NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN TRONG PHẦN THỨ III NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ – BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

THS. CHẾ MỸ PHƯƠNG ĐĄI – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Bộ luật Dân sự (BLDS) đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/10/1995, được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 9/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996. Việc ban hành BLDS được dư luận rộng rãi trong nước và ngoài nước đánh giá là một bước ngoặt lớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Nhiều báo chí trong và ngoài nước đánh giá việc ban hành BLDS là một trong mười sự kiện lớn của nước ta trong năm 1995.

BLDS 1995 được kết cấu bởi Lời nói đầu và 7 Phần với 838 Điều. Phần “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” được quy định tập trung trong Phần thứ III của Bộ luật. Phần này có 5 Chương, 394 Điều (từ Điều 285 đến Điều 633). Ngoài ra liên quan đến vấn đề hợp đồng còn nằm rải rác ở các phần khác: Từ Điều 699 đến Điều 737 quy định về hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất; từ Điều 767 đến Điều 772 về hợp đồng sử dụng tác phẩm; từ Điều 809 đến Điều 825 quy định về hợp đồng chuyển giao công nghệ; từ Điều 130 đến 147 quy định về giao dịch dân sự. Phần “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” có số Điều luật lớn nhất trong BLDS, quy định những khái niệm, căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự, những quy định chung về hợp đồng dân sự và một số hợp đồng dân sự thông dụng trong đời sống thường ngày. Các quy định về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự đã góp phần vào việc bảo đảm an toàn pháp lý cho người dân khi tham gia vào các hợp đồng dân sự, hướng dẫn cách xử sự cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, tạo cơ sở pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, là căn cứ để Tòa án giải quyết các tranh chấp về hợp đồng, thúc đẩy giao lưu dân sự để đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của người dân.

Trong hệ thống pháp luật nước ta, sau Hiến pháp 1992, BLDS giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên qua gần 10 năm thực hiện, BLDS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định như: phạm vi áp dụng BLDS, nhiều quy định đã lạc hậu so với sự phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, nhiều quy định không rõ ràng, đầy đủ, nhiều Luật mới có mối liên hệ đến Luật Dân  sự đã được ban hành hoặc được sửa đổi, nhưng BLDS chưa kịp sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Vì vậy việc sửa đổi, bổ sung BLDS là cần thiết và cấp bách. Ngày 14/6/2005 Quốc hội khóa XI, kỳ hợp thứ 7 đã thông qua BLDS sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006.

BLDS năm 2005 được kết cấu bởi Lời nói đầu và 7 Phần với 777 Điều. So với BLDS 1995, số Điều luật trong BLDS 2005 đã giảm, nhưng Phần thứ III “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” vẫn chiếm 351 Điều. Những vấn đề về nghĩa vụ và hợp đồng chiếm một số lượng điều khoản rất lớn trong BLDS. Điều đó đã khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hợp đồng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường.

Do vị trí quan trọng của chế định hợp đồng trong BLDS nên việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chế định này đã được quan tâm đặc biệt với những quan điểm cơ bản sau đây:

– Quán triệt và kịp thời thể chế hóa các chủ trương phát triển kinh tế xã hội trong cương lĩnh phát triển kinh tế xã hội và các Nghị quyết của Đảng;

– Việc sửa đổi, bổ sung chế định nghĩa vụ và hợp đồng phải phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và đáp ứng yêu cầu trong quá trình hội nhập quốc tế;

– Hạn chế sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào các quan hệ hợp đồng; tôn trọng và phát huy sự thỏa thuận, tự quyết định của các chủ thể; thủ tục đơn giản, dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo các quyền và các lợi ích hợp pháp của các chủ thể;

– Chế định hợp đồng dân sự trong BLDS là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng.

Từ những quan điểm cơ bản này, trong BLDS 2005, Phần “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự” có một số điểm mới so với BLDS 1995 như sau:

1. Phạm vi áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự

Những quy định có tính chất chung của pháp luật hiện hành về hợp đồng được quy định trong 3 văn bản pháp luật: BLDS 1995, Luật Thương mại 1997 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không hệ thống, tạo ra không ít khó khăn khi áp dụng.

Từ thực tế trên, phạm vi áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS 2005 đã được mở rộng, áp dụng chung cho các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại một cách tuyệt đối như hiện nay. Vì vậy cùng với việc ban hành BLDS 2005 và Luật Thương mại 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006), Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc thi hành BLDS, trong Nghị quyết đã tuyên bố Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 và về cơ bản đã đưa các quy định chung về hợp đồng ra khỏi Luật Thương mại 2005.

2. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ ba điều kiện sau đây:

– Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

– Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

– Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

2.1 Bảo vệ quyền tự do hợp đồng là định hướng quan trọng nhất trong việc sửa đổi các quy định về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Trong BLDS 1995, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đã được ghi nhận, tuy nhiên trong một số quy định cụ thể nguyên tắc này chưa được thể hiện rõ. Để bảo vệ trật tự xã hội, Nhà nước vẫn cần can thiệp vào quan hệ hợp đồng nhưng cần hạn chế. Điều 131 BLDS 1995 quy định “mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật” đã được BLDS 2005 sửa đổi thành “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Như vậy quyền tự do hợp đồng của cá nhân, tổ chức được mở rộng miễn là không vi phạm điều mà pháp luật cấm.

2.2 Điều 128 BLDS 2005 đã giải thích khái niệm đạo đức xã hội

“Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Đây là sự giải thích chính thức, rất cần thiết để tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được nhất quán.

2.3 Nhà nước tôn trọng các hợp đồng hợp pháp của cá nhân, tổ chức và tạo điều kiện về mặt thủ tục để các hợp đồng được giao kết và thực hiện thuận lợi, dễ dàng, thủ tục đơn giản

Quan điểm hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, tôn trọng sự thỏa thuận, tự quyết định được thể hiện rất rõ nét trong việc quy định về hình thức của hợp đồng. Quy định tại khoản 2 Điều 122: “hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” và khoản 2 Điều 401: “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” và chuyển thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm về hình thức là “vô thời hạn” (khoản 2 Điều 145 BLDS 1995) thành “2 năm” (khoản 1 Điều 136 BLDS 2005) là một bước tiến đáng kể. Quy định này đã đề cao nguyên tắc tự thỏa thuận, tự cam kết và các cam kết, thỏa thuận này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên, không phụ thuộc vào hình thức của việc thể hiện ý chí, tránh việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong mọi trường hợp do vi phạm hình thức tạo ra “kẽ hở” về mặt pháp lý để một bên trong hợp đồng có thể lợi dụng để thu lợi cho mình gây thiệt hại đến quyền và lợi ích chính đáng của bên kia.

3. Giao kết hợp đồng dân sự

Trình tự giao kết hợp đồng dân sự, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được sửa đổi, bổ sung thêm nhiều quy định mới:

– Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 391 BLDS).

– Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính kể từ khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Ngoài ra tương ứng với mỗi loại hình thức của hợp đồng do các bên lựa chọn, BLDS xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Quy định này góp phần bảo đảm quyền tự do thỏa thuận giao kết hợp đồng của các bên. Tuy nhiên, việc lựa chọn này bị loại trừ trong trường hợp pháp luật quy định một hình thức cụ thể, bắt buộc áp dụng cho hợp đồng đó (Điều 404, Điều 405);

– BLDS bổ sung một số quy định về việc thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, quy định hậu quả pháp lý trong các trường hợp bên đề nghị hoặc bên được đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự trong quá trình giao kết hợp đồng (Điều 392, Điều 400).

4. Thời hiệu trong hợp đồng dân sự

Sự ổn định trong các quan hệ dân sự là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự. Chế định thời hiệu góp phần thực hiện mục đích đó. Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự luôn bị “đe dọa” bởi tranh chấp có thể xảy ra bất cứ lúc nào, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và cuộc sống của họ. Chế định thời hiệu khuyến khích các bên tích cực, chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Về mặt tố tụng, chế định thời hiệu tạo điều kiện bảo toàn chứng cứ để xác định sự thật trong các tranh chấp dân sự.

4.1 So với BLDS 1995, thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định trong BLDS 2005 có nhiều sửa đổi

Thời hiệu khởi kiện 2 năm, kể từ ngày giao dịch được xác lập áp dụng cho các trường hợp:

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;

– Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức;

Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu không bị hạn chế.

4.2 Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự

Điều 427 BLDS quy định về thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm (BLDS không quy định về thời hiệu này). Đây là thời hiệu áp dụng cho những hợp đồng có hiệu lực nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ. Các chủ thể chỉ được khởi kiện trong thời hạn do luật định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

5. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Với quan điểm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, tự do cam kết, thỏa thuận của các bên, nhưng không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, kết hợp với nguyên tắc tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng nên quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sửa đổi nhiều nhất trong pháp luật về nghĩa vụ và hợp đồng.

