BÀI BIỆN HỘ CHO ÔNG CHÁNH ÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Giống như các chàng công tử quý phái thời La Mã cổ đại khi thấy những người thứ dân bị xét xử ở tòa, họ đã tình nguyện vào biện hộ không đòi chi phí; từ đó tạo nên nghề luật sư, và tiền trả cho luật sư được gọi là thù lao. Tôi không phải là quý tộc, ông Chánh án Tòa tối cao cũng chẳng phải là thứ dân; ông cũng chẳng khiến tôi làm; nhưng khi thấy ông bị Quốc hội chất vấn thì “máu nghề nghiệp” của tôi nổi lên và tôi xin nộp bản biện hộ này lên công luận để bênh vực cho ông. Vì thực sự là Ông Chánh án không hề nhờ tôi; nên tôi xin quý vị đang đọc giả vờ làm đại biểu để tôi có thể làm công việc của mình. Nếu Viện Kiểm sát có bản cáo trạng thì- là luật sư – tôi có bản biện minh trạng cho thân chủ của mình. Và nó như thế này.

Trong cuộc chất vấn, thân chủ chúng tôi đã được yêu cầu giải trình chín vấn đề: năm vấn đề liên quan đến nền tảng hệ thống tư pháp; bốn vấn đề mang tính vụ việc. Năm vấn đề đầu có thể rút lại còn ba là: bản án bị sửa và oan sai; dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết; duyệt án cùng tiền lệ của vụ Đồ Sơn. Cái gì là nền tảng thì sẽ lâu dài, từ xưa để lại và sau này vẫn còn. Cái gì là vụ việc thì sẽ ngắn, giải quyết xong thì hết. Ở đây tôi xin biện hộ cho thân chủ chúng tôi về các vấn đề có tính nền tảng còn xin để các vấn đề kia cho các đồng nghiệp khác.

1. Tổng quát

Đối với các vấn đề có tính chất là từ xưa để lại và sau này vẫn còn thì thân chủ chúng tôi mới tại chức trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Khi được quý vị tin tưởng và bổ nhiệm vào chức vụ hiện thời thì tình cảnh của thân chủ tôi giống như một người được cho vào ở một căn nhà xây đã lâu, về mỹ thuật thì nó rất đẹp, không nước nào có; nhưng về kỹ thuật thì thuộc loại tồi. Chính cái tính chất sau của nó mà nay khi nó bị mưa to gió lớn đánh vào, quý vị sốt ruột với thân chủ chúng tôi, chủ nhân căn nhà.

Với năm vấn đề mà quý vị đã nêu thì căn nhà kia giống như đang bị dột. Quả thật nó đang bị dột! Căn nhà bị dột thì thân chủ chúng tôi gánh chịu hậu quả ngay! Ấy là sự chất vấn của quý vị. Thế nhưng căn nhà kia không phải do thân chủ chúng tôi xây lên. Do đó, việc nó bị dột không phải lỗi của thân chủ chúng tôi. Từ quan niệm, kiểu thiết kế, đến lối xây dựng căn nhà đó, tất cả do những người trước để lại; mà những người trước ấy chính là các vị tiền nhiệm của quý vị. Họ đã thiết lập khi bỏ phiếu biểu quyết tán đồng, mà thường là 90% hay hơn. Căn nhà ấy đã được xây dựng với một nhiệt tình cách mạng; trong đó nhà nước nắm tất cả, và ban phát tất cả cho dân chúng như ước nguyện của họ. Làm như thế là để thiết lập một chế độ chính trị vạn lần đẹp hơn tất cả những cái đã có trong lịch sử trước kia. Do vậy, khi thiết kế căn nhà các kiến trúc sư đã không hề xem đến kinh nghiệm đã có hàng trăm năm nay của các hệ thống tư pháp khác vốn cũng đã trải qua những khó khăn như chúng ta và đã tìm ra giải pháp, tuy chúng mang tính tương đối nhưng mọi người bị buộc phải chấp nhận; nhờ thế nó tạo nên trật tự trong cuộc sống xã hội. Chúng ta chê bai tính tương đối của các hệ thống kia, cho rằng chúng thiếu tính triệt để và đã xây căn nhà của mình với mục đích đạt đến cái tuyệt đối vốn không có trên thế gian này: theo đuổi công lýý đến cùng! Do vậy căn nhà kia… bị dột! Và quý vị đang buộc thân chủ chúng tôi phải chịu trách nhiệm!

Do sự công bằng mà chúng ta theo đuổi, nên chăng thân chủ chúng tôi phải được đánh giá theo quan điểm (i) có nhận ra các điều trên không; (ii) đã chữa được đến đâu; chứ không phải theo quan điểm: tại sao, trách nhiệm thế nào và đến đâu?

Chúng tôi cho rằng thân chủ của chúng tôi phải được xem xét một cách công bằng hơn; bởi vì nhiều công việc chúng ta đang làm hiện nay và sau này, trong một số lãnh vực nào đó – trong đó có tư pháp – chỉ là sửa chữa những hậu quả để lại của nhiều thế hệ trước kia. Họ đã thực hiện công việc của mình dựa trên những qui luật rút ra từ kết quả của những cuộc nghiên cứu khoa học, công phu, theo một diện rộng và trải qua nhiều thời đại. Tuy nhiên họ đã không nhận ra được rằng đấy là quy luật rút ra từ những người đã chết và khi biến chúng thành luật pháp áp dụng cho từng cá nhân đang sống thì người sau không phải lúc nào cũng sẵn sàng chấp hành. Người đang sống không thể làm theo cách làm của người đã chết. Họ có thể theo gương về mặt tinh thần; nhưng không thể hành động theo khuôn khổ của người đã chết mà nay qui định thành “pháp lệnh” và bị chế tài. Mục đích việc làm không xấu, nhưng nó không khả thi và bây giờ để lại nhiều hậu quả, đặc biệt là về tâm lý. Vậy bây giờ chúng ta tất cả cần nhận ra điều này để cùng bắt tay sửa chữa trong địa vị, hoàn cảnh và khả năng của mình; chứ không phải tìm cách đổ tội cho ai đó. Nói đến đây, chúng tôi nghĩ đến những người đã từng thực hiện các việc kia; nay đứng ngoài chỉ trích làm như mình vô can! Thật đáng khen ngợi!

Vậy khi đặt ra trách nhiệm ấy cho thân chủ chúng tôi, thì nên chăng quý vị cũng đặt ra trách nhiệm cho chính mình rằng phải làm gì để giúp đỡ những người như thân chủ chúng tôi hầu họ có thể thực hiện dễ dàng hơn nhiệm vụ của họ. Phải chăng quý vị chỉ quy trách để có thể nói với cử tri: “Vâng chúng tôi có nói rồi”; nghĩa là chỉ làm để cho nồi xúp de xì hơi an toàn rồi đâu vẫn vào đấy? Để không miên man trong phần tổng quát, chúng tôi xin đi vào các vấn đề cụ thể, phụ thêm cho những gì thân chủ chúng tôi đã trình bày.

2. Bản án bị sửa và oan sai

Bản án bị sửa và oan sai là do trình độ của thẩm phán. Vâng đúng vậy. Việc này liên quan đến: sự tuyển chọn thẩm phán, trình độ thẩm phán và sự trợ giúp thẩm phán nâng cao trình độ theo một cơ chế tự động và nội tại. Ba công việc này hiện nay ra sao? Chúng ta hãy nhìn vào sự thật. Vì nếu chúng chưa được giải quyết thì với việc phải “đôn” lái xe và đánh máy lên làm thẩm phán, dẫu có nói là “vơ vét” hay không cũng chỉ là từ ngữ sử dụng, râu ria của vấn đề.

a. Sự tuyển chọn thẩm phán

Mọi người trong ngành tư pháp đều biết hai sự kiện. Một là sinh viên tốt nghiệp thi vào làm thư ký tòa án thì phải mất khoảng bảy năm và phải vào Đảng mới đủ điều kiện làm thẩm phán. Hai là việc cho vào Đảng là quyết định của từng chi bộ tại các địa phương.
Thân chủ chúng tôi có thể làm gì trước hai thực tế này? Quý vị sẽ làm gì để khắc phục nếu không “vơ vét” như thân chủ chúng tôi?

b. Trình độ thẩm phán

Trừ một số do hoàn cảnh lịch sử để lại, các thẩm phán đều được đào tạo cơ bản ở các trường đại học luật. Kiến thức được trường luật trang bị sẽ giúp họ hành nghề sau này và mức độ trở nên thành thạo lâu hay chóng cũng tùy thuộc số kiến thức ấy. Điều này khiến chúng ta xem đến phương thức đào tạo sinh viên ở các trường luật.

Các vị đã thấy ngay từ khi thành lập, các trường đại học chuyên nghiệp đều do các bộ lập ra và nắm giữ. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nắm các trường đại học thuộc ngành nghệ thuật tự do (nhân văn, khoa học tự nhiên…). Sự kiện này cho thấy các trường đại học đào tạo sinh viên là để phục vụ mình, tức là đáp ứng các yêu cầu của nhà nước. Do đó trong một thời gian dài sinh viên tốt nghiệp ra trường là làm cán bộ, công chức nhà nước hay vào các xí nghiệp quốc doanh. Trường luật không đi ra ngoài khuôn khổ này. Sinh viên luật được đào tạo để trở thành cán bộ hay công chức nhà nước; công việc của họ là viết luật cho dân chúng áp dụng. Họ phục vụ nhà nước. Dùng hình ảnh mô tả thì học xong “họ nhìn lên” nhà nước. Vì là người sẽ viết ra các “quy phạm pháp luật” nên luật trang bị cho họ được giảng dạy theo cách tại sao. Vậy họ được học “luật tại sao”. Và để trả lời người ta hướng họ về triết học. Luật trang bị cho sinh viên mang tính triết học và nó được gọi là “khoa học pháp lý”, rất nặng về câu chữ và lý luận. Khi quy về triết học thì không ai được đi ra ngoài các nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa. Và để bảo đảm sự tuân thủ tuyệt đối, luật được giải thích là công cụ của chính trị, việc áp dụng nó thuộc về chủ quyền quốc gia. Khi tranh luận về luật, vấn đề quan điểm, lập trường luôn luôn được đặt nặng; người ta có khuynh hướng gạt bỏ những lập luận trái ngược rồi tự thưởng cho mình bằng cách kênh kiệu.

Tuy nhiên cuộc sống không phải do triết học thống lĩnh. Luật sở dĩ có vì nó cần thiết cho trật tự xã hội. Do đó, luật là để phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Nhà nước ban hành luật là để cho công dân áp dụng. Công dân áp dụng luật thì phải biết nó thế nào. Họ cần “luật thế nào”. Trong một quốc gia, về số lượng, thành phần nhà nước rất nhỏ so với thành phần dân chúng. Do đó sinh viên luật ra đời, để kiếm sống, họ phải phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Ngay cả thẩm phán khi xét xử thì họ cũng phục vụ xã hội. Họ nói ai phải ai trái trong một cuộc tranh chấp đang diễn ra trước mặt họ theo luật pháp của quốc gia. Khi ấy, thẩm phán trực tiếp phục vụ xã hội, gián tiếp phục vụ nhà nước. Phục vụ xã hội thì bắt buộc “họ nhìn xuống” và phải biết “luật thế nào”. Trường luật đã trang bị cho họ “luật tại sao” và “họ nhìn lên”! Thẩm phán cũng vậy, luật sư cũng thế! Họ được đào tạo theo một đường; nhưng khi hành nghề thì phải làm theo một nẻo!

Vì chỉ được dạy “luật tại sao” nên sinh viên tốt nghiệp trường luật không có một ý niệm gì về một khả năng gọi là cách suy xét theo luật học (legal reasoning). Sự tài ba của thẩm phán và của luật sư nằm ở khả năng này. Đó là khả năng biết phân tích và tổng hợp sự việc đã xẩy ra (mà mình đang xem xét để quyết định đúng hay sai), rồi lần lượt chọn ra các mảng sự việc quan trọng, nhiều ít khác nhau, hầu đặt ra các câu hỏi, cuối cùng có câu trả lời rồi áp luật pháp vào. Từ đó mới có các quyết định thuyết phục được các bên can dự. Vâng, các bên chứ không phải nhà nước.

Khi muốn biết “luật thế nào” thì ngoài cách đặt câu hỏi theo phương pháp đã nêu thì thẩm phán phải biết với những câu hỏi tương tự thì người đi trước đã giải quyết như thế nào. Vậy là phải có nhiều kinh nghiệm của người xưa truyền lại; trong luật người ta gọi là án lệ. Trong hệ thống giảng dậy luật pháp của ta, hai thứ này không có! Trình độ thẩm phán, trong những năm đầu, gây ra bởi những sự thiếu vắng này. Vậy trình độ của thẩm phán có phải hoàn toàn là trách nhiệm của thân chủ chúng tôi không?

c. Cơ chế tự động giúp thẩm phán nâng cao khả năng

Tự một mình mình, thẩm phán không thể nâng cao khả năng. Đó là sự thật giống như một học sinh không có bạn. Thẩm phán phải được hỗ trợ. Trong một vụ án hình, thẩm phán được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích trái ngược nhau: kiểm sát viên và luật sư của bị cáo. Trong một vụ dân sự thẩm phán cũng được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích khác nhau nhưng đều là luật sư. Chính khi nghe hai ý kiến khác nhau, thẩm phán xem xét và quyết định. Hệ thống tòa án chúng ta được khởi đầu bằng các vụ xử hình sự. Ở đó công lý được bảo đảm bằng một cơ cấu “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” do ba đơn vị thực hiện là công an, viện kiểm sát và tòa án. Ba đơn vị khác nhau thật, nhưng rất tiếc chúng cùng một gốc: tất cả đều là cơ quan nhà nước chưa nói đến chuyện họ cùng ở trong Ban Nội chính của một địa phương. Do đó oan sai đã xẩy ra. Phải có một đơn vị khác gốc thì mới thực sự có sự “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” hữu hiệu. Pháp lệnh luật sư ở ta chỉ mới có từ năm 1987. Nhưng họ được đối xử ra sao?

Thứ nữa, các bản án của tòa không được công bố rộng rãi. Điều này làm cho sinh viên luật muốn học thực tế, muốn tạo khả năng suy luận cũng không có phương tiện. Vì không phổ biến rộng rãi bản án; nên thẩm phán có thể viết “ý kiến luật sư không xác đáng” mà không sợ luật sư phản đối; họ cũng chẳng phải lo rằng lý lẽ của mình sẽ bị đem ra công luận để mà chau chuốt câu văn, lập luận rõ ràng. Họ thiếu cả áp lực lẫn sự kích thích để phải tuyên các bản án rõ ràng với lý luận sắc bén.

Thiếu kích thích nằm ở chỗ nhiệm kỳ năm năm của họ. Một thẩm phán muốn tự mình nâng cao khả năng thì cần một thời gian dài. Thẩm phán có còn cố gắng chăng trước câu hỏi: “liệu có được bổ nhiệm kỳ sau không?” Chân thiện mỹ là một cái gì lâu dài và phải mất nhiều thời gian mới đạt đến. Năm năm một lần không phải là một thời gian dài. Nó dành cho các chức vụ chính trị để tránh sự lạm dụng quyền hành và khuyến khích thay đổi trong các biện pháp đề ra. Tính chất của luật pháp khác hẳn. Nó phải tạo ra sự ổn định và tiên đoán được; do dó nó cần bền vững và có biểu tượng của sự bền vững để hôm nay khi nhìn lại hôm qua mọi người biết về ngày mai. Thẩm phán là biểu hiện của sự bền vững đó. Nhiệm kỳ năm năm là không phù hợp cho cố gắng muốn nâng cao khả năng mình của thẩm phán cũng như cho biểu hiện về sự bền vững của tòa án. Có sự nhầm lẫn về bản chất giữa chính trị và tư pháp.

3. Dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết

Vấn đề này liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự nhiều hơn là hình sự; bởi vì đa số các vụ hình sự đều trở thành chung quyết tại cấp phúc thẩm; chỉ có các vụ dân sự mới lên tới tòa tối cao.

Nói đến việc tòa án nhân dân tối cao có giải quyết hay không việc kêu oan của dân chúng thì phải nhìn vấn đề trong một tổng thể. Thứ nhất là việc xét xử ở cấp sơ thẩm rồi phúc thẩm; vì nếu hai cấp này đã giải quyết công minh vụ việc thì không cần phải đưa cấp tối cao. Thứ hai là bằng chứng vì việc xét xử ở các phiên tòa thực sự là việc xem xét bằng chứng mà các bên nêu ra để dựa trên đó luật được áp dụng và bản án được tuyên.

a. Việc xét xử ở các cấp tòa

Trong một vụ án có hai vấn đề tòa phải xem xét để ra bản án. Lấy một vụ đi vay tiền để nói cho dễ hiểu. A nói với B cho vay 5 tỉ và hẹn sau một năm sẽ trả lại. Nếu A không trả nợ hết mà bị đưa ra tòa thì ở đây có hai vấn đề: (i) việc đưa tiền cho vay và trả nợ và (ii) sự cam kết sẽ trả lại. Vấn đề (i) là sự kiện, còn (ii) là pháp lý. Vấn đề (i) liên quan đến bằng chứng, là đi tìm sự thật; vấn đề (ii) liên quan đến khả năng lập luận của thẩm phán để áp dụng luật có liên quan. Để bảo đảm sự công minh một vụ án được xét lần đầu tại cấp sơ thẩm; nếu bên nào không thích bản án sơ thẩm thì có quyền đem nội vụ lên cấp phúc thẩm rồi sau đó cấp tối cao.

Khi có hai vấn đề phải xem xét trong một vụ và ở các cấp tòa khác nhau thì luật tố tụng ấn định tòa các cấp sẽ xét xử cả hai vấn đề như nhau hay mỗi cấp chú trọng từng vấn đề khác nhau. Nghĩa là các tòa sẽ xét xử trùng nhau hay không. Do luật lệ về bằng chứng sẽ đề cập sau này tòa án ở chúng ta xem xét trùng lập ở cả ba cấp vì chúng ta coi trọng “sự thật khách quan”. Do cả ba cấp làm trùng nhau nên hiện nay việc xét xử các vụ dân sự của ta không có điểm dừng. Hệ thống ba cấp giống như cái thang có ba bậc, các bên tranh chấp có thể leo lên đến bậc cao nhất rồi lại xuống bậc thấp nhất rồi lại đi lên tiếp! Có vụ kéo dài đến cả chục năm. Bởi thế, sự hữu hiệu của hệ thống tòa án ta kém; niềm tin của dân chúng vào tòa án thấp. Khi thấy tòa xử kéo dài một vụ xù nợ, một người hàng xóm sẽ rút ra kết luận rằng cứ đi vay rồi xù cũng chẳng sao; tức là khi không sợ quyền uy của tòa án thì người ta lại càng hay làm sai rồi lại càng đưa ra tòa xử. Thủ tục tố tụng như thế này khuyến khích sự sai trái và làm tòa án bị tràn ngập công việc; tòa càng bị càng trở nên kém hữu hiệu. Do vậy mới có đề nghị – về mặt thủ tục là – tòa án tối cao không nên xem xét bằng chứng mới; nghĩa là không xử các việc mà dân chúng kêu oan. Khi nghe đề nghị như thế thì thân chủ chúng tôi cũng đã xem xét thấu đáo thủ tục xét xử ở các nước khác. Ở đó luật tố tụng của họ cho tòa phúc thẩm không xem xét bằng chứng mới; còn cấp tối cao chỉ xét xử khi quyết định của tòa phúc thẩm không đúng với hiến pháp.

Có vị đại biểu đã tuyên bố phải để cho dân kiện lên đến tòa tối cao hầu bảo đảm quyền khiếu nại của họ. Quyền ấy là cao nhất. Khi nói như thế vị đại biểu ấy đã cố thiết lập “sự tuyệt đối” trên thế gian này! Buộc cả ba cấp tòa phải xử như nhau. Điều mà đã gây ra sự thiếu kính trọng đối với tòa án, biểu tượng của quyền uy của quốc gia hiện nay. Chúng ta hãy xem ở các hệ thống pháp luật khác người ta làm như thế nào và họ có bảo vệ “quyền cao nhất” của người dân hay không?

Trong các hệ thống pháp luật khác – thông luật của Anh, Mỹ; dân luật của Pháp, Đức – luật tố tụng của họ quy định (qua văn bản hay tập tục) tòa sơ thẩm xem xét các vấn đề pháp lý lẫn sự kiện và tuyên án; nếu một trong hai bên kháng cáo thì tòa phúc thẩm chỉ xem các vấn đề pháp lý của bản án đã tuyên. Rất hiếm khi tòa phúc thẩm xem chứng cứ mới vì coi rằng tòa sơ thẩm đã làm đủ và đúng theo luật. Để làm việc ấy, luật tố tụng dân sự của họ được xây dựng trên hai nền tảng chính liên quan đến bằng chứng.

b. Luật về bằng chứng

Luật của ta chỉ liệt kê các loại chứng cứ mà không ấn định loại nào có giá trị hơn loại nào và để cho tòa thẩm định. Vì thế, luật mới sợ tòa dưới thẩm định sai và cho tòa trên được xem xét lại, không sợ trùng việc vì nguyên lý nền tảng là “sự thật khách quan”.
Ở Pháp hay Mỹ họ có luật về mức độ tin cậy của bằng chứng. Ở Pháp công chứng thư có giá trị cao hơn tư chứng thư (vì thế mới có công chứng viên). Ở Mỹ bằng chứng có giá trị phải là bằng chứng có liên quan (relevant), chứ không phải là của bất cứ ai (hearsay), hay của những ai được phép không phải tiết lộ (privileged). Để ý ta thấy luật của họ lấy bằng chứng (một sự kiện vật chất) làm nền tảng; còn chúng ta lấy sự thẩm định của thẩm phán làm gốc; (tức là lấy con người). Vì bằng chứng là nền tảng nên luật tố tụng của Mỹ cho phép hai bên “đào bới” bằng chứng. Nguyên đơn có thể xin tòa buộc bị đơn phải trưng ra bằng chứng dẫu bất lợi cho mình. Họ không cho giấu bằng chứng. Luật của Pháp cho xét xử bằng giấy tờ; nghĩa là thẩm phán dựa theo các bản lý đoán của hai bên mà quyết. Mỗi bên cứ nêu bằng chứng và lập luận lên tòa; qua luật sư, họ phải gửi bản sao cho bên kia xem. Bên kia sẽ trả lời, nêu bằng chứng khác để đánh đổ lập luận vừa nhận. Cứ việc “lời qua tiếng lại” đến khi không còn gì nói nữa thì hai bên xin tòa nghị án. Thẩm phán không tác động gì trong quá trình này. Bên nào đưa bằng chứng thiếu thì ráng mà chịu.

Như thế nghĩa là luật của cả hai hệ thống buộc các bên phải trưng ra hết mọi bằng chứng ở cấp sơ thẩm; các bên chủ động đẩy diễn tiến phiên tòa; thấy đủ hết rồi mới xin tòa xử. Vậy khi tòa đã xử thì không thể kêu ca nữa về bằng chứng, về “sự thật” đã đưa ra. Kháng cáo lên tòa trên là chỉ phàn nàn về cách lập luận của chánh án; tức là xin xem xét các vấn đề pháp lý để tăng hay giảm hình phạt.

Luật tố tụng của chúng ta để chánh án chủ động trong xét xử, lại không đặt ra mức độ tin tưởng của chứng cứ; chỉ nhấn mạnh “sự thật khách quan” và để cho lòng người xác định; nên mới xẩy ra những gì chúng ta đã thấy. Lịch sử phát triển của nền tư pháp trên thế giới cho thấy chính người dân tranh chấp trước, họ đến xin tòa giải quyết cho họ. Ở thế đó, tòa để cho hai bên chủ động; giúp họ tìm bằng chứng, chứ không đi lấy hộ; ai có bằng chứng “thật hơn” thì tòa dựa vào đó và sẽ lập luận. Nếu hai bên làm sai từ đầu (thí dụ hợp đồng vô hiệu) thì tòa bảo “không cưỡng chế thi hành được” (unenforceable). Và hai bên về tự giải quyết lấy, ai làm bạo thì đã có luật hình. Như là một quy luật tâm lý, khi phải tự xử mình lúc làm sai, thì người ta sẽ tìm cách làm đúng ngay từ đầu.

Luật pháp của chúng ta làm ngược lại, giao cho tòa án sứ mạng bảo vệ quyền lợi của công dân; buộc thẩm phán phải chủ động. Hễ cứ có việc gì xẩy ra, anh Việt kiều lừa tiền, lừa tình chẳng hạn, thì dư luận đặt ngay câu hỏi: cơ quan nào có trách nhiệm, ai quản lý! Ít ai bảo: “Anh, chính anh phải chịu trách nhiệm, anh phải tự quản lý anh.” Cá nhân nào cũng sợ “làm mất lòng người khác” nên bán cái cho xã hội. Xem như thế những vấn đề tiềm ẩn trong hệ thống luật pháp của chúng ta còn liên quan đến nhận thức.

c. Uy lực của bản án đã xử

Luật pháp phải có tác dụng là bảo cho công dân biết; (i) nếu anh làm như thế thì (ii) anh sẽ bị đối xử như vậy, như vậy”. Vế (i) giúp người dân ổn định, vế (ii) giúp họ tiên đoán được. Sự tiên đoán kia phải dựa trên thực tế tức là các quyết định tòa án đã ra; vì giữa cách đối xử mà luật định và biện pháp tòa án đưa ra có khác nhau (do có xét đến hoàn cảnh cụ thể). Để giúp cho luật pháp tiên đoán được, các hệ thống khác đặt ra nguyên tắc là đối với các vụ án có cùng một tính chất thì kết quả của vụ án trước ràng buộc vụ án sau. Cùng nguyên tắc nhưng kỹ thuật sử dụng của mỗi hệ thống khác nhau. Bên thông luật gọi một bản án chung thẩm là tiền lệ (precedence); dân luật gọi là án lệ (jurisprudence). Tòa sơ thẩm ở Anh, Mỹ khi xử bị bắt buộc phải tra cứu và áp dụng tiền lệ. Tòa sơ thẩm ở Pháp không bị buộc phải tuân theo án lệ, nhưng khi bản án bị kháng cáo thì tòa phúc thẩm sẽ dẫn án lệ. Vậy, tòa dưới “chẳng dại gì” mà không tuân theo án lệ.

Cách sử dụng tiền lệ, tra cứu án lệ, tạo nên một sự hơi khác biệt trong cách thức áp luật vào sự kiện của các thẩm phán ở hai hệ thống kia; nhưng cả hai đều giống nhau trong phương pháp suy luận khi phân tích sự kiện. Đó là tài năng của thẩm phán. Và ở hai cấp tòa thì trình độ này khác nhau; cho nên vấn đề pháp lý được tòa phúc thẩm xem xét khi bản án bị kháng cáo và chỉ vấn đề này.

Chính trên cái tổng thể này mà tòa phúc thẩm ở các hệ thống khác họ không xem xét chứng cứ mới; hoặc có thì rất ít. Chính nhờ vào (i) tín lực của bằng chứng và cách buộc đưa ra nó; (ii) quyền của tòa bác hay nhận; (iii) án lệ; và (iv) xét lại khả năng lập luận của thẩm phán ở tòa dưới (tức là vấn đề pháp lý của nội vụ) nên ở họ không có chuyện “án dân sự xử kiểu nào cũng được”. Tòa án có uy. Dân nghĩ đến tòa án là đã sợ; nên ngần ngại nuốt lời đối với gì mình đã cam kết.

