VẤN ĐỀ 1

SỐ 1

Ông A và bà B là hai vợ chồng quyết định sử dụng tài sản chung của vợ chồng để thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Theo đăng ký ông A là người đứng tên sở hữu doanh nghiệp tư nhân này. Những vấn đề pháp lý phát sinh là:

1. Tài sản của doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ai: ông A hay của vợ chồng AB;

2. Lợi tức từ doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ông A hay của vợ chồng AB;

3. Trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ tài sản, thì nghĩa vụ đó được bảo đảm bằng tài sản nào: Tài sản của doanh nghiệp + tài sản riêng của ông A hay tài sản của doanh nghiệp + tài sản chung của vợ chồng AB.

Các văn bản Luật có liên quan: Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000Luật Doanh nghiệp năm 2005 , Luật Thi hành án dân sự … văn bản khác

XIN MỜI CÁC BẠN CÙNG THẢO LUẬN!


Categories: CHƯA PHÂN LOẠI

View Comments (67)

  • - Theo khoản 1, điều 141, Luật DN thì 1 trong đặc điểm của DNTN là do 1 cá nhân làm chủ có nghĩa là DNTN thuộc sở hữu của 1 con người cụ thể, nhưng xét bản chất thì nguồn vốn thành lập DNTN lại là tài sản chung của vợ chồng thì cả vợ chồng là người sở hữu DNTN đó. Thiết nghĩ ở đây cần có chỉnh sửa trong luật DN, cần đưa thêm vấn đề tài sản chung của vợ chồng để xác định chủ sở hữu đích thực,
    - Theo điều 32 Luật Hôn nhân, gia đình 2000, tài sản riêng của vợ chồng là những ts người đó có trc hôn nhân, ts đc thừa kế riêng, tặng cho riêng..còn ts do vợ chồng tạo ra, kể cả ts đc tạo ra từ hoạt động kinh doanh trong thời kì hôn nhân laf tài sản chung của vc( điều 27 Luật HNGD) . Như vâyj, 1 vấn đề hiện nay đang diễn ra là: khi DNTN kinh doanh có lãi, họ có quyền sử dụng toàn bộ số tiền này mua sám tài sản chung cho cả gia đình, nghĩa là lợi tức từ hoạt động kinh doanh thì cả gia đình đó đều đc hưởng. Trong khi đó, khi họ kinh doanh thua lỗ t hì các chủ nợ chỉ có thể đòi đc nợ từ nửa số tài sản hcung đó, thực tế xảy ra: khi các chủ nợ kê biên ts của chủ DN thì vợ con hoặc chòng con đều nhận là ts của họ chứ ko phải của chủ DN. điều này là ko công bằng đối với các chủ nợ . như vậy, đang có sự mâu thuẫn trong vấn đề này khi mà chồng con, vợ con chủ DN có thể được hưởng chung lợi tức khi kd có lãi nhưng lại ko chịu trách nhiệm khi kd thua lỗ. Thiết nghĩ ở đây pl cần quy định cho các chủ nợ đc đòi nợ từ ts của cả gd, trừ những ts nào mà các thành viên khác trong gd chứng minh đc rằng đó là ts của riêng họ.

    • Ông A và bà B là hai vợ chồng quyết định sử dụng tài sản chung của vợ chồng để thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Theo đăng ký ông A là người đứng tên sở hữu doanh nghiệp tư nhân này. Những vấn đề pháp lý phát sinh là:
      1. Tài sản của doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ai: ông A hay của vợ chồng AB;
      2. Lợi tức từ doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của ông A hay của vợ chồng AB;
      3. Trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ tài sản, thì nghĩa vụ đó được bảo đảm bằng tài sản nào: Tài sản của doanh nghiệp + tài sản riêng của ông A hay tài sản của doanh nghiệp + tài sản chung của vợ chồng AB.
      LUẬT SƯ TRẢ LỜI