5.1 Cầm cố và thế chấp tài sản

Một trong những thay đổi cơ bản các quy định về cầm cố và thế chấp đó là việc phân biệt cầm cố và thế chấp tài sản căn cứ vào một tiêu chí. Trong trường hợp cầm cố, bên cầm cố phải đưa tài sản cho bên nhận cầm cố giữ. Trong trường hợp thế chấp, bên thế chấp được giữ tài sản thế chấp. Hai biện pháp bảo đảm là cầm cố và thế chấp đã được phân biệt theo tiêu chí ai là người giữ tài sản. Quy định này nhằm tránh các khó khăn khi phân biệt cầm cố (đối tượng là động sản), thế chấp (đối tượng là bất động sản) theo quy định tại BLDS 1995, đơn giản hóa các quy định về cầm cố, thế chấp. Sự thay đổi này dẫn đến việc sửa đổi, hủy bỏ một số quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong những quan hệ này.

5.2 Tài sản trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Quy định tại Điều 326 BLDS 1995 trên thực tế đã dẫn đến những khó khăn cho các chủ thể khi thiết lập các giao dịch bảo đảm, “vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm và được giao dịch”. Quy định như vậy dẫn đến tình trạng nhiều tài sản sẽ không được dùng vào việc bảo đảm cho các nghĩa vụ dân sự vì không phải là vật hiện có thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và pháp luật trong lĩnh vực Ngân hàng đã có những quy định việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ.

Vì vậy Điều 320 BLDS 2005, ngoài quy định vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch, còn cho phép “vật dùng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn là vật được hình thành trong tương lai”. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

5.3 Các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, một tài sản dùng để thực hiện nhiều nghĩa

vụ dân sự, thứ tự ưu tiên thanh toán, phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tuy đã được quy định trong BLDS 1995 và các văn bản dưới luật (Nghị định 65/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm) nhưng chưa thật đầy đủ và cụ thể, có nhiều hạn chế. BLDS 2005 mở rộng phạm vi bảo đảm, xác định rõ thứ tự ưu tiên thanh toán trong từng trường hợp cụ thể nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính, nâng cao năng lực tự chịu trách nhiệm của các bên.

5.4 Phạt vi phạm

Điều 318 BLDS 2005 không quy định phạt vi phạm là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như tại Điều 324 BLDS 1995. Việc loại bỏ phạt vi phạm ra khỏi các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà xác định phạt vi phạm như một chế tài được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng (Điều 422 BLDS 2005) là hoàn toàn phù hợp với lý luận về hợp đồng dân sự và trách nhiệm dân sự.

Thực tế cho thấy với mức phạt vi phạm như tại Điều 378 BLDS 1995 “mức cao nhất không quá 5%” đã hạn chế sự chủ động của các chủ thể khi áp dụng biện pháp này. Từ đó khoản 2 Điều 422 BLDS 2005 quy định “mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận”. Như vậy các bên hoàn toàn tự do căn cứ vào chính hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của hợp đồng để quyết định mức phạt.

6. Hợp đồng dân sự thông dụng

6.1 Hợp đồng mua bán tài sản

– Điều 432 BLDS 1995 quy định “quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm bên mua nhận được tài sản, nếu không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác”; Điều 439 BLDS 2005 quy định “quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác. BLDS 2005 cũng bổ sung quy định trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.

– Về hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở: Thực tiễn cho thấy trong thời gian qua, các tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở ngày càng tăng, số lượng hợp đồng mà Tòa án tuyên bố vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Do giá nhà tăng cao nên bên bán lợi dụng vào tình hình hợp đồng mua bán nhà bằng “giấy tay” để trì hoãn việc hoàn tất thủ tục về hình thức của hợp đồng và khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Để khắc phục tình trạng này, Điều 450 BLDS 2005 quy định “hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

6.2 Hợp đồng vay tài sản

– Điều 476 BLDS 2005 đã thay đổi quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng” (Điều 473 BLDS 1995 quy định không được vượt quá 50%) và để phù hợp với hệ thống văn bản pháp luật Ngân hàng nên quy định “lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định” được sửa đổi thành “lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”.

– Về vấn đề hụi, họ, biêu, phường được quy định tại Điều 479 BLDS 2005. Đây là một vấn đề mới được bổ sung vào BLDS 2005 nhằm điều chỉnh các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống dân sự mà lâu nay Tòa án không có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp. Hình thức họ được quy định trong BLDS chỉ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân nên nghiêm cấm việc tổ chức họ với hình thức cho vay nặng lãi.

6.3 Hợp đồng thuê nhà ở

– Phù hợp với việc sửa đổi hình thức hợp đồng dân sự, Điều 492 BLDS 2005 quy định về hình thức của hợp đồng thuê nhà ở như sau: “hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ 06 tháng trở lên thì phải có công chứng, hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

– Trên cơ sở nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, BLDS 2005 xóa bỏ một số “đặc quyền” của bên thuê tồn tại trong một thời gian dài: quyền lưu cư (Điều 499 BLDS 1995), quyền ưu tiên mua nhà đang thuê khi bên cho thuê bán nhà (Điều 446 BLDS 1995), quyền ưu tiên ký hợp đồng thuê tiếp, nếu hết thời hạn thuê mà nhà vẫn dùng để cho thuê (khoản 5 Điều 494 BLDS 1995).

7. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

7.1 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BLDS 1995 không quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Từ đó, dẫn đến tình trạng thiệt hại đã xảy ra từ lâu mà người thiệt hại vẫn yêu cầu bồi thường thiệt hại, làm cho việc thu thập chứng cứ khó khăn, kéo dài sự tranh chấp, không ổn định các quan hệ có liên quan. Do vậy, Điều 607 BLDS 2005 quy định như sau: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm”.

7.2 Cụ thể hóa bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần

Các quy định để tính tổn thất về tinh thần khi sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm tại các Điều 613, 614 và 615 BLDS 1995 không rõ ràng nên việc áp dụng gặp khó khăn và thiếu sự thống nhất. Mãi đến ngày 28/4/2004, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mới có Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn. Các quy định về bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần trong Nghị quyết được pháp điển hóa trong BLDS 2005.

Cụ thể như sau:

– Trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định;

– Trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định;

– Trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định;

7.3 Bổ sung thêm một số trường hợp phát sinh tránh nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

– Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể (Điều 628);

– Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả (Điều 629).

Những bổ sung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp này rất phù hợp và cần thiết với thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội, góp phần bảo vệ những giá trị truyền thống, đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn xét xử.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MANG THAI HỘ

TRẦN THỊ HƯƠNG – Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Mang thai hộ là trường hợp sau khi thụ thai trong ống nghiệm, nếu người mẹ vì lý do sức khỏe hay vì điều kiện nào đó không thể mang thai, phải nhờ đến người phụ nữ khác mang thai và sinh đẻ. Vậy, về mặt pháp lý thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ trong lý luận cũng như trong các văn bản pháp luật hiện hành. Bài viết này bàn về một số vấn đề liên quan nảy sinh trong quan hệ mang thai hộ dưới phương diện pháp lý.

Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ:

Từ lâu, một trong những yếu tố để xác định cha mẹ con là huyết thống. Thành ngữ “cha sinh, mẹ đẻ” hoặc: “mang nặng, đẻ đau”… đã hình thành nên tư duy của con người khi nói đến quan hệ cha – mẹ – con. Người đàn bà sinh ra đứa trẻ nghiễm nhiên là mẹ của đứa trẻ. Hiện tượng tự nhiên này tồn tại trong ý niệm xã hội – đạo đức của con người và được khẳng định về mặt luật pháp. Song, hiện tượng mang thai hộ là mới mẻ, hoàn toàn không nằm trong khuôn mẫu tập quán, tình cảm, đạo đức truyền thống: người đàn bà không mang thai, không sinh đẻ vẫn có thể là mẹ do đứa trẻ được thụ tinh hình thành bằng chính trứng của mình, còn người phụ nữ mang thai, sinh đẻ thì không phải là mẹ. Người mang thai, sinh đẻ chỉ là người làm công việc trợ giúp theo thỏa thuận, có hoặc không có thù lao bồi hoàn.

Theo Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000 thì khái niệm gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Khái niệm “gia đình” không đồng nhất với “hộ gia đình” trong các ngành luật hành chính, đất đai… Khái niệm này tồn tại hầu hết trong pháp luật về gia đình các quốc gia trên thế giới.

Quan hệ huyết thống không chỉ là cơ sở để xác định cha mẹ con mà còn là cơ sở xác định nguồn gốc, dòng họ, gia phả với những giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức và truyền thống của dòng họ. Trường hợp con sinh ra do bởi người mang thai hộ thì khái niệm huyết thống được hiểu theo nhiều hướng khác nhau.

Thứ nhất: quan hệ huyết thống mẹ – con trong trường hợp này là quan hệ giữa đứa con sinh ra và người phụ nữ có trứng thụ tinh. Tức người nào chủ sở hữu trứng thì đó là mẹ của đứa trẻ. Người phụ nữ này đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân với bố đứa trẻ được sinh ra.

