NGHỊ ĐỊNH SỐ 163/2006/NĐ-CP VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, MẶT BẰNG PHÁP LÝ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Ngày 29/12/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, quy định chi tiết thi hành một số điều Bộ luật Dân sự về việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm. Nghị định này thay thế Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm, đồng thời bãi bỏ các Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP. Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm nhằm tạo ra sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm và bảo đảm tiền vay của các TCTD, đồng thời xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức hoặc cá nhân trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Dân sự. Với “sân chơi” bình đẳng, việc bảo đảm tiền vay của TCTD và giao dịch dân sự của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có thoả thuận về biện pháp bảo đảm đều áp dụng chung các quy định tại Nghị định này.

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP có những quy định mới về một số vấn đề cơ bản như sau:

Về bên bảo đảm: Trước đây, Nghị định 165/1999/NĐ-CP quy định bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; người thứ ba dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thay cho bên có nghĩa vụ, thì phải áp dụng biện pháp bảo lãnh bằng tài sản. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định bên bảo đảm không chỉ là bên có nghĩa vụ trong quan hệ dân sự mà có thể là ngừơi thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thay cho bên có nghĩa vụ.

Giá trị tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự: Điều 5 Nghị định quy định nếu bên bảo đảm dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ luật Dân sự, thì các bên có thể thỏa thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bảo vệ quyền lợi cho bên nhận bảo đảm ngay tình: Khoản 3 Điều 3 Nghị định quy định bên nhận bảo đảm ngay tình là bên nhận bảo đảm trong trường hợp không biết và không thể biết về việc bên bảo đảm không có quyền dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghia vụ dân sự. Tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định quy định trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản mua trả chậm, trả dần, tài sản thuê có thời hạn từ một năm trở lên của doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký kinh doanh gồm máy móc, thiết bị, động sản khác không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu và hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, nếu không đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng, thì bên nhận bảo đảm bằng các tài sản này được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình và có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất. Theo đó, trước khi nhận làm tài sản bảo đảm, để bảo vệ quyền lợi của mình, các tổ chức tín dụng cần tra cứu thông tin tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền.

Bảo vệ quyền cho bên nhận bảo đảm khi tài sản bảo đảm liên quan đến vụ án: Khoản 4 Điều 4 Nghị định quy định trường hợp giao dịch bảo đảm được xác lập hợp pháp và có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, thì Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác không được kê biên tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ khác của bên bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thứ tự ưu tiên thanh toán và thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán theo thoả thuận: Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự. Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản có quyền thoả thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau.

Hiệu lực của giao dịch bảo đảm: Giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ các trường hợp sau:

(i) Có thỏa thuận khác; (ii) Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố; (iii) Việc thế chấp: quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp; (iv) Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp pháp luật có quy định phải công chứng, chứng thực.

Thời điểm giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba: Giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc thay đổi một hoặc các bên tham gia giao dịch bảo đảm không làm thay đổi thời điểm giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba.

Việc đăng ký giao dịch bảo đảm: Các trường hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: thế chấp quyền sử dụng đất; thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; thế chấp tàu bay, tàu biển; thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định. Các trường hợp không thuộc diện phải đăng ký thì theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân.

Về trường hợp bên bảo đảm là pháp nhân được tổ chức lại: Điều 14 Nghị định quy định bên bảo đảm là pháp nhân được tổ chức lại phải thông báo cho bên nhận bảo đảm về việc tổ chức lại pháp nhân. Các bên thoả thuận về việc kế thừa, thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm và giao dịch bảo đảm trong quá trình tổ chức lại pháp nhân; nếu không thoả thuận được thì bên nhận bảo đảm yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn.

Trước đây, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP quy định trong mọi trường hợp chuyển giao nghĩa vụ bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng vay, hoặc bên bảo lãnh là doanh nghiệp sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá và tổ chức tín dụng phải thoả thuận ký kết lại hợp đồng bảo đảm đã gây khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện. Vướng mắc này đến nay đã được tháo gỡ, vì khoản 3 Điều 14 Nghị định quy định đối với giao dịch bảo đảm được xác lập trước khi tổ chức lại pháp nhân và còn thời hạn thực hiện, thì các bên không phải ký kết lại hợp đồng giao dịch bảo đảm mà có thể lập văn bản ghi nhận về việc thay đổi bên bảo đảm. Theo đó, pháp nhân sau tổ chức lại, sau chuyển đổi phải tiếp tục thực hiện đầy đủ các thoả thuận trong hợp đồng giao dịch bảo đảm của pháp nhân trước khi tổ chức lại hoặc chuyển đổi.

Các TCTD phải đặc biệt chú trọng việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay, vì Điều 69 Nghị định quy định trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ trong tương lai có thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm đó, không phụ thuộc vào thời điểm xác lập giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ trong tương lai.

Quyền xử lý tài sản bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai: Điều 8 Nghị định quy định trong trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai, thì khi bên bảo đảm có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có các quyền đối với một phần hoặc toàn bộ tài sản đó. Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý.

Tháo gỡ khó khăn trong việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý: Điều 68 Nghị định quy định trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì các tài sản này được bán đấu giá.

Trong trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất, thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người mua, người nhận chính tài sản gắn liền với đất đó được tiếp tục sử dụng đất. Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong hợp đồng về quyền sử dụng đất giữa bên thế chấp và người sử dụng đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm: Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì việc xử lý tài sản đó do bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm thoả thuận; nếu không có thoả thuận hoặc không thể thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Bảo vệ quyền lợi cho bên nhận bảo đảm khi phải xử lý tài sản bảo đảm: Khoản 5 Điều 58 Nghị định quy định việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm.

Tháo gỡ khó khăn cho bên nhận bảo đảm trong việc làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm: Trước đây, khi chuyển quyền sở hữu cho người mua tài sản trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản, pháp luật quy định phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong thực tế, bên bảo đảm thường cố tình không ký văn bản này gây khó khăn khi xử lý tài sản bảo đảm. Khoản 2 Điều 70 Nghị định quy định trong trường hợp pháp luật quy định việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu, hợp đồng mua bán tài sản giữa chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án với người mua tài sản về việc xử lý tài sản bảo đảm thì hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản được dùng để thay thế cho các loại giấy tờ này./.

SOURCE: SBV.GOV.VN

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các quan hệ tài sản dựa trên quyền sở hữu, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ thường trao hai quyền cơ bản cho chủ nợ gồm: (i) Cho phép chủ nợ có quyền phong toả tài sản của con nợ, bán các tài sản này và đầu tư số tiền này vào các hoạt động khác có hiệu quả hơn khi con nợ mất khả năng thanh toán và không thể phục hồi; (ii) Cho phép chủ nợ kiểm soát các hoạt động quản lý của con nợ trong trường hợp con nợ đang có nguy cơ bị mất khả năng thanh toán. Pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ nói chung và bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng có vai trò quan trọng hoặc thúc đẩy (trong trường hợp phù hợp với nhu cầu của thực tiễn) hoặc kìm hãm (trong trường hợp ngược lại) sự phát triển của nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được đề cập vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế và doanh nghiệp.

1. Vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD đối với nền kinh tế.

Trong nền kinh tế thị trường, việc bảo đảm sự thống nhất, hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội là yêu cầu khách quan. Hai mặt này vốn luôn ở trạng thái mâu thuẫn nhau, bởi với mục đích nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, bản thân nền kinh tế thị trường không bao hàm trong nó cơ chế bảo đảm các vấn đề xã hội, hạn chế các sai lầm của thị trường. Sự thống nhất giữa sự phát triển kinh tế lẫn xã hội có thể đạt được thông qua sự can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật. Vì vậy, pháp luật phải đóng vai trò bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế đồng thời với việc bảo vệ lợi ích chung của cả xã hội để không xảy ra tình trạng đặt lợi ích kinh tế lên trên lợi ích xã hội bằng mọi giá.