Các nước phát triển – mà luật pháp của họ được coi là một nguồn gốc của luật quốc tế – họ làm như thế. Nếu thân chủ chúng tôi có nêu vấn đề lên ở đâu đó thì có phải là một cái lỗi hay không? Chúng ta có nên tiếp tục thiết lập sự tuyệt đối trong hệ thống tòa án của chúng ta không, sau bao nhiêu hậu quả của nó đã thấy?

Gần đây trong báo giới có bàn về câu hỏi tòa phúc thẩm có xem xét chứng cớ mới hay không; tức là một vấn đề cũng giống như chúng tôi đang biện hộ cho thân chủ ở đây. Có các câu trả lời khác nhau đã được đưa ra. Người bảo có và lý do là để “tìm ra sự thật khách quan nhất”. Nguời bảo không thì nói rằng đó là để tránh sự “không công bằng” và xóa “áp lực sổ đen” cho thẩm phán.

Thưa qúy vị, vai trò của hệ thống xét xử không phải là để làm việc ấy. Vai trò của tòa án là bảo đảm niềm tin của công dân vào chế độ; là duy trì chế độ; là bảo đảm sự ổn định và tiên đoán được của luật pháp, hầu tạo sự an tâm cho công dân, khuyến khích họ làm đúng qua đó phát triển sự lương thiện trong xã hội. Đấy mới là nguyên lý của hoạt động xét xử.
Khi thiết lập hệ thống tư pháp chúng ta hầu như không để ý đến nguyên lý này vì chúng ta khởi đầu từ tòa án nhân dân, xét xử những vụ hình sự; mãi sau này mới xét những vụ dân sự; nên ta đã đem những nguyên tắc xét xử của hình sự sang dân sự vốn khác tính chất. Mối quan tâm chính khi xử một vụ hình là chấm dứt tội phạm, răn đe người khác, và phạm nhân đi tù. Đó là những mục tiêu ngắn hạn và tác động của nó lan tỏa không rộng; vì không phải ai cũng muốn vi phạm hình sự. Trái lại tác động của một bản án dân sự lan tỏa rộng, do đó nó kéo dài. Bởi vì hành vi dân sự (vay nợ) hay việc dân sự (sinh con) chính là cuộc sống, và ai cũng phải sống. Vay tiền thì ai cũng có một hai lần làm trong cuộc đời mình. Một bản án dân sự bênh con nợ sẽ khuyến khích người dân xù nợ, và việc này rất dễ lan rộng vì nó có lợi nếu làm. Khi người đi vay xù nợ thì người có tiền sẽ không muốn cho vay, tiền của người sau biến thành vàng chôn dưới đất. Nền kinh tế thiếu tiền mặt thì làm sao phát triển?

Ưu tư của thân chủ chúng tôi là vào những vấn đề này chứ không phải “quyền cao nhất” của dân chúng; khi nhìn sang các hệ thống khác mà người ta đã có cách giải quyết.

4. Duyệt án – Vụ Đồ Sơn

Hai vấn đề này là những thứ nằm tiềm tàng từ lâu trong hệ thống tòa án của ta. Vấn đề đầu thân chủ chúng tôi đã phát biểu tại diễn đàn Quốc hội. Về vấn đề sau thì nó không phải chỉ mới xuất hiện trong thời gian nhiệm chức của thân chủ chúng tôi. Nó là những gì thuộc về tính chất của ngôi nhà.

Tòa án có thực sự độc lập không? Chúng ta phải xem, phải nhìn thẳng vào sự thật thì mới thấy hết vấn đề được. Nguyên tắc độc lập xét xử luôn được khẳng định; chỉ có điều ta có muốn làm hay không. Đồ Sơn là một bài học rất lớn mà báo chí đã nói thay ngành tòa án. Thân chủ chúng tôi ủng hộ việc lên tiếng của báo chí. Phải để cho cơ quan tư pháp độc lập. Quý vị có thể nói rằng pháp luật qui định độc lập thế rồi, sao tòa án không độc lập? Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Khi một anh sống ở địa phương, quyền lợi gắn bó ở đó, bổ nhiệm, nhận xét, khen thưởng đều gắn với cấp ủy, chính quyền địa phương thì anh lựa chọn thế nào? Thưa quý vị phải nhìn thẳng vào sự thật chứ ạ!

Để kết thúc bài biện minh này, thì trách nhiêm thực sự mà thân chủ chúng tôi chịu, theo thiển ý, chỉ là nhận thức ra được tình hình của căn nhà đến đâu và đã sửa chữa nó được đến mức nào chứ không phải về những vấn đề nền tảng mà quý vị đã nêu vốn do tính chất bẩm sinh của căn nhà gây ra. Thân chủ chúng tôi nếu có sai sót chỉ là ở cách thức trình bày chứ không phải ở nội dung. Nhưng sau khi biết những gian truân của thân chủ chúng tôi khi ở trong căn nhà dột, hẳn quý vị cũng cảm thông với thân chủ chúng tôi và sẽ sẵn sàng giúp đỡ thân chủ chúng tôi trong cố gắng tân trang căn nhà. Đó là việc làm cần thiết của tất cả chúng ta cho tổ quốc thân yêu này: nhận ra vấn đề, cùng chung sức làm, thay vì quy trách.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

LƯƠNG TÂM NGƯỜI THẨM PHÁN

PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng, vì pháp luật của chúng ta chồng chéo, thiếu hụt, mâu thuẫn nên thẩm phán xứ kiểu gì cũng được. Để khắc phục hiện tượng này người thẩm phán phải có lương tâm và phải cỏ trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong các vụ việc xét xử phức tạp.

Vì luật của Quốc Hội ban hành cho nhiều trường hợp chú không thể cho từng trường hợp cụ thể. Thậm chí pháp luật có thể là tối nghĩa, và có thể là chồng chéo lên nhau. Nhưng người thẩm phán chỉ được xử theo một kiểu nhất định mà lương tâm, đạo đức thẩm phán của mình cho phép. Xử theo một kiểu khác đi là sai và cần phải xử lại.

1. Cơ sở của việc Tòa án phải xét xử theo lương tâm

Cơ sở của việc thẩm phán và các chức danh tư pháp khác phải xét xứ phải buộc tội theo lương tâm là ở chỗ các đạo luật cũng như những quy định của luật do các cơ quan lập pháp ban hành ra không thể dành riêng cho từng trường hợp cụ thể. Nhưng người thẩm phán cũng như người buộc tội, công tố uỷ viên, cũng như nhiều người phải cầm cân nẩy mực khác buộc phải áp dụng các điều khoản đó cho từng trường hợp cụ thể với đầy đủ các sự kiện pháp lý đi kèm của trường hợp. Sự áp dụng này phải mang tính chất sáng tạo, mà không rập khuôn một cách máy móc. Thế mới gọi là người thẩm phán với trí phán đoán của mình, mà không phải là một cái gì khác. Việc áp dụng luật của các thẩm phán là một hoạt động sáng tạo. Điều này thể hiện ở chỗ các thẩm phán và các chức danh tư pháp khác phải phân tích sự vật, sự kiện (sự kiện pháp lý) xảy ra, đồng thời phải phân tích luật, tìm quy phạm phù hợp ứng với trường hợp cần phải áp dụng. Chính việc biến các quy định của pháp luật được nhà nước quy định chung cho nhiều trường hợp để áp dụng cho một trường hợp cụ thể với những tình huống sự vật, sự kiện cụ thể với không gian thời gian nhất định của sự kiện, để đạt đúng mục đích yêu cầu của quy phạm chung đề ra là hoạt động sáng tạo của thẩm phán.

Ngược lại, nếu không là như vậy, tức là chỉ nhất nhất phải tuân theo một cách máy móc các quy định của luật, thì chi bằng hãy sáng tạo một loại máy, với những chương trình có sẵn có thể do các hành vi của con người theo các quy định của pháp luật, thì có lẽ là một trong những đảm bảo của sự công bằng và vô tư nhất khi thi hành các quy định của pháp luật.

Xét xử theo lương tâm của thẩm phán mới có thể lấp đi sự thô thiển, sự cứng nhắc của pháp luật dẫn đến nhiều trường hợp nếu áp dụng chúng không những không đạt được mục đích được đề ra của luật, mà còn gây ra một hậu quả không lường, đánh mất niềm tin vào Nhà nước và công lý của nhân dân, mà trước hết nhất là của những người phải chịu sự thi hành của pháp luật. Họ đang bị đứng trước một thử thách muôn vàn khó khăn, mà không có một sức lực nào của họ có thể ngang hàng với người đang thi hành công vụ của Nhà nước, chỉ còn chờ đợi ở tính công bằng, tính trách nhiệm và tính đạo đức của những người đang thay mặt cho công quyền mà thôi.

Cũng như các nghề khác, càng độc lập bao nhiêu, thẩm phán càng phải có lương tâm, càng phải có trách nhiệm bấy nhiêu. Việc thành lập ra một loại tòa án công bình ở hệ thống pháp luật Ănglôxắcxong (Common law) những thế kỷ XVI – XVIII trước đây của Anh, Mỹ, cũng không ngoài mục đích để tránh những sự bất công do hệ thống pháp luật cứng nhắc của họ gây ra:

“Một hệ thống nguyên tắc pháp lý mệnh danh là công bằng phát sinh bởi các quyết định của vị chưởng ấn trong trường hợp đương sự xin nhà Vua phúc thẩm các bản án, căn cứ vào luật thường, mà họ coi là bất công. Mọi hệ thống pháp luật tới một thời kỳ nào, cũng phải giải quyết vấn đề bảo vệ sự cứng rắn của pháp luật và đồng thời ngăn ngừa sự cứng rắn đó gây tác hại đến quyền lợi của cá nhân. Bên Anh vị Chưởng Ấn hành động thay mặt vua. Những nguyên tắc công bằng được ấn định rõ rệt và đã trở thành (khoảng giữa thế kỷ XIX), những nguyên tắc được áp đụng để bổ túc những khuyết điểm của luật thường và sửa chữa những sai lầm, vụng về do luật gây ra”.

Cho đến thế kỷ XIX, những Tòa án xử theo nguyên tắc công bằng khác biệt với Tòa án thường. Nhưng bằng những đạo luật về Tư pháp năm 1873 đến 1975 đã chấm dứt sự phân biệt giữa Tòa án thường, xử theo án lệ và Tòa án của vị Chưởng Ấn xử theo nguyên tắc công bằng, và quy định các Tòa án đều phải xét xử theo cả luật thường (án lệ) và luật theo nguyên tắc công bằng. Nếu có sự mâu thuẫn giữa luật thường và nguyên tắc công bằng, thì luật công bình sẽ thắng.

Cũng như một tấm Huy chương vậy, sự xét xử theo lương tâm của thẩm phán, cũng như của những người tiến hành tố tụng khác không có một định lượng nào có thể đó được. Do đó không ít những người đã chế diễu rằng luật công bình thay đổi theo chiều dài bàn chân của Viên Chưởng Ấn – người chuyên đi giải quyết các khiếu nại vì thiếu sự công bằng của các bản án theo quy định cứng nhắc của cá văn bản pháp luật.

Một khi thẩm phán xét xử theo lương tâm thì nguyên tắc độc lập chỉ tuân theo pháp luật có vấn đề không? Theo tôi trong trường hợp này không hề bị xâm phạm. Chính vì tuân theo pháp luật và độc lập đã cho phép thẩm phán và các chức danh tư pháp không áp dụng các điều khoản luật pháp một cách máy móc cho những trường hợp có thể dẫn đến hiệu quả xấu, chứ không phải là bản thân điều luật sai. Việc này có thể dẫn đến việc kháng nghị, kháng cáo của những người tham gia tố tụng, Tòa án phải xử lại theo thủ tục xét xử ở cấp cao hơn. Sở dĩ như vậy, vì lương tâm của thẩm phán không có gì để đo được còn sự kháng nghị, hay kháng cáo vẫn có cơ sở là các quy định của luật pháp.

Trong trường hợp này, nếu anh xét xử theo một lương tâm đúng, thì cho dù có xử lại đi chăng nữa, thì cũng phải y án, mà không thể có điều ngược lại. Việc này càng chứng tỏ lương tâm của thẩm phán là đúng, và uy tín của thẩm phán lại càng lên cao. Còn chuyện xử theo lương tâm sai, thì lại là một chuyện khác.

Làm nghề gì cũng đều chứa đựng một sự rủi ro nhất định. Thế mới gọi là nghề. Sự hy sinh vì nghề trong trường hợp cấp xét xử cao hơn nữa không công nhận cũng là chuyện dễ có thể xảy ra. Nhưng theo thời gian cái gì đúng rồi cũng phải được nhận ra.

3. Hai trường hợp cụ thể

Trường hợp 1:

Vào thế kỷ XIX, tại Pháp có một vụ án nổi tiếng là vụ cô Me’nard ăn cắp bánh mỳ. Cô Me’nard nghèo khổ có con nhưng không có chồng. Trong cơn túng quẫn vì quá đói, Me’nard đã đập vỡ kính một cửa hiệu và lấy cắp bánh mỳ, bị bắt đưa ra tòa. Vụ án được đưa ra tòa tiểu hình Château – Thierry xét xử chánh án Magnaud đã tha bổng Me’nard với lập luận như sau: “Thật đáng tiếc rằng, trong một xã hội được tổ chức chu đáo, lại có một thành viên của xã hội này nhất là người mẹ của một gia đình có thể thiếu bánh mỳ để ăn mà không phải do lỗi của chính mình, khi một trường hợp như vậy xảy ra và được xác định rõ như trường hợp của cô Me’nard, thẩm phán phải có nghĩa vụ giải thích một cách nhân đạo những quy định thiếu mềm dẻo của luật pháp, sự bần cùng và đói khát có thể làm cho con người mất đi một phần của tự do ý chí và cũng có thể trong một chửng mực nào đấy, làm giảm đi ở người này khái niệm về cái đúng, cái sai, một hành vi thông thường đáng trách cứ sẽ mất đi rất nhiều cái tính chất gian xảo khi người vi phạm chỉ hành động vì nhu cầu khẩn thiết phải tìm cho mình một miếng ăn thuộc nhu yếu phẩm hàng đầu, mà không có miếng ăn như vậy tự nhiên sẽ không giúp được việc tạo ra thể chất của chúng ta.

Tòa Thượng thẩm Amiens đã bảo thủ, không chấp nhận lập luận trên của Tòa sơ thẩm nhưng cũng phải tha bổng cho bị cáo Me’nard vì không có ý gian xảo trong vụ việc.

Trường hợp 2:

Trong bài ký sự pháp đình với cái tiêu đề là: “Trước số phận một con người” của tác giả Lâm Hạnh là một phóng viên pháp đình, đăng trên báo Pháp luật số ra ngày 16/10/2003 với một nội dung là:

Vì nể bạn mà Sinh viên Trần Thanh Giang, sinh viên khoa tại chức Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã bị Tòa án tuyên án phạt 7 năm tù giam, với tội danh “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong khi đó hai bạn của Giang bị phạt hành chính vì chỉ bị bắt lần đầu.

Ngay từ những dòng đầu tiên tác giả của bài viết đã nhấn mạnh: “Sau buổi xử tôi (tác giả bài ký sự) tìm gặp Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán Lê Thanh Bình. Anh nói giọng buồn buồn: Theo luật định, bị cáo Trần Thanh Giang có tội. Điều đáng buồn ở đây là thiếu hiểu biết về pháp luật, mà một Sinh viên chăm chỉ, giàu nghị lực đã phạm pháp. Nếu biết khung hình phạt của tội danh này cao như thế, chắc chắn Giang đã không cả nể bạn bè như vậy. Khi đọc hồ sơ, tôi đã thấy xót xa. Thú thực là chúng tôi không muốn xét xử phiên tòa này một chút nào. Phiên toà khiến bất cứ một người cầm cân nẩy mực nào cũng phải chua xót và càng xử chúng tôi càng thấy nghẹn ngào . Một câu chuyện thật thương tâm. Bảy năm tù dành cho một chàng trai trẻ, không chỉ cánh cửa Trường Đại học đóng lại, mà cuộc đời của Trần Thanh Giang đã bước sang một bước ngoặt mới, nhiều khó khăn…”.

Trong trường hợp này thẩm phán và các thành viên của Hội đồng đã không quyết định án theo lương tâm của mình. Nếu như thẩm phán Lê Thanh Bình cùng các thành viên Hội đồng xét xử được xử theo lương tâm và trách nhiệm của mình thì không thể nào có thể áp dụng khung hình phạt của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý đối với học sinh Trần Thanh Giang như vậy. Nhưng rất đáng tiếc lâu nay nguyên tắc này không được nhắc tới.

Sự khô khan của các quy định luật pháp thế hiện ở chỗ đó, sự cứng nhắc của luật pháp cũng nằm ở những chỗ như vậy. Hiện tượng này không những chỉ xảy ra ở nước ta, mà cũng xảy ra ở các nước phát triển khác. Khắc phục hiện tượng này như đã phân tích ở phần trên họ cũng phải sử dụng đến nguyên tắc lương tâm và trách nhiệm đạo đức của nghề thẩm phán.

Nhưng rất tiếc rằng vấn đề trên hầu như không được nêu trên thành một nguyên tắc trong việc hành nghề của luật, cho nên các thẩm phán cũng như các chức danh tư pháp khác không dám làm gì khác hơn là phải theo những điều quy định trong luật.