Thứ hai: người phụ nữ nào trong cơ thể của mình phát triển hài nhi và sinh ra đứa trẻ thì đó là mẹ. Không thể gọi là mẹ của cái trứng đã được thụ tinh mà chỉ có thể là chủ sở hữu cái trứng đã thụ tinh vì giữa cái trứng đã thụ tinh và đứa trẻ là hoàn toàn khác nhau. Còn mẹ của một đứa trẻ với tư cách là một con người thực thụ, với tư cách là chủ thể pháp luật dưới ý nghĩa pháp lý cũng như ý nghĩa sinh học, chính là người phụ nữ sinh ra (tạo ra, cho ra đời) đứa bé(1 ).

Thứ ba: nên có khái niệm pháp lý “người mẹ thứ hai” (mẹ thế). Có nghĩa là bên cạnh một “người mẹ thứ nhất” (người mẹ mà đứa trẻ mang gien di truyền), còn tồn tại một “người mẹ thứ hai” tức người mang thai hộ. Đây là quan điểm dung hòa của hai quan điểm trên, không phủ nhận vai trò của người phụ nữ mang thai và sinh ra đứa trẻ, và cần thiết phải thiết lập một số quyền và nghĩa vụ nhất định giữa “người mẹ” này và đứa trẻ.

Theo chúng tôi, nếu đồng ý với quan điểm thứ hai, vô tình chúng ta đánh mất ý nghĩa, mục đích của thụ thai nhân tạo dưới hình thức mang thai hộ, tức là tước quyền làm mẹ của người phụ nữ không có khả năng mang thai.

Mặt khác, dưới phương diện sinh học thì trong trường hợp mang thai hộ, đứa bé ra đời từ mang thai hộ mang gien di truyền của người phụ nữ có trứng thụ tinh chứ không phải của người mang thai. Nếu hiểu khái niệm huyết thống đồng nhất với khái niệm gien di truyền (ADN) thì quan hệ huyết thống là quan hệ giữa người phụ nữ có trứng và đứa trẻ. Mang thai hộ có thể đồng nhất khái niệm “chăm sóc” tạo điều kiện cho thai phát triển nhưng là sự chăm sóc đặc biệt không bằng tay chân mà bằng chính cơ thể của mình. Nếu chúng ta chấp nhận việc nuôi trẻ bằng sữa của người phụ nữ khác khi người mẹ của đứa trẻ không có khả năng nuôi con bằng sữa của chính mình thì chúng ta cũng nên chấp nhận việc mang thai hộ. Hai hiện tượng này gần như đồng nhất với nhau, chỉ khác ở thời điểm là trước và sau khi sinh.

Ngoài ra, cần thiết phải xem xét đến yếu tố khởi điểm và mục đích của việc mang thai hộ. Khi người phụ nữ có trứng tham gia vào quan hệ mang thai hộ với mục đích mong muốn được làm mẹ, còn người phụ nữ mang thai chỉ với mục đích “hộ”, “giùm”, giúp đỡ, tất nhiên có hoặc không có bồi hoàn mà không với mục đích làm mẹ.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng: dưới phương diện pháp lý, người phụ nữ có trứng đã thụ tinh đang trong trong tình trạng có quan hệ hôn nhân với bố đứa trẻ, là người mẹ hợp pháp của đứa trẻ sinh ra trong trường hợp mang thai hộ, nếu giữa họ không có thỏa thuận khác. Theo tinh thần của Đ. 63 Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày 09/6/2000, việc xác định cha mẹ con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ qui định. Song cho đến thời điểm hiện nay cũng chưa có một văn bản hướng dẫn chi tiết vấn đề này. Trong văn bản hướng dẫn này, thiết nghĩ, nên qui định như sau “Trường hợp hai vợ chồng thỏa thuận người phụ nữ khác mang thai hộ thì khi đăng ký khai sinh cho trẻ sẽ xác định cặp vợ chồng đó là cha mẹ của đứa trẻ”.

Tuy nhiên, đối với những đứa trẻ ra đời bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo phải được quyền biết sự thực về nguồn gốc của mình, đặc biệt trong trường hợp mang thai hộ, bởi đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Vì vậy, đối với trẻ sinh ra từ mang thai hộ cần phải có một mẫu giấy khai sinh riêng trong đó phải ghi rõ họ tên người mang thai hộ. Song, việc ghi tên người mang thai hộ vào giấy khai sinh không đồng nghĩa với việc công nhận người mang thai hộ là mẹ của đứa trẻ, điều này có nghĩa là tất cả những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ con như quyền mang họ, quyền thừa kế, nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện hợp pháp và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người thứ ba… giữa đứa trẻ và người mang thai hộ không phát sinh theo qui định pháp luật.

Dù sao, dưới phương diện đạo đức truyền thống, đứa trẻ ra đời không hoàn toàn từ một thỏa thuận sòng phẳng, ngang giá, mọi quan hệ đều chấm dứt sau khi thanh lý hợp đồng, giữa người mang thai hộ và đứa trẻ luôn tồn tại những tình cảm nhất định, vì vậy không nên phủ nhận hoàn toàn vai trò của người mang thai hộ dưới phương diện đạo đức.

Mặt khác, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Những trường hợp cấm kết hôn” cũng cần thiết qui định cụ thể khái niệm “người cùng dòng máu trực hệ”, “người có họ trong phạm vi ba đời”. Trường hợp kết hôn giữa hai người do cùng một người phụ nữ sinh ra, trong đó, một người là từ mang thai hộ và một người là con của người mang thai hộ có nằm trong phạm vi những trường hợp cấm kết hôn hay không. Theo chúng tôi, dưới phương diện khoa học, có thể sẽ không có hậu quả gì do hai người dù được sinh ra bởi một người phụ nữ nhưng mang hai gien di truyền khác nhau, tuy nhiên dưới phương diện đạo đức là khó có thể chấp nhận được. Trường hợp này cũng tương tự như trường hợp cấm kết hôn qui định trong K. 4, Đ.1: giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, bố dượng với con riêng của vợ…

Bản chất pháp lý của thỏa thuận mang thai hộ

Theo chúng tôi, việc mang thai hộ là một thỏa thuận dân sự hình thành trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí và bình đẳng vì vậy pháp luật cần thiết công nhận và bảo vệ sự thỏa thuận này. Thỏa thuận mang thai hộ được xác lập giữa bố mẹ đứa trẻ và người mang thai hộ, đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Vì vậy, những vấn đề pháp lý liên quan đến thỏa thuận này phải được qui định cụ thể. Thiết nghĩ, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và cần thiết phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước, cơ quan hộ tịch, bởi nó là cơ sở pháp lý duy nhất làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó có quyền của người nhờ mang thai hộ được mặc nhiên công nhận là bố mẹ của đứa trẻ khi đăng ký khai sinh và các giấy tờ hộ tịch khác, tránh những tranh chấp không cần thiết. Ví dụ trong trường hợp sau khi sinh người mang thai hộ từ chối việc giao đứa trẻ, hoặc trường hợp bên nhờ mang thai từ chối nhận đứa trẻ.

Mặt khác, pháp luật cũng cần thiết qui định cụ thể các điều kiện của bố mẹ (bên nhờ mang thai) và người mang thai hộ. Ví dụ đối với người mẹ đứa trẻ chỉ có thể yêu cầu người khác mang thai hộ trong trường hợp vì lý do sức khỏe không có khả năng mang thai và phải có kết luận chính thức của các cơ quan y tế. Qui định này sẽ loại bỏ quan điểm lệch lạc “có tiền mua tiên cũng được” lạm dụng việc mang thai hộ đi ngược lại các giá trị đạo đức truyền thống. Đối với người mang thai hộ cần thiết phải là người hội đủ điều kiện về độ tuổi, sức khỏe theo kết luận của cơ quan y tế, phải có sự đồng ý của người chồng trong trường hợp người này trong tình trạng hôn nhân; số lần mang thai hộ tối đa để bảo vệ sức khỏe và không biến người mang thai hộ thành những máy đẻ, hay một nghề kiếm sống.

Một vấn đề khác cần thiết phải giải quyết là hình thức chế tài đối với các bên trong giao dịch này khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Xuất phát từ tính đặc thù của giao dịch, đối tượng của giao dịch không phải là một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà là một con người.

Vì vậy bên nhờ mang thai hộ không thể đặt ra các điều kiện về “chất lượng” như điều kiện về giới tính (đứa trẻ phải là trai hay gái), về trọng lượng, màu da, cũng như các điều kiện khác về tình trạng sức khỏe. Trong trường hợp bên mang thai hộ không thực hiện được các điều kiện trên không phải là lý do để bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con và thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không thực hiện nghĩa vụ tài chính thì bên mang thai hộ có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình chứ không thể đơn thuần là không giao đứa trẻ.

