CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 178/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 178/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 178/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Kính gửi: Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Sau khi nghiên cứu Công văn số 52/CV-TA ngày 22/8/2002 của Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Về việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất mà đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 và người sử dụng đất chết không để lại di chúc.

Đối với vấn đề này về nguyên tắc, khi thụ lý, giải quyết loại việc này Toà án phải căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” để xác định xem tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không (đặc biệt là đối với các loại đất không có tài sản).

Nếu tranh chấp đó không thuộc một trong các trường hợp nêu tại phần I của Thông tư liên tịch nói trên (có nghĩa là tranh chấp đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án), thì Toà án không thụ lý giải quyết.

Nếu tranh chấp đó thuộc thẩm quyền của Toà án, thì Toà án căn cứ vào các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai năm 1993 để thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

2. Về việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất mà người có đất chết trước ngày 15/10/1993, không để lại di chúc, sau đó chỉ có một trong các thừa kế của người đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993.

Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC nói trên, thì tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993 1à thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Tuy nhiên, Toà án có chấp nhận yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất cho các đương sự hay không thì phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể.

dụ: Nếu qua điều tra thu thập chứng cứ mà có đủ căn cứ kết luận phần đất do người chết để lại đã được tất cả những người trong họ tộc nhất trí giao cho một trong các thừa kế được quyền sử dụng có sự đồng ý của chính quyền địa phương và người đó đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, nay các thừa kế khác thấy đất có giá trị cao nên đòi chia thừa kế quyền sử dụng đất đó và có tranh chấp, thì Toà án không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của các thừa kế khác; nếu có đủ cơ sở kết luận một trong các đồng thừa kế bằng thủ đoạn nào đó (giấu giếm tự kê khai…) để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án chia thừa kế quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế khác theo thủ tục chung và áp dụng Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Uỷ ban nhân dân đã cấp.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

ĐÒI VIỆN KIỂM SÁT BỒI THƯỜNG OAM SAI 120 TRIỆU ĐÒNG

Một tổ trưởng tổ nhân dân đi giải quyết vụ quậy phá, bị đánh thương tật đến 15% nhưng lại bị bắt giam đến bốn tháng mới được trả tự do…

Ông Hòa với quyết định trả tự do của Công an tỉnh Đồng Nai.

Mới đây, ông Huỳnh Văn Hòa, ngụ ấp Bình Tiến, xã Xuân Phú, Xuân Lộc (Đồng Nai) đã làm đơn yêu cầu VKSND huyện này bồi thường oan hơn 120 triệu đồng do đã phê chuẩn lệnh khởi tố, bắt giam oan ông 120 ngày. Song song đó, ông Hòa cũng làm đơn đề nghị Công an huyện Xuân Lộc khởi tố ông T., hàng xóm về hai tội cố ý gây thương tích và vu khống.

Ai đánh ai?

Ông Hòa kể chuyện bắt đầu từ đêm 17-4-2007, khi ông T. nhậu say về lớn tiếng chửi bới các hàng xóm xung quanh. Do ông T. có “thành tích khá lẫy lừng” về việc đánh người, ném đá nhà hàng xóm nên không ai trong xóm dám can ngăn hay buồn đối đáp (chỉ trong hai năm đã có đến sáu người bị ông T. gây gổ và ít nhất ba căn nhà bị ông này ném đá). Thế nhưng vì sau đó ông T. cứ ra rả la lối mãi không chịu dừng, với tư cách tổ trưởng nhân dân trong xóm, ông Hòa phải cầm đèn pin đi đến sân nhà ông T. đề nghị dừng chửi bới để không làm phiền giờ giấc nghỉ ngơi của lối xóm.

Nhắc nhở xong, ông Hòa quay về nhà. Mới đi được một đoạn, ông Hòa nghe tiếng động từ phía sau. Vừa quay lại ông đã bị ông T. cầm một đoạn cây có đóng đinh đánh thẳng vào mặt mình. Ông Hòa gục ngay tại chỗ vì máu ra nhiều, được bà con hàng xóm đưa đến bệnh viện cấp cứu. Đáng nói là sau khi ông Hòa nhập viện được nửa tiếng thì ông T. cũng vào nhập viện với một vết thương ở cẳng chân.

Theo kết quả giám định thương tích, ông Hòa bị 15% thương tật, còn ông T. bị tới… 35%. Khi xuất viện, cả ông Hòa lẫn ông T. đều yêu cầu công an khởi tố người kia về hành vi cố ý gây thương tích.

