TÍNH LỆ THUỘC CỦA NGHĨA VỤ BẢO LÃNH, MỘT VẤN ĐỀ NGÂN HÀNG CHO VAY CẦN QUAN TÂM

LS, ĐỖ HỒNG THÁI

Trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, bảo lãnh bằng tài sản là biện pháp bảo đảm tiền vay được áp dụng khá phổ biến bởi trên thực tế người có nhu cầu vay vốn không phải luôn có sẵn nguồn tài sản bảo đảm nhưng họ lại được người có tài sản chấp nhận đứng ra bảo đảm thực thi thay nghĩa vụ. Những mối liên hệ đan xen giữa họ với nhau và với người nhận bảo lãnh làm cho quan hệ bảo lãnh bằng tài sản trở thành loại quan hệ dân sự khá phức tạp. Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, hợp đồng bảo lãnh (nói chung và hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản nói riêng) là hợp đồng dân sự – chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 (và từ năm 2006 được thay thế bởi BLDS năm 2005). Do tính chấp pháp định mà tính lệ thuộc của nghĩa vụ bảo lãnh và nghĩa vụ được bảo lãnh là vấn đề mà ngân hàng cho vay (NHCV) không thể không quan tâm để phòng ngừa rủi ro về pháp lý, bảo vệ lợi ích chính đáng cho mình.
Khoản 5 Điều 418 BLDS và khoản 5 Điều 424 BLDS 2005 đều có quy định hợp đồng chấm dứt trong trường hợp “do đối tượng của hợp đồng không còn”. Khoản 1 Điều 366 BLDS 1995 (và Điều 361 BLDS 2005) quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ…”. Như vậy, nếu không có thoả thuận khác thì trách nhiệm của người bảo lãnh chỉ phát sinh và họ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi và chỉ khi nghĩa vụ trả nợ của người được bảo lãnh đang tồn tại và đã bị vi phạm, hay nói cách khác, nghĩa vụ của người được bảo lãnh là đối tượng của nghĩa vụ của người bảo lãnh, nghĩa vụ của người được bảo lãnh là đối tượng của nghĩa vụ của người bảo lãnh, tức là đối tượng của hợp đồng bảo lãnh và để nghĩa vụ bảo lãnh tồn tại (hợp đồng bảo lãnh có hiệu lực) thì nó phải có đối tượng – tức nghĩa vụ được bảo lãnh phải tồn tại. Hệ quả là: khi nghĩa vụ chính không tồn tại thì nghĩa vụ của người bảo lãnh cũng chấm dứt, người bảo lãnh thoát khỏi nghĩa vụ đã cam kết. Đây chính là tính lệ thuộc của nghĩa vụ bảo lãnh vào nghĩa vụ được bảo lãnh, và vấn đề đặt ra là NHCV cần làm gì để khi mà nghĩa vụ chính không tồn tại trong khi tiền cho vay chưa được thu hồi thì biện pháp bảo lãnh bằng tài sản vẫn duy trì hiệu lực?
Ta biết rằng trong quan hệ trên thì nghĩa vụ chính là nghĩa vụ của người vay phải thực hiện mọi điều khoản trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) và trong trường hợp thông thường nó sẽ không còn tồn tại khi HĐTD bị chấm dứt hoặc vô hiệu. Lẽ tất nhiên khi HĐTD đã dự liệu về mọi nghĩa vụ có thể phát sinh trong trường hợp HĐTD bị chấm dứt hay bị vô hiệu, và đến lượt mình hợp đồng bảo lãnh xác lập nghĩa vụ bảo lãnh toàn bộ cho các khả năng ấy thì vấn đề sẽ trở nên rõ ràng hơn. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật dân sự thì sự chấm dứt hoặc sự vô hiệu của hợp đồng có thể xảy ra bởi nhiều lý do và có phương thức xử lý hậu quả pháp lý khác nhau.
