển khai thực hiện đăng ký GDBĐ, nhưng còn quá nhiều vấn đề bức xúc, phiền hà và lãng phí. Trách nhiệm trước hết từ cơ quan đăng ký GDBĐ trong việc sửa đổi, bổ sung, áp dụng thống nhất các quy định, cải cách hành chính và chấn chỉnh bộ máy.

Minh Châu

TRANH CHẤP VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

VŨ ÁNH DƯƠNG  – dddn.com.vn

Các bên:

  • Nguyên đơn: Một ngân hàng Pháp
  • Bị đơn: Một Cty Ma-rốc

Các vấn đề được đề cập:

1.Bảo đảm thực hiện hợp đồng

2. Bảo đảm độc lập

3. Bảo đảm phụ thuộc

4. Giám định kỹ thuật

Tóm tắt vụ việc:

Ngày 20/9/1982 một Cty xây dựng Pháp đã ký hợp đồng với một Cty Ma-rốc theo đó Cty Pháp sẽ xây dựng một khu liên hợp tại Ma- rốc với tổng trị giá công trình là 211.200.000 Frăng Pháp (FF) và 60.264.000 Dirhams. Hợp đồng này có điều khoản chọn trọng tài ICC. Cty xây dựng còn chấp nhận yêu cầu một ngân hàng Pháp phát hành bảo đảm thực hiện hợp đồng với trị giá 20% tổng trị giá hợp đồng. Ngày 9 tháng 11 năm 1982, ngân hàng Pháp, nguyên đơn trong vụ việc này, đã phát hành một thư bảo đảm thực hiện với trị giá tối đa là 54.575.438,16 FF, tức là 20% trị giá hợp đồng. Ngân hàng tuyên bố trong giấy bảo đảm rằng:

“Bằng việc khước từ quyền tranh luận và quyết định của mình, chúng tôi chấp nhận trả toàn bộ hoặc một phần trong khoản tiền nói trên trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của quý Cty (bị đơn), kèm theo một bản báo cáo chuyên môn được lập bởi một chuyên gia của Trung tâm Giám định kỹ thuật quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế”.

Hai bên thoả thuận với nhau là khoản tiền bảo đảm sẽ giảm xuống tương ứng với tiến độ hoàn thành công trình. Theo văn thư ngày 9/11/1984, mọi tranh chấp liên quan đến việc bảo đảm sẽ được đưa ra ICC.

Năm 1984, giữa nhà thầu Pháp và chủ dự án Ma-rốc đã xảy ra tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng và hai bên đã đưa tranh chấp này ra ICC giải quyết ngày 10/9/1985. Tố tụng trọng tài trong tranh chấp vẫn đang được tiến hành.

Ngày 10/10/1985, Cty Ma-rốc yêu cầu Trung tâm Giám định kỹ thuật quốc tế chỉ định một chuyên gia như yêu cầu trong thư bảo đảm năm 1984 của ngân hàng Pháp. Ngày 12/11/1985, trung tâm đã chỉ định một chuyên gia người Thuỵ Sỹ, và chuyên gia này đã trình báo cáo vào tháng 4/1986 trong đó có nêu rõ phần công việc chưa thực hiện của nhà thầu Pháp tương ứng với khoản bảo đảm thực hiện là khoảng 16.902.000 FF và 13.076.000 Dirhams.

Ngày 21/4/1986, Cty Ma-rốc yêu cầu ngân hàng Pháp trả khoản tiền mà chuyên gia đã ấn định. Ngày 2/5/1986, ngân hàng từ chối trả tiền và ngày 22/5/1986 đã khởi kiện ra trọng tài ICC.

Ngân hàng Pháp lập luận rằng bảo đảm cấp cho Cty Ma-rốc chỉ là một bảo đảm phụ thuộc và do đó nó phụ thuộc vào kết quả của trọng tài trong tranh chấp giữa Cty Pháp và Cty Ma-rốc. Ngân hàng cũng cho rằng ngay cả nếu bảo đảm này là bảo đảm chứng từ chỉ dựa trên yêu cầu duy nhất là báo cáo giám định thì báo cáo này cũng không hợp pháp vì việc lập báo cáo có gian lận. Cuối cùng, nguyên đơn cho rằng do có các khó khăn trong việc giải thích báo cáo, bảo đảm này không thể được tự động thanh toán.

Phía Cty Ma-rốc lại lập luận rằng báo cáo đã được lập theo đúng qui định và đáp ứng được các yêu cầu nêu trong thư bảo đảm, và rằng thư bảo đảm có giá trị độc lập. Cty này cũng kiện lại đòi được thanh toán khoản tiền mà chuyên gia đã ấn định(16.902.000 FF và khoản tiền tương đương với FF của 13.076.000 Dirhams), tiền lãi trên khoản tiền đó, phí trọng tài và phí cho báo cáo giám định và 1.500.000 FF để bù đắp cho các thiệt hại kinh tế đã phải gánh chịu.

 

Phán quyết của trọng tài:

A. Về khiếu kiện chính:

1. Bảo đảm độc lập hay bảo đảm phụ thuộc?

Các thuật ngữ dùng trong thư bảo đảm không rõ ràng. Thực tế, một mặt Ngân hàng sử dụng các từ như bảo đảm thực hiện đúng của Ngân hàng, bảo đảm liên đới, và khước từ quyền tranh luận và quyết định là đặc trưng của bảo đảm phụ thuộc. Mặt khác, Ngân hàng lại hứa sẽ thanh toán “trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của quý Cty (bị đơn), kèm theo một báo cáo của chuyên gia”.

Ngân hàng đưa ra ba điểm mà theo Ngân hàng thì có thể xác định tính chất phụ thuộc của bảo đảm đó. Thứ nhất, Ngân hàng viện dẫn rằng Ngân hàng đã hứa sẽ trả “toàn bộ hoặc một phần” khoản tiền nêu trong thư bảo đảm vì việc trả này phụ thuộc vào việc thanh toán khoản tiền chính mà Cty xây dựng có thể phải trả. Thứ hai, trị giá của bảo đảm này sẽ giảm tương ứng với tiến độ hoàn thành công trình. Và thứ ba, Ngân hàng cho rằng sự tồn tại của một điều khoản trọng tài nhằm giải quyết những khó khăn trong việc giải thích và thực hiện bảo đảm cho thấy bản thân bảo đảm đó không thể thực hiện tự động được.

Tuy nhiên, theo Uỷ ban Trọng tài ba khía cạnh này không đủ để xác định tính phụ thuộc hay tính độc lập của bảo đảm. Về điểm thứ nhất, hứa trả toàn bộ hay một phần là xuất phát từ thực tế Cty Ma- rốc có thể yêu cầu một khoản tiền nhỏ hơn tổng trị giá khoản bảo đảm. Về điểm thứ hai, việc trị giá bảo đảm giảm tương ứng với tiến độ hoàn thành công việc hoàn toàn không có mối liên hệ gì với tính độc lập hay phụ thuộc của bảo đảm. Về điểm thứ ba, việc đưa một điều khoản trọng tài vào hợp đồng để giải quyết các khó khăn trong việc giải thích hay thực hiện bảo đảm không có nghĩa là bảo đảm đó không độc lập. Ngược lại, nếu như hiệu lực của bảo đảm phụ thuộc vào kết quả trọng tài giữa Cty Ma-rốc và Cty Pháp thì đã không phải quy định cho nó một thủ tục trọng tài thứ hai. Việc trị giá bảo đảm giảm tương ứng với tiến độ hoàn thành công việc cũng đủ để có thể làm phát sinh những khó khăn cần đến Trọng tài.

Mặt khác, có một số thuật ngữ sử dụng trong bảo đảm lại thể hiện tính độc lập của bảo đảm này như hứa trả “trên cơ sở yêu cầu”.

Như vậy, trong trường hợp này người ta thấy có sự mâu thuẫn giữa các từ “bảo đảm hoàn thành” và “bảo đảm liên đới” với hứa trả “trên cơ sở yêu cầu”. Uỷ ban Trọng tài, do buộc phải lựa chọn giữa các từ ngữ mâu thuẫn này, và lấy làm tiếc là một ngân hàng mà lại để có tình trạng mâu thuẫn như vậy.

Sau khi xem xét, Uỷ ban Trọng tài cho rằng đây là một bảo đảm Ngân hàng dạng chứng từ, độc lập với nghĩa vụ chính và chỉ phụ thuộc vào yêu cầu xuất trình tài liệu. Thực tế, khi từ chối trả tiền vào ngày 2/5/1986, Ngân hàng đã không nêu lý do là các nghĩa vụ của mình phụ thuộc vào kết quả giải quyết tranh chấp giữa Cty Ma- rốc và Cty Pháp mà chỉ khẳng định rằng bảo đảm này “không thể thực hiện được”.

