SINH CON THEO PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÓ LIÊN QUAN

 THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

  Sinh con theo phương pháp khoa học đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, chính điều đó đã cho phép các cặp vợ chồng vô sinh có thể có con, niềm mong mỏi tha thiết của họ đã trở thành hiện thực. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản có thể giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như môi trường, hậu quả chiến tranh… đáp ứng được nguyện vọng làm cha, làm mẹ của họ, điều đó đã thể hiện những giá trị nhân bản cao đẹp. Thực tế việc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản không đơn thuần thuộc lĩnh vực khoa học mà còn liên quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, pháp lí, về tâm lí tình cảm… Việc áp dụng các biện pháp này trong nhiều trường hợp không chỉ trong nội bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn có thể liên quan đến người thứ ba, đó là người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi, do đó vấn đề này càng trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn bao giờ hết. Trước thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định” (Điều 63); Để cụ thể vấn đề này, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học (sau đây gọi tắt là Nghị định 12). Nghị định này đã quy định việc thụ tinh nhân tạo; thụ tinh trong ống nghiệm; việc cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn; cho, nhận phôi; lưu giữ phôi và xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.

Nghị định 12 là hành lang pháp lí thuận lợi để các trung tâm y tế áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập một số vấn đề pháp lí liên quan đến việc sinh con theo phương pháp khoa học.

+ Nghị định 12 đưa ra khái niệm: “Cặp vợ chồng vô sinh” nhưng không quy định rõ để được thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản thì phải là vợ chồng hợp pháp, tức là phải có đăng kí kết hôn hoặc quan hệ vợ chồng được xác lập trước 3/1/1987, chỉ có như vậy mới ràng buộc được quyền và nghĩa vụ pháp lí của họ với nhau cũng như với việc thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.

+ Nghị định 12 quy định: “Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm” (Điều 3). Quy định này đã nêu phạm vi được phép áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản, thêm vào đó, Nghị định cũng đã cấm việc mang thai hộ và sinh sản vô tính (Điều 6). Quy định này là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập quán truyền thống, tâm lí tình cảm và quan điểm chung của các nước trên thế giới. Thực tế cho thấy vấn đề mang thai hộ, xét thuần tuý về mặt khoa học thì có thể chấp nhận được nhưng xét đưới góc độ tâm lí, tình cảm, phong tục tập quán và pháp lí thì rất phức tạp, đặc biệt là quan hệ mẹ con vì, theo pháp luật hiện hành người nào sinh ra đứa trẻ sẽ là mẹ của nó (chứng minh bằng giấy chứng sinh), ngoài ra rất khó đưa ra cơ chế giám sát đối với người mang thai hộ hay những vấn đề về mặt tố tụng đối với cặp vợ chồng đang nhờ mang thai và người mang thai hộ, chẳng hạn vấn đề hạn chế li hôn có được áp dụng tương tự không?… Sinh sản vô tính là vấn đề mang tính toàn cầu, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này là rất khó khăn bởi nếu người nhân bản ra đời thì sẽ có mối quan hệ như thế nào với người được nhân bản, sẽ là anh chị em sinh đôi hay là quan hệ mẹ con, cha con duy nhất. Vì vậy, Nghị định 12 cấm mang thai hộ và sinh sản vô tính là hoàn toàn phù hợp.

+ Nghị định 12 không chỉ quy định việc cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn mà còn quy định việc cho, nhận phôi. Như vậy, đứa trẻ khi ra đời không nhất thiết phải mang gen của người cha hay người mẹ về mặt pháp lí, điều này đảm bảo quyền được làm cha, làm mẹ và đặc biệt là đảm bảo cho người phụ nữ thực hiện thiên chức của mình đó là chức năng sinh đẻ. Tuy nhiên, điều này đi ngược lại cách hiểu truyền thống là đứa trẻ khi ra đời phải mang ít nhất huyết thống của người cha hoặc người mẹ. Cùng với việc cho, nhận tinh trùng; trứng; phôi là việc bảo đảm việc lưu giữ và bảo quản tinh trùng, phôi. Khoản 2 Điều 17 Nghị định 12 đã quy định: “Tinh trùng, phôi được lưu giữ trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”. Và khoản 2 Điều 18 Nghị định 12 quy định: “Người gửi tinh trùng phải chi phí lưu giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người gửi tinh trùng bị chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng phải huỷ số tinh trùng của người đó”. Về vấn đề này chúng tôi thấy rằng nếu trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh đang thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết và tinh trùng của người chồng đang được lưu giữ thì có nên huỷ tinh trùng của họ không? Theo chúng tôi là không thể huỷ tinh trùng của người đó nếu không có sự đồng ý của người vợ vì trước đó cả hai vợ chồng đã thể hiện sự tự nguyện mong muốn thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học, nếu sau khi người chồng chết mà người vợ vẫn muốn tiếp tục thực hiện việc sinh con đó thì phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ. Tuy nhiên, vấn đề này có liên quan đến quy định tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình: “… con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết… thì được xác định là con chung của hai người”. Vì trường hợp trên sẽ không giống như trường hợp sinh con do có quan hệ tình dục giữa vợ và chồng, do đó thời gian này có thể không chỉ là trong vòng 300 ngày mà có thể là dài hơn, tuỳ thuộc vào quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản đối với người vợ. Như vậy, Nhà nước cần thiết phải có quy định pháp lí cho trường hợp đặc biệt này.

+ Điều kiện hạn chế li hôn có nên áp dụng trong trường hợp khi hai vợ chồng đang tiến hành áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản để sinh con theo phương pháp khoa học không? Có thể trong trường hợp đang tiến hành thụ tinh đã thành phôi và đang trữ phôi, vì điều này rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người vợ và đứa con tương lai. Nếu cả hai bên quyết định li hôn thì họ phải quyết định huỷ bỏ yêu cầu áp dụng việc sinh con theo phương pháp khoa học. Còn trong trường hợp người chồng biệt tích thì vẫn tiến hành áp dụng như các trường hợp khác vì người chồng đã thể hiện mong muốn có con bằng văn bản.

+ Vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là rất đặc biệt do vậy việc xác định cha, mẹ, con cũng có những nét riêng biệt.

