LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

    PGS.TS. NGUYỄN THU LINH

Việt Nam đang ở trước ngưỡng cửa của WTO sau nhiều năm phấn đấu. Trong quá trình đó các nhà kinh tế, quản lý đã làm nhiều việc để xây dựng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp như: thành lập các tập doàn kinh tế thông qua sát nhập các công ty nhà nước thành các Tổng công ty, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cổ phần hoá doanh nghiệp, từng bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan… Tuy nhiên, có một phương diện rất quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nguồn lực con người là thúc đẩy bình đẳng giới trong việc làm nhằm bảo đảm quyền con người của phụ nữ lại rất ít được nhắc đến trong khi đây cũng là tiêu chuẩn bắt buộc của WTO. Bình đẳng giới cũng là vấn đề được APEC quan tâm trong bối cảnh Việt Nam đăng cai hội nghị này năm 2006. Thực hiện bình đẳng giới là cánh cửa để Việt Nam hội nhập vào thế giới.

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam tham gia vào lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao nhưng chỉ số bình đẳng giới lại thấp hơn các nước trong khu vực. Số liệu năm 2002 cho thấy:

Continue reading

TÌNH HÌNH GIỚI Ở VIỆT NAM DƯỚI ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ

THÚY HIỀN

“Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới,… là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á”, Báo cáo Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID) và Cơ quan phát triển quốc tế Canađa (CIDA).

Continue reading

NGHIÊN CỨU GIỚI Ở VIỆT NAM – Quá trình và xu hướng

NGUYỄN LINH KHIẾU

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau. Để nâng cao tác động của quan điểm giới thiết thực góp phần tạo lập sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể.

Nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào phụ nữ rộng khắp. Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ nữ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoa học và hầu như của toàn xã hội.

Continue reading

NGHIÊN CỨU GIỚI Ở VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH VÀ XU HƯỚNG

Nguyễn Linh Khiếu

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau. Để nâng cao tác động của quan điểm giới thiết thực góp phần tạo lập sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể.

Nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào phụ nữ rộng khắp. Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ nữ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoa học và hầu như của toàn xã hội. Continue reading

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước CẦN THỰC HIỆN CÓ BÀI BẢN

NGUYỄN KIM HỘI– Ngân hàng Công thương Chi nhánh Vĩnh Phúc

Trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao gấp 5 – 6 lần so với khi doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Nhưng cũng còn nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tình hình sản xuất kinh doanh giậm chân tại chỗ do những đơn vị này khi cổ phần hoá thiếu thận trọng, khi xây dựng dự án không tính toán kỹ sản xuất mặt hàng mới hoặc chưa đổi mới công nghệ tân tiến. Công tác tổ chức cán bộ còn cồng kềnh hoặc bộ máy cũ, hoặc dự án kêu gọi vốn cổ phần huy động vốn chưa đạt hiệu quả thiết thực phải vay vốn ngân hàng trên 70% cả vốn cố định và vốn lưu động. Để cổ phần hoá chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề phân bố. Phân bổ nền kinh tế từng bộ, từng tỉnh. Trong qui hoạch cổ phần hoá, để khi cổ phần hoá có đủ các loại sản phẩm tốt, cần thiết. Tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp trong cả nước cùng sản xuất một sản phẩm gây thừa mặt hàng này lại thiếu các mặt hàng khác. Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CẦN THỰC HIỆN CÓ BÀI BẢN

NGUYỄN KIM HỘI – NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VĨNH PHÚC

Trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao gấp 5 – 6 lần so với khi doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Nhưng cũng còn nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tình hình sản xuất kinh doanh giậm chân tại chỗ do những đơn vị này khi cổ phần hoá thiếu thận trọng, khi xây dựng dự án không tính toán kỹ sản xuất mặt hàng mới hoặc chưa đổi mới công nghệ tân tiến. Công tác tổ chức cán bộ còn cồng kềnh hoặc bộ máy cũ, hoặc dự án kêu gọi vốn cổ phần huy động vốn chưa đạt hiệu quả thiết thực phải vay vốn ngân hàng trên 70% cả vốn cố định và vốn lưu động.
Để cổ phần hoá chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề phân bố. Phân bổ nền kinh tế từng bộ, từng tỉnh. Trong qui hoạch cổ phần hoá, để khi cổ phần hoá có đủ các loại sản phẩm tốt, cần thiết. Tránh trường hợp nhiều doanh nghiệp trong cả nước cùng sản xuất một sản phẩm gây thừa mặt hàng này lại thiếu các mặt hàng khác. Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất. Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT VỀ TÀI SẢN CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI Ở ĐỨC

