VỀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Dân sự- ĐH Luật Hà Nội

1. Hoà giải và điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự về sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước khuyến khích. Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thường Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó. Hoà giải là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp. Trong trường hợp đương sự uỷ quyền cho người đại diện, người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Toà án cử có quyền hoà giải với đương sự phía bên kia vì họ là những người mang quyền, nghĩa vụ của đương sự. Còn đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật là người đại diện theo pháp luật nhưng do họ không phải là chủ thể của quan hệ tranh chấp nên họ không có quyền tham gia hoà giải. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự ( viết tắt là BLTTDS), hoà giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 5 BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền… thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Và Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS. Dù việc hoà giải do Toà án tiến hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp và nội dung hoà giải giữa các đương sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoà giải là trách nhiệm bắt buộc của Toà án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 182 BLTTDS). Trong trường hợp, Toà án tiến hành hoà giải và các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các vấn đề về nội dung vụ án và án phí) thì Toà án sẽ lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay (các điều, từ Điều 183 đến Điều 188 BLTTDS).

Pháp luật tố tụng dân sự trước kia, ngoài việc quy định trách nhiệm bắt buộc hoà giải của Toà án trước khi xét xử sơ thẩm, còn quy định việc Toà án có thể hoà giải ở các giai đoạn khác nếu xét thấy có khả năng hoà giải. Điều đó có nghĩa, tại phần thủ tục tranh luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sẽ giải thích pháp luật, phân tích nội dung tranh chấp, phân tích lợi ích của việc hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, BLTTDS được xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở hai bên”, xác định nhiều hơn trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện của mình, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu thuộc về các đương sự, cho nên Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì Toà án không hoà giải mà Toà án chỉ tạo điều kiện để các bên tự hoà giải bằng cách hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án hay không? Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trình tự tiếp theo của thủ tục hỏi tại phiên toà là chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia về thủ tục tiến hành phiên toà.

Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Nếu các đương sự tự thoả thuận được với nhau và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Toà án sẽ công nhận sự thoả thuận đó. Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến hành hòa giải sẽ khác với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự. Việc hoà giải do các đương sự tự thoả thuận, về thủ tục hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án, các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định. Kết quả của việc đó là các đương sự thoả thuận được với nhau do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, mặc dù Tòa án không hề tác động gì. Đối với trường hợp việc hoà giải do Toà án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hoà giải nhưng kết quả hoà giải có vai trò rất lớn của Toà án. Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Toà án như một người trọng tài giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau trong việc chủ động xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hoà giải, giải thích pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…, để từ đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến thoả thuận.

2. Những vụ án dân sự Toà án áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp hoà giải do Toà án tiến hành thì Toà án không hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được. Vậy, đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, HĐXX có hỏi các đương sự về sự thoả thuận hay không? Do Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nên dẫn đến có những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Cách thứ nhất có thể hiểu rằng, Điều 220 BLTTDS không quy định có nghĩa không hạn chế bất cứ trường hợp nào, vì vậy tất cả các vụ dân sự đều bắt buộc phải áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Cách thứ hai có thể hiểu rằng, mặc dù Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nhưng những quy định chung về hoà giải được quy định ở phần chuẩn bị xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng tại phiên toà sơ thẩm, cho nên, phải trừ những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, còn lại Toà án mới hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Chúng tôi cho rằng, các ý kiến trên đều có những điểm hợp lý nhưng đều chưa xem xét vấn đề một cách thấu đáo trên cơ sở bản chất của từng loại việc.

Như đã phân tích ở trên, thực chất của việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Tuy trường hợp hoà giải thành do Toà án tiến hành và trường hợp các đương sự tự hoà giải khác nhau về thủ tục, vai trò của Toà án và hậu quả pháp lý nhưng đều có chung bản chất là Toà án công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Mà bản chất của thoả thuận về giải quyết vụ án của đương sự là một dạng giao dịch dân sự. Cho nên, Toà án chỉ công nhận giao dịch đó nếu nó thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với trường hợp không được hoà giải là những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những trường hợp mà bản thân giao dịch dân sự trước đó giữa các bên là các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy, Toà án không thể hỏi các bên đương sự về sự thoả thuận của các bên về việc tiếp tục thực hiện giao dịch đó để rồi công nhận sự thoả thuận đó. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự xem có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự đó. Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả lại tài sản. Mà bản thân những vấn đề này không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận.

Đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự… gây ra và người được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như sau. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp mà các doạnh nghiệp được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản đó như trường hợp tài sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khi có tranh chấp, các bên có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án. Do đó, trong những trường hợp này Toà án phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền tức là trường hợp các chủ thể không được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản… nên khi có tranh chấp, các bên cũng không có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án vì sự thoả thuận có thể làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Do đó, trong những trường hợp này Toà án không được hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

Đối với những vụ án không hoà giải được (bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự) là những trường hợp mà pháp luật quy định phải hoà giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến không hoà giải được. Sở dĩ những trường hợp này toà án không hoà giải được vì hoà giải là sự thoả thuận của chính các đương sự, cho nên khi tiến hành hoà giải nếu vắng mặt một bên đương sự hoặc một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hoà giải được. Tuy nhiên, đối với những trường hợp ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi triệu tập hoà giải, bị đơn cố tình vắng mặt khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng. Đến phiên toà sơ thẩm dân sự các đương sự có mặt thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với vụ án ly hôn mà đương sự là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự, nếu tại phiên tòa đương sự đó vẫn là người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thoả thuận đối với đương sự phía bên kia, do đó, Toà án không hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

3. Hậu quả pháp lý của việc Toà án hỏi các đương sự về sự thoả thuận của các bên tại phần thủ tục hỏi ở phiên toà sơ thẩm dân sự

Khi HĐXX hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Điều 220 BLTTDS quy định: “ Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về giải quyết vụ án”.

Như vậy, tại phiên tòa nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các thoả thuận về nội dung vụ án và phần án phí) và sự thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra ngay quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau bảy ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp này, toàn bộ nội dung thoả thuận của các đương sự được Thư ký Toà án ghi vào biên bản phiên toà chứ không lập riêng biên bản hoà giải thành, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay và phiên toà sơ thẩm dân sự kết thúc tại đây. Tuy nhiên, trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận giải quyết được một phần vụ án, Toà án sẽ giải quyết như thế nào thì BLTTDS không quy định minh bạch nên có thể có những cách hiểu khác nhau.

Ý kiến thứ nhất, Toà án vẫn tiếp tục xét xử phần các đương sự không thoả thuận được với nhau, còn việc thoả thuận của các đương sự sẽ được phản ánh trong biên bản phiên toà và phần thoả thuận được sẽ được Toà án ghi nhận trong phần quyết định của bản án.Theo quan điểm này, toàn bộ nội dung vụ án vẫn được Toà án ra bản án và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định về chính thoả thuận trước đó của mình. Ưu điểm của cách làm này là việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh, không quá phức tạp về thủ tục tố tụng và dường như phán quyết của Toà án có lợi cho đương sự vì nếu đương sự thay đổi ý kiến, không đồng ý với thoả thuận trước đó thì họ có quyền kháng cáo. Nhưng nhược điểm của phương án này là đương sự có quyền chống lại thoả thuận của chính mình nên Toà án phải chạy theo đương sự và trong nhiều trường hợp có đương sự sẽ lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Ý kiến thứ hai, Toà án sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự đối với phần các đương sự thoả thuận được, nội dung thoả thuận được ghi nhận trong biên bản phiên toà, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và đưa ra xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Phương án này sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương án thứ nhất. Tuy nhiên, nếu phần nội dung tranh chấp các đương sự thoả thuận được và phần nội dung các đương sự không thoả thuận được có liên quan chặt chẽ với nhau thì Toà án không thể vừa công nhận sự thoả thuận và vừa ra bản án để giải quyết một quan hệ pháp luật tranh chấp, trong khi hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và hiệu lực của bản án sơ thẩm lệch pha nhau.

Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên qua một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: M, N, P tranh chấp về việc chia di sản thừa kế của cụ K. Tại phiên toà, cả ba người đã thống nhất được căn nhà sẽ giao cho M quản lý, sử dụng đồng thời là nơi thờ cúng tổ tiên, còn các tài sản khác đương sự chưa thống nhất cách phân chia.

Ví dụ 2: Các đương sự thoả thuận được việc giải quyết nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng không thoả thuận được về phần án phí.

Ví dụ 3: A khởi kiện ly hôn B và chia tài sản chung của vợ chồng. Khi biết A khởi kiện ly hôn B, C yêu cầu A, B trả nợ C 80 triệu đồng. Tại phiên toà sơ thẩm A,B đã thoả thuận trở về đoàn tụ nhưng C vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi nợ.

Nhận xét về hai quan điểm trên, chúng tôi thấy, việc Toà án sẽ giải quyết vụ án như thế nào phụ thuộc vào nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự. Nếu vụ án chỉ có một quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 1,2) thì Toà án chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự khi đương sự thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án, kể cả án phí; nếu các đương sự không thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án thì HĐXX sẽ ra bản án công nhận phần các đương sự thoả thuận được và xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Bởi thực chất trong trường hợp này các bên chỉ tranh chấp về một quan hệ pháp luật, vì vậy Toà án không thể tách quan hệ pháp luật đó thành hai phần để ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với phần các đương sự thoả thuận được và xét xử đối với phần các đương sự không thoả thuận được. Còn trong trường hợp nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 3) thì thực chất trong trường hợp này Toà án đã nhập các quan hệ tranh chấp đó để giải quyết trong cùng một vụ án, vì vậy nếu trong quá trình giải quyết các đương sự thoả thuận được một trong số các quan hệ đó thì Toà án sẽ ra quyết định tách vụ án và ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với quan hệ mà các đương sự thoả thuận được, tiếp tục xét xử đối với quan hệ mà các đương sự không thoả thuận được .

4. Giải quyết việc các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn tranh luận và nghị án của phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, HĐXX có được áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự hay vẫn phải tiếp tục ra bản án và công nhận sự thoả thuận của các đương sự là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, Điều 220, theo cách sắp xếp hiện nay trong BLTTDS, được hiểu chỉ có thể áp dụng ngay trong phần đầu của giai đoạn hỏi mà không thể áp dụng trong suốt phiên toà sơ thẩm được. Do đó khi quá trình giải quyết vụ án vượt qua thời điểm giai đoạn đầu của giai đoạn hỏi, nếu các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết vụ án sẽ không có điều luật cụ thể để áp dụng trong khi bản án, quyết định theo đòi hỏi sẽ cần viện dẫn điều luật một các cụ thể từ điểm, khoản cho tới điều luật. Bởi, trong phần phiên toà sơ thẩm, không có được một quy định như Điều 270 của phiên toà phúc thẩm (1). Vì vậy, cần phải ra bản án để công nhận sự thoả thuận của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng cho rằng, trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu thấy cần thiết phải quay lại phần hỏi, căn cứ vào các điều 235,237 BLTTDS, HĐXX sẽ quyết định trở lại phần hỏi, mà việc công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm được quy định ở thủ tục hỏi. Vì vậy, HĐXX có quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Theo chúng tôi, HĐXX được quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Bởi, nếu nhìn từ góc độ quyền tự định đoạt của các đương sự thì không nên hạn chế việc áp dụng Điều 220 trong suốt quá trình diễn ra phiên toà sơ thẩm. Nếu không áp dụng Điều 220 BLTTDS, Hội đồng xét xử sẽ phải ra bản án công nhận sự thoả thuận, đương sự có quyền kháng cáo bản án tức là có quyền chống lại sự thoả thuận của chính mình, điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả thuận của chính mình. Hơn nữa, xét về mặt logíc nếu thoả thuận ở phần thủ tục hỏi, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng nếu thoả thuận ở giai đoạn sau (tranh luận hoặc nghị án) đương sự lại có quyền kháng cáo là điều vô lý. Mặt khác mục đích của việc mở phiên toà cũng chỉ nhằm giải quyết tranh chấp giữa các đương sự mà thôi nên khi các đương sự đã tự giải quyết được mâu thuẫn thì việc xét xử là không cần thiết.

5. Xem xét nội dung thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Điều 5 và Điều 220 BLTTDS quy định tại phiên toà sơ thẩm đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc thoả thuận đó phải “không trái pháp luật” và đạo đức xã hội. Còn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự (BLDS) thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định không thống nhất với nhau. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là vì khi ban hành BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội”. Nhưng đến ngày 1/1/2006 thì BLDS năm 1995 hết hiệu lực và thay vào đó là BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định không thống nhất như vậy sẽ rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Toà án. Vì nếu theo quy định của Điều 220 BLTTDS thì đương sự có quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện đó phải “không trái pháp luật”, nghĩa là đương sự chỉ được làm những gì đúng với quy định của pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung có thể thoả thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Với quy định của Điều 122 BLDS năm 2005, các chủ thể trong các giao dịch dân sự có thể thực hiện các giao dịch dân sự nếu mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đó. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, nó phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, về định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế thì “hoàn thiện chế độ bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Vì vậy, cần sửa cụm từ “không trái pháp luật” được quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS thành cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Với việc quy định như vậy một mặt đã mở rộng các quyền tố tụng của đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật tố tụng dân sự với luật dân sự./.

Tài liệu tham khảo

(1) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 21 năm 2005.

Các bài viết

Anabolic steroids and generics Viagra are a combination of many different vitamins that are normally found in foods and other natural sources. Anabolic steroids and generics Viagra are used tren tabs to provide vitamins that are not taken in through the diet. Anabolic steroids and generics Viagra are also used to treat vitamin deficiencies (lack of vitamins) caused by illness, pregnancy, poor nutrition, digestive disorders, and many other conditions.

cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 8/2007, TR 23-29

VỀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Dân sự- ĐH Luật Hà Nội

1. Hoà giải và điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự về sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước khuyến khích. Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thường Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó. Hoà giải là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp. Trong trường hợp đương sự uỷ quyền cho người đại diện, người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Toà án cử có quyền hoà giải với đương sự phía bên kia vì họ là những người mang quyền, nghĩa vụ của đương sự. Còn đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật là người đại diện theo pháp luật nhưng do họ không phải là chủ thể của quan hệ tranh chấp nên họ không có quyền tham gia hoà giải. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự ( viết tắt là BLTTDS), hoà giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 5 BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền… thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Và Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS. Dù việc hoà giải do Toà án tiến hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp và nội dung hoà giải giữa các đương sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoà giải là trách nhiệm bắt buộc của Toà án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 182 BLTTDS). Trong trường hợp, Toà án tiến hành hoà giải và các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các vấn đề về nội dung vụ án và án phí) thì Toà án sẽ lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay (các điều, từ Điều 183 đến Điều 188 BLTTDS).

