VÀI NÉT VỀ CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY THEO LUẬT CÔNG TY CỦA ÚC

THS. BÙI XUĀN HẢI   –  ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, NCS ĐH La Trobe Úc

1. Luật công ty (company law) của Úc, một quốc gia theo truyền thống thông luật, được hiểu là hệ thống các qui tắc pháp lý điều chỉnh về: (1) việc thành lập, chấm dứt hoạt động của các công ty và địa vị pháp lý của chúng; (2) mối quan hệ giữa các chủ thể -thành viên, người quản lý điều hành – trong công ty với nhau và giữa chúng với công ty; (3) một số vấn đề pháp lý của mối quan hệ giữa công ty với các đối tác bên ngoài công ty như khách hàng, chủ nợ…1. Luật công ty của Úc gồm có hai nguồn cơ bản là: (1) các văn bản pháp luật (legislations), trong đó có đạo luật công ty (the Corporations Act 2001) và các qui định về công ty (the Corporations Regulations) 2…vv; và (2) các án lệ (case law)- nguồn luật đặc trưng của các quốc gia theo truyền thống common law. Do các yếu tố lịch sử, các án lệ được coi là nguồn luật của luật công ty Úc không chỉ là án lệ của các Tòa án Úc mà còn bao gồm cả các án lệ của Tòa án nước Anh. Tuy nhiên, Đạo luật công ty

(Corporations Act 2001) được coi là có vị trí đặc biệt quan trọng, là xương sống của luật công ty Úc hiện nay.

2. Về các loại hình công ty

Việc phân loại các công ty theo luật công ty Úc chỉ có ý nghĩa chủ yếu trong việc xác định trách nhiệm của các thành viên công ty và vấn đề có hay không việc công ty huy động vốn từ công chúng qua việc phát hành cổ phiếu. Ngoài những vấn đề kể trên, hầu hết các qui định của luật thành văn (statutory law) và luật án lệ (case law) đều được áp dụng chung cho tất cả các loại hình công ty.

Theo Điều 112 (1) của Đạo luật công ty 2001, các nhà đầu tư có quyền đăng ký thành lập công ty tại Úc theo các hình thức dưới đây:

1. Công ty sở hữu chủ (proprietary company) 3. Loại công ty này gồm có hai hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares) và công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital)

2. Công ty công cộng (public company). Loại công ty này gồm có bốn hình thức sau đây: (1) Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares), (2) công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee), (3) công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital), và (4) công ty không trách nhiệm (no liability company).

2.1. Công ty công cộng và công ty sở hữu chủ

Theo luật Úc, các công ty đều được công nhận là pháp nhân (a separate legal entity), chỉ cần có ít nhất là một thành viên (có thể là thể nhân hoặc pháp nhân) và chúng phải đăng ký dưới hình thức là công ty công cộng hoặc công ty sở hữu chủ. Đạo luật công ty 2001 tuy có qui định cụ thể về các dấu hiệu pháp lý của công ty sở hữu chủ (Điều 113), nhưng không cần có các qui định trực tiếp về dấu hiệu của công ty công cộng. Theo Điều 113 (2) thì công ty sở hữu chủ không được có nhiều hơn 50 thành viên không phải là người lao động của công ty (non-employee shareholders), trong khi đó, các công ty công cộng thì không bị hạn chế số lượng thành viên. Trong thực tế, hầu hết các công ty sở hữu chủ được cơ quan thuế Úc (Australia Taxation Office) xếp vào loại kinh doanh nhỏ (small business), chúng có số lượng thành viên ít và họ thường có mối quan hệ gia đình với nhau. Về bộ máy quản lý Điều hành, nếu như công ty sở hữu chủ chỉ cần phải có ít nhất một giám đốc (director) và không bắt buộc phải có thư ký công ty (secretary), thì các công ty công cộng phải có ít nhất ba giám đốc và ít nhất một thư ký công ty 4. Hơn nữa, chỉ có công ty công cộng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, và vì thế chúng phải tuân thủ thêm một số các qui định của pháp luật công ty và chứng khoán nhằm mục đích bảo vệ các cổ đông công chúng cũng như hoạt động lành mạnh của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, cũng giống như các công ty cổ phần ở Việt nam, không phải tất cả các công ty công cộng của Úc đều có cổ phiếu niêm yết ở thị trường chứng khoán. Đến giữa năm 2003, trong tổng số trên 20 ngàn công ty công cộng, chỉ có khoảng 1400 công ty niêm yết cổ phiếu của mình tại thị trường chứng khoán mà thôi 5.

Do khác nhau về bản chất cho nên mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với các công ty sở hữu chủ được giảm nhẹ đi rất nhiều so với các công ty công cộng. Chẳng hạn, khác với công ty công cộng, các công ty sở hữu chủ thường không phải nộp báo cáo tài chính hàng năm, có thể không cần triệu tập họp đại hội đồng cổ đông thường niên, không cần phải mở cửa văn phòng công ty hàng ngày, bộ máy quản lý điều hành đơn giản hơn… Với các lợi thế của mình, mô hình công ty sở hữu chủ được coi là rất thích hợp cho qui mô kinh doanh vừa và nhỏ. Vì vậy, có tới 97% trong tổng số gần 1,3 triệu công ty (thời điểm giữa năm 2003) ở quốc gia chỉ có khoảng 20 triệu dân này là các công ty sở hữu chủ 6.

2.3. Bốn loại hình công ty theo chế độ trách nhiệm của thành viên

Việc phân loại công ty theo chế độ trách nhiệm của các thành viên cũng đã được thể hiện trong Điều 112 (1) của Đạo luật công ty 2001. Cho dù là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ thì tất cả đều phải đăng ký dưới một trong bốn hình thức công ty dưới đây (tuy nhiên nếu là công ty sở hữu chủ thì chỉ có thể là công ty TNHH (bởi) cổ phiếu hoặc công ty trách nhiệm vô hạn):

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee),

3. Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with shares capital),

4. Công ty không trách nhiệm (no-liability company)7.

a. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares)

Có thể khẳng định chắc chắn rằng, đây là loại hình công ty có vị trí tuyệt đối trong nền kinh tế Úc (với số lượng trên 1, 2 triệu, chiếm tới khoảng 98% tổng số các công ty). Công ty TNHH bởi cổ phiếu có thể đăng ký dưới hình thức là công ty công cộng hay công ty sở hữu chủ, chúng phải có vốn cổ phần, cổ phiếu của công ty được coi là tài sản riêng của mỗi thành viên và chúng được tự do chuyển nhượng. Theo qui định tại Điều 9 và Điều 516 của Đạo luật công ty 2001 thì công ty TNHH bởi cổ phiếu là công ty được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là có giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn chưa góp (nếu có) trên các cổ phiếu mà họ nắm giữ 8. Khi công ty bị mất khả năng thanh toán, các thành viên của công ty không có nghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình để trả các khoản nợ của công ty.

b. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi sự) bảo đảm (company limited by guarantee),

Mô hình công ty này đã tồn tại khá lâu ở Anh, Úc và cả ở Malaysia, Hongkong 9. Tuy nhiên, các công ty loại này chỉ chiếm khoảng 1% tổng số các công ty ở Úc. Trước đây, Úc cho đăng ký cả loại hình công ty TNHH bởi sự bảo đảm và cổ phiếu (companies limited both by shares and by guarantee), nhưng theo Đạo luật công ty 2001 thì chúng đã không còn được cho đăng ký thành lập nữa. Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, công ty TNHH bởi sự bảo đảm không có vốn cổ phần (share capital) và chỉ có thể đăng ký dưới hình thức công ty công cộng chứ không thể là công ty sở hữu chủ. Vì thế, cho dù có qui mô nhỏ, loại công ty này vẫn không được hưỡng sự ưu ái “giảm nhẹ” nghĩa vụ mà pháp luật dành cho các công ty sở hữu chủ trong sự so sánh với nghĩa vụ của các công ty công cộng.

Theo Điều 9 của Đạo luật công ty 2001, công ty TNHH bởi sự bảo đảm là công ty được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là hữu hạn trong phạm vi số vốn mà thành viên đó đã cam kết đóng góp vào tài sản của công ty khi công ty bị thanh lý (chấm dứt hoạt động). Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, các thành viên của công ty TNHH bởi sự bảo đảm không phải đóng góp vốn ngay khi công ty được thành lập và cả trong quá trình công ty đang hoạt động, cho nên công ty này không có vốn cổ phần và do vậy, rất khó khăn trong việc huy động vốn từ đó nó bị hạn chế tham gia các hoạt động kinh doanh. Chính vì lẽ đó, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh thương mại; song, chúng thích hợp cho các mục tiêu phi lợi nhuận như các trường học hay câu lạc bộ, các hội từ thiện, … mà chủ yếu hoạt động bằng nguồn vốn từ bên ngoài bởi sự đóng góp của các hoạt động mang tính xã hội10.

Khác với công ty TNHH bởi cổ phiếu, thành viên của công ty này chỉ có nghĩa vụ đóng góp tài sản (vốn) khi mà công ty bị thanh lý, chấm dứt hoạt động (winding up), tuy nhiên nghĩa vụ đóng góp của mỗi thành viên cũng chỉ là hữu hạn trong phạm vi mà họ đã cam kết bảo đảm (guarantee) mà thôi11. Bởi thế cho nên, khi công ty TNHH bởi sự bảo đảm không có khả năng trả nợ, nếu muốn thu hồi nợ, các chủ nợ của công ty cần phải làm thủ tục để yêu cầu thanh lý công ty, bởi vì chỉ bằng cách thanh lý công ty các thành viên của loại công ty này mới bị bắt buộc phải góp vốn (tài sản) cho dù chỉ là hữu hạn trong phạm vi mà họ đã cam kết vào tài sản của công ty.

c. Công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with share capital)

Chỉ có khoảng vài trăm công ty loại này ở Úc, chúng được thành lập trên nguyên tắc trách nhiệm của các thành viên là vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty12. Trước năm 1998, Úc cho đăng ký thành lập đối với cả các công ty trách nhiệm vô hạn không có vốn cổ phần, nhưng sau đó nước này chỉ cho đăng ký loại công ty này nếu chúng có vốn cổ phần (share capital) mà thôi. Công ty trách nhiệm vô hạn có thể đăng ký dưới hình thức công ty sở hữu chủ hoặc công ty công cộng.

Theo Luật công ty Úc, mặc dù tất cả các công ty đều được coi là pháp nhân, nhưng điều đó không có nghĩa là các nghĩa vụ của pháp nhân chỉ được thanh toán bằng tài sản riêng của chính nó, cũng không có nghĩa là các thành viên của pháp nhân đều được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Thế nhưng, cần phải hiểu rằng, theo luật công ty Úc, chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên công ty phải được hiểu là đối với công ty chứ không phải đối với các chủ nợ của công ty. Vì thế các chủ nợ của loại công ty này không có quyền trực tiếp khởi kiện đòi các thành viên phải thanh toán số nợ mà công ty của họ không trả được trong khi công ty đó còn đang hoạt động. Do vậy, để thu hồi nợ các chủ nợ của công ty sẽ phải tiến hành thủ tục đòi thanh lý công ty, khi tiến hành thanh lý công ty thì các nguyên tắc pháp lý về trách nhiệm vô hạn của thành viên sẽ được áp dụng, nếu

tài sản của công ty không đủ đáp ứng việc thanh toán cho các chủ nợ, thì mỗi thành viên công ty sẽ phải chịu trách nhiệm không có giới hạn về các nghĩa vụ của công ty 13. Đặc điểm này tương đối giống với chế độ trách nhiệm vô hạn của các thành viên trong hợp danh, tuy nhiên, hợp danh theo pháp luật của các bang ở Úc có một số điểm bất lợi hơn trong kinh doanh so với mô hình công ty trách nhiệm vô hạn.