GS.TS. THOMASRAUSCHER –  ĐH Tổng hợp Leipzip, CHLB Đức

1. GIỚI THIỆU

a. Thi hành các phán quyết của tòa án trong và ngoài Cộng đồng Châu Âu

Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng trong thương mại quốc tế có thể được giải quyết ở tòa án quốc gia có thẩm quyền theo quy định pháp luật của quốc gia đó trừ khi có điều khoản trọng tài trong hợp đồng hạn chế thẩm quyền của tòa án. Khi lựa chọn một tòa án để giải quyết tranh chấp, thẩm quyền giải quyết theo các quy định của tòa án đó không phải là yếu tố duy nhất để xem xét. Khởi kiện ở tòa án nơi nguyên đơn cư trú có vẻ là thuận lợi. Tuy nhiên, việc thi hành phán quyết**

của tòa án của quốc gia nơi nguyên đơn cư trú là rất khó khăn trừ khi phán quyết đó được thi hành do tài sản của bị đơn bị tịch thu. Việc thi hành phán quyết về tài sản (money judgment) ở Đức được điều chỉnh bởi Nghị định của Cộng đồng Châu Âu (EC) số 44/20011 về thẩm quyền, công nhận và thi hành các phán quyết về các vấn đề dân sự và thương mại (Nghị định Brussels I), nếu phán quyết đó là của một tòa án của một quốc gia thành viên EC2, hoặc bởi pháp luật quốc gia, đó là Điều 723, 724, 328 Bộ luật Tố tụng dân sự Đức (ZPO3) nếu phán quyết đó là của một tòa án của một quốc gia không phải là thành viên của EC. Các quy định song phương về công nhận và thi hành phán quyết đang có hiệu lực giữa Đức với quốc gia nơi tòa án ra phán  quyết cũng có thể được áp dụng. Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ – Một vài bước tiếp cận ban đầu

TRẦN VĂN LONG – Viện Khoa học Thanh tra

Theo định nghĩa của Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân (CIVICUS), xã hội dân sự được hiểu là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đây là một khái niệm được đưa ra sau khi có những nghiên cứu về xã hội dân sự tại các nước châu Á, châu Phi của CIVICUS, nó đúng và hàm chứa những yếu tố về xã hội dân sự của các nước trong khu vực này. Khái niệm này có nhiều điểm bao quát, thể hiện được nhiều góc độ, phương diện và hoạt động của xã hội dân sự như: Thể chế hoá, ghi nhận các điều kiện và các nhóm xã hội dân sự không chính thống; coi xã hội dân sự là một diễn đàn, một không gian, nơi mà mọi người có thể đến với nhau và tìm cách gây những ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng, xã hội; xoá mờ ranh giới giữa xã hội dân sự, thị trường, nhà nước và gia đình. Trong khái niệm này, các tổ chức xã hội dân sự được phân chia theo chức năng hơn là theo hình thức, đây là kết quả đạt được của một chuỗi các nghiên cứu tại các nước châu Á và châu Phi (các nước đang phát triển). Điều này mang lại những hiệu quả trong tiếp cận vấn đề, sẽ không có những rào cản về chính trị, pháp lý tại bất kỳ quốc gia nào.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ – MỘT VÀI BƯỚC TIẾP CẬN BAN ĐẦU

TRẦN VĂN LONG – Viện Khoa học Thanh tra

Theo định nghĩa của Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân (CIVICUS), xã hội dân sự được hiểu là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đây là một khái niệm được đưa ra sau khi có những nghiên cứu về xã hội dân sự tại các nước châu Á, châu Phi của CIVICUS, nó đúng và hàm chứa những yếu tố về xã hội dân sự của các nước trong khu vực này. Khái niệm này có nhiều điểm bao quát, thể hiện được nhiều góc độ, phương diện và hoạt động của xã hội dân sự như: Thể chế hoá, ghi nhận các điều kiện và các nhóm xã hội dân sự không chính thống; coi xã hội dân sự là một diễn đàn, một không gian, nơi mà mọi người có thể đến với nhau và tìm cách gây những ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng, xã hội; xoá mờ ranh giới giữa xã hội dân sự, thị trường, nhà nước và gia đình. Trong khái niệm này, các tổ chức xã hội dân sự được phân chia theo chức năng hơn là theo hình thức, đây là kết quả đạt được của một chuỗi các nghiên cứu tại các nước châu Á và châu Phi (các nước đang phát triển). Điều này mang lại những hiệu quả trong tiếp cận vấn đề, sẽ không có những rào cản về chính trị, pháp lý tại bất kỳ quốc gia nào.