Quyết đinh này của Trọng tài căn cứ vào một số chi tiết sau đây:

Nếu đây không phải là một bảo đảm độc lập (tức là Ngân hàng chỉ bị ràng buộc với bảo đảm này sau khi tranh chấp giữa Cty Ma-rốc và Cty xây dựng Pháp đã được giải quyết) thì không thể giải thích tại sao lại có yêu cầu Cty Ma-rốc trình một báo cáo của chuyên gia để được nhận tiền bảo đảm từ phía Ngân hàng. Yêu cầu về bản báo cáo thực chất để tránh các yêu cầu đòi thanh toán bảo đảm vô căn cứ, chứ không đơn thuần chỉ là một bằng chứng “chính xác” về thiệt hại của Cty Ma-rốc mà Ngân hàng lập luận.

Thực tế, sự không rõ ràng trong các thuật ngữ được sử dụng cũng xuất phát từ thực tế đây là một giải pháp thoả hiệp giữa:

Một bảo đảm phụ thuộc theo nghĩa hẹp mà Ngân hàng đã gợi ý trong văn thư đề ngày 10/10/1984; phương thức này đã bị loại bỏ,

Một bảo đảm độc lập theo gợi ý đầu tiên của Cty Ma-rốc; phương thức này cũng bị loại bỏ.

Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ bảo đảm phụ thuộc (caution/surety) theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này, tức là cùng nghĩa với thuật ngữ bảo đảm (guarantee) theo nghĩa rộng, chứ không phải là theo nghĩa pháp lý đặc trưng của nó. Do đó, Ngân hàng không thể lập luận rằng văn thư ngày 9/11/1984 đã thiết lập một bảo đảm phụ thuộc.

Uỷ ban Trọng tài, cho rằng Ngân hàng trong trường hợp này đã lập một bảo đảm chứng từ cho Cty Ma-rốc hưởng lợi, đã quyết định rằng báo cáo do chuyên gia Thuỵ SĩÁ¤ lập là điều kiện cần và đủ, do chính Ngân hàng đặt ra, để thực hiện bảo đảm.

 

2.Về vấn đề gian lận hay không đúng quy định trong việc lập báo cáo:

Báo cáo giám định không hề nhằm tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp giữa công ty Ma-rốc và Cty Pháp; báo cáo này là nhằm tránh những yêu cầu trả tiền không có căn cứ của Cty Ma- rốc, thông qua việc nhờ một chuyên gia có thẩm quyền và trung lập xác định trị giá yêu cầu của Cty Ma-rốc đối vớiCty xây dựng Pháp, và dẫn tới việc thanh toán tự động khoản bảo đảm.

Báo cáo này không có mối liên hệ pháp lý với tố tụng trọng tài liên quan đến Cty xây dựng Pháp, bao gồm cả các trọng tài viên và các bên. Chuyên gia đã được chỉ định theo các yêu cầu trong thư bảo đảm và theo các quy tắc về giám định kỹ thuật nêu trong thư đó. Hơn nữa, không chỉ Ngân hàng mà cả Cty xây dựng Pháp đều được thông báo về việc chỉ định chuyên gia đó, chuyên gia này cũng đã đến gặp và nghe họ trình bày, đã đi thăm công trình thực địa và, theo yêu cầu của Cty Pháp, đã đến thăm một nơi khác tương tự. Vì thế trong việc lập báo cáo này không có gì là bất bình thường hay gian lận như đã từng thấy trong các vụ việc có liên quan đến bảo đảm ngân hàng. Vì vậy báo cáo này được chấp nhận.

3. Về vấn đề liệu các khó khăn trong việc giải thích báo cáo có làm cho bảo đảm trở thành không thể thực hiện được hay không:

Đây là lý do chính để Ngân hàng từ chối trả tiền bảo đảm với lập luận rằng những nhận xét của chuyên gia là không chính xác và rằng chuyên gia đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc giải thích các điều khoản của hợp đồng, và rằng các kết luận trong báo cáo của chuyên gia chỉ mang tính giả thiết.

Trong vấn đề này cần xem lại những phân tích về bản chất của bảo đảm. Về mặt nguyên tắc, việc trình một báo cáo được lập bởi một chuyên gia được chỉ định theo đúng thoả thuận của các bên phải được coi là đủ để thực thi một bảo đảm của ngân hàng, dĩ nhiên với điều kiện là các kết luận của chuyên gia không trái với các viện dẫn của Cty Ma-rốc. Về mặt hình thức, nếu chuyên gia kết luận là không tồn tại quyền được hoàn trả thì yêu cầu của Cty Ma-rốc cũng không thể được đáp ứng. Ngược lại, sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng, chuyên gia đã xác định chính xác trị giá các yêu cầu có thể của Cty Ma- rốc, và Cty Ma-rốc đã nêu khoản tiền này trong yêu cầu của mình.

Hơn nữa, kết luận mà chuyên gia đưa ra không phải là các giả thiết; chuyên gia đã phân loại các đánh giá và nhận xét thành ba loại khác nhau và cũng nhấn mạnh rằng các đánh giá của mình có thể thay đổi nếu tình hình thay đổi. Vì vậy, báo cáo của chuyên gia là hoàn toàn rõ ràng và minh bạch, các kết luận trong đó không hề mang tính giả thiết như lập luận của nguyên đơn.

B. Về đơn kiện lại:

Từ các phân tích nêu trên có thể thấy bị đơn, Cty Ma-rốc, có quyền yêu cầu thực hiện bảo đảm và hơn nữa, nguyên đơn, Ngân hàng Pháp, phải bồi thường cho những thiệt hại phát sinh trực tiếp từ việc từ chối không thực hiện bảo đảm. Về vấn đề này, bị đơn đã có căn cứ khi yêu cầu các khoản tiền sau đây ngoài khoản tiền do chuyên gia xác định:

Tiền lãi trên số tiền nêu trên, bắt đầu tính từ ngày có thông báo yêu cầu trả tiền bảo đảm chính thức bằng thư bảo đảm ngày 21/4/1986; tiền lãi này được tính toán theo luật của Pháp với lãi suất 9,5%/năm.

Tiền bồi thường cho những thiệt hại vật chất và hệ quả của cùng nguyên nhân mà bị đơn phải chịu, độc lập với việc trì hoãn thực hiện khoản bảo đảm.

Uỷ ban Trọng tài xác định tổng số tiền thiệt hại phát sinh là 1.300.000 FF.

Bị đơn không có cơ sở để yêu cầu nguyên đơn thanh toán các chi phí cho báo cáo giám định bởi chính Cty phải chịu chi phí này nếu Cty muốn được trả bảo hiểm.

Về phí trọng tài (phí hành chính cho ICC và thù lao cho các trọng tài viên), Uỷ ban Trọng tài xác định các chi phí này sẽ được thanh toán theo tỷ lệ sau đây:

Ngân hàng Pháp, nguyên đơn chịu 3/4

Công ty Ma-rốc, bị đơn chịu 1/4.

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở

Ngày 21/5, các bộ Tư pháp, Xây dựng, Tài nguyên – Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở. Xin giới thiệu nội dung văn bản.

Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN ngày 21-5-2007 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên – Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 36/2003/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;

Căn cứ Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm,

Nhằm đảm bảo thống nhất trong việc thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng nhà ở, Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở như sau:

1. Việc đăng ký thế chấp nhà ở được thực hiện khi có yêu cầu của một trong các bên hoặc các bên ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở. Trong trường hợp đăng ký thế chấp nhà ở theo quy định của pháp luật về phá sản thì người yêu cầu đăng ký có thể là Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản.

Người yêu cầu đăng ký thế chấp nhà ở có thể là người được bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp uỷ quyền theo quy định của pháp luật dân sự.

Trong trường hợp đăng ký thế chấp nhà ở cùng với quyền sử dụng đất ở thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đồng thời việc đăng ký thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

2. Trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp nhà ở đối với những trường hợp quy định tại khoản 1 của Thông tư này được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT), Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT) và theo hướng dẫn tại Thông tư này.

3. Khi nhận được hồ sơ yêu cầu đăng ký thế chấp nhà ở hợp lệ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp vào sổ địa chính và sổ theo dõi biến động đất đai.

