Tổ chức và chức năng, thẩm quyền của CƠ QUAN QUẢN LÝ CÁC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH PHÁP (AMF)

Picture1Ông Damien BARBIER – Trưởng Phòng Cơ quan Thị trường Tài chính thuộc AMF

Nhiệm vụ giám sát thị trường của AMF

Phát hiện các hành vi giao dịch nội bộ

Giao dịch nội bộ (Quy định chung của AMF Điều 621 & 622 và Điều L 465-1 Bộ luật Tài chính và Tiền tệ) – Thao túng giá (Quy định chung của AMF Điều 631 và Điều L 465-2 465-1 Bộ luật Tài chính và Tiền tệ) – Công bố thông tin sai lệch (Quy định chung của AMF Điều 632 và Điều L 4651 465-1 Bộ luật Tài chính và Tiền tệ) và – Không thực hiện kê khai khi vượt các ngưỡng cổ phiếu nắm giữ theo quy định – Không tuân thủ các quy định về việc mua lại cổ phiếu – Có hành vi lừa đảo về các sản phẩm lãi suất …

Continue reading

LẠM DỤNG THỊ TRƯỜNG: Giao dịch nội bộ và thao túng thị trường (Trích Quy chế của của Cơ quan quản lý các thị trường tài chính Pháp)

QUYỂN VIPicture1

LẠM DỤNG THỊ TRƯỜNG: Giao dịch nội bộ và thao túng thị trường

(Được bổ sung, sửa đổi gần đây nhất vào ngày 18 tháng 4 năm 2007)

Thiên I

QUY ĐỊNH CHUNG

Chương 1

Đối tượng, phạm vi áp dụng

Điều 611-1. Trừ trường hợp có quy định khác, quyển này áp dụng đối với:

1. Mọi thể nhân, pháp nhân và các chủ thể khác;

Continue reading

CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC KHOẢN VAY: Những vấn đề cần cân nhắc

TS. TRẦN THỊ VÂN ANH

Đã hơn 10 năm trôi qua kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ, nhưng nợ xấu vẫn là một trong những vấn đề mà nhiều quốc gia phải đối mặt trong giai đoạn vừa qua. Mặc dù việc chứng khoán hóa các khoản vay, đặc biệt là các khoản vay dưới chuẩn bị đánh giá là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc khủng hoảng tại Mỹ, tuy nhiên, không thể phủ nhận những ưu điểm của biện pháp này trong việc huy động nguồn lực cần thiết cho nền kinh tế. Do đó, nhiều quốc gia vẫn coi chứng khoán hóa là một biện pháp hữu hiệu để xử lý nợ xấu.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁP

 FABRICE BAUMGARTNER – Văn phòng Cleary Gottlieb, Paris, Cộng hòa Pháp

1. Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Pháp

Cho tới năm 1980, Thị trường chứng khoán Paris được quản lý bởi Hiệp hội môi giới chứng khoán là một thiết chế nắm độc quyền về niêm yết chứng khoán. Ngay từ đầu những năm 1980 và sau khi có sự phục hồi cạnh tranh giữa các thị trường giao dịch chứng khoán quốc tế, đặt ra vấn đề hiện đại hóa Thị trường chứng khoán Paris mà cho tới thời điểm đó vẫn hoạt động theo phương thức khớp lệnh bằng lời. Việc quản lý thị trường chứng khoán được giao cho Công ty chứng khoán Pháp (SBF). Sau này Công ty chứng khoán Pháp có tên là ParisBourse S.A. Hệ thống CAC (Khớp lệnh tập trung) được từng bước đưa vào sử dụng vào những năm 1986-1989 đã cho phép áp dụng phương thức khớp lệnh tập trung và giúp thị trường chứng khoán Paris có thể tồn tại trước sự de dọa của Thị trường chứng khoán Luân Đôn. Kể từ năm 1989, việc khớp lệnh đã được thực hiện hoàn toàn trên máy tính. Tiếp theo đợt tin học hóa này, nhiều cải cách liên quan tới các thiết chế đã được tiến hành như việc thay đổi địa vị của các nhân viên môi giới chứng khoán với việc thay thế họ bằng các công ty chứng khoán.

Continue reading

TÁCH BẠCH QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ QUAN HỆ CỔ ĐÔNG – BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG, QUYỀN TỰ DO KINH DOANH, QUYỀN TÀI SẢN

TS. VÕ TRÍ HẢO – Trọng tài viên VIAC, Trưởng Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM

Các cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu công ty sẽ là cộng đồng cùng sở hữu thì toàn bộ khối “sản nghiệp” theo mô hình hình thức sở hữu chung theo phần. Điều này là không thể phủ nhận, bởi trong điều lệ, sổ cổ đông của mỗi công ty đều ghi rất rõ về tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ cổ phần và nguyên tắc định biểu quyết quan hệ sở hữu chung theo phần này.

