BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ HOÀNG NGA – Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

Ngày 9/9/2010, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011, trong đó Việt Nam được thăng hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố Việt Nam ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF như mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139, gánh nặng thủ tục hành chính (120/139), cân bằng ngân sách (126/139)… Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo.

Trong các Báo cáo Môi trường kinh doanh được WB và IFC công bố thời gian qua, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư. Bản Báo cáo đánh giá chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư được tổng hợp từ 3 chỉ số: mức độ công khai thông tin, trách nhiệm của thành viên HĐQT (trách nhiệm cá nhân) và mức độ dễ dàng mà cổ đông có thể kiện (khả năng cổ đông có thể kiện thành viên HĐQT và Ban điều hành khi quản lí sai trái) (xem hộp 1). Theo chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư, Việt Nam tiếp tục nằm ở nhóm cuối, đứng thứ 171/183 trong năm 2009 và 172/183 trong năm 2010.

Rõ ràng bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cần có giải pháp thích hợp để nâng cao thứ hạng và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Hộp 1:

Theo các báo cáo của WB và IFC về môi trường kinh doanh của các quốc gia và vùng lãnh thổ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư biểu hiện ở 3 giác độ:

Mức độ công bố thông tin biểu hiện qua: (1) những hoạt động mà công ty có đủ thẩm quyền ra quyết định; (2) bắt buộc công bố thông tin tức thời về giao dịch có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản của công ty; (3) công bố thông tin trong báo cáo thường niên; (4) ban giám đốc báo cáo Hội đồng quản trị về giao dịch; (5) yêu cầu một kiểm toán độc lập kiểm tra giao dịch trước khi thực hiện.

Trách nhiệm của ban giám đốc thể hiện qua: (1) cổ đông có thể buộc tội giám đốc chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (2) Cổ đông có thể buộc người có trách nhiệm trong công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (3) Tòa án có thể làm vô hiệu các giao dịch khi các cổ đông thắng kiện; (4) Giám đốc phải bồi thường các thiệt hại cho công ty khi cổ động thắng kiện; (5) Giám đốc phải hoàn lại lợi nhuận từ giao dịch khi cổ đông thắng kiện; (6) Giám đốc có thể bị phạt tiền hoặc bị giam khi bị kết tội; (7) Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiện lên tòa án đối với các thiệt hại gây nên cho công ty.

Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra tòa án thể hiện qua: (1) Các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; (2) Cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; (3) Cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ; (4) Cổ đông nắm giữ 10% cổ phiếu hoặc ít hơn có thể yêu cầu cơ quan điều tra của chính phủ điều tra về giao dịch mà không cần kiện ra tòa án; (5) Cổ đông nắm giữ 20% vốn hoặc ít hơn có quyền thẩm tra về giao dịch trước khi kiện ra tòa án; (6) Tiêu chuẩn về chứng cớ đối với các vụ án dân sự thấp hơn các chứng cứ về án hình sự.

Tất cả 3 tiêu chí trên được chấm điểm từ 1-10, số điểm càng cao thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư càng cao. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư tổng hợp là trung bình cộng của 3 điểm thành phần này.

(Nguồn: vneconomy.com.vn)

Continue reading

XÁC LẬP VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT

TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tổ chức hay cá nhân có thể sở hữu chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ (cổ phiếu, trái phiếu) hoặc dữ liệu điện tử. Trên thị trường chứng khoán tập trung, các công ty chứng khoán (CTCK) chính là đầu mối giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán chứng khoán. CTCK nhận lệnh đặt mua, lệnh chào bán và “thể hiện ý chí” mua bán bằng hành vi chuyển lệnh vào hệ thống giao dịch để khớp lệnh, thông báo lệnh đã được khớp, kết nối hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán và hệ thống lưu ký của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, hay nói cách khác, việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán, xác lập quyền sở hữu chứng khoán niêm yết thông qua một trình tự, thủ tục đặc biệt.

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư chứng khoán niêm yết trong quá trình xác lập và thực hiện quyền sở hữu, cần thiết phải làm rõ những vấn đề pháp lý có liên quan trong giao kết và thực hiện hợp đồng mang tính đặc thù gắn với hệ thống giao dịch điện tử hiện nay.

1. Đặt lệnh mua bán chứng khoán – phương thức thể hiện ý chí

Nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán thông qua phương thức giao dịch thỏa thuận hoặc giao dịch khớp lệnh. Đối với trường hợp giao dịch khớp lệnh, nhà đầu tư đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại các bộ phận môi giới của CTCK, CTCK với tư cách là thành viên giao dịch chuyển lệnh khớp tại Sở Giao dịch. Nhà đầu tư thể hiện ý chí mua hoặc bán chỉ có thể biết có được sự thống nhất ý chí hay không khi được thông báo kết quả khớp lệnh.