Trong trường hợp thế chấp nhà ở nhưng trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở chưa ghi đầy đủ thông tin về đất ở hoặc chưa có thông tin về thửa đất nơi có nhà ở đó trong hồ sơ địa chính thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ghi nội dung đăng ký thế chấp vào Sổ đăng ký thế chấp nhà ở theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

4. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không ghi nội dung đăng ký thế chấp, chỉnh lý việc đăng ký thế chấp, xoá đăng ký thế chấp trên các loại giấy tờ sau đây và cũng không lập trang bổ sung đính kèm theo các loại giấy tờ sau đây:

a) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị;

b) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng;

c) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

5. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc đăng ký thế chấp nhà ở cho cơ quan có chức năng quản lý nhà ở nơi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo thủ tục quy định tại điểm 12.3 khoản 12 của Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT.

6. Tổ chức, cá nhân có quyền tìm hiểu thông tin về thế chấp nhà ở đã đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định tại mục VII Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.

7. Tổ chức thực hiện

7.1. Thông tư này có hiệu lực sau mười lăm (15) ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

7.2. Quy định tại khoản 4 của Thông tư này thay thế các quy định về đăng ký thế chấp và đính chính việc đăng ký thế chấp trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất nêu tại các điểm 4.1 khoản 4 mục III, điểm 4.1 khoản 4 mục IV, điểm 3.1 khoản 3 mục VI và điểm 4.1 khoản 4 mục VII của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT; các khoản 8, 9 và 10 của Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT.

7.3. Các hợp đồng thế chấp nhà ở đã được đăng ký theo quy định của pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành không phải đăng ký lại theo hướng dẫn tại Thông tư này.

7.4. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc thì cá nhân, tổ chức phản ánh kịp thời về Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để nghiên cứu, giải quyết.

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ XÂY DỰNG
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Tống Văn Nga

  KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Đinh Trung Tụng

KT. THỐNG ĐỐC
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
PHÓ THỐNG ĐỐC
(Đã ký)

Nguyễn Đồng Tiến

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Phạm Khôi Nguyên

 

SOURCE: DDDN.COM.VN

CỬA HÀNG THƯƠNG MẠI: MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ ĐỂ CHUYỂN DỊCH TÀI SẢN

VŨ MINH HỒNG – Uỷ ban TƯ Mặt trận TQ VN

Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại (TM), Luật Sở hữu trí tuệ, và Bộ luật Hàng hải là bốn đạo luật hết sức thiết thân và quan trọng đối với mọi thể nhân và pháp nhân kinh doanh (doanh nhân). Ở VN hiện nay, chúng ta thiếu các thể chế pháp lý vi mô là các quy định pháp lý liên quan đến năng lực chiếm hữu tài sản và năng lực dịch chuyển tài sản cần cấp thiết xây dựng, nhằm tạo ra nguồn lực tài sản mới đuợc giao dịch an toàn, dựa trên các dịch chuyển pháp lý như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh đối với động sản, bất động sản, quyền đối với động sản, bất động sản, trong đó quan trọng là động sản vô hình, tài sản đặc biệt trong hoạt động TM.

Do phạm vi bài viết, tôi kiến nghị bổ sung quy định về cửa hàng thương mại (CHTM) mà chế định về giao dịch bảo đảm trong Luật Dân sự sửa đổi (mục 5), Luật TM sửa đổi, Luật Sở hữu trí tuệ (mới) hiện nay không quy định cụ thể chúng sẽ được dịch chuyển pháp lý ra sao. Đây là một bỏ ngỏ của pháp luật dân sự – TM.

Về phương diện pháp lý, tài sản bao hàm cả quyền tài sản, với hai thuộc tính của tài sản là vật và quyền đối với vật.Tài sản luôn là đối tượng giao dịch trong nền kinh tế thị trường, gồm:

– Bấtđộng sản: đất đai và các vật gắn liền với nó một cách vững chắc, khó tháo rời;

– Động sản: động sản hữu hình (vật có thực); động sản vô hình (tài sản xã hội như sự tin cậy, quen biết, kinh nghiệm; tài sản trí tuệ như sáng chế, bản quyền, nhãn mác…);

– Quyền tài sản: quyền đối với bất động sản và động sản: cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh … (vật quyền), và cầm giữ tài sản, cho thuê lại, khiếu nại … (trái quyền).

Như chúng ta biết, bất động sản, các động sản đặc biệt như tàu bay, tàu biển, nhất là các quyền tài sản, chúng tạo ra các giá trị lớn trong thương mại thông qua các dịch chuyển pháp lý – giao dịch bảo đảm là chính, chứ ít ở dạng giao dịch mua bán.

CHTM (động sản vô hình) là đối tượng giao dịch TM:

a. Thực tiễn về giao dịch CHTM:

Thị trường với đặc trưng là hoạt động giao dịch của mọi thực thể thị trường và bán thị trường, nơi diễn ra các hành vi của các thể nhân, pháp nhân và một số thực thể có giới hạn năng lực, nhằm tìm kiếm lợi nhuận và các lợi ích công phi lợi nhuận. Đối tượng của giao dịch thị trường là tài sản và các lợi ích có giá trị. Trong chuỗi vận động hàng hoá thị truờng thì vận chuyển và cung ứng cho các đại lý bán buôn và bán lẻ là các hoạt động sôi động nhất, tham gia và góp phần chính yếu cho hoạt động sôi động đó chính là các CHTM. Hàng hoá chỉ là một trong những yếu tố của toàn bộ sản nghiệp TM của doanh nhân mà thôi, và cũng chưa phải là yếu tố quan trọng. Điều quan trọng lại nằm ở việc doanh nhân đó thủ đắc CHTM ra sao.Khi thị phần bán sản phẩm mở rộng hoặc teo lại thì số phận của Cty và CHTM sẽ thay đổi, doanh nhân phải tính tới số phận của CHTM: bán, cho thuê lại, sáp nhập nhiều CHTM với nhau, sáp nhập vào Cty, đem thế chấp…

Điều quan tâm của mọi doanh nhân có CHTM không chỉ là cửa hàng đó bán gì, doanh thu ra sao, mà là có thể dịch chuyển pháp lý tài sản (mua bán và bảo đảm) từng yếu tố trong toàn bộ sản nghiệp của CHTM đó hoặc dịch chuyển pháp lý toàn bộ sản nghiệp của CHTM đó ra sao: có an toàn, có đảm bảo lợi ích hay không.

Luật sư Nguyễn Hữu Danhcho biết: “Cách đây khoảng 10 năm, báo chí đưa tin một Cty nước ngoài nhận chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S với giá 1 triệu USD; tại Sài Gòn trước 1975, giá chuyển nhượng một CHTM rất cao, cao hơn nhà ở gấp 10 lần… Có ý kiến cho rằng Luật TM của ta không quy định CHTM vì không định lượng khách hàng được? điều quan trọng là CHTM có uy tín, tất yếu sẽ có lượng kháchhàng nhất định”.

Thật đáng suy nghĩ khi gần như cả hệ thống pháp luật dân sự-TM đang được sửa đổi lại không hề tính đến đời sống dịch chuyển tài sản của các doanh nhân có CHTM.

b. Tài sản trong CHTM gồm có:

– Tài sản với tính vật, có thực: các phương tiện vận chuyển, thiết bị, máy móc, hàng hoá, dụng cụ, khí cụ.

– Tài sản có giá trị khác (thường chứng minh địa vị pháp lý): giấy chứng nhận đăng ký cửa hàng, biển hiệu, tài khoản, biên lai thuế, giấy đăng ký chi nhánh (nếu có), giấy phép kinh doanh mặt hàng đặc biệt (nếu có),…

– Tài sản không có tính vật (vô hình) không được mã hoá, nhưng có giá trị: danh sách khách hàng, sự tin cậy, uy tín thương mại, kinh nghiệm cá nhân, …

– Tài sản trí tuệ (vô hình) được mã hoá: bản quyền tác giả, sáng chế, nhãn mác hàng hoá, giải pháp hữu ích, chỉ dẫn địa lý, chuyển giao công nghệ…

– Tài sản có tính chất quyền (quyền tài sản): hợp đồng thuê cửa hàng, giấy sở hữu cửa hàng, quyền thuê cửa hàng (đất/mặt bằng/không gian), quyền thuê nhân công.

 

c. Tính cách pháp lý giao dịch của CHTM:

– CHTM là đối tượng của hai loại giao dịch tài sản chính gồm mua bán và bảo đảm, nghĩa là chủ của CHTM có thể đem toàn bộ sản nghiệp của mình đi bán hoặc thế chấp hoặc chỉ dùng một vài yếu tố tài sản trong cả sản nghiệp của CHTM để bán hoặc thế chấp, nhằm có một khoản tài chính hay để thực hiện nghĩa vụ.

