BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ: GÓC NHÌN TỪ ĐẠO LUẬT SARBANES – OXLEY

DUY CƯỜNG

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán. Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán. Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng

Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH THỌ

Thị trường trái phiếu Hàn Quốc là thị trường lớn thứ hai ở châu Á sau Nhật . Tính tới cuối năm 2007, tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành lên tới 1.313,81 tỷ USD. Trước năm 1997, thị trường trái phiếu Hàn Quốc phát triển còn nhiều bất cập. Các cuộc cải tổ sau khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đưa thị trường trái phiếu Hàn Quốc lên một bước phát triển mới. Các cải cách của Hàn Quốc là bài học quí báu cho các nước đang phát triển trong khu vực cũng như các nước có điều kiện phát triển tương đồng học tập để cải cách hệ thống thị trường của mình.

1. Quá trình phát triển thị trường trái phiếu Hàn Quốc trước khủng hoảng

Khác với các nền kinh tế có hệ thống tài chính dựa vào thị trường như Mỹ và Anh, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, hoạt động huy động vốn ở Hàn Quốc chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng để chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Chính phủ can thiệp mạnh mẽ vào hệ thống tài chính để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ sở áp dụng lãi suất trần và phân phối tín dụng thông qua các khoản cho vay chính sách. Trong giai đoạn này, cho vay chính sách là công cụ quan trọng để tập trung vốn cho một số khu vực kinh tế, ngành kinh tế, và thậm chí doanh nghiệp cụ thể theo định hướng của chính phủ.

Kết quả của quá trình can thiệp trực tiếp của chính phủ vào hệ thống tài chính Hàn Quốc là ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và là công cụ hữu hiệu của chính phủ để thực hiện chính sách công nghiệp. Thị trường vốn chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vào những năm 1970 và 1980, hệ thống ngân hàng đã không còn đủ sức cung cấp vốn cho một nền kinh tế phức hợp ngày càng phát triển ở Hàn Quốc. Với mục tiêu phát triển thị trường vốn để khắc phục những hạn chế của hệ thống ngân hàng, trong những năm 1970 và 1980, chính phủ đã thực hiện hàng loạt các chính sách để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trong đó đặc biệt phải kể đến hệ thống bảo lãnh trái phiếu doanh nghiệp.

Continue reading

GIAO DỊCH BẢO CHỨNG: KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN –  Việc mua chứng khoán với khoản tiền trả trước ít hơn tổng giá trị phải bỏ ra ngay một lúc được gọi là mua theo bảo chứng (buying on margin). Thoạt đầu, do "margin" chỉ đơn thuần là cách vay tiền để mua chứng khoán, người ta đã gọi hoạt động này là vay mua. Nhưng về sau, khi bối cảnh margin ngày càng hoàn thiện, với các nghiệp vụ phức tạp và không chỉ liên quan tới tiền, thì cách hiểu và gọi đơn giản quá đã tỏ ta không còn phù hợp. Đặc biệt là trong "short sale" (bán trước), một nhánh quan trọng của nghiệp vụ margin, lại có giao dịch cần được hiểu là vay bán. Do vậy, gọi là giao dịch bảo chứng sẽ cho cách hiểu khái quát hơn.

Do quy mô về số lượng và giá trị giao dịch trên thị trường sẽ tăng mạnh thông qua tài khoản bảo chứng, người ta ví von hoạt động đầu tư được hỗ trợ bằng phương tiện tiến công này là "một nửa sôi động" của TTCK. Tại các thị trường phát triển, phương thức đầu tư bảo chứng không chỉ có bảo chứng để mua (vay để mua), mà gồm cả bảo chứng để bán (vay để bán). Tài sản vay và cho vay cũng không nhất thiết chỉ là tiền, mà còn là chứng khoán. Việc vay và cho vay được chế định và quản lý theo các nghiệp vụ đầu tư tài chính bài bản, vừa chặt chẽ, vừa theo hướng "tạo điều kiện" khá phức tạp, rủi ro được hạn chế đến mức tối đa… Chứ không đơn giản là thủ tục vay nợ thế chấp thông thường giữa chủ nợ và con nợ (như giữa ngân hàng và NĐT theo "Chỉ thị 03" ở ta hồi năm 2007). Tuy vậy, đối với người đầu tư, việc sử dụng tài khoản bảo chứng lại khá đơn giản và tiện lợi.