Điều 20 Nghị định 12 quy định:

“1. Trẻ ra đời do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân.

2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”.

Điều 21 Nghị định 12 quy định:

“Con được sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi”.

Như vậy, với việc sinh con theo phương pháp khoa học đã đặt ra một thực tế là có sự khác biệt giữa người cha, người mẹ về mặt pháp lí và người cha, người mẹ về mặt huyết thống. Việc xác định như vậy cũng xuất phát từ nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng” (Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Đây là sự đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ chồng vô sinh và đặc biệt là đứa trẻ. Đối với trường hợp người phụ nữ độc thân khi sinh con thì áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa mẹ và con. Đặc biệt, trong trường hợp này cần quy định rõ sau khi đứa trẻ được sinh ra nếu người cha, người mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không được yêu cầu xác định lại vì quan hệ cha mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, họ không được quyền yêu cầu giám định về gen di truyền. Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng có quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa con là con ruột của mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợ chồng vô sinh, người phụ nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có sự nhầm lẫn trong quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản thì nên chăng cho phép họ được quyền yêu cầu được xem xét lại trong phạm vi và mức độ nào đó. Vấn đề này sẽ trở nên phức tạp hơn khi có sự nhầm lẫn, do vậy cần có quy định cụ thể về vấn đề này.

Tóm lại, vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt là về mặt pháp lí, bởi trong chừng mực nào đó nó đã làm thay đổi những quan niệm truyền thống về quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con… vì vậy cần có những văn bản pháp lí hướng dẫn cụ thể về vấn đề này./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 2/2003

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON

2. XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON DƯỚI GÓC ĐỘ BÌNH ĐẲNG GIỚI

3. Một số điểm mới trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng (còn gọi là chế độ tài sản giữa vợ chồng) là một phạm trù thuộc quyền sở hữu công dân được ghi nhận trong Hiến pháp (Điều 58 – Hiến pháp 1992)

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử xã hội, mỗi chế độ xã hội đều quy định một chế độ tài sản giữa vợ chồng cho phù hợp với phong tục tập quán và hoàn cảnh kinh tế xã hội. Chẳng hạn, thời kì trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) và Bộ dân luật Trung Kỳ (1936) đã quy định cho vợ chồng được tự do lập hôn ước, chế độ tài sản pháp định chỉ đặt ra khi vợ chồng không lập hôn ước. Theo chế độ này, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng như của vợ, không kể tài sản đó được tạo ra trước hay trong thời kì hôn nhân. Continue reading

NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” .

Trong tiếng Việt, chung thuỷ là vẫn một lòng trước sau như một, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi.

Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái niệm rộng. Trong quan hệ vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi. Continue reading

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

“Giới là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và nữ giới. Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế xã hội…”.([1]) Trong xã hội hiện đại ngày nay, sự bất bình đẳng về giới vẫn tồn tại một cách dai dẳng, không chỉ ở các quốc gia kém phát triển mà ở cả những quốc gia phát triển. Sự bất bình đẳng này luôn được bắt nguồn từ những lí do về mặt xã hội. Xoá bỏ sự bất bình đẳng giới là một yêu cầu xã hội được các trào lưu tiến bộ xã hội hết sức coi trọng. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy môn học Luật hôn nhân và gia đình, sự hiểu biết về giới, vận dụng kiến thức về giới trong chu trình đào tạo khép kín của môn học này là vô cùng cần thiết và bổ ích. Continue reading

VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Gia đình là tế bào của xã hội, tại đó tồn tại mối quan hệ ruột thịt và tình thương, gắn bó các chủ thể một cách thường xuyên, lâu dài, thậm chí suốt cả đời người về tình cảm và nghĩa vụ. Trong các mối quan hệ đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con được duy trì lâu bền nhất do yếu tố tình cảm chi phối và cũng vô cùng tế nhị. Từ đó dẫn đến vấn đề mà xã hội quan tâm là làm thế nào để xác định chính xác mối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con (đặc biệt là mối quan hệ cha – con). Bởi điều đó liên quan đến tình cảm, danh dự, uy tín; liên quan đến quan hệ tài sản trong đời sống xã hội. Vì vậy, nó nhất thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật.

1.Vấn đề xác định cha mẹ cho con trong giá thú

Luật hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) năm 1986 đã đưa ra được phương pháp suy đoán pháp lí xác định quan hệ cha mẹ và con Điều 28 LHNGĐ năm 1986 quy định: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng.

Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác“.

Tại Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi cũng quy định tương tự về con chung của vợ, chồng như sau:

1. Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ, chồng

Tuy nhiên, Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi đưa thêm khái niệm thế nào là trường hợp người vợ có thai trong thời kì hôn nhân:

Người vợ được coi như có thai trong thời kì hôn nhân nếu con sinh ra quá 180 ngày sau ngày kết hôn hoặc chưa đến 300 ngày sau ngày hôn nhân chấm dứt“.

Đồng thời, Điều 71 Dự thảo LHNGĐ quy định rõ trách nhiệm chứng minh đứa trẻ sinh ra trong thời kì hôn nhân không phải là con mình chỉ thuộc về người chồng:

2. Trong trường hợp người chồng có yêu cầu xác định đứa trẻ sinh ra trong thời kì hôn nhân không phải là con mình thì phải có chứng cứ“.

Thời kì hôn nhân sẽ được tính từ ngày hai bên nam nữ được cấp giấy chứng nhận kết hôn cho đến khi một trong hai bên vợ hoặc chồng bị chết, bị tuyên bố là đã chết hoặc hai bên được tòa án cho phép li hôn bằng bản án hay quyết định thuận tình li hôn có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, theo đoạn 1 Điều 28 LHNGĐ năm 1986 và đoạn 1 Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi, chúng ta có thể xác định được hệ quả của quy định: Đứa trẻ được coi là con chung của vợ, chồng trong những trường hợp sau:

1. Con do người vợ thụ thai và sinh ra trong thời kì hôn nhân.

2. Con do người vợ thụ thai trước thời kì hôn nhân và sinh ra trong thời kì hôn nhân.

3. Con do người vợ thụ thai trong thời kì hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời hạn luật định (ít hơn hoặc bằng 300 ngày).