Với chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên như thế, loại công ty này được cho là không thích hợp cho hoạt động kinh doanh thương mại và hoạt động kinh doanh có qui mô lớn. Một số lĩnh vực hoạt động kinh doanh mang tính nghề nghiệp đặc thù mà pháp luật yêu cầu các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn, người ta thường thành lập công ty trách nhiệm vô hạn hơn là kinh doanh theo hình thức hợp danh bởi vì họ muốn có được những lợi ích của mô hình công ty như về tư cách pháp nhân, thuế, huy động vốn … trong sự so sánh với hợp danh 14

d. Công ty không trách nhiệm (No liability company)

Đây là mô hình công ty khá đặc biệt, nó được công nhận lần đầu tiên tại bang Victoria vào năm 1871 và gắn liền với sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp khai thác mỏ ở Úc. Nói đến công ty không trách nhiệm, người Úc biết ngay đến lĩnh vực kinh doanh của nó là ngành khai thác mỏ. Theo qui định tại Điều 112 (2), Đạo luật công ty 2001, một công ty được đăng ký dưới hình thức công ty không trách nhiệm nếu như: (1)

nó có vốn cổ phần; (2) Điều lệ của công ty khẳng định rằng đối tượng duy nhất của nó là mục đích khai thác mỏ (mining purposes)15, và (3) Điều lệ của công ty không có qui định về việc công ty có quyền đòi hỏi các cổ đông phải góp đủ tiền trên các cổ phiếu mà họ chưa nộp đủ.

Để cảnh báo công chúng, pháp luật qui định ở phần cuối của tên công ty phải ghi rõ chữ no liability hay NL. Luật công ty Úc qui định loại hình công ty không trách nhiệm chỉ có thể đăng ký dưới hình thức công ty công cộng chứ không thể là công ty sở hữu chủ. Chế độ trách nhiệm của thành viên công ty không trách nhiệm chủ yếu thể hiện qua việc góp vốn cổ phần, phân chia giá trị còn lại của công ty và giới hạn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ của công ty. Khác với các loại hình công ty đã nói ở trên, sự chấp nhận góp vốn vào công ty này không tạo nên quan hệ hợp đồng giữa người cam kết góp vốn và công ty trong việc đóng góp số vốn đó hay chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công ty (Điều 254M(2) Đạo luật công ty).

Thành viên công ty không có nghĩa vụ pháp lý phải thanh toán (góp) vốn cổ phần trên cổ phiếu của họ theo yêu cầu của công ty ngay cả khi công ty đang hoạt động và kể cả khi công ty bị thanh lý. Tuy nhiên, trong thời gian mà thành viên chưa nộp đủ tiền cổ phiếu, họ sẽ không có quyền được hưởng cổ tức và nếu yêu cầu góp vốn không được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì các cổ phiếu đó sẽ bị mất quyền, khi đó công ty có thể tổ chức bán đấu giá công khai số cổ phiếu này trong thời hạn sáu tuần kể từ khi cổ phiếu đến thời hạn được thanh toán (Điều 254Q(2) ). Tuy vậy, luật vẫn cho phép người có cổ phiếu bị mất quyền được nộp tiền để chuộc lại số cổ phiếu đó bao gồm tiền cổ phiếu và các chi phí khác liên quan (Điều 254R(1)). Nếu thành viên công ty không kịp thời thanh tóan đủ tiền thì họ sẽ bị mất các lợi ích có được của các cổ phiếu đó.

Khi công ty không trách nhiệm chấm dứt hoạt động, gía trị còn lại sau khi thanh toán xong các khoản nợ của công ty sẽ được phân chia cho các cổ đông theo số lượng cổ phiếu mà họ đang nắm giữ mà không quan tâm đến số tiền mà họ đã thanh toán trên cổ phiếu, tuy nhiên những cổ phiếu mà chưa được cổ đông thanh toán đủ (nhưng chưa bị mất quyền) sẽ chưa được phân chia cho đến khi nào họ thanh toán đủ số tiền còn chưa đóng đủ (Điều 254 B (2)).

Mặc dù nhà đầu tư phải lựa chọn để đăng ký thành lập một trong số các loại công ty nói trên, nhưng trong quá trình hoạt động các công ty đều có thể làm thủ tục chuyển đổi loại hình khá dễ dàng, chẳng hạn từ một công ty sở hữu chủ thành công ty công cộng và ngược lại, cũng như từ một công ty trách nhiệm vô hạn sang công ty có chế độ TNHH (Điều 162). Tuy nhiên, các công ty chuyển đổi phải đáp ứng một số điều kiện nhất định và làm thủ tục đăng ký với văn phòng của Ủy ban chứng khoán và đđầu tư Úc (ASIC) (Điều 164). Bên cạnh sự chuyển đổi tự nguyện như trên, luật công ty Úc cũng có qui định  về việc ASIC có quyền yêu cầu một công ty sở hữu chủ buộc phải chuyển đổi thành công ty công cộng (và sau đó ASIC có thể tự quyết định việc chuyển đổi nếu công ty bị yêu cầu không thực hiện trong một thời hạn nhất định) nếu nó không còn thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc của một công ty sở hữu chủ theo Điều 113 của đạo luật công ty.16

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem H. Pamela, R. Ian & S. Geof. Commercial Applicatoin of Company Law, 5th ed, CCH Australia Limiter, Sydney, 2004, Sđd., tr. 23.

2 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd , tr. 26, 35.

3 Theo Từ điển pháp luật – Black’s Law Dictionary, do West Group xuất bản năm 2001 (tr. 565) và Oxford Advanced Learner’s Dictionary xuất bản 2000 (tr. 1017) thì có thể tạm dịch là công ty sở hữu chủ. Tuy nhiên proprietary company cũng tương đồng với private company của Anh hay close corporation trong pháp luật Hoa Kỳ. Các công ty sở hữu chủ ở Úc cũng được luật công ty chia thành hai loại: loại lớn (large proprietary company) và loại nhỏ (small proprietary company); nếu là công ty loại lớn thì sẽ phải thực hiện nhiều hơn một số nghĩa vụ so với công ty loại nhỏ (chủ yếu là về báo cáo tài chính và kiểm toán).

4 Luật công ty Úc qui định các công ty có nhiều giám đốc (directors) và vai trò của mỗi giám đốc có thể khác nhau. Thư ký công ty (secretary) không có trong thực tiễn cũng như trong luật thực định của Việt Nam. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng, thư ký công ty khác hoàn toàn với thư ký Giám đốc (Tổng giám đốc) có thể có trong các công ty ở nước ta.

5 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd , tr. 7 & 92.

6 Số liệu của Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia (Uc Securities and Investments Commission) Annual Report 2002-2003,tr . 66. Đây chỉ là số liệu thống kê các công ty, không bao gồm các chủ thể kinh doanh khác như kinh doanh cá thể (sole trader), hợp danh (partnership), liên doanh (joint venture), …vv. Trong khi đó, nước ta với dân số khoảng 82 triệu, mặc dù đã có sự tăng lên rất nhanh từ khi có Luật doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp của Việt nam cũng chỉ khoảng 150 ngàn đã phần nào phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường ở mỗi nước.

7 Ba loại công ty đầu tiên cũng là những loại hình công ty được công nhận ở trong luật công ty của nhiều nước như: Anh, Hongkong, Malaysia. Xem thêm: L.D. Paul. Gower and Davies’ Principles of Modern Company Law (7th ed), Thomson, Sweet & Maxwell, London, 2003, pp.7-9, 16; và K. Arjunan & Low. C.K. Lipton & Herzberg Understanding Company Law in Malaysia, LBC Information Services, Sydney, 1995, pp. 30-42; và K. Arjunan & Low. C.K. Lipton & Herzberg Understanding Company Law in Hongkong, LBC Information Services, Sydney, 1996, tr .29-36.

8 Australia Corporations And Securities Legislation- Vol 1, CCH Sydney, 2004.

9 H. Pamela, R. Ian & S. Geof, Sđd, tr. 92.

10 Xem L. Phillip & H. Abe, Understanding Company Law, Lawbook Co, Sydney,2004, tr. 65-66

11 Điều 517, Đạo luật công ty 2001.

12 Điều 9, Đạo luật công ty 2001.

13 L. Paul, Sđd, tr. 667.

14 S. Brendan & O. Jennifer. Law In Commerce, Butterworths, Sydney, 2001, p. 300 and L. Phillip & H. Abe, Sđd, tr. 66.

15 Mining purposes đã được định nghĩa khá cụ thể tại Điều 9 của Đạo luật công ty 2001.

16 Xem thêm điều 165 đạo luật công ty 2001.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

VÀI KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC MÔN LUẬT DÂN SỰ THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN

THS. PHẠM KIM ANH  – Khoa luật Dân sự, trường ĐH Luật TP.HCM

1. Trước những đòi hỏi bức bách của xã hội về nguồn nhân lực có trình độ cao, có đủ năng lực để giải quyết những vấn đề ngày càng phức tạp trong thực tiễn, việc đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành một tất yếu. Một trong những phương pháp dạy – học mới (song song tồn tại với các phương pháp dạy học khác như: phương pháp trắc quan, phương pháp tình huống, phương pháp thảo luận, tranh luận, phương pháp sắm vai… mà chúng tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác) được các chuyên gia giáo dục, các nhà giáo lão thành trong ngành đánh giá cao, được thực tiễn khẳng định là đã phát huy được nhiều thế mạnh trong việc đào tạo là phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, hướng vào sinh viên. Lấy việc tập trung vào hoạt động của sinh viên làm nền tảng, những nét đổi mới cơ bản của phương pháp này hướng vào hai nhân vật với một số đòi hỏi riêng trong quá trình dạy và học.

– Giáo viên: trong giờ học, người giáo viên không thuyết giảng như trước đây mà chỉ đóng vai trò là người dẫn dắt, định hướng, gợi mở vấn đề (và khi cần có thể chỉ ra cách giải quyết vấn đề khuôn mẫu). Ở đây, tùy theo từng tình huống cụ thể mà thầy cô giáo là người hướng dẫn sinh viên học tập, trao đổi với sinh viên, giải đáp những thắc mắc cuả sinh viên về những kiến thức đề cập trong bài học, hoặc là người khuyến khích sinh viên sáng tạo, tự bổ sung cho bài đã học bằng vốn tri thức tiếp thu từ các nguồn khác nhau như sách vở, báo chí, đời sống… Đối với những ý kiến, những bài viết, bài vấn đáp sáng tạo, có nhiều ý tưởng mới của sinh viên, thầy cô giáo nên đưa ra lời khen ngợi hay khuyến khích bằng cách cho điểm cao…

Sinh viên: phải là người chủ động tự học, tự chuẩn bị bài từ trước, năng động, sáng tạo trong giờ học tại lớp, biết phát huy vốn kiến thức của mình để xây dựng bài học mới; mạnh dạn nêu những thắc mắc hoặc trao đổi mở rộng bài học với thầy cô giáo, chủ động

nêu ý kiến cá nhân trong khi tìm hiểu hoặc học bài xong, biết vận dụng các vấn đề từ bài học vào những trường hợp tương tự…

Những phần việc kể trên không chỉ khiến cho sinh viên trở thành nhân vật trung tâm trong lớp học mà còn tạo cho sinh viên có cơ hội để hoàn toàn chủ động trong suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện vấn đề từ bài học thông qua sự dẫn dắt của các thầy cô giáo; từ đó sinh viên có khả năng làm chủ các kiến thức thu nhận được trong nhà trường, biết vận dụng chúng một cách linh hoạt vào cuộc sống, công tác sau này. Còn đối với các thầy cô giáo, thông qua cách dạy trên, vừa cung cấp cho sinh viên những tri thức nền tảng vừa giúp họ

có khả năng tư duy, có năng lực hành động năng động và mạnh mẽ. Theo logic này, muốn biến quá trình học tập của sinh viên thành quá trình tự tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh tri thức mới, người giáo viên phải biết tổ chức điều khiển sinh viên thực sự tham gia vào hoạt động học tập.

2. Xuất phát từ nội dung, mục tiêu và đặc trưng của môn học mà mình đảm trách, theo nhận thức trên, tại Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã mạnh dạn vận dụng phương pháp dạy – học theo hướng tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm vào môn học Luật dân sự.