Nóng vội khởi tố, bắt người

Vụ việc tiếp tục dây dưa vì cơ quan chức năng chưa thể xác định được sự thật ra sao. Tuy nhiên, đến ngày 12-7 khi được mời đến công an xã làm việc, ông Hòa đã bất ngờ bị Công an huyện Xuân Lộc bắt giam.

Theo ông Hòa, từ lúc bị bắt đến lúc được trả tự do, ông chỉ nhận được một thông báo bắt tạm giam chứ không hề nhận được quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can hay lệnh bắt tạm giam.

Sau khi ông Hòa bị bắt, người dân trong xóm đã đồng loạt ký tên vào đơn gởi Công an huyện Xuân Lộc cùng Công an tỉnh Đồng Nai khẳng định ông T. đã vu khống và công an đã bắt oan người vô tội. Cũng theo lá đơn này, con dao mà công an thu tại hiện trường để quy kết ông Hòa chém ông T. lại là dao của nhà ông T. Lá đơn này cũng khẳng định sau khi đánh ông Hòa, ông T. đã dùng con dao trên “tự cắt chân mình” để vu oan cho ông Hòa, bởi lúc đó ông Hòa đã gục tại chỗ ngoài đường, không thể về nhà mình hay vào nhà ông T. để lấy dao chém ông T. được…

Lá đơn trên đã không được cơ quan điều tra xem xét thấu đáo. Sự nóng vội khởi tố, bắt người của các cơ quan tố tụng huyện Xuân Lộc khi chưa có căn cứ vững chắc đã dẫn đến hậu quả là cuối năm 2007, Công an tỉnh Đồng Nai phải trả tự do ông Hòa vì hết thời hạn điều tra mà không chứng minh bị can đã thực hiện tội phạm. Tính đến lúc được trả tự do, ông Hòa đã bị giam oan bốn tháng.

Được biết, ngoài việc gửi đơn yêu cầu bồi thường oan theo Nghị quyết 388, ông Hòa cũng sẽ làm đơn yêu cầu xem xét trách nhiệm đối với những người tham gia điều tra vụ án này. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc.

SOURCE: PHƯƠNG NAM (PHÁP LUẬT TP)

ĐÂU PHẢI CHỈ CÓ DÂN MỚI PHẢI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Vấn đề số phận của giấy trắng, tức là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là sổ đỏ chính thức, bỗng trở thành mồi lửa cho một “cuộc chiến” giải thích pháp luật khá căng thẳng, bộc phát giữa các cơ quan nhà nước.

Ở TPHCM, nơi có số giấy trắng chưa được đổi thành giấy đỏ nhiều nhất nước và cũng là nơi các giao dịch về nhà đất diễn ra sôi động nhất, UBND TPHCM chỉ đạo một đàng: từ nay, chỉ một vài loại giấy trắng được tiếp tục lưu hành, bởi luật quy định như thế. Trong khi Bộ Tài nguyên – Môi trường lại hướng dẫn một nẻo: mọi loại giấy trắng đều được tiếp tục sử dụng bình thường đến năm 2010… vì đó là quy định của luật.

Mỗi cơ quan giải thích đều yêu cầu các cấp thuộc quyền của mình, khi thực hiện tác nghiệp liên quan đến giấy trắng, phải nghiêm chỉnh tôn trọng những điều mình khẳng định. Hệ quả nhãn tiền là sự rối loạn trong lĩnh vực dịch vụ công về nhà đất, đặc biệt là ở TPHCM, do các cấp thừa hành không biết phải tuân lệnh ai. Tất nhiên, chính người dân có giấy trắng là người đầu tiên phải gánh chịu thiệt hại vật chất trực tiếp từ tình trạng rối loạn đó.

Thực ra, cách giải thích của Bộ Tài nguyên – Môi trường, dù có vẻ thoáng, tỏ ra rất gượng ép và nhất là hoàn toàn không phù hợp với câu chữ rành rành của điều luật đang gây tranh cãi. Ai cũng biết chính bộ này là tác giả của ý tưởng khai tử các loại giấy trắng. Trong khuôn khổ hiện thực hóa ý tưởng đó, họ đã không dưới một lần, nhân danh Chính phủ, ấn định thời hạn mà sau thời hạn đó, giấy trắng phải bị loại ra khỏi cuộc sống pháp lý.

