MỘT SỐ LỖI THƯƠNG THẢO HỢP ĐỒNG

1. Không tự mình soạn thảo

Bạn nên tự soạn thảo bản dự thảo đầu tiên của hợp đồng, bởi như vậy bạn sẽ có nhiều lợi thế trong khi đàm phán, đồng thời còn có thể đưa ra những điều khoản có lợi nhất cho mình. Hơn nữa, tự mình soạn thảo hợp đồng thường có hiệu quả về mặt chi phí tốt hơn so với việc nghiên cứu, chỉnh sửa hợp đồng khi thuê luật sư soạn thảo.

2. Điều khoản thanh toán không rõ ràng

Hầu hết mọi người đều hiểu rằng các điều khoản thanh toán là phần không thể thiếu trong hợp đồng và không được phép bỏ qua hay để tới tận khi ký kết hợp đồng mới xem xét. Một hợp đồng chặt chẽ thì các điều khoản thanh toán phải được quy định rõ ràng, như tránh những quy định tối nghĩa về số tiền sẽ được nợ, hay phải có công thức rõ ràng để xác định số nợ; đưa ra các điều khoản quy định rõ ràng số tiền được nợ là bao nhiêu và nợ tới khi nào; các hình thức chế tài nếu một bên không thanh toán hay thanh toán chậm; quy định phân chia trách nhiệm thanh toán các khoản thuế liên quan tới hợp đồng.

3. Thiếu các điều khoản chung

Hợp đồng phải có các điều khoản chung. Đó không chỉ là các căn cứ pháp luật mà còn là những vấn đề cơ bản quyết định việc tham gia vào hợp đồng, bao gồm:

– Lý do ký kết hợp đồng với đối tác là gì?

– Đối tác có kinh nghiệm tham gia hoạt động lĩnh vực kinh doanh này không?

– Đối tác cam kết sẽ làm gì cho bạn và bạn cam kết làm gì cho đối tác?

– Khi nào các bên đồng ý thực hiện hợp đồng?

– Có những chi tiết đặc biệt nào được thảo luận trong quá trình đàm phán hợp đồng để đi đến quyết định ký kết hợp đồng?

– Có thời hạn cụ thể trong việc giao nhận hàng hoá hay dịch vụ không?

– Có sự việc hay điều kiện nào diễn ra trước khi bạn phải thực hiện các nghĩa vụ của mình không?

4. Suy diễn

Đừng suy diễn khi soạn thảo hợp đồng. Như vậy có nghĩa là bạn phải quy định rõ ràng tất cả các nghĩa vụ và các tình huống giả định trong hợp đồng. Ví dụ:

Nếu bạn mua của đối tác một thiết bị nào đó thì đừng nghĩ rằng họ sẽ phải giao kèm theo những phần mềm hay phụ tùng liên quan. Hãy quy định rõ ràng.

– Đối tác không cần biết bạn sẽ thiệt hại như thế nào nếu như họ giao hàng chậm. Quy định thời hạn rõ ràng là điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng.

– Nếu các bên đồng ý vận chuyển và giao hàng tại một địa điểm nhất định, nên có quy định rõ ràng về địa điểm giao hàng và chi phí vận chuyển do bên nào chịu.

Trong giai đoạn đàm phán, nếu chưa hiểu rõ điều khoản nào của hợp đồng, hãy hỏi lại cho kỹ và ngược lại, nếu đối tác chưa hiểu điều nào, bạn hãy giải thích cho rõ. Đừng cho rằng đối tác hiểu tất cả những gì bạn nói. Sau đó hãy quy định rõ trong hợp đồng.

5. Bỏ sót một số điều khoản

– Trong trường hợp tranh chấp, bên thua kiện phải trả chi phí thuê luật sư của bên thắng kiện.

– Tất cả những sửa đổi của hợp đồng phải được lập thành văn bản.

– Không được chuyển nhượng hợp đồng cho bên thứ ba.

6. Không đàm phán mọi thứ

Nên nhớ rằng không có điều gì là không thể đàm phán. Mọi thứ, thậm chí cả những điều mà đối tác khẳng định không thể thì vẫn có thể đàm phán. Với bạn, một số phần của hợp đồng có thể quan trọng hơn các phần khác, nhưng nên nhớ là tất cả các phần đều trở nên quan trọng nếu có tranh chấp xảy ra. Do vậy, trong giai đoạn đàm phán nên xác định trước những vấn đề nào không thể chấp nhận và những vấn đề nào có thể chấp nhận.x

Trần (Theo Entrepreneur) – DDDN.COM.VN

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI CHƯA THEO KỊP… WTO

Hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng như tranh chấp trong các giao dịch thương mại dự kiến sẽ gia tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Thế nhưng, hai dịch vụ pháp lý quan trọng là luật sư và trọng tài hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho quá trình hội nhập nói trên.

Thiếu cả lượng lẫn chất

Theo ông Lê Hồng Sơn, Vụ phó Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp), tính đến nay cả nước đã có 3.918 luật sư và luật sư tập sự, tăng tới 187% so với năm 2001.

Mặc dù vậy, số lượng luật sư hiện có vẫn chưa đủ so với nhu cầu ngày càng tăng của người dân. Tỷ lệ luật sư chỉ mới đạt 1/21.215 người dân, trong khi tỷ lệ này ở Nhật là 1/4.546; Thái Lan: 1/1.526; Singapore: 1/1.000; Mỹ: 1/250…

Có những tỉnh như Kon Tum, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn số lượng luật sư chỉ có khoảng 3-4 người. Thậm chí, có địa phương như Lai Châu, Điện Biên không có đủ số luật sư cần thiết để thành lập đoàn luật sư.