Mang thai hộ là một thành tựu khoa học trong lĩnh vực y học đã và đang là mối quan tâm của nhiều người trong xã hội. Song để hiện tượng này phát triển đúng hướng, đúng ý nghĩa xã hội, thì pháp luật cần phải điều chỉnh quan hệ này một cách kịp thời, cụ thể, tránh hiện tượng lạm dụng đi ngược lại bản chất xã hội của mang thai hộ và quan trọng nhất là tránh những tranh chấp có thể phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ này.

(1) Báo Pháp luật TP HCM ngày 13-2-2001.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2001

HƯỚNG DẪN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

UBND TP Hồ Chí Minh vừa có văn bản hướng dẫn (số 4360/UB-PC do Phó chủ tịch Nguyễn Văn Đua ký) về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai theo Luật Đất đai 2003 trong khi chờ nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật (CÁC BẠN CÓ THỂ VẬN DỤNG TƯƠNG TỰ VÀO CÁC TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ Ở ĐỊA PHƯƠNG NGOÀI TPHCM- Civillawinfor).

Theo đó:

– Trình tự, thủ tục xin giải quyết tranh chấp đất đai:

Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không ban hành quyết định giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất đai nhưng có trách nhiệm tổ chức hòa giải các bên đạt được thỏa thuận. Thời hạn hòa giải không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn (không kể thời gian đo, vẽ, trưng cầu giám định và ngày nghỉ).

Trong trường hợp kết quả hòa giải thành có sự thay đổi về diện tích đất, ranh đất và người sử dụng khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND phường, xã, thị trấn gửi biên bản hòa giải đến Phòng Quản lý đô thị quận, huyện đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau. Các trường hợp khác gửi cho Phòng Quản lý đô thị quận, huyện để nơi đây gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường. Các cơ quan này sẽ chỉnh lý hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới.

Chủ tịch UBND quận, huyện giải quyết lần đầu đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, giữa tổ chức (kể cả các doanh nghiệp)… khi chủ tịch UBND phường, xã hòa giải không thành. Chủ tịch UBND TP giải quyết tranh chấp cuối cùng trong trường hợp các bên tranh chấp có đơn không đồng ý với quyết định giải quyết của chủ tịch UBND quận, huyện (đơn này đương sự phải nộp tại Sở Tài nguyên và Môi trường trong thời hiệu 30 ngày kể từ ngày có quyết định lần đầu). Khi không đồng ý với quyết định của UBND TP, đương sự có quyền gửi đơn đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong thời hạn 45 ngày.

Chủ tịch UBND TP giải quyết tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau… Đơn tranh chấp do Sở Tài nguyên và Môi trường thụ lý, tham mưu trình UBND TP. Thời hạn giải quyết tranh chấp là 70 ngày.

– Thẩm quyền giải quyết khiếu nại:

Chủ tịch UBND quận, huyện giải quyết khiếu nại đối với đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của chủ tịch UBND quận, huyện và cán bộ công chức thuộc quyền về quản lý đất đai do quận, huyện quản lý.

Giám đốc sở giải quyết đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của giám đốc sở và của cán bộ, công chức do mình quản lý.

Đối với khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc sở đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại thì giao cho chánh thanh tra sở tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị giám đốc sở xem xét giải quyết.

Chủ tịch UBND TP ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai của chủ tịch UBND quận, huyện hoặc giám đốc sở đồng thời giải quyết lần đầu đối với khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai thuộc thẩm quyền quản lý của chủ tịch UBND TP. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết của chủ tịch UBND TP thì có quyền khởi kiện tại TAND thành phố. Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tham mưu, đề xuất chủ tịch UBND TP xem xét, giải quyết các khiếu nại nêu trên.

– Đối với đơn, hồ sơ tranh chấp trước 1/7/2004:

Đối với đơn, hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch UBND quận, huyện: Nếu nơi đây chưa ban hành quyết định giải quyết tranh chấp thì tiếp tục thụ lý, giải quyết theo quy định nêu trên. Trường hợp đã giải quyết tranh chấp nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại thì điều chỉnh lại thời hiệu và hướng dẫn đương sự gửi đơn theo trình tự nêu trên.

Đối với đơn, hồ sơ do Sở Tài nguyên và Môi trường đang thụ lý mà UBND TP đã ban hành quyết định giải quyết tranh chấp thì sở báo cáo, đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp.

SOURCE:THANHNIEN.COM.VN

SỬA ĐỔI LUẬT QUỐC TỊCH: THỪA NHẬN HAI QUỐC TỊCH CŨNG RỐI!

Nhiều Việt kiều hiện có tới hai quốc tịch. Xu hướng “một quốc tịch mềm dẻo” xem chừng được nhiều chuyên gia pháp lý ủng hộ. Ngày 29-1, Ban soạn thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch năm 1998 đã họp phiên đầu tiên bàn về những vấn đề cơ bản khi xây dựng luật này. Một trong những vấn đề được tranh luận nhiều nhất là Việt Nam có công nhận

Đa số kiều bào đã nhập quốc tịch nước sở tại nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam

Địa vị pháp lý của Việt kiều không rõ ràng

Ông Trần Thất, Vụ trưởng Vụ Hành chính tư pháp (Bộ Tư pháp) dẫn chứng một tình huống khó xử: “Một công dân Việt Nam sang Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ, sau đó về nước kết hôn với một công dân Việt Nam.

Trong trường hợp này, nếu ghi người đó mang quốc Mỹ thì vô hình trung Việt Nam đã từ bỏ “chủ quyền” của mình. Còn ghi quốc tịch Việt Nam thì phía Mỹ không cho họ xuất cảnh quay trở lại Mỹ”. Đây chỉ là một trong vô vàn tình huống rắc rối thể hiện những bất cập, vướng mắc của Luật Quốc tịch hiện hành.

Theo các chuyên gia, vấn đề nổi cộm và vướng nhất là việc Điều 3 Luật Quốc tịch năm 1998 quy định: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”.

Do chúng ta không đưa ra bất kỳ một biện pháp nào nhằm bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch như yêu cầu công dân Việt Nam phải thôi hoặc mất quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước ngoài, người trở lại quốc tịch Việt Nam phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài… nên quy định tại Điều 3 hoàn toàn chỉ mang tính hình thức.

Việc công dân ta xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài không phải do pháp luật Việt Nam yêu cầu mà do pháp luật nước ngoài yêu cầu. Về mặt hình thức, công dân Việt Nam vẫn còn giữ được quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước ngoài cũng là do pháp luật nước ngoài không bắt buộc người đó phải từ bỏ quốc tịch gốc.

Trên thực tế trong gần ba triệu kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài, phần đông đều đã nhập quốc tịch nước sở tại nơi họ đang sinh sống nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam. Về mặt pháp lý, những người này vẫn được xem là còn quốc tịch Việt Nam. Nhưng trên thực tế, địa vị pháp lý của những kiều bào này lại không rõ ràng và không có điều kiện thực hiện các quyền, nghĩa vụ của một công dân Việt Nam.

Chính sách một quốc tịch “mềm dẻo”: Nên chăng?

Các chuyên gia nhận định cần có một chế định mới mềm dẻo để pháp lý hóa thực tế tồn tại tình trạng hai quốc tịch đối với số đồng bào đang định cư ở nước ngoài. Một số ý kiến đề xuất nên bỏ Điều 3 Luật Quốc tịch hiện hành.

Ông Ngọc Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Công an) khẳng định Việt Nam vẫn cần kế thừa nguyên tắc một quốc tịch nhưng sẽ giải quyết một số trường hợp để bảo đảm quyền lợi cho những người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài. Đại diện Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài cho rằng trong trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài gia nhập quốc tịch nước ngoài, nếu nước cho nhập quốc tịch không bắt họ từ bỏ quốc tịch Việt Nam thì nhà nước nên thừa nhận người này có hai quốc tịch.

Trường hợp nước cho nhập quốc tịch bắt buộc kiều bào từ bỏ quốc tịch gốc thì kiều bào có quyền cân nhắc, lựa chọn.

Ông Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp lưu ý tới những rắc rối phát sinh do xung đột quốc tịch nếu thừa nhận tình trạng hai quốc tịch. “Cần quy định rõ trường hợp nào phải dùng quốc tịch Việt Nam, trường hợp nào dùng quốc tịch nước ngoài, trường hợp nào được quyền lựa chọn quốc tịch” – ông Liên nói.

Trong chín năm thực hiện Luật Quốc tịch năm 1998, Việt Nam đã giải quyết hơn 61.000 trường hợp thôi quốc tịch Việt Nam, 231 trường hợp nhập quốc tịch Việt Nam, 51 trường hợp trở lại quốc tịch Việt Nam. Hồ sơ phải chuyển qua nhiều khâu: thụ lý, xác minh, chuyển đến Bộ Ngoại giao, chuyển đến Bộ Tư pháp, trình Văn phòng Chủ tịch nước.

Tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, hồ sơ được tập hợp và gom lại theo từng đợt mới được chuyển về nước nên nhiều khi chậm trễ, thời gian giải quyết bị kéo dài, thậm chí có trường hợp bị thất lạc.