Continue reading

CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 4 (QUI ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG) – MODUL 2

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP:

– So sánh giữa hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương;

– So sánh hợp đồng chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng với hợp đồng chấm dứt khi một bên hủy bỏ hợp đồng;

– So sánh giữa hành vi pháp lý đơn phương với với hợp đồng đơn vụ;

– So sánh giữa hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ. Cho 03 ví dụ về mỗi loại hợp đồng này;

– So sánh giữa hợp đồng có đền bù và không có đền bù. Cho 03 ví dụ cho mỗi loại hợp đồng này;

– Lấy 3 ví dụ về hợp đồng mẫu và hãy cho biết sự khác biệt giữa hợp đồng mẫu với hợp đồng không thuộc loại này;

– So sánh giữa hợp đồng phụ và phụ lục hợp đồng;

– Nêu các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự do ý chí của một bên chủ thể hợp đồng. Cho ví dụ cụ thể cho mỗi trường hợp;

– Phân tích hậu quả pháp lý đối với các trường hợp: bên đề nghị giao kết hợp đồng chết, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, một trong hai bên trong hợp đồng đã giao kết chết;

– Phân tích và cho ví dụ cụ thể về các nguyên tắc giao kết hợp đồng;

– So sánh nguyên tắc thực hiện hợp đồng song vụ và đơn vụ;

– Tìm 3 mẫu hợp đồng khác nhau (căn cứ vào tiêu chí phân loại hợp đồng), được đăng tại địa chỉ sau: http://tracuuluat.net/?type=27 (hoặc địa chỉ khác mà bạn biết) và hãy nhận diện các điều khoản cơ bản, thông thường và tùy nghi ở mỗi hợp đồng đó;

– Phân tích và cho ví dụ về các nguyên tắc giải thích hợp đồng dân sự;

– Phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng? Vận dụng cụ thể phân tích điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mẫu (hoặc các loại hợp đồng khác);

– Phân tích các trường hợp nghĩa vụ không thể thực hiện trong hợp đồng song vụ;

– Phân biệt sự khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và nguyên tắc giải quyết khi các bên trong hopự đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại;

– Hãy nêu 10 ví dụ có phân tích về hợp đồng dân sự vô hiệu có liên quan đến đối tượng của hợp đồng;

– Phân tích các qui định pháp luật liên quan đến hình thức của hợp đồng;

– Nêu ý nghĩa của các điều khoản cơ bản trong hợp đồng.

Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp bên đề nghị giao kết chuyển đề nghị giao kết tới nhiều chủ thể khác nhau;

– So sánh nguyên tắc giao kết hợp đồng với nguyên tắc thực hiện hợp đồng

– So sánh hợp đồng liên quan đến quyền và lợi ích của người thứ ba và hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba;

– Qui định của pháp luật về đại diện trong giao kết hợp đồng;

– Cho biết hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng thông qua người đại diện;

– Cho biết và nêu ví dụ về các trường hợp chấm dứt hợp đồng không phụ thuộc vào ý chí của hai bên chủ thể hoặc một trong hai bên chủ thể;

– Cho biết qui định pháp luật và nêu ví dụ về hợp đồng vô hiệu tương đối;

– Cho biết qui định pháp luật và nêu ví dụ về hợp đồng vô hiệu tuyệt đối;

– Cho biết qui định pháp luật và nêu ví dụ về hợp đồng vô hiệu một phần.

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp tên gọi của hợp đồng và nội dung của hợp đồng mâu thuẫn với nhau. Ví dụ: Tên gọi là hợp đồng mượn nhưng lại mang nội dung của hợp đồng vay tài sản;

– Hãy cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp các bên trong hợp đồng không thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng;

– Xác định bên đề nghị và bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp đối tượng của được nêu trong đề nghị là tài sản thuộc sở hữu chung;

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp một bên trong hợp đồng chuyển nhượng các quyền của mình trong hợp đồng cho người khác;

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp một bên hợp đồng là pháp nhân bị tổ chức lại, giải thể hoặc phá sản;

– Cho biết hậu quả pháp lý trong trường hợp các bên hợp đồng thỏa thuận thay thế đối tượng của hợp đồng;

– Xác định hình thức và nội dung đề nghị giao kết đối với hợp đồng mẫu;

– Phân biệt giữa đề nghị thương thuyết hợp đồng với đề nghị hợp đồng;

– Phân tích ý nghĩa của hình thức hợp đồng;

– Khi một bên hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu bạn là bên kia thì bạn giải quyết nào?