Với bản chất và những đặc điểm, đặc thù của mình, pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ có nhiều vai trò đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong đó có những vai trò cơ bản sau:

1.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của xã hội. Một hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hữu hiệu sẽ cho phép giải phóng nguồn lực của xã hội ra khỏi các khu vực sử dụng yếu kém và tái phân bổ đến những các khu vực sử dụng có hiệu quả hơn. Thực tiễn cũng chứng minh các quốc gia thiết lập khung pháp lý về bảo vệ quyền chủ nợ phù hợp và vận hành có hiệu quả cũng đồng thời là quốc gia có hệ thống tài chính lành mạnh và nền kinh tế phát triển.

1.2. Tạo dựng và duy trì niềm tin của nhà đầu tư, góp phần nâng cao tính ổn định và nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ hiệu quả, minh bạch và có thể dự đoán được sẽ góp phần tạo dựng và duy trì niềm tin của nhà đầu tư qua đó huy động nhiều vốn đầu tư hơn cho nền kinh tế. Nhìn chung, những nghiên cứu về thị trường nợ cho thấy rằng các quy định của pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới việc huy động vốn từ bên ngoài. Các kết quả cũng cho thấy rằng luật lệ tốt và thực thi hiệu quả có tác động đáng kể đối với quy mô của thị trường nợ. Thực tiễn cũng cho thấy những sự khác biệt lớn về quy mô và độ sâu của thị trường vốn tại các nước với luật pháp có xuất xứ khác nhau. Ngoài ra, những khác biệt về mức độ bảo vệ chủ nợ có tác động đối với một số điểm khác biệt về quy mô và độ sâu của thị trường vốn tại các nước. Kết quả của nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng của môi trường pháp lý tác động đáng kể đến khả năng của các doanh nghiệp tại các nước khác nhau trong việc huy động vốn từ bên ngoài. Điều này càng quan trọng vì ngày càng có nhiều nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, khi mà sự tập trung của nó hướng về sự ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm cả việc thiết kế các thể chế nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế và ngăn chặn khủng hoảng.

1.3. Tạo ra tiền đề pháp lý vững chắc để ổn định các quan hệ kinh tế. Ngoài vai trò củng cố, tăng cường quyền lực và phương tiện quản lý kinh tế của nhà nước, một hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ phù hợp sẽ còn là tiền đề vững chắc cho mọi thành phần kinh tế yên tâm trong hoạt động và chủ động tập trung tiềm lực kinh tế vào sản xuất, kinh doanh dịch vụ. Đồng thời, nó còn là cơ sở pháp lý để xử lý các tranh chấp nảy sinh một cách hiệu quả, minh bạch, bình đẳng thực sự giữa các thành phần kinh tế.

1.4. Góp phần đấu tranh và phòng chống một cách có hiệu quả những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường, đồng thời bảo vệ một cách chắc chắn lợi ích hợp pháp của các chủ nợ và nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của các con nợ trước những ràng buộc bởi các điều kiện vay nợ, góp phần tăng cường kỷ luật hợp đồng. Ngoài ra, pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ còn có vai trò quan trọng trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của mỗi loại cán bộ, mỗi cán bộ làm việc trong từng cơ quan cụ thể của bộ máy nhà nước. Nhờ đó, các hiện tượng lạm quyền, tham nhũng, vô trách nhiệm… của đội ngũ công chức, viên chức nhà nước có liên quan đến việc quá trình xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán dễ dàng được phát hiện và loại trừ.

2. Vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ đối với các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp.

Quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng là một trong những hình thức quan hệ kinh tế có tính truyền thống trong lịch sử phát triển các nền kinh tế. Mang theo mối quan hệ này là những rủi ro do từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ và xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các doanh nghiệp, vì chúng đóng vai trò là nền tảng giúp cho các quốc gia duy trì, cải thiện tính vững chắc của hệ thống các tổ chức tín dụng và ổn định nền kinh tế – trên phương diện vĩ mô, bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ (các tổ chức tín dụng) và tăng cường trách nhiệm của các khách hàng vay vốn (doanh nghiệp) – trên phương diện vi mô, cụ thể:

2.1. Giảm chi phí cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Khi chủ nợ (bao gồm cả các tổ chức tín dụng) cung cấp vốn cho các doanh nghiệp để có khoản thu (lợi tức) từ hoạt động cho vay này, thì họ luôn phải đương đầu với những rủi ro (cả trước và trong quá trình cho vay), thậm chí có thể sẽ không thu được cả tiền gốc lẫn lãi nếu khách hành không thanh toán những hợp đồng vay nợ.

Việc chiếm dụng vốn vay phổ biến, lan tràn sẽ làm suy yếu nghiêm trọng hiệu quả của cả hệ thống tài chính. Trong điều kiện hệ thống pháp luật không hoàn chỉnh, nếu các nhà đầu tư tiềm năng dự đoán rằng phần đầu tư của mình sẽ bị những người trong doanh nghiệp chiếm dụng thì họ sẽ không cung cấp vốn cho doanh nghiệp cho dù dưới bất kỳ hình thức nào (cho vay hoặc góp vốn cổ phần). Điều này làm cho các chủ doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không có khả năng tìm nguồn vốn tài trợ cho các dự án đầu tư, thậm chí cả dự án đầu tư có tính khả thi cao và khả năng sinh lời hấp dẫn nhất của mình. Bảo vệ chủ nợ bằng hệ thống luật pháp là biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế tình trạng chiếm dụng vốn trong nền kinh tế. Chủ nợ sẽ cung cấp nhiều vốn cho các doanh nghiệp một khi quyền lợi của họ được luật pháp bảo vệ một cách có hiệu quả và chính các quy định pháp luật và việc thực thi chúng hình thành nên những quyền trên. Một khi công tác tái cơ cấu và quyền của chủ nợ khi thanh lý doanh nghiệp được mở rộng và được các cơ quan quản lý nhà nước hoặc tòa án thực thi tốt thì chủ nợ sẽ có động lực và niềm tin để cung cấp vốn cho doanh nghiệp.

Khi những quy định pháp luật và việc thực thi chúng không bảo vệ được chủ đầu tư thì quá trình quản trị doanh nghiệp và tìm nguồn vốn từ bên ngoài sẽ không hiệu quả. Các thủ tục phá sản hiệu quả cũng có vai trò then chốt trong việc cho phép các ngân hàng thực hiện quyền chủ nợ của mình một cách thích hợp.

Hơn nữa, khi xảy ra khủng hoảng nợ công ty thì việc không có khả năng tịch thu lại tài sản thế chấp có thể châm ngòi cho tác động vỡ nợ dây chuyền của các công ty mắc nợ, làm trầm trọng thêm khủng hoảng kinh tế, như những gì đã xảy ra tại các quốc gia trong khu vực trong thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.

Một hệ thống luật pháp về bảo vệ quyền chủ nợ hữu hiệu sẽ là động lực giúp cho các tổ chức tín dụng tích cực hơn trong việc chấp thuận cho vay với những ràng buộc về tài sản đảm bảo. Nhờ đó, nó sẽ tạo điều kiện cho thị trường thế chấp phát triển, giúp cho các doanh nghiệp có nhiều khả năng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ thị trường nợ nói chung và từ hệ thống ngân hàng nói riêng. Điều này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển nơi thị trường chứng khoán chưa phát triển.

2.2. Góp phần thực hiện mục tiêu an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ sẽ làm gia tăng tính chủ động trong kế hoạch kinh doanh của các tổ chức tín dụng (thông qua những quy định mức độ quyền lợi của các chủ nợ), qua đó nâng cao tính ổn định cho từng tổ chức tín dụng nói riêng và toàn hệ thống nói chung. Ngoài ra, với những ràng buộc về pháp lý, các điều khoản về quá trình xử lý tài sản đảm bảo quy định trong pháp luật về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán sẽ là áp lực cần thiết và hiệu quả đối với các khách hàng trong quá trình sử dụng nguồn vốn vay.