Các chuyên gia đề xuất cần xây dựng cơ chế để Chủ tịch nước ủy quyền cho Chính phủ thực hiện việc cho thôi, nhập, tước quốc tịch. Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Chính phủ để ký quyết định hoặc ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định việc cho thôi quốc tịch.

Riêng thẩm quyền quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể quy định cho Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

SOURCE: Theo ĐỨC MINH (Pháp luật TPHCM Online)

 

TỜ TRÌNH VỀ DỰ ÁN LUẬT TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN

 

        CHÍNH PHỦ

           ********

      Số: 73/TTr-CP

                   CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                         *****************

                                            Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2007

 

TỜ TRÌNH

VỀ DỰ ÁN LUẬT TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN

____________

Kính gửi: Quốc hội

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá XI về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XI (2002-2007), Chính phủ đã tiến hành tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện trưng mua, trưng dụng tài sản trên phạm vi cả nước; nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài; xây dựng Dự án Luật; tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức có liên quan; trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XII thảo luận, cho ý kiến tại phiên họp thứ 2. Tiếp thu ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã phối hợp với các cơ quan liên quan của Quốc hội hoàn thiện dự án Luật.

Chính phủ xin trình Quốc hội về Dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG LUẬT TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN

1. Tình hình trưng mua, trưng dụng tài sản ở Việt Nam

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những yêu cầu đặt ra là phải đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu về nhân lực, vật lực trong trường hợp xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, tai nạn và các tình huống cấp thiết khác đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và tính mạng, sức khoẻ của nhân dân, tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Trong những trường hợp đó, các quốc gia đều cho phép thực hiện trưng thu, trưng mua, trưng dụng tài sản của các tổ chức, cá nhân.

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, tại các Sắc lệnh số 9 ngày 6/9/1945 và Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã quy định: Trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam, các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền: Trưng dụng bất động sản; trưng thu hoặc trưng dụng động sản.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, trong từng thời kỳ Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện chính sách trưng mua, trưng dụng tài sản:

a) Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ: Việc trưng mua, trưng dụng chủ yếu là huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến. Với lòng yêu nước thiết tha, nhân dân đã hưởng ứng các biện pháp huy động của Nhà nước, trong đó đại bộ phận là quyên góp, ủng hộ Nhà nước; chỉ một số ít là trưng mua, trưng dụng. Khuôn khổ pháp lý để thực hiện trưng mua, trưng dụng trong thời kỳ này là Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà… Theo quy định tại các văn bản này, thì trong trường hợp cấp thiết, Nhà nước thực hiện trưng thu, trưng mua, trưng dụng tài sản là bất động sản, động sản của các tổ chức, cá nhân. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng được thanh toán tiền trưng mua hoặc tiền bồi thường tài sản trưng dụng. Tiền trưng mua hoặc tiền bồi thường được trả bằng tiền hoặc hiện vật. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng phải chấp hành quyết định của cấp có thẩm quyền.

Sau khi kháng chiến thắng lợi, Nhà nước đã thực hiện thanh toán các khoản trưng mua, trưng dụng. Đến nay, việc thanh toán đã hoàn tất chỉ trừ một số ít trường hợp chưa có đủ căn cứ xác định việc trưng mua, trưng dụng để làm cơ sở thanh toán.

b) Thời kỳ từ năm 1975 đến nay: Đây là giai đoạn hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc trưng thu, trưng mua chủ yếu được thực hiện trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản theo các quyết định của Hội đồng Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ. Sau thời kỳ này, Nhà nước không thực hiện biện pháp trưng thu; việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được sử dụng trong trường hợp thật cần thiết như phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện trưng mua, trưng dụng tài sản theo đúng pháp luật, các quy định về trưng mua, trưng dụng đã được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Quốc phòng, Luật An ninh Quốc gia, Luật Đê điều, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Pháp lệnh dân quân tự vệ, Pháp lệnh Cảnh sát biển, Pháp lệnh Bộ đội biên phòng, Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự,… Các quy định này đã được vận hành khá tốt trong thực tiễn cuộc sống.

2. Sự cần thiết ban hành Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản

2.1. Góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước

Điều 23 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản do Luật định”.

Như trên đã báo cáo, thời gian qua, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến trưng mua, trưng dụng tài sản. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành mới chỉ quy định một số nội dung có liên quan đến tài sản thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng; thẩm quyền quyết định trưng mua, trưng dụng và các trường hợp được thực hiện trưng mua, trưng dụng; còn nguyên tắc, hình thức quyết định, trình tự thủ tục thực hiện; cơ chế thanh toán và xử lý vi phạm chưa được quy định cụ thể. Do vậy, việc ban hành Luật trưng mua, trưng dụng tài sản là thực hiện quy định của Hiến pháp và góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

2.2. Đáp ứng yêu cầu về tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia mà các biện pháp huy động khác không đáp ứng được

Trong giai đoạn hiện nay và dự báo trong thời gian tới, trên phạm vi thế giới, cũng như trong khu vực, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế cơ bản. Tuy nhiên, thế giới và khu vực vẫn phải đối mặt với những vấn đề gay gắt như mất ổn định chính trị, an toàn xã hội, đặc biệt là một bộ phận môi trường sinh thái bị huỷ hoại, khí hậu trái đất thay đổi thất thường kèm theo các thiên tai lớn; các dịch bệnh nguy hiểm có chiều hướng phát triển… Để chủ động đối phó với những nguy cơ và thách thức nêu trên, cùng với việc tăng cường tiềm lực tài chính của đất nước, tăng dự trữ quốc gia để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của công tác quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, việc hoàn thiện thể chế về trưng mua, trưng dụng tài sản là cần thiết.

2.3. Góp phần đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, việc công nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cá nhân, pháp nhân và của các nhà đầu tư trong và ngoài nước có ý nghĩa quan trọng. Đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trong nước, đây là điều kiện để đảm bảo ổn định cuộc sống, phát triển kinh doanh. Đối với các tổ chức cá nhân nước ngoài, đây là sự đảm bảo điều kiện thuận lợi và tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, hợp tác văn hoá, phát triển du lịch. Việc xây dựng Luật này với các nội dung quy định rõ về nguyên tắc, điều kiện khi thực hiện trưng mua, trưng dụng; quy định về sự công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục trưng mua, trưng dụng tài sản; trong việc xác định và thực hiện chi trả tiền trưng mua tài sản, tiền bồi thường đối với tài sản trưng dụng là cơ sở pháp lý cho việc công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, mà sau khi đã huy động tài sản do Nhà nước quản lý nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu nhiệm vụ, thì Nhà nước mới trưng mua, trưng dụng tài sản của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; người có tài sản trưng mua, trưng dụng được thanh toán hoặc bồi thường theo nguyên tắc giá thị trường. Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng và không phân biệt đối xử. Các quy định đó sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình.

Bên cạnh đó, việc ban hành Luật này là nhằm cụ thể hoá các cam kết của Chính phủ Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới về khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Theo các cam kết của Chính phủ Việt Nam với các nước thuộc khối ASEAN và các nước khác (Italia, Ôtxtrâylia, Vương quốc Anh…), thì việc trưng mua, trưng dụng phải đáp ứng 4 điều kiện cơ bản là: (i) để sử dụng vào mục đích công; (ii) theo các thủ tục được pháp luật quy định; (iii) không phân biệt đối xử và (iv) có sự bồi thường theo giá thị trường. Từ đó, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về vốn và tài sản của nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là khi nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tạo điều kiện cho nhà đầu tư yên tâm đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

II. VỀ QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT

1. Quan điểm xây dựng Luật:

Quan điểm 1: Huy động kịp thời nguồn lực về tài sản để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia; góp phần ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

Quan điểm 2: Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản, thì người có tài sản trưng mua, trưng dụng được thanh toán hoặc bồi thường theo nguyên tắc thị trường và không phân biệt đối xử.

Quan điểm 3: Kế thừa có chọn lọc các văn bản quy phạm pháp luật quy định về trưng mua, trưng dụng tài sản và luật hoá một số quy định đã phát huy hiệu quả để nâng cao tính pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và cơ sở thực thi trong thực tiễn.

Quan điểm 4: Đảm bảo phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế và khu vực mà Việt Nam là thành viên; tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế.

2. Nguyên tắc xây dựng dự án Luật:

Nguyên tắc 1: Việc trưng mua, trưng dụng tài sản phải được thực hiện công khai, minh bạch. Nhà nước chỉ thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia.

Nguyên tắc 2: Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của người có thẩm quyền và phải tuân theo trình tự, thủ tục do luật định. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng phải chấp hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản của người có thẩm quyền. Việc quản lý, sử dụng tài sản trưng mua, trưng dụng phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả.