Như chúng ta đã biết, môn học Luật dân sự được chia ra làm hai phần cơ bản, thời lượng giảng dạy khoảng 150 tiết. Phần chung bao gồm các qui phạm pháp luật qui định những vấn đề có tính nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ hệ thống luật dân sự như: đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, nhiệm vụ, nguyên tắc, chủ thể, khách thể của quan

hệ pháp luật dân sự, giao dịch dân sự, đại diện, thời hạn và thời hiệu… Phần riêng dựa vào tính chất của các quan hệ xã hội được điều chỉnh mà chia thành các chế định thích ứng như: chế định quyền sở hữu, chế định nghĩa vụ – hợp đồng, chế định quyền thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ. Trong từng chế định riêng nói trên lại có những qui định chung cho riêng phần đó. Trong thực tế, chúng ta đều hiểu rõ, môn học Luật dân sự được xây dựng trên cơ sở ngành luật nhưng không trùng với ngành luật này; vì vậy việc phải xây dựng chương trình môn học như thế nào, bằng cách nào, phải có phương pháp giảng dạy sao cho đúng đây là một bộ môn khoa học pháp lý (chứ không phải chỉ là giảng văn bản pháp luật) là vấn đề chúng tôi rất quan tâm.

3. Trong quá trình dạy môn học Luật dân sự ở trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tích cực, chúng tôi đã bước đầu hướng tới một số công việc cụ thể trong nhận thức và hành động dưới đây.

3.1. Chúng tôi cho rằng, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, về nguyên tắc phải có một chiến lược đồng bộ từ những vấn đề ở tầm vĩ mô đến những vấn đề cụ thể như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học… Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực chỉ là một bộ phận của chiến lược đó. Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp,

nhằm khắc phục những bất cập như: chương trình, sách giáo khoa, phương tiện dạy học,

cơ sở vật chất… chưa đáp ứng được việc đổi mới đồng bộ, chúng tôi xác định rõ phương châm của việc đổi mới phương pháp dạy học môn học Luật dân sự theo hướng trên chỉ mới đạt ở mức tạo điều kiện để sinh viên được suy nghĩ nhiều hơn, nói nhiều hơn, làm nhiều hơn, hạn chế tới tối đa việc sử dụng phương pháp dạy học truyền thống với cách dạy chủ đạo thầy giảng, sinh viên nghe và ghi chép.

Muốn đáp ứng được yêu cầu trên, trong quá trình dạy học, người giáo viên phải tạo ra được sự tác động qua lại giữa vốn kinh nghiệm đã có của sinh viên với các vấn đề pháp luật mà bài học đặt ra. Người giáo viên phải bằng mọi cách huy động và sử dụng tối đa vốn kinh nghiệm đã có của sinh viên trong việc vận dụng luật để giải thích, xử lý, đánh giá các tình huống pháp luật, phán đoán và lựa chọn những hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực pháp luật. Bên cạnh đó, người giáo viên cũng phải đưa ra được các bài tập tình huống về các vấn đề tranh chấp dân sự… để sinh viên tập giải quyết theo vốn tri thức và kinh nghiệm mà bản thân sinh viên tích lũy được trong quá trình tự nghiên cứu giáo trình luật và tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật. Cách dạy học như vậy sẽ tạo cơ hội để các em kiểm chứng, trắc nghiệm vốn hiểu biết trong quá trình tự học cũng như vốn kinh nghiệm của mình trong cuộc sống. Ở đây, tính độc lập, năng động, tự giác trong việc chiếm lĩnh tri thức mới, khắc sâu những tri thức pháp luật đã học của sinh viên sẽ có

cơ hội phát huy ở mức độ cao hơn.

3.2. Chúng tôi cũng rất chú trọng tới việc đưa ra những tình huống, những vấn đề điển hình, chứa đựng nhiều mâu thuẫn và có thể có nhiều hướng giải quyết khác nhau trong bài học trên lớp. Đây là một trong những đặc trưng chủ yếu của giờ học đổi mới theo hướng tích cực. Đặc trưng này giữ vai trò chủ đạo trong dạy học tích cực vì, theo quy luật chung, “tư duy chỉ bắt đầu khi và ở nơi xuất hiện tình huống có vấn đề”. Tình huống của những vấn đề độc đáo mà bài học đặt ra không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với việc thu hút trí tuệ, tình cảm, suy nghĩ, kích thích các em suy nghĩ, giải thích, phân tích phán đoán mà còn là cơ sở giúp các em lựa chọn được những phương án giải quyết tốt nhất, đáp ứng được yêu cầu áp dụng luật vào những tình huống tương tự trong tương lai. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, những tình huống có vấn đề được nêu trong bài học mà giáo viên chủ động lựa chọn từ trước phải là những tình huống chứa vấn đề điển hình, đòi hỏi sinh viên phải huy động toàn bộ năng lực sẵn có, phải cố gắng đạt tới một trình độ kinh nghiệm pháp luật cao mới giải quyết được chúng. Có thể nói, học và thảo luận qua những tình huống có chứa vấn đề cao là một trong những cách tốt nhất giúp sinh viên trưởng thành nhanh chóng ở nhiều mặt.

3.3. Chúng tôi còn đưa ra chủ trương và thực hiện thường xuyên việc khuyến khích sinh viên thể hiện quan điểm lập trường riêng về một vấn đề pháp luật trong giờ học. Những

quan điểm ấy phải được các em thể hiện bằng những ý kiến cụ thể, theo cách hiểu và diễn đạt riêng của mình. Vấn đề không phải ở chỗ sinh viên đồng ý hay không đồng ý, tán thành hay không tán thành, đúng hay sai mà là ở chỗ ý kiến của sinh viên phải có sự phân tích, giải thích, lập luận rõ ràng, khúc chiết, được công khai tranh luận, qua đó làm

lộ rõ được mục đích bảo vệ quan điểm lập trường riêng của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, cho

dù đây chỉ là giả định nhưng các ý kiến riêng của sinh viên vẫn phải nằm trong và phù hợp với các qui định của pháp luật. Chính sự lý giải, tranh luận giữa các ý kiến đó sẽ là

cơ sở làm cho sinh viên hiểu kỹ, hiểu sâu và lĩnh hội tốt tri thức hơn. Nếu việc làm này được tiến hành thường xuyên hơn, có kết quả tốt hơn, chúng ta sẽ tạo ra cho xã hội một lớp trí thức ngành luật kế cận vừa có bản lĩnh, có quan điểm lập trường vững vàng vừa có tinh thần dân chủ cao trong thực tiễn hoạt động pháp luật.

3.4. Để kết hợp và phát huy tối đa những điều nói trên, chúng tôi thấy không thể không duy trì, phát triển không ngừng mối quan hệ giao tiếp sư phạm thân thiện, dân chủ, bình đẳng, tự nguyện giữa giáo viên và sinh viên. Trong giờ học tích cực, giáo viên với vai trò

là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, gợi mở tạo điều kiện để học sinh bộc lộ và trao đổi ý kiến của mình, sao cho mọi ý kiến đều được đưa ra xem xét, tranh luận công khai một cách tự nhiên, cởi mở. Muốn làm được những điều trên, sinh viên phải có một bước chuẩn bị rất công phu ở nhà, phải tự nghiên cứu tài liệu và sách giáo khoa. Người giáo viên, ngoài việc giới thiệu tài liệu cho sinh viên tham khảo còn phải xây dựng được từ trước nhiều tình huống có vấn đề khác nhau buộc sinh viên phải suy nghĩ. Từ các câu trả

lời của sinh viên trên lớp, giáo viên phải tiếp tục tạo ra các tình huống mới và hướng dẫn các sinh viên tìm ra những cách khác nhau trong việc tiếp cận, giải quyết thỏa đáng các tình huống đó. Cuối cùng, trên cơ sở áp dụng những quy phạm pháp luật dân sự, giáo viên sẽ tổng hợp, chốt lại các vấn đề, làm rõ những yêu cầu cần phải đạt được của bài học. Theo đánh giá sơ bộ của chúng tôi, với phương pháp này, trước mắt chúng ta có thể giúp sinh viên hiểu bài ngay tại lớp; còn trong tương lai, tạo cho các em thói quen năng động, có đủ khả năng đóng góp ý kiến cho việc bổ sung, sửa đổi hoàn thiện pháp luật ….

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

PHẠM SI HẢI QUỲNH –  Khoa Luật Thương mại – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Trong giao kết hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có khả năng đánh giá, dự đoán các rủi ro. Nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng giúp bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm.

Ở Việt Nam, nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng bảo hiểm được biết đến rất muộn. Lần đầu tiên nó được ghi nhận trong Bộ luật hàng hải năm 1990 và tiếp đến là Bộ luật dân sự 1995 và Luật kinh doanh bảo hiểm 2000. Cho đến nay các quy định này cũng đã nảy sinh những bất cập và thực tiễn áp dụng có rất nhiều vướng mắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này để tìm ra giải pháp toàn diện nhằm giải quyết gốc rễ các bất cập hiện tại liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin lúc này là cần thiết. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp mà một bài viết không thể giải quyết hết. Trong phạm vi bài viết này, những nghiên cứu được giới hạn ở việc phân tích, làm rõ cơ sở nào đã hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin ở các nước cũng như ở Việt Nam và từ đó phác họa sơ lược giải pháp có thể cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực này ở Việt Nam.

1. Sơ lược sự hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin:

Ngay từ xa xưa, khi các hoạt động bảo hiểm, mà cụ thể là bảo hiểm hàng hải, manh nha xuất hiện, người ta đã nhận ra rằng, bản chất của hoạt động bảo hiểm chính là quan hệ chia sẻ rủi ro. Cùng nhau đối mặt và chia sẻ rủi ro – một yếu tố không thể biết trước chính xác vì mang thuộc tính ngẫu nhiên – nên khi thiết lập quan hệ bảo hiểm, các bên chỉ có thể hợp tác, trung thực, thiện chí với nhau thì quan hệ mới diễn ra tốt đẹp, đúng với bản chất “chia sẻ” của nó. Ý tưởng này được phôi thai pháp lý trong một Pháp lệnh vào năm 1369 của Genoa, Italia và được ghi nhận rõ hơn như là một nguyên tắc trong các đạo luật của Barcelona từ năm 1435 đến 14841. Sau đó, từ giữa thế kỷ 15, khi hoạt động bảo hiểm xuất hiện và lan rộng ra nhiều khu vực thương mại quan trọng khác ở Châu Âu, nguyên tắc về sự hợp tác, thiện chí, trung thực – gọi ngắn gọn là nguyên tắc thiện chí – được nhận biết đến rộng rãi hơn. Đến cuối thế kỷ 17, người ta đã ngày càng hiểu thêm rằng, quan hệ bảo hiểm mang một đặc thù: người mua và người nhận bảo hiểm không nắm giữ như nhau đối với dòng thông tin giúp đánh giá, dự đoán rủi ro. Vị thế bất cân xứng này dẫn tới hệ quả kẻ mạnh, người yếu giữa các bên của quan hệ bảo hiểm. Trước vị thế như vậy của các bên thì lúc này nguyên tắc thiện chí lại càng được quan tâm đến.

Vì thế, vào cuối thế kỷ 17, nhiều nước ở Châu Âu đã ghi nhận nguyên tắc thiện chí trong hệ thống pháp luật bảo hiểm của mình2. Kể từ cuối thế kỷ 17 đến nay, pháp luật nhiều quốc gia đã xây dựng và phát triển nguyên tắc thiện chí như là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất đối với hoạt động bảo hiểm. Trải qua sự phát triển và xây dựng tùy thuộc vào hoạt động của thị trường bảo hiểm và vào hệ thống pháp luật riêng từng nước, nguyên tắc thiện chí theo pháp luật của các nước mang nhiều khác biệt. Thế nhưng, trên thực tế, do việc xây dựng nên nguyên tắc ở các nước, đặc biệt là các nước Châu Âu, đều cùng từ xuất phát điểm không đổi thay theo thời gian, cho nên nhìn chung về bản chất, nội dung của nguyên tắc thiện chí theo pháp luật các nước là tương đối thống nhất3. Cụ thể là, nội dung cơ bản của nguyên tắc thiện chí ở các nước đều yêu cầu các bên khi giao kết hợp đồng bảo hiểm phải cung cấp cho nhau một cách tự nguyện, đầy đủ

và trung thực đối với những thông tin giúp đánh giá, dự đoán rủi ro. Ví dụ, theo pháp luật của Pháp thì: “người mua bảo hiểm phải tiết lộ chính xác, vào thời điểm hợp đồng được hình thành, tất cả các trường hợp trong kiến thức của mình và có thể ảnh hưởng tới nhận thức của người bảo hiểm về rủi ro”4. Còn luật của Anh cũng có nội dung gần tương tự:

“người mua bảo hiểm phải tiết lộ cho người bảo hiểm… mọi thông tin quan trọng được biết đến bởi người mua bảo hiểm, và người mua bảo hiểm được coi là biết đến mọi thông tin nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của mình, anh ta phải biết về thông tin đó… mọi thông tin được coi là quan trọng nếu nó ảnh hưởng tới đánh giá của một người bảo hiểm khôn ngoan trong việc định mức bảo hiểm phí, hoặc quyết định liệu có tham gia tiếp nhận [bảo hiểm] rủi ro hay không”5.