Theo Tạp chí Tia sáng

TỔNG QUAN 62 NĂM KINH TẾ VIỆT NAM

GS.TSKH. NGUYỄN MẠI

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một ngày sau, trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác Hồ đã nêu lên những vấn đề cấp bách về kinh tế: “Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành”.
Những mục tiêu khiêm tốn đó đã không thực hiện được, vì Nhà nước công nông đầu tiên ở châu Á chỉ kịp tiến hành cuộc Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội, lập Chính phủ đã phải tập trung toàn lực lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, kết thúc bằng thắng lợi “vang dội địa cầu” của Chiến dịch Điện Biên Phủ, tháng 5 năm 1954.
Kinh tế Việt Nam trước và những năm đầu đổi mới
Kinh tế Việt Nam trong thời chiến chủ yếu là kinh tế tự cung, tự cấp trong từng địa phương, nhằm mục đích bảo đảm duy trì cuộc sống hàng ngày của người dân và động viên nhân dân đóng góp để bảo đảm nuôi quân, đánh giặc. Một số vùng đô thị tạm bị Pháp chiếm đóng thì nền kinh tế được ổn định hơn, nhưng cũng không có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Việc giao lưu kinh tế giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do đã được tiến hành trong một giới hạn nhất định, bổ sung hàng công nghiệp cho vùng tự do và cung ứng lương thực, thực phẩm cho vùng tạm chiếm. Sau chiến dịch biên giới năm 1950, nước ta bắt đầu giao lưu, buôn bán với Trung Quốc, mở ra một thời kỳ mới – thông thương với thế giới.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về Việt Nam đã được ký kết. Đất nước chia làm hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời: miền Bắc và miền Nam.
Miền Bắc tiến hành kế hoạch 3 năm (1955 – 1957), khôi phục nền kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá, tiếp đó là kế hoạh 3 năm (1958 – 1960) cải tạo và phát triển kinh tế. Chỉ trong một thời gian ngắn, nền kinh tế đã phát triển rõ rệt, số lượng xí nghiệp quốc doanh tăng từ 41 năm 1954 lên 281 năm 1958 và 1.012 năm 1960 với hơn 125 nghìn công nhân. Giá trị sản lượng công nghiệp năm 1960 bằng 25 lần năm 1955. Nông nghiệp chẳng những đã được khôi phục, mà sản lượng quy thóc năm 1956 đã vượt qua mức kỷ lục năm 1939 (hơn 4 triệu tấn), tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo. Trong thời kỳ này, Đảng ta cũng đã thừa nhận một số sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, vội vã trong cải tạo tiểu thương…
Tháng 9 năm 1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra đường lối, phương châm và các giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng Quan hệ sản xuất, Cách mạng Khoa học kỹ thuật, Cách mạng Văn hóa tư tưởng, trong đó Cách mạng Khoa học kỹ thuật là then chốt; trên cơ sở đó đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 – 1965.
Kế hoạch 5 năm chỉ được thực hiện trong hòa bình hơn ba năm rưỡi, tháng 8 năm 1964, Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, nhiều nhà máy, cơ quan, trường học, viện nghiên cứu được sơ tán về nông thôn, gây ra vô vàn khó khăn cho tình hình kinh tế – xã hội.
Mười năm tiếp theo cho đến 1975, miền Bắc có nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho miền Nam để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời xây dựng kinh tế trong điều kiện chiến tranh phá hoại của Mỹ. Do vậy, nền kinh tế tăng trưởng chậm chạp, ngoại trừ năm 1974 và 1975. Thu nhập quốc dân (triệu đồng) năm 1961 là 3.722, năm 1965 là 4.822, năm 1970 là 4.716, năm 1973 là 5.312. Sau khi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cao hơn, năm 1974 là 6.177 và 1975 là 6.464. Trong 15 năm đó, dân số miền Bắc từ 16,1 triệu tăng lên 24,6 triệu người (Kinh tế Việt Nam 1955- 2000, Nxb Thống kê, 2000 ).
Trong 30 năm (1955 – 1975), kinh tế miền Nam phát triển trong quỹ đạo của kinh tế thị trường gắn với viện trợ của Mỹ, để duy trì chiến tranh và đội quân xâm lược. Theo TS. Nguyễn Văn Hảo, thời kỳ 1955 – 1960 là “thời kỳ mà Nam Việt Nam đã đạt được những thành quả tốt đẹp nhất” (Diễn biến kinh tế Việt Nam 1955 – 1970, Tuần san Phòng thương mại và công nghiệp Sài gòn, số 737, tr. 5 ). Tốc độ tăng trưởng khá cao, 1956: 17,2%, 1957: 19,8%, 1858: 18,8%, 1959: 19,4% và 1960: 7,8%. Từ khi Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, bắt đầu bằng đưa các cố vấn và viện trợ quân sự cho Chính quyền Sài gòn, tiếp đó trực tiếp đưa quân tham chiến, thì tình hình kinh tế – xã hội miền Nam trở nên không ổn định, các cuộc đảo chính đã nổ ra liên tục, chiến tranh ngày càng khốc liệt không chỉ ở nông thôn, mà cả ở đô thị nên “Mức phát triển kinh tế chỉ đạt được trung bình 2,2%/năm. Ngân sách bắt đầu thiếu hụt… giá cả gia tăng” (Xem: Nguyễn Văn Hảo, bài báo đã dẫn ).
Từ khi giành được độc lập (1945) cho đến khi đất nước được thống nhất (1975) là ba thập niên dân tộc Việt Nam phải tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, mặc dù miền Bắc đã có gần 10 năm (1955 – 1964) phát triển kinh tế trong hòa bình và miền Nam có được 6 năm đạt mức tăng trưởng khá cao; nhưng trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, nền kinh tế cả hai miền từ giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước đến năm 1975 bị giảm sút tốc độ phát triển, diễn ra khủng hoảng kinh tế – xã hội trong một thời gian dài.
Đất nước thống nhất là sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra trang sử mới trong quá trình phát triển, tạo điều kiện thuận lợi nhờ sự bổ sung lẫn nhau giữa hai miền về vị thế địa – chính trị, tài nguyên khoáng sản, nguồn nhân lực, tính năng động của thị trường, sự đa dạng của các địa phương.
Mặc dù vậy, thời kỳ 1975 – 1990, nền kinh tế phát triển không theo đúng ý đồ cuả các nhà lãnh đạo đất nước và lòng mong đợi của nhân dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 1976 – 1980 là 2,8%, 1981 – 1985 là 7,3% và 1986 – 1990 là 3,3% (Số liệu thống kê 1976 –1 990, Nxb Thống kê). Trong khi dân số từ 49,16 triệu người năm 1976 tăng lên 66,01 triệu người năm 1990, thì do kinh tế tăng trưởng chậm, nên “cả nước làm không đủ ăn”, thu nhập quốc dân trong nước không đủ cung ứng cho tiêu dùng. Tình trạng đó đã dẫn đến bội chi ngân sách ngày càng tăng, buộc nhà nước phải phát hành thêm tiền mặt, đẩy giá cả lên cao, vòng xoáy lạm phát ngày càng trở nên nghiêm trọng. Chỉ số giá bán lẻ hàng hóa tiêu dùng nếu lấy năm 1980 là 1 thì năm 1985 là 17,3 lần, năm 1986 là 95,1 lần, năm 1987 là 434,8 lần và năm 1989 là 2.239,8 lần.
Nhà nước đã tiến hành nhiều chính sách kinh tế, như cải tạo XHCN công thương nghiệp và hợp tác hóa ở miền Nam, cải cách giá – lương – tiền, khoán sản phẩm đến hộ gia đình trong nông nghiệp và áp dụng kế hoạch ba phần trong công nghiệp…, nhưng kết quả bị hạn chế, bởi vì vấn đề cốt lõi của kinh tế chưa được giải quyết, đó là lợi ích của từng cá nhân gắn với cơ chế kinh tế bảo đảm lợi ích đó. Trong khi nền kinh tế đất nước còn được điều chỉnh theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, dựa trên nền tảng chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể; mọi hoạt động sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng đều do một trung tâm điều khiển bằng mệnh lệnh, thì tất yếu nền kinh tế sẽ kém hiệu quả và khủng hoảng kinh tế – xã hội là tình thế khó tránh được.
Đứng trước thực trạng đó, một số địa phương đã “phá rào” trong việc áp dụng chính sách, phương thức khác với cơ chế, chính sách chung; điển hình là chủ trương “ bù giá vào lương” của Long An và mua nông sản, thực phẩm của nông dân “theo một giá” ở An Giang. Vào thời kỳ này, 70% thu nhập của công chức là tem phiếu, 30% là tiền lương; năm 1979, Long An đã quy tem phiếu theo giá thị trường và tính vào lương, bán hàng hóa theo giá thị trường, kết quả thật khả quan: công chức phấn khởi, thị trường sôi động và chỉ số giá cả giảm rõ rệt. Năm 1980, An Giang nhận được từ Trung ương các mặt hàng tiêu dùng, như vải, săm lốp xe đạp, xà phòng, sữa…, tương đương 100 nghìn tấn thóc. Các mặt hàng đó phải bán cho nông dân và mua thóc của nông dân theo giá do trung ương quy định; trong khi giá thị trường cao gấp mười lần. An Giang đã chủ trương mua bán theo giá thị trường và kết quả thật bất ngờ, đã mua được 160 nghìn tấn thóc, vượt mức 60 nghìn tấn.
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1996 đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế; trên cơ sở đó kiên quyết xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Từ 1987 đến 1990 là giai đoạn khởi động của nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chế mới trong điều kiện lạm phát phi mã, cung cầu hàng hóa thị trường mất cân đối nghiêm trọng. Tuy đã có đường lối mới nhưng các cấp chính quyền cần có thời gian để tiếp cận nó, nên hoạt động kinh tế – xã hội ở vào giai đoạn sơ khai của quá trình chuyển đổi cơ chế. Mặc dù vậy, luồng gió đổi mới đã tạo ra không khí phấn khởi khắp cả nước, sáng kiến từ những người dân, người thợ, công chức và chính quyền địa phương nở rộ, phá bỏ hàng loạt những lực cản của phát triển do nhà nước chưa có đủ thời gian để xây dựng luật pháp thích ứng với cơ chế mới.
Tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua; đây là đạo luật được dư luận thế giới lúc đó đánh giá là thông thoáng nhất trong khu vực, đặt nền tảng pháp lý cho một lĩnh vực hoạt động mới mẻ của kinh tế đối ngoại của nước ta, tuy vậy tác động của nó đến tình hình kinh tế – xã hội chỉ bắt đầu từ năm 1991 về sau.
Cũng cần lưu ý rằng, trước tình hình lạm phát phi mã đến mức chỉ số tăng giá bán lẻ tháng 2 năm 1989 là 9,2%, trong đó lương thực và thực phẩm là 11,4% và hàng tiêu dùng là 7,2%, Nhà nước đã thực hiện “chính sách lãi suất dương”; tháng 3 năm 1989 áp dụng lãi suất tiền gửi tiết kiệm là 13%/tháng, nên đã thu hút được một lượng tiền mặt đáng kể, không phải in thêm tiền, kiềm chế và giảm dần tốc độ tăng giá để đầu năm 1990 ổn định giá cả thị trường, góp phần khắc phục sớm hơn dự kiến tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Đổi mới, hội nhập và tăng trưởng
Đổi mới mạnh mẽ
Chính công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế trong nước và hội nhập với thế giới đã tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp nhà nước vươn ra thị trường các nước sử dụng đồng đô la như Nhật Bản, Pháp, Đức, Hàn Quốc. Điển hình là Seaprodex đã thông qua mối quan hệ buôn bán quốc tế về thủy sản, bằng phương thức trả chậm, nhập khẩu xăng dầu cung ứng cho nhu cầu trong nước. Việc chuyển từ đồng rúp sang đồng đô la trong buôn bán quốc tế là một biến đổi quan trọng trong hội nhập quốc tế của nước ta. Nếu trước năm 1990 trong các biểu thống kê thường dùng đơn vị tiền tệ rúp/đôla, bởi khu vực đồng rúp chiếm tỷ trọng 80 – 90% kim ngạch ngoại thương, thì từ năm 1991 về sau dùng đơn vị đô la.
Cuộc khủng hoảng hệ thống XHCN thế giới có tác động tiêu cực đến lòng tin và tâm lý của nhân dân, nhưng đã thúc đẩy tính độc lập, sáng tạo trong việc tìm con đường tiến lên của dân tộc trong một thế giới đầy cơ hội, nhưng cũng có không ít thách thức. Các đại hội Đảng từ lần thứ VII đến lần thứ X đã kế thừa và phát triển chủ trương đổi mới toàn diện của Đại hội lần thứ VI. Hệ thống pháp luật đã được xây dựng theo lộ trình hình thành đồng bộ cơ chế thị trường, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Mọi công dân, các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp dần được tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để có thể thực hiện những ý tưởng, sáng kiến nhằm làm giàu cho mình và góp phần vào sự phồn thịnh của đất nước.
Từ năm 1991 đến nay, đường lối đổi mới đã có tác động trực tiếp đối với các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta vào loại cao trong khu vực, nhưng diễn biến theo đường cong; từ năm 1991 đến năm 1997 tăng dần đều; so với năm trước, năm 1991 tăng 5,81%, các năm tiếp theo cho đến năm 1997 con số tương ứng là: 8,7%, 8,08%, 8,83%, 9,54%, 9,34% và 8,15%. Từ năm 1998 đến năm 2001, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút: 5,76%, 4,77%, 6,79% và 6,99%. Năm 2002 đến 2006 nền kinh tế đã được hồi phục, biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng ngày càng cao: 7,08%, 7,34%, 7,79%, 8,44% và 8,17%. Tổng sản phẩm quốc nội (tính theo giá năm 1994) năm 1991 là 139.634 tỷ đồng, năm 1995 là 195.567 tỷ đồng, năm 2000 là 273.666 tỷ đồng và năm 2006 là 425.135 tỷ đồng, gấp ba lần năm 1991 (Niên giám thống kê 2006, tr.69). GDP/người từ 181 USD năm 1991 đã tăng lên 722 USD năm 2006, đời sống của nhân dân đã được cải thiện, số hộ đói nghèo giảm rõ rệt.
Sự chuyển đổi tư duy kinh tế đã làm thay đổi thái độ của mọi người đối với các thành phần kinh tế; mặc dù về luật pháp tuy đã được sửa đổi, nhưng vẫn còn có sự đối xử không bình đẳng với kinh tế tư nhân, nhất là về tín dụng phát triển và ưu đãi trong một vài lĩnh vực, nhưng dư luận xã hội hầu như đã coi trọng sự làm giàu, ngưỡng mộ những người biết tranh thủ cơ hội phất lên một cách chân chính. Từ năm 2000, kinh tế tư nhân đã được cởi trói nhờ có Luật Doanh nghiệp với tư tưởng chỉ đạo “Mọi công dân có quyền kinh doanh trong lĩnh vực, ngành nghề mà luật pháp không cấm”. Từ năm 2005 với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới, Việt Nam là nước đã thực sự thống nhất mặt bằng pháp lý đối với mọi loại hình doanh nghiệp và các phương thức đầu tư.
Cùng với việc tiếp tục phát triển, đổi mới quản lý và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, xu thế nổi trội trong kinh tế nước ta từ năm 1991 đến nay là kinh tế tư nhân và kinh tế đầu tư nước ngoài (FDI). Tính đến cuối năm 2006, nước ta đã tiếp nhận 8.266 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 78,2 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện gần 37,3 tỷ USD, tạo ra nhiều ngành nghề mới như công nghệ điện tử, tin học, ô tô, xe máy, khai thác dầu khí, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán; gắn với phương thức kinh doanh và quản trị hiện đại, các dịch vụ tiện ích cho khách hàng. Năm 2005, các doanh nghiệp FDI đã chiếm tỷ trọng 43,7% giá trị sản lượng công nghiệp, 57,8% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, tạo việc làm cho 1,22 triệu người, trong đó có nhiều lao động có trình độ kỹ thuật cao và sử dụng thành thạo ngoại ngữ. Kinh tế tư nhân đóng vai trò ngày càng quan trọng; đặc biệt là từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2000 có hiệu lực thì tốc độ phát triển của khu vực này gia tăng mạnh mẽ. Từ năm 2001 đến năm 2005 đã có 148.000 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 306.000 tỷ đồng, tăng 2,6 lần về số doanh nghiệp và 7,7 lần về vốn đăng ký so với 10 năm 1991-2000. Mặc dù quy mô của các doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ, nhưng đã thể hiện tính năng động, linh hoạt, nhanh chóng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, đổi mới công nghệ và phương thức kinh doanh, nên đã diễn ra quá trình tích tụ nhanh chóng, một số doanh nghiệp đã có quy mô vừa và đang trên đà phát triển. Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế có khả năng tạo ra việc làm nhiều nhất cho xã hội.
Kinh nghiệm quốc tế đã khẳng định rằng, đối với các nước đang phát triển thì kinh tế tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài tạo nên động lực mạnh mẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của quá trình công nghiệp hóa đất nước.
Hội nhập sâu rộng
Công cuộc đổi mới có quan hệ hữu cơ với hội nhập kinh tế quốc tế, cái này thúc đẩy và tạo điều kiện cho cái kia, cần được tiến hành nhịp nhàng theo sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ. Năm 1990, nước ta đã nối lại quan hệ với Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Tháng 7 năm 1995 đã diễn ra 3 sự kiện lớn: Việt Nam gia nhập ASEAN, Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) ký Hiệp định khung về quan hệ hợp tác. Có lẽ trong lịch sử nước ta chưa có lúc nào 3 sự kiện đối ngoại trọng đại như vậy diễn ra trong cùng một tháng, điều đó minh chứng công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đã đơm hoa kết trái.
Trên cơ sở đó, Việt Nam cùng các nước ASEAN thực hiện Khu vực mậu dịch tự do – AFTA và đang tiến tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Việt Nam ký với Hoa Kỳ Hiệp định thương mại song phương (BTA) đã gia tăng mạnh mẽ hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, từ 732,8 triệu USD năm 2000 tăng lên 7.828,7 triệu USD năm 2005, gấp 11 lần. Việt Nam đã đề ra Chương trình hành động trong quan hệ với EU có sự tham gia xây dựng của cơ quan đại diện EU tại Hà Nội, được EU đánh giá cao trong quan hệ hợp tác song phương. Đầu năm 2007, nước ta là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đánh dấu cột mốc mới trong quan hệ đa phương của quá trình hội nhập quốc tế.
Diễn biến tình hình kinh tế của những tháng đầu năm nay có thể tin chắc rằng, khi kết thúc năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể đạt mức 8-8,5% như dự kiến của Chính phủ, GDP/người tiếp cận mức 800 USD, giới hạn trên của các nước có thu nhập thấp và bắt đầu gia nhập các nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới, tạo tiền đề để hướng đến mục tiêu của năm 2010: GDP đạt 94-98 tỷ USD và GDP/người là 1.050-1.100 USD.
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã nảy sinh những vấn đề của sự phát triển. Đó là tính bền vững và hiệu quả kinh tế – xã hội của đầu tư và tăng trưởng, là sự bất bình đẳng xã hội do khoảng cách giàu – nghèo gia tăng, là các tệ nạn xã hội đến mức báo động, là tình trạng tham nhũng, quan liêu, cửa quyền trong một bộ phận công chức nhà nước… mà hiện đang được Đảng và Nhà nước chỉ đạo xử lý bằng nhiều giải pháp.
Tìm kiếm mô hình phát triển
Chiến lược giai đoạn 2011 – 2020 đang được soạn thảo hướng tới mục tiêu: năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại như đã được đề ra tại Đại hội lần thứ X của Đảng. Vấn đề quan trọng nhất là phải tìm được mô hình phát triển trong giai đoạn mới, bởi vì trạng thái mới của quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế đã tạo ra cơ hội lớn cho các dân tộc, đồng thời thế giới phải đối phó với những vấn đề chung của loài người, như tình trạng nóng lên của trái đất, các dịch bệnh, nạn khủng bố quốc tế; còn nước ta đang tiến vào giai đoạn mới của quá trình phát triển.
Lịch sử của thế giới đã cho thấy rằng, đã có không ít quốc gia ở châu Mỹ La tinh và Trung Đông khi đã vượt qua cửa ải đầu tiên của quá trình phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình thấp thì đã chững lại, do theo đuổi mô hình kinh tế dựa trên tích tụ các yếu tố sản xuất của lý thuyết cổ điển – tài nguyên, lao động và vốn.
Mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thập niên thứ hai của thế kỷ 21 phải coi trọng kinh tế quy mô như động lực phát triển; bởi trong thế giới hiện đại, kẻ thắng – người thua trong cuộc chạy đua giữa các dân tộc hướng tới văn minh phụ thuộc phần lớn vào quy mô kinh tế mỗi ngành, mỗi sản phẩm có thể tạo nên sức cạnh tranh trên thị trường. Indermit Gill và Homi Kharas cho rằng: các nước khi đã có thu nhập trung bình phải thực hiện “đầu tiên, đa dạng hóa sẽ giảm dần và sẽ đi ngược lại, các nước trở nên chuyên biệt hóa hơn về sản xuất và nhân công; thứ hai, đầu tư sẽ kém quan trọng trong khi sáng tạo tăng lên, ba là, hệ thống giáo dục sẽ chuyển từ việc trang bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết để họ có thể sử dụng công nghệ mới sang chuẩn bị cho họ có thể tạo ra sản phẩm và quá trình mới” (xem: Lời mở đầu cuốn Đông Á phục hưng – ý tưởng phát triển kinh tế, Nxb Văn hóa thông tin. Năm 2007).
Mô hình trên đòi hỏi phải lựa chọn để tập trung xây dựng những ngành, sản phẩm có quy mô lớn, chiếm được thị phần quan trọng trên thị trường trong nước và thế giới; coi trọng ý tưởng mới và tính sáng tạo, tạo lập môi trường dân chủ, tự do để những ý tưởng mới và phát minh sáng chế có lợi nhanh chóng được thực hiện, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới, đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển (R&D) theo cơ cấu đã thành công ở nhiều nước: 60% R&D do khu vực kinh doanh, 20% do Chính phủ và 20% do các viện nghiên cứu thực hiện; đổi mới cơ bản hệ thống giáo dục để đào tạo đủ cả lượng và chất nguồn nhân lực cho sự phát triển.
Nhìn lại tổng quan 62 năm kinh tế Việt Nam, nhất là 32 năm đất nước thống nhất, phát triển kinh tế trong thời bình để khẳng định những thành quả to lớn của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời để hướng tới mục tiêu cao hơn trên con đường đi tới của dân tộc với sự cần thiết phải tìm được mô hình phát triển thích ứng với thế giới hiện đại và cung bậc cao hơn của Việt Nam khi đã vượt qua cửa ải của nước có thu nhập thấp, gia nhập vào hàng ngũ nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới.

KIEMTOAN.COM.VN (Theo Đầu tư chứng khoán Online)

MUA NỢ PHẢI THU VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠNH TOÁN

NGUYỄN TRUNG LẬP – Đại học Duy Tân

Cùng với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, Việt Nam sắp gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, đa dạng về loại hình và đa dạng về phương thức huy động vốn. Trong đó, việc mua bán các công cụ nợ trên thị trường tài chính sẽ diễn ra hết sức đa dạng và trở nên phổ biến hơn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến phương pháp hạch toán họat động mua các khoản nợ phải thu của đơn vị khác.

Giao dịch mua nợ phải thu là việc mua các khoản nợ phải thu của các đơn vị khác dựa trên sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán.
Giá mua các khoản phải thu là số tiền do các bên thoả thuận trong giao dịch bán khoản phải thu, được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm so với số tiền nợ mà con nợ còn phải trả cho bên bán, nhưng không thấp hơn nợ gốc trừ đi số tiền mà bên bán đã thu hồi được từ con nợ.
Bên mua có “Quyền truy đòi trong giao dịch mua bán khoản phải thu” là quyền của bên mua yêu cầu bên bán thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với bên mua khi kết thúc Hợp đồng bán khoản phải thu.
Khi mua các khoản nợ phải thu cần lưu ý:
– Yêu cầu bên bán cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực cho bên mua các tài liệu có liên quan đến việc bán khoản phải thu theo thoả thuận giữa hai bên và theo quy định của pháp luật.
– Yêu cầu bên bán chuyển giao toàn bộ hồ sơ đã công chứng về hợp đồng kinh tế và các giấy tờ liên quan đến khoản phải thu (nếu hai bên thoả thuận tại Hợp đồng bán khoản phải thu).
– Được bán khoản phải thu cho bên mua khác với điều kiện bên mua mới cam kết thực hiện đúng các quy định tại Hợp đồng bán khoản phải thu.
– Nhận tiền do bên bán trả theo thoả thuận tại Hợp đồng bán khoản phải thu đến khi trả hết tiền và chấm dứt Hợp đồng bán khoản phải thu.
– Khởi kiện bên bán theo quy định pháp luật khi bên bán vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
– Thực hiện quyền truy đòi trong trường hợp bên bán vi phạm Hợp đồng bán khoản phải thu.
Nghĩa vụ của bên mua
– Thanh toán cho bên bán theo thoả thuận tại Hợp đồng bán khoản phải thu.
– Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với bên bán theo thoả thuận tại Hợp đồng bán khoản phải thu.
– Thông báo cho bên bán về việc khoản phải thu đã được chuyển nhượng cho bên mua khác.
– Lưu giữ hồ sơ và các giấy tờ liên quan đến khoản phải thu theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời giao lại toàn bộ hồ sơ cho bên bán khi thanh lý Hợp đồng bán khoản phải thu.
– Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Hợp đồng bán khoản phải thu.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua nợ phải thu, bên mua có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, nếu:
– Bên bán vi phạm các điều khoản của Hợp đồng bán khoản phải thu.
– Bên bán bị phá sản, giải thể và bên mua không chấp thuận chuyển giao Hợp đồng bán khoản phải thu cho bên thứ ba.
– Hợp đồng cho thuê tài chính bị chấm dứt trước hạn và bên mua không đồng ý thay thế bằng một khoản phải thu từ Hợp đồng cho thuê tài chính khác.
Nếu xảy ra việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn như trên, bên bán phải trả cho bên mua toàn bộ số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ số tiền bên bán đã trả cho bên mua theo Hợp đồng bán khoản phải thu; Bên bán phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên mua theo quy định tại Hợp đồng bán khoản phải thu. Trường hợp bên bán không trả tiền mua khoản phải thu còn lại trong thời hạn do bên mua yêu cầu, thì bên mua được quyền khởi kiện bên bán theo quy định của pháp luật.
Từ những nội dung liên quan đến việc thực hiện họat động mua các khoản nợ phải thu, chúng tôi đưa ra phương pháp hạch toán như sau:
1. Quy định hạch toán liên quan đến việc mua các khoản nợ phải thu:
– Giá mua các khoản nợ phải thu là giá dựa trên sự thỏa thuận của bên mua và bán trong hợp đồng.
– Chi phí đàm phán, giao dịch trước khi ký kết hợp đồng và các chi phí khác liên quan đến việc mua nợ phải thu được hạch toán vào chi phí tài chính theo nguyên tắc kỳ kế toán.
– Lãi (hoặc lỗ) từ họat động mua các khoản nợ phải thu được xác định theo công thức sau:
Lãi (lỗ) mua các khoản nợ phải thu = Giá trị thanh toán của các khoản nợ phải thu – Giá mua các khoản nợ phải thu
2. Phương pháp hạch toán
a. Khi tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng căn cứ vào chứng từ kế toán phát sinh toàn bộ chi phí liên quan, kế toán ghi:
      Nợ TK142-Chi phí trả trước ngắn hạn
            Có TK111,112
b. Khi mua các khoản phải thu:
b.1. Phản ánh giá mua:
      Nợ TK128, 228 – Các khoản phải thu ngắn hạn, dài hạn
            Có TK111, 112
b.2. Phản ánh các chi phí liên quan phát sinh khi mua:
      Nợ TK635 – Chi phí tài chính
            Có TK111,112
b.3. Kết chuyển chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng:
      Nợ TK635 – Chi phí tài chính
            Có TK142- Chi phí trả trước ngắn hạn
c. Định kỳ, bên bán thanh toán các khoản nợ phải thu thu hồi được cho bên mua, căn cứ vào chứng từ phát sinh, kế toán ghi:
      Nợ TK111,112 – Số tiền thanh toán mỗi kỳ
            Có TK128, 228
d. Khi đáo hạn hợp đồng
Khi đáo hạn hợp đồng, kế toán tiến hành kiểm tra số tiền nợ phải thu bên bán đã thanh toán để xác định số tiền còn lại bên bán phải thanh toán, đồng thời xác định lãi (lỗ) từ họat động mua các khoản nợ phải thu. Căn cứ vào chứng từ kế toán ghi:
      Nợ TK111, 112 –
            Có TK128, 228 – Giá mua các khoản phải thu còn lại chưa thanh toán
            Có TK515 – Chênh lệch giữa giá thanh toán của nợ phải thu và giá mua
* Trường hợp bên mua hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn do lỗi thuộc về bên bán, kế toán tiến hành định khoản:
      Nợ TK111,112 – Giá mua còn lại chưa thanh toán và tiền phạt
            Có TK128, 228 – Giá mua còn lại chưa thanh toán
            Có TK711 – Thu nhập khác (tiền phạt)
* Trường hợp bên mua hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn do lỗi thuộc về bên mua, kế toán tiến hành định khoản:
      Nợ TK111,112 – Giá mua còn lại chưa thanh toán sau khi trừ tiền phạt
      Nợ TK811 – Chi phí khác (tiền phạt)
            Có TK128, 228 – Giá mua còn lại chưa thanh toán
Trên đây là một số vấn đề chúng tôi muốn trao đổi cùng bạn đọc về phương pháp hạch toán nghiệp vụ mua các khoản nợ phải thu.

SOURCE: KIEMTOAN.COM.VN

HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠNH TOÁN

NGUYỄN TRUNG LẬP – ĐẠI HỌC DUY TÂN

Để hạn chế rủi ro liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, nhất là các hợp đồng dài hạn thì việc sử dụng các công cụ tài chính là hết sức quan trọng. Với việc sử dụng các công cụ tài chính sẽ mang lại cho người bán, người mua những sự lựa chọn tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng các công cụ tài chính ở các doanh nghiệp còn chưa phổ biến và cũng chưa có chuẩn mực hướng dẫn cụ thể. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp hạch toán liên quan đến việc thực hiện hợp đồng quyền chọn trong việc mua, bán các tài sản phi tài chính.
Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua hoặc người bán mua hoặc bán tài sản với giá định sẵn tại ngày đáo hạn hợp đồng.
Hợp đồng quyền chọn có hai loại:
– Hợp đồng quyền chọn mua (call option): là thỏa thuận cho phép người người mua có quyền mua tài sản từ người bán với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.
– Hợp đồng quyền chọn bán (put option): là thỏa thuận cho phép người bán bán tài sản cho người mua với giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.
Hợp đồng quyền chọn có đặc điểm:
– Không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm.
– Chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt thuộc thực hiện nghĩa vụ của mình.
– Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực hiện quyền. Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn. Tương tự như vậy đối với người bán trong hợp đồng quyền chọn bán.
– Tùy theo từng loại mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn hoặc đến ngày đáo hạn.
Từ những đặc điểm trên của hợp đồng quyền chọn, trong phạm vi bài viết này chúng tôi đi vào thực hiện hạch toán các nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến việc mua hoặc bán các tài sản phi tài chính theo hợp đồng quyền chọn.
1. Hạch toán nghiệp vụ mua hàng theo hợp đồng quyền chọn mua:
1.1. Xác định giá trị thực tế tài sản theo hợp đồng quyền chọn mua
Nếu doanh nghiệp mua tài sản theo hợp đồng quyền chọn, giá trị thực tế của tài sản bao gồm:
+ Cộng các yếu tố:
– Phí quyền chọn.
– Giá thực hiện tại thời điểm đáo hạn hợp đồng.
– Các loại thuế không được hoàn lại (nếu có).
– Các chi phí đàm phán hợp đồng, vận chuyển, bốc dỡ,…
+ Loại trừ các yếu tố:
– Chiết khấu thương mại, giảm giá (nếu có).
Bên cạnh đó, tại thời điểm đáo hạn hợp đồng nếu giá thị trường lớn hơn giá thực hiện thì phần chênh lệch (lãi) sẽ được ghi giảm giá vốn (đối với hàng tồn kho) hoặc phản ánh vào thu nhập khác (đối với TSCĐ, bất động sản đầu tư) và ngược lại, doanh nghiệp không nên thực hiện hợp đồng.
1.2. Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu liên quan đến việc mua hàng theo hợp đồng quyền chọn mua:
a./ Phản ánh quyền phí:
Nợ TK142 – Chi phí trả trước ngắn hạn (quyền phí)
. Có TK111,112
b./ Khi đáo hạn hợp đồng:
– Nếu giá thị trường nhỏ hơn giá thực hiện: Trường hợp này doanh nghiệp lựa chọn không thực hiện hợp đồng mà mua tài sản theo giá thị trường. Như vậy, doanh nghiệp sẽ bị mất quyền phí và quyền phí đó sẽ được tính vào chi phí khác:
Nợ TK811 – Chi phí khác (quyền phí)
. Có TK142 – Chi phí trả trước ngắn hạn (quyền phí)
– Nếu giá thị trường lớn hơn giá thực hiện:
+ Nếu doanh nghiệp thực hiện hợp đồng: Doanh nghiệp phải trả tiền mua tài sản theo giá thực hiện, phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá thực hiện được ghi giảm giá vốn hoặc phản ánh vào thu nhập khác. Kế toán ghi:
Nợ TK152,153,156,211,213…: Giá thị trường
. Có TK111, 112, 331…Giá thực hiện
. Có TK632, 711 – Phần chênh lệch giá thị trường > hơn giá thực hiện.
Đồng thời kết chuyển phí quyền chọn vào giá trị thực tế tài sản:
Nợ TK152,153,156,211,213…Phí quyền chọn.
. Có TK142 – Phí quyền chọn
+ Nếu doanh nghiệp bán hợp đồng quyền chọn: Trường hợp này khoản thu từ bán hợp đồng quyền chọn được ghi nhận vào thu nhập khác và phí quyền chọn được phản ánh vào chi phí khác. Kế toán thực hiện các bút toán sau:
• Phản ánh khoản thu từ bán quyền chọn:
Nợ TK111,112… Tiền thu từ bán quyền chọn
. Có TK711 – Thu nhập khác
• Kết chuyển phí quyền chọn:
Nợ TK811 – Chi phí khác (quyền phí)
. Có TK142 – Chi phí trả trước ngắn hạn (quyền phí)
2. Hạch toán ngiệp vụ bán hàng theo hợp đồng quyền chọn bán
2.1. Đặc điểm liên quan đến hạch toán
– Doanh thu được ghi nhận theo giá thực hiện tại thời điểm đáo hạn.
– Phần chênh lệch giá thị trường tại thời điểm đáo hạn nhỏ hơn giá thực hiện được phản ánh vào thu nhập khác.
– Phí quyền chọn được phản ánh vào chi phí bán hàng (nếu doanh nghiệp thực hiện hợp đồng quyền chọn bán) hoặc phản ánh vào chi phí khác (nếu doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng quyền chọn bán)
2.2. Phương pháp hạch toán
a. Phản ánh chi phí mua quyền chọn bán:
Nợ TK142 – Chi phí trả trước ngắn hạn (phí quyền chọn)
. Có TK111,112
b. Khi đáo hạn hợp đồng:
– Nếu giá thị trường tại thời điểm đáo hạn nhỏ hơn giá thực hiện:
+ Phản ánh giá vốn:
Nợ TK632 – Giá vốn hàng bán
. Có TK155, 156 – Giá trị thực tế xuất kho
+ Phản ánh doanh thu:
Nợ TK111,112,131,… – Giá thực hiện
. Có TK511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá thị trường)
. Có TK711 – Phần chênh lệch giữa giá thực hiện và giá thị trường
+ Kết chuyển quyền phí:
Nợ TK641 – Chi phí bán hàng (quyền phí)
. Có TK142
– Nếu giá thị trường lớn hơn giá thực hiện: doanh nghiệp lựa chọn quyền không thực hiện hợp đồng. Trường hợp này chi phí quyền chọn không được tính vào chi phí bán hàng vào được ghi nhận vào chi phí khác. Kế toán ghi:
Nợ TK811 – Chi phí khác (quyền phí)
. Có TK142
Trên đây là một số nội dung bàn về hạch toán nghiệp vụ mua hàng và bán hàng liên quan đến việc sử dụng hợp đồng quyền chọn mà chúng tôi muốn trao đổi cùng bạn đọc.
SOURCE: http://www.kiemtoan.com.vn.