Vì vậy, một số phiên tòa ở đây từng phải tạm hoãn do thiếu luật sư hoặc trong các vụ án chỉ định luật sư tòa phải mời luật sư từ các địa phương khác đến tham gia!

Tại cuộc tọa đàm về tác động của Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (BTA) đối với nghề luật sư và trọng tài do Bộ Tư pháp tổ chức tuần qua ở TPHCM, nhiều ý kiến cho rằng điều đáng ngại là chất lượng luật sư vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập.

Trong tổng số luật sư hiện có, chỉ có 2.611 người (chiếm gần 67%) đã qua lớp đào tạo nghề luật sư; số còn lại chưa qua lớp đào tạo hoặc được miễn đào tạo theo quy định.

Luật sư Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Văn phòng Luật sư tư vấn Độc Lập, thừa nhận số lượng các luật sư tinh thông về ngoại ngữ và có trình độ tiếp cận với các hợp đồng thương mại quốc tế gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Phần lớn còn lại hành nghề tư vấn đơn giản hoặc tranh tụng tại tòa với khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân trong nước, cá nhân và hộ gia đình.

Nguyên nhân của tình hình trên, theo Luật sư Phạm Thị Vạn Thanh (Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng) có phần do việc đào tạo cử nhân luật hiện còn nhiều bất cập, dẫn đến chất lượng thấp. “Có những sinh viên ra trường mà kiến thức cơ bản hay những khái niệm rất đơn giản vẫn hiểu sai hoặc không biết”, bà Thanh nói.

Cùng quan điểm trên, Luật sư Fred Burke (Chi nhánh Công ty Luật Baker & McKenzie) cho rằng, khiếm khuyết nằm ở phương pháp đào tạo theo kiểu “học vẹt” lâu nay trong các trường đại học luật. “Các sinh viên đã lãng phí thời gian để học thuộc lòng các văn bản luật nhưng đến khi họ tốt nghiệp thì những văn bản này đã hết hiệu lực.

Trong khi đó, nhà trường lại rất ít khi dạy cho sinh viên cách làm thế nào để nghiên cứu các luật mới và phân tích các vấn đề pháp lý, những thứ mà họ sẽ phải làm hằng ngày trong suốt cuộc đời hành nghề của mình”.

Theo Luật sư Fred Burke, biện pháp để cải thiện tình hình là nên cho phép các giảng viên luật được hành nghề luật sư vì điều đó sẽ làm cho việc giảng dạy hiệu quả hơn nhiều (Hiện ở Việt Nam, luật không cho phép vì giảng viên là công chức).

“Ngay cả ở các trường luật nổi tiếng thế giới, các giáo sư luật cũng phải bỏ thời gian để tư vấn cho khách hàng riêng” – ông cho biết.

Ông Burke cũng cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm xuất khẩu dịch vụ pháp lý toàn cầu như Hồng Công, Singapore nhưng hiện vẫn còn những trở ngại nhất định.

Thí dụ, dịch vụ pháp lý xuất khẩu hiện vẫn bị đánh thuế giá trị gia tăng 10% trong khi hàng hóa xuất khẩu thông thường khác là 0%.

Hoặc quy định của Luật Luật sư về việc thu hồi chứng chỉ luật sư khi luật sư không thường trú tại Việt Nam; tiêu chuẩn luật sư với điều kiện bắt buộc phải là công dân Việt Nam.

“Luật cho phép các hãng luật Việt Nam được thành lập cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài nhưng làm sao họ có thể bố trí luật sư làm việc ở nước ngoài nếu luật sư của họ bị mất chứng chỉ hành nghề ngay khi vừa rời khỏi đất nước?”.

Nỗi khổ trọng tài

Không chỉ có luật sư, trọng tài thương mại cũng là vấn đề báo động. Hiện cả nước có năm trung tâm trọng tài thương mại với tổng số trọng tài viên là 136 người.

Theo Vụ Bổ trợ tư pháp, số vụ việc giải quyết bằng trọng tài hàng năm còn rất khiêm tốn. Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) thuộc loại lớn nhất nhưng mỗi năm cũng chỉ xử lý được 20-25 vụ. Các trung tâm khác khoảng 5-7 vụ, thậm chí có trung tâm không có vụ nào.

Đại diện của Vụ Bổ trợ tư pháp cho rằng sở dĩ các doanh nghiệp chưa mặn mà lắm với trọng tài là vì họ chưa biết nhiều về phương thức giải quyết tranh chấp này, kể cả đối với các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, thi hành án.

Theo Luật sư Lê Công Định, Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM, trong hoàn cảnh đó lẽ ra các trung tâm trọng tài nên có các chương trình xúc tiến, thậm chí tự tiếp thị, và chủ động học hỏi cách làm của trọng tài các nước, thay vì thụ động hoặc chờ sự hỗ trợ bao cấp của Nhà nước như lâu nay.

Nhiều ý kiến cho rằng, những bất cập trong các quy định của luật pháp hiện hành cũng là rào cản đối với hoạt động của trọng tài.

Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong phạm vi “hoạt động thương mại”. Điều này đã làm các trung tâm trọng tài “mất đi” một lượng khách hàng đáng kể trong các lĩnh vực ngoài hoạt động thương mại.

Tiến sĩ Bùi Quang Nhơn, Trưởng Chi nhánh Cần Thơ của VIAC, nêu dẫn chứng chẳng hạn tranh chấp giữa các nhà thầu xây dựng và các ban quản lý dự án là một dạng tranh chấp khá phổ biến hiện nay.

Luật chưa có quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đương sự có yêu cầu trong khoảng thời gian từ lúc thụ lý vụ án cho đến lúc thành lập hội đồng trọng tài.