Các mối quan hệ trong bối cảnh margin được xếp đặt hợp lý và có thể chia thành ba đôi chính: giữa NĐT với CTCK, giữa CTCK với ngân hàng và giữa các CTCK với nhau hoặc với tổ chức tài chính khác (cách vay trực tiếp giữa NĐT với ngân hàng là nghiệp vụ tín dụng thế chấp, chỉ có một đôi). Các đôi quan hệ này gắn kết đối ứng về quyền lợi và nghĩa vụ với nhau theo nguyên tắc phân công chuyên nghiệp. Rủi ro như vậy được chẻ nhỏ, được ngắt ra từng đoạn nhằm hạn chế sự lây lan hay đổ vỡ dây chuyền. Bởi, ngân hàng tuy giỏi kinh doanh tiền, nhưng không thể sâu hơn CTCK về mặt chứng khoán và ngược lại… Hành lang luật lệ, các quy chuẩn chuyên ngành, phương pháp tính toán, yêu cầu tác nghiệp đồng bộ trong hệ thống… là các yếu tố hạ tầng khác không kém phần quyết định, giúp cho lĩnh vực hoạt động khá chuyên sâu này được vận hành một cách trơn tru và hiệu quả. Hình thức bảo chứng sở dĩ thuyết phục và hấp dẫn là do nó có cái móng được kết cấu chặt (theo cách vừa nói) trên cái nền biến động – hay sinh động – của hoạt động đầu tư tài chính.

Continue reading

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG

TẠ THANH BÌNH

1. Mô hình tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung theo pháp luật một số nước trên thế giới

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung là thị trường chứng khoán nơi các giao dịch chứng khoán được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất dưới dạng các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)1, tại đó người mua và người bán (hay đại diện và những nhà môi giới của họ) gặp nhau để tiến hành giao dịch. Vì vậy, người ta còn gọi SGDCK là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả2. Giá cả của chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung được xác lập chủ yếu qua cơ chế đấu lệnh tập trung.

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung được tổ chức dưới hình thức các SGDCK. Theo Liên đoàn các SGDCK thế giới (WFE), hiện nay trên thế giới đang tồn tại 4 mô hình tổ chức SGDCK phổ biến. Mỗi mô hình có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, được các nước áp dụng tuỳ theo từng giai đoạn phát triển nhất định của thị trường, bao gồm:

i) SGDCK tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn được sở hữu bởi các thành viên (còn gọi là mô hình thành viên). Theo mô hình này, SGDCK do các thành viên là các công ty chứng khoán (CTCK) sở hữu. Thành viên vừa là người tham gia giao dịch vừa là người quản lý SGDCK, nên có thể phát huy tối ưu vai trò tự quản, nâng cao tính hiệu quả và nhanh nhạy trong việc xử lý các vấn đề phát sinh của thị trường. SGDCK theo mô hình thành viên thường hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận, chủ yếu là mang tính chất phục vụ cho hoạt động giao dịch cho chính các thành viên tại SGDCK. Những lợi ích kinh tế gắn bó với tư cách thành viên được phân chia một cách công bằng hoặc trên cơ sở phần đóng góp của thành viên vào SGDCK. Hiện nay có tới 16,3% SGDCK áp dụng mô hình này như: Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Sri Lanka…