      1. Khi A và B quyết định dùng tài sản chung để thành lập Doanh nghiệp tư nhân, thì căn cứ:
      - Khi thành lập DNTN thì theo quy định của luật Luật doanh nghiệp 2005: “DNTN do một cá nhân làm chủ và từ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động của doanh nghiệp (theo khoản 1 điều 141 luật DN 2005), chủ doang nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kể cả việc sử dụng lợi nhận (theo khoản 1 điều 143 Luật DN 2005)”, có quyền cho thuê doanh nghiệp (điều 144 luật DN) hoặc bán DN (điều 145), chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của DN (Khoản 4 điều 143 LDN) và là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp (khoản 4 điều 143 LDN). Do vậy, trong trường hợp này, DNTN được thành lập A đứng tên sở hữu thì yêu cầu đặt ra là A và B phải thỏa thuận phân chia tài sản chung để sử dụng vào kinh doanh của DNTN.
      - Tài sản chung của A và B được phân chia trên căn cứ sau:
      + Khoản 2 điều 217 BLDS 2005 quy định: “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung (Khoản 1 điều 219 BLDS 2005)”.
      + Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Khoản 1 điều 28 Luật HN&GĐ), Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận (Khoản 3 điều 28).
      + Áp dụng khoản 1, Điều 29 Luật TNGĐ 2000, quy định: “ Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”.
      Kết luận: Khi thành lập DNTN do ông A làm chủ sở hữu, thì xảy ra hai trường hợp như sau:
       Trường hợp 1: Nếu A và B cùng thỏa thuận phân chia tài sản, nếu việc phân chia tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật như về đăng ký quyền sở hữu tài sản (đối với tài sản pháp luật yêu cầu phải đăng ký), được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực (nếu quy định) và việc phân chia này không nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản (Khoản 2 điều 29 luật HNGĐ) thì việc sử dụng phần tài sản của ông A sau phân chia để thành lập DNTN thì khi đó tài sản của DNTN do A làm đại diện sẽ thuộc sở hữu của A.
       Trường hợp 2: Nếu A và B chỉ thỏa thuận phân chia tài sản chung, không lập văn bản, không tuân thủ các quy định như đăng ký quyền sở hữu hoặc quy định về giao dịch có công chứng hoặc chứng thực….thì trường hợp này tài sản của DNTN do A đứng tên thành lập sẽ thuộc sở hữu của AB, đồng thời mọi nghĩa vụ liên quan về tài sản từ việc kinh doanh của DN sẽ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của AB, mặc dù A đứng tên và là đại diện theo pháp luật.
       Khi đó:
      2. Như đã phân tích ở trên:
      - Việc thu lợi tức từ việc kinh doanh của DN sẽ thuộc sở hữu của A nếu có phân chia tài sản theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, thì căn cứ Điều 30 Luật HNGĐ 2000: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người”.
      - Ngược lại nếu việc phân chia tài sản này chỉ là do A B tự thỏa thuận thì khi đó phần tài sản do A sử dụng thành lập DN và kinh doanh vẫn thuộc sở hữu AB (sở hữu chung hợp nhất quy định tại điều 217 và 219 luật dân sự 2005), nghĩa vụ trách nhiệm của A khi đứng tên kinh doanh sẽ được đảm bảo bằng cả khối tài sản của A trong khối tài sản chung AB. Nếu có tranh chấp và có yêu cầu của B (hoặc A) thì tòa án sẽ phân chia tài sản và xác định trách nhiệm của A tương ứng với toàn bộ tài sản của A sau phân chia./.
      3. Trường hợp phát sinh nghĩa vụ về tài sản, Khi đó căn cứ trên cơ sở của pháp luật:
      - Căn cứ khoản 1 điều 141 luật DN 2005 thì: DNTN do một cá nhân làm chủ và từ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động của doanh nghiệp.
      - Khoản 1 điều 143 Luật DN 2005 quy định: “chủ doang nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kể cả việc sử dụng lợi nhận”.
      - Chủ DNTN Có quyền cho thuê doanh nghiệp (điều 144 luật DN) hoặc bán DN (điều 145).
      - Chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của DN (Khoản 4 điều 143 LDN) và là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp (khoản 4 điều 143 LDN).
      - Áp dụng khoản 1, Điều 29 Luật TNGĐ 2000, quy định: “ Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản”.
       Như vậy: Trên thực tế khi thành lập DNTN do A đứng tên và là chủ sở hữu đồng thời là người đại diện theo pháp luật, tài sản sừ dụng thành lập DN pháp luật đã quy định rõ “A phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của A về hoạt động của DN”, Luật dân sự và luật hôn nhân và gia đình đã quy định rõ (như đã phân tích ở trên), thì khi thua lỗ và phát sinh nghĩa vụ tài sản thì A chỉ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của doanh nghiệp + Tài sản của A sau phân chia tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng (thuộc sở hữ riêng của A tách biệt khối tài sản chung của vợ chồng), kể cả trong trường hợp A và B chưa phân chia tài sản chung hoặc có thỏa thuận phân chia nhưng chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Khi đó B hoàn toàn có quyền yêu cầu tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng, mặc dù lợi ích thu được từ việc kinh doanh của DN do A đứng tên chi dùng cho cả hai vợ chồng trong đó có B.
      --------------------------------
      Tên đây là một vài ý kiến của tôi xin thảo luận cùng các anh/chị
      trungvu808@yahoo.com