Mọi người cũng có thể hiểu tại sao Bộ Tài nguyên – Môi trường lại giải thích điều luật, do chính họ soạn thảo, một cách kỳ cục như thế. Họ đã xây dựng một quy định, đúng ra là một chuỗi quy định liên tiếp, không có cơ sở hiện thực, nhất là không phù hợp với năng lực đáp ứng của bản thân bộ máy mà họ quản lý. Các quy định ấy cuối cùng đã không thể thực hiện được, thậm chí đã “phát huy” tác hại.

Ra một quy tắc không hợp lý, dẫn đến rối ren, Bộ Tài nguyên – Môi trường dùng biện pháp giải thích pháp luật như một cách khắc phục hậu quả. Đáng lý ra, trong chuyện này, cần tiến hành kiểm điểm trách nhiệm pháp lý, kể cả trách nhiệm vật chất, của những người soạn thảo quy tắc đó. Luật Việt Nam hiện hành còn quá sơ hở trong việc xác định vai trò, trách nhiệm của người nắm quyền lực công, đặc biệt là của người có quyền hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, trong trường hợp chính sách, pháp luật được đề ra là sai lầm, gây thiệt hại cho xã hội.

Đây không phải là lần đầu tiên việc áp dụng một quy tắc pháp lý, có vẻ như rất bình thường, lại dẫn đến quá nhiều hệ lụy xã hội không hay, do lỗi (hay sự yếu kém) của nhà chức trách trong việc đánh giá trước một cách toàn diện tác động của luật, đặc biệt là trong việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để bảo đảm tính hữu hiệu của luật. Việc cấm sử dụng xe công nông, xe ba, bốn bánh tự chế, như các phương tiện vận tải trên đường công cộng, gần đây, là một ví dụ khác, cũng gây ồn ào không kém.

Đáng chú ý nữa là, muốn cho lời giải thích của mình có giá trị bắt buộc thi hành đối với toàn xã hội, nghĩa là mang tính chất của quy phạm giải thích, nhưng Bộ Tài nguyên – Môi trường lại kèm điều đó trong một văn bản không có tính quy phạm – một công văn. Điều đó hoàn toàn trái với tinh thần của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các quan chức liên quan chắc chắn không thể không biết luật này; nhưng, dường như họ không bận tâm đến nó, đến hiệu lực ràng buộc của nó đối với hoạt động xây dựng pháp luật.

Và không chỉ có Bộ Tài nguyên – Môi trường làm việc như vậy. Cũng trong thời gian này, để trấn an dư luận xung quanh việc cấm sử dụng xe công nông và xe ba, bốn bánh tự chế, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, vào giờ chót, đã quyết định sửa lại một phần nội dung của quy định trước đó, trong một nghị quyết của Chính phủ; quy định sửa này được ghi nhận tại… một công điện khẩn, chứ không phải một văn bản pháp quy nào đó mà Bộ được quyền ban hành, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Nhà chức trách còn không tự giác tôn trọng những quy tắc do chính mình đặt ra hỏi sao người dân thường không làm sai pháp luật?

——————————————————————

Quy định của Chính phủ

Điều 66, Nghị định 84 của Chính phủ (ban hành ngày 25-5-2007) về thời hạn buộc phải có giấy đỏ, giấy hồng mới được giao dịch nhà đất.

1. Kể từ ngày 1-1-2008, người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận mới được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê…, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này.

2. Trường hợp trước ngày 1-11-2007 người sử dụng đã nộp hồ sơ xin giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật Đất đai thì vẫn được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê…

Hai điều kiện theo quy định của UBND TPHCM:

– Đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận trước ngày 1-11-2007 mà chưa được cấp giấy.

– Có một trong các loại “giấy trắng” theo khoản 1, 2, 5 điều 50 Luật Đất đai.

Riêng đối với đất có nhà, người có những loại “giấy trắng” có giá trị công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được giao dịch vô hạn định.

SOURCE: SAIGONTIMES

GIẢI QUYẾT CÁC HỒ SƠ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: MỖI NƠI MỘT KIỂU

HOÀNG THƯ – THU HẰNG

Mặc dù Nghị định 69/CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 68/CP về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài đã tháo gỡ một số vấn đề về trình tự thủ tục trong việc đăng ký kết hôn, tuy nhiên có nhiều điểm trong Nghị định này chưa rõ ràng dẫn đến mỗi nơi một cách làm khác nhau.

