NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005

MINH ÁNH

Luật Thương mại năm 2005 gồm 9 chương, 324 điều (so với Luật Thương mại năm 1997 có 6 chương, 264 điều), trong đó có 96 điều trong Luật Thương mại năm 1997 được bãi bỏ, 149 điều được sửa đổi và 143 điều được bổ sung mới.

Bố cục của Luật Thương mại (sửa đổi) gần như được đổi mới hoàn toàn so với Luật Thương mại năm 1997. Sự đổi mới đó chủ yếu là do việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật, không chỉ điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hoá mà còn điều chỉnh cả các hoạt động cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại. Các nhóm hoạt động thương mại cùng tính chất được tập hợp trong chương riêng: Chương IV quy định về “Xúc tiến thương mại” hay Chương V về “Các hoạt động trung gian thương mại”…

Luật Thương mại 2005 được áp dụng đối với thương nhân, tổ chức, cá nhân khác có các hoạt động liên quan đến thương mại. Riêng đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh thì căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ sẽ quy định cụ thể bằng văn bản dưới luật. Luật Thương mại 2005 đã mở rộng đối tượng áp dụng, không chỉ bao gồm thương nhân hoạt động thương mại như cũ mà còn áp dụng cho cả tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Luật Thương mại 2005 có điểm khác biệt với Luật Thương mại 1997 ở chỗ đối tượng thương nhân đã được mở rộng khái niệm để bao trùm toàn bộ những chủ thể có hoạt động thương mại.

Luật Thương mại 2005 quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại phù hợp với nguyên tắc của Bộ Luật Dân sự 2005 cũng như thực tiễn hoạt động thương mại tại VN. Việc mở rộng khái niệm thương mại đã giúp hài hoà nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của VN với chuẩn mực quốc tế. Cụ thể, khái niệm hoạt động thương mại của VN hiện đã bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và các khía cạnh thương mại của đầu tư và sở hữu trí tuệ. Việc mở rộng này còn giúp cho việc giải quyết các tranh chấp quốc tế được thực hiện dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho VN thực thi được cam kết cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài liên quan đến thương mại tại VN.

Việc Luật Thương mại 2005 thừa nhận và thể chế những nguyên tắc như: nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại; tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại; áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên; bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng; thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại… đã giúp xác định rõ cơ chế quản lý hoạt động thương mại cũng như giúp các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động thương mại biết rõ nguồn quyền và nghĩa vụ của mình. Ngoài ra, việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu là cơ sở pháp lý quan trọng để VN có thể triển khai thương mại điện tử trong thời gian tới.

Ngoài ra, Luật Thương mại 2005 xác định các hình thức và quyền hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại VN. So với Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại 2005 bổ sung thêm hai hình thức hoạt động bao gồm DN liên doanh, DN 100% vốn nước ngoài. Sự bổ sung này là phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế mà VN đã ký kết hoặc tham gia. Mặt khác, các hoạt động khuyến mãi trước đây chỉ có 6 điều trong Luật Thương mại 1997 nay đã được bổ sung và sửa đổi thành 14 điều; Quảng cáo thương mại tăng từ 12 (Luật Thương mại 1997) lên 15 điều; Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ tăng từ 10 lên 12 điều; Hội chợ, triển lãm thương mại tăng từ 11 lên 12 điều. Nhiều nội dung mới được đưa vào như: bổ sung các hình thức khuyến mãi, làm rõ các thông tin phải thông báo công khai trong hoạt động khuyến mại; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo thương mại; ghi nhận thêm hoạt động dịch vụ cũng được giới thiệu và bổ sung hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ qua Internet; trách nhiệm của các bên trong hoạt động hội chợ, triển lãm…

Luật Thương mại năm 2005 đã bổ sung một số quy định về nguyên tắc đấu giá, người tổ chức đấu giá, người bán hàng và các quyền, nghĩa vụ của họ; quy định cụ thể những người không được tham gia đấu giá; thời hạn niêm yết việc bán đấu giá và trình tự tiến hành cuộc đấu giá…

Minh Ánh – DDDN.COM.VN

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 121/2003/KHXX NGÀY 19 THÁNG 9 NĂM 2003 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN, BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 121/2003/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2003

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 121/2003/KHXX NGÀY 19 THÁNG 9 NĂM 2003 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN, BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp
– Các đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao
– Các đồng chí Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Toà án nhân dân tối cao đã có nhiều văn bản hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại (sau đây gọi chung là phần dân sự) trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của các Toà án các cấp trong thời gian qua cho thấy một số Toà án giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự vẫn còn có những sai sót, lúng túng. Để thi hành đúng các quy định của pháp luật, bảo đảm sự thống nhất trong việc giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự tại các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Phần dân sự trong vụ án hình sự được hướng dẫn trong Công văn này bao gồm: đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt, nhưng đã bị mất hoặc bị huỷ hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

2. Về nguyên tắc chung phần dân sự trong vụ án hình sự phải được giải quyết cùng với xem xét về phần hình sự trong cùng vụ án hình sự. Chỉ được tách để giải quyết phần hay một phần dân sự trong vụ án hình sự bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu, nếu phần dân sự được tách không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a. Chưa tìm được, chưa xác định được người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự;

b. Người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu;

c. Người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự đã có yêu cầu, nhưng không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và của Toà án nói riêng;

d. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân dự vắng mặt tại phiên toà và sự vắng mặt của họ thật sự trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự.

3. Cần chú ý phân biệt phần dân sự trong vụ án hình sự như sau:

a. Phần dân sự trong vụ án hình sự có liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.

Ví dụ 1: Phần dân sự có liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm

Nguyễn Văn A chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện năm hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế. Cơ quan điều tra đã chứng minh làm rõ năm hành vi này, nhưng chưa chứng minh thiệt hại do mỗi hành vi cụ thể gây ra và tổng thiệt hại do năm hành vi này gây ra đã đến một trăm triệu đồng hay chưa mà chỉ căn cứ vào lời khai của nguyên đơn dân sự là tổng thiệt hại một trăm linh năm triệu đồng. Nguyễn Văn A khai và chứng minh rằng thiệt hại không đến bảy mươi triệu đồng. Trong trường hợp này việc xác định tổng thiệt hại thực tế do năm hành vi cố ý làm trái của Nguyễn Văn A gây ra là rất quan trọng đối với việc xác định cấu thành tội phạm, tức là để kết luận Nguyễn Văn A có phạm tội hay không.

Ví dụ 2: Phần dân sự có liên quan đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trần N dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản gồm 1.000 USD, một xe máy, một đồng hồ đeo tay và một số tài sản khác của anh V với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo lời khai của người bị hại là 53 triệu đồng. Cơ quan điều tra chưa chứng minh lời khai của người bị hại có căn cứ hay không, giá trị chiếm đoạt của mỗi loại tài sản và tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thực tế là bao nhiêu. Trần N bị truy tố theo điểm e khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này việc điều tra chứng minh tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thực tế là bao nhiêu là rất cần thiết vì đó là căn cứ để kết luận Trần N phạm tội cướp tài sản theo khoản nào của Điều 133 Bộ luật Hình sự.

b. Phần dân sự trong vụ án hình sự không có liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.

Ví dụ: Lê B cố ý gây thương tích cho chị C với tỷ lệ thương tật 40% (có kết luận giám định). Trong hồ sơ vụ án chỉ mới làm rõ chị C phải điều trị tại bệnh viện 30 ngày. Chị C yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm với tổng số tiền là 100 triệu đồng, nhưng không nêu từng khoản cụ thể, không cung cấp các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình (ngoài việc cung cấp mấy đơn thuốc). Trong trường hợp này phần dân sự không có liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Lê B.

II. VIỆC GIẢI QUYẾT TRONG TỪNG TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

1. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự thì “sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên toà”; do đó, cần phân biệt như sau:

a. Trong trường hợp phần dân sự trong vụ án hình sự thuộc điểm a mục 3 Phần I của Công văn này và xét thấy không thể bổ sung tại phiên toà được thì Thẩm phán căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 151 và điểm a khoản 2 Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung.

b. Trong trường hợp phần dân sự trong vụ án hình sự thuộc điểm b mục 3 Phần I của Công văn này mà vì lý do nào đó cơ quan điều tra chưa thu thập chứng cứ, chứng minh làm rõ thì Thẩm phán có quyền tiến hành những việc cần thiết cho việc mở phiên toà, như: yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, có thể triệu tập người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng để lấy lời khai hoặc các việc khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự… Trong trường hợp này không phân biệt vào kết quả thu thập chứng cứ, chứng minh đã đủ hay chưa, thì trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ vào kết quả xét hỏi và xem xét các chứng cứ tại phiên toà sơ thẩm mà Hội đồng xét xử sơ thẩm có quyết định tương ứng được hướng dẫn tại mục 2 Phần II này.

2. Tại phiên toà hình sự sơ thẩm

Việc giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự tại phiên toà hình sự sơ thẩm cần phân biệt như sau:

a. Trong trường hợp thuộc điểm a mục 3 Phần I của Công văn này mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà và các thành viên khác của Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa phát hiện được hoặc đã phát hiện được nhưng cho rằng có thể bổ sung được thì Hội đồng xét xử sơ thẩm phải tạm dừng phiên toà và vào phòng nghị án thảo luận, thông qua quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần chú ý là nếu qua tranh luận hoặc nghị án mới phát hiện được thì phải trở lại xét hỏi rồi mới xem xét, quyết định.

b. Trong trường hợp thuộc điểm b mục 3 Phần I của Công văn này mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên toà vẫn không làm được rõ hơn và xét thấy thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại mục 2 Phần I của Công văn này thì Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định tách phần dân sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi có yêu cầu. Cần chú ý là trong trường hợp này nếu người bị hại, nguyên đơn dân dự thể hiện ý chí là không có yêu cầu giải quyết phần dân sự hoặc các bên đã tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vấn đề này và xét thấy sự thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, thì Hội đồng xét xử sơ thẩm ghi nhận việc đương sự không có yêu cầu hoặc sự thoả thuận đó của đương sự trong bản án hình sự sơ thẩm.

3. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, nếu Toà án cấp phúc thẩm xét thấy các tài liệu, chứng cứ về phần dân sự trong vụ án hình sự chưa đầy đủ, thì căn cứ vào Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về bổ sung, xem xét chứng cứ tại Toà án cấp phúc thẩm có quyền yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ mới, tiếp nhận những chứng cứ mới do người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị nộp bổ sung. Căn cứ vào kết quả xét hỏi và xem xét chứng cứ cũ, chứng cứ mới tại phiên toà mà Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyết định tương ứng được hướng dẫn tại mục 4 Phần II này.

4. Tại phiên toà hình sự phúc thẩm

a. Trong trường hợp thuộc điểm a mục 3 Phần I của Công văn này mà Toà án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự cũng như tại phiên toà phúc thẩm qua xét hỏi, xem xét những chứng cứ cũ, chứng cứ mới tại phiên toà vẫn không làm rõ được, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 220 và khoản 1 Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành lại tố tụng từ giai đoạn điều tra. Cần chú ý là trong vụ án có nhiều bị cáo thì chỉ huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành lại tố tụng từ giai đoạn điều tra đối với bị cáo nào mà việc điều tra bổ sung phần dân sự có liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm hoặc đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đó. Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự cũng như tại phiên toà phúc thẩm qua xét hỏi, xem xét chứng cứ cũ, chứng cứ mới tại phiên toà và đã làm rõ được thì tuỳ từng trường hợp cụ thể, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyết định tương ứng mà không được huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Cần chú ý là trong trường hợp sửa bản án sơ thẩm, thì phải tuân thủ quy định tại Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự.

b. Trong trường hợp thuộc điểm b mục 3 Phần I của Công văn này mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự cũng như tại phiên toà phúc thẩm vẫn không làm được rõ hơn phần dân sự và đây là do việc xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án cấp sơ thẩm không đầy đủ, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự trong vụ án hình sự để xét xử sơ thẩm lại với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm khác. Nếu xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện các biện pháp để xác minh, thu thập chứng cứ, song vẫn không được và thuộc một trong các trường hợp cần tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu, nhưng Toà án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự trong vụ án hình sự và tách phần dân sự này để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân dự, khi có yêu cầu.

5. Tại phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

a. Trong trương hợp thuộc điểm a mục 3 Phần I của Công văn này mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm vẫn không làm rõ được, nhưng vụ án vẫn được xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 254 và Điều 256 hoặc khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để tiến hành tố tụng lại từ giai đoạn điều tra. Nếu chỉ có bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thì huỷ bản án sơ thẩm đó để tiến hành tố tụng lại từ giai đoạn điều tra.

Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên toà sơ thẩm hoặc tại phiên toà phúc thẩm qua xét hỏi xem xét chứng cứ đã làm rõ được, nhưng Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm xét xử sai thì tuỳ từng trường hợp cụ thể, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm căn cứ vào điều luật tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự huỷ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm hoặc chỉ huỷ bản án phúc thẩm để xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc từ cấp phúc thẩm. Nếu bản án phúc thẩm có sai lầm, nhưng bản án sơ thẩm đúng thì chỉ huỷ bản án phúc thẩm có sai lầm và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

b. Trong trường hợp thuộc điểm b mục 3 Phần I của Công văn này và xét thấy phần dân sự chưa được làm rõ và đây là do việc xác minh, thu thập chứng cứ hoặc bổ sung chứng cứ của Toà án cấp sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm là không đầy đủ, thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm huỷ quyết định của bản án phúc thẩm hoặc cả quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm.

Nếu xét thấy Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm đã thực hiện các biện pháp để xác minh, thu thập chứng cứ, bổ sung chứng cứ, song vẫn không được và thuộc một trong các trường hợp cần tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự, khi có yêu cầu, nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử, thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm huỷ quyết định của bản án phúc thẩm, quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự trong vụ án hình sự và tách phần dân sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi có yêu cầu.