– CHTM, trong đó một số yếu tố như khách hàng, uy tín thương mại – là hai yếu tố năng động có giá trị kinh tế lớn nhất trong chuỗi giá trị của một sản nghiệp thương mại bằng cách giao dịch mua bán hoặc giao dịch bảo đảm, tạo nên giá trị cao hơn, mới hơn cho thương hiệu của một doanh nhân, làm tăng trưởng các giá trị tài sản trong một DN.

Điều chỉnh thế nào về hai loại giao dịch CHTM: mua bán và bảo đảm

a. Tham khảo Bộ luật Thương mại Sài Gòn:

– Tại chương 3. “Các CHTM”. Điều 42: “CHTM gồm toàn thể tài vật, động sản họp thành một khối đem sung dụng vào một hoạt động thương mại. CHTM gồm có khách hàng là yếu tố chính và, trừ phi có điều khoản trái lại, tất cả những tài vật khác cần thiết cho sự khai thác cửa hàng, như bảng hiệu, thương hiệu, quyền thuê mướn,…; nhãn hiệu chế tạo, hình vẽ và kiểu mẫu, quyền sở hữu văn nghệ và mỹ thuật.”

– Điều 47 nói lên yếu tố khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong toàn bộ sản nghiệp mà một CHTM có.

– Điều 44 chỉ ra phạm vi áp dụng đối với CHTM.

b. Kiến nghị môi trường pháp luật đối với giao dịch tài sản là CHTM:

CHTM là đối tượng của hai loại giao dịch phổ thông là mua bán và bảo đảm, vậy, các dịch chuyển pháp lý về mua bán và bảo đảm sẽ diễn ra thế nào đối với CHTM?

i. Bộ luật Dân sự quy định nguyên tắc giao dịch mua bán và giao dịch bảo đảm, và nguyên tắc đăng ký đối với bất động sản và động sản và các quyền tài sản;

ii. Luật Bất động sản và Luật Động sản quy định chi tiết mọi giao dịch về bất động sản và động sản; quy định chi tiết về thủ tục đăng ký mua bán và đăng ký bảo đảm.

iii. Luật Thương mại (nếu giao dịch sở hữu trí tuệ đặt trong tổng thể giao dịch thương mại) sẽ quy định cụ thể thủ tục đăng ký khác nhau:

– Dịch chuyển pháp lý mua bán CHTM trong cả hai trường hợp: mua bán yếu tố chính trong CHTM, hoặc mua bán toàn bộ sản nghiệp của CHTM;

– Dịch chuyển pháp lý bảo đảm đối với CHTM trong cả hai trường hợp: bảo đảm yếu tố chính trong CHTM, hoặc bảo đảm toàn bộ sản nghiệp của CHTM;

iv. Luật Sở hữu trí tuệ (nếu tách khỏi Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại) sẽ quy định thủ tục đăng ký chi tiết dịch chuyển pháp lý (mua bán và bảo đảm) đối với các tài sản vô hình là yếu tố thuộc trí tuệ sau khi đã được mã hoá, tách ra khỏi toàn bộ sản nghiệp thương mại của CHTM.

v. Bộ luật Hàng hải quy định thủ tục riêng về mua bán tàu biển và thế chấp tàu biển. Các tài sản khác thuộc hàng hải sẽ được dịch chuyển pháp lý thông qua hệ thống pháp luật liên quan đến giao dịch tài sản.

vi. Luật Hàng không dân dụng quy định thủ tục riêng về mua bán máy bay và thế chấp máy bay. Các tài sản khác thuộc hàng không sẽ được dịch chuyển pháp lý thông qua hệ thống pháp luật liên quan đến giao dịch tài sản.

Tuy nhiên, với môi trường pháp lý như vậy, rất khó tránh khỏi sự chồng lấn, làm khổ doanh nhân và làm rắc rối thêm hoạt động giao dịch tài sản. Nếu chúng ta có Bộ luật Dân sự, Bộ luật Thương mại, Luật Bất động sản và Luật Động sản (trong đó có chế định đăng ký quốc gia thống nhất tài sản) thì mọi giao dịch tài sản đều có đủ căn cứ áp dụng giải quyết. Các luật đặc thù trên các lĩnh vực có tài sản giao dịch mà hoạt động giao dịch tài sản đó có quan hệ bắt buộc với pháp luật công như hàng hải, hàng không, thì dựa trên bốn đạo luật kể trên để có nghị định cụ thể về thủ tục đăng ký đặc thù ngành, lĩnh vực.

SOURCE: DDDN.COM.VN

MUA NHÀ, CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: SƠ SUẤT NHỎ HẬU QUẢ LỚN

ĐÀO THIỆN – DDDN.COM.VN

Sau 8 ngày nghỉ để nghị án, Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ sẽ tuyên án vụ tranh chấp hợp đồng (HĐ) mua bán nhà đất giữa nguyên đơn (ông Phạm Hùng Lân), bị đơn (ông Bùi Hữu Hùng). Vụ án này là một kinh nghiệm thực sự cần thiết đối với những người muốn tránh những rủi ro khi thực hiện loại giao dịch này.

Ký Hợp đồng – căn nguyên rủi ro

Trong vụ án này, người bán – ông Phạm Hùng Lân là cán bộ thi hành án quận Tây Hồ, rất am hiểu pháp luật; người mua – ông Bùi Hữu Hùng, là họa sỹ, trình độ pháp luật chỉ ở mức phổ thông. HĐ mua bán được ông Lân tự tay viết, chỉ có một bản duy nhất, chỉ có chữ ký của ông Lân và vợ là bà Phạm Bích Hằng. HĐ được giao cho người mua giữ. Thời điểm ký HĐ: ngày 11/6/2001. Nội dung HĐ: ông Phạm Hùng Lân bán cho ông Bùi Hữu Hùng mảnh đất diện tích 130 m2 tại Thôn Đông Nhật Tân, Tây Hồ, Hà Nội với giá 190 cây vàng 9999. Ngày 11/6/2001 ông Hùng đã đặt cọc trước 100 cây vàng. Hẹn khi nào ông Lân giải tỏa xong căn lều trước mặt mảnh đất, ông Hùng sẽ trả nốt 90 cây vàng còn lại. Ông Hùng đã giao đủ 100 cây vàng, ông lân dã giao cho ông Hùng toàn bộ giấy tờ thuế nhà đất hàng năm cho ông Hùng. Số giấy tờ còn lại liên quan đến mảnh đất trên, sau khi ông Hùng trả nốt tiền, ông Lân sẽ bàn giao gồm: HĐ mua bán nhà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tờ khai nộp lệ phí trước bạ, trích lục bản đồ, biên lai thu lệ phí trước bạ. Hai bên đã thỏa thuận miệng về thời hạn giải phóng căn lều và hoàn tất thủ tục mua bán là 3 tháng kể từ ngày ký HĐ. Tự tin vì đã mua bán một cách ngay thẳng và đã trả tới hơn ½ giá trị hợp đồng, chỉ vài ngày sau đó, ông Hùng đã chuyển toàn bộ xưởng vẽ của mình đến mảnh đất nói trên và xưởng vẽ hoạt động suốt từ đó đến nay. Quá tin tưởng vào trình độ pháp luật của người bán, ông Hùng đã chấp nhận một giao dịch mang nhiều rủi ro cho chính mình.

Cùng một mảnh đất, bán cho 2 người

Sau gần 3 tháng chờ đợi vẫn không thấy người bán có ý định thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong HĐ, ông Bùi Hữu Hùng đã tìm cách gặp lại được người bán. Tại các cuộc gặp ngày 16 và 17/8/2001, Phạm Hùng Lân vẫn khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện HĐ và xin lùi thời hạn hoàn tất các nghĩa vụ của mình thêm một thời gian. Vì vậy, ngày 16/8, Lân chỉ trả lại cho ông Hùng 800 USD tiền thừa trong số 33 ngàn USD ông Hùng đã thanh toán cho Lân, để số tiền còn lại tương đương với 100 cây vàng 9999. Ngày 17/8, Lân ký xác nhận việc trả lại số tiền này. Trong phần thẩm vấn tại phiên tòa ngày 30/12/2003, một sự thật đã được làm sáng tỏ, đó là: cũng chính vào ngày 17/8/2003 Lân đã ký HĐ bán tiếp chính mảnh đất này cho người mua thứ hai là bà Phùng Thị Ánh Vân với giá 1.560 triệu đồng. HĐ này không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Sau đó, ngày 1/10/2003 để đối phó với việc ông Bùi Hữu Hùng đã chuyển xưởng vẽ của mình đến và đang quản lý ổn định khu đất trên, Phạm Hùng Lân và bà Vân ký tiếp một HĐ mua bán mảnh đất này để hợp thức hóa trước chính quyền. Theo HĐ này, giá trị mảnh đất chỉ có 540 triệu đồng và được Ủy Ban nhân dân Phường Nhật Tân xác nhận.