Mất thời gian quá!

Hai giờ chiều, chúng tôi đến Sở Tư pháp TP. Hà Nội thì lúc này đã có 5 đôi nam nữ đang ngồi đợi cán bộ Sở phỏng vấn (một quy định mới của Nghị định số 69/CP nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng kết hôn để mua bán phụ nữ hoặc vì mục đích tư lợi). Anh Đinh Khắc Việt, thường trú tại Berlin – CHLB Đức, tâm sự: Tôi ở Đức về cuối tháng 12/2007, nộp hồ sơ ngày 30/12. Nhưng trước khi tôi về nước, gia đình 2 bên đã lo đủ các thủ tục hồ sơ, chỉ chờ tôi về hoàn thiện nốt. Chiều nay, hai chúng tôi đến đây phỏng vấn. Mọi việc ổn thoả, tôi đã lấy giấy hẹn trả kết quả sau 30 ngày, cộng với thời gian CA xác minh phải thêm 20 ngày, tổng cộng là 50 ngày. Trong khi đó, cuối tháng 1 tới, tôi đã hết hạn phép và phải trở lại Đức. Để kết hôn được, tôi sẽ phải quay về Việt Nam trong vòng 3 tháng nữa. Không hiểu cải cách kiểu gì chứ tôi thấy mất thời gian và rất tốn kém!

Bà Trần Thị Nhàn (Ba Đình, Hà Nội) thì thắc mắc: Con gái tôi mang quốc tịch Hà Lan, hiện đang muốn kết hôn với một người đàn ông ở Hà Tây. Dịp Tết này, nó sẽ về nước. Tôi ra đây tìm hiểu trước xem hồ sơ phải làm những gì để thông tin cho nó mà chuẩn bị. Có điều, tôi thấy hồ sơ yêu cầu nhiều loại giấy tờ quá, đặc biệt, thời hạn giải quyết mất gần 2 tháng trời? Con tôi làm việc ở Hà Lan chứ không  phải buôn bán nên nó rất khó nghỉ lâu đến như vậy.

Đem phản ánh của người dân về thời hạn 50 ngày giải quyết hồ sơ là khá dài hỏi các cán bộ tư pháp, chúng tôi được chị Bùi Thị Thu – cán bộ bộ phận “một cửa” Sở Tư pháp Hà Nội, cho biết: Mỗi ngày bộ phận “một cửa” tiếp nhận khoảng 4 – 5 bộ hồ sơ xin đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngày cao điểm, con số này có thể cao hơn một chút. Tuy nhiên, có nhiều công dân phải trở đi trở lại nhiều lần vì không hiểu hoặc không làm đúng các hướng dẫn về giấy tờ trong hồ sơ. Chúng tôi luôn sẵn sàng hướng dẫn tất cả người dân về thủ tục, song khi đến làm hồ sơ mọi người cũng nên đọc các thông báo niêm yết công khai ở bộ phận “một cửa” để biết thêm các thủ tục, trình tự cũng như thời gian. Việc gì chưa rõ, công dân hãy hỏi trực tiếp cán bộ thì sẽ đỡ mất công đi lại, chi phí… Ông Nguyễn Văn Thơm – Trưởng phòng Nghiệp vụ hộ tịch Sở Tư pháp Hải Dương lại lý giải: Cái khó của cán bộ tư pháp bây giờ là sợ bị dân kêu gây phiền hà. Nhưng quả thật có một số trường hợp, chúng tôi vừa làm vừa run. Các bạn xem, có trường hợp đương sự xin được tới 4 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Chẳng hạn, chúng tôi yêu cầu xuất trình bản án ly hôn hoặc về nơi cư trú lấy Giấy xác nhận thì một số người bỏ luôn hồ sơ.

Cứ thẩm định cho …chắc?

Tính riêng trong năm 2007, Sở Tư pháp Hà Nội đã giải quyết khoảng 400 hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Quy trình giải quyết một việc đăng ký kết hôn của Hà Nội có thể tóm tắt như sau: đương sự nộp hồ sơ hợp lệ tại Sở Tư pháp, sau đó cả hai bên nam, nữ phải có mặt để phỏng vấn. Hồ sơ sẽ được hoàn thiện để Sở Tư pháp chuyển xuống UBND cấp xã nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú niêm yết trong vòng 7 ngày. Tiếp đến hồ sơ sẽ được gửi qua cơ quan CA thẩm định, xác minh. Tiến hành xong các bước nói trên, Sở Tư pháp sẽ trình cho Chủ tịch UBNDTP. ký quyết định và trả kết quả cho đương sự.