4. Đặc biệt là trường hợp thứ 4: Con do người vợ thụ thai trước thời kì hôn nhân nhưng lại sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong thời hạn luật định thì có áp dụng Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi để xác định là con chung của vợ, chồng không?

Ví dụ: A và B kết hôn vào tháng 4/1995 (khi B có thai được 3 tháng) đến tháng 6/ 1995 A bị tai nạn giao thông và bị chết. Đến tháng 10/1995 B sinh con là C. Vậy A có được coi là cha của C không?

Tại Điều 28 LHNGĐ năm 1986 đã dùng cụm từ “hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó” (tức là thời kì hôn nhân). Có thể dẫn đến hai trường hợp:

1. Người vợ bắt đầu thụ thai trong thời kì hôn nhân;

2. Người vợ đang có thai trong thời kì hôn nhân (tức là có thai trước đó).

Nếu cả hai trường hợp này đều được coi là đúng thì ví dụ trên được coi là trường hợp đặc biệt trong hệ quả của quy định tại Điều 28 LHNGD năm 1988 (A – C có quan hệ cha con, bởi trong khi hôn nhân giữa A và B còn tồn tại thì B “đang có thai” như trong quy định tại Điều 28).

Nhưng trong Dự thảo LHNGĐ sửa đổi (Điều 71) lại quy định thêm khái niệm thế nào là có thai trong thời kì hôn nhân (như đã đề cập ở phần trên), do đó trong ví dụ trên khó xác định được A là cha của C bởi C không được mẹ là B sinh ra trong thời kì hôn nhân cũng như không phải đã được B thụ thai trong thời kì đó. Hơn nữa, nếu xét trên thực tế thì quan hệ cha con giữa A và C đương nhiên được công nhận. Do vậy, theo ý kiến của chúng tôi không cần quy định thế nào là có thai trong thời kì hôn nhân mà nên quy định về thời gian mang thai (đối với đứa trẻ sinh thiếu tháng, đủ tháng, già tháng). Chỉ cần biết rằng cứ trong thời kì hôn nhân mà người vợ đang có thai thì có thể suy đoán đó là con chung của vợ, chồng. Nếu người chồng có nghi ngờ thì họ có quyền yêu cầu xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 28 LHNGĐ và Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi.

Mặt khác, trong đoạn 2 Điều 28 LHNGĐ năm 1986 và khoản 2 Điều 71 Dự thảo LHNGĐ sửa đổi có quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của người chồng khi có yêu cầu xác định lại quan hệ cha con nhưng chưa quy định chứng cứ nào là có ý nghĩa về mặt pháp lí để làm sáng tỏ vấn đề này. Hiện nay, theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của LHNGĐ có quy định tại điểm 5 về chứng cứ để xác định lại quan hệ cha con, như: Người vợ công nhận là mình có thai với người khác trước khi kết hôn; người chồng chứng minh rằng mình đã đi công tác xa trong thời gian mà người vợ có thể thụ thai đứa trẻ… Những chứng cứ này chưa đủ và chưa có sức thuyết phục.

Điều cần thiết là LHNGĐ sửa đổi phải đưa ra hệ thống các chứng cứ mang tính khoa học cao. Chẳng hạn, theo chúng tôi cần quy định người chồng có thể đưa ra các chứng cứ sau:

+ Kết quả giám định của cơ quan y tế về tình trạng bất lực sinh lí của người chồng.

+ Trong thời kì thụ thai đứa trẻ, người chồng đi công tác; đang chịu hình phạt tù… (có xác nhận của cơ quan chủ quản).

+ Kết quả giám định của cơ quan y tế về kết quả có thai của người vợ trước ngày đi thăm chồng…

+ Có quyền yêu cầu khảo sát di truyền phụ hệ dựa trên các phương pháp y học trong điều kiện có thể.

Ngoài ra, để hoàn thiện phương pháp suy đoán pháp lí xác định quan hệ cha mẹ và con theo Điều 28 LHNGĐ năm 1986, LHNGĐ sửa đổi cần quy định cụ thể để tránh nhầm lẫn về con cái.

Ví dụ: Tháng 1/1990 A và B kết hôn. Tháng 5/1990 A và B được tòa án cho phép li hôn bằng bản án có hiệu lực pháp luật.

Tháng 6/1990 B kết hôn với C, tháng 9/1990 B sinh con là D. Vậy xác định ai là cha của D?

Nếu theo phương pháp suy đoán pháp lí tại Điều 28 thì:

– D được xác định là con của A (bởi B đã có thai trong thời kì hôn nhân với A).

– D được xác định là con của C (bởi B đã sinh con trong thời kì hôn nhân với C).

Có thể nói đây là trường hợp trong thực tế rất khó xác định đích thực ai là cha của đứa trẻ.

Cho nên LHNGĐ sửa đổi cần quy định theo hướng:

+ Bổ sung thêm trong điều kiện kết hôn vấn đề khám sức khỏe của hai bên nam, nữ để biết tình trạng sức khỏe của họ. Vấn đề này không những có ý nghĩa trong việc xác định quan hệ cha con mà còn mang tính xã hội hóa cao về việc ngăn ngừa những bệnh truyền nhiễm.

2. Vấn đề xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú

Đối với việc xác định cha cho con ngoài giá thú, Điều 29, 31 LHNGĐ năm 1986 và Điều 72, 73, 74, 75 Dự thảo LHNGĐ mới chỉ quy định phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu xác định mối quan hệ cha mẹ và con mà chưa quy định cụ thể những bằng chứng để xác định quan hệ đó. Hiện nay, loại án kiện này trên thực tế rất nhiều và hầu hết các tòa án vẫn áp dụng theo Thông tư số 15/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao nhắc lại đường lối xử li hôn một vài loại tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình.