1. Nghênh đón mô hình kinh doanh mới bằng tinh thần “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu” và học thuyết

Cách đây khoảng 5 thế kỷ, cư dân thành Venice đã nghĩ ra mô hình công ty cổ phần từ thế kỷ 14 và chính sáng kiến này đã biến Venice trở thành thương cảng giàu có nhất thế giới trong suốt hai trăm năm sau đó [1]. Cốt lõi của mô hình công ty cổ phần, TNHH, hợp danh… là sự tưởng tượng, sáng tạo ra khái niệm “pháp nhân” và gán cho tổ chức này quyền năng như thể một con người độc lập. Chính sự “độc lập” về tài sản và trách nhiệm này đã tạo ra một bức tường ngăn bảo vệ khối tài sản tiêu dùng của doanh nhân khỏi sự lây lan rủi ro từ hoạt động kinh doanh của thương nhân; mọi rủi ro kinh doanh chỉ giới hạn lại trong phạm phần vốn đã chuyển vào công ty. Công ty đóng vai trò như “hộp cát”, như “lưới an toàn” cho các thương nhân đầu tư vào các dự án mạo hiểm bên cạnh vô vàn các lợi thế khác của mô hình này mà tác giả không có dịp phân tích ở đây.

Cách đây 2 thế kỷ, người phương Đông vẫn chìm đắm mô hình “cá nhân” kinh doanh trộn lẫn với mô hình hukou kiểu Lã Bất Vi – mô hình mà rủi ro kinh doanh có thể phải bán vợ, đợ con và đi đến “khánh kiệt”. Sự chậm trễ đổi mới thể chế này góp phần biến Trung Quốc rộng lớn thời nhà Thanh lại bị khuất phục bởi sức mạnh kinh tế quân sự của những tiểu quốc (xét về phương diện dân số, diện tích) từ phương tây; Nga Sa Hoàng thua trận trước Nhật Bản vào 1903.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ về Luật Chứng khoán và thị trường chứng khoán

BỘ TÀI CHÍNH

Báo cáo này khảo sát quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán của các quốc gia thuộc nhóm bao gồm: các nước phát triển (Mỹ, Nhật), các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Nga, Ba Lan), các nước Asean (Thái Lan, Philippines, Malaysia) và các nước Châu Á khác (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc). Đây là nhóm các nước có những đặc điểm kinh tế đặc trưng riêng, đại diện cho nhóm các thị trường chứng khoán phát triển các mức độ khác nhau. Bên cạnh đó, Báo cáo cũng đánh giá tổng quan đối với các hệ thống luật về chứng khoán đang tồn tại khác để có một cái nhìn toàn diện về chính sách phát triển và quản lý hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung trên thế giới.

Trong phạm vi Báo cáo, nhóm nghiên cứu tập trung về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán thuộc phạm vi hướng dẫn của Luật Chứng khoán tại các nước nói trên. Các quy định khác liên quan đến chứng khoán theo Luật Doanh nghiệp, trên thị trường OTC, pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước thực hiện theo Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh nghiệp không được đề cập trong Báo cáo này.

Nội dung Báo cáo chia làm 02 phần bao gồm: Phần I là những đánh giá tổng quan về phạm vi điều chỉnh tại văn bản luật về chứng khoán và TTCK; Phần II Báo cáo tập trung nghiên cứu quy định cụ thể của các nước được khảo sát trên cơ sở 07 tiêu chí cơ bản dựa trên các nhóm Chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Đề nghị xây dựng Luật Chứng khoán (sửa đổi), cụ thể như sau:

(1) Về hàng hóa trên thị trường chứng khoán (bao gồm chào bán chứng khoán, công ty đại chúng) Continue reading

ẨN SỐ CHỨNG QUYỀN CÓ BẢO ĐẢM MADE IN VIETNAM

 ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC – Sau một thời gian tìm hiểu về cách thức vận hành, cơ chế giao dịch, ưu khuyết điểm của chứng quyền có bảo đảm, đặc biệt là những vấn đề cần chuẩn bị đối với các công ty chứng khoán muốn trở thành tổ chức phát hành chứng quyền, sẽ có nhiều câu hỏi được Quý độc giả đặt ra như: Tại sao phải triển khai sản phẩm này tại Việt Nam? Sản phẩm này có thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư không? Khi nào sẽ triển khai và loại chứng quyền nào được triển khai đầu tiên trên thị trường?, và trong bài viết này chúng tôi hy vọng sẽ có thêm những thông tin nhằm giúp cho Quý độc giả giải đáp được những thắc mắc của riêng mình.