Chính vì vậy, pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ đặc biệt được chú trọng xây dựng và áp dụng phổ biến tại hầu hết các quốc gia phát triển, và cả ở những nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi. Một hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ và xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán hoàn chỉnh với các biện pháp xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán đồng bộ (trong và ngoài toà án) sẽ cho phép các tổ chức tín dụng gia tăng tỷ lệ thu hồi nợ, giảm nợ xấu và lành mạnh hoá hoạt động tín dụng ngân hàng.

2.3. Tạo lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Một vai trò quan trọng của hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ là giúp các chủ nợ, con nợ và các bên tham gia quan hệ vay nợ (người bảo lãnh) nắm bắt được những quy định rõ ràng về mức độ xử lý, khả năng tiếp cận những quy trình thủ tục cần thiết khi thực hiện quá trình xử lý. Ngoài ra, nó còn là cơ sở pháp lý giúp các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi hoạt động, cải thiện, phục hồi khả năng thanh toán, có khả năng tiếp tục thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình, cũng như có được giải pháp về tài chính tốt nhất trong những trường hợp cấp thiết.

Với những vai trò quan trọng quan trọng nêu trên, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, để hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ này phát huy hiệu quả trên thực tiễn, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật này chỉ là điều kiện cần, cơ quan nhà nước còn phải thiết lập cơ chế thực thi nghiêm minh các quy định pháp luật này trên thực tiễn./.

SOURCE: SBV.GOV.VN

BỐN ĐIỂM ĐỘT PHÁ CỦA NGHỊ ĐỊNH 109/2007/NĐ/CP VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

Ngày 26/06/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004. Những đột phá của Nghị định 109 lần này là giá trị quyền sử dụng đất bắt buộc phải tính vào giá trị doanh nghiệp, nhà đầu tư chiến lược không còn được mua cổ phiếu với giá ưu đãi như trước đây, công khai việc sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa.

Điểm đột phá thứ nhất: Nếu như Nghị định 187 quy định trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, lần này tại điều 30 Nghị định 109 quy định rõ trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá chọn hình thức thuê đất nếu doanh nghiệp trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ thời gian thuê đất thì tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp theo giá sát với giá thị trường tại thời điểm định giá được ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố. Đối với những doanh nghiệp trả tiền thuê đất hàng năm thì không tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp.
Việc không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp trong thời gian qua đã khiến cho giá trị thực tế của doanh nghiệp và giá trị được định giá trên sổ sách có một khoảng cách khá lớn. Điều này đã được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh trong thời gian qua. Hậu quả là Nhà nước sẽ bị thất thu một khoản tiền không nhỏ khi doanh nghiệp cổ phần hóa chọn hình thức thuê đất, người lao động thì phải mua cổ phiếu với giá cao hơn gấp nhiều lần giá trị thực tế. Một số người lao động không đủ khả năng tài chính để mua cổ phiếu đành phải “bán lúa non”. Do vậy, tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chính là trả lại sự công bằng trong cổ phần hóa, là điều kiện cho người lao động có cơ hội sở hữu cổ phiều, làm chủ doanh nghiệp.

Điểm đột phá thứ hai: Bỏ ưu đãi về giá cho nhà đầu tư chiến lược. Nghị định 109 quy định nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần theo giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân. Trước đây Nghị định 187 cho phép nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần ưu đãi với giá giảm 20% so giá đấu bình quân. Điều này sẽ hạn chế được tình trạng cổ phiếu tập trung vào một số ít nhà đầu tư, làm cho một số người nhanh chóng giàu lên nhờ cổ phiếu, hạn chế tình trạng thất thoát tiền nhà nước do bán cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược. Ngoài ra, Nghị định 109 lần này cũng mở rộng nhà đầu tư chiến lược gồm cả nhà đầu tư nước ngoài.

Điểm đột phá thứ ba: Điều 45 Nghị định 109 về quản lý và sử dụng số tiền thu từ cổ phần hóa quy định: Số tiền thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp được sử dụng để thanh toán chi phí cổ phần hóa và chi giải quyết chính sách đối với lao động dôi dư khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp theo chế độ nhà nước quy định và quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Phần còn lại (bao gồm cả chênh lệch giá bán cổ phần) sẽ được nộp về quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp của Tập đoàn, Tổng công ty trong trường hợp cổ phần hóa doanh nghiệp thành viên, công ty con hoặc đơn vị hạch toán phụ thuộc Tập đoàn, Tổng công ty hoặc nộp về quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước trong trường hợp cổ phần hóa toàn bộ Tập đoàn, Tổng công ty.

Số tiền trên sẽ được Tập đoàn, Tổng công ty dùng vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên, bộ phận doanh nghiệp trực thuộc thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu (bao gồm doanh nghiệp thực hiện sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa, giao, bán, chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu…) hoặc bổ sung vốn điều lệ (trước đây số tiền này được nộp vào kho bạc, khi doanh nghiệp cần vay thì làm hồ sơ xin). Điểm nổi bật này đáng được ghi nhận bởi lẽ tiền thu từ bán cổ phần lần đầu (IPO) của các doanh nghiệp “đại gia” có khi lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng, đủ sức để đầu tư vào các dự án lớn như điện, cầu đường..

Điểm đột phá thứ tư của Nghị định 109 là Thủ tướng Chính Phủ ủy quyền cho Hội đồng quản trị các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên, bộ phận doanh nghiệp trực thuộc,… thay vì phải trình lên bộ quản lý ngành như trước đây. Quy định này sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa.

Tóm lại, Nghị định 109 ra đời sẽ thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, đưa cổ phần hóa về đúng mục tiêu ý nghĩa thiết thực của nó, hạn chế tình trạng thất thoát tài sản nhà nước trong quá trình định giá doanh nghiệp cổ phần.

(Nguồn: Icon)

NHÌN LẠI CÔNG TÁC BÁN TÀI SẢN ĐẤU GIÁ NĂM 2007: MÔI TRƯỜNG VẪN CHƯA ỔN ĐỊNH

BÌNH AN

Nhìn vào kết quả bán đấu giá tài sản của các địa phương cho thấy giá trị tài sản năm sau luôn cao hơn năm trước, tuy nhiên lĩnh vực này vẫn tiềm tàng nguy cơ mất ổn định do hiện nay đang tồn tại nhiều cơ quan cùng thực hiện một chức năng. Bên cạnh đó là bất cập của những quy định pháp luật hiện hành.

Tài sản nào “ngon” không đến tay đấu giá?

Mặc dù hiện nay theo quy định của pháp luật, mỗi địa phương chỉ có một Trung tâm bán đấu giá tài sản, và việc tịch thu các phương tiện vi phạm hành chính có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên buộc phải chuyển giao cho Trung tâm đấu giá, tuy nhiên tại nhiều địa phương vẫn tồn tại tình trạng mạnh ai nấy bán. Điển hình là ở Hà Tĩnh, giám đốc Sở Tư pháp Phan Duy Phong bức xúc: hiện nay trên địa bàn tỉnh có nhiều đơn vị cùng thực hiện chức năng bán đấu giá, đó là Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp và Trung tâm dịch vụ tài chính công thuộc Sở Tài chính. Đã nhiều lần chúng tôi đề nghị bỏ chức năng bán đấu giá của Trung tâm dịch vụ tài chính công theo đúng tinh thần các văn bản của Chính phủ nhưng đến nay chưa được giải quyết.

Nhiều tỉnh đang trong tình trạng tương tự như Hà Tĩnh. Tài sản mà các Trung tâm bán chủ yếu vẫn là tài sản của Thi hành án (chiếm đến 70-80%). Các nguồn khác không đáng kể, có chăng đến tay đấu giá chỉ là những tài sản khó bán, “xương xẩu”. Thậm chí, để “lách” luật nhiều ngành khi tịch thu phương tiện vi phạm hành chính đã xé lẻ thành các lô hàng có giá trị dưới 10 triệu để tự bán mà không chuyển cho Trung tâm đấu giá. Hậu quả là gì? những cuộc bán “âm thầm” chắc chắn sẽ làm thất thoát cho ngân sách nhà nước và không có cách gì kiểm soát được.