Vấn đề bất cập thường phát sinh ở giai đoạn này là thể hiện ý chí của nhà đầu tư có được chuyển tải đúng hay không. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp đưa lệnh mua hoặc lệnh bán vào hệ thống không đúng với yêu cầu của nhà đầu tư nên dẫn đến tình trạng lệnh mua, lệnh bán không được khớp tại phiên giao dịch – hợp đồng chưa hình thành, có nghĩa là nhà đầu tư có thể bị thiệt hại nếu giá chứng khoán tăng. Ở đây, cần phân biệt lỗi trong vận hành của hệ thống giao dịch và lỗi của nhân viên môi giới. Trong tất cả các trường hợp cần thiết phải xem xét mức độ thiệt hại phát sinh để có biện pháp xử lý đối với tổ chức và cá nhân có liên quan cũng như xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư. Một dạng lỗi phổ biến là làm sai lệch lệnh yêu cầu, đây thường là lỗi của nhân viên môi giới, tùy từng trường hợp có thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của CTCK do hành vi thiếu trách nhiệm trong tác nghiệp của nhân viên môi giới gây ra1. Việc xác định rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quan hệ giao dịch hình thành và được thực hiện có hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các bên liên quan trong tác nghiệp chính xác, khách quan và vô tư trong chuyển lệnh, khớp lệnh và thông báo kết quả.

Continue reading

NGHIỆP VỤ REPO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – ĐÔI ĐIỀU BÀN LUẬN

TS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG – Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Hoạt động mua bán chứng khoán có kỳ hạn (REPO – Repurchase Order) tại các công ty chứng khoán Việt Nam đã được thực hiện trong những năm gần đây nhưng chưa được các nhà đầu tư biết đến và sử dụng rộng rãi. Để tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu chưa niêm yết, các công ty chứng khoán đưa ra nghiệp vụ REPO để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu này nhằm mục đích tạo cho khách hàng có thêm nguồn vốn để mở rộng danh mục đầu tư của mình.

Đây là loại hình giao dịch mà người sở hữu cổ phiếu bán và mua lại cổ phiếu của chính mình trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển cả về quy mô và chất lượng, thì nghiệp vụ Repo hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, sản phẩm chưa thật sự hoàn chỉnh để phục vụ tốt nhất cho khách hàng.

Tính ưu việt của nghiệp vụ REPO

Việc thực hiện nghiệp vụ REPO góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh. REPO chứng khoán sử dụng một hợp đồng mua bán lại, trong đó, quy định các điều khoản mà các bên tham gia phải tôn trọng. Các hợp đồng REPO được phân vào loại công cụ thị trường tiền tệ và chúng được sử dụng để huy động vốn trong ngắn hạn.Về bản chất, nghiệp vụ REPO giống như một khoản cho vay có đảm bảo bằng chứng khoán và các tài khoản đảm bảo khác nhưng nó có những đặc điểm riêng và linh hoạt hơn. Chẳng hạn, người mua trong giao dịch REPO có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng, điều này khác ở các hợp đồng cho vay có tài sản cầm cố là chứng khoán. Hoặc là, nhà đầu tư vẫn có quyền mua lại số cổ phiếu đã bán sau một thời gian nhất định, trong thời gian chuyển nhượng vẫn được hưởng cổ tức và các quyền lợi phát sinh khác từ cổ phiếu đã chuyển nhượng. Có thể so sánh tính ưu việt của nghiệp vụ REPO (bảng 1):

Continue reading

10 NĂM HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN 2010 – 2020

NGUYỄN SƠN

10 năm – một chặng đường…

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) chính thức đi vào hoạt động vào năm 2000 với việc vận hành sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM vào ngày 20/7/2000 và SGDCK Hà Nội vào ngày 8/3/2005 (trước đó các SGDCK hoạt động với mô hình là các Trung tâm Giao dịch chứng khoán và tổ chức dưới hình thức đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). Đến nay, sau gần 10 năm đi vào hoạt động và phát triển dựa trên các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển TTCKVN đến năm 2010 và Chiến lược phát triển thị trường vốn đến 2010 và tầm nhìn 2020, hoạt động của TTCK đã đạt được một số kết quả sau:

Về khung pháp lý, thể chế chính sách

Kể từ khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư); phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCKVN khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực; tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được thìLuật Chứng khoán vẫn còn hẹp về phạm vi điều chỉnh, mới chỉ bao hàm những nội dung cơ bảnvà chưa bao quát mọi hoạt động trên TTCK theo thông lệ quốc tế; một số quy định của văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán còn chồng chéo, chưa thống nhất với các văn bản pháp luật khác; việc ban hành các quy định pháp lý nhìn chung đều có độ trễ so với mục tiêu đề ra, đồng thời, nhiều quy định tại Luật Chứng khoán chưa được hướng dẫn thực hiện,…

Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường

Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007. Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18%. Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP. Ước tính đến cuối năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TRẦN ANH ĐÀO