1. Tổng quan thị trường chứng quyền có bảo đảm trên thế giới và những nét tương đồng tại Việt Nam

Chứng quyền có bảo đảm đầu tiên xuất hiện vào những năm cuối thập niên 80 tại Hồng Kông, sau đó lan rộng và phát triển mạnh ở cả thị trường Châu Á và Châu Âu, đặc biệt từ năm 2003 đến nay, số lượng chứng quyền niêm yết và giá trị giao dịch đã tăng lên một cách nhanh chóng. Theo thống kê của Liên đoàn các Sở Giao dịch Chứng khoán thế giới, tính đến cuối năm 2015 đã có hơn 1,7 triệu loại chứng quyền được niêm yết trên toàn cầu và giá trị chứng quyền giao dịch đã đạt hơn 1.000 tỷ USD, và đặc biệt trong số Top 10 thị trường chứng quyền hàng đầu thế giới có 5 thị trường tại Châu Á bao gồm: Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan và Malaysia.

Trong suốt thời gian xuất hiện trên thị trường chứng khoán, chứng quyền có bảo đảm luôn được đánh giá là một trong những sản phẩm tài chính phái sinh năng động nhất dành cho các nhà đầu tư cá nhân, đặc biệt là những nhà đầu tư thích rủi ro bởi các đặc tính như tỷ lệ đòn bẩy cao, chi phí đầu tư thấp và vòng đời sản phẩm ngắn hạn. Nhìn tổng quan các thị trường có giao dịch chứng quyền sôi động và thành công như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan,… có thể thấy rằng phần lớn các nhà đầu tư cá nhân chính là thành phần tham gia tích cực vào thị trường.

Continue reading

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2020

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN– Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, với nhiều biến động. Cùng với sự phát triển của thị trường, thể chế thị trường chứng khoán cũng từng bước được hoàn thiện về các mặt như thể chế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, thể chế về sản phẩm trên thị trường, thể chế về tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường, và thể chế về hệ thống giám sát giao dịch. Nhờ đó, trong 20 năm qua, thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô, sản phẩm phát triển đa dạng, cơ chế quản lý, giám sát ngày càng được hoàn thiện.

Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần được chú trọng trong quá trình phát triển TTCK như: TTCK phát triển thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường quốc tế, quy mô còn nhỏ so với các nước trong khu vực trong khi sản phẩm trên thị trường chưa đa dạng, chưa có nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp; đặc biệt khung khổ pháp lý vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục để đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bài viết phân tích quá trình hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam, đánh giá những tác động tích cực và nhận diện một số vấn đề đặt ra đối với TTCK. Trên cơ sở đó, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện thể chế và phát triển bền vững TTCK Việt Nam đến năm 2020.

1. Quá trình hoàn thiện thể chế thị trường chứng khoán Việt Nam

Quá trình hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam tập trung vào 4 trọng tâm chính bao gồm: (i) Thể chế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán; (ii) Thể chế về sản phẩm trên thị trường chứng khoán; (iii) Thể chế về tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán; và (iv) Thể chế về quản lý, giám sát.

Continue reading

ĐIỀU LỆ MẪU ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/9/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 6/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng)

ĐIỀU LỆ MẪU

ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

ĐIỀU LỆ

CÔNG TY CỔ PHẦN

(Tên Công ty)

…, Ngày … tháng … năm 20 …

PHẦN MỞ ĐẦU

Điều lệ này được thông qua theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông tại đại hội tổ chức vào ngày … tháng … năm …

I. ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ TRONG ĐIỀU LỆ

Điều 1. Giải thích thuật ngữ

1. Trong Điều lệ này, những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a. "Vốn điều lệ" là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp và quy định tại Điều 6 Điều lệ này;

b. "Luật doanh nghiệp" là Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

c. "Luật chứng khoán" là Luật chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Continue reading

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VIỆT NAM

TS. NGUYỄN THU THỦY – Đại học Thương mại

Đặt vấn đề

Thị trường chứng khoán phái sinh chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) cơ sở. Sau 16 năm hoạt động, với hai sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) như hiện tại và các công cụ đầu tư cơ bản như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… TTCK Việt Nam đã đến lúc cần phát triển lên một tầm cao hơn với các công cụ đa dạng hơn như các sản phẩm phái sinh. Trước đòi hỏi khách quan của nền kinh tế và cũng nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, phát triển TTCK phái sinh ở Việt Nam đã trở thành mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Phát triển TTCK phái sinh sẽ không chỉ làm tăng tính thanh khoản của thị trường và cung cấp các phương tiện để phòng ngừa rủi ro cho những nhà đầu tư, mà còn giúp thị trường trở nên hiệu quả hơn thông qua các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá liên thị trường. Với dữ liệu phân tích tổng hợp, bài viết đã chỉ ra những thuận lợi và thách thức trong phát triển TTCK phái sinh Việt Nam, đề xuất một số gợi ý về chính sách nhằm phát triển TTCK phái sinh Việt Nam trong thời gian tới.