Ở Việt Nam, nguyên tắc thiện chí được ghi nhận tại Điều 395 Bộ luật dân sự (BLDS) là một trong những nguyên tắc cơ bản đối với sự hình thành nên không chỉ quan hệ bảo hiểm mà là tất cả các quan hệ hợp đồng khác. Tuy nhiên, nội dung yêu cầu cụ thể của nguyên tắc thiện chí theo Điều 395 BLDS chưa bao giờ được pháp luật làm rõ. Mặc dù vậy, riêng trong pháp luật bảo hiểm, tồn tại một nghĩa vụ mà những yêu cầu của nó mang dáng dấp gần giống những nội dung cụ thể của nguyên tắc thiện chí ở các nước. Nghĩa vụ này là nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

2. Lý giải cụ thể về hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin:

Cùng chung một ý tưởng ban đầu, pháp luật các nước cơ bản giống nhau trong lý giải cụ thể về cơ sở hình thành nên nguyên tắc thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin. Những lý giải tập trung vào hai vấn đề chính: vấn đề pháp lý và vấn đề lợi ích.

* Vấn đề pháp lý:

Trước hết, hợp đồng bảo hiểm là quan hệ chia sẻ rủi ro. Đối tượng của hợp đồng là rủi ro có thể xảy ra. Điều này thể hiện ở chỗ, những hiểu biết về rủi ro là căn cứ chủ yếu để các bên cân nhắc, tính toán lợi ích, thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình về việc có tham gia hay không tham gia hợp đồng, hoặc nếu tham gia thì ở mức độ, điều kiện như thế nào: mức phí bảo hiểm ra sao và các điều kiện bảo hiểm cụ thể là gì. Nói khác đi, nhận thức về rủi ro chính là điểm nút trong quan hệ ý chí giữa các chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm.

Là điểm nút của quan hệ nhưng rủi ro lại không phải là yếu tố định hình rõ ràng. Không giống như đối tượng của các hợp đồng thông thường khác, ví dụ hợp đồng mua bán nhà thì căn nhà có thể được các bên trực quan đánh giá qua các yếu tố cụ thể, rõ ràng như vị trí địa lý, kết cấu, hình dáng… của căn nhà, rủi ro – đối tượng của hợp đồng bảo hiểm – lại chỉ có thể được suy đoán đến một cách gián tiếp thông qua những thông tin liên quan mà mỗi bên có, ví dụ như thông tin về quy mô, tình trạng pháp lý, vị trí địa lý… của đối tượng bảo hiểm…. Tính chất không định hình rõ ràng của rủi ro tiềm ẩn một nguy cơ, theo đó, các bên rất dễ hiểu khác nhau về rủi ro. Nguy cơ này trở nên hiển hiện khi đặc thù quan hệ bảo hiểm là sự bất cân xứng về dòng thông tin giúp đánh giá và dự đoán rủi ro. Cụ thể, người mua bảo hiểm, do quen thuộc hơn với đối tượng bảo hiểm, là người nắm giữ và tiếp cận thông tin về rủi ro nhiều hơn so với người bảo hiểm. Còn người bảo hiểm biết rất ít hoặc thậm chí không có thông tin nào về rủi ro. Hiện tượng dòng thông tin không cân bằng tạo vị thế kẻ mạnh cho người mua bảo hiểm, theo đó bằng việc kiểm soát thông tin mà mình biết về rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể kiểm soát nhận thức về rủi ro của bên bảo hiểm. Trong khi đó, mặc dù người bảo hiểm có thể đối phó với thế mạnh của bên mua bảo hiểm bằng cách tự mình tiến hành điều tra, tìm hiểu về các thông tin, nhưng vì rất nhiều lý do, ví dụ như lý do về thời gian hạn chế của quá trình giao kết hợp đồng, công việc điều tra này không phải lúc nào cũng có thể toàn diện và đạt kết quả đầy đủ, chính xác. Hơn nữa, bản thân công việc điều tra, xác minh nào cũng đi liền với nó là phí tổn và thời gian. Do vậy, có thể nói rằng, dù muốn hay không, thì người bảo hiểm vẫn ở vị thế của kẻ yếu, chịu sự lệ thuộc vào chia sẻ thông tin từ phía người

mua bảo hiểm.

Có thể nói, vị thế kẻ mạnh của người mua bảo hiểm là điều kiện thuận lợi dẫn các bên tới những hiểu biết không đồng đều về một yếu tố cũng không lấy gì làm rõ ràng – yếu tố rủi ro. Rủi ro là điểm nút của quan hệ bảo hiểm, cho nên, những hiểu biết khác nhau về rủi ro tiếp đến tự nó ngăn cản thống nhất ý chí của các bên. Trong khi đó, nguyên tắc tự do ý chí – nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất chi phối mọi loại hình quan hệ hợp đồng bao gồm cả quan hệ bảo hiểm – lại đòi hỏi hợp đồng phải là sự thống nhất ý chí thật của các bên tham gia. Như vậy, giữa tồn tại đặc thù của quan hệ bảo hiểm và nguyên tắc tự do ý chí nảy sinh mâu thuẫn hoàn toàn trái ngược. Một bên mà xu hướng, hệ quả hiển hiện của nó phủ định yêu cầu của bên kia. Nhận thức về mâu thuẫn này, luật pháp các nước, nhằm đảm bảo sự tồn tại và vận hành thông suốt của nguyên tắc tự do ý chí6, đã đưa ra giải pháp là phải lập lại trật tự nắm giữ dòng thông tin nhằm kéo vị thế của các bên trong quan hệ bảo hiểm tới vị trí cân bằng hơn7. Đây chính là cơ sở cho việc áp đặt, hình thành một nghĩa vụ mà theo đó bên mua bảo hiểm, trong mọi khả năng có thể của mình, phải cung cấp cho bên bảo hiểm một cách đầy đủ và trung thực nhất những thông tin liên quan phục vụ việc dự đoán, đánh giá rủi ro. Nghĩa vụ này được gọi là nghĩa vụ thiện chí (nghĩa vụ cung cấp thông tin theo cách gọi của Việt Nam) trong giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Mặc dù về lý thuyết, hiện tượng mất cân bằng của dòng thông tin nghiêng về phía người mua bảo hiểm, thế nhưng trong thực tiễn đa dạng, không loại trừ những trường hợp thông tin nằm trong tay người bảo hiểm mà không đến được với người mua bảo hiểm. Trong những trường hợp như vậy, theo một logic tương tự, thêm vào đó, trước yêu cầu của nguyên tắc hai bên trong quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý, nên nếu như nghĩa vụ thiện chí được áp đặt lên phía người mua bảo hiểm thì cũng cần phải có nghĩa vụ này từ phía người bảo hiểm8. Vì những lý do này, nghĩa vụ thiện chí được hình thành không thuộc về riêng người mua bảo hiểm cho dù trong phần lớn trường hợp, nghĩa vụ này được thực hiện bởi chính người mua bảo hiểm.

Có thể thấy rằng, lý do pháp lý chủ yếu dẫn tới sự hình thành nên nguyên tắc thiện chí– nghĩa vụ cung cấp thông tin – ở các nước chính xuất phát từ việc phải bảo đảm sự tồn tại, vận hành của nguyên tắc tự do ý chí trước đặc thù của quan hệ bảo hiểm. Bên cạnh đó nguyên tắc bình đẳng cũng là lý do để áp đặt nghĩa vụ lên phía người bảo hiểm giống như đã áp đặt lên người mua bảo hiểm.

* Vấn đề lợi ích:

Đặc thù của quan hệ bảo hiểm là tính thiếu đối xứng của dòng thông tin. Trên thực tế, thông tin không chỉ tạo sức mạnh cho người nắm giữ nó đơn giản để kiểm soát ý chí đối tác bên kia mà xét cho cùng, mục đích, nguyên nhân và hệ quả của việc kiểm soát ý chí là tạo thiên lệch lợi ích có lợi cho bản thân bên nắm giữ thông tin. Chính vì vậy, ngoài những lý do pháp lý dẫn tới biện pháp phải thiết lập lại trật tự nắm giữ dòng thông tin trong quan hệ bảo hiểm, thì vấn đề lợi ích cũng được các nước quan tâm đến như là giải thích quan trọng cho sự hình thành biện pháp này.

Phần lớn các trường hợp, thông tin nằm trong tay người mua bảo hiểm. Thế nhưng, để quyết định được mức bảo hiểm phí là bao nhiêu, hoặc quyết định có bảo hiểm hay không, thì người bảo hiểm lại cần có đầy đủ thông tin để đánh giá, dự đoán đúng về rủi ro. Tùy theo thang bậc, mức độ của rủi ro mà người bảo hiểm sẽ đưa ra mức phí bảo hiểm cao hay thấp hoặc thậm chí không nhận bảo hiểm. Vì thế, sự nắm giữ thông tin một phía của người mua bảo hiểm đẩy người bảo hiểm vào một trong hai tình huống: nếu muốn đưa ra một quyết định bảo hiểm hợp lý và đảm bảo lợi ích chính đáng của mình, người bảo hiểm (1) phải tự mình điều tra thông tin và gánh chịu những phí tổn cho công việc điều tra cũng như chấp nhận việc điều tra có thể không toàn diện và đầy đủ; hoặc là (2) phải chịu sự lệ thuộc vào chia sẻ thông tin từ phía người mua bảo hiểm, đồng thời cũng sẽ chịu luôn nguy cơ người mua bảo hiểm không cung cấp đủ các thông tin, từ đó người bảo hiểm sẽ đánh giá thấp rủi ro và đưa ra mức bảo hiểm phí thấp tương ứng hoặc thậm chí nhận bảo hiểm vượt quá khả năng của mình. Cả hai tình huống, người bảo hiểm đều thiệt thòi. Trước thế bất lợi này, các nhà làm luật ở các nước, như một thẩm phán của Anh quốc đã nhận định9, đều xác định phải bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Để làm được điều này thì nguyên tắc thiện chí – với nội dung lập lại trật tự cân bằng của dòng thông tin – là một giải pháp rất phù hợp: khi bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin mà mình biết cho bên bảo hiểm thì một mặt, bên bảo hiểm sẽ không phải, hoặc giảm bớt, gánh chịu phí tổn điều tra; mặt khác sẽ có được những thỏa thuận phù hợp, công bằng về lợi ích. Ngược lại và tương tự, trong số ít trường hợp khi thông tin chỉ nằm trong tay người bảo hiểm, thì việc thiết lập nghĩa vụ thiện chí từ phía người bảo hiểm cũng là cần thiết để bảo vệ lợi ích của người mua bảo hiểm – là bên yếu thế hơn trong trường hợp riêng biệt này.