III. THỦ TỤC THỤ LÝ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ PHẦN DÂN SỰ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

1. Trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm, Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết định tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi có yêu cầu theo hướng dẫn tại các điểm, mục tương ứng Phần II của Công văn này, thì Toà án chỉ thụ lý để giải quyết phần dân sự khi đương sự có yêu cầu (có đơn yêu cầu hoặc đơn khởi kiện). Việc thụ lý và giải quyết vụ án được tiến hành theo thủ tục chung theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

2. Trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc Toà án cấp phúc thẩm, Toà án cấp giám đốc hoặc tái thẩm quyết định tiến hành tố tụng lại từ giai đoạn điều tra theo hướng dẫn tại các điểm, mục tương ứng Phần II của Công văn này, thì sau khi nhận được hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển đến Toà án cấp sơ thẩm thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử sơ thẩm lại; Toà án cấp giám đốc huỷ quyết định của bản án phúc thẩm hoặc cả quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm thì việc thụ lý, giải quyết như sau:

a. Theo quy định của pháp luật tố tụng thì Toà án quân sự không có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Mặt khác khi phần dân sự bị huỷ để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm, thì quyết định về trách nhiệm hình sự đã có hiệu lực pháp luật, trong một số trường hợp người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt. Để bảo đảm sự thống nhất và do đây là vụ án hình sự, nhưng chỉ bị huỷ phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm, cho nên Toà án đã xét xử phúc thẩm hoặc sơ thẩm vụ án đó khi nhận lại hồ sơ vụ án phải vào sổ thụ lý loại vụ án hình sự, phân công Thẩm phán chủ toạ phiên toà và chuẩn bị việc xét xử. Để bảo đảm cho việc xét xử phần dân sự đúng pháp luật, Toà án có quyền tiến hành những việc cần thiết theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để xác minh, thu thập chứng cứ và quyết định việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

b. Tuy Toà án mở phiên toà xét xử vụ án hình sự, nhưng chỉ xử về phần dân sự, đồng thời khi xét xử lại vụ án hình sự về phần dân sự nếu bị đơn là người phạm tội thì họ đã bị kết án cho nên không thể buộc họ đứng trước vành móng ngựa một lần nữa (nơi chỉ dành cho bị cáo) và trong một số trường hợp bị đơn không phải là người phạm tội; do đó, để bảo đảm sự thống nhất trong các trường hợp và sự bình đẳng giữa các đương sự, mặc dù mở phiên toà xét xử vụ án hình sự, nhưng được tiến hành như phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

c. Việc tuyên bố khi khai mạc phiên toà và ghi trong phần mở đầu của bản án, ngoài những vấn đề theo quy định chung, cần chú ý thêm cách tuyên bố và ghi như sau:

Hôm nay, ngày……… tháng……… năm………, Toà án……………………. mở phiên toà để xét xử vụ án hình sự về phần dân sự giữa:

Nguyên đơn dân sự:……………………. là bị hại hoặc là người đại diện hợp pháp của người bị hại và địa chỉ; nếu là cá nhân không phải là người bị hại hoặc cơ quan, tổ chức thì ghi rõ họ, tên cá nhân hoặc tên cơ quan, tổ chức đó và địa chỉ.

Bị đơn dân sự:……………………….. là người bị kết án trong vụ án và địa chỉ; nếu là cá nhân không phải là người đã bị kết án hoặc cơ quan, tổ chức, thì ghi họ, tên cá nhân hoặc tên cơ quan, tổ chức đó và địa chỉ.

Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao biết để có giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Đặng Quang Phương

(Đã Ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 177/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 177/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 177/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam

Sau khi nghiên cứu Công văn số 44/CV-TA ngày 12/9/2002 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự thì “Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi giao dịch đó có đủ các điều kiện quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự, trong đó có điều kiện “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.

Việc người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện được hiểu là: các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự do bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình, tự nguyện thoả thuận với nhau về các nội dung của giao địch mà không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép từ phía bên kia hoặc của người khác; các bên tự nguyện thoả thuận các vấn đề nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Về nguyên tắc việc giao kết hợp đồng phải qua các giai đoạn khác nhau, đó là: đề nghị giao kết hợp đồng, trả lời về đề nghị giao kết hợp đồng…, sau đó mới giao kết hợp đổng.

Trước thời điểm các bên giao kết hợp đồng các bên phải thoả thuận về tất cả các nội dung của hợp đồng. Các thoả thuận đó đều phải dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên.

Như vậy, yếu tố “hoàn toàn tự nguyện” của các bên được tính đến thời điểm các bên giao kết hợp đồng dân sự quy định tại Điều 403 Bộ luật Dân sự.

Sau khi hợp đồng dân sự được giao kết, hợp đồng sẽ có hiệu lực. Hiệu lực của hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 404 Bộ luật Dân sự. Hợp đồng dân sự được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Việc thực hiện hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại Điều 409 Bộ luật Dân sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN

SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:

1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 87/1999/KHXX NGÀY 6 THÁNG 8 NĂM 1999 VỀ VIỆC THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 87/1999/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 6 tháng 8 năm 1999

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 87/1999/KHXX NGÀY 6 THÁNG 8 NĂM 1999 VỀ VIỆC THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

Sau khi nghiên cứu Công văn số 176/TA ngày 15-6-1999 và tài liệu gửi kèm theo Công văn của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hỏi về thủ tục giải quyết việc tuyên bố một người là đã chết, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Đối với trường hợp quý Toà nêu trong Công văn số 176/TA ngày 15-6-1999 và tài liệu gửi kèm theo thì Toà án phải tách yêu cầu của bà Trần Thị Lý thành hai vụ kiện riêng biệt, bởi vì việc tuyên bố một người là đã chết là việc xác định một sự kiện pháp lý nên phải được giải quyết riêng.

1) Về thẩm quyền và thủ tục giải quyết việc tuyên bố một người đã chết:

Theo hướng dẫn tại Mục III Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự”, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết việc tuyên bố một người là đã chết là “Toà án cấp huyện nơi thường trú của người khởi kiện hoặc nơi thường trú cuối cùng của người mà người khởi kiện yêu cầu Toà án xác định là đã chết” (khoản 1 Mục III Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990). Trong trường hợp cụ thể của quý Toà nêu tại Công văn số 176/TA ngày 15-6-1999, thì Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh có thẩm quyền giải quyết việc tuyên bố chị Trần Thị Minh là người đã chết.

(Đề nghị quý Toà xem Cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1992; trang 293).

Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Mục IV Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 của Toà án nhân dân tối cao “Giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng” (câu 23), thì Toà án cần lưu ý: “Việc tuyên bố mất tích, tuyên bố một người là đã chết là việc xác định một sự kiện pháp lý nên không thể coi người mà người có yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố là đã chết là bị đơn”. Sau khi ra quyết định tuyên bố chị Trần Thị Minh là đã chết mà không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thì Toà án cần hướng dẫn cho bà Trần Thị Lý mang quyết định của Toà án đến Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký khai tử theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Dân sự.

2) Đối với yêu cầu của bà Trần Thị Lý về việc giải quyết chế độ chính sách theo quy định của Nhà nước cho chị Trần Thị Minh sau khi bị Toà án tuyên bố là đã chết.

Việc giải quyết chế độ chính sách cho chị Trần Thị Minh sau khi Toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết thuộc thẩm quyền của Công ty 475 (thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4) theo chính sách bảo hiểm xã hội. Trong trường hợp Công ty 475 không giải quyết hoặc tuy có giải quyết nhưng bà Trần Thị Lý không đồng ý và yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tục chung.

Trên đây là trao đổi về thủ tục giải quyết việc tuyên bố một người là đã chết của Toà án nhân dân tối cao để Toà án Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh nghiên cứu và hướng dẫn cho Toà án cấp huyện giải quyết tốt loại việc này.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 131/2002/KHXX CỦA TANDTC VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 131/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 131/2002/KHXX NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC XIN THAY ĐỔI NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Sau khi nghiên cứu Công văn số 65/DS ngày 14-5-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 1 Điều 14 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú ở Việt Nam, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ở Việt Nam giải quyết. Theo nội dung Công văn của quý Toà, thì chị Nguyễn Thị Hồng Diễm trước khi xuất cảnh sang Pháp định cư đã cư trú ở Bình Định; do đó, trong trường hợp này Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án xin thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Hạnh và chị Diễm là Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nơi cư trú cuối cùng của chị Diễm ở Việt Nam.

Bởi vậy, nếu quý Toà chưa thụ lý vụ án về việc anh Võ Duy Hạnh yêu cáu thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn thì quý Toà cần giải thích, hướng dẫn cho anh Hạnh nộp đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; nếu quý Toà đã thụ lý vụ án, thì căn cứ vào quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quý Toà cần chuyển vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền và thông báo cho anh Hạnh biết.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN SỐ 89/2004/KHXX CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ SỬ DỤNG HẠN CHẾ BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********Số: 89/2004/KHXX
V/v sử dụng hạn chế bất động sản liền kề

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
******

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2004

Kính gửi: Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An

Sau khi nghiên cứu Công văn số 27/TA ngày 29/3/2004 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, Viện Khoa học xét xử – Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật Dân sự thì: “Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các của mình về lối đi, cấp, thoát nước, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác”.

Như vậy, theo quy định tại Điều 278 nêu trên thì căn cứ để phát sinh quyền sử dụng bất động sản liền kề là nhu cầu về lối đi, cấp, thoát nước, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý. Các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý có thể là nhu cầu về sửa chữa, xây dựng nhà ở… mà cần phải sử dụng bất động sản liền kề hoặc khoảng không gian trên khuôn viên bất động sản liền kể của người khác.

Đối chiếu với trường hợp nêu trong Công văn số 27/TA ngày 29/3/2004 của quý Toà thì ông Đặng Văn Trung có quyền yêu cầu được sử dụng hạn chế bất động sản liền kề thuộc sở hữu của ông Đỗ Trung Hoàng để tô tường nhà theo quy định tại Điều 278 của Bộ Luật dân sự.

Khi giải quyết yêu cầu của ông Đặng Văn Trung quý Toà cần tiến hành hoà giải để hai bên thương lượng, thoả thuận với nhau về cách thức sử dụng khoảng không gian, tiền đền bù thoả đáng cho việc sử dụng khoảng không gian đó.

Trong trường hợp các bên không thoả thuận được về mức độ đền bù thì Toà án buộc ông Đặng Văn Trung phải thanh toán khoản tiền đền bù thoả đáng cho Đỗ Trung Hoàng.

Trên đây là ý kiến của Viện khoa học xét xử – Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án cụ thể tại địa phương.

TL. CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Q. VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHOA HỌC XÉT XỬ
Nguyễn Văn Luật

CÔNG CỤ TÀI CHÍNH – TÍN DỤNG VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

TS. TRẦN DU LỊCH

…“Khi nền kinh tế xuất hiện một ngành đầu tư tạo ra siêu lợi nhuận gây mất thăng bằng trong phát triển, đe dọa nguy cơ khủng hoảng, thì nhà nước cần nhanh chóng có giải pháp tài chính để điều tiết đầu tư. Trong lĩnh vực đất đai, lâu nay chúng ta chủ yếu áp dụng biện pháp hành chính, nhưng không mang lại hiệu quả, trong khi đó lại thiếu công cụ tài chính để điều tiết”…

Thị trường bất động sản: con ngựa bất kham

Nếu tính từ năm 1991 đến nay, trong vòng 15 năm, nền kinh tế nước ta trải qua hai “cơn sốt” lớn về thị trường bất động sản (TTBĐS). Cơn sốt thứ nhất, cao điểm vào các năm từ 1992 đến 1994 và cơn sốt thứ hai, từ cuối năm 2001 đến cuối năm 2003, làm gia tăng đột biến giá đất đô thị và các địa bàn đang được đô thị hóa. Điểm giống nhau của cả hai cơn sốt là: tác động mạnh bởi yếu tố đầu cơ và sau mỗi lần tăng giá đột biến, một mặt bằng giá cả mới được hình thành, sau đó tiếp tục tăng nhẹ, chứ không có hiện tượng giảm giá như các cơn sốt vàng, đô la hay các loại hàng hóa khác.
Còn điểm khác nhau là ở chỗ: đối với cơn sốt thứ nhất, chủ yếu do các doanh nghiệp “đi trước thời cuộc” đầu cơ đất đô thị và dựa phần lớn vào nguồn vốn tín dụng thương mại, từ đó kéo theo sự đầu cơ riêng rẽ của một bộ phận dân chúng; còn cơn sốt thứ hai thì phổ biến là tình trạng “người người kinh doanh đất, nhà nhà kinh doanh đất” và đánh dấu sự bùng nổ các công ty kinh doanh bất động sản (BĐS), thực chất là kinh doanh đất; đồng thời hình thành xu hướng biến đất đai thành nguồn vốn cất trữ, để dành. Để cắt cơn sốt thứ nhất, Chính phủ ban hành Nghị định 18/CP (với nội dung pháp nhân chỉ được thuê đất, không giao đất) và cắt cơn sốt thứ hai bằng Luật đất đai năm 2003, mà cụ thể nhất là Nghị định 181/CP, với nội dung là cấm phân lô bán nền. Các liều thuốc cắt sốt của Chính phủ đều mang lại kết quả tức thì, rất hiệu nghiệm: giảm sốt; nhưng bệnh thì vẫn còn nguyên. Luật đất đai năm 2003 góp phần lành mạnh hóa TTBĐS, nhưng nếu chỉ có Luật đất đai, và ngay cả khi có Luật kinh doanh BĐS, cũng không đủ để điều trị căn bệnh của TTBĐS Việt Nam hiện nay, vốn đang như con ngựa bất kham. Vấn đề đặt ra là, phải có hệ thống chính sách quản lý đồng bộ liên quan đến luật pháp trong nhiều lĩnh vực.

Xét về lý thuyết, mức cung về đất đai gắn với các nhân tố hữu hạn (diện tích, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng của nhà nước), còn nhu cầu về đất đai gắn với các yếu tố vô hạn như kinh tế phát triển, tăng dân số, tốc độ đô thị hoá, mức sống dân cư thay đổi… nhưng trên thực tế, mối quan hệ giữa sức cung và sức cầu để hình thành giá cả thị trường chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, mà nổi bật nhất là yếu tố đầu cơ tác động đến sức cầu, và vai trò của nhà nước (pháp luật về đất đai, quy hoạch và quản lý sử dụng đất…) tác động đến sức cung. Sự tăng giá đất đô thị vừa qua, chỉ một phần do nhu cầu của người sử dụng gây áp lực lên sức cầu, còn lại là trong từng thời điểm, ở từng địa bàn, phần lớn do những người đầu cơ đất đai tạo ra.
Mặt khác, trước khi ban hành Luật đất đai năm 2003, nhà nước không thừa nhận việc mua – bán quyền sử dụng đất (mặc dù thừa nhận giá trị của nó) nên các quan hệ giao dịch phải thông qua nhà nước với thủ tục rất phức tạp (ví dụ, thay vì chuyển dịch quyền sử dụng đất theo pháp luật dân sự giữa các bên giao dịch, thì nhà nước can thiệp bằng cách thu hồi và giao lại…). Chính quan hệ hành chính – nhà nước trong giao dịch, tạo ra các “ức chế” đối với thị trường, tạo kẽ hở phát sinh tiêu cực. Luật đất đai năm 2003 đã khắc phục được tồn tại trên, thừa nhận quyền sử dụng đất như một loại hàng hoá tham gia TTBĐS, nhưng bản thân đạo luật này không thể điều tiết mọi hoạt động của TTBĐS, nên vẫn ít tác dụng trong việc điều tiết cả thị trường sơ cấp lẫn thị trường thứ cấp.

