MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

TS. NGUYỄN THÚY HIỀN – Bộ Tư pháp

I. CÁC CHỦ THỂ THAM GIA KÝ KẾT HỢP ĐỒNG

Cũng như Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định có bốn loại chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác.

I. Cá nhân

Về nguyên tắc, cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.

1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Bộ luật dân sự quy định mọi cá nhân sinh ra đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết (Điều 14). Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định (Điều 16). Để làm rõ nội dung của năng lực pháp luật dân sự, Điều 15 của Bộ luật dân sự quy định cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:

– Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;

– Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;

– Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

2. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được hiểu là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, không phải ai cũng có năng lực hành vi như nhau. Để có thể bằng hành vi của mình xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự, đòi hỏi cá nhân đó phải có lý trí đủ để nhận thức được hành vi của mình, điều khiển được hành vi đó và ý thức được hậu quả do hành vi của mình gây ra. Thước đo chung về khả năng lý trí nêu trên của mỗi cá nhân chính là độ tuổi. Do đó, cũng như pháp luật dân sự của các nước, Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau về năng lực hành vi dân sự:

Continue reading

NHÀ NƯỚC NÊN MUA LẠI XE TỰ CHẾ!

ĐỖ LĂNG QUÂN

Công luận lại chợt nóng ran với chuyện: từ ngày 1/1/2008, theo Nghị quyết 32/2007/NQ-CP của Chính phủ, chúng ta chính thức cấm sử dụng xe công nông, xe tự chế 3 – 4 bánh, đình chỉ lưu thông xe ô-tô hết niên hạn sử dụng trên toàn quốc. Nhiều ý kiến tỏ ý lo lắng cho số phận của những người nghèo đang mưu sinh nhờ xe công nông, xe tự chế 3-4 bánh, Báo Tuổi Trẻ còn thống kê: riêng TP Hồ Chí Minh có ít nhất 60.000 hộ gia đình (nghĩa là hàng vài trăm nghìn “cái miệng”) đang mưu sinh lần lữa nhờ xe ba gác, nếu cấm sử dụng cái cần câu cơm kia thì họ biết sống làm sao?

1.Chúng ta hoàn toàn có thể nhẩm tính tiếp: làng quê nào chả có công nông – dẫu rằng “nó” bị gọi là “hung thần đầu dọc, ác quỷ đầu ngang” (công nông đầu dọc và công nông đầu ngang), bởi sức gây tai nạn và lối chạy vô lối của nó – nay ta cấm thì hàng vạn cái “tàu há mồm” đang bấu víu vào nghề lái công nông, sẽ đi về đâu? Vâng, chúng ta rất thông cảm với cái nghèo của những người đã phải chạy công nông, xe ba gác kiếm sống. Hy vọng chính quyền các cấp, các đoàn thể sẽ có chính sách động viên, dạy nghề, cho vay vốn giúp bà con vượt qua cái “sóng gió” bỗng chốc bị mất phương tiện nuôi mình và nuôi gia đình này. Nhưng…

Những chiếc công nông vô lối và luôn rình rập gây tai nạn này cần phải được… tiêu diệt để đem lại sự bình yên, chuyên nghiệp, kỷ cương cho cuộc sống

2. Nhưng! Chúng ta cần thấy sự phẫu thuật này là hết sức cần thiết. Chúng ta đang phấn đấu cho giới trẻ thành những công dân toàn cầu, đất nước ra nhập WTO, mọi người cùng chuyên nghiệp, sống – làm việc theo pháp luật và những khát vọng tươi đẹp. Trong khi đó, bạn nghĩ gì khi hàng vạn cái công nông cứ bò như hung thần ra đường phố, “chung vui” với bạn và con cái bạn, hứa hẹn những tai nạn thảm khốc? Tiếng nổ đinh tai nhức óc, khói đen kịt như B52 rải thảm, xe thì chẳng có sự “đăng kiểm” nào. Tháo một bộ phận đi, công nông thành cái máy cày, lắp thêm một bộ phận lại thành cái máy tuốt lúa, công nông biến hoá cứ như Tôn Ngộ Không. Và, người lái xe vĩ đại trên quốc lộ bon bon, lắc mình một cái lại biến thành bác thợ cày hút thuốc lào sọc sọc. Chúng ta phải chuyên nghiệp hoá, phải rà soát kỹ việc cấp bằng lái xe ôtô xe máy, rà soát kỹ chất lượng của các cái xe tiền tỷ trên đường – trong khi đó, xe công nông cứ nghênh ngang lượn lờ cõng “tử thần” đến cho bà con mình mãi được sao? Sao lại để người mức sống thấp hơn (vùng nông nghiệp, nông thôn) thì ở gần… tử thần hơn được?!

Tương tự, giữa phố phường thanh sạch, nề nếp, nam thanh nữ tú và cả cái tương lai của nước nhà đang dạo phố, một chiếc xe “tự chế” xồng xộc tới. Đồng chí cứ lao, vì có húc vào bờ tường, khối sắt hàn xì nham nhở của đồng chí cũng chả sứt mẻ gì. Có khi đồng chí tranh thủ rít thuốc lào, có khi ở trước ghi đông có cả bi-đông nước chè, lúc chờ đèn đỏ, đồng chí tranh thủ thưởng thức “quà quê” đậm đà. Cái nhà di động, cái cần câu cơm, cái cỗ máy tàn sát người ta cứ lao ầm ầm, trên đó, ống sắt (chở hàng hoá thuê) ngóc lên trời như nòng pháo; các tấm tôn khổng lồ sáng choang, nó đi đến đâu, tôi thường có cảm giác ai vừa xây một bức tường thành chia đôi ranh giới phố xá ra làm hai chiến tuyến. Một sự thiếu chuyên nghiệp (vô lối) đến phát sợ!

Không ai muốn gặp tai nạn, hay nhìn thấy những tai nạn thương tâm, thì chúng ta phải chấp nhận tiễu trừ xe tự chế và nhiều cái tự chế khó hiểu khác thôi. Cuộc phẫu thuật nào cũng đau đớn. Chính phủ đã chấp nhận cấm lưu thông xe tự chế, xe quá hạn sử dụng, thật sáng suốt. Tôi còn nhớ, cách đây ba bốn năm, tôi đã dự một hội thảo của Bộ Giao thông vận tải và các lãnh đạo nhiều tỉnh thành phía Bắc về kế hoạch diệt trừ công nông vào thời điểm năm 2008. Tác phẩm báo chí tôi viết (đăng báo lớn hẳn hoi) về công nông và nỗi kinh hoàng của nó tôi còn được trao giải thưởng của Bộ Giao thông vận tải. Khoe trộm như vậy để thấy rằng: việc cấm công nông không có gì bất ngờ. Và xứng đáng! Bà con đã đặt thành câu ca rất là đau đớn rồi “Ra đường sợ nhất công nông/ về nhà sợ nhất vợ không… nói gì”. Sợ thế, sao lúc cấm ta còn cấn cá? Khó khăn thì nỗ lực giải quyết thôi. Cũng như khi chúng ta xây một cây cầu tiền tỉ, hàng loạt cái thuyền, bè, xà lan, nhiều người kiếm cơm bằng nghề lái đò suốt nhiều thập niên bị vớt lên… bờ. Như cá rời xa nước. Mưu sinh của họ có thể gặp nhiều hao khuyết trong những ngày đầu lạ nước lạ cái do mất nghề, nhưng không lẽ vì thế mà ta ngừng việc xây một cây cầu vĩ đại phục vụ dân sinh?

Cách đây chưa lâu, Bộ Công an và các công an, tỉnh thành đồng loạt vận động giao nộp nhiều vạn khẩu súng “tự chế” với bao hiểm hoạ trong dân. Lúc đầu, người ta cũng kêu ca, hàng vạn khẩu súng, giờ đem nấu chảy thành thép tiếc quá. Văn hoá khoan nòng súng thứ thiệt của người Mông, người Thái; việc canh nương bảo vệ mùa màng trước lũ chim thú phàm ăn phàm phá sẽ đi về đâu? Có người còn lên tỉnh khóc lóc, đám ma của người Thái, người Mông là phải có tiếng súng kíp tiễn hồn người thân về Mường Trời, thu súng rồi biết làm sao? Nhưng rồi, cái đáng sợ hơn vẫn là: sự tàn sát đồng bào mình do săn bắn nhầm và khi mà mâu thuẫn nhỏ, sự thiếu hiểu biết khiến người ta đỏ mặt tía tai dùng súng lớn dí vào nhau bóp cò để… giải quyết. Bà con và chính quyền cùng quyết tâm. Riêng tỉnh Điện Biên, ít nhất, trong thời gian hơn 1 năm, bà con giao nộp tới 26.000 khẩu súng tự chế đem về Thái Nguyên nấu thành thép. Tiêu huỷ! Tương tự thế là Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Cạn, Nghệ An… cùng ầm ầm tiễu trừ súng tự chế.

3. Hai chữ tự chế, bản thân nó không có tội để đến nỗi phải tiễu trừ. Nghĩ cho cùng thì tàu hoả, máy bay, bút giấy, máy móc, hầu hết những phương tiện cảm giác như không thể thiếu trong xã hội chúng ta hôm nay, xuất phát điểm của nó đều là các nhà phát kiến vĩ đại đã “tự chế” ra cả đấy thôi. Chế ra rồi xã hội ghi nhận, tôn vinh, và nó hoạt động trong guồng quay văn minh, chuyên nghiệp, lề lối và tử tế của xã hội. Nay, các cái chữ “tự chế” trong xe ba bốn bánh tự chế, súng tự chế… mà chúng ta đang sử dụng nó lại mang một nghĩa hơi khang khác. Nghĩa là từ để chỉ sự tự phát, “tiểu nông”, vô lối, coi thường sự bình an của đồng bào mình. Những cái “tự chế” ấy, nó ít bị chi phối bởi những thứ quy định cần thiết cho một xã hội văn mình, tiến bộ, phát triển. Và, chúng ta phải bắn rụng súng tự chế, phải nhấn ga thả những chiếc xe tự chế thường chở theo thảm hoạ kia vào vực sâu của quên lãng. Đó là cuộc phẫu thuật cần thiết: vì chúng ta và con cháu chúng ta.

Nhưng có thực tế đang diễn ra là: một cái công nông giá 10 triệu đồng, nhưng nó nuôi sống cả một đại gia đình. Riêng ở TP HCM cái xe ba gác ọc ạch sắt ghỉ, nhưng nó là cần câu cơm của 6 vạn hộ gia đình. Miền Bắc của chúng ta cũng có nhiều vạn cái công nông đang được cấp phép sử dụng. Tuy còn nhiều xe không được “chi phối” bởi rất nhiều thứ tiêu chuẩn cần thiết của hệ thống giao thông an toàn mà chúng ta đang hướng đến; nhưng, rõ ràng trong cả một thời gian dài, công nông – xe tự chế 3-4 bánh đã được cấp phép hoạt động. Nhà nước cho nhập công nông, xe tự chế về và cấp đăng kiểm, bằng lái cho người sử dụng, các phương tiện đó trở thành niêu cơm Thạch Sanh hợp pháp cho bà con mình.

Nay, Chính phủ cấm xe công nông, xe tự chế nguy hiểm là một chủ trương đúng, nhưng khi mà sự “ba đào” đó làm nhiều vạn hộ phải lao đao, thì chúng ta cần phải có phương án sao cho hợp lý hợp tình. Cái việc thêm an toàn và hạn chế ùn tắc (cấm công nông, xe tự chế) cho hệ thống giao thông quá nhục nhằn của chúng ta là cần thiết; nhưng sự yên ổn của miếng cơm manh áo cho bà con mình cũng không kém phần quan trọng. Nên chăng, Nhà nước cần tổ chức thu mua những cái xe đó theo giá thị trường rồi đem “tái chế”, để bà con không trắng tay khi bị thu xe bị cấm sử dụng xe? Nên tính kế sản xuất một loại phương tiện phù hợp tương tự, với giá thành tương tự để bà con có thể dùng tiền hỗ trợ “xẻ thịt” xe cũ, cộng thêm tích cóp, mua phương tiện được khuyến khích sử dụng mới (ví như xe nông dụng giá rẻ thay cho công nông mà Bộ GTVT đã khuyên dùng) để tiếp tục mưu sinh bằng cái nghề mà xã hội đang cần đến nó kia. Để chúng ta vẫn an toàn quang quẻ được trên mỗi tuyến đường mà bà con thì không quá khốn đốn. Nên giúp bà con nghèo vay vốn, dạy nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ tiền chuyển đổi ngành nghề, sớm ổn định cuộc sống, khi mà đột ngột họ mất nghề, mất cả phương tiện mà họ tằn tiện (thậm chí vay nặng lãi) nhiều năm mới có được kia.

Chủ trương cấm xe công nông, xe tự chế 3-4 bánh là sáng suốt, cần thiết, là đòi hỏi của một xã hội an toàn – văn minh; nhưng, đằng sau đó cũng có những bài toán “nhân tình” hóc búa cần phải sớm giải quyết cho thấu tình đạt lý. Nhất là khi mà, người thụ nhận những ba đào phiền toái của lệnh “cấm” kia lại là bà con nghèo của chúng ta. Nhất là khi mà, ngày “cấm” xe của người nghèo lại diễn ra sau ngày “Vì người nghèo” 31.12 có một ngày…

Đỗ Lãng Quân (Vietimes)

PHIÊN TÒA "ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN MINH"

MINH LUẬN

Một trong những cách thức hữu hiệu nhất khi đánh giá về một xã hội nào đó là việc tìm hiểu xem xã hội đó đối xử với người già và người khuyết tật như thế nào? Xã hội càng văn minh, đạo đức thì việc đối xử đó càng tốt. Chúng ta sẽ “lắng nghe” xem “đạo đức và văn minh” sẽ có số phận thế nào!

  Hôm qua 24-12, Tòa án Q.Tân Bình (TP.HCM) tiến hành xét xử vụ hành khách kiện hãng Hàng không giá rẻ Pacific Airlines (PA) sau ba lần hòa giải không thành. Ngày 12 tháng 8, khi kiểm tra vé, PA đã yêu cầu chị Nguyễn Thị Hải Yến phải trả 50 USD cho dịch vụ xe lăn vì chị Yến không thể leo cầu thang để lên máy bay.

Chị Nguyễn Hải Yến, một người khuyết tật, khách hàng của PA đã kiện PA thiếu chu đáo trong việc phục vụ hành khách khuyết tật và đòi PA phải bồi thường cho việc chị không được phục vụ như một người khuyết tật và cho những tổn hại sức khỏe của chị trong chuyến bay có thể nói là vô cảm này.

Luật sư của Hãng hàng không Pacific Airline tuyên bố PA đã chối từ việc bồi thường chị Nguyễn Hải Yến với lý do PA không cung cấp dịch vụ vận chuyển đặc biệt, nếu hành khách yêu cầu hỗ trợ đặc biệt khi đi lại trên máy bay của PA phải đặt trước và phải thông qua Trung tâm phục vụ khách hàng PA ít nhất ba ngày trước khi khởi hành.

Lý luận của luật sư phía PA nêu ra nói trên nghe như là một cách làm ăn văn minh đầy tính luật pháp nhưng thực ra đó là một câu chuyện hài hước. Điều này làm tôi bất giác nhớ lại chuyến đi nước ngoài đầu tiên của tôi vào năm 1979. Khi tôi phát hiện ra những lối đi “ lạ ” ở tất cả những nơi công cộng. Tôi đã băn khoăn tự hỏi vì sao các kiến trúc sư lại kiến trúc những lối đi như thế bên cạnh những lối đi rất “chuẩn” về kiến trúc.

Không thể băn khoăn mãi, cuối cùng tôi phải hỏi một người bạn nước ngoài về những lối đi đó. Và tôi đã được giải thích. Nghe giải thích xong, tôi rất xấu hổ. Không phải vì tôi xấu hổ về việc không biết những lối đi “ lạ ” kia là gì mà tôi xấu hổ về việc trách nhiệm của mình và xã hội mình đối với những người tàn tật còn quá vớ vẩn.

Đọc một bài diễn văn về tình thương yêu với người tàn tật thực ra quá dễ dàng. Nhưng hiện thực hóa một cách cụ thể tình thương yêu đó mới là điều quan trọng. Còn chỉ nói mồm nói mép thì nó nhanh chóng rơi vào thứ đạo đức giả mà thôi. Những lối đi “ lạ ” là bằng chứng của chủ nghĩa nhân văn của xã hội đó đối với con người.

Vé máy bay giá rẻ không bao gồm dịch vụ vận chuyển và xe lăn

Tôi có một người làng đã 80 tuổi và đang sinh sống ở Mỹ. Cứ hai năm bà về thăm quê một lần. bà đã yếu và việc đi lại ở các sân bay không một chút dễ dàng. Những người họ hàng ở quê tôi rất lo lắng cho bà vì không biết bà phải đi lại như thế nào với va li, túi xách lỉnh kỉnh. Nhưng tất cả đã có Hàng không. Từ khi bước đến cửa bất cứ một sân bay nào đó cho đến khi rời sân bay, bà luôn luôn được các nhân viên hàng không mà bà là khách hàng của họ chăm sóc chu đáo như con đẻ của mình. Trước kia, tôi đã rất ngạc nhiên và lo sợ khi thấy một đứa bé 7 tuổi, con của bạn mình, đã tự đi một mình trên một chuyến bay từ Việt Nam ra nước ngoài. Mọi sự lo sợ của tôi là hão huyền. Những đứa trẻ đó chỉ cần đeo một tấm biển nhỏ trước ngực là không có người lớn đi cùng là sẽ được các nhân viên hàng không chăm sóc vô cùng chu đáo. Chính tôi đã một lần thử “tấm lòng” của các nhân viên hàng không cho mấy người bạn đi công tác nước ngoài thấy. Tôi nói với một nhân viên hàng không là tôi bị đau khớp và việc đi lại rất khó khăn. Ngay lập tức một nhân viên hàng không với chiếc xe lăn được điều động đến giúp tôi cho đến khi tôi ngồi đàng hoàng trên máy bay. Và khi máy bay hạ cánh, các nhân viên hàng không đã túc trực để giúp đỡ tôi.

Bà người cùng quê tôi có phải trả tiền dịch vụ và có phải báo trước ba ngày không ?

-Không.

Cậu bé con bạn tôi có phải trả tiền dịch vụ và phải báo trước ba ngày không ?

-Không.

Và chính tôi thì rõ ràng không phải làm bất cứ điều gì nực cười như PA đề nghị nhưng tôi đã được phục vụ tận tình và chu đáo.

Luật sư của PA nói rằng nhân viên của PA được đào tạo bài bản. Đào tạo bài bản mà lại hành xử như thế à ? Những người quản lý và đào tạo nhân viên hàng không PA chắc chắn đã đi nước ngoài nhiều lần trên những chuyến bay và đi qua nhiều sân bay chẳng lẽ không nhìn thấy gì à ? Mà nhìn thấy cũng không suy nghĩ gì à ? Mà nếu có suy nghĩ thì cũng không học được gì à ?

Khi nghe tin về hành xử của PA đối với hành khách khuyết tật, tôi viết thư hỏi một người bạn làm việc ở nước ngoài xem các hàng hàng không nước sở tại và của các nước khác trên thế giới có bắt hành khách khuyết tật phải trả phí dịch vụ và có phải đăng ký dịch vụ đó trước ba ngày không? Bạn tôi viết thư cho tôi với một câu hỏi: Ông có dở hơi không mà hỏi thế.

Lâu nay, không hiểu vì lý do giảm giá vé hay không mà PA phục vụ hành khách quá kém. Những chuyến bay của PA thường xuyên chậm giờ bay một cách vô lối. PA phải xem lại rất nhiều việc trong cách thức và thái độ phục vụ hành khách của mình.. Trong khi đó, hầu hết các hãng hàng không quốc tế cũng giảm giá vé nhưng việc phục vụ hành khách của họ không hề giảm mà còn tìm cách phục vụ hành khách tốt hơn.

Dù cho chị Nguyễn Hải Yến không thắng kiện thì PA phải xem lại dịch vụ của mình một cách nghiêm túc đi. Nhưng tôi tin chị Yến kiện không phải vì 50 USD mà PA đòi chị phải trả. Mà đấy là một lời cảnh báo về hành xử của con người trong một xã hội văn hóa, văn minh. Làm gì thì văn hóa cũng là nền tảng. Và bộ luật nào sinh ra cũng vì những điều tốt đẹp cho con người.

Minh Luận (VIETIMES)

TÌNH YÊU VĨ ĐẠI KHÔNG SINH RA CON NGƯỜI VĨ ĐẠI: BÍ MẬT KHÔN DÒ

GS. PHẠM VĨNH CƯ

PHẦN 1:

… “Theo lý thuyết, lẽ ra Roméo và Juliette, tương xứng với niềm say đắm nhau vĩ đại ở họ, sẽ phải sinh ra một con người nào đó rất vĩ đại, ít nhất cũng một Shakespeare, nhưng trong thực tế, như mọi người đều biết, thì ngược lại: không phải họ đã tạo tác ra Shakespeare, như là lý thuyết dạy, mà Shakespeare đã tạo tác ra họ, mà lại một cách vô dục hoàn toàn – bằng sáng tác vô tính. Roméo và Juliette, cũng như đa số các cặp tình nhân cuồng nhiệt, đã chết đi mà không đẻ ra ai cả, còn Shakespeare đã sinh ra họ thì, cũng như những vĩ nhân khác, đã được sinh ra không phải từ một tình yêu cuồng điên nào đó, mà từ một cuộc hôn nhân đời thường rất xoàng xĩnh…”

Trước hết, chúng ta bắt gặp một hiện thực mà thuyết này tuyệt không giải thích nổi, đó là tình yêu mãnh liệt nhất lại hay không được chia sẻ và vì thế mà tuyệt không để lại sau mình một hậu thế nào.

Nếu vì một tình yêu như thế mà người ta cắt tóc đi tu hay tự tử, thì cái ý chí hoàn vũ bận tâm với hậu thế xăng xái ở đây để làm gì? Nhưng giả sử chàng Werther[i] cuồng nhiệt không tự vẫn đi nữa, thì niềm say đắm bất hạnh của chàng vẫn cứ là một câu đố không giải được đối với thuyết hậu thế ưu việt. Tình yêu hết sức cá thể hóa và phấn khích hóa của Werther đối với nàng Scharlotte(2) chỉ ra rằng (theo quan điểm của thuyết này), chính cùng với Scharlotte, Werther sẽ phải sản sinh ra một hậu thế đặc biệt quan trọng và cần thiết cho nhân loại, vì nó mà ý chí hoàn vũ đã kích thích nên trong chàng niềm say mê phi thường ấy.
Thế nhưng vì sao cái ý chí toàn tri và toàn năng ấy lại đã không đoán ra hay là đã không thể tác động đến cả Scharlotte theo hướng mong muốn, bởi lẽ không có sự tham gia của nàng thì dục vọng nơi Werther là hoàn toàn vô đích và vô dụng? Đối với một bản thể hoạt động hợp đích, love’s labor lost(3) là cái vô nghĩa hoàn toàn.

Tình yêu mãnh liệt đặc biệt thường đa số là bất hạnh, mà tình yêu bất hạnh rất hay đẩy đến tự sát dưới hình thức này hay hình thức kia; và mỗi một cuộc tự sát như thế vì thất tình rõ ràng làm đổ nhào cái thuyết cho rằng tình yêu mãnh liệt được kích thích ngõ hầu bằng mọi cách cho ra đời một thế hệ mai sau mong muốn, mà tầm quan trọng được biểu thị bằng sức mạnh của tình yêu ấy, trong khi đó thì trong thực tế, ở tất cả các trường hợp ấy, chính sức mạnh tình yêu loại trừ không chỉ khả năng có được một hậu thế quan trọng, mà còn cả khả năng có được bất kỳ một hậu thế nào.

Những trường hợp tình yêu không được chia sẻ quá là thông thường, để có thể nhìn thấy ở đấy một ngoại lệ không để ý đến cũng được. Mà giả sử nó có là ngoại lệ, thì cái đó cũng chẳng hề chi, bởi vì ngay cả trong những trường hợp có tình yêu mãnh liệt đặc biệt từ hai phía, nó vẫn không dẫn đến cái mà lý thuyết đòi hỏi.
Theo lý thuyết, lẽ ra Roméo và Juliette, tương xứng với niềm say đắm nhau vĩ đại ở họ, sẽ phải sinh ra một con người nào đó rất vĩ đại, ít nhất cũng một Shakespeare, nhưng trong thực tế, như mọi người đều biết, thì ngược lại: không phải họ đã tạo tác ra Shakespeare, như là lý thuyết dạy, mà Shakespeare đã tạo tác ra họ, mà lại một cách vô dục hoàn toàn – bằng sáng tác vô tính. Roméo và Juliette, cũng như đa số các cặp tình nhân cuồng nhiệt, đã chết đi mà không đẻ ra ai cả, còn Shakespeare đã sinh ra họ thì, cũng như những vĩ nhân khác, đã được sinh ra không phải từ một tình yêu cuồng điên nào đó, mà từ một cuộc hôn nhân đời thường rất xoàng xĩnh (và bản thân ông, mặc dù đã từng nếm trải cái tình yêu say đắm, cuồng nhiệt, như có thể thấy, thí dụ, từ những bài xonê của ông, nhưng từ đấy đã chẳng ra đời một hậu thế tuyệt vời nào).
Sự ra đời của Christophe Colomb, đối với ý chí hoàn vũ, có thể còn quan trọng hơn sự ra đời của Shakespeare; song chúng ta không biết tí gì về tình yêu đặc biệt của các thân sinh ông, mà biết về mối tình say đắm mãnh liệt của chính ông đối với quý nương Beatrice Enriquez, và mặc dù ông đã có với nàng một con trai ngoài giá thú tên là Diego, nhưng người con ấy đã không làm nên sự nghiệp gì vĩ đại, mà chỉ để lại tiểu sử về cha mình là việc mà bất cứ người nào khác cũng làm được.

Christophe Colomb

Nếu toàn bộ cái lẽ của tình yêu là ở hậu thế và nó có một sức mạnh tối cao điều khiển việc yêu đương, thì vì sao sức mạnh ấy, thay vì lo liệu cho những người yêu nhau được đoàn tụ, lại ngược lại, cứ như cố tình ngăn cản sự đoàn tụ ấy, cứ như nhiệm vụ của nó chính là bằng mọi cách tước đoạt của những người tình chân chính ngay cả khả năng sinh đẻ con cái: nó bắt họ, do một sự hiểu nhầm định mệnh, đâm chết mình trong nhà mồ, nó nhận chìm họ dưới đáy biển Hellesponte(4) và bằng nhiều phương cách khác dẫn dắt họ đến cái chết sớm không để lại con cái?
Còn trong những trường hợp hãn hữu, khi mà tình yêu cường liệt không kết thúc thê thảm, khi mà cặp uyên ương sống hạnh phúc đến già, thì dẫu sao họ vẫn không có con. Một linh tính thơ ca nhạy sắc với hiện thực đã buộc Ovidius và Gogol tước đoạt con cháu hậu sinh của Philimon và Baucis, Afanasi Ivanovich và Pulkheria Ivanovna(5).

Không thể thừa nhận tương quan trực tiếp giữa sức mạnh của tình yêu cá thể và tầm quan trọng của hậu thế, khi mà với tình yêu như thế, ngay sự tồn tại của hậu thế chỉ là điều ngẫu nhiên hiếm hoi. Như ta đã thấy, 1) tình yêu mãnh liệt rất hay không được chia sẻ; 2) nếu được chia sẻ, thì sự đắm đuối mãnh liệt đưa đến kết cục bi thảm, trước khi để lại hậu thế; 3) tình yêu hạnh phúc, nếu nó rất mạnh, cũng thường không sinh con đẻ cái; còn trong những trường hợp hãn hữu, khi mà một tình yêu mãnh liệt phi thường để lại hậu thế, hậu thế ấy hóa ra hết sức tầm thường.
Có thể xác định một quy tắc chung hầu như không có ngoại lệ là cường độ đặc biệt của tình yêu hữu tính hoặc là hoàn toàn không cho phép có con cháu hậu sinh, hoặc chỉ cho hậu sinh mà giá trị không tương xứng tí nào với độ căng thẳng của tình cảm yêu đương và tính chất ngoại biệt của những quan hệ nảy sinh từ đấy.