Continue reading

QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN

LS. HỒ QUANG TÂN PHONG

Công ty cổ phần lập và lưu giữ sổ đăng ký cổ đông như một văn bản chứng minh quyền sở hữu cổ phần của mỗi cổ đông. Công ty phát hành cổ phiếu để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty. Bằng chứng để xác nhận một người đang có quyền sở hữu đối với cổ phiếu là người đó phải được ghi tên vào sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần và có sổ chứng nhận sở hữu cổ phần hoặc sổ cổ đông, trong đó khẳng định số lượng cổ phần và loại cổ phần sở hữu.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, có nhiều công ty chỉ cấp cho cổ đông góp vốn một loại chứng từ kế toán gọi là phiếu thu, hoặc chỉ ghi tên cổ đông góp vốn trong sổ đăng ký cổ đông; điều này chưa đủ, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người góp vốn. Đối với chứng khoán đã niêm yết thì bằng chứng cho việc sở hữu chứng khoán là bảng sao kê tài sản giao dịch chứng khoán do công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch cấp, trong đó xác định số chứng khoán thuộc sở hữu của nhà đầu tư. Hiện nay quyền sở hữu các loại chứng khoán được điều chỉnh chủ yếu bởi các bộ luật sau đây: Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán nên quyền sở hữu chứng khoán cũng được thừa nhận bởi ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên biểu hiện của các quyền trên rất đa dạng và rất khác nhau vì chúng tùy thuộc vào mục đích của nhà sở hữu chứng khoán, loại chứng khoán là cổ phiếu hay trái phiếu, chứng khoán được niêm yết hay chưa niêm yết. Dưới đây là một số quyền và lợi ích của chủ sở hữu chứng khoán:

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam

TS. LÊ THỊ THU THỦY

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Ở Việt Nam, TTCK chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 – bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán T.P Hồ Chí Minh. Khác với TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được “sinh sôi, nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ – CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006, đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK. Các văn bản này là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Chúng tôi xin được bàn về sự cần thiết và nêu những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THỊ THU THỦY

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Ở Việt Nam, TTCK chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 – bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán T.P Hồ Chí Minh. Khác với TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được “sinh sôi, nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ – CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006, đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK. Các văn bản này là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Chúng tôi xin được bàn về sự cần thiết và nêu những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

Continue reading

XUẤT KHẨU CHỨNG KHOÁN

NGUYỄN XUÂN

Câu chuyện xem ra cũng tương tự thời điểm trước Đổi mới, khi ngồi chờ viện trợ bột mì mà lại tính chuyện có ngày Việt Nam trở thành một trong những nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Hoặc cũng giống như cách đây không xa, việc gửi lao động đi nước ngoài làm việc còn có người hỏi rằng tại sao anh hùng như Việt Nam mà lại để đồng bào mình bị ngoại bang bóc lột?

Còn nay, không ai dám phủ nhận: xuất khẩu lao động đã là một kênh tạo việc làm và huy động ngoại tệ quan trọng. Chắc chắn không cần tới thời gian cả chục năm trời như vậy, việc xuất khẩu chứng khoán (CK) sẽ là một phương thức hữu hiệu không chỉ nhằm huy động vốn mà còn là một trường học cho các doanh nghiệp trong nước thử sức cạnh tranh ngoài lãnh thổ quốc gia, quảng bá hình ảnh doanh nghiệp và thương hiệu Việt Nam.

Bước đi tất yếu

Cụm từ “xuất khẩu CK” là cách hiểu nôm na việc các doanh nghiệp trong nước niêm yết và chào bán CK ở thị trường nước ngoài. Và dĩ nhiên việc niêm yết CK ở các sàn trong nước cũng là một hình thức xuất khẩu tại chỗ bởi các nhà đầu tư gián tiếp dùng ngoại tệ để sở hữu các cổ phiếu đang niêm yết trên các sàn giao dịch Việt Nam. Tuy nhiên, là một loại hàng hóa đặc thù, CK được chào bán và niêm yết ở nước ngoài phải tuân thủ nhiều quy định pháp lý và kỹ thuật khắt khe của cả trong và ngoài nước. Cũng nằm trong một quốc gia như Hong Kong nhưng với đặc thù “hai chế độ”, việc niêm yết CK của các doanh nghiệp đại lục tại Hong Kong cũng phải trải qua nhiều thủ tục phức tạp cho dù các yếu tố địa lý, tâm lý, xã hội… khá tương đồng.

Continue reading

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ: GÓC NHÌN TỪ ĐẠO LUẬT SARBANES – OXLEY

DUY CƯỜNG

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.

Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.

Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Continue reading

ĐỂ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH VÀ BỀN VỮNG

TS. CHÂU ĐÌNH PHƯƠNG

Sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang là một trong những vấn đề đại sự trong chiến lược vốn của Việt Nam từ nay đến năm 2010 và 2020. Việc làm cho TTCK Việt Nam khắc phục được những bất cập hiện nay để làm đúng với chức năng vốn có của nó là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế” đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước.