HĐTD bị chấm dứt lập tức làm cho nghĩa vụ của người bảo lãnh đương nhiên chấm dứt theo nếu việc chấm dứt HĐTD ấy là do: người được bảo lãnh đã thực thi xong nghĩa vụ trả tiền vay hoặc nghĩa vụ trả nợ đã được bù trừ (Khoản 2 Điều 371, khoản 1 Điều 375 BLDS 1995; Khoản 2 Điều 366, Khoản 1 Điều 371 BLDS 2005). Nhiều trường hợp tuy có sự chấm dứt HĐTD (chấm dứt nghĩa vụ trong HĐTD) song khoản nợ cho vay chưa thể thu hồi ngay, nghĩa vụ khác hình thành (phát sinh từ việc chấm dứt HĐTD), như các trường hợp: nghĩa vụ của người vay được NHCV đồng ý chuyển giao cho người khác – tức người thế vụ (Điều 323 BLDS 1995, Điều 317 BLDS 2005); NHCV và người vay thoả thuận với nhau chấm dứt thực hiện hợp đồng (khoản 2 Điều 418 BLDS 1995, Khoản 2 Điều 424 BLDS 2005); khi một bên thực hiện quyền huỷ bỏ hợp đồng hoặc quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng do lỗi của bên kia – nhưng không thuộc lỗi vi phạm việc thanh toán nợ đến hạn (Điều 419, 420 BLDS năm 1995; Điều 425, 426 BLDS 2005)… Trong lúc HĐTD chưa dự liệu hết các tình huống ấy thì vấn đề mở rộng trách nhiệm của người bảo lãnh phải được đặt ra và khi đó nghĩa vụ của người bảo lãnh sẽ không chấm dứt nếu hợp đồng bảo lãnh đã dự liệu và ghi nhận thoả thuận mở rộng phạm vi đối tượng được bảo lãnh – là các nghĩa vụ được bảo lãnh cho đến khi ngân hàng thu hồi hết nợ.
Đối với HĐTD bị vô hiệu (theo Điều 401 BLDS 2005 thì sự vi phạm về hình thức không đương nhiên làm cho hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật quy định khác) khi ấy không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, nghĩa là đối tượng của nghĩa vụ bảo lãnh về thực chất không có cơ sở tồn tại, nên trách nhiệm bảo lãnh cũng không phát sinh. Tuy nhiên, sự vô hiệu của hợp đồng nào đó không làm biến mất mọi nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng ấy, ví dụ khi HĐTD vô hiệu thì người vay vẫn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã vay, nhưng nghĩa vụ này có nguy cơ trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm nếu hợp đồng bảo lãnh lại không dự liệu để mở rộng phạm vi trách nhiệm của người bảo lãnh cho trường hợp này.
Xuất phát từ tính lệ thuộc của nghĩa vụ bảo lãnh, vấn đề sự thoả thuận khác (giữa NHCV với người bảo lãnh) về việc mở rộng phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh cần phải được đặt ra, nếu không biện pháp bảo đảm tiền vay (bảo lãnh bằng tài sản) sẽ đứng trước khả năng hết hiệu lực khi HĐTD bị chấm dứt hoặc vô hiệu trong các trường hợp đã phân tích trên. Trong chừng mực ấy, nội dung sự thoả thuận khác trở thành chìa khoá cho giải pháp mở rộng đối tượng được bảo lãnh, tức mở rộng phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh.
Về nguyên tắc, phạm vi nghĩa vụ của người bảo lãnh không bao giờ cao hơn nghĩa vụ của người được bảo lãnh, chỉ bằng (bảo lãnh toàn bộ) hoặc thấp hơn (bảo lãnh một phần) – Điều 368 BLDS 1995, Điều 363 BLDS 2005. Khi không có thoả thuận khác, trường hợp bảo lãnh toàn bộ thì nghĩa vụ bảo lãnh sẽ bao gồm toàn bộ nghĩa vụ của người được bảo lãnh ghi nhận trên HĐTD (gồm tiền gốc, tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại) nhưng không mặc nhiên hàm chứa bảo lãnh cho mọi nghĩa vụ phát sinh từ quá trình thực hiện, xử lý HĐTD (như nghĩa vụ hoàn trả tiền vay khi HĐTD bị chấm dứt hoặc bị vô hiệu), nếu như trong hợp đồng bảo lãnh ban đầu không ghi nhận hoặc giao kết bổ sung với người bảo lãnh không mở rộng phạm vi trách nhiệm này. Cũng