Theo kinh nghiệm thế giới về phát triển TTCK phái sinh, để xây dựng và phát triển bền vững TTCK phái sinh cần dựa trên 05 tiền đề cơ bản, đó là: (i) Quy mô của TTCK cơ sở, sự biến động giá; (ii) nhu cầu về phòng ngừa rủi ro và đầu cơ; (iii) hiệu quả của TTCK và mức độ tự do hóa của hoạt động thị trường tài chính; (iv) hệ thống quy định pháp lý; (v) năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, SGDCK, các định chế trung gian. Ngoài ra, công chúng đầu tư cũng cần phải được đào tạo để nâng cao nhận thức về thị trường này. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, theo chúng tôi, TTCK phái sinh trong giai đoạn sắp tới sẽ có thuận lợi và thách thức trong phát triển như sau:

1. Thuận lợi trong phát triển TTCK phái sinh Việt Nam

Thứ nhất, quy mô của TTCK cơ sở liên tục gia tăng

Sự gia tăng về quy mô của TTCK cơ sở được thể hiện rõ nét thông qua sự gia tăng về giá trị vốn huy động, số lượng chứng khoán niêm yết và nhà đầu tư tham gia thị trường. Nếu như vào năm 2000 trên TTCK cơ sở có 2 mã cổ phiếu niêm yết thì đến năm 2016, số lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái phiếu niêm yết đã tăng lên rõ rệt. Tính đến cuối tháng 12/2016, thị trường đã có 695 công ty niêm yết trên 2 SGDCK và trên 400 công ty đăng ký giao dịch trên UPCoM.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 1191/QĐ-TTg NGÀY 14 THÁNG 8 NĂM 2017 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU GIAI ĐOẠN 2017 – 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:

1. Quan điểm phát triển:

a) Xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế, đồng bộ với các cấu phần khác của thị trường tài chính, trong đó có thị trường cổ phiếu và thị trường tiền tệ – tín dụng ngân hàng.

b) Phát triển thị trường trái phiếu cả về chiều rộng và chiều sâu, đảm bảo an toàn hệ thống, từng bước tiếp cận với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế và hiện đại hóa hạ tầng thị trường, đưa thị trường trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế với chi phí vốn hợp lý.

c) Tiếp tục tập trung phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ làm nền tảng cho sự phát triển của thị trường trái phiếu; đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, góp phần tăng cường quản trị và công khai thông tin doanh nghiệp.

d) Tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường.

2. Mục tiêu:

a) Mục tiêu tổng quát

Continue reading

CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC KHOẢN VAY CÓ THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN: CON ĐƯỜNG KẾT NỐI GIỮA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

Kết quả hình ảnh cho CONNECT stock market TO REAL ESTATE MARKETTẠP CHÍ CHỨNG KHOÁN – Thực tế diễn biến thị trường bất động sản (BĐS) những năm gần đây cho thấy, nguồn vốn từ các định chế tài chính vẫn là kênh huy động lớn nhất, cung cấp tới 60% thị phần. Tính đến cuối năm 2015, tín dụng từ hệ thống ngân hàng đã tăng khoảng 18% so với đầu năm, cao hơn mức tăng cùng kỳ các năm 2011 – 2014 (bình quân khoảng 12,6%). 

Tốc độ tăng trưởng cho vay đầu tư kinh doanh BĐS năm 2015 đạt khoảng 14,5%, dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh BĐS chiếm tỷ trọng 8,05% tổng dư nợ tín dụng (khoảng 358.000 tỷ đồng) và năm 2016 tăng 8,5% so với năm 2015. Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiện nay, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang nắm giữ một khối lượng lớn các khoản nợ tồn đọng (khoảng 23.000 tỷ đồng) vượt vốn tự có của ngân hàng.

Điều này dẫn đến tình trạng một lượng vốn lớn của nền kinh tế bị đóng băng, không được khai thác, gây tổn hại cho chính hoạt động của ngân hàng và cả hệ thống tài chính. Kinh nghiệm quốc tế từ các cuộc khủng hoảng gần đây cho thấy, các khoản thế chấp chủ yếu từ BĐS nếu không được giải quyết một cách cơ bản và nhanh chóng sẽ gây tác động tiêu cực cho hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn bộ hệ thống tài chính nói chung.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước đã được cụ thể hóa tại Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) với mục tiêu giải quyết triệt để các khoản nợ tồn đọng, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng Đề án chứng khoán hóa các khoản nợ BĐS nhằm mục tiêu minh bạch và phát triển đồng bộ các phân mảng thị trường trong hệ thống tài chính Việt Nam.