Nhìn thấy ý nghĩa của tình yêu ở sự sinh con đẻ cái hợp đích – tức là chỉ thừa nhận ý nghĩa ấy ở nơi nào hoàn toàn không có tình yêu, còn ở đâu nó có, thì tước đoạt đi của nó mọi ý nghĩa và mọi lẽ tồn tại. Cái thuyết hư mạo ấy về tình yêu, khi ta đối chiếu nó với hiện thực, hóa ra không phải là một giải thích, mà là một sự chối từ bất kỳ giải thích nào.

***

Cái sức mạnh điều khiển sự sống của loài người, mà có người gọi là ý chí hoàn vũ, có người gọi là tinh thần vô thức, nhưng trong thực tế nó là Cơ Trời, rõ ràng sắp xếp sự ra đời đúng lúc của những con người thiên hựu cần thiết cho những mục đích của nó, xếp đặt trong các chuỗi dài của các thế hệ những kết hợp phải có của những người sản sinh, hướng tới những sản phẩm tương xứng không chỉ gần nhất, mà cả xa xôi nhất.
Để có được sự lựa chọn theo thiên mệnh những người sản sinh ấy, nhiều phương tiện hết sức đa dạng được sử dụng, nhưng tình yêu theo nghĩa đích thực, tức là sự say đắm hữu tính, được cá thể hóa và phấn khích hóa đặc biệt, không thuộc về số những phương tiện ấy. Lịch sử Thánh Kinh, với chủ nghĩa hiện thực chân chính và sâu sắc của nó – cái chủ nghĩa hiện thực không loại bỏ, mà thể hiện ý nghĩa lý tưởng của các sự việc trong những chi tiết nghiệm chứng của chúng – lịch sử Thánh Kinh, trong trường hợp này cũng như mọi khi, cho ta một minh chứng chân thật và giàu sức giáo huấn đối với tất cả những ai hiểu biết lịch sử và nghệ thuật, không phụ thuộc vào tín ngưỡng tôn giáo.

Sự kiện trung tâm của thánh sử, tức là sự ra đời của Đấng Cứu Thế, hơn bất kỳ sự kiện nào khác, giả ước một kế hoạch thiên định trong sự lựa chọn và kết hợp những người sản sinh nối tiếp nhau, và quả thật cái thú vị chính của các truyện trong Kinh Thánh tập trung ở những số phận kỳ lạ muôn màu muôn vẻ đã làm phương tiện cho sự ra đời và liên kết của các bậc “tổ tiên thần thánh”[ii].
Thế nhưng trong toàn bộ hệ thống phức tạp ấy của những phương tiện đã quy định, theo trật tự hiện tượng lịch sử, sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế, không có chỗ cho tình yêu theo đúng nghĩa của nó; trong Kinh Thánh tất nhiên cũng có tình yêu, nhưng đó chỉ là những sự kiện riêng biệt, không phải là công cụ của quá trình sản sinh Đấng Kitô. Sách thánh không nói, Abraham đã lấy Sara có phải vì tình yêu nồng cháy hay không[iii], nhưng trong mọi trường hợp thì Thiên Cơ đã chờ đến khi tình yêu ấy nguội lạnh hoàn toàn mới cho cặp thân sinh trăm tuổi một đứa con của đức tin, chứ không phải của tình yêu.
Isaac đã lấy Rebecca không phải vì tình yêu, mà theo kế hoạch định trước của cha mình. Jacob yêu Rachel, nhưng tình yêu ấy hóa ra không cần thiết cho sự sinh hạ Đấng Cứu Thế. Ngài là hậu duệ của con Jacob – Juda, nhưng ông này đã có mẹ đẻ không phải là Rachel, mà là Léa không được chồng sủng ái.

Để sản sinh ra trong thế hệ này một vị tổ tiên của Đấng Cứu Thế, đã cần có sự kết hợp của Jacob với Léa chứ không phải ai khác; nhưng để có được sự kết hợp ấy, Cơ Trời không kích thích ở Jacob tình yêu đắm đuối mãnh liệt đối với người mẹ tương lai của vị “tổ tiên thần thánh” – Juda; không vi phạm tự do của tình cảm trái tim, sức mạnh tối cao đã để cho Jacob yêu Rachel, còn để thực hiện sự kết hợp không thể thiếu được của ông với Léa thì nó lại dùng một phương tiện hoàn toàn khác: đó là cái mẹo vụ lợi của một nhân vật thứ ba – một Lavane trung thành với những lợi ích của gia đình và kinh tế của mình.
Bản thân Juda để sản sinh ra những tổ tiên gần hơn của Đấng Cứu Thế đã phải, ngoài con cháu trước đây của mình, lúc đã về già còn phối giao với người con dâu Tamara. Vì sự phối giao như thế tuyệt không nằm trong trật tự sự vật và sẽ không thể xảy ra trong những điều kiện bình thường, cho nên mục đích đã đạt được nhờ một cuộc phiêu lưu rất kỳ lạ, khá giàu sức cám dỗ đối với những người đọc Kinh Thánh một cách hời hợt.
Trong cuộc phiêu lưu này, không thể nói về bất kỳ một thứ tình yêu nào. Không phải tình yêu đã liên kết một kỹ nữ ở Ierechon tên là Rahab với một người Do Thái ngoại bang; ban đầu, nàng hiến thân cho chàng theo nghề của mình, sau đó quan hệ tình cờ ấy được gắn bó bằng niềm tin của nàng vào một Thần Linh mới và nguyện vọng được Thần che chở cho mình và những người thân thuộc của mình. Không phải tình yêu đã kết hợp cụ nội của vua David, ông già Booz, với nàng Ruth trẻ tuổi thuộc bộ tộc Mohabit, và cũng không từ một tình yêu chân chính, sâu sắc, mà chỉ từ một ý muốn kỳ quặc, tội lỗi của bậc vương giả mấp mé tuổi già mà vua Salomon đã ra đời(6).

Trong thánh sử, cũng như trong thông sử, tình yêu hữu tính không phải là phương tiện hay công cụ của những mục đích lịch sử; nó không phục vụ cho nòi giống con người. Vì thế cho nên, khi cảm giác chủ quan nói với ta rằng tình yêu là một phúc lợi độc lập, rằng nó có giá trị riêng, siêu tương đối trong cuộc sống cá nhân của ta, thì ứng với cảm giác ấy, cả trong thực tại khách quan ta cũng thấy tình yêu cá thể mãnh liệt không bao giờ là phương tiện cho mục đích giống nòi, những mục đích ấy luôn đạt được ở bên ngoài tình yêu. Trong thông sử, cũng như trong thánh sử, tình yêu hữu tính (theo đúng nghĩa của nó) không đóng một vai trò nào cả và không tác động trực tiếp đến tiến trình lịch sử: ý nghĩa chính diện của nó phải bắt rễ trong cuộc sống cá nhân.

Thế thì ở đây, ý nghĩa của nó là thế nào?


[i] Ở đây và tiếp theo, tôi minh họa cho lập luận của mình chủ yếu bằng những thí dụ lấy từ những tác phẩm văn thơ vĩ đại. Chúng đáng được chọn hơn là những thí dụ từ đời thật, bởi vì chúng không phải là những hiện tượng riêng lẻ, mà là những kiểu mẫu điển hình.

[ii] Trong ngôn ngữ nhà thờ, người ta gọi là như thế chủ yếu hai thánh Joakim và Anna, nhưng các tổ tiên khác của Đức Thánh Mẫu đôi khi cũng được các văn sĩ của Giáo hội gọi bằng tên này.

[iii] Có lẽ điều này phải được loại trừ bởi cuộc phiêu lưu nổi tiếng ở Ai Cập, mà với tình yêu lứa đôi mãnh liệt sẽ không thể có được.

***********************************************************************************************

PHẦN II:

Người ta cố gán một ý nghĩa cũng như thế cho tình yêu hữu tính trong thế giới con người, nhưng như ta đã thấy, hoàn toàn uổng công bởi vì trong loài người, tính cá thể có ý nghĩa độc lập và trong biểu hiện mạnh nhất của mình, nó không thể chỉ là công cụ cho những mục đích của tiến trình lịch sử nằm ở ngoài nó. Hay là, nói đúng hơn, mục đích chân chính của tiến trình lịch sử không thuộc loại mục đích để cho cá nhân con người phục vụ nó chỉ như một công cụ thụ động nhất thời.

                                                                                                    I
Cả ở các động vật lẫn ở con người, tình yêu hữu tính là giờ phút phồn thịnh cao nhất của cuộc sống cá thể. Nhưng vì ở các động vật, sự sống chủng loại hệ trọng hơn nhiều so với sự sống cá thể, cho nên cường độ cao nhất của cái thứ hai ấy chỉ phụng sự cho quá trình chủng loại. Không phải niềm ham mê tính dục chỉ là phương tiện đơn thuần cho các cơ thể tái sản xuất và sinh sôi nẩy nở, song nó phục vụ cho sự sản sinh ra những cơ thể hoàn hảo hơn thông qua cạnh tranh và lựa chọn hữu tính. Người ta cố gán một ý nghĩa cũng như thế cho tình yêu hữu tính trong thế giới con người, nhưng như ta đã thấy, hoàn toàn uổng công bởi vì trong loài người, tính cá thể có ý nghĩa độc lập và trong biểu hiện mạnh nhất của mình, nó không thể chỉ là công cụ cho những mục đích của tiến trình lịch sử nằm ở ngoài nó. Hay là, nói đúng hơn, mục đích chân chính của tiến trình lịch sử không thuộc loại mục đích để cho cá nhân con người phục vụ nó chỉ như một công cụ thụ động nhất thời.

Niềm tin sắt đá vào giá trị tuyệt đối của con người không dựa vào sự tự đề cao của nó và cũng không dựa vào một hiện thực thấy được là chúng ta không biết một sinh linh nào khác hoàn hảo hơn trong trật tự tự nhiên. Phẩm giá vượt lên trên thể tương đối của con người rõ ràng là ở chỗ nó có một hình thức (kiểu thức) tuyệt đối của ý thức hữu trí.
Con người, cũng như con vật, ý thức những trạng thái đã trải nghiệm và đương trải nghiệm, nhìn thấy giữa chúng quan hệ này hay quan hệ kia và trên cơ sở những mối quan hệ ấy mà dự đoán những trạng thái tương lai, nhưng ngoài cái đó ra, con người còn có khả năng đánh giá những trạng thái và những hành vi của mình và nói chung nhìn nhận mọi sự việc trong quan hệ không chỉ với những sự việc đơn nhất khác mà còn với những tiêu chuẩn lý tưởng phổ quát; ý thức của con người, bên trên những hiện tượng đời sống, còn được quy định bởi trí tuệ của chân lý. Làm cho những hành động của mình phù hợp với cái ý thức cao nhất ấy, con người có thể hoàn thiện vô tận cuộc sống và bản chất của mình mà không vượt ra ngoài ranh giới của hình thái con người.
Chính vì thế nó mới là sinh linh cao nhất của thế giới tự nhiên và là sự kết thúc thực sự của tiến trình kiến tạo hoàn vũ; bởi vì ngoài Sinh Linh mà bản thân Ngài là chân lý vĩnh hằng và tuyệt đối giữa tất cả các chân lý khác, cái sinh linh có năng lực nhận thức và thực hiện chân lý trong cuộc sống của mình là sinh linh cao nhất – không phải theo nghĩa tương đối, mà tuyệt đối. Có thể nghĩ ra một căn cứ hữu lý nào cho sự sáng tạo những hình thái mới, hoàn hảo hơn về bản chất, khi đã có một hình thái có năng lực tự hoàn thiện vô tận, có thể chứa nạp đầy đủ toàn bộ nội dung tuyệt đối? Với sự ra đời của hình thái như thế, sự tiến bộ tiếp tục chỉ có thể là những bậc phát triển mới của chính nó, chứ không phải là sự thay thế nó bằng những sản phẩm khác, bằng những hình thái sinh tồn khác, chưa từng có. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa tiến trình phát sinh vũ trụ và tiến trình lịch sử. Tiến trình thứ nhất tạo ra liên tiếp, trước khi xuất hiện con người, những chủng loại sinh vật mới; những chủng loại cũ một phần bị diệt vong, như là những thí nghiệm không thành, một phần cùng tồn tại với những chủng loại mới một cách bên ngoài và tiếp xúc, va chạm với nhau một cách ngẫu nhiên, không hình thành một thể thống nhất thật sự nào cả, bởi lẽ ở chúng không có cái ý thức chung gắn bó chúng với nhau và với quá khứ của vũ trụ. Ý thức chung ấy chỉ xuất hiện trong loài người. Trong thế giới động vật, quan hệ tiếp nối từ những hình thái thấp đến những hình thái cao, mặc dù rất đúng đắn và hợp đích, vẫn chỉ là một thực tại hoàn toàn bên ngoài, xa lạ đối với chúng, tuyệt không tồn tại cho chúng: con voi và con khỉ không thể biết một cái gì về quá trình phức tạp của những biến thái địa chất học và sinh học đã quy định sự xuất hiện của chính chúng trên trái đất; một mức độ phát triển tương đối cao của ý thức cục bộ và đơn nhất ở đây không là một tiến bộ nào cả trong ý thức chung, ý thức chung ấy tuyệt đối không có ở những con vật thông minh ấy, cũng như ở con sên ngu ngốc; bộ óc phức tạp của con vật có vú cấp cao nhất cũng ít phục vụ cho việc thiên nhiên tự nhận biết mình trong chỉnh thể toàn vẹn của mình, chẳng hơn tí nào những hạch thần kinh manh nha của một con giun nào đó. Trong loài người thì, ngược lại, thông qua ý thức cá thể thăng tiến, ý thức tôn giáo và khoa học, ý thức phổ thông cũng thăng tiến. Trí tuệ cá nhân ở đây không chỉ là cơ quan của cuộc sống riêng nhưng còn là cơ quan hồi tưởng và đoán định cho toàn thể loài người và thậm chí cho toàn thể thiên nhiên. Người Do Thái nào ngày xưa đã viết: đây là sách về sự đẻ trời và đẻ đất (elle tol’ dot gashammaim ve gaarez) – và tiếp theo: đây là sách về sự đẻ ra con người (zhe sefe tol’ dot gaadam)(7) – con người ấy đã thể hiện không chỉ ý thức cá nhân và dân tộc của mình, thông qua anh ta lần đầu tiên trong vũ trụ bừng sáng chân lý về tính nhất thống của toàn thể thế giới và toàn thể loài người* và tất cả những thành tựu sau này của ý thức chỉ là sự phát triển và hiện rõ cái chân lý ấy, chúng không cần và không được ra khỏi cái hình thức bao quát toàn bộ ấy: một khoa thiên văn và một khoa địa chất học hoàn hảo nhất có thể làm được cái gì, nếu không phải là khôi phục lại toàn bộ lịch sử phát sinh trời và đất; cũng đúng như thế, nhiệm vụ cao nhất của nhận thức lịch sử chỉ có thể là khôi phục lại “sách về những cuộc sinh đẻ của con người”, tức là quan hệ di truyền – thừa kế trong đời sống nhân loại và cuối cùng, hoạt động sáng tạo của chúng ta cũng không thể có một mục đích nào cao hơn sự thể hiện bằng những hình tượng cảm tính cái thể thống nhất khởi thủy đã được tạo ra và được tuyên cáo – thể thống nhất của trời, đất và con người. Toàn bộ chân lý – thể thống nhất chính diện của tất cả – khởi thủy vốn có trong ý thức sống động của con người và được thực hiện từng bước trong đời sống nhân loại với tính kế thừa có ý thức (bởi lẽ chân lý không nhớ họ hàng không phải là chân lý). Nhờ tính co dãn vô tận và tính liên tục của ý thức được kế thừa của mình, con người, vẫn còn lại là con người, có thể nhận thức và thực hiện toàn bộ sự viên mãn vô tận của sinh tồn, và vì thế không cần thiết và cũng không thể có những chủng loại sinh linh cao hơn thay thế nó. Trong biên giới của cái thực tại nghiệm chứng của mình, con người chỉ là một bộ phận của thiên nhiên, nhưng nó thường xuyên và nhất quán vượt ra ngoài cái biên giới ấy; trong những sản phẩm tinh thần của mình – tôn giáo và khoa học, đạo đức và nghệ thuật – nó tự bộc lộ như là một trung tâm của ý thức phổ thông của thiên nhiên, như là một linh hồn của thế giới, như là một tiềm năng được hiện thực hóa của thể thống nhất tuyệt đối của tất cả và do đó, cao hơn nó chỉ có thể có chính cái tuyệt đối nhất ấy trong hành động hoàn hảo, hay là trong hiện hữu vĩnh cửu của mình, tức là Thượng Đế.

Tượng Romeo và Juliet

II

Ưu thế của con người trước những sinh linh khác của thiên nhiên – cái khả năng nhận thức và thực hiện chân lý – không chỉ là của chủng loại, mà còn là của từng cá thể: mỗi một con người đều có khả năng nhận thức và thực hiện chân lý, mỗi người đều có thể trở thành một hình ảnh phản chiếu sống động của chỉnh thể tuyệt đối, một cơ quan hữu thức và độc lập của cuộc sống hoàn vũ. Cả trong thiên nhiên phi nhân tính cũng có chân lý (hay là hình ảnh của Chúa Trời), nhưng chỉ ở trong tính khách quan chung của nó không được các sinh linh riêng lẻ biết đến. Chân lý ấy tạo tác chúng, tác động ở trong chúng và thông qua chúng như một sức mạnh định mệnh, như một quy luật tồn tại của chính chúng mà bản thân chúng không hay biết, song phục tùng một cách ngoài ý chí và vô ý thức. Để cho chính mình, trong cảm giác và ý thức nội tại của mình, chúng không thể vươn lên cao hơn cái sinh tồn nghiệm chứng riêng lẻ của mình, chúng tìm thấy mình chỉ ở trong thể riêng lẻ, cách li cái toàn thể và do đó chúng ở ngoài chân lý. Vì thế, chân lý hay là cái phổ quát chỉ có thể ưu thắng ở đây trong sự chuyển đổi thế hệ, trong sự trường tồn của chủng loại và sự tử vong của cuộc sống cá thể không chứa nạp nổi chân lý. Còn cá thể con người thì chính vì nó có thể chứa nạp chân lý, nó không bị chân lý xóa bỏ, mà được bảo toàn và tăng cường trong sự toàn thắng của chân lý.

Thế nhưng để cho một sinh linh cá thể tìm thấy ở chân lý – ở thể thống nhất của tất cả – sự biện chính và sự khẳng định của mình, chỉ một ý thức về chân lý từ phía nó là chưa đủ – nó phải ở trong chân lý, mà khởi thủy và trực tiếp thì con người cá thể, cũng như con vật, không ở trong chân lý: nó nhận thấy mình như là một bộ phận nhỏ biệt lập của chỉnh thể hoàn vũ và với bản tính vị kỷ, nó khẳng định sự tồn tại cục bộ ấy của mình như là một chỉnh thể cho mình, nó muốn là tất cả trong sự tách rời khỏi tất cả – tức là ở ngoài chân lý. Chủ nghĩa vị kỷ như là một yếu tố hiện thực cơ bản của sự sống cá thể thẩm thấu toàn bộ nó và chỉ huy nó, quy định tất cả ở trong nó, cho nên chỉ một ý thức lý thuyết về chân lý không thể bằng cách nào vượt qua và xóa bỏ được chủ nghĩa vị kỷ ấy. Chừng nào sức sống của chủ nghĩa vị kỷ chưa bắt gặp ở bên trong con người một sinh lực khác đối lập với nó, thì ý thức về chân lý vẫn chỉ là sự soi sáng từ bên ngoài, là hồi quang của một ánh sáng khác. Nếu mà con người chỉ có thể chứa nạp chân lý theo một nghĩa ấy, thì mối liên quan giữa chân lý và cá nhân con người sẽ không là nội tại và khăng khít; cái sinh linh của chính nó, vẫn ở lại bên ngoài chân lý giống như con vật, sẽ cũng như con vật tất yếu tử vong (trong tính chủ quan của mình), chỉ lưu lại như một ý niệm trong tư duy của trí tuệ tuyệt đối.

Cái chân lý như một sức sống chiếm lĩnh sinh linh nội tại của con người và thực sự dẫn đưa nó ra khỏi trạng thái tự khẳng định sai trái, gọi là tình yêu. Tình yêu như một sự giải thể thực sự chủ nghĩa vị kỷ, là sự biện chính và cứu vớt thực sự tính cá thể. Tình yêu to lớn hơn ý thức hữu trí, nhưng không có nó thì tình yêu không thể hoạt động như một sức mạnh cứu độ nội tại, nâng cao chứ không xóa bỏ cái cá thể. Chỉ nhờ có ý thức hữu trí (hay là, cũng thế, ý thức về chân lý) con người mới có thể phân biệt chính mình, tức là cái tôi chân chính của mình, tách biệt nó khỏi chủ nghĩa vị kỷ của mình. Và hy sinh cái chủ nghĩa vị kỷ ấy, hiến dâng mình cho tình yêu, con người tìm thấy ở tình yêu không chỉ một lực sống, mà còn lực làm sống; từ bỏ chủ nghĩa vị kỷ của mình, nó không đánh mất sinh linh cá thể của mình, mà ngược lại tìm thấy cho nó sự sống vĩnh hằng. Trong thế giới các động vật, bởi ở chúng không có ý thức hữu trí của riêng chúng, cái chân lý hiện thực hóa trong tình yêu không tìm ra được ở trong chúng điểm tựa nội tại cho hoạt động của mình, cho nên nó chỉ có thể tác động một cách trực diện, như một sức mạnh bên ngoài, định mệnh đối với chúng, thu nạp chúng như những công cụ mù loà cho những mục đích thế giới xa lạ với chúng; tình yêu ở đây xuất hiện như là sự toàn thắng một chiều của cái chung, cái chủng loại, đối với cái cá thể; và vì ở các động vật, tính cá thể trùng hợp với tính vị kỷ trong sinh tồn cục bộ trực tiếp của chúng, cho nên cái cá thể cũng tử vong cùng với tính vị kỷ ấy.

III

Cái lẽ chung của tình yêu trong loài người là biện minh và cứu vớt cá nhân bằng sự hy sinh chủ nghĩa vị kỷ. Trên cơ sở chung ấy chúng ta có thể giải quyết cả nhiệm vụ chuyên biệt của chúng ta: giải thích ý nghĩa của tình yêu nam nữ. Không phải ngẫu nhiên mà những quan hệ nam nữ không những được gọi là tình yêu, mà còn, theo quan niệm chung, biểu thị bản chất tình yêu, là kiểu mẫu và lý tưởng của mọi thứ tình yêu khác (xem Tuyệt diệu ca và sách Khải huyền)(8).

Cái sai và cái ác của chủ nghĩa vị kỷ hoàn toàn không phải ở chỗ con người này hay con người kia đánh giá mình quá cao, gán ghép cho mình một ý nghĩa tuyệt đối, một phẩm giá vô cùng vô tận: chính ở đấy, nó đúng, bởi vì mọi chủ thể con người như một trung tâm độc lập của các lực sống, như một tiềm năng (khả năng) hoàn thiện vô tận, như một sinh linh có khả năng, trong cuộc sống và trong ý thức của mình, chứa nạp chân lý tuyệt đối – mỗi một con người với tư cách ấy đều có ý nghĩa và phẩm giá siêu tương đối, đều là một cái gì đó tuyệt đối không thể thay thế, cho nên nó không thể đánh giá mình quá cao (theo lời kinh Phúc Âm: người ta sẽ lấy gì mà đổi linh hồn của mình?(9)). Sự không thừa nhận ở mình cái ý nghĩa tuyệt đối ấy ngang bằng với sự chối từ phẩm giá con người, đây là một sai lầm cơ bản khơi mào cho mọi sự không tin: người ấy thấp hèn đến nỗi không tin vào chính mình, vậy thì làm sao nó có thể tin vào một cái gì khác? Cái sai và cái ác cơ bản của chủ nghĩa vị kỷ không phải ở sự tự ý thức và tự định giá tuyệt đối ấy của chủ thể, mà ở chỗ, quy cho mình một cách chính đáng cái ý nghĩa tuyệt đối, nó phủ nhận một cách bất chính ý nghĩa ấy ở người khác; thừa nhận mình là trung tâm của sự sống, mà nó đúng là thế, nó hất đẩy mọi người khác ra ngoại vi sinh tồn của mình, để lại cho họ chỉ một giá trị bề ngoài và tương đối.

Dĩ nhiên, trong ý thức trừu tượng, trong lý thuyết, bất cứ ai chưa mất trí cũng luôn luôn coi những người khác là bình quyền hoàn toàn với mình; nhưng trong ý thức sống, trong cảm giác bên trong và trong hành vi, nó khẳng định một sự khác biệt một trời một vực, một sự không thể so sánh giữa mình và những người khác: nó tự nó là tất cả, họ tự họ không là gì cả. Trong khi ấy thì, với sự tự khẳng định ngoại trừ tuyệt đối như thế, con người trong thực tế sẽ không thể là cái mà nó khẳng định. Cái ý nghĩa vô điều kiện, cái tính tuyệt đối mà nó nói chung chính đáng thừa nhận ở mình, nhưng không chính đáng lấy đi ở những người khác, tự chúng chỉ mang tính tiềm năng – đó mới là khả năng còn phải được hiện thực hóa. Thượng Đế mới tất cả, tức là Ngài có, trong hành động tuyệt đối của mình, toàn bộ nội dung chính diện, toàn bộ sự tồn hữu viên mãn. Con người (nói chung và bất cứ con người cá thể nào, nói riêng) đã là người này trong thực tại, chứ không phải người khác, thì chỉ có thể trở thành tất cả bằng cách xóa bỏ trong ý thức và trong cuộc sống cái đường biên nội tại ngăn chia nó với người khác. “Con người ấy” có thể trở thành “tất cả” chỉ cùng với những người khác, chỉ cùng với những người khác nó mới có thể thực hiện được cái ý nghĩa tuyệt đối của mình – trở thành một bộ phận không thể tách rời và không thể thay thế của chỉnh thể thống hợp tất cả, một cơ quan sống động, độc lập và độc đáo của sự sống tuyệt đối. Tính cá nhân chân chính là một kiểu thức nhất định của tính-nhất-thống-của-tất-cả, một phương cách nhất định để tiếp thụ và biến thành của mình toàn bộ cái không phải là mình. Khẳng định mình ở bên ngoài tất cả, con người bằng cách ấy tước đoạt sự sinh tồn của chính mình, lấy đi của mình cái nội dung chân chính của sự sống và biến tính cá thể của mình thành một hình thức trống rỗng. Như vậy, chủ nghĩa vị kỷ tuyệt không phải là sự tự ý thức và tự khẳng định của cá nhân, mà ngược lại – nó là sự tự phủ định và tự diệt vong.

Những điều kiện siêu lý và vật lý, lịch sử và xã hội của nhân sinh bằng mọi cách làm biến thể và giảm nhẹ chủ nghĩa vị kỷ của chúng ta, đặt ra muôn vàn trở ngại mãnh liệt và đa dạng cho sự hiển lộ của nó ở dạng thuần túy, với tất cả những hậu quả khủng khiếp của nó. Song toàn bộ cái hệ thống phức tạp của những trở lực và những điều chỉnh ấy, mà ý trời đã định trước và thiên nhiên – lịch sử đương thực hiện, vẫn để nguyên vẹn bản thân cái nền móng của chủ nghĩa vị kỷ, nó thường xuyên ló ra từ dưới tấm vải phủ của đạo đức cá nhân và xã hội, nếu có cơ hội thì nó bộc lộ rõ toàn bộ. Chỉ một sức mạnh có thể làm nổ tung từ bên trong, tận gốc chủ nghĩa vị kỷ và trong thực tế nó vẫn làm việc ấy, đó chính là tình yêu, và chủ yếu tình yêu nam nữ. Cái sai và cái ác của chủ nghĩa vị kỷ là ở sự thừa nhận chỉ ở mình cái ý nghĩa tuyệt đối và phủ nhận nó ở người khác; lý trí cho ta thấy cái đó là vô căn cứ và bất công, còn tình yêu thì xóa bỏ trực tiếp và trong thực tại cái thái độ bất công bất chính ấy, nó bắt ta không chỉ trong ý thức trừu tượng, mà cả trong tình cảm nội tâm và ý chí sống tiếp nhận cho mình cái ý nghĩa tuyệt đối của người khác. Nhận thức trong tình yêu một cách không trừu tượng mà cơ bản chân lý của người khác, chuyển dịch trong thực tại trung tâm sự sống của mình ra ngoài biên giới tính cá thể nghiệm chứng của mình, chúng ta bằng cách ấy thể hiện và thực hiện cái chân lý của ta, cái ý nghĩa tuyệt đối của ta, nó chính là năng lực vượt ra ngoài ranh giới của kiểu tồn tại hiện tượng, thực chứng của ta, là năng lực sống không chỉ trong mình, mà còn trong người khác.