Thông tư số 15/TATC quy định:

Trường hợp một người mẹ xin truy nhận một người là cha của đứa con chưa thành niên hoặc bản thân đứa con đó đã thành niên xin truy nhận một người là cha mình cần có đủ bằng chứng xác định những sự kiện sau đây:

+ Trong thời gian có thể thụ thai đứa con, người này và người mẹ đã công nhiên sống với nhau như vợ chồng;

+ Hai người đã thương yêu nhau, hứa hẹn kết hôn với nhau và trong thời gian có thể thụ thai đứa con đã ăn nằm với nhau như vợ chồng rồi sau khi sinh con thì bỏ không cưới nữa;

+ Người mẹ đã bị người này hiếp dâm, cưỡng dâm trong thời gian có thể thụ thai đứa con;

+ Sau khi sinh con, người này đã chăm nom, săn sóc đứa con như là con mình;

+ Có thư từ người này viết xác nhận đứa con do người mẹ sinh ra là con của họ“.

Với các chứng cứ nêu trên cho thấy, hiện nay luật chủ yếu chỉ căn cứ vào thời gian người phụ nữ có thể thụ thai, người phụ nữ đó có quan hệ với người đàn ông bị nghi vấn là cha của đứa trẻ hay không.

Dù rằng chỉ mang ý nghĩa tương đối nhưng trong LHNGĐ sửa đổi cần quy định những bằng chứng này. Ngoài ra, có thể quy định thêm các biện pháp y học cần thiết, điều này sẽ làm tăng độ chính xác trong việc xác định quan hệ cha mẹ và con nói chung, đặc biệt là xác định quan hệ cha con đối với con ngoài giá thú.

Thực tế, qua trao đổi với một số bác sĩ cũng như cập nhật thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi được biết tại Trung tâm truyền máu và huyết học, việc xác định đứa trẻ là con của ai đã được thực hiện từ đầu năm 1997 nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiều người (năm 1997 có khoảng 30 ca). Theo các bác sĩ cho biết thì vấn đề xác định quan hệ cha con dựa trên cơ sở y học được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau với độ chính xác khác nhau như:

1. Phương pháp kháng nguyên hồng cầu (với phát minh khoa học của Landsteiner năm 1900).

Căn cứ vào tính chất di truyền của các nhóm máu A B O khi biết kiểu máu của mẹ và con có thể dự đoán được kiểu máu của người bố.

Mẹ nhóm máu B, con nhóm máu A thì những người đàn ông bị nghi là cha của đứa trẻ có nhóm B hoặc O bị loại trừ. Như vậy, bằng phương pháp này sẽ loại trừ được người đàn ông nào đó không phải là cha của đứa trẻ (khẳng định) hoặc người đàn ông nào đó có thể là cha của đứa trẻ (khả năng). Trên thực tế cho thấy diện những người đàn ông bị nghi là cha của đứa trẻ là không nhiều, nếu chỉ căn cứ vào lời khai của các bên thì rất khó xác định ai là cha của đứa trẻ, có trường hợp người mẹ đứa trẻ không biết ai trong số những người đàn ông mình đã quan hệ là cha của đứa con mình sinh ra. Hơn nữa, nhiều người đàn ông khi bị xác định là cha của đứa trẻ đã đề đạt nguyện vọng giám định quan hệ cha con bằng phương pháp y học.

Ví dụ: Tại Bản án số 77/DSPT ngày 11/11/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm vụ kiện xác định cha cho con giữa nguyên đơn là chị N (sinh năm 1973) và bị đơn là anh T (sinh năm 1967). Hoặc Bản án số 77/DSPT ngày 3/11/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ kiện xác định cha cho con giữa nguyên đơn là chị D (28 tuổi) và bị đơn là anh Đ (52 tuổi). Cả hai vụ kiện trên, bị đơn đều tha thiết yêu cầu tòa án trưng cầu giám định về máu nhưng đều không được chấp nhận.

2. Ngoài ra, còn một số phương pháp khác như phương pháp kháng nguyên bạch cầu, phương pháp xác suất thống kê sinh kì, phương pháp giám định gen (ADN). Với phương pháp giám định gen có thể xác định chính xác mối quan hệ cha con. Nhưng những phương pháp này đòi hỏi chi phí và điều kiện bảo quản nghiêm ngặt rất cao. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật thì vấn đề này có thể giải quyết được trong tương lai gần và nên chăng, trong LHNGĐ sửa đổi cần quy định thêm điều luật dự phòng để có thể áp dụng bất kì phương pháp giám định y học nào vào việc xác định quan hệ cha con (theo chúng tôi được biết, để tiến hành ca giám định thì chi phí trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với việc ra nước ngoài tiến hành). Điều đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí cho các bên chủ thể (giữa người yêu cầu giám định và người tiến hành giám định) với cùng mục đích là tìm kiếm người cha đích thực cho đứa trẻ.

Trên đây là một vài ý kiến nhỏ, hi vọng trong LHNGĐ sửa đổi sẽ có những quy định cụ thể hơn, tạo ra được hành lang pháp lí phù hợp với tình hình thực tế liên quan đến vấn đề xác định quan hệ cha mẹ và con nhằm đạt tới độ chính xác cao trong mối quan hệ cha con, từ đó làm ổn định các mối quan hệ khác trong gia đình./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON DƯỚI GÓC ĐỘ BÌNH ĐẲNG GIỚI

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn vào ngày 18/12/1979 và có hiệu lực vào ngày 03/09/1981. Đây là một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền của phụ nữ. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới tham gia Công ước này. Nội dung các quyền của phụ nữ thể hiện sự bình đẳng giới được quy định rất cụ thể trong từng điều của Công ước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân và gia đình mà trọng tâm là quyền xác định cha, mẹ, con trên cơ sở bình đẳng giới.

Điểm D Điều 16 của CEDAW đã quy định về quyền bình đẳng của nam nữ trong quan hệ với con cái như sau: “Quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha, mẹ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ ra sao, về các vấn đề liên quan đến con cái họ. Trong mọi trường hợp lợi ích của con cái phải là điều quan trọng nhất”. Quan hệ giữa cha mẹ và con là mối quan hệ huyết hệ tự nhiên vốn rất thiêng liêng và nhạy cảm. Việc xác định mối quan hệ này có ý nghĩa trong mọi thời đại và được đặc biệt coi trọng bởi nó liên quan đến rất nhiều mối quan hệ khác về dân sự, hôn nhân gia đình. Dưới góc độ bình đẳng giới việc xác định cha, mẹ, con chủ yếu thể hiện ở quyền sinh con và xác định cha, mẹ, con.