Nhà nước đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xã hội nhưng thiếu công cụ tài chính để điều tiết thị trường và giá trị gia tăng của đất

Trong nhiều năm qua, kinh doanh BĐS tạo ra lợi nhuận siêu ngạch, nên đã thu hút quá nhiều pháp nhân và cá nhân đầu tư vào các dự án nhà ở tại hầu hết các đô thị. Sự bùng nổ đất dự án đã bất chấp nhu cầu thực tế của thị trường. Trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, chỉ trong vòng vài ba năm đã ra đời đến hơn 4.000 doanh nghiệp kinh doanh BĐS, thu hút một lượng rất lớn nguồn vốn đầu tư của xã hội vào các dự án đất đai, nhưng phần lớn mới tạo ra bán thành phẩm cho TTBĐS. Khi một nền kinh tế xuất hiện một ngành đầu tư tạo ra siêu lợi nhuận gây mất thăng bằng trong phát triển, đe dọa nguy cơ khủng hoảng, thì nhà nước cần nhanh chóng có giải pháp tài chính để điều tiết đầu tư. Trong lĩnh vực đất đai, lâu nay chúng ta chủ yếu áp dụng biện pháp hành chính, nhưng không mang lại hiệu quả, trong khi đó lại thiếu công cụ tài chính để điều tiết. Các luật liên quan đến thuế chuyển mục đích sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất… hiện hành không đủ để điều tiết lợi nhuận siêu ngạch trong thời gian qua và càng thiếu biện pháp tài chính để hạn chế đầu cơ đất.

Các công trình đầu tư hạ tầng của nhà nước đã làm tăng giá trị sử dụng đất, đôi khi gấp nhiều lần giá cũ (trước khi đầu tư), nhưng nhà nước hầu như không có một chính sách điều tiết, để vừa tạo nguồn thu cho ngân sách vừa tạo công bằng xã hội. Chính người đầu cơ đất săn lùng thông tin quy hoạch, nhất là quy hoạch giao thông là nhằm đến lợi nhuận siêu ngạch từ khoản địa tô cấp sai do nhà nước đầu tư tạo ra. Đây là một khiếm khuyết rất lớn về các công cụ tài chính điều tiết vĩ mô trong quản lý TTBĐS.

Chính sách phát triển hài hoà ba bộ phận của TTBĐS

TTBĐS thông thường bao gồm 3 loại: (1) thị trường mua bán chuyển dịch; (2) thị trường cho thuê và (3) thị trường thế chấp. Ba thị trường này có mối quan hệ hữu cơ. Thực tế ở nước ta trong những năm qua, sự sôi động hay “đóng băng” TTBĐS đều diễn ra chủ yếu ở thị trường mua bán chuyển nhượng, còn đối với thị trường cho thuê và thị trường thế chấp thì phát triển rất chậm và có nhiều nhân tố cản trở. Đây là sự phát triển méo mó của TTBĐS.

Đối với thị trường cho thuê: Đây là một bộ phận quan trọng của TTBĐS, có quan hệ trực tiếp với thị trường mua bán và chuyển dịch. Giá cho thuê gắn liền với giá mua bán chuyển dịch. Nếu căn cứ vào tổng sản phẩm nội địa GDP/người của nước ta so với các nước trong khu vực, thì giá cho thuê nhà các loại ở các đô thị lớn của nước ta như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh còn rất cao. Đây là yếu tố bất lợi để phát triển kinh tế. Các nhà đầu tư tài chính tính toán rằng, một dự án đầu tư BĐS (như xây cao ốc văn phòng, căn hộ cho thuê, hạ tầng khu công nghiệp…) thường dựa trên thời gian thu hồi vốn khoảng 100 tháng (hơn 8 năm). Muốn giảm giá thuê để phát triển thị trường cho thuê cần phải giảm chi phí đầu vào và được hưởng ưu đãi trong các chính sách tài chính, tín dụng. Do đó, chúng tôi đề nghị Quốc hội nghiên cứu ban hành chính sách thuế ưu đãi có thời hạn (ví dụ 05 năm) như giảm thuế VAT, thuế thu nhập, thuế chuyển mục đích sử dụng đất, giá thuê đất… để khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân đầu tư các công trình kiến trúc cho thuê.

Phân cấp cho chính quyền địa phương quyền tự chủ trong việc định giá thuê đất tuỳ theo lĩnh vực khuyến khích đầu tư cho thuê. Đối với những nhà đầu tư xây dựng căn hộ cho thuê cho những người có thu nhập thấp hoặc thuộc diện hưởng chính sách xã hội, cho phép chính quyền địa phương có thẩm quyền quy định việc miễn giảm tiền sử dụng đất, giá thuê đất tùy thuộc vào tính chất của dự án. Chính sách trên áp dụng cho mọi nhà đầu tư không phân biệt thành phần kinh tế, mà chỉ phân biệt lĩnh vực đầu tư và tính chất của dự án. Đối với các quỹ đầu tư, nếu đầu tư vào các dự án cho thuê nêu trên, thì cũng được hưởng quyền lợi như các nhà đầu tư trực tiếp. Đối với các ngân hàng thương mại, đề nghị ngân hàng nhà nước nên có chính sách rõ ràng về khuyến khích các ngân hàng tài trợ cho các dự án xây dựng nhà ở và các công trình kiến trúc cho thuê khác. Các chính sách tài chính và tín dụng đều hướng vào mục tiêu tạo sự hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư vào thị trường cho thuê và nhờ đó, thị trường sẽ kéo giá thuê tiếp cận với mặt bằng chung của nền kinh tế; hướng các nhà đầu tư chuyển từ thị trường mua bán sang thị trường cho thuê.

Đối với thị trường thế chấp: Đây là thị trường quan trọng để chuyển từ “vốn chết” BĐS sang “vốn sống” hoạt động trong thị trường tín dụng. Để phát triển thị trường này, trước hết, đề nghị Chính phủ cho rà soát lại tất cả quy trình thủ tục liên quan đến thế chấp BĐS từ giai đoạn thế chấp đến giai đoạn sai áp phát mãi BĐS (nếu người vay nợ có tài sản thế chấp không có khả năng thanh toán) mà hiện nay còn rất phức tạp, làm nản lòng nhiều tổ chức tín dụng. Mặc dù vấn đề này đã được chế định trong luật dân sự và luật đất đai, nhưng trên thực tế những thủ tục liên quan đến xác định giá trị BĐS, công chứng, phát mãi, đấu giá… đều rất phức tạp đối với cả người thế chấp lẫn người nhận thế chấp. Tiếp đến, đề nghị Quốc hội chỉ đạo nghiên cứu để áp dụng một hình thức hối phiếu có bảo đảm bằng BĐS nhằm tạo thanh khoản cho ngân hàng khi nhận thế chấp BĐS. Ví dụ, khi người chủ sở hữu BĐS thế chấp BĐS tại ngân hàng, thì ngân hàng sẽ phát hành một hối phiếu ghi rõ số nợ, thời gian trả nợ, trị giá BĐS thế chấp… và người thế chấp sẽ chuẩn nhận hối phiếu đó. Hối phiếu có giá trị để đòi nợ khi đáo hạn và ngân hàng có thể chiết khấu và giao dịch trên thị trường tiền tệ. Đây là loại hối phiếu được bảo đảm bằng BĐS, nên tính rủi ro thấp và sẽ trở thành một công cụ của thị trường tiền tệ. Nếu phát triển được thị trường thế chấp sẽ tạo ra một kênh huy động vốn rất quan trọng cho nền kinh tế, góp phần phát triển thị trường tài chính. Đây cũng là cách khai thông giữa TTBĐS với thị trường vốn.

Chính sách thuế và phí: Là công cụ để điều tiết khối cung lẫn khối cầu và chống đầu cơ. Cho đến nay, về mặt vĩ mô, nhà nước chưa có chính sách tài chính đồng bộ để điều tiết TTBĐS. Chưa sử dụng công cụ thuế và phí để điều tiết lợi nhuận siêu ngạch trong kinh doanh BĐS trong nhiều năm và chống đầu cơ đất. Các công trình hạ tầng kỹ thuật xã hội nhà nước đầu tư nhằm chỉnh trang và phát triển đô thị, nâng giá trị sử dụng đất, tạo ra địa tô cấp sai rất lớn, nhưng người hưởng lợi không chịu một nghĩa vụ tài chính nào. Khi tiến hành quy hoạch thì nảy sinh vấn đề như sẽ có một số người hưởng lợi và sẽ có một số người bị thiệt hại một cách vô lý. Một số người có nhà đang ở trong hẻm được giải tỏa ra mặt tiền, khi đó giá đất và giá nhà tăng vọt, trong khi một số người đang ở mặt tiền thì bị giải tỏa với giá đền bù nhiều khi chưa bù đắp được giá cả theo hiện trạng. Đây là sự bất công. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có chính sách thuế và phí để điều tiết tình hình này.

Ở nhiều nước trên thế giới, người ta sử dụng chính sách thuế và phí để giải quyết sự bất công đó. Theo Luật đất đai hiện hành, đề nghị sớm cụ thể Điểm c, Khoản 3, Điều 5 (quy định: “điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại”) thông qua chính sách thuế và phí. Hay như trong vấn đề chống đầu cơ nền nhà, nhiều nước quy định rất chặt chẽ và dùng chính sách thuế để buộc nhà đầu tư phải bảo đảm cơ sở hạ tầng công cộng được xây dựng hoàn thiện trước khi bán nền cho người xây dựng nhà ở và tăng thuế BĐS để chống lại hiện tượng mua đất bỏ hoang trong các khu đô thị, làm chậm tiến độ xây dựng theo quy hoạch. Do đó, chúng tôi đề nghị, về phương diện thuế, nhà nước cần nghiên cứu áp dụng loại thuế lũy tiến đánh vào các chủ dự án hoặc nhà đầu tư riêng rẽ cố tình đầu cơ nền nhà trong các dự án mà không xây dựng theo tiến độ của dự án đã được duyệt. Đề nghị phân cấp cho chính quyền địa phương, thẩm quyền HĐND được quyết định loại phí đánh vào việc đầu cơ nền nhà trong các dự án. Nếu mức phí ngang bằng hoặc cao hơn kỳ vọng sinh lời của việc đầu cơ đất, thì sẽ hạn chế hiện tượng đầu cơ nền nhà. Đồng thời, trong nội dung phê duyệt các dự án đầu tư khu đô thị cần có điều khoản chế tài về tài chính, nếu chủ đầu tư không tuân thủ tiến độ thực hiện dự án và không xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội đồng bộ.
Nếu quy định chặt chẽ như vậy, chỉ có nhà đầu tư kinh doanh BĐS nào đủ khả năng dự báo thị trường đầu ra và năng lực huy động nguồn vốn đầu tư, thì mới có thể tiến hành dự án đầu tư và chấm dứt tình trạng chạy dự án tràn lan, phát triển các khu dân cư không dựa trên yếu tố thị trường về nhu cầu nhà đất, mà chỉ dựa trên yếu tố đầu cơ nhất thời của người đầu cơ đất; cạnh tranh nhau tạo áp lực tăng giá đất nông nghiệp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển các ngành kinh tế khác và chính sách nhà ở cho người dân. Nói chung là, Quốc hội quy định việc phân cấp thêm thẩm quyền và trách nhiệm cho HĐND địa phương, nhất là các đô thị trong việc sử dụng các công cụ tài chính đề điều tiết TTBĐS và chống đầu cơ.

***

Tóm lại, bên cạnh việc ban hành Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh BĐS v.v.., cần phải pháp chế hóa một cách đồng bộ hơn các đạo luật liên quan đến thuế, phí, tín dụng… để sử dụng một cách hữu hiệu công cụ tài chính – tín dụng trong việc điều tiết và phát triển TTBĐS, khai thông các kênh dẫn giữa TTBĐS với thị trường vốn, đồng bộ hóa các nhân tố của kinh tế thị trường.

SOURCE: http://www.nclp.Org.vn

GIÁO SƯ CANADA GỐC VIỆT HUỲNH HỮU TUỆ: GIÁO DỤC VIỆT NAM QUÁ “KỲ DỊ” VÀ “DỊ KỲ”

“Một sinh viên rất xuất sắc của tôi (cử nhân chất lượng cao) tâm sự: Học xong không biết mình học cái gì? Từ lúc em học đại học đến bây giờ, học xong quên ngay mặc dù môn nào cũng đạt điểm 9,10. Đó chỉ là một trường hợp điển hình cho việc đi ngược lại những mục tiêu giáo dục. Nhẽ ra, giáo dục đại học phải giúp sinh viên đủ sức tích hợp và tổng hợp kiến thức để biến kiến thức đó thành của bản thân. Sản phẩm của một nền đại học theo đúng nghĩa của nó là phải đảm bảo ba điều, thứ nhất là tư duy độc lập, thứ hai là tư duy phê phán, thứ ba là tư duy sáng tạo. Nếu không có những tư duy này làm sao sáng tạo, sáng chế được? Nên kết cục chỉ đi làm thợ, làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài!”. GS Huỳnh Hữu Tuệ

—————————————————————————–

Vài nét về GS Huỳnh Hữu Tuệ

* Năm 1960, Huỳnh Hữu Tuệ là một trong số những sinh viên xuất sắc được học bổng du học tại Canada. Sau thời gian học đại học Laval- Cannada, nhờ có kết quả học tập tốt, Huỳnh Hữu Tuệ đã được giữ lại trường làm nghiên cứu sinh, đồng thời làm giảng viên tại trường. Năm 1968, kết thúc khóa học, Huỳnh Hữu Tuệ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về viễn thông. Đến năm 1972, hoàn tất thêm luận án Tiến sĩ khoa học về chuyên ngành Xử lý thông tin và đến năm 1981, ông được phong hàm Giáo sư. Tiếng tăm về người Tiến sĩ Canada gốc Việt khi ấy đã làm nhiều nhà khoa học nước bạn nể phục. Nhiều công trình nghiên cứu của ông cho đến ngày hôm nay vẫn còn nhiều giá trị như “Quá trình ngẫu nhiên không chuẩn”… Ngay từ khi còn là sinh viên, Huỳnh Hữu Tuệ đã cùng những người con đất Việt yêu nước xuống đường tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ việc lập lại hòa bình ở Việt Nam. Nhiều năm liền ông là Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Canada, nắm bắt, quan tâm tới tình hình phát triển của quê nhà, đặc biệt là về giáo dục.
* Trước đây, lương của GS Tuệ ở Canada là 10.000 USD/ tháng, giờ chỉ còn bằng mức lương một giảng viên đại học của Việt Nam, cộng với 180.000 đồng/ngày để trả tiền cho căn phòng khoảng 20 mét vuông trên tầng ba khách sạn Cầu Giấy và 100.000 đồng tiền ăn mỗi ngày.