Mọi tình yêu đều là biểu hiện của năng lực ấy, nhưng không phải tình yêu nào cũng thực hiện nó ở mức độ như nhau, không phải tình yêu nào cũng làm nổ tung tận gốc như nhau chủ nghĩa vị kỷ. Chủ nghĩa vị kỷ là một sức mạnh không chỉ hiện thực mà còn cơ bản, bắt rễ vào tận trung tâm sâu nhất của sinh tồn chúng ta và từ đó thẩm thấu và bao trùm toàn bộ thực tại của ta – một sức mạnh tác động liên tục tới mọi bộ phận và mọi chi tiết của cuộc sống chúng ta. Để thực sự phá vỡ chủ nghĩa vị kỷ, phải có để đặt đối lập với nó một tình yêu cũng cụ thể – xác định như thế, cũng thẩm thấu toàn bộ và bao trùm tất cả trong sinh linh ta như thế. Cái khác ấy, cái phải giải phóng cá nhân ta khỏi xiềng xích của chủ nghĩa vị kỷ, phải có quan hệ tương liên với toàn bộ cá nhân ta, phải là một chủ thể cũng hiện thực và cụ thể, cũng được khách thể hóa hoàn toàn như chính ta, nhưng đồng thời nó lại phải khác ta toàn bộ, để có thể thực sự là cái khác; tức là, có tất cả cái nội dung cơ bản mà ta có, nó phải có cái đó bằng cách khác hay là bằng kiểu khác, dưới hình thức khác, để cho mỗi biểu hiện của sinh linh ta, mỗi hành vi sống của ta bắt gặp ở người khác ấy một biểu hiện tương ứng, nhưng không hệt như ta, để cho quan hệ của ta với người ấy là sự trao đổi đầy đủ và thường xuyên, là sự khẳng định mình trong người khác cũng đầy đủ và thường xuyên, là sự tương tác và giao lưu hoàn hảo. Chỉ khi ấy chủ nghĩa vị kỷ sẽ bị phá vỡ và xóa bỏ không chỉ trong nguyên tắc, mà trong toàn bộ thực tại cụ thể của nó. Chỉ với sự kết hợp có thể nói hóa học ấy của hai sinh linh đồng nhất về bản chất và ngang bằng về giá trị, nhưng khác nhau toàn diện về hình thức, mới có thể có (trong trật tự tự nhiên cũng như trật tự tinh thần) sự kiến tạo con người mới, sự thực hiện thật sự tính cá nhân chân chính của con người. Một sự kết hợp như thế, hay ít nhất một khả năng tiến gần nhất tới sự kết hợp ấy, ta tìm thấy trong tình yêu nam nữ, vì thế mà ta coi trọng đặc biệt nó như là một cơ sở không thiếu được và không thể thay thế của toàn bộ sự hoàn thiện hóa đến cùng cái hữu thể, như là một điều kiện tất yếu và thường trực, mà chỉ có nó con người mới có thể thật sự ở trong chân lý.

Giáo sư Phạm Vĩnh Cư


* Nếu người ta bảo những lời ấy được Thượng Đế khêu gợi, thì đó sẽ không phải là sự phản bác, mà là sự chuyển dịch ý của tôi ra ngôn ngữ của thần học.

SOURCE: VIETIMES

ĐÀO TẠO TIẾN SỸ Ở MỸ: SỰ ĐA DẠNG CÓ CHUẨN MỰC?

Một người bạn của tôi là giám đốc Phòng tuyển sinh đại học, Đại học Tổng hợp Massachusetts đã nói: “Ở Mỹ, mỗi trường cách nhau chỉ 2 dặm đã là cả một thế giới khác.” Đúng như vậy, mỗi trường trong tổng số 4216 trường đại học và cao đẳng cộng đồng (theo con số thống kê năm 2005 của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ) đều mang văn hóa và phong cách riêng của mình. Vì thế khó có thể có một chuẩn mục chung về quy trình đào tạo tiến sĩ ở đất nước này.

Một trong những nét đặc trưng cơ bản của giáo dục đại học Hoa Kỳ là tính đa dạng: đa dạng về loại hình trường, chương trình đào tạo, cách phân loại, loại hình đào tạo, hệ thống môn học bắt buộc và tự chọn, đa dạng về thành phần sinh viên, cách tuyển chọn sinh viên, cách đánh giá sinh viên, cách đánh giá giáo viên và đánh giá toàn bộ chương trình. Một người bạn của tôi là giám đốc Phòng tuyển sinh đại học, Đại học Tổng hợp Massachusetts đã nói: “Ở Mỹ, mỗi trường cách nhau chỉ 2 dặm đã là cả một thế giới khác.” Đúng như vậy, mỗi trường trong tổng số 4216 trường đại học và cao đẳng cộng đồng (theo con số thống kê năm 2005 của Bộ giáo dục Hoa Kỳ) đều mang văn hóa và phong cách riêng của mình. Vì thế khó có thể có một chuẩn mục chung về quy trình đào tạo tiến sĩ ở đất nước này. Continue reading

HỌC ĐẠI HỌC TRONG BUỒNG NGỦ

Liệu Internet có mang những trường đại học tốt nhất trên thế giới tới các nước Mỹ Latinh không?

Kết thúc ngày làm việc là bắt đầu một ngày học

9 giờ 30 tối, thành phố Lima, Peru. Cuối cùng bốn đứa con nhỏ của Carolina Barriga cũng chìm vào giấc ngủ. Tivi cũng đã tắt, chuông điện thoại cũng ngừng reo, cả ngôi nhà chìm trong tĩnh lặng. Đây chính là lúc Carolina quyết định ngồi vào bàn học vì cô đang cố gắng kiếm được mảnh bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh. Continue reading

NHỮNG CÔ DÂU… KHÔNG THỂ CHẠY TRỐN

Cô dâu Huỳnh Mai, cô dâu Kim Đồng lấy chồng nước ngoài để thực hiện giấc mơ đổi đời. Thế nhưng, khi giấc mơ ấy chưa thành hiện thực thì họ đã bỏ mạng nơi xứ người: Huỳnh Mai bị người chồng Hàn đánh đập cho tới chết còn Kim Đồng thì bỏ mạng vì ngã từ trên cao xuống khi chạy trốn người chồng của mình.

Đó chỉ là hai cái chết thảm trong số rất nhiều những số phận không may mắn của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thông qua con đường môi giới hôn nhân. Những người nghèo vì đồng tiền vẫn phải đánh bạc với số phận của mình, còn những trung tâm môi giới vì lợi nhuận vẫn bất chấp tính mạng của những cô dâu Việt. Những trung tâm này đẩy những cô gái Việt ra giữa biển khơi mà không cho họ một chiếc phao cứu sinh để họ có đường sống sót quay về bờ.
1. Thiên đường không tìm thấy

Cô dâu Kim Đồng trong đám cưới những tưởng là thiên đường của mình

Họ là những người con gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thông qua những trung tâm môi giới hôn nhân. Không khả năng sử dụng ngoại ngữ của nước sở tại, không hiểu biết về nền văn hóa và truyền thống của quốc gia đó, không một chút thông tin về người mình sắp lấy làm chồng và gia đình của anh ta. Và điều quan trọng nhất là không có tình yêu. Nói tóm lại, các cô dâu Việt lấy chồng thông qua con đường môi giới hôn nhân không hề có một điều kiện nào để đảm bảo cho một gia đình hạnh phúc về sau, thế nhưng họ vẫn nhắm mắt đưa chân, đánh cược với số phận của mình và những kết thúc đau lòng, bi thảm dường như là hệ quả tất yếu của những cuộc hôn nhân như thế.

Điểm khởi đầu của con đường hôn nhân này là những Trung tâm môi giới hôn nhân. Những người phụ nữ bị buộc phải đứng xếp hàng (nhiều trường hợp bị buộc phải lột bỏ y phục) để cho những người đàn ông ngoại quốc lựa chọn như những món hàng. Ngay từ khi đó, họ đã ở vào thế yếu và phải chấp nhận sự khinh rẻ của những người chồng tương lai của mình – những người họ không hề quen biết và cũng không có quyền được tìm hiểu. Một điều quan trọng ở đây: “Chú rể” không phải là một người thanh niên cùng lứa tuổi với cô dâu, mà là những người đàn ông tuổi tác bằng bố hay tuổi ông nội ông ngoại của cô dâu, hoặc thường là một người đàn ông đã góa vợ, bệnh hoạn hay thuộc loại không thể tìm được vợ ở quốc gia mà họ đang sinh sống.

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam thường được môi giới hôn nhân với những người đàn ông ở Đài Loan và Hàn Quốc là chủ yếu. Khi dời khỏi Việt Nam những cô gái phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ: Hoặc bị bán làm nô lệ không công, hoặc bị ép buộc hành nghề mại dâm cho dân bản xứ, hoặc bị bán cho các ổ điếm. Một số các cô khác thì quả thực được đem về làm vợ, nhưng không phải làm vợ cho một mình người đàn ông đã sang Việt Nam mua cô về, mà là phải lần lượt làm vợ cho tất cả những người đàn ông sống trong gia đình; và trong cuộc sống hàng ngày thì các cô bị đối xử như người ở hay giống như nô lệ: phải thức khuya dậy sớm, phải làm đủ mọi công việc phục dịch hầu hạ cho cả gia đình. Có những người lại được mua về để phục vụ những người bệnh hoạn tật nguyền trong gia đình. Chỉ có một số ít thực sự là làm dâu đúng nghĩa. Tuy nhiên, ngay cả đối với những cô dâu này, hai từ “hạnh phúc” vẫn là những tiếng xa lạ; phẩm giá và nhân vị của những người phụ nữ bị mua về làm dâu không được tôn trọng; các cô dâu không có tiếng nói trong gia đình và chỉ được coi như sở hữu của chồng và của cả gia đình nhà chồng, ai cũng có quyền sai khiến và bắt các cô phải phục dịch.

Thời gian gần đây, báo chí trong và ngoài nước đã phanh phui rất nhiều vụ xâm hại nghiêm trọng đến thân thể của các cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc. Từ những cô dâu Việt trên đất Đài bị sát hại như Trần Thị Hồng Thắm hay trở về Việt Nam trong tình trạng người không ra người như Trần Thị Bích My, Cao Thị Hồng Nương… đến những cái chết thương tâm của những cô dâu Việt trên đất Hàn như Huỳnh Mai, Kim Đồng chính là những hình ảnh bề nổi của phận Việt làm dâu nơi đất khách: Họ không thể và không có khả năng để chạy trốn khỏi những nguy cơ có thể tổn hại đến sức khỏe, thậm chí là chính mạng sống của mình. Một cái giá, một sự đánh đổi quá đắt khi chấp nhận làm dâu trên đất khách khi không có tình yêu để mong có được cuộc sống đầy đủ, sung túc cho gia đình và bản thân. Họ không thể tìm thấy thiên đường cho mình mà rơi vào địa ngục và thủ phạm chính là những trung tâm môi giới hôn nhân.

Cô dâu Huỳnh Mai trong ngày cưới

2. Và những trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình

 

Những cô gái Việt Nam muốn đổi đời bằng con đường lấy chồng ngoại quốc ngày càng nhiều lên chính là điều kiện để những trung tâm môi giới hôn nhân có thể tồn tại và phát triển. Thế nhưng, cách làm ăn thiếu trách nhiệm của những trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình dưới cái tên “môi giới hôn nhân” chính là thủ phạm của những cái chết thương tâm của những cô dâu Việt trên đất khách.

Vì lợi nhuận, những trung tâm này không quan tâm đến hạnh phúc của những người được họ mai mối. Họ biến những cô gái nông thôn thành những món hàng để rao bán cho những người đàn ông ngoại quốc. Họ không hề trang bị cho những cô gái ấy một chút vốn liếng nào để có thể trở thành cô dâu ở một đất nước xa lạ. Thậm chí họ không thể tự kêu cứu khi tính mạng bị đe dọa. Những cô dâu ấy phải tự mình bươn chải nơi xứ người mà không nhận được sự giúp đỡ từ phía trung tâm môi giới hôn nhân mà họ đã tin tưởng gửi mình. Những trung tâm ấy đẩy họ ra biển cả mà không cho họ một chiếc phao cứu sinh để có thể quay lại bờ.

Trở lại trường hợp của Huỳnh Mai, cô gái này chấp nhận lấy chồng Hàn Quốc và gia đình cô chỉ được trả một số tiền rẻ mạt là 400 USD. Ngay khi làm đám cưới xong, những “ông tơ bà nguyệt” của cuộc hôn nhân này đã thu mất 200 USD từ phía cha mẹ cô và họ rũ bỏ hoàn toàn trách nhiệm. Họ bỏ mặc số phận của một con người sau khi đã nhận được khoản phí từ việc môi giới hôn nhân đó.

Nạn nhân của các trung tâm môi giới hôn nhân

Những trung tâm môi giới hôn nhân giữa người Việt Nam và người nước ngoài không khác gì những con buôn. Họ lấy những người phụ nữ Việt Nam làm món hàng để có thể thu về lợi nhuận cho bản thân mình. Những người phụ nữ Việt Nam chấp nhận lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc và một số quốc gia khác thông qua những trung tâm môi giới phải chấp nhận cuộc hôn nhân không do tình yêu, nhưng là do hoàn cảnh sống éo le bó buộc; và các cô đi lấy chồng không do cưới hỏi đúng với đạo lý và truyền thống dân tộc, mà là do mua bán, do những kẻ “buôn người” thời đại dàn dựng, thu xếp.
Tất cả những vấn đề hậu hôn nhân với người nước ngoài đều do các cô dâu tự chịu trách nhiệm. Nhiều cuộc hôn nhân không những không hạnh phúc mà những người phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ trở thành nô lệ tình dục, bị đe dọa về nhân phẩm thậm chí cả tính mạng nhưng các trung tâm môi giới hôn nhân hoàn toàn vô can trong tất cả những vấn đề nảy sinh sau khi cô dâu Việt về nơi xứ người. Sự vô trách nhiệm và làm việc chụp giật, tất cả vì lợi nhuận này của các trung tâm môi giới hôn nhân chính là thủ phạm của câu chuyện tang thương khi những cô gái Việt Nam làm dâu trên những quốc gia khác.

Hàng loạt những câu chuyện đau lòng xảy ra trong thời gian qua đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Không thể để tình trạng những người phụ nữ Việt Nam làm dâu xứ người bị chà đạp về danh dự và nhân phẩm, bị coi như những món hàng hóa để trao đổi, bị đe dọa cả về tính mạng được nữa. Việc chúng ta có thể làm ngay bây giờ, đó là: Cấm toàn bộ những trung tâm buôn bán người trá hình được ngụy trang dưới cái tên: Trung tâm môi giới hôn nhân. Nếu không kiểm soát được tình trạng kết hôn với người nước ngoài chỉ vì tiền thì những nỗi đau của những cô dâu Việt như Huỳnh Mai, Kim Đồng sẽ còn tiếp tục tái diễn.

******************************************************************************

Để một cuộc hôn nhân bền vững, ngoài tình yêu giữa hai người khác giới thì còn có những nhân tố khác hết sức quan trọng như sự tương đồng về thể trạng, sức khỏe, điều kiện kinh tế, hòa hợp tâm hồn và hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa của đối tác. Những cuộc hôn nhân giữa người nước ngoài với cô dâu Việt không hề có được những nhân tố này nên không thể có hạnh phúc.

 

Thế nhưng, các Trung tâm môi giới hôn nhân đã bất chấp tất cả. Vì lợi nhuận họ sẵn sàng đẩy các cô gái Việt Nam sang xứ người mà không trang bị cho họ bất kỳ một kỹ năng gì. Bên cạnh những cô dâu như Huỳnh Mai, Kim Đồng bỏ mạng nơi xứ người là những tấm gương nhỡn tiền còn có biết bao cô gái khác đang phải trả giá với hôn nhân mai mối. Đã đến lúc dẹp bỏ những Trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình dưới mĩ từ “Môi giới hôn nhân”.

Nhà văn Lê Minh Khuê: “Tôi phản đối hôn nhân với người nước ngoài qua môi giới”

Nhà văn Lê Minh Khuê – Ảnh: Tuấn Hải

Theo ý kiến của tôi thì để tiến tới hôn nhân không cần nhiều lắm đến tình yêu, thế nhưng, quan trọng là chọn được người bạn đời mà mình phải cảm thấy yên tâm khi ở bên cạnh họ. Đó là những người có tính tình ôn hòa, không có sự phiêu lưu, báo hiệu cho sự đổ vỡ sau này. Như vậy có thể khẳng định: Nền tảng để đi tới hôn nhân chính là sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai người khác giới. Thứ nữa là sức khỏe, khả năng tài chính, việc làm. Hôn nhân hiện đại nó thế, chúng ta phải có tất cả những thứ đó để có thể đảm bảo hạnh phúc được lâu bền. Quan trọng nhất là sự bình tĩnh trước đời sống để có thể xử lý tình huống. Đời sống hiện đại nó khủng khiếp lắm, nếu mà người ta không bình tĩnh thì nó sẽ đổ vỡ hết. Điều này đặc biệt quan trọng ở phía những người đàn ông.
Ngày xưa các cụ nhà mình “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nhưng hôn nhân vẫn bền vững bởi vì khi mai mối họ đã có những hiểu biết nhất định về nhau, sự tương đồng về kinh tế mà các cụ hay dùng từ “môn đăng hộ đối”, còn nhiều cuộc hôn nhân vì tình yêu nhưng khi lấy nhau rồi vẫn đổ vỡ. Nghĩa là để một cuộc hôn nhân có thể tồn tại thì không cần nhiều tình yêu lắm. Để sống với nhau miễn là không chối quá. Không cần lệ thuộc quá vào chuyện yêu đương. Trong đời sống hôn nhân quan trọng nhất là sự nhường nhịn. Một cuộc môi giới hôn nhân giữa hai người trong cùng một quốc gia hoàn toàn có thể có hạnh phúc là vì người ta có cơ sở để hiểu biết về nhau và có những sự tương đồng về điều kiện kinh tế và lối sống.
Để hai người có thể sống với nhau ổn định và lâu dài thì sự cân bằng giữa hai người có một vai trò quyết định. Người chồng kiếm được tiền, người vợ cũng kiếm được tiền là điều hết sức cơ bản. Nếu như một người phụ thuộc vào người khác thì nó sẽ là gánh nặng cho cả hai người và như thế thì rất không tốt cho một cuộc hôn nhân. Để có được cuộc sống hạnh phúc thì hai bên phải cân bằng nhau và độc lập với nhau một cách tương đối.

Hai yếu tố ngôn ngữ và văn hóa rất quan trọng để một cuộc hôn nhân có thể bền vững. Các cô gái Việt Nam đi lấy chồng nước ngoài cần phải hiểu được ngôn ngữ và văn hóa của nước đó nếu không thì nguy hiểm lắm. Nếu như hai nền văn hóa khác nhau rồi thì phải có ngôn ngữ để chinh phục nhau, cuộc hôn nhân nó mới có thể bền vững được. Không có cả hai yếu tố này thì thực sự là đáng lo ngại.

Môi giới hôn nhân với người nước ngoài theo tôi là hết sức nguy hiểm, một cô gái nông thôn, tiếng thì không biết, không hiểu một tý gì về truyền thống và văn hóa thế mà các trung tâm lại có thể đưa họ sang làm dâu ở một nước xa lạ. Môi giới hôn nhân kiểu vô trách nhiệm như thế có khác gì đẩy người ta ra biển, nếu mà hôn nhân kiểu như thế người ta chỉ cần mình về làm cái máy đẻ và người giúp việc. Những bậc cha mẹ cho con đi lấy chồng kiểu ấy thì có khác gì bán con?

Nếu muốn người phụ nữ Việt Nam có thể lấy chồng ngoại quốc và đảm bảo cho cuộc hôn nhân ấy yên ổn trước hết là phải chuẩn bị cho người ta cái phao: Ít nhất là cái văn hóa và ngôn ngữ để người ta có thể thích nghi với cuộc sống ở một gia đình xa lạ, một đất nước xa lạ không có người thân bên cạnh mà điều này thì những người phụ nữ lấy chồng thông qua môi giới hôn nhân không có.

Tôi không tán thành những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm, họ không chuẩn bị cho những cô gái hành trang: Ngôn ngữ, văn hóa, cách ứng xử với những tình huống trong đời sống và thậm chí là cách để tự cứu lấy bản thân khi những nguy cơ bị xâm hại xảy ra.

Những người đàn ông ngoại quốc lấy vợ Việt Nam thông qua những trung tâm môi giới hôn nhân thường lại là những người không có đủ khả năng kinh tế để lấy vợ ở quốc gia mà họ sinh sống hoặc họ là những người không khỏe mạnh về mặt tâm lý nên họ mới chọn lấy vợ ở một quốc gia khác. Vì thế xác suất của việc xảy ra xung đột sẽ cao hơn các cặp vợ chồng cùng quốc tịch rất nhiều. Những người phụ nữ lấy chồng kiểu ấy là bán mình vì tiền chứ còn gì nữa. Mà đã bán mình thì phải nhẫn nhục, phải chịu ở thế yếu so với người ta.

Các cô ấy xuất thân từ nông thôn, chỉ ra ra thành phố lớn còn bỡ ngỡ nữa là sang một quốc gia khác. Phải có sự chuẩn bị kỹ cho người ta chứ? Nếu anh đã môi giới anh phải có trách nhiệm với những cuộc hôn nhân đó chứ “đem con bỏ chợ” thế thì không chấp nhận nổi. Những sự việc đau lòng xảy ra gần đây cũng là hậu quả tất yếu của những cuộc hôn nhân như thế. Nhưng giá như các cô gái ấy biết một chút ngôn ngữ để có thể tự cứu bản thân mình thì đâu đến nỗi?
Tôi nghĩ rằng nếu muốn tiến tới hôn nhân thì cả người nước ngoài kia và vả cô gái Việt Nam cần phải có những sự hiểu biết nhất định về nhau, về ngôn ngữ, văn hóa và lối sống của nhau. Lấy vợ chứ có phải lấy người làm thuê đâu, mà ngay lấy người làm thuê người ta cũng còn phải tìm hiểu. Chuyện hôn nhân đại sự, chuyện hạnh phúc của cả một đời người không thể lấy ra làm trò cá cược như thế. Số phận của một người con gái cũng không thể coi như một món hàng để đổi chác như thế.

Muốn hạn chế tối đa tình trạng những cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc bị giết, bị hành hạ hoặc bị bán thì cần nâng cao trình độ hiểu biết cho chính những gia đình ở nông thôn để họ nhận ra rằng: Lấy chồng nước ngoài không phải là con đường dễ dàng để có thể đổi đời như bấy lâu họ vẫn lầm tưởng, hạn chế tối đa được những cuộc hôn nhân với người ngoại quốc chỉ vì tiền. Đó là biện pháp lâu dài, còn cái trước mắt chúng ta có thể làm ngay đó là cấm những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm đang hoạt động hiện nay.

Còn những người phụ nữ Việt muốn kết hôn với người nước ngoài họ phải có sự hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống của quốc gia mà họ sắp về làm dâu. Kể cả những người đàn ông nước ngoài cũng phải có sự hiểu biết nhất định về cô gái mà anh ta chuẩn bị kết hôn.

Nếu các tổ chức đoàn thể của mình như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Đại sứ quán của mình có thể phối hợp chặt chẽ với nhau hơn thì có lẽ những chuyện đau lòng như thế sẽ ít xảy ra hơn. Các tổ chức ấy người thì đông chả thấy họ làm gì. Chỉ cần họ làm đúng chức năng thôi đã quá tốt rồi. Mấy đoàn thể không lo cho đồng bào mình, không bảo vệ đồng bào mình thì để làm gì nữa. Công việc của họ là gì? Họ chỉ làm việc ấy thôi chứ? Họ phải bảo vệ quyền lợi của phụ nữ chứ, chứ không họ làm gì? Đại sứ quán của mình phải có trách nhiệm với đồng bào của mình bên ấy. Chính quyền là cha mẹ của dân, gả con gái của mình thì phải có trách nhiệm với hạnh phúc của con cái chứ đừng “đem con bỏ chợ”.

Trang bị những thứ tối thiểu cho các cô gái như ngôn ngữ, lối sống để ít nhất họ có thể kêu cứu nếu xảy ra chuyện không may. Biết tiếng rồi còn gặp những sự bỡ ngỡ nữa là không biết gì. Các đoàn thể của Việt Nam cũng phải bảo vệ cho các cô gái. Phải có cam kết, anh lấy con tôi thì anh phải cam kết anh lấy nó về làm vợ chứ không phải anh mua nó như một món hàng để về làm cái máy đẻ hay làm nô lệ cho anh. Nếu còn tình trạng lấy chồng nước ngoài vì tiền thì những chuyện đáng tiếc còn tiếp tục xảy ra. Họ mua vợ, về làm dâu mà sống phụ thuộc vào gia đình họ, chênh lệch ngôn ngữ, văn hóa rất dễ xảy ra xung đột. Nếu con gái tôi muốn lấy một người nước ngoài tôi sẽ không muốn chứ đừng nói tới việc qua môi giới hôn nhân.

PGS – TS Lương Quỳnh Khuê – Trưởng khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa – Học viện Báo chí và Truyên truyền: “Cần phải cấm toàn bộ những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm”

PGS.TS Lương Quỳnh Khuê

Theo tôi thời nào cũng vậy, cái gốc của hôn nhân phải là tình yêu. Sự quan trọng quyết định đến sự tồn tại của hôn nhân sau này phải là có tình yêu hay không. Tất nhiên là có những trường hợp yêu nhau nhưng sau này vẫn đổ vỡ. Nhưng nếu hôn nhân không dựa trên tình yêu trước sau thế nào nó cũng nảy sinh vấn đề. Hoặc là hai người sẽ chán nhau, kinh lẫn nhau, không tôn trọng nhau bởi vì anh cần cái thể xác trẻ trung của tôi, ngược lại tôi cần túi tiền của anh.

Tôi thấy lớp trẻ bây giờ, dựa trên tình yêu để dẫn tới hôn nhân nhưng họ có điều kiện tốt hơn về kinh tế để chuẩn bị cho đời sống hôn nhân sau này. Hôn nhân không có tình yêu, hôn nhân vì tiền. Những cô dâu Việt bị sát hại ở Hàn Quốc gần đây và những cô gái lấy chồng thông qua môi giới hôn nhân rõ ràng không xuất phát từ tình yêu. Đúng là một sự đánh bạc kinh khủng, đưa cả cuộc đời của mình ra đánh bạc, lấy cả những người đàn ông bằng tuổi bố mình, ông mình. Tôi thấy thương vô cùng. Nhiều bậc bố mẹ lại thấy đây là con đường để cứu cả gia đình mà họ không ý thức được những vấn đề khác, khi đã lấy chồng như thế trong tâm của người nước ngoài họ đã coi thường. Và cái điều buồn của mình là họ không chỉ coi thường một cô gái ấy mà họ còn coi thường cả những cô gái Việt Nam, phụ nữ Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.
Những trường hợp lấy nhau do môi giới hôn nhân có thể có hạnh phúc không? Tôi nhớ một bộ phim của Trung Quốc tôi xem khi còn rất nhỏ là “Cầu phúc” dựa trên truyện ngắn của Lỗ Tấn. Chuyện phim kể về một chị nông dân Trung Quốc được gả bán cho một anh nông dân Trung Quốc, về sau họ sinh một đứa con. Khi anh ấy đứng nhìn cô ấy chăm sóc và âu yếm đứa con thì có một lời bình của phim là “duyên ép hóa duyên lành”.

Nhưng đấy là hai người Trung Quốc, họ cùng ngôn ngữ và văn hóa cộng thêm rất nhiều sự tương đồng khác về thể chất, tình yêu nó khó nói lắm, họ có một sự đồng cảm mà người khác không hiểu được. Hôn nhân với người nước ngoài không thể có tình yêu, rất ít trường hợp may mắn để những cuộc hôn nhân như thế hạnh phúc. Tôi phản đối hôn nhân với người nước ngoài thông qua môi giới.

Sự khác nhau về ngôn ngữ và văn hóa của nhau sẽ cản trở rất lớn tới hôn nhân thế nên nếu muốn tiến tới hôn nhân thì phải tìm hiểu ngôn ngữ và nền văn hóa của nhau để tự điều chỉnh. Phải tìm hiểu và có ý thức tự điều chỉnh. Nhập gia phải tùy tục, nếu hai người sống với nhau có ý thức để tiếp thu nền văn hóa của nhau thì dù anh có hơi vụng về nhưng người ta vẫn chấp nhận. Lối sống, chuẩn giá trị đạo đức. Hai người phải có ý thức để tìm hiểu lẫn nhau để vượt qua rào cản ngôn ngữ và văn hóa nhưng theo tôi cái gốc nhất vẫn phải là tình yêu.