Kể từ khi giành được chính quyền, Nhà nước ta rất chú trọng đến vấn đề bình đẳng giới. Điều đó được thể hiện rất rõ trong các bản hiến pháp qua các thời kì lịch sử của đất nước. Với vấn đề xác định cha, mẹ, con, hệ thống pháp luật về hôn nhân gia đình đã quy định tương đối đầy đủ. Trong những quy định này, sự bình đẳng về giới được thể hiện khá rõ nét.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ năm 2000) trên cơ sở kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đã dành hẳn một chương quy định về vấn đề xác định cha, mẹ, con (Chương VII từ Điều 63 đến Điều 66) bao gồm việc xác định cha, mẹ; quyền xác định con; quyền nhận cha, mẹ; chủ thể có quyền xác định cha, mẹ, con.

1. Bình đẳng giới trong việc xác định con chung của vợ chồng

Thứ nhất, khi người phụ nữ có hôn nhân hợp pháp, việc xác định quan hệ cha mẹ và con được thể hiện trong nguyên tắc suy đoán pháp lí quy định tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng”.

Theo nguyên tắc suy đoán pháp lí này, mỗi khi sinh con người phụ nữ không cần phải chứng minh chồng mình là cha của đứa trẻ do mình sinh ra, cũng như không được ngăn cản chồng mình thực hiện quyền là cha của đứa trẻ do mình sinh ra. Người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ đó và được thực hiện quyền làm cha của mình. Như vậy, có thể thấy rằng sự bình đẳng giới thể hiện rất rõ trong việc xác định con chung của vợ chồng. Pháp luật đã căn cứ vào thời kì hôn nhân của vợ chồng để suy đoán mối quan hệ cha mẹ và con. Khi nam nữ trở thành vợ chồng của nhau đều xuất phát từ yếu tố tình cảm; giữa họ phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lí theo luật định như nghĩa vụ chung thuỷ, thương yêu quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau… Mặt khác, do tác động của nhiều yếu tố khác như điều kiện kinh tế, xã hội… có ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về tình yêu và hôn nhân gia đình nên không ít trường hợp người vợ có thai trước thời kì hôn nhân hoặc thậm chí sinh con trước thời kì hôn nhân thì đa số là do vợ chồng đã có quan hệ sinh lí trước thời kì hôn nhân nên pháp luật vẫn suy đoán là con chung của vợ chồng. Chính vì vậy, pháp luật không cần đưa ra định nghĩa thế nào là con được thai nghén trong thời kì hôn nhân như pháp luật thời kì trước. Điều này đảm bảo quyền lợi không chỉ của đứa trẻ mà còn bảo vệ quyền của người vợ, người mẹ trong gia đình. Ngay cả trong trường hợp sau khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt mà người vợ sinh con trong một thời gian luật định (trong vòng 300 ngày kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân) thì pháp luật vẫn xác định là con chung của vợ chồng. Điều đó đảm bảo ổn định quan hệ cha mẹ và con đồng thời giúp cho người phụ nữ yên tâm thực hiện thiên chức của mình.

Thứ hai, việc xác định lại quan hệ cha, mẹ, con, tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được toà án xác định”. Trong thực tiễn, khi người vợ sinh con, người chồng đã làm giấy khai sinh cho đứa trẻ, lấy họ tên mình là họ tên cha của đứa trẻ. Thậm chí, đứa trẻ đó về mặt sinh học không phải là con của người chồng nhưng về nguyên tắc trước tiên người chồng vẫn được xác định là cha, sự im lặng của người chồng được coi là sự mặc nhiên thừa nhận mối quan hệ cha con. Pháp luật không can thiệp sâu vào mối quan hệ này. Miễn rằng đứa trẻ được sống trong bầu không khí yêu thương và thông cảm, có cha, mẹ và người mẹ được chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn với chồng mình.

Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp, sau khi người vợ sinh con người chồng đã không thừa nhận đứa trẻ là con của mình do nghi ngờ sự chung thủy của người vợ và họ đã yêu cầu xác định lại quan hệ cha con. Trong trường hợp này, người yêu cầu phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh không có mối quan hệ cha con. Người vợ không có nghĩa vụ này. Nếu người chồng không xuất trình được chứng cứ chứng minh thì pháp luật vẫn mặc nhiên thừa nhận người chồng là cha của đứa trẻ.

Nếu người mẹ, không thừa nhận đứa trẻ là con của mình thì người mẹ cũng phải cung cấp chứng cứ để chứng minh. Vì trên thực tế có nhiều trường hợp do vô ý hoặc cố ý dẫn đến việc nhiều đứa trẻ bị lẫn lộn hoặc bị đánh tráo… Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản pháp luật có liên quan không có một hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề này. Điều đó cũng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể.

2. Bình đẳng giới trong việc xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú

Trong trường hợp người phụ nữ sinh con mà không có quan hệ hôn nhân (tức là sinh con ngoài giá thú). Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định những chủ thể có quyền yêu cầu xác định quan hệ cha mẹ và con, mà không quy định cụ thể việc xác định này phải dựa trên cơ sở nào. Như trên chúng tôi đã phân tích nếu người phụ nữ có hôn nhân hợp pháp thì đó là thời kì hôn nhân là căn cứ để xác định quan hệ cha mẹ và con. Còn trong trường hợp này người phụ nữ lại không có hôn nhân hợp pháp, do vậy việc xác định quan hệ cha mẹ và con dựa trên cơ sở nào thì hiện nay pháp luật còn bỏ ngỏ. Khi người phụ nữ yêu cầu xác định cha cho con của mình thì về nguyên tắc họ phải chứng minh một người đàn ông nào đó là cha của đứa con mà mình đã sinh ra, họ có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, nếu cần thiết có thể yêu cầu giám định gen và họ phải chịu chi phí giám định gen. Chúng tôi cho rằng quy định này chưa thật sự phù hợp mà cần quy định những biệt lệ nhất định. Bởi khi sinh con ngoài giá thú, người phụ nữ đã chịu rất nhiều sự thiệt thòi từ khi mang thai, sinh con và nuôi con một mình, bên cạnh đó là sự trốn tránh trách nhiệm của người cha của đứa trẻ. Việc họ yêu cầu xác định cha cho con của mình là một quyền chính đáng, vậy nên chăng nếu họ không xuất trình được đầy đủ chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con và phải yêu cầu giám định gen, trong trường hợp này nếu người đàn ông nào đó được xác định là cha của đứa trẻ thì người đó phải trả chi phí giám định hoặc ít nhất thì là một phần chi phí giám định vì đó là trách nhiệm chung của hai người với tư cách là cha, là mẹ của đứa trẻ. Như vậy mới thực sự đảm bảo sự bình đẳng về giới trong trường hợp này. Hoặc trong trường hợp rõ ràng các đương sự có khó khăn về kinh tế thì cần có cơ chế miễn, giảm chi phí giám định cho đương sự.