* GS Huỳnh Hữu Tuệ là trí thức Việt kiều đầu tiên được phong chức chủ nhiệm bộ môn tại một trường đại học ở Việt Nam.

———————————————————————————

Phóng viên (PV): Những năm tháng chiến tranh ông ở đâu?

 

GS Huỳnh Hữu Tuệ (HHT): Tôi ở Canada. Tôi rời đất nước từ những năm 1960, khi đạt học bổng du học tại Canada và New Zealand. Nhưng tôi đã chọn Đại học Laval – Canada làm nơi dừng chân. Sau thời gian học đại học, tôi được giữ lại trường làm nghiên cứu sinh đồng thời là giảng viên. Những năm tháng đó tôi làm Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Canada và thường xuyên xuống đường tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ hòa bình cho Việt Nam

PV: Vậy cảm giác của sự ly biệt cũng khác với những người ra đi năm 1975?

HHT: Khác hơn nhiều. Bởi lẽ gắn bó của tôi với Việt Nam là gắn bó của một công dân với đất nước có chiến tranh và phải làm cách nào để giải quyết chuyện này.

PV: Những người ra đi năm 1975 mang trong lòng đau đớn, hận thù và nghĩ rằng họ như đang bị đẩy đi, bị cướp mất. Còn những người ra đi trước như ông lại mang trong lòng nỗi buồn chiến tranh, nỗi đau của một người con mất nước…Cho nên những người như ông sẽ trở về Tổ quốc dễ dàng hơn và xúc động hơn so với những người ra đi sau 30/04/1975?

HHT: Sau giải phóng., lập tức tôi đã trở về.

PV: Như vậy là đã lâu rồi. Và cảm giác của cuộc trở về lúc đó thế nào? Ông có cảm giác lo sợ nào đó không ?

HHT: Không hề sợ hãi mà ngược lại hãnh diện. Nhưng hơi thất vọng. Vẫn có người phê bình: “Anh chưa thấm được mối thù giai cấp”. Nhưng theo tôi cuộc chiến tranh đó không chỉ đơn thuần là mối thù giai cấp. Đó là cuộc chiến giữa hai đối thủ giữa một bên là quân xâm lược và một bên là dân tộc bị xâm lược. Động cơ giải phóng dân tộc còn lớn hơn tất thảy.

PV: Bây giờ chúng ta có thể nói rằng: Hồi đó, ngay sau năm 1975, có một số Tiến sĩ khoa học người Việt sống ở nước ngoài trở về theo lời kêu gọi của đất nước. Nhưng có một điều gì đó làm cho những người trí thức hồ hởi về giúp quê hương nhưng đã lại ra đi….

HHT: Đúng như vậy nhưng sự thật có tính khách quan của nó. Công lao của Đảng 20 năm qua là cởi trói. Nhưng làm sao phải đẩy mạnh tốc độ phát triển hơn nữa.

PV: Ông là một trong rất ít trí thức Việt Nam sống ở nước người đã trở về tổ quốc rất sớm ngay sau khi đất nước thống nhất. Tôi muốn biết ý muốn khi trở về của ông là gì?

HHT: Vai trò của tôi là cầu nối chặt chẽ giữa trí thức bên ngoài và trí thức bên trong. Tôi muốn xóa đi những mặc cảm và cả những lo sợ của không ít trí thức Việt Nam sống ở nước ngoài về chính quyền trong nước.

PV: Ông có thể hé lộ gì về gia đình mình? Bởi việc trở về Tổ quốc của ông trong một thời điểm khó khăn và có nhiều đe dọa. Chính thế mà gia đình chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn đền việc trở về của ông?

HHT: Vợ tôi là người gốc Canada, thành viên Đảng Cộng sản Canada và đã tham gia chống Mỹ cứu nước. Bà ấy cũng thường xuyên về Việt Nam và đóng góp cho công việc của tôi cũng như sự nghiệp phát triển của đất nước rất nhiều lời khuyên hữu ích. Bà ấy đã ủng hộ tôi trở về. Hơn nữa, Việt Nam là quê chồng của bà ấy.

PV: Ông trở về Việt Nam trong một khoảng thời gian quá sớm và làm việc dù theo cách thức thuyết phục hay mách nước (vai trò cầu nối) thì phản ứng của cộng đồng Việt kiều vẫn mang tính tiêu cực?

HHT: Tôi đã từng là kẻ thù của một số người trong cộng đồng hải ngoại. Có rất nhiều người đã tuyên chiến với tôi. Một số người tung tin sẽ qua Canada tiêu diệt “Việt cộng nằm vùng” Huỳnh Hữu Tuệ. Qua Paris, tôi thấy ảnh của mình dán khắp nơi. Nhưng mình đâu có sợ. Tôi sẵn sàng đối mặt với mọi chuyện, nếu chúng “dùng súng” mình cũng sẽ “dùng súng”.

PV: Sau những năm 1980, rất nhiều trí thức yêu nước trở về và có một số lại ra đi. Vậy theo ông, những điểm nào là khó nhất cho các trí thức trở về trước năm 1990?

HHT: Năm 1979, Việt Nam bị bao vây, cấm vận, tình hình bế tắc không có cách nào tháo gỡ. Chỉ có một nơi duy nhất có thể tập kết nhu yếu phẩm và đưa về trong nước là Canada. Tổ chức do tôi lãnh đạo đã dùng toàn bộ trí tuệ đứng mũi chịu sào. Trước và sau 75, tôi chưa bao giờ có sự cảnh giác về mặt chính trị.

Tôi biết với một người trí thức tự tin, có tình yêu thực sự với dân tộc thì không điều gì khiến họ phải cảnh giác, để ý. Vậy những người giống như ông có trở về Việt Nam nhiều hơn không và họ có mang mặc cảm của những năm xa xưa không?

PV:

 

HHT: Tôi không có con số thống kê nhưng dựa trên kinh nghiệm cá nhân, thì những người như tôi là rất hiếm. Người Việt trở về đất nước có hai dạng: Một là không có cách nào sống đàng hoàng ở nước ngoài, một dạng khác trở về để khai thác thị trường Việt Nam. Nếu làm giáo dục, khoa học thành công, thì họ đã trụ lại bên kia rồi rồi. Từ những năm 1980 tôi đã có kiến nghị phải mở cửa kinh tế ngay để đón những luồng đầu tư công nghệ cao, sử dụng nhân công trong nước…Chất xám theo đó sẽ phát triển rất nhanh.

Dân tộc Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử nhưng luôn nằm trong thế tử thủ. Đất nước hình chữ S bị chắn dãy núi Hoàng Liên Sơn… Công cuộc khai phá đang tiến hành thì thực dân Pháp xâm chiếm. Dân tộc Việt Nam suốt đời đánh giặc, cứu nước mà đánh giặc thì cần tinh ranh phá thế bao vây. Đánh giặc phải phá. Ngay trong thời hiện đại, nếu lấy cày, cuốc để phá sẽ lộ ra hàng nghìn chuyện tiêu cực. Điều nguy hiểm nhất là mở cơ chế mà không biết cách kiểm soát, thì sẽ nổ tung rồi nó đập lại chính mình. Điều mà tôi sốt ruột là mong cho các nhà lãnh đạo có một chiến lược thật chặt và thật rõ để đẩy nhanh tốc độ phát triển.

PV: Là một giáo sư uy tín, là một người sống nhiều năm ở một nước phát triển và là một người hết lòng với Tổ quốc, xin ông hãy nói thật cái gì đang là cản trở lớn nhất cho sự phát triển của đất nước Việt Nam?

HHT: Cơ chế. Không có gì bằng sức mạnh nhân dân nhưng nhân dân không thể kiểm tra hết. 15 năm trước, có những nhà lãnh đạo chỉ ngồi rồi đọc báo cáo rồi xem đó là kết quả. 15 năm sau có chuyện ngược lại, chính phủ đã thành lập những đoàn thanh tra đã kiểm tra các báo cáo đó đúng hay sai. Lãnh đạo giỏi sẽ từ từ thay đổi cơ chế này cho tương thích với tốc độ phát triển của xã hội.

PV: Điều gì là khó nhất với một giáo sư từ nước ngoài trở về Việt Nam?

HHT: Điều tôi buồn nhất là điều kiện làm việc thiếu thốn. Nó không cho mình phát huy tất cả khả năng. Rất may trong phòng làm việc hiện tại của tôi có hai tiến sĩ ở Mỹ, Úc trở về nghiên cứu khoa học. Ba thầy trò quyết tâm phát triển nhóm này trở thành một nhóm chất lượng như các nhóm tôi đã từng tổ chức ở nước ngoài. Những em theo học trong nhóm rất đam mê và ham học. Đó là cách độc nhất để chứng minh: trong điều kiện không tương thích nhưng tiềm lực vẫn dồi dào, thì vẫn có thể phát huy được. Nhưng trong điều kiện hiện nay mô hình này không thể nhân rộng. Muốn mở rộng phải có một tập thể quyết tâm, thống nhất. Cái khó nhất của Việt Nam trong giáo dục là không ai lãnh đạo ai cả, không ai thống nhất ai mặc dù chức danh lãnh đạo rất lớn. Tôi thấy rất rõ về cách làm việc kỳ cục: Lãnh đạo rất sợ trách nhiệm

PV: Những thế hệ Việt kiều thứ 3, thứ 4 thì sao? Có thể vẫn nói ngôn ngữ đó, dòng máu không bị pha tạp nhưng sự trở về của họ hoàn toàn khó?

HHT: Thế hệ thứ 3, 4 trở về nước sẽ hoàn toàn như một người nước ngoài, thậm chí phải trả lương như một chuyên gia người nước ngoài.

PV: Người Trung Quốc rất tài trong chuyện này. Họ luôn tìm mọi cách để mời gọi những trí thức Trung Quốc sinh sống và làm việc ở nước ngoài trở về lục địa. Ở Trung Quốc, một giáo sư như ông nếu trở về đất nước làm việc thì điều kiện sẽ hoàn toàn như ở nước ngoài.

HHT: Chiến tranh ở Việt Nam kéo dài quá lâu. Những người ra đi năm 1975 có tâm lý mất toàn bộ cuộc đời. Họ không bao giờ quên mối hận đó. Nhưng vị thế Việt Nam ngày càng mạnh lên, thì những hận thù đó sẽ được hóa giải. Vì dù sao niềm hãnh diện dân tộc vẫn có một sức sống mãnh liệt trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

PV: Rất nhiều Việt kiều lên tiếng muốn trở về. Nhưng thực tế số người trở về lại rất ít, họ nói vậy nhưng họ không trở về ?

HHT: Ông nêu vấn đề rất đúng. Có bao nhiêu người trở về làm việc chấp nhận điều kiện này? Rất ít. Bản thân tôi đã nếm trải tất cả mọi điều, cao sang, đau khổ…nên mọi khó khăn sẽ chẳng có ý nghĩa gì nữa!

PV: Những điểm nào là khác biệt nhất giữa các tiến sĩ đào tạo trong nước với tiến sĩ nước ngoài?

HHT: Tôi không nói đến tiến sĩ thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội nhưng đào tạo tiến sỹ khoa học cần có những điều tối thiểu thật sự. Một người làm tiến sĩ phải dành 15 giờ mỗi ngày, 7 ngày trong một tuần, 4 năm dài đằng đẵng. Tiến sĩ Việt Nam một ngày làm 1 đến 3 giờ đồng hồ trong ba năm. Mới tính khoản thời gian đã khác nhau một trời một vực. Rồi còn tài liệu sử dụng, sách báo tham khảo, đồng nghiệp bên cạnh như thế nào để có thể thảo luận, phát triển tất cả suy nghĩ của cá nhân. Hai điều này không thông thì không thể có chất lượng.
Những ngành khoa học khác như toán, vật lý… giáo sư phải giao lưu bên ngoài thường xuyên và tương đối cập nhật kiến thức của nhân loại. Trong bối cảnh như vậy không thể so sánh chất lượng tiến sĩ trong nước với nước ngoài. Không thể so sánh một cục đá với cục kim cương. Điều này không có nghĩa người Việt Nam dốt nhưng điều kiện làm việc tối thiểu không có, thì không thể nào đẩy cao trình độ tiến sĩ lên. Ở nước ngoài muốn làm tiến sĩ thì phải đi tìm thầy. Một ông thầy nổi tiếng phải có những công trình được công nhận, số tiền mang về cho trung tâm và chất lượng tiến sĩ mà ông đào tạo

PV: Ông khẳng định tiến sĩ trong khoa học có những điểm phát triển hơn. Nhưng tại sao cho đến nay, nền khoa học Việt Nam trên trường thế giới vẫn là một con số chưa đoán được?

HHT: Cách đây 1 tháng tôi từng nói một câu tàn nhẫn trong cuộc gặp với một số lãnh đạo trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tôi rất buồn khi nói nền khoa học của chúng ta là một nền khoa học GIẢ. Những người có đề tài hàng chục tỷ lại không có khả năng thực hiện dù được “dán chữ” đầu đàn. Cách để đạt đề tài là thương lượng với bộ và ăn chia phần trăm.. Đã có người đề nghị với tôi: anh nghĩ ra cái tên đề tài và đưa tôi lo chuyện còn lại và lấy 20%. Nền khoa học Việt Nam không chạy vì những đề tài lớn không cho kết quả. Những người có khả năng làm thì chỉ có 20-30 chục triệu nên có khả năng làm. Một tiến sĩ khoa học lương 2 triệu đồng một tháng, đi hội nghị phải bỏ tiền túi…. Vậy ai đủ sức làm? Ở nước ngoài, đi hội nghị, viết một bài báo… tiền mất 4.000-5.000 USD. Tiền đâu để làm những điều tối thiểu đó?