Nguyên tắc 3: Quy định cụ thể, rõ ràng về phạm vi, đối tượng, điều kiện, thẩm quyền và hình thức quyết định, trình tự và thủ tục thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản để tránh việc lạm dụng quyền hạn, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT

Dự thảo Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản gồm 5 Chương, 52 Điều.

1. Chương I: Những quy định chung

Chương này gồm 11 Điều (từ Điều 1 đến Điều 11) quy định về những nội dung chủ yếu sau đây:

1.1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1):

Luật này quy định về việc trưng mua, trưng dụng tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia; quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và nghĩa vụ của người có tài sản trưng mua, trưng dụng.

1.2. Đối tượng áp dụng (Điều 2): Dự thảo Luật quy định 4 đối tượng áp dụng bao gồm: (i) Người có thẩm quyền quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản; (ii) người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng; (iii) tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng tài sản trưng mua hoặc được giao sử dụng tài sản trưng dụng; (iv) các đối tượng khác có liên quan đến việc trưng mua, trưng dụng tài sản.

1.3. Chính sách trưng mua, trưng dụng tài sản (Điều 5): Dự thảo Luật quy định Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản hợp pháp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Nhà nước khuyến khích và ghi nhận việc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tự nguyện hiến, tặng tài sản cho Nhà nước hoặc cho Nhà nước mượn tài sản không nhận bồi thường trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia. Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản, thì người có tài sản trưng mua, trưng dụng được thanh toán theo nguyên tắc thị trường và không phân biệt đối xử.

1.4. Nguyên tắc trưng mua, trưng dụng tài sản (Điều 6): Dự thảo Luật quy định cụ thể 5 nguyên tắc trưng mua, trưng dụng tài sản gồm: (i) Chỉ thực hiện trưng mua, trưng dụng tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia mà các biện pháp huy động khác không thực hiện được; (ii) việc trưng mua, trưng dụng tài sản được thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền và phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này; (iii) người có tài sản trưng mua, trưng dụng phải chấp hành quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản của người có thẩm quyền; (iv) việc trưng mua, trưng dụng tài sản phải đảm bảo công khai, minh bạch và (v) việc quản lý, sử dụng tài sản trưng mua, trưng dụng phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả.

1.5. Hình thức quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản (Điều 7): Dự thảo Luật quy định quyết định trưng mua, trưng dụng phải thể hiện bằng văn bản. Riêng việc trưng dụng tài sản trong trường hợp đặc biệt khẩn cấp không thể ra quyết định bằng văn bản, người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản được quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói để thực hiện nhiệm vụ được giao.

1.6. Quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trưng mua, trưng dụng (Điều 9): Quyền sở hữu tài sản trưng mua thuộc về Nhà nước kể từ thời điểm quyết định trưng mua tài sản có hiệu lực pháp luật. Quyền sở hữu tài sản trưng dụng vẫn thuộc về người có tài sản trưng dụng; quyền sử dụng tài sản trưng dụng trong thời gian trưng dụng thuộc về người có thẩm quyền quyết định trưng dụng.

2. Chương II: Trưng mua tài sản

Chương này bao gồm 13 Điều (từ Điều 12 đến Điều 24) quy định những nội dung chủ yếu sau đây:

2.1. Tài sản thuộc đối tượng trưng mua (Điều 12): Căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật và thực tiễn trưng mua tài sản thời gian vừa qua, Dự thảo quy định cụ thể tài sản được phép trưng mua gồm: công cụ, dụng cụ, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, vật tư thiết yếu khác; riêng phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác chỉ được trưng mua trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh.

2.2. Điều kiện trưng mua tài sản (Điều 13): Việc trưng mua tài sản chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện: (i) Thuộc một trong các trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia; (ii) Nhà nước có nhu cầu về tài sản để sử dụng trong các trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia mà việc mua bán theo thoả thuận hoặc các biện pháp huy động khác không thực hiện được và (iii) phải phù hợp với đối tượng, thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật này.

2.3. Thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản (Điều 15): Căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu về tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, chống việc lạm dụng quyền hạn khi thi hành công vụ, Dự thảo Luật quy định cụ thể 03 nhóm đối tượng có thẩm quyền quyết định trưng mua tài sản gồm: (i) Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính và một số Bộ trưởng khác theo quy định của Chính phủ (ii) Chủ tịch UBND cấp tỉnh và (iii) người có thẩm quyền khác được trưng mua tài sản theo quy định của luật, pháp lệnh có liên quan.

2.4. Giá trưng mua tài sản (Điều 20): Dự thảo Luật quy định nguyên tắc, cách thức xác định và thẩm quyền quyết định giá trưng mua tài sản. Theo đó, giá trưng mua tài sản do người có tài sản trưng mua và người có thẩm quyền quyết định trưng mua thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì người có thẩm quyền quyết định trưng mua quyết định giá căn cứ vào giá phổ biến trên thị trường địa phương của tài sản cùng loại tại thời điểm quyết định trưng mua tài sản; trường hợp giá thị trường tại thời điểm trưng mua thấp hơn giá thị trường tại thời điểm thanh toán thì người có tài sản trưng mua được thanh toán theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán.

2.5. Thanh toán tiền trưng mua tài sản (Điều 21): Để đảm bảo quyền lợi của người có tài sản trưng mua và tình hình thực tế, Dự thảo Luật quy định tiền trưng mua tài sản được thanh toán một lần cho người có tài sản trong thời hạn tối đa là 45 ngày khi xảy ra tình trạng khẩn cấp và 30 ngày khi xảy ra các trường hợp còn lại, kể từ ngày quyết định trưng mua tài sản có hiệu lực pháp luật. Trường hợp bất khả kháng thì có thể gia hạn nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá thời hạn thanh toán nêu trên (Trừ trường hợp đặc biệt thực hiện theo quy định riêng).

2.6. Nguồn kinh phí thực hiện thanh toán tài sản trưng mua (Điều 22): Kinh phí thực hiện thanh toán tài sản trưng mua do ngân sách nhà nước chi trả theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

3. Chương III. Trưng dụng tài sản

Chương này gồm 22 Điều (từ Điều 25 đến Điều 46) quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản, căn cứ quyết định trưng dụng tài sản, nội dung của quyết định, thời hạn trưng dụng tài sản, chuyển giao tài sản, quản lý, sử dụng tài sản trưng dụng, hoàn trả tài sản trưng dụng, bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng gây ra, thanh toán tiền bồi thường thiệt hại, kinh phí thực hiện bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng gây ra. Một số nội dung chủ yếu như sau:

3.1. Tài sản thuộc đối tượng trưng dụng (Điều 25): Dự thảo quy định tài sản thuộc đối tượng trưng dụng gồm: Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác; đất và các tài sản gắn liền với đất; các tài sản khác được trưng dụng theo quy định của luật, pháp lệnh có liên quan.

3.2. Điều kiện trưng dụng tài sản (Điều 26): Việc trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện: (i) Thuộc một trong các trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia; (ii) Nhà nước có nhu cầu về tài sản để sử dụng trong các trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia mà các biện pháp huy động khác không thực hiện được và (iii) phải phù hợp với đối tượng, thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật này.

3.3. Thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản (Điều 27): Căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật, hạn chế việc lạm dụng quyền hạn khi thi hành công vụ, đồng thời đáp ứng nhu cầu về tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Dự thảo Luật quy định cụ thể 5 nhóm đối tượng có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản gồm: (i) Bộ trưởng Bộ Tài chính và một số Bộ trưởng khác theo quy định của Chính phủ; (ii) Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia về tìm kiếm, cứu nạn; (iii) Trưởng Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh và cấp huyện (iv) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện; (v) các đối tượng khác được trưng dụng tài sản theo quy định của luật, pháp lệnh có liên quan.

3.4. Trình tự, thủ tục quyết định trưng dụng bằng lời nói (Điều 31): Việc trưng dụng tài sản bằng lời nói là vấn đề nhạy cảm và dễ bị lạm dụng trong thực tế. Vì vậy, dự thảo quy định cụ thể về trình tự, thủ tục quyết định trưng dụng bằng lời nói. Theo đó, khi ra quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói, người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản phải xuất trình thẻ công vụ theo quy định của pháp luật và phải xác nhận bằng văn bản việc trưng dụng tài sản ngay tại thời điểm trưng dụng. Trường hợp khi ra quyết định có mặt người thứ ba, thì người thứ ba được mời chứng kiến việc quyết định trưng dụng. Trường hợp đặc biệt khi quyết định bằng lời nói không kịp xác nhận ngay bằng văn bản thì chậm nhất là 48 giờ, kể từ thời điểm trưng dụng tài sản bằng lời nói, cơ quan của người đã ra quyết định trưng dụng tài sản có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản việc trưng dụng tài sản.

3.5. Thời hạn trưng dụng tài sản (Điều 32): Để đảm bảo tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản trưng dụng, Dự thảo Luật quy định cụ thể thời hạn trưng dụng tài sản trong từng trường hợp cụ thể. Trường hợp đã hết thời gian trưng dụng tài sản theo quy định mà mục đích của việc trưng dụng tài sản chưa hoàn thành, thì người đã ra quyết định trưng dụng tài sản quyết định gia hạn trong thời hạn tối đa được quy định tại Luật này (15 ngày trong trường hợp xảy ra hoả hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc thiên tai lũ lụt và 10 ngày trong các trường hợp khác).

3.6. Bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra (Điều 39): Dự thảo Luật quy định người có tài sản trưng dụng được bồi thường thiệt hại về tài sản trong các trường hợp: (i) Tài sản trưng dụng bị mất; (ii) tài sản trưng dụng bị hư hỏng; (iii) tài sản trưng dụng bị giảm chất lượng và (iv) người có tài sản trưng dụng bị mất thu nhập do việc trưng dụng tài sản trực tiếp gây ra. Cách thức xác định mức bồi thường thiệt hại cũng được quy định theo từng trường hợp cụ thể (Điều 40, Điều 41 và Điều 42).

3.7. Thẩm quyền quyết định mức bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra (Điều 43): Người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản là người quyết định mức bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng tài sản gây ra.

3.8. Kinh phí thực hiện bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng gây ra (Điều 46): Tương tự trường hợp trưng mua tài sản, kinh phí thực hiện bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng gây ra cũng do ngân sách nhà nước chi trả theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đối với những tài sản đã tham gia bảo hiểm bị thiệt hại nhưng không được doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm chi trả hoặc số tiền được doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm chi trả theo chế độ quy định thấp hơn số tiền người có tài sản trưng dụng được bồi thường, thì số tiền chênh lệch do ngân sách nhà nước chi trả.

4. Chương IV: Khen thưởng, xử lý vi phạm; khiếu nại, tố cáo và khởi kiện

Chương này bao gồm 4 Điều (từ Điều 47 đến Điều 50) quy định về việc khen thưởng; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo; xử lý các hành vi vi phạm các quy định về trưng mua, trưng dụng tài sản.

5. Chương V: Điều khoản thi hành

Chương này bao gồm 2 Điều (Điều 51 và Điều 52) quy định hiệu lực thi hành và thẩm quyền hướng dẫn thi hành.

Trong đó, Chính phủ dự kiến ban hành 01 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 15, 21, 27 và 44 của Luật này.

IV. VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY, BIÊN CHẾ VÀ KINH PHÍ KHI BAN HÀNH LUẬT NÀY

1. Về tổ chức bộ máy và biên chế:

Luật này chủ yếu nhằm luật hoá các quy định cụ thể về trưng mua, trưng dụng tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia mà hiện nay các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đang thực hiện. Trong dự thảo Luật không tăng thêm các quyền hạn về trưng mua, trưng dụng cho bộ máy nhà nước, đồng thời không quy định lập ra cơ quan chuyên trách về thực hiện trưng mua, trưng dụng. Do đó, việc ban hành Luật này không làm tăng thêm tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan nhà nước.

2. Về kinh phí thực hiện trưng mua, trưng dụng:

Theo quy định tại Điều 9 Luật Ngân sách Nhà nước, dự toán chi ngân sách nhà nước được bố trí khoản dự phòng từ 2% đến 5% tổng số chi để chi phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán.

Như vậy, trường hợp do trưng mua, trưng dụng phải phát sinh các khoản thanh toán thì sử dụng trong dự phòng ngân sách các cấp. Do vậy, việc ban hành Luật này không làm tăng chi ngân sách nhà nước, nhưng có tác dụng rất lớn trong việc đảm bảo việc chi ngân sách được thực hiện chặt chẽ và minh bạch.

V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XIN Ý KIẾN QUỐC HỘI

1. Về tên gọi của dự thảo Luật

Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, tên gọi của dự án Luật là: “Luật Thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức”. Qua thảo luận, các ý kiến đều thống nhất bỏ cụm từ “của cá nhân, tổ chức” vì cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, ngoài các tổ chức, cá nhân, còn có các chủ thể dân sự khác cũng có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thuộc đối tượng trưng mua, trưng dụng như: hộ gia đình, cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, việc sử dụng từ “thể thức” tại tên gọi của dự án còn có ý kiến khác nhau. Có ý kiến đề nghị tên gọi là: “Luật Thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản” đúng theo tên của Dự án Luật trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Mặt khác, tên gọi này còn có ý nghĩa làm yên tâm các nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân vì với Luật này Quốc hội chỉ quy định thống nhất về thể thức mà không ban hành các quy định mới về trưng mua, trưng dụng tài sản.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến đề nghị tên Luật là: “Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản” (bỏ từ “thể thức”); vì trong dự thảo Luật có nội dung quy định không phải chỉ là thể thức. Việc sử dụng tên gọi này sẽ đảm bảo phù hợp giữa tên gọi, phạm vi điều chỉnh và nội dung của Luật; đồng thời, nếu các quy định trong Luật rõ ràng, minh bạch thì cũng không ảnh hưởng tới sự ổn định của môi trường đầu tư và tâm lý nhân dân mà còn củng cố thêm lòng tin của các nhà đầu tư và người dân vào hệ thống pháp luật của nhà nước. Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đề nghị lấy tên gọi này.

Tiếp thu ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ trình Quốc hội tên gọi của dự án Luật là: “Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản”.

2. Về hình thức quyết định trưng mua, trưng dụng:

Có ý kiến cho rằng để đáp ứng được yêu cầu về tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, thì người có thẩm quyền quyết định trưng mua, trưng dụng tài sản có thể ra quyết định bằng văn bản hoặc bằng lời nói. Có ý kiến đề nghị quyết định trưng mua, trưng dụng phải bằng văn bản để tránh việc lợi dụng, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản.

Về vấn đề này, Chính phủ trình Quốc hội như sau: Việc trưng mua tài sản gắn với việc chuyển quyền sở hữu tài sản từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sang khu vực Nhà nước, đồng thời trong thực tiễn việc trưng mua chỉ xảy ra trong một số ít trường hợp, vì vậy để đảm bảo thật chặt chẽ, dự thảo Luật quy định: quyết định trưng mua tài sản phải được thể hiện bằng văn bản. Đối với quyết định trưng dụng tài sản về nguyên tắc cũng phải được thể hiện bằng văn bản. Tuy nhiên, có trường hợp được thực hiện trong các tình huống đặc biệt khẩn cấp mà tại thời điểm đó không kịp ra quyết định bằng văn bản, nên việc quyết định trưng dụng có thể thực hiện bằng lời nói nhưng người ra quyết định bằng lời nói phải có văn bản xác nhận việc trưng dụng tài sản ngay tại thời điểm trưng dụng. Trường hợp đặc biệt không kịp xác nhận bằng văn bản thì trong vòng 48 giờ phải có xác nhận này. Đồng thời, tại Điều 48 của Luật này cũng quy định việc xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp lợi dụng quyết định trưng dụng tài sản bằng lời nói để trục lợi, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản.

3. Về việc huy động người điều khiển, vận hành tài sản:

Có ý kiến đề nghị không nên quy định việc huy động người điều khiển, vận hành tài sản trong Luật này vì Luật này chỉ quy định việc trưng mua, trưng dụng tài sản. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp khi trưng dụng tài sản là phương tiện giao thông, phương tiện kỹ thuật cần phải có người có trình độ chuyên môn vận hành tài sản đó thì được huy động người điều khiển phương tiện đó. Do vậy, để đảm bảo tính khả thi và sự chặt chẽ khi ban hành Luật này, Chính phủ đề nghị trong Luật này chỉ quy định những nội dung có liên quan tới việc huy động người điều khiển, vận hành khi trưng dụng tài sản. Các trường hợp huy động người vào việc khác đã được quy định ở Luật, Pháp lệnh khác có liên quan (Luật Đê điều, Pháp lệnh phòng, chống lụt bão…).

4. Về giá trưng mua tài sản:

Hầu hết các ý kiến tham gia đều tán thành việc giá trưng mua tài sản được xác định để thực hiện thanh toán cho người có tài sản trưng mua được xác định theo nguyên tắc giá thị trường để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người có tài sản trưng mua và phù hợp với Điều 23 Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, về cơ chế xác định giá và thời điểm xác định giá còn có ý kiến khác nhau:

a) Về cơ chế xác định giá: Có ý kiến đề nghị không quy định cơ chế thoả thuận giữa người có tài sản trưng mua và người ra quyết định trưng mua vì quyết định trưng mua là quyết định hành chính, theo đó, giá trưng mua do người quyết định trưng mua áp đặt. Tuy nhiên, Chính phủ cho rằng trưng mua tài sản là việc nhà nước thực hiện mua tài sản thông qua quyết định hành chính. Như vậy, quan hệ mua bán trong trường hợp này là áp đặt. Mặc dù vậy, điều đó không có nghĩa là đương nhiên áp đặt về giá, mà để đảm bảo quyền lợi kinh tế của người có tài sản bị trưng mua cần thiết phải thực hiện theo cơ chế thoả thuận, trừ trường hợp không thoả thuận được mới phải áp dụng biện pháp áp đặt của cơ quan nhà nước. Đây là quy định có tính “mở”, vừa đảm bảo tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có tài sản trưng mua, vừa tiết kiệm được thời gian, chi phí cho việc định giá nếu thực hiện được cơ chế thoả thuận.

b) Về thời điểm xác định giá để thanh toán: Có ý kiến đề nghị thanh toán theo giá tại thời điểm trưng mua, có ý kiến đề nghị thanh toán theo giá tại thời điểm thanh toán, cũng có ý kiến đề nghị lấy giá tại thời điểm trưng mua cộng với lãi suất ngân hàng trong thời gian chưa thanh toán. Trên cơ sở đảm bảo công bằng theo hướng có lợi cho dân, đồng thời đơn giản thủ tục, Chính phủ đề nghị quy định trong Luật như sau: “Giá trưng mua tài sản được xác định căn cứ vào giá phổ biến trên thị trường địa phương của tài sản cùng loại hoặc có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và xuất xứ tại thời điểm quyết định trưng mua tài sản. Trường hợp tại thời điểm thanh toán tiền trưng mua tài sản, giá thị trường của tài sản đã trưng mua cao hơn so với giá thị trường tại thời điểm quyết định trưng mua thì thanh toán theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán”.

5. Về thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản:

Dự thảo Luật quy định thành 5 nhóm đối tượng có thẩm quyền trưng dụng gồm:

– Bộ trưởng Bộ Tài chính và một số Bộ trưởng khác theo quy định của Chính phủ;

– Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia về tìm kiếm, cứu nạn;

– Trưởng ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm, cứu nạn cấp tỉnh, cấp huyện;

– Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện;

– Người có thẩm quyền khác được quyết định trưng dụng tài sản theo quy định của luật, pháp lệnh có liên quan.

Qua thảo luận, một số ý kiến đề nghị không giao thẩm quyền trưng dụng tài sản cho người đứng đầu các tổ chức liên ngành (Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia về tìm kiếm, cứu nạn, Trưởng ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm, cứu nạn cấp tỉnh, cấp huyện…) mà chỉ cần Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện là đủ vì trên thực tế các Trưởng ban này luôn là lãnh đạo Bộ hoặc lãnh đạo UBND. Tuy nhiên, Chính phủ cho rằng thẩm quyền huy động tài sản của người đứng đầu một số tổ chức liên ngành trong các trường hợp cụ thể đã được quy định tại một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như: Luật Đê điều, Pháp lệnh phòng chống lụt bão… Các quy định này là phù hợp với tính chất và yêu cầu của việc trưng dụng tài sản trong các trường hợp cần thiết. Vì vậy, Chính phủ trình Quốc hội quy định trong Luật này thẩm quyền trưng dụng trong một số trường hợp cụ thể cho người đứng đầu một số tổ chức liên ngành nêu trên.

6. Về việc giải quyết các trường hợp đã trưng mua, trưng dụng tài sản trước khi Luật này có hiệu lực thi hành:

Thời gian vừa qua, cơ quan nhà nước các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các trường hợp đã thực hiện trưng mua, trưng dụng tài sản trước đây. Đến nay, đã giải quyết thanh toán đầy đủ, theo đúng quy định pháp luật đối với các trường hợp có đủ căn cứ thanh toán. Tuy nhiên, hiện cũng còn tồn tại một số ít trường hợp phức tạp do chưa đủ căn cứ thanh toán. Để có thể tiếp tục xử lý các trường hợp này một cách bình đẳng với các trường hợp tương tự đã được xử lý, Chính phủ trình Quốc hội thể hiện trong luật này như sau: Đối với các trường hợp Nhà nước đã thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, thì thực hiện theo các quy định của pháp luật tại thời điểm trưng mua, trưng dụng; không áp dụng và điều chỉnh theo các quy định của Luật này.

Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến./.

 

Nơi nhận:

– Như trên;

– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

– Uỷ ban Pháp luật Quốc hội;

– Uỷ ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội;

– Các Bộ: Tài chính, Tư pháp;

– VPCP: BTCN, các PCN;

– Lưu: VT, XDPL.

TM. CHÍNH PHỦ

TUQ. THỦ TƯỚNG

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

Vũ Văn Ninh

(đã ký)

TẢI DỰ THẢO LUẬT TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN TẠI ĐÂY

LỪA DỐI – YẾU TỐ VÔ HIỆU HỢP ĐỒNG KINH TẾ

LÊ THỊ BÍCH THỌ –  Trường ĐH Luật TP. HCM

Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết. ý chí giao kết hợp đồng của các bên giữ vị trí vô cùng quan trọng trong việc xác định sự tồn tại hay không của hợp đồng.

Các biểu hiện của sự không thống nhất ý chí (sự thể hiện ý chí khác nhau) hoặc sự trái ngược giữa biểu hiện với ý chí đích thực của các bên giao kết sẽ không hình thành nên một hợp đồng có hiệu lực. Nói cách khác một hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa có thể không có giá trị vì trong các hoàn cảnh như vậy, các cam kết được đưa ra không xuất phát từ ý chí đích thực của người giao kết. Cũng như nhiều quốc gia khác, pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam thừa nhận lừa dối trong giao kết hợp đồng như một yếu tố có thể đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng. Tuy nhiên, hiểu nó như thế nào, xác định các điều kiện để một lừa dối là yếu tố vô hiệu hợp đồng lại được thể hiện khác nhau trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ dừng ở việc làm rõ các vấn đề có liên quan đến lừa dối – yếu tố vô hiệu của hợp đồng.

1. Khái niệm lừa dối trong giao kết hợp đồng

Lừa dối là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày. Theo cách nói thông thường, lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo, ví dụ: thủ đoạn lừa dối của con buôn(1). Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối là một xảo thuật dùng để lừa gạt người khác. Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóe xảo trá dùng để khiến người ta giao kết hợp đồng đều là lừa dối(2). Cũng có cách hiểu: “Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Nếu không có các thủ đoạn ấy thì bên kia sẽ không giao kết hợp đồng”(3). Các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà lập pháp Việt Nam coi lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó(4). Dù cách sử dụng ngôn từ có khác nhau song nội dung của các khái niệm trên là không khác nhau. Đó là, không phải bất cứ sự nói dối nào cũng đều bị coi là lừa dối và việc xác định có tồn tại hay không sự lừa dối trong giao kết hợp đồng phải có hai điều kiện: một là, một bên phải sử dụng thủ đoạn để lừa người khác và hai là, người kia phải nghe theo, làm theo một việc nào đó (giao kết hợp đồng).

Thuật ngữ pháp lí “lừa dối” được hình thành từ thời La Mã. Cổ luật La Mã lúc đầu đã coi lừa dối như một tội phạm hình sự, theo đó những kẻ lừa dối sẽ bị trừng phạt đối với sự lừa dối mang tính chất quan trọng. Dần dần lừa dối đã được sử dụng trong lĩnh vực dân sự và xem nó như một trong các yếu tố có thể làm cho hợp đồng vô hiệu hay nói cách khác khi có lừa dối, sự thỏa thuận trở thành khiếm khuyết và bên bị lừa dối có quyền yêu cầu vô hiệu hợp đồng.

Tuy nhiên, trên thực tế làm thế nào để xác định có sự lừa dối là vấn đề rất phức tạp. Một sự khẳng định của người bán hàng về thực trạng mà anh ta không biết có phải là sự lừa dối không? Năng lực của người kí kết hợp đồng có ý nghĩa gì không trong việc xác định có hay không có sự lừa dối?

Khoa học pháp lý đã đưa ra những điều kiện để xác định khi nào thì lừa dối tồn tại. Phần lớn pháp luật các nước đều coi những lừa dối có tính chất quyết định đến sự giao kết hợp đồng là yếu tố vô hiệu hợp đồng. Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu không dùng các mánh khóe như vậy thì sẽ không có giao kết hợp đồng. “Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không kí kết hợp đồng”(5). Việc một người bán hàng khoe không đúng sự thật về hàng hóa của mình hoặc người bán hàng nói giá quá cao (nói thách) thì không bị xem là lừa dối, bởi lẽ trong các trường hợp này người tiếp nhận thông tin không bị buộc phải kí hợp đồng nếu họ không muốn.

Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng khi một bên cố ý làm cho bên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý muốn thực. Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sự thật. Song sự lừa dối khác với nhầm lẫn ở chỗ: Sự nhầm lẫn vốn do người kí kết hợp đồng tự mình hiểu sai còn sự lừa dối là sự hiểu sai do đối phương gây ra. Sự phân biệt giữa lừa dối và nhầm lẫn được xác định bởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian lận của một bên. Nhầm lẫn hay lừa dối đều đưa đến hệ quả là hợp đồng có thể bị vô hiệu do thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí thật của các bên. Continue reading