  • Xin chào các bạn,
    Tôi là một thẩm phán, khi đọc tình huống mà civillawinfor đưa ra tối thấy thực sự rất thú vị hiện còn dduwwojc nhìn nhận ở nhiều góc đọ khác nhau. Tôi cho rằng khi ông A và bà B đã tự nguyện dùng TSC để thành lập doanh nghiệp tư nhân và đứng tên ông A, thì có nghĩa bà B đã chấp nhận chuyển sở hữu từ TSC sang tài sản riêng của ông A (bà B buộc phải biết hình thức sở hữu của Doanh nghiệp tư nhân là do một cá nhân làm chủ).
    Căn cứ vào Đ 235 BLDS năm 2005 thì lợi tức từ doanh nghiệp phải thuộc sở riêng của ông A.
    Các trách nhiệm tài sản phát sinh từ doanh nghiệp phải được bảo đảm bằng tài sản riêng của ông A nếu tài sản của doanh nghiệp không bảo đảm đủ nghĩa vụ

    • theo tôi, không thể hiểu đơn giản như sg2873 được. Rõ ràng hôn nhân gia đình quy định rằng tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. vợ chồng muốn chia tài sản riêng để kinh doanh riêng phải chia tài sản bằng văn bản. nếu có văn bản chia tài sản trước khi thành lập doanh nghiệp rồi thì các vấn đề đặt ra ở trên không có gì phải bàn. Nhưng nếu chưa có văn bản chia tài sản chung mà bảo bà vợ cũng phải chịu trách nhiệm trong trường hợp trên thì không phù hợp với luật hôn nhân và gia đình. tôi đồng ý với youkhanga rằng đây là một thực tế mà luật doanh nghiệp cần phải điều chỉnh để đảm bảo quyên lợi cho chủ nợ.

    • Xin Chào!
      Tôi là Luật sư khi độc tình huống này thấy hay hay!
      tôi xin đưa ra quan điểm của tôi như sau:
      thứ nhất: Khi thành lập doanh nghiệp, thì yêu cầu bắt buộc chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký vốn điều lệ.
      điều này có nghĩa là bà B phải đồng ý đưa một số tài sản chung của vợ chồng vào thành lập doanh nghiệp.
      Như vậy, khi phát sinh nghĩa vụ của doanh nghiệp thì bà B chỉ chịu thiệt hại từ khoản tiền đưa vào thành lập doanh nghiệp tư nhân.
      - số còn lại thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về phần tài sản của mình.
      - khi có lợi nhuận, lợi tức. Theo luật hôn nhân và gia đinh năm 2000 có quy định: lợi tức mà hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì là tài sản chung của vợ chồng.