Tuy nhiên, cũng là việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng ở Hà Tây lại có cách giải quyết khác. Điển hình là, việc niêm yết ở xã phường và xác minh tại cơ quan công an được tiến hành đồng thời với nhau. Theo giải thích của ông Nguyễn Hoài Nam – Trưởng phòng Hộ tịch Sở Tư pháp Hà Tây, cách làm này nhằm tiết kiệm thời gian cho các bên đương sự, thể hiện cải cách hành chính, rút ngắn thời gian. Chỉ trong trường hợp hồ sơ “có vấn đề” thì cơ quan công an mới cần xác minh thêm trong vòng 20 ngày.

Tương tự, ông Thơm cho biết, mặc dù chỉ tiếp nhận hồ sơ 3 ngày/ tuần song năm 2007, Sở Tư pháp Hải Dương đã giải quyết xong 500 bộ và có hơn 50% được trả trong thời hạn 30 – 35 ngày. Số còn lại là do Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm định đối với những trường hợp xin đăng ký kết hôn lần thứ 3, thứ 4 hoặc độ tuổi chênh lệch của 2 bên đương sự quá lớn và chỉ có khoảng 20% thì Sở chuyển sang cho CA xác minh. Ông Thơm phấn khởi nói với chúng tôi: “Mới đây, Sở Tư pháp Hải Dương vừa tổ chức Lễ trao Giấy chứng nhận kết hôn cho 3 đôi nam nữ mà hồ sơ được giải quyết gói gọn trong vòng 20 ngày”. Đã có trường hợp cần thiết (đương sự xuất trình vé máy bay), Sở này trả luôn hồ sơ chứ không cần đợi đúng lịch quy định. Đó là do cán bộ tư pháp phải linh động, phải vì dân thôi, ông Thơm kết luận.

Như vậy, trên thực tế, tính riêng trong quy định về việc gửi hồ sơ đến cơ quan công an thẩm định mỗi địa phương đã có những cách làm khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn việc thẩm định được tiến hành với tất cả các hồ sơ, không có ngoại lệ. Chỉ một số ít địa phương gửi thẩm định các hồ sơ trong trường hợp cơ quan tư pháp thấy nghi ngờ. Thực ra, vấn đề có hay không gửi thẩm định không do ngành tư pháp mà do UBND cấp tỉnh quyết định. Dường như cứ có thẩm định của cơ quan CA, Chủ tịch UBND cấp tỉnh khi ký các hồ sơ này cũng cảm thấy yên tâm hơn!? Theo quy định của Nghị định 69/CP hiện hành, chỉ trong những trường hợp cần thiết hoặc có nghi vấn hoặc khiếu nại, tố cáo thì Sở tư pháp mới cần xác minh, làm rõ. Còn trong trường hợp thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của CA thì Sở Tư pháp đề nghị CA xác minh.  Tuy nhiên, như thế nào là nghi vấn, là cần thiết, nội dung khiếu nại tố cáo nào cần xác minh, thẩm định thuộc thẩm quyền của cả ngành CA và Tư pháp, đến nay chưa có hướng dẫn. Cho nên, để an toàn nhiều địa phương đã chọn giải pháp 100% hồ sơ đều qua “cửa CA”. Cách làm trên dễ dẫn đến hậu quả việc giải quyết hồ sơ một cách tuỳ tiện, kéo dài. Trong khi thực tế, công dân nước ngoài về Việt Nam thường rất hạn chế về mặt thời gian. Nếu hồ sơ không được giải quyết đúng hạn sẽ dẫn đến việc đương sự  “bỏ của chạy lấy người” bởi theo quy định, Lễ đăng ký kết hôn (bắt buộc phải có mặt cả hai bên nam nữ – PV) phải được tổ chức trong thời hạn 7 ngày từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn, trừ trường hợp có lý do chính đáng thì cũng phải tổ chức trong thời hạn không quá 90 ngày, nếu không sẽ phải làm lại thủ tục đăng ký từ đầu. Vì lý do đó mà thời gian qua, tại các Sở Tư pháp đã có khá nhiều trường hợp Giấy chứng nhận kết hôn bị huỷ do quá hạn về thời gian.