TTCK là nơi mua và bán các loại công cụ đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, các quỹ tương hỗ, các quyền lựa chọn, và các trái phiếu địa phương… Do vậy, tính bền vững của TTCK không những chịu tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế-chính trị-xã hội của mỗi quốc gia, của nhiều quốc gia khác trên toàn cầu; mà còn được được quyết định bởi tính bền vững của các loại công cụ đầu tư này. Để có được những quyết định đúng đắn trong đầu tư vào TTCK việc nhận biết các công cụ đầu tư cũng như các nhân tố tác động đến tính bền vững của TTCK là rất cần thiết.

Các công cụ đầu tư trên TTCK thường gặp:

(1) Các cổ phiếu đầu tư

Cổ phiếu là một trong những loại chứng khoán vốn cổ phần quen thuộc đối với rất nhiều người. Khi các nhà đầu tư đã thực hiện việc mua cổ phiếu thì họ đã trở thành người chủ sở hữu “một phần” tài sản của một công ty. Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày một phát triển thuận lợi, giá cả mà các cổ đông sẵn sàng trả cho cổ phiếu của nó thường là tăng lên; lúc đó những cổ đông đã mua cổ phiếu này với giá thấp hơn sẽ có cơ hội kiếm được lợi nhuận. Tất nhiên, nếu công ty hoạt động không hiệu quả, giá cổ phiếu của nó sẽ đi xuống; các cổ đông sẽ bị lỗ. Vấn đề đặt ra là, các thông tin cần thiết cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp vừa thiếu lại vừa chưa đủ độ tin cậy.

(2) Trái phiếu công ty Continue reading

TRÁI PHIẾU VÀ BA LÝ DO BẤT CẬP

HỒNG SƯƠNG

Khalil Belhimeur, chuyên gia phân tích của ngân hàng Standard Chartered vừa có bản báo cáo về thị trường trái phiếu Việt Nam ngày 30.3 vừa qua. Trong đó, ông có nói đến ba lý do bất cập giữa mục tiêu và thực tế phát hành trái phiếu ra thị trường.

Sau khi lãi suất trái phiếu trên thị trường tăng mạnh trong những tháng đầu năm, do việc nới lỏng mạnh tay của NHNN và tính thanh khoản của thị trường tăng, thị trường trái phiếu Việt Nam đã chứng kiến một sự điều chỉnh. Trái phiếu kỳ hạn 2 năm và 5 năm đã thoát ra khỏi lãi suất thấp lần lượt ở mức 7,6% và 7,95%, và hiện đang giao dịch ở mức cao hơn khoảng 1%.

Tăng trưởng GDP trong quý 1 năm nay là 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng của cả năm là 6,5%. Báo cáo cho rằng điều này dường như là quá tham vọng. Việt Nam, với tỉ lệ xuất khẩu/GDP là 0,75, vẫn bị ảnh hưởng bởi hoạt động tiêu dùng thất thường của các nước. Tuy một số người lạc quan với cán cân thương mại dương, nhưng sự tăng trưởng này cho thấy hoạt động tiêu dùng nội địa đang suy giảm. Trong khi đó, số lượng các dự án FDI, theo báo cáo của chính phủ, giảm 70% trong quý 1 so cùng kỳ năm ngoái. Dòng vốn nước ngoài chảy khỏi các thị trường tài chính, với tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu và trái phiếu của nước ngoài đang giảm.

Các nguồn lực đều suy giảm. Vì thế nhu cầu chi tiêu của Chính phủ cần phải tăng lên là tất yếu. Gói kích cầu trị giá 6 tỉ USD đã được thông qua song mới chỉ có 1 tỉ USD được giải ngân. Phần còn lại là hỗ trợ các dự án cơ sở hạ tầng và cắt giảm thuế. Qui mô nhỏ của kế hoạch chi tiêu đưa đến lo ngại về nguồn vốn cho phần thiếu hụt ngân sách. Trong khi Chính phủ đặt ra khá nhiều mục tiêu lớn thì con số thực tế cuối cùng có thể nhỏ hơn. Năm 2008, kho bạc Nhà nước có kế hoạch phát hành khoảng 90 ngàn tỉ đồng nhưng chỉ được 49 ngàn tỉ đồng. Tình hình lặp lại ở quý 1.2009, với công bố phát hành 22 ngàn tỉ đồng, nhưng đến nay mới dừng ở con số 2,6 ngàn tỉ đồng. Theo báo cáo này, có ba lí do chính đằng sau sự bất cập.