BĐS luôn là tài sản có giá trị lớn thường chiếm trên 40% lượng của cải vật chất của một quốc gia. Do vậy, thị trường BĐS là một thị trường quan trọng của nền kinh tế vì nó liên quan trực tiếp tới một lượng tài sản lớn về quy mô, phức tạp về tính chất và có giá trị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì là tài sản có giá trị lớn, nên mọi giao dịch đầu tư kinh doanh BĐS đòi hỏi một lượng vốn lớn.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho stock marketTSKH. NGUYỄN THÀNH LONG – Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – Bộ Tài chính

1. Mối quan hệ phát triển giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế

1.1. Quan hệ phát triển giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế

Một số nhà kinh tế chứng minh sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) có tác động tích cực, là nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển kinh tế. Nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn 1860 – 1963 tại 35 quốc gia của Raymond W. Goldsmith cho thấy, thị trường tài chính phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Theo kết quả nghiên cứu của Greenwood và Smith (1996), TTCK phát triển giúp tiết giảm chi phí huy động vốn, nhờ đó khuyến khích đầu tư, đặc biệt vào các lĩnh vực công nghệ cao. Bencivenga, Smith va Starr (1996), Levine (1991) cho rằng, sự thanh khoản của TTCK là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế. Kyle (1984), Hollmstrom và Tirole (1995) chứng minh được rằng, TTCK có mức độ thanh khoản tốt còn khiến nhà đầu tư quan tâm hơn tới hoạt động của các công ty đại chúng, nhờ đó cải thiện chất lượng quản trị công ty, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu đều có chung một nhận định là sự phát triển của thị trường tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của nền kinh tế và đây là mối quan hệ nhân quả trên nhiều phương diện. Đặc biệt, công trình của Robert G. King và Ross Levine từ nghiên cứu thực nghiệm tại hàng trăm quốc gia trong giai đoạn 1960 – 2000 được xem là có nhiều kết quả quan trọng. Thông qua các chỉ số tài chính về độ sâu, độ rộng và mức độ phát triển của thị trường tài chính, các nhà khoa học còn chỉ ra rằng, mức độ phát triển của thị trường tài chính còn là một chỉ báo tốt cho phép dự báo được mức độ tăng trưởng kinh tế từ 10 tới 30 năm sau. Robert G. King và Ross Levine sau đó mở rộng nghiên cứu này và đi đến kết luận rằng hệ thống tài chính càng phát triển thì càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, do vậy, các chính sách nhằm phát triển thị trường tài chính có thể tác động tạo nền tảng để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng trong tương lai.

Tuy nhiên, cũng có một số nhà kinh tế chứng minh điều ngược lại. Chẳng hạn, Mayer (1988) cho rằng, những TTCK lớn nhất cũng không phải là nguồn tài trợ quan trọng cho doanh nghiệp. Stiglitz (1985, 1993) cho rằng, TTCK thanh khoản không phải là nhân tố góp phần hoàn thiện cơ chế quản trị công ty hay chế độ công bố thông tin. Theo Devereux và Smith (1994), việc chia sẻ rủi ro ở phạm vi toàn cầu trên thị trường vốn quốc tế có khi lại làm giảm tiết kiệm, cản trở sự phát triển của kinh tế. Shleifer và Summers (1988), Morck, Shleifer và Vishny (1990) cho rằng, sự phát triển của TTCK còn có thể làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế thông qua những ảnh hưởng tiêu cực nảy sinh từ các hoạt động thâu tóm, sáp nhập.

Continue reading

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Kết quả hình ảnh cho future contractsTỔNG HỢP TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC (Civillawinfor St.)

  I. Khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của Hợp đồng tương lai

  1. Khái niệm

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá được xác định trước.

Như vậy, khi tham gia vào hợp đồng tương lai, bên mua và bên bán đều được biết trước về:

+ Loại hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là gì;

+ Khối lượng hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là bao nhiêu;

+ Thời điểm diễn ra giao dịch đó;

+ Giá giao dịch.