Vấn đề nói trên rõ ràng không phải là bế tắc, vì khoảng 5 năm trước đây, việc bán đấu giá tài sản do nhiều cơ quan cùng thực hiện. Tuy nhiên, sau đó thì việc này đã được chấn chỉnh bằng cách thu chức năng về một mối cho các Trung tâm bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp. Hải Dương là một ví dụ. Bàn giao công việc, Trung tâm dịch vụ tài chính công còn chuyển luôn cả con người sang cho Trung tâm đấu giá. Thậm chí các tài sản dưới 10 triệu đồng các ngành cũng tin tưởng ký hợp đồng với Trung tâm bởi đơn giản vì họ muốn tài sản của mình được bán một cách chuyên nghiệp, với giá cao, làm lợi cho ngân sách nhà nước. Hải Dương, Yên Bái…là những tỉnh còn thực hiện cả việc bán đấu giá quyền sử dụng đất.

Để giải quyết việc “ngành ngành đều bán đấu giá”, theo một Giám đốc Sở Tư pháp thì UBND tỉnh cần thể hiện rõ thái độ, có biện pháp mạnh với những đơn vị cố tình vi phạm. Tuy nhiên, làm được việc này thì trước tiên nhận thức phải thông suốt.

Xã hội hoá đến đâu?

Chủ trương xã hội hoá hoạt động bán đấu giá tài sản thể hiện rất rõ trong Nghị định 05 cho phép thành lập các doanh nghiệp đấu giá. Trên thực tế tại nhiều địa phương như Hà Nội., TP Hồ Chí Minh…các doanh nghiệp đấu giá mọc lên ngày càng nhiều. Tuy nhiên, do mới thành lập nên nhiều doanh nghiệp không có đủ đấu giá viên (bởi Nghị định 05 quy định chỉ cần có một đấu giá viên là được thành lập doanh nghiệp bán đấu giá), nên họ phải thuê của các Trung tâm đấu giá. Điều này dẫn đến chuyện các đấu giá viên đi “chạy sô”, và giá cả thì bị thả nổi.

Các quy định về bổ nhiệm đấu giá viên hiện nay nhiều ý kiến cho rằng quá dễ dàng. Theo Nghị định 05 bên cạnh các tiêu chuẩn về đạo đức, năng lực hành vi dân sự..thì chỉ cần bằng tốt nghiệp ĐH cùng với 2 năm công tác theo ngành học! Theo ông Nguyễn Đại Dân, Giám đốc Trung tâm bán đấu giá tài sản Hải Dương thì quy định rất dễ dẫn đến tình trạng cấp thẻ đấu giá viên một cách tràn lan, không thực chất. ông Dân đề nghị: phải quy định ít nhất phải 5 năm mới được bổ nhiệm đấu giá viên. Còn theo ông Phạm Văn Hoa- Giám đốc Trung tâm đấu giá tài sản Nghệ An thì nên bổ sung quy định, muốn trở thành đấu giá viên phải qua một lớp đào tạo từ khoảng 3 đến 6 tháng, giống như đào tạo chấp hành viên, luật sư hay công chứng viên…

Được biết trong năm 2008 này, Bộ Tư pháp có kế hoạch báo cáo Chỉnh phủ về việc sửa đổi Nghị định 05. Việc rà soát, hệ thống hoá các văn bản liên quan đến hoạt động bán đấu giá cũng sẽ được tiến hành đồng thời trong quá trình sửa đổi Nghị định. Tuy nhiên, theo nhiều địa phương, việc trước mắt là Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính nên ngồi lại để thống nhất giao cho một đầu mối thực hiện việc bán đấu giá tài sản theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để sớm ổn định lại môi trường đấu giá sao cho hiệu quả.

————————————————————————-

Tiêu chuẩn đấu giá viên theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Nghị định 05/CP là công dân thường trú tại Việt Nam có bằng tốt nghiệp ĐH và đã qua thực tế công tác theo ngành học từ 2 năm trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt; và không phải là người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị quản chế hành chính.

Nhiều ý kiến cho rằng, quy định nói trên là quá dễ dàng, có thể dẫn đến tình trạng cấp thẻ đấu giá viên tràn lan, không thực chất.

Bình An – MOJ.GOV.VN

 

LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN – NHÌN TỪ GIÁC ĐỘ LÝ LUẬN

 HỒ QUANG HUY

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy sự vận hành của thị trường bất động sản như một trong những “kênh” thu hút vốn đầu tư hiệu quả, an toàn, dự án Luật Đăng ký bất động sản có ý nghĩa quan trọng nhằm xác lập khung pháp lý cho thị trường bất động sản ở nước ta vận động và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp đời sống kinh tế – quốc tế. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, từ giác độ lý luận, chúng tôi cho rằng, dự thảo Luật Đăng ký bất động sản cần thể hiện rõ những yêu cầu chủ yếu sau đây:

1. Đăng ký bất động sản vừa đảm bảo mục tiêu quản lý hiệu quả thị trường bất động sản, vừa thúc đẩy các giao dịch về bất động sản được thực hiện an toàn, minh bạch và công khai

          Phải khẳng định rằng, trong thời gian qua, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu trên. Theo chúng tôi, có nhiều nguyên nhân để lý giải, song trước hết và chủ yếu là do chúng ta chưa thực sự tôn trọng các quy luật khách quan của nền kinh tế khi ban hành và thực thi các chính sách, pháp luật về bất động sản nói chung và đăng ký bất động sản nói riêng. Các quy định về đăng ký bất động sản hiện tập trung chủ yếu vào mục tiêu quản lý nhà nước, chưa chú trọng đúng mức đến tính chất và quy luật vận động của các quan hệ xã hội trong thị trường bất động sản. Hậu quả là số lượng giao dịch về bất động sản diễn ra trên thị trường “ngầm” ngày càng tăng. Bằng chính sách và pháp luật, nhà nước đã rất khó khăn để có thể kiểm soát, thúc đẩy thị trường bất động sản vận động và phát triển theo đúng định hướng đã đề ra. Do vậy, thị trường bất động sản hoạt động thiếu mạnh mẽ, thiếu sức hút, nhiều nguồn lực không được huy động phục vụ cho nền kinh tế…

          Khắc phục hạn chế trên, các quy định của Luật Đăng ký bất động sản cần tôn trọng và bảo vệ sự thoả thuận giữa các chủ thể tham gia giao dịch trong khuôn khổ pháp luật. Đăng ký bất động sản vừa phải đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, vừa phải mang lại những lợi ích thiết thực, trực tiếp và hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Cơ chế đăng ký phải góp phần tăng số lượng các giao dịch trên thị trường bất động sản. Đồng thời, tính minh bạch, công khai và các lợi ích liên quan đến bất động sản được nhà nước ghi nhận và có cơ chế bảo vệ hiệu quả. Khi đó, đăng ký bất động sản không đơn thuần chỉ nhằm đạt mục tiêu đề ra trong quản lý nhà nước, mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu để các tổ chức, cá nhân bảo vệ lợi ích của chính mình khi xác lập và thực hiện các giao dịch trên thị trường bất động sản.