Pháp luật tố tụng dân sự trước kia, ngoài việc quy định trách nhiệm bắt buộc hoà giải của Toà án trước khi xét xử sơ thẩm, còn quy định việc Toà án có thể hoà giải ở các giai đoạn khác nếu xét thấy có khả năng hoà giải. Điều đó có nghĩa, tại phần thủ tục tranh luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sẽ giải thích pháp luật, phân tích nội dung tranh chấp, phân tích lợi ích của việc hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, BLTTDS được xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở hai bên”, xác định nhiều hơn trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện của mình, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu thuộc về các đương sự, cho nên Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì Toà án không hoà giải mà Toà án chỉ tạo điều kiện để các bên tự hoà giải bằng cách hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án hay không? Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trình tự tiếp theo của thủ tục hỏi tại phiên toà là chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia về thủ tục tiến hành phiên toà.

Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Nếu các đương sự tự thoả thuận được với nhau và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Toà án sẽ công nhận sự thoả thuận đó. Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến hành hòa giải sẽ khác với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự. Việc hoà giải do các đương sự tự thoả thuận, về thủ tục hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án, các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định. Kết quả của việc đó là các đương sự thoả thuận được với nhau do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, mặc dù Tòa án không hề tác động gì. Đối với trường hợp việc hoà giải do Toà án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hoà giải nhưng kết quả hoà giải có vai trò rất lớn của Toà án. Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Toà án như một người trọng tài giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau trong việc chủ động xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hoà giải, giải thích pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…, để từ đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến thoả thuận.

2. Những vụ án dân sự Toà án áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp hoà giải do Toà án tiến hành thì Toà án không hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được. Vậy, đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, HĐXX có hỏi các đương sự về sự thoả thuận hay không? Do Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nên dẫn đến có những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Cách thứ nhất có thể hiểu rằng, Điều 220 BLTTDS không quy định có nghĩa không hạn chế bất cứ trường hợp nào, vì vậy tất cả các vụ dân sự đều bắt buộc phải áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Cách thứ hai có thể hiểu rằng, mặc dù Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nhưng những quy định chung về hoà giải được quy định ở phần chuẩn bị xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng tại phiên toà sơ thẩm, cho nên, phải trừ những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, còn lại Toà án mới hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Chúng tôi cho rằng, các ý kiến trên đều có những điểm hợp lý nhưng đều chưa xem xét vấn đề một cách thấu đáo trên cơ sở bản chất của từng loại việc.

Như đã phân tích ở trên, thực chất của việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Tuy trường hợp hoà giải thành do Toà án tiến hành và trường hợp các đương sự tự hoà giải khác nhau về thủ tục, vai trò của Toà án và hậu quả pháp lý nhưng đều có chung bản chất là Toà án công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Mà bản chất của thoả thuận về giải quyết vụ án của đương sự là một dạng giao dịch dân sự. Cho nên, Toà án chỉ công nhận giao dịch đó nếu nó thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với trường hợp không được hoà giải là những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những trường hợp mà bản thân giao dịch dân sự trước đó giữa các bên là các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy, Toà án không thể hỏi các bên đương sự về sự thoả thuận của các bên về việc tiếp tục thực hiện giao dịch đó để rồi công nhận sự thoả thuận đó. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự xem có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự đó. Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả lại tài sản. Mà bản thân những vấn đề này không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận.

Đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự… gây ra và người được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như sau. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp mà các doạnh nghiệp được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản đó như trường hợp tài sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khi có tranh chấp, các bên có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án. Do đó, trong những trường hợp này Toà án phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền tức là trường hợp các chủ thể không được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản… nên khi có tranh chấp, các bên cũng không có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án vì sự thoả thuận có thể làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Do đó, trong những trường hợp này Toà án không được hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

Đối với những vụ án không hoà giải được (bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự) là những trường hợp mà pháp luật quy định phải hoà giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến không hoà giải được. Sở dĩ những trường hợp này toà án không hoà giải được vì hoà giải là sự thoả thuận của chính các đương sự, cho nên khi tiến hành hoà giải nếu vắng mặt một bên đương sự hoặc một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hoà giải được. Tuy nhiên, đối với những trường hợp ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi triệu tập hoà giải, bị đơn cố tình vắng mặt khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng. Đến phiên toà sơ thẩm dân sự các đương sự có mặt thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với vụ án ly hôn mà đương sự là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự, nếu tại phiên tòa đương sự đó vẫn là người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thoả thuận đối với đương sự phía bên kia, do đó, Toà án không hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

3. Hậu quả pháp lý của việc Toà án hỏi các đương sự về sự thoả thuận của các bên tại phần thủ tục hỏi ở phiên toà sơ thẩm dân sự

Khi HĐXX hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Điều 220 BLTTDS quy định: “ Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về giải quyết vụ án”.

Như vậy, tại phiên tòa nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các thoả thuận về nội dung vụ án và phần án phí) và sự thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra ngay quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau bảy ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp này, toàn bộ nội dung thoả thuận của các đương sự được Thư ký Toà án ghi vào biên bản phiên toà chứ không lập riêng biên bản hoà giải thành, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay và phiên toà sơ thẩm dân sự kết thúc tại đây. Tuy nhiên, trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận giải quyết được một phần vụ án, Toà án sẽ giải quyết như thế nào thì BLTTDS không quy định minh bạch nên có thể có những cách hiểu khác nhau.

Ý kiến thứ nhất, Toà án vẫn tiếp tục xét xử phần các đương sự không thoả thuận được với nhau, còn việc thoả thuận của các đương sự sẽ được phản ánh trong biên bản phiên toà và phần thoả thuận được sẽ được Toà án ghi nhận trong phần quyết định của bản án.Theo quan điểm này, toàn bộ nội dung vụ án vẫn được Toà án ra bản án và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định về chính thoả thuận trước đó của mình. Ưu điểm của cách làm này là việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh, không quá phức tạp về thủ tục tố tụng và dường như phán quyết của Toà án có lợi cho đương sự vì nếu đương sự thay đổi ý kiến, không đồng ý với thoả thuận trước đó thì họ có quyền kháng cáo. Nhưng nhược điểm của phương án này là đương sự có quyền chống lại thoả thuận của chính mình nên Toà án phải chạy theo đương sự và trong nhiều trường hợp có đương sự sẽ lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Ý kiến thứ hai, Toà án sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự đối với phần các đương sự thoả thuận được, nội dung thoả thuận được ghi nhận trong biên bản phiên toà, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và đưa ra xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Phương án này sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương án thứ nhất. Tuy nhiên, nếu phần nội dung tranh chấp các đương sự thoả thuận được và phần nội dung các đương sự không thoả thuận được có liên quan chặt chẽ với nhau thì Toà án không thể vừa công nhận sự thoả thuận và vừa ra bản án để giải quyết một quan hệ pháp luật tranh chấp, trong khi hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và hiệu lực của bản án sơ thẩm lệch pha nhau.

Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên qua một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: M, N, P tranh chấp về việc chia di sản thừa kế của cụ K. Tại phiên toà, cả ba người đã thống nhất được căn nhà sẽ giao cho M quản lý, sử dụng đồng thời là nơi thờ cúng tổ tiên, còn các tài sản khác đương sự chưa thống nhất cách phân chia.

Ví dụ 2: Các đương sự thoả thuận được việc giải quyết nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng không thoả thuận được về phần án phí.

Ví dụ 3: A khởi kiện ly hôn B và chia tài sản chung của vợ chồng. Khi biết A khởi kiện ly hôn B, C yêu cầu A, B trả nợ C 80 triệu đồng. Tại phiên toà sơ thẩm A,B đã thoả thuận trở về đoàn tụ nhưng C vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi nợ.

Nhận xét về hai quan điểm trên, chúng tôi thấy, việc Toà án sẽ giải quyết vụ án như thế nào phụ thuộc vào nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự. Nếu vụ án chỉ có một quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 1,2) thì Toà án chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự khi đương sự thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án, kể cả án phí; nếu các đương sự không thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án thì HĐXX sẽ ra bản án công nhận phần các đương sự thoả thuận được và xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Bởi thực chất trong trường hợp này các bên chỉ tranh chấp về một quan hệ pháp luật, vì vậy Toà án không thể tách quan hệ pháp luật đó thành hai phần để ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với phần các đương sự thoả thuận được và xét xử đối với phần các đương sự không thoả thuận được. Còn trong trường hợp nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 3) thì thực chất trong trường hợp này Toà án đã nhập các quan hệ tranh chấp đó để giải quyết trong cùng một vụ án, vì vậy nếu trong quá trình giải quyết các đương sự thoả thuận được một trong số các quan hệ đó thì Toà án sẽ ra quyết định tách vụ án và ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với quan hệ mà các đương sự thoả thuận được, tiếp tục xét xử đối với quan hệ mà các đương sự không thoả thuận được .

4. Giải quyết việc các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn tranh luận và nghị án của phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, HĐXX có được áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự hay vẫn phải tiếp tục ra bản án và công nhận sự thoả thuận của các đương sự là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, Điều 220, theo cách sắp xếp hiện nay trong BLTTDS, được hiểu chỉ có thể áp dụng ngay trong phần đầu của giai đoạn hỏi mà không thể áp dụng trong suốt phiên toà sơ thẩm được. Do đó khi quá trình giải quyết vụ án vượt qua thời điểm giai đoạn đầu của giai đoạn hỏi, nếu các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết vụ án sẽ không có điều luật cụ thể để áp dụng trong khi bản án, quyết định theo đòi hỏi sẽ cần viện dẫn điều luật một các cụ thể từ điểm, khoản cho tới điều luật. Bởi, trong phần phiên toà sơ thẩm, không có được một quy định như Điều 270 của phiên toà phúc thẩm (1). Vì vậy, cần phải ra bản án để công nhận sự thoả thuận của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng cho rằng, trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu thấy cần thiết phải quay lại phần hỏi, căn cứ vào các điều 235,237 BLTTDS, HĐXX sẽ quyết định trở lại phần hỏi, mà việc công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm được quy định ở thủ tục hỏi. Vì vậy, HĐXX có quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Theo chúng tôi, HĐXX được quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Bởi, nếu nhìn từ góc độ quyền tự định đoạt của các đương sự thì không nên hạn chế việc áp dụng Điều 220 trong suốt quá trình diễn ra phiên toà sơ thẩm. Nếu không áp dụng Điều 220 BLTTDS, Hội đồng xét xử sẽ phải ra bản án công nhận sự thoả thuận, đương sự có quyền kháng cáo bản án tức là có quyền chống lại sự thoả thuận của chính mình, điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả thuận của chính mình. Hơn nữa, xét về mặt logíc nếu thoả thuận ở phần thủ tục hỏi, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng nếu thoả thuận ở giai đoạn sau (tranh luận hoặc nghị án) đương sự lại có quyền kháng cáo là điều vô lý. Mặt khác mục đích của việc mở phiên toà cũng chỉ nhằm giải quyết tranh chấp giữa các đương sự mà thôi nên khi các đương sự đã tự giải quyết được mâu thuẫn thì việc xét xử là không cần thiết.

5. Xem xét nội dung thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Điều 5 và Điều 220 BLTTDS quy định tại phiên toà sơ thẩm đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc thoả thuận đó phải “không trái pháp luật” và đạo đức xã hội. Còn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự (BLDS) thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định không thống nhất với nhau. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là vì khi ban hành BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội”. Nhưng đến ngày 1/1/2006 thì BLDS năm 1995 hết hiệu lực và thay vào đó là BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định không thống nhất như vậy sẽ rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Toà án. Vì nếu theo quy định của Điều 220 BLTTDS thì đương sự có quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện đó phải “không trái pháp luật”, nghĩa là đương sự chỉ được làm những gì đúng với quy định của pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung có thể thoả thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Với quy định của Điều 122 BLDS năm 2005, các chủ thể trong các giao dịch dân sự có thể thực hiện các giao dịch dân sự nếu mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đó. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, nó phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, về định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế thì “hoàn thiện chế độ bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Vì vậy, cần sửa cụm từ “không trái pháp luật” được quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS thành cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Với việc quy định như vậy một mặt đã mở rộng các quyền tố tụng của đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật tố tụng dân sự với luật dân sự./.

Tài liệu tham khảo

(1) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 21 năm 2005.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 8/2007, TR 23-29

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VẤN ĐỀ KHÚC MẮC CHÍNH TRONG CỔ PHẦN HÓA

Chương trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã bắt đầu được hơn 10 năm; tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc đẩy nhanh tiến trình này đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết nhằm tăng năng lực cạnh tranh của các DNNN vì việc gia nhập WTO đang đến gần. Mặc dù Chính phủ đã có biện pháp và chính sách mạnh mẽ hơn trong việc sắp xếp, đổi mới DNNN, việc thực hiện cải cách DNNN vẫn bị chậm hơn so với mục tiêu đặt ra.1 Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là khó khăn mà các nhà quản lý cũng như bản thân các DNNN đã và đang gặp phải trong việc định giá để cổ phần hoá. Bản tin này đề cập tới các vấn đề xoay quanh việc định giá DNNN, bao gồm các vấn đề về khung pháp lý, triển khai trên thực tiễn và so sánh với các tập quán quốc tế phổ biến nhằm đưa ra một số đề xuất để đẩy nhanh quá trình cải cách này.

Hạn chế của những cơ chế và phương pháp định giá hiện hành

Theo quy định hiện hành, có hai cơ chế định giá được phép áp dụng là thành lập Hội đồng định giá hoặc thuê công ty tư vấn định giá độc lập.2 Thành viên của Hội đồng định giá là cán bộ đại diện của nhiều cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau, ví dụ như Sở Tài chính, Sở KH-CN, Uỷ ban Nhân dân v.v., vì thế ý kiến đánh giá của họ không phải bao giờ cũng thống nhất và có thể bị nghiêng về những mục tiêu quản lý riêng. Do đó, định giá theo cơ chế này thường không phản ánh được giá trị “thực tế” của DNNN. Hơn nữa, mâu thuẫn về quyền lợi giữa DNNN với các cơ quan quản lý nhiều khi làm cho việc định giá chậm được thống nhất. Việc sử dụng công ty tư vấn độc lập để định giá tuy tỏ ra có hiệu quả hơn nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc xác định giá trị tài sản vô hình như thương hiệu hay lợi thế kinh doanh. Hơn nữa, hầu hết các công ty tư vấn độc lập của Việt Nam vẫn chưa đủ kinh nghiệm và trình độ để định giá các DNNN lớn và phức tạp.

Về mặt kỹ thuật, tuy trên thế giới có nhiều phương pháp định giá nhưng theo quy định của Bộ Tài chính chỉ có hai phương pháp định giá được phép áp dụng là (1) tài sản ròng và (2) dòng tiền chiết khấu.3 Hai phương pháp này được quy định kèm theo các công thức tính toán cố định. Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp định giá phù hợp hơn.

Tranh luận quanh vấn đề tính giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) khi định giá

QSDĐ của nhiều DNNN tính theo giá thị trường là rất lớn, thậm chí có thể còn lớn hơn cả giá trị của tất cả các tài sản khác của doanh nghiệp. Nếu không tính đến giá trị QSDĐ thì DNNN có thể bị định giá quá thấp. Vì vậy, Nhà nước đã có chủ trương thực hiện tính giá trị QSDĐ khi định giá DNNN để cổ phần hoá. Tuy nhiên, thực hiện chủ trương này trên thực tế còn rất khó khăn do thiếu những quy định cụ thể, chưa có thị trường cũng như các tổ chức định giá chuyên nghiệp.