  • theo như tình huống đưa ra thì 2 vợ chông ông A và bà B đã "quyết đinh" sử dụng tài sản chung của vợ chồng để lập DNTN. do vậy có thể nói đây là i\ý kiến của cả 2 người. và như thế thì tài sản của dn sẽ là tài sản chung của cả A và B. Theo đó lợi tức từ dn cũng sẽ thuộc về cả 2 vợ chồng. và tất nhiên trong truờng hợp đó thi khi phát sinh nghĩa vụ tài sản thì phải được bảo đảm bằng tài sản của dn và tài sản của AB chứ ko thể chỉ có tài sản của dn và ông a được. vì nếu như vậy thì sẽ xảy ra trường hợp ông A dưa lợi tức thu được từ hoạt động của dn về cho bà b và những tài sản đó bà b đứng tên sở hữu thì khi xảy ra tình trạng phá sản ai sẽ đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ.
    mặt khác ở đây việc ông bà cùng quyết định đưa tài sản chung để thành lập dntn thì chứng tỏ bà B đã biết về việc này. pháp lật quy định những tài sản phải dăng ký thuôcj sở hữu chung của vợ chồng thì phải đứng tên cả 2 người nhưng trên thực tế thì thường chỉ có một người đứng tên. ví dụ như khimua xe máy dù đó là tiền mua do 2 vợ chồng cùng kiém và đóng góp, họ cùng nghĩ là xe chung của vợ chồng nhưng khi đi dăng ký thì thường chỉ có tên một trong 2 mà thội. đó có thể là những sơ hở trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật mà vấn đề ko chỉ ở người dân mà còn ở cả những người làm công tác áp dụng pháp luật. chú/ cô sg2873 có thấy như thế ko ạ? quan điểm cháu thì cháu thấy như vậy xin đưa ra mọingười cùng trao đổi

  • Trước hết cần nêu rõ các điểm sau:
    Thứ 1
    - Doanh nghiệp tư nhân do 1 cá nhân làm chủ
    - Doanh nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
    - Chủ DNTN có toàn quyết định về DN và lợi nhuận của DN
    - Việc sử dụng lợi nhuận thế nào là toàn quyền của ông A (trong đó có sử dụng cho gđ....)
    Qua đó cho thấy DNTN là tài sản của một cá nhân và ko ai có quyền tham gia định đoạt - Tức là tài sản riêng nên lợi tức từ đó cũng thuộc về ông A và tài sản đảm bảo là DNTN và tài sản của ông A
    Thư 2
    - Việc thành lập DNTN là chia tài sản chung- cả hai đồng ý ( tách ra tài sản riêng và chia tài sản chung ko có nghĩa là cả hai người đều phải có tài sản) - ko lập thành văn bản vi phạm về hình thức
    - Giao dịch vi phạm về hình thức thì Đ 134 BLDS "...theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu...." nên xảy ra hai trường hợp
    + TH1 giao dịch đó vô hiệu DNTN thành lập là lỗi của cả ông A, bà B thì hai ông bà này sẽ phải bồi thường thiệt hại liên quan đến giao dịch của DNTN
    + TH2 giao dịch có hiệu lực khi bổ xung về hình thức thì mọi chuyện bình thường

    Đó là ý kiến của tôi
    còn về các chủ nợ thì ko có sự khác biệt vì đó là bản chất của DNTN. Chủ DNTN có toàn quyền quyết định về DN (cho gđ hay cho..... cũng vậy thôi)

    • tôi thì không nhất trí với việc do không lập thành văn bản mà có hướng giải quyết theo quy địh về giao dịch vo hiệu. Vì luật hôn nhân gia đình có khác biệt đối với bộ luật dân sự, đó là nguyên tắc suy đoán pháp lý. Theo đó khi chia tài sản chung thì hình thức văn bản là 1 quy định bắt buộc, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là nếu không có văn bản này thì xem xét có vô hiệu hay không, trong luật hôn nhân gia đình có nguyên tắc suy đoán pháp lý, do đó nếu không có văn bản và khi tranh chấp, bên cho rằng đó là tài sản riêng thì phải chứng minh, nếu không thể chứng minh thuyết phục thì suy đoán đó là tài sản chung, không thể giải quyết theo hướng giao dịch vô hiệu, vì vấn đề không có hình thức văn bản luật HNGD không hề " bỏ lửng " mà đã được nguyên tắc suy đoán pháp lý điều chỉnh.

  • Tôi cũng đồng ý với ý kiễn của chú/cô sg2873 : "Tôi cho rằng khi ông A và bà B đã tự nguyện dùng TSC để thành lập doanh nghiệp tư nhân và đứng tên ông A, thì có nghĩa bà B đã chấp nhận chuyển sở hữu từ TSC sang tài sản riêng của ông A (bà B buộc phải biết hình thức sở hữu của Doanh nghiệp tư nhân là do một cá nhân làm chủ)"

    Do đó tài sản DNTN là tài sản của ông A

    Lợi tức thu được từ DNTN thuộc sở hữu chung của A và B (vì đây là tài sản được vợ/chồng tạo lập trong thời gian hôn nhân)

    Về phần chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài sản thì tôi có ý kiến khác: Do ông A và bà B thống nhất dùng TSC để thành lập và cho DNTN hoạt động nên việc chịu trách nhiệm tài sản thì phải bằng tất cả tài sản riêng của ông A và cả phần TSC của hai vợ chồng.

    Tuy nhiên đây rõ ràng còn khúc mắc là làm sao xác định được phần nào là tài sản riêng, phần nào là tài sản chung nếu ông A và bà B có ý muốn "tẩu tán tài sản". Vì vậy theo tôi thì luật nên quy định rõ là trong những trường hợp như trên thì phải báo cáo rõ đâu là tài sản riêng của vợ/chồng.
    Còn nếu đặt vấn đề vợ chồng A và B thật sự muốn vì lợi ích mà xâm hại đến quyền lợi của chủ nợ thì đành pó tay thôi. Vì luật chỉ đưa ra những chuẩn mực ứng xử nhầm hài hòa lợi ích của mõi người và của cộng đồng, xã hội. Còn đối với những kẻ bất chấp hậu quả thì không thể nào luật có thể quy định triệt để được.

    Mong mọi người góp ý !

  • Vậy thử đặt câu hỏi, tài sản khi ông A đưa vào thành lập DNTN với chủ sở hữu là ông A có đương nhiên trở thành tài sản riêng của ông A hay không?

    Trong thực tiễn nhà do một người đứng tên nhưng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xem suy đoán là tài sản chung, trừ trường hợp người đứng tên chứng minh được nó được tạo lập từ tài sản riêng của mình do được thừa kế, tặng cho riêng hay có trước hôn nhân.

    Hay ví dụ trường hợp vợ chồng ông H cùng góp vốn vào một công ty TNHH khác và đứng tên thành viên góp vốn là Ông H, vậy khi ly hôn phần góp vốn của ông H vẫn đưa vào tài sản chung của vợ chồng để chia tài sản khi ly hôn.

    Không thể coi việc im lặng của bà B trong tình huống nêu trên thì suy đoán là bà B đồng ý chuyển tài sản chung thành tài sản riêng nó mâu thuẩn trong logic pháp lý với các tình huống ví dụ nêu trên và cũng đi ngược lại với văn hóa Việt Nam mà pháp luật không là cái gì khác ngoài việc nó đi từ cuộc sống và giá trị văn hóa.

    Pháp luật hôn nhân có quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nên chỉ xem là tài sản riêng của ông A khi nào ông A và bà B đã thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để ông A làm ăn riêng và ông A sử tài sản được chia này để thành lập DNTN của ông A.

  • Theo ý kiến của em,
    1. Tài sản của DNTN thuộc sở hữu của ông A. Vì theo luật DN thì DNTN do 1 cá nhân là chủ và chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ về tài sản của DN. Có thể xét việc dùng tài sản chung của hai vợ chồng để kinh doanh như việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (K1 Đ29 LHNGĐ). Và việc chia tài sản cần phải được lập thành văn bản.
    2. Như đã phân tích ở trên vì tài sản này thuộc sở hữu của ông A và là tài sản đã được chia trong thời kỳ hôn nhân nên hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này là tài sản riêng của ông A.
    Nhưng nếu xem lợi nhuận phát sinh của DN là thu nhập của ông A thì lợi nhuận này lại là tài sản chung (K1Đ27 LHNGĐ). Em lại thiên về hướng giải quyết này nhiều hơn. Vì nó vừa hợp tình vừa hợp lý.
    3. Khi phát sinh nghĩa vụ về tài sản thì các khối tài sản đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ là tài sản của doanh nghiệp, tài sản riêng của ông A và phần tài sản của ông A trong khối tài sản chung.
    Mong mọi người cùng cho ý kiến.

  • Mình thấy mọi người tranh luận về vấn đề này rất sôi nổi nên cũng muốn có vài ý kiến. Thiết nghĩ đây là một quan hệ được pháp luật điều chỉnh bởi vậy chúng ta nên căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, không thể đưa ra cách giải quyết theo cảm giác được.
    thứ nhất, nguồn vốn có được trước khi thành lập DN từ đâu(chung hay riêng) ta không bàn tới bởi lẽ theo quy đinh tại LDN 2005 thi DNTN là DN do một cá nhân làm chủ và chủ DN có toàn quyền quyết định mọi vấn đề của DN, là nguyên đơn, bị đơn trước tòa...người chịu trách nhiệm về hoạt động KD và về tài sản của DN là chủ DN do đó khi nguồn vốn được đầu tư vào DN là tài sản của DN sẽ thuộc sở hữu của chủ DN, vì thế trước đó nguồn vốn này từ đâu là một câu chuyện khác(quan hệ dân sự)
    và theo LDN thì lợi tức thu được từ hoạt động KD sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế thuộc toàn quyền định đoạt của chủ DN(k1, Đ143) do đó chủ DN có thể sử dụng cho gia đình thậm chí giao cho vợ.
    khi DN thua lỗ hoặc phá sản thì người chịu trách nhiệm đến cùng là chủ DN vấn đề này được quy đinh rất rõ tại khoản 1 Điều 141, vợ con không thể có liên quan đến trách nhiệm này.
    thư hai, vấn đề tài sản phát sinh trong thời kì hôn nhân là tài sản chung trừ... như các bạn có nêu ra. Theo tôi đây là quan hệ về hôn nhân và gia đình không ảnh hưởng đến quan hệ chúng ta đang xét. và như vậy sẽ giải quyết theo luật HN&GD. nếu hai vợ chồng có tiến hành chia tài sản chung trước khi thành lập DN và người chồng (vợ) sử dụng để thành lập DN thì không có gì bàn cãi mọi việc trong ngoài đều êm xuôi còn nếu không chia hoặc vợ(chồng ) có biết nhưng không im lặng hoặc đồng tình và không tiến hành bằng văn bản theo luật định thì sẽ có hai trường hợp như "doantpdl" đã nêu tuy nhiên nếu trong thời hạn do tòa án ấn định mà các bên không tiến hành hợp pháp hóa hình thức của việc chia tài sản chung thì điều này cũng không ảnh hưởng gì đến tài sản của DN cũng như hoạt động của DN mà vấn đề này sẽ do các bên giải quyết vì lỗi ở đây là của người đã thành lập DN bằng tài sản chung trong khi chưa tiến hành chia tài sản chung và đây là quan hệ giữa vợ và chồng không liên quan đến các quan hệ DN khác.
    Thiết nghĩ khi giải quyết vấn đề này ta phải bóc tách vấn đề ra một cách rõ ràng để giải quyết.
    Trên đây là ý kiến của tôi mong các bạn trao đổi thêm!

  • Mình muốn hỏi bạn Giã Quỳ, nhà của Ông A nhưng Ông B đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền SDĐ và quyền SHNO (nếu có cơ sở để chứng mình điều này) vậy nhà này của A hay cua B? Ai có quyền định đoạt ngôi nhà này? Đương nhiên, để giải quyết bạn phải xác định được ai là chủ sở hữu đích thực trước rồi mới đề cập đến các quyền của chủ sở hữu.

    Việc xác định ai là sở hữu tài sản của DNTN nó liên quan đến nhiều quan hệ pháp luật, chẳng hạn như trong trường hợp phá sản, ly hôn. Bạn Giả Quỳ cho rằng vì trong giấy CN DKKD thê hiện A là chủ sơ hữu, và vì LDN quy định về những quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp nêu suy ra A tài sản doanh nghiệp là tài sản riêng của A.

    Mình nghĩ vấn đề nên được nhìn nhận theo hai hướng quan hệ tài sản của DNTN đó với bên thứ ba và quan hệ giữa vợ chồng A, B đối với khối tài sản DNTN.