Cơ quan Pháp luật nói gì?

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tập trung làm rõ tính chất của HĐ giữa Phạm Hùng Lân với người mua thứ nhất (ông Hùng) là HĐ mua bán hay HĐ đặt cọc. Qua thẩm vấn cho thấy, ông Hùng đã thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong HĐ là đã trả trước 100 cây vàng 9999. Người bán cũng đã thực hiện nghĩa vụ của mình là bàn giao một loại giấy tờ gốc (biên lai thu thuế nhà đất), bản sao bộ hồ sơ về quyền sử dụng đất. Bản chính bộ hồ sơ này các bên thỏa thuận người bán giữ để thực hiện nốt nghĩa vụ hòan tất thủ tục mua bán nhà đất. Đây chính là những điểm cơ bản để kết luận HĐ nói trên là HĐ mua bán chứ không phải là HĐ đặt cọc. Bày tỏ quan điểm trong phần tranh luận tại phiên tòa, ông Phạm Chương Dương, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát quận Tây Hồ lại cho rằng HĐgiữa Phạm Hùng Lân với người mua thứ nhất tuy là HĐ mua bán nhưng vô hiệu vì các lẽ sau: Không đáp ứng được các điều kiện quy định tại điều 443 Bộ luật Dân sự về hình thức HĐ (không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận). Mặt khác, mặc dù HĐ quy định thanh toán bằng vàng nhưng thực tế hai bên đã thanh toán bằng USD, tức là đã vi phạm chế độ quản lý ngoại hối của nhà nước. Do đó, cần hủy bỏ hiệu lực của HĐ này. Đối với giao dịch giữa người bán và người mua thứ hai (bà Ấnh Vân), vị đại diện Viện kiểm sát đã bỏ qua, không nhắc một lời nào về bản HĐ trị giá 1.560 triệu đồng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền mà chỉ xét bản HĐ ký ngày 1/10/2001, có UBND Phường nhật Tân xác nhận. Theo vị đại diện VKS, HĐ này là hợp pháp vì đáp ứng điều kiện quy định về mặt hình thức tại điều 443 Bộ luật dân sự. Vì vậy, yêu cầu ông Bùi Hữu Hùng dỡ bỏ nhà xưởng, giao lại khu đất cho người mua thứ hai; kiến nghị Tòa án cho phép người bán, người mua thứ hai được hoàn tất mọi thủ tục còn lại về nhà đất.

Bài học pháp lý về vụ kiện

Về HĐ kýngày1/6/2001 giữa người bán và người mua thứ nhất (ông Bùi Hữu Hùng), Luật sư Đào Ngọc Lý, đoàn luật sư TP Hà Nội cho rằng: đây là một HĐ mua bán hòan toàn hợp pháp. Kết luận này dựa vào các căn cứ: Thứ nhất: dây là sự thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp giữa người bán, người mua. Thứ hai: điều quan trọng nhất là có một sự thống nhất chặt chẽ giữa ý thức chủ quan (thể hiện trong HĐ) với hành vi khách quan của các bên. Đó là việc các bên đã, đang thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo cam kết trong HĐ. Người mua đã thực hiện việc thanh toán tiền lần một, đã nhận một loại giấy tờ gốc. Thời điểm chuyển giao quyền sử dụng mảnh đất này được tính từ khi ông Hùng chuyển xưởng vẽ của m ình đến hoạt động tại mảnh đất này và ông Lân không phản đối. Người bán (ông Lân) đã nhận tiền thanh toán đợt một của người mua, đã đồng ý để người mua chuyển xưởng vẽ đến, đã giữ bộ hồ sơ đất (bản chính) để thực hiện tiếp nghĩa vụ hoàn tất thủ tục pháp lý việc mua bán này. Việc HĐ không thực hiện được đến cùng, thủ tục mua bán không hoàn tất được, hoàn toàn do lỗi của người bán. Xuất phát từ quan điểm này, việc HĐ được lập thành một hay nhiều bản và chưa được cơ quan thẩm quyền xác nhận chỉ là thủ tục cần được tạo điều kiện để các bên tiếp tục hoàn tất. Về HĐ giữa người bán với người mua thứ 2 (bà Ánh Vân), luật sư Lý cho rằng có đủ căn cứ kết luận là HĐ vô hiệu. Bởi lẽ: có sự gian dối trong ký kết. Vào cùng một ngày, người bán vừa xác nhận việc vẫn giữ 100 cây vàngcủa người mua thứ nhất vừa ký HĐ bán chính mảnh đất đó cho người mua thứ hai lấy 1.560 triệu đồng. Mặt khác trong lời khai còn lưu giữ trong hồ sơ vụ áncho thấy ngưới mua thứ hai có biết việc mua bán của người mua thứ nhất nhưng vẫn ký HĐ mua mảnh dất này vì giá rẻ. Một sự gian dối khác là: với chính quyền Phường Nhật Tân, người bán, người mua đã ngụy tạo nên một HĐmới mà giá trị chênh lệch với HĐ cũ đã giảm đi tới 1.020 triệu đồng gây nên một khoản thất thu cho Ngân sách. Xét riêng HĐ giữa người bán với người mua thứ hai đã được UBND phường Nhật Tân xác nhận, Luật sư Đào Ngọc Lý đã phát hiện rằng, cơ quan này đã không thực hiện đúng các thủ tục luật pháp yêu cầu về việc xác nhận này; đã không xem xét hiện trạng mảnh đất trên thực tế, không niêm yết công khai hoặc đăng báo trước khi xác nhận. Vì vậy việc xác nhận này không thể được coi là có giá trị pháp lý.

Bác lại luận điểm của ông Phó viện trưởng VKSND quận Tây Hồ, Luật sư Đào Ngọc Lý đã dẫn chứng những quy định của ngành Tòa án để khẳng định cần phải căn cứ vào quy định vềthanh toán trong chính HĐ chứ không căn cứ vào việc các bên thực tế thanh toán với nhau bằng đồng tiền nào. Vì vậy ông cho rằng kết luận thiếu căn cứ của vị đại diện VKS là không thể chấp nhậnđược. Từ những phân tích cặn kẽ về các khía cạnh pháp lý của vụ kiện, vị luật sư này kiến nghị Hội đồng xét xử kết luận HĐ giữa người bán với người mua thứ nhất là hợp pháp , cho tiếp tục thực hiện; HĐ giữa người bán với người mua thứ hai là HĐ vô hiệu. Việc giải quyết hậu quả HĐ vô hiệu sẽ được xem xét tùy thuộc mức độ lỗi của các bên. Mặc dù là phiên tòa dân sự nhưng vị Luật sư này vẫn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi lừa đảo rõ ràng của người bán đối với những người mua.

Từ những sơ xuất nhỏ đã dẫn đến những thiệt hại vật chất lớn, kéo dài. Đây là bài học cần thiết không chỉ với những người trong cuộc.

HÌNH SỰ HÓA QUAN HỆ DÂN SỰ, KINH TẾ: LỖI KHÔNG CHỈ THUỘC VỀ CƠ QUAN TỐ TỤNG

TRẦN MINH SƠN – Bộ Tư pháp

Một nhà DN đã nói: Mỗi lần nghe tiếng còi xe Cảnh sát hú ngoài đường,tôi lạigiật mình thon thót mặc dù không làm gì nên tội.

Hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế không chỉ là tình trạng những tranh chấp dân sự hoặc kinh tế đáng lẽ phải được xử lý theo pháp luậtdân sự, kinh tế lại bị xử lý theo pháp luật hình sự. Ngược lại, còn là tình trạng các vụ án hình sự được chuyển sang giải quyết theo pháp luật dân sự hoặc kinh tế.