2. Đặc điểm của hợp đồng tương lai

a) Tính chuẩn hóa

Hợp đồng tương lai là một công cụ được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phái sinh. Vì vậy, các điều khoản của hợp đồng đều được chuẩn hóa. Cụ thể, sở giao dịch nơi niêm yết hợp đồng tương lai sẽ quy định cụ thể các nội dung chi tiết của một hợp đồng, như: loại và chất lượng tài sản cơ sở, quy mô của hợp đồng (số lượng tài sản cơ sở giao dịch tương ứng với một hợp đồng), cách thức giao – nhận cũng như thanh toán giữa hai bên khi hợp đồng đáo hạn…

b) Tính chất cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Continue reading

CHỨNG KHOÁN HÓA KHOẢN VAY CÓ THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN: NHÌN NHẬN LỢI ÍCH VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

TS. ĐẶNG VĂN DÂN – Đại học Ngân hàng TP.HCM

Giới thiệu

Việc xây dựng và phát triển thị trường tài chính (TTTC) hiện đại luôn được xem là một nhân tố quan trọng và không thể thiếu trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước. Trong phát triển TTTC thì việc tạo lập và đa dạng hóa các công cụ trên thị trường cũng là một yêu cầu hết sức cần thiết. Các công cụ tài chính thường đa dạng từ cách thức thực hiện, đến chức năng và cả mức độ tác động đến sự phát triển TTTC và các thị trường có liên quan. Trên thế giới, có một công cụ có khả năng liên kết các thị trường với nhau, cụ thể là là thị trường bất động sản (BĐS), thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán (TTCK) – công cụ chứng khoán hoá (CKH) cho vay thế chấp BĐS. Có thể nói tính toàn diện mà công cụ này mang lại thì khó có loại sản phẩm tài chính nào sánh kịp, nó tạo ra cơ chế tuần hoàn và chu chuyển vốn năng động, linh hoạt hơn rất nhiều cho TTTC, cũng như kết nối hiệu quả giữa các bộ phận thị trường có vị thế đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế như vừa nêu. Bài viết sẽ tiếp cận công cụ CKH khoản vay có thế chấp BĐS dựa trên những lợi ích mà nó mang lại cho Việt Nam trên các mặt kinh tế – xã hội, qua đó đưa ra nhận định về tính cần thiết để đưa vào vận hành trên thị trường loại công cụ đặc biệt này. Sau đó, để đánh giá về khả năng hình thành và áp dụng thành công công cụ CKH khoản vay có thế chấp BĐS ở Việt Nam, bài viết cũng xin nêu ra các điều kiện hiện tại, cả thuận lợi và khó khăn nhằm tạo cơ sở vững chắc hơn cho nhận định của tác giả.

Cơ sở lý luận

Nhìn chung, CKH có thể hiểu là một quá trình cơ cấu lại các tài sản tài chính mà theo đó, các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói bởi một tổ chức chuyên trách(SPV – Special Purpose Vehicle), sau đó, thông qua công tác định giá rủi ro của các tổ chức định mức tín nhiệm, những tài sản đó được làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu qua kênh của tổ chức bảo lãnh phát hành với mức giá và lãi suất hợp lý. Tương ứng tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến những trung gian tài chính (thường là các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính…) để những trung gian này lắp vào các khoản cho vay thế chấp trước đó. Các loại tài sản có thể đem CKH chủ yếu như các khoản cho vay thế chấp BĐS, các khoản phải thu trong hợp đồng kinh tế, hay các hợp đồng thuê mua một số tài sản thực khác,… đều phải đáp ứng được những tiêu chuẩn kỹ thuật và phải đạt được mức độ tương đồng nhất định trong cùng một nhóm tài sản mang đi đóng gói.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐÓNG GÓP VÀ TÁC ĐỘNG

THS. LÊ VĂN HINH – Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1- Đặt vấn đề

Sau hơn một thập kỷ phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam cùng với các thị trường có liên quan đã tạo nên một thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam phát triển khá đa dạng. Hiện tại, TTCK đã được coi là một cấu phần quan trọng của TTTC Việt Nam (NHNN, 2007) [1] . Qua 11 năm phát triển, TTCK Việt Nam đã từng trải qua một thời kỳ bùng nổ ấn tượng vào năm 2006 (Vũ Đình Ánh, 2007)[2] và sau đó lại rơi vào tình trạng suy giảm từ năm 2009 đến nay: giá chứng khoán giảm liên tục xuống mức rất thấp so với mệnh giá, nhiều công ty chứng khoán thua lỗ…  Trong điều kiện khó khăn hiện nay, dường như xã hội đang hoài nghi về đóng góp tích cực của TTCK đối với xã hội. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung đánh giá về đóng góp và tác động của TTCK đến TTTC hay đến nền kinh tế.