Bàn về ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đến sự phát triển của TTCK Việt Nam, tôi có một số ý kiến xung quanh các vấn đề chính sau: 

1. Quy mô ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đối với thị trường chứng khoán trong tương lai:

Nền kinh tế Việt Nam còn non trẻ, những doanh nghiệp có những đặc điểm thích hợp cho thị trường chứng khoán như có quy mô lớn, được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, có quá trình kinh doanh lâu dài, có cơ chế quản trị minh bạch … còn rất ít. Nhưng do đặc thù của ngành, các ngân hàng thương mại cổ phần và sắp tới đây là các ngân hàng quốc doanh được cổ phần hoá có đủ những yếu tố đó và là những doanh nghiệp lý tưởng nhất cho thị trường chứng khoán hiện tại cũng như tương lai những năm sắp đến. Theo một ước tính của Công ty Tư vấn Chứng khoán Quốc tế (ISC), vào năm 2010 giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết ước tính từ 60 đến 120 ngàn tỉ đồng, tăng gấp 5-10 lần hiện nay, trong đó 4 ngân hàng quốc doanh cổ phần hoá chiếm khoản 50 ngàn tỉ, các ngân hàng cổ phần chiếm 20 ngàn tỉ. Tức là cổ phiếu ngân hàng sẽ góp phần đến 60% giá trị thị trường chứng khoán. 

2. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng cổ phần hiện nay liệu có hợp lý?

Trong vòng 2 năm trở lại đây, các ngân hàng dồn dập tăng vốn. Điển hình như Sacombank từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2006, vốn điều lệ đã tăng 3,7 lần. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng hiện nay là do các yếu tố:

– Thứ nhất là do yêu cầu về vốn điều lệ khi mở thêm chi nhánh và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn do Ngân hàng Nhà nước quy định.

– Thứ hai là các ngân hàng chạy đua mở rộng chi nhánh để đón đầu WTO và cạnh tranh lẫn nhau. 

– Thứ ba là tình hình thị trường chứng khoán thuận lợi khiến cho việc tăng vốn bằng cổ phiếu thưởng và phát hành thêm quyền mua cổ phiếu giá rẻ làm tăng giá trị cho cổ đông.

Continue reading

THẾ NÀO LÀ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG?

HUY NAM

Không đơn giản chỉ là loại “hơn trăm cổ đông, trên mười tỉ bạc”, công ty có năm ba cổ đông vẫn có thể là anh đại chúng. Đại chúng là một khuôn khổ được luật chế định, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi vào theo ước lệ sau khi tiến hành một bước đi nào đó. Để có thể hiểu rõ về công ty đại chúng ta sẽ bắt đầu từ công ty nội bộ.

Thế nào là công ty nội bộ? Công ty nội bộ (private company hay privately held corporation) thường là dạng công ty nhỏ, sở hữu bởi một số ít người, không được gọi vốn rộng rãi, không có giao dịch chứng khoán, ít bị áp lực giám sát, yêu cầu minh bạch theo thủ tục (về sổ sách, báo cáo) không cao, loại được khả năng bị thâu tóm, và một số đặc điểm khác tùy theo luật mỗi nước.

Nhìn chung số cổ đông được giới hạn dưới 50.Ở Mỹ, loại công ty nội bộ điển hình có tình trạng pháp lý gọi là “S Corporation”. Theo luật thuế thu nhập của Mỹ, S Corporation không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, toàn bộ lợi nhuận công ty và cổ tức được đưa về cho cổ đông khai thuế (nghĩa là không bị đánh thuế hai lần).

Để được xem là S Corporation, công ty phải đáp ứng một số yêu cầu bắt buộc. Theo đó, công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, số cổ đông không vượt quá 100 người. Cổ đông phải là người phàm xác thịt (không phải là tổ chức) và phải là công dân Mỹ, đây chính là công ty 100% vốn trong nước vậy.

Công ty nội bộ thường là loại có địa bàn hoạt động hẹp, hiện diện theo địa phương, được tổ chức theo đặc điểm ngành nghề và không (hay chưa) có nhu cầu huy động vốn lớn. Ở Anh và nhiều nước theo hệ luật của Anh loại này có vốn thành lập nhỏ, chỉ cần một bảng Anh vốn cổ phần ban đầu là đủ.

Continue reading

BÁO CÁO CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC, BỘ TÀI CHÍNH VỀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN

Hà Nội, tháng 3/2010

I. CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG

1. Kinh nghiệm của Ba Lan

Luật Chứng khoán Ba Lan quy định:

Điều 81.5. Hội đồng Bộ trưởng sẽ quyết định, bằng nghị định, về loại, hình thức và phạm vi của các thông tin hiện hành và định kỳ nói đến tại điểm 3 khoản 1, và ngày mà các thông tin này được nộp bởi tổ chức phát hành bất kỳ chứng khoán nào được chấp thuận:

1) cho giao dịch tại một sở giao dịch chứng khoán chính thức quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 90,

2) cho giao dịch nơi công chúng nhưng không được giao dịch tại một thị trường có quản lý.