Chỉ tính riêng trong một năm và chỉ tính riêng công tác giám đốc xét xử án hình sự của Toá án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) thì Chánh án, Phó chánh án, Viện trưởng, Phó viện trưởng đã kháng nghị 48 vụ án có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thuộc ba loại tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng trái phép tài sản. Uỷ ban thẩm phán và Toà hình sự TANDTC mới xét xử giám đốc thẩm được 33 vụ thì 8 vụ các bị cáo bị xử phạt tù oan, họ không phạm tội hình sự. Mộtđơn vị làm công tác giám đốc của TANDTC chỉ giám đốc những vụ án đã trải qua nhiều giai đoạn tố tụng của nhiều cấp, nhiều ngành (Công an, Kiểm sát, Toà án) mà một năm đã giải oan tới 8 vụ, vậy còn lại 3 Toà Phúc thẩm TANDTC, 61 Toà án tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương làmcả công tácxét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm đối với án củagần 600 Toà án cấp huyện đã giải oan được bao nhiêu? Và còn bao nhiêu số oan chưa được giải?

Xu hướng ngược lại là phi hình sự hoá, nhiều vụ vi phạm pháp luật về chiếm đoạt tài sản nhà nước, tài sản tập thể, tài sản công dân… đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chỉ bị xử lý hành chính, hoặc theo tố tụng dân sự hoặc cố ý bỏ qua không xử lý gì.

Nguyên nhân của tình trạng trên là:

Thứ nhất là từ các quy định của pháp luật. Sự thiếu rõ ràng trong các quy định của pháp luật dẫn tới hiện tượng hiểu sai và áp dụng sai pháp luật hoặc dựa vào đó một số cơ quan tố tụng cố tình hiểu sai, áp dụng sai pháp luật.

Thứ hai từ phía cơ quan tiến hành tố tụng: đó là trình độ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu; lực lượng cán bộ, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán thiếu; ý thức đạo đức của cán bộ chưa cao.

Thứ ba từ phía các DN: cơ chế kinh tế thị trường chuyển đổi quá nhanh làm cho những người quản lý DN không theo kịp về nhận thức và năng lực. Nhiều giám đốc DN thiếu kiến thức cơ bản về pháp luật và kinh doanh, chưa thích nghi kịp với quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường. Tại TP HCM trong số 22 giám đốc bị truy tố, có một người học vấn lớp 4, một người học vấn lớp 5, hai người học vấn lớp 6. Theo số liệu của Bộ KH-CN thì khu vực quốc doanh có khoảng 30% số giám đốc DN không được đào tạo có hệ thống, không có bằng cấp, không am hiểu luật lệ kinh doanh. Có lẽ vì thế nhiều DN đã đòi nợ theo kiểu “luật rừng”, cũng không hiếm trường hợp do quá bức xúc về nguy cơ mất tài sản nên chủ nợ đã tố giác hành vi của con nợ không đúng với bản chất sự việc.

Giải pháp khắc phục:Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông dân sự, kinh tế, đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho công dân. Pháp luật phải thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để cho mọi tổ chức cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, tăng cường hiệu lực hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật: các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong kiểm tra giám sát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; phát huy vai trò tích cực của các cơ quan tài phán trong việc giải quyết các tranh chấp mang yếu tố tài sản; tăng cường vai trò của cơ quan thi hành án để các bản án, quyết định của toà án, trong tài có hiệu lực thực hiện trong thực tế. Thứ ba, thiết lập cơ chế kiểm tra giám sát thích hợp đối với các hoạt động của DN để không buông lỏng quản lý đối với DN và không can thiệp sâu vào các hoạt động kinh doanh hợp pháp của DN. Thứ tư, đào tạo đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật vừa giỏi chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh nghề nghiệp. Chính quy hoá đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán. Thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao chuyên môn cho đội ngũ cán bộ.Thứ năm, đẩy mạnh công tác giáo dục, phổ biến pháp luật cho công dân.

dddn.com.vn

BỒI THƯỜN OAN SAI: SAO VẪN… SAI?

BÁ TÚ

Khi cá nhân, tổ chức bị cơ quan nhà nước xâm phạm thì liệu Nhà nước có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như những chủ thể thông thường khác hay không? Thực tế lập pháp trên thế giới đã trả lời “có”. Nhưng…

Người dân và DN sai phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật, còn cơ quan chức năng biết sai lại “né” trách nhiệm thì sao?

Hành lang pháp lý chưa đủ rộng

Mặc dù, thời gian qua hành lang pháp lý cho việc bồi thường trách nhiệm nhà nước đã được Nhà nước chú ý xây dựng như Nghị quyết số 47/CP ngày 3/5/1997 về giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, hay Nghị quyết số 388/2003/NQ của UB Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chế định pháp luật này chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra nhằm điều chỉnh một cách toàn diện, hợp lý các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của nhà nước.

TS Dương Đăng Huệ – Vụ trưởng Vụ Pháp luật Kinh tế (Bộ Tư pháp) cho rằng: Luật Bồi thường Nhà nước nên áp dụng cơ chế bồi thường đối với tất cả những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp. Theo ông Huệ, cần quy định thủ tục thương lượng là thủ tục được khuyến khích thực hiện, nhưng bên cạnh đó, quyền khởi kiện ngay ra Toà án vẫn được luật quy định.

Đơn cử như vụ việc bồi thường cho ông Hoàng Minh Tiến là một điển hình cho việc thương lượng không thành công. Ông Tiến đã được xác định rõ VKSND TP Hà Nội có sai phạm đối với ông và phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khi ông Tiến yêu cầu bồi thường 4 tỷ đồng cho 13 khoản thiệt hại thì qua thương lượng VKSND Hà Nội chỉ chấp nhận bồi thường 27,9 triệu đồng về tinh thần cho 403 ngày tạm giam của ông Tiến. Còn lại tất cả các khoản thiệt hại khác cùng yêu cầu trả lại ngôi nhà số 6/295 Bạch Mai, TP Hà Nội đều bị VKSND Hà Nội bác bỏ.

Theo ông Nguyễn Tuấn Khanh – Viện Khoa học thanh tra: Việc thương lượng giữa người bị oan với cơ quan có trách nhiệm bồi thường đều không đạt được kết quả như mong muốn và tốn rất nhiều thời gian. Cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại thường uỷ quyền cho một cán bộ chuyên môn và chỉ có thể thoả thuận mức bồi thường thấp hơn mức quy định. Điều này không đúng với bản chất của việc thương lượng.

Nên cơ quan thi hành vẫn cố tránh lỗi

Vụ án hình sự oan đối với ông Lương Ngọc Phi – Giám đốc Cty TNHH Thương mại Thanh Phong là một điển hình. Vụ án bắt đầu từ ngày 30/4/1998, cơ quan Cảnh sát điều tra Thái Bình khởi tố vụ án đối với ông Lương Ngọc Phi về tội “lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản XHCN”, tiếp sau đó thêm tội “trốn thuế”. Ngày 29/9/1999, TAND tỉnh Thải Bình đã xét xử sơ thẩm tuyên ông Phi 17 năm tù giam. Đến TAND tối cao xử phúc thẩm ngày 25/5/2000, tuyên ông Phi không phạm tội. Ông Phi đã liên tục làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nhưng đến tận 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bình mới tổ chức xin lỗi công khai ông Phi.

Bên cạnh đó, trong đơn yêu cầu bồi thường gửi TAND tỉnh Thái Bình, ông Phi đã liệt kê 5 mục lớn với tổng trị giá bằng tiền lên đến hơn 24 tỷ đồng như tổn thất về tinh thần gần 107 triệu đồng, tài sản bị thu giữ, kê biên hơn 5,3 tỷ đồng, thiệt hại do lãi từ khoản tiền tịch thu 2,1 tỷ đồng… Nhưng TAND tỉnh Thái Bình chỉ chấp nhận 4 mục nhỏ như việc bồi thường cho 1.066 ngày bị giam oan, số tiền thăm nom trong thời gian bị giam và tiền thuê luật sư. Tổng số tiền của 4 mục này là 163 triệu đồng.

Từ vụ án trên cho thấy TAND tỉnh Thái Bình là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng cũng lại là cơ quan xét xử vụ kiện bồi thường với chính mình là bị đơn ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm thì thật khó có thể khách quan. Ông Phi chua xót: Gần 10 năm qua các cơ quan tố tụng tỉnh Thái Bình đã bắt giam, xét xử oan đối với ông nhưng ngay việc xác định cơ quan nào phải giải quyết bồi thường thiệt hại cho ông đã vô cùng khó khăn. Các cơ quan tố tụng khi biết vụ án bị oan thì họ co cụm lại với nhau, tìm cách trốn tránh trách nhiệm bồi thường.