Theo đại diện Vụ Bổ trợ tư pháp, bên bị kiện thường dựa vào “kẽ hở” này để tranh thủ tẩu tán tài sản, chứng cứ vi phạm. Mặt khác, quy định về căn cứ hủy quyết định trọng tài có phạm vi quá rộng so với thông lệ quốc tế cũng là một nguy cơ rủi ro tiềm ẩn cho các doanh nghiệp khi lựa chọn trọng tài.

Nhưng bức xúc nhất vẫn là vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài. Mặc dù theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định trọng tài có giá trị thi hành như một bản án nhưng Pháp lệnh Thi hành án lại không quy định điều này.

“Cơ quan thi hành án hoàn toàn có thể vin vào Pháp lệnh Thi hành án để không thi hành các quyết định trọng tài. Đây là điều làm cho các doanh nghiệp “ớn” nhất khi họ lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp”, Luật sư Phan Thông Anh, Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam, phát biểu.

Còn Luật sư Nguyễn Văn On, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài thương mại TPHCM, cho biết thậm chí trong một số vụ ngay cả trung tâm trọng tài của ông cũng từng bị đương sự “quỵt” phí trọng tài, hết mấy chục triệu đồng, nhưng cơ quan thi hành án cũng chẳng làm được gì vì…không có cơ chế!.

Nguồn: KTSG

NGHỊ ĐỊNH VỀ HỌ, HỤI, BIÊU, PHƯỜNG

BÁ TÚ – DDDN.COM.VN

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về hình thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ. Theo đó, nghiêm cấm việc tổ chức hình thức họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) để cho vay nặng lãi, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản riêng công dân. Continue reading

BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN: LUẬT PHÁP KHÓ THỰC THI

NGUYỄN VĂN MẠNH – Hội viên CLB Pháp chế DN

Để triển khai thi hành công tác bán đấu giá tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự, ngày 18/1/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP. Bộ Tư pháp đã có Thông tư hướng dẫn số 03/2005/TT-BTP ngày 4/5/2005, song thực tiễn việc tổ chức thi hành bán đấu giá tài sản còn những vướng mắc, bất cập.

Trước áp lực của hội nhập, hệ thống pháp luật của VN luôn được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn, tương thích với các điều ước và thông lệ quốc tế. Khi các bộ luật và luật chuyên ngành thay đổi, nảy sinh một bất cập là việc xây dựng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành không theo kịp tiến độ, làm cho hiệu lực thi hành của các văn bản luật và văn bản dưới luật không thống nhất, không tạo được cơ sở pháp lý cho việc vận dụng thực thi pháp luật, gây khó khăn ách tắc cho các DN và người dân. Continue reading

NGHỊ ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: NHIỀU ĐIỂM TRANH CÃI

Để pháp điển hoá những quy định về giao dịch bảo đảm còn chưa cụ thể và thiếu cơ chế bảo đảm thi hành thực tiễn trong Bộ luật Dân sự 2005, Bộ Tư pháp đang xây dựng Nghị định về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, tính đến nay một số nội dung trong dự thảo nghị định vẫn còn nhiều tranh cãi.

Theo quy định của pháp luật thì một tài sản có thể được dùng bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Tuy nhiên, trong thực tế ngay từ khi thực hiện nghĩa vụ bảo đảm lần đầu thì các Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đã buộc phải giao bản chính. Do vậy, các giao dịch bảo đảm tiếp theo khó có thể có bản chính.

Ví dụ, theo quy định của Luật Đất đai, Nghị định số 181 và Thông tư liên tịch số 05, hồ sơ yêu cầu đăng ký phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do bên nhận thế chấp trước đã giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên các bên trong giao dịch bảo đảm tiếp theo không thể đáp ứng điều kiện về hồ sơ yêu cầu đăng ký theo quy định nêu trên. Hơn nữa, đối với nhiều tài sản mà việc bên nhận bảo đảm giữ giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng sẽ ảnh hưởng tới việc sử dụng, khai thác tài sản đó như phương tiện giao thông cơ giới…

Ngoài ra, theo nhiều chuyên gia đánh giá, việc giữ Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, giấy đăng ký phương tiện không phải là biện pháp tối ưu để ngăn ngừa bên bảo đảm chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc xác lập các giao dịch đối với tài sản bảo đảm. Bởi bên bảo đảm yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại với lý do bị mất… Một số ý kiến còn cho rằng, quy định về việc tổ chức tín dụng giữ bản chính “giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm” không rõ ràng. Nghị định cần xác định những loại giấy tờ nào liên quan đến tài sản bảo đảm mà tổ chức tín dụng được giữ.

Đối với trường hợp tài sản bảo đảm không thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm hình thành hai nhóm ý kiến khác nhau. Một nhóm cho rằng, nếu bên bảo đảm không có quyền sở hữu tài sản mà dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 320 của Bộ luật dân sự (Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Dân sự phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm). Trong trường hợp này quyền của chủ sở hữu tài sản được bảo vệ, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên bảo đảm thay thế tài sản bảo đảm hoặc thay thế biện pháp bảo đảm khác; yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trước hạn hoặc trở thành chủ nợ không có bảo đảm và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Còn nhóm thứ hai lại có quan điểm, về nguyên tắc pháp luật bảo vệ quyền của chủ sở hữu tài sản, nhưng nếu bên nhận bảo đảm ngay tình (không biết và không thể biết về việc bên bảo đảm không có quyền dùng tài sản để bảo đảm), thì cần được bảo vệ một cách hợp lý, hài hòa trong mối quan hệ với quyền của chủ sở hữu tài sản. Quy định này nhằm tạo sự ổn định cho các giao dịch dân sự, hạn chế rủi ro cho bên nhận bảo đảm ngay tình, đồng thời thúc đẩy sự phát triển hoạt động tín dụng, đầu tư vốn. Nhiều nước có nền tài chính, ngân hàng phát triển cũng giải quyết tương tự.