– Nếu các bên xác lập một hợp đồng với hình thức miệng, dựa trên những căn cứ nào để xác định hiệu lực của hợp đồng này?

– Trong trường hợp cùng một quan hệ hợp đồng, các bên lại lập nhiều hợp đồng khác nhau về hình thức, có nội dung khác nhau, hãy xác định hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp này;

– Cho ví dụ về giao kết hợp đồng thông qua người đại diện và hãy xác định trách nhiệm dân sự của các bên trong trường hợp người đại diện giao kết hợp đồng vượt quá thẩm quyền đại diện;

– Trong trường hợp phát sinh tranh chấp hợp đồng hãy cho biết phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mà các bên có thể lựa chọn áp dụng?

2. KHẲNG ĐINH ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

– A và B xác lập một hợp đồng song vụ, theo thỏa thuận trong hợp đồng A phải thực hiện nghĩa vụ vào ngày 1/5/2007 còn B phải thực hiện nghĩa vụ vào ngày 1/8/2007. Tuy nhiên, đến hết ngày 1/8/2007 A vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp này, B có quyền không thực hiện nghĩa vụ của mình đến khi A thực hiện nghĩa vụ của A;

– Hiệu lực của hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng;

– Những hình thức sau là một trong những hình thức đề nghị giao kết hợp đồng:

           + Hoạt động quảng cáo hàng hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng;

           + Phân phát các tờ cataloc giới thiệu sản phẩm;

            + Phân phát tập báo giá sản phẩm.

– Các thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là hợp đồng;

– Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị hợp đồng;

– Trong giao kết hợp đồng cả hai bên vừa đồng thời là bên đề nghị hợp đồng vừa là bên được đề nghị;

– Tên gọi của hợp đồng phản ánh nội dung chủ yếu của hợp đồng;

– Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đồng thời là thời điểm các bên hợp đồng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đã được thỏa thuận trong hợp đồng;

– Các thỏa thuận trong một hợp đồng có hiệu lực có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các bên trong hợp đồng và không thể thực hiện khác với những thỏa thuận đó;

– Hợp đồng vì lợi ích của nguời thứ ba là hợp đồng có ba nguời tham gia giao kết trong đó nguời thứ ba được hưởng các lợi ích từ hợp đồng;

– Trong trường hợp nguời thứ ba từ chối hưởng các lợi ích từ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực đối với các bên giao kết hợp đồng;

– Khi một bên trong hợp đồng chết sẽ làm chấm dứt hợp đồng đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác;

– Khi đối tượng của hợp đồng không còn thì không làm chấm dứt hợp đồng, trừ khi đối tượng của hợp đồng là vật đặc định;

– Khi các bên trong hợp đồng chỉ thỏa thuận về phạt hợp đồng mà không có thỏa thuận về bồi thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên vi phạm nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại;

– Trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại khi một bên trong hợp đồng vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng là loại điều khỏan thông thường. Do đó, không phụ thuộc vào việc các bên có thỏa thuận hay không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, bên gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại;

– Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng;

      – Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là hợp đồng vô hiệu tòan bộ;

     – Thời hạn thực hiện hợp đồng là điều khỏan không thể thiếu trong mọi hợp đồng;

    – Chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng hoàn thành được hiểu là các bên trong hợp đồng đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng;

     – Hợp đồng chấm dứt do một bên tuyên bố hủy bỏ hợp đồng chỉ áp dụng khi có sự thỏa thuận của các bên;

   – Nếu không có thỏa thuận gì khác, thời hạn thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được tính từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực;

– Hợp đồng chấm dứt do một bên tuyên bố hủy bỏ hợp đồng được tính từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực;

– Hợp đồng chấm dứt do đối tượng hợp đồng không còn được hiểu đối tượng không còn và các bên không có hoặc không thỏa thuận được về thay thế đối tượng khác;

–  Việc thay đổi đối tượng của hợp đồng không làm thay đổi nội dung của hợp đồng, trừ điều khoản liên quan đến đối tượng;

– Việc thay đổi đối tượng của hợp đồng không làm chấm dứt hợp đồng.