Theo tôi tốt nhất là nên xóa bỏ sự tồn tại của những trung tâm môi giới hôn nhân với người nước ngoài. Nhưng mà nếu như các cô gái vẫn tiếp tục lấy chồng nước ngoài thì cần có phải có biện pháp để ngăn chặn những trung tâm môi giới chui nếu không còn tai hại hơn. Tốt nhất là mình thành lập những câu lạc bộ kiểu mà mình quản lý được. Nếu bỏ được thì tốt theo nghĩa mình có cái khác. Chứ cái tình trạng môi giới hôn nhân như hiện nay, tự nhiên đến nhìn mặt nhau, anh ta chỉ việc đưa ít tiền rồi ba ngày hôm sau cưới.

Tôi không thể tưởng tượng được nếu như là mình tại sao mình lại dấn thân vào con đường như thế, gửi cả cuộc đời mình, con cái mình cho một người đàn ông xa lạ ở một đất nước xa lại như thế, thực sự là phiêu lưu. Hôn nhân kiểu gì mà đến nhìn rồi còn sờ, nắn xem là người ấy có khỏe mạnh hay không. Tôi cho đó là một sự xúc phạm và sỉ nhục ghê gớm, coi người phụ nữ như những món hàng. Người Việt Nam mình lấy nhau có phải đôi nào cũng hạnh phúc đâu, nữa là lấy người nước ngoài.

Độ an toàn trong hôn nhân, về tính mạng con người cao hơn nhiều so với lấy chồng nước ngoài, nhất là qua môi giới hôn nhân. Họ chỉ muốn các cô gái Việt làm cái máy đẻ thuê, người ở cho họ chứ có phải lấy để làm vợ đâu. Một trong những cái mất của hội nhập tôi nghĩ cũng là cái này.

Chẳng có người mẹ nào gả con mà không muốn con hạnh phúc, không có người phụ nữ nào lấy chồng mà không muốn mình có một gia đình hạnh phúc nhưng mà cái trung tâm môi giới cho các cô dâu lại thường vô trách nhiệm, họ chỉ làm xong việc thu tiền rồi lặn mất tăm mà không có tý trách nhiệm nào với những khách hàng của họ. Những người phụ nữ ấy không biết trông cậy vào đâu.

Chúng ta cần phải kiểm tra trình độ ngôn ngữ và hiểu biết văn hóa lẫn nhau của cả cô dâu và chú rể trước khi đồng ý cho họ kết hôn. Phải bảo vệ những người phụ nữ Việt Nam Vừa rồi chỉ vì chúng ta không bảo vệ được người phụ nữ Việt Nam nên mới để xảy ra những câu chuyện đáng buồn như của Huỳnh Mai và Kim Đồng và trước đó là rất nhiều cô gái khác.

Không thể để xảy ra tình trạng một cô gái sang phải làm vợ của mấy người trong gia đình hay bị bán vào các động mại dâm, bị bóc lột đến kiệt quệ. Tôi thấy thật là khủng khiếp. Cần phải cấm toàn bộ những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm. Và càng giảm thiểu được bao nhiêu những chuyện hôn nhân vì tiền với người nước ngoài thì càng tốt bấy nhiêu.

Lưu Thủy – Sơn Khê (VieTimes)

*********************************************************************************

NGHÈO + VĂN HÓA VÙNG MIỀN = LIỀU MẠNG LẤY CHỒNG … HÀN QUỐC

Chuyện các cô gái Việt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc…(trong số đó, các cô gái miền Tây Nam Bộ chiếm phần lớn) thông qua hình thức môi giới hôn nhân, nhất là các đường dây môi giới bất hợp pháp lại một lần nữa được đem ra bàn luận: “Tại sao miền Tây được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, điều kiện tự nhiên vào loại thuận lợi nhất nước mà con gái lấy chồng ngoại lại cũng nhiều nhất nước?” – VieTimes đã đem vấn đề này trao đổi cùng GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Trưởng bộ môn Văn hóa học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ông khẳng định cái nghèo, sự hạn chế tri thức, đặc điểm văn hoá vùng miền chính là lý do khiến nhiều cô gái miền Tây quyêt ý lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan…

Nghèo, trình độ dân trí thấp và bối cảnh văn hóa vùng

GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Ông cho biết: “Trước hết, tôi phải khẳng định ngay rằng đúng là miền Tây Nam Bộ có điều kiện thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi nhất nước, nhưng để từ đó suy ra rằng cuộc sống của người dân ở đây sung sướng nhất nước thì điều đó đã trở thành quá khứ. Đó là thời của văn hóa Nông nghiệp. Còn hiện nay, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì những ưu đãi của thiên nhiên không phải là tất cả.

Xưa, miền Tây giàu nhất nước. Địa chủ ở đây có đất đai thẳng cánh cò bay, thóc lúa đầy nhà. Khác với các vùng đất khác, con người nơi đây phân hóa rất sâu sắc. Tổ tiên của họ – những người đi vào khai hoang vùng đất mới, chia làm hai loại rõ rệt. Thứ nhất là lớp dân dưới đáy – đó là những người nghèo túng không mảnh đất cắm dùi, những người sống bằng nghề trộm cướp, những người trốn tù vượt ngục… vào vùng đất mới với hy vọng thay đổi số phận. Bên cạnh đó là những người trí thức bất đắc chí, không hợp tác được với triều đình hoặc không được triều đình trọng dụng nên mới phải bỏ đi. Họ là những trí thức cực đoan mang theo một nền giáo dục Nho giáo cũng rất cực đoan.

Ở giai đoạn trước đây, khi công nghiệp chưa tràn vào thì với điều kiện rất thuận lợi như đất đai màu mỡ, lại được phù sa bồi đắp, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt đem lại nguồn lợi thủy sản dồi dào, bước chân ra đồng là có cá, có tôm…, cái gì cũng sẵn. Chính vì vậy mà người dân miền Tây luôn hài lòng với cuộc sống của mình, không cần học nhiều, làm nhiều vẫn có thể đủ ăn, không cần chắt chiu tằn tiện như người miền Bắc hay miền Trung, làm được bao nhiêu là tiêu bấy nhiêu. Với cuộc sống dễ chịu như vậy, dễ hiểu là họ không có ham muốn thay đổi cuộc sống hiện tại – đó là cái trạng thái mà ta hay gọi là “không có chí tiến thủ”. Sang thời đại công nghiệp, vùng đất vốn phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp bỗng như bị “khớp”. Sản phẩm nông nghiệp làm ra không nâng được giá. Trong khi đó, đồng ruộng bị ảnh hưởng bới hóa chất, bởi thiên tai… không cho năng suất cao như trước. Mảnh đất vốn sống chung với lũ, nhờ lũ để bồi đắp phù sa giờ lại đắp đê ngăn lũ. Thuỷ sản gần như không còn. Người thì đông lên. Trong khi công nghiệp thì lại chưa vươn được tới. Hệ quả tất yếu là cái nghèo bao trùm lêm một bộ phận lớn dân cư.

Cũng phải nói thẳng rằng, trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp. Lý do đơn giản là trước kia họ luôn bằng lòng với cuộc sống hiện tại nên không thấy cần học hành cao, không cần đỗ đạt cao. Ở đây, những gia đình có con học lên đến cấp 3 (phổ thông trung học) là đã hài lòng lắm rồi. Số chịu khó vươn lên học tới đại học hoặc cao hơn thì rất ít. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống quen đơn giản, nên việc họ suy nghĩ đơn giản, ít đắn đo cân nhắc trước sau là chuyện dễ hiểu.

Trong khi đó, con cái đều có phẩm chất của văn hoá truyền thống Việt Nam là yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ. Thấy ba má nghèo, muốn giúp đỡ. Nhiều cô gái chọn cách lấy chồng ngoại để có tiền giúp bố mẹ, để bố mẹ mở mày mở mặt với chòm xóm. Ý định, mong muốn này của các cô gái khi thể hiện ra lại được bố mẹ chấp thuận dễ dàng. Bố mẹ và con cái gặp nhau ở cùng một kiểu suy nghĩ. Nhiều người như thế, nhiều gia đình như thế tạo nên một bối cảnh văn hoá hoàn toàn khác hẳn với miền Bắc và miền Trung, nơi mà con người bị bị tác động rất nhiều bởi dư luận xã hội, mà dư luận xã hội thì rất chặt chẽ, khắt khe.

Trong khi đó, những thông tin về mặt trái của hôn nhân với người nước ngoài qua các công ty môi giới bất hợp pháp lại khó đến được những nơi này. Họ ít đọc báo, nghe đài, vào mạng internet… Nếu có đọc báo, nghe đài, xem truyền hình thì cũng quan tâm nhiều đến những chương trình giải trí, tin tức… mà thôi. Những gia đình có gốc Nho giáo, có truyền thống giáo dục con cái kỹ lưỡng thì do số lượng ít nên không đủ tạo nên một luồng dư luận xã hội ảnh hưởng tới xung quanh.

Tóm lại, nghèo, trình độ văn hóa thấp cùng bối cảnh văn hóa vùng là những nguyên nhân sâu xa khiến cho con gái miền Tây lấy chồng ngoại qua các công ty môi giới hôn nhân nhiều đến vậy, nhiều nhất cả nước.”

Phóng viên (PV): Như vậy, người miền Tây, đặc biệt là phụ nữ quan niệm như thế nào về tình yêu, hôn nhân và gia đình ạ?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (TNT): Như đã nói, người miền Tây Nam Bộ thường quan niệm, nhìn nhận mọi vấn đề khá đơn giản. Tâm lý này bắt nguồn từ việc thời xưa họ được thiên nhiên rất ưu đãi. Phụ nữ miền Tây quan niệm về tình yêu, hôn nhân và gia đình có khác so với phụ nữ miền Bắc và miền Trung. Ở miền Bắc và miền Trung, vai trò của người phụ nữ trong gia đình tương đối lớn, tương đối bình đẳng hơn trong quan hệ với nam giới. Nếu người chồng lo việc xã hội, việc nước thì người vợ là nội tướng trong gia đình, một tay quán xuyến tất cả mọi việc tề gia nội trợ. Họ luôn có ý thức chăm lo, vun vén cho gia đình, từ việc cắt đặt việc nhà đến việc nuôi dạy, giáo dục con cái… Đồng thời, họ cũng đòi hỏi khá nhiều phẩm chất ở người chồng như tu chí làm ăn, công danh sự nghiệp sáng láng… Phụ nữ miền Tây thì dễ dãi hơn. Họ rất chiều chuộng chồng, dễ dàng chấp nhận chuyện chồng nhậu nhẹt, say xỉn, thậm chí đánh đập mình. Trong khi đó, họ cũng ít lo vun vén cho gia đình như phụ nữ miền Trung, miền Bắc. Chồng mang bao nhiêu tiền về là xài hết bấy nhiêu, trưng diện cho bản thân trong khi nhà cửa có thể vẫn dột nát. Đối với con cái, cách giáo dục của họ cũng dễ dãi hơn rất nhiều. Con cái muốn học đến đâu thì học, không định hướng, không ép buộc…

PV: Tâm lý này, quan niệm này liệu có thể lý giải thêm một thực tế cũng rất nhức nhối ở nhiều tỉnh miền Tây là bên cạnh hiện tượng con gái lấy chồng ngoại nhiều, còn có hiện tượng không ít người vào thành phố làm gái mại dâm, thưa giáo sư?

TNT: Đúng là từ tâm lý dễ dãi ấy đã sinh ra một quan niệm dễ dãi là cứ nghề gì kiếm ra tiền, có lợi thì làm. Tuy vậy, chỉ một lý do đó thôi thì chưa đủ. Lý giải thực tế này còn phải nói đến quan niệm về vấn đề trinh tiết của người phụ nữ.

Khái niệm trinh tiết chỉ hình thành khi chế độ sở hữu xuất hiện. Trong xã hội phụ quyền, người đàn ông coi vợ là một vật sở hữu – giống như tài sản – của mình, vì vậy trinh tiết được chọn làm một dấu hiệu của sự sở hữu đó. Xã hội nào phân hóa sớm thì quan niệm đó xuất hiện sớm. Nền văn hóa nào coi đàn ông là tối thượng thì quan niệm đó là quan trọng. Còn nơi nào ý thức sở hữu không mạnh, ảnh hưởng văn hóa bên ngoài đến chậm thì quan niệm về chữ trinh cũng nhẹ nhàng hơn.

Miền Tây Nam Bộ với bối cảnh văn hóa vùng có nhiều điểm riêng biệt chính là một nơi như thế. Thiên nhiên ưu đãi khiến ý thức sở hữu không mạnh. Trong khi miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo với quan niệm nặng nề về chữ trinh, và sự ảnh hưởng này là rộng khắp, phổ biến, đồng đều do đặc điểm sống quần cư trong các làng xóm nhỏ, thì ở miền Tây, đạo Nho chỉ ảnh hưởng trong một bộ phận nhỏ dân cư (là những trí thức gốc Nho giáo). Tầng lớp dân cư còn lại (dân dưới đáy, dân nghèo) ít bị chi phối bởi hệ tư tưởng này. Bên cạnh đó, việc các gia đình sống cách xa nhau (sống trong các bưng biền, chia cách bởi sông ngòi, kênh rạch) khiến cho mối quan hệ trong cộng đồng làng xã lỏng lẻo hơn nhiều so với miền Trung và miền Bắc. Điều đó đồng nghĩa với việc áp lực xã hội không mạnh, dư luận xã hội không khắt khe, khiến cho ngay cả những việc như phụ nữ vào thành phố làm gái mại dâm cũng dễ được chấp nhận hơn.

PV: Trở lại câu chuyện về các cô dâu Hàn Quốc, qua cái chết của Huỳnh Mai và Kim Đồng, chúng ta cũng đặt ra rất nhiều câu hỏi về vai trò của các công ty môi giới hôn nhân. Giáo sư có nhận xét gì về vấn đề này?

TNT: Sự tồn tại của các công ty môi giới hôn nhân bất hợp pháp là không thể chấp nhận được. Thật là quá tệ. Như báo chí đưa tin, đám cưới tổ chức xong, bên nhà trai đưa cho nhà gái 400 đô thì môi giới ăn chặn mất một nửa. Còn có 200 đô, nhà gái không đủ tiền trang trải chi phí và thuê xe trở về quê. Không những thế, họ còn “đem con bỏ chợ”. Cưới xong là hết trách nhiệm. Chả cần biết con người ta bên xứ người sống chết thế nào… Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng, luật pháp của chúng ta có quá nhiều kẽ hở. Chính những kẻ hỡ này đã bị họ khai thác triệt để và kiếm tiền trên phẩm giá, sinh mạng của những cô gái ước ao lấy chồng ngoại để mong đổi đời…

PV: Còn vai trò của các Đại sứ quán, các hiệp hội tại các nước có người Việt làm dâu thì sao?

TNT: Thật sự là khó có thể quan tâm đến tất cả mọi người với số lượng đông như thế. Song cũng phải thừa nhận rằng các cơ quan chức năng, các tổ chức của người Việt ở các nước này chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa chủ động hợp tác với các cơ quan, tổ chức của nước sở tại để tìm cách hạn chế, khắc phục tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp và trở thành chỗ dựa tin cậy cho các cô dâu.

Với câu chuyện của các cô dâu như Huỳnh Mai và Kim Đồng lâu nay báo chí Việt Nam đã có vai trò rất lớn, tạo nên một làn sóng dư luận. Hẳn là qua việc này, nhiều cô gái muốn lấy chồng ngoại, các ông bố bà mẹ cũng phải suy nghĩ kỹ trước khi quyết định.

PV: Dưới góc nhìn của giáo sư, chúng ta nên làm gì để chấm dứt tình trạng lấy chồng ngoại quốc thông qua môi giới hôn nhân bất  hợp pháp như vậy?

TNT: Sự thực là một bộ phận dân chúng có nhu cầu nên các công ty môi giới mới sống được. Việc gì xã hội có nhu cầu thì trách nhiệm của nhà nước là phải đáp ứng. Tôi nghĩ rằng cái cần phải cấm chỉ là toàn bộ các trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Tất nhiên là phải quản lý thật chặt những người muốn lấy chồng ngoại quốc hoặc muốn lấy vợ Việt Nam. Họ phải hội đủ những điều kiện về sức khỏe, kinh tế và hiểu biết về người mà họ chuẩn bị kết hôn thì mới được phép chứ không để như hiện nay được…

Mặt khác, chúng ta cần xem xét lại hoạt động, vai trò, trách nhiệm của cơ quan phụ trách vấn đề này, tại sao lại có thể để những trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp có thể ngang nhiên hoạt động như thế. Cần đặt những câu hỏi như tại sao chúng vẫn hoạt động được? Luật pháp đã kín kẽ chưa? Chế tài xử phạt có đủ sức răn đe không?

Nói tóm lại, việc cần làm là phải có pháp luật, quy định chặt chẽ với các hình thức chế tài đủ sức răn đe và các cơ quan chức năng cần quản lý để các công ty cũng như dân chúng thực hiện đúng theo pháp luật. Nếu vi phạm, cứ chiếu theo luật mà xử. Muốn thế, luật phải đáp ứng các tiêu chí: đầy đủ (bao quát hết), rộng khắp (để ai cũng biết) và thật sự nghiêm minh.

Tôi chắc rằng phía chính phủ Hàn Quốc, Đài Loan… sẵn sàng hợp tác bởi đây là việc có lợi cho chính họ. Người có nhu cầu lấy vợ nước ngoài qua môi giới ở các nước này là những thanh niên ở nông thôn, nơi mà con gái đã đi hết ra thành phố. Vấn đề là ở phía bên ta hành động như thế nào.

Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường các biên pháp giáo dục, tuyên truyền. Tăng cường đưa những câu chuyện thực tế lên các phương tiện thông tin đại chúng, để người dân cũng bàn luận… Từ đấy, thay đổi dần quan điểm, nhận thức của họ. Có rất nhiều con đường để thoát nghèo chứ không phải chỉ có cách lấy chồng ngoại. Ở những vùng kinh tế khó khăn, Nhà nước phải có nhiều chính sách hỗ trợ, giúp họ nâng cao đời sống, như thay đổi cơ cấu ngành, đầu tư cơ sở hạ tầng… Khi đời sống khá lên thì chẳng việc gì họ lại phải đi đâu.

PV: Xin cảm ơn giáo sư về cuộc trao đổi này!
Minh Tâm (VieTimes)

SỐNG CHỦ ĐỘNG TRONG THÔNG TIN TOÀN CẦU

Nguyễn Trần Bạt sinh năm 1946, tại Hưng Nguyên, Nghệ An.
Năm 10 tuổi, ông cùng cha ra Hà Nội sinh sống. Trong khoảng thời gian tham gia quân đội, từ 1963 đến 1975, có xuất ngũ theo học trường Đại học Xây dựng Hà Nội.
Tốt nghiệp (1973), ông tiếp tục phục vụ quân đội cho đến khi giải phóng miền Nam.
Sau giải phóng, ông công tác tại Bộ Giao thông Vận tải (1976-1984) rồi Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1985-1988).
Năm 1989, ông thành lập công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ InvestConsult Group và làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty cho đến nay.
Năm 1995, ông tốt nhiệp khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Hiện nay, ông là Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ Việt Nam, thành viên của Hội Luật gia Việt nam, Hiệp hội Luật sư Sáng chế Châu Á (APAA) và Hiệp hội Nhãn hàng Quốc tế (INTA).

…“Đừng cho rằng người Việt do hội nhập chậm mà chúng ta hạn chế, chúng ta tiếp nhận thông tin ồ ạt, không chọn lọc. Chúng ta bắt mỗi một người phải chọn lọc là chúng ta trao cho con người một gánh nặng không cần thiết. Chính thực tế cuộc sống chọn lọc chứ không phải mỗi một người chọn lọc”…

Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty tư vấn đầu tư InvestConsult Group Nguyễn Trần Bạt
Công dân toàn cầu” là một khái niệm mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Điều ấy thể hiện khát khao thời đại lớn đối với thế hệ tương lai. Nhưng để trở thành một công dân toàn cầu, chúng ta phải có những công cụ, hay chính xác hơn là những kỹ năng để dễ dàng thích ứng với môi trường quốc tế khắc nghiệt. Trong những kỹ năng đó, khả năng phân tích và đánh giá thông tin toàn cầu là kỹ năng vô cùng thiết thực. Lịch sử từng chứng minh, người nắm được thông tin là người chiến thắng. Ngày nay, người chiến thắng còn phải là người biết xử lý khối lượng thông tin khổng lồ đó. Theo quan điểm của ông, thế nào thì được coi là thông tin toàn cầu?

Phóng viên (PV): “

 

Nguyễn Trần Bạt (NTB): Tôi cho rằng, những thông tin nào được mọi người trên thế giới quan tâm thì đấy là thông tin toàn cầu. Một thông tin cụ thể trên bất kỳ phương tiện truyền thông nào có thể không có giá trị toàn cầu, nhưng hiện tượng truyền bá thông tin rộng rãi là hiện tượng toàn cầu.
Ở đây chúng ta đang nói đến công dân toàn cầu, cho nên, trước hết tôi muốn nói với các bạn về khái niệm công dân. Công dân không phải là một con người cụ thể mà là một khái niệm có chất lượng pháp lý. Công dân là những cá nhân được ràng buộc bởi các quan hệ pháp lý đối với một quốc gia. Công dân toàn cầu thể hiện tính phổ biến của chất lượng công dân trong phạm vi toàn cầu. Và ý nghĩa toàn cầu của một công dân chính là ý nghĩa toàn cầu của một quốc gia, cho nên, mỗi con người khi mang danh nghĩa là công dân của một nước cụ thể nào đó ra nước ngoài thì chính là anh ta phổ biến giá trị của xã hội mà anh ta là công dân ra phạm vi quốc tế.

Mỗi hành động của một công dân khi giao tế thể hiện trình độ văn minh, thể hiện giá trị, thể hiện sự cao quý của một dân tộc, một quốc gia, cho nên, công dân là một khái niệm vô cùng quan trọng. Mỗi người khi nhận mình là công dân của một quốc gia nào đó thì phải có trách nhiệm trong mỗi hành động để giữ gìn phẩm giá và chất lượng của quốc gia ấy.

PV: Có một thực tế là khi tiếp cận với khối lượng thông tin cầu, các công dân Việt Nam có sự thiệt thòi so với công dân ở các nước châu Á phát triển hơn như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore… vì được tiếp cận thông tin toàn cầu muộn hơn. Liệu có giải pháp nào để khắc phục điều đó không?

NTB: Việc phấn đấu để lịch lãm hoặc điêu luyện trong giao tế toàn cầu như một người hiểu biết tất cả mọi thứ là bất khả thi đối với bất kỳ ai. Người ta đã có những số liệu thống kê rằng khoảng một nửa công dân Hoa Kỳ không mấy khi dùng đến hộ chiếu và có tới khoảng 60-70% người Mỹ không biết đến Việt Nam. Vậy tại sao chúng ta lại đưa ra đòi hỏi người Việt Nam khi ra nước ngoài phải biết mọi thứ? Những đòi hỏi như vậy trở thành gánh nặng không cần thiết đối với con người.

Tôi nghĩ rằng con người cần phải hiểu biết để sống, và thời đại của chúng ta là thời đại toàn cầu thì chúng ta cần phải biết những thứ mà cuộc sống của mình đòi hỏi. Một cá nhân không cần phải thể hiện mình biết nhiều thứ mà cuộc sống của anh ta không đòi hỏi. Chúng ta cần phải tin mình là người Việt, chúng ta không nhất thiết phải thể hiện mình như thế này, thế kia. Khi chúng ta cố gắng thể hiện mình biết nhiều thứ thì chính là chúng ta tự biến mình trở thành người vô duyên. Không cần phải làm việc ấy.

Tôi cho rằng các cơ quan truyền thông không nên truyền bá ý tưởng con người trong thời đại toàn cầu này phải là công dân toàn cầu, phải biết mọi thứ. Rất nhiều người Việt Nam chưa biết mọi thứ ở Việt Nam vậy thì tại sao chúng ta lại phải biết mọi thứ trên thế giới. Trước hết, chúng ta phải biết về chính mình và sống như chính mình thì chúng ta mới có thể làm phong phú tính toàn cầu của khái niệm công dân.

PV: Chúng ta có xu hướng tiếp nhận thông tin một cách ồ ạt mà chưa biết cách sàng lọc. Để rồi thế hệ trẻ lướt web chủ yếu để xem những thông tin giải trí tầm phào, chơi điện tử, hoặc vào web sex hơn là tìm kiếm những thông tin bổ ích. Ông đánh giá về chuyện này như thế nào?

NTB: Đấy là một hiện tượng phổ biến, hiện tượng ấy không xấu và không có gì đặc biệt cả. Đừng cho rằng người Việt do hội nhập chậm mà chúng ta hạn chế, chúng ta tiếp nhận thông tin ồ ạt, không chọn lọc. Chúng ta bắt mỗi một người phải chọn lọc là chúng ta trao cho con người một gánh nặng không cần thiết. Chính thực tế cuộc sống chọn lọc chứ không phải mỗi một người chọn lọc.

Trong cuộc sống, khi nhiều người xác nhận sự không hay của một loại thông tin, một loại thói quen hoặc của một loại dấu hiệu văn hóa thì người ta sẽ từ chối nó. Khi mật độ những người từ chối đủ lớn thì xã hội sẽ từ chối. Thế giới ở đâu cũng vậy, người ta thấy cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra lâu quá thì người ta biểu tình, những cuộc biểu tình như vậy phổ biến toàn cầu, hay nói cách khác sự phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam trong quá khứ là một hiện tượng toàn cầu.

Cái mà các bạn vẫn gọi là hiệu ứng đám đông là một hiện tượng khách quan, chúng ta hoàn toàn không nên can thiệp. Đến một thời điểm nào đó con người sẽ thức tỉnh. Nếu chúng ta cứ muốn can thiệp và biến thành chương trình để tác động thì chúng ta sẽ làm rối loạn cuộc sống. Hãy để cho cuộc sống tiếp nhận một cách yên tĩnh và loại bỏ một cách yên tĩnh. Con người vốn dĩ sáng suốt một cách tập thể. Chính sự sáng suốt tập thể ấy sẽ hạn chế cái gọi là hiệu ứng đám đông.

PV: Những vấn đề sát thực hơn, chẳng hạn trong hoạt động kinh tế, nếu không biết phân tích, đánh giá thông tin toàn cầu thì chúng ta có thể phải trả quá đắt những “bài học phổ thông”. Ví như Trung Nguyên phải mất 2 năm thương thảo để lấy lại thương hiệu của chính mình bị mất trên nước Mỹ, hay chuyện mất thương hiệu ở nước ngoài của Vinataba, Petro Vietnam, võng xếp Duy Lợi, bánh phồng tôm Sa Giang, kẹo dừa Bến Tre. Chẳng nhẽ chúng ta cứ mãi là “ếch ngồi đáy giếng”?

NTB: Đấy là công việc của khoa học. Trước khi mở cửa, khái niệm sở hữu trí tuệ ở nước ta là không phổ biến, đại bộ phận xã hội không biết đến chuyện ấy. Khi xã hội không biết chuyện ấy thì người ta sẽ điềm nhiên vi phạm. Có lần tôi dẫn một vị đại diện cho quyền lợi của hãng Walt Disney đến thăm Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các chị cán bộ ở đấy rất tự hào, phấn khởi khoe với vị đại diện của Walt Disney rằng họ đã bắt chước làm những con chuột Mickey cho trẻ con chơi và họ đem mẫu ra khoe. Lúc bấy giờ, ngay cả các cán bộ có trách nhiệm cũng không hiểu rằng mình đang vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của hãng Walt Disney. Cho nên, nhiệm vụ hàng ngày của khoa học là nghiên cứu, còn của truyền thông là truyền tải. Chúng ta cứ làm và dần dần xã hội sẽ thức tỉnh.

Quay trở lại với khái niệm công dân toàn cầu mà bạn nói. Công dân là một khái niệm pháp lý, mỗi người muốn được gọi là công dân của một nước nào đó thì phải có những ràng buộc và những nghĩa vụ pháp lý đối với quốc gia đó. Các quốc gia ấy tham gia vào các cam kết quốc tế nào thì công dân của nó cũng có nghĩa vụ thực thi các cam kết ấy. Vấn đề đặt ra là người ta không biết đến các cam kết của các quốc gia, và đấy là kết quả của việc chúng ta không có một hệ thống truyền thông tốt để phổ biến các khái niệm quan trọng của đời sống quốc tế nhằm hỗ trợ công dân của mình biết rõ những cam kết pháp lý, những khái niệm căn bản trong hoạt động của một công dân.