Lãi suất trái phiếu sẽ tăng trở lại

Theo báo cáo, tính thanh khoản đang được nới lỏng, với sự thu hẹp của các nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất qua đêm đang dần hạ xuống. Quan trọng hơn, lãi suất cho vay thương mại hiện cao nhất là 10.5%, chênh lệch rất nhỏ với trái phiếu. Các hoạt động kinh tế sẽ khó tăng trưởng trở lại trong trung hạn, nhu cầu vay có thể giảm. Như vậy, các ngân hàng có thể rơi vào tình trạng thặng dư vốn. Do đó, việc lãi suất trái phiếu tăng trở lại chỉ là vấn đề thời gian.

Continue reading

GÓC NHÌN KHÁC VỀ DỊCH VỤ “GIAO DỊCH THỎA THUẬN NGOÀI GIỜ”

TS. LÊ VŨ NAM – Chủ nhiệm ngành Luật Tài chính – Ngân hàng – Chứng khoán,

Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. HCM

ĐTCK – Thông tin liên quan đến giao dịch thỏa thuận đã được "chốt" trước giờ giao dịch chính thức được nhà đầu tư săn lùng là rất cao.

Gần đây, một số công ty chứng khoán (CTCK) đã cho triển khai dịch vụ "giao dịch thỏa thuận ngoài giờ". Theo đó, các nhà đầu tư tham gia giao dịch thỏa thuận ngoài giờ sẽ tiến hành thỏa thuận giao dịch trước hoặc sau giờ giao dịch chính thức một số lượng chứng khoán niêm yết cụ thể với một mức giá thực hiện được ấn định tại thời điểm giao dịch. Mức giá này được bên mua và bên bán thỏa thuận với nhau trong biên độ quy định của mỗi sàn giao dịch. Thoạt nhìn, "giao dịch thỏa thuận ngoài giờ" dường như không ảnh hưởng gì đến thị trường, mà còn được xem như "một dịch vụ gia tăng" bởi việc thương lượng giá và khối lượng chứng khoán đều diễn ra trong biên độ và giới hạn lô lớn theo quy định. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là thời gian diễn ra hoạt động giao dịch này không theo lịch giao dịch chính thức đã được cơ quan quản lý ấn định, từ đó gây ra nhiều ý kiến khác nhau. Trong khi cơ quan quản lý vẫn chưa chính thức lên tiếng về vấn đề này thì đại diện CTCK ACB (ACBS), một trong những CTCK đang triển khai dịch vụ này, đã khẳng định dịch vụ giao dịch thỏa thuận ngoài giờ "không có bất kỳ yếu tố nào vượt rào so với quy chế giao dịch hiện nay". Bài viết này xin giới thiệu một góc nhìn khác về dịch vụ gây tranh cãi này.

Theo Quy chế giao dịch tại sàn HOSE, thời gian giao dịch thỏa thuận cho cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là từ 10h 30 đến 11h, nghĩa là sau khi giao dịch khớp lệnh đã kết thúc và VN-Index đóng cửa đã hình thành. Còn tại sàn HASTC, thời gian giao dịch thỏa thuận diễn ra song song với giao dịch khớp lệnh. Không phải ngẫu nhiên mà giao dịch thỏa thuận được quy định diễn ra sau khi giao dịch khớp lệnh đã kết thúc như ở sàn HOSE hoặc chí ít cũng song song với thời gian giao dịch khớp lệnh như ở sàn HASTC. Tham khảo lịch giao dịch của TTCK các nước thì thời gian giao dịch thỏa thuận cũng được bố trí tương tự như thế.