Như vậy, ở góc độ riêng từng quan hệ bảo hiểm cụ thể, nguyên tắc thiện chí hình thành từ mục đích bảo vệ sự công bằng, lợi ích chính đáng của các bên. Không chỉ thế, vấn đề còn được nhìn nhận từ góc độ lợi ích chung đối với hoạt động của thị trường bảo hiểm. Ở các nước, nguyên tắc thiện chí được ví von như “dầu máy bôi trơn cho bánh xe thị trường bảo hiểm”10. Thứ nhất là bởi vì, quay trở lại với công việc điều tra của người bảo hiểm, rõ ràng công việc này gây ra những phí tổn về thời gian, tiền bạc, và thậm chí đôi khi là bất khả thi đặc biệt là trong trường hợp các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng trong giới hạn thời gian ngắn. Nếu so sánh với việc người mua bảo hiểm chỉ đơn giản cung cấp các thông tin mà mình biết cho người bảo hiểm thì những phí tổn cộng với tính thiếu hiệu quả của công việc điều tra thực sự là những lãng phí không cần thiết. Vì thế, nhìn ở tổng thể thị trường bảo hiểm, có thể nói yêu cầu người mua bảo hiểm phải tự nguyện cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho người bảo hiểm có ý nghĩa một mặt giúp tiết kiệm thời gian, chống lãng phí cho toàn bộ hoạt động của thị trường bảo hiểm11, mặt khác nâng cao hiệu quả của các quyết định bảo hiểm. Thứ hai, việc hình thành nguyên tắc thiện chí có giá trị bảo vệ công bằng lợi ích giữa các bên của quan hệ bảo hiểm, theo đó cụ thể là, trên cơ sở có đầy đủ thông tin, các bên sẽ hiểu rõ như nhau về rủi ro và vì thế sẽ cùng nhau xây dựng và thỏa thuận được mức bảo hiểm phí hợp lý và công bằng12. Ở tầm vĩ mô, mức bảo hiểm phí hợp lý và công bằng là nền tảng của một thị trường bảo hiểm hoạt động lành mạnh và bền vững.

3.Việc hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam:

Nghĩa vụ cung cấp thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật bảo hiểm của Việt Nam vào năm 1990 tại Điều 204, 207 Bộ luật hàng hải (BLHH)13. Nghĩa vụ này được áp dụng riêng cho quan hệ bảo hiểm hàng hải. Vào thời điểm năm 1990, khi BLHH được ban hành, hoạt động bảo hiểm ở nước ta gần như không có. Thêm vào đó, do các hoạt động hàng hải mang tính quốc tế cao, cho nên, từ việc đã nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, các nhà dự thảo BLHH đã cố gắng đưa những nội dung của bộ luật hòa nhập và thống nhất với các nước trên thế giới. Có lẽ vì những lý do này mà nội dung quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong BLHH gần giống với nội dung của nguyên tắc thiện chí ở các nước. Cụ thể là, Điều 204 BLHH quy định: “người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc quyết định của người bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết”.

Năm 1995, hoạt động bảo hiểm ở nước ta gần như không thay đổi so với thời điểm năm 1990. Những hiểu biết kỹ càng và đầy đủ về hoạt động bảo hiểm do vậy trên thực tế là chưa có nhiều. Trong điều kiện như vậy, Bộ luật dân sự (BLDS)14 ra đời và quy định một cách chung nhất về nghĩa vụ cung cấp thông tin tại Điều 577. Nghĩa vụ theo BLDS được hiểu là áp dụng cho mọi loại hình bảo hiểm, bao gồm cả bảo hiểm hàng hải. Trong khi nghĩa vụ cung cấp thông tin trong BLHH được hình thành giống với các nước trên thế giới thì nghĩa vụ này trong BLDS lại được xây dựng theo hướng hoàn toàn khác biệt với quy định tại BLHH. Điểm khác biệt lớn nhất là ở tính tự nguyện và tính đầy đủ của nghĩa vụ. Nếu như nghĩa vụ theo BLHH xác định người mua bảo hiểm phải tự nguyện cung cấp mọi thông tin liên quan mà mình biết cho người bảo hiểm thì theo BLDS, người mua bảo hiểm chỉ cần thụ động cung cấp các thông tin mà người bảo hiểm yêu cầu: “theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm, trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”15.

Những năm 1999, hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có phần sôi động hơn so với nhiều năm trước. Đặc biệt là đã có sự tham gia của các công ty bảo hiểm nhân thọ lớn trên thế giới như AIA, Prudential, Chinfon Manulife…. Sự tham gia thị trường bảo hiểm Việt Nam của các công ty bảo hiểm giàu kinh nghiệm mang vào Việt Nam những hợp đồng mẫu và các thủ tục để xem xét ký kết hợp đồng đã làm rõ một vấn đề cần thiết được pháp luật quan tâm đúng mức, đó là nghĩa vụ cung cấp thông tin. Chính vì vậy, năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH)16 ra đời cùng với những quy định mới và chi tiết hơn về nghĩa vụ cung cấp thông tin tại các Điều 17, 18, 19. Thế nhưng, một lần nữa, giống như đã xảy ra với BLDS, quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong Luật KDBH cũng không giống xu hướng chung của hầu hết các nước trên thế

giới. Cụ thể, Điều 18.2.b của Luật KDBH có nội dung gần tương tự với Điều 577.1 BLDS. Trong khi đó, Điều 19.1 Luật KDBH lại quy định không giống với BLDS và cả BLHH, đó là quy định về một phạm vi nghĩa vụ gần như không có giới hạn của người mua bảo hiểm “bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Điểm tích cực ở Luật KDBH so với quy định của hai đạo luật trước đó là việc lần đầu tiên hệ thống pháp luật của Việt Nam quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm (Điều 19 Luật KDBH). Thế nhưng, quy định này chỉ tập trung vào việc người bảo hiểm phải giải thích, làm rõ các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm. Vì thế có thể nói, nghĩa vụ của người bảo hiểm theo Điều 19 Luật KDBH không mang bản chất là một nghĩa vụ cung cấp thông tin như của các nước trên thế giới.

Hiện nay cả ba quy định tại ba đạo luật trên đều giữ nguyên giá trị hiệu lực thi hành. Như vậy, ở nhiều quốc gia trên thế giới, cho dù có khác nhau về hệ thống pháp luật và những điều kiện cho các hoạt động bảo hiểm, nhưng vẫn có chung nội dung cơ bản của nguyên tắc thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin theo cách gọi của Việt Nam. Còn ở Việt Nam, mặc dù chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất nhưng lại có đến ba loại nghĩa vụ cung cấp thông tin cùng tồn tại.

Cho đến nay ở Việt Nam, chưa có một giải thích chính thức nào được đưa ra từ phía các nhà làm luật về việc vì sao họ xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin. Dường như, việc xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin trên thực tế đã không được thực hiện trong mối liên kết với một mục đích, lý do rõ ràng. Điều này biểu hiện ở hai khía cạnh. Trước hết, thực tiễn ban hành nên các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin cho thấy các nhà làm luật ở Việt Nam, chí ít là ở phương diện thành văn, đã không hề đề cập tới vấn đề này17. Ngay ở phương diện luật học, cho đến nay, cũng chưa có một bàn bạc chính thức nào của các nhà luật học Việt Nam về mối liên hệ nguồn gốc của nghĩa vụ cung cấp thông tin18. Ai đó có thể giải thích rằng, do hệ thống pháp luật bảo hiểm của

Việt Nam tương đối non trẻ còn ở các nước có hệ thống pháp luật bảo hiểm tồn tại và phát triển hàng trăm năm nay19 thì cơ sở lý luận của việc hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin là khá rõ ràng và không cần phải bàn cãi nhiều, cho nên vấn đề coi như là một kinh nghiệm mà các nhà làm luật nước ta đã mặc nhiên thừa nhận để xây dựng nghĩa vụ này tại Việt Nam. Thế nhưng, giải thích này lại trở nên bất hợp lý khi mà hiện nay pháp luật thực định về nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam, một là có biểu hiện không nhất quán với nhau về lý do, mục đích của nghĩa vụ; hai là có rất nhiều điểm không tương thích với cơ sở lý luận của các nước. Ở khía cạnh thứ hai này – khía cạnh pháp luật thực định – có thể kể ra hàng loạt các ví dụ. Đầu tiên, như ở trên đã đề cập, chúng ta thấy có những khác biệt cơ bản giữa quy định tại ba văn bản: BLHH, BLDS và Luật KDBH.

Từ những khác biệt căn bản này, có thể khẳng định, đã không thể có một lý do, mục đích nhất quán cho việc hình thành nên các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin. Tiếp đến về tính không tương thích với cơ sở lý luận của các nước. Hiện nay, ngoại trừ quy định tại Luật KDBH (Điều 19), các đạo luật liên quan đến pháp luật bảo hiểm khác đều không xác định nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm. Bản thân nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm theo quy định của Luật KDBH cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích các điều khoản của hợp đồng hơn là một nghĩa vụ cung cấp cho người mua bảo hiểm các thông tin liên quan đến rủi ro mà người mua bảo hiểm không biết. Cho nên, có thể nói, không tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm theo cách hiểu đúng nghĩa về nó trong hệ thống pháp luật bảo hiểm hiện hành ở Việt Nam. Điều này đi ngược lại với vấn đề mà pháp luật các nước đều quan tâm giải quyết: tự do ý chí, nguyên tắc bình đẳng và mục đích bảo vệ lợi ích cho người mua bảo hiểm. Một ví dụ nữa là, Điều 18.2.b Luật KDBH và Điều 577.1 BLDS quy định “theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm, trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”20. Quy định này xác định nghĩa vụ của người mua bảo hiểm chỉ là việc trả lời các thông tin mà người bảo hiểm yêu cầu. Thế nhưng, không phải bao giờ thông tin được yêu cầu cũng bao gồm tất cả thông tin giúp đánh giá đúng đắn rủi ro. Trong trường hợp người mua bảo hiểm nắm giữ các thông tin quan trọng nhưng không được yêu cầu cung cấp thông tin này và từ đó quyết định không chia sẻ thông tin với người bảo hiểm thì rõ ràng, người mua bảo hiểm vẫn thực hiện đúng với yêu cầu của nghĩa vụ cung cấp thông tin theo Điều 18.2.b Luật KDBH và Điều 577.1 BLDS. Trong khi đó, việc không chia sẻ thông tin của người mua bảo hiểm như vậy đã xâm phạm tự do ý chí, cũng như lợi ích của người bảo hiểm. Như thế, quy định tại hai điều luật đang dẫn đã không hề có giá trị bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Tương tự, hiện nay, các quy định tại Luật KDBH (Điều 19.2) và BLDS (Điều 577.2) chỉ cung cấp một biện pháp pháp lý để người bảo hiểm đối phó lại với những vi phạm nghĩa vụ của người mua bảo hiểm trong trường hợp duy nhất khi người mua bảo hiểm “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật…. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu người mua bảo hiểm cố ý im lặng không cung cấp một thông tin quan trọng nào đó thì người bảo hiểm sẽ không có một biện pháp pháp lý nào để đối phó lại. Trong khi đó, trước và do sự im lặng của người mua bảo hiểm, người bảo hiểm hoàn toàn có thể bị nhầm lẫn, lệch lạc trong việc đánh giá rủi ro dẫn tới bị thiệt hại lợi ích. Rõ ràng, quy định của BLDS và Luật KDBH về hậu quả pháp lý của “hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin” đã không quan tâm tới việc bảo vệ cho thích đáng và đầy đủ các trường hợp khi quyền lợi của người bảo hiểm bị xâm hại …

4. Kết luận:

Như vậy, việc tìm hiểu về cơ sở lý luận mà các nhà lập pháp Việt Nam đã dựa vào đó để cho ra đời, hình thành và xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin đã không có câu trả lời vì rằng trên thực tế, không có một tồn tại rõ ràng và nhất quán nào như vậy. Sự không rõ ràng, nhất quán của cơ sở lý luận hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin đi cùng với nó là hàng loạt các vấn đề: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc bình đẳng bị xâm phạm trong nhiều trường hợp mà không được xử lý, lợi ích chính đáng của các bên bị bỏ quên không được bảo vệ và vì thế không thiết lập được một cơ chế nền tảng cho hoạt động lành mạnh và bền vững của thị trường bảo hiểm…. Tất cả các vấn đề này đặt ra nhu cầu phải xác định lại từ đầu, một cách thống nhất và rõ ràng, những ý tưởng, mục đích, lý do làm cở sở cho việc xây dựng nên nghĩa vụ cung cấp thông tin.