PV: Những cái giả trong khoa học có tác động mức nào đến xã hội?

HHT: Xã hội mới tác động đến những điều này. Cơ chế cho phép những cái giả bao trùm lên toàn xã hội từ khoa học, giáo dục đến xây dựng cơ bản… Đó chỉ là một trường hợp đặc biệt. Nền giáo dục là tấm gương phản ánh thực trạng xã hội đó. Nó là cái kéo xã hội đi. Trách nhiệm của nền giáo dục là đào tạo có trí tuệ, đạo đức… Đó là mục tiêu tối thượng. Nhưng nền sản xuất của Việt Nam hiện nay đang đến đâu? Có cần những trí thức, nhân lực cao cấp, kỹ sư chất lượng cao đến đâu… Mọi việc rõ ràng nhưng bộ Giáo dục có ai đứng ra làm một điều tra chính xác về vấn đề này? Năm kia, Giáo sư Tương Lai đã ký một dự án với bộ Giáo dục – Đào tạo làm việc này nhưng một năm sau không có tiền làm. Muốn xây dựng cái gì phải biết nó nằm ở đâu để xây dựng một chiến lược thích hợp?

PV: Vậy theo ông các nhà quản lý giáo dục có biết giáo dục Việt Nam hiện nay đang là cái gì không ?

HHT: Họ biết chứ, tất cả đều biết đó là một “dị nhân”. Nền giáo dục Việt Nam không đào tạo gì cả mà chỉ đào tạo ra những con người có một cái bằng. Chấm hết.

Nếu là Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, ông sẽ làm gì đầu tiên? Những việc đầu tiên Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo làm như chống tiêu cực, hai không… liệu có phải đó là giải pháp sống còn hay chỉ giống như phong trào người tốt việc tốt?

PV:

 

HHT: Nếu tôi là Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, việc đầu tiên tôi làm là tách Bộ ra làm hai, một bộ lo cho trung học, dạy nghề và thiếu nhi; một bộ lo cho đại học và sau đại học. Nhu cầu và mục tiêu của hai lĩnh vực này hoàn toàn khác nhau.

Trung học, dạy nghề đặt ra mục tiêu là đào tạo con người cho xã hội, chỉ cần học đến lớp 12 là đủ. Phần tiếp theo đào tạo nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Hai việc đào tạo này hoàn toàn khác nhau về mục tiêu, phương pháp luận nên đặt cùng một Bộ sẽ khó tổ chức.

Phần đại học sẽ tập trung ngân sách xây dựng một số trường đại học công lập thật sự chuyên nghiệp theo đúng nghĩa đào tạo nhân lực cấp cao. Một người tốt nghiệp đại học phải biết cách tổng hợp kiến thức, nắm được phương pháp luận, có tư duy độc lập, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo. Nhưng rõ ràng hệ thống đại học của Việt Nam không đáp ứng bất cứ điều nào ở trên.

PV: Ở cấp I, học sinh phải học đúng những gì thầy dạy, làm đúng những gì thầy nói như một cỗ máy nhận lệnh điều khiển từ xa. Ở cấp II, cấp III cũng vậy và lên đến đại học cũng không khác gì. Sinh viên trong 4, 5 năm học đại học giống như người chép thuê tài liệu. Họ không có điều kiện sáng tạo, phản biện và đối thoại với các giáo sư về bất cứ điều gì cho đến khi nhận tấm bằng ra trường…

HHT: Một sinh viên rất xuất sắc của tôi (cử nhân chất lượng cao) tâm sự: Học xong không biết mình học cái gì? Từ lúc em học đại học đến bây giờ, học xong quên ngay mặc dù môn nào cũng đạt điểm 9,10. Đó chỉ là một trường hợp điển hình cho việc đi ngược lại những mục tiêu giáo dục. Nhẽ ra, giáo dục đại học phải giúp sinh viên đủ sức tích hợp và tổng hợp kiến thức để biến kiến thức đó thành của bản thân. Sản phẩm của một nền đại học theo đúng nghĩa của nó là phải đảm bảo ba điều, thứ nhất là tư duy độc lập, thứ hai là tư duy phê phán, thứ ba là tư duy sáng tạo. Nếu không có những tư duy này làm sao sáng tạo, sáng chế được? Nên kết cục chỉ đi làm thợ, làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài!

PV: Vậy một thực tế như ông nói, một sinh viên suất sắc nhưng ra trường lại hổng kiến thức, thậm chí không biết gì là do lỗi của sinh viên hay do phương pháp giảng dạy?

HHT: Đó là lỗi của hệ thống giáo dục. Một sinh viên 22 tuổi, ham học ham nghiên cứu, có tư duy sáng tạo độc lập nhưng chỉ vì phương pháp giảng dạy dẫn đến thực tế không có kiến thức

PV: Ông đã có đề cập đến trường tư. Thực tế ở Mỹ có rất nhiều trường tư danh tiếng hơn trường công ?

HHT: Không thể khẳng định như thế được. Không thể lấy hệ thống giáo dục của Mỹ so sánh với Việt Nam vì như thế giống như châu chấu đá voi. Những trường đại học nổi tiếng của Mỹ là đại học công. Nhiều đại học công ở Pháp, Anh cũng là những đại học chất lượng hàng đầu. Tại sao giáo dục Mỹ đề cao đại học tư là do lịch sử từ hàng trăm năm trước, sức mạnh liên bang không ghê gớm nhưng sức mạnh cá nhân rất lớn. đại học tư xuất phát từ những trí tuệ cá nhân muốn tạo ra. Hệ thống đại học chủ yếu là tư do một gia tài lịch sử chứ không phải chiến lược phát triển.

PV: Tôi nói như vậy vì muốn lật lại quan điểm của một số người, kể cả những giáo sư hàng đầu đang nghiêng về phía chạy trốn việc phải thiết lập lại cách thức của một đại học công mà họ muốn xử lý theo đại học tư. Họ đang hy vọng một hệ thống đại học tư trong tương lai sẽ tạo ra một diện mạo mới cho giáo dục Việt Nam.
: Tại sao nền giáo dục khoa học của Việt Nam kém phát triển? Vì phương pháp giảng dạy phản sư phạm, dạy Triết mà không cho sinh viên nói ngược lại, học thuộc lòng thì làm sao hiệu quả được? Ví dụ trong môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự nghiệp của Bác Hồ thành công như vậy là vì sao, không ai cắt nghĩa được dù đã có hàng trăm công trình nghiên cứu. Theo tôi hiểu, thành công của Hồ Chí Minh là tích hợp 4 điểm: Tư duy độc lập, sáng tạo, phê phán; thứ 2: kiến thực cực kỳ rộng và tổng hợp được kiến thức nhân loại; thứ 3: một nhà chiến lược, lãnh đạo cực kỳ siêu đẳng. Bối cảnh lịch sử làm cho ba yếu tố này: tư duy, kiến thức, lãnh đạo kết hợp với nhau và cộng với thời cơ tìm được con đường giải phóng …

HHT

 

PV: Hiện nay, ông thấy có cơ hội để đổi thay nền giáo dục Việt Nam hay đó chỉ là cái đi bên ngoài?

HHT: Muốn nền giáo dục thay đổi toàn diện thì phải đặt trên bối cảnh chung của toàn xã hội. Một nền giáo dục là tấm gương phản ánh trung thực nội dung xã hội. Những việc Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân làm, theo tôi hiểu là thu hút sự chú ý của người dân bằng cách tấn công trực diện vào giáo dục. Một lãnh đạo thông minh sẽ làm như vậy.

PV: Theo  một vài chuyên gia thì chiếc chìa khóa cơ bản nhất để thay đổi nền giáo dục Việt Nam vẫn chưa được đưa ra.

HHT: Bây giờ có ba điều không thể chạy: Ở đại học chương trình giảng dạy xơ cứng. Có một chuyện rất buồn cười để giải thích tại sao trí tuệ lại không phát triển như vậy. Ở Việt Nam, giáo trình cho một giờ dạy chỉ được phép viết 3 trang. Một giờ tôi giảng tối thiểu phải 50 trang. Sinh viên muốn học tốt giờ của tôi cũng phải đọc tối thiểu 50 trang. Trong khi Việt Nam chỉ đọc 3 trang. Thầy viết thế nào trên bảng thì trò chỉ đọc lại như thế. Thay đổi nội dung rất dễ, không có gì khó.

Năm 2005, trong một cuộc gặp với phó Thủ tướng Vũ Khoan, tôi đã đặt câu hỏi: “Thưa phó Thủ tướng, nền giáo dục Việt Nam gần 20 năm qua, năm nào cũng có hàng chục cuộc họp mổ xẻ, nhưng tôi chưa thấy có một chiến lược rõ rệt nào. Chiến lược ưu tiên cho giáo dục, coi giáo dục là hàng đầu nhưng đó là một điều chung chung chứ đâu phải chiến lược cụ thể?” Phó Thủ tướng có nói một câu, đại ý là: Muốn thay đổi nền giáo dục phải có công nghệ mới. Vậy mà hầu hết các các bộ giảng dạy ở đại học đều được đào tạo theo hệ thống cũ. Phó Thủ tướng Vũ Khoan cũng nhấn mạnh, trong điều kiện khách quan hiện nay, muốn hiện đại hóa nền giáo dục đại học Việt Nam, ta cần phải có thời gian để đào tạo những con người mới.

PV: Và theo tôi thì những con người mới của nền giáo dục Việt Nam chính là các thạc sĩ, tiến sĩ và giáo sư, những người trực tiếp tạo ra nền giáo dục mới ấy?  Nếu không đổi mới từ gốc thì làm sao có cái cây, cái ngọn mới được?

HHT: Cái tôi khó chịu nhất là anh em Việt Nam rất hãnh diện với chức danh Phó giáo sư hay Giáo sư, nhưng ở trên thế giới, những chức danh này không có ý nghĩa gì hết. Xã hội Việt Nam xuất phát từ Nho giáo nên chức danh rất quan trọng. Nhưng việc tổ chức trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học lại cực kỳ trì trệ và phản khoa học. Những người được phong chức danh chưa chắc có thực chất; những người có thực chất chưa chắc đã được phong nên có một nhóm luôn tìm cách bảo vệ nhau. Cách phân phát ngân sách trong nghiên cứu khoa học theo kiểu cào bằng.

Vấn đề là nằm ở cơ chế! Nền giáo dục đại học đã hiện hữu 100 năm từ thời kỳ Pháp thuộc. Tinh thần giáo dục đại học mà Pháp đưa sang cực kỳ tốt. Bác Hồ cũng nói, mình chống thực dân Pháp chứ không chống văn hóa Pháp. Các trường đại học thời Pháp như Cao đẳng Mỹ thuật, đại học Y dược, Cao đẳng Sư phạm đào tạo được một đội ngũ trí thức có nhân cách, trí tuệ.

PV: Hàng năm, ngân sách của Nhà nước dành cho giáo dục là rất lớn. Năm 2006 tăng 33% và là cao nhất trong các năm. Năm 2008, Chính phủ còn dự chi cho giác dục 20% tổng ngân sách của cả nước. Nhưng chất lượng giáo dục vẫn chưa có biến chuyển thực chất?

HHT: Bây giờ muốn có một đại học nề nếp, ngang tầm thì phương pháp, nội dung giảng dạy phải thay đổi. Mà muốn làm được thì phải có ngân sách. Nhiều nhà cải cách giáo dục cho rằng ngân sách không phải là điều quan trọng nhất. Theo tôi điều đó không đúng.

Nhưng số đó không chỉ dành riêng cho giáo dục đại học. Cách tư duy cào bằng của Việt Nam cho giáo dục vẫn chưa thay đổi. Giáo dục đại học đòi hỏi cực kỳ nặng về cơ sở vật chất Phải đầu tư rất nhiều cho một số trường đại học công thành những đại học tiêu điểm. Ví dụ như trường đại học Quốc gia nếu đầu tư thật sự thì 20 năm nữa có thể trở thành trường đại học đẳng cấp. Có điều buồn cười là nhiều ông hiệu trưởng vẫn băn khoăn phải làm thế nào để mỗi năm giảng viên có thu nhập gần gấp đôi, vì thế làm sao có tiền đầu tư. Tiền đầu tư thì vẫn làm theo chủ nghĩa bình quân vì sợ mọi người thắc mắc. Mà cái này là Nhà nước phải giải quyết chứ đâu phải việc của Hiệu trưởng?

PV: Ông đã từng nói: Số tiền 20.000 USD cho du học sinh thà để đào tạo tiến sĩ trong nước còn hiệu quả hơn. Nhưng với cách đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ như ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi nghĩ số tiền 20.000 USD dành cho du học sinh sẽ hiệu quả hơn?

HHT: Chưa chắc! Chiến lược đào tạo tiến sĩ VN ở nước ngoài phải tính theo kiểu chiến lược “đường trường” giống Nhật Bản, Trung Quốc. Gửi đi rồi 20-30 năm sau sẽ “đơm hoa hái quả” chứ không phải đào tạo vài ba năm rồi trở về như hiện nay. Như vậy cũng sẽ thành tiến sĩ “giấy” như đào tạo trong nước. Chỉ có một số người thực sự đam mê làm việc, tự tạo cơ hội giao lưu khoa học nên không bị “ngu” đi… Chiến lược đào tạo tiến sĩ nên tập trung vào khoa học – công nghệ là chủ yếu.

20 năm qua chúng ta đã có một lỗ hổng rất lớn về đào tạo. Có những tiến sĩ đào tạo ở nước ngoài nhưng lại đi buôn. 20-30 năm tới mới là hái quả. Vì đó là thời gian họ trưởng thành trong công việc nghiên cứu của mình và tiếp cận, tiếp thu những kiến thức công nghệ hiện đại sau đó sẽ trở về đất nước phục vụ đúng lúc, đúng thời. Nếu đào tạo xong mà cho về ngay trong điều kiện hạn chế thì cái bằng đó khó có tác dụng. Mình phải bổ sung một đội ngũ giảng dạy cực kỳ lớn có bản lĩnh, trí tuệ về mặt khoa học và nghiệp vụ. Đó là chiến lược phải làm.

PV: Nhưng có gì đảm bảo họ sẽ quay trở về và trụ vững trong một điều kiện và cơ chế làm việc nếu vẫn như cũ?