Về bản chất, giao dịch thỏa thuận là những giao dịch có khối lượng lớn (nên còn gọi là giao dịch lô lớn) để tránh tác động đến giá và khối lượng giao dịch trên thị trường, qua đó tác động đến chỉ số chứng khoán nên giao dịch thỏa thuận được tách khỏi giao dịch khớp lệnh. Mặt khác, giao dịch thỏa thuận được bố trí thực hiện sau hoặc song song với giao dịch khớp lệnh nhằm tránh hoặc hạn chế thông tin về giao dịch thỏa thuận đến tâm lý nhà đầu tư giao dịch theo phương thức khớp lệnh. Nhà đầu tư thực hiện giao dịch thỏa thuận tự mình hoặc thông qua CTCK hay màn hình giao dịch thỏa thuận để tìm kiếm đối tác. Khi tìm được đối tác thì các bên sẽ tiến hành thương lượng về giá và khối lượng. Tại thời điểm hai bên đạt được một sự thỏa thuận về giá và khối lượng giao dịch thì đại diện giao dịch của CTCK nơi họ mở tài khoản xác nhận kết quả và nhập vào hệ thống giao dịch để ghi nhận. Cần lưu ý rằng, việc xử lý thông tin, tìm kiếm đối tác, thương lượng…, nhà đầu tư phải tiến hành ngay trong thời gian dành cho giao dịch thỏa thuận.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 50/2009/TT – BTC NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán như sau
:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về nguyên tắc, thủ tục tổ chức giao dịch điện tử trong hoạt động giao dịch chứng khoán trực tuyến, hoạt động trao đổi thông tin điện tử liên quan đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

2. Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh bao gồm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK), tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, công ty đại chúng, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian khác lựa chọn giao dịch trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán bằng phương tiện điện tử.

3. Giải thích từ ngữ

3.1. Giao dịch điện tử trong lĩnh vực chứng khoán là các giao dịch trong hoạt động, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện bằng phương tiện điện tử, bao gồm: hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TÂM LÝ ĐẦU TƯ THẮNG THUA Ở VIỆT NAM

TRẦN LONG

TuanVietNam – Không ít sách vở phân tích tâm lý của người thành công và thất bại tại thị trường chứng khoán trên thế giới. Nhà đầu tư Việt Nam có những đặc điểm tâm lý riêng khác với nhà đầu tư thế giới. Một số phân tích về tâm lý nhà đầu tư Việt Nam từ những nhận xét của các cán bộ môi giới của nhiều công ty chứng khoán tại Việt Nam.

Người thắng cuộc:  tạo và luôn giữ nguyên tắc

Người thắng cuộc được coi là những người có tỷ lệ thành công trong đầu tư cao, thu được mức lợi nhuận tương đối sau một khoảng thời gian dài đầu tư. Những người chỉ tham gia một hai lần mà lãi lớn không thể coi là người thắng cuộc trên thị trường.

Người thắng cuộc có quá trình chuẩn bị quyết định đầu tư cẩn thận. Họ có thể mất nhiều đêm chỉ để đọc thông tin, phân tích các chỉ tiêu cơ bản, xem xét diễn biến thị trường để rút ra quy luật diễn biến giá của một cổ phiếu. Họ tổ chức thông tin khá khoa học, đọc thông tin từ nhiều nguồn, sau đó, họ biết cách tổng hợp thông tin dưới dạng các bảng biểu thuận lợi nhất cho việc ra quyết định của mình.

Người thắng cuộc khi đầu tư phải chuẩn bị một lượng vốn tương đối, vì vậy họ trường vốn hơn trong giai đoạn đầu tư dài, họ có thể đã thắng từ trước nên có tích luỹ khá lớn. Vì vậy, tâm lý của họ cũng khá thoải mái hơn khi  thua lỗ. Họ không bao giờ đầu tư hết toàn bộ tiền của mình. Mà các khoản đầu tư thường chỉ chiếm một tỷ lệ % nhất định trong tổng số tiền của mình. Họ vẫn để “cửa” để cho những lần sau, để có cơ hội sửa sai nếu như lần đầu tư này thua lỗ.