2- TTCK Việt Nam: đóng góp và tác động

2.1. Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu lý thuyết chia TTTC gồm thị trường tiền tệ (gồm thị trường vốn ngắn hạn, thị trường hối đoái và thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn) và thị trường vốn (trong đó gồm TTCK, TT vốn tín dụng) (Võ Trí Thành và cộng sự, 2004 [3]; Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2010[4]). Như vậy, TTCK là một cấu phần quan trọng của TTTC và là phương tiện để mọi thành phần kinh tế – xã hội có thể tham gia đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; là nơi mà chính phủ có thể huy động vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. TTCK có thể coi là kênh dẫn vốn quan trọng chuyển vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư; tăng cường tính minh bạch trong sản xuất kinh doanh; góp phần tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng quản trị trong nền kinh tế (vĩ mô và vi mô) (Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2004). Rõ ràng, TTCK có vai trò quan trọng đối với sự phát triển TTTC nói chung. Thực tế thế giới cho thấy, quá trình hình thành và phát triển, TTCK đều có thể có những đóng góp hay có tác động tiêu cực đến TTTC hay đến nền kinh tế nói chung. Sự phát triển của TTCK Việt Nam, trải qua 11 năm chắc chắn cũng không ngoài quy luật phát triển đó.

2.2. Đóng góp và tác động của TTCK Việt Nam đối với TTTC và nền kinh tế

Các con số qua 11 năm phát triển của TTCK Việt Nam là căn cứ, cơ sở và cũng là dấu hiệu để chúng ta ta đánh giá đóng góp (bao gồm cả tác động tích cực) và chỉ ra những tác động tiêu cực của nó đến TTTC hay rộng hơn là đến nền kinh tế Việt Nam.

Continue reading

HỢP ĐỒNG REPO CHỨNG KHOÁN VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN & TS. TRẦN THỊ THU HÀ – Khoa Tài chính, kế toán, Đại học Hòa Bình

1. Đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động, tính thanh khoản cao, nhiều Công ty chứng khoán (CTCK) đã chào bán một dịch vụ mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam là dịch vụ repo chứng khoán. Hầu hết các CTCK đều quảng bá rầm rộ dịch vụ này với lợi thế hấp dẫn là khách hàng có thể có được một khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn.

Tuy nhiên, sau năm 2007, TTCK Việt Nam lao dốc liên tục. Nhiều CTCK trước đó đã cho khách hàng repo đến giới hạn nguy hiểm và vì vậy, đã tự đẩy mình vào bờ vực phá sản khi cho khách hàng repo tới hàng ngàn tỷ đồng. Trước tình hình đó, ngày 27/5/2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 990/UBCK-QLKD yêu cầu các CTCK phải dừng ký mới các hợp đồng repo cổ phiếu. Yêu cầu này được đưa ra sau khi VN-Index mất gần 100 điểm trong vòng một tháng. Công văn này ra đời là do UBCKNN lo sợ TTCK sẽ giảm sâu hơn nữa từ những tác động của hoạt động thế chấp, cầm cố và repo chứng khoán. Sang đầu năm 2009, khi TTCK có dấu hiệu phục hồi, các CTCK rục rịch khởi động lại dịch vụ repo.

Trên thực tế, dù trong thời gian qua, hợp đồng repo chứng khoán đã được nhiều CTCK triển khai mạnh, nhưng một quy chế pháp lý cho loại hợp đồng này vẫn chưa được thiết lập. Bởi vậy, việc ký kết các hợp đồng repo trên TTCK hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy làm, không theo một “quy chuẩn” pháp lý nào. Chính vì chưa có bất cứ một hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền, nên các CTCK đã tự soạn sẵn những hợp đồng repo với tính chất như một hợp đồng mẫu, trong đó thiết kế những điều khoản có lợi cho mình để các nhà đầu tư ký. Hệ quả là khi xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư (trong đó có không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ, ít vốn, ít kinh nghiệm, thiếu thông tin) sẽ là người bị thua thiệt. Vì vậy, trong một động thái thận trọng, cuối tháng 5/2009, một lần nữa UBCKNN lại có công văn yêu cầu các CTCK không được ký mới các hợp đồng repo. Được biết, từ vài năm nay, Bộ Tài chính đang dự kiến ban hành một thông tư hướng dẫn giao dịch mua bán lại chứng khoán nhưng cho đến nay, dự thảo này vẫn chưa được thông qua.

Continue reading

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ HOÀNG NGA – Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Ngày 9/9/2010, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011, trong đó Việt Nam được thăng hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố Việt Nam ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF như mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139, gánh nặng thủ tục hành chính (120/139), cân bằng ngân sách (126/139)… Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo.