3. Bình đẳng giới trong việc xác định cha mẹ cho con sinh ra theo phương pháp khoa học

Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học được áp dụng theo Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 12/2/2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học.

Quyền của người phụ nữ được đặc biệt bảo vệ trong trường hợp này. Đó là tạo ra một hành lang pháp lí giúp cho người phụ nữ thực hiện thiên chức của mình, bảo vệ hạnh phúc gia đình cho họ khi họ không thể sinh con bằng con đường tự nhiên. Đối tượng được áp dụng trong trường hợp này là cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Điều 20 Nghị định số 12/NĐ-CP quy định:

1. Trẻ ra đời do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân.

2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”.

Điều 21 Nghị định trên còn quy định: “Con được sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi”.

Như vậy, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ này nhận noãn, tinh trùng hoặc phôi từ người khác. Giữa đứa trẻ và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không có mối quan hệ cha mẹ và con về mặt pháp lí. Mặt khác, pháp luật cũng quy định rất rõ một trong những nguyên tắc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản là phải thực hiện nguyên tắc bí mật. Tuy nhiên, theo chúng tôi, trong những trường hợp đặc biệt như để chữa bệnh thì cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân cần được biết những thông số cần thiết về người cho để đứa trẻ được bảo đảm sự an toàn cần thiết, người phụ nữ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân vẫn không bị tước đi quyền làm mẹ của mình.

Có thể nhận thấy một điều đặc biệt mới của việc sinh con theo phương pháp khoa học là pháp luật cho phép người phụ nữ độc thân cũng được áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản. Đây là một quyền lợi rất chính đáng của người phụ nữ khi họ không muốn hoặc không có cơ hội kết hôn mà vẫn có thể thực hiện được thiên chức của mình. Nếu như trước đây, khi chưa có cơ sở pháp lí cho vấn đề này thì người phụ nữ độc thân vẫn có thể thực hiện được thiên chức của mình nhưng điều đó có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc của một gia đình khác, đặc biệt là có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người phụ nữ khác thì hiện nay, nếu áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản họ sẽ thực hiện được thiên chức của mình mà không còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác. Tuy nhiên, trong trường hợp này chỉ có quan hệ mẹ con duy nhất. Vì vậy, người phụ nữ sinh con và nuôi con một mình, điều đó thực sự là một khó khăn và thách thức đối với họ. Mặt khác, quyền lợi của đứa trẻ cũng phần nào bị ảnh hưởng. Do đó, về mặt xã hội, cần phải có những chính sách đặc biệt đối với trường hợp này.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, nếu người gửi tinh trùng bị chết thì cơ sở lưu giữ tinh trùng phải huỷ số tinh trùng của người đó (khoản 2 Điều 18 Nghị định số 12/NĐ-CP). Việc lưu giữ tinh trùng này được thực hiện trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, nếu người chồng không may chết mà cơ sở lưu giữ tinh trùng huỷ số tinh trùng của người đó liệu có phù hợp không khi không có sự bày tỏ ý chí của người vợ. Theo chúng tôi, nếu hai vợ chồng đã thể hiện sự đồng ý sinh con nhờ biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng văn bản thì khi người chồng chết, người vợ vẫn có quyền đề nghị tiếp tục thực hiện việc sinh con này, người vợ phải có quyền đối với số tinh trùng của người chồng đang được lưu giữ. Và để bảo vệ quyền lợi của người vợ thì phải quy định những biệt lệ khi áp dụng thời gian sinh con tối đa trong trường hợp chấm dứt hôn nhân. Thông thường thời gian này là 300 ngày kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nhưng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học thì thời gian này có thể kéo dài hơn phụ thuộc vào quá trình thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản. Đứa trẻ ra đời vẫn được xác định là con chung của vợ chồng và quyền của người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được đảm bảo.

Điều kiện hạn chế li hôn có nên được áp dụng trong trường hợp mà cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản về việc sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản, trong quá trình tiến hành đã tạo được phôi nhưng chưa đưa vào tử cung của người vợ thì người chồng yêu cầu li hôn. Nếu xét thuần tuý về mặt pháp lí thì người vợ đang không mang thai nên người chồng không bị hạn chế quyền li hôn. Nhưng đây có thể coi là một trường hợp đặc biệt phải áp dụng sự hạn chế li hôn đối với người chồng để đảm bảo quyền lợi cho người vợ. Trong trường hợp này người chồng không thể đơn phương huỷ bỏ việc sinh con này nếu không có sự đồng ý của người vợ.

Một điều đặc biệt trong vấn đề này là không đặt ra vấn đề xác định lại quan hệ cha mẹ và con như những trường hợp thông thường khác. Quan hệ cha mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được. Chẳng hạn, nếu cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản là nhận tinh trùng của người khác để người vợ sinh con thì sau này người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Trong trường hợp này, pháp luật quan tâm đến một người cha, người mẹ về mặt pháp lí hơn là về mặt sinh học.