có ý kiến cho rằng: theo quy định Điều 287 BLDS 1995 (và Điều 282 BLDS 2005) thì với HĐTD bị vô hiệu bản thân quyền và nghĩa vụ các bên (người vay, NHCV) không được xem là đối tượng của nghĩa vụ dân sự, nên cho dù hợp đồng bảo lãnh có cam kết bảo lãnh cả trường hợp này thì cũng vẫn không làm phát sinh nghĩa vụ của người bảo lãnh, tức bảo lãnh cũng vô hiệu (!). Thực ra, khi hợp đồng vô hiệu việc pháp luật buộc các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là đã dự liệu trước để xử lý hậu quả pháp lý về một nghĩa vụ vốn không nằm trong hợp đồng nhưng lại được phát sinh từ chính hợp đồng ấy, tức nghĩa vụ hoàn trả lại số tài sản chiếm hữu không có căn cứ (chính xác hơn là căn cứ bị xem là vô hiệu), mà không thừa nhận các nghĩa vụ khác của hợp đồng (nghĩa vụ trả lãi, nghĩa vụ về thời hạn thanh toán… của HĐTD). Phạm vi bảo lãnh một khi đã được xác định ngay khi giao kết hợp đồng, trong đó đã dự liệu và chấp thuận mở rộng cho khả năng HĐTD bị vô hiệu hoặc bị chấm dứt – là thoả thuận có phạm vi không vượt quá khối lượng nghĩa vụ mà người được bảo lãnh có thể phải gánh chịu, phù hợp với nguyên tắc của pháp luật dân sự: các bên có quyền tự do, tự nguyện thoả thuận và giao kết để thực hiện các nội dung không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 395, 401 BLDS 1995; Điều 389, 402 BLDS 2005), nên không bị xem là bảo lãnh vô hiệu. Để bảo đảm lợi ích của mình, NHCV có quyền đề nghị, quyền lựa chọn phương thức và chỉ chấp thuận cho vay nếu tiền cho vay luôn được bảo đảm an toàn tuyệt đối, đó là quyền hợp pháp và khi quyền ấy được thống nhất ghi nhận trong hợp đồng thì các bên tham gia có nghĩa vụ tôn trọng, được pháp luật bảo vệ.
Như vậy, với tính lệ thuộc của nghĩa vụ bảo lãnh đối với nghĩa vụ được bảo lãnh, NHCV nên chăng cần xây dựng hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản theo hướng mở rộng phạm vi bảo lãnh, cụ thể phải có điều khoản dự liệu về việc: người bảo lãnh cam kết chịu trách nhiệm thanh toán nợ vay cả khi HĐTD bị chấm dứt hoặc bị vô hiệu – chỉ khi ấy thì NHCV mới có thể bảo đảm thu hồi tiền vay trong mọi trường hợp. Một giải pháp hợp lý là trong hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản cần có cam kết của người bảo lãnh với nội dung như: tôi cam kết hoàn trả thay cho người vay nếu đến hạn mà người vay không trả; tôi cũng cam kết giao trả những gì người vay đã nhận trong khuôn khổ thực hiện hợp đồng, trong trường hợp hợp đồng bị chấm dứt hoặc vô hiệu (xem Bình luận khoa học về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt Nam – TS Nguyễn Ngọc Điện, NXB Trẻ, 2001, T.40).
Trong thực tế, khi thiết lập các giao dịch bảo đảm người ta thường mới chỉ chú ý đến bề nổi của hợp đồng (hình thức, nội dung cơ bản), còn bản chất pháp lý của các mối quan hệ có liên quan đến giao dịch bảo đảm lại dễ bị xem nhẹ, trong đó tính chất pháp lý của quan hệ bảo lãnh (nói riêng, các biện pháp bảo đảm tiền vay khác nói chung) là một vấn đề ít được chú trọng. Thiết nghĩ việc nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau để có sự cảnh bảo, kịp thời đề ra các giải pháp vận dụng nhằm phòng ngừa những rủi ro tiềm ẩn hoặc sự phát sinh tranh chấp pháp lý không đáng có là rất có ý nghĩa đối với NHCV.