Trước nhu cầu như vậy, tác giả mạnh dạn đề nghị cần phải có những thừa nhận và áp dụng tư tưởng, kinh nghiệm của các nước vào quá trình thống nhất lại các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam. Đề nghị này xuất phát bởi những lý do sau:

+ Hiện nay, pháp luật hợp đồng ở Việt Nam (Điều 395 BLDS) đã thừa nhận và khẳng định nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng như là hai nguyên tắc cơ bản và không thể xâm phạm trong quá trình hình thành hợp đồng. Yêu cầu của hai nguyên tắc này về cơ bản tương tự với các nước trên thế giới21.

+ Đặc thù bất cân xứng về dòng thông tin không chỉ xảy ra trong quan hệ bảo hiểm ở các nước trên thế giới mà cũng tồn tại không thay đổi trong quan hệ bảo hiểm xảy ra ở Việt Nam. Trước đặc thù này thì việc áp dụng và bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng tất yếu đến việc hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin ở Việt Nam giống như đã hình thành ở các nước.

+ Vấn đề bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tham gia bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay cũng cần được quan tâm giống như pháp luật các nước đã thực hiện. Về lợi ích chung của thị trường, việc tạo điều kiện để tiết kiệm thời gian, chống lãng phí cho hoạt động của thị trường cũng được đặt ra nhất là khi thị trường bảo hiểm ở Việt Nam đang trong giai đoạn chập chững để đi vào quỹ đạo. Và hơn nữa, việc xây dựng nên một thiết chế tạo điều kiện để mức bảo hiểm phí hình thành công bằng và hợp lý cũng cần được quan tâm phục vụ mục đích cho thị trường bảo hiểm hoạt động lành mạnh và bền vững.

Trên cơ sở thừa nhận những xuất phát điểm cho việc hình thành nên các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giống như ở các nước, tác giả đề nghị sơ lược một số các giải pháp cụ thể khi xây dựng các quy định như sau:

Thứ nhất, Luật về nghĩa vụ cần làm rõ và đề cao yêu cầu về: (1) tính tự nguyện của các bên khi cung cấp thông tin; và (2) tính xác thực của các thông tin được cung cấp. Cụ thể, mọi hành vi cố ý hay vô ý, im lặng hoặc cung cấp sai đều cần được coi là vi phạm và phải được xử lý. Kiến nghị này xuất phát từ các lý do: một là, nguyên tắc tự do ý chí – lý do đầu tiên cũng là mục đích cuối cùng của nghĩa vụ cung cấp thông tin, chỉ quan tâm tới việc có hay không tính thống nhất ý chí của các bên trước thực tại bất cân xứng của dòng thông tin, cho nên, bất kể dưới hình thức nào, nếu thông tin mà chỉ một bên biết lại không cho bên kia biết gây ra bất nhất ý chí giữa hai bên, thì vi phạm nguyên tắc tự do ý chí, đồng nghĩa với nó là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin; hai là, dù dưới hình thức nào, vô ý hay cố ý, im lặng hay cung cấp sai, chỉ cần thông tin không đồng đều thì ngay lập tức có một bên sẽ thiệt thòi về lợi ích; lúc này mục đích bảo vệ lợi ích của mỗi bên cũng như thiết lập cho thị trường bảo hiểm một cơ chế hình thành mức bảo hiểm phí công bằng, hợp lý sẽ không đạt được; ba là, bản chất của quan hệ bảo hiểm là quan hệ chia sẻ.

Thứ hai, do cốt yếu của các lý do (pháp lý và lợi ích) đều nhằm và chỉ nhằm vào sự hiểu biết của hai bên về rủi ro, cho nên, phạm vi nội dung các thông tin mà mỗi bên phải cung cấp cần được giới hạn và chỉ được giới hạn trong những thông tin có liên quan giúp đánh giá và dự đoán rủi ro.

Cuối cùng, trước yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng và việc bảo vệ lợi ích của cả người mua bảo hiểm, đồng thời trước thực tế đa dạng không hề loại trừ trường hợp chỉ có người bảo hiểm nắm giữ được một số những thông tin quan trọng, nên nghĩa vụ cung cấp thông tin cần được đặt ra đối với người bảo hiểm với nội dung yêu cầu giống như nghĩa vụ của người mua bảo hiểm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 W S Holdsworth, History of English Law, 3rd ed (1992); vol 8 trang 290-293.

2 Rohard, The Doctrine of “Utmost good faith” in the Marine Insurance Law of some Civil Law

Countries, CIM Yearbook 1994, trang 309.

3 Alexander von Ziegler, The “Utmost good faith” in Marine insurance law on the continent, trong cuốn

Marine Insurance at the turn of the Millennium, Vol 2, p.21, Antwerp 2000, do Marc Huybrechts biên soạn.

4 Điều 172.19.3 Luật bảo hiểm, 1967 ( Code des Assurances).

5 Điều 18 Đạo Luật bảo hiểm hàng hải 1906 (Marine insurance Act 1906).

6 Luật pháp các nước, ví dụ như ở Anh, không tiếp cận vấn đề theo giác độ chung của nguyên tắc tự do ý

chí mà trực tiếp xem xét vấn đề ở một nội dung cụ thể của nguyên tắc: ngăn chặn yếu tố lừa dối.

7 Nili Cohen, The effect of the duty of Good faith on a previously common law system: the experience of

Israeli Law, trong cuốn Good faith in Contract, concept and context, Ashgate, (1995).

8 Peter Macdonald Eggers and Patrick Foss, Good faith and insurance contracts, LLP, 1998, tr.44.

9 Mellor, J trong vụ Uzielli v Commercial Union Insurance Co (1865) 12 LT 399, 401.

10 M A Clarke, The Law of Insurance Contracts, LLP, 3rd ed (1997), đoạn 23-1A.

11 Peter Macdonald Eggers and Patrick Foss, đã dẫn.

12 Mellor, J trong vụ Uzielli v Commercial Union Insurance Co (1865) 12 LT 399, 401.

13 Bộ luật hàng hải được ban hành vào năm 1990 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 01 năm 1991.

14 Bộ luật dân sự được ban hành vào năm 1995 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/1996.

15 Điều 577.1 BLDS.

16 Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban hành vào năm 2000 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 04

năm 2001.

17 Trong các Tờ trình quốc hội của Chính phủ (Số 5529/PC ngày 30/09/1995 và số 1037/CP-PC ngày 13 tháng 11 năm 2000) về dự thảo Luật dân sự và Dự án Luật kinh doanh bảo hiểm, cũng như trong quá trình tranh luận, đóng góp ý kiến của các đại biểu quốc hội khi thông qua các Luật nói trên đều không đề cập đến vấn đề này. Tổng Cục hàng hải khi dự thảo Bộ luật hàng hải cũng không làm rõ nội dung này.

18 Gần đây, trong bài viết Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng

Việt Nam, Phạm Duy Nghĩa (bài viết trong cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng

ở Việt Nam hiện nay do TS. Nguyễn Như Phát và TS. Lê Thị Thu Thủy chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003, trang 18-34) đề cập đến sự cần thiết phải điều chỉnh thông tin bất cân xứng. Tuy nhiên, bài viết này chưa bàn đến các mối liên hệ nguồn gốc pháp lý và vấn đề lợi ích của nghĩa vụ cung cấp thông tin theo pháp Việt Nam hiện hành.

19 Ví dụ như các nước Anh, Pháp, Đức…

20 Đây là quy định tại Điều 577.1 BLDS. Xin lưu ý, Điều 18.2.b Luật KDBH có nội dung tương tự nhưng không có loại trừ: “trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”, và các thông tin cũng được

yêu cầu liên quan đến hợp đồng bảo hiểm thay vì phải liên quan đến đối tượng bảo hiểm như trong Điều

577.1.

21 Về nguyên tắc tự do ý chí, xin xem thêm TS. Lê Thị Bích Thọ, Tự do ý chí trong giao kết hợp đồng, trong cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay do TS. Nguyễn Như Phát và TS. Lê Thị Thu Thủy chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003, trang 35-51.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2004

ĐĂNG KÝ, CẤP BIỂN SỐ MÔ TÔ, XE GẮN MÁY

I- CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ THỰC HIỆN CÁC CÔNG VIỆC LIÊN QUAN.

Bộ luật Dân sự ngày 14/06/2005;

Luật Giao thông đường bộ ngày 29/06/2001;

– Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giao thông đường bộ;

– Thông tư số 01/2007/TT-BCA-C11 ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

– Thông tư số 34/2003/TT-BTC ngày 16/04/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

– Quyết định số 411/2007/QĐ-CAT(PV11) của Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An ban hành Quy định việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế”một cửa” tại Công an các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An

– Quyết định số 979/QĐ-CAT ngày 16/04/2006 của Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An ban hành “Quy định tạm thời về việc đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bằng máy tính theo phương pháp chọn ngẫu nhiên”;

(Tải về các văn bản pháp quy tại số của văn bản)

……………………………………………………………………………………………………….

II- ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài đang cư trú hoặc có trụ sở trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

III- CÁC THỦ TỤC GIẤY TỜ CẦN THIẾT

1- Hồ sơ đăng ký xe gồm có:

a) Giấy khai đăng ký xe (chủ xe tự khai theo đúng mẫu quy định)

b) Giấy tờ của chủ xe: cần có một trong những giấy tờ sau:

   b.1. Giấy CMND (trường hợp chưa đến tuổi được cấp CMND hoặc CMND bị mất thì xuất trình hộ khẩu).

   b.2. Giấy chứng minh QĐND; giấy chứng minh ANND, CSND, kèm theo giấy giới thiệu của đơn vị công tác.

   b.3. Thẻ học viên, sinh viên, kèm theo giấy giới thiệu của nhà trường. (nếu là sinh viên)

   b.4. Chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về sinh sống, làm việc tại Việt Nam: giấy khai báo tạm trú, thường trú và xuất trình hộ chiếu (còn giá trị).

   b.5. Chủ xe là cơ quan, tổ chức Việt Nam: giấy giới thiệu kèm theo giấy tờ tuỳ thân của người đến đăng ký xe.

   b.6. Người được uỷ quyền đăng ký xe phải có giấy uỷ quyền của chủ xe có xác nhận của UBND cấp xã hoặc cơ quan, đơn vị công tác và xuất trình CMND.

Các trường hợp b.2, b.3, b.5, b.6, cơ quan đăng ký xe lưu các giấy giới thiệu, giấy uỷ quyền trong hồ sơ xe. Các trường hợp khác trả lại giấy tờ cho chủ xe.

c) Các giấy tờ của xe gồm:

– Chứng từ mua bán, cho tặng xe; lệ phí trước bạ và chứng từ nguồn gốc của xe.

c.1. Chứng từ mua bán, cho, tặng xe. Phải có một trong các loại giấy tờ sau đây:

– Quyết định hoặc hợp đồng theo quy định của pháp luật.

– Giấy bán, cho, tặng hoặc văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật.

– Hoá đơn bán hàng theo đúng quy định của Bộ Tài chính (trường hợp mua tài sản thanh lý xe của cơ quan hành chính sự nghiệp phải có hoá đơn bán tài sản thanh lý; trường hợp mua hàng hoắ là tài sản dự trữ quốc gia phải có hoá đơn bán hàng dự trữ quốc gia).

– Xe của đồng sở hữu khi bán, cho tặng phải có đủ chữ ký hoặc giấy uỷ quyền bán thay của các chủ sở hữu.

c.2. Chứng từ lệ phí trước bạ, gồm:

– Biên lai hoặc chứng từ nộp lệ phí trước bạ.

– Tờ khai và thông báo nộp lệ phí trước bạ.

Trường hợp xe được miễn lệ phí trước bạ, chỉ cần tờ khai lệ phí trước bạ.

c.3. Chứng từ nguồn gốc xe

– Đối với xe nhập khẩu: cần có một trong các loại giấy tờ sau:

+ Tờ khai nguồn gốc xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài chính.

+ Giấy phép nhập khẩu xe của cơ quan Hải quan.

+ Tờ khai hàng hoá xuất, nhập khẩu phi mậu dịch theo quy định của Bộ Tài chính và biên lai thu thuế xuất, nhập khẩu.

+ Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu theo quy định phải có) hoặc lệnh ghi thu, ghi chi hoặc giấy nộp tiền qua kho bạc hoặc chuyển khoản hoăc uỷ nhiệm chi qua ngân hàng ghi rõ đã nộp thuế.