Lãnh đạo các DNNN chuẩn bị cổ phần hóa thường không đồng tình với chính sách tính giá trị QSDĐ khi định giá để cổ phần hóa vì làm như vậy sẽ đẩy giá cổ phần của các DNNN cổ phần hóa lên quá cao, làm cho họ bất lợi hơn các doanh nghiệp khác và không hấp dẫn các nhà đầu tư tiềm năng. Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân khác, theo Luật Đất đai sửa đổi, vẫn được quyền lựa chọn hình thức thuê đất nên không phải tính giá trị QSDĐ vào giá trị doanh nghiệp, do đó hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

Khó khăn trong việc định giá tài sản vô hình

Một số DNNN lớn, hoạt động tốt như Vinamilk, Bảo Minh, Vietcombank đã có kế hoạch cổ phần hoá trong năm nay và những năm tới đây. Các DNNN này đều có thương hiệu và tên tuổi nổi tiếng, tài sản vô hình có thể có giá trị không kém tài sản hữu hình. Mặc dù Bộ Tài chính đã quy định công thức tính giá trị lợi thế kinh doanh của các DNNN (dựa trên giá trị tài sản trên sổ sách và tỷ lệ lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp), các công thức này khó áp dụng trên thực tế. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với các DNNN lớn trong các ngành dịch vụ như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn. Nhiều quan điểm cho rằng phương pháp định giá tốt nhất trong những trường hợp này là đấu giá công khai. Song một số DNNN lo ngại rằng đấu giá công khai sẽ chỉ thu hút các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ chứ không giúp họ đạt được mục tiêu chính khi cổ phần hoá là đem lại những định chế đầu tư chiến lược để đóng góp kinh nghiệm quản lý và chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì thế, còn rất nhiều tranh luận xung quanh việc tìm ra giải pháp định giá tài sản vô hình phù hợp, đặc biệt là đối với các DNNN lớn.

Định giá phần góp vốn của DNNN trong liên doanh

Nhiều DNNN có vốn góp tham gia liên doanh (LD) đang gặp khó khăn trong việc xác định giá trị phần vốn góp này khi cổ phần hoá. Trong nhiều trường hợp, DNNN góp vốn bằng QSDĐ, và một số DNNN giờ đây thừa nhận rằng QSDĐ đó có thể đã được định giá quá cao khi thành lập LD.

Một vấn đề khác là phần lớn các LD đều phát sinh lỗ trong những năm đầu hoạt động, do vậy nếu tính giá trị phần vốn góp tại thời điểm DNNN cổ phần hoá thì phần vốn góp đó thường bị thấp hơn so với số liệu ban đầu khi thành lập LD. Trong những trường hợp này, cơ quan tài chính không chấp nhận xác định giá trị phần vốn góp LD theo sổ sách tại thời điểm cổ phần hoá nhưng cũng chưa tìm ra được một giải pháp định giá nào hợp lý. Hiện nay có rất nhiều DNNN có vốn góp LD với nước ngoài chưa thể cổ phần hoá vì lý do này.

Một số quy định khác về cổ phần hóa có thể gây cản trở cho việc định giá

Rất nhiều DNNN phàn nàn rằng các quy định về xác định giá trị các khoản phải thu khó đòi của Bộ Tài chính là quá cứng nhắc, ví dụ như chỉ được phép xoá nợ khi chứng minh được con nợ đã chết hoặc phá sản. Do vậy, có những DNNN buộc phải tính các khoản phải thu hầu như không có khả năng thu hồi vào giá trị tài sản của doanh nghiệp để cổ phần hoá. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng không xóa các khoản nợ đã bị quá hạn hoặc treo cho những DNNN này. Kết quả là những DNNN đó có thể bị định giá quá cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động cổ đông.

Do các quy định hiện hành về bán cổ phiếu giá ưu đãi cho công nhân, quy định lưu giữ cổ phiếu ít nhất trong vòng 3 năm kể từ sau khi cổ phần hoá v.v., việc cổ phần hóa nhiều DNNN cho đến nay đều mang tính “nội bộ”, hầu như không thu hút thêm được nhà đầu tư mới, số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư ngoài DNNN chỉ chiếm khoảng 10%.4


 

(1) Tổng số DNNN được sắp xếp lại (bao gồm cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản) trong hai năm 2002-2003 là 1.766, trong đó có 905 DNNN là được cổ phần hóa, mới chỉ đạt 80% kế hoạch. Báo cáo sơ kết của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DNNN tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004
(2) Nghị định 64/CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 và các văn bản hướng dẫn có liên quan
(3) Thông tư số 79/2002/TT-BTC
(4) Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004

SOURCE: KINHDOANH.COM.VN

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

THS. ĐẶNG ANH QUĀN –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân… Chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất 1 trong việc sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Vì vậy, theo quy định của pháp luật đất đai, cấp GCNQSDĐ là một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai2, đồng thời cũng là một quyền đầu tiên mà bất kỳ người sử dụng đất hợp pháp nào cũng được hưởng3.

Với những thông tin được thể hiện trên giấy (như tên người sử dụng đất, số hiệu, diện tích, mục đích sử dụng, những biến động sau khi cấp giấy, v.v), GCNQSDĐ giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cả Nhà nước và người sử dụng đất. Về phía Nhà nước, tiến độ cấp và mức độ hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất chứng tỏ khả năng của Nhà nước trong việc quản lý tài sản đất đai thuộc sở hữu của mình, giúp Nhà nước kiểm soát tình hình đất đai một cách thuận tiện. Về phía người sử dụng đất, GCNQSDĐ là cơ sở để họ được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ có thể thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho người sử dụng đất, cụ thể và quan trọng nhất là các quyền giao dịch đối với quyền sử dụng đất. Bởi lẽ đó, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương luôn chú trọng, quan tâm đến hoạt động cấp GCNQSDĐ. Ở bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh của hoạt động trên; đó là quy định về loại GCNQSDĐ.

2. Thực trạng quy định pháp luật về GCNQSDĐ

Tại khoản 5 Điều 9 Luật Đất đai 1987 (được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987), tuy có đề cập đến việc “cấp GCNQSDĐ” nhưng GCNQSDĐ là loại giấy nào thì Luật không quy định rõ. Quy định cụ thể về GCNQSDĐ chính thức có từ Quyết định 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất (các vấn đề như khái niệm, mẫu giấy chứng nhận; đối tượng và điều kiện được cấp giấy; thẩm quyền cấp giấy,v.v). Kể từ đấy, mẫu GCNQSDĐ áp dụng thống nhất cho tổ chức, cá nhân theo quy định của Quyết định 201 được Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát hành và sử dụng theo số sêri liên tục cho đến khi có Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về GCNQSDĐ. Do mẫu giấy này có bìa màu đỏ nên thường được gọi là giấy bìa đỏ hay giấy đỏ. Tuy nhiên, giấy đỏ chỉ áp dụng cấp cho quyền sử dụng đất mà không áp dụng cấp cho đất có nhà ở tại đô thị. Nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và tạo tâm lý yên tâm cho người sử dụng đất, một số địa phương đã chủ động ban hành mẫu giấy chứng nhận tạm thời (như TP. Hồ Chí Minh) cho đến trước ngày 05/7/1994, có mẫu giấy trắng – giấy chứng nhận tạm giao quyền sử dụng đất ở do UBND cấp huyện ký cấp.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, ngày 05/7/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/CP về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, quy định người sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở tại đô thị được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Mẫu giấy chứng nhận này do Bộ Xây dựng phát hành và do có bìa màu hồng nhạt nên thường được gọi là giấy hồng. Theo đó, đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở tại nông thôn vẫn tiếp tục sử dụng mẫu GCNQSDĐ (giấy đỏ), còn đất ở có nhà tại đô thị sẽ được cấp giấy hồng.

Cũng khoảng thời gian này, nảy sinh thực trạng phổ biến là sự buông lỏng quản lý về nhà, đất thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị của Nhà nước gây ra bất hợp lý, lãng phí, sử dụng không đúng mục đích tài sản Nhà nước. Do vậy, để tăng cường, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức trong việc bảo tồn quỹ đất, công trình trụ sở cơ quan, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhà làm việc của các cơ quan hành chính sự nghiệp kèm theo Quyết định 399TC/QLCS ngày 17/5/1995. Những năm tiếp theo, Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 về quản lý tài sản nhà nước, mở rộng đối tượng, quy định các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đều phải đăng ký đất đai, nhà và công trình xây dựng khác gắn liền với đất tại cơ quan quản lý công sản cấp tỉnh. Sau khi đăng ký, các cơ quan, đơn vị, tổ chức sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước. Giấy chứng nhận này do Bộ Tài chính phát hành theo Quyết định 20/1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 và do có màu tím nên thường được gọi là giấy tím.

Như vậy, trước tháng 11/2004, cùng lúc tồn tại cả 3 mẫu GCNQSDĐ hợp pháp do 3 cơ quan khác nhau chịu trách nhiệm phát hành và tổ chức thực hiện cấp cho người sử dụng đất, gồm:

– GCNQSDĐ – giấy đỏ, thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường.

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở – giấy hồng, thuộc ngành Xây dựng.

– Giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà, đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước – giấy tím, thuộc ngành Tài chính.

Với những quy định đó, mỗi một loại giấy chứng nhận được cấp theo một trình tự, thủ tục khác nhau; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất liên quan cũng có ít nhiều khác biệt, đồng thời hoạt động quản lý đất đai của nhà nước đối với từng loại đất và tài sản trên đất cũng bị tách rời, thuộc nhiều cơ quan khác nhau, gây khó khăn trong việc kiểm soát biến động đất đai. Do đó, một số thành phố trực thuộc Trung ương (như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) đã có sáng kiến sáp nhập hai Sở Địa chính và Nhà đất thành Sở Địa chính – Nhà đất, và cơ quan này chỉ cấp cho người dân một loại giấy hồng.

Với mong muốn tạo thuận tiện cho người sử dụng đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thống nhất việc quản lý đất đai và tài sản gắn liền với đất, không phụ thuộc loại đất, mục đích sử dụng đất, đến Luật Đất đai 2003 (được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004) quy định về GCNQSDĐ đã có sự thay đổi cơ bản.

Khoản 4 Điều 48 Luật Đất đai 2003 quy định: “GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất. Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên GCNQSDĐ; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản”. Người đã được cấp giấy đỏ hoặc giấy hồng sẽ được đổi sang giấy mới khi có sự chuyển quyền sử dụng đất. Và theo Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành quy định về GCNQSDĐ thì mẫu giấy chứng nhận này cũng có màu đỏ. Như vậy, một sản phẩm giấy đỏ mới đã ra đời theo Luật Đất đai 2003 thay thế cho ba loại giấy tờ đỏ, hồng, tím hợp pháp đang tồn tại, thống nhất chung một giấy chứng nhận cho mọi loại đất và cả tài sản trên đất. Người dân chưa kịp vui mừng vì thủ tục hành chính trong cấp GCNQSDĐ có thể sẽ đơn giản hơn thì thực tiễn áp dụng lại nảy sinh không ít vướng mắc.

Thứ nhất, số lượng GCNQSDĐ mà một người sử dụng đất phải cất giữ sẽ tăng lên. Đối với người sử dụng một diện tích đất bao gồm nhiều thửa, nếu trước đây, họ chỉ cần một giấy đỏ cũ (mỗi giấy chứng nhận được ghi nhiều thửa4), thì nay, mỗi một thửa đất phải cấp riêng một giấy, bao nhiêu thửa đất là bấy nhiêu giấy đỏ mới (GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất5), kéo theo đó là thời gian, công sức đo vẽ thực địa, đối chiếu, xác minh hồ sơ, bản đồ địa chính tăng lên.

Thứ hai, người sử dụng đất từ chỗ được thừa nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất, có thể sẽ chỉ còn quyền sử dụng đất sau khi được cấp giấy đỏ mới do việc chuyển quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, giấy đỏ mới chỉ ghi nhận tài sản trên đất chứ không công nhận quyền sở hữu. Muốn xác lập quyền sở hữu, chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản6.

Chính sự mập mờ, không rõ ràng của thuật ngữ pháp lý tại Điều 48 Luật Đất đai 2003 đã gây lúng túng cho các cơ quan cấp giấy trong việc xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất cho người sử dụng đất. Việc “ghi nhận” có phải là công nhận sở hữu hay không? Điều này đã dẫn đến sự tranh chấp giữa các cơ quan quản lý có thẩm quyền liên quan, cụ thể là giữa Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường về vấn đề thừa nhận quyền sở hữu tài sản. Hệ quả của cuộc tranh cãi “bất phân thắng bại” là một sản phẩm giấy chứng nhận mới nữa lại tiếp tục ra đời. Đó là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng do Bộ Xây dựng phát hành theo Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ. Sự việc dường như quay trở lại thời điểm ban đầu với sự tồn tại song song hai giấy chứng nhận: giấy hồng và giấy đỏ. Thế nhưng, một làn sóng ý kiến phản đối mạnh mẽ từ công luận đã dấy lên thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cho thấy sự việc không đơn giản. Nếu giấy hồng cũ thừa nhận chung cho cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thì giấy hồng mới lại bỏ đi quyền sử dụng đất mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng. Nghĩa là cùng một diện tích đất có tài sản gắn liền, nếu trước đây chỉ cần một giấy hồng cũ, thì nay để công nhận cần phải có hai giấy chứng nhận: một giấy hồng mới chứng nhận quyền sở hữu tài sản và một giấy đỏ mới chứng nhận quyền sử dụng đất. Một số rắc rối cũng nảy sinh từ đấy.

Thứ nhất, đối tượng áp dụng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng được quy định rõ là tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài7, nhưng không có hộ gia đình, dù đây là một trong những chủ thể sử dụng đất được thừa nhận, đồng thời cũng là chủ sở hữu của tài sản mà các thành viên trong hộ cùng tạo lập trên đất. Như vậy, quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của hộ gia đình có được đảm bảo hay không; hay là xem việc sở hữu nhà, sở hữu công trình xây dựng của hộ gia đình thuộc trường hợp sở hữu của nhiều chủ sở hữu như quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 95? Trong trường hợp như thế, mỗi thành viên trong hộ đều được cấp riêng một giấy hồng hay chỉ cần chung một giấy; và giấy này có thể hiện được nhà ở hoặc công trình xây dựng đó là tài sản chung hợp nhất hay theo phần hay không nhằm phân định rõ quyền định đoạt tài sản của mỗi thành viên? Đây cũng là vấn đề mà quy định về giấy hồng chưa giải quyết được đối với trường hợp sở hữu của nhiều chủ sở hữu.

Thứ hai, theo quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng, khi nộp hồ sơ, chủ sở hữu phải xuất trình giấy tờ gốc về nhà ở, công trình xây dựng để cán

bộ có thẩm quyền đối chiếu với các bản sao8. Tuy nhiên, đây là điều rất khó thực hiện đối với những chủ sở hữu tài sản đã làm thủ tục xét cấp GCNQSDĐ trước khi làn thủ tục để được cấp giấy hồng. Nguyên nhân là khi cấp giấy đỏ cho người sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền cũng đã đồng thời thu giữ toàn bộ giấy tờ nhà bản chính thì làm sao họ có thể xuất trình được các giấy tờ này?

Thứ ba, hai loại giấy chứng nhận với hai quy định về trình tự, thủ tục cấp giấy tiến hành ở hai hệ thống cơ quan quản lý khác nhau liệu có phải đã là một sự cải cách thủ tục hành chính tạo thuận tiện và đơn giản hơn cho người dân? Hầu như ai cũng biết người sử dụng đất trước đây đã phải tốn công sức, tiền của để có trong tay mảnh giấy chứng nhận đỏ hoặc hồng, thậm chí có người phải chờ đợi hàng chục năm cũng chưa được cấp.

Vì vậy, việc họ “dị ứng” khi nghe nói đến phải trải qua hai lần thủ tục khác nhau là lẽ đương nhiên. Bởi vì, mặc dù quy định pháp luật đã “cố hết sức” tỏ ra đơn giản; các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền hùng hồn tuyên bố sẽ tạo điều kiện thuận tiện, dễ dàng cho dân, nhưng có ai dám bảo đảm và kiển tra được những cán bộ thừa hành không cố tình đặt ra các quy định, đòi hỏi ngoài lề; không cố tình tạo ra rắc rối, phức tạp, gây khó dễ để mà nhũng nhiễu, hạch sách người xin cấp giấy?

Thứ tư, đất đai và nhà ở, công trình xây dựng là những bất động sản không thể tách rời nhau nhưng thực tế lại bị tách rời bởi ý chí của nhà quản lý. Khác nào chính cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trước hết, đã tự làm khó cho hoạt động quản lý của mình khi mà trong điều kiện hiện nay, việc cung cấp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan chưa có cơ chế ràng buộc rõ ràng, thuận tiện và nhanh chóng. Giả sử, một người có cả giấy đỏ lẫn giấy hồng, họ vừa thế chấp nhà bằng giấy hồng vừa chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy đỏ; hoặc thế chấp hai giấy chứng nhận tại hai tổ chức tín dụng khác nhau thì cơ quan quản lý giải quyết thế nào? Quyền lợi của người nhận chuyển nhượng hoặc của tổ chức tín dụng khi tài sản bị phát mại được đảm bảo ra sao? Bởi lẽ, không thể tách ra giải quyết riêng nhà và đất, và cũng không thể nào ngăn cấm người có hai giấy chứng nhận thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình.

Mặc dù có nhiều điểm không phù hợp yêu cầu cuộc sống trong quy định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng đã được dư luận phản ánh nhưng Bộ Xây dựng vẫn “tích cực” thúc đẩy việc cấp giấy hồng như: nhanh chóng ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 95/2005/NĐ-CP9, phổ biến, hướng dẫn các địa phương trong thủ tục cấp giấy, v.v. Tuy nhiên, đổi lại là sự dè dặt, ngần ngại áp dụng của hầu hết các địa phương. Thậm chí, có nơi (như Đà Nẵng) không chấp nhận việc cấp giấy hồng bởi cơ quan quản lý có thẩm quyền đã linh động thừa nhận quyền sở hữu tài sản trên đất cho người sử dụng đất ngay trong giấy đỏ. Việc làm này được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo người dân.

Vào thời điểm vấn đề hai giấy chứng nhận chưa được giải quyết, thực hiện triệt để, dư luận chỉ mới tạm lắng xuống thì một cơ quan quản lý khác là Bộ Tư pháp, thông qua dự thảo Luật Đăng ký bất động sản, đã dự định cho ban hành một mẫu giấy mới thay thế cho cả giấy đỏ và giấy hồng đang tranh chấp. Theo dự thảo Luật Đăng ký bất động sản, khi đăng ký quyền sở hữu bất động sản của mình tại Văn phòng đăng ký bất động sản, chủ sở hữu sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký bất động sản và dùng giấy này để tham gia giao dịch. Vì chưa định hình mẫu giấy nên tạm gọi là giấy xanh để phân biệt với những sắc màu đỏ, hồng sẵn có (nghĩa là giấy đỏ hay giấy hồng thì cuối cùng rồi cũng phải đổi thành giấy xanh) Tuy chỉ là dự thảo góp ý nhưng quy định này còn bất cập hơn, gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ từ dư luận bởi nó chẳng những không giải quyết được vấn đề mà còn làm cho việc cấp giấy thêm rắc rối, phức tạp, thậm chí có thể trở thành vô nghĩa bởi vì hai lý do sau đây.

Thứ nhất, mục đích của việc đăng ký bất động sản là nhằm công khai thông tin về bất động sản đó trên thị trường, đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia giao dịch. Hành vi đăng ký không thể xem là hành vi xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng và hoạt động tiếp nhận đăng ký không thể thay thế cho hoạt động công nhận quyền sở hữu một tài sản hay quyền sử dụng đất. Theo quy định của khoản 1 Điều 48 Luật Đất đai 2003: “chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản”. Như vậy, chỉ có chủ sở hữu mới có thể thực hiện hành vi đăng ký, nghĩa là người có tài sản đã được Nhà nước công nhận quyền sở hữu của họ đối với tài sản đó trước khi thực hiện hành vi đăng ký bất động sản. Hơn nữa, việc xác lập, công nhận quyền sở hữu là công việc thuộc chức năng, thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước chứ không thể là chức năng, thẩm quyền của Văn phòng đăng ký bất động sản – một loại hình tổ chức thực hiện dịch vụ công.

Thứ hai, nếu phải đổi sang giấy xanh để được đưa vào giao dịch thì hàng triệu giấy hồng, giấy đỏ đã được cấp sẽ chẳng có giá trị, nghĩa lý gì. Người có nhu cầu sẽ không quan tâm tới việc làm thủ tục để được nhận giấy đỏ, giấy hồng bởi vì cuối cùng thì họ cũng phải đổi giấy xanh. Bao nhiêu thời gian, nhân lực và tiền bạc mà Nhà nước và nhân dân đã bỏ ra trong thời gian qua cho việc cấp giấy đỏ, giấy hồng là hoàn toàn lãng phí. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỉ lệ đất trong cả nước có giấy tờ hợp pháp đến tháng 6/2005 là 97% đối với đất nông nghiệp, 75% đối với đất lâm nghiệp, 45% đối với đất ở đô thị10. Có 26 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ nông nghiệp; 15 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp; 10 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ ở đô thị; 20 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ ở nông thôn; có năm tỉnh là Đà Nẵng, Long An, Bắc Ninh, Hậu Giang và Sóc Trăng hoàn thành cấp GCNQSDĐ cho tất cả các loại đất11. Việc cấp giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước nhìn chung chưa thực hiện được. Theo đó, chọn lựa nào là hợp lý giữa một hệ thống GCNQSDĐ đã được xây dựng khá ổn định, lâu dài (dù còn phải cải tiến nhiều) với việc phủ nhận tất cả để xây dựng một hệ thống giấy chứng nhận hoàn toàn mới mà mô hình của nó còn chưa rõ ràng, nó mới đang được mày mò trong áp dụng? Theo chúng tôi, việc chọn lựa khôn ngoan và đơn giản hơn cả là tiếp tục hoàn thiện việc cấp giấy đỏ, giấy hồng và chỉ cần chỉnh lý những biến động (nếu có) trực tiếp vào trong giấy.

Vì thế, quy định về đăng ký bất động sản tạm thời vẫn còn phải tiếp tục được nghiên cứu, chưa thể trở thành quy phạm pháp luật áp dụng vào cuộc sống. Vấn đề một hay hai giấy chứng nhận đối với nhà và đất vẫn còn phải chờ sự quyết định của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho toàn thể nguyện vọng của nhân dân. Từ ngày 01/7/2006 trở đi, khi Luật Nhà ở có hiệu lực, sẽ chỉ còn thống nhất một giấy chứng nhận cho cả nhà và đất (có thể là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở12). Những điều trên cho thấy những quy định không được cuộc sống chấp nhận sẽ không thể tồn tại và phải nhường chỗ cho những quy định phù hợp hơn được khai sinh và phát triển.

3. Bài học từ quy định mẫu GCNQSDĐ

Từ thực tế cấp các loại GCNQSDĐ diễn ra trong thời gian qua, có thể rút ra được nhiều điều.

Thứ nhất, chúng ta không thể phủ nhận mong muốn tốt đẹp cải cách hành chính trong việc cấp GCNQSDĐ của các cơ quan quản lý. Từ một “rừng” giấy chứng nhận đỏ, hồng, tím hoặc những giấy tờ hợp lệ ở từng thời điểm khác nhau trước đây, thống nhất lại chỉ còn một hoặc hai loại giấy là điều đáng mừng. Thế nhưng, dường như ở các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa xác định rõ được cái gốc của vấn đề, chưa có sự phối kết hợp trong thực hiện nên càng tiến hành cải cách càng bước lùi lại xa hơn mốc ban đầu để rồi cứ hết cơ quan này lại đến cơ quan khác loay hoay sửa đổi; cuối cùng vẫn gần như trở lại điểm xuất phát: giấy đỏ cho quyền sử dụng đất, giấy hồng (tạm gọi) cho cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của mà Nhà nước và nhân dân đã tiêu tốn nhưng mục tiêu hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được giải quyết, càng ngày càng gặp phải nhiều khó khăn hơn. Hậu quả là nguồn kinh phí Nhà nước phải chi cho những giấy đỏ, giấy hồng cũ đã in phải bỏ, cho bộ máy nhân sự triển khai cấp giấy đỏ, giấy hồng, cho mẫu giấy hồng mới vừa in có thể sẽ bị hủy để thay thế bằng giấy chứng nhận theo Luật Nhà ở, v.v rất lớn; đó là chưa kể tới tác động về mặt xã hội: gây hoang mang, bất ổn cho người sử dụng đất trước sự bất nhất của các cơ quan quản lý.

Ở đây, khách quan mà nói, có cần thiết phải ban hành hai mẫu giấy chứng nhận cho đất và cho nhà với đất hay không? Đất là loại bất động sản cố định, không có sự di chuyển dù quyền đối với đất có thể đưa vào giao dịch. Còn nhà, tuy là tài sản gắn liền trên đất nhưng vẫn có thể dịch chuyển được; kết cấu, hình thể của nó có thể thường thay đổi theo nhu cầu, sở thích của người sở hữu. Với giấy hồng cho nhà và đất thì khi nhà có sự thay đổi phải thay đổi luôn cả giấy chứng nhận, làm lại hồ sơ. Trong khi đó, với giấy đỏ mới thì chỉ cần ghi nhận, bổ sung sự thay đổi đó trong giấy, kết hợp với việc đăng ký biến động quyền thì đối với cả Nhà nước lẫn người dân đều đỡ phải tốn công sức, thời gian làm thủ tục. Như vậy, so với việc loay hoay nghiên cứu, ban hành rồi lại thay thế mẫu giấy cho phù hợp (nhưng lại tiến hành theo kiểu “gọt chân cho vừa giày”) thì việc nghiên cứu cải tiến nội dung GCNQSDĐ thể hiện được sự thừa nhận quyền sở hữu tài sản trên đất là điều đơn giản hơn, đồng thời cũng giảm đáng kể nguồn kinh phí. Quan trọng là các cơ quan có thẩm quyền cần xác định rõ mục đích của việc cải tiến này là nhằm thuận tiện hơn cho công tác quản lý chứ không phải là vấn đề tranh chấp quyền quản lý, bớt quyền của cơ quan này, tăng quyền cho cơ quan khác.

Thứ hai, ba cơ quan Tài nguyên – Môi trường, Xây dựng và Tư pháp với ba loại giấy chứng nhận cùng với những quy định, lý lẽ bảo vệ mẫu giấy của mình khác nhau, nhưng các cơ quan này đều giống nhau ở một điểm mà tác giả Diệp Văn Sơn đã nêu trên Báo Tuổi trẻ ngày 11/7/2005 là tư duy quản lý lỗi thời, ăn cây nào rào cây nấy. Bộ Tài nguyên và Môi trường gom công việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở vốn dĩ trước đây thuộc ngành xây dựng vào lĩnh vực quản lý của mình. Bộ Xây dựng thì tìm mọi cách giữ lại công việc đó. Bộ Tư pháp là người thứ ba, bất chấp sự tranh chấp đang diễn ra, cũng tìm cách ôm việc. Ba cơ quan trên không mấy quan tâm đến việc phối hợp với nhau trong việc cùng giải quyết một vấn đề hữu quan. Và cho dù họ có tuyên bố các quy định, thủ tục của ngành mình thuận lợi, đơn giản đến đâu thì chính sự không phối hợp này đã chẳng thể nào che giấu được sự tranh chấp ngầm công việc gắn liền với những quyền lợi nhất định giữa họ với nhau. Bản chất của vấn đề là cơ quan nào cũng chỉ muốn kéo quyền lợi về phía mình. Chính vì vậy, khi được giao trọng trách quy định điều chỉnh một vấn đề rất chung, khó tách rời là nhà và đất (kể cả tài sản gắn liền trên đất), cả ba ngành đều không cùng chí hướng với nhau, cuối cùng gây khổ cho người dân. Nếu ngay từ đầu cả ba cơ quan có thể gạt bỏ những quyền lợi riêng ngành mà ngồi lại cùng trao đổi với nhau thì sự việc có lẽ sẽ thuận lợi, đơn giản hơn nhiều, không đến mức độ phải liên tục thay đổi làm cho người sử dụng đất hoang mang. Vì lẽ đó cần phải xem lại cách làm luật hiện nay; chúng ta không nên chỉ giao cho cơ quan quản lý lĩnh vực nào thì soạn thảo quy định điều chỉnh quan hệ của lĩnh vực đó. Đối với những vấn đề chung có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý cần phải có một ban soạn thảo chung giữa các cơ quan. Đã đến lúc phải xem xét đến một cơ quan chuyên trách cho hoạt động lập pháp sau này. Nếu không, phải có quy định ràng buộc, xử lý trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan phụ trách soạn thảo luật nhằm nậng cao sự trao đổi, thống nhất, đảm bảo tính khả thi của luật pháp. Bởi lẽ kinh phí cho mỗi dự luật, mỗi lần sửa đổi, bổ sung mà ngân sách nhà nước phải chi là không ít; trách nhiệm không rõ ràng thì việc luật được soạn thảo, ban hành vẫn không phù hợp và vẫn cứ phải thay đổi, bổ sung là lẽ đương nhiên.

Thứ ba, hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất là điều đáng hoan nghênh, nhưng trong giai đoạn hiện nay, hoạt động này có phải là quan trọng nhất, cần đặt ưu tiên, để rồi cứ tranh cãi hết mẫu giấy này đến mẫu giấy khác? Thực tế đã chứng minh, dù hàng năm Chính phủ đều đề ra chỉ tiêu, kế hoạch cấp GCNQSDĐ; dù công tác cấp giấy có được cải tiến như thế nào đi nữa thì hầu hết các địa phương đều không thể hoàn thành. Nguyên nhân là: để tiến hành cấp GCNQSDĐ thì điều kiện đòi hỏi là việc sử dụng đất phải phù hợp quy hoạch, có bản đồ địa chính; nhưng cả quy hoạch sử dụng đất, cụ thể là quy hoạch sử dụng đất chi tiết lẫn hệ thống bản đồ địa chính tại các địa phương vẫn chưa được hoàn thiện, phủ kín địa bàn. Nơi có thì đã lạc hậu, nhiều sai lệch, không kịp thời cập nhật. Nơi thì thiếu, thậm chí chưa có. Vì vậy, các địa phương không thể tiến hành cấp GCNQSDĐ một cách đại trà mà chỉ có thể xem xét cấp cho từng trường hợp theo nhu cầu, nhưng vẫn phải mất thời gian xác minh, đo vẽ lại. Thiết nghĩ, vấn đề quan trọng hiện nay là Nhà nước và chính quyền các địa phương cần tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính và quy hoạch sử dụng đất làm nền tảng cho việc cấp GCNQSDĐ có thể triển khai nhanh chóng hơn là cứ mất thời gian cho việc tranh cãi về các loại giấy, thẩm quyền. Vả lại, đối với người sử dụng đất, thực chất GCNQSDĐ hay quyền sở hữu nhà ở chỉ là một văn bản pháp quy mà họ mong mỏi có trong tay để an tâm về quyền sử dụng đất hay quyền sở hữu tài sản của mình, để chắc rằng Nhà nước đã thừa nhận và bảo vệ quyền của họ. Người sử dụng đất chưa có GCNQSDĐ thì không có nghĩa họ không phải là người sử dụng đất hợp pháp. Quan hệ pháp luật đất đai vẫn đã phát sinh và Nhà nước vẫn đã thừa nhận tư cách của người sử dụng đất trước cả thời điểm họ được cấp giấy chứng nhận bằng những quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, bằng những giấy tờ hợp lệ chứng minh, bằng sự công nhận việc người sử dụng đất nhận quyền hợp pháp từ người khác. Cấp GCNQSDĐ chỉ là việc tiến hành thủ tục cấp đổi mà thôi.

Thứ tư, Luật Nhà ở sẽ có hiệu lực vào ngày 01/7/2006, quy định chỉ cần một giấy chứng nhận cho cả nhà và đất. Vì vậy, đối với người sử dụng đất, để tránh bị tốn công sức, tiền bạc, thời gian làm đi làm lại giấy, nếu chưa thực sự cần thiết thì nên chờ cho đến khi cơ quan có thẩm quyền quy định, ban hành và triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thống nhất theo Luật Nhà ở hãy tiến hành làm thủ tục xin cấp giấy.

Chú thích:

1 Xem quy định về việc cấp GCNQSDĐ ban hành kèm Quyết định 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất.

2 Xem điểm e khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai 2003.

3 Xem khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai 2003.

4 Xem Mục III.3, Phần I Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ.

5 Xem khoản 3 Điều 48 Luật Đất đai 2003.

6 Xem khoản 1 Điều 48 Luật Đất đai 2003.

7 Xem Điều 2 Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005.

8 Xem Điều 12 Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005.

9 Thông tư 13/2005/TT-BXD ngày 05/8/2005.

10 Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh ngày 29/6/2005.

11 Theo báo Thị trường bất động sản và tài sản ngày 22/7/2005.

12 Xem Điều 11 Luật Nhà ở được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2006

THỦ TỤC TUYÊN BỐ PHÁ SẢN

Đối tượng áp dụng:

Thẩm quyền của tòa án

Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhận đơn và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh thành phố.

Toà án nhân dân huyện, quận có thẩm quyền nhận đơn và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện, quận đó.

Những người có quyền nộp đơn

–   Chủ nợ

–   Ngư­ời lao động trong trư­ờng hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả đ­ược l­ương, các khoản nợ khác cho ngư­ời lao động

–   Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nư­ớc

–   Các cổ đông công ty cổ phần

–   Thành viên hợp danh công ty hợp danh.

Những người có nghĩa vụ nộp đơn:

– Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

▪ Hồ sơ cần thiết:

I. Người nộp đơn là chủ nợ

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của ng­ời làm đơn;

c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

d) Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không đ­ợc doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;

đ) Quá trình đòi nợ;

e) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

II. Người nộp đơn là người lao động

1. Đại diện cho ng­ười lao động đ­ược cử hợp pháp sau khi đ­ược quá nửa số ng­ười lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diện cho ng­ười lao động đ­ược cử hợp pháp phải đựơc quá nửa số người được cử làm đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của ng­ừơi làm đơn;

c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

d) Số tháng nợ tiền l­ương, tổng số tiền l­ương và các khoản nợ khác mà doanh nghiệp, hợp tác xã không trả đ­ược cho ng­ười lao động;

đ) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

III. Người nộp đơn là doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;

c) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải đ­ược gửi cho Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 7 của Luật phá sản.

4. Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài liệu sau đây:

a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải đ­ựơc tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận;

b) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, nhưng vẫn không khắc phục đ­ược tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;

c) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có tài sản nhìn thấy đư­ợc (mẫu 1);

d) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ ch­ưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm (mẫu 2);

đ) Danh sách những ng­ươì mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chư­a đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm (mẫu 3);

e) Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh nghiệp;

g) Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải cung cấp theo quy định của pháp luật.

IV. Người nộp đơn là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước

1. Khi nhận thấy doanh nghiệp nhà n­ước lâm vào tình trạng phá sản mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đu­ợc thực hiện như mục III trên đây.

V. Người nộp đơn là các cổ đông công ty cổ phần

1. Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn đ­ược thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông. Tr­ường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành đ­ược đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đ­ược thực hiện như mục III, trừ các giấy tờ, tài liệu điểm d, đ và e .

VI. Người nộp đơn là thành viên công ty hợp danh

1. Khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản thì thành viên hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đ­ợc thực hiện như mục III.

▪ Thời gian giải quyết:

– Ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản: 30 ngày kể từ ngày toà án thụ lý hồ sơ.

– Niêm yết danh sách chủ nợ, người mắc nợ: 60 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản.

– Khiếu nại và giải quyết khiếu nại danh sách chủ nợ: 15 ngày kể từ ngày niêm yết.

– Hội nghị chủ nợ: 15 ngày kể từ ngày khoá sổ danh sách chủ nợ.

▪ Địa điểm tiếp nhận:
– Tổ thụ lý, Văn phòng TAND ĐỊA PHƯƠNG

OAN SAI TRONG TỐ TỤNG – NGUYÊN TẮC, THỦ TỤC BỒI THƯỜNG

LÊ THỊ MẬN –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

“Oan sai” là khái niệm không mới với hoạt động tố tụng. “Bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai” cũng là thuật ngữ quen thuộc trong nhà nước pháp quyền, biểu hiện của công bằng xã hội, cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hiện nay, bồi thường oan sai không phải là sự áp đặt hoặc sao chép máy móc tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác mà phải được thực hiện theo thông lệ hay trên cơ sở những định chế toàn diện – hệ thống, vừa đầy đủ nguyên tắc của việc bồi thường, vừa đảm bảo tuân theo một trình tự thủ tục chặt chẽ nhất định.

1. Oan, sai và quyền được bồi thường oan sai trong tố tụng

Theo Từ điển tiếng Việt, “oan” là “bị qui cho tội mà bản thân không phạm, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân không đáng phải chịu”. Còn “sai” được hiểu là “không đúng, không phù hợp với lẽ phải”1. Trong tố tụng hình sự, một người được coi là “oan” khi bản thân họ không phạm tội nhưng các cơ quan tư pháp xác định họ phạm tội và thực hiện các biện pháp tố tụng gây tổn hại về mặt vật chất, tinh thần với họ. Còn “sai” trong tố tụng thường thể hiện qua nhiều cấp độ. Người được coi là bị truy tố xét xử sai khi cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án thiếu khách quan mà hậu quả cuối cùng là người bị truy tố xét xử sai phải gánh chịu những tổn hại nhất định. Việc tiên lượng đánh giá bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra vì vậy cần có sự cân nhắc. Tuy nhiên, điều ai cũng biết là oan, sai không phải là hiện tượng cá biệt. Mọi quốc gia, mọi nơi trên thế giới này, đâu cũng có oan, sai – cho dù nền tư pháp của một nước yếu kém hay phát triển. Bởi theo như đánh giá của giới chuyên môn thì “không một thiết chế nào của con người có thể miễn dịch hoàn toàn với sai lầm. Vì rằng sai lầm nằm trong bản tính con người” 2.

Thật vậy, cho dù câu nói “Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai” của người xưa vẫn còn đó với ngụ ý vẻ như ở đời thật khó có chỗ cho hai chữ “oan, sai”. Thế nhưng“oan, sai” vẫn song hành trên “con đường tố tụng”. Và để bù đắp thiệt hại oan, sai, Điều 9 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, khoản 6 Điều 14 Công ước Dân sự chính trị nêu rõ: “Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ và giam cầm trái phép có quyền được Chính phủ bồi thường thiệt hại”. Xuất phát từ cơ sở kinh tế, đặc điểm xã hội và từ những cách tiếp cận khác nhau, nhiều quốc gia cũng đưa ra các thể chế bảo vệ quyền được bồi thường phát sinh trong hoạt động tố tụng. Ở một số nước theo hệ thống thông luật như Anh, Mỹ, dù việc bồi thường oan, sai không được pháp điển hoá bằng văn bản cụ thể song vẫn được thực hiện trên cơ sở án lệ hay từ cam kết của cơ quan có thẩm quyền (Ví dụ: căn cứ vào cam kết của Bộ trưởng Bộ nội vụ trước Hạ viện Anh từ năm 1985, người bị giam giữ oan, sai ở Anh hiện vẫn có thể kiện đòi bồi thường). Mới đây, tháng 5/2005, báo VnExpress lại đưa tin một công dân Trung Quốc vừa đệ đơn đòi cơ quan chức năng phải chính thức xin lỗi và bồi thường cho 11 năm ngồi tù của mình. Theo luật định, người từng chịu oan ức này có thể được khôi phục tinh thần và được bù đắp vật chất khoảng 256.000 NDT. Tại Nhật Bản, bồi thường thiệt hại do oan, sai được xét trên cả hai yếu tố: vật chất lẫn tinh thần. Tòa án khi quyết định mức bồi thường phải “xem xét tính chất và thời gian người được bồi thường thiệt hại bị giam giữ; những thiệt hại về tài sản, về lợi ích kinh tế; những tổn thương về thể chất và tinh thần” (khoản 4 Điều 4 Luật Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự Nhật Bản).

Cách đây gần 6 thế kỷ, nguyên tắc điều tra xét xử tránh gây oan, sai đã được quy định trong pháp luật nước ta. Điều 667 Bộ luật Hồng Đức nêu rõ: “Khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải xem xét kỹ tìm ra sự thật, để cho kẻ phạm phải nhận tội, không được hỏi quá rộng đến cả người ngoài để tìm chứng cứ bậy”. Còn “quan xét án… tìm việc khác để buộc tội người thì xử là cố ý bắt tội người” (Điều 670). Cũng theo Bộ luật Hồng Đức, “Những quan ty làm việc có điều lầm lỗi, sự tình đã rõ ràng mà không chịu phục tình tạ lỗi, lại còn dối trá che đậy, xét tội nhẹ thì thì xử biếm hay tội đồ, nặng thì xử lưu” (Điều 237). Kế thừa và phát huy tư tưởng văn minh đó, pháp luật hiện đại tiếp tục xây dựng những nguyên tắc tiến bộ nhằm bảo đảm quyền được bồi thường do hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra. Điều 72 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Người bị bắt, bị giam giữ, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”. Trong tố tụng hình sự, quyền được bồi thường cho người bị truy tố, xét xử oan cũng được ghi nhận bằng nguyên tắc độc lập. Theo đó, “người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi” (Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự). Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng nêu rõ: cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và có quyền yêu cầu người đã gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường.Đặc biệt, Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17/03/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (gọi tắt là Nghị quyết 388) và Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/03/2004 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thi hành một số qui định của Nghị quyết 388 (gọi tắt là Thông tư 01) ra đời đánh dấu thêm bước tiến mới trong lý luận bồi thường thiệt hại. Đối tượng được bồi thường, tiêu chí xác định thiệt hại và mức bồi thường, kinh phí, cơ quan có trách nhiệm bồi thường và đặc biệt là nguyên tắc và trình tự thủ tục bồi thường được qui định cụ thể theo hướng bảo đảm quyền con người, thể hiện ngày một đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước trước công dân.

2. Nguyên tắc, thủ tục bồi thường thiệt hại

2.1 Nguyên tắc bồi thường

Nghiên cứu án lệ và văn bản pháp luật các nước có thể thấy giới hạn thiệt hại bồi thường do hoạt động tố tụng gây ra đa phần được xác định gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Gần đây, do tính bất hợp lý của nguyên tắc “miễn trừ quốc gia” – nguyên tắc có nội dung xác định nhà nước không phải là bị đơn trong vụ kiện yêu cầu bồi thường do hành vi của nhân viên mình gây ra khi thi hành công vụ – ngày càng ít được vận dụng. Thay vào đó, “Thuyết trách nhiệm đại diện” được nhiều nước lưu tâm. Theo đó nhân viên nhà nước khi thực hiện chức phận của mình mà gây tổn hại thì phải chịu trách nhiệm bồi hoàn. Tuy nhiên, nhà nước được coi là chủ thể “đại diện” đứng ra chi trả bồi thường sau đó yêu cầu người trực tiếp gây tổn hại hoàn trả. Mục đích của qui định này nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền, nâng cao trách nhiệm, phát huy tính tích cực chủ động của cá nhân đồng thời bảo đảm cho việc giải quyết bồi thường kịp thời, nhanh chóng.

Ở nước ta, bồi thường thiệt hại cho người bị oan cũng xuất phát từ nguyên tắc và ý nghĩa đó. Theo Điều 3 Nghị quyết 388 và khoản 1 mục 3 Thông tư liên tịch 01 thì bồi thường thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra phải đảm bảo các tiêu chí :

– Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;

– Tạo điều kiện thuận lợi để người bị oan, thân nhân người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền được bồi thường của mình;

– Việc bồi thường trước hết phải được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị oan, thân nhân người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ. Khi thương lượng không thành, người bị oan có quyền khởi kiện ra tòa để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự;

– Cơ quan tố tụng nào gây oan thì cơ quan đó có trách nhiệm chủ động giải quyết bồi thường. Kinh phí bồi thường trích từ ngân sách nhà nước và người trực tiếp gây thiệt hại phải có nghĩa vụ hoàn trả;

– Bảo đảm bồi thường toàn bộ thiệt hại theo luật định, bao gồm cả thiệt hại vật chất lẫn thiệt hại tinh thần. Về tinh thần, người bị oan được khôi phục danh dự, được xin lỗi cải chính công khai. Khi nhân thân bị xâm hại như tự do bị hạn chế, sức khỏe bị tổn hại thì được bồi thường bằng tiền theo mức lương tối thiểu (1 ngày tù bằng 3 ngày lương; người bị oan chết: người thân của họ được bồi thường 360 tháng lương; oan khác: 1 ngày oan bằng 1 ngày lương). Với thiệt hại vật chất thì xác định theo từng trường hợp như khi người bị oan chết, khi người bị oan bị tổn hại sức khỏe, khi tài sản người bị oan bị xâm hại hoặc khi thu nhập thực tế của họ bị mất.

2.2 Trình tự, thủ tục bồi thường

Mỗi một quốc gia trên thế giới có một cách giải quyết bồi thường oan, sai song đa phần trình tự thủ tục bồi thường được xác định theo hướng giản đơn, thời hiệu ngắn. Luật pháp Đức qui định trong thời hạn 6 tháng khi có quyết định hoặc bản án của Tòa, người bị hại có quyền gửi đơn đến Bộ Xã hội yêu cầu giải quyết bồi thường. Và để bảo đảm công bằng, khách quan, luật pháp nhiều nước trao thẩm quyền giải quyết bồi thường do hoạt động tố tụng gây ra cho một cơ quan độc lập.

Ở Bỉ và Tây Ban Nha, cơ quan giải quyết bồi thường thuộc về Bộ tư pháp. Tại Pháp, vấn đề này được tiến hành theo trình tự đặc biệt và thuộc thẩm quyền của Phòng hình sự Tòa phá án. Riêng tại Thụy Điển, Văn phòng bồi thường thiệt hại với gần 10 luật sư, một số cán bộ quản lý và cán bộ giúp việc được thành lập để thực hiện chuyên trách của mình3.

Ở nước ta, cùng với Hiến pháp, các Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự cũng như các văn bản pháp luật hiện hành đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản xác định trình tự thủ tục khôi phục danh dự và thủ tục bồi thường thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra. Phương thức, kinh phí bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường cũng được qui định cụ thể. Nghị định 47/CP ngày 03/05/1997 quy định rõ khi người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu, trong thời hạn 15 ngày, thủ trưởng có thẩm quyền lập Hội đồng xem xét đánh giá và kiến nghị mức bồi thường gửi Thủ trưởng cơ quan tố tụng quyết định. Việc giải quyết bồi thường phải được tiến hành trong thời hạn 45 ngày kể từ khi nhận được đơn yêu cầu. Điều 14, 15, 16 Nghị định cũng nêu rõ người tiến hành tố tụng gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả phí bồi thường cho Nhà nước kể từ ngày có quyết định hoàn trả hoặc trừ dần vào lương với mức không quá 30% và không dưới 10% tổng thu nhập lương và phụ cấp hàng tháng.

Kể từ khi có Nghị quyết 388 và Thông tư liên tịch 01 hướng dẫn thi hành đến nay, trình tự thủ tục giải quyết bồi thường cho người bị oan từng bước được đơn giản hoá, nhiều vụ việc được giải quyết kịp thời, giảm phiền hà cho dân. Theo qui định hiện hành thì kể từ ngày nhận được bản án hoặc quyết định có hiệu lực xác định một người bị oan, trong thời một tháng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành xin lỗi và cải chính công khai trên báo chí (3 số liên tiếp, trừ trường hợp người bị oan yêu cầu không đăng báo, khoản 1 mục V Thông tư 01). Việc bồi thường thiệt hại vật chất trước hết phải được thông qua thương lượng giữa các bên. Và để được bồi thường, người bị oan phải làm đơn yêu cầu, phải trình “các chứng từ hợp lệ về các chi phí hợp lệ, về thu nhập” để cơ quan tố tụng lấy đó làm cơ sở giải quyết bồi thường.

3. Vướng mắc trong quá trình áp dụng và hướng tháo gỡ

Không thể phủ nhận ý nghĩa tích cực và sự chuyển biến khả quan của việc áp dụng các nguyên tắc, thủ tục bồi thường cho người bị oan trong thực tiễn. Những lời xin lỗi đã đến với dân, những giá trị vật chất được đền bù… bù đắp phần nào những tổn thất mà nhiều người bao năm gánh chịu.

Tuy nhiên, một thực tế rõ ràng là lý luận cũng như thực tiễn bồi thường thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra đã đang bộc lộ nhiều bất cập. Từ khi có Nghị quyết 388 về bồi thường cho người bị oan và Thông tư 01 hướng dẫn thi hành đến nay, việc giải quyết bồi hoàn chủ yếu mới dừng ở việc công khai xin lỗi khôi phục danh dự, còn bồi thường vật chất vẫn gặp nhiều khó khăn. Thương thuyết bồi thường hiện còn nhiều trở lực. Chất lượng, tốc độ bồi thường hạn chế. Báo cáo của ngành tư pháp tại phiên họp thứ 6 Quốc hội khóa XI cho thấy chỉ riêng năm 2004, Công an đã đình chỉ điều tra 950 vụ với 1.262 bị can (có 125 bị can không phạm tội). Cơ quan công tố đình chỉ điều tra 665 vụ với 1.394 bị can (có 108 bị can không phạm tội). Riêng ngành Tòa án từ 01/10/2003 đến 31/8/2004 đã có tới 8.500 bản án hoặc quyết định bị sửa, hơn 2.000 bản án, quyết định bị huỷ. Song điều nghịch lý là tính đến cuối năm 2004, Tòa án các cấp mới nhận được 28 đơn yêu cầu bồi thường, hòa giải thành 9 trường hợp, bồi thường 631 triệu đồng. Còn với Viện kiểm sát, trả lời phỏng vấn báo giới nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập ngành mới đây, Viện trưởng Viện KSNDTC Hà Mạnh Trí cho biết tính đến nay (cuối tháng 7/2005), Viện kiểm sát các cấp mới nhận 53 đơn yêu cầu bồi thường, xử lý dứt điểm được 33 trường hợp. Rõ ràng là với thực trạng oan, sai chưa có điểm dừng như hiện nay thì những con số trên cho thấy việc khôi phục thiệt thòi cho người bị oan mới đạt ở mức rất khiêm tốn. Đó là chưa kể có không ít trường hợp bị truy tố xét xử sai không được bồi thường vì vấn đề chưa được dự liệu bằng qui phạm cụ thể. Nhiều vụ tiếp tục kéo dài do thương lượng bất thành và các bên lại phải tốn thêm thời gian sức lực cho vụ kiện4 .

Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng? Câu giải đáp trước tiên nằm ở khâu lý luận bồi thường oan, sai. Điều dễ nhận thấy là hiện nay, qui định về nguyên tắc và trình tự thủ tục bồi thường chưa giải quyết hết các đặc thù từng trường hợp oan, sai. Đến nay, Nghị quyết 388 chỉ mới là cơ sở để giải quyết các trường hợp oan, còn những đối tượng bị truy tố xét xử sai hiện vẫn còn “bỏ ngõ”, chưa có văn bản nào cụ thể hóa. Hay như nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả được đặt ra từ lâu nhưng chưa thấy Thông tư 01 hướng dẫn thực hiện. Các chi phí thực tế bồi thường cho người bị oan chưa bao quát, chưa dự liệu đầy đủ (ví dụ phí thăm nuôi người bị oan trong thời gian họ bị tạm giam, tạm giữ; phí thuê luật sư bảo vệ quyền lợi…) gây thiệt thòi cho người bị oan. Bên cạnh đó, tính khách quan trong quá trình bồi thường chưa được đảm bảo do cơ quan giải quyết lại chính là một “mắt xích” trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng. Lại có tình trạng cán bộ, cơ quan tố tụng do lo lắng phải bồi thường nên không thẳng thắn thừa nhận sửa sai, cứng nhắc khi thực hiện bồi thường. Sự thiếu hụt nhân lực cũng như sự hạn chế về chất cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử lý vụ việc5… Tất cả tạo trở lực cho ngành tư pháp và đặt ra những vấn đề nan giải cho việc bồi thường oan, sai.

Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thiện chế định bồi thường, nhất là nguyên tắc thủ tục bồi thường oan, sai cả về lý luận cũng như thực tiễn, thiết nghĩ cần làm tốt các nội dung sau:

– Về nghĩa vụ hoàn trả: Bổ sung và qui định rõ theo hướng cán bộ trực tiếp gây oan, sai sẽ bị xử lý hành chính, hình sự và phải có nghĩa vụ bồi hoàn công quĩ cho Nhà nước tùy tính chất, mức độ sai phạm. Thực ra nguyên tắc này được quy định tại chương 2 Nghị định 47/CP và tại mục 5, Điều 16, 17 Nghị quyết 388. Tuy nhiên vấn đề này chưa được Thông tư 01 hướng dẫn thực hiện đề cập tới. Và trên thực tế, trách nhiệm bồi hoàn hiện vẫn bộc lộ nhiều trì trệ, nếu không nói là nhiều nơi còn buông lỏng. Xác định rạch ròi trách nhiệm bồi hoàn toàn bộ hoặc một phần tài sản và các trách nhiệm khác nếu cótùy thuộc vào mức độ lỗi của người trực tiếp gây tổn hại vừa có ý nghĩa đề cao trách nhiệm cá nhân, vừa góp phần ngăn ngừa oan, sai trong tố tụng.

– Về cơ quan giải quyết bồi thường: Xúc tiến thành lập cơ quan chuyên môn giải quyết bồi thường thiệt hại. Kinh nghiệm một số nước như Thụy Điển, Bỉ, Tây Ban Nha cho thấy việc thương thuyết bồi thường do hoạt động tố tụng gây ra thường do một cơ quan chuyên môn đảm trách. Các cơ quan này vừa quản lý nguồn quỹ bồi thường oan, sai lại vừa có trách nhiệm giải quyết bồi thường xảy ra trong thực tế. Ở nước ta, việc giao cho cơ quan đã gây oan, sai đứng ra thương thuyết bồi thường, trao thẩm quyền giải quyết khiếu kiện bồi thường cho Tòa án như hiện nay – thiết nghĩ – sẽ làm cho nguyên tắc khách quan, minh bạch trong bồi thường “lệch hướng và phải chăng đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nhiều vụ bồi thường thiệt hại kéo dài? Bởi vậy, như quan điểm một số nhà chuyên môn6, chúng tôi cho rằng việc lập cơ quan độc lập với các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử để giải quyết bồi thường cho người bị oan trong điều kiện hiện nay là cần thiết (Riêng cơ quan tố tụng nào gây oan, sai vẫn phải tiến hành thủ tục xin lỗi cải chính và nên chăng hình thành một quỹ bồi thường tại Bộ Tài chính, các Sở Tài chính và giao trách nhiệm thương thuyết, giải quyết bồi thường cho các bộ phận chuyên môn ở những cơ quan này?) vì đây là cơ sở bảo đảm tính công minh, vừa là tiêu chuẩn quyết định hiệu quả giải quyết vụ việc một cách khách quan, hiệu quả.

– Về chứng cứ bồi thường: Cần qui định theo hướng giản đơn, thuận tiện và thực tiễn phải được đánh giá toàn diện, khách quan, có tình có lý, tránh gây thêm thiệt thòi cho người bị hại. Nên chăng không cứng nhắc qui định “Các chứng từ hợp lệ và các khoản chi phí hợp lệ, về thu nhập của người bị oan trước khi bị tạm giam, tạm giữ hoặc chấp hành hình phạt tù” là điều kiện thủ tục “cần phải có” ( theo khoản c, mục 2, phần V Thông tư 01) trong mọi trường hợp giải quyết bồi thường vì rằng trong nhiều trường hợp, thiệt hại thực tế là có thật song do nhiều yếu tố khách quan, người bị oan đã không tìm được chứng cứ theo yêu cầu. Bởi khi đã vướng vào vòng lao lý, chẳng mấy ai còn đủ sáng suốt để biết, để có động thái thu thập, truy tìm, lưu giữ chứng cứ rồi một ngày nào đó lại đưa ra bảo vệ quyền lợi cho chính mình 7. Nên xác định chứng cứ bồi thường theo hướng trên chính là tạo cơ hội và điều kiện tốt nhất để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan trong thực tiễn.

– Đồng thời cần sớm ban hành Luật bồi thường nhà nước theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh oan, sai. Theo đó – cùng với những trường hợp bị oan – các trường hợp bị truy tố xét xử sai phải được cụ thể hóa bằng các qui phạm. Nguyên tắc, thủ tục bồi thường cũng cần được luật hóa theo hướng giản đơn, tạo thuận lợi cho người bị hại. Bổ sung những thiệt hại thực tế nhằm bảo đảm hơn nữa nguyên tắc bồi thường toàn bộ, kịp thời và nhanh chóng. Trong điều kiện hiện nay,

để xây dựng đạo Luật Bồi thường có khả năng đi vào cuộc sống, cần tổng kết thực tiễn và nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới. Vì rằng kinh nghiệm cho thấy giải quyết bồi thường oan sai tại nhiều quốc gia đa phần được thực hiện trên cơ sở đạo luật (chẳng hạn Luật bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự 1959 của Nhật Bản, Luật Nhà nước bồi thường 1995 của Trung Quốc, Luật về bồi thường thiệt hại do tạm giữ, tạm giam oan của Pháp…) và đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm có hiệu quả quyền được bồi thường oan, sai.

Cuối cùng, phải nhanh chóng rà soát, chấn chỉnh và nâng cao năng lực phẩm chất cho cán bộ tư pháp; hiện đại hóa, bảo đảm điều kiện vật chất kết hợp với việc xác định rạch ròi trách nhiệm cá nhân trong mỗi ngành nhằm hạn chế oan, sai đồng thời đẩy nhanh hiệu quả thương thuyết và giải quyết bồi thường.

4. Kết luận

Oan, sai là điều ít ai muốn nhưng cũng là điều khó loại bỏ hoàn toàn. Vấn đề là làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất trình trạng oan, sai và làm thế nào để sửa sai cho hiệu quả, bảo đảm quyền được bồi thường của người bị hại và cảnh tỉnh những sai lầm tương tự trong tương lai.

Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Việc bồi thường thiệt hại cần được thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với những trường hợp cụ thể”. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày

2/1/2000 của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh: “Khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm

túc các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp oan sai trong tố tụng. Nghiên cứu xây dựng quỹ bồi thường thiệt hại về tư pháp”.

Đã đến lúc cần xem xét lại cả lý luận cũng như thực tiễn chế định bồi thường, xem lại nguyên tắc, thủ tục bồi thường oan, sai nhằm bảo đảm quyền được bồi thường cho người bị hại một cách thỏa đáng. Đó là mục đích của tiến trình cải cách tư pháp và cũng chính là đòi hỏi tất yếu của một xã hội công bằng mà chúng ta đang phấn đấu để đạt được.

Chú thích:

1 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb TP. Hồ Chí Minh năm 2005, tr. 683 và tr. 772

2 Nguyễn Sĩ Dũng, Công lý gắn với pháp quyền, Tuổi Trẻ ngày 27/7/1994;

4 Ông Hoàng Minh Tiến đòi VKSND Hà Nội bồi thường 2.2 tỷ cho 1.309 ngày bị hàm oan. Sau nhiều lần thương lượng bất thành, ông Tiến đành khởi kiện ra tòa. Mới đây, tháng 6/2005, Toà án Quận Hai Bà Trưng đưa ra xét xử và tuyên vẫn giữ nguyên mức bồi thường 27.3 triệu khiến ông Tiến bức xúc cho biết sẽ tiếp tục kháng án lên trên; Vụ hai vợ chồng doanh nghiệp ở Kiên Giang tiếp tục khởi kiện Toà án Tỉnh đòi bồi thường gần 10 tỷ cho 6 năm bị kếtán oan do hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường.

5 Sẽ không ngạc nhiên khi biết tính đến cuối năm 2003, cả nước mới có 3.543 thẩm phán, thiếu 1.210 người so với chỉ tiêu. Riêng TPHCM đến thời điểm này thiếu 89 thẩm phán. Nếu trung bình một thẩm phán xử 5 vụ/ tháng thì đến năm 2010 cơ quan xét xử còn thiếu 7.000 người. Cũng theo báo cáo của các ngành chức năng, tính đến năm 2000, chỉ có 48% cán bộ tư pháp có trình độ cử nhân. Riêng cán bộ cơ quan điều tra số thạo việc mới đạt 30 – 40%, 11% có trình độ sơ học hoặc chưa qua đào tạo;

6 Phát biểu tại cuộc họp báo ngày 3.6.2005, ông Dương Thanh Biểu, Phó Viện trưởng Viện KSNNDTC cho việc xét xử bồi thường oan sai cần giao cho một cơ quan chuyên trách độc lập với các cơ quan tiến hành tố tụng. Còn theo Viện trưởng Viện Khoa học kiểm sát Ngô Quang Liễn, việc để Tòa án đứng ra xét xử bồi thường thiệt hại là chưa khách quan, thậm chí dư luận còn cho rằng cách giải quyết này sẽ thiên về bảo vệ quyền lợi cho Nhà nước, cá nhân và tổ chức gây ra oan sai.

7 Theo yêu cầu của Tòa án, vợ chồng ông Bùi Văn Mãnh ở Tiền Giang dù rất nỗ lực vẫn không tìm ra chứng cứ chứng minh thu nhập bị mất trong thời gian gian tù đày. Tuổi trẻ CN ngày 9/1/2005 có bài: “Bồi thường oan sai – con đường nhọc nhằn” đề cập những giọt nước mắt của một nông dân 84 tuổi ở Tiền Giang – ông Nguyễn Công Ơi khi hành trình 14 năm đòi công bằng của ông kết thúc không mấy tốt đẹp vì ông không đưa ra được y bạ, đơn thuốc chứng từ chứng minh bệnh tật hay nguồn thu nhập bị mất… để Viện kiểm sát lấy đó làm cơ sở bồi thường.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…./2006

VỤ CHÓ CẮN TRẺ: CHỦ CHÓ PHẢI BỒI THƯỜNG!

 Đến nay gia đình ông Tư Cóc đã hỗ trợ chị 3,2 triệu đồng để lo thuốc thang. Do nghĩ sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên vợ chồng chị không khiếu nại đòi ông Tư Cóc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, chị cũng rất lo lắng vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của bé sau này.

Hôm qua (28-12), chị Lê Thị Thanh Mỹ, ngụ ấp Long Thới, Long Bình, Gò Công Tây (Tiền Giang), cho biết sức khỏe của con chị – cậu bé bốn tuổi Đào Văn Quý, bị chó giằng xé suýt chết – hiện đã tạm ổn định. Bé đã chơi đùa trở lại nhưng thỉnh thoảng vẫn còn bị co giật cục bộ ở hai chi dưới.

Mới được hỗ trợ 3,2 triệu đồng

Chị Mỹ kể khoảng 8 giờ sáng 6-12, vợ chồng chị gửi bé Quý cho người cô cùng ấp để đi làm đồng. Bé đi theo những người phóng lúa ngang sân nhà ông Tư Cóc thì bị ba con chó (mỗi con nặng khoảng 15-20 kg) đang nuôi con nhào ra cắn xé. Do bé Quý nhỏ mà ba con chó lại lớn nên các nông dân không thấy, tưởng chúng cắn nhau. Mãi hồi lâu một người hàng xóm đi ngang qua, thấy bé Quý đẫm máu, nằm im lìm dưới chân ba con chó bèn vội la lên. Liền đó, hai con chó hung dữ rượt đuổi người này, con còn lại đứng giữ bé Quý. Mọi người phải xúm lại dùng cây đuổi chúng rồi đưa bé đi cấp cứu.

Khi được đưa đến bệnh viện, toàn thân bé Quý chi chít vết thương và đã hôn mê, hai mắt không còn mở ra được. Chỉ trong một ngày, bé được chuyển đến bốn bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Cuối cùng, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) đã chữa trị được cho bé tai qua nạn khỏi.

Theo chị Mỹ, đến nay gia đình ông Tư Cóc đã hỗ trợ chị 3,2 triệu đồng để lo thuốc thang. Do nghĩ sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên vợ chồng chị không khiếu nại đòi ông Tư Cóc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, chị cũng rất lo lắng vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của bé sau này.

Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã Long Bình xác định ba con chó trên đều chưa được tiêm ngừa nhưng cơ quan thú y chưa phát hiện chúng có dấu hiệu bị bệnh. Theo ông Đinh Văn Thế, Chi cục trưởng Chi cục Thú y Long An, sau một tháng, nếu chúng không phát bệnh thì sức khỏe của bé Quý tạm thời sẽ không bị ảnh hưởng.

Dân sự: Phải bồi thường!

Xung quanh vụ này đã phát sinh vấn đề pháp lý thú vị: Chủ chó có phải bồi thường và có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

Theo Bộ luật Dân sự, nếu chủ sở hữu súc vật có lỗi (kể cả lỗi vô ý) thì phải bồi thường cho người bị súc vật gây tổn hại sức khỏe. Chỉ trong trường hợp người bị tổn hại có lỗi hoàn toàn trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ súc vật mới thoát.

Muốn khởi tố chủ chó, phải xác định chó có phải là “nguồn nguy hiểm cao độ” và khi tấn công người, chó có đang “thi hành lệnh” của chủ hay không.

Trong vụ việc trên, dù sân nhà hàng xóm là “vùng lãnh thổ” canh giữ của ba con chó nhưng gia đình này có lỗi là không treo biển báo, không rào giậu kỹ, để bé Quý băng qua sân. Cạnh đó, khi chó đẻ con, gia đình này biết rõ chó mẹ sẽ hung dữ bất thường nhưng lại không xích, nhốt chó lại. Như vậy, chủ chó hoàn toàn có lỗi nên phải bồi thường cho người giám hộ của bé Quý.

Theo luật sư Cổ Hiệp (Đoàn luật sư TP.HCM), nếu người giám hộ của bé Quý yêu cầu thì chủ chó phải bồi thường toàn bộ chi phí điều trị cho bé và thu nhập của người nhà trong thời gian chăm sóc bé ở bệnh viện, tổn thất tinh thần của bé… theo quy định của pháp luật dân sự.

Hình sự: Vô can!

Một thẩm phán TAND tối cao cho rằng muốn khởi tố chủ chó thì phải xác định chó có phải là “nguồn nguy hiểm cao độ” và khi chó tấn công bé Quý có phải là thi hành lệnh của chủ hay không. Nếu trả lời được hai câu hỏi này thì mới có thể bàn đến trách nhiệm hình sự.

Cụ thể, nếu chó là “nguồn nguy hiểm cao độ” thì chủ phải có trách nhiệm nhốt giữ cẩn thận, sơ suất để chó thoát ra cắn người thì tùy theo hậu quả mà có thể bị xử lý về tội vô ý gây thương tích hoặc vô ý làm chết người. Nếu chủ cố tình suỵt chó cắn người (một số loài chó thông minh, được huấn luyện có khả năng nghe lệnh chủ tấn công người khác) thì có thể bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc giết người.

Còn ở đây, theo quy định, chó nhà không được liệt vào “nguồn nguy hiểm cao độ” (thú dữ, điện cao thế, các phương tiện vận tải đang lưu thông) nên BLHS không đưa hành vi nuôi chó nhà trong chuồng hay thả rông vào diện phòng ngừa chung. Mặt khác, ba con chó tự phát tấn công bé Quý nên không có cơ sở nào để xử lý hình sự người chủ cả.

Theo thẩm phán này, hiện nay nuôi chó thả rông vẫn là thói quen của người dân, nhất là ở các vùng nông thôn nên việc chó cắn người thường xảy ra. Để tránh chuyện đáng tiếc, tốt nhất là chính quyền địa phương phải làm mạnh tay trong việc bắt buộc người dân xích chó, làm chuồng…

+ Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

+ Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Người bị xâm phạm sức khỏe được bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị. Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động, cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu.

(Theo Điều 625, 609 BLDS)

Nguồn: HỒNG CHÂU – HOÀNG ANH (Pháp Luật TP)

BÀN VỀ KHÁI NIÊM “TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI” TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

THS. LƯU QUỐC THÁI –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) là một hiện tượng bình thường trong mọi đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai. Đối với Việt Nam, trong suốt thời gian từ khi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được thiết lập từ năm 19801 cho đến nay, TCĐĐ luôn là vấn đề thời sự, có những diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng đất (SDĐ) nói riêng và gây những bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế – xã hội nói chung.2 Sự kiện Bộ Tài nguyên – Môi trường từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên trách để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đã phần nào cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề.3 Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, mà một trong số đó chính là do quy định của pháp luật về vấn đề TCĐĐ trong thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế. Bài viết này không có tham vọng đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề vừa nêu, mà chỉ nhằm làm rõ về mặt học thuật, cũng như về mặt pháp lý khái niệm TCĐĐ theo Luật Đất đai năm 2003 (LĐĐ 2003) – Luật Đất đai hiện hành. Đây là một vấn đề nhỏ nhưng lại có ý nghĩa nhất định trong việc xác định chính xác về thẩm quyền, thủ tục và nội dung cần giải quyết đối với một TCĐĐ.

2. Trải nhiều giai đoạn với những chính sách đất đai khác nhau, cho dù đất đai có được coi là một loại tài sản có giá, quyền sử dụng đất (QSDĐ) có phải là hàng hóa đặc biệt hay không, hiện tượng TCĐĐ đều được pháp luật chính thức ghi nhận và quy định việc giải quyết.4 Tuy nhiên, cho đến trước khi LĐĐ 2003 ra đời, thuật ngữ “TCĐĐ” chưa một lần được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến QSDĐ trong các đạo luật LĐĐ qua các thời kỳ5 và trong các văn bản pháp luật có liên quan của các cơ quan nhà nước.

LĐĐ 2003 lần đầu tiên tại khoản 26 Điều 4 quy định: “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (NSDĐ) giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Khái niệm này đã được đón nhận với nhiều nhận thức và cảm xúc khác nhau, bởi đây là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng và cũng không mấy rõ ràng. Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ là quyền và nghĩa vụ của NSDĐ. Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của NSDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà NSDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủ thể: chỉ là NSDĐ hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NSDĐ trong quan hệ TCĐĐ? Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể. Đã có quan niệm cho rằng, TCĐĐ “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất”6; hoặc “TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”7.

Rõ ràng, các quan điểm trên đã mở rộng một cách tuyệt đối khái niệm TCĐĐ. Theo đó, TCĐĐ bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh từ các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ, và tất nhiên trong đó có cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất,8 tranh chấp hợp đồng giao dịch về QSDĐ. Theo quan điểm này, TCĐĐ là một khái niệm rộng, bao gồm tranh chấp QSDĐ9 và tất cả các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, kể cả trường hợp tranh chấp mục đích sử dụng đất (?) và tranh chấp về địa giới hành chính theo Điều 137 LĐĐ 2003.10 Tuy nhiên, quan điểm trên không thuyết phục vì đã không được chứng minh bởi một căn cứ pháp lý cụ thể nào. Xem xét toàn bộ các quy định của pháp luật đất đai cho đến thời điểm này, có lẽ chỉ có một quy định duy nhất mà thông qua nội dung và cách thiết kế của nó, khái niệm TCĐĐ mới có thể được suy diễn theo nghĩa rộng, đó là Điều 136 LĐĐ 2003 về thẩm quyền giải quyết TCDĐ. Lý lẽ có thể được đưa ra ở đây là, Điều 136 LĐĐ 2003 khi quy định về thẩm quyền giải quyết TCĐĐ đã phân chia vấn đề ra thành hai trường hợp: thẩm quyền giải quyết tranh chấp QSDĐ thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản gắn liền với đất. Do đó, dựa vào nội dung Điều 136 LĐĐ 2003 người ta có thể quy kết: TCĐĐ không thể đồng nhất với tranh chấp QSDĐ, hay nói cách khác TCĐĐ là khái niệm rộng hơn khái niệm tranh chấp QSDĐ.

Tuy nhiên, cách hiểu trên lại vấp phải một vấn đề rất lớn về mặt pháp lý, đó là sự không phù hợp giữa khái niệm TCĐĐ và vấn đề thẩm quyền, thủ tục giải quyết TCĐĐ, cũng như một số quy định có liên quan khác của pháp luật về TCĐĐ. Thứ nhất, theo Điều 135 LĐĐ 2003, TCĐĐ buộc phải được thông qua hòa giải tại ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi có đất, trước khi được đưa ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, nếu coi TCĐĐ là một khái niệm rộng như trên thì các tranh chấp có liên quan đến đất đai như tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ cũng phải được hòa giải tại UBND cấp xã. Điều này là không phù hợp với pháp luật đất đai, pháp luật về tố tụng dân sự và thực tiễn cũng chưa bao giờ xảy ra, bởi đó chỉ là những tranh chấp dân sự thuần túy và việc hòa giải tại UBND cấp xã như là một thủ tục bắt buộc chỉ áp dụng đối với tranh chấp QSDĐ. Thứ hai, quan niệm này cũng không phù hợp với thuật ngữ TCĐĐ được sử dụng tại Điều 160 Nghị định 181/2004/NĐ-CP (NĐ 181) ngày 29/10/2004 về thi hành LĐĐ 2003. Cụ thể là, theo Điều 160 NĐ 181 thì việc giải quyết các “TCĐĐ” trong trường hợp đương sự không có giấy tờ về QSDĐ được quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 LĐĐ 2003 sẽ thuộc về thẩm quyền của cơ quan hành chính. Tất nhiên ai cũng biết rằng, cơ quan hành chính không thể giải quyết tranh chấp tài sản nào khác, ngoài tranh chấp QSDĐ. Do đó, nếu lấy cách hiểu thuật ngữ TCĐĐ tại Điều 135 LĐĐ 2003, Điều 160 NĐ 181 làm chuẩn thì khái niệm TCĐĐ phải được coi là đồng nghĩa với khái niệm tranh chấp QSDĐ.

Như vậy, phải hiểu thế nào là TCĐĐ cho phù hợp, cả về lý luận lẫn về mặt pháp lý? Không thể có việc một thuật ngữ pháp lý trong cùng một văn bản pháp luật lại được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Muốn làm rõ điều này, chúng ta cần có sự phân tích cặn kẽ những cách hiểu khác nhau về TCĐĐ và hạn chế của quan niệm quá rộng nói trên về TCDĐ.

Theo những phân tích ở trên, thuật ngữ TCĐĐ tại khoản 26 Điều 4 và tại Điều 135 LĐĐ 2003, 160 NĐ 181 có thể được suy diễn theo hai hướng không giống nhau. Việc xác định thế nào là TCĐĐ vì vậy sẽ phụ thuộc vào việc quy định nào được lấy làm chuẩn mực cho khái niệm TCĐĐ. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm TCĐĐ tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003 sẽ được lấy làm tiêu chuẩn để đánh giá các quy định có liên quan còn lại của pháp luật đất đai về vấn đề này. Từ đây có mấy vấn đề sau đây có thể đúc kết:

Thứ nhất, quy định tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003 như đã phân tích ở trên là quy định không được rõ ràng, không cụ thể. Vì vậy, việc lấy một quy định không rõ ràng làm tiêu chuẩn để đánh giá những quy định cụ thể (Điều 135 LĐĐ 2003, Điều 160 NĐ 181) là hoàn toàn không khoa học. Hơn nữa, việc mở rộng khái niệm TCĐĐ như trên không đem lại một giá trị thực tiễn nào.

Thứ hai, cần nhớ rằng, mỗi một thuật ngữ có một phạm vi biểu đạt ý nghĩa nhất định, không thể mở rộng hay thu hẹp một cách không có giới hạn theo ý chí chủ quan được. Điều này không khó chứng minh khi phân tích thuật ngữ TCĐĐ. Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là việc “giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”11. Cho nên, thuật ngữ TCĐĐ tự thân nó đã nói lên đối tượng tranh chấp: đó chính là đất đai. Vấn đề là các chủ thể thực hiện hành vi TCĐĐ như thế nào, thông qua yếu tố gì thì lại phụ thuộc vào vấn đề chế độ sở hữu đất đai. Trong điều kiện của chế độ tư hữu đất đai, TCĐĐ thường là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai. Với chế độ sở hữu đất đai “hỗn hợp” như trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn (với đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước, đất ở khu vực nông thôn thuộc sở hữu tập thể12), TCĐĐ được xác định ở 02 dạng: đó là tranh chấp quyền sở hữu QSDĐ (disputes over land ownership and the right to use).13

Từ các phân tích trên cho thấy, TCĐĐ ở nước ta theo quy định của pháp luật chỉ có thể hiểu là tranh chấp QSDĐ. Kết luận này được củng cố thêm bởi hai cơ sở: một là, xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước) đối với toàn bộ đất đai, NSDĐ chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai, vì vậy, cái mà họ tranh chấp khi TCĐĐ chỉ có thể là QSDĐ; và hai là, các thuật ngữ TCĐĐ và tranh chấp QSDĐ đã được sử dụng như những thuật ngữ thay thế nhau kể từ LĐĐ 1987 đến nay mà không hề có sự phân biệt.14 Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của NSDĐ (gồm tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ) cũng đã từng được định danh cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là “tranh chấp liên quan đến QSDĐ”, chứ không phải là TCĐĐ một cách chung chung.15 Do đó, việc mở rộng khái niệm TCĐĐ như trên trong điều kiện Việt Nam là không hợp lý và làm lu mờ đi đặc trưng của quan hệ đất đai, tạo ra một món “thập cẩm” không có hương vị rõ ràng, “cơm không ra cơm, cháo không ra cháo”, vốn thường thấy ở những đầu bếp bất đắc dĩ.

Ngược lại, việc đồng nhất TCĐĐ với tranh chấp QSDĐ về mặt lý luận tạo nên được sự cụ thể về đối tượng tranh chấp, làm nổi bật đặc trưng của quan hệ đất đai. Từ đây tạo ra được một ranh giới tương đối rõ ràng giữa TCĐĐ với các tranh chấp dân sự thông thường khác có liên quan đến đất đai và lý giải được tạo sao việc giải quyết TCĐĐ lại có thể được tiến hành bởi các cơ quan hành chính nhà nước, theo các thủ tục hành chính nhất định. Đó là, cơ quan hành chính không phải giải quyết TCĐĐ dưới góc độ là một hoạt động phân xử về tài sản thông thường, mà với tư cách là người đại diện chủ sở hữu quyết định ai sẽ là người có quyền sử dụng đối với đất đang bị tranh chấp, khi đất đó về mặt hình thức pháp lý chưa được chính thức trao cho ai sử dụng (đương sự không có giấy tờ về QSDĐ).

3. Nếu đồng nhất TCĐĐ với tranh chấp QSDĐ thì nhiệm vụ còn lại ở đây là lý giải thế nào cho phù hợp về khái niệm: “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ” tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003, dù rằng việc lý giải này là không cần thiết bởi ngôn từ được dùng trong khái niệm trên chỉ là “sản phẩm” mang tính chủ quan của các nhà làm luật. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng hãy thử tiếp cận vấn đề từ thuật ngữ “QSDĐ” – yếu tố mà các phân tích trên khẳng định là đối tượng của TCĐĐ.

QSDĐ, nếu xét ở góc độ là quyền sử dụng một loại tài sản, hiểu theo nghĩa thông thường, chỉ là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đất đai.16 Ở góc độ này, QSDĐ là một khái niệm pháp lý. Tuy nhiên, theo pháp luật đất đai, ý nghĩa trên chỉ chiếm một phần nội dung về QSDĐ của NSDĐ. Theo pháp luật hiện hành, ngoài việc khai thác, hưởng các lợi ích từ đất đai nói trên, QSDĐ còn bao hàm cả việc NSDĐ được quyền thực hiện các giao dịch về QSDĐ (như chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, …) của mình như là những giao dịch về tài sản. Và để được thực hiện các quyền giao dịch này, NSDĐ phải thực hiện những nghĩa vụ tài chính nhất định đối với Nhà nước (như nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, … ). Ở góc độ này, QSDĐ mang nội dung kinh tế sâu sắc và nó là một quyền kinh tế. Như vậy, QSDĐ là một khái niệm phức tạp – nó vừa là một khái niệm pháp lý, vừa là một khái niệm kinh tế.17 Có thể khẳng định rằng, QSDĐ trong pháp luật đất đai hiện hành là một khái niệm phức tạp mà nghĩa gốc của các từ đơn lẻ hợp thành không đủ sức thể hiện hết nội dung và bản chất của nó. QSDĐ vì thế có thể coi là một tổng thể không thể tách rời các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ theo quy định của pháp luật đất đai.

Từ phân tích trên có thể kết luận rằng, khái niệm “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ” tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ cần được diễn giải là tranh chấp một tổng thể những yếu tố hợp nhất tạo thành QSDĐ nói trên, chứ không phải là việc tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ rời rạc, đơn lẻ hay tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ khác của NSDĐ có liên quan đến các quyền nghĩa vụ nêu trên. Cách hiểu này đặt khái niệm TCĐĐ trong mối quan hệ không thể tách rời với tất cả các quy định có liên quan, chứ không phải cô lập nó hoặc đặt nó lên trên tất cả các quy định khác nhằm phát huy trí tưởng tượng một cách thái quá, dẫn đến những suy diễn không phù hợp. Có nghĩa là, không thể “trộn lẫn” TCĐĐ với những tranh chấp dân sự thuần túy có liên quan đến đất đai.

Tóm lại, làm rõ khái niệm TCĐĐ có nhiều ý nghĩa thực tiễn quan trọng chứ không chỉ là vấn đề mang tính học thuật. Về mặt nội dung, việc làm này giúp xác định chính xác đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ, giúp việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất hơn. Về mặt phương pháp luận, nó sẽ giúp tránh được trường hợp quy định của luật này chồng lấn lên luật kia, giúp hoàn thiện pháp luật đất đai nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.

Chú thích:

1 Theo Điều 19 Hiến pháp 1980.

2 Kết quả kiểm tra việc thi hành Luật Đất đai 2003 theo Quyết định 1741/QĐ-BTNMT ngày 14/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường cho thấy, 70% khiếu kiện của người dân là về đất đai, rất nhiều tranh chấp về đất đai không thể giải quyết dứt điểm. Xem: “Sau tổng kiểm tra việc thi hành Luật Đất đai: làm gì để giảm cơ bản khiếu kiện của dân?”, http://www.hanoitv.org.vn ngày 19/9/2005.

3 http://www.hanoitv.org.vn ngày 19/9/2005; http://www.vneconomy.com.vn ngày 12/10/2005.

4 Trong thời gian LĐĐ năm 1987 có hiệu lực, QSDĐ dù không được coi là hàng hóa nhưng hiện tượng TCĐĐ vẫn được ghi nhận và quy định về thẩm quyền giải quyết. Xem Điều 15 Nghị định 30 – HĐBT ngày 23/3/1989 về thi hành LĐĐ 1987; sau đó, LĐĐ 1993 ngày 14/7/1993 cũng chính thức đề cập vấn đề này tại Điều 38.

5 Từ Hiến pháp 1980 cho đến trước LĐĐ 2003, Việt Nam đã có LĐĐ 1987, LĐĐ 1993 và hai Luật Sửa đổi, bổ sung LĐĐ 1993 được thông qua ngày 02/2/1998, ngày 29/6/2001.

6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân 1999, tr. 74.

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, Nxb.Tư pháp 2005, tr. 455.

8 Tài sản gắn liền với đất được hiểu là những tài sản không thể tách rời khỏi đất đai nếu muốn giữ được nguyên giá trị sử dụng của nó. Các tài sản này bao gồm: nhà ở, vật kiến trúc, công trình xây dựng khác, cây lâu năm trên đất. Xem khoản 4 Điều 3 Quy định ban hành kèm theo Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường về cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

9 Tranh chấp QSDĐ được hiểu là tranh chấp nhằm xác định ai là người có QSDĐ hợp pháp.

10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, sđd, tr. 457 – 458.

11 Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng 1996, tr. 989.

12 Theo Điều 10 Hiến pháp 1982 đã được sửa đổi, bổ sung năm 1988 của Trung Quốc.

13 Điều 16 Luật Quản lý nhà nước về đất đai của Trung Quốc. Xem The Law of Land Administration of the People’s

Republic of China, Article 16, http://www.china.org.cn/english/environment/34345.htm

14 Ví dụ như Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân (TAND) các cấp về thẩm quyền của TAND theo quy định của LĐĐ 2003. Điểm 1 Công văn này được viết là: “Về đối tượng đất mà tranh chấp QSDĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND”.

15 Ví dụ như Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ theo Điều 38 LĐĐ năm 1993.

16 Điều 192 Bộ Luật Dân sự năm 2005.

17 Xem thêm Lê Văn Tứ, Quyền sử dụng đất – một khái niệm pháp lý, một khái niệm kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 9/1997, tr. 40 – 49.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2006

CÔNG VĂN SỐ 132/2005/KHXX VỀ VIỆC ĐÒI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN TRẢ LẠI TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******
Số: 132/2005/KHXX
V/v: đòi cơ quan thi hành án trả lại tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Hà Nội, ngày 13 tháng 06 năm 2005

Kính gửi: Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất – tỉnh Kiên Giang

Tòa án nhân dân tối cao nhận được Bản kiến nghị ngày 12-5-2005 của cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất và bản kiến nghị số 96/CV-THA ngày 20-5-2005 của Cơ quan thi hành án tỉnh Kiên Giang kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thụ lý đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Đẹp vợ ông Lưu Bỉnh Hiền (thụ lý số 97/DSST ngày 6-4-2005) đòi cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất trả lại số tiền 222.500.000đ đang bị kê biên tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho ông Hiền và việc triệu tập cơ quan thi hành án huyện Hoàn Đất tham gia hòa giải với tư cách là bị đơn trong vụ án là không đúng quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự.

Sau khi nghiên cứu nội dung các bản kiến nghị của cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất và cơ quan thi hành án tỉnh Kiên Giang cùng các tài liệu gửi kèm theo, Tòa án nhân dân tối cao lưu ý Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất một số vấn đề sau đây:

Bà Phạm Thị Đẹp có quan hệ sống chung với ông Lưu Bỉnh Hiền (Việt kiều tại Mỹ). Ông Lưu Bỉnh Hiền là người phải thi hành án theo bản án dân sự số 230/DSPT ngày 05-10-2000 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 03/QĐ-HGT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang với tổng số tiền phải thi hành án là 222.500.000đ.

Số tiền 222.500.000đ mà Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, thu từ số tiền bà Đẹp, ông hiền bán nhà đất bị kê biên cho bà Phượng tương ứng với số tiền mà ông Hiền phải thi hành án. Nay bà Đẹp khởi kiện Cơ quan thi hành ánh huyện Hòn Đất ra Tòa án huyện Hòn Đất để đòi lại số tiền đó với lý do số tiền này là rài sản riêng của bà Đẹp.

Để xem xét giải quyết yêu cầu của bà Đẹp, Tòa án phải phân biệt như sau:

1. Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất đã kê biên thu giữ số tiền 222.500.000đ để thi hành án đối với ông Hiền.

Nếu bà Đẹp, ông Hiền cho rằng quyết định kê biên, giữ tài sản của Chấp hành viên Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đẹp và ông Hiền, thì bà Đẹp ông Hiền có quyền khêíu nại quyết định đó đến thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục quy định tại Điều 60 và Điều 62 của Pháp lệnh thi hành án dân sự mà không có quyền khởi kiện Chấp hành viên hoặc Cơ quan thi hành án ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.

2. Bà Đẹp chỉ có quyền khởi kiện ra Tòa án trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 41 Pháp lệnh thi hành án dân sự; cụ thể là:

“Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện, thì tài sản bị kê biên được xử lý để thi hành án.

Trong trường hợp cần xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung mà các bên không thỏa thuận được, thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Như vậy, nếu bà Đẹp cho rằng khoản tiền mà Cơ quan thi hành án kê biên, thu giữ để bảo đảm thi hành án đối với ông Hiền là tài sản riêng của bà Đẹp thì bà đẹp phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác dịnh tài sản đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình mà không phải là tài sản riêng của ông Hiền hoặc tài sản chung với ông Hiền. Trong trường hợp bà Đẹp và ông Hiền đều cho rằng tài sản đó là của bà Đẹp, thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định quyền ở hữu đối với tài sản đó. Chỉ trong các trường hợp này, Tòa án mới thụ lý giải quyết.

Do đó, việc Tòa án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thụ lý đơn khởi kiện của bà đẹp đòi Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải trả lại 222.500.000đ và xác định Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang là bị đơn là không đúng thẩm quyền và không đúng với các quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự.

Vì vậy, Tòa án cần căn cứ vào khỏan 2 Điều 192 Bộ luật ố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Tòa tham khảo trong việc giải quyết vụ án cụ tểh tại địa phương.

Nơi nhận:
– Như trên;
– TAND tỉnh Kiên Giang;(để biết)
– Thi hành án huyện Hòn Đất; (để biết)
– Thi hành án tỉnh Kiên Giang;(để biết)
– Đ/c Chánh án TAND TC (để báo cáo);
– Lưu VP, Viện KHXX (TANDTC).

KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN THƯỜNG TRỰC
Đặng Quang Phương