Cần hướng dẫn cụ thể

Về thủ tục thẩm định, xác minh đối với hồ sơ, các địa phương đề nghị cần có hướng dẫn rõ ràng những trường hợp nào là có nghi vấn, có “vấn đề”, để đảm bảo đúng tiến độ về mặt thời gian, đặc biệt trong xu thế cải cách hành chính như giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, liên quan đến thẩm quyền ký Giấy chứng nhận kết hôn, một số địa phương cho rằng nên sửa đổi quy định theo hướng Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp ký. Bởi xuất phát từ thực tế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quá nhiều việc phải làm, trong nhiều trường hợp sẽ không ký đúng hạn.

Nghị định 69/CP cũng quy định cụ thể những trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, trong đó có việc lừa dối, cưỡng ép kết hôn. Tuy nhiên, để xác định mục đích thực sự của cuộc hôn nhân là rất khó, kể cả khi đã đưa vào quy định bắt buộc các bên đương sự phải trả lời phỏng vấn tại Sở Tư pháp hay quy định hai bên đương sự phải cùng biết một thứ tiếng… Do vậy, nhằm tránh những tiêu cực trong lĩnh vực đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, cần tăng cường kiểm tra thanh tra đối với các hoạt động này và có biện pháp xử lý nếu phát hiện sai phạm.

——————————————————————

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu cơ quan công an xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm 20 ngày

(Trích nội dung Điều 15 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đìnhvề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài)

SOURCE: MOj.GOV.VN

 

KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CỔ PHẦN HÓA

Cách đây 15 năm, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (tháng 11/1991) đã đề ra chủ trương cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Những hạn chế trong cổ phần hoá

Sau 15 năm thực hiện, CPH đã đạt được nhứng kết quả nhất định. Theo số liệu báo cáo của các địa phương, bộ, ngành, tổng công ty, đến 30/6/2006 cả nước đã CPH 3.365 doanh nghiệp  và bộ phận doanh nghiệp . Thông qua CPH đã huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu tư kinh doanh. Quy mô của doanh nghiệp  CPH được mở rộng, số vốn nhà nước tại DN đã CPH tăng mạnh. Việc gắn kết CPH DNNN với niêm yết trên thị trường chứng khoán đã góp phần tăng nguồn cung cho thị trường, đồng thời là nhân tố thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp  sau khi CPH đều hoạt động hiệu quả hơn trước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc CPH trong gần 15 năm quan cũng còn tồn tại hạn chế cần khắc phục:

– Sau 15 năm triển khai mới CPH được 12% số vốn nhà nước có tại doanh nghiệp  là quá nhỏ bé. Nhà nước giữ cổ phần vẫn nhiều (bình quân 46,5%) đặc biệt là vẫn nắm chi phối tới 38% số doanh nghiệp  CPH. Còn nhiều DN nhà nước giữ 100% vốn hoạt động trong các lĩnh vực nhà nước khong cần giữ hoặc chi phối.

– Các DNNN tuy đã được sắp xếp lại một bước, song quy mô vẫn nhỏ, năng lực tài chính yếu. Nhiều DN hệ số vốn tự có/ vốn vay và vốn tự có/ tổng tài sản đang nằm trong giới hạn mất an toàn. Hiện tại 20/101 tổng công ty thua lỗ rất lớn, số còn lại mổ xẻ ra thì cũng còn rất nhiều vấn đề đáng quan tâm.

– Việc chuyển đổi TCT sang mô hình công ty mẹ-công ty con có nhiều sơ hở để cho một số DN thnàh viên của TCT đúng ra phải CPH để “chui” vào công ty mẹ 100% vốn nhà nước để tránh phải CPH.

– Còn có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, chưa tạo điều kiện để thu hút và gắn kết giữa hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược với sự phát triển của doanh nghiệp CPH.

Phân tích nguyên  nhân hạn chế

Những hạn chế trong CPh xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó theo chúng tôi, những nguyên nhân chủ yếu là:

Chậm đổi mới tư duy quản lý.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc CPH chậm, không đạt mục tiêu đặt ra là do tư duy quản lý chậm đổi mới. Một số Bộ, ngành, tỉnh, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và chưa chấp hành nghiêm nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước trong đổi mới DNNN.