Nghị định nói trên phải quy định rõ phạm vi thông tin và lịch trình nộp các thông tin đối với mỗi loại thị trường nơi chứng khoán đang niêm yết hoặc sẽ niêm yết theo một phương thức cho phép các nhà đầu tư đánh giá các hoạt động và vị thế tài chính của tổ chức phát hành.

Điều 84. 1. Công ty đại chúng có trụ sở chính tại Cộng hoà Ba lan có nghĩa vụ phải đưa ra giao dịch nơi công chúng cổ phiếu của mỗi đợt phát hành.

2. Trong trường hợp một đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu của một công ty đại chúng được thực hiện thông qua việc chào bán cho ít hơn 300 người mua cá nhân, công ty này phải có được sự chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng các cổ phiếu phát hành để thực hiện quyền của các trái chủ có được từ các trái phiếu này trước khi đưa ra đề nghị chào bán các trái phiếu này.

Continue reading

BÁO CÁO CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ TÌNH HÌNH THI HÀNH LUẬT CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

(Ngày ban hành Báo cáo chưa xác định)

I. Tình hình thi hành Luật Chứng khoán

1. Kết quả đạt được

Luật Chứng khoán được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Luật Chứng khoán đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK, cơ bản loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan; tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường; tạo cơ sở pháp luật để giám sát, cưỡng chế thực thi, bảo đảm các doanh nghiệp tham gia trên thị trường phải hoạt động công khai, minh bạch, từ đó góp phần làm minh bạch hoá nền kinh tế; đồng thời tạo lập các quy định phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Để triển khai thi hành Luật Chứng khoán, Bộ Tài chính, UBCKNN đã phối hợp với các cơ quan liên quan soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán. Cụ thể gồm 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Chỉ thị, 09 Thông tư và 24 Quyết định hướng dẫn thực hiện. Đối chiếu với yêu cầu của Luật, số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản chưa được ban hành kịp thời, nguyên nhân chủ yếu do thời gian qua thị trường chứng khoán hoạt động chưa ổn định nên việc xây dựng dự thảo hướng dẫn phải thường xuyên được chỉnh sửa và bổ sung liên tục.

Qua 3 năm thi hành, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau:

Continue reading

KHÍA CẠNH KINH TẾ CỦA PHÁP LUẬT

LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPLC)

Bài viết “Một nghị định vô hiệu hóa một định chế” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích – Ngô Duy Minh trên TBKTSG số 16-2010 ngày 15-4-2010 cho rằng Nghị định số 01/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng lẻ có hiệu lực áp dụng từ ngày 25-2-2010 đã vô hiệu hóa một định chế pháp lý doanh nghiệp – công ty cổ phần (CTCP).

Nếu nói vô hiệu hóa cả một định chế CTCP thì sẽ còn nhiều điều để bàn, tuy nhiên nói vô hiệu hóa một cơ chế, một cách thức huy động vốn hiệu quả của CTCP hiện nay thì đã thấy rõ bởi việc áp dụng quy định nói trên của các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn.

Dưới đây là sự nhìn nhận Nghị định 01/2010/NĐ-CP về chào bán cổ phần riêng lẻ từ góc độ tính “kinh tế” của một quy định.

Khía cạnh kinh tế của quy định hiện hành về chào bán riêng lẻ

Thực tiễn cho thấy các công ty cổ phần ở nước ta đã có những bước phát triển thông qua việc huy động nguồn vốn theo những cách thức dễ dàng và hiệu quả, đến khi có quy mô vốn hàng chục, hàng trăm tỉ đồng mới chào bán cổ phiếu ra công chúng hay niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Thực chất hoạt động phát hành cổ phần xuất phát từ nhu cầu tăng vốn kinh doanh (vốn điều lệ của CTCP) thông qua việc huy động từ các thành viên trong gia đình, bạn bè thân hữu hay những đối tác chiến lược đã trở thành một công cụ huy động vốn hiệu quả, thiết thực.

Những bước đi vững chắc, thành công với những dự án đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả được bảo đảm bởi một cơ chế huy động, đóng góp vốn hiệu quả, linh hoạt gắn kết lợi ích của người góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phần riêng lẻ như thế. Trong khi hoạt động này đang phát huy tốt vai trò huy động hiệu quả và an toàn các nguồn vốn, chưa phát sinh bất ổn, rủi ro cũng đã được kiểm soát bởi các quy định của pháp luật ở mức độ hợp lý thì việc tiếp tục đưa ra các cơ chế quản lý dù theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp hành lang pháp lý đều là không cần thiết và tốn kém chi phí.