+ Bộ hồ sơ của các dự án bàn giao lại (nếu là xe của các dự án viện trợ hoặc bàn giao lại).

– Đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước:

+ Xe lắp ráp: Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của cơ sở sản xuất, lắp ráp

+ Tờ khai nguồn gốc xe hai bánh gắn máy nhập khẩu (đối với xe được lắp ráp từ bộ linh kiện theo quy định của Tổng cục Hải quan phải có tờ khai nguồn gốc xe hai bánh gắn máy nhập khẩu).

– Đối với mô tô, xe máy có nguồn gốc trong các trường hợp sau đây phải có các chứng từ theo quy định từ điểm 3.3.3 đến điểm 3.3.10 mục A, phần II Thông tư số 01/2007/TT-BCA ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về việc tổ chức, đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ:

+ Theo quyết định của các cấp, cơ quan có thẩm quyền (xe xử lý tịch thu sung quỹ Nhà nước; xe có quyết định xử lý vật chứng; xe do Toà án phát mại hoặc chuyển giao để đảm bảo thi hành án; xe cầm cố thế chấp do Ngân hàng phát mại; xe thuộc diện phải truy thu thuế nhập khẩu).

+ Xe dự trữ quốc gia.

+ Xe bị mất chứng từ nguồn gốc

+ Xe của công ty cho thuê tài chính đăng ký xe theo nơi cư trú hoặc đặt trụ sở hoạt động của bên thuê.

+ Xe của cơ quan Công an, Quân đội bán ra dân sự

+ Xe là tài sản chung của vợ chồng.

+ Xe có kết cấu tương tự.

2-  Hồ sơ sang tên, di chuyển xe gồm:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho tặng xe, người mua xe phải đến cơ quan đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe.

a) Xe sang tên trong tỉnh Nghệ An, giấy tờ cần có:

– Giấy khai đăng ký xe: chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định của Bộ Công an.

– Giấy chứng nhận đăng ký xe.

– Chứng từ mua bán, cho tặng xe .

– Chứng từ lệ phí trước bạ.

Khi sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số) và cấp lại giấy đăng ký xe theo tên của chủ xe mới.

Đối với trường hợp sang tên mô tô, xe máy khác huyện thì chủ xe phải đến Công an cấp huyện đã đăng ký xe đó (không phải đưa xe đến kiểm tra) làm thủ tục rút hồ sơ gốc của xe chuyển về Công an cấp huyện nơi chủ xe mới đăng ký.

b) Xe sang tên di chuyển đến tỉnh khác hoặc đến thành phố trực thuộc Trung ương, giấy tờ cần có:

– 02 giấy khai sang tên di chuyển theo đúng mẫu quy định của Bộ Công an (chủ xe phải tự khai).

– Giấy đăng ký xe.

– Chứng từ mua bán, cho tặng xe .

Phải nộp lại biển số xe; không phải đưa xe đến kiểm tra.

Trường hợp xe di chuyển nguyên chủ thì không phải xuất trình chứng từ mua bán, cho tặng xe, nhưng phải xuất trình quyết định điều động công tác hoặc di chuyển hộ khẩu.

3- Hồ sơ đổi, cấp lại đăng ký, biển số xe gồm.

Những trường hợp phải đổi lại đăng ký xe, biển số xe: xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn, đăng ký xe bị rách, hư hỏng, biển số xe hư hỏng, mờ.

– Tờ khai xin cấp lại đăng ký, biển số (theo mẫu)

– Công văn đề nghị đổi lại đăng ký, biển số xe (đối với cơ quan, tổ chức).

– Đơn đề nghị đổi lại đăng ký, biển số xe (đối với cá nhân).

– Đăng ký hoặc biển số xe cũ.

Không bắt buộc phải mang xe đến để kiểm tra (trừ trường hợp xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn).

Cơ quan đăng ký xe cấp lại đăng ký, biển số xe (theo số cũ) trừ trường loại biển 3 số thì phải đổi sang biển 4 số.

4- Hồ sơ cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất gồm.

Chủ xe bị mất đăng ký, biển số xe phải có văn bản đề nghị cấp lại; tờ khai xin cấp lại (theo mẫu) không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe.

……………………………………………………………………………………………………….

IV. THỜI GIAN TRẢ KẾT QUẢ.

1- Hồ sơ đăng ký xe:

– Không quá 01 ngày (trong ngày), kể từ khi nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

2-  Hồ sơ đăng ký sang tên, di chuyển xe:

– Không quá 01 ngày (trong ngày), kể từ khi nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

3- Đổi đăng ký, biển số xe:

– Đổi lại đăng ký: Không quá 1 ngày (trong ngày), kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định;

– Đổi lại biển số: Không quá 10 ngày, kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

4- Hồ sơ cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất.

– Cấp lại đăng ký: Không quá 3 ngày, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định;

– Cấp lại biển số: Không quá 10 ngày, kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định.

……………………………………………………………………………………………………….

V. LỆ PHÍ.

1. Đăng ký mới (cấp giấy đăng ký kèm theo biển số).

a) Xe ô tô, máy kéo, xe lam và các loại xe có kết cấu tương tự: 150.000 đ/xe

b) Xe ô tô con từ 7 chỗ ngồi  trở xuống (chủ xe có hộ khẩu thường trú tại thành phố Vinh) không hoạt động KDVT hành khách: 800.000đ/xe.

c. Sơmi rơ moóc đăng ký rời, rơ moóc: 100.000đ/xe.

d. Xe mô tô, xe máy.

– Chủ xe có hộ khẩu thường trú tại các huyện, thị xã Cửa Lò: 50.000đ/xe

– Chủ xe có hộ khẩu thường trú tại thành phố Vinh (theo giá tính lệ phí trước bạ).

+ Xe có giá trị từ 15.000.000đ trở xuống: 200.000đ/xe.

+ Xe có giá trị trên 15.000.000đ đến 40.000.000đ: 400.000đ/xe.

+ Xe có trị trị trên 40.000.000đ: 800.000đ/xe.

2. Cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký

a) Cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký kèm theo biển số:

– Xe ô tô (trừ xe ôtô con từ 7 chỗ ngồi trở xuống không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách di chuyển từ khu vực có mức thu thấp về thành phố Vinh): 150.000đ/xe.

– Xe ô tô con từ 7 chỗ ngồiửtở xuống không hoạt động KDVT hành khách chuyển từ khu vực có mức thu thấp về thành phố Vinh: lệ phí 800.000đ/xe.

– Sơ mi rơ moóc, rơ moóc: 100.000đ/xe

– Xe máy (trừ xe máy di chuyển từ khu vực có mức thu nhập thấp về thành phố Vinh): 50.000đ/xe

– Xe máy di chuyển từ khu vực có mức thu nhập thấp về thành phố Vinh (theo giá trị tính trước bạ).

+ Trị giá từ 15.000.000đ trở xuống: 200.000đ/xe

+ Trị giá từ trên 15.000.000đ đến 40.000.000đ: 400.000đ/xe

+ Trị giá trên 40.000.000đ: 800.000đ/xe

b. Cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký không kèm theo biển số ô tô, xe mô tô, xe máy: 30.000 đ/xe

c. Nếu cấp lại biển số thì thu theo giá mua biển số thực tế.

3. Cấp giấy đăng ký kèm theo biển số tạm thời cho xe ô tô, xe máy: 50.000đ/xe.

4. Đóng lại số khung, số máy: 50.000đ/xe

CÁC BẠN LIÊN HỆ VỚI PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG NƠI CƯ TRÚ ĐỂ CÓ THÔNG TIN CỤ THỂ

(THÔNG TIN TRONG BÀI NÀY ĐƯỢC THAM KHẢO TỪ NGHEAN.GOV.VN)

QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUI ĐỊNH BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 158/2002/QĐ-UB NGÀY 25/11/2002 CỦA UBND THÀNH PHỐ QUI ĐỊNH VỀ THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG, CHO THUÊ, CHO THUÊ LẠI, THỪA KẾ, THẾ CHẤP (HOẶC BẢO LÃNH), GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
******
Số: 156/2004/QĐ-UB
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********  Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2004

QUYẾT ĐỊNH

CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUI ĐỊNH BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 158/2002/QĐ-UB NGÀY 25/11/2002 CỦA UBND THÀNH PHỐ QUI ĐỊNH VỀ THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG, CHO THUÊ, CHO THUÊ LẠI, THỪA KẾ, THẾ CHẤP (HOẶC BẢO LÃNH), GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân;
Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 28/10/1995;
Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Pháp Lệnh thủ đô Hà nội;
Căn cứ Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của UBND thành phố Hà nội qui định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp (hoặc bảo lãnh), góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà trên địa bàn thành phố Hà nội;
Căn cứ Quyết định số 129/2004/QĐ-UB ngày 13/8/2004 của UBND thành phố Hà nội qui định về thành lập Đăng ký đất và nhà Hà nội;
Căn cứ Văn bản số 2162/TNMT-ĐĐ ngày 02/7/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
Trong khi Nhà nước chưa có qui định về đăng ký bất động sản gắn liền với đất; Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất tại tờ trình số: 6119/TTr-TNMT&NĐ-CS ngày 27 tháng 8 năm 2004,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số Điều của bản qui định ban hành kèm theo Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của Uỷ ban nhân dân thành phố qui định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp (hoặc bảo lãnh), góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà trên địa bàn thành phố Hà nội, cụ thể như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khoản (II), Điều 2 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết thủ tục hồ sơ theo chức năng và địa bàn quản lý như sau:

“1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn:

a) Chứng thực các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Văn bản khai nhận thừa kế hoặc Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

b) Cập nhật vào Sổ địa chính, theo dõi biến động đất đai khi người sử dụng đất, sở hữu nhà thực hiện các quyền của mình.

2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện:

a) Cấp Giấy chứng nhận theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân thành phố để người sử dụng đất, sở hữu nhà thực hiện các quyền của mình mà có một trong các giấy tờ qui định tại tiết (c), điểm (1), khoản (I), Điều 2 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB.

Chậm nhất là 06 tháng kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình và cá nhân, Uỷ ban nhân dân các quận, huyện phải hoàn tất thủ tục pháp lý về lập Sổ địa chính theo qui định đối với từng thửa đất của từng hộ gia đình và cá nhân; đồng thời chuyển giao toàn bộ giấy tờ gốc về nhà đất của người được cấp Giấy chứng nhận (bản sao Giấy mầu hồng và bản gốc Giấy mầu xanh) cho Văn phòng Đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất (sau đây gọi tắt là Văn phòng Đăng ký) để lưu trữ và quản lý.

b) Chứng thực các giao dịch dân sự về quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở của Hộ gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, chia, văn bản khai nhận thừa kế thuộc địa bàn quản lý.

c) Giải quyết thủ tục hồ sơ đăng ký trước bạ sang tên chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân và cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp có chia tách hoặc nhập thửa đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp.

d) Đăng ký các biến động về nhà đất vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện; sau đó, chuyển giao toàn bộ hồ sơ gốc về Văn phòng Đăng ký để lưu trữ quản lý, cập nhật và chỉnh lý biến động vào Giấy chứng nhận (bản lưu tại cơ quan quản lý).

đ) Giải quyết thủ tục hồ sơ về đăng ký cho thuê quyền sử dụng đất; đăng ký, xoá đăng ký thế chấp, bảo lãnh; đăng ký, xoá đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn quận, huyện.

3. Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất:

a) UBND Thành phố uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Uỷ ban nhân dân thành phố đã cấp trong trường hợp có sự chia tách hoặc nhập thửa đất từ Giấy chứng nhận.

b) Ký duyệt hồ sơ đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận đối với những hồ sơ do Văn phòng Đăng ký thụ lý, thẩm định và trình duyệt.

4. Văn phòng Đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất (Văn phòng Đăng ký):

a) Thực hiện đăng ký quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp.

b) Lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính gốc trên địa bàn thành phố; Tiếp nhận kết qủa biến động đất và nhà từ Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất và cơ quan có thẩm quyền để tập hợp chỉnh lý biến động thống nhất hệ thống hồ sơ địa chính gốc.

c) Thụ lý, kiểm tra và thẩm định hồ sơ trước khi trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên về: chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế; chuyển quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình và cá nhân (đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp).