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

VẤN ĐỀ HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI TRONG TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN: LÝ LUẬN VÀ TÍNH THỜI SỰ

PHẠM VĂN CHÚC – LƯƠNG KHÁC HIẾU*

Hình thái kinh tế – xã hội và quan niệm duy vật lịch sử

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, cả những học trò của C.Mác – Ph.Ăngghen lẫn bất kỳ độc giả nào cũng đều không tìm thấy thuật ngữ hình thái kinh tế – xã hội theo nguyên dạng của nó. Thuật ngữ này, như ghi nhận của giới chuyên môn, xuất hiện muộn hơn khá nhiều. Lần đầu tiên, vào năm 1859, tức là sau Tuyên ngôn đến hơn 10 năm, nó được Mác sử dụng trong Lời tựa cho cuốn sách Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, một trong những dạng thức “tiền thân” của bộ Tư bản.

Tuy nhiên, khi nắm bắt thực chất tinh thần câu chữ trong văn bản và phân tích đối chiếu với cấu trúc nội hàm khái niệm ở trình độ hoàn thiện, chín muồi của nó thì có thể khẳng định rằng, vấn đề hình thái kinh tế – xã hội nằm trong số những nội dung cơ bản quan trọng hàng đầu của Tuyên ngôn

Thật thế, ngay ở phần đầu tác phẩm, Mác – Ăngghen đã khái quát, phân định toàn bộ lịch sử phát triển xã hội loài người theo các cặp giai cấp tiêu biểu đặc thù, đối kháng nhau về cơ sở kinh tế – xã hội và đấu tranh quyết liệt với nhau trên bình diện chính trị – xã hội, từ đó rút ra các chế độ xã hội, loại hình xã hội tương ứng. Theo trình tự thời gian lịch sử, lần lượt đó là: 1- xã hội thời kỳ tiền sử, chưa “thành văn”, tức công xã nguyên thuỷ; và các xã hội thời kỳ “thành văn”, bao gồm: 2- xã hội cổ đại, chiếm hữu nô lệ, với các giai cấp đối kháng cơ bản là người tự do và nô lệ, quý tộc và bình dân; 3- xã hội trung cổ phong kiến với chúa đất và nông nô, thợ cả và thợ bạn; 4- xã hội tư bản hiện đại với tư sản và vô sản; 5- xã hội cộng sản văn minh tương lai sẽ ra đời từ sự diệt vong của xã hội tư bản.

Trong những phần sau, Mác – Ăngghen tập trung tiến hành việc nghiên cứu, “giải phẫu” sâu sắc xã hội tư bản trước hết ở nền tảng kinh tế – xã hội và phương thức sản xuất của nó. Từ đây các ông đã vạch ra được quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của xã hội này nói riêng, quy luật vận động phổ biến, chung nhất của tất cả các loại hình xã hội trong lịch sử nói chung. Đó là  quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, xác định rằng, sự phát triển tới hạn của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến chỗ phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thúc đẩy phương thức sản xuất phát triển lên một trình độ mới cao hơn, cách mạng hoá toàn bộ đời sống xã hội…

Như vậy, cấu trúc nội dung chung của quan niệm duy vật lịch sử đã được xác lập hoàn chỉnh ở Tuyên ngôn bao gồm hai bộ phận hợp thành chính: Một là, hệ thống lô gíc lý luận có tính khái quát, tổng hợp và trừu tượng cao gồm các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm triết học duy vật lịch sử phản ánh toàn bộ kết cấu “cơ thể” xã hội nói chung; Hai là, những khảo sát, phân tích cụ thể sinh động từ góc độ tiếp cận của các khoa học chuyên ngành lịch sử, xã hội, kinh tế…

Hai hợp phần nội dung này là kết quả của hai tuyến nghiên cứu độc lập tương đối với nhau, nhưng vẫn thống nhất với nhau trong một tiến trình chung, vừa làm tiền đề cho nhau, vừa là hệ quả của nhau để đạt tới nhận thức khoa học sâu sắc, đúng đắn và chính xác về hệ thống quy luật phổ biến, chung nhất của lịch sử, xã hội. Ở đây thể hiện rõ  phương pháp biện chứng khoa học đặc sắc “đi từ cái cụ thể (trong hiện thực) – đến cái trừu tượng – trở về cái cụ thể (trong tư duy)”. Phương pháp đó được Mác cắt nghĩa và trình bày trực tiếp sáng tỏ về sau, trong tiểu mục Phương pháp của khoa kinh tế chính trị, Lời nói đầu (1857) cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị.

Tư tưởng về hình thái kinh tế – xã hội của Mác – Ăngghen trong Tuyên ngôn, được rút ra từ quá trình nghiên cứu theo phương pháp đầy hiệu lực và duy nhất đúng đắn ấy (xét ở cấp độ tiếp cận khái quát triết học), chính là “cái cụ thể” xét trên cả hai phương diện trong cấu trúc chung của quan niệm duy vật lịch sử:

Thứ nhất, với tính cách là “cái cụ thể trong hiện thực”, hình thái kinh tế – xã hội phản ánh lịch sử xã hội loài người bao gồm các thời kỳ, giai đoạn với các loại hình, chế độ cơ bản khác nhau, kế tiếp và tương đối tách biệt nhau. Trong đó, mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử, mỗi loại hình, chế độ này lại có những nội dung, tính chất, đặc điểm riêng biệt khác nhau nhất định về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về cơ cấu và mâu thuẫn giai cấp xã hội, về hệ thống chính trị và đời sống tinh thần.

Thứ hai, với tính cách là “cái cụ thể trong tư duy”, hình thái kinh tế – xã hội thống nhất, kết hợp, tổng hợp với hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm triết học duy vật lịch sử để tạo thành một quan niệm duy vật lịch sử có nội dung chung vừa khái quát vừa sinh động, vừa mang tính lô gíc vừa mang tính lịch sử, vừa bao hàm cái chung vừa thể hiện cái riêng, vừa khẳng định cái phổ biến vừa phản ánh cái đặc thù…

Với nội hàm ý nghĩa như thế, quan niệm duy vật lịch sử này trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học thực sự để nhận thức và định hướng đúng đắn cho hoạt động cải tạo thế giới. Nó khác biệt về chất so với những triết học – lịch sử mang “đức tính cao cả nhất là ở tính siêu lịch sử”, tách rời khỏi mọi hoàn cảnh thực tiễn cụ thể, có cao vọng trở thành chìa khoá vạn năng để hiểu biết toàn bộ đời sống lịch sử, xã hội[2].

Hình thái kinh tế – xã hội với tính cách là một đối tượng nghiên cứu chỉnh thể cũng được Mác – Ăngghen đi sâu phân tích kỹ lưỡng hơn cũng theo phương pháp “cụ thể – trừu tượng – cụ thể”, giống như đối với quá trình nghiên cứu toàn bộ cấu trúc “cơ thể” đời sống xã hội, toàn bộ lịch sử nhân loại nói chung. Nhờ vậy các ông đã phác hoạ, khái quát toàn bộ lịch trình tiến triển xã hội loài người thành “mô hình”, “sơ đồ” mang tính “chuẩn hóa” gồm 5 hình thái kinh tế – xã hội. Trong đó, sự vận động, phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội cũng như bước chuyển từ hình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác đều tuân theo các quy luật duy vật lịch sử chung nhất, phổ biến, tất yếu.

Đồng thời, Mác – Ăngghen cũng luôn xem xét, khảo sát một cách cụ thể chi tiết và sâu sắc diễn biến, nội dung đời sống lịch sử hiện thực trực tiếp của nhiều loại hình xã hội đã từng tồn tại ở Tây Âu và các nước, khu vực khác trên thế giới. Từ đó hai ông đã đạt tới nhận thức toàn diện về cả cái lịch sử lẫn cái lô gíc, cái đặc thù lẫn cái phổ biến, cả cái riêng lẫn cái chung, cả cái bộ phận lẫn cái toàn thể…, tức là cả “cái cụ thể trong hiện thực” lẫn “cái trừu tượng”. Kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu theo phương pháp này là sự thống nhất, hợp nhất, tổng hợp của chúng thành “cái cụ thể trong tư duy” vừa sinh động phong phú hơn, vừa sâu sắc đầy đủ và hoàn chỉnh hơn. Đáng chủ ý rằng, đây là điều không phải tất cả đều thấy. Trong khi đó, các nhà “phê phán Mác – Ăngghen” cả trước lẫn nay thì thường bỏ qua để rồi  quay lại  quy kết các ông là “giáo điều”, coi học thuyết hình thái kinh tế – xã hội là một loại quyết định luận mang tính “kinh viện”, “định mệnh”, “khuôn mẫu”, “cứng nhắc” và chỉ có ý nghĩa “hạn hẹp”, “cục bộ”…(!).

Hình thái kinh tế – xã hội và phát triển vượt cấp

Sự quan tâm nghiên cứu toàn diện như thế của Mác – Ăngghen đối với cái lịch sử, cái đặc thù, cái riêng, cái bộ phận (“cái cụ thể trong hiện thực”), đã đem lại những số kết quả quan trọng vừa mang tính khoa học lý luận đặc sắc độc đáo, vừa mang tính thời sự trực tiếp cấp thiết đối với tiến trình chủ nghĩa xã hội thế giới cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI nói chung, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp Đổi mới ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Đáng chú ý trong số đó là  tư tưởng về việc cần phải “hạn chế tính tất yếu lịch sử” của sự phát triển chủ nghĩa tư bản mà chính các ông đã vạch ra, chỉ trong phạm vi những nước Tây Âu[3] và tư tưởng về phát triển vượt cấp đặc thù, “phi chuẩn hóa” của các hình thái kinh tế – xã hội bên cạnh tiến trình phát triển chung nhất, phổ biến của chúng. Phép biện chứng của đời sống thực tiễn ở đây là: cái chung, cái phổ biến, cái trừu tượng không phải luôn luôn đồng nhất với cái riêng, cái đặc thù, cái cụ thể cũng như không phải đồng nhất với tất cả cái riêng, cái cụ thể. Trái lại, trong sự vận động phát triển của hiện thực lịch sử xã hội, cái đặc thù, cái riêng, cái cụ thể và cái chung, cái phổ biến, cái trừu tượng có thể không đồng nhất với nhau nhưng vẫn hoàn toàn thống nhất với nhau.

Ngay trong Tuyên ngôn, tư tưởng về hình thái kinh tế – xã hội đã gắn liền với tư tưởng về phát triển vượt cấp. Bởi vì  thực ra những tư tưởng đó cùng với nhiều tư tưởng cơ bản quan trọng khác trong tổng thể nội dung chung của quan niệm duy vật lịch sử, đều đã được Mác – Ăngghen nêu lên và tiếp tục đề cập đến trong suốt những năm 40 thế kỷ XIX, tức là trong giai đoạn các ông mới hình thành thế giới quan duy vật biện chứng – duy vật lịch sử, lập trường cộng sản chủ nghĩa của mình. Ngoài ra, phát triển vượt cấp cũng cần được xem là vấn đề thuộc về chính nội dung của Tuyên ngôn nếu chú ý rằng, nó đã được Mác – Ăngghen trực tiếp nhắc tới trong Lời tựa cuối cùng mà hai ông cùng soạn thảo, viết cho Tuyên ngôn xuất bản bằng tiếng Nga lần thứ hai vào năm 1882.

Tư tưởng của Mác – Ăngghen về phát triển vượt cấp bao gồm một số nội dung chính như sau:

– Trong một số điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, hình thái kinh tế – xã hội thấp (thứ nhất) có thể phát triển vượt cấp lên một trình độ cao hơn hẳn (thứ ba), bỏ qua giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế – xã hội kế tiếp liền kề (thứ hai). Hiện tượng “lệch chuẩn” so với “sơ đồ mẫu 5 hình thái” này thực ra vẫn không mâu thuẫn mà còn thống nhất với sự phát triển tuần tự qua “sơ đồ” chung đó của lịch sử toàn thế giới. Còn bản thân “sơ đồ mẫu” cũng không loại trừ mà lại bao hàm chính những bước nhảy vượt cấp, bỏ qua. Đây chính là phép biện chứng sinh động giữa cái chung và cái riêng, cái trừu tượng và cái cụ thể, cái phổ biến và cái đặc thù, cái tổng thể và cái bộ phận trong sự vận động, phát triển của lịch sử hiện thực của xã hội loài người.

– Những điều kiện cơ bản cho sự phát triển vượt cấp bao gồm: Một là, xã hội thứ nhất phải vừa có mối liên hệ trực tiếp ít nhiều sâu rộng chặt chẽ, đồng thời  vừa có vị thế độc lập tương đối nhất định đối với xã hội thứ hai. Hai là, xã hội thứ hai không chỉ là phải đang tồn tại, mà còn phải phát triển đến một mức độ chín muồi nhất định của chính nó. Ba là, tuy xã hội thứ nhất có trình độ kinh tế – xã hội thấp hơn, phương thức sản xuất kém phát triển hơn, nhưng vẫn phải có được những nhân tố vật chất – xã hội nội tại nhất định có sức sống mạnh mẽ và mang tính tích cực bền vững, để có thể tham gia được vào  quá trình kết hợp tổng hợp hình thành nên kết cấu kinh tế – xã hội mới của xã hội thứ ba.

Theo sự khảo sát, phân tích lịch sử của Mác – Ănghen, thì phát triển vượt cấp đã từng diễn ra với một số trường hợp. Chẳng hạn xã hội công xã nguyên thuỷ của người Giéc – manh và xã hội chiếm hữu nô lệ của người người La Mã thời kỳ cuối cổ đại chuyển sang đầu trung đại. Lúc đó người Giéc – manh có trình độ phát triển thấp hơn, nhưng lại chinh phục được đế quốc La Mã phát triển cao hơn. Kết quả là các xã hội này đã thống nhất, hợp nhất với nhau và cùng đi lên xã hội phong kiến. Ở đây, phương thức sản xuất mới hình thành chính là kết quả của việc kế thừa, kết hợp, tổng hợp, cải biến hai yếu tố chính: lực lượng sản xuất của người La Mã và tổ chức quân sự của người Giéc – manh.

Hoặc ngay trong thời hiện đại, có liên quan đến chủ đề này là nước Nga phong kiến chuyên chế nửa cuối thế kỷ XIX.  Trong cuộc đời và hoạt động của mình, Mác – Ăngghen đã sớm quan tâm đến nước Nga. Đây là một cường quốc Âu – Á có kiến trúc thượng tầng phong kiến chuyên chế và cơ sở hạ tầng tư bản chủ nghĩa phát triển không cao, được hai ông đề cập riêng đến khá nhiều trong khoảng vài ba thập niên cuối đời. Mác – Ăngghen không chỉ chú ý đến tình thế cách mạng đang ngày càng gay gắt tại Nga nói chung, mà còn nhìn thấy ở nước này những khả năng nhất định cho sự phát triển bỏ qua xã hội tư bản vượt cấp lên xã hội cộng sản. Theo Mác – Ăngghen, từ những tiền đề cơ bản như: ở đây có kết cấu công xã nông thôn tồn tại khắp cả nước, cộng thêm vị thế độc lập thuận lợi của một nước lớn trong cục diện quốc tế đương thời, đặt trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở châu Âu, thì nước này có thể thực hiện bước chuyển vượt cấp lên xã hội cộng sản, bỏ qua “khe sâu Cáp-đi-a” là những nỗi tai ương, đau khổ của chủ nghĩa tư bản. Trên cơ sở các tài liệu cụ thể, sinh động đó, hai ông cũng củng cố, khẳng định và khái quát vững chắc thêm nội dung lô gíc lý luận chung trong tư tưởng về phát triển vượt cấp vốn sớm hình thành từ thời kỳ mới viết “những tác phẩm đầu tay” cho đến Tuyên ngôn.

Trong giai đoạn từ Tuyên ngôn trở đi, với thực tiễn của chủ nghĩa tư bản nửa cuối thế kỷ XIX, trong đó có tình hình nước Nga phong kiến chuyên chế đã bước vào con đường tư bản hóa từ năm 1861, hai ông lại tiếp tục tiến hành việc nghiên cứu khoa học chuyên biệt về vấn đề phát triển vượt cấp với sự vận dụng phương pháp biện chứng “cụ thể – trừu tượng – cụ thể”. Theo đó, Mác – Ăngghen đã bổ sung thêm vào các tài liệu lịch sử cụ thể đã có từ thời cổ – trung đại và cận đại về phát triển vượt cấp bằng những tài liệu mới của nước Nga đương thời. Qua đấy “cái cụ thể trong hiện thực” về hiện tượng lịch sử đặc biệt này được làm phong phú thêm, đồng thời “cái trừu tượng” (lô gíc lý luận chung về hiện tượng đó) cũng được củng cố, khẳng định thêm. Cuối cùng quá trình nhận thức đạt đến “cái cụ thể trong tư duy” vừa khái quát hơn vừa sinh động hơn. “Cái cụ thể trong tư duy” này chính là tiền đề nhận thức, lý luận dẫn đến tư tưởng về sự phát triển vượt cấp trong thời hiện đại với nội dung bỏ qua xã hội tư bản quá độ lên xã hội cộng sản như một khả năng mới mẻ có tính hiện thực trực tiếp cao. Khả năng này có thể còn không phải là ngoại lệ cá biệt, xét trong bối cảnh mới của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX đã công nghiệp hóa và quốc tế hóa mạnh mẽ, bắt đầu vượt ra khỏi phạm vi Tây Âu để vươn sang địa bàn Đông Âu, châu Á, Bắc Mỹ và toàn thế giới.

Như vậy, tư tưởng của Mác – Ăngghen trong Tuyên ngôn và từ Tuyên ngôn về hình thái kinh tế – xã hội, gồm cả nội dung đặc sắc về phát triển vượt cấp, đã bao quát toàn diện hiện thực xã hội tư bản kể từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi ở cả vùng trung tâm vốn vẫn tiến triển tuần tự theo “khuôn mẫu” điển hình lẫn vùng ngoại vi diễn biến “bất thường” theo mô hình phát triển vượt cấp. Những tư tưởng cách mạng khoa học thiên tài ấy của các ông đã dự báo, dự kiến chính xác cả hai tuyến vận động chuyển hoá phổ biến và đặc thù diễn ra đồng thời, thống nhất biện chứng với nhau trong sự vận động, phát triển chung của hệ thống tư bản thế giới từ khi bước vào thời hiện đại. Đó là  quá trình chuyển biến lên xã hội cộng sản từ các xã hội tư bản phát triển cao, điển hình; và quá trình chuyển biến lên xã hội cộng sản từ các xã hội tư bản phát triển không cao, không điển hình, kể cả các xã hội tiền tư bản như sẽ diễn ra về sau trong thế kỷ XX.[4]

Tuyên ngôn và thời đại ngày nay

Vấn đề hình thái kinh tế – xã hội trong Tuyên ngôn với những nội dung phong phú toàn diện hoàn chỉnh như đã nêu, trong đó đặc biệt là tư tưởng của Mác – Ăngghen về phát triển vượt cấp, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng. Về mặt khoa học, tư tưởng này trước hết làm cho nội hàm khái niệm hình thái kinh tế – xã hội thêm đầy đủ sinh động và bản thân nó trở thành một khái niệm mang tính biện chứng khoa học sâu sắc. Đồng thời tư tưởng đó mở ra một hướng nghiên cứu mới mẻ độc đáo và thiết thực cho cả lý luận lẫn sự vận dụng lý luận duy vật lịch sử.

Về mặt thực tiễn, sự vận động của lịch sử toàn thế giới 160 năm qua trên những nét cơ bản đã làm sáng tỏ và minh chứng hùng hồn giá trị vượt thời đại của Tuyên ngôn nói chung, tư tưởng về hình thái kinh tế – xã hội trong đó nói riêng. Chỉ vài thập niên sau khi Tuyên ngôn ra đời, Công xã Pa-ri bùng nổ và đứng vững hơn 70 ngày. Sự kiện này chứng tỏ rằng mâu thuẫn cơ bản nội tại trong xã hội tư bản là hết sức gay gắt, rằng chế độ này không phải là “hoàn hảo”, “vạn năng”, “vĩnh cửu”. Trái lại, kể từ đó một vết rạn nứt sâu sắc không gì xoá nhoà được của hệ thống tư bản đã hiển hiện rõ ràng trước mắt mọi người.

Tròn 70 năm sau thời điểm Mác – Ăngghen khởi thảo Tuyên ngôn, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm 1917 đã giành thắng lợi tại nước Nga, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của Liên Xô và sau đó là của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từ cuối những năm 40 thế kỷ XX kéo theo thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trong suốt 3/4 thế kỷ XX, đã xác nhận rực rỡ giá trị khoa học vạch thời đại của Tuyên ngôn và của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội. Thực tế này cho thấy tính đúng đắn của những tư tưởng của Mác – Ăngghen về mâu thuẫn nội tại và sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản; về sự chuyển biến, ra đời và thắng lợi tất yếu của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản, cũng như của bản thân xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đặc biệt, nếu chú ý tới tình hình là tất cả các nước trên đều đi lên chủ nghĩa xã hội từ xuất phát điểm là các xã hội tư bản phát triển không cao, không điển hình, kể cả tiền tư bản, thì đó cũng chính là lời khẳng định mạnh mẽ đầy thuyết phục cho tính hiện thực khả thi trực tiếp của sự phát triển vượt cấp lên xã hội cộng sản trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới ngày nay.

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cuối thế kỷ XX là thuộc về nhân tố chủ quan. Đó là tình trạng các đảng cộng sản và công nhân cầm quyền tại đây chậm đổi mới mô hình chủ nghĩa xã hội, mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong việc tiến hành cải tổ. Nhưng chính bởi vậy mà sự kiện này lại không hề bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, lý tưởng cộng sản. Trái lại chúng chỉ chứng minh cho sự đúng đắn của tư tưởng mác xít về tính phức tạp, khó khăn lâu dài của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản nói chung, sự phát triển vượt cấp bỏ qua xã hội tư bản quá độ lên xã hội cộng sản nói riêng.

Thực tiễn của Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác hiện nay vẫn đang vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới và cải cách, mở rộng giao lưu hội nhập và hợp tác quốc tế chính là bằng chứng sinh động, vững chắc khẳng định cho tính chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Mác – Ăngghen về hình thái kinh tế – xã hội và về phát triển vượt cấp. Tại Đại hội X vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định “giá trị định hướng và chỉ đạo có ý nghĩa to lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991)”1. Đường lối, quan điểm của Đảng ta coi cách mạng Việt Nam đang ở “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” mà chưa phải đã ở trong chủ nghĩa xã hội “phát triển” hay ở “giai đoạn đầu” của chủ nghĩa xã hội, là xuất phát từ chính tình hình thực tiễn đất nước ta. Đường lối, quan điểm đó cũng là duy nhất đúng đắn và phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng hồ Chí Minh, với tư tưởng của Mác – Ăngghen trong Tuyên ngôn về hình thái kinh tế – xã hội và về phát triển vượt cấp.

Sự thắng thế và lan rộng của phong trào cánh tả ở Mỹ la-tinh, nơi từ hàng trăm năm nay vốn là sân sau của chủ nghĩa tư bản Bắc Mỹ, với những tuyên bố công khai mạnh mẽ về con đường  xã hội chủ nghĩa trong khoảng 10 năm trở lại đây, đã thể hiện rõ rệt xu hướng phản kháng quyết liệt chống chủ nghĩa đế quốc áp đặt cường quyền, chống chủ nghĩa tư bản tự do mới ở vùng trung tâm, phương Bắc và phương Tây. Cho dù đây có thể chưa phải là sự khẳng định thật sự đối với chủ nghĩa xã hội, thì nó cũng đã là sự phản ánh và phê phán những hạn chế, bế tắc, kém thuyết phục của chủ nghĩa tư bản xét trên quy mô hệ thống toàn thế giới của hình thái xã hội đó.

Còn chính ở địa bàn quê hương của chủ nghĩa tư bản, nơi mà nó vẫn duy trì tiến trình, nhịp độ chuyển biến tuần tự tiệm tiến theo “chuẩn mẫu” điển hình hoá thì tình hình ra sao? Tại đây, thực tế là các nước tư bản hàng đầu Tây Âu, Bắc Mỹ vẫn tiếp tục phát triển lên những tầng cấp, mức độ đáng kể mới về kinh tế, sản xuất, khoa học – công nghệ, năng suất lao động, tổng sản phẩm quốc dân, thu nhập bình quân đầu người… Tuy nhiên, đó thật ra chỉ là sự tăng trưởng về lượng hơn là sự phát triển theo  nghĩa một sự tiến bộ về chất. Bản chất của các quan hệ kinh tế – xã hội cơ bản mà giai cấp tư sản thống trị ở những nước này ra sức quyết liệt củng cố, duy trì  vẫn hoàn toàn không thay đổi. Sự xuất hiện của những nhân tố mới mẻ, mà về mặt nào đó có thể coi là mang “tính chất xã hội chủ nghĩa” (chẳng hạn như chế độ cổ phần hoá cho đông đảo người lao động), không hề nằm trong chủ trương thúc đẩy, khuyến khích của  chính thể tư sản. Cùng lắm thì các nhân tố đó cũng chỉ được một hay một số cá nhân nhà tư bản áp dụng, thực thi. Một số hiện tượng nổi trội trong thế giới tư bản từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây, như cách mạng khoa học – công nghệ và toàn cầu hoá, tuy có mặt gắn với sự tiến bộ của toàn thế giới, toàn nhân loại, nhưng về nhiều mặt khác lại bộc lộ rõ rằng, chúng chính là những cứu cánh cho chế độ tư bản, quan hệ sản xuất tư bản, hơn là những thành quả đạt được từ hiệu năng tự thân nội tại của chế độ và quan hệ sản xuất đó.

Rõ ràng, ngay trong một thế giới “hậu chiến tranh lạnh” bước vào thế kỷ XXI hiện nay, khi không còn hệ thống xã hội chủ nghĩa như trong “cục diện lưỡng cực” cũ, thì Tuyên ngôn vẫn sống, những tư tưởng về hình thái kinh tế – xã hộiphát triển vượt cấp gắn với tác phẩm này vẫn sống. Thế giới đã bước vào một thời kỳ mới, một thời cuộc mới. Nhưng thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 vẫn đang tiếp diễn và không thể đảo ngược được. Tiến trình quá độ vượt cấp lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam cũng vẫn đang tiếp diễn và không thể đảo ngược được. Tuyên ngôn bất hủ với những tư tưởng thiên tài vạch thời đại của Mác – Ăngghen vĩ đại vẫn đang soi sáng, thúc đẩy tiến trình cách mạng vô sản thế giới và con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

*PGS.TS., Phó Tổng biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
**TS., Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền
[1] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, trang 596-597, 603.
[2] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, trang 177.
[3] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, trang 359-360. Luận điểm này của Mác về sau, vào khoảng đầu những năm 20 thế kỷ XX, đã được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đề cập đến trong quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin.
[4] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Tuyển tập, gồm sáu tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, trang 273, 354 – 357; tập II, năm 1981, trang 611; C.Mác – Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi, 1994, trang 172, 360, 432-434, 572-603. Xem thêm: Vấn đề “phát triển vượt cấp” trong lý luận tiến bộ xã hội mác xít. Tạp chí Cộng sản, số 8-4/1997, trang 29-32, 46.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 20.