Continue reading

HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Tác giả viết bài này vào thời điểm tháng 11 năm 2006

THS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI – Viện Khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Bảo vệ nhà đầu tư là vấn đề có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán còn rất non trẻ như ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta bắt đầu tham gia WTO đồng nghĩa với sự tham gia của các đối tác rất có tiềm lực và kinh nghiệm từ các nước. Để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời với việc không ngừng hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cần đặc biệt coi  trọng việc hoàn thiện các biện pháp pháp luật bảo vệ họ một cách đồng bộ, bao gồm cả các biện pháp pháp luật có liên quan như hành chính, dân sự, hình sự…

1. Biện pháp hành chính

Theo quy định của Luật Chứng khoán (LCK) Luật Chứng khoán sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007., các biện pháp hành chính được áp dụng bao gồm các biện pháp quản lý và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

1.1. Biện pháp quản lý

a. Quản lý việc chào bán chứng khoán ra công chúng

Khi nhà đầu tư (NĐT) mua các chứng khoán (CK) được chào bán tức là nhà đầu tư đã chuyển giao một khoản tiền cho tổ chức phát hành và đổi lại, NĐT  được sở hữu các CK – bằng chứng về quyền tài sản (quyền sở hữu vốn trong công ty cổ phần hoặc quyền chủ nợ) và được hưởng những lợi ích mà chứng khoán đó mang lại. Chất lượng và giá trị của CK hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành và sự biến động của thị trường. Tuy nhiên, NĐT không thể trực tiếp kiểm tra chất lượng và đánh giá được giá trị của CK như đối với các loại hàng hoá thông thường khác mà chỉ căn cứ vào các thông tin liên quan đến tổ chức phát hành và đợt phát hành để đánh giá giá trị của chứng khoán khi quyết định đầu tư. Do đó, nếu tổ chức phát hành hoạt động kém hiệu quả hoặc cố ý đưa ra những thông tin không chính xác về tình hình tài chính và đợt phát hành thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của NĐT  nói riêng cũng như sự an toàn và hiệu quả của thị trường CK nói chung. Chính vì vậy, pháp luật đã đặt ra những quy định nhằm quản lý chặt chẽ việc chào bán CK ra công chúng.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ VIỆC PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU NGOẠI TỆ TRONG NƯỚC

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Chính phủ đã có quyết định cho phép phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước để thu hút ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế. Quyết định nêu trên được đưa ra vào thời điểm hiện nay tuy đã hơi muộn, song vẫn rất cần và nên tiến hành thường xuyên. Bởi lẽ, đến nay Việt Nam là một nền kinh tế hội nhập nhưng chưa có đồng tiền tự do chuyển đổi. Hơn nữa, Việt Nam là một nền kinh tế đã và đang bị đô la hoá khá nặng nề; tín dụng ngoại tệ vẫn còn là lĩnh vực sôi động và cùng với tình trạng đô la hoá đang gây nhiễu việc điều hành CSTT… Tuy nhiên, để ngăn chặn những tác động tiêu cực, trái chiều có thể xảy ra và phát huy tốt hơn tác dụng trong quản lý nền kinh tế của loại trái phiếu đặc biệt này, vẫn còn những vấn đề rất quan trọng cần nghiên cứu, trao đổi sâu hơn.

Trước hết là đối tượng được phép phát hành trái phiếu ngoại tệ:

Phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước là để "vay" ngoại tệ ngay trong nước nhưng không ký các hợp đồng tín dụng ngoại tệ theo phương thức cổ truyền. Vì vậy, không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng được phép phát hành loại trái phiếu này. Theo tôi, đối tượng được phép phát hành trái phiếu ngoại tệ ở trong nước nên chỉ bao gồm:

– Ngân sách Nhà nước do Bộ Trưởng Bộ Tài chính (hoặc Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước) ký phát hành với mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách trong một giới hạn được tính toán chặt chẽ, cho phép.

– Các Ngân hàng thương mại đã được phép niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hiện không có nợ có vấn đề từ nhóm 3 trở lên.

– Các tổ chức kinh tế trong nước có chức năng nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… và có phương án đầu tư hiệu quả cho các dự án trọng điểm được phát hành theo phương thức có bảo lãnh của Chính phủ. Các loại trái phiếu này do có việc sàng lọc kỹ đối tượng và có điều kiện nêu trên nên đều có chất lượng như nhau và đều được niêm yết, giao dịch trên các Sàn Giao dịch chứng khoán có tổ chức tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Continue reading

MỘT NGHỊ ĐỊNH VÔ HIỆU HÓA MỘT ĐỊNH CHẾ

NGUYỄN NGỌC BÍCH & NGÔ DUY MINH – Công ty Luật Hợp danh DC

Nghị định ấy có số 01/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 4-1-2010 và định chế kia là công ty cổ phần. Nghị định quy định việc chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần cho các nhà đầu tư; và nhìn vào nội dung các phụ lục thì nó do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đề nghị và sẽ thực thi.