2. Đăng ký bất động sản phải hướng tới mục tiêu công khai, minh bạch hoá tình trạng pháp lý của bất động sản

          Đây là một trong những mục tiêu quan trọng, chi phối các quy định  pháp luật về đăng ký bất động sản. Những biến động về các quyền liên quan đến bất động sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất) phải được giải quyết thông qua cơ chế đăng ký. Hiện nay, ngoài quyền sử dụng đất và nhà ở tại đô thị bước đầu đã có các quy phạm điều chỉnh, các loại bất động sản khác như: công trình xây dựng không phải là nhà ở tại đô thị (nhà ở nông thôn, khách sạn, nhà xưởng, nhà hàng…), cây rừng… vẫn chưa có các quy phạm điều chỉnh trực tiếp và cụ thể về đăng ký khi chủ sở hữu xác lập và thực hiện các giao dịch. Thực tế này không chỉ gây khó khăn cho công tác hoạch định, ban hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà còn dẫn đến sự bất ổn trong các giao dịch trên thị trường bất động sản do yếu tố công khai, minh bạch và an toàn không được đảm bảo.

          Song, các quy định về đăng ký quyền sử dụng đất trong các văn bản pháp luật về đất đai đã bộc lộ nhiều bất cấp do khả năng, mục tiêu công khai hoá một cách chính xác, kịp thời tình trạng pháp lý của bất động sản bị hạn chế. Nguyên nhân do mô hình tổ chức cơ quan quản lý về đất đai phân tán theo phạm vi địa giới hành chính – lãnh thổ, theo loại bất động sản và theo tư cách chủ thể của người sử dụng đất, người sở hữu tài sản gắn liền với đất. Hơn nữa, vì quá chú trọng đến mục tiêu và nội dung quản lý nhà nước về đất đai nên việc công khai hoá, cung cấp thông tin về bất động sản đã không đạt được kết quả như mong muốn.  

          Về nguyên tắc, thông qua cơ chế đăng ký bất động sản, Nhà nước phải xác định rõ “ai” là người sử dụng đất, người sở hữu tài sản gắn liền với đất, phạm vi quyền năng và những lợi ích liên quan đến bất động sản của các chủ thể này, qua đó giúp tra cứu, cung cấp thông tin về bất động sản được thực hiện kịp thời, chính xác. Bên cạnh đó, đăng ký bất động sản là một cơ chế hữu hiệu nhằm xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các lợi ích được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và làm phát sinh hiệu lực đối kháng giữa chủ thể tham gia giao dịch với bên thứ ba. Có như vậy, việc đăng ký bất động sản mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch trên thị trường.

          Đây là mục tiêu chung của các nước khi xây dựng hệ thống đăng ký bất động sản. Do vậy, khi xây dựng Luật Đăng ký bất động sản, chúng ta phải xác định và đạt được mục tiêu này. Có như vậy, Luật đăng ký bất động sản mới khắc phục được những bất cập trong mô hình tổ chức, nguyên tắc hoạt động của hệ thống đăng ký bất động sản hiện nay. 

3. Luật Đăng ký bất động sản là kết quả của hoạt động pháp điển hoá các quy định hiện hành về đăng ký bất động sản

Nghiên cứu các quy định hiện hành, chúng tôi nhận thấy, việc đăng ký bất động sản được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, ngoài quyền sử dụng đất và nhà ở tại đô thị bước đầu đã có những quy định về đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu, các bất động sản khác (như: nhà xưởng, khách sạn, nhà hàng, nhà ở khu vực nông thôn, rừng…) hiện vẫn chưa có khung pháp lý điều chỉnh việc đăng ký quyền sở hữu.

Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn mặc dù đã điều chỉnh về đăng ký quyền sử dụng đất (bao gồm đăng ký lần đầu và đăng ký biến động), song, các quy định đó vẫn chưa đảm bảo mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản vì phạm vi các quyền, giao dịch về đất đai được quy định trong Luật Đất đai chưa đầy đủ so với thực tế, chưa phù hợp với pháp luật dân sự, cụ thể như: chưa có quy định về quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; quyền bảo lưu quyền sử dụng, quyền sở hữu bất động sản. Mặt khác, các quy định của Luật Đất đai mang nặng tính hành chính khi điều chỉnh các giao dịch về quyền sử dụng đất. Do vậy, đã dẫn đến những khó khăn cho các tổ chức, cá nhân khi xác lập và thực hiện các quyền, các giao dịch về quyền sử dụng đất. Thực tế đã chứng minh, những hạn chế của Luật Đất đai là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thị trường quyền sử dụng đất “chính thức” thì hoạt động kém hiệu quả, trong khi các giao dịch trên thị trường “ngầm” lại khá phổ biến. Mặt khác, quy định về đăng ký quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai chưa đáp ứng được mục tiêu đảm bảo tính minh bạch, công khai và kịp thời về tình trạng pháp lý của bất động sản, ví dụ như: quyền sử dụng đất hiện bị kê biên hoặc đang dùng để bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ hoặc đang có tranh chấp về diện tích, về chủ sử dụng… Xét về bản chất, khi tham gia các giao dịch trên thị trường bất động sản thì đất đai và các bất động sản gắn liền với đất (nhà, công trình xây dựng khác và rừng) thường có mối liên hệ mật thiết. Trong khi đó, Đảng ta chủ trương xây dựng thị trường quyền sử dụng đất không tách rời với thị trường bất động sản. Với những lý do trên, việc đăng ký bất động sản cần đảm bảo tính thống nhất, tập trung, tránh sự phân tán về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký. Do vậy, đăng ký quyền sử dụng đất cần được điều chỉnh bởi Luật Đăng ký bất động sản. Để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai sẽ bị bãi bỏ. Luật Đất đai chỉ quy định những nội dung quản lý nhà nước về đất đai, về chế độ pháp lý đối với đất đai và về phạm vi các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất gắn liền với từng loại đất. Đây cũng chính là kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xây dựng Luật Đất đai. 

Với những lý do trên, bất động sản được đăng ký theo Luật Đăng ký bất động sản bao gồm đất đai và các bất động sản gắn liền với đất (công trình xây dựng, rừng). Để đảm bảo tính thống nhất, Luật Đăng ký bất động sản cần phải pháp điển hoá các quy định hiện hành về đăng ký bất động sản.

4. Đơn giản hoá trình tự, thủ tục đăng ký trong các quy định của Luật Đăng ký bất động sản

          Theo chúng tôi, một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống đăng ký bất động sản là cần đơn giản hoá về trình tự, thủ tục đăng ký. Xét về bản chất, đăng ký bất động sản mang đậm dấu ấn của hoạt động tư pháp. Theo đó, Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền năng của người sử dụng đất, của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và đảm bảo cho các giao dịch về bất động sản vận động theo quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, ngăn chặn sự xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác trong xã hội. Khi xây dựng Luật Đăng ký bất động sản, mục tiêu đơn giản hoá trình tự, thủ tục và xoá bỏ cơ chế “xin – cho” mang tính hành chính trong đăng ký bất động sản cần được quán triệt sâu sắc.

          Để thực hiện mục tiêu này, trước hết, chúng ta cần rà soát để loại bỏ những quy định hiện đang cản trở sự phát triển của hệ thống đăng ký. Đồng thời, về mặt tổ chức, Nhà nước cần tách hoạt động đăng ký các quyền, các hợp đồng về bất động sản khỏi hoạt động quản lý nhà nước của các Bộ, ngành kinh tế – kỹ thuật. Theo đó, hệ thống cơ quan đăng ký được tổ chức theo mô hình tập trung, thống nhất và thực hiện hoạt động đăng ký theo tính chất dịch vụ công, tách biệt với hoạt động mang tính quản lý hành chính nhà nước. Thẩm quyền giữa các cơ quan đăng ký bất động sản được xác định theo thẩm quyền địa hạt. Để phục vụ hoạt động đăng ký, Nhà nước cần đầu tư thiết bị kỹ thuật hiện đại, hướng đến mục tiêu vi tính hoá, nối mạng hệ thống cơ quan đăng ký trong phạm vi cả nước. Đây là xu hướng phổ biến của các nước trong khu vực và trên thế giới về xây dựng và phát triển của hệ thống đăng ký bất động sản.