LUẬT PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC

I/ TRUNG QUỐC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THUẾ
Trung Quốc hiện đang đẩy nhanh tiến trình sửa đổi và hoàn thiện hệ thống thuế nhằm chuẩn bị cho hội nhập quốc tế khi nước này trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Từ đầu năm 2001 Trung Quốc bắt đầu áp dụng một số chế độ thuế thống nhất đối với các công ty Trung Quốc và các công ty ĐTNN. Trung Quốc thực thi biểu thuế thu nhập công ty, thuế sử dụng đất canh tác vào mục đích công nghiệp, dịch vụ, thuế phương tiện vận tải thống nhất đối với các công ty trong nước, cũng như các công ty có vốn ĐTNN, Trung Quốc thay đổi một số sắc thuế (dự kiến vào cuối quý 2/2001) như thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập cá nhân. Trung Quốc sẽ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt cao đối với các mặt hàng xa xỉ và các hàng hoá có hại cho môi trường. Tuy nhiên, đối với thuốc lá và các sản phẩm rượu, Trung Quốc sẽ bãi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt mà sẽ áp dụng mức thuế trung bình nhằm ngăn chặn tình trạng trốn thuế và nhập khẩu lậu; sẽ thi hành biểu thuế thu nhập cá nhân mới, theo hướng tăng thuế đối với người có thu nhập cao. Tuy nhiên, mức thu nhập, theo đó để bắt đầu tính thuế thu nhập cao sẽ tăng gấp 1,5 hoặc 2 lần so với mức hiện hành.

Continue reading

KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM TRONG LUẬT

THS. LÊ DUY NINH – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

I. Mỗi khái niệm (KN) đều có hai mặt, đó là nội hàm và ngoại diên. Về mặt kết cấu lôgíc, nội hàm là chất, ngoại diên là lượng của KN. Mỗi nội hàm có một ngoại diên tương ứng. Nội hàm của KN là tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh trong KN. Do vậy, không phải mọi dấu hiệu của đối tượng đều được phản ánh trong nội hàm.

Trong khoa học pháp lý, nhiều KN được xác định bằng điều luật. Chẳng hạn, nội hàm của KN “tội cướp” được xác định bởi Điều 151 (nay là Điều 133) Bộ luật Hình sự (BLHS), đó là: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác; Làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được; Nhằm chiếm đoạt tài sản. Ngoại diên của KN là tập hợp những đối tượng có cùng nội hàm. Ngoại diên của KN cho biết có bao nhiêu đối tượng khác cùng loại với nó. Ví dụ, ta có KN "vi phạm pháp luật"; vậy tất cả các hiện tượng xảy ra trong thực tế mà thỏa mãn ba dấu hiệu bản chất sau trong nội hàm của KN này đều thuộc ngoại diên của KN (Hành vi – hành động hoặc không hành động của con người – được biểu hiện ra bên ngoài; Hành vi được thực hiện phải trái pháp luật, tức là trái với các quy định chứa đựng trong các quy phạm pháp luật nào đó; Hành vi trái pháp luật được thực hiện phải chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó). Để biết một đối tượng có thuộc ngoại diên của một KN nào đó không thì phải xem đối tượng có đầy đủ mọi dấu hiệu bản chất của KN không.

Continue reading

LUẬT KINH TẾ – MẤY KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC TỪ NƯỚC NGOÀI

TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT  – Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

I. Quan niệm về luật kinh tế

Khái niệm luật kinh tế, lĩnh vực luật kinh tế ( mà ta quen gọi sau này là ngành luật kinh tế) đã ra đời trước khi có sự hiện diện của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Trước khi nhân loại bước vào thế kỷ XX, với sự thống trị của tư tưởng tự do hóa kinh tế, người ta chưa biết đến khái niệm luật kinh tế và “ bàn tay vô hình” của Adam Smith là công cụ duy nhất để điều tiết sự vận động và phát triển của nền kinh tế. Theo đó Nhà nước (công quyền) là “kẻ thù” của cơ chế kinh tế; Nhà nước không được và không thể gây ảnh hưởng tới nền kinh tế.

Vì vậy, cơ chế kinh tế của thời đại đó là cơ chế mà theo C.Mác là “ từ đầu đến ngón chân đều vấy máu”. Những khuyết tật, mặt trái ( hiểu theo nghĩa xã hội) và thiếu định hướng tổng thể là căn bệnh cố hữu của quy luật giá trị. Nói khác đi, bản thân cơ chế thị trường, hiểu theo nghĩa văn minh và nhân đạo, có nhu cầu cần được điều tiết. Continue reading