Người thắng cuộc khá kiên trì sau quyết định của mình. Họ có nguyên tắc đầu tư. Ví dụ, họ xác định mức giá mua vào từ trước của một cổ phiếu, và chỉ khi giá thị trường xuống tới mức đó mới mua, sau đó họ cũng có ngưỡng trên bán ra cổ phiếu, và ngay khi giá cổ phiếu đạt mức đó họ bán ngay không ngần ngừ mặc dù thị trường có thể vẫn đang lên.

Người thắng cuộc ra quyết định ít khi bị ảnh hưởng bởi người khác. Họ tự tin với quyết định của mình, vì biết chắc là xác xuất thắng của mình khá cao. Chính sự chiến thắng đem lại sự tự tin và từ đó củng cố cảm nhận “giác quan thứ sáu” của người chơi.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI

030707_fear_greedHỒ QUỐC TUẤN – NCS, Đại học Manchester, Anh

Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo

Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn…) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo.

Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ “đồ chơi” để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó. Continue reading

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO “TRÁI PHIẾU BẤT ĐỘNG SẢN”

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Vinaland Invest

Từ tháng một đến tháng ba năm 2008, một số Công ty đã pháp hành trái phiếu huy động vốn tới cả ngàn tỷ đồng cho các dự án thuộc Quận 8, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh, đã làm cho nhiều người quan tâm đặc biệt là các công ty bất động sản. Khái niệm “trái phiếu bất động sản” cũng ra đời và có rất nhiều chuyên gia quan tâm bình luận trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng đây là sự sáng tạo trong việc vận dụng pháp luật để huy động vốn. Ngược lại có quan điểm cho rằng việc phát hành trái phiếu huy động vốn cho dự án bất động sản-nhà ở khi chưa xây dựng xong phần móng là trái luật, “lách luật”.

Trong bối cảnh hiện nay thị trường bất động sản (BĐS) giá liên tục giảm và ít giao dịch mua bán, nhiều doanh nghiệp BĐS đang thiếu vốn trầm trọng. Đồng thời các Tổ chức tín dụng lại rất thận trọng đối với các khoản vay đầu tư BĐS. Dẫn đến phương án huy động vốn từ người dân, thông qua việc phát hành trái phiếu trở thành một trong những giải pháp quan trọng để tìm nguồn vốn triển khai các dự án bất động sản. Vì vậy vấn đề hành lang pháp lý của trái phiếu doanh nghiệp nói chung và trái phiếu bất động sản nói riêng, rất cần được làm rõ.

Theo Luật Chứng khoán năm 2006 và Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/05/2006. Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc và lãi của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Có năm loại trái phiếu doanh nghiệp sau đây:

– Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của cùng một tổ chức phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành.

– Trái phiếu không chuyển đổi là loại trái phiếu không có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu.

– Trái phiếu có kèm theo chứng quyền (chứng quyền là quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định với mức giá được xác định trước trong thời kỳ nhất định).

– Trái phiếu có bảo đảm là loại trái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính tín dụng.

– Trái phiếu không có bảo đảm là loại trái phiếu không được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh thanh tóan của tổ chức tài chính tín dụng.

Continue reading

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH LÀ GÌ?

MINH AN (Tổng hợp và dịch từ BBC và Finance Times)

Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng khoán còn rất bao la, mà cổ phiếu, trái phiếu chỉ là một vài trong số những “món đồ chơi” ở đây. Còn vô số những khái niệm và công cụ đầu tư khác phải kể đến, mà chứng khoán phái sinh chính là yếu tố quan trọng đầu tiên không thể bỏ qua.

Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps).

Từ sự khởi đầu đơn giản với future và forward…

Hợp đồng tương lai (Futures) là việc thoả thuận giữa các bên về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại thời điểm đó. Ví dụ: Vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng future với công ty B mua 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg và công ty A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa. Continue reading

THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU ĐÔ THỊ Ở VN

TS. DIỆP GIA LUẬT

Trái phiếu đô thị là loại trái phiếu đầu tư có kỳ hạn từ một năm trở lên, do chính quyền địa phương ủy quyền cho kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địa phương lập ra, phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình mang tính công cộng như đường xá, bến cảng, trường học, bệnh viện,…Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy phát hành trái phiếu đô thị được xem là lựa chọn hiệu quả trong huy động vốn cho đầu tư.