Tài sản hình thành trong tương lai cũng là điểm nhận được rất nhiều sự quan tâm. Các quy định pháp luật về nhận bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai (bao gồm cả tài sản hình thành từ vốn vay) còn một số điểm chưa phù hợp với thực tế. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa quy định rõ về việc đăng ký đối với những tài sản mà từ khi ký kết hợp đồng bảo đảm đến khi được hình thành trong tương lai, tài sản đó có sự chuyển đổi từ động sản sang bất động sản hoặc ngược lại, như máy móc, thiết bị gắn liền với công trình xây dựng, hoặc hoa lợi, mùa màng. Ví dụ: khi ký kết hợp đồng bảo đảm tài sản hình thành trong tương lai là động sản (hệ thống thang máy đang trên đường vận chuyển), nhưng khi được đưa vào sử dụng và thuộc sở hữu của bên bảo đảm thì lại trở thành bất động sản thì việc đăng ký thực hiện như thế nào? Bởi hiện nay, việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản và bất động sản được thực hiện tại hai hệ thống khác nhau, trong khi chúng ta chưa có quy định về việc thừa nhận giá trị của việc đăng ký giao dịch bảo đảm tại các hệ thống cơ quan đăng ký khác nhau.

Bá Tú – DDDN.COM.VN

Thông tư số 134/2007/TT-BTC “Hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập DN” mâu thuẫn với Luật doanh nghiệp

So với Thông tư 128/2003/TT-BTC trước đây, Thông tư 134 có nhiều điểm tiến bộ hơn. Tuy nhiên, trong phần quy định về lãi suất tiền vay được thừa nhận vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế vẫn còn một “hạt sạn”, trái với quy định của Luật DN.

Về các khoản lãi trả tiền vay không được thừa nhận vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế, tại mục 2.16, khoản 2, phần III của TT134, quy định: “Các khoản chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu kể cả trường hợp cơ sở kinh doanh đã đi vào sản xuất kinh doanh”. Mục đích của quy định nêu trên là ngăn chặn tình trạng đăng ký vốn “ảo” khi đăng ký thành lập DN đang xảy ra một cách khá phổ biến hiện nay. Song, quy định trên lại mâu thuẫn với quy định của Luật DN về việc góp vốn điều lệ.

Khoản 1, Điều 39 Luật DN quy định việc thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp đối với Cty TNHH có từ hai thành viên trở lên như sau:

“Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết”..và “Người đại diện theo pháp luật của Cty phải thông báo bằng văn bản tiến độ góp vốn đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn…”. Tương tự như vậy, khoản 1 Điều 84 Luật DN quy định đối với việc góp vốn điều lệ của Cty cổ phần như sau:

“1. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày Cty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Khoản 4 Điều 84 cho phép “4. Trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày Cty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Như vậy, Luật DN không yêu cầu các thành viên góp vốn thành lập Cty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải góp vốn ngay sau khi nhận Giấy chứng nhận kinh doanh mà được phép “cam kết tiến độ” góp vốn và bản cam kết này phải được thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Với các Cty cổ phần, các cổ đông sáng lập chỉ có trách nhiệm mua và phải góp đủ tiền đối với 20% vốn điều lệ, 80% còn lại là cổ phần chào bán và phải bán hết trong thời hạn ba năm.

Ai cũng biết rằng, nếu hoạt động kinh doanh bằng vốn tự có thì chi phí sử dụng vốn thấp, có thể bằng 0 và khi đó, thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập DN sẽ cao hơn. Song, xét về hiệu quả đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư có quy mô lớn, việc sử dụng 100% vốn tự có không phải là tối ưu. Hơn nữa, để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thành lập DN, tham gia thị trường, quy định như đã trích dẫn trên của Luật DN là hoàn toàn hợp lý. Do đó, nếu trong thời hạn của cam kết góp vốn đối với Cty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên và trong thời hạn ba năm để chào bán các cổ phần được quyền chào bán của Cty cổ phần, Cty phải huy động vốn từ ngân hàng hoặc các đối tượng khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì tiền trả lãi đối với khoản vay này phải được thừa nhận vào chi phí đầu tư, kinh doanh. Với những Cty cổ phần được thành lập để thực hiện các dự án có quy mô lớn, việc huy động vốn từ các ngân hàng cho 80% còn lại là tất yếu khách quan. Chẳng hạn, một Cty cổ phần đầu tư xây dựng một nhà máy xi măng với tổng đầu tư 500 tỷ đồng, các cổ đông sáng lập phải góp đủ 20% tức là bằng 100 tỷ đồng, 400 tỷ đồng còn lại phải được chào bán trong thời hạn ba năm. Song, việc xây dựng nhà máy không thể kéo dài tới ba năm, cho nên trong 1 đến 2 năm đầu, Cty phải vay đủ 400 tỷ để hoàn thành công trình. Sau đó, sẽ chào bán số cổ phần còn lại để trả nợ tiền vay. Trong trường hợp này, lãi trả tiền vay cho khoản 400 tỷ nêu trên phải được thừa nhận và được “vốn hóa” thành giá trị tài sản cố định của nhà máy.