          Đơn giản hoá trình tự, thủ tục đăng ký không chỉ giúp cơ quan đăng ký hoạt động hiệu quả, linh hoạt, đáp ứng tốt những đòi hỏi của thực tiễn mà còn thúc đẩy các tổ chức, cá nhân tích cực tiến hành đăng ký nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

5. Cần có sự “đột phá” trong các quy định của Luật Đăng ký bất động sản

Pháp luật về đăng ký bất động sản giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển như: Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc… Song, ở nước ta, đăng ký bất động sản hiện khá mới mẻ, chưa có sự thống nhất trong lý luận và thực tiễn. Do vậy, những khó khăn trong quá trình soạn thảo Luật Đăng ký bất động sản là điều không tránh khỏi. Để khắc phục khó khăn này, chúng ta cần nghiên cứu pháp luật của các nước có hệ thống đăng ký bất động sản phát triển và cần cân nhắc, đánh giá để đảm bảo cho các quy định của Luật Đăng ký bất động sản phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam.

Tinh thần đó cần được thể hiện trong những nội dung cơ bản của Luật Đăng ký bất động sản như: phạm vi các loại bất động sản được đăng ký, phạm vi các quyền, các hợp đồng về bất động sản thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật; mô hình tổ chức và nguyên tắc hoạt động của cơ quan đăng ký bất động sản; trình tự, thủ tục đăng ký…

          Theo chúng tôi, một trong những nội dung quan trọng cần có sự “đột phá” là mô hình tổ chức của cơ quan đăng ký bất động sản. Thực tế cho thấy, chính mô hình cơ quan đăng ký bất động sản hiện là một trong những “rào cản” đối với mục tiêu xây dựng hệ thống đăng ký hiệu quả, khoa học và hiện đại tại Việt Nam. Khi xây dựng mô hình cơ quan đăng ký các quyền, các hợp đồng về bất động sản, Luật Đăng ký bất động sản cần loại bỏ “rào cản” này và xác lập cơ chế phối hợp hiệu quả, linh hoạt giữa cơ quan đăng ký bất động sản với cơ quan quản lý nhà nước về bất động sản (cơ quan quản lý về đất đai, về xây dựng và cơ quan quản lý rừng). Mô hình cơ quan đăng ký bất động sản được tổ chức tập trung, thống nhất là xu hướng chung, phổ biến hiện nay trên thế giới. Luật Đăng ký bất động sản một số nước mà chúng tôi có điều kiện tham khảo như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức đã tách cơ quan đăng ký bất động sản khỏi hệ thống cơ quan địa chính, xây dựng. Đây là kinh nghiệm mà chúng ta có thể tham khảo trong quá trình xây dựng Luật Đăng ký bất động sản. Tuy cách thức và phương pháp tổ chức mô hình cơ quan đăng ký bất động sản phải được xác định dựa trên cơ sở điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam, song, để khắc phục những bất cấp hiện nay của hệ thống cơ quan đăng ký bất động sản, chúng ta cần có những bước đột phá nhằm hướng tới mục tiêu phục vụ tốt nhất lợi ích của người dân và tăng nguồn lợi cho nhà nước.  

Muốn phát huy tối đa vai trò và hiệu lực của Luật Đăng ký bất động sản, chúng ta cần áp dụng tổng thể các biện pháp, trong đó hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất pháp luật về nội dung và thủ tục, sao cho các quyền của cá nhân và tổ chức không bị các quy định pháp luật về thủ tục hạn chế đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Xây dựng Luật Đăng ký bất động sản chính là nhằm hướng đến mục tiêu hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy sự vận động và phát triển của thị trường bất động sản tại Việt Nam.

Hồ Quang Huy – MOJ.GOV.VN

Hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu của bên bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ chính thức được đăng ký, cung cấp thông tin từ ngày 15/7/2007

I. Căn cứ pháp lý

1. Tên và số của văn bản: Thông tư số số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp.

2. Thời điểm có hiệu lực: Từ ngày 15/7/2007 (Thông tư được đăng Công báo ngày 30/6/2007).

3. Thông tư này bãi bỏ Thông tư số 09/2005/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng cho thuê tài chính và việc quản lý nhà nước về đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính.

II. Tóm tắt nội dung chủ yếu

1. Mục đích ban hành Thông tư

– Hướng dẫn Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Cụ thể là tại Điều 13 và Điều 22 của Nghị định có quy định thứ tự ưu tiên giữa bên nhận bảo đảm với bên bán tài sản trả chậm, trả dần, bên thuê tài sản hoặc bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ đối với tài sản mua trả chậm, trả dần, tài sản thuê hoặc quyền đòi nợ được chuyển giao căn cứ vào thời điểm đăng ký các hợp đồng nêu trên.

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc người được bảo lưu quyền sở hữu trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ.

– Công khai hoá thông tin về tình trạng pháp lý của động sản (đối tượng không thuộc diện đăng ký quyền sở hữu) nhằm giúp các chủ nợ trong tương lai tìm hiểu thông tin về tài sản mà bên bảo đảm đang chiếm hữu, sử dụng trước khi xác lập, thực hiện các giao dịch bảo đảm. Mọi tổ chức, cá nhân khác cũng có thể tìm hiểu từ nguồn thông tin này trước khi xác lập các hợp đồng, giao dịch dân sự liên quan đến tài sản là động sản.

2. Phạm vi, đối tượng áp dụng

– Việc đăng ký theo quy định tại Thông tư này được áp dụng đối với các bên ký kết, thực hiện hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ theo quy định của pháp luật Việt Nam (sau đây được gọi chung là “Hợp đồng”). Tài sản là đối tượng của các hợp đồng này chỉ bao gồm các động sản theo quy định của pháp luật dân sự.

– Mọi tổ chức, cá nhân muốn xác định tình trạng pháp lý của động sản đều có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của Thông tư này.

3. Nội dung chủ yếu

Thông tư quy định về các vấn đề cơ bản sau đây:

– Cơ quan có thẩm quyền đăng ký các hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ.

– Những vấn đề pháp lý liên quan đến việc đăng ký “Hợp đồng” như thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký; người yêu cầu đăng ký “Hợp đồng”; thời điểm đăng ký “Hợp đồng”, …;

– Các loại việc đăng ký liên quan đến “Hợp đồng”, bao gồm đăng ký lần đầu, đăng ký thay đổi, sửa chữa sai sót, xóa đăng ký; hồ sơ, trình tự và thủ tục thực hiện các loại việc đăng ký liên quan đến “Hợp đồng”;

– Việc cung cấp thông tin về “Hợp đồng” đã đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm.

Ngoài ra, ban hành kèm theo Thông tư là các biểu mẫu biểu mẫu sử dụng trong việc đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng tại các Trung tâm Đăng ký. Tại mỗi biểu mẫu có hướng dẫn chi tiết và cụ thể về cách thức kê khai các thông tin trên đơn yêu cầu đăng ký.

III. Một số vấn đề cụ thể

1. Đối tượng đăng ký (khoản 1 Mục I)

Theo hướng dẫn tại Thông tư, thì đối tượng đăng ký bao gồm các hợp đồng sau đây:

a) Hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu đối với máy móc, thiết bị hoặc động sản khác không đăng ký quyền sở hữu nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh mà bên mua là doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký kinh doanh;

b) Hợp đồng thuê máy móc, thiết bị hoặc động sản khác không đăng ký quyền sở hữu có thời hạn từ một năm trở lên nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh mà bên thuê là doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký kinh doanh, bao gồm: hợp đồng có thời hạn thuê tài sản từ một năm trở lên, hợp đồng có thời hạn thuê tài sản dưới một năm, nhưng các bên giao kết hợp đồng thỏa thuận về việc gia hạn và tổng thời hạn thuê (bao gồm cả thời hạn gia hạn) từ một năm trở lên;

c) Hợp đồng cho thuê tài chính;

d) Hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp đồng mua bán, cho thuê tài sản hoặc từ các căn cứ pháp lý khác, bao gồm cả quyền đòi nợ hình thành trong tương lai.

2. Thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin (khoản 2 Mục I)

Các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản (sau đây gọi là Trung tâm Đăng ký) của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp là cơ quan có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về các “Hợp đồng”.

Về thẩm quyền theo địa giới hành chính, cả ba Trung tâm Đăng ký hiện nay tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin như nhau trong phạm vi cả nước, không bị giới hạn trong phạm vi tỉnh, thành phố nơi Trung tâm đặt trụ sở.

3. Trình tự, thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về các loại hợp đồng

Việc đăng ký, cung cấp thông tin được thực hiện theo các bước như sau:

– Người yêu cầu đăng ký nộp Đơn yêu cầu và lệ phí, phí theo một trong các phương thức nêu tại khoản 13 mục I của Thông tư này.

– Sau khi nhận đơn yêu cầu đăng ký, Đăng ký viên kiểm tra và ghi thời điểm nhận đơn (giờ, phút, ngày, tháng, năm), nếu đơn yêu cầu không thuộc một trong các trường hợp từ chối đăng ký, cung cấp thông tin. Trong trường hợp đơn được nộp trực tiếp tại Trung tâm Đăng ký thì Đăng ký viên cấp cho người yêu cầu giấy hẹn trả kết quả, trừ khi đơn yêu cầu được giải quyết ngay.

– Nếu có một trong các căn cứ từ chối đăng ký, cung cấp thông tin thì Đăng ký viên từ chối đăng ký, cung cấp thông tin và hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định. Việc từ chối đăng ký, cung cấp thông tin phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do từ chối. Trường hợp đơn được nộp trực tiếp tại Trung tâm Đăng ký, thì Đăng ký viên chỉ lập văn bản từ chối nếu có yêu cầu.

– Trong thời hạn giải quyết việc đăng ký, cung cấp thông tin, Đăng ký viên gửi cho người yêu cầu đăng ký bản sao đơn có chứng nhận về việc đăng ký hợp đồng, hoặc kết quả tìm kiếm thông tin.

4. Phương thức đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin (Mục VII)

– Nộp đơn trực tiếp tại Trung tâm Đăng ký;

– Gửi đơn qua đường bưu điện;

– Gửi đơn qua fax. Việc gửi đơn qua fax chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân là khách hàng thường xuyên của Trung tâm Đăng ký.

Đối với đơn yêu cầu đăng ký có nội dung tương đối dài thì đồng thời với việc gửi đơn theo các phương thức nêu trên, người yêu cầu đăng ký có thể gửi kèm theo bản ghi điện tử của đơn yêu cầu đăng ký đó.

5. Thời hạn giải quyết (khoản 14 Mục I)

Trung tâm Đăng ký có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký ngay sau khi nhận đơn hoặc trong ngày làm việc, nếu Trung tâm Đăng ký nhận được đơn sau ba (03) giờ chiều, thì việc giải quyết đăng ký được hoàn thành trong ngày làm việc tiếp theo. Trong trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết việc đăng ký thì thời hạn giải quyết cũng không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu đăng ký hợp lệ.

6. Thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký (khoản 5 Mục I)

Thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký hợp đồng được tính từ thời điểm đăng ký đến thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc đăng ký được kê khai trong đơn yêu cầu đăng ký. Trong trường hợp yêu cầu xóa đăng ký trước thời hạn đã kê khai thì thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc đăng ký là thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận được đơn yêu cầu xóa đăng ký hợp lệ.

7. Lệ phí đăng ký, phí cung cấp thông tin (khoản 15 Mục I)

Lệ phí đăng ký, phí cung cấp thông tin về các loại hợp đồng được tính theo mức cố định, tuỳ thuộc vào loại việc đăng ký, cung cấp thông tin (quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 10/01/2007 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp). Lệ phí đăng ký, phí cung cấp thông tin không phụ thuộc vào giá trị của hợp đồng hay tài sản.

8. Về cung cấp thông tin (Mục VII)

Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về các hợp đồng đã được đăng ký và lưu giữ trong Hệ thống dữ liệu của Trung tâm Đăng ký dưới các hình thức sau:

a) Danh mục các hợp đồng (theo tên của bên mua, bên thuê tài sản, bên thuê tài chính, bên chuyển giao quyền đòi nợ): bao gồm thông tin về bên bán, bên cho thuê tài sản, bên cho thuê tài chính, bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ, thời điểm đăng ký hợp đồng, thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký trong các hợp đồng còn hiệu lực đăng ký tại thời điểm yêu cầu cung cấp thông tin (nếu có);

b) Văn bản tổng hợp thông tin về các hợp đồng (theo tên của bên mua, bên thuê tài sản, bên thuê tài chính, bên chuyển giao quyền đòi nợ hoặc số khung, số máy của phương tiện giao thông cơ giới): bao gồm các thông tin nêu tại điểm a khoản này và các lần sửa đổi, bổ sung, sửa chữa sai sót nội dung đã đăng ký (nếu có).

SOURCE: nrast.moj.gov.vn

KHỦNG HOẢNG THẾ CHẤP VÀ BÀI HỌC TỪ GOLDMAN

“Không phải tất cả những gì lấp lánh đều là vàng”, Goldman Sachs hẳn phải hiểu rất rõ câu thành ngữ này, bởi vì nhờ nó mà họ đã khôn ngoan thoát khỏi cơn khủng hoảng thế chấp đang lan rộng.

Cách đây một năm, khi hầu hết các ngân hàng đầu tư đang háo hức tiếp nhận tất cả những vụ cầm cố mà họ có thể đạt được thì ngược lại, Goldman Sachs đã lịch sự chối từ.

Theo tờ Thời báo New York, Goldman đã không chỉ ngừng việc dồn tiền vào cầm cố chứng khoán mà còn bắt đầu thanh lý các khoản thế chấp và mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro.

Tại sao Goldman Sachs có thể nhìn thấy những rủi ro khi không ai thấy được điều đó?

Trong một thị trường và một nền kinh tế đặc trưng bởi những sự hoa mỹ phi lý và được cổ vũ bởi tâm lý đám đông, tinh thần lãnh đạo của Goldman đã tạo điều kiện cho các tư tưởng trái chiều lên ngôi.

Bạn sẽ làm gì để không bị lạc vào các chiến dịch thiển cận khiến rất nhiều tổ chức tài chính rơi vào vực thẳm và đảm bảo rằng tất cả các ý kiến được biết đến trong phạm vi công ty. Hãy cùng xem xét các ý kiến phản hồi của các học giả trường Harvard giới thiệu để xem đó như một bước khởi đầu.

Ý kiến phản hồi

1. Chỉ có Goldman thôi sao?

Thế còn Hiệp hội Quốc gia tài trợ bất động sản (Federal National Mortgage Association) và Công ty Quốc Gia tài trợ địa ốc (Federal Home Loan Mortgage Corporation) thì là cái gì?

Michel

2. Phản ứng của Goldman với cơn khủng hoảng thế chấp là một bằng chứng xác đáng cho thấy tình hình đó không có gì là ngạc nhiên. Khi được hỏi về ảnh hưởng của điều này trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 7 năm 2007, Charles Prince – người mà sau đó trở thành Giám đốc Điều hành của Citigroup nói: “Khi âm nhạc ngừng lại, mọi thứ trở nên phức tạp. Nhưng ngay khi nhạc nổi lên, bạn đứng dậy và nhảy. Chúng ta vẫn đang nhảy.”

Citi và một số ngân hàng lớn khác đã “nhảy” theo cách của họ, giống như con lem-mut[6] trên vách đá. Goldman thì trái lại, họ đối diện với thực tại và giải quyết nó. Cần lưu ý rằng cả Citi và Goldman đã tiên đoán được điều này, nhưng chỉ Goldman có khả năng phản ứng hiệu quả. Đây là nhờ sự lãnh đạo táo bạo và đặc điểm văn hóa không a-dua.