TÌM HIỂU VỀ LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ (anti-dumping) CỦA MỸ [1]

ĐỖ TUYẾT KHANH *

Từ khi phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại và đẩy mạnh sự hội nhập vào nền thương mại quốc tế, Việt Nam đã phải đụng chạm với nhiều vấn đề mới và làm quen với một số khái niệm và ngôn từ mới. Qua vụ tranh chấp với Mỹ về việc buôn bán cá tra, những thuật ngữ “bán phá giá”, “dumping” và “anti-dumping” đã trở thành quen thuộc trong báo chí và dư luận trong nước. Sự kiện cá tra được nhiều người coi như một thử thách quan trọng cho quan hệ thương mại giữa hai nước, qua đó có thể đánh giá ý nghĩa và giá trị thực tiễn của hiệp ước song phương Việt -Mỹ, và cũng là điển hình cho những vấn đề Việt Nam sẽ còn hay gặp và phải giải quyết trong các quan hệ kinh tế với thế giới.

Để đối phó với một vấn đề mới, đầu tiên là phải tìm hiểu các ngõ ngách, nguồn ngọn của nó, nắm bắt những yếu tố có lợi và bất lợi cho mình để tự bảo vệ. Phát triển quan hệ thương mại với thế giới, đặc biệt với Mỹ, là điều cần thiết nhưng nếu muốn đi buôn mà không mất cả chì lẫn chài thì phải nắm rõ luật chơi để khỏi bị ăn hiếp hay lép vế. Buôn bán với Mỹ thì không chóng thì chầy, lúc nào đó sẽ bị gán cho tội bán phá giá, và tội này sẽ được Mỹ phân xử theo luật lệ riêng của Mỹ, theo chính sách và truyền thống của Mỹ.

Qua sự kiện cá tra, chúng ta có thể thấy phía Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu, tìm hiểu về việc kiện tụng này và cách Mỹ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Các trang web của báo chí trong nước đã có nhiều bài báo, phỏng vấn và liên kết đến các nguồn tư liệu, kể cả bằng tiếng Anh, cho phép dư luận theo dõi đầu mối và diễn tiến của vụ tranh chấp. Tuy thế, hình như cũng chưa có bài nào phân tích sâu và toàn diện hơn về vấn đề chống bán phá giá nói chung và chính sách liên quan của Mỹ. Trong bài này, chúng tôi sẽ tìm hiểu về bộ luật chống bán phá giá của Mỹ và quá trình áp dụng nó trong bối cảnh rộng hơn của hệ thống thương mại đa phương nói chung và chính sách ngoại thương của Mỹ nói riêng. Để cho gọn, chúng tôi sẽ dùng lẫn lộn các thuật ngữ “bán phá giá” hoặc “dumping”, và hai chữ “AD” (cho anti-dumping) khi cần viết tắt thuật ngữ “chống bán phá giá” .

Bán phá giá và chống bán phá giá là gì ?

Bán phá giá đi liền với cạnh tranh, và là một trong những hình thức cạnh tranh bất chính. Cạnh tranh chủ yếu là qua chất lượng hay giá cả, và giá cả thường là yếu tố có sức thuyết phục hơn cả. Có buôn bán tất có cạnh tranh nên hai khái niệm này cùng xưa như nhau, nhưng chỉ từ khi sự thương mại giữa các nước được đặt thành vấn đề phải giải quyết một cách qui củ, trong khuôn phép của luật lệ, thì mới bàn đến cạnh tranh trung thực hay bất chính. Cùng lúc với sự hình thành của luật thương mại quốc tế là một “đạo lý kinh tế” chi phối các quan hệ giữa các bạn hàng. Cạnh tranh là một trong những cơ sở của chủ nghĩa tự do kinh tế nhưng cũng phải tuân thủ những nguyên tắc đạo lý ấy. Những câu chữ thường gặp nhất trong sách vở nói rõ mối quan tâm đó: cạnh tranh phải trung thực (fair competition) trong một nền thương mại đa phương phải là sân chơi bình đẳng (level playing field), trong đó mọi hành vi làm sai lệch (distort) mối tương quan cạnh tranh để giành lấy một lợi thế bất chính (unfair advantage) đều đáng lên án, thậm chí có thể bị trừng phạt.

Bán phá giá là một trong những hành vi ấy, được định nghĩa là việc bán một món hàng trên một thị trường ngoại quốc với giá rẻ hơn giá bán trên thị trường nội địa của nơi sản xuất. Vì như thế là cạnh tranh bất chính với các nhà sản xuất của nước nhập khẩu, nên để bảo vệ họ, chính quyền nước này có thể phản công, thường là qua biện pháp đánh thuế, một loại thuế đặc biệt chỉ áp dụng cho nước xuất khẩu món hàng bị coi là bán phá giá, hầu lập lại thế quân bình trong cạnh tranh, tái lập lại sân chơi bình đẳng. Thuế ấy gọi là thuế chống bán phá giá.

Các biện pháp chống bán phá giá (AD) như thế nhằm tái lập trật tự trong cạnh tranh, đúng với tư duy của chủ nghĩa tự do kinh tế, nhưng cũng là công cụ bảo vệ ngành sản xuất nội địa đối với hàng nhập. Nhưng cản trở nhập khẩu, đánh thuế, thì lại có vẻ mâu thuẫn với một “giáo lý” cơ bản khác là tự do hoá các luồng giao lưu thương mại. Thực ra không có gì mâu thuẫn vì các biện pháp AD cũng còn là một loại van an toàn cho chính sách tự do mậu dịch. Càng mở rộng cửa cho bên ngoài vào thì càng phải nắm chắc cái quả đấm để đóng cửa ngay lại được nếu cần. Càng chủ trương hội nhập vào toàn cầu hoá thì càng phải có những biện pháp phòng thủ, trước mắt là để trấn an các nhà sản xuất nội địa và có được sự ủng hộ trong nước. Do đó không ngẫu nhiên mà các nước kinh doanh lớn nhất thế giới, hô hào mạnh nhất cho tự do mậu dịch, như Mỹ, Liên hiệp châu Âu, Úc và Canada, cũng là những nước dùng đến các biện pháp AD nhiều nhất. Cũng như không ngẫu nhiên mà vấn đề chống phá giá vẫn có chỗ trong chương trình phục vụ tự do hoá thương mại của tổ chức GATT và sau này WTO.

Chống bán phá giá trong khuôn khổ GATT và WTO

Vấn đề chống bán phá giá tuy đã được Hiệp hội các quốc gia (League of Nations) nghiên cứu ngay từ năm 1922, nhưng chỉ đến năm 1947, với sự thành lập của tổ chức GATT (General Agreement of Tariffs and Trade – Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại), mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, qua Điều VI của Hiệp ước này. Lúc ấy đề tài này chưa được tranh cãi nhiều và chỉ về sau, khi các luồng thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh đương nhiên ráo riết hơn, và các nước thành viên của GATT cũng đông hơn, mới thành một mối quan tâm chính, ngày càng lớn qua các vòng thương thảo tiếp nối nhau. Khi vòng Kennedy Round chấm dứt năm 1967 thì những qui tắc về chống bán phá giá trong Điều VI của GATT được triển khai thành cả một hiệp ước riêng: Agreement on the Implementation of Article VI , thường gọi tắt là Anti-dumping Code, hay Bộ luật AD. Ngoài việc chống phá giá, Điều VI còn qui định các biện pháp chống tài trợ (countervailing) đối với các hàng nhập khẩu được tài trợ tại nơi sản xuất. Vấn đề này cũng được triển khai thành một hiệp ước riêng : Agreement on the interpretation and application of Articles VI, XVI and XXIII, thường gọi tắt là Subsidies Code, hay Bộ luật về tài trợ.

Hai bộ luật này tiếp tục được bổ sung trong các vòng thương thảo Tokyo Round và Uruguay Round. Bộ luật AD hiện hành ngày nay là Agreement on the Implementation of Article VI of GATT 1994, gọi tắt là Anti-dumping/AD Agreement, và bộ luật về tài trợ là Agreement on Subsidies and Countervailing Measures, gọi tắt là SCM Agreement. Ngoài ra, Điều XIX của GATT cũng được triển khai thành một hiệp ước mới về các biện pháp bảo vệ ( Agreement on Safeguards, gọi tắt là SG Agreement) cho phép một nước nhập khẩu đánh thuế đặc biệt vào một mặt hàng khi số lượng nhập khẩu tăng vọt, gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại trầm trọng (material injury) cho ngành sản xuất nội địa liên can.

Trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới WTO, kế thừa GATT sau vòng Uruguay, ba hiệp ước AD, SCM và SG còn được gọi là ba cột trụ của hệ thống các biện pháp “cứu chữa” (trade remedies) hay “phòng vệ” (trade defences), áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hoá nước khác. Đa số các vụ tranh chấp trước GATT và WTO xoay quanh ba hiệp ước này, và nếu trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ tìm hiểu về vấn đề chống dumping, cũng không nên quên là hai vấn đề liên kết kia cũng rất hay gặp phải trong các quan hệ ngoại thương.

Trong những lãnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, luật quốc gia một nước thành viên phải phù hợp với các hiệp ước và qui định của WTO, những văn kiện này được coi như một bộ phận của hệ thống pháp lý quốc gia, và đặt ở vị trí cao nhất. Do đó các đạo luật khung về AD của các nước thường lập lại tất cả các nguyên tắc của Hiệp ước AD, thậm chí lấy lại nguyên văn hiệp ước trong trường hợp nhiều nước chỉ mới ban hành luật này sau khi gia nhập WTO. Để áp dụng các nguyên tắc ấy trong thực tế, mỗi nước có một hay nhiều đạo luật thi hành, dựa theo pháp chế riêng của mình. Như thế, về các nguyên tắc chung thì luật các quốc gia phải đồng nhất nhưng về mặt áp dụng thực tiễn thì có thể có những đặc tính khác nhau. Đây là hai vế song song của vấn đề cần phải nắm rõ như nhau.

Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp ước AD

Hiệp ước AD của WTO có hiệu lực từ ngày 1.1.1995, gồm 3 phần chia thành 18 điều lệ và hai phụ đính. Những điều lệ quan trọng nhất là Điều 2 ( Xác định sự bán phá giá), Điều 3 ( Xác định sự tổn hại), Điều 4 (Định nghĩa ngành sản xuất nội địa), Điều 5 (Khởi tố và điều tra), Điều 6 (Bằng chứng), Điều 9 (Ấn định và thu thuế AD) và Điều 11 (Thời gian hiệu lực và việc xem xét lại các thuế AD và cam kết về giá cả).

Theo định nghĩa của Điều 2.1, một món hàng sẽ bị coi như bán phá giá nếu được đưa vào thị trường một nước khác với một giá thấp hơn giá trị bình thường (normal value) của nó, tức là nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá so sánh được (comparable price) của một món hàng tương tự (like product) bán trên thị trường của nước xuất khẩu. Chỉ một câu thôi mà có tới ba thuật ngữ là đầu mối cho bao nhiêu vụ tranh chấp, được đem ra mổ xẻ, bàn cãi trong cả mấy trăm trang cho từng báo cáo của WTO! Thế nào là giá trị bình thường, thế nào là bình thường ? Giá của tôi thế này mà lại so sánh được với giá của anh sao?! Thế nào là tương tự? Rượu Whisky Mỹ mà lại tương tự với rượu Shoju của Nhật à ? V.v. và v.v. Những phần còn lại của Điều 2 qui định tỉ mỉ cách tính giá cả, giá trị bình thường, cách so sánh mọi yếu tố, trong nhiều trường hợp khác nhau, để đi đến phán quyết là có hay không có dumping và biên độ bán phá giá (dumping margin) là bao nhiêu.

Quan trọng không kém là xác định ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu có bị tổn hại hay không. Đây là cơ sở “đạo lý” của biện pháp AD. Điều 3 dài 2 trang và gần như câu nào cũng kéo theo đủ thứ vấn đề rối rắm, làm tốn không biết bao giấy mực trong các vụ tranh chấp! Nhưng cũng có thể tóm gọn những điểm cơ bản nhất như sau:

1. Để xác định có sự tổn hại, cơ quan điều tra phải dựa vào các chứng từ tích cực (positive evidence), các sự kiện chứ không được vịn vào một luận cứ (allegation), phỏng đoán hay một khả năng xa vời và phải xem xét một cách khách quan a) số lượng hàng nhập bán phá giá và ảnh hưởng của nó lên giá cả của mặt hàng tương tự trên thị trường nội địa và b) ảnh hưởng của hàng nhập ấy lên các nhà sản xuất nội địa.

2. Hàng nhập phải rẻ hơn hàng nội địa một cách đáng kể, và phải là ngưyên nhân khiến giá hàng nội địa bị dìm theo và không tăng lên được.

3. Cơ quan điều tra phải xét đến tất cả các yếu tố khác, ngoài hàng nhập, liên quan đến tình trạng kinh tế của ngành sản xuất nội địa.

4. Phải có một quan hệ nhân quả (causal relationship) giữa hàng nhập bị tố cáo là bán phá giá và sự tổn hại. Cơ quan điều tra không được vu cho hàng nhập khẩu những gì do các yếu tố khác gây ra.

Điều 4 định nghĩa ngành sản xuất nội địa, tức là ai có quyền đệ đơn trước cơ quan hữu trách để khởi đầu một vụ kiện AD. Điều 5 và Điều 6 qui định chi tiết các thủ tục khởi tố và điều tra, các bằng chứng do bên nguyên và bên bị đưa ra. Theo Điều 8, cơ quan điều tra có thể đồng ý ngưng hay chấm dứt thủ tục mà không đánh thuế nếu công ty bị kiện cam kết thôi không bán phá giá. Điều 11 qui định là các thuế AD có thể được áp dụng cho đến khi không còn cần thiết để khắc phục sự bán phá giá đã gây ra tổn hại. Tuy thế, cơ quan hữu trách phải xem xét lại sự cần thiết ấy, sau một thời gian vừa phải, và bãi bỏ thuế AD nội trong vòng 5 năm trừ phi khẳng định, sau khi đã xem xét lại tình hình, là làm thế thì sự bán phá giá và tổn hại sẽ tiếp diễn hoặc tái diễn.

Hiệp ước AD còn qui định là một năm hai lần, các nước thành viên phải thông báo lên Ủy Ban AD (Committee on Anti-dumping Practices) của WTO những quyết định khởi tố hay biện pháp AD mới, tiến trình của các điều tra và biện pháp đương thời, những mặt hàng và những nước xuất khẩu bị nhắm. Ủy ban AD thường xuyên phải nhắc nhở các nước thành viên nào lơ là việc này, thông tin chậm trễ hay thiếu sót, hay thậm chí cả mấy năm không báo cáo gì cả. Do đó các thống kê chỉ phản ánh một phần của thực tế. Tuy thế mấy con số sau đây cũng cho thấy tốc độ phát triển của vấn đề: năm 1958, đợt kiểm kê đầu tiên của GATT sau 11 năm thành lập cho thấy chỉ có 37 sắc lệnh AD hiện hành trong tất cả các nước thành viên, trong đó 21 sắc lệnh là của Nam Phi. Theo tổng kết của WTO tháng 6 năm 2003, chỉ trong 8 năm, từ 1.1.1995 đến 31.12.2002, đã có tới 1 258 biện pháp AD của các thành viên được thông báo đến Ủy ban.

Một điều đáng lưu ý là tuy các nước phát triển tiếp tục dùng nhiều đến các biện pháp AD nhưng số biện pháp xuất phát từ các nước thế giới thứ ba đã tăng vọt từ sau Vòng Uruguay và hiện nay đứng đầu danh sách là Ấn Độ với 219 biện pháp, trước cả Mỹ (192) và Liên hiệp châu Âu (164). Như Ấn Độ, trong khối đang phát triển, các nước dùng đến AD nhiều nhất như Argentina (120), Nam Phi (107) hay Brazil (55) và Mexico (55) đều là những nước rất tích cực trong việc đẩy mạnh ngoại thương. Từ đó có thể rút ra hai nhận xét: một là, song song với sự hội nhập vào nền thương mại quốc tế, các nước đang phát triển cũng dùng đến bộ máy AD nhiều hơn vì phải bảo vệ nền sản xuất còn yếu ớt của chính mình và các biện pháp AD vừa là cách hữu hiệu nhất vừa phù hợp với luật lệ của WTO. Hai là đối với các nước này, các biện pháp AD vừa là công cụ của các cường quốc không cho họ thâm nhập thị trường và mở mang buôn bán, vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ. Do đó, trong sự tranh cãi giữa các nước nghèo và giàu về đề tài AD, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của Hội nghị bộ trưởng WTO tại Seattle năm 1999 và còn dai dẳng cho đến nay, các nước nghèo không đặt lại vấn đề AD về nguyên tắc mà chỉ đòi hỏi sửa đổi, củng cố các điều khoản để tránh các lạm dụng và yêu cầu lập một chế độ đặc biệt để nâng đỡ họ. Nói cách khác, họ không phủ nhận sự cần thiết của khung pháp lý về AD mà phê phán cách áp dụng thực tiễn trong các đạo luật và chính sách quốc gia. Và bị chỉ trích nặng nề nhất là bộ luật và chính sách AD của Mỹ.

Chính sách AD của Mỹ trong các tranh cãi nội bộ và đa phương

Như đã nói ở trên, cho đến những năm gần đây, Mỹ là “vô địch” trong việc dùng các biện pháp AD . Cho đến 30.6.1999, chẳng hạn, trên số 1121 biện pháp đang hiện hành lúc đó được thông báo lên Ủy ban AD của WTO, 300 biện pháp là của Mỹ, tức là hơn một phần tư tổng số. Chính sách AD của Mỹ bị nhiều nước phản đối là điều dễ hiểu nhưng chính trong nội bộ nước Mỹ, đấy cũng là một đề tài tranh cãi gay gắt. Sự bất đồng này có nhiều lý do kinh tế, chính trị, lịch sử và cả tâm lý xã hội.

Trong lịch sử nước Mỹ, các vấn đề thương mại đóng vai trò then chốt hơn rất nhiều so với các nước châu Âu. Cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ bắt nguồn từ một tranh chấp thương mại với mẫu quốc là nước Anh. Chiến tranh ly khai (American Civil War) giữa thế kỷ XIX cũng xoay quanh sự đối lập giữa các bang miền Bắc muốn có chính sách bảo hộ cho các ngành kỹ nghệ đang phôi thai của họ và các bang miền Nam e ngại chính sách đó ảnh hưởng lên các xuất khẩu của họ. Lịch sử của Mỹ từ đó cho tới nay là sự luân phiên giữa hai khuynh hướng ấy, lúc thì ngả theo chủ nghĩa cách ly (isolationism), lúc thì chủ trương tham gia vào chính trường quốc tế (internationalism) thắng thế. Hoặc để dùng ngôn từ ngày nay, là sự giằng co giữa chủ trương bảo hộ – gắn liền với chủ nghĩa đơn phương-, và khuynh hướng quốc tế hay chủ nghĩa đa phương. Bộ máy AD có chức năng trấn an các thế lực bảo hộ, hướng nội (introverted) để khuynh hướng quốc tế, hướng ngoại có thể duy trì và đẩy mạnh sự tham gia của Mỹ vào các hệ thống đa phương.

Một mặt khác của vấn đề là cơ cấu chính trị của Mỹ: Quốc hội Mỹ, như đa số công chúng, thường có khuynh hướng bảo hộ, coi luật lệ Mỹ, và bộ máy AD nói riêng, như bất khả xâm phạm và chống đối lại mãnh liệt bất cứ gì, theo họ, xúc phạm đến chủ quyền của Mỹ. Các quyết định của WTO về sự bất hợp lệ của một đạo luật hay biện pháp của Mỹ, chẳng hạn. Trong khi đó, chính quyền, vì làm việc trực tiếp với thế giới bên ngoài, đương nhiên có cái nhìn mở rộng hơn. Rắc rối ở chỗ, như hiến pháp qui định, chính sách ngoại thương thuộc thẩm quyền của Quốc hội trong khi việc thực thi chính sách và thương thuyết với các nước khác là nhiệm vụ của chính quyền. Do đó chính phủ, cụ thể là Tổng thống và Đại diện của Mỹ cho các vấn đề ngoại thương (US Trade Representative – USTR), phải vừa trấn an các nước khác là Mỹ vẫn tôn trọng các bổn phận đa phương, vừa trấn an các nhà lập pháp trong nước, bản thân họ cũng chịu áp lực mạnh mẽ của các lobbies, là quyền tự chủ quốc gia của Mỹ vẫn không bị sứt mẻ. Cho nên khi các nghị sĩ Mỹ càng lớn tiếng chửi rủa và đe doạ trừng phạt, tẩy chay hàng Pháp vì Pháp ngoan cố không chịu ủng hộ cuộc chiến tranh Iraq, thì ông USTR, Robert Zoellick, lại càng phải vui vẻ, hoà nhã với đồng nghiệp Pascal Lamy, cùng nhau tuyên bố là không thể để chính trị ảnh hưởng đến thương mại. Tay này đấm thì tay kia phải xoa!

Vai trò và sức mạnh của các lobbies ai cũng biết, và đấy là một trong những đặc tính lớn của Mỹ. Ở đâu thì các đại diện dân cũng phải chiếu cố đến các quyền lợi của thành phần bầu cho mình, ít khi nào dám đi ngược lại ý trời. Nhưng ở Mỹ, điều này rất cụ thể. Các kết quả bỏ phiếu cho các dự luật hay quyết định trong Quốc hội được công bố và các lobbies thường xuyên cho đăng một loại “hit parade” xếp hạng những nghị sĩ nào đã bỏ phiếu thuận lợi và bất lợi cho họ ra sao. Cách vạch mặt chỉ tên này như một thanh gươm treo lơ lửng, rất hiệu nghiệm vì có những dân biểu cứ hai năm lại phải ra trước cử tri, áp lực do đó hầu như liên tục và càng mạnh khi gần đến mùa bầu cử.

Sự tranh cãi về các biện pháp AD gay gắt vì ở đây quyền lợi của lobby này lại đối chọi với quyền lợi của lobby kia. Ngành này ủng hộ thì ngành kia phản đối. Đánh thuế AD vào sắt thép của Nhật, của Nga thì các nhà sản xuất thép như US Steel, Bethlehem Steel, thích lắm vì loại được địch thủ, tha hồ tăng giá. Nhưng các kỹ nghệ tiêu thụ thép, như các công ty xe hơi, thì kêu trời vì phải mua đắt hơn. Mâu thuẫn giữa giới sản xuất và giới tiêu thụ nội địa xảy ra với tất cả loại hàng, từ cái tầm thường như thịt bò hay tỏi đến những sản phẩm hiện đại như các bộ nhớ và mạch bán dẫn cho máy tính. Và nếu Mỹ hầu như lúc nào cũng đang tranh chấp với các bạn hàng vể sắt thép, thì vì kỹ nghệ này là lobby hung hăng và khai thác bộ máy AD triệt để nhất: trên 239 pháp lệnh AD ban hành năm 2001 ở Mỹ, 100 cái là để bảo vệ họ. Và từ 1995 đến nay, tổng cộng có tới 14 vụ kiện trước WTO về các biện pháp của Mỹ nhằm bảo vệ sắt thép. Một tuần sau biến cố 11.9.2001, các công ty sắt thép tuyên bố là họ đóng vai trò chiến lược trong an ninh quốc gia vì phục vụ súng ống cho quân đội, do đó phải được đặc biệt bảo vệ và chiếu cố!

Nói rộng hơn, vấn đề AD còn là mối bất hoà giữa các ngành chỉ nhắm thị trường nội địa và các ngành sống về xuất khẩu, các công ty đa quốc gia hoạt động trên địa bàn thế giới và muốn chính quyền Mỹ nhượng bộ về vấn đề AD trong các thương thuyết đa phương để giành cho họ những quyền lợi to tát khác. Đối với họ, chính sách AD làm họ thiệt thòi nhiều hơn là có ích.

Cuối cùng một điểm tâm lý phổ biến trong xã hội Mỹ cũng có vai trò ở đây. Thị trường Mỹ đủ to lớn và đa dạng để đa số công chúng cảm thấy không cần biết đến thế giới bên ngoài. Bảo vệ các quyền lợi cục bộ là điều dĩ nhiên, thị trường thế giới là cái gì xa vời và thứ yếu. Suy nghĩ vị kỷ America first cũng có trong kinh tế như trong mọi lĩnh vực khác. Mặt khác, tiềm tàng trong suy nghĩ của nhiều người là Mỹ làm ăn giỏi hơn bất cứ ai khác. America is best ! Công ty Mỹ hiệu quả nhất, hàng Mỹ tốt nhất, người Mỹ “ngon” nhất, nên ai qua mặt được Mỹ chỉ có thể là vì gian dối, qua một mánh lới xấu xa nào đó. Việc một nước có thể bán món hàng rẻ hơn vì lương nhân công thấp hơn hay có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn, đối với họ là điều không tưởng. Khái niệm lợi thế tương đối (comparative advantage) họ không cần biết đến. Nhận xét này không phải từ một ông Tây, ông Ta nào ghét Mỹ mà là của Joseph Stiglitz, cựu viên chức cao cấp Ngân hàng thế giới và người được giải Nobel kinh tế năm 2001!

Thái độ tự tôn ấy dĩ nhiên là các nước khác không thể chia xẻ được. Mỹ dùng đến AD nhiều thì cũng gặp phải sự kháng cự mạnh. Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất về AD trước GATT/WTO, với 16 vụ trên 41 vụ kiện AD ở WTO cho tới nay. Gần đây và quan trọng nhất là vụ kiện về Đạo luật bù trừ các biện pháp tài trợ và bán phá giá tiếp diễn (Continued Dumping and Subsidy Offset Act of 2000), gọi tắt là CDSOA hoặc Byrd Amendment vì xuất phát từ một dự luật của Thượng nghị sĩ Robert Byrd. Ngày 28.10.2000, Tổng thống Clinton ký sắc lệnh ban hành luật này qua đó các số tiền thu được qua thuế AD sẽ được chia lại cho các công ty Mỹ thắng kiện. Vì mức thuế AD có thể lên tới 400% nên có thể là một nguồn lợi đáng kể, ngay cả cho một anh sản xuất một mặt hàng khiêm tốn như nến: công ty Candle-lite, tại Cincinnati, nhờ thắng kiện một công ty TQ, đã được chia 15,6 triệu đô-la tiền thuế AD thu trong năm 2002 và dự kiến sẽ còn nhận thêm 39 triệu đô-la trong năm nay. Món lộc béo bở này khiến một số công ty chế tạo nến khác cũng nhảy vào, đòi được hưởng một phần của số tiền 65 triệu đô la thuế sẽ thu năm nay. Trong năm 2002, Hải quan Mỹ đã chia lại cho khoảng 1 200 công ty tổng cộng 329 triệu đô la thu vào qua thuế AD.

Các bạn hàng của Mỹ làm sao chịu được. Ngay trước khi Luật CDSOA ban hành, họ đã phản đối kịch liệt và nêu lên những điểm sau đây: điều này vi phạm luật WTO vì ưu đãi các công ty nội địa vừa được bảo hộ vừa được tài trợ trực tiếp. Vi phạm điều khoản cơ bản của WTO là đối xử bình đẳng giữa công ty nội địa và công ty một nước thành viên khác. Mặt khác, các công ty nội địa sẽ lại càng có lý do để khởi tố một cách vô tội vạ, với sự hùa theo, kích thích của các văn phòng luật sư vốn đã giỏi “đánh hơi” những vụ kiện béo bở cho họ. Thói “nước đục thả câu” (“ambulance chasing”) trong giới luật sư Mỹ sẽ trầm trọng hơn, góp phần làm căng thẳng hơn nữa các quan hệ giữa Mỹ vả các bạn hàng.