Ở đây, chúng tôi tóm tắt các điều khoản chính của nghị định liên quan đến công ty cổ phần mới thành lập hay đang hoạt động.

Tóm lược các điểm chính

Về phạm vi

Nghị định ấn định:

– Chào bán cổ phần riêng lẻ là “chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng”.

Nói cách khác là công ty cổ phần mời và bán cổ phần cho mỗi người trên căn bản một vài hay nhiều cổ phiếu; nhưng cổ phiếu không được gom lại theo các đơn vị do các sở hay sàn chứng khoán ấn định.

– Đối với công ty cổ phần – mà không phải là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa – tức là các công ty cổ phần nói chung thì cơ quan quản lý việc chào bán cổ phần riêng lẻ là sở kế hoạch và đầu tư (KH-ĐT), ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Một trong những đối tượng chào bán cổ phần riêng lẻ là dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; tức là chỉ cần công ty cổ phần bán cổ phần cho 1 người hoặc đến mức tối đa 99 người đều bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ”.

Continue reading

SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀNG VÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

HỒ VIẾT TIẾN – Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam, nói đến đầu tư là người ta thường nghĩ đến vàng, đô-la, nhà đất và chứng khoán. Đầu tư đô-la thực chất chỉ là vì lo sợ trước yếu tố lạm phát của đồng tiền Việt Nam, nên hiện nay, khi lạm phát giảm đáng kể, đầu tư vào đô-la rõ ràng là kém hiệu quả. Bên cạnh đó, chưa có cơ quan nào thống kê được biến động chính xác giá nhà đất. Chỉ có vàng và chứng khoán là có thể so sánh được. Mặt khác, thời gian vừa qua chứng kiến những biến động đáng kể của thị trường chứng khoán, đồng thời gần đây giá vàng biến động chưa từng thấy trong vòng 10 năm nay. Chính vì thế, nhiều nhà đầu tư bắt đầu tính toán so sánh giữa sở hữu vàng và đầu tư cổ phiếu. Bài viết này so sánh lợi nhuận và rủi ro của 2 loại hình đầu tư đó.

Trong bài này, chúng tôi phân tích so sánh hiệu quả đầu tư vàng và đầu tư cổ phiếu. Giá vàng lấy từ trang web của Tổng cục Thống kê và Niêm giám Thống kê các năm 2000 và 2001, giá cổ phiếu căn cứ vào chỉ số VN-Index, có nguồn từ các trang web của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. HCM và các công ty chứng khoán. Số liệu lấy theo tháng (ngày cuối tháng) và tính từ 31/7/2000 đến 30/04/2007. Tổng cộng có 82 tháng. Kết quả như sau :

1. Đầu tư cổ phiếu lời hơn nhưng có điều kiện

Đồ thị 1 mô tả mức tăng giá của vàng và cổ phiếu (không tính cổ tức) trong 6 năm 9 tháng. Tính trung bình, sau gần 7 năm, vàng tăng được 160,1%, tương đương với 15,2%/năm. Như vậy, rõ ràng, vàng đem lại lợi nhuận cao hơn cả lãi suất tiết kiệm cũng như trái phiếu. Trong khi đó, giá chứng khoán tăng 809,8%, tương đương với mức tăng 38,7%/năm. Như vậy, về dài hạn, đầu tư cổ phiếu mang lại lợi nhuận gấp hơn 2 lần đầu tư vàng.

Đồ thị 1 : Mức tăng giá cổ phiếu và vàng giai đoạn 7/2000 – 4/2007

Continue reading

XU THẾ TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG M&A TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TS. THÂN THỊ THU THỦY

Theo qui định của Nghị định 14/2007/NĐ-CP thời hạn tăng vốn pháp định của công ty chứng khoán lên 300 tỷ đồng là ngày 31/12/2008, nhưng hiện nay có rất nhiều công ty chứmg khoán phải đứng trước sự lựa chọn tăng vốn hay giảm nghiệp vụ kinh doanh. Một lần nữa, bài toán sáp nhập và mua bán công ty chứng khoán đã trở thành một vấn đề quan tâm của mọi thành viên tham gia thị trường.

1. Hoạt động sáp nhập và mua bán M&A

M&A là một hoạt động không xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới .Xuất hiện ở VN từ những năm 2000, hiện nay hoạt động này đang có xu hướng phát triển mạnh, nhất là trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng. Sáp nhập là việc một hay nhiều công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình cho một công ty khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Bên bị sáp nhập gọi là công ty mục tiêu. Mua lại là việc một công ty mua lại hay thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tài sản của công ty khác. Hợp nhất là hình thức hai hay nhiều công ty sẽ chuyển toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình , quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành nên một công ty mới và kết thúc sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.