SOURCE: ICB.COM.VN

VẤN ĐỀ XỬ LÝ TÀI CHÍNH KHI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

ĐỖ XUÂN TRUNG  –  Vụ Tín dụng – NHNN

Trong quá trình đổi mới, sắp xếp, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), Ngân hàng là người bạn đồng hành cùng tồn tại và gắn bó mật thiết với doanh nghiệp (DN), vốn tín dụng ngân hàng tham gia trong tất cả các khâu trong quá trình tái sản xuất, góp phần không nhỏ giúp các DN vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đứng vững trong cơ chế thị trường; Nhiều DN ăn nên làm ra, vay vốn trả nợ Ngân hàng sòng phẳng, có năng lực cạnh tranh đóng vai trò chủ đạo, trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, cũng còn không ít những DN đang gặp khó khăn phải lao đao với những món nợ quá hạn triền miên, không những nợ gốc mà cả số nợ lãi luỹ kế; Do đầu tư vào những dây chuyền sản xuất hoặc nhập máy móc thiết bị của những năm trước đây không có hiệu quả kinh tế, vốn còn tồn đọng và cũng có những DN sản xuất kinh doanh nhỏ bé, không có sức cạnh tranh nên thua lỗ và dẫn đến các khoản công nợ vay ngân hàng tồn đọng khó hoàn trả. Vấn đề đặt ra là xử lý nợ tồn đọng trong DN nhà nước đang là một khâu mắt xích quan trọng và nó liên quan đến vốn tài sản của DN khi tiến hành cổ phần hoá, khó khăn lớn nhất là làm minh bạch các khoản nợ đọng và giải quyết các khoản thua lỗ, yếu tố này giữ vị trí quan trọng trong việc bán cổ phiếu. Thực tế cho thấy DN nào làm ăn có hiệu quả, ít bị vướng vào những khoản nợ đọng thì tính hấp dẫn của cổ phiếu càng cao hơn bởi nhà đầu tư không dại gì bỏ vốn mua nợ và lỗ; ngoại trừ một số ít chấp nhận rủi ro để mua thương hiệu. Nếu không giải quyết được vấn đề này, thì chắc chắn sẽ có những DN không thể cổ phần hoá được khi mà số lỗ bằng hoặc lớn hơn giá trị thực tế phần vốn nhà nước.
Do nhiều nguyên nhân dẫn đến của các khoản nợ tồn đọng trong DN, có thể do chủ quan hoặc do khách quan hoặc do công tác quản lý yếu kém như bán sản phẩm ra nhưng không thu hồi được vốn, bị người mua chiếm dụng hàng tỷ đồng từ đó đã ảnh hưởng đến việc trả nợ vay Ngân hàng. Vì vậy, không có vốn để quay vòng cho những chu kỳ sản xuất tiếp theo trong khi đó về phía DN vẫn phải đi vay của các tổ chức tín dụng, mà đã đi vay thì phải trả lãi, số nợ tồn đọng đó những năm gần đây đã lên đến bạc tỷ nằm ở tất cả các loại hình: Sản xuất Công nghiệp, thương mại dịch vụ, nông lâm nghiệp chế biến… tập trung ở các loại sản phẩm trong các ngành sản xuất như: DN trong ngành Mía đường nợ tồn đọng ngân hàng đang là gánh nặng cho các tổ chức tín dụng.
Lộ trình cổ phần hoá DN khi tiến hành sắp xếp lại sản xuất hoặc chuyển giao, bán, khoán cho thuê DN đã nảy sinh các vấn đề trong quan hệ tín dụng với ngân hàng như: Bản thân các DN xin đề nghị được khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ; tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự chi viện của nhà nước đã xuất hiện ở một số DN, ngành khác nhau. Về vấn đề này có những DN hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương đã đẩy những khó khăn lên cho cấp trên?
Trong vài năm gần đây, Chính phủ đã có giải pháp tình thế cho khoanh nợ từ 1 – 3 năm chưa thu nợ gốc và không phải trả lãi tiền vay đối với một số DN cá biệt; bước đầu đã tạo cho họ trong việc ổn định sản xuất, giải quyết được số lao động dôi dư có việc làm, trong tiến trình sắp xếp lại sản xuất và đã có nguồn vốn để trả nợ số tiền vay Ngân hàng như: đối với người trồng, chăm sóc, thu mua và chế biến cà phê. Đối với ngành mía đường, Chính phủ đã có biện pháp tháo gỡ khó khăn sắp xếp lại sản xuất: xoá nợ các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước, đây là một trong những giải pháp cứu nguy cho các DN mía đường mà đang trong tình trạng hết sức khó khăn.
Để xử lý những vấn đề khó khăn chung của các doanh nghiệp trong quá trình sắp xếp lại sản xuất, phần lớn các DN khi tiếp nhận vốn và tài sản của các đơn vị giải thể đều có tư tưởng không muốn nhận những tồn tại cũ, bởi vì nhận vào thì lại phải giải quyết hậu quả và không biết đến bao giờ mới có thể khắc phục được. Vấn đề này Ngân hàng nhà nước, Bộ Tài chính đã có những biện pháp chỉ đạo trong vài năm gần đây kể từ khi Nhà nước ta có chủ trương chuyển đổi sắp xếp lại DNNN.
– Trước hết đối với đơn vị nhận bàn giao, DN phải có trách nhiệm tiếp nhận vốn và tài sản theo Thông tư hướng dẫn số 130/1998/TT-BTC ngày 30/9/1998 của Bộ Tài chính đã quy định: DN tiếp nhận hoặc doanh nghiệp mới có quyền và trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ tài sản (kể cả tài sản hư hỏng, kém mất phẩm chất, không cần dùng, chờ thanh lý), các khoản công nợ phải thu (kể cả nợ phải thu khó đòi, các khoản nợ phải trả và các khoản lỗ luỹ kế của DN bị sáp nhập hoặc DN hợp nhất.
Trong quá trình sắp xếp lại các DNNN, có một số tồn tại là một số pháp nhân mới hình thành, sau khi sắp xếp đã chậm trễ trong việc tiếp nhận và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với các tổ chức tín dụng dẫn đến những vướng mắc trong quan hệ tín dụng và các pháp nhân mới được sắp xếp lại.
Đối với những khoản nợ Ngân hàng tồn đọng, Ngân hàng Nhà nước đã có Thông tư số 05/2003/TT-NHNN ngày 24/2/2003 hướng dẫn về xử lý nợ tồn đọng của DNNN tại các Ngân hàng thương mại Nhà nước theo Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 của Chính phủ. Nguyên tắc chung về xử lý nợ tồn đọng là: Đối với DNNN đang hoạt động có các khoản nợ lên lưới thanh toán giai đoạn I, giai đoạn II còn tồn đọng tại các ngân hàng thương mại nhà nước đến 31/12/2000, DN đã áp dụng các biện pháp xử lý nợ như đối chiếu xác nhận nợ nhưng chưa thanh toán được và đến nay vẫn còn tồn đọng chưa được xử lý; Các khoản nợ tồn đọng phát sinh sau ngày 31/12/2000 các DNNN phải tự thanh toán.
Nợ tồn đọng của các DNNN đang thực hiện chuyển đổi là những khoản nợ tồn đọng tại các ngân hàng thương mại nhà nước đến thời điểm chuyển đổi DN vẫn chưa thanh toán được. Thông thường các DN hiện nay đang ở trong tình trạng dưới đây:
+ Đối với DN thua lỗi liên tục không thể khắc phục được phải giải thể, phá sản thì việc xử lý nợ tồn đọng được thực hiện theo các quy định của pháp luật về giải thể, phá sản và các khoản nợ tồn đọng được xử lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
+ Đối với các Doanh nghiệp thua lỗ đã tổ chức lại sản xuất, có khả năng phát triển nếu có nợ vay ngân hàng thương mại nhà nước đã được khoanh nợ thì được xoá lãi vay chưa trả ngân hàng và xem xét kéo dài thời gian khoanh nợ.
+ Đối với doanh nghiệp Nhà nước có quyết định thực hiện chuyển đổi nhưng gặp khó khăn không cân đối được nguồn để thanh toán các khoản nợ quá hạn thì Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại Nhà nước xem xét, quyết định cho DN được giãn nợ, khoanh các khoản nợ quá hạn có đến thời điểm quyết định thực hiện chuyển đổi trong thời hạn từ 3 đến 5 năm. Trường hợp các doanh nghiệp này bị lỗ, không có khả năng thanh toán thì được xoá nợ lãi vay chưa trả ngân hàng với mức không vượt quá số lỗ còn lại.
+ Đối với doanh nghiệp đang thực hiện thủ tục cổ phần hoá, giao, bán thì ngoài biện pháp khoanh nợ, xoá nợ, DN phối hợp với Ngân hàng chủ nợ và tổ chức có chức năng mua bán nợ để xử lý phần nợ gốc quá hạn còn lại theo hướng mua hoặc bán lại nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp của Ngân hàng vào DN cổ phần theo quy định của pháp luật về tỷ lệ vốn góp.
– Về xử lý lỗ để xác định giá trị DN: trong thực tế, có những DN trước khi tiến hành cổ phần hoá, còn có những tồn tại do đầu tư kém hiệu quả dẫn đến kinh doanh thua lỗ hoặc có những DN nhiều dự án không được tính toán, khả năng thu hồi vốn, việc quản lý đầu tư chưa được chặt chẽ dẫn đến đầu tư công nghệ lạc hậu, không phù hợp, đầu tư đắt không cân đối với vùng cung cấp nguyên liệu, đầu tư vượt quá khả năng về vốn, thậm chí có những DN triển khai đồng thời nhiều dự án trong cùng một thời gian nên không có vốn mà phải sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư. Hậu quả là công suất huy động thực tế thấp, giá thành sản phẩm cao dẫn đến kinh doanh thua lỗ, không thu hồi được vốn. Đối với số lỗ trong kinh doanh thì giám đốc DN phải xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm tập thể, cá nhân và phải xử lý bồi thường vật chất (nếu do nguyên nhân chủ quan).
– Trường hợp DN có số lỗ nhỏ hơn giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại DN và không thuộc đối tượng Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì thực hiện phương án điều chỉnh cổ phần hoá trên cơ sở điều chỉnh giảm giá trị phần vốn nhà nước dự kiến góp tại DN tương ứng với số lỗ còn lại. Nếu không đủ thì tiếp tục điều chỉnh giảm giá trị phần vốn nhà nước dùng để thực hiện chính sách ưu đãi về giá bán cổ phiếu.
– Trường hợp DN có số lỗ nhỏ hơn giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại DN nhưng thuộc đối tượng Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối thì điều chỉnh phương án cổ phần hoá theo hướng điều chỉnh giảm quy mô vốn điều lệ và phương án bán cổ phần ưu đãi cho người lao động, người sản xuất trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ cổ phần nhà nước nắm giữ đủ để thực hiện quyền chi phối.
Đi đôi với lộ trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, để thực hiện Nghị quyết Trung ương IX (khoá IX). Kiên quyết xoá bỏ các loại bảo hộ bất hợp lý sớm khắc phục tình trạng bao cấp như khoanh nợ, xoá nợ, giãn nợ, bù lỗ, cấp vốn tín dụng ưu đãi tràn lan đối với DNNN. Đây là hình thức buộc các DNNN phải tìm mọi cách để xử lý giải quyết các khoản nợ tồn đọng, nhằm tăng thêm khối lượng tiền quay vòng qua quỹ ngân hàng, với mục tiêu không để tài sản và vốn nằm chết? Đây cũng là nguyên tắc hoạt động của nền kinh tế thị trường, nếu giải quyết thu được các khoản nợ tồn đọng thì sẽ góp phần giảm bớt lượng tiền phát hành vào lưu thông, góp phần kiềm chế lạm phát và tổ chức tín dụng lại có vốn để đầu tư cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo. Trong quá trình sắp xếp và cổ phần hoá DNNN, xác định giá trị doanh nghiệp thì hàng loạt các vấn đề phải giải quyết như lao động, vốn và tài sản và vai trò của các NHTM cực kỳ quan trọng, vì hiện tại vốn của NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tài sản của Doanh nghiệp, đang là gánh nặng cho DN.
Trong quá trình xử lý nợ tồn đọng, nếu do nguyên nhân khách hàng gây nên như hạn hán, sâu bệnh làm cho cây trồng, vật nuôi không phát triển được, không có sản phẩm thu hoạch dẫn đến không có nguồn trả nợ vay ngân hàng, ở từng thời điểm căn cứ vào báo cáo của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét trình Chính phủ có biện pháp tháo gỡ khó khăn một phần cho DN.
Để giải quyết được số nợ tồn đọng thì bản thân mỗi DN phải có biện pháp tích cực đôn đốc các khoản nợ phải thu, xử lý vật tư hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển và đặc biệt đối với khoản nợ vay Ngân hàng thương mại phải có kế hoạch trả nợ, không thể trông chờ vào sự chi viện của Nhà nước./.

SOURCE: ICB.COM.VN

HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN BỊ VÔ HIỆU MỘT PHẦN

THANH TUỆ –  Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Hiện nay, hầu hết các cá nhân khi tham gia vào các hợp đồng dân sự đều có các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và phạt vi phạm. Các biện pháp nêu trên có phải là điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực hay không còn tùy thuộc vào mỗi loại hợp đồng và sự thỏa thuận của các bên. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin đề cập đến hợp đồng vay tài sản có thế chấp tài sản (chủ yếu là thế chấp quyền sử dụng đất) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.

Theo Điều 467 và Điều 468 Bộ luật Dân sự thì: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tiền hoặc vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lại, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản: nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định hợp đồng vay phải được lập thành văn bản, thì phải tuân theo hình thức đó. Cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự (Điều 346, 347) thì thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền; thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải có chứng nhận của Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nêu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.Theo các quy định nay thì thế chấp phải được lập thành văn bản, nhưng phải có chứng nhận của Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hay không là phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên hoặc do pháp luật quy định. Tuy nhiên, theo Điều 731 Bộ luật Dân sự thì thế chấp quyền sử dụng đất phải đựoc làm thủ tục và đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai. Đồng thời, theo quy định tại các điều: 728, 729, 730 Bộ luật Dân sự, Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, thì có quyền thế chấp quyền sử dụng đất. Đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng được thế chấp tại Ngân hàng Việt Nam, tại các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà nước cho phép thành lập để vay vốn sản xuất, còn đất ở được thế chấp với các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam ở trong nước, Thực tiễn giải quyềt các vụ án về hợp đồng vay tài sản có thế chấp quyền sử dụng đất hiện nay cho thấy hầu hết hợp đồng thế chấp đều được lập thành văn bản, nhưng đại đa số các hợp đồng thế chấp này đều không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Có trường hợp thế chấp không làm thủ tục và đăng ký tại Ủy ban đất, có trường hợp lại thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp cho cá nhân. Khi xét xử những vụ án này, các Tòa án đều xác định hợp đồng thế chấp là vô hiệu, nhưng cách giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu này lại khác nhau. Có Tòa án xác định vô hiệu ở phần thế chấp nên cả hợp đồng vay nợ là vô hiệu, do đó đã xử hủy việc thế chấp giữa hai bên và buộc các bên hòan trả cho nhau những gì đã nhận. Có Tòa án xác định chỉ vô hiệu ở phần thế chấp nên xử hủy việc thế chấp giữa hai bên, đồng thời xử buộcbên có nghĩa vụ phải hòan trả cho bên có quyền tòan bộ tài đã nhận và lãi (do hai bên có thỏa thuận).

Xin đơn cử hai ví dụ cụ thể sau:

Ví dụ 1: Ngày 1-8-1996, vợ chồng anh Đào Văn Thanh và chị Trương Thị Dung viết giấy vay của vợ chồng anh Trần Văn Hoan và chi Nguyễn Thị Tám 200.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn là ba năm. Anh Thanh và chị Dung có thế chấp ngôi nhà 58 m2 và 15 m2 công trình phụ trên diện tích đất 160m2 thuộc tờ bản đồ số 3 thửa 110 bản đồ 1993-1996 xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội cho vợ chồng anh Hoan, chị Tám để đảm bảo cho khoản vay. Giấy thế chấp này không có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đều xử hủy bỏ việc thế chấp nhà của chị Dung và anh Thanh đối với chị Tám và anh Hoan; buộc anh Thanh và chị Dung phải trả cho chị Tám và anh Hoan 200.000.000 đồng tiền gốc và 153.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 535.000.000 đồng. Đồng thời, các Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm còn tuyên kê biên nhà, công trình phụ và diện tích đất nêu trên (đứng tên quyền sử dụng đất của chị Trương Thị Dung) để đảm bảo thi hành án.

Ví dụ 2: Ngày 10-9-1997, vợ chồng ông Phạm Văn Thắng và bà Lê Thị Lệ viết giấy mượn của vợ chồng ông Nguyễn Văn Truyện và bà Trương Thị Cửu 65.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Thắng và bà Lệ thế chấp một bộ hồ sơ nhà mang Quyết định số 60 ngày 30-6-1988 (bao gồm 1 Quyết định cấp đất số 60/QĐ-UB ngày 30-6-1988 cho ông Chu Anh Thức và trích lục đất kèm theo cùng một giấy sang nhượng đất thổ cư giữa ông Thức và ông Thắng ngày 12-4-1995). Việc thế chấp này có xác nhận của Phòng Công chứng Nhà nước số 1 tỉnh Kon Tum đã xử buộc ông Thắng và bà Lệ phải trả cho ông Truyện và bà Cửu 65.000.000 đồng tiền gốc và 41.109.250 đồng tiền lãi, tổng cộng là 106.109.250 đồng. Tiếp tục kê biên bảo thủ lô đất 410 m2 tại số 223 Mai Hắc Đế, thị xã Kon Tum là tài sản của ông Thắng, bà Lệ (đã thế chấp) để đảm bảo công tác thi hành án. Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum cho rằng vợ chồng ông Thắng, bà Lệ thế chấp quyền sử dụng đất khi chưa đựơc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chi có giấy mua bán viết tay với ông Thức là không đúng quy định của pháp luật. Do việc thế chấp này là vô hiệu từ khi xác lập và cả hai bên đều có lỗi, nên buộc các bên có nghĩa vụ giao lại tài sản cho nhau, thiệt hại của bên nào bên đó tự chịu, không chấp nhận yêu cầu tính lãi 65.000.000 đồng của vợ chồng ông Truyện, bà Cửu. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã tuyên xử hợp đồng thế chấp tài sản để mượn tiền giữa vợ chồng ông Thắng và bà Lệ với vợ chồng ông Truyện và bà Cửu ngày 20-9-1997 là vô hiệu. Buộc vợ chồng ông Thắng và bà Lệ phải trả cho vợ chồng ông Thắng, và Cửu 65.000.000 đồng; ông Truyện và bà Cửu trả vợ chồng ông Thắng và bà Lệ một quyết định cấp đất số 60 ngày 30-6-1988 mang tên ông Thức và trích lục đất kèm theo cùng một giấy sang nhượng đất thổ cư giữa ông Thức và ông Thắng ngày 12-4-1995. Hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 127/QĐ-TA ngày 21-8-2002 của Tòa án nhân dân thị xã Kon Tum.

Theo quan điểm của cá nhân thôi thì thế chấp chỉ là một biện pháp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không phải là điều kiện bắt buôc của hợp đồng. Trong hợp đồng vay tài sản, nếu phần thế chấp không đúng quy định của pháp luật thì chỉ vô hiệu ở phần thế chấp và coi hợp đồng vay tài sản đó là giao dịch không có đảm bảo, chứ không phải hợp đồng vay tài sản đó bị vô hiệu. Điều này cũng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự đó là hợp đồng dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của hợp đồng vô hiệu, nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại của hợp đồng ( Điều 144). Trong trường hợp này, phải xác định hợp đồng vay tài sản là hợp đồng chính và hiệu lực của nó hòan toàn không phụ thuộc bất cứ một hợp đồng nào khác. Do đó, khi giải quyết những vụ án thuộc loại này, Tòa án phải tính lãi cho người cho vay (nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định), vì có như thế mới đảm bảo quyền lợi của người cho vay và phù hợp với quy định của pháp luật về hợp đồng thế chấp, các Tòa án tuyên hủy hợp đồng thế chấp là đúng nhưng cũng cần phải xem xét nếu có đủ căn cứ khẳng định bên thế chấp là người có quyền đối với tài sản thế chấp thì phải kê biên tài sản đó để đảm bảo thi hành án.

SOURCE: vietnamese-law-consultancy.com

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI CỦA VỢ VÀ CHỒNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG DÂN SỰ DO MỘT BÊN THỰC HIỆN

NGUYỄN HẢI AN – Tòa Dân sự – Tòa án nhân dân tối cao

1. Tại điều 25 của luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trông hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”. Và khoản 3 Điều 28 của Luật này còn quy định: Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định của pháp luật. Continue reading