Từ phân tích trên, có thể kết luận rằng, quy định loại trừ các khoản lãi tiền vay trong trường hợp “Các khoản chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu kể cả trường hợp cơ sở kinh doanh đã đi vào sản xuất kinh doanh” là mâu thuẫn với quy định của Luật DN.

Nếu được, xin đề nghị Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung nội dung trên như sau: “Các khoản chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ theo tiến độ đã đăng ký đối với các Cty TNHH có từ hai thành viên trở lên và giá trị các cổ phần chào bán sau thời hạn ba năm đối với các Cty cổ phần”. Việc sửa đổi, bổ sung như trên là cần thiết khách quan nhằm khuyến khích việc thành lập doanh nghiêp, nuôi dưỡng nguồn thu và không nên để một thông tư cấp bộ lại “đá” luật do Quốc hội ban hành

SOURCE: DDDN.COM.VN

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

Ngân hàng là gì?

Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.

Một ví dụ điển hình về nỗ lực của các tổ chức tài chính trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng được ghi nhận vào những năm 1980 khi rất nhiều công ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch và Dreyfus Corporation, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Họ nhận thức được rằng, theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Merrill Lynch và các tổ chức phi ngân hàng khác nhận định rằng họ có thể né tránh những quy định này và sẽ có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Tuy nhiên, Cục Dự trữ liên bang (Fed), không muốn thấy sự xâm phạm vào lĩnh vực ngân hàng của các “ngân hàng giả”, đã đưa ra quyết định rằng: việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Điều đó đưa Merrill Lynch và các tổ chức tương tự trở thành các ngân hàng thực thụ và phải tuân theo qui định chặt chẽ của Chính phủ.

Sau đó các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán hàng đầu đã kiện lên tòa liên bang, buộc tội Fed đã vượt quá quyền hạn. Năm 1984, tòa án liên bang công nhận này và buộc Fed phải cho phép tồn tại hình thức “các ngân hàng phi ngân hàng” và cho họ tham gia bảo hiểm tiền gửi liên bang. Chỉ trong vòng vài tuần sau phán quyết này, hàng tá đơn xin thành lập “ngân hàng phi ngân hàng” đã được nộp . E.F. Hutton, J.C.Penney và Sears Roebuck là những công ty cung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu được tổ chức dưới dạng ngân hàng phi ngân hàng. Hơn thế, các công ty sở hữu ngân hàng lớn của Citicorp và Chase Manhattan cũng thành lập các “ngân hàng phi ngân hàng” của riêng họ bởi vì với loại ngân hàng này họ có thể mở rộng chi nhánh tự do qua biên giới bang. Năm 1987, Quốc hội hạn chế sự bành chướng của các “ngân hàng phi ngân hàng” bằng cách ràng buộc các công ty sở hữu ngân hàng phi ngân hàng vào những quy định tương tự như các tổ chức ngân hàng truyền thống. Cuối cùng, Quốc hội đã “bắn phát súng cuối cùng” trong việc đưa ra một định nghĩa mang tính pháp lý về ngân hàng: ngân hàng được định nghĩa như một công ty là thành viên của Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang. Đây thật là một sự thay đổi thông minh vì theo luật hiện hành của Mỹ, người ta không các định ngân hàng trên cơ sở những hoạt động của nó mà trên cơ sở cơ quan chính phủ nào sẽ bảo hiểm cho tiền gửi của nó.

Dòng nước đã bị vẩn đục. Vào năm 1991, chính quyền của tổng thống George Bush đề nghị cho phép các ngân hàng với vốn tự có thích hợp sẽ được quyền cung cấp hàng loạt những dịch vụ mới và được phép liên kết với các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán, các công ty đầu tư (các quĩ tương hỗ); cho phép công ty công nghiệp sở hữu các công ty cung cấp dịch vụ tài chính ( những công ty này có thể điều hành nganhangf và các công ty bảo hiểm); cho phép các công ty ngân hàng đầu tư vào những ngành công nghiệp phi tài chính trên cơ sở một số điều kiện ràng buộc. Do đó, các hàng rào pháp lý có tính lịch sử ở Hoa kỳ phân tách hoạt động ngân hàng với các hoạt động kinh doanh khác – điều đã tồn tại qua nhiều thế hệ – đang bị tấn công và có thể sẽ sớm đưa đến một sự thay đổi lớn lao trong việc định nghĩa ngân hàng là gì và nó cung cấp những dịch vụ gì.

Kết qủa của tất cả những thay đổi về pháp lý dẫn đến tình trạng có sự nhầm lẫn trong công chúng khi phân biệt ngân hàng với một số tổ chức tài chính khác. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa hạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức nằng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” (financial department stores) và người ta bắt đầu thấy xuất hiện các khẩu hiệu quản cáo tương tự như: Ngân hàng của bạn – Một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ dịch vụ (Your Bank – a full service Financial institution) (xem Sơ đồ 1 – 1)

Sơ đồ 1 – 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay:

sodo..gif

Các dịch vụ ngân hàng:

Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem bảng 1-1). Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh. Vậy ngày nay xã hội đòi hỏi những dịch vụ gì từ phía các ngân hàng? Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu tổng quân về danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.

Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng:

Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ – một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.

Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất.

Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinhlợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.

Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện.

Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu – Mỹ. Thông thường, ngân hàng đượccấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ Mỹ vay trong thời kỳ chiến tranh. Ngân hàng Bank of North America được Quốc hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia có chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh.

Cung cấp các tìa khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.

Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust service). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.

Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khỏan tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Tron gphòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ chứng khoán.

Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây

Cho vay tiêu dùng. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế ký này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng. Cho tới những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn do Citicorp và Bank of America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dầu vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất.

Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.

Quản lý tiền mặt. Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.

Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụ quản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng về việc cung cấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan. Một ví dụ là tài khoản quản lý tièn mặt của Merrill Lynch, cho phép khách hàng của nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín dụng cho khoản vay tức thời.

Dịc vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đầu các qui định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.

Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture,Inc

Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định ở Mỹ cấm ngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó. Một số bang như Delawake và South Dakota đã cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểm được quy định trên toàn quốc. Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu được phép sẽ có thể cung cấp các dịchvụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt, những quy mô đầu tư của nó chỉ được giới hạn ở mực 10% tổng số vốn chủ sở hữu. Gần đây, Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty bảo hiểm Travelers tromg một số nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiêm đa dạng hơn.

Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS và Keogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.

Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động (ví dụ Bank of America mua Robertson Stephens Co.) hoặc thành lập các liên doanh với một công ty môi giới.

Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trị vốn). Trong khi quá trình phát triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do những vụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnh tranh chống lại sự mở rộng của ngân hàng sang lĩnh vực dịch vụ mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng quản lý chiếm 15% tổng giá trị tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90. Một vài ngân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ này (ví dụ: Citicorp’s Investment Services) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh và môi giới chứng khoán. Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ của ngân hàng đã có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do những qui định nghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư của công chúng.

Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn. Ngân hàng ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn. Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán), cung cấp công cụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác.

Ở Mỹ, các dịch vụ ngân hàng đầu tư (như bảo lãnh phát hành chứng khoán) liên quan tới việc mua bán cổ phiếu mới và nợ do ngân hàng thương mại thực hiện thay mặt cho các công ty đã bị cấm sau khi Quốc hội thông qua các Đạo luật Glass-Steagall năm 1933. Tuy nhiên, trước áp lực lớn từ các công ty ngân hàng trong nước hàng đầu, và do thành công của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, vào những năm 80 Cục lữu trữ liên bang đã bắt đầu nới lỏng các quy định đối với việc ngân hàng kinh doanh chứng khoán do khách hàng của chúng phát hành. Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, ngân hàng đã tạo cho các công ty một kênh huy động vốn mới bên cạnh hình thức cho vay vốn truyền thống. Nhiều công ty đã đánh giá rất cao nghiệp vụ này của ngân hàng, hơn cả hình thức cho vay truyền thống bởi vì nó cung cấp cho họ một nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp hơn. Cho tới cuối những năm 90, Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã cấp cho hơn 40 ngân hàng đặc quyền cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. Trên thực tế, điều này cho phép nhân viên tín dụng ngân hàng cộng tác chặt chẽ với giới kinh doanh chứng khoán trong quá trình tìm nguồn tài trợ cho khách hàng. Năm 1996, Cục quản lý tiền tệ Mỹ ra quy định mới cho phép các ngân hàng có giấy phép hoạt động trên toàn quốc có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành nếu như dịch vụ này được thực hiện thông qua các công ty con, với điều kiện ngân hàng không được đầu tư quá 10% vốn cổ phần vòa một công ty. Một sự nới lỏng hơn nữa trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và như vậy, ngân hàng có thể cung cấp toàn bộ dịch vụ tài trợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Một ví vụ gần đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua Mortgetary Security Inc., Bank America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng Banker Trust of New York mua công ty Alex Brow.

Sự thuận tiện: Tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng. Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp nhiều dịch vụ tài chính như danh mục dịch vụ mà chúng tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khỏan tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang được mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm. Nhìn chung, dạnh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn hơn cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và là Bancassurance ở Pháp.

Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng

Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Như chúng ta đã thấy ở phần trước, các ngân hàng đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dười áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.

Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp  và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty kinh doanh chứng khoán như Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai.

Phi quản lý hóa. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định – giảm bớt sức mạnh kiểm soát của Chính phủ. Điều này bắt đầu từ hai thập kỷ trước, xu hướng nới lỏng các quy định đã được bắt đầu với việc Chính phủ nâng lãi suất trần đối với tiền gửi tiết kiệm nhằm cố gắng giúp công chúng một mức thu nhập khá hơn từ khoản tiết kiệm của mình. Cũng lúc đó, nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển giúp cho công chúng có thể hưởng lãi trên các tài khoản giao dịch. Gần như đồng thời, các dịch vụ mà những đối thủ chính của ngân hàng như hiệp hội tín dụng và cho vay cũng được mở rộng nhanh chóng và do đó khả năng cạnh tranh với ngân hàng của những tổ chức này cũng được củng cố. Các quốc gia hàng đầu  như Australia, Canada, Anh quốc và Nhật Bản gần đây đã tham gia vào trào lưu phi quản lý hóa, nới rộng giới hạn pháp lý cho ngân hàng, cho người kinh doanh chứng khoán và cho các công ty dịch vụ tài chính khác. Chi phí và rủi ro tổn thất theo đó cũng tăng lên.

Sự gia tăng chi phí vốn: Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí  trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ – để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy đọng vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi).

Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Các qui đinj của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mực thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu  nhập thay đổi thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơi với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.

Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.

Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định; sử dụng ít lao động và chi phí biến đổi. Nhiều chuyên gia tin rằng các tòa nhà ngân hàng và các cuộc mít tinh gặp mặt trực tiếp giữa các nhà ngân hàng và khach shàng cuối cùng sẽ trở thành những di tích của quá khứ và bị thay thế bởi các cuộc liên quan và giao tiếp điện tử. Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hoàn toàn tự động. Những bước đị đó sẽ giảm đáng kể chi phí nhân công hóa ngân hàng và gây ra tình trạng mất việc làm khi máy móc thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghiệp gần đây gợi ý rằng một ngành ngân hàng hoàn toàn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời. Một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con người và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính.