HHT: 20-30 năm nữa, tôi đảm bảo là xã hội sẽ không như ngày hôm nay. Chỉ 5 năm trước đã khác hẳn bây giờ. Có thể bản thân lớp lãnh đạo mới không “phá” vỡ được cơ chế cũ nhưng sẽ chuẩn bị mọi điều kiện cho những lớp lãnh đạo sau thực hiện. Điều này phụ thuộc bản lĩnh lãnh đạo, tốc độ phát triển xã hội, tình hình khách quan của thế giới.

20 năm nữa, Việt Nam bắt buộc phải thay đổi nếu không sẽ bị chính những ràng buộc của WTO đè chết.

Tại sao mình không đào tạo một tiến sĩ có chất lượng ở trong nước. Nhưng ở trong nước chỉ cần cái bằng chứ không cần chất lượng trong khi ở trên thế giới ngược lại. Việt Nam chỉ cần chức danh in vào danh thiếp.

Nhưng muốn đào tạo tiến sĩ có chất lượng để đáp ứng ngay nhu cầu xã hội thì phải đào tạo trong nước chứ đào tạo bên ngoài thì không kịp và không đủ ngân sách ngoài. Số tiền đào tạo một tiến sĩ ở nước ngoài là 50.000 USD/năm, 4 năm 200.000 USD, 10 tiến sĩ là 2 triệu USD… Liệu Việt Nam có đủ sức dành số tiền đó để đào tạo? Trong khi đào tạo một tiến sĩ trong nước khoảng 4.000 USD/năm. Tôi chỉ cần 20.000 USD để trả học bổng cho sinh viên chịu khó ngồi ở phòng nghiên cứu này (tiền lương tương ứng với công sức bỏ ra) là cũng đảm bảo những tiến sĩ “thật”.

SOURCE: VieTimes

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

NGUYỄN QUANG A

Từ 15-6-2007 dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân được đưa ra lấy ý kiến nhân dân. Đây là một luật rất quan trọng, không chỉ vì nó đụng chạm đến hàng [chục] triệu người, mà cả vì nó có vai trò hết sức to lớn trong tăng nguồn thu cho ngân sách, nâng cao ý thức công dân, thúc đẩy dân chủ và phát triển đất nước. Đưa dự thảo ra lấy ý kiến nhân dân là việc làm đáng hoan nghênh.

Cải cách hệ thống thuế là việc trọng đại. Hãy điểm lại (kỹ hơn có thể xem J. Kornai “Con đường dẫn tới nền kinh tế [thị trường] tự do” NXB Văn hóa thông tin [2002, tr. 89-107], NXB Tri thức 2007, tr. 109-130) vài nguyên tắc cơ bản nên tuân thủ khi cải cách thuế. Lưu ý có nhiều trường phái khác nhau nêu ra các nguyên tắc khác nhau. Sau đó chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân.

I. Vài nguyên tắc cơ bản

Thứ nhất, chỉ có thể nắm được những người “có tóc”, tức là chỉ có thể thu thuế từ những người mà cơ quan thuế có thể nắm được thu nhập của họ. Chẳng cơ quan thuế tài ba nào trên thế giới có thể nắm được “những kẻ trọc đầu”. Và dư luận khá bức xúc về “những kẻ trọc đầu có thể trốn thuế ấy”, khá bức xúc về tính công bằng của các sắc thuế và có thể đưa ra những đòi hỏi hay gây khó cho cơ quan dự thảo luật hay thậm chí có thể cản trở quốc hội thông qua luật. Phải bỏ công sức và tiền để giải thích, thuyết phục người dân, nhất là đại diện của các tổ chức được cho là phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân khác nhau (như công đoàn, đoàn thanh niên, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh, v.v.), các quan chức nhà nước và trước hết là báo giới để họ thực sự thấu hiểu, tránh gây ra dư luận chống đối do kém hiểu biết.

Công bằng là gì cũng được các học giả bàn cãi rất nhiều mà vẫn chưa thể đi đến thống nhất. Bất luận hiểu công bằng như thế nào, phải làm rõ là, công bằng chỉ là mục tiêu chúng ta muốn tiến đến (nhưng không bao giờ đạt được). Từ cổ chí kim chưa bao giờ, và trong tương lai cũng sẽ chẳng bao giờ có sự “công bằng” cả. Chúng ta chỉ có thể đặt mục tiêu tiến đến sự công bằng hơn (so với hiện tại). Xét ngược lại có lẽ dễ hiểu hơn. “Sự bất công bằng” đã, đang và sẽ luôn luôn tồn tại. Đấy là thực tế cần nhận ra và phải chấp nhận. Đừng lẫn mong ước và thực tế. Mục tiêu là giảm “sự bất công bằng”. Và với cải cách thuế cũng vậy. Làm cho công chúng và cả các quan chức hiểu được điều thật đơn giản này không phải dễ. Chúng ta đã quá đề cao, quá nhấn mạnh đến “sự công bằng”, cách hiểu sai (tức là muốn đạt sự công bằng tuyệt đối, bất luận hiểu công bằng theo nghĩa nào) về công bằng đã được người ta tuyên truyền, “nhồi” vào chúng ta qua hàng thế hệ, nó đã ngấm sâu vào tiềm thức của chúng ta và không dễ gì có thể nhanh chóng dứt bỏ được. Hàng thập kỷ chúng ta đã từng được rao giảng về “sưu cao”, “thuế nặng” để gây sự “căm thù” với chế độ cũ, rồi lại được nghe “đóng thuế là nghĩa vụ thiêng liêng” để xây dựng đất nước, nhưng nhận thức về thuế, ý thức đóng thuế của người dân và các quan chức ở nước ta còn dài mới đạt mức ở các nước phát triển. Việc tránh thuế, lách thuế, không muốn đóng thuế là chuyện quá quen thuộc, dễ hiểu. Phải có thời gian mới ngó hầu nâng cao được nhận thức về thuế. Không buộc phải đóng thuế, không bị phạt khi vi phạm thì cũng khó nâng cao nhận thức này. Muốn mọi người “có tóc” để nắm, thì phải phát triển hạ tầng cơ sở tài chính ngân hàng, hạn chế dùng tiền mặt, các cá nhân hay hộ kinh doanh có sổ sách kế toán thu chi rõ ràng, nhận thức của người dân và quan chức phải đúng, v.v. Đấy là những việc không thể làm được một sớm một chiều. Đợi khi có thể kiểm soát được thu nhập của tất cả mọi người (một ảo tưởng tai hại) mới đưa ra thuế thu nhập cá nhân nghe có vẻ hợp lý, song hoàn toàn sai và không đánh thuế thì chẳng bao giờ có thông tin như thế để mà kiểm soát. Hiểu được thế chúng ta sẽ dễ thông cảm với những vấn đề mà các nhà cải cách thuế đối mặt. Đừng đặt ra cho họ những mục tiêu ảo tưởng không bao giờ đạt được. Ngoài mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách, như thế thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần nâng cao nhận thức; tạo ra nhiều người “có tóc”; tạo ý thức công dân; cho người dân cảm nhận có thể sờ mó được về làm chủ đất nước, về quân đội, công an và quan chức nhà nước là do mình nuôi; hay thuế là giá mà mình phải trả cho các dịch vụ do nhà nước cung cấp mà người dân vẫn coi là nghiễm nhiên và chỉ nhận ra tầm quan trọng của chúng khi thiếu chúng (khi nhà nước không mạnh nên sinh ra loạn lạc, cướp bóc chẳng hạn); tăng cường dân chủ. Nhìn từ góc độ này dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân là khá tốt. Hãy ủng hộ nó và đừng đưa ra những đòi hỏi quá đáng mà (chẳng nước nào) có thể thực hiện được, nói chi đến cơ quan thuế Việt Nam! Càng nên tránh những lời lẽ mang tính mị dân.

Thứ hai, hệ thống thuế càng trung lập càng tốt. Thuế đừng thưởng cũng đừng phạt bất cứ ai. Phải tách bạch giữa thuế (bên thu) và các chính sách xã hội (bên chi). Các khoản ưu đãi, miễn giảm cho các đối tượng này, cho các loại thu nhập kia, v.v., là các khoản “trợ cấp” được lén đưa qua thuế, hay các khoản “thuế âm”. Các khoản trợ cấp xã hội nên được tách bạch và công khai ở “bên chi” của ngân sách, không nên vì áp lực của các nhóm lợi ích mà đi lẫn lộn. Nếu sự mập mờ hay sự viện dẫn đến những “giá trị cao thượng” lại vì những ý đồ mị dân, thì còn tai hại hơn. Sự trợ cấp “ngầm này” chỉ làm cho luật thuế phức tạp, rắm rối, chi phí xã hội cho việc đóng và thu thuế tăng lên. Trợ cấp là trợ cấp, thuế là thuế, hãy tách bạch hai thứ này. Tính trung lập của thuế làm cho hệ thống thuế đơn giản, nhất quán, dễ thực thi, không gây méo mó cho hệ thống giá; nó cũng làm cho người dân hiểu đúng về thuế về trợ cấp.

Thứ ba, thuế đừng tạo ra những khuyến khích ngược, cản trở sự tăng trưởng của năng suất và đầu tư. Tăng năng suất, tăng đầu tư là các nhân tố cốt lõi của sự phát triển; mà không có phát triển thì không có tự do, chỉ có sự bất công bằng. Nếu thuế có ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng năng suất và đầu tư thì phải xem xét lại. Các mức khởi điểm (hay mốc) trong biểu thuế mà thấp, thuế suất cao, cách đánh lũy tiến có thể gây ra những khuyến khích ngược đối với năng suất, có thể không khuyến khích tinh thần kinh doanh, có thể làm xói mòn sự hăng say làm giàu. Đánh thuế lãi tiết kiệm làm giảm tăng trưởng đầu tư. Tiền tiết kiệm nếu người dân để ở nhà, không gửi vào các ngân hàng hay tổ chức tín dụng thì phần tiền đó không tạo ra khoản đầu tư, đánh thuế lãi tiết kiệm làm tăng lãi suất nên cũng có thể làm giảm đầu tư (chắc chắn làm giảm tăng trưởng đầu tư). Đánh thuế cao vào thu nhập đầu tư vốn cũng tạo ra phản khuyến khích như vậy.

Thứ tư, là tính hiệu quả, tính dễ thực thi của hệ thống thuế. Thuế càng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực thi, nhất quán, càng ít ngoại lệ (miễn, giảm, v.v.) thì chi phí thu thuế, chi phí nộp thuế càng nhỏ. Nhất là ở Việt Nam, khi nhận thức về thuế của người dân và các quan chức còn thấp, hệ thống càng rắc rối, phức tạp thì càng dễ lách thuế và, quan trọng hơn nhiều, càng tạo cơ hội cho các quan chức thuế vụ “hạch sách” người dân, tạo thêm cơ hội cho tham nhũng, hủy hoại tính liêm chính cần được xây dựng, làm xói mòn lòng tin của người dân vào nhà nước. Đây là một tiêu chí hết sức quan trọng, nhất là lúc ban đầu. Nếu hệ thống phức tạp, không nhất quán, nhiều ngoại lệ và người dân có khuyến khích để tìm mọi cách lách thuế (họ không phạm tội) và nhất là khi đội ngũ viên chức thuế vụ hư hỏng, thì hệ thống sẽ kích động một vòng luẩn quẩn rất khó khắc phục. Khởi đầu nên đơn giản, nhất quán, làm sao cho thật dễ hiểu, loại bỏ những sự mập mờ, thuế dễ thực thi, nhân viên thuế vụ không thể tùy tiện quyết định (vì ai cũng hiểu và quá rõ ràng); khi đó hệ thống sẽ khởi động một vòng phản hồi dương lành mạnh: ý thức nộp thuế tăng, tính liêm chính tăng, nhà nước thu được nhiều và có thể tăng lương cho viên chức, hệ thống hành chính nhà nước hiệu quả hơn, dân tin vào nhà nước hơn, việc làm ăn ít tốn phí hơn và có lời hơn, ý thức nộp thuế cao hơn và v.v. Đừng bao giờ quên những chi phí (thời gian, giấy tờ, công sức, giải quyết khiếu nại,…) của cơ quan thuế vụ, của những người đóng thuế. Tổng chi phí này là chi phí của toàn xã hội, nó càng nhỏ càng tốt.

Cuối cùng, thuế là một vấn đề phức tạp, khó có thể thỏa mãn đồng thời các yêu cầu, nên cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa những thỏa hiệp. Có rất nhiều tiêu chí không thể cùng được thỏa mãn, không có giải pháp tối ưu. Trong lĩnh vực xã hội có rất nhiều vấn đề không có giải pháp tối ưu (được mặt này hỏng mặt kia). Nhưng luôn có các giải pháp, chúng ta có thể lựa chọn giữa các giải pháp này. May là như vậy, nếu có giải pháp tối ưu, thì có thể tự động hóa được và vai trò của con người lãnh đạo, của con người ra quyết định sẽ mất đi, một viễn cảnh thật kinh hoàng. Chính vì thế nên để tự do thảo luận, lắng nghe những ý kiến nhiều chiều, cân nhắc cẩn trọng và cuối cùng những người có quyền quyết định (thí dụ quốc hội) phải ra quyết định chính trị của mình; đấy là cách làm của một nền dân chủ đại diện.

II. Về Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân

Dưới đây sẽ phân tích và góp ý cho dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân được đưa ra lấy ý kiến nhân dân từ ngày 15-6-2007.

Cấu trúc của dự thảo hợp lý. Phân ra loại thuế thu nhập cá nhân lũy tiến đánh vào các khoản thu nhập có từ sản xuất, kinh doanh, tiền lương, tiền công và loại thuế thu nhập cá nhân từ các nguồn khác theo biểu thuế toàn phần. Dự luật phân biệt giữa người cư trú và người không cư trú. Nhìn chung cấu trúc dự luật theo thông lệ quốc tế. Dự thảo lần này khá tốt, có thể dùng làm cơ sở tốt để thảo luận rộng rãi và cân nhắc trước khi quốc hội thông qua. Dưới đây là phân tích theo các nguyên tắc nêu ở phần I, và một số góp ý khác.