Tóm lại, dưới góc độ bình đẳng giới việc xác định cha, mẹ, con chủ yếu thể hiện ở quyền sinh con và quyền xác định cha, mẹ, con. Những quyền này đã cụ thể hoá điểm D Điều 16 của CEDAW. Điều đó chứng tỏ Việt Nam là một quốc gia rất quan tâm đến quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng. Pháp luật đã tạo ra như những cơ chế tốt nhất để người phụ nữ thực hiện quyền của mình, đặc biệt trong việc thực hiện thiên chức của mình và những quyền liên quan đến thiên chức đó. Người phụ nữ trong xã hội hiện đại đã thực sự được quan tâm và trong tương lai dưới góc độ pháp lí, quyền của người phụ nữ cần được cụ thể hoá hơn nữa, loại bỏ hoàn mọi sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ./.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 3/2006

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Luật hôn nhân gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2000 chưa đưa ra khái niệm về chấm dứt việc nuôi con nuôi, vì vậy, có thể đưa ra khái niệm về chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau:

Chấm dứt việc nuôi con nuôi là việc chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ và con do Toà án quyết định theo yêu cầu các chủ thể mà pháp luật quy định.

1. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi sau:

– Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

– Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;

– Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật này.

Sau đây, chúng tôi đi sâu phân tích từng căn cứ cụ thể:

a. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi

Đối với căn cứ này, chúng tôi thấy cần đặt ra vấn đề cần giải quyết là:

Hành vi tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi của cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên phải đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Hay nói cách khác phải đảm bảo sự thống nhất giữa mặt chủ quan và khách quan của các chủ thể. Tuy nhiên, sự tự nguyện này có cần thiết từ hai bên chủ thể (có sự thoả thuận của cha mẹ nuôi và con nuôi) hay chỉ cần một bên chủ thể (hoặc bên cha mẹ nuôi hoặc bên con nuôi). Thậm chí về phía cha mẹ nuôi nếu một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bên kia không đồng ý chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì có thể chấm dứt việc nuôi con nuôi không? Và chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với cả cha, mẹ nuôi hay chỉ với người muốn chấm dứt quan hệ đó?

Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định cụ thể về việc nếu là vợ chồng nhận nuôi con nuôi thì có bắt buộc có sự đồng ý của hai vợ chồng hay không, trước đó Nghị định số 83/CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ quy định nếu người nuôi con nuôi có vợ hoặc chồng thì trong đơn xin nhận nuôi phải có chữ kí của cả hai vợ chồng. Điều này dẫn đến cách hiểu là có thể cả hai vợ chồng nhận nuôi con nuôi và họ trở thành cha mẹ nuôi của đứa trẻ hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng muốn nhận nuôi con nuôi còn bên kia chỉ đồng ý cho vợ hoặc chồng mình nhận nuôi con nuôi và như vậy chỉ phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa đứa trẻ với một bên vợ hoặc chồng (là cha nuôi hoặc mẹ nuôi) còn người kia không đương nhiên trở thành mẹ nuôi hoặc cha nuôi của đứa trẻ mà chỉ có thể trở thành cha dượng hoặc mẹ kế của nó mà thôi. Từ sự phân tích trên đây, có thể nhận thấy, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi có thể xảy ra các trường hợp cụ thể là: Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi; chỉ cha nuôi hoặc mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại giữa con nuôi và người còn lại hoặc đương nhiên chấm dứt quan hệ bố dượng mẹ kế với đứa trẻ.

Ví dụ 1: Ông A và bà B là vợ chồng nhận anh X là con nuôi. Khi đã thành niên vì thường xuyên mâu thuẫn với ông A là cha nuôi nên anh X và ông A đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bà B và anh X vẫn tồn tại mối quan hệ nuôi con nuôi.

Ví dụ 2: Ông A và bà B là vợ chồng, bà B muốn nhận anh X làm con nuôi, ông A không muốn điều đó nhưng đồng ý cho vợ mình nhận anh X làm con nuôi. Ông A trở thành bố dượng của anh X. Sau đó bà B và anh X đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ giữa ông A và anh X cũng chấm dứt.

Ngoài ra, nếu chỉ một bên chủ thể là cha nuôi, mẹ nuôi hoặc người con nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ nuôi con nuôi có được chấm dứt hay không? Tức là ở đây chỉ có sự tự nguyện của một bên chủ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhận nuôi con nuôi là nhằm gắn bó tình cảm giữa cha mẹ và con, nếu một bên nhận thấy không thể đạt được mục đích ấy và muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì nên chấm dứt mối quan hệ này. Điều này hoàn toàn hợp lý.

b. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi

Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định về các tội danh này. Trong thực tế chúng ta gặp những trường hợp người con nuôi có hành vi ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi như đối xử tồi tệ; gây nên sự đau đớn về thể xác và tinh thần cho cha, mẹ nuôi. Cần lưu ý rằng chỉ trong trường hợp người con nuôi có hành vi vi phạm đối với cha mẹ nuôi thì mới được coi là căn cứ để chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Nếu hành vi vi phạm đối với người khác thì không được coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của người con đối với chỉ một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì có coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với cả người kia không? Chúng tôi cho rằng đó cũng là căn cứ để chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Chính hành vi này đã phá vỡ mục đích của việc nuôi con nuôi, dẫn đến tình cảm của cha mẹ nuôi và con nuôi không còn nữa. Do đó, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là hoàn toàn phù hợp.

c. Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật HN&GĐ năm 2000

Khoản 3 Điều 67 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”.

Khoản 5 Điều 69 quy định: “Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa bị xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức xã hội”.

Có thể nói đây là sự vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng của cha, mẹ nuôi. Việc pháp luật quy định đây là một căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là nhằm đảm bảo quyền lợi cho người con nuôi, tách người con nuôi khỏi môi trường có nguy cơ sẽ ảnh hưởng đến nhân cách, lối sống, thể chất… của người con nuôi. Trong trường hợp này hành vi của cha mẹ nuôi được quy định tại khoản 3 Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 được coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi hành vi đó được thực hiện với bất kể một người nào chứ không chỉ đối với người con nuôi. Điều này có là phù hợp với thực tế khách quan hay không? Khi cha, mẹ nuôi có hành vi vi phạm pháp luật đối với người khác liệu có phá vỡ mục đích của việc thiết lập quan hệ nuôi con nuôi hay không? Nếu chỉ hoặc cha nuôi hoặc mẹ nuôi có hành vi vi phạm thì chỉ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với người đó hay với cả người còn lại? Theo quan điểm của chúng tôi, chủ thể nào vi phạm thì coi là căn cứ áp dụng đối với chủ thể đó còn các chủ thể khác tuỳ từng trường hợp để xác định, căn cứ vào ý chí của họ có muốn tiếp tục quan hệ nuôi con nuôi hay không?