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ BÁO

Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là mục tiêu trực tiếp của nhiệm kỳ 2006 – 2010, là một trong bốn thành tố trong chủ đề của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “những vấn đề xã hội bao gồm các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển của con người và xã hội như: dân số và nguồn nhân lực, lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và văn hoá, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và cộng đồng”(1). Thực hiện quyền con người trong giải quyết các vấn đề xã hội, một mặt, nhằm đảm bảo tôn trọng và thực hiện các quyền dân sự, chính trị như: quyền hôn nhân và gia đình; quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, và các quyền kinh tế xã hội cơ bản của mọi công dân, bao gồm: quyền lao động việc làm; quyền có mức sống thoả đáng; quyền được giáo dục; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được tham gia vào đời sống văn hoá và được hưởng thụ các giá trị văn hoá, tiến bộ của khoa học; quyền được hưởng an toàn xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội. Mặt khác, thực hiện các vấn đề xã hội là chú trọng quan tâm đến quyền của những người có công với nước, trong đó đặc biệt phải kể đến những gia đình thương binh, liệt sỹ; đồng thời, tạo cơ hội bình đẳng, hỗ trợ các nhóm yếu thế trong xã hội tiếp cận và hưởng thụ quyền, đó là nhóm những người sống ở vùng nông thôn nghèo; vùng dân tộc thiểu số; những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già yếu, cô đơn, người nhiễm HIV/AIDS, người khuyết tật, trong đó có người nhiễm chất độc da cam. Quan điểm của Đảng tập trung giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội xuyên suốt trong 20 năm đổi mới vừa qua là sự thể hiện rõ nhất những nguyên tắc cơ bản và các chuẩn mực về quyền con người: tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người cống hiến, tiếp cận và hưởng thụ quyền; mọi người trong khi hưởng thụ quyền phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng; Đảng và Nhà nước có trách nhiệm quan tâm tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội như nhau, tức là mọi người đều bình đẳng; những người yếu thế được đặc biệt quan tâm hỗ trợ để có cơ hội cống hiến và hưởng thụ. Continue reading

CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 7 – MODUL 2

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP

1. So sánh đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sở hữu với đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng;

2. Phân tích các đặc điểm về đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng;

3. Cho 10 ví dụ về đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng tài sản;

4. Tại sao đối tượng của hợp đồng chuyển quyền sử dụng là tài sản đặc định và là vật không tiêu hao;5. So sánh hợp đồng thuê tài sản với hợp đồng mượn tài sản;

6. Cho biết hậu quả pháp lý khi các bên trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng không đặc định hóa tài sản cùng loại là đối tượng của hợp đồng;

7. Cho biết hậu quả pháp lý khi các bên trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng thỏa thuận đối tượng của hợp đồng là vật tiêu hao;

8. Cho biết hình thức và thủ tục đối với hợp đồng thuê nhà ở và quyền sử dụng đất;

9. Cho biết hậu qủa pháp lý khi bên cho thuê là người không có quyền cho thuê tài sản;

10. Phân tích các qui định pháp luật có liên quan khi tài sản thuê thuộc sở hữu chung của nhiều đồng sở hữu chủ;

11. Nêu 3 ví dụ về hợp đồng thuê tài sản đòi hỏi bên cho thuê phải tuân thủ những điều kiện nhất định;

12. Cho biết hậu qủa pháp lý đối với hợp đồng thuê tài sản có sự khuyết thiếu về điều khoản cơ bản;

13. Hãy nếu 3 ví dụ về điều khoản tùy nghi trong hợp đồng thuê tài sản;

14. Phân tích trách nhiệm dân sự của bên cho thuê trong trường hợp họ chậm chuyển giao hoặc chuyển giao không đúng, không đủ tài sản thuê cho bên thuê;

15. Phân tích các trường hợp cho thuê lại và hậu qủa pháp lý của nó;

16. Cho biết những biện pháp bảo đảm có thể được áp dụng cho hợp đồng thuê tài sản và biện pháp xử lý khi bên thuê vi phạm nghĩa vụ;

17. Cho biết các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê tài sản không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể hợp đồng;18. Hãy cho biết những điểm khác biệt của hợp đồng thuê nhà ở, quyền sử dụng đất so với các hợp đồng thuê tài sản thông thường khác;

19. Cho biết khi nào quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng thuê tài sản thông thường, khi nào là đối tượng của hợp đồng thuê khoán;

20. Nêu các đặc điểm cơ bản của hợp đồng thuê khoán, so sánh với các hợp đồng thuê tài sản thông thường;

21. Xác định hậu quả pháp lý của hợp đồng thuê khoán, trong đó các bên không có thỏa thuận về khấu hao cơ bản đối với tài sản thuê;