Trong thực tế ít xảy ra sáp nhập hay hợp nhất mà thường là mua lại, bởi vì sáp nhập và hợp nhất đòi hỏi sự hợp tác rất cao giữa các bên tham gia, trong đó cả hai bên phải cùng nhìn thấy được triển vọng của thương vụ và đặc biệt những cuộc hợp nhất luôn đỏi hỏi sự tương đồng và cân bằng về năng lực quản lý, năng lực tài chính … để cùng chia sẻ trên tinh thần hợp tác cao nhất.

Theo Andrew J.Sherman và Milledge A.Hart thì có nhiều lý do để làm cho xu hướng M&A ngày càng phát triển :

-M&A là cách thức hiệu quả để xâm nhập vào một thị trường mới. Và M&A cũng là phương cách hiệu quả để tiếp cận, mở rộng hoạt động và thị trường ra quốc tế

-M&A là cách để sở hữu những tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp khác.

-Việc thu hút vốn sau M&A có triển vọng hơn và nhất là có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ.

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THỊ THU THỦY – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Thị trường chứng khoán (TTCK) chính thức, công khai ở Việt Nam hoạt động cho đến thời điểm hiện nay đã được gần 8 năm. Tuy nhiên, TTCK ở Việt Nam khác với TTCK ở các nước, được “sinh sôi, nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Bài viết đã trình bày về sự cần thiết cũng như những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

1. Dẫn nhập

TTCK trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn 5 thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế. Ở Việt Nam TTCK chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Khác với TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được “sinh sôi,nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ- CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006 đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK – là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Trong phạm vi bài viết xin được luận bàn về sự cần thiết cũng như những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

Continue reading

THAY THẾ MỘT SỐ QUAN NIỆM KHÔNG CHÍNH XÁC DỰA TRÊN MỆNH GIÁ CỔ PHIẾU THƯỜNG

THS. HỒ VIẾT TIẾN

Mở đầu

Hầu hết các nhà đầu tư đều biết rằng mệnh giá trái phiếu và mệnh giá cổ phiếu ưu đãi rất quan trọng, ít nhất là trong tính toán lãi định kỳ hay cổ tức ưu đãi hàng năm. Mệnh giá cổ phiếu thường không có ý nghĩa đó. Tuy nhiên ở VN, mệnh giá cổ phiếu thường đột nhiên lại được sử dụng thường xuyên, coi như là một căn cứ tham chiếu cho rất nhiều tính toán. Không ít khi chúng ta nghe thấy “cổ phiếu 4 chấm, 7 chấm” với ngầm hiểu rằng giá thị trường bằng 4 lần, 7 lần mệnh giá. Trong các bản cáo bạch hoặc trên các báo đầu tư cũng thường thấy “tỷ lệ cổ tức 12%, 20%, thậm chí 30%”, ý nói rằng đó là tỷ lệ cổ tức trên mệnh giá. Cổ phiếu 7 chấm có phải là cổ phiếu có mức sinh lợi cao và tỷ lệ cổ tức 30% có phải là mức sinh lợi cổ tức cao – đó là những vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập đền trong bài này.

1. Về quan niệm cổ phiếu “7 chấm”

Cách diễn đạt này thể hiện tỷ số “giá hiện hành cổ phiếu/mệnh giá cổ phiếu”.

Hãy bắt đầu bằng mẫu số. Mệnh giá cổ phiếu là 10.000 đồng. Giá trị này từ đâu ra? Bắt đầu từ khi cổ phần hóa. Trong cổ phần hóa người ta kiểm kê tài sản, định giá tài sản, rồi cộng với giá trị “lợi thế kinh doanh”, được bao nhiêu đem chia cho 100.000 đồng để được số lượng cổ phiếu. Mệnh giá này chia cho 10 trước khi niêm yết, do vậy có giá trị mệnh giá cổ phiếu niêm yết bằng 10.000 đồng. Mệnh giá này không phản ánh giá trị thực, và càng ngày càng xa giá trị thực của doanh nghiệp mà nó đại diện, với những lý do sau đây :

a. Lý do thứ nhất: Đại đa số các doanh nghiệp niêm yết có nguồn gốc là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Trong số đó có rất nhiều công ty được định giá trước khi cổ phần hóa bởi nhiều tầng nấc ban cổ phần hóa các cấp, từ doanh nghiệp cho đến Bộ tài chính, thêm vào đó, phương pháp định giá giản đơn, nhiều yếu tố như nhà đất, nợ còn tranh cãi xem có tính đến trong quá trình định giá hay không, và đặc biệt là vắng yếu tố đấu giá (chỉ áp dụng sau này), nên rút cục giá trị doanh nghiệp tìm ra cách khá xa giá trị thực của các công ty. Bằng chứng là nhiều công ty định giá quá rẻ, các đối tác ưu tiên mua hết cổ phần, người ngoài không thể mua nổi. Ngược lại, nhiều công ty định giá xong vài năm vẫn chưa bán hết cổ phần vì đã định giá quá cao (do tài sản nhiều mà lợi nhuận làm ra ít chẳng hạn). Như vậy ngay khi hình thành, 100.000 đồng mệnh giá cổ phần hóa đã xa thực tế rồi.