Sự củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý. Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công gnhệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng phải có qui mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần pahỉ mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản. Kết quả là hoạt động mở chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng mua lại các ngân hàng nỏi và đưau chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở đã ngày càng phổ biến. Nhiều vụ đại hợp nhất đã diễn ra như vụ hợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhttan ở New York hay Bank of America và Nations Bank. Số lượng các ngân hàng sở hữu độc lập và bắt đầu giảm và qui mô trung bình của các công ty ngân hàng đã tăng đáng kể. Cùng lúc đó, số lượng các ngân hàng nhỏ của Mỹ (tổng tài sản dưới 1 tỷ USD) đã giảm mạnh ít nhất là 1/3 kể từ giữa thập kỷ 80, số lượng nhân viên giảm hơn 100.000 người trong cùng thời ký.

Hơn nữa, thập kỷ 80 và 90 đã mở ra một kỷ nguyên sự bành trướng “liên tiểu bang” trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Hơn 300 tổ chức ngân hàng đã vương ra khỏi thị trường tiểu bang, thôn tính các ngân hàng nhỏ để trở thành những ngân hàng tầm cỡ quốc gia. Hiện nay ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt được sự đa dạng hóa và ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng cổ điển và nhấn mạnh vai trò của nó như là các tổ chức tài chính năng động, đổi mới và hướng về khách hàng.

Với sự phát triển của tự động hóa, ngày càng nhiều ngân hàng mở chi nhánh ở những vùng xa với các thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động – một phương pháp mở rộng qui mô thị trường hơn là xây dựng các cơ sở vạt chất mới. Trong nhiều trường hợp, hệ thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụ hữu hạn sẽ thay thế các văn phòng chi nhánh đa năng của ngân hàng.

Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng. Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lể và lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn nhất thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Vào những năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai_I Chi Kangyo Bank và Fuji Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp thế giới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp (dẫn đầu là Caisse Nationale de Credit Agricole), tại Đức (dẫn đầu là Deutsche Bank) và tại Anh (dẫn đầu là Barclays PLC) cũng trở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và cho vay công ty. Quá trình phi quản lý hóa đã giúp tất cả các tổ chức này cạnh tranh hiệu quả hơn so với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần ngày càng tăng trên thị trường toàn cầu về dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, Canada, Mỹ và Mexico đã thực hiện Hiệp ước mậu dịch tư do Bắc Mỹ (NAFTA) điều mà cho phép ngân hàng ở những nước này sở hữu và quản lý các chi nhánh ngân hàng ở nước kia và sức mạnh dịch vụ của các chi nhánh loại này hoàn toàn so sánh được với những chi nhánh sở hữu bởi các ngân hàng trong nước.

Rủi ro vỡ nợ gia tăng và sự yếu kém của hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Trong khi xu hướng hợp nhất và bánh trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân hàng ít tổn thương trong điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có ván đề một nền kinh tế luôn biến động đã dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Xu hướng phi quản lý hóa trong lĩnh vực tài chính đã mở ra cơ hội cho các nhà ngân hàng, nhưng cũng chỉ tạo ra một thị trường tài chính xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản, thôn tính và thành lý ngân hàng dễ xảy ra hơn.

Commercial Bank Management (Peter S.Rose) – 2001

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM KÝ KẾT SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG

1.
HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ KHU VỰC ĐẦU TƯ ASEAN

2.
HIỆP ĐỊNH KHUNG ASEAN VỀ DỊCH VỤ

3.
HIỆP ĐỊNH KHUNG E-ASEAN

4.
HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC CÔNG NGHIỆP ASEAN

5.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NHÀ NƯỚC ISRAEL VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

6.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ ÔXTRÂYLIA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN

7.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG THUỴ SĨ VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU

8.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA CHILÊ VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU

9.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA ÁCMÊNIA VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

10.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ INDONESIA VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

11.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC ĐẦU TƯ TƯ NHÂN HẢI NGOẠI TẠI VIỆT NAM

12.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MALAIXIA VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

13.
NGHỊ ĐỊNH THƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI NĂM 1992

14.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ PHÁP VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

15.
HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MẬU DỊCH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA CANADA

16.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH CHỦ CỘNG HOÀ THỐNG NHẤT TAN-DA-NI-A

17.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ AUSTRALIA

18.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA LI-BĂNG

19.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA PHILIPPINES VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

20.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ THỐNG NHẤT TAN-DA-NI-A

21.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ HỒI GIÁO PAKISTAN

22.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ LIÊN BANG NI-GIÊ-RI-A

23.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NA-MI-BI-A

24.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ MÔ-DĂM-BÍCH

25.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VỀ TỰ DO, XÚC TIẾN VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

26.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC MA RỐC

27.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DIM-BA-BU-Ê

28.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ CÔNG-GÔ

29.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

30.
HIỆP ĐỊNH KHUNG E-ASEAN

31.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ MAN-TA

32.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ IRAC

33.
HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ GHI NÊ XÍCH ĐẠO

34.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ PÊRU

35.
HIỆP ĐỊNH VỀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CANADA

36.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ U-DƠ-BÊ-KI-XTAN VỀ VIỆC THÀNH LẬP UỶ BAN LIÊN CHÍNH PHỦ VIỆT NAM U-DƠ-BÊ-KI-XTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT

37.
HIỆP ĐỊNH VỀ HỢP TÁC THƯƠNG MẠI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUÔC THÁI LAN

38.
NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC THƯƠNG MẠI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN

39.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ IN-ĐÔ-NÊ-XI-A VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC KỸ THUẬT