1. Cơ sở thuế hay diện chịu thuế và nắm kẻ “có tóc”.

Những người phải nộp thuế thu nhập cá nhân là tất cả các cá nhân cư trú và không cư trú có thu nhập chịu thuế. Nói cách khác cơ sở thuế, diện người đóng thuế tăng đáng kể, bao gồm tất cả các đối tượng điều chỉnh của pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện nay (khoảng hơn 200 ngàn người), các cá nhân hay hộ kinh doanh chịu sự điều chỉnh của các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp (khoảng 800.000 hộ có đăng ký kinh doanh [đóng thuế thu nhập doanh nghiệp] và hơn 1,7 triệu hộ kinh doanh không có đăng ký [đóng thuế khoán]), tất cả những cá nhân khác có thu nhập chịu thuế. Nếu số người đóng thuế thu nhập cá nhân vẫn chỉ là khoảng 2,9 triệu người này, những người đã được biết là người “có tóc”, thì thật khó lý giải cho việc đưa ra sắc thuế mới. Như thế có thể kỳ vọng số người nộp thuế sẽ tăng lên đáng kể, sẽ có thêm nhiều người “có tóc”. Nhiều người cho rằng, mở rộng cơ sở thuế thì “người nghèo” sẽ nộp nhiều hơn, bởi vì rất nhiều kẻ giàu (tham nhũng, trốn lậu thuế, v.v.) lại không đóng thuế; hay hạ mức khởi điểm chịu thuế sẽ làm “mất lòng dân”; hay đưa ra sắc thuế mới không phải để tạo nguồn thu cho ngân sách mà để đảm bảo “công bằng xã hội” v.v và v.v. Tôi nghĩ những ý kiến đó là sai hoàn toàn. Phải thật bình tĩnh với những áp lực hay dư luận như vậy. Những kẻ giàu có mà vẫn “trọc đầu” (quan tham, kẻ buôn bán lậu, kẻ trốn thuế, v.v.) sẽ không bao giờ mọc tóc để cơ quan thuế có thể nắm, nếu họ không thuộc diện phải nộp thuế một cách chính thức. Việc hạ mức khởi điểm để bắt bọn chúng cũng phải nộp, cũng phải khai một cách chính thống, thì dần dần (không nhanh được đâu!) mới có cơ sở, mới có dữ liệu về thu nhập của chúng, và dư luận, nhân dân, cơ quan thuế, cơ quan phòng chống tham nhũng mới có thể đối sánh tài sản và thu nhập của chúng và bắt tóc của chúng lộ ra.

Ai là những người không bị luật thuế này đụng đến? Tuyệt đại đa số nông dân và ngư dân, người ở vùng cao vùng sâu (nơi cơ sở hạ tầng tài chính ngân hàng chưa có, chi tiêu toàn dùng tiền mặt) thu nhập của họ có trời cũng chẳng biết được. Và khoản 11 của Điều 5 về các khoản thu nhập không chịu thuế (Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, từ trồng rừng của chủ hộ nông dân,  kể cả chủ hộ nông, lâm trường viên trong hạn mức diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định của pháp luật về đất đai; thu nhập từ làm muối của chủ hộ diêm dân; thu nhập từ đánh bắt hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của chủ hộ ngư dân) đã loại họ ra khỏi diện nộp thuế (trừ các khoản thu nhập khác như đầu tư, chuyển nhượng, quà tặng có thể nắm được). Một quy định rất đúng với hoàn cảnh hiện nay của ta. Như thế, hơn 50 triệu người được loại trừ ra khỏi diện chịu thuế. Tuyệt đại bộ phận người nghèo không bị ảnh hưởng! Chẳng có lý do xác đáng nào để kêu ca luật thuế thu nhập cá nhân sẽ ảnh hưởng xấu đến người nghèo ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biển!

Trong số những người thuộc diện phải đóng thuế thu nhập cá nhân (sau khi đã trừ hơn 50 triệu người nêu trên) đại loại có thể phân thành 2 loại nhóm:

a) Nhóm thứ nhất gồm những người hưởng lương (từ các doanh nghiệp, các tổ chức, cơ quan nhà nước, các lực lượng vũ trang). Đây là những người mà nhà nước có thông tin về thu nhập chính thức của họ, và thuế có thể được thu ngay từ nguồn, tức là từ những người sử dụng lao động chi trả thu nhập cho họ (giống như với những người có thu nhập cao nộp thuế hiện nay).

b) Nhóm thứ hai là những người làm nghề tự do, cá nhân hay hộ kinh doanh. Nhóm này lại có thể phân làm hai nhóm nhỏ: b1) gồm những cá nhân hay hộ có đăng ký kinh doanh và có sổ sách kế toán, có xuất hóa đơn, tương tự như công ty tư nhân [chịu trách nhiệm vô hạn] cũ, loại này cơ quan thuế cũng có cơ sở nào đó để nắm, tuy họ cũng là những người tự khai thuế; b2) những người không có đăng ký kinh doanh (loại này sẽ phải tự khai và khó nắm hơn vì không có sổ sách kế toán). Mục tiêu là làm sao số những người thuộc nhóm b1 tăng lên và b2 giảm đi, vì như thế hiểu biết của họ về quản lý tài chính (tức là hiểu biết của cả quốc gia) sẽ tăng lên và góp phần vào tăng vị thế cạnh tranh của cả nước, vì khi đó cơ quan thuế có thể thu nhiều hơn do có thông tin chính xác hơn, vì như thế số người trốn, lách thuế sẽ có thể giảm đi, v.v.

Đối với những người thuộc nhóm a) và không phải viên chức nhà nước, tình hình tương đối dễ. Những kẻ “có tóc dày”, các quan tham, nằm trong số những người hưởng lương và tiền công từ ngân sách (nếu vì lý do nào đó, thí dụ do khấu trừ gia cảnh trước) mà không phải khai báo thuế, thì họ thực sự trở thành người có cái đầu trơn lất. Nếu thế thì những lo ngại của người dân về “bất công xã hội” là rất có lý; chắc nhân dân sẽ không lo những người giàu đóng thuế nghiêm túc tạo ra “bất công bằng xã hội”. Như thế phải làm sao để tất cả các quan chức đều thuộc diện chịu thuế, vì thu nhập chính thức (tiền lương) của họ cơ quan thuế nắm được, họ là những người “có tóc”, tuy đại bộ phận có tóc “thưa”. Nếu làm không khéo thì “bọn có tóc dày” sẽ lủi mất, chắc chắn chúng sẽ tìm cách lủi, song nếu chính thức phải nộp thuế, phải khai thuế, thì, như đã phân tích ở trên, “tóc dày” của chúng sẽ dần lộ ra. Có thể nói dự thảo luật tuân thủ khá tốt nguyên tắc chỉ có thể thu từ “người có tóc”, với điều kiện như phân tích trên đây (xem thêm mục 5 dưới đây).

2. Tính trung lập của thuế thu nhập cá nhân

Theo nguyên tắc này thì dự thảo chưa thật tốt, Điều 5 (trừ các khoản 11, 13, 14) và Điều 6. Tuy nhiên xét về khía cạnh xã hội và chính trị, về nhận thức của người dân và quan chức, thì có thể hiểu được trong giai đoạn trước mắt, về lâu về dài nên cân nhắc lại. Có thể nên tăng trợ cấp, nhưng thuế là thuế và trợ cấp là trợ cấp. Đừng lẫn lộn và làm khó cho chính hệ thống thuế, và cho nhà nước, cho người dân xét về tầm dài hạn. Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm, khó và nên tìm cách giải thích để cho người dân hiểu, nhất là cho các phương tiện truyền thông đại chúng thấu hiểu và có ứng xử thích hợp (cấm đoán là điều tối kỵ, tăng cường tự do ngôn luận, tạo điều kiện để có tranh luận lành mạnh là thượng sách). Mặt khác có một khoản rất nên miễn thuế lại không được dự thảo đề cập. Đó là các khoản đóng góp cho các tổ chức từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi (giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nghệ thuật, v.v.). Tôi sẽ phân tích điều này trong một mục riêng, mục 6, dưới đây.

3. Đừng tạo ra khuyến khích ngược cản trở sự tăng trưởng của năng suất và đầu tư.

Vấn đề này liên quan đến cách đánh thuế lũy tiến (mức cao nhất 35% không phải là cao quá so với các nước OECD; nhưng cao hơn Hàn Quốc và Mexico [dưới 20%], Singapore [20%], New Zeland, Ireland, Nhật Bản, Úc, Iceland, Mỹ, Thụy Sỹ [dưới 30%]; Canada và Vương quốc Anh dưới [35%]; thấp hơn hay bằng mức của 19 nước còn lại mà một số nước này đang xem xét lại để hạ xuống).

Tôi kiến nghị nên bỏ mức 5, 6, 7, tức là để nguyên các mức 1, 2, 3 và 4 (tức là thuế suất tối đa 20%). Nếu muốn xây dựng một xã hội trung lưu, giàu có, thì không nên đánh thuế quá cao đối với người giàu, người có tài. Thuế suất tối đa thấp là một động lực, một khuyến khích rất mạnh để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, tinh thần kinh doanh, để thực hiện “dân giàu nước mạnh”. Những lập luận, hô hào “phải đánh thuế nặng” những người giàu, người có thu nhập cao để “có công bằng xã hội” có vẻ rất “được lòng dân” nhưng xét kỹ có thể có hậu quả khôn lường, nó tạo ra sự sợ hãi chính sách cào bằng, bình quân chủ nghĩa, tước đoạt của người này cho người khác, v.v., đã gây tác hại ghê gớm một thời có thể quay lại, hay chỉ nghĩ đến nó đã làm nhụt chí kinh doanh của người dân; xét cho cùng nó chắc chắn có hại cho cả những người nghèo nữa. Tôi nghĩ nhân dân “bất bình” và lo về “sự bất công bằng xã hội” do những kẻ tham nhũng, buôn lậu mà không phải đóng thuế gây ra, chứ không phải vì những người đóng thuế nghiêm túc là những người giàu hơn họ. Vấn đề này phức tạp và còn gây tranh cãi, theo tôi khuyến khích tranh luận, để cho những ý kiến đối chọi nhau, thực hiện tự do ngôn luận thực sự, tự do tư tưởng thực sự, chúng ta sẽ tiến dần đến chân lý hơn.

Không đánh thuế lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi trái phiếu, tín phiếu chính phủ, kiều hối (trong giai đoạn đầu) là quy định khôn ngoan nhìn từ khía cạnh này.

Nên xem xét hạ thuế suất (25%) đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng bất động sản (thí dụ xuống 10% hay 15%). Mức 5% với thu nhập đầu tư vốn là vừa phải.

4. Tính hiệu quả

Cần có những nghiên cứu thấu đáo hơn, thảo luận chi tiết hơn về tính đơn giản hay phức tạp, rắc rối của dự thảo. Chí ít nếu những người soạn thảo và quốc hội lưu ý thích đáng đến vấn đề này cũng đã là một bước tiến đáng kể. Xem cả mục 5 dưới đây.

5. Khấu trừ gia cảnh

Đây là vấn đề rất nhạy cảm và khó. Theo tôi mức khấu trừ cụ thể, thậm chí mức trong biểu thuế, để cho hợp với từng thời kỳ, nên có cơ chế để thay đổi linh hoạt hơn không nên quá cứng nhắc (thí dụ, cho phép Chính phủ hay Thường vụ quốc hội điều chỉnh các con số). Trước mắt tôi nghĩ mức giảm trừ gia cảnh nêu ở Điều 18 là phù hợp.

Tuy nhiên, tôi kiến nghị bỏ từ “trước khi tính thuế” ở khoản 1 của điều này. Theo tôi tất cả mọi người “có tóc” [thuộc nhóm a) nêu trên] hãy cứ nộp thuế theo biểu thuế, không trừ gì cả. Những người thuộc nhóm b) hàng tháng cũng phải tạm nộp theo cách nào đó (trên cơ sở họ tự khai, nếu không tự khai thì cơ quan thuế áp sẵn). Theo tôi nên thận trọng và tránh giải thích rằng các hộ kinh doanh, do được chiết trừ gia cảnh nên sẽ bớt phải đóng thuế so với hiện nay. Vì điều này, theo tôi, có thể không phải vậy, và như thế sẽ có thể mang tiếng nói dối. Khoản “giảm trừ gia cảnh” mỗi người chịu thuế, sau khi tự quyết định và thông báo (đừng bắt họ xin phép, hay phải có sự chấp thuận, hãy kiểm tra sau), sẽ tự tính lấy vào cuối kỳ nộp thuế (đầu năm sau), và đòi cơ quan thuế hoàn trả lại khoản đó và những khoản nộp thừa khác hay cấp chứng từ để trừ vào khoản sẽ phải (tạm) nộp trong năm tới (có thể tính cả lãi cho các khoản này). Làm như thế sẽ có những điểm lợi (+) và bất lợi (-) sau:

+ Không “kẻ có tóc dày” nhưng làm ra vẻ “có tóc thưa” có thể che mãi mớ tóc dày của chúng. Riêng việc này có thể có tác động ngăn chặn to lớn trong việc chống tham nhũng, thực sự góp phần mang lại “công bằng xã hội”. Xem phân tích tại điểm 1 ở trên.

+ Tất cả mọi người đều có khuyến khích để khai, để cung cấp thông tin. Không có thông tin như vậy hay không phải cung cấp thông tin (vì đã giảm trước khi tính) thì khó có thể nâng cao nhận thức của người dân (xem phân tích ở nguyên tắc 1, phần I). Nguồn thông tin đó là một tài sản vô giá cho ngành thuế, cho đất nước.

+ Việc thực thi đơn giản hơn, ít tạo cơ hội cho các quan chức thuế vụ vòi vĩnh

+ Tất cả mọi người (ít nhất là 5-6 triệu người) có khuyến khích để lưu ý đến quản lý tài chính của bản thân mình; phải học, tìm hiểu và thực hành vì lợi ích của chính mình; như thế sẽ có kết quả hơn nhiều trường đào tạo; hiểu biết cao hơn góp phần hết sức quan trọng vào hiệu quả của công việc gia đình, kinh doanh của họ, tức là của quốc gia.

+ Tôi kiến nghị cấp mã số thuế cho tất cả mọi người (kể từ khi sinh ra); dùng mã số đó như số chứng minh thư cho những người được cấp chứng minh thư; cũng số đó là số để tiếp cận đến các dịch vụ y tế (số bảo hiểm y tế) hay phúc lợi xã hội khác (hưu bổng, trợ cấp, học bổng, trợ cấp lãi suất vay học nghề, theo dõi tín dụng học sinh, sinh viên, v.v). Mã số đó gắn với mỗi người suốt đời. Nếu làm thế sẽ có cơ sở để tích hợp dễ dàng các cơ sở dữ liệu về cá nhân (phục vụ cho thu thuế, minh bạch tài sản, các dịch vụ xã hội khác, cho theo dõi các khoản tín dụng ưu đãi để học nghề hay tín dụng sinh viên). Công nghệ ngày nay cho phép thực hiện các hệ thống tích hợp như thế với giá phải chăng. Mã số thuế này tạo điều kiện quản lý hữu hiệu những vấn đề thuế của tất cả mọi người dân (tất nhiên lúc đầu chỉ là những người thuộc diện chịu thuế), kể cả đơn giản hóa việc quản lý chiết trừ gia cảnh, minh bạch hóa tài sản, góp phần đắc lực chống tham nhũng.