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định các căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khá rõ ràng và cụ thể. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2000 không phân định rõ “chấm dứt nuôi con nuôi” và “huỷ nuôi con nuôi”, các văn bản hướng dẫn Luật HN&GĐ năm 2000 cũng không quy định cụ thể về vấn đề này. Chúng ta thấy rằng hai thuật ngữ này là khác nhau và hậu quả pháp lý của chúng cũng khác nhau. Chính vì vậy, cần có sự phân biệt hai thuật ngữ này để bảo vệ quyền lợi của các bên chủ thể cũng như đảm bảo đúng ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi.

+ Nếu việc nuôi con nuôi là hợp pháp (đảm bảo đúng mục đích luật định, các bên đáp ứng đầy đủ các điều kiện nuôi con nuôi, trình tự thủ tục luật định) nhưng trong quá trình nuôi con nuôi các bên có các hành vi được quy định tại Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 và có đơn của những người có quyền yêu cầu, toà án sẽ ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi.

+ Nếu việc nuôi con nuôi là trái pháp luật, tức là tại thời điểm xin xác lập quan hệ nuôi con nuôi các bên hoặc một trong hai bên đã vi phạm các điều kiện luật định (vi phạm các quy định tại các Điều 68,69,70,71 Luật HN&GĐ năm 2000) hoặc người xin nhận nuôi con nuôi với mục đích khác (khoản 3 Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2000). Trong trường hợp này buộc phải ra quyết định huỷ việc nuôi con nuôi trái pháp luật, coi như chưa bao giờ tồn tại quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.

Về vấn đề này, khi nghiên cứu hệ thống luật gia đình cũ, tác giả Vũ Văn Mẫu đã phân biệt hai hình thức: Sự truất bãi và sự tiêu huỷ. Theo tác giả, “… Sự truất bãi khác sự tiêu huỷ ở điểm các hiệu lực của sự truất bãi nghĩa dưỡng chỉ bắt đầu khi có bản án truất bãi nghĩa dưỡng; trái lại, sự tiêu huỷ có hiệu lực hồi tố và xoá hết các hiệu lực của sự nghĩa dưỡng đã xảy ra trong quá khứ như không hề bao giờ có sự nghĩa dưỡng giữa người con nuôi và người đứng nuôi….”(1).

Như vậy, xét ở mọi phương diện từ bản chất pháp lý, nguyên nhân, tính hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi và huỷ nuôi con nuôi là không thể đồng nhất. Chấm dứt nuôi con nuôi không có ý nghĩa là một chế tài. Còn huỷ nuôi con nuôi trái pháp luật là một chế tài đối với hành vi vi phạn mục đích và điều kiện nuôi con nuôi theo luật định. Vì vậy, các văn bản hướng dẫn cần phân biệt rõ hai thuật ngữ này để việc giải quyết các tranh chấp được chính xác.

2. Quyền yêu cầu toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 77 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

– Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ, nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc để nghị viện kiểm sát yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

– Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

– Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000:

+ Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em

+ Hội liên hiệp phụ nữ

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị viện kiểm sát xem xét, yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

Như vậy, quyền yều cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là khá rộng nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong mối quan hệ nuôi con nuôi, đặc biệt là người con nuôi.

3. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 78 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

– Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng.

– Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích chia một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết.

– Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Như chúng ta đã biết, khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập về nguyên tắc các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con sẽ phát sinh (Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2000), bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Vậy, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì đương nhiên quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con cũng chấm dứt.

a. Quan hệ nhân thân

Các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con như nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con (Điều 34); nghĩa vụ và quyền của con (Điều 35); nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 36); nghĩa vụ và quyền giáo dục con (Điều 37); đại diện cho con (Điều 38) sẽ chấm dứt. Khi trở thành con nuôi người khác thì người con nuôi này có thể sẽ thay đổi họ tên của mình, do đó, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi người con nuôi có thể được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng. Trong thực tế, không phải bất kỳ trường hợp nào khi chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì người con nuôi đều có cá nhân hoặc tổ chức nhận nuôi dưỡng ngay, vì vậy, quyền lợi của đứa trẻ có thể bị ảnh hưởng. Hoặc đối với cha mẹ nuôi bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, già yếu… mà chưa có nơi nương tựa thì rõ ràng quyền lợi của họ cũng bị ảnh hưởng. Về vấn đề này, trước đây, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 1986 đã có hướng dẫn nếu người con nuôi chưa thành niên không có ai nuôi dưỡng thì sẽ không chấm dứt việc nuôi con nuôi, dù có đủ căn cứ chấm dứt, cho đến khi người con đó có người khác nuôi dưỡng hoặc người con nuôi đã thành niên có khả năng lao động. Quy định này là xuất phát từ việc bảo đảm quyền lợi của người con nuôi… Hiện nay, không có hướng dẫn về vấn đề này. Theo quan điểm của chúng tôi nên có hướng dẫn tương tự và để tránh xung đột giữa hai bên cha mẹ nuôi và con nuôi cũng như đảm bảo quyền lợi cho họ nên chăng nếu cha mẹ nuôi có hành vi quy định tại khoản 3 Điều 76 thì áp dụng hạn chế quyền của cha mẹ đôi với con, trong trường hợp này người cha, mẹ nuôi đó vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng đứa trẻ; nếu người con nuôi có hành vi quy định tại khoản 2 Điều 76 thì cha mẹ nuôi kết hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan áp dụng biện pháp giáo dục người con nuôi…. Như vậy, khi giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi cần thiết phải quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

b. Quan hệ tài sản

Các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa cha mẹ và con như bồi thường thiệt hại do con gây ra (Điều 40); quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 60); quyền quản lý, định đoạt tài sản riêng của con (Điều 44,45,46) sẽ chấm dứt. Nếu con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó, nếu có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích chia một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận hoặc do toà án giải quyết./.


(1).Xem: Vũ Văn Mẫu, “Việt Nam dân luật lược giải”.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 6/2004