– Tư tưởng bao cấp đang đè nặng chưa hẳn được giải phòng. Quan điểm “quản được đến đâu mở đến đó” vẫn còn tồn tại trong không ít các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách. Sự lúng túng trong lý luận về “định hướng XHCN” dẫn đến sự chần chừ và chờ đợi trong tổ chức thực hiện.

– Chưa có các tiêu chí cụ thể và thống nhất để xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đánh giá về hiệu quả DNNN nên nhận định chưa đúng về tác dụng của các chủ trương và biện pháp cải cách DNNN và các định hướng tiếp theo.

Vấn đề hành lang pháp lý và tính nhất quán trong chỉ đạo thực hiện

– Hành lang pháp lý còn thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, thiếu tính ổn định và đồng bộ.

– Việc sắp xếp, cơ cấu lại DNNN chưa được thực hiện theo một để án tổng thể kết hợp giữa ngành và địa bàn mà lại được thực hiện theo từng đề án của từng bộ, ngành, đại phương, tổng công ty nên còn có sự chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, giữa doanh nghiệp  trung ương và doanh nghiệp  địa phương trên cùng một địa bàn.

– Các doanh nghiệp  được troa nhiều quyền tự chủ nhưng chưa có cơ chế giám sát hiệu quả nên dẫn đến việc triển khai các chính sách còn tuỳ tiện, thiếu minh bạch…Chưa có những quy định về công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp  và CPH. Hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước còn thấp; công tác kế toán, kiểm toán còn nhiều yếu kém, chưa bảo đảm phục vụ một cách hữu hiệu công tác quản lý, kiểm tra, giám sát.

– Một số tổng công ty và công ty nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con nhưng chưa tuân thủ điều kiện khách quan, đặc biệt điều kiện về liên kết kinhtế và đầu tư chi phối lẫn nhau, khiến cho việc chuyển đổi chỉ  mang tính chất sắp xếp hành chính, khiên cưỡng và ép buộc. Bộ máy chuyên môn nghiệp vụ của công ty mẹ chưa theo kịp yêu cầu thực hiện đồng thời hai chức năng của công ty mẹ là vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa đầu tư tài chính.

– Việc hình thành tập đoàn kinh tế còn nhiều lúng túng, nhiều vấn đề chưa được tập trung quan tâm đúng mức trong chỉ đạo tổ chức thực hiện. Chưa hình thành khung pháp luật đầy đủ hướng dẫn cho việc hình thành và quản lý đối với tập đoàn.

Năng lực và trình độ của lãnh đạo DN còn hạn chế

– Năng lực, trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp  còn nhiều hạn chế, quản trị doanh nghiệp  khong theo đúng thông lệ quốc tế. Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới, chuyển biến thực sự về phương thức quản lý và lề lối làm việc, do chưa có sự thay đổi đội ngũ lãnh đạo,

– CPH còn mang tình “khép kín”;trong đó chủ yếu cổ đông vẫn là người lao động, người quản lý và Nhà nước, không có chính sách thu hút cổ đông chiến lược khi tiến hành CPH, do vậy việc quản trị của các DN cổ phần không được cải thiện.

Những bất cập về cơ chế, chính sách

– Còn có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, chưa tạo điều kiện để thu hút gắn kết giữa hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược với sự phát triển của doanh nghiệp  CPH. Tỷ lệ bán cổ phần ra bên ngoài còn thấp, nhất là tỷ lệ cho các cổ đông nước ngoài.

– Phương thức bán đấu giá cổ phiếu chưa đa dạng, các phương thức như bảo lãnh phát hành, thoả thuận chưa được áp dụng.

– Việc ấn định tỷ lệ nhất định bán cho người lao động trong doanh nghiệp  vô tình đã biến họ trở thành các cổ đông bất đắc dĩ, hạn chế hiệu quả hoạt động của các DN sau CPH

– Các thủ tục liên quan đến hồ sơ đất đai để chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần còn chưa được hướng dẫn đầy đủ hoặc còn kéo dài.

Một số đề xuất, khuyến nghị

* Nhanh chóng hoàn thiện và bổ sung thể chế. Đẩy mạnh việc hoàn thiện các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và các luật liên quan như luật Đầu tư, Luật Đất đai…Ban hành các tiêu chí đáp ứng yêu cầu chuyển đổi DNNN như tiêu chí chuẩn về điều kiện hình thnàh tập đoàn kinh tế, soát xét lại các lĩnh vực Nhà nước cần giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối để có cơ sở xác địnhcác DNNN tiếp tục thực hiện CPH theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X.