Trong các Báo cáo Môi trường kinh doanh được WB và IFC công bố thời gian qua, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư. Bản Báo cáo đánh giá chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư được tổng hợp từ 3 chỉ số: mức độ công khai thông tin, trách nhiệm của thành viên HĐQT (trách nhiệm cá nhân) và mức độ dễ dàng mà cổ đông có thể kiện (khả năng cổ đông có thể kiện thành viên HĐQT và Ban điều hành khi quản lí sai trái) (xem hộp 1). Theo chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư, Việt Nam tiếp tục nằm ở nhóm cuối, đứng thứ 171/183 trong năm 2009 và 172/183 trong năm 2010.

Rõ ràng bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cần có giải pháp thích hợp để nâng cao thứ hạng và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Hộp 1:

Theo các báo cáo của WB và IFC về môi trường kinh doanh của các quốc gia và vùng lãnh thổ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư biểu hiện ở 3 giác độ:

Mức độ công bố thông tin biểu hiện qua: (1) những hoạt động mà công ty có đủ thẩm quyền ra quyết định; (2) bắt buộc công bố thông tin tức thời về giao dịch có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản của công ty; (3) công bố thông tin trong báo cáo thường niên; (4) ban giám đốc báo cáo Hội đồng quản trị về giao dịch; (5) yêu cầu một kiểm toán độc lập kiểm tra giao dịch trước khi thực hiện.

Trách nhiệm của ban giám đốc thể hiện qua: (1) cổ đông có thể buộc tội giám đốc chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (2) Cổ đông có thể buộc người có trách nhiệm trong công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (3) Tòa án có thể làm vô hiệu các giao dịch khi các cổ đông thắng kiện; (4) Giám đốc phải bồi thường các thiệt hại cho công ty khi cổ động thắng kiện; (5) Giám đốc phải hoàn lại lợi nhuận từ giao dịch khi cổ đông thắng kiện; (6) Giám đốc có thể bị phạt tiền hoặc bị giam khi bị kết tội; (7) Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiện lên tòa án đối với các thiệt hại gây nên cho công ty.

Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra tòa án thể hiện qua: (1) Các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; (2) Cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; (3) Cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ; (4) Cổ đông nắm giữ 10% cổ phiếu hoặc ít hơn có thể yêu cầu cơ quan điều tra của chính phủ điều tra về giao dịch mà không cần kiện ra tòa án; (5) Cổ đông nắm giữ 20% vốn hoặc ít hơn có quyền thẩm tra về giao dịch trước khi kiện ra tòa án; (6) Tiêu chuẩn về chứng cớ đối với các vụ án dân sự thấp hơn các chứng cứ về án hình sự.

Tất cả 3 tiêu chí trên được chấm điểm từ 1-10, số điểm càng cao thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư càng cao. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư tổng hợp là trung bình cộng của 3 điểm thành phần này.

(Nguồn: vneconomy.com.vn)

Continue reading

HOÀN CHỈNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRONG GIAI ĐOẠN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THS. PHAN PHƯƠNG NAM – Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

Giao dịch chứng khoán là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Chính hoạt động giao dịch chứng khoán là nơi cụ thể hóa các khoản lợi nhuận, các hành vi mua, bán chứng khoán của NĐT chứng khoán. Tuy nhiên, theo nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), những NĐT chứng khoán không thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi thông tin và mua, bán chứng khoán trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng khoán khác. Các NĐT chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khoán thông qua chủ thể trung gian, công ty chứng khoán (CTCK).

Do đó, để thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, các NĐT chứng khoán phải có tài khoản mở tại một CTCK và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khoán thông qua tài khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK. Với hình thức này, các NĐT đã không trực tiếp nắm giữ tiền hoặc chứng khoán của mình sở hữu mà tất cả đều ký thác vào tài khoản tại CTCK. Vì thế, về mặt nguyên tắc, rõ ràng các NĐT cần phải được pháp luật bảo vệ trong quá trình giao dịch nhằm giúp NĐT có thể quản lý chặt chẽ tài sản của mình (gồm tiền và chứng khoán trên tài khoản) cũng như đảm bảo CTCK sẽ thực hiện các lệnh khách hàng.

Cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trên TTCK được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong trình NĐT mở tài khoản, sử dụng tài khoản và quản lý tài khoản chứng khoán mở tại các CTCK.

Như vậy, cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trong giai đoạn giao dịch trên TTCK sẽ bao gồm ba nội dung: pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và CTCK; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình đặt lệnh; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình khách hàng quản lý tài khoản.

1. Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và công ty chứng khoán

Quan hệ mở tài khoản được xác lập thông qua hợp đồng mở tài khoản giữa khách hàng, NĐT và CTCK, chủ thể cung cấp dịch vụ. Hợp đồng mở tài khoản được coi là bằng chứng pháp lý quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mở tài khoản. Với tính chất quan trọng đó, NĐT với tư cách là khách hàng có quyền cùng bàn bạc, thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng mở tài khoản với CTCK.

Continue reading