Sẽ là vô cùng khó nếu chúng ta cho rằng công dân phải có nghĩa vụ tìm hiểu tất cả các khái niệm. Bởi vì, có những khái niệm mà trong đời người ta chỉ va chạm có một, hai lần thôi thì làm sao người ta mất thì giờ để tìm hiểu nó? Và việc huy động mọi người dân phải tìm hiểu tất cả các khái niệm để họ trở thành người có thể tương thích toàn cầu thì coi chừng đó là một sự lãng phí. Cho nên, khoa học phải nghiên cứu và truyền thông phải phổ biến để dần dần con người thức tỉnh về những thiệt hại do sự không hiểu biết của mình mang lại.

PV: Khả năng là do di truyền đem tới nhưng cũng có thể có được do rèn luyện. Theo ông, chúng ta có thể rèn luyện và nâng cao khả năng phân tích, đánh giá thông tin bằng cách nào? Từ sự trải nghiệm của bản thân, ông có thể đưa ra lời khuyên gì với giới trẻ?

NTB: Lời khuyên của tôi là: đọc, nghe và nhìn càng nhiều càng tốt. Nhưng đừng vụ lợi khi đọc, đừng vụ lợi khi nghe và đừng vụ lợi khi nhìn. Bởi vì nếu chúng ta xăm xăm đi tìm một cái, nghe một cái, nhìn một cái thì đôi khi lượng thông tin chúng ta tiếp nhận được sẽ rất hạn chế. Chúng ta phải làm những việc ấy như một bản năng, giống như khi thở thì người ta thường không ý thức về sự thở. Có rất nhiều phương pháp để rèn luyện ý thức về thở như thiền hoặc yoga, nhưng dù không luyện thiền, không luyện yoga thì con người vẫn thở.

Cần phải duy trì trạng thái nghe, nhìn và đọc như hiện tượng thở bản năng trước đã. Khi nào con người bắt đầu ý thức được rằng đọc, nghe và nhìn là bản năng sống thì lúc đó chúng ta mới đưa vào các phương pháp khoa học để nâng cấp sự đọc, nghe, nhìn trở thành chuyên nghiệp. Trong lúc người ta chưa muốn nghe, chưa muốn nhìn và chưa muốn đọc thì việc chúng ta nói đến văn hóa đọc, khoa học đọc là thừa.

Trước hết, hãy làm cho việc đọc, nghe, nhìn trở thành bản năng của con người. Khi nào con người gặp những thất thiệt do không đọc, không nghe, không nhìn thì con người sẽ thức tỉnh. Cơ quan truyền thông đóng vai trò xây dựng những bản năng xã hội chứ không phải ý thức xã hội. Trong khi đối với xã hội việc đọc, nghe, nhìn là bản năng thì đối với các cơ quan chuyên nghiệp là xây dựng, tức là phải tổ chức một cách có ý thức, nhưng là ý thức của cơ quan ấy để tác động vào bản năng đọc, nghe và nhìn của xã hội. Đừng gây ra áp lực bắt người ta phải đọc, bắt người ta phải nghe, bắt người ta phải nhìn, và nhất là bắt người ta phải đọc, nghe, nhìn cái này hay cái kia thì càng nguy hiểm hơn.

PV: Theo ông, truyền thông của chúng ta có những hạn chế gì trong việc xây dựng bản năng của xã hội?

NTB: Một trong những hạn chế căn bản của truyền thông hiện nay là chưa nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học về việc xây dựng một xã hội mà đọc, nghe và nhìn trở thành bản năng. Truyền thông hiện nay vẫn truyền bá cái mình muốn chứ chưa cung cấp cái mà con người đang cần và sẽ cần. Tất nhiên nhược điểm ấy là nhược điểm bắt buộc có trong điều kiện chính trị cụ thể của Việt Nam, vì các cơ quan truyền thông là của Nhà nước nên nó buộc phải phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Điều đó về nguyên tắc các cơ quan truyền thông Việt Nam không thể từ chối, nhưng họ phải tự cân bằng và xã hội hóa mình bằng cách làm cho thông tin của mình phong phú hơn ngoài những cái mà mình có nghĩa vụ phải nói.

Tôi có nói với các nhà báo rằng để làm cho mình không trở nên đơn điệu trong việc phải nói, phải truyền bá những thông tin bắt buộc thì chúng ta phải tự đa dạng mình. Song song với những cái phải nói thì chúng ta có thể nói cả những cái mà người khác cần, và người ta sẽ nhìn các cơ quan truyền thông một cách cân đối hơn, lành mạnh hơn. Cơ quan truyền thông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc làm lành mạnh không gian tinh thần của con người bằng việc cung cấp những thông tin phong phú và đa dạng.

PV: Khả năng phân tích và đánh giá không phải là ưu điểm của người Việt. Nguyên do bắt đầu ngay từ giai đoạn đi học, trẻ em luôn phải làm bài tập theo hướng dẫn mẫu của thầy cô. Chúng biết nhiều đến chi tiết và công thức, nhưng lại lúng túng trong tổng thể và sáng tạo. Ông nghĩ sao?

NTB: Nói như thế cũng chưa đúng. Đừng đổ lỗi cho chính trị, cho giáo dục quá nhiều. Khi xem ca nhạc, các bạn có thể thấy tất cả các nghệ sĩ của chúng ta đều giơ tay lên giống nhau. Tất cả các động tác ấy là hệ quả của chèo, bởi chèo là thứ nghệ thuật biểu diễn bằng tay cộng với lời hát. Tôi muốn nêu ví dụ này để nói rằng đó là hệ lụy của văn hóa. Chúng ta có một nền văn hóa mà nó quy định cả hành vi giơ tay khi hát. Các bạn để ý sẽ thấy những người đi bộ đội khi phục viên bao giờ đứng trước người khác họ cũng đứng thẳng, thậm chí đôi khi còn dập gót giày. Đó là hệ quả của những thói quen đã biến thành văn hóa.

PV: Sự hạn chế ấy cũng không thể đổ lỗi hoàn toàn cho văn hóa. Ví như chuyện đạo văn, thế hệ nền móng của khoa học Việt Nam như cụ Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Phan Ngọc… chẳng bao giờ biết đến chuyện “ăn trộm chữ” của người khác. Trong khi ở thế hệ nghiên cứu khoa học bây giờ, chuyện đạo văn xảy ra nhan nhản và “dễ như trở bàn tay”. Từ ông Tiến sĩ, ông Viện trưởng, ông Chủ nhiệm khoa đến thế hệ học trò. Dường như việc “ăn cắp” công trình của người khác còn dễ chịu hơn việc tự vấn với lương tri của mình…

NTB: Tôi rất phân vân khi nói đến chuyện đạo văn. Chúng ta cứ tự làm xấu mình bằng cách gán cho các hiện tượng không tích cực những động cơ xấu một cách chủ động. Tôi là Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ Việt Nam nên tôi thường nghiên cứu về hiện tượng đánh cắp các quyền sở hữu trí tuệ.

Trong suốt 60 năm xây dựng nhà nước cộng hòa, chúng ta có khoảng hơn 40 năm không biết về khái niệm này. Chúng ta không có thói quen tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ, thậm chí, không có thói quen hiểu biết về quyền sở hữu nói chung chứ không chỉ có sở hữu trí tuệ, vì thế cho nên chúng ta điềm nhiên phạm sai lầm.

Hiện tượng đánh cắp một cách có động cơ và có ý thức ở nước chúng ta không có nhiều, chúng ta vô tình vi phạm vì chúng ta không hiểu biết, chúng ta chưa có phản xạ của người biết bảo vệ các quyền sở hữu và biết e dè trước việc xâm phạm các quyền sở hữu.

Để khắc phục những hiện tượng như vậy, chúng ta phải phổ biến chi tiết hơn chứ không thể nói chung chung như hiện nay. Tôi nghĩ rằng việc thêm một cái ngoặc kép có chất lượng trích dẫn vào một tác phẩm không làm giá trị của tác phẩm giảm đi. Có thể người ta không biết hoặc quên mất cái ngoặc kép ấy. Hoặc có thể có những chân lý được một người nào đó phát hiện đã biến thành văn hóa, biến thành khoa học phổ biến, thậm chí biến thành lẽ phải của từng người, vì thế khi thể hiện, người ta không nghĩ đấy là của người khác. Đấy là một sự trùng lặp ý tưởng.

Chúng ta chưa có những tòa án chuyên nghiệp để phân biệt sự trùng lặp ý tưởng với sự đánh cắp một cách có ý thức và chúng ta cũng chưa có các bộ luật bảo vệ một cách nghiêm túc quyền sở hữu trí tuệ. Khi người ta không biết câu này là của ai thì người ta cũng không biết rằng câu ấy có giá trị gì đáng đánh cắp. Người ta nghe một cách không chuyên nghiệp, đọc một cách không chuyên nghiệp, cho nên, người ta không ý thức một cách khoa học khi trích dẫn.

Tôi nghĩ rằng, cần phải có cách giải thích khoa học hơn và nhân hậu hơn đối với những khuyết điểm như vậy. Khi tôi nghe các bài hát theo phong cách cổ điển của các nhạc sĩ hiện nay, tôi thấy giống như đi vào một khu phố toàn người quen, đâu đó có một chút Chopin, một chút Beethoven, một chút Mozart.

Âm nhạc như một chuỗi ADN, ngắt bất cứ đoạn nào ra và nối thêm là sẽ có một chuỗi ADN mới. Đó là qui luật của âm nhạc. Như vậy là Mozart gợi ý, Beethoven gợi ý, Chopin gợi ý, toàn bộ sự phát triển của nhân loại là bắt đầu từ những sự gợi ý như thế. Tôi nghĩ rằng chúng ta không nên thương mại hóa sự phê phán về sự giống nhau của một số lẽ phải được trích dẫn trong các tác phẩm.

Công dân toàn cầu là những công dân tin vào các giá trị của mình, sống hồn nhiên và đóng góp các giá trị của mình trên phạm vi toàn cầu, và khi bước ra khỏi không gian của mình thì chúng ta phải biết tôn trọng luật của người khác. Nhưng nên nhớ rằng luật của người khác không khó đến mức anh phải học mới biết được, bởi vì luật pháp gắn liền với văn hóa, quan sát người ta là đủ để anh có thể hành động một cách bình thường trong cuộc sống. Còn khi va chạm với chuyện kinh doanh thì chúng ta buộc phải để ý chi tiết hơn.

Tôi lấy một ví dụ, khi đi Ý mua hàng người ta trao cho tôi một những cái hóa đơn mà khi ra sân bay tôi có thể kê khai để được hoàn thuế. Lúc đầu tôi cứ tưởng khi ra sân bay là có thể làm thủ tục hoàn thuế được ngay, nhưng khi ra đến sân bay tôi mới biết rằng để lấy lại được khoản tiền ấy có khi phải xếp hàng mất một ngày. Chúng ta không có kinh nghiệm rằng số người muốn lấy tiền hoàn thuế tại sân bay ở Roma có thể bằng lượng hành khách của sân bay Nội Bài trong mấy ngày. Người ta có một cách giải quyết nhanh hơn là anh có thể để lại số tài khoản ghi trên thẻ tín dụng và người ta sẽ hoàn trả qua đó, nhưng ở thời điểm đó không có người Việt Nam nào có thẻ tín dụng.

Như vậy là do trình độ phát triển mà chúng ta không thỏa mãn được những đòi hỏi của khái niệm mà bạn nói là công dân toàn cầu. Đấy chính là nhược điểm của chúng ta và chúng ta cần phấn đấu. Chúng ta phấn đấu chứ chúng ta không bắt buộc phải làm giống như vậy. Đương nhiên, việc không lấy lại được tiền hoàn thuế là một thất thiệt và đấy chính là học phí của sự ngây thơ mà công dân của một nước chưa phát triển như chúng ta phải trả. Chúng ta phải xem đó như là học phí để chúng ta trở nên khôn ngoan hơn.

Đầu những năm 90, khi đi ra nước ngoài tôi đã vứt đi tất cả các hóa đơn đó và sau này mới biết rằng mình mất cả ngàn đô la mà không biết. Những chuyện như vậy phải làm dần dần, đừng gây sức ép đối với con người, bắt người ta phải biết đủ mọi thứ. Những người nước ngoài khi đến Việt Nam sống hồn nhiên lắm. Họ cũng chưa biết nhiều về Việt Nam và họ không bắt buộc phải biết hết về Việt Nam, họ thấy người Việt Nam làm thế nào thì họ làm theo. Chúng ta cũng nên làm như vậy.

PV: Ông có thể nói kỹ hơn về việc làm thế nào để mỗi người rèn luyện khả năng phân tích và đánh giá thông tin?

NTB: Có ba yếu tố giúp con người làm việc đó. Thứ nhất là anh phải sống thật. Cuộc sống là nguyên mẫu, mọi sự phân tích đều là chủ quan. Khi có kinh nghiệm thật về cuộc sống thì anh có thể sửa chữa các phân tích của người khác hoặc các phân tích của mình để hoàn thiện nó, tức là phải trải nghiệm để có kinh nghiệm. Thứ hai là không phải ai cũng có điều kiện để trải nghiệm nên người ta phải thay thế kinh nghiệm bằng học vấn, tức là phải đọc. Thứ ba là anh phải dự báo, phải linh cảm. Có những việc người ta không kịp học, cũng không kịp trải nghiệm, nhưng người ta có thể linh cảm được. Con người có thể linh cảm về cái đúng trước khi nhận ra cái đúng bằng ý thức, bằng lý luận. Chỉ vì con người quá tin vào lý trí cho nên tưởng rằng chỉ có lý trí mới là công cụ để nhận thức, nhưng không phải.

Kant là một nhà triết học dành phần lớn thời gian cho việc phê phán lý trí. Sự thái quá của lý trí làm khô cứng con người và làm giảm tốc độ đi đến chân lý của con người. Con người có thể đến cái đúng, đến cái hợp lý mà không cần đi qua lý trí. Thử tượng tượng xem nếu chúng ta tạo ra một cái gối rất có ý thức thì làm sao chúng ta gối lên nó để ngủ được? Chớ bao giờ phạm phải sai lầm mà Kant đã phê phán, đó là sự thái quá của lý trí.

PV: Trong 20 năm làm nghề, ông có bao giờ mắc phải lỗi do chưa nghiên cứu kỹ, chưa sàng lọc kỹ?

NTB: Không phải trong 20 năm mà ngay cả bây giờ tôi cũng có lúc mắc lỗi như vậy. Con người luôn luôn mắc lỗi. Con người mà không có lỗi nữa là con người chết, bởi cuộc sống luôn mới và con người luôn ngớ ngẩn trước cái mới. Tôi đã nói rằng một học sinh giỏi là người ra đến cửa lớp đã biết mình làm bài sai. Còn một học sinh dốt thì phải đến một tuần sau mới biết mình sai. Chúng ta phải rèn luyện để ra khỏi cửa là đã biết mình sai. Con người thường không nhận ra khuyết điểm của mình một cách nhanh chóng, cho nên chúng ta phải phấn đấu để nhận ra khuyết điểm của mình một cách nhanh nhất, chứ không phải là phấn đấu để không phạm lỗi nào cả.

Con người luôn luôn nhận ra sai lầm để tự hoàn chỉnh mình. Có những khi vừa nói xong là người ta đã biết mình sai. Nếu khôn ngoan thì người ta có thể điền ngay cái đúng vào để nó lấn át cái sai, tẩy cái sai đi. Nếu không làm được ngay như vậy thì người ta có thể thông báo về cái sai của mình sau đó. Thường thì trong một nửa số tình huống, tôi sửa cái sai đầu câu nói ở đoạn cuối của câu nói, một nửa các tình huống còn lại là tôi thông báo lại cái sai của mình. Phải hành động như thế mới trở thành người tử tế được, bởi một người tử tế là người biết sửa cái sai của mình.

PV: Xin cảm ơn ông!

Xuân Anh (Vietimes)

PHẢI DẠY TRÒ BẰNG CUỘC SỐNG CỦA CHÍNH MÌNH

NHƯ KHUÊ
Có phải thầy cô đang trở thành nỗi khiếp sợ với học trò?

Xã hội mới biết đến một số cô giáo phạt học sinh bằng cách cho tất cả học trò trong lớp tát học sinh đó, rồi lấy băng dính dán miệng học trò lại vì bé khóc quá nhiều. Nhưng công luận chỉ biết đến vì những đứa học trò đó phải đi bệnh viện, có đứa còn thập tử nhất sinh. Còn biết bao nhiêu trường hợp như vậy nhưng không được nói ra vì đứa trẻ chưa bị thương tổn cơ thể và bố mẹ chúng dù tức giận cũng chẳng có bằng cớ gì mà kiện cáo. Chị N.H.H, có một con nhỏ đang học mẫu giáo kể: “Nhắc đến là ức nghẹn cổ. Hôm trước, con đi học về hào hứng kể rằng, hôm nay con được đá vào chim bạn T. Bạn ấy hư, cô bảo từng bạn một trong lớp ra đá bạn ấy”.

Họ tức lắm, nhưng họ không nói gì bởi: “Có nói, các cô chối ngay. Lời trẻ con, ai biết là đúng hay sai. Hơn nữa, có thể xả được một ít tức thì con mình lại bị các cô ghét”, chị H nói. Vâng, nhưng trẻ con ngây ngô lắm, chúng làm sao bịa ra được chuyện đó. Bức xúc quá, chị H nói chuyện với phụ huynh của cháu T và biết cháu không bị thương tổn gì. Nhưng đó là về mặt cơ thể, còn tinh thần, ai biết được trong đầu đứa trẻ đó có hình thành một nỗi sợ hãi? Sẽ ra sao nếu bài học đầu tiên tiếp nhận vào đầu óc non nớt của chúng không phải là những núi sông, cánh đồng, những điều đẹp đẽ, mà lại là “bạo lực”?

Những đứa học trò lớn hơn có thể không bị đánh nhưng lại phải nhìn thấy sự xuống cấp đạo đức của những người giảng dạy cho chúng về lễ, về văn. Chúng biết thế nào là điểm đắt, điểm rẻ bởi trong rất nhiều trường hợp mà báo chí đã nêu, điểm số không đi đôi với học lực mà lại tăng tỷ lệ thuận với số quà bố mẹ chúng “biếu” các thầy cô giáo. Chúng hiểu khi cãi thầy cô thì sẽ bị đối xử thế nào. Và kết cục, hầu hết học trò ngày nay, kể cả những trò giỏi, trong lớp thì thưa cô, thưa thầy, ra ngoài đường thì biến thành “bà ấy thế nọ, lão ấy thế kia”.

Sẽ có một số những đứa trẻ ấy bước chân vào trường Sư phạm để tiếp tục cái nghề dạy học cao quý. Bạn Hồ Lê, một cựu sinh viên trường Sư phạm đã viết thế này: “Một khi tình yêu nghề không có từ trước thì trong vòng 4 năm học thật khó có thể gieo hạt mầm cho những nhà giáo tương lai tốt”. Thêm vào đó là việc dạy đạo đức cho các thầy cô giáo tương lai. Nó cũng đơn điệu, khô cứng, kém hiệu quả và thiếu sự quan tâm như môn “giáo dục công dân” tại các trường phổ thông vậy.

Và rồi những thầy cô giáo đó, khi ra trường đi làm, tình yêu nghề thì ít mà những lo toan cuộc sống thì nhiều. Bởi vậy, họ lại mải lao vào kiếm tiền bằng mọi cách để rồi xao lãng trách nhiệm và đạo đức của những người thầy, người cô mà từ thời còn ở trường Sư phạm, họ cũng chẳng mấy để ý.

Cứ như thế, không biết từ bao giờ, sự kính trọng đối với người thầy trong lòng các học trò đã xói mòn dần. Người thầy không giống như những người chắp cánh những ước mơ mà trở thành những người “bán chữ” thực sự.

Xin đừng tiên trách nhân…

Cả xã hội sôi sục bước vào kinh tế thị trường. Ngành ngành, nghề nghề lao vào cơn lốc bán mua, trao đổi. Nhiều tiền thì mua hàng tốt, ít tiền thì mua hàng chất lượng thấp hơn. Mọi thứ đều được quy đổi rõ ràng.

Giáo dục thì sao? Kiến thức, tình yêu cuộc sống, trách nhiệm xã hội mà những người thầy truyền đạt cho học sinh không thể được gọi là một món hàng. Bởi vậy, sống trong bầu không khí “thị trường” nhưng các nhà giáo lại hưởng mức thu nhập của người “bán cháo phổi”. Bởi thế, khi kinh tế bung ra, nghề giáo trở nên thấp kém hơn. Nói như nhà phê bình Lại Nguyên Ân, “thời chúng tôi lớn lên, người không đỗ ngành nào thì mới vào sư phạm”.

Để có thể tồn tại trong môi trường đó, các thầy cô giáo đã tìm kẽ hở để lách vào, nâng cuộc sống mình lên bằng cách dạy thêm, bán điểm, bán sự ưu ái cho học trò. Chính quá trình tự tìm cách kiếm chác cho mình đã tạo ra những ngoại lệ cho vai trò của người thầy, gây ra những vi phạm đạo đức. Đó chính là nguyên nhân được rất nhiều nhà giáo dục dùng đến hiện nay khi bàn về sự xuống cấp đạo đức của người thầy. Giáo sư Hoàng Tụy lý giải: “Thầy cô giáo không được chăm sóc nghề nghiệp, cuộc sống. Chỉ cấp cho người ta một đồng lương đủ sống trong mươi hôm. Bởi vậy họ phải lo kiếm sống, mệt mỏi nên dễ phạm lỗi”. Hơn nữa, “cái nghề chẳng đáng bao nhiêu, người ta không thiết tha lắm, nên bất cần”.

Bất cần nên họ thôi không cần chăm sóc cho hình ảnh của mình, họ không cần phải là những tấm gương cho học trò mà chỉ chú tâm vào một điều duy nhất: kiếm sống. Đáng sợ nhất là khi kiếm sống lại được đặt trên cả lương tâm và đạo đức. Bởi thế nên mới có chuyện một trường học đã bỏ đói hàng loạt các em học sinh trong bữa trưa chỉ vì phụ huynh các em đó chưa nộp tiền ăn trưa.

Nhưng cũng có thể nói rằng giáo dục chỉ là nạn nhân trong một xã hội mà đạo đức chung đã xuống cấp từ bấy lâu nay rồi. “Không thể đòi hỏi giáo dục đi trước trong khi xã hội vẫn có chuẩn văn minh thấp hơn”, nhà văn Lại Nguyên Ân nói. Còn giáo sư Hoàng Tụy cũng khẳng định không phải giáo viên xấu mà là “xã hội tốt thì nhiều người tốt, trong xã hội không tốt, nhiều người vốn tốt nhưng trở nên xấu”. Như vậy, lỗi lại thuộc về những nhà quản lý, như giáo sư Tụy nhận xét: “Phải xem lại cách quản lý, có sai gì, có khuyết tật gì. Sai hệ thống, từ đó đẻ ra các cái sai khác”.

Những điều trên không sai. Song điều nghịch lý là ở chỗ, giáo viên đổ lỗi cho thu nhập nhưng những năm qua ngân sách dành cho giáo dục không hề thấp, 20% ngân sách dành cho giáo dục là mức mà Việt Nam có thể hoàn toàn tự hào là ngang bằng với mức những nước tiên tiến chi cho giáo dục. Mức thu nhập của giáo viên ở thành thị có thể thấp so với mức thu nhập chung nhưng với đa số giáo viên ở các vùng nông thôn, mức thu nhập đó không hề ít so với những người nông dân phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.

Sẽ là quá dễ khi đổ lỗi cho tập thể, cho cơ chế như bao ngành khác đã làm. Một thằng ăn cắp khi ra trước tòa không thể lý luận rằng: không thể buộc tội tôi vì xã hội không tạo cho tôi việc để kiếm tiền hay xã hội còn có biết bao nhiều thằng tham nhũng (cũng là một dạng ăn cắp) vẫn ung dung nhởn nhơ. Vậy những người chắp cánh cho nền tri thức nước nhà, có nên “tiên trách nhân” như thế không?

Hết thời độc quyền kiến thức

Từ xa xưa, xã hội Việt Nam đã tôn nghề giáo làm ông thầy của xã hội. Một chữ là thầy mà nửa chữ cũng là thầy. Mọi kiến thứ trò thu được là từ thầy, mọi chuẩn mực đạo đức trò học theo cũng là người thầy. Thầy giống như vị thánh. Hình ảnh người thầy vì thế cũng đẹp vôcùng, mỗi người học trò soi vào thầy để mà phấn đấu, lấy cái đạo của thầy làm đạo của mình.
Tư duy “quân – sư – phụ” đó bám sâu vào đầu óc của rất nhiều thế hệ người Việt. Chỉ mới đây thôi, khi vụ việc một cô giáo ở trường tiêu học Trưng Vương tát một em học sinh đến đỏ cả má bị đưa ra công luận, cô giáo hiệu trưởng của ngôi trường có tiếng này đã phát biểu rằng: “Cô giáo cũng giống như một người mẹ, thấy con không nghe lời thì có quát mắng. Đánh con đấy nhưng cũng đau lòng lắm chứ”. Đó là tư duy của thời xưa, còn khi xã hội dân chủ phát triển, các mối quan hệ trong xã hội cũng vì thế mà khác đi.

Nếu như thầy giáo ngày xưa có thể thẳng tay vụt học trò, dùng những hình phạt nặng nề như quỳ trên gai mít thì ngày nay điều đó là không thể. Theo chuẩn mực hiện đại, hành vi đó là vi phạm quyền con người, vi phạm quyền trẻ em khi Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Một người ăn cắp đồ của bố mẹ có thể không bị bố mẹ phạt, nhưng ra trước xã hội, ra trước pháp luật, kẻ đó phải bị trừng trị. Bởi vậy mà cô giáo khi đứng trên bục giảng, khi ăn lương của xã hội thì không thể cho rằng mình có quyền đánh học trò như đánh con mình được. Cái khái niệm “thương cho roi vọt” đã không còn được các bậc phụ huynh, các học trò hay nói rộng hơn là xã hội hiện đại chấp nhận nữa.

Cũng như thế, xã hội thông tin phát triển đã cướp đi cái độc quyền kiến thức của người thầy. Học trò ngày xưa có thể nuốt từng lời thầy giảng và coi đó như một thứ đạo chỉ có thể tiếp thu được ở nơi thầy. Nhưng học trò ngày nay không chỉ có thầy. Chúng có thể đọc vô khối loại sách báo, xem truyền hình, và tìm hiểu vô vàn kiến thức trên internet. Chỉ một điều thầy cô nói sai, chúng cũng có thể kiểm tra thông tin đó ở hàng loạt các phương tiện truyền thông.

Chính bởi thế mà kiến thức thầy cô đưa ra không còn là tuyệt đối nữa. Trong một môi trường giáo dục tiên tiến và hiện đại, trò có thể dung nạp đủ kiến thức để tranh luận với thầy cô, trò cũng có thể có đủ hiểu biết để phản bác những điều thầy cô đưa ra. Điều đó không có nghĩa là học trò các nước phương Tây không còn tôn trọng thầy cô. Đúng hơn, đó giống như một liều thuốc kích thích giúp các học trò phát huy tối đa năng lực và thôi thúc các thầy ngày càng phải hoàn thiện mình. Giáo dục cũng vì thế mà nâng lên.

null

Lạc hậu còn ở chỗ khi kiến thức trong xã hội giờ đã phải được cập nhật từng phút, từng giây thì trong nhà trường kiến thức dẫm chân tại chỗ như những bước tập mốt hai mốt tại chỗ của các em học sinh trong giờ nghi thức. Hô to đấy, bước đều đấy nhưng chẳng tiến tí nào cả. Giáo trình dạy của một giáo viên khi bắt đầu bước vào nghề cho đến lúc về hưu, đại đa số là vẫn vậy, không cập nhật, không bổ sung, không thay đổi, cừ bài đó mà diễn. Bản thân giáo viên cũng thế. Không biết từ bao giờ đã hình thành quan niệm, “làm nghề giáo cho nhàn”, bố mẹ có con trai thích có con dâu làm giáo viên để nhàn, có thời gian chăm sóc con cái. Còn những học trò năng động, hiện đại, giỏi giang… thì không đời nào chịu thi vào trường sư phạm hoặc làm giáo viên.