Michael Watkins

3. Thế còn các nguyên tắc của Goldman thì sao? Họ đã giữ một thị phần quan trọng trong những sản phẩm này. Họ đã đi tiên phong trong cuộc chơi, nhưng nhiều khách hàng của họ đã bị đẩy vào tình cảnh khó khăn.

Liệu họ có phải là những ngân hàng đầu tư có đạo đức hay chỉ là kẻ lợi dụng thông tin đa chiều trong những thị trường không hoàn hảo? Lẽ nào chúng ta lại hài lòng với cái gọi là sự biết trước?

T S Toh

4. Cho dù Goldman Sachs đã gây khó khăn cho khách hàng, nhưng họ đã cứu được các cổ đông.

Vậy còn Cục Dự trữ Liên bang[7] đóng vai trò gì trong tất cả chuyện này? Kể từ khi Goldman Sachs và Citi nhận ra điều này và đảm nhiệm những vị trí đối lập nhau, có chắc Cục Dự trữ Liên bang cũng nằm trong cuộc? Chẳng phải cuộc chơi bắt đầu dưới sự giám sát của Greenspan hay sao? Và có phải chúng ta đang sa vào một cuộc phê bình vô bổ?

MK Khoo

5. Cả Goldman Sachs và Citi đã xác định được may rủi của việc đầu tư vào cầm cố chứng khoán. Đầu ra và đầu vào của các đầu tư này đang được thảo luận do ảnh hưởng của nó lên cả hai tổ chức.

Ở một mức đơn giản hơn, các công ty này đóng vai trò như những nhà đầu tư riêng lẻ cố gắng tận dụng cơ hội. Một nhà đầu tư thường bảo thủ hơn so với những người khác. Có lẽ đó chính là sự khác biệt về bản chất: Các bản phân tích có tính kết luận (ví dụ như văn hóa tổ chức hoặc các thông số điều hành) đã quyết định xem ai ra đi và ai ở lại. Điều này giống như cách làm của một số nhà đầu tư riêng lẻ tại thị trường chứng khoán – những kẻ muốn đợi một khoản lời lớn hơn từ đầu tư cuối cùng lại mất hết cả gốc lẫn lãi.

Nếu chúng ta hy vọng cả hai công ty trở thành người chiến thắng, vậy thì ai sẽ mất tiền đây? Một công ty tương tự nào đó ư? Dù sao thì vẫn luôn tồn tại tâm lý đám đông và chẳng mấy công ty giữ được tính kỷ luật trong đầu tư vào cầm cố chứng khoán.

Một độc giả giấu tên

6. Vàng của Goldman có lẽ đã giúp họ hiểu rằng “không phải cái gì lấp lánh cũng là vàng”.

Việc Goldman có thể đánh giá được khả năng bị khủng hoảng của tình trạng vay thế chấp và đã thực hiện các biện pháp hợp lý là một ví dụ hay cho thấy Goldman đã có tiến hành các phân tích xu hướng phổ biến và họ còn có thể cung cấp số liệu cho các vấn đề quan trọng khác (cả chủ quan lẫn khách quan) trong toàn bộ hoạt động kinh doanh.

Sẽ rất hữu ích nếu như Goldman có thể công bố những công thức kinh doanh mà họ đã sử dụng để dự đoán cuộc khủng hoảng này sẽ xảy ra khi nào và ra sao và cả độ chính xác của phỏng đoán của họ trong mối quan hệ với các khủng hoảng thực tế.

Đã đến lúc các tổ chức tài chính chú ý học bài học này và tiến hành các nghiên cứu có tính phê phán hơn về môi trường kinh doanh. Điều quan trọng là họ phải hiểu được là không phải cái gì lấp lánh cũng là vàng.

George Ik. Agu

7. Tôi cho rằng Goldman đã hiểu được một chu trình quan trọng trong lĩnh vực bất động sản và sử dụng sự nhậy bén kinh doanh sắc sảo trong việc điều chỉnh đầu tư. Một vài dấu hiệu đã được ghi nhận, báo hiệu việc bán các khoản đầu tư và bảo hộ số còn lại.

Katherin Stratton

8. Mặc dù Goldman đã chuyển đổi thành doanh nghiệp nhà nước một vài năm trước, tôi nghĩ rằng nền văn hóa cá thể đã bắt rễ ở công ty – với mối lo ngại rằng sự giàu có cá nhân đang bị de dọa – đã đóng góp vào những khuynh hướng quan trọng trong thị trường này

Ở Đức, hai ngân hàng lớn đã phải cầu cứu vì những đầu tư quá lối của họ vào thị trường ABS[A1] của Mỹ. Trong cả hai công ty này, ban lãnh đạo chưa bao giờ lo ngại những hậu quả tài chính của việc đánh giá sai của họ. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với Merrill và Citibank của Mỹ.

Tôi nghĩ chúng ta sẽ tiếp tục thấy những kết cục tương tự trong lĩnh vực này – và cả các ngành công nghiệp – trừ phi ban lãnh đạo không chỉ tính đến khả năng sinh lãi mà còn cả các rủi ro.

Jan Hagen

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

LỆ TỤC LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN

PHƯƠNG YẾN

Trong pháp luật phong kiến cũng như lệ tục của làng xã, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên vị trí và vai trò của người phụ nữ Trong xã hội rất mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình đẳng so với nam giới. Đạo tam tòng đã buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt vô hình.

Trong pháp luật của Nhà nước phong kiến (được các làng tuân thủ thành lệ tục), người phụ nữ không phải là đại diện chính thức của quyền thừa kế. Ở hầu hết các làng, khi bố mẹ mất, những người con gái đã xuất giá không được chia và không có quyền đòi hỏi chia tài sản. Đối với ruộng đất hương hoả (và cả nhà thờ họ), nếu ngành trưởng tuyệt tự thì phải chuyển cho con trai của ngành thứ quản lý, còn bản thân những người con gái của ngành trưởng không có quyền sử dụng số tài sản đó.

Sự bất bình đẳng đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến thể hiện rõ nét trong việc hôn nhân và những phong tục về hôn nhân. Con cái nói chung và người con gái nói riêng không có quyền tự do đối với việc hôn nhân của mình mà hoàn toàn do cha mẹ sắp đặt: cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Tình trạng đa thê được pháp luật và tập tục công nhận: Trai khôn năm, bảy vợ – Gái chính chuyên chỉ một chồng. Không phải chỉ khi vợ, chồng không có con hoặc không có con trai, người vợ vẫn phải chấp nhận để chồng có thêm vợ lẽ hoặc nàng hầu. Tục đa thê đã gây nên rất nhiều khổ đau cho người phụ nữ trong xã hội. Trong quan hệ hôn nhân, xã hội cũng ít chấp nhận việc ly dị, nhất là khi phụ nữ là người chủ động. Dư luận xã hội luôn có ác cảm đối với những người phụ nữ gặp phải điều bất hạnh này trong hôn nhân, dù trong nhiều trường hợp họ không phải là người có lỗi. Nhiều người phụ nữ đã phải cam chịu một cuộc hôn nhân không có hạnh phúc trong suốt cả cuộc đời. Lệ tục làng xã còn cư xử đầy nghiệt ngã đối với những phụ nữ không chồng mà chửa, ngoài ra còn tước đi quyền làm mẹ chính đáng của nhiều phụ nữ không may mắn có được một mái ấm gia đình, buộc họ phải suốt đời sống trong cảnh cô đơn. Nhiều người đã phải bỏ làng ra đi để giữ lấy thanh danh của gia đình, dòng họ.

Có thể nhận thấy rằng, trong pháp luật phong kiến cũng như lệ tục của làng xã, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên vị trí và vai trò của người phụ nữ trong xã hội rất mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình đẳng so với nam giới. Đạo tam tòng (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) đã buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt vô hình.

Tìm hiểu các quy định của pháp luật xưa giúp chúng ta hiểu và trân trọng hơn quyền bình đẳng giới đã được Nhà nước ta ghi nhận và thể chế hoá trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Phương Yến- HAIPHONG.GOV.VN