Chỉ hai tháng sau ngày Luật CDSOA ban hành, 9 thành viên WTO trong đó có Nhật, Hàn Quốc và Liên Hiệp châu Âu, đã yêu cầu Mỹ hội ý để giải quyết tranh chấp. Tháng 5.2001 đến lượt Canada và Mexico yêu cầu hội ý. Đến tháng 8.2001 thì cả 11 thành viên này đã đệ đơn lên WTO yêu cầu lập nhóm hội thẩm để xem xét vấn để. Đây là vụ kiện trước WTO với nhiều nguyên đơn nhất cho tới lúc ấy, lại vừa phức tạp về pháp lý, vừa gai góc vể chính trị, nên cả năm sau, tháng 9.2002, nhóm hội thẩm mới trình được bản báo cáo dài gần 400 trang, kết luận là Mỹ vi phạm luật WTO và phải sửa sai. Mỹ kháng cáo lên Cơ quan thượng thẩm cũng vẫn thua nên bắt buộc sẽ phải bãi bỏ luật CDSOA.

Phản ứng của Quốc hội Mỹ thật đốp chát. Thượng nghị sĩ Byrd và 67 nghị sĩ khác gửi thư đến Tổng thống Bush yêu cầu giữ nguyên Luật CDSOA, bất chấp quyết định của WTO. Ông Byrd thách Tổng thống Bush bãi bỏ luật và tuyên bố là WTO đã đi quá thẩm quyền của mình, xúc phạm đến chủ quyền pháp lý của Mỹ.

Chính vì để Quốc hội và dư luận trong nước nói chung yên tâm là các bộ phận giải quyết tranh chấp của WTO sẽ không dám “qua mặt” nhà nước Mỹ, nên trong vòng thương thảo Uruguay, các nhà thương thuyết Mỹ đã đòi cho được một điều khoản qui định là các nhóm hội thẩm sẽ không đảo ngược các kết luận của cơ quan hữu trách quốc gia nếu họ công nhận là các cơ quan này đã xem xét vấn đề một cách khách quan và đúng đắn . Điều 17.6 này của Hiệp ước AD thường được gọi là điều khoản về tiêu chuẩn cho việc xem xét (standard of review) hay về sự tôn trọng các quyết định của cơ quan quốc gia (deference provision). Đây là điều khoản đặc biệt chỉ áp dụng cho các vụ tranh chấp về AD, cho thấy tầm quan trọng và khía cạnh tâm lý đặc biệt của vấn đề AD đối với Mỹ.

Tuy thế, trong quá trình giải quyết các tranh chấp AD giữa Mỹ và các nước khác cho tới nay, WTO hay qui phần lỗi về phía Mỹ và cũng không nhất thiết áp dụng Điều 17.6 trong tinh thần mà Mỹ mong muốn. Một lý do chính là vì các nhóm hội thẩm cũng như Cơ quan thượng thẩm đều phân tích vấn đề trong quan điểm cơ bản của GATT/WTO là lấy sự tự do thương mại làm nền tảng, cho nên cái gì giới hạn lại sự tự do ấy như các biện pháp AD đều khó bào chữa.

Vấn đề AD ngày càng là nguyên nhân của các đụng chạm về quyền lợi cũng như tư duy giữa các nước, rất gay gắt trong vòng Uruguay, đã làm thất bại Hội nghị Seattle, làm căng thẳng Hội nghị Doha và tiếp tục là một trong những trở ngại lớn phải vượt qua ở Hội nghị Cancun tháng 9 năm nay. Các qui định về AD cũng phát triển qua các vòng thương thảo, ngày càng rõ ràng và được bổ sung, một phần lớn dựa theo kinh nghiệm rút ra từ các tranh cãi và cách giải quyết tranh chấp liên quan đến nhiều mặt của bộ luật và chính sách AD của Mỹ.

Bộ luật AD của Mỹ trong câu chữ và cách áp dụng

Mỹ không phải là nước đầu tiên có luật AD. Đạo luật đầu tiên về vấn đề này được ban hành tại Canada năm 1904. Thành ngữ phổ biến thời ấy thật ra không phải là bán phá giá mà là “dùng giá để chiếm đoạt” (predatory pricing), một khái niệm hơi khác vì có nghĩa là một công ty ngoại quốc bán rẻ mạt, thậm chí bù lỗ, hầu sau này chiếm hết thị trường. Dần dà thành ngữ “bán phá giá” thay thế “dùng giá để chiếm đoạt” với lý do đơn giản là dễ gán ghép cho nhiều “bị cáo” hơn vì không cần phải chứng minh là hành động của họ che dấu cả một chiến lược thao túng thị trường.

Sau Canada, những đạo luật tương đương được ban hành ở Tân Tây Lan năm 1905, Úc năm 1906 rồi Mỹ năm 1916. Các nước châu Âu cũng lần lượt theo chân trong thập niên 1920.

Luật AD đầu tiên của Mỹ nằm trong hai điều khoản 800-801 của Luật thuế (Revenue Act of 1916), và ghi rõ trong định nghĩa bán phá giá một điều kiện: “nếu là trong mưu đồ huỷ diệt hay gây tổn hại cho một ngành sản xuất của Mỹ hay để ngăn chặn sự ra đời của ngành sản xuất ấy”. Vì “mưu đồ” này rất khó chứng minh nên câu này biến mất khỏi Đạo luật Antidumping ban hành năm 1921. Bộ máy pháp lý về AD của Mỹ như thế là cả một tổng hợp nhiều văn kiện gồm Đạo Luật 1916, Đạo luật 1921 – được thay thế bởi Chương VII của Luật thuế quan (Title VII of the Tariff Act 1930 – 19 U.S.C.§§ 1673-1677n)-, điều lệ của Bộ thương mại (DOC’s Regulations – 19 C.F.R. § 351), và nhiều điều lệ sửa đổi và bổ sung, trong đó gần đây và quan trọng nhất là Đạo luật CDSOA.

Như đã nói ở trên, các nguyên tắc cơ bản của bộ luật AD của Mỹ không khác các qui tắc của WTO, vấn đề là ở cách vận hành của bộ luật qua các điều lệ thi hành, và cách các cơ quan hữu trách áp dụng những điều lệ ấy. Tức là chính sách AD của Mỹ trong thực tế. Trong các vụ tranh chấp trước WTO, các nhóm hội thẩm (panels) phải xem xét là điều lệ liên can có hợp lệ hay không cả trong câu chữ, tức là tự bản thân (on its face and as such), lẫn trong cách áp dụng (as applied). Trong nhiều trường hợp, nhóm hội thẩm quyết định là đạo luật liên can, tự bản thân, phù hợp với luật WTO, nhưng cách áp dụng thì lại trái luật của WTO, do đó họ không yêu cầu nước bị kiện phải sửa đổi luật nhưng vẫn yêu cầu các cơ quan hữu trách phải sửa đổi hay rút lại biện pháp cụ thể của mình. Và như thế là đủ để bên nguyên coi như thắng kiện.

Cách vận hành của luật và hệ thống AD tại Mỹ

Mỗi vụ kiện AD diễn ra với sự tham dự của 3 bên: các công ty nội địa đệ đơn, là nguyên đơn, các công ty ngoại quốc bị kiện, là bị đơn, và chính quyền nước nhập khẩu phải xét xử để đi đến quyết định có áp thuế AD hay không. Nếu vụ tranh chấp được đưa ra trước WTO thì vì WTO chỉ xét xử các vấn đề giữa hai quốc gia nên bên nguyên là chính quyền nước nhập khẩu, bên bị là chính quyền nước xuất khẩu, mỗi bên đại diện cho các công ty của mình, và nhóm hội thẩm của WTO đóng vai trò trọng tài. Nhưng dù là ở mức độ nội bộ một nước hay trước WTO, không phải bất cứ ai cũng có thể đệ đơn tố cáo một công ty ngoại quốc để khởi đầu thủ tục tố tụng. Điều 5.4 của Hiệp ước AD qui định là cơ quan hữu trách chỉ có thể mở thủ tục điều tra nếu đơn kiện là do ngành sản xuất nội địa đứng tên hay được đệ trình nhân danh họ. Để hội đuợc điều kiện này, đơn kiện phải được đưa ra dưới tên hay với sự ủng hộ của các công ty sản xuất ra ít nhất 25% tổng sản lượng mặt hàng tương đương trong nước. Do đó nhiệm vụ đầu tiên của cơ quan hữu trách là phải xác định tính đại diện của các công ty đệ đơn (petitioners’ standing determination).

Sau đó, phải xác định hai điều cơ bản là có dumping hay không và có sự tổn hại hay không. Tại Mỹ, hai nhiệm vụ này được giao cho hai cơ quan khác nhau: Bộ thương mại (Department of Commerce – DOC) xác định có dumping hay không và nếu có thì tới mức nào. Uỷ Ban hiệp thương quốc tế (International Trade Commission – ITC) xác định có hay không tổn hại hay nguy cơ tổn hại cho ngành sản xuất nội địa do hàng nhập bán phá giá gây ra. DOC và ITC phối hợp làm việc trong những thời hạn qui định, và cho biết kết luận trong những bản phán quyết sơ bộ và cuối cùng (preliminary and final determinations). Nếu DOC phán quyết là không có dumping, thủ tục đương nhiên chấm dứt. Nếu DOC phán quyết là có dumping, ITC sẽ xem xét vấn đề tổn hại. Nếu ITC cũng phán quyết là có tổn hại hay nguy cơ tổn hại, thì DOC sẽ ra một pháp lệnh AD (antidumping order) ấn định biên độ dumping áp dụng cho những công ty ngoại quốc tham gia vụ kiện, và một mức khác cho tất cả các công ty khác xuất khẩu cùng mặt hàng từ nước bị kiện nhưng không tham gia. Mức này không phải là mức thuế AD mà để tính số tiền mặt ký quỹ (cash deposit) công ty nhập khẩu Mỹ phải đóng cho Hải quan Mỹ để tiếp tục nhập món hàng, cho đến khi DOC ấn định mức thuế AD chính thức, thường là một năm sau khi pháp lệnh ban hành, và mỗi năm sau đó vào thời điểm ấy. Nếu thuế thấp hơn tiền ký quỹ, Hải quan sẽ trả lại số sai biệt cộng thêm lãi. Nếu thuế cao hơn, công ty nhập khẩu phải trả số sai biệt, cũng cộng thêm lãi. Do đó, có khi công ty nhập khẩu đóng ký quỹ trên cơ sở biên độ dumping là 5% chẳng hạn, để rồi bị đập thuế AD 100% một năm sau, sau khi DOC đã xem lại vấn đề. Tuỳ theo mặt hàng và số lượng nhập khẩu, số tiền sai biệt phải đóng, cộng thêm lãi, cũng đủ làm công ty điêu đứng.

Như Điều 11.3 của Hiệp ước AD qui định, các thuế AD phải chấm dứt trễ nhất là 5 năm sau khi ban hành, trừ phi cơ quan hữu trách, sau khi xem xét lại vấn đề, khẳng định rằng cần phải duy trì thuế để tránh việc bán phá giá tiếp tục hay tiếp diễn. Do đó luật AD của Mỹ cũng dự trù DOC phải xem xét lại các thuế AD 5 năm sau ngày ban hành, khi biện pháp tới lúc phải chấm dứt. Điều khoản và việc xem xét lại này do đó được gọi là “hoàng hôn” (sunset provision, sunset review).

Cho tới đây thì không có gì trái luật WTO cả, và chẳng có gì sai trái. Vậy thì các bạn hàng của Mỹ than phiền những nỗi gì ? Chính sách của Mỹ quá quắt ở chỗ nào? Cũng như trước khi đặt bút ký một hợp đồng, chúng ta nên đọc kỹ mấy hàng chữ nhỏ li ti ở cuối trang, cái “chết người” ở đây cũng nằm trong các chi tiết.

Những điểm chính gây tranh cãi trong cách áp dụng luật AD ở Mỹ

Chúng ta có thể theo tuần tự diễn tiến của một vụ kiện AD để nêu lên những điểm gây vấn đề.

Giai đoạn điều tra dẫn tới phán quyết là giai đoạn quan trọng nhất và cũng “hiểm nghèo” nhất đối với công ty bị tố cáo, tập trung đủ thứ trở ngại phải vượt qua.

* Bảng câu hỏi

Trước tiên, để phân xử cho công minh, DOC phải nghe lý lẽ của cả hai bên. Sau khi nhận được đơn của các công ty Mỹ, trong đó họ viện dẫn các lý do tố cáo, DOC gửi đến các công ty ngoại quốc bị kiện một hoặc nhiều bảng câu hỏi để cho họ cơ hội trả lời và tự bào chữa. Đây là thử thách đầu tiên và cũng là cái bẫy cho nhiều công ty, nhất là từ những nước nghèo, ít kinh nghiệm làm ăn với bên ngoài, thiếu người và thiếu của để đáp ứng các đòi hỏi của DOC. Những câu hỏi rất phức tạp, tràng giang đại hải, viết trong một thứ ngôn ngữ kỳ dị, đặt những vấn đề xa lạ đối với thế giới ngoài Mỹ (và chính ở Mỹ cũng ít người hiểu nổi!). Ngay cả khi nhân viên công ty ngoại quốc thông thạo tiếng Anh đi nữa, cũng có mấy người biết EP, CEP, POI, POR, CONNUM, FUPDOL, TOTPUDD, PCTMARG, DIFMER[2], v.v. là cái quái gì ! Không kể là phải trả lời trong thời hạn rất ngắn: thí dụ trong vụ kiện công ty điện tử Matsushita, DOC đòi hỏi họ phải dịch sang tiếng Anh 3 000 trang tài liệu về tài chính. Lệnh của DOC ban ra chiều thứ sáu và hạn nộp là sáng thứ hai tuần sau! Công ty Matsushita chịu thua và rút ngay mặt hàng của mình ra khỏi thị trường Mỹ.

* Thông tin tốt nhất có thể có

Cho nên, nếu vì không hiểu các câu hỏi hay vì coi nhẹ vấn đề, công ty nước ngoài không trả lời hay trả lời vớ vẩn, hay chỉ vấp phải một trong các “tội” như đưa các con số không thể kiểm tra được, trả lời chậm trễ, không đầy đủ, hay không đúng theo mẫu mã qui định, thì DOC sẽ coi là họ không hợp tác và quay sang các dữ kiện sẵn có (facts available) và thông tin tốt nhất có thể có (best information available). Các dữ kiện và thông tin này thường chỉ là những gì các công ty Mỹ viện dẫn trong đơn kiện, tức là những con số, dữ liệu hết sức bất lợi cho công ty nước ngoài. Tệ hơn nữa, DOC sẽ lấy lại nguyên si, không thắc mắc, biên độ dumping do các công ty Mỹ đề nghị. Và dĩ nhiên là biết trước như vậy, các công ty Mỹ đã tính mức cao nhất có thể tính được, “tốt nhất” đối với chính họ và xấu nhất cho công ty nước ngoài!

Chính vì có nhiều nước xuất khẩu than phiền điều trên mà Hiệp ước AD dành riêng một phụ đính về các thông tin tốt nhất có thể có, qui định rõ ràng hơn bổn phận của đôi bên, giới hạn lại quyền chuyên quyết của cơ quan hữu trách trong việc chấp nhận hay bác bỏ các thông tin của các công ty xuất khẩu đưa ra. Tuy thế đây vẫn là một điểm gây nhiều khó khăn cho các nước bị kiện AD ở Mỹ.

* Kiểm tra tại chỗ

Nếu công ty nước ngoài qua được cửa ải đầu, trả lời sao cho khéo, cho đúng tiêu chuẩn thì cũng chưa nên vội mừng, vì DOC sẽ gửi người tới tận nơi kiểm tra xem khai báo có thành thật, đầy đủ không, và so sánh với những gì công ty Mỹ nói. Lại là một dịp để bắt bẻ nhau, cãi lý cãi chầy, bới lông tìm vết, không kể là soi mói vào những chi tiết thầm kín nhất của công ty là điều chẳng có anh làm ăn nào thích. Và nếu công ty ngoại quốc không qua được khâu này thì DOC lại có thể dùng các “thông tin tốt nhất” do phía Mỹ đưa ra.

* Điều chỉnh giá cả (price adjustments)

DOC không bao giờ so sánh trực tiếp các giá thực tế mà dùng rất nhiều phép tính rắc rối, dựa trên đủ mọi yếu tố, để điều chỉnh các con số này rồi mới so sánh chúng với nhau. Mỗi yếu tố đều có thể làm sai lệch kết quả cuối cùng, tuỳ theo cách tính của DOC: các khoản chi tiêu cho tiếp thị, chi phí vận chuyển, chiết khấu (discounts), sự khác biệt giữa các món hàng, sự phân biệt đối xử giữa các khách hàng có và không có quan hệ hữu cơ với người bán (arm’s length test), v.v. DOC hay dùng yếu tố cuối cùng này để bóp méo các con số và đi đến kết luận là có dumping.

* Tính gộp thành số không (zeroing)

Đây là một trong những điểm tranh cãi gay gắt và dai dẳng nhất về đề tài AD tại WTO, đuợc coi là một trong những bất công lớn nhất. Thật ra không phải chỉ có Mỹ mới làm chuyện này, nhưng Mỹ là “chuyên gia” dùng cách này để tính được biên độ dumping cao nhất bất kể thực tế ra sao, thậm chí ngay cả khi không có dumping cũng biến thành có, cứ như trò ảo thuật. Vấn đề như sau: nếu sau khi cộng trừ nhân chia đủ thứ xong, kết quả là không những công ty ngoại quốc không bán phá giá mà còn bán ở Mỹ với giá cao hơn giá bán trong chính nước mình, thành thử biên độ là âm (negative margin), thì thay vì công nhận điều đó, DOC coi nó như là ngang với số không. Vì trong các tính toán để ra biên độ dumping cuối cùng, có rất nhiều biên độ khác nhau nên nếu không trừ đi các biên độ âm mà chỉ gộp thành số không thì con số cuối cùng, được coi như biên độ dumping chính thức, hoặc cao hơn thực tế hoặc là dương trong khi thật ra nó phải là âm. Từ đó có thể hiểu được tại sao tuyệt đại đa số các điều tra của DOC dẫn đến một phán quyết là có dumping (affirmative determination).

* Quy chế phi kinh tế thị trường

Đối với một số nước, vấn đề lại còn phức tạp hơn khi DOC quyết định là không thể so sánh trực tiếp các giá cả (và cách tính giá) tại các nước ấy và tại Mỹ vì họ không theo kinh tế thị trường (non-market economy – NME). DOC khẳng định giá ở Mỹ là giá thị trường còn giá trong các nước ấy là do nhà nước ấn định hay chi phối. Trong trường hợp ấy, DOC dùng các dữ liệu của một nước thay thế (surrogate country), được coi như tương đương với nước bị kiện về trình độ phát triển kinh tế, sức mạnh thương mại v.v. Tuy thế, sự so sánh qua trung gian một nước thứ ba này thường bất lợi cho bên bị kiện. Đầu tiên, việc DOC đặt ra vấn đề phi kinh tế thị trường đã là dấu hiệu không tốt lắm. Trong giai đoạn từ 1986 đến 1992, chẳng hạn, các nước NME chỉ chiếm 3% tổng số hàng hoá nhập vào Mỹ nhưng 20% số vụ kiện AD. Theo một bài phân tích, sự khác biệt ấy chứng tỏ DOC có chính sách nghi kỵ, phân biệt đối xử đối với các nước bị liệt vào thành phần này.

Sau đó việc chọn nước nào là nước thay thế dĩ nhiên cũng có thể tuỳ tiện, phản thực tế và thường là bất lợi cho nước bị kiện. Thí dụ, trong vụ kiện Trung Quốc về đường hoá học (saccharin), DOC chọn Ấn Độ là nước thay thế và dựa vào giá a-xít clo-hi-đrích của Ấn Độ là 2,80 USD một ký, trong khi giá ở Mỹ chỉ 3 cents một ký. Trong vụ kiện TQ về tôm hùm, DOC coi giá nhập của tôm hùm Portugal vào Tây Ban Nha là tương đương với giá tôm hùm bán tại TQ, bất kể sự khác biệt hiển nhiên giữa TQ và 2 nước này, rồi tính các biên độ dumping cho TQ là từ 90 đến 201%.

Phương pháp áp dụng đối với các NME do đó có nhiều khả năng làm sai lệch kết quả cuối cùng và thiệt thòi cho nước bị kiện. Điều đáng để ý là chính một cựu quan chức cao cấp của Mỹ, bà Charlene Barshefsky, nguyên USTR trong chính quyền Clinton, trước khi nhậm chức này, đã có lần chỉ trích phương pháp này trong một bài phân tích!

* Điều khoản hoàng hôn

Cuối cùng, sau khi đã thua kiện, nếu còn may là thuế AD không cao quá, không làm cho các bạn hàng là các công ty nhập khẩu Mỹ bỏ chạy cả, thì các công ty mang tội bán phá giá cũng chưa hết mệt. Không phải cứ cắn răng chịu thuế hết 5 năm là thoát nợ, vì việc xem xét lại vấn đề cũng rất gay go. Hoàng hôn này lắm khi chẳng bao giờ chịu tắt! Có những thuế AD dây dưa cả mấy chục năm vì cứ mỗi lần xét lại, các công ty Mỹ lại lên tiếng phản đối và DOC lại phán quyết là nguy cơ bán phá giá vẫn còn đấy. Thí dụ, năm 1983 DOC ra pháp lệnh AD về ba-ri clo-rua (baryum chloride) nhập từ Trung Quốc, và từ đó chỉ còn rất ít số lượng hàng nhập này từ Trung Quốc vào Mỹ . Tuy thế, năm 1999, Ủy Ban ITC quyết định giữ pháp lệnh này thêm 5 năm kể từ năm 2000, tức là cho đến 2005, hơn 20 năm sau ngày ban hành. Nói cách khác, trong nhiều trường hợp, DOC và ITC sẽ duy trì các pháp lệnh và thuế AD bao lâu mà các công ty Mỹ còn muốn chặn món hàng nhập ấy.

Nói tóm lại, vì mục đích các bộ luật AD trong các nước nhằm bảo vệ các nhà sản xuất nội địa nên không ngạc nhiên nếu, khi áp dụng chúng, các cơ quan hũu trách khai thác triệt để các yếu tố bất lợi cho các công ty nước ngoài. Và Mỹ là nước làm chuyện này một cách hiệu quả nhất. Câu hỏi đặt ra là nếu muốn và phải tiếp tục buôn bán với Mỹ, vì không thể đứng ngoài cái thị trường vừa khổng lồ vừa giàu có này, thì có cách nào đối phó để có thể sống chung với bộ máy AD này?

Vài “bí quyết” để sống còn với bộ máy AD

Bộ máy AD của Mỹ lợi hại nhưng không phải là không có cách thắng được nó, nếu không thì còn ai dám làm ăn với Mỹ. Đã có nhiều trường hợp công ty nước ngoài thắng kiện và hay ít ra giảm được tối đa các hậu quả khi thua. Để khai thác tất cả các yếu tố có lợi cho mình, công ty nước ngoài thường phải nhờ đến những chuyên gia nắm rõ luật Mỹ. Những vụ kiện AD cũng là cả một “kỹ nghệ” làm giàu cho các văn phòng luật sư ở Mỹ. Ông William Perry, một cựu nhân viên của ITC và DOC chuyển sang làm tư vấn và chuyên biện hộ cho các công ty bị kiện AD, đã có các lời khuyên như sau, dựa vào kinh nghiệm của Trung Quốc:

1. Phải tham gia

Theo ông Perry, văn phòng của ông đã bênh vực thành công các công ty xuất khẩu TQ trong tất cả 12 vụ kiện AD họ được giao phó. Trường hợp duy nhất họ thua là vụ kiện về tỏi. Tuy các công ty nhập khẩu Mỹ tham gia vụ kiện với tư cách bị đơn và yêu cầu các nhà sản xuất TQ cùng tham gia nhưng các công ty TQ từ chối với lý do: “Thị trường Mỹ không quan trọng đối với chúng tôi”. Vì phía TQ không có mặt, DOC bắt buộc phải dùng các con số của các nguyên đơn Mỹ và quyết định áp dụng cho tất cả các công ty TQ biên độ dumping 376% viện dẫn trong đơn kiện. Và vì TQ không tham gia nên ITC cũng phán quyết theo là có sự tổn hại cho ngành sản xuất tỏi ở Mỹ. Kết quả là với một biên độ như thế, không còn ai nhập tỏi TQ vào Mỹ từ năm 1994 đến nay.

Chưa hết, văn phòng luật sư Mỹ thắng kiện trong vụ tỏi cũng “phát huy thành quả” ấy để khởi tố một số mặt hàng khác nhập từ TQ như mật ong, xe đạp, nấm và cây chàm. Giá trị các mặt hàng nhập này là 300 triệu đô la. Từ củ tỏi khiêm tốn, chỉ một văn phòng luật sư thôi đã có thể ảnh hưởng lên mấy trăm triệu xuất khẩu của TQ.

Ngay cả trong nội bộ bên bị, cũng có sự khác biệt giữa các công ty tham gia thủ tục và các công ty đồng hương nhưng đứng ngoài vụ kiện. Vì thuế AD áp dụng cho cả nước xuất khẩu (country-specific), nên mọi công ty của nước ấy đều bị liên can. Do đó công ty nào không tham gia thủ tục là mất cơ hội đưa ra các chứng từ, dữ liệu thuận lợi cho mình, và sẽ phải chịu biên độ dumping và mức thuế do DOC ấn định theo các con số và đề nghị của nguyên đơn, tức là cao nhất, áp dụng chung cho một danh sách “hổ lốn” gọi là “all others“.

2. Cố gắng để cuộc điều tra sơ khởi dẫn đến kết luận tốt nhất

Để DOC quyết định áp thuế AD, các công ty nguyên đơn phải chứng minh hai điều: thuyết phục DOC là có biên độ dumping và thuyết phục ITC là có sự tổn hại hay nguy cơ tổn hại. Nếu họ đạt được hai kết quả này thì công ty ngoại quốc chỉ còn có thể cứu vãn tình thế bằng tranh thủ DOC giảm tối đa biên độ dumping khi xét lại vấn đề trong những năm sau. Do đó phải làm sao để cuộc điều tra sơ khởi dẫn đến kết luận tốt nhất. Có 3 cách: 1. Thuyết phục ITC là không có tổn hại (và thoát không bị thuế gì cả). 2. Thuyết phục DOC là biên độ dumping không đáng kể. 3. Thương lượng với chính quyền Mỹ một thoả thuận đình chỉ (suspension agreement) qua đó DOC ngưng thủ tục AD, không áp thuế, với điều kiện công ty tuân thủ một hạn ngạch (quota) và một mức giá tối thiểu do DOC ấn định. Tuy rằng cũng không dễ mà có được thoả thuận này. Trong hơn 80 vụ kiện liên quan đến TQ, chính phủ Mỹ chỉ đồng ý thỏa thuận đình chỉ trong hai vụ là mật ong và tôn thép các-bon. Trong vụ mật ong, lý do là các công ty Mỹ nhập và phân phối mật ong đã làm áp lực mạnh với DOC để khỏi mất nguồn nhập khẩu từ TQ và viện dẫn lý do bảo vệ công ăn việc làm cho lao động. Điểm này dẫn chúng ta đến yếu tố sau, là “con bài” mạnh nhất của các công ty nước ngoài.