Điển hình hơn là vụ việc về áp mã thuế XNK đối với Cty TNHH Hà Vinh (Bắc Ninh) cũng rơi vào tình trạng tương tự. Theo ông Nguyễn Thế Vinh – GĐ Cty Hà Vinh, ngày 3/10/2003, theo chỉ đạo của Tổng cục Hải quan, Cty đã làm việc với Cục Hải quan Lào Cai kết quả thống nhất huỷ bỏ quyết định xử phạt và biên bản vi phạm của Cty. Đến 6/2/2004, sau nhiều lần khiếu nại của Cty, Hải quan Lào Cai đã thống nhất trả tiền phạt, tiền thuế phạt, tiền bồi thường các khoản trên. Nhưng đến ngày 16/4/2004, Cục Hải quan Lào Cai lại thay đổi sang một mã thuế NK khác với tên hàng giống các lô hàng mà Cty đang tranh chấp. Nhưng thực tế mã số thuế NK mới không đúng với tên hàng Cty NK và lại xử phạt hành chính Cty. Vụ việc kéo dài đến nay, mặc dù đã có văn bản của Tổng cục Hải quan và Thanh tra Hải quan nhưng Hải quan Lào Cai mới chỉ trả một phần trong số thuế được trừ. Ông Vinh đặt ra câu hỏi, DN nộp thuế chậm thì bị phạt nhưng Hải quan trả chậm thì tại sao không bị chế tài gì xử lý?

Bá Tú – DDDN.COM.VN

ĐÁNH GIÁ LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005: NHIỀU VƯỚNG MẮC

Với những nội dung tiến bộ, Luật DN năm 2005 (có hiệu lực từ 1/7/2006) đã góp phần tích cực trong việc tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thông thoáng. Tuy nhiên, theo Luật gia Vũ Xuân Tiền – GĐ Cty tư vấn VFAM VN có 3 vấn đề phát sinh trong thực tế, đòi hỏi được tháo gỡ.

Bởi, “những hạt sạn” trong văn bản luật xuất hiện vì lý do nào đó cũng cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Chứng chỉ hành nghề đối với Giám đốc

Cả 3 điều: Khoản 4 Điều 16 Khoản 5 Điều 18 và Khoản 5 Điều 19 đều quy định với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề thì Giám đốc phải có chứng chỉ đó. Tuy nhiên, đó là điều vô lý và đã được giải thích rằng, do sơ suất trong việc soạn văn bản đã có sự nhầm lẫn chuyển chữ “hoặc” thành chữ “và”. Khoản 3 Điều 6 dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật DN đã đưa ra phương án bằng cách quy định chung chung “Đối với DN kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật đòi hỏi giám đốc hoặc người đứng đầu DN phải có chứng chỉ hành nghề thì giám đốc của DN đó phải có chứng chỉ hành nghề”. Dự thảo nghị định cũng không đưa ra danh mục những ngành nghề nào mà pháp luật đòi hỏi “Giám đốc phải có chứng chỉ hành nghề”. Do đó, quy định như trên lại là bật “đèn xanh” cho hàng loạt quy định vô lý sẽ ra đời.

Tỷ lệ cổ phần phổ thông khi thông qua biểu quyết

Khoản 2 Điều 52 quy định: “2. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây: a) Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ Cty và việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty, tổ chức lại, giải thể Cty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”.

Khoản 3 Điều 104 quy định: “3. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty; tổ chức lại, giải thể Cty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty nếu Điều lệ Cty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”.

Quy định trên gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi ở một số lĩnh vực, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn đến tỷ lệ cao nhất là 49%. Trong thực tế, quy định tại Điều 52 và Điều 104 như trích dẫn trên cũng gây khó khăn cho các Cty TNHH, Cty cổ phần của VN vì việc triệu tập cho đủ những thành viên góp vốn hoặc cổ đông đại diện 65% hoặc 75% tổng số phiếu có quyền biểu quyết là không dễ. Nếu chúng ta chỉ sửa lại theo hướng “cho các bên liên doanh thỏa thuận tỷ lệ cụ thể trong Điều lệ Cty” sẽ vi phạm nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử. Do đó, xin đề nghị sửa lại quy định của luật theo hướng quy định một tỷ lệ khác áp dụng chung cho tất cả mọi thành phần DN.

Tư cách pháp nhân của Cty hợp danh Điều 130 Luật DN quy định:

1. Cty hợp danh là DN, trong đó: a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của Cty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty; c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Cty trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty.

2. Cty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Theo tôi, quy định nêu trên mâu thuẫn với Điều 84 Luật Dân sự năm 2005 quy định về pháp nhân: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”.

Như vậy, khi các thành viên hợp danh góp vốn thành lập Cty và Cty có tư cách pháp nhân thì họ hoạt động nhân danh pháp nhân đó. Do đó, quy định “Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty” là vô lý. Từ đó, xin kiến nghị sửa lại: Cty hợp danh không có tư cách pháp nhân hoặc bỏ tiết b khoản 1 Điều 130 nêu trên.

Dưới đây là một số ý kiến của các thành viên tham gia hội thảo:

Ý kiến của Luật gia Cao Bá Khoát – GĐ Cty tư vấn Doanh nghiệp K&Cộng sự

Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư là hai luật luôn đi đôi với nhau để điều chính các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm, kể từ ngày có hiệu lực (1/7/2006), hai luật này đã khiến nhiều doanh nghiệp gặp không ít khó khăn vướng mắc. Một số quy định trong hai luật mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau làm cho doanh nghiệp lúng túng trong quá trình hoạt động của mình. Nghiên cứu kỹ hai luật này chúng tôi thấy:

– Liên quan đến việc hoạt động của doanh nghiệp, đáng lẽ Luật đầu tư chỉ cần điều chỉnh việc cấp GCNĐT nhằm xác định những dự án được hưởng ưu đãi nhưng trên thực tế luật này đang điều chỉnh cả việc cấp GCNĐKKD cho DN bằng quy định: GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD. Như vậy, luật đầu tư đang lấn sân sang luật DN tạo ra những vướng mắc khó giải quyết. Chẳng hạn một DN có GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD có quyền thay đổi ĐKKD tại cơ quan ĐKKD hay không? Đây là một câu hỏi khó trả lời vì trong mắt của Luật DN thì những DN trên chưa được cấp GCNĐKKD. Rõ ràng việc không tách bạch hai thẩm quyền này đã gây khó khăn cho DN.

– Với nhà đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư quy định chỉ cần có: Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy thế, sau khi có được giấy chứng nhận này nhà đầu tư cũng không thể cắt đuôi các loại giấy phép khác như: Giấy phép xây dựng, giấy phéo của các cơ quan quản lý đất đai, giấy phép của cơ quan quản lý môi trường và giấy phép kinh doanh…. Vậy giấy chứng nhận đầu tư để làm gì khi không thể thay thế các loại giấy trên? Nếu theo nguyên tắc, GCNĐT là chứng nhận các điều kiện đầu tư đó là hợp pháp. Vậy tại sao lại buộc nhà đầu tư lại phải xin các loại giấy phép khác. Quản lý nhà nước về đầu tư trong trường hợp này đã thống nhất hay chưa?

Trên thực tế, hiện nay không chỉ có Luật Đầu tư mới “gặm nhấm” Luật DN mà còn có Luật kinh doanh Bảo hiểm và Luật Chứng khoán.

Từ những thực tế trên, chúng ta cần bàn lại về khái niệm “đồng thời” trong các văn bản luật.

Với những thực tế đang xẩy ra hiện nay thì có thể hiểu giấy phép hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do các cơ quan chủ quản cấp có hai giá trị: giá trị thứ nhất là bảo đảm tính hợp pháp và giá trị thứ hai là nó xác nhận tư cách pháp nhân cho DN. Chúng ta không tài nào hiểu nổi tại sao một giấy phép hoạt động lại có thể có quyền năng này trong khi doanh nghiệp đó chưa đó chưa được đăng ký kinh doanh. Hệ quả từ khái niệm đồng thời còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề từ lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và ngân hàng. vừa trong lĩnh vực đầu tư thì sẽ đăng ký kinh doanh như thế nào? Cơ quan nào sẽ quản lý doanh nghiệp này? Việc lập chi nhánh của doanh nghiệp này sẽ do cơ quan nào cấp phép? Không biết liệu cơ quan đăng ký kinh doanh có đồng ký cho doanh nghiệp lập chi nhánh hay không khi mà DN không đăng ký kinh doanh mà chỉ có các loại giấy phép hoạt động đồng thời là giấy phép kinh doanh?