Nếu không phải tự các thầy các cô đang đánh mất mình bởi quan niệm như vậy thì có thể đổ lỗi cho ai. Nghề giáo tự thân không nhàn, người ta cho rằng nó nhàn bởi vì các thầy các cô của chúng ta không mất thời gian học hỏi, đọc sách báo, bổ sung kiến thức để dạy học trò, các thầy cô không phải tìm ra phương pháp mới để giúp cho học trò tiếp thu bài nhanh và hiệu quả hơn. Các thầy cô cũng chẳng mất thời gian tìm hiểu tâm lý, tâm tư học trò. Họ chỉ làm đúng công việc theo nghĩa thô sơ nhất của nó, lên lớp giảng những bài giảng cũ mòn. Một đứa học trò ngoan ngoãn, học giỏi, 14 tuổi đã nói với bố mẹ thế này: “Cô dốt lắm. Cái chuyện đó, cô chỉ cần vào internet, tra một cái là ra ngay, thế mà cô cũng không biết, lại còn cứ khăng khăng là mình đúng”.

Sự lười biếng của họ không những không giúp được các học trò học hỏi được nhiều mà thậm chí còn ngăn cản chúng tiến bộ. Một khi các thầy cô đã không biết, mà các thầy cô vẫn nghĩ rằng mình là nhất, họ này sinh tâm lý sợ cái mới, cái khác cái mình biết. Từ đó mà trò không được phép cãi, không được phép phản biện lại các thầy, các cô. Nói về việc học ngoại ngữ của con, chị Hà Nhi, một phụ huynh của cháu bé học lớp 3 nói: “Tôi chỉ mong các cô hãy dẹp tự ái, đừng ghét bỏ con tôi khi cháu hồn nhiên phát biểu trước lớp rằng: ‘Cô phát âm không hay bằng cô Catherine’”. Cô Catherine là người bản xứ dạy cháu trong một lớp học thêm ngoại ngữ.

Còn chị Thục Anh thì luôn luôn phải nhắc nhớ cậu con trai học lớp 6 của mình rằng: “Đến lớp con không được đố cô như thế nhé”. Cháu đọc rất nhiều sách sử, rất nhớ và thường xuyên đưa ra câu đối với mọi người xung quanh. Và khi mọi người không trả lời được, hoặc trả lời sai, cháu sẵn sàng nói: “sai rồi” và đưa ra đáp án đúng. “Ở nhà nói thế thì được, chứ đến lớp, nêu ra những câu hỏi thế cô giáo làm sao mà trả lời được, rồi cô lại ghét cho”, chị Thục Anh nói.

Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không cần các thầy cô giáo nữa. Trong một mớ hỗn độn những thông tin, kiến thức, các thầy các cô lại càng cần thiết để chỉ bảo cho những mầm non tương lai của đất nước biết cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở. Song để làm được vậy, các thầy các cô phải biết cái đó trước đã và họ chỉ có được khi họ không để mình tụt hậu lại phía sau. Nhà văn Lại Nguyên Ân cho rằng: “Thầy giống như người môi giới cho những đứa trẻ đi vào sự học chứ không phải quản trị toàn bộ cái sự học của người ta mà hết cái tầm của thầy là trò không còn đi đâu được nữa”.

Xin được kết bằng một mong mỏi rất thiết tha của một phụ huynh: “Tôi mong các thầy, các cô hãy là những người hướng dẫn đồng hành cần mẫn cho các cháu trong cuộc hành trình khám phá đầy thú vị. Tấm gương từ chính cuộc đời, con người của các thầy cô sẽ giúp cháu biết được điều cháu sẽ phải sống và học thế nào cho tốt”.

SOURCE: Vietimes

GÓP PHẦN TÌM HIỂU QUAN NIỆM VỀ “ĐỔI MỚI”, “CẢI TỔ”, “CẢI CÁCH”

Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự Đổi mới để thích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống. Đối với xã hội, Đổi mới là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi của nó trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, để thích ứng với tình thế. Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện tượng xã hội.


Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “Đổi mới” trong sự vận dụng cụ thể vào Đổi mới đất nước. Người viết: “Công cuộc Đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Khi nhấn mạnh sự cần thiết phải không ngừng Đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thế giới, tình hình trong nước vốn không ngừng biến đổi, Hồ Chí Minh viết: thế giới ngày ngày Đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Đổi mới, theo Hồ Chí Minh, còn là để thắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ. Dù đó là việc khó khăn, nhưng chẳng có việc gì là không thể Đổi mới”.
Đổi mới còn là cách để thay đổi một phương thức sống, tạo lập một phương thức sống mới, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh viết: “Khi trước nhà nào lo làm nhà nấy, làm thế nào cũng được. Nhưng bây giờ không phải như thế. Bây giờ mình phải Đổi mới nông thôn”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đổi mới và phát triển là những khái niệm rất gần gũi, đôi khi được hiểu như nhau. Trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964, Người viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều Đổi mới”.
Vận dụng vào vấn đề mà chúng ta nghiên cứu “Đổi mới’ là thay cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhu cầu phát triển, bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự phát triển.
Phân tích tình hình đất nước trong những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX, Đại hội VI của Đảng ta đã nhấn mạnh: Đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Sau khi nêu nội dung Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đổi mới chính sách xã hội,… Đại hội tập trung làm nổi bật nội dung Đổi mới Đảng: Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; Đổi mới tổ chức; Đổi mới đội ngũ cán bộ; Đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác của Đảng. Từ đây, “Đổi mới” được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện của Đảng, trong sách báo cũng như trong ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân ta.
Trong 20 năm qua, nhận thức về “Đổi mới ở Việt Nam” cũng không ngừng phát triển. Thời kỳ đầu, “Đổi mới” được hiểu như là những suy nghĩ, những hành động riêng lẻ, cụ thể nhằm thay đổi một nhận thức, một cách làm nhất định nào đó; càng về sau, càng nhận thức đầy đủ hơn về “Đổi mới” – đó là vấn đề chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; nó bao quát toàn diện, không trừ lĩnh vực nào của quá trình đó.
Đổi mới là quá trình loại bỏ những gì kìm hãm và cản trở sự phát triển, tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yết tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực lượng cho sự phát triển vượt bậc. “Đổi mới” – đó là quá trình giải phóng mang ý nghĩa toàn diện của từ đó – giải phóng về tư tưởng, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người, giải phóng khả năng trí tuệ của nhân dân,… để phục vụ cho sự phát triển con người, bảo đảm tự do, sáng tạo của nhân dân.
“Đổi mới’ còn là quá trình sửa lại những nhận thức không đúng về “cái cũ”, nhưng “cái cũ” ấy lại là cái đúng, để hiểu đúng nó hơn, vận dụng có hiệu quả hơn vào thực tiễn mới.
“Đổi mới” còn là làm rõ cái gì là đúng của ngày hôm qua, nhưng do hoàn cảnh đã thay đổi, ngày hôm nay không còn thích hợp, cần từ tổng kết thực tiễn để khái quát lý luận nhằm bổ sung, phát triển nhận thức, phát triển nền tảng tư tưởng của chúng ta. Nhờ vậy, nền tảng tư tưởng đó thực hiện có hiệu quả hơn chức năng là cơ sở hoạch định và triển khai đường lối của Đảng, thúc đẩy đất nước phát triển.
Như vậy, “Đổi mới” có mục tiêu lý luận và mục tiêu thực tiễn. Về lý luận, Đổi mới nhằm xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về thực tiễn, Đổi mới để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc. Hai mục tiêu đó có quan hệ biện chứng với nhau: Mục tiêu lý luận phục vụ cho mục tiêu thực tiễn; mục tiêu thực tiễn vừa là yêu cầu, là đòi hỏi nâng cao chất lượng mục tiêu lý luận, vừa là phương thức kiểm tra thành quả đạt được của mục tiêu lý luận. Trong sự tác động qua lại đó, mục tiêu thực tiễn là cơ quan quan trọng nhất.
Mục tiêu lý luận và thực tiễn đó cũng khẳng định rằng, chúng ta “Đổi mới” nhưng không “đổi mầu”. Đổi mới để giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả cao hơn. Đổi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là làm cho lý luận đó, tư tưởng đó được nhận thức và vận dụng, phát triển sáng tạo hơn, mang lại kết quả thiết thực hơn. Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn nhận thức và cách làm trước đây cùng những thành tựu đã được tạo ra, mà là khẳng định những gì đã nghĩ đúng, làm đúng, giữ lại những giá trị tích cực của quá khứ, lấy đó làm tiền đề để Đổi mới, để tiến lên; đồng thời loại bỏ những gì hiểu sai, làm sai, những hậu quả do những sai sót đó tạo ra. Cho nên, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình Đổi mới là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nó giúp chúng ta tránh những sai lầm hữu khuynh cũng như “tả” khuynh.
Gần nghĩa với từ “Đổi mới”, có từ “Cải tổ”, “Cải cách”.
“Cải tổ”, là tổ chức lại cho khác hẳn trước; là thay đổi căn bản và toàn diện về tổ chức, thể chế, cơ chế… trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội nhằm khắc phục hậu quả sai lầm trong quá khứ, đưa xã hội tiến lên.
Vận dụng quan niệm đó vào việc xem xét Cải tổ như một sự kiện nhằm thực hiện thay đổi cơ bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô vào những năm 80, 90 thế kỷ XX. Ở thời kỳ xuất phát của sự kiện đó, “Cải tổ” được hiểu là quá trình cải tạo toàn diện, triệt để xã hội Xô viết trên cơ sở đường lối đẩy nhanh sự phát triển kinh tế – xã hội do Hội nghị toàn thể tháng 4 (năm 1985) của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đề xướng và được Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục thực hiện. Khi khởi xưởng, “Cải tổ” được hiểu là quá trình cách mạng nhằm Đổi mới tất cả mọi mặt đời sống của xã hội Xô viết, làm cho chủ nghĩa xã hội mang những hình thức hiện đại nhất, làm bộc lộ một cách đầy đủ nhất tiềm lực sáng tạo của xã hội xã hội chủ nghĩa. Cải tổ nhằm kiên quyết khắc phục các quá trình trì trệ, phá bỏ cơ chế kìm hãm để đẩy nhanh phát triển kinh tế – xã hội. Nó dựa trên sự sáng tạo sinh động của quần chúng, đòi hỏi phát triển toàn diện nền dân chủ, chế độ tự quản, mở rộng tính công khai phê bình và tự phê bình trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cải tổ – đó là việc kiên quyết đưa xã hội ra khỏi những lệch lạc trong đạo đức xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa quyền lợi và nghĩa vụ.
Chính trên quan niệm như vậy, M. Goocbachốp tuyên bố: “Cải tổ” – đó là khắc phục một cách kiên quyết những quá trình trì trệ, phá vỡ cơ chế kìm hãm, sáng tạo cơ chế đáng tin cậy và có hiệu quả để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế – xã hội đem lại cho sự phát triển ấy tính năng động cao. Cải tổ – đó là dựa vào sự sáng tạo sinh động của quần chúng; là sự phát triển toàn diện của nền dân chủ, tăng cưởng tính công khai, mở rộng phê bình và tự phê bình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải tổ – đó là sự phát triển theo chiều sâu một cách toàn diện nền kinh tế Xô viết, là chuyển một cách kiên quyết theo hướng khoa học bảo đảm mọi sáng kiến trên cơ sở khoa học vững chắc; là sự phát triển ưu tiên lĩnh vực xã hội nhằm thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu của nhân dân trong điều kiện tốt về lao động sinh hoạt, nghỉ ngơi, giáo dục và phục vụ y tế; là kiên quyết tránh cho xã hội khỏi sự xuyên tạc đạo đức xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhất quán những nguyên tắc công bằng xã hội. Mục đích cuối cùng của Cải tổ là Đổi mới sâu sắc tất cả các mặt của đất nước, đem lại cho chủ nghĩa xã hội những hình thức tổ chức xã hội hiện đại nhất, là sự phát triển đầy đủ nhất tính chất nhân đạo trong tất cả mọi khía cạnh quyết định của nó – kinh tế, chính trị, xã hội và đạo đức. Thực chất của Cải tổ chính là ở chỗ nó kết hợp chủ nghĩa xã hội và dân chủ cả về lý luận lẫn thực tiễn, khôi phục một cách đầy đủ quan niệm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội.
Để đưa Cải tổ tiến lên Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô xem “phát triển sản xuất theo chiều sâu về mọi mặt trên cơ sở tiến bộ khoa học – kỹ thuật, Cải tổ cơ cấu nền kinh tế, thực hiện những hình thức quản lý có hiệu quả, tổ chức và khuyến khích lao động” là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, toàn dân. Do một nền kinh tế quá to, có sức ỳ quán tính quá lớn, lại mới được tiến hành Cải tổ trong một khoảng thời gian quá ngắn, nên nền kinh tế đó không có bước chuyển đáng kể, sự hoài nghi về tính đúng đắn của việc xác định điểm xuất phát của Cải tổ – đi từ Cải tổ kinh tế – tăng lên. Một quan niệm khác dần hình thành và có vai trò chi phối: Xuất phát từ quan niệm cho rằng, Cải tổ là một cuộc cách mạng, mà trong quá trình cách mạng thì vị trí then chốt nhất nhất thiết là thuộc về chính trị, cho nên, muốn cho Cải tổ thành công, phải bắt đầu bằng việc đạt được những cuộc cải tạo to lớn, căn bản trên lĩnh vực chính trị theo hướng “Hãy mang lại nhiều hơn nữa ánh sáng cho tính công khai!”, “phê bình và tự phê bình trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”, “đẩy mạnh dân chủ hoá toàn diện đời sống xã hội”…
Trong thực tế triển khai “công khai” trở thành sự bộc lộ một cách trắng trợn những mưu đồ phủ nhận thành tựu lý luận và thực tiễn của 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Phê bình và tự phê bình” trở thành sự bắn phá vào những thế hệ tiền bối một cách không thương xót, thành sự “xám hối” về một thời oanh liệt mà nhân dân Liên Xô đã trải qua. “Đẩy mạnh toàn diện dân chủ hoá” trở thành sự thoán quyền của một số người trong giới chóp bu chính trị, còn trong xã hội thì phát triển thành đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cuộc đấu tranh phe cánh diễn ra triền miên, “khôi phục một cách đầy đủ quan niệm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội” biến thành sự phủ định sạch trơn những tư tưởng căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin …
Trái với lời tuyên bố của người khởi xướng công cuộc Cải tổ, xem Cải tổ là một cuộc cách mạng triệt để nhưng “bom không nổ và đạn không bay”, người ta đã nã đại bác vào toà nhà Quốc hội ở Matxcơva. “Cải tổ để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn” biến thành sự tan rã của Liên bang Xô viết, từ một Liên bang Xô viết thống nhất phân rã ra thành hàng chục quốc gia trong cái gọi là “Cộng đồng quốc gia có chủ quyền” (SNG), trong những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX, hằng ngày, hằng giờ họ dùng bom, đạn, đại bác nói chuyện với nhau.
Sự tan rã của Liên bang Xô viết, sự biến mất của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu là tổn thất lớn nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là bi kịch lớn nhất của chủ nghĩa xã hội thế giới trong thế kỷ XX. Nhân loại chắc chắn còn phải bỏ ra nhiều công sức, thời gian, giấy bút để tổng kết sự kiện có một không hai đó để rút cho mình những kinh nghiệm cần thiết trên con đường tiến lên đạt mục tiêu giải phóng hoàn toàn con người.
“Cải cách” là đổi khác đi, làm cho biến đổi thành khác trước, là sửa đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan.
Vận dụng vào xã hội, “Cải cách xã hội” được hiểu là cải tạo, thay đổi, sắp xếp lại một mặt nào đó của đời sống xã hội (những trật tự, thiết chế), đồng thời vẫn duy trì những cơ sở của chế độ xã hội hiện tồn.
Trong gần 30 năm qua, thế giới theo dõi công cuộc “Cải cách mở cửa” của Trung Quốc với sự quan tâm đặc biệt.
Hội nghị Trung ương ba khoá XI (năm 1978) của Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức khởi xướng công cuộc Cải cách và mở cửa, xác định nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất là xây dựng chủ nghĩa xã hội với bốn hiện đại hoá, phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Để đạt bước tiến căn bản trong Cải cách mở cửa, phải “Cải cách toàn diện, bao gồm Cải cách thể chế kinh tế, Cải cách thể chế chính trị và Cải cách lĩnh vực tương ứng khác”. Xuất phát từ quan niệm cho rằng, chính trị và kinh tế là hai mặt quan trọng nhất của bất kỳ chế độ xã hội nào, chúng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới toàn bộ những lĩnh vực khác của đời sống xã hội, hơn nữa chính trị luôn xâm nhập vào kinh tế, cho nên, muốn Cải cách kinh tế có hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, Đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng, không thể không Cải cách thể chế chính trị. Nhưng, muốn Cải cách thể chế chính trị một cách tích cực và ổn định, phải lấy Cải cách thể chế kinh tế, từ đó phát triển lực lượng sản xuất, làm cơ sở. Đây chính là triết lý cơ bản trong tư duy Cải cách toàn diện của Trung Quốc.
Trong khi khẳng định tính toàn diện của công cuộc Cải cách mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc xem tiêu chí của mọi Cải cách là nhằm phát triển lực lượng sản xuất. Cải cách mở cửa nhằm loại trừ mọi nhân tố ngăn cản sự giải phóng và phát triển đó. Đề cập vấn đề này, Đặng Tiểu Bình viết: “Mọi cuộc Cải cách của chúng ta đều chung một mục đích, chính là quét sạch mọi lực cản đối với sự phát triển của sức sản xuất”.
Xác định xuất phát điểm là Cải cách để giải phóng sức sản xuất, Đảng Cộng sản Trung Quốc có bước đột phá lớn về lý luận, khẳng định rằng, kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội cũng cần áp dụng kinh tế thị trường. Từ đó, xây dựng lý luận về nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Cải cách kinh tế càng tiến lên, càng đòi hỏi và tạo điều kiện để đẩy mạnh Cải cách trên lĩnh vực thể chế chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Nhờ tiến hành Cải cách mở cửa với trình tự, bước đi thích hợp, 27 năm qua Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, mở ra một triển vọng huy hoàng cho nhân dân Trung Quốc, dân tộc Trung Hoa.

GS.TS. Phạm Ngọc Quang
Tạp chí Thông tin Công tác Tư tưởng, Lý luận, số 1-2006

VỀ CHẾ ĐỘ KINH TẾ CƠ BẢN VẦ CẢI CÁCH KINH TẾ QUỐC HỮU

I- Chế độ kinh tế cơ bản lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu cùng phát triển
1. Một số vấn đề chung
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất nhất định phải thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là quy luật chung của phát triển xã hội loài người, cũng là căn cứ lý luận căn bản để xác định chế độ kinh tế cơ bản xã hội chủ nghĩa. Chế độ xã hội chủ nghĩa Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở trình độ lực lượng sản xuất hết sức thấp kém và kinh tế thị trường cực kỳ kém phát triển, chỉ có thể là giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Chế độ kinh tế cơ bản thực hiện trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu cùng phát triển.
Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, không phải là lấy kinh tế quốc hữu làm chủ thể. Từ khi cải cách mở cửa đến nay, kết cấu chế độ sở hữu của Trung Quốc đã có thay đổi quan trọng, chế độ công hữu xuất hiện nhiều hình thức đa dạng, nó vừa bao gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tập thể, cũng bao gồm cả thành phần quốc hữu và thành phần tập thể trong kinh tế hỗn hợp.
Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, là nói chung cả nền kinh tế quốc dân, và cũng không yêu cầu mỗi ngành, mỗi khu vực, mỗi doanh nghiệp đều phải lấy chế độ công hữu làm chủ thể. Trong giai đoạn hiện nay của Trung Quốc cũng như trong một thời kỳ tương đối dài sau này, do trình độ phát triển lực lượng sản xuất giữa các ngành, các khu vực, các doanh nghiệp có một khoảng cách rất lớn, trong lĩnh vực kinh tế khác nhau, khu vực khác nhau và doanh nghiệp khác nhau, tỷ trọng của các loại hình kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau cũng có sự khác biệt nhau.
Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, chủ yếu thể hiện ở chỗ tài sản công hữu chiếm ưu thế trong toàn bộ tài sản xã hội. Nó đòi hỏi tài sản công hữu phải có một lượng nhất định, nhưng nặng về chất.
Lấy chế độ công hữu làm chủ thể được thực hiện trong cạnh tranh thị trường. Kinh tế thị trường đòi hỏi cạnh tranh công bằng, bất luận kinh tế công hữu hay kinh tế phi công hữu đều không được hưởng bất cứ một đặc quyền nào. Trong cạnh tranh thị trường, kinh tế công hữu và kinh tế phi công hữu đều như nhau, đều đứng trước hai lựa chọn số phận: Hoặc là thích ứng với cạnh tranh thị trường, không ngừng phát triển lớn mạnh trong cạnh tranh bằng thế mạnh của bản thân; hoặc là không thích ứng với cạnh tranh thị trường, dần dần bị cạnh tranh thị trường đào thải.
Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, mấu chốt là khả năng kiểm soát kinh tế quốc hữu đối với kinh tế quốc dân, khả năng kiểm soát này là cơ sở và đảm bảo cho địa vị chủ thể của nền kinh tế công hữu. Xét về hiện trạng và xu thế phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, làm thế nào để phát huy tốt hơn khả năng kiểm soát của kinh tế quốc hữu, là một nhiệm vụ khó khăn cần giải quyết.
2. Khuyến khích, ủng hộ và hướng dẫn kinh tế phi công hữu phát triển
Nhìn nhận kinh tế phi công hữu và sự phát triển của nó đúng đắn hay không, trực tiếp liên quan đến sự phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, liên quan đến sự điều chỉnh và cải cách kinh tế công hữu, liên quan đến sự phát triển và hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội.
Một là, kinh tế phi công hữu và kinh tế thị trường có mối liên hệ tự nhiên. Nó có quan hệ quyền sở hữu tài sản rõ rệt, quyết sách kinh doanh tự chủ và cơ chế vận hành linh hoạt, những đặc điểm đó thống nhất với yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Sự tồn tại và phát triển của nó không những có lợi cho việc xúc tiến phân phối và tận dụng tối ưu tài nguyên, mà còn giúp cho việc hình thành trật tự giao dịch thị trường và hệ thống cạnh tranh thị trường.
Hai là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là kinh tế phi công hữu, đóng vai trò ngày càng quan trọng trên vũ đài cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh lớn kinh tế toàn cầu hoá, sự lưu động nhanh chóng về thông tin, vốn và kỹ thuật trong phạm vi thế giới, sự hoà nhập lẫn nhau về vốn của các nước, sự phân phối tối ưu và cùng hưởng về tài nguyên trong phạm vi toàn cầu, đều là xu thế lớn không gì ngăn cản nổi trong phát triển kinh tế của các nước. Sự hội nhập giữa vốn và kỹ thuật nước ngoài với vốn và kỹ thuật trong nước là một điều kiện tất yếu để kinh tế thị trường hội nhập với thị trường lớn của kinh tế thế giới và thực hiện tăng tốc phát triển.
Ba là, trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế phi công hữu là dựa vào kinh tế công hữu. Tuy nhiên, kinh tế tư nhân và kinh tế có đầu tư nước ngoài tự nó có tính tự phát và tính vụ lợi mạnh mẽ, vì thế phải tăng cường sự hướng dẫn và quản lý đối với sự phát triển của nó. Sự tồn tại và phát triển của nó có lợi cho sự trao đổi đầy đủ và cạnh tranh bình đẳng của thị trường, có lợi cho nội bộ nền kinh tế công hữu nảy sinh cơ chế khích lệ và sức sống, có lợi cho tăng cường thực lực chỉnh thể của nền kinh tế quốc dân, có lợi cho nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phồn vinh và phát triển.
Bốn là, kinh tế phi công hữu có sức sống lâu dài. Trước hết, kinh tế phi công hữu và kinh tế thị trường có sức dung hợp nhau mạnh mẽ. Nó không những sinh trưởng trong môi trường kinh tế thị trường, mà còn là một điều kiện chế độ quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của kinh tế thị trường. Xét về khía cạnh nào đó, không có chế độ công hữu thì không có chủ nghĩa xã hội, không có chế độ phi công hữu thì cũng khó mà xây dựng thành công kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Mặt khác khi đã hội nhập hệ thống kinh tế thế giới, kinh tế công hữu và kinh tế phi công hữu không những song song tồn tại giữa các doanh nghiệp, mà còn hoà nhập bên trong doanh nghiệp, vả lại sự hoà nhập này ngày càng mang tính chất quốc tế.
3. Quan hệ giữa kinh tế công hữu và phi công hữu
Các loại kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau hoàn toàn có thể phát huy ưu thế của mình, thúc đẩy lẫn nhau, cùng phát triển trong cạnh tranh thị trường. Trong kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, một mặt, kinh tế công hữu và kinh tế phi công hữu đều có lý do tồn tại và phát triển, đều có thể phát huy ưu thế của bản thân trong các lĩnh vực khác nhau, chúng hoàn toàn có thể và cùng nhau phát triển trong khi song song tồn tại lâu dài; mặt khác, kinh tế công hữu và kinh tế phi công hữu thông qua hình thức nào đó kết hợp bên trong doanh nghiệp, hình thành hình thức tổ chức tài sản doanh nghiệp mang tính chất sở hữu hỗn hợp. Kinh tế thị trường về bản chất là kinh tế mở, sự mở cửa này vừa thể hiện ở chỗ các chủ thể kinh tế khác nhau song song tồn tại và cùng nhau phát triển, vừa thể hiện ở chỗ giữa các chủ thể kinh tế khác nhau đã thực hiện sự dung hợp quyền sở hữu bên trong doanh nghiệp trong khi mở cửa với nhau, hình thành chế độ doanh nghiệp hiện đại với quyền sở hữu tài sản đa nguyên hoá.
Với điều kiện lấy chế độ công hữu làm chủ thể, trong một thời kỳ tương đối dài sau này, kinh tế phi công hữu sẽ xuất hiện xu thế phát triển nhanh chóng. Đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế phi công hữu, tỷ trọng kinh tế công hữu sẽ phần nào giảm xuống, nhưng về lượng tuyệt đối sẽ tăng mạnh, tố chất và sức cạnh tranh tổng thể cũng tăng mạnh. Kinh tế công hữu và kinh tế phi công hữu sẽ hình thành một cục diện mới liên hệ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, dung hợp với nhau, cùng phát triển.
II- Tiếp tục điều chỉnh tổ chức và cơ cấu của kinh tế quốc hữu, cải cách thể chế quản lý tài sản quốc hữu
1. Tăng cường khả năng kiểm soát của kinh tế quốc hữu đối với nền kinh tế quốc dân, điều chỉnh về chiến lược tổ chức và cơ cấu của kinh tế quốc hữu
Nói chung, chế độ quyền sở hữu tài sản của kinh tế quốc hữu làm cho sự ràng buộc về quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp quốc hữu không mạnh bằng kinh tế phi quốc hữu, chính quyền và doanh nghiệp cũng khó tách rời triệt để, trình độ kinh doanh tự chủ và tự chịu lỗ lãi không cao, do đó thiếu tính dung hợp thị trường như kinh tế phi quốc hữu. Nhưng kinh tế quốc hữu cũng có những chức năng độc đáo riêng mà kinh tế phi quốc hữu khó có thể thay thế được, chủ yếu là chức năng công ích thoả mãn nhu cầu công cộng của dân cư, chức năng dễ quán triệt chính sách công cộng của Nhà nước, chức năng bảo vệ an ninh quốc gia và chức năng bảo đảm kinh tế quốc dân phát triển nhịp nhàng v.v.. Vì vậy: 1) Trong những ngành nghề quan hệ đến an ninh quốc gia như in tiền, công nghiệp quân sự quan trọng, lĩnh vực then chốt liên quan đến an ninh quốc phòng và hệ thống dự trữ chiến lược quốc gia v.v.. 2) Những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô lớn có hiệu quả xã hội tương đối lớn, mà trước mắt vốn phi quốc hữu chưa đủ sức hoặc không muốn đầu tư vào, bao gồm công trình xử lý sông ngòi lớn, công trình trồng rừng phòng hộ trọng điểm, công trình công ích trọng điểm và công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị v.v.. 3) Dự án khai thác tài nguyên không thể tái sinh với quy mô lớn, như dự án khai thác dầu lửa và mỏ than với quy mô lớn v.v.. 4) Khai thác công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển lâu dài của Nhà nước, như công trình nghiên cứu sản xuất vi mạch siêu lớn v.v. những ngành nghề và lĩnh vực này đều đòi hỏi kinh tế quốc hữu không ngừng phát triển lớn mạnh.
Đương nhiên, những lĩnh vực kể trên mới chỉ là “yêu cầu tối thiểu” đòi hỏi kinh tế quốc hữu phải tiếp tục phát huy vai trò quan trọng và ưu tiên làm trong giai đoạn hiện nay, chứ không phải là nói tài sản quốc hữu chỉ có thể phân phối cho những lĩnh vực đó. Đồng thời, thứ tự ưu tiên đối với ngành nghề chiến lược là có thể thay đổi. Cùng với sự biến động của giai đoạn phát triển kinh tế đất nước và môi trường kinh tế, trọng điểm về ngành nghề chiến lược và phạm vi kinh tế quốc hữu cũng biến đổi theo.
2. Cải cách thể chế quản lý tài sản quốc hữu
Thể chế quản lý tài sản quốc hữu trực tiếp quan hệ đến hiệu quả vận hành tổng thể của kinh tế quốc dân. Uỷ ban quản lý tài sản quốc hữu Trung Quốc được thành lập đã đánh dấu cải cách thể chế quản lý tài sản quốc hữu Trung Quốc bước vào một giai đoạn mới: Một là, dưới tiền đề kiên trì chế độ sở hữu nhà nước, xây dựng chế độ chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương lần lượt đứng ra thay mặt Nhà nước thi hành chức trách của người bỏ vốn, được hưởng quyền lợi của người sở hữu; quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm thống nhất với nhau; thực hiện được quản lý tài sản kết hợp với quản lý người và quản lý việc. Hai là, những doanh nghiệp quốc hữu lớn, cơ sở hạ tầng và tài nguyên thiên nhiên quan trọng liên quan đến vận mệnh kinh tế quốc dân và an ninh quốc gia thì do chính quyền Trung ương thay mặt Nhà nước thi hành chức trách của người bỏ vốn. Các tài sản quốc hữu khác thì do chính quyền địa phương thi hành chức trách của người bỏ vốn. Những tài sản quốc hữu không có tính chất kinh doanh cũng thực hiện theo nguyên tắc này. Ba là, chính quyền Trung ương cũng như hai cấp chính quyền địa phương tỉnh và thành phố thông qua thành lập Uỷ ban quản lý tài sản quốc hữu, tiếp tục tìm tòi thể chế và phương thức kinh doanh tài sản quốc hữu có hiệu quả. Bốn là, xử lý mọi việc theo pháp luật, Nhà nước vừa phải chế định pháp luật pháp quy để vận hành, vừa phải yêu cầu chính quyền các cấp nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật pháp quy về tài sản quốc hữu của Nhà nước, kiên trì tách rời giữa chính quyền và doanh nghiệp, thực hiện tách rời giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh, làm cho doanh nghiệp tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, bảo đảm cho tài sản quốc hữu được bảo tồn và gia tăng giá trị.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Theo: Vương Thiên Nghĩa, Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2004

VỀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

Theo Hạ Vân, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, tháng 7/2004

Ở phần đầu bài viết, tác giả khái quát sơ bộ tình hình nghiên cứu và sự đánh giá vai trò kinh tế của nhà nước ở Trung Quốc của các học giả phương Tây cũng như ở Nga.
Tác giả cho biết cho đến nay, trong ngành Trung Quốc học ở Nga và phương Tây, vấn đề vai trò kinh tế của nhà nước CHND Trung Hoa vẫn chưa được phân tích một cách toàn diện. Ngay cả ở Trung Quốc, những nghiên cứu sâu về đề tài này cũng chỉ mới xuất hiện cách đây không lâu.
Có khoảng trống rõ rệt trong nghiên cứu vấn đề này, là do: 1, tính phức tạp của bản thân việc phân tích, vì nó phải dựa vào những tri thức mang tính hệ thống, đa dạng về thực tếkinh tếvà chính trị của Trung Quốc; 2. cho tới gần đây, khi bàn về việc phải tiếp tục biến đổi các chức năng của chính phủ ở CHND Trung Hoa, người ta luôn bằng lòng với sự phân chia các chức năng giữa nhà nước và thị trường. Và chỉ khi Trung Quốc gia nhập WTO thì vấn đề tối ưu hoá các qui mô và hình thức tham gia của nhà nước vào nền kinh tế mới có được các hạn độ rõ rệt về thời gian; 3, sự đánh giá cần phải có về mặt định tính và định lượng vai trò nhà nước trong nền kinh tế đòi hỏi phải có sự so sánh bắt buộc chuẩn xác.
Để nghiên cứu vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, trước hết, cần phải hiểu được đặc điểm của nhà nước. Đặc điểm của việc thực hiện các chức năng kinh tế của nhà nước phụ thuộc vào một số yếu tố như: tính chất của giới tinh hoa cầm quyền, trước hết là phụ thuộc vào việc họ đại diện cho lợi ích của ai và theo đuổi những mục đích gì; phụ thuộc vào kinh nghiệm của nhà nước và phẩm chất cá nhân của các nhà lãnh đạo đất nước. Tác giả khẳng định, kết cấu quyền lực nhà nước và các truyền thống của nhà nước có tác động quyết định đến đời sống kinh tế của đất nước. Về mặt lý luận và thực tiễn, có thể phân loại hoạt động kinh tế của nhà nước theo không gian và theo chức năng. Theo không gian, những điều quan trọng nhất là: Quan hệ của nhà nước với các chủ thể kinh tế và chính trị khác của thế giới (các nhà nước, các tổ chức quốc tế, các công ty xuyên quốc gia); Quan hệ của chính quyền trung ương với các vùng (phân phối các khoản thu nhập và chi phí, các quyền hạn kinh tế và xã hội .v.v); Quan hệ của chính quyền hành chính với các chủ thể kinh tế; và quan hệ của nhà nước với nhân dân (nhà nước ở đây được hiểu là toàn bộ các cơ quan chính quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở tất cả các cấp).
Xét theo chức năng kinh tế cơ bản, nhà nước đồng thời là nhà quản lý, người sở hữu và là người kiểm soát. Để thực hiện mục đích của mình, nhà nước có thể sử dụng không chỉ các công cụ trong chính sách kinh tế (như các chính sách: thuế, đầu tư, tín dụng-tiền tệ, chính sách sản xuất, v.v..), mà cả công cụ hành chính – trước tiên là sự điều tiết bằng qui định-pháp luật đối với hoạt động kinh tế.
Đề cập đến vai trò của nhà nước với tư cách là người quản lý, tác giả cho rằng vai trò này thể hiện rõ nhất trong việc xác định các mục tiêu và các thông số phát triển kinh tế đất nước (ở đây nhà nước trước hết đóng vai trò là người tổ chức) và trong việc thực hiện chính sách kinh tế cụ thể (điều tiết vĩ mô). Duy trì vai trò chủ đạo của nhà nước trong việc hoạch định các mục tiêu phát triển lâu dài và trước mắt, trong chiến lược và sách lược phát triển là đặc điểm nổi bật của Trung Quốc. Ngay cả trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn giữ vai trò xây dựng các mục tiêu lâu dài (tính toán GDP đất nước vào năm 2020 so với năm 2000, xây dựng “xã hội no đủ trung lưu”), các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm và 5 năm. Đồng thời ngay cả các kế hoạch cũng có những thay đổi lớn. Chẳng hạn kế hoạch 5 năm lần thứ 8 (199l-1995) – ”thời kỳ Lý Bằng” được thông qua vào thời kỳ từ bỏ mạnh mẽ nhất tư tưởng thị trường, gồm nhiều con số cụ thể về các khối lượng dự định, sản xuất nhiều loại hiện vật. Kế hoạch 5 năm lần thứ mười (2001-2005) – ”thời kỳ Chu Dung Cơ” -, có rất ít con số, và không có một chỉ tiêu nào về khối lượng dự định sản xuất hiện vật. Tuy nhiên, kế hoạch chung cho kế hoạch 5 năm lần thứ mười đã được bổ sung bằng nhiều định hướng phát triển trung hạn cụ thể hơn trong các lĩnh vực mang tính tổng hợp chính (trong đó có vấn đề sinh thái xây dựng ở thành phố, vận tải, năng lượng, khoa học và kỹ thuật, kinh tế biển, phát triển các vùng lãnh thổ phía tây) cũng như trong một loạt các ngành cụ thể, như công nghiệp thực phẩm, sản xuất nhôm và giấy.
Đối với vấn đề điều tiết kinh tế vĩ mô, tác giả đã khái quát lên các mục tiêu điều tiết cơ bản trong các giai đoạn phát triển kinh tế của Trung Quốc. Chẳng hạn, giai đoạn từ giữa năm 1993 đến cuối năm 1996, mục tiêu điều tiết kinh tế vĩ mô chính là đấu tranh chống lạm phát và xoá bỏ tình trạng ”quá nóng” trong nền kinh tế (thực hiện ”hạ cánh nhẹ nhàng). Trong giai đoạn 1998-2002, mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và khắc phục các xu hướng chống lạm phát trong nền kinh tế quốc dân. Khác với giai đoạn ”hạ cánh nhẹ nhàng”, các đòn bẩy của chính sách ngân sách-tài chính đóng vai trò hàng đầu trong bộ công cụ kinh tế vĩ mô, chính sách tín dụng-tiền tệ phần nào bị đưa xuống hàng thứ hai. Vào đầu năm 2003, chính sách tín dụng-tiền tệ bắt đầu được đẩy mạnh.
Hiện nay chính sách ưu tiên – lựa chọn những ngành, những khu vực, những cơ sở sản xuất v.v… được ưu tiên, đang chiếm vị trí quan trọng trong bộ công cụ kinh tế vĩ mô ở Trung Quốc. Chính sách thuế và sự lập giá đối với một số dạng sản phẩm, như sản phẩm từ dầu mỏ, dược phẩm, và dịch vụ vẫn là các hình thức quan trọng để thực hiện các chức năng điều tiết vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế ở Trung Quốc. Ngoài việc vạch ra và thực hiện chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô dài hạn, nhà nước còn phải thường xuyên thực hiện sự điều tiết mang tính thường nhật, gắn với việc đáp lại những tình trạng khẩn cấp, cũng như ”giải quyết” các lợi ích của người tiêu dùng và người làm ra sản phẩm.
Phân tích vai trò của nhà nước với tư cách là người sở hữu, tác giả chỉ rõ trong thời kỳ cải cách ở Trung Quốc vai trò này đã giảm dần, biểu hiện ở tỷ phần của khu vực nhà nước trong GDP đã giảm từ 2/3 vào cuối những năm 1970 xuống còn 1/3 trong thời gian hiện nay. Đường lối chính thức của giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay có thể được khái quát lại như sau: thực hiện cải cách sâu sắc cơ cấu khu vực nhà nước trong khi vẫn giữ vững những xí nghiệp nhà nước chủ đạo ở những nơi mà điều đó là cần thiết để bảo đảm an ninh kinh tế đất nước; nâng cao mạnh mẽ trình độ kinh doanh, đẩy mạnh khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp nhà nước có triển vọng, trước hết là bằng cách cổ phần hoá, nắm vững các hình thức quản lý-điều hành hiện đại, thúc đẩy mạnh các thương hiệu cá nhân; và tăng hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước, ngăn chặn sự thất thoát kinh niên tài sản đó.
Theo tác giả, trong khi kích thích các khu vực kinh tế phi nhà nước phát triển, đồng thời phải tiếp tục phát triển khu vực nhà nước. Tỷ trọng của khu vực nhà nước sẽ bị giảm xuống cùng với sự gia tăng hoạt động của giới kinh doanh nước ngoài trên thị trường liên kết ở Trung Quốc. Kinh doanh tư nhân đang trở thành yếu tố gây áp lực ngày càng lớn đến khu vực nhà nước. Như vậy, ngay cả khi không tiến hành tư nhân hoá trực tiếp các xí nghiệp quốc doanh thì tỷ phần của nhà nước với tính cách là người sở hữu trong nền kinh tế của CHND Trung Hoa cũng sẽ dần dần bị giảm đi.
Tuỳ theo sự đẩy mạnh các cuộc cải cách thị trường về kinh tế mà chức năng kiểm soát của nhà nước được tách thành chức năng độc lập và được tăng cường. Điều này thể hiện rất rõ trong việc thành lập các cơ quan kiểm tra-giám sát chuyên biệt mới thuộc Hội đồng nhà nước CHND Trung Hoa trong thời gian gần đây, như: Uỷ ban kiểm soát hoạt động các ngân hàng, Uỷ ban kiểm soát trong ngành điện, Uỷ ban kiểm tra an toàn thực phẩm và thuốc chữa bệnh… Mặc dù các ĩnh vực hoạt động khác nhau và có sự khác biệt giữa các chức năng cụ thể của các thể chế nói trên, nhưng đều thống nhất ở hệ tư tưởng chung là chỉ có sự kiểm soát thích đáng từ phía nhà nước đối với các chủ thể thị trường mới có thể giữ họ ở trong vòng pháp luật và ngăn cản những hành động trực tiếp chống lại xã hội của những người kinh doanh trong cuộc chạy theo lợi nhuận.
Cùng với việc đẩy mạnh các cuộc cải cách thị trường, sự thay đổi các chức năng của chính phủ trong bối cảnh là thành viên WTO là một trong những vấn đề được bàn luận sôi nổi nhất hiện nay ở CHND Trung Hoa. Tác giả đồng ý với luận điểm cơ bản của các cuộc bàn luận là phải chuyển hoàn toàn từ chính phủ ”có sức mạnh toàn năng” sang chính phủ ”có sức mạnh giới hạn, nhưng có hiệu quả cao” là điều tất yếu. Tác giả đã dẫn ra một số bước đi cụ thể theo hướng này, như xoá bỏ vào đầu năm 2001 các ban quản lý ngành thuộc Hội đồng nhà nước; giảm đáng kể số lượng các hoạt động kinh tế đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của các cơ quan hành chính các cấp. Song, tác giả cho rằng quá trình thay đổi các chức năng của chính phủ và rộng hơn là quá trình thay đổi các chức năng kinh tế của nhà nước ở Trung Quốc sẽ không nhanh chóng và không đơn giản. Và đó không chỉ do sự phản kháng hoàn toàn tự nhiên của những người quan liêu, mà còn do tính rất phức tạp của chính nhiệm vụ này. Ngoài ra, tác giả lưu ý, không nên hiểu sự thay đổi các chức năng của nhà nước chỉ đơn giản là giảm vai trò của nhà nước trong kinh tế. Đó là một quá trình phức tạp hơn rất nhiều, khi mà việc từ bỏ sự tham gia vào một số ngành lại đi cùng với việc đẩy mạnh sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực khác.
Tác giả cho rằng, các nỗ lực đưa ra đánh giá mang tính định lượng vai trò của nhà nước trong quá trình của nền kinh tế, và qua đó đưa ra tiêu chí chính thức để tiến hành so sánh quốc tế và rút ra những kết luận chung về vai trò của nhà nước, cần được chú ý. Nhằm mục đích này, người ta sử dụng chỉ số tỷ lệ thuế thu được trong GDP. Trong thời gian đầu cải cách kinh tế, nhờ tăng trưởng kinh tế và đặc biệt là nhờ nhà nước thay đổi các hình thức thu lợi nhuận xí nghiệp không mang tính chất thuế bằng các hình thức thu thuế, tỷ lệ này ở Trung Quốc luôn tăng (năm 1980 là 12,7%; năm 1985 tăng lên 22,8%). Việc áp dụng các hình thức thu thuế theo định mức ổn định. Trong bối cảnh tăng mạnh của các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và giảm lợi nhuận của khu vực kinh tế nhà nước đã dẫn đến giảm tỷ lệ thuế trong GDP xuống mức thấp nhất là 10,2% vào năm 1996. Các nỗ lực của ban lãnh đạo đất nước trong việc cải thiện khu vực nhà nước và tình hình thu thuế đã tăng chỉ số này thành 16,7% vào năm 2002. Tuy nhiên, theo tác giả, trong trường hợp Trung Quốc, chỉ số này hạ thấp rõ rệt vai trò kinh tế thực sự của nhà nước. Những khoản thu lớn không mang tính chất thuế mà các chính quyền địa phương thu từ nông dân vẫn không hiện hình, vai trò của nhà nước trong quá trình đầu tư (không chỉ là các khoản tiền cấp từ ngân sách, mà còn cả các khoản tín dụng ngân hàng mà nhà nước cấp cho những mục tiêu không mang tính đầu tư) không được đánh giá đúng mức. Tác giả nhận xét, tại Trung Quốc trong thời gian gần đây, khi đánh giá vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, người ta đã bắt đầu quan tâm đến chỉ số mức độ thị trường hoá của nền kinh tế quốc dân. Tác giả cho rằng, so sánh mức độ thị trường hoá trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân và việc phân tích sự chuyển biến dần dần của chỉ số này, hoặc của một nhóm các chỉ số cho phép nhìn nhận chính xác hơn về xu hướng thay đổi chung của vai trò nhà nước cũng như về những thành trì chính của nó trong nền kinh tế quốc dân. Các phương pháp khác nhau dùng để xác định mức độ thị trường hoá ở Trung Quốc đưa lại những kết quả rất khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ những nghiên cứu gần đây, như ”Báo cáo về sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc – 2003” của Viện Nghiên cứu kinh tế và quản lý các nguồn lực thuộc Trường đại học sư phạm Bắc Kinh thực hiện, đã xác định mức độ này tính theo 33 chỉ số là 69%, và Trung Quốc nói chung được đánh giá là ”nước có nền kinh tế thị trường đang phát triển”. Mặc dù có những khác biệt trong các phương pháp tính toán, và trong các đánh giá cụ thể về mức độ thị trường hoá ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc thống nhất cho rằng mức độ thị trường hoá nêu trên ở CHND Trung Hoa hiện thấp hơn khá nhiều so với các nước và các khu vực phát triển, nhưng cao hơn so với ở các nước đang phát triển cơ bản và tương ứng với mức thị trường hoá trung bình của các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BÀN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Khi mọi người đang thảo luận sôi nổi vấn đề xây dựng đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường, trước hết cần nghĩ tới việc đánh giá về kinh tế thị trường có một tiền dề giá trị hoặc tiêu chuẩn đạo đức. Vì nếu không tìm hiểu tiền đề đó thì không có cách nào phân biệt được cái lợi, cái hại của chế độ kinh tế, cũng không thể đưa ra một quan niệm giá trị hoặc quan niệm đạo đức thích ứng với chế độ kinh tế. Bài viết này trình bày bắt đầu từ việc tìm hiểu thuộc tính bản chất của luân lý kinh tế trong thị trường.

I. Kinh tế thị trường là một phương thức hoạt động kinh tế do loài người tạo ra để giải quyết vấn đề sinh tồn và phát triển. Thị trường là một cơ chế phù hợp với lợi ích, còn trao đổi là một quá trình tổ hợp các lợi ích. A. Smith, nhân vật đại diện cho phái kinh tế học cổ điển khi ca ngợi về cơ chế trao đổi thị trường, đã yêu cầu mọi người tiến hành hoạt động tuân theo những qui tắc sau đây: một là, sản xuất để thu được lợi nhuận; hai là, căn cứ tình hình nhu cầu của xã hội – do quan hệ cung cầu hàng hoá phán ánh – để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu chứ không phải căn cứ vào truyền thống, tập tục hoặc mệnh lệnh hành chính; ba là, đua nhau sản xuất hàng hoá được xem là có lợi, đồng thời ra sức cải tiến công cụ, kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất. Căn cứ vào những quy tắc trên, người sản xuất chỉ sản xuất để thu được giá trị trao đổi hoặc lợi nhuận, còn tác dụng chủ đạo của thị trường đối với hoạt động kinh tế mới có thể đưa lợi ích trở thành nguyên tắc tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh tế thị trường. Trong quá trình sản xuất của xã hội, mọi người không ngừng tăng thêm tích lũy, mở rộng sản xuất và thị trường, kích thích tiêu dùng. Cầu lợi, cạnh tranh, trao đổi, không ngừng mở rộng sản xuất và tích lũy, khai thác và mở rộng thị trường, kích thích tiêu dùng v.v.. mới là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh tế thị trường của mọi người. Bất cứ ai khi bước vào hoạt động kinh tế thị trường nếu vi pnạm những quy tắc đó đều có thể dẫn tới thất bại. Sự thực, bản chất của luân lý trong kinh tế thị trường chính là ở chỗ đó.
1. Luân lý của kinh tế thị trường
a) Tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền lợi nhất định đối với một loại vật phẩm kinh tế nào đó mà mọi người có, như quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền thu lợi v.v… Những quyền đó đòi hỏi phải có sự tôn trọng và bảo vệ để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội. Không có người độc lập chiếm hữu quyền tài sản thì không có kinh tế thị trường, nếu có tự do quyết định của chủ thể kinh tế, thì không thể khiến cho sự ích kỷ trở thành động lực căn bản thúc đẩy mọi người hoạt động kinh tế và cũng không thể có cạnh tranh trục lợi giữa các chủ thể kinh tế.
b) Theo đuổi hiệu quả.
Kinh tế thị trường là kinh tế hiệu quả. Do tính chất của nó, kinh tế thị trường thúc đẩy tính tự do, ích kỷ, trao đổi, cạnh tranh, phân công lao động xã hội. Do hành vi ích kỷ của chủ thể kinh tế, áp lực của cạnh tranh thị trường, nên hiệu quả sản xuất và phân phối bố trí tài nguyên mới được nâng cao, và do tồn tại sự trao đổi, nên mọi chủ thể kinh tế đều có thể được đặt đúng vị trí theo khả năng và nhu cầu của mình. Đồng thời trao đổi lại là sức mạnh quan trọng thúc đẩy sự phân công phát triển. Dưới áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, phân công xã hội ngày càng tỷ mỷ, trình độ chuyên môn ngày càng cao, từ đó năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên. Vì thế, kinh tế quốc dân được phát triển bền vững, nhanh chóng, sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, mức sống của dân cư không ngừng được nâng cao.
c) Kinh tế tự do
Tính chất của kinh tế thị trường đã trao cho chủ thể môi trường kinh tế tự do. Kinh tế tự do là điều kiện luân lý cơ bản cho trật tự kinh tế thị trường tồn tại. Nó chủ trương thông qua việc quy định quyền lợi và nghĩa vụ kinh tế thông thường, trao cho các chủ thể trong đời sống kinh tế xã hội tiến hành độc lập quyết sách và quyết định giá cả. Ngoài ra, việc phân phối, bố trí tài nguyên sức lao động của thị trường và người lao động tự do, cũng được hình thành kết cấu sắp xếp hợp lý nhất, có lợi cho việc phát triển cá tính của người lao động, cũng như việc phát huy tối đa tài năng của con người.
d) Bình đẳng kinh tế trong kinh tế thị trường cũng do tính chất của bản thân kinh tế thị trường quyết định, tức tính chất: tự do, trao đổi, cạnh tranh, khế ước hợp đồng của kinh tế thị trường đã quyết định sự bình đẳng về địa vị kinh tế cơ bản của chủ thể thị trường.
Giá cả bình đẳng đã cho phép các chủ thể kinh tế tiến hành trao đổi, cạnh tranh thị trường và ký kết khế ước. Vì chỉ có như vậy, chủ thể kinh tế trong thị trường mới không bị phân biệt; mới có thể tham gia thị trường với tư cách bình đẳng, mới có thể thực thi giao dịch, cạnh tranh công bằng.
e) Quan niệm khế ước
Kinh tế thị trường là kinh tế khế ước. Tính khế ước của kinh tế thị trường, tất nhiên đòi hỏi luân lý của thị trường phải nhấn mạnh khế ước, khuyến khích việc khế ước hoá trong giao dịch, xây dựng quan niệm khế ước. Song song với việc đó là luân lý của kinh tế thị trường phải xây dựng rộng rãi quan niệm khế ước, thúc đẩy việc khế ước hoá phổ biến trong giao dịch thị trường. Ngoài ra, còn có tính công bằng trong kinh tế và tính đạo đức trong chế độ v.v..
2. Luân lý về kinh tế cá thể của kinh tế thị trường
a) Tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản
Tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản là do tính chất của kinh tế thị trường quyết định, nó là sự quy định hành vi cá thể của luân lý kinh tế, cũng là nguyên tắc tiêu chuẩn để mọi người tiến hành các hoạt động xã hội. Quan niệm luân lý về tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản đó được mọi người cá nhân hoá và thực hiện, để hình thành đạo đức luân lý mà mọi người phải tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản.
b) Cùng có lợi
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế lấy quan hệ trao đổi làm chủ yếu. Về bề ngoài, quan hệ trao đổi là sự trao đổi giữa hàng hóa với hàng hóa, nhưng thực chất đó mối quan hệ xã hội giữa con người với nhau, mà cái cốt lõi trong đó là chuyển nhượng quyền sở hữu, tức trao dổi bình đẳng quan hệ quyền tài sản.
c)Chủ nghĩa duy lý
Chủ nghĩa duy lý là cốt lõi của kinh tế thị trường, quy định hành vi và là kim chỉ nam hành động của cá thể kinh tế. Chủ nghĩa duy lý biểu hiện ở: một mặt, chủ thể kinh tế tuân theo yêu cầu của quy luật kinh tế (như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật quyền sở hữu sản xuất hàng hoá, quy luật cạnh tranh, quy luật tích luỹ vốn v.v..) tiến hành đầu tư, sản xuất, kinh doanh một cách hợp lý, theo đuổi lợi ích; mặt khác, chủ thể kinh tế có thể nhận rõ một cách biện chứng mối quan hệ mật thiết giữa lợi ích của mình với lợi ích của người khác, từ đó làm cho chủ thể kinh tế tự giác thực hiện cùng có lợi trong hoạt động kinh tế.
d) Chủ nghĩa cá nhân
Một là, vì lợi ích của chủ thể kinh tế thị trường hoặc của cá nhân kinh tế. Từ đó có thể dẫn đến một cuộc cách mạng hoặc tiến bộ nào đó về đạo đức, tức về mặt đạo đức thực hiện sự chuyển biến căn bản từ chỗ phủ định đến khẳng định tính hợp lý chính đáng lợi ích cá nhân, điều đó có lợi cho việc khơi dậy tinh thần tiến thủ của mọi người và thức đẩy kinh tế phát triển. Hai là, vì sự tự do của chủ thể kinh tế thị trường hoặc của cá nhân kinh tế. Theo nghĩa thông thường, đó là xác nhận tự do cá nhân hoặc là cá nhân có quyền tự chủ, tự quyết. Rõ ràng, bản thân điều đó có nghĩa là bước tiến bộ về đạo đức, tức có nghĩa là phủ định ”sự phụ thuộc vào nhân thân”, ”phục tùng đẳng cấp”, có nghĩa là nó còn có thể thúc đẩy phát triển tính chủ thể của cá nhân, cá tính và hình thành nhân cách độc lập của cá nhân, có lợi cho mọi người sống theo ý nguyện của mình.
e) Tín nhiệm và chữ tín
Trong hoạt động kinh tế, tín nhiệm có vai trò rất quan trọng, nó thâm nhập vào mọi hoạt động kinh tế, là chất xúc tác sản sinh các quan hệ kinh tế. Trong hoạt động kinh tế xã hội, giao dịch thị trường ngày càng mở rộng như hiện nay, nếu không có sự tín nhiệm ở mức độ nhất định thì hoạt động kinh tế không thể thực hiện được. Ngoài ra còn phải cần cù, tôn trọng nghề nghiệp, phát minh sáng tạo mới v.v..
Tóm lại, luân lý kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường là yêu cầu của việc phát triển kinh tế thị trường, nó có tính hai mặt. Về mặt xây dựng đạo đức, nó là một con dao hai lưỡi. Vì thế, hạn chế những ảnh hưởng xấu của nó như thế nào, không chỉ là một lý tưởng đạo đức, mà còn là vấn đề bức thiết trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức ngày nay.