22. Xác định hậu quả pháp lý của hợp đồng thuê khoán, trong đó các bên không có thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng. Cho 3 ví dụ cụ thể;

23. So sánh giữa giá thuê khoán với giá thuê tài sản;

24. So sánh giữa hợp đồng thuê tài sản với hợp đồng vay tài sản;

25. So sánh hợp đồng thuê khoán tài sản, trong đó các bên có thỏa thuận bên thuê khoán thanh toán tiền thuê bằng tài sản với hợp đồng trao đổi tài sản;

26. Cho biết các trường hợp bên thuê tài sản không phải trả tiền thuê tài sản cho bên cho thuê;

27. Phân tích các đặc điểm của hợp đồng mượn?28. So sánh hợp đồng mượn với hợp đồng vay không lãi;

29. So sánh hợp đồng mượn với hợp đồng tặng cho;

30. Nêu những điểm khác biệt giữa hợp đồng mượn nhà ở với hợp đồng mượn tài sản thông thường;

31. Phân tích hậu quả pháp lý trong trường hợp tài sản mượn không thuộc sở hữu của bên cho mượn.

2. KHẲNG ĐỊNH  ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

1. Hợp đồng thuê tài sản là hợp đồng thực tế;

2. Đối tượng của hợp đồng thuê tài sản chỉ có thể là vật đặc định hoặc vật không tiêu hao;

3. Bên cho thuê tài sản là chủ sở hữu tài sản thuê;

4. Khi bên thuê được bên cho thuê miễn thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê thì hợp đồng thuê được chuyển thành hợp đồng mượn tài sản;

5. Khi các bên trong hợp đồng thuê tài sản thỏa thuận bên thuê tài sản trả tiền thuê bằng tài sản cùng loại với tài sản thuê, thì hợp đồng đó trở thành hợp trao đổi tài sản;

6. Quyền tài sản không thể là đối tượng của hợp đồng thuê hoặc mượn tài sản;

7. Chủ thể của hợp đồng thuê khoán bắt buộc một bên phải là người đang trực tiếp sản xuất, kinh doanh;

8. Bên thuê khoán chỉ có thể là pháp nhân;

9. Khi hợp đồng thuê, mượn tài sản thiếu một trong các điều khoản cơ bản thì hợp đồng không có hiệu lực;

10. Biện pháp bảo đảm cho hợp đồng thuê chỉ có thể là ký cược;

11. Khi các bên thỏa thuận đối tượng của hợp đồng thuê tài sản là vật tiêu hao, thì bên cho thuê phải chịu rủi ro về đối tượng hợp đồng thuê;

12. Giữa hợp đồng thuê và hợp đồng mượn chỉ có điểm khác nhau duy nhất là bên thuê phải trả tiền thuê, còn bên mượn không phải đáp ứng lại bất kỳ lợi ích vật chất nào;

13. Hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng thực tế.

CÂU HỎI THẢO LUẬN CHO VẤN ĐỀ 3 – MODUL 2

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP:

– Hãy nhận diện sinh viên các trường cao đẳng, đại học vay ưu đãi tại ngân hàng chính sách xã hội là loại giao dịch có bảo đảm hay không có bảo đảm?

– So sánh chủ thể của các biện pháp bảo lãnh, ký quĩ và tín chấp;

– So sánh đối tượng của các biện pháp ký quĩ, ký cược, đặt cọc với các biện pháp cầm cố, thế chấp;

– Nêu và phân tích các điều kiện đối với chủ thể của tín chấp;

– Xác định và so sánh hậu quả pháp lý khi người có nghĩa vụ (bên bảo đảm) vi phạm nghĩa vụ trong các biện pháp thế chấp, đặt cọc, ký cược;

– Xác định các trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, nhưng bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;

– Phân biệt trường hợp bên bảo lãnh bảo đảm nghĩa vụ mà không xác định cụ thể tài sản bảo đảm với trường hợp bên bảo lãnh bảo đảm nghĩa vụ có xác định cụ thể tài sản bảo đảm;

– Xác định quyền và nghĩa vụ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh;

– Xác định trách nhiệm dân sự của bên có nghĩa vụ với tư cách là bên bảo đảm khi họ vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm;

2. KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG SAI? TẠI SAO?

– Cũng như cầm cố, tài sản đặt cọc, ký cược thuộc sở hữu của bên nhận bảo đảm trong trường hợp bên bảo đảm vi phạm nghĩa vụ;

– Một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ phải đảm bảo hai điều kiện: Tài sản phải thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ trong nghĩa vụ được bảo đảm và phải có giá trị lớn hơn giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm;