Chúng tôi có các kiến nghị như sau:

1. Để thống nhất quản lý nhà nước về doanh nghiệp và giúp hoạt động kinh doanh của DN được thuận lợi cần: Trả lại thẩm quyền cho đăng ký kinh doanh cho Luật DN và ban hành một văn bản hướng dẫn thực hiện áp dụng thống nhất về đăng ký kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề, không để tình trạng các luật khác lấn sân sang Luật DN.

2. Xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan đăng ký kinh doanh, thiết lập một hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh thống nhất từ TƯ đến cấp tỉnh với tên: Cơ quan đăng ký doanh nghiệp.

3. Coi giấy phép đầu tư và các loại giấy phép hoạt động là những hoạt động độc lập với giấy phép đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp.

4. Thực hiện thống nhất tư duy đã hoạt động kinh doanh trước tiên phải đăng ký kinh doanh để xác lập tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh sau đó cấp giấy phép hoạt động ngành nghề gì thì cấp.

Ý kiến của PGS – TS Phạm Duy Nghĩa – Tổ luật kinh doanh, ĐH Luật HN:

Về thủ tục đăng ký kinh doanh tôi có mấy ý kiến sau:

– Về quy trình thành lập khá tốt so với thế giới. Tuy nhiên, để tốt hơn người dân cần chuẩn bị các bộ hồ sơ để đồng thời gửi các nơi. Người dân không chỉ nhìn nhận mọi việc qua góc độ là quyền mình được hưởng mà cần phẩn xem xét trên khía cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ cần phải thực hiện các hoạt động đó của mình nữa.

– Hiện nay, việc đăng ký tên hộ kinh doanh được bảo hộ trong phạm vi quận/huyện, tên DNTN, Cty TNHH, CTCP và hợp danh được bảo vệ trong phạm vi của tỉnh, nơi doanh nghiệp đó đăng ký kinh doanh. Từ đó có nhiều doanh nghiệp bị trùng tên giữa các tỉnh. Việc đăng ký bảo hộ tên của các doanh nghiệp trên toàn quốc (Tránh trùng nhau) cần có một ban đăng ký kinh doanh riêng đảm bảo tính thống nhất, và bảo hộ tên thương hiệu của doanh nghiệp trên toàn quốc. Doanh nghiệp muốn bảo hộ tên của mình trên địa phương thì đóng tiền mức riêng, trên toàn quốc thì phải đóng phí.

– Doanh nghiệp tư nhân là một sai lầm. Ngay từ khái niệm sai lầm. Nên quan niệm theo thế giới là coi doanh nghiệp này là của một ông chủ vì thế không thể nói là công ty. Như thế doanh nghiệp hợp doanh là của một nhóm các ông chủ.Tôi cho cần hợp nhất mô hình hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân – sau này nên gọi là cá nhân kinh doanh sole proprietorship để tránh gây nhầm lẫn từ khái niệm “doanh nghiệp tư nhân”. Hai mô hình này cần nên cùng đăng ký kinh doanh ở một cấp và không nên quy định chỉ ĐKKD mới được phép tiến hành kinh doanh. Đăng ký chỉ là thống kê theo dõi không khai sinh quyền kinh doanh. Và với hai mô hình kinh doanh cá nhân này cũng chỉ nên đánh thuế thu nhập cá nhân của người chủ mà không nên đánh thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như không bắt buộc phải có con dấu.

– Từng bước tiến tới thống nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế, tiếp tục giảm bới thủ tục cho doanh nghiệp. Muốn vậy cần thiết lập nghĩa vụ chia sẻ giữa thông tin giữa phòng ĐKKD, cơ quan Thuế và VCCI. Doanh nhân có nghĩa vụ tham gia VCC một cách bắt buộc.

Ông Vũ Duy Thái – Chủ tịch Hiệp hội Công thương TP Hà Nội

Bộ Kế hoạch Đầu tư và Tổ Công tác thi hành 2 luật đã thừa nhận những vướng mắc về nội dung trong việc thực thi hai luật và các nghị định hướng dẫn thi hành. Song nếu nhìn từ phía doanh nghiệp và các địa phương thì những vướng mắc này còn lớn hơn rất nhiều: Từ việc đăng ký kinh doanh, đặt tên doanh nghiệp, các quy định về quản trị, chuyển nhượng vốn, chuyển đổi của doanh nghiệp, thành lập văn phòng đại diện, hay như vấn đề trách nhiệm của chủ doanh nghiệp như thế nào khi cho thuê doanh nghiệp? Thế nào là trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu (điều 144)?…

Có cái tưởng như đã thành công như quy trình “3 trong 1” (cấp đăng ký kinh, mã số thuế, cấp phép khắc dấu tuy đã được thống nhất vào một cửa với thời hạn không 15 ngày là một bước tiến đáng kể). Song năng lực và phương tiện của cơ quan đăng ký kinh doanh còn yếu, nên kết quả của cái cách này chưa được như mong đợi, doanh nghiệp vẫn thấy còn có biện pháp cải tiến thêm, dònh chữ vành ngoài của con dấu cấp cho doanh nghiệp thuộc cấp tỉnh, thành phố quản lý, nhưng lại ghi theo địa phương (quận, huyện) khiến mỗi khi đi di chuyển từ quận này sang quận khác nếu tuân thủ triệt để doanh nghiệp phải làm thủ tục khắc lại con dấu!

QUI ĐỊNH VỀ HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ TRONG TỐ TỤNG CẦN THÔNG THOÁNG HƠN

PHẠM VĂN CHUNG – (Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum)

Theo quy định của pháp luật thì người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần…

Theo đó khi khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (hay còn gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) thì nguyên đơn phải xuất trình được chứng cứ chứng minh gồm: chứng minh việc cấp cứu, cứu chữa người bị hại như thuê xe chở cấp cứu, chi phí tiền thuốc men…; tiền chi phí cho việc mai táng như tiền mua quan tài, áo vải khâm liệm, thuê người khâm liệm, thuê xe đưa tang, tiền công lao động của người chăm sóc, người bị hại trong thời gian chữa trị…; tiền cấp dưỡng cho người mà nếu người bị hại nếu còn sống phải cấp dưỡng như cha, mẹ, vợ con không có khả năng lao động, con dưới 18 tuổi…; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần thường được quy định cứng, ví dụ trong trường hợp người bị hại chết thì được bồi thường không quá 60 tháng lương tối thiểu.

Theo thống kê sơ bộ các khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên là gồm 4 khoản, trong đó chỉ có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là dễ tính toán nhất (ví dụ trên), còn lại các khoản thiệt hại đều rất khó chứng minh, trong đó phức tạp nhất là chứng từ chứng minh cho các khoản thiệt hại trên. Theo quy định về chứng từ kế toán, quan hệ dân sự, kinh tế thì khi mua hàng phải có hoá đơn, thuê, mướn, vay tài sản thì phải có hợp đồng kinh tế, dân sự, thương mại…

Tuy nhiên, trong vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhất là khi người bị hại đã chết thì những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rất khó xác định đầy đủ, đúng những thiệt hại thực tế một mặt do trình độ của nhiều nguyên đơn còn hạn chế. Mặt khác khi xảy ra sự việc do tình huống khẩn cấp, bối rối mà các bên liên quan không thể thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định như thuê xe không có hợp đồng, mua hàng không nhận hoá đơn… dẫn đến không đúng quy trình như xuất hoá đơn sau khi mua hàng đã lâu nên không có giá trị, hợp đồng ký kết sau khi đã thực hiện xong nội dung cần thoả thuận dẫn đến bất hợp lý, vô hiệu…

Thiết nghĩ, các cơ quan có thẩm quyền quy định theo hướng thông thoáng, linh hoạt hơn, theo đó đối với các trường hợp đã có chi phí thực tế và hợp lý thì có thể được bồi thường thiệt hại theo thực tế và chứng cứ chứng minh chỉ cần tính tương đối, không nhất thiết phải được thu thập đúng trình tự như việc thuê xe không đòi hỏi phải có hợp đồng mà chỉ cần có xác nhận của bên được thuê là có sự thuê, mướn; hoặc được bên mua hàng xác nhận có sự việc mua bán loại hàng hoá đó. Như vậy, một mặt giúp cho bên bị thiệt hại bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác tránh được sự rắc rối tiêu cực khi người được thuê, được mua hàng trước đây gây khó khăn như buộc phải chi phần trăm mới xuất hoá đơn, ký hợp đồng… dẫn đến vi phạm về luật thuế, luật dân sự.

SOURCE: DDDN.COM.VN