Continue reading

GIẢI PHÁP NÀO CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

PGS. TS. NGUYỄN THỊ MÙI – Trường Đào tạo & PTNNL VietinBank

1. Vài nét về thị trường chứng khoán Việt Nam

Năm 2009 sắp kết thúc, kinh tế các nước và Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, chưa ai có thể đưa ra chính xác rằng: lúc nào thì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ kết thúc và kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng trở lại như trước khi xảy ra khủng hoảng. Mặc dù nhiều Quốc gia vẫn chưa ra khủng hoảng, nhưng ở Việt Nam đà suy giảm đã được ngăn chặn và bắt đầu có sự phát triển. 18/25 chỉ tiêu đặt ra cho năm 2009 đạt và vượt; GDP của 11 tháng trên 5%(1); tăng trưởng tín dụng 36%, lạm phát vẫn trong giới hạn kiểm soát, bội chi ngân sách khoảng 6,9%, an sinh xã hội được đảm bảo.Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) mặc dù trồi sụt thất thường, nhưng vẫn có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng. Có thể điểm qua diễn biến của TTCK 11 tháng của năm(2).

 

Các chỉ tiêu thị trường

31/12/2008

30/11/2009

1.

Giá trị vốn hóa thị trường (tỷ đồng)

225.934 669.000
2.

Mức độ vốn hóa/GDP năm 2008(%)

18% 55%
3.

Số lượng cổ phiếu niêm yết

338 385
4.

Số lượng công ty chứng khoán

102 105
5.

Số lượng công ty quản lý quỹ

43 47
6.

Số lượng công ty đại chúng đã đăng ký

1.090 1.016
7

Số tài khoản mở tại CTCK

550.000 730.000
8.

Hệ số P/E

9-10 15.8

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VÀ THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

GIAVANG.NET – Hiện nay, ở Việt Nam, hợp đồng tương lai và các giao dịch trên thị trường tương lai còn là những khái niệm khá mới mẻ với nhiều các nhân, tổ chức. Nhưng ở các nước có thị trường tài chính phát triển, nó đã hình thành, phát triển khá lâu đời, cùng tồn tại song song và đóng vai trò quan trọng không kém so với thị trường chứng khoán. Bài viết này xin giới thiệu sơ lược về hợp đồng tương lai và cách thức để tham gia giao dịch trên thị trường này.

1. Trước hết, ta cần phân biệt sự khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng tương lai cũng như hợp đồng kỳ hạn, khác với options (có quyền không cần thực hiện hợp đồng) ở chỗ là có sự bắt buộc phải thực hiện hợp đồng vào ngày giao hàng đã thỏa thuận trước. Bên mua của hợp đồng được gọi là bên giữ thế trường vị (long position) của hợp đồng, bên bán của hợp đồng được gọi là bên giữ thế đoản vị (short position) của hợp đồng. Cả hai loại hợp đồng đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng. Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia. Tuy vậy, giữa chúng cũng có một vài điểm khác biệt sau:

– Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa thuận, mỗi hợp đổng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là contract size),ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng. Ngược lại,mọi đều khoản của hợp đồng kỳ hạn đều có thể được thỏa thuận, đàm phán giữa hai bên.

Continue reading

GIỚI HẠN SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI NGÂN HÀNG CHƯA NIÊM YẾT

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, ngoài việc phải tuân theo quy định của pháp luật chung, còn phải thực hiện quy định của pháp luật về ngân hàng. Hiện nay, quy định của pháp luật về ngân hàng còn có những bất cập, hạn chế, nên giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại chưa niêm yết đang có những ý kiến khác nhau về cả lý luận và thực tiễn.

1/. Khó kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi IPO của ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa

Cho đến nay, có 02 trên tổng số 05 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước đã chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank). Việc cổ phần hoá 03 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước còn lại (Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – MHB, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank) thực hiện theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thực hiện quy định của pháp luật về cổ phần hoá, trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), Vietcombank và Vietinbank đã công bố giá trị doanh nghiệp và số cổ phần được bán lần đầu ra công chúng. Tổ chức được ủy quyền bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng của Vietcombank và Vietinbank là Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE). Quy chế bán đấu giá cổ phần lần đầu của Vietcombank và Vietinbank do HoSE ban hành đều quy định tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua tối đa bằng 30% tổng số cổ phần được bán ra. Tuy nhiên, giới hạn sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietcombank hoặc Vietinbank theo quy định trên đây là rất khó kiểm soát vì các lý do sau đây:

Continue reading