40.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

41.
HIỆP ĐỊNH VỀ THÀNH LẬP UỶ BAN HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

42.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ – KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

43.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

44.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ UZBEKISTAN

45.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ TRIỀU TIÊN

46.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ RUMANI

47.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ PHẦN LAN

48.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ LATVIA

49.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA ỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

50.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẦN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ HUNGARY

51.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ CU BA

52.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ARGENTINA

53.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ ARMENIA

54.
HIỆP ĐỊNH VỀ THÚC ĐẨY VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ AUSTRALIA

55.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ ẤN ĐỘ

56.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ BALAN

57.
HIỆP ĐỊNH VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG THUỴ SĨ

58.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TAT-GI-KI-XTAN

59.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ PHILIPPINES VỀ XÚC TIẾN VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

60.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XINGAPO

61.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MALAYSIA

62.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ INDONÊXIA

63.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BELARUS

64.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA

65.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THUỴ ĐIỂN

66.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ ÁO

67.
HIỆP ĐỊNH GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH KINH TẾ BỈ – LUC-XAM-BUA VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU

68.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH

69.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC HÀ LAN

70.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC

71.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA

72.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC HASIMIT GIOOC ĐA NI

73.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ JA-MA-HI-RI-A Ả RẬP LI-BI NHÂN DÂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

74.
HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ RUMANI

75.
HIỆP ĐỊNH VỀ THANH TOÁN VỀ HỢP TÁC GIỮA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

76.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ YEMEN

77.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ SRI LANKA

78.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC KUWAIT

79.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC PALESTINE

80.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ NHÂN DÂN BANGLADESH

81.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU

82.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

83.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ MÁY THUỶ ĐIỆN

84.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ ĐẶC KHU HÀNH CHÍNH HỒNG KÔNG THUỘC NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA VỀ DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG

85.
HIỆP ĐỊNH THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ NHÂN DÂN MÔNG CỔ

86.
HIỆP ĐỊNH HÀNG HẢI THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA

87.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-ĐẠI HÀN DÂN QUỐC VỀ HỢP TÁC VÀ HỖ TRỢ LẪN NHAU TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN

88.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA VN-PHILIPINES

89.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-UDƠBÊKIXTĂNG VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

90.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-ĐẠIHÀNDÂNQUỐC VỀ TRÁNH ĐẤNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

91.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-THỤYSĨ VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP VÀ VÀO TÀI SẢN

92.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-THAILAN VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

93.
HIỆP ĐỊNH VN – SINGAPORE VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

94.
HIỆP ĐỊNH VN – THỤY ĐIỂN VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

95.
HIỆP ĐỊNH DƯỚI HÌNH THỨC TRAO ĐỔI THƯ SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH GIỮA CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM VỀ BUÔN BÁN HÀNG DỆT MAY, KÝ TẮT NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 1992 SỬA ĐỔI LẦN GẦN ĐÂY NHẤT DƯỚI HÌNH THỨC TRAO ĐỔI THƯ KÝ TẮT NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1997

96.
HIỆP ĐỊNH VN-THAILAN VỀ KHOẢN TÍN DỤNG LÂU DÀI

97.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ MUA BÁN HÀNG HOÁ Ở VÙNG BIÊN GIỚI

98.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÔNG NHẬN LẪN NHAU

99.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ QUÁ CẢNH HÀNG HOÁ

100.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

101.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TRIỀU TIÊN

102.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC HASIMIT GIOOCÐANI

103.
HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ GABÔNG

104.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ESTÔNIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ -THƯƠNG MẠI

105.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ CUBA VỀ TRAO ĐỔI THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC KINH TẾ KHÁC

106.
HIỆP ĐỊNH KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ CHILÊ

107.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CANAÐA VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MẬU DỊCH

108.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ HOÀNG GIA CAMPUCHIA

109.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ CADẮCXTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI

110.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CÔOÉT

111.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BUNGARI

112.
HIỆP ÐỊNH CHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ BUỐCKINA PHAXÔ

113.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BÊ NANH

114.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BELARUS VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

115.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI ỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BA LAN

116.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ẤN ÐỘ

117.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ Ả RẬP AI CẬP

118.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ACHENTINA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

119.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HOÁ, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ YEMEN

120.
HIỆP ÐỊNH VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XUÐĂNG

121.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ UZBEKISTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

122.
HIỆP ÐỊNH VỀ QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC UCRAINA

123.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TUNISIE

124.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

125.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

126.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC LIÊN BANG THỤY SỸ

127.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC THƯƠNG MẠI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ THỔ NHĨ KỲ

128.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TADGIKISTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI

129.
HIỆP ĐỊNH KHUNG HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TÔGÔ

130.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XLÔVAKIA VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN

131.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ A RẬP SYRIA

132.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ SINGAPORE

133.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ SÉC

134.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC RUMANI VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN

135.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ HỒI GIÁO PAKISTAN

136.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ÔXTRÂYLIA

137.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NIU DILÂN

138.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NAM PHI

139.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC NAUY VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ

140.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC LIÊN BANG MYANMAR

141.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HOÁ, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ MALI

142.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC MALAIXIA

143.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC MÔNG CỔ

144.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ MÔNĐÔVA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

145.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ LITVA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

146.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

147.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA LATVIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI

148.
HIỆP ÐỊNH VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC, KỸ THUẬT, NÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NHÀ NƯỚC IXRAEN

149.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA HỒI GIÁO IRAN

150.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA INDONESIA

151.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA HY LẠP VỀ HỢP TÁC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA HY LẠP VỀ HỢP TÁC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ

152.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA HUNGARI VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN

153.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP