CHỈ THỊ SỐ 01/2008/CT-TTg VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
*****
Số: 01/2008/CT-TTg
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2008

CHỈ THỊ

VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

Thị trường bất động sản nước ta tuy mới hình thành, nhưng đã có bước phát triển tích cực, nhiều dự án nhà ở, công trình dịch vụ, thương mại, sản xuất kinh doanh đã được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, nhiều khu nhà ở, khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng đồng bộ đã được đầu tư làm thay đổi bộ mặt, cảnh quan đô thị. Thị trường bất động sản đã thu hút được đáng kể nguồn vốn trong nước và nước ngoài, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội trong những năm vừa qua. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường bất động sản đã từng bước được hoàn thiện, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn cho cả các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của thị trường bất động sản thời gian qua cũng đã bộc lộ những mặt yếu kém, phát triển thiếu ổn định và bền vững. Đặc biệt, trong thời gian gần đây tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã xảy ra tình trạng giá văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở riêng lẻ tăng đột biến cục bộ ở một số dự án, một số khu vực nhất định. Trong khi thị trường bất động sản tại một số địa phương khác vẫn trong tình trạng kém sôi động, ít giao dịch. Nguyên nhân cơ bản của tình hình nêu trên là do nguồn cung về nhà đất tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh gần đây bị hạn chế, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, giá đầu vào (vật liệu, nhân công) tăng cao cũng như sự tác động của thị trường tài chính, tiền tệ đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tăng giá bất động sản. Tại những khu vực giá bất động sản tăng đột biến đã xảy ra tình trạng nhà đầu tư giữ hàng không đưa ra thị trường nhằm đẩy giá lên cao; chính quyền các cấp thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý kịp thời các trường hợp đầu cơ, nâng giá xảy ra trên địa bàn. Ngoài ra còn có nguyên nhân quan trọng là nhiều địa phương chưa quan tâm tới việc đầu tư xây dựng quỹ nhà xã hội để cho một số đối tượng thu nhập thấp thuê hoặc thuê mua theo quy định của Luật Nhà ở. Tình trạng đầu cơ, đẩy giá giao dịch bất động sản lên quá cao so với giá trị thực gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động đầu tư, giảm nguồn thu cho ngân sách, gây tác động xấu tới tâm lý và đời sống xã hội. Để khắc phục những bất cập nêu trên, góp phần phát triển thị trường bất động sản hoạt động lành mạnh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

1. Bộ Xây dựng:

a) Chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sửa đổi những nội dung liên quan đến lập, thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở trong Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở theo hướng phân cấp, loại bỏ các quy định bất hợp lý để rút ngắn thời gian thực hiện các dự án, khuyến khích các chủ đầu tư xây dựng đa dạng các loại căn hộ có diện tích phù hợp với các đối tượng có thu nhập thấp và trung bình, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, soạn thảo Nghị định xử phạt các vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản, trình Chính phủ trong quý II năm 2008;

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản trong quý I năm 2008;

d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành hạn mức sở hữu nhà ở để làm cơ sở xác định thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về thuế ngay sau khi văn bản pháp luật về thuế liên quan đến thị trường bất động sản được sửa đổi, bổ sung;

đ) Chỉ đạo đôn đốc các địa phương đẩy mạnh công tác đầu tư xây dựng nhà ở xã hội kể cả từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác, tìm kiếm nguồn vốn ODA để tạo quỹ nhà ở của Nhà nước nhằm từng bước điều tiết thị trường nhà ở;

e) Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh doanh bất động sản theo thẩm quyền;

g) Đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương thực hiện tốt Chỉ thị số 11/2007/CT-TTg ngày 08 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Kinh doanh bất động sản.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường:

a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế chỉ định chủ đầu tư các dự án nhà ở, khu đô thị mới được giao đất, thuê đất theo hướng đảm bảo lựa chọn chủ đầu tư có kinh nghiệm, năng lực tài chính, đảm bảo yêu cầu về tiến độ, đồng thời có chế tài xử lý cụ thể đối với các trường hợp chậm triển khai dự án, không đảm bảo tiến độ quy định, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

b) Trong quý I năm 2008 ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn việc cho phép chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới được lựa chọn hình thức nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai để tạo điều kiện cho các chủ đầu tư giảm bớt chi phí đất đai, góp phần giảm giá bán, giá cho thuê nhà ở trong các dự án;

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành hạn mức sử dụng đất để làm cơ sở xác định thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về thuế ngay sau khi văn bản pháp luật về thuế liên quan đến thị trường bất động sản được sửa đổi, bổ sung.

3. Bộ Tài chính:

a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh về thuế nhà đất theo hướng đánh thuế luỹ tiến đối với các trường hợp chủ sở hữu, chủ sử dụng có nhiều nhà, đất vượt hạn mức quy định, có nhà đất nhưng không đưa vào khai thác sử dụng nhằm mục đích hạn chế đầu cơ, tăng nguồn thu cho ngân sách, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất ngày 22 tháng 6 năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất số 17/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 theo hướng giảm thuế suất đối với các trường hợp giao dịch, chuyển nhượng đất ở, đất xây dựng công trình nhằm khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân kê khai, đăng ký nộp thuế khi thực hiện giao dịch, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và Nghị định số 47/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Điều 6 Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ theo hướng giảm tỷ lệ (%) lệ phí trước bạ đối với các trường hợp đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản nhà, đất, trình Chính phủ trong quý I năm 2008.

4. Bộ Công Thương có trách nhiệm đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương thực hiện tốt Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường để góp phần bình ổn giá bất động sản.

5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Kiểm tra, rà soát lại danh mục và tiến độ thực hiện đối với tất cả các dự án nhà ở, dự án khu đô thị mới trên phạm vi địa bàn; thực hiện việc thu hồi đất đối với các chủ đầu tư dự án đã giao đất hoặc cho thuê đất nhưng chưa triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Có biện pháp xử lý kiên quyết đối với các trường hợp đầu cơ nhà đất, mua bán, chuyển nhượng bất động sản trái quy định của pháp luật, trốn lậu thuế cũng như các trường hợp khác vi phạm quy định pháp luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản trên phạm vi địa bàn;

c) Báo cáo tình hình phát triển và quản lý thị trường bất động sản tại địa phương mình gửi Bộ Xây dựng trước ngày 01 tháng 02 năm 2008 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

6. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị này.

7. Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

8. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– Văn phòng BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– Các Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty 91;
– VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ,
Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, CN (5b).

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

BẢO KHÁNH – Bộ Thương Mại

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu, tìm kiếm, mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ nói riêng, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nắm được những vấn đề cơ bản của thương mại quốc tế. Trong các nội dung của thương mại quốc tế ngày nay, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một vấn đề không mấy xa lạ với các nước trên thế giới nhưng lại khá mới mẻ đối với ngay cả các cơ quan và cán bộ làm công tác hội nhập và xây dựng chính sách kinh tế – thương mại của nước ta.

Hoạt động sở hữu công nghiệp bao hàm mọi hoạt động xã hội liên quan tới các đối tượng là kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết sản xuất, thiết kế vi mạch, chủng vi sinh, giống sinh vật); của hoạt động sáng tạo mỹ thuật ứng dụng (kiểu dáng công nghiệp) và của hoạt động sáng tạo trong kinh doanh (nhãn hiệu hàng hóa; nhãn hiệu dịch vụ; bí mật thương mại; các chỉ dẫn thương mại; đặc quyền thương mại)… Các hoạt động nói trên có tính chất pháp lý liên quan tới các vấn đề kinh tế (vật chất) và tinh thần trong quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đó.

Mục tiêu của hoạt động sở hữu công nghiệp là khuyến khích hoạt động sáng tạo khoa học – công nghệ; cổ vũ đầu tư tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật – mỹ thuật ứng dụng cũng như các sáng kiến kinh doanh mới; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh đồng thời sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội.

Biện pháp để đạt được các mục tiêu trên là thông qua việc vận hành hệ thống các quy phạm pháp luật mà xây dựng và duy trì một lĩnh vực hoạt động gọi là hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp – trong đó quan hệ giữa các chủ thể liên quan tới đối tượng trên mang nội dung quan hệ quyền và nghĩa vụ và các quan hệ đó được điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế – xã hội. Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được cấu thành bởi ba hệ thống chủ chốt, đó là: hệ thống bảo hộ sáng chế (hay còn gọi là hệ thống patent); hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và hệ thống bảo hộ thông tin bí mật. Nguyên tắc chung của cả ba hệ thống này là thông qua việc thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với quyền sở hữu công nghiệp mà chủ thể các quyền đó (người nắm giữ quyền) được bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất trong một thời gian nhất định đủ để khai thác nhằm không những bù đắp các chi phí đầu tư tạo ra giá trị của các đối tượng đó mà còn có thể thu được lợi nhuận để tiếp tục tạo ra các thành tựu mới. Một cách tổng quát, mọi đối tượng nói trên đều được coi là đối tượng sở hữu, các quan hệ xã hội liên quan tới các đối tượng đó được điều chỉnh chủ yếu theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ sở hữu.

Theo thông lệ trên thế giới cũng như quy định tại các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu trí tuệ bao gồm 2 nhánhquyền sở hữu công nghiệp quyền tác giả (Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, bí mật thương mại v.v.; Quyền tác giả gồm quyền đối với: các tác phẩm văn học nghệ thuật, quyền của các nhà ghi âm, các nghệ sĩ biểu diễn, các tổ chức phát thanh truyền hình v.v..). Theo nghĩa rộng nhất, sở hữu trí tuệ có nghĩa là quyền pháp lý phát sinh từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm hai mục đích: bảo đảm về mặt pháp lý đối với quyền vật chất và tinh thần của các nhà sáng tạo đối với các kết quả sáng tạo của họ và quyền của công chúng được tiếp cận các thành quả sáng tạo này; thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, phổ biến và ứng dụng các thành quả sáng tạo và khuyến khích kinh doanh lành mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội.

Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” đôi khi bị hiểu nhầm là liên quan đến các động sản hoặc bất động sản được sử dụng cho sản xuất công nghiệp, chẳng hạn như các nhà máy, các trang thiết bị phục vụ sản xuất công nghiệp v.v.. Tuy nhiên, sở hữu công nghiệp là một loại tài sản trí tuệ và do đó chúng liên quan đến các thành quả sáng tạo trí tuệ của con người. Điển hình của các thành quả sáng tạo này là các sáng chế và các kiểu dáng công nghiệp. Ngoài ra, sở hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh. Thuật ngữ “quyền sở hữu công nghiệp” sử dụng trong Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không chỉ bao hàm những gì liên quan tới “công nghiệp”. Đây là một định nghĩa truyền thống về sở hữu công nghiệp trên thế giới.

Nội dung quyền sở hữu công nghiệp cũng có đầy đủ 3 loại quyền năng quy định tại Chương 2, Phần thứ 6 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, vì đây là một loại tài sản vô hình nên quyền sử dụng và quyền định đoạt có ý nghĩa lớn hơn so với quyền chiếm hữu. Giống như mọi loại quyền sở hữu khác, quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật. Ngoài những quy định chung điều chỉnh về tài sản, quyền tài sản, Bộ luật Dân sự có riêng Chương 2, Phần thứ 6 quy định về quyền sở hữu công nghiệp.

Để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thiết lập quyền sở hữu công nghiệp của mình trên thị trường nội địa và bước ra thương trường thế giới với mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, chúng ta phải tập trung một số giải pháp sau:

Thứ nhất, Nhà nước phải hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu công nghiệp.

Trong nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nhấn mạnh vì quyền sở hữu công nghiệp là một loại tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, bản thân doanh nghiệp chính là người phải chủ động thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ quyền của mình. Nhà nước chỉ tạo ra những cơ chế, hành lang pháp lý thích hợp để các chủ thể bảo vệ quyền của mình. Giải pháp hỗ trợ kinh phí để doanh nghiệp tiến hành đăng ký xác lập quyền không phải là giải pháp có hiệu quả. Cần phải nhắc lại rằng việc đăng ký xác lập quyền chỉ là một công đoạn đầu tiên trong một quá trình lâu dài để bảo vệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ, trong đó có quyền sở hữu công nghiệp. Nhà nước hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền trong khi doanh nghiệp không hiểu rõ vai trò, ý nghĩa cũng như không có chiến lược cho hoạt động sở hữu công nghiệp thực tế sẽ phản tác dụng, làm cho doanh nghiệp ảo tưởng rằng chỉ cần đăng ký quyền là đủ mà không có bất cứ hành động nào khác để khai thác cũng như bảo vệ quyền đó. Hơn nữa, việc lấy ngân sách nhà nước (thực tế là tiền đóng thuế của các doanh nghiệp) để hỗ trợ cho một số doanh nghiệp nào đó đơn thuần để đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp là không công bằng, không bình đẳng trong hoạt động kinh doanh. Trong giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, có một cách tiếp cận có hiệu quả đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay, đó là cách tiếp cận tập thể – tiếp cận theo ngành hàng.

+ Đối với các loại nông phẩm: Dường như phương thức tiếp cận tập thể để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là có hiệu quả nhất. Ví dụ điển hình là trường hợp cà-phê Cô-lôm-bi-a. Hành khách đi trên các hãng hàng không thường nghe thấy lời mời của tiếp viên về loại sản phẩm này. Khi đó, chúng ta có thể thấy tất cả những người sản xuất và buôn bán loại sản phẩm này của Cô-lôm-bi-a đều được hưởng lợi. Liên hệ với các sản phẩm xuất khẩu tương tự của Việt Nam, nếu từng doanh nghiệp sản xuất, chế biến cà-phê tiến hành quảng bá sản phẩm của mình với các nhãn hiệu riêng rẽ, sẽ rất khó có thể đạt được thành công trên thị trường quốc tế, nhất là hiện nay loại sản phẩm này hầu hết được xuất khẩu dưới dạng cà-phê hạt (sản phẩm thô). Trong trường hợp đó, khi các doanh nghiệp chế biến của nước ngoài mua nguyên liệu thô của Việt Nam và chế biến, gắn nhãn hiệu của họ vào sản phẩm và tung ra thị trường thì khi đó sẽ không còn mối liên quan nào đến Việt Nam trong sản phẩm đó.

+ Tương tự như vậy là đối với sản phẩm gạo: Người tiêu dùng thường biết đến một loại gạo mà họ mua xuất xứ từ nước nào trước khi họ quan tâm đến việc hãng bán lẻ nào cung cấp loại gạo đó. Chưa nói đến việc tự mình tạo ra một mạng lưới phân phối và sử dụng riêng nhãn hiệu của mình trên bao bì bán lẻ hàng hóa, việc làm cho khách hàng biết được nguồn gốc gạo của Việt Nam hiện vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

+ Đối với sản phẩm dệt, may: Khi hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu hướng tới các thị trường của các nước phát triển thì việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của riêng mình hay sử dụng nhãn hiệu của các hãng nổi tiếng trên thế giới cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong kinh doanh. Một số công ty may mặc có truyền thống và đã có những thành công nhất định ở thị trường nước ngoài có thể nghĩ đến việc sử dụng nhãn hiệu riêng của mình (chẳng hạn Công ty May 10). Tuy nhiên, hầu hết các công ty may mặc của Việt Nam chủ yếu gia công cho các hãng nước ngoài. Trong trường hợp đó, đương nhiên bên đặt gia công sẽ yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam phải gắn trên sản phẩm nhãn hiệu của họ. Ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam tự sản xuất (không phải là gia công) thì việc không có hệ thống phân phối ở nước ngoài cũng là một trở ngại cho các doanh nghiệp khi sử dụng nhãn hiệu của mình trên sản phẩm. Khi mua sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam sau đó gắn những nhãn hiệu nổi tiếng, các doanh nghiệp nhập khẩu của nước ngoài có thể thu được lợi nhuận rất lớn. Đó cũng là lý do vì sao có rất nhiều ý kiến của các doanh nghiệp dệt may cho rằng, không cần thiết phải đăng ký và sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của mình ở nước ngoài mà thay vào đó là xuất khẩu hàng không gắn nhãn hiệu, còn sau đó việc gắn nhãn hiệu nào vào sản phẩm đó là công việc của người nhập khẩu hàng. Như vậy, Nhà nước cần tập trung vào hỗ trợ các ngành hàng xác lập quyền sở hữu công nghiệp ở nước ngoài thay vì hỗ trợ từng doanh nghiệp xuất khẩu. Giải pháp này đặc biệt phù hợp với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp là chỉ dẫn địa lý/tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Thứ hai, hỗ trợ thành lập các tổ chức quản lý tập thể chỉ dẫn địa lý/tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Ở nước ta, hầu như mỗi địa phương đều có không ít các đặc sản truyền thống mang tên của địa phương đó (như nước mắm Phú Quốc, cà-phê Đắc Lắc, bưởi năm roi Bình Minh, xoài cát Hòa Lộc, thanh long Bình Thuận, v.v.). Nhiều đặc sản được người tiêu dùng ưa chuộng, vì thế bị làm giả ở mức độ khác nhau và vì vậy doanh nghiệp cũng đã ít nhiều thấy được sự cần thiết phải có sự bảo hộ pháp lý đối với tên gọi của sản phẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thường không biết sản phẩm của mình có đáp ứng các điều kiện luật định để được hưởng sự bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hay không. Bởi vậy, họ cần được hỗ trợ trong việc đánh giá sơ bộ khả năng đáp ứng các điều kiện bảo hộ đó. Mặt khác, công việc xác định và chứng minh các điều kiện bảo hộ rất tốn công và tốn của, trong khi cộng đồng doanh nghiệp chưa thể khẳng định được giá trị kinh tế thực sự do sự bảo hộ đem lại. Bởi vậy, họ cần được hỗ trợ về phương pháp luận và các nguồn lực để đánh giá sự cần thiết phải bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm của địa phương mình.

Chỉ dẫn địa lý được coi là tài sản quốc gia, vì thế, để hỗ trợ những cộng đồng chưa đủ điều kiện có tổ chức đại diện của mình, Ủy ban nhân dân các tỉnh có thể thành lập hoặc chỉ định một tổ chức tạm thời thực hiện chức năng của tổ chức quản lý tập thể đối với chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, hiệp hội các nhà sản xuất, nếu được thành lập, sẽ là chủ thể bảo vệ quyền của chính mình một cách thiết thực hơn. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng vẫn là phải thành lập một tổ chức quản lý tập thể đối với chỉ dẫn địa lý của cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất đặc sản đó. Cần có sự hỗ trợ về tài chính cho các tổ chức này hoạt động trong giai đoạn đầu và nguồn hỗ trợ chính phải là ngân sách nhà nước vì chỉ dẫn địa lý được coi là tài sản quốc gia. Khuôn khổ hỗ trợ thích hợp là Chương trình xúc tiến thương mại vì chỉ dẫn địa lý là phương tiện xúc tiến thương mại.

Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược về sở hữu công nghiệp.

Tương tự như chiến lược kinh doanh, muốn bảo hộ có hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược về hoạt động này. Chiến lược về bảo hộ sở hữu công nghiệp thường phải gắn chặt với chiến lược kinh doanh, đặc biệt khi doanh nghiệp có chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu. Chiến lược sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp phải đặt ra được những nội dung sau:

– Xác định các đối tượng sở hữu công nghiệp chủ yếu của doanh nghiệp

Trong nội dung này, tùy vào quy mô của mình mà doanh nghiệp phải xác định danh mục các quyền sở hữu công nghiệp mà mình đang có hoặc phấn đấu sẽ có được. Chẳng hạn, hầu hết các doanh nghiệp phải đưa tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa vào danh mục các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình. Có thể nói rằng, không doanh nghiệp nào có thể hoạt động được, nhất là các doanh nghiệp có chiến lược làm ăn lâu dài, mà thiếu được hai đối tượng sở hữu công nghiệp này.

– Xác định cách thức tạo dựng (nguồn) của khối tài sản sở hữu công nghiệp

Các quyền sở hữu công nghiệp có thể phát sinh từ các thành quả sáng tạo của chính doanh nghiệp, cũng có thể được tạo dựng bằng cách nhận chuyển nhượng từ người khác, bao gồm cả việc được cấp li-xăng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Khi xác định cách thức tạo dựng quyền sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý đến lợi thế cạnh tranh nói chung. Không nên tập trung vào việc tạo dựng những tài sản trí tuệ cần đến sự đầu tư quá lớn, không phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp.

– Xác định lãnh thổ cần bảo hộ đối với từng đối tượng sở hữu công nghiệp

Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược sở hữu công nghiệp vì nó liên quan đến các hoạt động xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp. Lãnh thổ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được xác định phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không nhất thiết phải tiến hành bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp ở tất cả các thị trường mà mình kinh doanh. Có những thị trường mà việc đưa trực tiếp hàng hóa mang nhãn hiệu của mình vào hệ thống bán lẻ là không thể được thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp cần sử dụng quyền sở hữu công nghiệp của người khác bằng cách mua li-xăng.

– Xác định bộ máy quản lý quyền sở hữu công nghiệp

Tùy thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, việc quản lý quyền sở hữu công nghiệp có thể được giao cho các bộ phận liên quan đến kinh doanh hoặc thành lập ra những bộ phận chuyên môn để quản lý quyền sở hữu công nghiệp. Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, danh mục các tài sản sở hữu công nghiệp còn hạn chế, do vậy phương thức phù hợp hơn cả là giao chức năng quản lý quyền sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp cho bộ phận có chức năng quản lý kinh doanh.

Thứ tư, doanh nghiệp cần đầu tư nhân lực, vật lực cho việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp.

Sở hữu công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp với quy mô khác nhau. Những doanh nghiệp lớn nói chung có các phòng, ban chuyên trách về phát triển và thực hiện chiến lược về sở hữu công nghiệp, gồm đội ngũ nhân viên với đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết, có thể là các luật sư, các kỹ sư, nhà khoa học, nhà kinh tế, các chuyên gia nghiên cứu thị trường… Đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ cần có một bộ phận hoặc một người chuyên trách về vấn đề sở hữu công nghiệp. Hơn nữa, do sở hữu công nghiệp là một lĩnh vực đặc thù có quan hệ tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nên những người trực tiếp tiến hành các công việc về sở hữu công nghiệp đòi hỏi phải có hiểu biết về các vấn đề đó.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 2+3 (122 + 123) NĂM 2007

GÓP Ý DỰ THẢO THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN VIỆC GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRÊN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

THS-LS.PHAN THÔNG ANH – Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam
Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quy luật tất yếu và là một xu thế phát triển trên thế giới, các quốc gia cần có chính sách mở cửa tham gia hội nhập với các tổ chức kinh tế liên minh khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế để phát triển. Do sự phát triển nên phương thức hoạt động mua bán hàng hóa, đầu tư quốc tế ngày càng đa dạng và phương thức giao dịch mua bán, đầu tư trên các mạng thông tin điện tử (websites) là một phương thức phổ biến và đang là một vấn đề Việt Nam cần quan tâm trong tiến trình hội nhập. Chủ thể tham gia các giao dịch thương mại điện tử hiện nay không chỉ dừng lại các tổ chức cá nhân nước ngoài với tổ chức cá nhân Việt Nam mà còn có giao dịch giữa các tổ chức cá nhân Việt Nam với nhau.
Để đảm bảo sự phù hợp của pháp luật quốc gia khi tham gia hội nhập, Việt Nam đã từng bước ban hành các văn bản điều chỉnh liên quan đến các giao dịch điện tử trong đó đáng lưu ý là Luật giao dịch điện tử được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/3/2006 ; Nghị định của Chính phủ về thương mại điện tử ngày 09/06/2006 ; Nghị định của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số ban hành ngày 15/02/2007 ; Quyết định của Bộ Thương mại ( nay là Bộ công thương) về việc ban hành Quy chế sử dụng chữ ký số ngày 25/07/2006 và nhiều lĩnh vực khác cũng có các văn bản pháp luật khác do các bộ ngành và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ban hành điều chỉnh tương ứng về giao dịch điện tử như trong hoạt động tài chính, về cấp chứng chỉ xuất xứ hàng hóa điện tử ; trong hoạt động ngân hàng ; trong việc sử dụng in phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử; Quy chế chứng thực chữ ký số ; Quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử ; Quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử. . . . . .
Chương trình đầu tư tài chính lừa đảo thông qua trang thông tin điện tử “colonyinvest.com” là một vấn đề đang khá nóng và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng chưa thống kế hết số thiệt hại của các nhà đầu tư, cái giá mà các nhà đầu tư Việt Nam đã phải trả quá đắt cho sự cả tin của mình và cũng là một tiếng chuông đã gióng lên cho các cơ quan nhà nước cần phải tăng cường hơn nữa xây dựng các hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử nhằm bảo vệ các thương nhân, các nhà đầu tư giao dịch mua bán hàng và đầu tư thông qua các mạng thông tin điện tử. Do vậy việc xây dựng Thông tư hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử là điều hết sức cần thiết và theo chúng tôi cần phải sớm ban hành để đưa giao dịch thương mại điện tử vào đời sống xã hội với một hành lang pháp lý chặt chẻ.
1)-Sự hợp lý của dự thảo Thông tư :
Trước tiên chúng tôi xin ghi nhận sự nỗ lực và cố gắng của ban dự thảo xây dựng Thông tư này tuy chỉ mới là dự thảo 2 nhưng những nội dung cơ bản để có thể đủ tầm điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử hiện nay. Ngoài một số quy định chung dự thảo đã giải quyết được hai nội dung chính đó là
1.1- Quy định các điều kiện về đề nghị giao kết, chấp nhận giao kết hợp đồng
(-) Đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân ; (-) đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng (-) Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng ;(-) chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng; (-) quy định về thời điểm giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử ; (-) xác định giá trị pháp lý của hợp đồng giao kết bằng chức năng đặt hàng trực tuyến; (-) quy định phải cung cấp các điều khoản của hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử.
1.2- Quy định về các điều khoản phải có đối với một hợp đồng điện tử
(-) Thông tin của thương nhân; (-) Thông tin về hàng hóa dịch vụ; (-) Thông tin về các điều khoản giao dịch; (-) Thông tin về vận chuyển và giao nhận; (-) Thông tin về giá cả; (-) Thông tin về các phương thức thanh toán và hai thông tin khác có liên quan đến hợp đồng được quy định ở một mục khác đó là (-) về thủ tục chấm dứt hợp đồng đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ trực tuyến dài hạn ; (-) về giải quyết tranh chấp  liên quan đến các hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử.
Song song đó dự thảo cũng còn một số vấn đề mà theo chúng tôi cần góp ý bổ sung như sau :

2)-Về tên gọi của Thông tư cần xem lại và bổ sung :
Nghị định được xây dựng với tên gọi là hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử theo chúng tôi là chưa đủ mà cần bổ sung thêm cụm từ “ và thực hiện “ để thông tư có thể điều chỉnh hai nhóm hành vi hướng dẫn giao kết và thực hiện hợp đồng trên website thương mại điện tử chứ không phải chỉ giao kết không.
Cơ sở pháp lý chúng tôi đề nghị bổ sung nội dung này là trên cơ sở chương IV Luật giao dịch điện tử ( từ điều 33 đến điều 38) quy định là Giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử và theo sự hợp lý của nó chúng ta nên điều chỉnh tiếp hành vi thứ hai sau giao kết là thực hiện hợp đồng mà ở đây là hợp đồng trên website thương mại điện tử. Sự bổ sung này nếu được chấp nhận còn mang một ý nghĩa là sự thống nhất hướng dẫn từ văn bản Luật xuống đến văn bản thi hành của một lĩnh vực riêng biệt.

3)-Về nội dung thực hiện hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử
Như đã trình bày ở trên nội dung của hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử trong dự thảo quy định khá cơ bản nhưng theo chúng tôi cần quy định bổ sung việc thực hiện hợp đồng trên website sẽ thực hiện như thế nào về giao hàng và thanh toán. . .Cần quy định về chế độ phản hồi thông tin khi các bên đã thực hiện các quyền nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng.
– Nếu bên khách hàng phải ký quỹ một số tiền thì sau khi thực hiện việc ký quỹ xong việc phản hồi thông tin cho bên thương nhân như thế nào ? để bên thương nhân tiến hàng giao hàng ? và sau khi giao hàng xong việc phản hồi thông tin của hai bên như thế nào ? để cho bên khách hàng thanh toán tiếp số tiền còn lại . . .
– Nếu hàng giao không đủ số lượng và đúng chất lượng thì khách hàng cần phản hồi cho thương nhân theo chế độ thông tin nào để khiếu nại ?. . . .
Đây cũng là cơ sở pháp lý để  giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến việc chậm thanh toán và chậm giao hàng trong giao dịch mua bán hàng hóa trên website thương mại điện tử.

4)-Cơ sở pháp lý để xác định thông tin chủ thể một bên trong giao dịch “ khách hàng khi đặt mua hàng “
Dự thảo thông tư đã quy định rõ đối tượng áp dụng bao gồm ba nhóm đối tượng
(1)     Tổ chức, cá nhân sử dụng website thương mại điện tử để bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (sau đây gọi là thương nhân);
(2)     Tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trên website thương mại điện tử (sau đây gọi là khách hàng);
(3)     Tổ chức, cá nhân quản lý và vận hành website thương mại điện tử (sau đây gọi là người quản lý website).
Nhưng trong nội dung của hợp đồng điện tử lại không quy địnhthông tin về khách hàng ( nhóm 2) chỉ quy định thông tin của Thương nhân ( nhóm 1)
Nếu có những vấn đề liên quan đến người mua hàng (khách hàng) chứ không phải liên quan đến người bán hàng (thương nhân) thì thông tin sẽ được xác định như thế nào ? với quy định của pháp luật hiện hành thì khó có thể truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người mua hàng nếu họ đặt hàng xong nhưng họ không nhận hàng.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong thương mại đã có trường hợp một thư điện tử do A viết và gửi đi nhưng A  phủ nhận là không có viết và không có gửi và họ cho đó là thư giả mạo  vì cơ chế lưu trữ thông tin thư điện tử đối chiếu hiện nay chỉ lưu trữ có 6 tháng.Quá thời gian 6 tháng không có cơ sở đối chiếu xác minh.
Vấn đề được đặt ra là cơ sở pháp lý nào để có thể quy trách nhiệm pháp lý cho người đặt hàng(khách hàng)qua mạng họ là người đã đặt hàng.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì trong tranh chấp thương mại dân sự thì nghĩa vụ chứng minh là của các bên yêu cầu nên trong trường hợp này nếu có thiệt hại thì người bán hàng khó có thể có cơ sở để chứng minh yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đặc biệt Tòa án khó có thể chấp nhận dữ liệu trong hệ thống của người bán hàng được in ra làm bằng chứng để yêu cầu bồi thường thiệt hại.Do đó theo chúng tôi để giải quyết rốt ráo vấn đề pháp lý này cần quy định bổ sung những vấn đề sau :
(1)    Cần quy định bổ sung về thông tin của khách hàng ( có thể 3 chi tiết a,b và c như thông tin của thương nhân.
(2)    Quy định bổ sung các thương nhân khi đăng ký bán hàng qua mạng phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ý nghĩa pháp lý : có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước với vai trò là giám sát giao dịch có thật, nhà nước sẽ thực hiện vai trò bảo vệ cả hai phía thương nhân và khách hàng.

5)-Phương thức giao kết hợp đồng điện tử :
Theo quy định của Luật giao dịch điện tử Điều 23 quy định về Nguyên tắc sử dụng chữ ký điện tử
1. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, các bên tham gia giao dịch điện tử có quyền thỏa thuận:
a) Sử dụng hoặc không sử dụng chữ ký điện tử để ký thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch;
b) Sử dụng hoặc không sử dụng chữ ký điện tử có chứng thực;
c) Lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử trong trường hợp thỏa thuận sử dụng chữ ký điện tử có chứng thực.
Theo chúng tôi việc giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử cần quy định sử dụng chữ ký điện tử để ký thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch nhưng không cần thiết phải chứng thực và chỉ chứng thực khi cần thiết cho hoạt động cung cấp chứng cứ giải quyết tranh chấp trong tố tụng thương mại.

6)-Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến các hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử :
Giải quyết tranh chấp là vấn đề hết sức phức tạp, khi Tòa án và tổ chức trọng tài giải quyết các tranh chấp đòi hỏi phải có đầy đủ các chứng cứ liên quan. Hiện nay vấn để liên quan đến việc giải quyết tranh chấp giao dịch thương mại điện tử được quy định :
(*) Khoản 21 của dự thảo Thông tư quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến các hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử
a) Các website thương mại điện tử phải có cơ chế hiệu quả để tiếp nhận khiếu nại của khách hàng liên quan đến hợp đồng được giao kết trên website và công bố rõ thời hạn trả lời khiếu nại;
b) Việc giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng phải dựa trên các điều khoản của hợp đồng được công bố tại website vào thời điểm giao kết hợp đồng;
c) Thương nhân không được lợi dụng các ưu thế của mình trên môi trường điện tử để đơn phương giải quyết những vấn đề tranh chấp khi chưa có sự đồng ý của khách hàng.
(**) Điều 52. Giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tửcủa Luật giao dịch điện tử  quy định
1. Nhà nước khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải quyết thông qua hòa giải.
2. Trong trường hợp các bên không hòa giải được thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chỉ với những quy định trên chúng tôi cho rằng không ổn vì các chứng cứ liên quan của các bên sẽ được cung cấp như thế nào để các cơ quan tài phán xem xét;  có thể chấp nhận dữ liệu của hai bên tự in trong hệ thống mình ra hay không ? tổ chức giám định nào có thể giám định được các giao dịch này là có thật để các cơ quan tài phán có thể gải quyết.Theo chúng tôi cần quy định bổ sung thêm những nội dung sau :
(1)    Các loại văn bản, hệ thống dữ liệu thông tin nào được cung cấp
(2)    Các cơ quan nào có thẩm quyền xác minh các giao dịch đó là chứng cứ xác định giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận.
(3)    Quy định thực hiện việc chứng thực chữ ký điện tử bổ sung khi có tranh chấp xảy ra để có cơ sở xác định giao dịch của hai bên là có thật.

Trên đây chỉ là một số vấn đề mà chúng tôi  đặt ra để ban soạn thảo Thông tư xem xét nghiên cứu. Chúng tôi thiết nghĩ còn nhiều vấn đề nữa cần phải tiếp tục đặt ra để cho dự thảo của Thông tư được đầy đủ hơn trước khi trình người có thẩm quyền ký ban hành nhằm điều chỉnh kịp thời một lĩnh vực hết sức nhạy cảm hiện nay nhất là thời điểm sau khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại thế giới.
Xin chân thành cám ơn các đại biểu tham gia hội thảo đã lắng nghe phần trình bày tham luận của chúng tôi.
Trân trọng kính chào.

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/TopicDetail.aspx?TopicID=1860

MẤY VẤN ĐỀ VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THS. BÙI XUĀN HẢI –  Khoa Luật Thương mại, ĐH Luật TP. HCM

1. Doanh nghiệp và bản chất pháp lý của doanh nghiệp

1.1. Doanh nghiệp

Trước hết phải khẳng định rằng có khá nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ của khoa học quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và khoa học pháp lý. Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm doanh nghiệp được xác định rất đơn giản “là đơn vị kinh doanh, như xí nghiệp, công ty, v.v...”(1 ). Trong giới khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay cũng có nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp bằng những cách định nghĩa theo phương pháp tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ luật thực định, từ khi thực hiện đường lối đổi mới, khái niệm doanh nghiệp đã được qui định lần đầu tiên trong Luật công ty năm1990, sau đó là qui định tại điều 3, Luật doanh nghiệp năm1999 – “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Lại có quan điểm cho rằng định nghĩa về doanh nghiệp theo qui định tại điều 3, Luật doanh nghiệp nói trên chỉ có thể được hiểu trong phạm vi của Luật doanh nghiệp chứ không thể mở rộng cho tất cả. Theo quan điểm này, doanh nghiệp phải được hiểu là mọi chủ thể kinh doanh có làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo cách hiểu này thì khái niệm doanh nghiệp được hiểu rất rộng, bao gồm tất cả các loại chủ thể có đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh như hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 02/CP ngày 03/2/2000 của Chính phủ, các cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (trước đây) và các tổ hợp tác theo Bộ luật dân sự 1995 cũng là một loại hình doanh nghiệp tập thể(2 ).

Theo chúng tôi, có thể có nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ lý luận và góc độ luật thực định. Nhưng nếu có hiểu theo luật thực định thì cũng không thể chỉ dừng lại ở Luật doanh nghiệp mà phải xem xét đến toàn bộ lĩnh vực pháp luật điều chỉnh về các loại hình chủ thể kinh doanh. Khi đó khái niệm doanh nghiệp cần được hiểu là những loại hình tổ chức kinh doanh (tổ chức kinh tế) có đầy đủ các thuộc tính pháp lý nhất định (tài sản, trụ sở, tên thương mại.…) được qui định trong các luật về doanh nghiệp. Hiểu một cách đơn giản theo luật thực định thì doanh nghiệp là những loại hình tổ chức kinh doanh thành lập và hoạt động theo các Luật về doanh nghiệp. Dưới góc độ luật thực định và kể cả trên phương diện lý luận thì không thể coi tất cả các chủ thể có đăng ký hay xin phép kinh doanh là doanh nghiệp và càng không thể coi tất cả các chủ thể có hành vi kinh doanh là doanh nghiệp(3 ). Trong luật thực định, nhiều văn bản pháp luật đã xác định phạm trù doanh nghiệp cũng bằng cách liệt kê các loại hình doanh nghiệp; chẳng hạn như Điều 1, Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 khi hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp hay điều 2, Nghị định 24/NĐ-CP ngày 31/7/2000 khi hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, v.v…. Có thể liệt kê các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay bao gồm:

– Doanh nghiệp nhà nước.

– Hợp tác xã.

– Công ty, gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên, công ty hợp danh.

– Doanh nghiệp tư nhân.

– Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, gồm: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Trong thực tế, nước ta còn có khoảng trên 300 doanh nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, công đoàn, Đoàn thanh niên, v.v…. Những doanh nghiệp này thường hoạt động theo cơ chế như của doanh nghiệp nhà nước chứ không có luật điều chỉnh riêng. Từ khi có Luật doanh nghiệp 1999, chúng ta đã tính tới việc phải chuyển đổi những doanh nghiệp này sang hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên.

1.2. Về bản chất pháp lý của doanh nghiệp

Trong lý luận và thực tiễn, cần phân biệt doanh nghiệp với các cơ quan, tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức kinh tế-sự nghiệp có thu hay các hình thức tổ chức kinh doanh khác. Để làm được điều đó thì phải xác định được các dấu hiệu, các thuộc tính thể hiện bản chất pháp lý của doanh nghiệp. Bản chất pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay không giống nhau hoàn toàn vì nó còn phụ thuộc một số yếu tố (như hình thức sở hữu chẳng hạn…). Nhưng theo chúng tôi, bản chất pháp lý của doanh nghiệp nói chung thể hiện qua các vấn đề chủ yếu sau đây:

– Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập theo qui định của pháp luật mà thông thường là phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong khi những tổ chức phi lợi nhuận hay các tổ chức hoạt động sự nghiệp, v.v… thì không phải làm thủ tục này.

– Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, có sử dụng lao động làm thuê. Doanh nghiệp là nơi diễn ra hoạt động sản xuất vật chất thì phải dựa trên các yếu tố về tư liệu sản xuất và lao động. Muốn hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng phải có vốn kinh doanh, có tài sản; trong một số trường hợp nhất định số vốn đầu tư ban đầu (vốn điều lệ) không được thấp hơn mức vốn theo qui định của pháp luật (vốn pháp định). Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh có qui mô kinh doanh ở mức độ nhất định, hay hiểu một cách đơn giản nó là loại chủ thể kinh doanh có qui mô lớn nhất so với các loại hình kinh doanh khác. Chẳng hạn, một người bán báo hay một người bán quà vặt….kinh doanh nhỏ bé và làm việc cho chính mình thì không phải là doanh nghiệp(4 ).

– Mục đích hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nói chung là nhằm mục đích kinh doanh , đây là điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức không được coi là doanh nghiệp. Kinh doanh được hiểu “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Điều 3, Luật doanh nghiệp). Theo nghĩa thông thường, doanh nghiệp phải được quan niệm là chủ thể hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng trong luật thực định của Việt Nam hiện nay, có nhiều tổ chức kinh tế hoạt động không phải với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận nhưng vẫn được coi là doanh nghiệp, đó là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích (Điều 3, Luật DNNN và Điều 1, Nghị định 56/CP ngày 02/10/1996) với khoảng 730 doanh nghiệp(5 ) và các hợp tác xã mà bản chất cố hữu thực sự của mô hình này là mục đích hợp tác tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên chứ không phải mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận.

– Doanh nghiệp phải là chủ thể hạch toán kinh doanh độc lập, có nghĩa nó là chủ thể tự quyết định việc thu, chi tài chính, tự mình hưởng thành quả cũng như chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Dấu hiệu này là cơ sở để phân biệt doanh nghiệp với các cơ sở kinh doanh, các đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp (ví dụ: các đơn vị thành viên của tổng công ty, các chi nhánh hay văn phòng đại diện của doanh nghiệp, v.v…). Cũng có quan điểm cho rằng doanh nghiệp là phải có tư cách pháp nhân. Theo chúng tôi, quan niệm như vậy là không hợp lý về phương diện lý luận và không đúng luật thực định. Doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh doanh trong đó các tổ chức, cá nhân được phép thực hiện hoạt động kinh doanh(6 ), không nên đồng nhất tư cách pháp nhân với tư cách chủ thể pháp luật. Không chỉ nước ta mà nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới cũng công nhận loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân(7 ). Theo luật thực định của Việt Nam thì những doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp 1999.

– Doanh nghiệp phải là tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động dưới một hình thức pháp lý nhất định do pháp luật qui định. Hình thức pháp lý của doanh nghiệp được qui định cụ thể trong các luật về doanh nghiệp như: công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, hợp tác xã, v.v…. Các tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thì chỉ có thể lựa chọn các hình thức pháp lý được qui định bởi luật thực định mà thôi.

2. Về Luật điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp và một vài hạn chế chủ yếu của lĩnh vực pháp luật này

2.1. Việt Nam hiện nay chưa có một văn bản luật chung để điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp. Luật điều chỉnh đối với các loại hình doanh nghiệp hiện nay ở nước ta bao gồm nhiều văn bản Luật khác nhau, mỗi loại doanh nghiệp hoạt động theo một Luật riêng , cụ thể là:

– Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, qui định về doanh nghiệp nhà nước – Luật hợp tác xã năm1996, qui định về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

– Luật doanh nghiệp năm 1999, (thay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990) qui định về doanh nghiệp tư nhân và các loại công ty như công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh.

– Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung) qui định về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

2.2. Có thể nói rằng những qui định trong các Luật về doanh nghiệp hiện nay còn có

sự khác biệt với một khoảng cách tương đối. Nguyên tắc hiến định về bình đẳng trong kinh doanh qui định tại Điều 22 – Hiến pháp 1992 hiện nay chưa được thể hiện trong lĩnh vực pháp luật về doanh nghiệp. Trong khi chưa có một Luật chung để điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp mà chúng ta lại ban hành nhiều Luật điều chỉnh về các loại doanh nghiệp với nhiều sự khác biệt là chưa tạo ra được một môi trường pháp lý thống nhất cho các doanh nghiệp, chưa đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh.

Những hạn chế này thể hiện qua những vấn đề cơ bản sau đây:

1. Thủ tục thành lập các loại doanh nghiệp hiện nay có sự khác nhau khá lớn. Có tới 4 loại thủ tục thành lập khác nhau áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp theo 4 Luật nói trên. Thủ tục thành lập, thời gian giải quyết cũng như bộ hồ sơ thành lập (xin giấy phép đầu tư) của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Chương X, Nghị định 24/CP) phức tạp hơn nhiều so với việc thành lập hợp tác xã (Chương 2, Luật HTX) và càng phức tạp hơn rất nhiều so với thủ tục rất đơn giản (đăng ký kinh doanh) để thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty (Điều 12, 13 – Luật doanh nghiệp). Các nhà kinh doanh trong nước và nước ngoài từ lâu đã mong muốn và họ có quyền đòi hỏi một thủ tục thành lập chung đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi cho các doanh nghiệp. Thủ tục hành chính quá rườm rà, phức tạp là một trong những yếu tố hạn chế làm môi trường đầu tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn, cản trở sự phát triển của nền kinh tế – xã hội.