Trường hợp có tách, nhập thửa đất từ Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp thì kiểm tra, thẩm định trước khi trình Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp đổi Giấy chứng nhận.

d) Thực hiện các dịch vụ hành chính công về đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, lập trích lục bản đồ do chia tách, nhập thửa, trích sao hồ sơ địa chính. Giải quyết thủ tục hồ sơ về đăng ký cho thuê quyền sử dụng đất; đăng ký, xoá đăng ký thế chấp, bảo lãnh; đăng ký, xoá đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp).

5. Phòng Công chứng:

a) Chứng nhận các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ, gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Văn bản khai nhận thừa kế hoặc Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố.

b) Chứng nhận các giao dịch dân sự về quyền sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, bao gồm: Hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, chia, văn bản khai nhận thừa kế quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố.

6. Cục Thuế Hà nội (hoặc Chi Cục thuế quận, huyện được uỷ nhiệm thu):

Căn cứ khung giá nhà, đất hiện hành và Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà và sử dụng đất để xác định các khoản nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của các bên khi thực hiện các quyền nói trên; tổ chức thu, nộp ngân sách theo qui định”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (kể cả nhà ở căn hộ chung cư cao tầng) bao gồm: mua bán, trao đổi, tặng cho, chia, thừa kế như sau:

“I. Hồ sơ chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở:

1. Đơn đề nghị chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (theo mẫu quy định – Đơn không phải lấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về nhà đất xin chuyển quyền không tranh chấp, khiếu kiện).

2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (bản gốc).

3. Hộ khẩu thường trú tại Hà nội (đối với hộ gia đình, cá nhân), bản sao công chứng Giấy phép đăng ký hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà nội (đối với tổ chức) của bên nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

4. Trích lục thửa đất (trường hợp có tách, nhập thửa đất) do đơn vị có chức năng đo đạc địa chính thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất hoặc Văn phòng Đăng ký hoặc Phòng Địa chính nhà đất và Đô thị quận, huyện thực hiện; Bản vẽ mặt bằng hiện trạng nhà ở (trường hợp có chia tách diện tích nhà ở) do đơn vị có tư cách pháp nhân thực hiện.

5. Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở.

II. Trình tự thực hiện:

1. Chuyển quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà ở, đất ở (không tách, nhập thửa đất):

a) Bước 1: Hồ sơ ban đầu nộp tại một trong các Phòng Công chứng trên địa bàn thành phố hoặc tại Uỷ ban nhân dân quận, huyện nơi có nhà, đất do người sử dụng đất, sở hữu nhà tự lựa chọn.

Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan kể trên phải hoàn thành thủ tục chứng nhận hoặc chứng thực Hợp đồng hoặc Văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở theo qui định.

b) Bước 2: Bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đến cơ quan Thuế để nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất ở và lệ phí trước bạ nhà ở, đất ở theo qui định.

Cơ quan Thuế, căn cứ vào Hợp đồng đã được chứng nhận hoặc chứng thực xác định các khoản thuế, lệ phí nói trên trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc và tổ chức thu theo qui định.

c) Bước 3: Bên nhận chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nộp toàn bộ hồ sơ, chứng từ đã được thực hiện theo các bước trên tại Văn phòng Đăng ký (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) hoặc tại Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp) để làm thủ tục đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận.

Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ nói trên:

c1. Văn phòng Đăng ký:

– Kiểm tra, thẩm định và trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận và trả cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở.

– Đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào hồ sơ gốc lưu trữ (bản mầu xanh Giấy chứng nhận); đồng thời chuyển “bản sao” hồ sơ chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận đã được đăng ký trước bạ sang tên (bản mầu hồng và mầu xanh) cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện để cập nhật biến động vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện.

c2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện:

– Hoàn tất thủ tục ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận (bản mầu hồng) và trả cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

– Đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện; đồng thời, chuyển giao toàn bộ hồ sơ gốc chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận (bản mầu hồng) đã được đăng ký trước bạ sang tên cho Văn phòng Đăng ký để đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào hồ sơ gốc lưu trữ (bản mầu xanh Giấy chứng nhận).

2. Chuyển một phần quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (có chia tách, nhập thửa đất):

a) Bước 1: Hồ sơ ban đầu nộp tại Văn phòng Đăng ký (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) hoặc tại Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp).

Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ:

a1. Văn phòng Đăng ký kiểm tra và đối chiếu hồ sơ gốc (trường hợp chưa rõ ràng có thể kiểm tra tại thực địa) nếu đủ điều kiện thì gửi hồ sơ kèm theo phiếu chuyển xác nhận đủ điều kiện đến Phòng công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân các quận, huyện nơi có nhà đất đó để làm thủ tục chứng nhận hoặc chứng thực Hợp đồng hoặc văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở.

Cơ quan thực hiện chứng nhận hoặc chứng thực Hợp đồng hoặc văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc.

a2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện kiểm tra và đối chiếu Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện, nếu đủ điều kiện (trường hợp chưa rõ ràng có thể kiểm tra tại thực địa) thì chứng thực hoặc chuyển hồ sơ cho Phòng công chứng để chứng nhận Hợp đồng hoặc văn bản khai nhận, phân chia nhà ở, đất ở.

b) Bước 2: Nộp các khoản nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, thực hiện như bước 2 qui định tại tiết (1), điểm (II), khoản (2), Điều này.

c) Bước 3:

c1. Văn phòng Đăng ký:

– Kiểm tra, thẩm định và trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận đối với phần diện tích nhà, đất còn lại sau khi chia tách và trả cho chủ sở hữu. Thời hạn thực hiện không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp Giấy chứng nhận theo uỷ quyền cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Thời hạn thực hiện không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Đăng ký biến động nhà ở, đất ở vào hồ sơ gốc lưu trữ (bản mầu xanh Giấy chứng nhận); đồng thời chuyển “bản sao” hồ sơ chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận đã được đăng ký trước bạ sang tên (bản mầu hồng và mầu xanh) cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện để cập nhật biến động vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện.

c2. Uỷ ban nhân dân quận, huyện:

– Hoàn tất thủ tục ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận đối với phần diện tích nhà, đất còn lại sau khi chia tách và trả cho chủ sở hữu. Thời hạn thực hiện không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Cấp Giấy chứng nhận theo phân cấp cho bên được nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (phần được chia tách hoặc nhập). Thời hạn thực hiện không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

– Cập nhật biến động vào Sổ địa chính lưu giữ ở quận, huyện; đồng thời, chuyển giao toàn bộ giấy tờ gốc chuyển quyền và “bản sao” Giấy chứng nhận mầu hồng và bản gốc Giấy chứng nhận mầu xanh cho Văn phòng Đăng ký để lưu trữ và quản lý.

3. Chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Bản án hoặc Quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc theo Hợp đồng bán đấu giá bất động sản:

Hồ sơ ban đầu phải có Bản án hoặc Quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc Hợp đồng bán đấu giá bất động sản. Trình tự giải quyết thực hiện theo qui định tại tiết (1) và tiết (2), điểm II khoản 2, Điều này (trừ thủ tục công chứng, chứng thực không phải thực hiện).

4. Trường hợp thừa kế nhà ở, đất ở đồng thời với việc chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì cơ quan thụ lý hồ sơ giải quyết thủ tục khai nhận thừa kế đồng thời với thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Trường hợp Giấy chứng nhận cấp cho đồng sở hữu (sở hữu chung), nay một hoặc một số đồng sở hữu chuyển phần quyền sở hữu nhà và sử dụng đất của mình cho một hoặc một số đồng sở hữu còn lại thì thủ tục giải quyết việc chuyển quyền được thực hiện theo trình tự, thủ tục được qui định tại tiết (2), điểm (II), khoản 2 Điều này.

Khi giải quyết hồ sơ chuyển quyền, cơ quan thụ lý hồ sơ chỉ cần xác định số diện tích nhà, diện tích đất (xác định trên đơn vị diện tích – không cần trích lục thửa đất và mặt bằng hiện trạng nhà) của mỗi chủ sở hữu chuyển quyền cho chủ sở hữu còn lại”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản II, Điều 6 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về chuyển quyền sở hữu nhà không phải là nhà ở (bao gồm: nhà chuyên dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) gắn liền với quyền sử dụng đất ở giữa các tổ chức kinh tế như sau:

“ II. Trình tự thực hiện:

1. Bước 1: Hồ sơ nộp tại Văn phòng Đăng ký. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, Văn phòng Đăng ký kiểm tra và đối chiếu hồ sơ gốc, nếu đủ điều kiện thì gửi hồ sơ kèm theo phiếu chuyển xác nhận đủ điều kiện chuyển quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đến Phòng công chứng để làm thủ tục chứng nhận Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

2. Bước 2: Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng công chứng làm thủ tục chứng nhận Hợp đồng chuyển quyền.

3. Bước 3: Nộp các khoản nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, thực hiện như bước 2 qui định tại điểm (II), khoản (2), Điều này.

4. Bước 4: Văn phòng Đăng ký làm thủ tục trình Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất ký duyệt đăng ký trước bạ sang tên vào Giấy chứng nhận cho bên nhận chuyển quyền trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đã được hoàn tất theo các bước trên; đồng thời vào sổ cập nhật theo dõi biến động đất đai và trả Giấy chứng nhận cho bên nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

Trường hợp có tách nhập thửa đất, Văn phòng Đăng ký trình Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất cấp đổi Giấy chứng nhận cho bên nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận không quá 07 ngày làm việc”.

4. Sửa đổi, bổ sung khoản III mục A, khoản III mục B Điều 9 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất như sau:

“ III. Trình tự thực hiện:

1. Bước 1: Các bên thế chấp hoặc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc tại một trong các Phòng công chứng trên địa bàn thành phố để làm thủ tục chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Đối với tổ chức kinh tế thì thủ tục làm tại Phòng công chứng.

Cơ quan thực hiện chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu là hộ gia đình, cá nhân mà Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp) hoặc Văn phòng Đăng ký (nếu là tổ chức kinh tế hoặc hộ gia đình và cá nhân mà Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) phải hoàn tất thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất vào hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận sau đó trả lại kết quả cho bên nhận thế chấp, bảo lãnh.

3. Việc xoá đăng ký thế chấp, xoá đăng ký bảo lãnh được thực hiện tại cơ quan đã đăng ký thế chấp, bảo lãnh”.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản II mục A, khoản III mục B Điều 10 của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB qui định về trình tự góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất như sau:

“ Trình tự thực hiện:

1. Bước 1: Các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc tại một trong các Phòng công chứng trên địa bàn thành phố để làm thủ tục chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đối với tổ chức kinh tế thì thủ tục làm tại Phòng công chứng.

Cơ quan thực hiện chứng thực hoặc chứng nhận Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân quận, huyện (nếu là hộ gia đình, cá nhân mà Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp) hoặc Văn phòng Đăng ký (nếu là tổ chức kinh tế hoặc hộ gia đình và cá nhân mà Giáy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp) phải hoàn tất thủ tục đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Sổ địa chính và Giấy chứng nhận sau đó trả lại kết quả cho bên nhận góp vốn.

3. Việc xoá đăng ký góp vốn được thực hiện tại cơ quan đã đăng ký góp vốn”.

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố; Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất, Cục trưởng Cục thuế; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các quận, huyện; Thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan; Giám đốc Văn phòng Đăng ký; Tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân là người sử dụng đất, sở hữu nhà khi thực hiện các quyền của mình trên địa bàn thành phố Hà nội chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Lê Quý Đôn

CÁC BẠN TẢI T ẠI ĐÂY QUYẾT ĐỊNH SỐ 158/2002/QĐ-UB NGÀY 25/11/2002 CỦA UBND THÀNH PHỐ QUI ĐỊNH VỀ THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG, CHO THUÊ, CHO THUÊ LẠI, THỪA KẾ, THẾ CHẤP (HOẶC BẢO LÃNH), GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.