– Dữ liệu phải xử lý sẽ nhiều hơn (song công nghệ cho phép thực hiện không khó khăn mấy mà lại tạo tài sản thông tin cho quốc gia).

– Số người thuộc diện phải khai sẽ nhiều lên, dễ sinh ra sai sót (nên phải có kiểm tra chéo, thí dụ buộc phải khai qua mạng 2 lần), làm tăng chi phí.

– Ban đầu sẽ có thể có rất nhiều người chống (nhất là những kẻ “tóc dày” hay các nhóm lợi ích khác), nên phải giải thích cho rõ, tốn thêm chi phí.

– Cấp mã số thuế = số chứng minh thư = số bảo hiểm y tế = số bảo hiểm xã hội = địa chỉ điện tử duy nhất suốt đời sẽ kéo theo việc phối hợp với các cơ quan khác (công an, Bảo hiểm ý tế, bảo hiểm xã hội, v.v.) sẽ làm tăng chi phí (nhưng so với hiệu quả thì rất đáng, và chỉ ở mức Luật và ở mức Quốc hội mới có thể buộc các cơ quan chính phủ phải hợp tác với nhau thực hiện).

– Khối lượng phải xử lý các khoản thoái thu sẽ tập trung vào một thời gian (thường là cuối hay đầu năm sau) có thể làm cho công việc xử lý tăng gấp bội (nên thủ tục phải thật đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu để tránh sai sót, khiếu nại, v.v.)

6. Miễn thuế thu nhập cá nhân cho các khoản đóng góp cho các tổ chức từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi.

Đây là một công cụ chính sách tạo khuyến khích to lớn cho việc “xã hội hóa” đích thực, cho việc “nhà nước và nhân dân cùng làm” đích thực góp phần giải quyết các vấn đề chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo, phòng chống tệ nạn xã hội, cai nghiện, phát triển khoa học và nghệ thuật, v.v. Khi những người giàu đóng góp tiền bạc cho các tổ chức phi vụ lợi, từ thiện như vậy, thì khoản đóng góp đó nên được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế của họ. Nói cách khác, người có thu nhập bỏ ra phần lớn, nhà nước bỏ ra một phần (tức là, phần thuế lẽ ra nhà nước có thể thu được trên phần đóng góp đó [với tỷ lệ không bao giờ quá mức thuế suất tối đa]). Để cho người đóng góp chính được “hưởng danh”. Hầu hết các nước đều có chính sách rất khôn ngoan này. Nếu có chính sách này sẽ có thể huy động được rất nhiều nguồn lực cho khu vực xã hội (các tổ chức phi vụ lợi, từ thiện, v.v những tổ chức làm công việc này hiệu quả hơn nhà nước hay khu vực tư nhân) để giải quyết các vấn đề rất bức xúc hay để tài trợ cho phát triển khoa học nghệ thuật. Tôi tha thiết kiến nghị đưa khoản miễn trừ này vào luật. Hãy suy ngẫm xem Bill Gates, Warren Buffett và các nhà tỷ phú khác góp phần to lớn thế nào vào giải quyết các vấn đề nan giải và phát triển khoa học và nghệ thuật. Có chính sách khôn khéo, tôi tin ở Việt Nam cũng có thể huy động được rất nhiều tiền cho công việc như vậy, đỡ gánh nặng tài chính và quản lý của nhà nước rất nhiều.

7. Biểu thuế toàn phần và thuế thu nhập cá nhân với người không cư trú.

Trước mắt tôi chưa có ý kiến thêm về những vấn đề này.

Tóm lại, dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân đưa ra lấy ý kiến nhân dân là một bản dự thảo khá tốt, tạo cơ sở, khung khổ tốt cho việc thảo luận, góp ý. Các chuyên gia nên trình bày hết các khía cạnh, những mặt hay mặt dở, đề xuất những kiến nghị xây dựng (không chỉ phê phán suông, mà phải có cơ sở, và nếu có cơ sở thì dễ đưa ra đề xuất và kiến nghị). Có một luật thuế thu nhập cá nhân tốt là một sự đóng góp lớn cho sự phát triển của đất nước; hấp tấp, cẩu thả, hay không cẩn trọng đưa ra luật tồi có thể gây tác hại khôn lường. Tất cả những phân tích như vậy, tất cả những khả năng lựa chọn phải được trình bày một cách khách quan cho cơ quan lập pháp. Các đại biểu quốc hội sẽ phải lấy quyết định chính trị của mình trong các lựa chọn đã được phân tích, cân nhắc kỹ này.

SOURCE: IBLA.ORG.VN

DỰ THẢO LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: THỬ TÌM MỘT CÁCH TIẾP CẬN KHÁC

NGUYỄN TRUNG

Thuế thu nhập cá nhân là điều tất yếu phải hướng tới của một nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Tuy nhiên, xin mạnh dạn nhận xét: Nhà nước ta ở thời điểm hiện nay và trong vài năm tới chưa chuẩn bị được những điều kiện cần thiết để thực hiện thuế thu nhập cá nhân đúng nghĩa.

Chỉ riêng việc định nghĩa, xác định và phân loại các loại hình thu nhập để xác định cơ sở tính thuế trong mọi hoạt động kinh tế ở nước ta hiện nay đã hầu như rất khó thực hiện – nhất là trong một nền kinh tế (a) có hoạt động kinh tế dựa trên cơ sở tiền mặt chiếm một tỷ lệ rất lớn trong toàn bộ nền kinh tế, (b) có nhiều hoạt động kinh tế không định hình ổn định và tồn tại hay mất đi tùy theo biến động của thị trường, (c) những hoạt động kinh tế không thống kê được hoặc hoạt động kinh tế ngầm là một bộ phận đáng kể của nền kinh tế, (d) hệ thống kế toán, kiểm toán, thống kê liên quan đến thuế và bộ máy thực thi thuế rất yếu kém, (e) trượt giá tăng nhanh… Không tính đến những khó khăn này và tìm cách khắc phục, thuế thu nhập cá nhân có nguy cơ gây thêm mất công bằng mới, phát sinh nhiều tiêu cực mới và trở thành vấn đề chính trị nhạy cảm của đất nước.

Thuế giá trị gia tăng có nhiều bài học đắt, phải rút kinh nghiệm, và sau 10 năm thực hiện, cho đến nay vẫn chưa thể nói loại thuế này đã vận hành hoàn hảo ở nước ta. Thuế thu nhập cá nhân sẽ còn phức tạp hơn nhiều.

Tình hình đòi hỏi vừa phải tìm cách xúc tiến thực hiện thuế thu nhập cá nhân – vì không thể chờ đợi, vừa tranh thủ thời gian tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc xây dựng và thực hiện một hệ thống thuế thu nhập cá nhân tiến bộ.

Vì vậy, xin kiến nghị:

I. Chia việc thực hiện thuế thu nhập cá nhân ra thành hai giai đoạn.

Giai đoạn 1: thực hiện thuế thu nhập theo thuế suất đồng loạt, còn gọi là thuế suất phẳng (flat rate), với các yêu cầu

(a) Dễ thực hiện, thu được nhiều thuế vì có nhiều người đóng thuế, nuôi dưỡng được nguồn thu,

(b) Tranh thủ thời gian đưa dần mọi hoạt động kinh tế trong xã hội vào hệ thống kế toán, kiểm toán, thống kê, đồng thời tiến hành những biện pháp giảm dần việc chi tiêu tiền mặt, tăng cường và hoàn thiện hệ thống ngân hàng đi kèm với những biện pháp khuyến khích để hệ thống ngân hàng có khả năng thu hút phần lớn hoạt động kinh tế vào guồng máy vận hành của nó, tạo thuận lợi cho việc tính và thu thuế,

(c) Chuẩn bị mọi điều kiện vật chất kỹ thuật và những vấn đề khác cho việc thực hiện thuế thu nhập giai đoạn 2.

Giai đoạn 2: Trên cơ sở kết quả của giai đoạn 1 (có thể kéo dài khoảng 5-10 năm), hoàn chỉnh Luật Thuế thu nhập để áp dụng cho giai đoạn này, hoặc ban hành Luật Thuế thu nhập mới, hoàn thiện bộ máy thu thuế và mọi điều kiện vật chất kỹ thuật khác.

Vì những lẽ nêu trên, Luật Thuế thu nhập cá nhân đang đưa ra tham khảo ý kiến nhân dân nên được hiểu với tinh thần là xây dựng Luật Thuế thu nhập vận dụng cho giai đoạn 1.

II. Nội dung Thuế thu nhập cá nhân của giai đoạn 1 đại thể như sau:

1. Thu thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất đồng loạt đối với mọi công dân theo tinh thần: Có thu nhập, thì có đóng thuế, không ngoại trừ một ai. Mục đích là xây dựng ý thức đóng thuế, thu được nhiều thuế do có nhiều người đóng thuế, nuôi dưỡng nguồn thu, công khai minh bạch hóa nền kinh tế.

2. Vận dụng thuế suất đồng loạt cho thu nhập thường xuyên, tối đa là 3-4 nấc. Ví dụ: Nấc tối thiểu là 1% đối với người có thu nhập thấp, 5% đối với người có thu nhập trung bình thấp, 10% đối với người có thu nhập trung bình cao, 15% đối với người có thu nhập cao (các chuyên gia sẽ tính toán để xây dựng các mức và thang cụ thể; vì lý do nuôi dưỡng nguồn thu kết hợp với khuyến khích đóng thuế, các khoảng cách giữa các mức để tính thuế nên để rộng – ví dụ: Mức thu nhập thấp để tính thuế là 1 triệu đồng, mức thu nhập trung bình thấp để tính thuế là 5 triệu đồng, mức thu nhập trung bình cao để tính thuế là 20 triệu đồng, mức thu nhập cao để tính thuế là 50 triệu đồng trở lên). Phương thức này không đòi hỏi nhiều tính toán rắc rối, lòng vòng như trong dự thảo Luật Thuế thu nhập đang đưa ra lấy ý kiến nhân dân.

3. Thuế suất đồng loạt cho các khoản thu nhập không thường xuyên – ví dụ như lãi chứng khoán, lãi suất ngân hàng, những khoản thu nhập không thường xuyên khác, những khoản tiền thưởng… Thuế suất của những loại thu nhập không thường xuyên này nên thấp, mang tính khuyến khích sự công khai minh bạch và dễ thu. Nên phân ra hai loại – ví dụ: (a) thu nhập từ lãi chứng khoán, lãi suất ngân hàng, lãi suất tiết kiệm nên đồng loạt là 5 hoặc 10%; (b) các khoản thu nhập không thường xuyên khác có thuế suất đồng loạt là 10 hoặc 15%. Có thu nhập loại này (không thường xuyên) là chiết khấu ngay để thu thuế và không đưa vào khoản thu nhập thường xuyên để tính thuế thu nhập cá nhân một lần nữa.

4. Thu nhập cá nhân từ cổ tức không đưa vào tính thuế thu nhập cá nhân bằng cách nâng mức thuế đánh vào lãi của doanh nghiệp cổ phần hóa để Nhà nước không thất thu và tránh được mọi tốn kém, phiền hà đối với cơ quan thuế cũng như đối với người có thu nhập từ cổ tức. Thuế đánh vào lãi của hộ kinh doanh cá thể được hiểu là thuế thu nhập cá nhân, chủ hộ kinh doanh cá thể không phải đóng thuế thu nhập cá nhân nữa – thuế suất là bao nhiêu xin để cho các chuyên gia tính.

5. Thực hiện thuế trước bạ đối với bất động sản, thuế hưởng tài sản thừa kế. Thuế suất là bao nhiêu sẽ do các chuyên gia tính toán, kiến nghị không đưa thu nhập từ hai nguồn này vào tính thuế thu nhập cá nhân.

Mô hình thuế thu nhập của Hồng Kông

Theo bài “Hongkong Excellent Taxes” của chuyên gia nghiên cứu về thuế Alan Reynolds đăng ngày 2-5-2005 trên trang web của Học viện Cato N. W. Washington D.C., thuế thu nhập ở Hồng Kông được xây dựng theo tinh thần thuế suất đồng loạt như sau:

Có hai loại thuế thu nhập cho người đóng thuế lựa chọn:

1. Thuế thu nhập theo mức thu: Thu nhập được chia ra làm 4 nấc (4 mức thu) với các thuế suất 2%, 8%, 14% và 20%. Chấp nhận loại thuế này, người đóng thuế có thể trích giảm những khoản chi cho từ thiện tối đa là 25% thu nhập để tính thuế, hoặc trích giảm tối đa cả năm là 13.000 đô la Mỹ trong thu nhập để tính thuế nếu phải chi trả tiền mua nhà, mua xe hơi (dưới dạng trả góp, trả dần). Ngoài ra người đóng thuế được tính những khoản trích giảm khác từ thu nhập để tính thuế – ví dụ như chi cho học tập của bản thân, nuôi người già là người thân thuộc, tiền bảo hiểm cho về hưu.

2. Thuế thu nhập theo thuế suất chuẩn (standard rate): 16% thu nhập, không có khoản trích giảm nào để tính thuế. Nói chung những người có thu nhập cao thường chọn loại thuế này.

Thuế suất đồng loạt 17,5%, đánh vào lãi của các công ty, 16% đánh vào lãi của các hộ kinh doanh cá thể (coi đây là thuế thu nhập cá nhân), thuế suất đồng loạt 16% đánh vào bất động sản.

Hồng Kông không có thuế giá trị gia tăng, không có thuế nhập khẩu. Thu nhập của cổ đông từ lợi tức cổ phần không đưa vào thu nhập cá nhân để tính thuế, vì đã đánh vào lãi của công ty 17,5% (trong khi đó thuế đánh vào lãi của hộ kinh doanh cá thể là 16%). 

Reynolds khuyên nước Mỹ nên học Hồng Kông cách tính thuế.

SOURCE: Thời báo kinh tế Sài Gòn 21-06-2007