Ở VN những năm qua, đã có một số đô thị lớn như: TP.HCM, Hà Nội được sự cho phép của Chính phủ đã chủ động phát hành trái phiếu tài trợ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, song hình thức huy động này vẫn còn nhiều khó khăn, quy mô còn hạn chế. Vì vậy, trong thời gian tới với sự hình thành và phát triển các đô thị lớn như việc mở rộng Thủ đô Hà Nội, chỉnh trang và phát triển TP. Hải Phòng, TP.HCM … chắc chắn sẽ tạo áp lực tăng nhu cầu vốn. Cho nên, việc nghiên cứu vận dụng phương thức phát hành trái đô thị để huy động vốn đầu tư rất cần thiết. Với mục tiêu cung cấp các dữ liệu lý luận nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị của các địa phương. Bài báo tập trung phân tích tình hình phát hành trái phiếu đô thị của các địa phương để từ đó đề ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động phát hành trái phiếu đô thị ở VN trong thời gian tới.

1. Thực trạng phát hành trái phiếu đô thị ở VN

Dựa vào những điểm mốc của việc hình thành khung pháp lý và cơ chế phân cấp NSNN cho việc phát hành trái phiếu đô thị, có thể chia làm hai giai đoạn cơ bản:

– Giai đoạn: từ năm 1991 đến năm 2003

Cơ chế phân cấp của ngân sách trong giai đoạn này còn mang nạng tính tập trung, phần lớn nguồn thu các dự án đầu tư đều do NSTW thực hiện. Vì vậy, chỉ có một số địa phương vận dụng nội dung các văn bản pháp lý về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình để đầu tư cho các công trình địa phương. Những trái phiếu này được đảm bảo thanh toán bằng nguồn ngân sách địa phương.

Continue reading

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

image TRẦN PHƯƠNG MINH (Tổng hợp)

Hầu hết mọi nơi trên thế giới, các hình thức đầu tư chứng khoán là một chủ đề được nhiều người quan tâm. Và cách tiếp cận thị trường chứng khoán dễ dàng nhất là thông qua các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận trên cũng có rất nhiều vấn đề cần được lưu ý, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nghiệp dư lần đầu tiên làm quen với môi trường này.

Có thể thấy tại các công ty chứng khoán, số lượng khách hàng đến mở tài khoản giao dịch nói riêng hay lượng người quan tâm đến chứng khoán nói chung ngày một tăng. Các công ty chứng khoán được làm đại lý phát hành chứng khoán niêm yết cho các tổ chức phát hành; tự kinh doanh chứng khoán và nhiều dịch vụ tư vấn đầu tư khác. Ngoài ra, những đơn vị này được thực hiện tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ tài chính khác.

Tìm hiểu những về một số thuật ngữ và hoạt động của các công ty chứng khoán

Khi bắt đầu làm quen với việc kinh doanh chứng khoán, việc đầu tiên chúng ta phải làm là mở tài khoản tại một công ty chứng khoán. Khi ấy, chúng ta sẽ gặp một loạt các thuật ngữ “bí hiểm” như : full-service brokerage firms, discount firms, wire houses, boutique firms… Vậy những thuật ngữ trên có ý nghĩa như thế nào và chúng khác nhau ra sao?
Các công ty môi giới chứng khoán hiện nay trên thế giới được chia thành 2 nhóm chính (classified into two main categories): full-service brokerage firms (tạm dịch là công ty tổng hợp) và discount firms (công ty chuyên doanh).
Khi quyết định sử dụng dịch vụ của một công ty chuyên doanh, các nhà đầu tư chỉ có thể nhận được 2 loại dịch vụ duy nhất là thực hiện lệnh (order execution) và thanh toán (clearance) khi lệnh mua/bán (buy/sell order) của nhà đầu tư đã được “khớp” (matched) với 1 hoặc nhiều lệnh khác. Một trong những ưu điểm chính của các công ty chuyên doanh” là phí hoa hồng (commissions) sẽ thấp hơn khoảng từ 1/4 cho đến 2/3 so với trường hợp các công ty tổng hợp.

Continue reading