2. Các Luật về doanh nghiệp qui định thủ tục giải thể các loại doanh nghiệp hiện nay cũng không giống nhau. Mỗi luật qui định một thủ tục giải thể theo một qui trình, điều kiện riêng trong khi về phương diện lý luận, bản chất của việc giải thể là giống nhau (thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng và chấm dứt hoạt động).

3. Quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp trong các Luật nói trên cũng khác nhau khá lớn. Sự thiếu thống nhất và bất bình đẳng thể hiện rõ nhất trong các qui định về quyền và nghĩa vụ của các loại hình doanh nghiệp, nó cho thấy sự ưu ái vẫn mang tính bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và một chút ít cho hợp tác xã; sự kiểm soát chặt chẽ, khắt khe đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những qui định về quyền và nghĩa vụ của công ty, doanh nghiệp tư nhân tại Điều 7 và 8 của Luật doanh nghiệp khác rất nhiều so với quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Chương 4, Luật đầu tư nước ngoài), của hợp tác xã (Điều 8, 9 Luật HTX) và đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước (Chương 2, Luật DNNN).

Chế độ thuế áp dụng cho các loại doanh nghiệp cũng có sự khác nhau, như về việc miễn thuế nhập khẩu, phê duyệt kế hoạch nhập khẩu hay về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25% trong khi các doanh nghiệp trong nước là 32%). Hoặc sự khác nhau về qui chế quản lý tài chính và phương pháp hạch toán kinh doanh v.v….

4. Sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng thể hiện qua những ngành nghề được phép kinh doanh. Sự khắt khe nhất về vấn đề này là đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế dân doanh cũng chẳng hơn là bao, trong khi các doanh nghiệp nhà nước thì được sự ưu ái đặc biệt của Nhà nước. Chính sự quá ưu ái của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho các doanh nghiệp này hoạt động kém hiệu quả, sức cạnh tranh kém. Nguyên tắc “được làm những gì mà pháp luật không cấm” chưa được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật cũng như thực tiễn thi hành.

5. Cơ chế quản lý nhà nước hiện nay đối với các loại doanh nghiệp vẫn có sự khác biệt ở mức độ nhất định theo chính sách thành phần kinh tế. Một bộ phận không nhỏ cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức – những người soạn thảo chính sách, pháp luật và thực thi pháp luật- vẫn có tư tưởng và thói quen của sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Thậm chí ngay cả các đơn vị kinh doanh của Nhà nước như các Ngân hàng thương mại quốc doanh cũng có sự phân biệt đối xử công khai trong chính sách tín dụng đối với các thành phần kinh tế. Nhiều nhà đầu tư cho rằng việc Nhà nước hiện nay vẫn duy trì chế độ hai giá (ví dụ: điện, nước, dịch vụ viễn thông, v.v…) trong khi điều kiện kinh doanh, thuế… như nhau là sự phân biệt đối xử rõ ràng nhất. Chẳng hạn một chương trình quảng cáo 30 giây trên truyền hình Việt Nam thì doanh nghiệp trong nước chỉ phải trả là 5,7 triệu đồng còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải trả tới 26,7 triệu đồng – gấp gần 5 lần(8 ).

Các loại hình doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở chừng mực nào đó rõ ràng chưa được Nhà nước đối xử một cách bình đẳng. Các doanh nghiệp nhà nước hiện nay về bản chất cũng là những công ty TNHH có một chủ sở hữu đặc biệt là nhà nước. Các công ty liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài về bản chất cũng là những công ty TNHH, chúng “thành lập theo hình thức Công ty TNHH” (Điều 6 và 15 Luật ĐTNN). Thực ra bản chất của những doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài đâu có gì khác biệt so với doanh nghiệp do Việt kiều và người nước ngoài thường trú ở Việt Nam thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Do đó chính sách và pháp luật điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp không thống nhất và bất bình đẳng như hiện nay cần phải được Đảng và Nhà nước xem xét, sửa đổi.

3. Về định hướng hoàn thiện

Trong nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường luôn có sự tồn tại của nhiều loại hình chủ thể kinh doanh thuộc các hình thức sở hữu khác nhau. Pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cũng như Việt Nam đều “thiết kế” hay công nhận nhiều mô hình tổ chức kinh doanh để các nhà kinh doanh lựa chọn. Nhiều nước trên thế giới có một Luật điều chỉnh chung các loại hình doanh nghiệp. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp hiện nay có lẽ là một đặc thù của nền kinh tế thị trường Việt Nam, do chúng ta xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có trình độ phát triển thấp.

Đảng và Nhà nước ta đã xác định và phân biệt vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế (gồm 6 thành phần) là nhằm mục đích ban hành các chính sách quản lý và định hướng phát triển cho phù hợp đối với từng thành phần. Dưới giác độ nào đó thì sự phân biệt về chính sách đối với các thành phần kinh tế cũng là cần thiết khi xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng cũng từ đó pháp luật của chúng ta lại dành những “sân chơi” khác nhau, theo những “luật chơi” không giống nhau cho các loại doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế là không thoả đáng.

Để tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển nhanh nền kinh tế – xã hội, Đảng và Nhà nước cần phải “xóa bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài”(9 ). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định phải “xây dựng một luật áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc các thành phần kinh tế”(10 ), nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp cạnh tranh, kinh doanh bình đẳng góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chú thích:

(1) Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, TT Từ điển học, 1996, tr. 252.

(2) Giáo trình Luật Kinh tế, chương III, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, H.,

2000.

(3) Điều 123 Luật Doanh nghiệp và các Điều 1, 17, 23 Nghị định 02/NĐ-CP ngày 3/2/2000.

(4) Điều 123 Luật Doanh nghiệp và Điều 17 Nghị định 02/NĐ-CP ngày 3/2/2000.

(5) Báo Tuổi trẻ ngày 25/8/2001.

(6) Francis Lemeuvier, Nguyên lý và thực hành Luật Thương mại – Luật Kinh doanh, NXB CTQG, H., 1993, tr. 119.

(7) Ví dụ mô hình Partnership (Công ty hợp danh) trong luật của Anh, Mỹ.

(8) Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 2/8/2001.

(9) Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, Hà

Nội, 2001, tr. 200.

(10) Đảng cộng sản Việt Nam, Sđd, tr. 320 – 321.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2001