II. Hoạt động kinh tế thị trường là hoạt động vật chất của mọi người, đồng thời cũng là một hoạt động văn hoá mưu cầu lợi ích tối đa. Sau khi khảo sát nguyên tắc chung của luân lý kinh tế thị trường trong điều kiện kinh tế thị trường XHCN vẫn tồn tại và có tác dụng cơ bản đối với việc xây dựng văn minh vật chất, dưới đây thử xem xét sự tồn tại về văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường XHCN, và chúng cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn minh tinh thần của toàn xã hội.
Nguyên tắc thông hành trong kinh tế thị trường là nguyên tắc tự chủ trong “tự thiết kế, tự lựa chọn, tự chịu lỗ lãi”. Nguyên tắc đó đã khiến cho tính tích cực, sáng tạo và tính độc lập tự chủ của đông đảo quần chúng nhân dân được phát huy mạnh mẽ, là động lực cho phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và toàn bộ công cuộc xây dựng văn minh tinh thần. Tuy nhiên, nó cũng có thể làm cho mọi người dễ dàng nẩy sinh tư tưởng chủ nghĩa tự tôn, chủ nghĩa bản vị, thậm chí chủ nghĩa vô chính phủ, xem thường kỷ luật của đảng, pháp luật của nhà nước, làm lu mờ quan niệm toàn cục và tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, khiến cho khuynh hướng giá trị của mọi người hướng tới chủ nghĩa cá nhân. Phải thấy được việc phổ biến và bành trướng của chủ nghĩa cá nhân hiện nay là nguyên nhân chủ yếu làm mất đi những chuẩn mực về đạo đức trong một số lĩnh vực của xã hội, do đó cản trở việc xây dựng văn minh tinh thần.
Điều mà kinh tế thị trường theo đuổi là nguyên tắc hướng tới cái lợi không chỉ “lợi lớn làm lớn, lợi nhỏ làm nhỏ, không có lợi không làm”, mà còn là theo đuổi lợi ích tối đa. Nguyên tắc hướng tới cái lợi đã làm cho tinh thần phải thiết thực, cụ thể, quan niệm hiệu quả thực tế và thái độ thực sự cầu thị của mọi người phải mạnh mẽ hơn, chú trọng nhiều đến hiệu quả coi trọng hiệu suất, làm thực sự, không hình thức. Nhưng, nó lại làm cho người ta trọng lợi khinh nghĩa”, chí cầu có lợi, coi tiền là tất cả dẫn đến chủ nghĩa sùng bái đồng tiền, làm cho tiêu chuẩn giá trị của mọi người bị tiền tệ hoá.
Điều mà kinh tế thị trường theo đuổi còn là nguyên tắc cạnh tranh “đua mạnh hiếu thắng, tốt thì giữ lại, xấu thì loại bỏ, ý chí kiên cường tiến thủ”. Ý thức cạnh tranh – do nguyên tắc cạnh tranh của kinh tế thị truởng tạo nên – là ý thức có ý nghĩa tiến bộ nhất của xã hội hiện đại hoá. Nhưng tính bài xích của mực tiêu cạnh tranh và tính đa dạng của thủ đoạn cạnh tranh, cũng có thể khiến cho một số người vì muốn chiến thắng đối thủ mà dùng mọi thủ đoạn để đầu cơ dựa thế leo lên, chạy theo danh vọng, dối trá, lừa gạt, khiến cho khuynh hướng giá trị của con người bị chủ nghĩa thực dụng hoá.
Điều mà kinh tế thị trường theo đuổi là nguyên tắc ngang giá trao đổi ngang giá, có và không có trao đổi với nhau, bảo đảm chắc chắn uy tín và danh dự. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi người làm việc phải công bằng, chính trực, bình đẳng với nhau, giúp nhau cùng có lợi, nhiệt tình phục vụ, loại bỏ quan niệm sang hèn về đẳng cấp và tư tưởng đặc quyền, làm cho ý thức công dân và quan niệm bình đẳng trong mục tiêu giá trị của mọi người được nâng cao. Nhưng nguyên tắc ngang giá cũng có thể làm cho mọi người đem phép tắc trao đổi hàng hoá thâm nhập vào sinh hoạt trong đảng và hoạt động công vụ của chính quyền, làm phai nhạt tình cảm đồng chí, lập trường tính đảng, nguyên tắc tổ chức, thậm chí tinh thần trách nhiệm trong công tác, khiến cho việc thực hiện giá trị của mọi người bị “con buôn” hoá, dung tục hoá.
“Phiếm hoá” ý thức hàng hoá cũng là một vấn đề cần phải chú trọng và ngăn ngừa. Tính mù quáng của kinh tế thị trường phần nhiều có khuynh hướng dùng hình thức trao đổi của thị trường để thôn tính tất cả các hình thức quan hệ trao đổi khác; khuynh hướng đem nguyên tắc cầu lợi, nguyên tắc trao đổi, nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc tự chủ của thị trường vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm đời sống riêng tư và sinh hoạt công cộng, như gia đình, chính trị, văn hoá, giáo dục v.v… Khuynh hướng đem giá trị của cuộc sống, chức vụ của chính quyền, thậm chí toàn bộ hoạt động sinh mệnh của con người, lương tâm tôn nghiêm của con người v.v.. biến thành hàng hoá có thể yết giá mua bán, dẫn dến một loạt hiện tượng hủ bại và hành vi xấu xa như mua quan, bán chức…
Những ảnh hưởng tiêu cực và khiếm khuyết của nguyên tắc kinh tế thị trường vốn có trong chính bản thân thị trường. Điều kiện sản xuất hàng hoá TBCN đã khuếvh đại những ảnh hưởng tiêu cực và khiếm khuyết của thị trường thành hiện tượng phổ biến trong xã hội tư bản. Từ khi Trung Quốc chuyển đổi sang thể chế kinh tế thị trường đến nay, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và hoàn toàn đi ngược lại với bản chất của CNXN.

III. Kinh tế thị trường là kinh tế lý tính, đồng thời nó cũng cần một lý tưởng đạo đức. Lệch lạc lý tưởng, sự vận động của xã hội sẽ có thể mất phương huớng. Một xã hội mất đi trụ cột tinh thần thì có thể dẫn đến sự mơ hồ về lý tưởng, mất đi nhân tính. Trên thực tế, trong quá trình lịch sử lâu đài, mỗi một dịp xã hội thay đổi từ cũ sang mới, đều là lúc xây dựng lại lý tưởng đạo đức. Xây dựng lại đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường, không phải đơn giản từ bỏ lý tưởng đạo đức truyền thống, nó bao gồm việc chia tách, phân tích, tiếp thu có chọn lọc và tái tạo truyền thống. Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng lại lý tưởng đạo đức cũng sẽ tất yếu phải trả lời hai vấn đề cơ bản: một là, thái độ đối với truyền thống lịch sử của mình như thế nào; hai là, thái độ đối với quan niệm luân lý nội sinh của kinh tế thị trường ra sao. Vấn đề trước là giải quyết mối quan hệ giữa lịch sử và hiện đại theo chiều dọc, vấn đề sau là trả lời vấn đề dòng chính và dòng phụ về chiều ngang. Trọng tâm của bài này là thảo luận vấn đề thứ hai. Theo khảo sát và phâh tích ở trên, cần phải chú ý mấy mặt sau:
1. Tiến hành hạn định cần thiết đối luân lý kinh tế, đồng thời phải làm cho nó có lực đàn hồi và sức dãn cần thiết
Luân lý kinh tế trong đời sống xã hội của công chúng, tác dụng trực quan của nó là ở chỗ dùng đạo đức để quy định hành vi của cá thể, khiến cho xã hội có trật tư, phát triển hài hoà. Theo quan niệm đó, phải tiến hành hạn định đối với luân lý kinh tế, loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực. Nhưng việc chủ thể hoá và đa nguyên hoá của kinh tế thị trường chắc chắn đòi hỏi sự hạn định dó phải từ góc độ rộng hơn, toàn diện hơn để bảo đảm cho việc lựa chọn đạo đức của các cá thể Cũng chính là đằng sau những phạm trù luân lý kinh tế dó, “giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cạnh tranh và hợp tác, giữa hiệu quả và công bằng” phải xác định những cái nào cần được quảng bá, những cái nào cần làm, những cái nào được phép tồn tại, những cái nào không được tồn tại. Giữa các luân lý trong cùng một phạm trù cần phải giữ được lực đàn hồi và sức dân nhất định, để cho các cá thể căn cứ vào tình huống, mức độ tiến hành, phương thức, phương pháp của mình mà lựa chọn. Lực dãn đó là cái quan trọng bảo đảm và thể hiện tính dân chủ của luân lý. Lực đàn hồi và lực dãn giữa hai cái đó càng nhỏ, thì càng bị người khác ước thúc, bản chất của luân lý kinh tế biểu hiện càng không đầy đủ. Đương nhiên, chúng ta kỳ vọng mỗi một thảnh viên xã hội đều trở thành những nhân vật ưu tú, nhưng trên thực tế cũng không dễ dàng. Mặt khác, lý tính đạo đức của thanh niên hiện nay đa biểu hiện tính đàn hồi sung mãn. Bản thân mục tiêu giáo dục phải hàm chứa mảnh đất đầy, đủ cho cá nhân lựa chọn. Mục tiêu vạch rõ phương hướng và yêu cầu cơ bản. trong phương hướng và yêu cầu cơ bản, cá thể phải căn cứ vào niềm tin đạo đức và trình độ của mình để chọn lựa. Mở rộng lực dãn đó, không phải là từ bỏ giáo dục đạo đức, mà là chuyển trọng điểm của giáo dục từ chỗ chỉ cho mọi người “làm gì” sang việc dẫn dắt mọi người nhận thức ”vì sao” và “lựa chọn như thế nào”, để nâng cao tính tụ ước thúc và năng lực lựa chọn của đối tượng giáo dục.
2 Giáo dục đạo đức luân lý kinh tế, phải lấy việc nâng cao sức phản tỉnh và sức sáng tạo của bản thân giáo dục đạo đức làm tiền đề
Luân lý kinh tế thị trường đối với việc giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng. Trong giáo dục đạo đức, phải xác định rõ những cái nào cần được quảng bá, những cái nào cần làm, những cái nào được phép tồn tại, những cái nào không được tồn tại, bất luận đối với xã hội hay đối với cá nhân đều rất quan trọng. Đối với xã hội, nó đã thích ứng với sự chuyển biến của đạo đức từ nhất nguyên hoá sang đa nguyên hoá; đối với cá thể, nó thúc đẩy lý tính của mọi người, trong luân lý đạo đức từ kiểu tiếp nhận sang kiểu đánh giá, chọn lựa. Song, thực sự làm được điều này rất khó. Vì, một mặt, kinh tế xã hội ngày càng mở rộng, việc cải tạo và tổ chức lại thể chế kinh tế, có thể làm cho chúng ta đứng trước nhiều vấn đề mới; mặt khác, đồng thời với việc đi sâu cải cách mở cửa, ngày càng nhiều quan rừệm đạo đức của Phương Tây cùng với KHKT xâm nhập Trung Quốc. Quá trình đó cũng sẽ đòi hỏi các cá thể xã hội và bản thân đạo đức phải có sức phản tỉnh và sức sáng tạo. Sức phản tỉnh và sức sáng tạo đó vừa là yêu cầu khách quan của sự biến đổi xã hội, vừa là động lực nội tại của tiến bộ đạo đức.
Từ khi tiến hành kinh tế thị trường đến nay, sở dĩ niềm tin vào đạo đức bị xói mòn là do việc giáo dục đạo đức thiểu năng lực đổi mới. Trong điều kiện kinh tế kế hoạch, quy phạm đạo đức tương đối đơn nhất, đối với năng lực đổi mới đó không có yêu cầu. Còn trong điều kiện kinh tế thị trường thì khác, bất cứ một nội dung giáo dục đạo đức đặc biệt nào cũng đều phải chấp nhận sự kiểm nghiệm của thực tiễn; bất cứ một thứ luân lý đạo đức nào muốn con người ta lấy làm lẽ sống của mình đều phải có sức thuyết phục. Chỉ có cầu sinh tồn trong đối thoại đạo đức, cầu đổi mới trong việc theo đuổi sự phát triển của thời đại, mới có thể giữ được quyền uy của giáo dục đạo đức. Do đó, dám chấp nhận sự hoài nghi và phê phán của đối tượng giáo dục, đối mặt với những thách thức của tinh thần luân lý trong kinh tế thị trường, mới có thể tăng cường sức cảm hoá hiện thực của giáo dục đạo đức. Nếu không, mục tiêu và lý tưởng đạo đức có tốt đến mấy cũng chỉ là lý luận suông.
3. Thiết thực nâng cao hiệu qnả của giáo dục đạo đức, hoàn thành việc chuyển hoá giáo dục đạo đức
Sự vận hành của kinh tế thị trường làm nảy sinh những thách thức nghiêm trọng đối với việc chỉnh hợp luân lý kinh tế và giáo dục đạo đức song nó cũng cung cấp một cơ hội phát triển đầy đủ. Muốn nắm bắt được cơ hội đó, đối với việc giáo dục đạo đức trong các trường học hiện nay, phải từng bước thực hiện sự chuyển hoá trong giáo dục đạo đức:
Một là, từ thuyết giáo luân lý chuyển hoá rèn luyện đạo đức. Tất cả quan điểm trong môn học luân lý đạo đức đều là thế giới quan mà quan niệm tự nhiên, quan niệm lịch sử xã hội và quan niệm nhân sinh biểu hiện ra, phải biến nó thành những giá trị chuẩn mực về đạo đức trong lòng học sinh, hình thành niềm tin vững chắc;
Hai là, từ giáo dục quy phạm chuyển hoá sang giáo dục tố chất. Nếu nói giáo dục quy phạm chú trọng giáo dục về hành vi tập quán, thì giáo dục tố chất lại là giáo dục về phương pháp tư tưởng. Điều đó chỉ ra cho mọi người thấy là phải làm gì và làm như thế nào, từ đó khiến cho họ chấp hành quy phạm một cách tự giác hơn;
Ba là, về phương thức giáo dục đạo đức, phải từng bước chuyển dần việc giáo dục lấy giáo viên là chính, trên lớp là chính sang hướng tự giáo dục lấy học sinh là chính, thẩm thấu là chính. Việc giáo dục đạo đức truyền thống lấy sách vở, lên lớp là hình thức chủ yếu, giới hạn trong đạo đức trừu tượng, về khách quan mà nói, rất dễ làm cho tâm tư tình cảm của đối tượng giáo dục bị ngược hướng, từ đó khó có thể đạt được hiệu quả. Việc giáo dục thông qua các hình thức sinh động gắn giáo dục vào việc quản lý, phục vụ và sinh hoạt của học sinh, chú ý đến tính chủ động và tính tự giác của học sinh, từ đó nhất định sẽ thu được hiệu quả giáo dục lớn hơn.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – Theo Lý Hy Thu (Trung Quốc), Thông tin những vấn đề lý luận số 23,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 12/2004

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG HIỆU

NGUYỄN THANH HƯƠNG

Cùng với xu thế toàn cầu hóa, VN đã gia nhập APEC và tổ chức thương mại thế giới (WTO). Qua hội nhập, nhiều vấn đề kinh tế nẩy sinh, đòi hỏi phải nghiên cứu giải quyết, trong đó nhượng quyền thương hiệu (NQTH) là một hoạt động thương mại hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở VN. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến NQTH dưới góc độ nhìn nhận các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.

1. Nhượng quyền thương hiệu – sự cần thiết khách quan

NQTH là một phát triển tất yếu và là yêu cầu của kinh tế thị trường. Mô hình này đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Theo quan điểm của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế (The International Franchise Association): “Nhượng quyền kinh doanh là mối quan hệ được xác lập trên cơ sở hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền liên quan tới các khía cạnh như bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới thương hiệu, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”.

Sau hội nhập, VN phải mở cửa cho các nước thành viên được giao dịch thương mại tại đất nước mình và phải thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO. Mô hình kinh doanh NQTH là một trong những dự báo được nhiều thương hiệu nổi tiếng trên thế giới quan tâm và có kế hoạch phát triển tại VN, đây là một khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt.

Là một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng cao suốt 5 năm năm qua, GDP bình quân 7,5%/năm, không có xung đột về tôn giáo, chính trị; một thị trường tiềm năng với dân số 84 triệu người, trong đó 70% số dân độ tuổi dưới 30, đa số thích mua sắm, tiêu dùng. Theo khảo sát của Tổng cục thống kê gần đây trong lĩnh vực tiêu dùng cho thấy, có 90% người tiêu dùng quyết định mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thông qua thương hiệu và theo số liệu của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới – WFC, năm 2006 VN được xếp là thị trường bán lẻ đứng thứ ba thế giới với sức mua khoảng 21 tỷ USD, có trên 70 hệ thống nhượng quyền đang họat động với tốc độ tăng trưởng mỗi năm khoảng 15 – 20%. Đây là xu hướng và cũng là cơ hội cho những DNVVN muốn thử sức bằng các hình thức nhượng quyền.

Những năm gần đây, hình thức “NQTH” không còn xa lạ và trở thành vấn đề gây chú ý đối với các DNVVN ở VN. Nhìn một cách tổng quan, hoạt động nhượng quyền tại VN đã khởi sắc, hứa hẹn một thị trường đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh các thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng như Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô, Vissan…đã xuất hiện các thương hiệu mới như thời trang Foci, Nino Max, chuỗi cửa hàng G7, Nước mía siêu

sạch…Ngoài những thương hiệu trong nước, các thương hiệu nổi tiếng ở nước ngoài cũng tham gia thị trường nhượng quyền tại VN như KFC, Lotteria, Jollibee đã chuyển nhượng thành công tại TP.HCM và Hà Nội. Đặc biệt sau hội nhập, NQTH đang nóng lên từng ngày, nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như Mc Donald’s, cà phê Starbucks, cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven, tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Mỹ – WalMart… đang có kế hoạch xâm nhập thị trường VN.

VN đang trong giai đoạn khởi động lĩnh vực NQTH nên tiềm năng phát triển trong lĩnh vực này còn rất lớn và chắc chắn sẽ tăng trưởng mạnh trong vài năm tới.

2. Các hình thức nhượng quyền thương hiệu

Trong thực tiễn, mô hình nhượng quyền là một mô hình kinh doanh có rất nhiều cách thức. Song, nếu chỉ căn cứ vào tính chất, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, xét về cơ bản , có các hình thức sau đây:

° Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit franchising)

Hình thức nhượng quyền này

được áp dụng khi bên nhượng quyền và bên nhận quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền. Hình thức này thường không được ưu tiên lựa chọn áp dụng nếu như bên nhượng quyền và bên nhận quyền là những chủ thể kinh doanh ở tại những quốc gia khác nhau, có ngôn ngữ, văn hoá, hệ thống pháp luật, chính sách thương mại khác nhau. Trong những trường hợp như vậy, các bên có thể lựa chọn hình thức nhượng quyền khởi phát được trình bày ở phần sau.

° Nhượng quyền mở rộng

(Franchise developer agreement)

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHƯỢNG QUYỀN TẠI VN

Thực chất của hình thức này là bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền trách nhiệm mở rộng và điều hành một số lượng đơn vị kinh doanh theo đúng thỏa thuận trong phạm vi một lãnh thổ nhất định và không được nhượng quyền cho bên thứ ba. Bên nhận quyền sẽ thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch đã được bên nhượng quyền định trước. Mỗi đơn vị kinh doanh do bên nhận quyền thiết lập đều không có tư cách pháp nhân và hạch toán phụ thuộc vào bên nhận quyền.

° Nhượng quyền khởi phát (Nhượng quyền phụ – Master franchise)

Nhượng quyền khởi phát là nhượng quyền thương mại mang tính quốc tế. Nghĩa là, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau. Bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền, tiến hành kinh doanh theo theo hệ thống các phương thức, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền và bên nhận quyền được phép nhượng quyền cho các bên thứ ba Điều này sẽ góp phần khai thác một cách triệt để tiềm năng kinh tế của các thị trường mới. Tuy vậy, đi đôi với nó cũng sẽ là những rủi ro rất lớn cho toàn bộ hệ thống kinh doanh.

Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mại bao gồm:

° Nhượng quyền sản xuất

(Processing franchise)

Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền những thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền ở một số khía cạnh như: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và cácdịch vụ hậu mãi.

° Nhượng quyền dịch vụ

(Service franchise)

Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền trong các lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng…..Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một (hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng, Bên nhận quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hình hình và với thương hiệu của bên nhượng quyền.

° Nhượng quyền phân phối

(Distribution franchise)

Trong nhượng quyền phân phối, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vực như phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY, LO’REAL…) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, xe ô tô (cửa hàng phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON) Trong thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại, các doanh nghiệp có thể có sự lựa chọn một hình thức kết hợp của các hình thức nhượng quyền đã nêu trên, phù hợp với khả năng của mình và hoàn cảnh kinh tế cũng như yêu cầu về

mặt pháp lý của mỗi quốc gia.

3. Đôi điều suy nghĩ

Củng cố và định vị thương hiệu

Để nhượng quyền thương hiệu cần phải có thương hiệu. Song, yếu tố quyết định sự thành công của một thương hiệu chính là sức sống của sản phẩm và sự công nhận của người tiêu dùng.

Như chúng ta đã biết, tư bản công nghiệp phát triển đến một mức độ nhất định nào đó sẽ dẫn đến sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp. Bởi hoạt động của tư bản công nghiệp không chỉ lợi cho nhà sản xuất mà còn thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Sự ra đời hàng loạt các hệ thống siêu thị là kết quả phát triển tất yếu của kinh tế thị trường và chính các hệ thống siêu thị, kênh phân phối sẽ là những phương tiện quảng bá hình ảnh thương hiệu đến người tiêu dùng một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Ngoài ra, xu hướng người tiêu dùng đi siêu thị mua sắm thay cho đi chợ ngày càng gia tăng – Điều đó cho thấy, mở rộng thị phần ở những nơi này là cách tốt nhất giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận thấy hình ảnh thương hiệu và so sánh được chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Hình thành, phát triển và cải thiện hệ thống đại lý, nhà phân phối chính là tạo nên sức mạnh cạnh tranh của thương hiệu, giúp thương hiệu xây dựng nền móng vững chắc và làm chủ thị trường trước khi các đối thủ nhượng quyền nước ngoài muốn vào hoạt động tại VN. Điều cần lưu ý là các doanh nghiệp phải đăng ký bảo hộ thương hiệu ngay từ khi chưa đi ra thị trường thế giới.

Hoạt động marketing

Hoạt động marketing của cả đối tác và chủ thương hiệu đều ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng đối với thương hiệu. Muốn làm tốt hoạt động này cần phải hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, thăm dò, khảo sát, thu thập ý kiến để có thể tiếp cận những phân khúc thị trường tiềm năng. Sự phân nhóm khách hàng sẽ giúp các công ty thấy đựơc sự gia tăng nhu cầu của thị trường và chú ý hơn vào những phân khúc thị trường nhỏ nhưng có triển vọng. Bên cạnh đó, để thu hút khách

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHƯỢNG QUYỀN TẠI VN

hàng mới và giữ được những khách hàng hiện có, nhân viên marketing phải cân đối ngân sách hợp lý để có thể tập trung nguồn lực vào những phân khúc khách hàng tiềm năng. Tiếp theo là xây dựng mối quan hệ vững chắc với khách hàng. Khi sản phẩm và dịch vụ đã thỏa mãn được khách hàng thì một trong những cách tạo ra sự khác biệt là thiết lập sự tác động qua lại giữa công ty và khách hàng. Điều này làm cho mối quan hệ với khách hàng bền chặt hơn, đồng thời giúp người làm marketing phân loại khách hàng của mình tốt hơn. Tạo sự thống nhất và ổn định thông qua những yếu tố nội lực là hết sức cần thiết để tác động tích cực đến khách hàng trong những phân khúc chính.

Bên cạnh đó, cần quán triệt quan điểm khách hàng là “Thượng đế”, là nguồn sống của các công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh. Để khách hàng trung thành hơn với mình, cần có những giải pháp chuyên nghiệp hơn như: cải thiện công tác marketing, bán hàng và dịch vụ. Tổ chức các cuộc họp thân mật, tạo điều kiện cho khách hàng gặp gỡ bộ phận nghiên cứu và phát triển để đóng góp ý kiến xây dựng và bày tỏ nhu cầu của mình. Tổ chức các cuộc thi thiết kế mẫu mã, bao bì nhằm có được những ý tưởng sáng tạo độc đáo, mới lạ, hấp dẫn, và bắt mắt.

Sản phẩm

Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng trong và ngoài nước; nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và nước ngoài. Để có được những sản phẩm chủ lực, độc đáo, có tính cạnh tranh cả về chất lượng lẫn giá cả, doanh nghiệp cần nâng cao trình độ đội ngũ lao động, cải tiến quy trình công nghệ cũ, tiếp cận những quy trình công nghệ mới nhằm đáp ứng được nhu cầu khách hàng, cung cấp cho thị trường cái mà khách hàng cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có.

Nguồn nhân lực

Nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp, để tồn tại lâu dài các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đào tạo, tận dụng năng lực của đội ngũ nhân viên hiện tại mà còn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ kế thừa trong tương lai. Để phát triển mô hình NQTH được thuận lợi, các đơn vị cần phải xây dựng và đào tạo chuyên sâu một đội ngũ cán bộ chủ chốt, có năng lực và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền, đủ sức quản lý và điều hành một cửa hàng nhượng quyền. Đồng thời, đào tạo tại chỗ các bộ phận trực thuộc công ty: kinh doanh, tiếp thị, quảng cáo…về kiến thức nhượng quyền. Xây dựng chính sách lương, thưởng, thăng tiến hợp lý để khuyến khích tính năng động, sáng tạo của nhân viên và giữ chân nhân tài. Thực hiện chính sách luân chuyển nhân viên qua các bộ phận khác nhau nhằm phát hiện, khai thác, tận dụng thế mạnh của nhân viên.

Đối tác nhận quyền

Cũng như bất cứ các mối quan hệ thông thường khác, quan hệ giữa người nhượng và người nhận cũng cần xây dựng và giữ gìn trong suốt thời gian hợp tác với nhau. Vì đây là mối quan hệ hai bên cùng có lợi, bên nhượng quyền cần phát huy hơn nữa trong việc hỗ trợ, giúp đỡ người nhận quyền trong việc quản lýý cũng như trong họat động kinh doanh bằng cách cử chuyên viên đã thông thạo chuyên môn, am hiểu thị trường, có kinh nghiệm quản lý cùng điều hành với người nhận quyền nhằm giúp bên nhận quyền ngày càng lớn mạnh. Bên cạnh đó phải thường xuyên thiết lập kênh thông tin liên lạc giữa hai bên, hệ thống mạng Internet giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, nhanh chóng giải quyết các trở ngại, khó khăn kịp thời, truyền đạt những thông tin liên quan cấp thiết. Tất cả những điều này đều

hướng tới một mục tiêu duy nhất là làm sao góp phần nâng cao hiệu quả của bên nhận quyền, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp cho hiện tại và cho cả tương lai.

Kiến nghị

Trở thành thành viên của WTO, sau hội nhập, VN có rất nhiều cơ hội trong việc tham gia các hoạt động tự do hóa thương mại, được hưởng các chính sách ưu đãi thuế quan như các thành viên khác, do đó cần tận dụng lợi thế này để cải tạo môi trường kinh doanh và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó xin đề xuất:

– Nhà nước cần chủ động xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp, chủ thương hiệu mở rộng cửa hàng nhượng quyền ở nước ngoài.

– Mở các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường xuất khẩu trên thế giới, giúp doanh nghiệp có thể đối phó với những biến động bất ổn về giá cả làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

– Thành lập câu lạc bộ hoặc hiệp hội Franchise VN để các doanh nghiệp, các thương nhân giao lưu, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về Franchise và quảng bá mô hình Franchise.

NQTH là một vấn đề mới nẩy sinh nên bao giờ cũng là vấn đề phức tạp. Hy vọng trong tương lai, với nền tảng vững chắc hiện có, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thực hiện thành công mô hình NQTH, nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới ª

Tài liệu tham khảo

1. Franchise – Bí quyết thành công bằng mô hình kinh doanh – TS.Lý Quý Trung – NXB trẻ 2006.

2. Mua Franchise – Cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam – TS.Lý Quý Trung – NXB trẻ

2006.

3. Luật Thương mại 2005- Công ty luật hợp danh-NXB thống kê.

4. Các hình thức nhượng quyền được trích nguồn từ “Nhượng quyền thương mại và những mối quan tâm của doanh nghiệp” – Nguyễn Thanh Hằng – VP Luật Tân Hà – HN

5. Tạp chí tin tức và sự kiện.

6. Achieving weath through franchising – Robert

T.Justis & William Slater Vincent.

7. Các tra ng web: viet namnet. com, kinhdofood

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 8/2007

HIỆP ĐỊNH VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ

Tải văn bản tại đây:

http://www.mediafire.com/?cyuzdrx1ydm