* Sửa đổi Nghị định 187/2004/NĐ-CP theo hướng thị trường và hội nhập,tạo cơ sở pháp lý chocác nhà đầu tư trong và ngoài nước được tham gia không hạn chế vào CPH theơc chế đấu giá bình đẳng, đơn giản hoá các thủ tục. Cụ thể là:

– Đối tượng CPH  cần bao gồm các công ty TNHH nhà nước 1 thành viên (bao gồm cả các công ty mẹ).

– Giảm tỷ lệ vốn nhà nước tại công ty cổ phần, giảm bớt tỷ lệ công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Mở rộng hơn nữa tỷ lệ cho phép nắm giữ cổ phần đối với các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài để thu hút nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, quản trị doanh nghiệp  hiện đại.

– Bỏ quy định dành 20% cổ phiếu bán cho người lao động trong doanh nghiệp  với giá ưu đãi. Thay vào đó, người lao động được hưởng một khoản lợi ích theo năm công tác khi thực hiện CPH DN, không nên ép người lao động trở thành cổ đông bất đắc dĩ.

– Bổ sung thêm các phương pháp định giá phù hợp. Khi chúng ta chủ trương CPH các doanh nghiệp  có quy mô lớn thì phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp  được quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP là không còn phù hợp. Bởi vì, đối với doanh nghiệp  này, ngoài giá trị hữu hình, còn nhiều giá trị vô hình như uy tín, thương hiệu…Ngoài ra, cần tính giá trị quyền sử dụng đất vào DN, giá đất phải được tính một cách hợp lý, hợp thức hoá đất đai trước khi DN CPH.

– Xoá bỏ chính sách ưu đãi thuế cho các DN thực hiện CPH. Quy định về ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp  quy mô nhỏ, kinh doanh thua lỗ kéo dài khi chuyển sang công ty cổ phần là cần thiết, nhằm giúp doanh nghiệp  vượt qua khó khăn trong thời kỳ đầu . Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay CPH đã được áp dụng đối với những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp  đang hoạt động kinh doanh có lãi thì việc ưu đãi thuế sau CPH là không cần thiết, gây thất thu thuế cho NSNN.

* Sớm ban hành các quy chế đánh giá hiệu quả DNNN, quy chế kiểm soát, giám sát và nhất là cơ chế tuyển chọn cán bộ quản lý để nâng cao trách nhiệm giám đốc DN

* Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lao động phát triển. Chuyển nhận thức và có cơ chế coi “giám đốc doanh nghiệp “ là một nghề chứ không phải là chức tước; thoát ly vấn đề quốc tịch và vị thế chính trị đối với giám đốc.

* Tập trung kiện toàn các tổng công ty nhà nước theo hướng sau:

– Chỉ lựa chọn những tổng công ty mạnh, đủ điều kiện theo tiêu chí của tập đoàn kinh tế để làm hạt nhân hình thành các tập đoàn kinh tế. Đây là những tập đoàn đóng vai trò rất quan trọng giúp Nhà nước chủ động trong điều tiết vĩ mô, đảm bảo phát triển kinh tế đất nước theo định hướng XHCN.

– Hình thành tập đoàn kinh tế theo kết cấu đa sở hữu: công ty mẹ-tập đoàn-có thể 100% vốn Nhà nước, có thể là đa sở hữu, nhưng Nhà nước giữ hơn 50% vốn điều lệ, còn các tổng công ty, công ty trong đó hầu hết là đa sở hữu. Hạn chế công ty mẹ 100% vốn Nhà nước.

– Kiên quyết giải thể những tổng công ty kinh doanh thua lỗ kéo dài, kém hiệu quả, Nhà nước không cần nắm giữ.

+ Hạn chế chuyển DNNN sang công ty TNHH nhà nước một thành viên 100% vốn Nhà nước. Rà soát lại các công ty này để tiến tới CPH toàn bộ các công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước.

+ Bên cạnh việc CPH, Nhà nước phải có cơ chế, chính sách đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời tạo một môi trường cạnh tranh bình đẳng, với những thủ tục rõ ràng, thống nhất, hệ thống thông tin minh bạch, ổn định và nhất quán cho các doanh nghiệp  hoạt động. Chính khu vực kinh tế này sẽ là động lực của sự phát triển trong những thập kỷ tới.

(Nguồn: TCTC – MOI.GOV.VN)