– Tải sản hình thành trong tương lai chỉ có thể là đối tượng của biện pháp cầm cố, thế chấp;

– Cũng như cầm cố, đặt cọc và ký cược có hiệu lực từ thời điểm bên đặt cọc, bên ký cược chuyển giao tài sản đặt cọc, ký cược cho bên nhận đặt cọc, nhận ký cược;

– Trong trường hợp một cá nhân dùng uy tín cá nhân hoặc uy tín của một tổ chức mà họ là người đại diện để bảo đảm nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, nếu được bên có quyền chấp nhận thì đó là bảo đảm bằng biện pháp tín chấp;

– Giao dịch bảo đảm chỉ được xác lập giữa các chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự;

– Ký quĩ là biện pháp bảo đảm được áp dụng cho bảo đảm nghĩa vụ có chủ thể là các tổ chức;

– Hộ gia đình nghèo có thể được vay tín chấp nếu đại diện của hộ là thành viên của một tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở;

– Một cá nhân có thể thực hiện nhiều khoản vay tín chấp nếu họ thuộc diện nghèo và là thành viên của nhiều tổ chức chính trị – xã hội;

– Trong trường hợp bên được bảo lãnh có tài sản đủ để thực hiện nghĩa vụ vi phạm thì bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình;

– Một người đang thực hiện khoản vay tín chấp mà có tài sản để bảo đảm thì phải thay đổi sang biện pháp bảo đảm bằng tài sản;

– Các bên trong hợp đồng thuê có đối tượng là bất động sản có thể áp dụng biện pháp ký cược nếu có thỏa thuận;

– Về nguyên tắc, tài sản ký cược có giá trị bằng hoặc lớn hơn giá trị tài sản thuê, trừ khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật qui định khác;

– Nhiều người cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới giữa họ;

– Các bên có thể thỏa thuận khác với qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự khi một trong hai bên quan hệ đặt cọc vi phạm nghĩa vụ.

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ CHỦ THỂ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

THS. NGUYỄN VĂN HÙNG –  ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh

Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp mới ở nước ta. Địa vị pháp lý của nó được quy định từ Điều 46 đến Điều 50 chương IV của Luật Doanh nghiệp (Luật DN). Kể từ thời điểm Luật DN có hiệu lực đến nay, loại hình doanh nghiệp này đã thực sự đi vào các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, thỏa mãn phần nào nhu cầu của một số chủ thể trong việc lựa chọn hình thức đầu tư, góp phần vào việc đa dạng hóa các quan hệ kinh tế trong điều kiện từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường theo thông lệ quốc tế cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng chế định pháp luật này, một số quy định liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp cũng như một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đã thể hiện một số điểm bất hợp lý. Bên cạnh đó còn có một số quan điểm cho rằng việc công nhận sự tồn tại của loại hình doanh nghiệp này, đặc biệt là trong trường hợp luật cho phép một cá nhân cũng có quyền thành lập doanh nghiệp sẽ triệt tiêu loại hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Nói cách khác, quy định này có thể làm thay đổi tính chất pháp lý đặc thù của DNTN từ tính chất “chịu trách nhiệm vô hạn” thành tính chất “chịu trách nhiệm hữu hạn”. Vì vậy, chế định pháp luật này có thể phá vỡ đặc điểm truyền thống của DNTN cũng như làm thay đổi tính chất riêng của loại hình công ty TNHH.

Continue reading

QUAN NIÊM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NƯỚC TA

THS. TỐNG CŌNG CƯỜNG  – Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử, thiết nghĩ chúng ta tìm hiểu sự áp dụng của nguyên tắc này qua hai mô hình tố tụng là mô hình tranh tụng thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và mô hình thẩm xét ở các nước châu Âu lục địa, trong đó điển hình là Pháp.

Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm.1 Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại. Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm.2 Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm.3 Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định.4 Continue reading

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO LUẬT

THS. LÊ TIẾN CHÂU –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Xây dựng đội ngũ nhà giáo nói chung, đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở đào tạo luật nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm trong sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Bác Hồ đã từng nói: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người”. Muốn “trồng người” thật tốt trước hết chúng ta phải xây dựng đội ngũ những người “trồng người”. Đây chính là là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Đánh giá những kết quả đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo những năm qua, chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng đã ghi nhận “những năm qua chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước”.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo vẫn chưa được các cấp có thẩm quyền quan tâm đầy đủ. Chỉ thị 40-CT/TW đánh giá “số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế xã hội… Chế độ chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này”. Continue reading