3. Liên kết với các công ty nhập khẩu của Mỹ

Các công ty nhập khẩu ở Mỹ là đồng minh tất yếu của các công ty xuất khẩu ngoại quốc vì cùng chung một quyền lợi: người này muốn bán thì người kia cũng muốn mua. Do đó liên kết với nhau để thoát khỏi thuế dumping là đương nhiên. Trong hai vụ kiện về tôm hùm và nấm, các công ty TQ thua đậm vì đơn phương độc mã ra trận. Ngược lại, trong các vụ đường hoá học, carbue silicium, thuốc nhuộm gốc lưu huỳnh, những thuyết trình của các công ty nhập khẩu đã thuyết phục ITC quyết định là không có tổn hại. Các công ty nhập saccharin còn nói rõ là nếu họ không nhập từ TQ được vì bị thuế AD thì sẽ quay sang nhập đường của Hàn Quốc, còn rẻ hơn nữa! ITC bèn phán quyết là không có tổn hại khi thấy biện pháp AD sẽ không nâng đỡ nhà sản xuất Mỹ nào mà chỉ có lợi cho Hàn quốc.

Mặt khác, các công ty nhập khẩu cũng có thể tranh thủ sự ủng hộ của các công ty tiêu thụ (end users), như trong vụ các-bua silicon: sự tham gia của công ty General Motors, hãng chế tạo xe hơi lớn nhất nước Mỹ và khách hàng đáng kể của các-bua silicon TQ, là một trong những nguyên nhân chính khiến ITC quyết định là không có tổn hại.

4. Ứng xử với DOC

Một vấn đề không nhỏ là giữ được thái độ đúng đắn trong quan hệ với DOC. Công việc của các thanh tra của DOC là kiểm tra xem các trả lời của công ty có đúng không, tức là họ được trả lương để nghi ngờ và bắt lỗi. Tuy thế cũng không nên coi họ như địch thủ, và miễn là các điều sai không quan trọng lắm và công ty bị điều tra tỏ ra có thiện chí hợp tác, DOC cũng sẽ nhân nhượng. Ngược lại cũng không nên hồ hởi thân thiện quá. Trong vụ đường hoá học, vì một cô nhân viên TQ muốn thực tập tiếng Anh với các thanh tra của DOC nên nói nhiều thành sơ ý, vô tình tiết lộ nhiều điều bất lợi cho công ty, xém làm hỏng hết mọi sự!

Nói chung, các nguyên tắc sau đây cần phải để ý:

* Xuất hiện đúng nơi đúng lúc, biết phiên họp nào là quan trọng nhất thiết phải có mặt, như các buổi họp của ITC. Trong tất cả những vụ mà công ty bị kiện không đến dự các buổi họp, kết quả bao giờ cũng rất tệ.

* Hợp tác tích cực, trả lời tất cả các câu hỏi và cẩn thận tránh mọi hiểu lầm hay sơ ý bất lợi cho bản thân. Trong vụ kiện về cồn poly-vinyl (polyvinyl alcohol -PVA), công ty sản xuất sơ ý viết sai giá của a-xít a-xê-tích, là dung dịch chính, đưa ra con số cao hơn thực tế gấp 6 lần, khiến DOC ấn định biên độ dumping là 187 %. Sau khi phát hiện sai lầm, công ty xuất khẩu xin điều chỉnh lại và rốt cuộc kéo được biên độ xuống 0 % trong bản phán quyết cuối cùng.

* Đi tới cùng, không bỏ cuộc mặc dầu diễn tiến có vẻ bất lợi. Trong vụ đường hoá học, tuy là DOC ấn định biên độ dumping là 145% trong bản phán quyết cuối cùng, nhưng các công ty xuất khẩu TQ kiên trì đeo đuổi thủ tục trước ITC để rồi đạt được thắng lợi hoàn toàn vì ITC phán quyết là không có tổn hại.

Nói tóm lại, bộ máy AD của Mỹ cũng vẫn để cho các công ty ngoại quốc vài khả năng thắng kiện, hay ít ra cứu vãn được phần nào tình thế. Tham gia vào thủ tục thì còn có cơ may thành công, chứ không tham gia là cầm chắc cái thất bại.

Catfish và Việt Nam

Nhìn người lại nghĩ đến ta, những kinh nghiệm của TQ ở trên may ra có thể giúp Việt Nam vượt qua sự đụng độ đầu tiên với bộ máy AD của Mỹ chăng. Qua diễn tiến của vấn đề cho tới nay, có thể tìm thấy nhiều điểm đã nêu trên trong vụ kiện VN về cá da trơn, còn gọi là cá nheo (catfish).

Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá da trơn sang Mỹ năm 1996, và đến năm 2001 thì số lượng cá da trơn VN vào Mỹ đã lên đến hơn 9 triệu ký lô. Tuy thế con số này vẫn chỉ bằng 1,7% tổng số loại cá này tiêu thụ tại Mỹ. Một tỷ lệ khiêm tốn nhưng cũng đủ để ngành sản xuất nội địa tại Mỹ thấy chướng tai gai mắt. Phát súng đầu tiên được bắn ra cuối tháng 12.2001, khi các thượng nghị sĩ Trent Lott và John Breaux, đáp ứng chiến dịch lobby của Hiệp hội các chủ trại cá da trơn Mỹ (Catfish Farmers of America – CFA), yêu cầu Quốc hội Mỹ thông qua một dự luật khẳng định là tên gọi catfish chỉ dành cho loại cá Ictalurus punctatus mà thôi. Cá da trơn VN thuộc vào loại Pangasius. Từ đó, để tiếp tục được xuất khẩu sang Mỹ, loại cá này phải mang tên là basa, hay cá tra. Song song với việc ép đổi tên này, các nhà sản xuất Mỹ cũng tung ra tin là cá VN nuôi trong điều kiện rất thiếu vệ sinh. Một phái đoàn của Bộ Nông nghiệp Mỹ đến tận đồng bằng sông Cửu Long để điều tra và phủ nhận nguồn tin này. Số lượng cá từ VN sang Mỹ, dưới tên basa, vẫn tiếp tục tăng.

Ngày 28.6.2002, CFA và một số các công ty chế biến cá da trơn tại Mỹ đệ đơn lên DOC yêu cầu mở điều tra AD về một số mặt hàng phi-lê cá đông lạnh từ VN, với lý do là các mặt hàng này, vì được nhập vào Mỹ dưới giá hợp lý, là mối đe doạ cho ngành sản xuất nội địa Mỹ và qua sự cạnh tranh bất chính này đã chiếm 20% thị trường của Mỹ, một thị trường trị giá 590 triệu đô la. Ngày 18.7, DOC khởi đầu thủ tục điều tra và tiến hành các giai đoạn công bố, tập hợp ý kiến các bên. Bên nguyên là CFA và bên bị là các nhà sản xuất và chế biến VN được đại diện bởi Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam – VASEP). Ngày 8.11, DOC thông báo quyết định coi VN là nước phi kinh tế thị trường (NME) , sau khi đã nghiên cứu các nhận xét và ý kiến tranh luận của đôi bên. Bên nguyên đề nghị áp dụng quy chế NME cho VN. Ngược lại, ngoài VASEP, chính phủ VN, Phòng thương mại Mỹ tại VN, và một số công ty Mỹ hoạt động tại VN như Cargill, Unilever, CitiGroup, New York Life International, ủng hộ việc công nhận VN là kinh tế thị trường.

Để quyết định áp dụng quy chế kinh tế thị trường hay phi kinh tế thị trường cho một nước, DOC xem xét các yếu tố sau đây:

– khả năng chuyển đổi đồng tiền quốc gia sang các ngoại tệ,

– mức độ tự do ấn định lương bổng qua thoả thuận giữa lao động và chủ nhân,

– mức độ cho phép đầu tư và hoạt động của liên doanh nước ngoài,

– mức độ kỉểm soát hay sở hữu của chính quyền đối với các phương tiện sản xuất,

– mức độ kiểm soát của chính quyền đối với việc phân bố các tài nguyên và các quyết định về giá cả và sản xuất của xí nghiệp

– những yếu tố khác được cơ quan thẩm quyền xem là thích hợp.

DOC đi đến kết luận là tuy VN đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong một số cải cách kinh tế và để mở cửa thị trường ra bên ngoài, nhưng vẫn chưa tiến hành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Các chức năng thị trường vẫn chưa đủ mạnh để thay thế chính quyền trong sự vận hành của nền kinh tế, chưa đủ để DOC sử dụng các giá cả và chi phí tại VN trong việc phân tích bán phá giá.

Sau khi phản đối quyết định bất thuận lợi này, tháng 12.2002, VASEP chính thức đề nghị DOC dùng Bangladesh là nước thứ ba để tính các chi phí sản xuất. Trong 5 nước DOC đưa ra để VN chọn – Bangladesh, Ấn Độ, Guinea, Kenya và Pakistan -, Bangladesh được chọn vì gần với VN nhất về một số điểm: mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người (380 USD/người), cùng nằm ở châu thổ các giòng sông lớn thuận tiện cho việc nuôi cá ngọt, có loại cá rất giống cá basa.

Ngày 27.1.2003, DOC đưa ra phán quyết sơ bộ là các công ty VN bán phá giá cá tra tại Mỹ, và ấn định các biên độ dumping từ 37.94% đến 61,88 % cho các công ty này, tùy theo trọng lượng của mỗi công ty, và một mức chung 63,88% cho toàn VN. Ngay hôm sau, VASEP đã phản đối và nêu lên những sai sót hay điểm bất hợp lý trong phân tích của DOC. Nhờ vậy, tháng 3.2003, DOC đã quyết định sửa lại mức thuế AD sẽ áp dụng cho các công ty tham gia vụ kiện (thí dụ từ 61,88% xuống 31,45% cho Agifish, từ 53,96% xuống 38,09% cho Navisfishco) và giữ nguyên mức 63,88% cho các công ty không tham gia.

Sau đó DOC trực tiếp điều tra thực trạng nuôi trồng cá basa tại Việt Nam và đề nghị Việt Nam thảo luận về thỏa thuận đình chỉ vụ và thay bằng việc áp dụng hạn ngạch và giá đối với việc xuất khẩu mặt hàng này. Tuy thế tháng 5.2003 thì thỏa thuận về đình chỉ vụ kiện bị đổ vỡ và ngày 17.6, khi đại diện của VASEP có mặt tại phiên họp của ITC để điều trần thì DOC công bố quyết định mới, tăng trở lên lại, tuy là không nhiều lắm, các biên độ dumping cho hầu hết các công ty, tiếp tục duy trì tình trạng khẩn cấp đối với công ty Nam Việt và đưa thêm 5 công ty vào trường hợp này. Bước diễn tiến mới này rất bất lợi, và theo luật sư Lê Công Định, của văn phòng White & Case bào cãi cho VN, kết luận mới của DOC là một cú sốc đối với tất cả các thành viên trong đoàn Việt Nam tham dự phiên điều trần trước ITC và đặc biệt là các doanh nghiệp thủy sản đang làm ăn với Mỹ.

Sau phán quyết cuối cùng này của DOC, kết quả của vụ kiện chỉ còn tuỳ thuộc vào phán quyết của ITC về vấn đề tổn hại, dựa trên ý kiến của DOC và phần trình bày của hai bên (VASEP và CFA). Ngày 24.7.2003, ITC đưa ra phán quyết cuối cùng, khẳng định các doanh nghiệp VN đã bán với giá thấp hơn giá thành và gây tổn hại cho ngành sản xuất của Mỹ, và ấn định mức thuế suất bán phá giá từ 36,84 đến 63,88%.

Sự thất bại này tuy thế cũng có mặt tốt. Có thể nói là trong lần đụng độ đầu tiên này, VN đã tiếp cận vấn đề một cách tích cực và cố gắng giới hạn được phần nào sự tổn thất, dẫu chưa khai thác được đúng mức các yếu tố thuận lợi và còn non kém trong phong cách lý luận khi ra điều trần trước DOC và ITC. Nhưng đây cũng là cái giá của kinh nghiệm, như theo lời phát biểu của chủ tịch VASEP, bà Nguyễn thị Hồng Minh, tháng 2.2003: “Việt Nam thu được nhiều bài học quý từ vụ kiện cá basa”. Các công ty xuất khẩu Việt Nam đã phải trả 469 đô la một giờ cho một văn phòng luật sư tại Washington để cãi cho mình trong vụ kiện, trong khi thu nhập của một người nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long chưa tới 35 đô la một tháng. Kinh phí chi cho vụ kiện tổng cộng là nửa triệu đô-la. Bài học quý thật, và không thể tránh, nhưng cũng rất đắt. Và thực tế đã nhanh chóng tạo cơ hội để thử thách sự nhạy bén và khả năng áp dụng kinh nghiệm của VN.

Ngay sau khi ITC công bố phán quyết cuối cùng, VASEP đã dự trù là sau cá basa, sẽ đến lượt tôm có thể bị kiện. Cùng với một số nước có thể bị liên can, như Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và Trung Quốc, ngành tôm VN đã đề ra chương trình hợp tác với các nhà nhập khẩu và phân phối Mỹ để phản biện các lập luận bán phá giá và tiến hành các cuộc vận động hành lang nhằm tránh vụ kiện. Ngày 29.12.2003, một nhóm đại diện cho các nhà sản xuất tôm trong 8 tiểu bang Mỹ đệ đơn lên DOC vả ITC để kiện 6 nước Trung Quốc, Brazil, Ecuador, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam. Đối với VN, vụ kiện mới khởi xướng này có tầm quan trọng đặc biệt vì tôm là mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu lớn nhất của VN vào thị trường Mỹ, với 466 triệu đô-la năm 2002, tức 49% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của VN. Doanh số xuất khẩu tôm sang Mỹ gấp 10 lần so với cá basa. Do đó có thể đo lường được hậu quả của vụ kiện lên hàng trăm ngàn ngư dân VN.

Những vụ kiện bán phá giá cũng cho thấy thế yếu của VN khi còn đứng ngoài Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Không là thành viên của WTO thì không kiện được Mỹ trước Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, không nhờ được WTO xét xử và can thiệp để ép Mỹ phải rút lại các biện pháp áp thuế AD. Khả năng “kêu oan” trước WTO cho phép các nước thành viên nhỏ hạn chế tình trạng bị các nước lớn bắt nạt, và thương lượng được các giải pháp ổn thoả, thuận lợi hơn. Đối với VN, tham gia WTO còn cho phép tránh được một trong những điểm bất lợi chính là quy chế phi kinh tế thị trường.

Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tất yếu cho sự phát triển của đất nước, là con đường nhiều chông gai. Một nước nghèo và nhỏ như Việt Nam hơn ai hết cần được bảo vệ bởi những cơ chế và luật lệ qui định sự đàng hoàng trong các quan hệ thương mại, một sân chơi bình đẳng ít ra là về nguyên tắc nếu chưa hoàn toàn có trong thực tế. Khung pháp lý của hệ thống thương mại đa phương, tuy còn nhiều khuyết điểm và vẫn thường xuyên được cải tổ, ngày càng đóng vai trò ấy.

Đỗ Tuyết Khanh

Tài liệu tham khảo

Jacques H.J. Bourgeois, WTO Dispute Settlement in the Field of Anti-Dumping Law, Journal of International Economic Law, Vol. 1, No.2, Oxford University Press, 1998

Richard O. Cunningham và Troy H. Cribb, Dispute Settlement through the Lens of “Free flow of Trade” – A review of WTO Dispute Settlement of US Anti-Dumping and Countervailing Duty Measures, Journal of International Economic Law, Vol. 6, No.1, Oxford University Press, 2003

James P. Durling, Deference, but only when due: The WTO Review of Anti-Dumping Measures, Journal of International Economic Law, Vol. 6, No.2, Oxford University Press, 2003

Brink Lindsay, The U.S. Antidumping Law – Rhetoric versus Reality, Trade Policy Analysis, Cato Institute, 16.8.1999

Brink Lindsay và Dan Ikenson, Antidumping 101 – The Devilish Details of “Unfair Trade” Law, Trade Policy Analysis, Cato Institute, 21.11.2002

William E. Perry, U.S. Antidumping cases against China – Lessons learned, Garvey Schubert Barer, 2003

William E. Perry, How Indonesian Companies can win a U.S. Antidumping case, Garvey Schubert Barer, 2003

L’unilatéralisme des Etats-Unis, Annuaire Français de Relations Internationales, AFRI, vol. I, 2000

USDOC, Antidumping Duty Investigation of Certain Frozen Fish Fillets from the Socialist Republic of Vietnam – Determination of Market Economy Status, đăng trên trang Web của US-Viet Nam Trade Council, http://www.usvtc.org/ .Và bản dịch tiếng Việt toàn văn đăng trên trang Web của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, http://usembassy.state.gov/posts/vn1/

WTO, The Legal Texts – The Results of the Uruguay Round of Multilateral Trade Negotiations

WTO, Committee on Anti-Dumping Practices, semi-annual reports

Và các bản tin trên vnexpress.net


[*] hiện là nhân viên một tổ chức quốc tế tại Genève (Thuỵ Sĩ)

[1] Phiên bản đầu tiên của bài này đã được đọc tại Hội Thảo Mùa Hè, Munich 24-26 tháng 7, 2003.

[2] EP = export price, CEP = constructed export price, POI = period of investigation, POR = period of review, CONNUM = control number, FUPDOL = foreign unit price in dollar, TOTPUDD = total potentially uncollected dumping duties, PCTMARG = percentage margin, DIFMER = difference-in-merchandise.

ĐỒNG TIỀN VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY

TRẦN HỮU QUANG

Để tìm hiểu đặc trưng ứng xử của con người trong đời sống kinh doanh nói riêng hay đời sống xã hội nói chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó, thì có lẽ một trong những lối tiếp cận có triển vọng là tìm hiểu xem cộng đồng hay xã hội ấy quan niệm thế nào về đồng tiền. Trong xã hội hiện nay, với tư cách là một phương tiện đo lường, tích luỹ và trao đổi, đồng tiền đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ giữa con người với nhau. Trong khuôn khổ bài viết này, tiền tệ và các quan hệ tiền tệ được hiểu không phải với tư cách là một sự kiện kinh tế xét về mặt kinh tế học, mà là một sự kiện xã hội-kinh tế-văn hóa tổng thể xét về mặt xã hội học.[1] Cái nhìn của con người về đồng tiền và về các quan hệ tiền tệ có thể biểu hiện những đặc trưng của một nhân sinh quan lẫn của cả một hệ thống xã hội.

Bài này thử khảo sát quan niệm về đồng tiền của người Việt Nam, nhằm qua đó góp phần giải thích định kiến tiêu cực đối với đồng tiền, đối với kinh doanh cũng như đối với thị trường vốn có nơi xã hội Việt Nam.

Quan niệm về đồng tiền

Người Việt Nam có cái nhìn thế nào về đồng tiền? Nói chung cho đến nay người Việt Nam chúng ta có một đặc điểm dễ thấy là thường ngại nói chuyện tiền bạc. Lẽ tất nhiên không kể những lúc giao dịch làm ăn buôn bán, còn trong những quan hệ riêng tư hàng ngày, mỗi khi cần bàn đến tiền nong, người ta thường tỏ ra khá ngại ngùng, lúng túng, và luôn phải rào trước đón sau rồi mới nói chứ ít ai dám nói ngay và đề cập thẳng đến chuyện tiền. Quan hệ gia đình thân thuộc, quan hệ thầy trò, hay quan hệ bằng hữu được coi là những quan hệ tình nghĩa, và vì thế ở đó không có chỗ cho chuyện tiền bạc; đụng đến tiền bạc ở đây là điều hết sức tế nhị và đôi khi gần như cấm kỵ vì dễ chạm đến tự ái, xúc phạm đến sĩ diện, danh dự. Người ta thường e ngại nghĩ rằng một khi đã đặt vấn đề “tiền” ra với nhau thì có nguy cơ sứt mẻ tình cảm và e khó nhìn lại mặt nhau!

Khi nói ai làm điều gì đó “vì tiền” hay “chỉ biết có tiền”, người ta thường có ý nói rằng người đó chẳng còn màng gì tới nhân nghĩa. Người ta cũng hay coi thái độ “sòng phẳng” về tiền bạc là hành vi trơ trẽn, và đặc biệt là không thể chấp nhận trong những mối liên hệ thầy trò, cha con, vợ chồng hay bạn bè; nói “tiền trao cháo múc” là để phê phán trong những trường hợp này. Chuyện tính toán tiền nong thường được coi là chuyện tầm thường, có cái gì đó không xứng đáng, không thanh nhã, cao thượng. Trong những mối quan hệ mang tính chất tình cảm, người ta coi thái độ “tính toán”, nhất là tính toán tiền bạc hay vật chất, là điều phải tránh. Vì thế, khi nói ông A hay bà B là người “hay tính toán” thì rõ ràng hàm ý chê bai và trách móc.

Nói tóm lại, tiền bạc thường được coi là không đi đôi với tình nghĩa. Thậm chí có những trường hợp đối lập với nhân nghĩa và đạo lý, đến mức mà người ta nghĩ rằng tiền bạc có thể là căn nguyên dẫn đến tội lỗi. Chúng ta có thể tìm được không ít bằng chứng minh hoạ cho quan niệm “trọng nghĩa khinh tài” này trong các tác phẩm văn chương, thi phú, tuồng chèo… trong quá khứ cũng như trên sách vở và báo chí hiện nay, kể cả qua nhiều cuộc hội thảo và diễn văn.

Qua phản ánh trên báo chí, chúng ta thấy người ta thường gán nguyên nhân của các hành vi tham nhũng và phạm pháp là do mù quáng “chạy theo đồng tiền”, bị “mờ mắt” vì đồng tiền. Nạn chạy chọt, lo lót, vòi vĩnh, mãi lộ, cũng như nạn mua quan bán tước, phần lớn đều được coi là do mãnh lực và sự “cám dỗ” của đồng tiền “tác oai tác quái”. Người ta nói “nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Người ta nhìn đồng tiền gần như thể tự nó là một sức mạnh, là một ma lực có thể làm cho nhiều cán bộ bị tha hoá, biến chất, hư hỏng, làm xói mòn và phá hoại nền tảng đạo đức và truyền thống của dân tộc…[2] Có tờ báo còn mở ra một mục diễn đàn lấy tên là “Giữa vòng xoáy đồng tiền”[3].

Điều đáng chú ý là cái nhìn về đồng tiền ấy thường được đi kèm bởi định kiến về lợi nhuận[4], về chuyện kinh doanh, buôn bán cũng như định kiến về thị trường – mặc dù nhiều năm đã trôi qua kể từ khi có chính sách đổi mới và thoát ra khỏi thời kỳ quan liêu bao cấp. Người ta thường giải thích nguyên do của tình trạng tham ô hay phạm pháp hiện nay là do “mặt trái của cơ chế thị trường”, do xu hướng thực dụng “chạy theo lợi nhuận”, do xu hướng “thương mại hoá”[5]…

Theo một cuộc điều tra nơi dân cư thành phố Hồ Chí Minh mà chúng tôi tiến hành vào năm 2003, có đến 51% trong mẫu điều tra đồng ý với mệnh đề cho rằng “đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”, 36% đồng ý rằng “sống theo nhân nghĩa thì khó mà làm giầu được”, và 32% đồng ý rằng “người kinh doanh là người chỉ biết chạy theo đồng tiền”[6].

Từ đâu mà lại có quan niệm mang tính chất đạo đức về đồng tiền và về thị trường như vậy?

Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo

Theo tư tưởng Nho giáo phong kiến thời xưa, tam cương (bao gồm các quan hệ vua tôi, cha con, và vợ chồng) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) chính là giềng mối của toàn xã hội. Khổng Tử coi chữ “nhân” là quan trọng nhất, về sau Mạnh Tử đưa thêm vào đó chữ “nghĩa”. Với quan niệm nhân nghĩa này, tư tưởng Nho giáo có đặc điểm là nhấn mạnh lên hàng đầu lĩnh vực đạo đức, và xem nhẹ lĩnh vực luật pháp, coi trọng nhân trị hay đức trị hơn là pháp trị.[7]

Quan niệm đạo đức dựa trên căn bản nhân nghĩa trong Nho giáo cho rằng người quân tử không được “mưu lợi”, vì khái niệm “lợi” là một thứ đặc biệt bị tẩy chay trong hệ thống tư tưởng này. Giáo sư Cao Xuân Huy phân tích như sau: “Xã hội phong kiến Trung Quốc và Việt Nam… còn bảo lưu nhiều tàn tích thị tộc và tông pháp, do đó… càng chèn ép cá nhân, ngăn cản sự phát triển ý thức cá nhân… Quyền lợi tinh thần hay vật chất của cá nhân đều bị hạn chế gắt gao… Vì vậy nếu chữ lợi là một vật húy kỵ đối với Nho gia, thì cũng là đương nhiên mà thôi… Trong Nho giáo, ‘nhân nghĩa’ và ‘lợi’ là những phạm trù không thể lưỡng lập, mà bài trừ lẫn nhau một cách tuyệt đối”.[8]

Mạnh Tử từng nói rằng “Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân”, nghĩa là muốn giữ đức nhân thì đừng ham giàu, mà hễ làm giàu thì coi như bỏ đức nhân. Cái nhìn coi khinh đồng tiền chính là một thái độ điển hình phản ánh cái quan niệm coi khinh chữ “lợi” trong đạo đức Nho giáo.[9]

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thái độ thành kiến này không phải chỉ xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, mà đã có sẵn mầm mống hình thành từ ngay trong lòng một xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc cổ truyền. Đây chính là cơ sở kinh tế-xã hội sâu xa của quan niệm coi khinh tiền bạc và chữ lợi.

Căn nguyên từ cơ sở kinh tế-xã hội

Đối với những tác giả cổ điển trong lĩnh vực khoa học xã hội như Karl Marx, Max Weber hay Georg Simmel, đồng tiền được nhìn nhận như một trong những nhân tố nổi bật trong quá trình lý tính hóa và hiện đại hóa xã hội, đặc biệt là trong khuôn khổ phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Mặc dù tiền tệ đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, nhưng theo Karl Marx và Friedrich Engels, quyền lực của tiền tệ chỉ thực sự bắt đầu lớn mạnh kể từ khi ra đời giai cấp thương nhân trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Marx gọi tiền tệ là “tồn tại vật chất của của cải trừu tượng”,[10] là “cái cấu thành tiền đề cho xã hội tư sản hiện đại”.[11] Thế lực của đồng tiền giống như “cái bùa”, theo cách nói của Engels, cái bùa này có thể hóa phép thành mọi thứ mà người ta muốn, “hễ ai có cái bùa đó là chi phối được thế giới sản xuất”, và người có cái bùa đó trước tiên chính là thương nhân.[12]

Marx coi đồng tiền là sợi dây ràng buộc con người với xã hội, là “sợi dây của mọi sợi dây”, nó là “phương tiện phổ biến để chia rẽ” xã hội, nhưng đồng thời nó cũng là “phương tiện liên hợp thật sự, [nó] là lực lượng hoá học [phổ biến] của xã hội”[13] (những chỗ nhấn mạnh là do Marx). Marx cho rằng tiền có thuộc tính là “vạn năng”, nó “có thể mua được tất cả, có thể chiếm hữu mọi vật, [nó] là vật coi như là sự chiếm hữu tối cao.”[14]

Marx phân tích ý nghĩa triết học và xã hội học của đồng tiền như sau: “Cái, nhờ có tiền, mà tồn tại đối với tôi, cái mà tôi có thể trả tiền, nghĩa là cái mà tiền có thể mua được, bản thân tôi là cái ấy, tôi, người sở hữu tiền. Sức mạnh của tôi cũng lớn như sức mạnh của tiền. (…) Cho nên tôi là gì và tôi có thể làm gì, điều đó hoàn toàn không phải là do cá tính của tôi quy định. Tôi là người xấu xí, nhưng tôi có thể mua cho tôi một người vợ tuyệt đẹp. Do đó tôi không xấu, vì tác dụng của sự xấu xí, sức mạnh đáng ghê tởm của nó, đã bị tiền làm tiêu tan mất rồi. (…) Tôi là người xấu, không chân thật, không có lương tâm, ngu ngốc, nhưng tiền được tôn thờ thì người có tiền cũng được tôn thờ; (…) tôi là người không có trí tuệ, nhưng tiền là trí tuệ hiện thực của mọi sự vật, — thế thì làm thế nào mà kẻ chiếm hữu tiền lại không có trí tuệ được? (…) Tiền biến mỗi lực lượng bản chất ấy thành một cái gì vốn không phải là lực lượng ấy, nghĩa là thành cái đối lập với nó. (…) Vì tiền, với tính cách là khái niệm đang tồn tại và đang biểu hiện của giá trị, làm lẫn lộn và trao đổi mọi sự vật, cho nên nó là sự lẫn lộn phổ biến và sự thay thế phổ biến mọi sự vật, nghĩa là thế giới lộn ngược, là sự lẫn lộn và sự thay thế tất cả những phẩm chất tự nhiên và có tính người” [những chỗ nhấn mạnh là do Marx].[15]

Mấy đoạn trích dẫn Marx trên đây là những ý tưởng có thể phần nào giải thích được nguồn gốc của quan niệm nghi kỵ đồng tiền và thương nhân trong xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh của một xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc phải đối diện với sự phát triển của các quan hệ tiền tệ, quan niệm coi khinh đồng tiền, theo chúng tôi, là một thứ phản ứng tự vệ của cộng đồng, nhằm chống lại những sự thay đổi, những sự đảo lộn của cái “thế giới lộn ngược” còn lạ lẫm đối với họ, trong đó đại biểu đầu tiên mà họ bắt gặp là tầng lớp thương nhân, để bảo vệ và duy trì cái thế giới làng xã cổ truyền vốn dĩ quen thuộc của họ và an toàn đối với họ. Hệ quả lô-gích của cái nhìn về đồng tiền là dẫn tới thái độ miệt thị những người làm ăn buôn bán, coi khinh doanh lợi và nghề thương buôn mà người ta thường mô tả là cái nghề “một vốn bốn lời”, nghi kỵ và căm ghét những người giầu có, “trọc phú”.[16] Vì các quan hệ tiền tệ là biểu hiện tập trung nhất của kinh tế thị trường, cho nên chính cái quan niệm kỳ thị đồng tiền và thương buôn cũng là một biểu hiện điển hình của tình trạng xung đột và trăn trở trong tâm thức của dân cư trong quá trình giải thể của nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc.

Trong một công trình mà gần đây giới nghiên cứu mới khám phá trở lại mang tên là Triết học về đồng tiền (Philosophie des Geldes) (1900), nhà xã hội học người Đức Georg Simmel đã phân tích ý nghĩa xã hội học của đồng tiền và của các quan hệ tiền tệ. Ông cho rằng đồng tiền, ngoài giá trị khách quan của nó là giá trị kinh tế, còn có giá trị chủ quan xét về mặt xã hội. Theo Simmel, việc phân tích về giá trị xã hội của đồng tiền có thể giúp chúng ta hiểu được suy nghĩ của các cá nhân, ý nghĩa của các hoạt động tương tác, và hình dung ra được những nguyên tắc thống trị chi phối đời sống của một xã hội.

Simmel đặc biệt đào sâu sự phân tích về ý nghĩa của đồng tiền trong quá trình hiện đại hóa xã hội. Khi hình thức giao dịch bằng tiền tệ thay thế dần những hình thức trao đổi bằng hiện vật, thì lúc đó diễn ra nhiều sự thay đổi trong các hình thức quan hệ tương tác giữa các chủ thể trong xã hội. Vì tiền tệ là một vật có thể đo đếm được một cách chính xác và sử dụng dễ dàng trong việc trao đổi những thứ hàng hóa hết sức khác biệt nhau, nên nó trở thành một phương tiện trao đổi phi cá nhân (impersonal) mà những vật trao đổi ngang giá trước nó như cái cồng hay vỏ sò chẳng hạn không thể nào có được. Do đó, nó góp phần thúc đẩy sự tính toán (calculation) trong các hoạt động giao dịch giữa con người với nhau, và thúc đẩy quá trình lý tính hóa (rationalization) – khái niệm mà nhà xã hội học Max Weber đặc biệt nhấn mạnh khi nói tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và quá trình hiện đại hoá xã hội. Theo Max Weber, đồng tiền là phương tiện tính toán kinh tế hoàn hảo nhất, là phương tiện thuần lý nhất xét về mặt hình thức có chức năng hướng dẫn một hoạt động kinh tế.[17] Simmel cho rằng khi tiền tệ trở thành sợi dây liên hệ chủ yếu giữa con người với nhau, thì nó thay thế những mối quan hệ ràng buộc cá nhân vốn thường bao hàm tình cảm hay cảm xúc, bằng những mối liên hệ phi cá nhân hướng đến một mục tiêu nhất định nào đó. Hệ quả là sự tính toán trừu tượng thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống, kể cả lĩnh vực quan hệ gia đình thân tộc hay lĩnh vực thưởng ngoạn nghệ thuật vốn trước đó là những lĩnh vực mà người ta chỉ có thể đánh giá chủ yếu một cách định tính hơn là định lượng. Theo Simmel, chính vì tiền bạc làm cho người ta có thể giới hạn một hành vi giao dịch nào đó vào một mục tiêu nhất định, nên nó cho phép người ta có nhiều tự do cá nhân hơn và thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội cũng như quá trình biệt dị hóa xã hội (social differentiation). Tiền tệ đã thay thế những nhóm xã hội “tự nhiên” bằng những nhóm xã hội tự nguyện, vốn được hình thành theo những mục đích duy lý nhất định. Quan hệ tiền bạc lan tới đâu, thì nó giải thể những mối liên kết dựa trên quan hệ huyết thống, thân tộc hoặc quan hệ trung thành tới đó. Nói chung, đồng tiền là một phương tiện và là cái mốc thay đổi từ phương thức đánh giá định tính sang phương thức đánh giá định lượng trong nhận thức xã hội.

Theo Simmel, trong xã hội hiện đại, đồng tiền, ngoài các chức năng kinh tế của nó, còn là biểu tượng của óc duy lý, óc tính toán, óc trừu tượng, và tính chất phi cá nhân (impersonality). Vì thế, nó là cơ chế chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ một xã hội cổ truyền mang tính chất “cộng đồng” (Gemeinschaft) sang một xã hội hiện đại mang tính chất “xã hội” (Gesellschaft) theo ý nghĩa mà Ferdinand Tönnies từng đề cập.[18]

Xã hội Việt Nam truyền thống vốn dĩ mang đặc trưng là trọng nhân trị hay đức trị hơn là pháp trị, cư xử theo tình hơn là theo lý, đề cao các quan hệ tình nghĩa hơn là các quan hệ chức năng và phi cá nhân. Lối tư duy chủ yếu đặt nền tảng trên kinh nghiệm thực tiễn hơn là dựa trên cơ sở tư biện thuần lý, thuận theo đạo lý và tình cảm hơn là theo lý tính. Trong lịch sử, khi thị trường dần dà phát triển đến mức từng bước phá vỡ khuôn khổ nền kinh tế tự cấp tự túc, lúc đầu người ta khó mà thích ứng kịp thời với sự chuyển đổi của phương thức sản xuất. Vì chưa thay đổi được từ lối tư duy kinh nghiệm và cảm tính sang lối tư duy suy lý và tính toán trừu tượng, vì chưa hiểu nổi tại sao các quan hệ tiền tệ lại thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực đời sống, kể cả những lĩnh vực như đời sống gia đình hay đời sống văn hóa, cho nên người ta cảm thấy như các giá trị trong xã hội truyền thống của họ đang bị đảo lộn. Hầu hết các mối quan hệ xã hội đều không còn như trước, đều bị thay đổi bởi những quan hệ tiền tệ, ngoại trừ quan hệ gia đình và quan hệ bè bạn. Họ cảm thấy cuộc sống an toàn trước đây của họ như đang bị đe dọa tận gốc rễ.

Trong bối cảnh đó, phản ứng tâm lý tự nhiên là phải tìm cho ra một nguyên nhân hay đúng hơn là một thủ phạm để qui tội cho tình trạng xáo trộn hay đảo lộn này. “Thủ phạm” dễ thấy nhất, mà thực ra cũng là trừu tượng nhất, chính là tiền tệ. Chính vì thế mà người ta coi đồng tiền là nguồn gốc sinh ra sự hư hỏng, là biểu tượng của tội lỗi, chứ họ không thể thấy được rằng, thực ra, những quan hệ xã hội đang thay đổi đằng sau các quan hệ tiền tệ mới thực sự là điều đáng quan tâm. Và vì người ta không thể cưỡng lại các quan hệ tiền tệ đang dần dà lan tràn bằng bất cứ một biện pháp kinh tế nào, nên người ta buộc phải tìm cách bảo vệ cái thế giới truyền thống của mình bằng cách dựa vào những giá trị đạo lý để làm vũ khí đương đầu với sức mạnh của đồng tiền. Lúc này, người ta bắt gặp những trào lưu tư tưởng thích hợp và đồng cảm với họ, đặc biệt là Nho giáo với quan niệm đạo đức đề cao chữ nhân và coi khinh chữ lợi, hay trong chừng mực nào đó kể cả nơi những tư tưởng Lão giáo, Phật giáo hay Ki-tô giáo.[19]

Một khi đồng tiền đã trở thành biểu tượng của tội lỗi, thì hầu như phần lớn những gì dính dáng tới đồng tiền đều mặc nhiên ít nhiều mang tính chất phi nhân, phi nghĩa. Chính vì thế mà thành kiến đối với đồng tiền cũng luôn luôn được thể hiện thông qua thành kiến đối với lợi nhuận, đối với thương nhân cũng như đối với thị trường.

Nguyên nhân gần

Vậy đến đây, chúng ta có thể đặt câu hỏi là tại sao cho đến tận bây giờ, vẫn còn tồn tại một quan niệm mang tính chất định kiến đạo đức đối với đồng tiền hay đối với “cơ chế thị trường” nơi một tỷ lệ không ít trong dân cư, mặc dù Việt Nam đã chuyển trở lại kinh tế thị trường được hơn hai thập niên, kể cả tại một thủ phủ kinh tế lớn như thành phố Hồ Chí Minh?

Ai cũng biết rằng nói chung người ta không dễ gì thay đổi những quan niệm và những thành kiến mà mình đã được tiêm nhiễm và dạy dỗ từ nhỏ và đã ăn sâu vào nhân sinh quan của mình, nhất là khi mà những quan niệm và những thành kiến này trong thực tế vẫn còn tiếp tục được nuôi dưỡng dưới hình thức này hay hình thức khác trong hệ thống giáo dục, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như trong đời sống tôn giáo nói riêng và đời sống văn hóa tinh thần nói chung. Những thay đổi trong lĩnh vực ý thức và tư tưởng, nhất là những định kiến, thường diễn ra chậm hơn so với những thay đổi trong đời sống vật chất.[20]

Tuy nhiên, ngoài nhận định vừa nêu, chúng tôi cho rằng còn phải đề cập tới một nguyên do khách quan dẫn đến thành kiến nói trên đối với đồng tiền, đó là điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay.

Tuy nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, nhưng đời sống của phần lớn dân cư, nhất là những người làm ăn lương thiện, chưa phải đã hoàn toàn ổn định hay đã thoát ra khỏi tình cảnh khó khăn. Trong khi đó, số vụ tham ô, hối lộ, mua bán quota, chiếm đoạt đất đai… ngày một gia tăng ở mức độ nghiêm trọng đến mức mà nạn tham nhũng được gọi là quốc nạn. (Tình hình này vô hình trung càng củng cố cho quan niệm “đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”.) Đồng thời, ai cũng thấy môi trường và các thể chế kinh tế cũng như pháp lý hiện thời ở Việt Nam chưa phải đã hoàn chỉnh và chưa có tác dụng khuyến khích các hoạt động làm ăn kinh doanh bình thường, lành mạnh. Trong cuộc điều tra nơi cư dân thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2003 đã dẫn trên, có tới 2/3 mẫu điều tra cho rằng những người kinh doanh tư nhân hiện nay vẫn còn gặp khó khăn, và loại khó khăn mà nhiều người đề cập nhất không phải là vốn liếng, kỹ thuật hay kinh nghiệm, mà là chính sách và cách quản lý của nhà nước. Môi trường kinh tế hiện nay không thực sự thuận lợi cho những người có tài, có năng lực, mà chỉ khuyến khích những người “quan hệ” giỏi. Trong mẫu điều tra, 57% đồng ý với mệnh đề cho rằng “trong kinh doanh, quen biết rộng nhiều khi quan trọng hơn là năng lực”, và 41% đồng ý rằng “không biết nhờ vả, chạy chọt thì chẳng làm được gì hết”. Tình hình này cũng tương tự như vấn đề “guanxi” ở Trung Quốc lâu nay.

Điều không bình thường và cũng không lành mạnh là sự thành công của nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế-xã hội này đang phụ thuộc nặng nề vào khả năng nhờ vả, chạy chọt, chứ không phải vào tài năng của nhà kinh doanh và nội lực của doanh nghiệp. Xoay sở vất vả nhất đối với nhà doanh nghiệp không phải là trong quan hệ giao dịch trên thương trường, mà lại là trong quan hệ với chính các cơ quan quản lý nhà nước. Trong một bản phúc trình điều tra về các doanh nghiệp ở Việt Nam, Nobuaki Takada thuộc Viện nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) nhận định như sau: “ ‘Tính phụ thuộc vào môi trường bên ngoài’ trở thành yếu tố đầu tiên về sự nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam, biểu hiện xu hướng gắn kết quả kinh doanh với tác động của môi trường bên ngoài hoặc từ người khác, hơn là do nỗ lực của chính mình. Đó chính là điểm yếu trong ý chí kinh doanh tại Việt Nam, do đó có nhiều khả năng cản trở sự tăng trưởng của doanh nghiệp.”[21]

Cũng chính vì môi trường khách quan còn nhiều bất trắc do chính sách không ổn định, không minh bạch, gây ra nhiều rủi ro cho hoạt động kinh doanh, nhất là kinh doanh tư nhân, nên phần lớn những người được hỏi trong cuộc điều tra nói trên vẫn còn tâm lý muốn cho con cái đi làm cho khu vực nhà nước hơn là khu vực tư nhân, và mong cho chúng đi theo những nghề lao động trí óc hơn là những nghề kinh doanh, buôn bán. (Theo thiển ý chúng tôi, quan niệm coi trọng kẻ sĩ không phải là nguồn gốc của thành kiến miệt thị kinh doanh. Lịch sử kinh tế nước ta cho thấy đã từng có những thời kỳ mà nền ngoại thương phát triển khá rực rỡ, và sở dĩ có những giai đoạn thương mại suy thoái là chủ yếu do chính sách “ức thương” của các triều đình, chứ không phải do trật tự sĩ nông công thương trong xã hội.[22]) Và cũng môi trường kinh tế không thuận lợi này là lý do chính giải thích tại sao trong ứng xử kinh tế, người dân ở một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, vào năm 2003, vẫn có tỷ lệ muốn để dành tiền, và mua sắm đất đai hay đồ dùng, đông hơn là số người muốn bỏ vốn ra làm ăn, đầu tư.

Chính một môi trường kinh tế-xã hội còn nhiều bất ổn, một nền kinh tế chưa bình thường và còn nhiều dị dạng là cơ sở xã hội tiếp tục nuôi dưỡng và củng cố thành kiến của người dân đối với đồng tiền cũng như đối với kinh doanh và “cơ chế thị trường”. Vì thế, theo chúng tôi, không phải là nhận thức của người dân, mà chính là các định chế và chính sách của nhà nước mới đóng vai trò quyết định đối với ứng xử kinh tế và tinh thần khởi nghiệp của người dân, cũng như đối với công cuộc canh tân và khuếch trương kinh tế.[23]

♦ ♦ ♦

Như vậy, để có thể hiểu được quan niệm của người dân về đồng tiền, chúng ta không thể không xem xét và đặt quan niệm này vào trong bối cảnh không gian và thời gian cũng như những quan hệ xã hội của một hệ thống xã hội nhất định. Bởi lẽ đồng tiền không phải chỉ mang chức năng “phi cá nhân hoá” (de-personalization), “lý tính hoá” (rationalization) và “khách quan hoá” (objectivation) các mối quan hệ xã hội như Georg Simmel đã nhấn mạnh, mà nó còn trải qua quá trình “chủ quan hoá” (subjectivation), được con người “chiếm hữu lại” (re-appropriation) để khoác lên nó một ý nghĩa đặc thù, gán cho nó một dấu ấn xã hội (social “marking”) trong một môi trường kinh tế-xã hội nhất định, như Viviana Zelizer đã phân tích.[24] Hiểu theo nghĩa này thì hình ảnh về đồng tiền hay quan niệm về đồng tiền của người Việt Nam là một chủ đề bổ ích cần được giới khoa học xã hội tiếp tục khảo sát, nghiên cứu vì nó có thể phản ánh những bước chuyển biến của cả xã hội.

TPHCM, ngày 22-3-2007
T.H.Q.


[1] Nhiều tác giả cũng đã nhấn mạnh tới một cách nhìn xã hội học về đồng tiền. Damien de Blic và Jeanne Lazarus chẳng hạn đã phân biệt giữa chữ “monnaie” [tiền] (trong tiếng Pháp) theo nghĩa là một phương tiện trao đổi, với chữ “argent” [tiền] theo nghĩa là một “định chế chính trị, xã hội và luân lý” của cái phương tiện ấy, và cho rằng “l’argent, c’est justement la monnaie dans sa dimension sociologique” [tạm dịch: “đồng tiền, đó chính là tiền bạc nhìn dưới kích thước xã hội học”] (xem Damien de Blic và Jeanne Lazarus, Sociologie de l’argent, Paris, La Découverte, Coll. Repères, 2007, trang 5).

[2] Xem chẳng hạn bài “Điều cần lý giải”, Người lao động, 2-3-2007.

[3] Xem Người lao động, các số ra vào hạ tuần tháng 9-2006.

[4] Vào thời bao cấp sau giải phóng, kinh doanh xã hội chủ nghĩa được quan niệm là phải đặt mục tiêu “phục vụ” lên hàng đầu, chứ không được “chạy theo lợi nhuận đơn thuần”. Và chủ trương công tư hợp doanh lúc đó chỉ được áp dụng chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất, chứ không áp dụng cho lĩnh vực thương nghiệp, vì thành phần tư sản thương nghiệp dứt khoát là phải xóa bỏ. Cái căn bản lô-gích của cụm từ “chạy theo lợi nhuận” cũng y hệt như của cụm từ “chạy theo đồng tiền”.

[5] Xem thêm chẳng hạn Trần Đức Nguyên, Phạm Chi Lan, “ ‘Giải oan’ cho thương mại hoá”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 1-3-2007, trang 22-23.

[6] Đây là cuộc điều tra nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu mang tên “Hoàn thiện và nêu cao hệ giá trị Việt Nam trong văn hóa kinh doanh như một lợi thế của hội nhập và cạnh tranh kinh tế quốc tế – Khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh” (chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Quang Vinh) do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM chủ trì. Cuộc điều tra này được tiến hành vào tháng 4 và tháng 5-2003 bằng cách chọn mẫu phân tầng tại sáu phường ở ba quận thuộc TPHCM, với tổng số mẫu là 469 người từ 18 tuổi trở lên. Cũng trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, vào tháng 5-2004, chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều tra khác nơi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tại TPHCM, kể cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, với tổng số mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên là 186 người: theo kết quả cuộc điều tra này, chỉ có 23% nhà lãnh đạo doanh nghiệp đồng ý với mệnh đề cho rằng “đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”, và 25% cho đồng ý rằng “sống theo nhân nghĩa thì khó mà làm giầu được” – tức đây là những tỷ lệ thấp hơn so với dân cư chung.

[7] Xem thêm Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 1980, trang 85-89.

[8] Cao Xuân Huy, “Tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức”, trong Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông – Gợi những điểm nhìn tham chiếu, Hà Nội, Nxb Văn học, 1995, trang 275.

[9] Xem thêm Phan Chánh Dưỡng, “Doanh nhân và chữ lợi”, trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 3-2-2000, trang 7.

[10] Thư của Marx gửi Engels ở Manchester (1858), trong Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập II, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1981, trang 690.

[11] Karl Marx, “Lời nói đầu [Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị]”, trong Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập II, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1981, trang 619.

[12] Friedrich Engels, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của nhà nước, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1972, trang 275-276.

[13] Karl Marx, Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, trong Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập I, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1980, trang 132-133.

[14] Như trên, trang 130.

[15] Như trên, trang 132-135.

[16] Trọc phú là “người giàu có mà dốt nát, ít hiểu biết” (Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1996).

[17] Xem Max Weber, Economie et société, Paris, Plon, Pocket, 1995, trang 132.

[18] Xem Mathieu Deflem, “The Sociology of the Sociology of Money: Simmel and the Contemporary Battle of the Classics”, Journal of Classical Sociology, số 3(1), 2003, trang 67-96.

[19] Thực ra, ngay nơi xã hội Pháp hay nhiều nước Tây Âu hiện nay, thái độ đạo đức nghi kỵ đối với đồng tiền cũng vẫn còn tồn tại, và thường được coi là hệ quả xuất phát từ truyền thống tư tưởng đạo lý Ki-tô giáo ở châu Âu (xem thêm chẳng hạn bài phỏng vấn Damien de Blic, “Le christianisme dénonce les riches”, Libération, 18-1-2007).

[20] Chính một số viên chức nhà nước cũng đã đưa ra một nhận định tương tự khi nói đến nhu cầu thay đổi tư duy nơi các nhà hoạch định chính sách: “…Theo các quan chức này, các nhà hoạch định chính sách cần phải mất một thế hệ mới có thể thoát ra khỏi sự ràng buộc về hệ tư tưởng hiện đang trói buộc họ.” (Xem MPDF, Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân, số 9, tài liệu đã dẫn, 7-1999, tr. 15.)

[21] Nobuaki Takada (Viện nghiên cứu Nomura, Nhật Bản), Ý chí kinh doanh tại Việt Nam, Hà Nội, Vietnam-Japan Joint Research, 12-2000, trang 15.

[22] Xem thêm Nguyễn Đình Đầu, “Thử tìm khuôn mặt doanh nhân trong lịch sử Việt Nam”, trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 5-7-2001, trang 30. Nguyễn Nghị, “Ngoại thương – vấn đề sống còn của chúa Nguyễn”, trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 29-11-2001, trang 30. Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (bản dịch của Nguyễn Nghị), TPHCM, Nxb Trẻ, 1999.

[23] Xem thêm Vũ Quốc Tuấn, “Để phát triển tầng lớp doanh nhân Việt Nam”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 17-5-2001, trang 41, Vũ Quốc Tuấn, “Phát huy dân khí, khơi dậy tinh thần kinh doanh”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 3-2-2000, trang 5, và Lê Đăng Doanh, “Đổi mới và sự bừng nở của con người”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 27-4-2000, trang 20.

[24] Viviana Zelizer, The Social Meaning of Money, Princeton University Press, 1997. Xem bài phân tích của Thierry Rogel, “La signification sociale de l’argent de Viviane Zelizer”, trong http://www.ac-orleans-tours.fr/ses/pedagogie.

TẠP CHÍ THỜI ĐẠI MỚI SỐ 10 THÁNG 3/2007

CẦN SỬA ĐỔI QUI ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT VAY TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

NGUYỄN PHƯƠNG LINH – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Việc các ngân hàng cho vay có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính sách tiền tệ quốc gia và quy định của pháp luật liên quan đến lãi suất. Theo báo cáo tổng kết hằng năm của các ngân hàng nước ta, thì doanh thu cho vay chiếm một tỷ lệ lớn trên tổng doanh thu của mỗi ngân hàng, thậm chí ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, doanh thu cho vay chiếm đến hơn 90% tổng doanh thu của ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế thu được từ hoạt động cho vay cũng chiếm phần lớn trong tổng lợi nhuận hằng năm của các ngân hàng (chiếm trên 80% tổng thu nhập).

Về nguyên tắc, lãi suất cho vay càng cao và doanh số cho vay càng lớn, thì ngân hàng càng thu được lãi lớn. Do đó, tùy theo nguồn vốn huy động được và các dự án cho vay, chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng mà các ngân hàng có thể quy định lãi suất cho vay khác nhau. Chẳn hạn như: nguồn vốn huy động được lớn với lãi suất huy động thấp và tăng trưởng tín dụng đang ở mức thấp, thì ngân hàng có thể cho vay với lãi suất thấp đối với dự án khả thi và có hiệu quả để tăng doanh thu cho vay. Tất nhiên, lãi suất cho vay thấp vẫn bảo đảm cho ngân hàng có lãi để trả lãi tiền gửi cho người gửi tiền và thanh toán các chi phí liên quan đến hoạt động của ngân hàng, như: trả tiền lương, tiền công cho người lao động, trả tiền điện, điện thoại, nước, tiền thuê trụ sở, khấu hao tài sản cố định … Ngược lại, đối với ngân hàng đã có tăng trưởng tín dụng cao và nguồn vốn huy động còn lại ít, lãi suất tiền gửi cao, thì ngân hàng đó cho vay với lãi suất cao để hạn chế sự tăng trưởng tín dụng, bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay. Chính vì vậy, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các ngân hàng được tự điều chỉnh lãi suất cho vay cho phù hợp với điều kiện thực tế và chiến lược kinh doanh của mình. Việc các ngân hàng tự quyết định lãi suất cho vay, lãi suất huy động và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình cũng phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật các Tổ chức tín dụng: các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 cho đến nay, các ngân hàng tỏ ra rất lo lắng về lãi suất cho vay mà mình đã thoả thuận với khách hàng trong các hợp đồng vay vì mặc dù chính sách tiền tệ quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước không hạn chế các ngân hàng ấn định lãi suất cho vay, nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định mức tối đa đối với lãi suất vay. Cho nên, trong thời gian tới, có thể có hàng triệu hợp đồng tín dụng bị vô hiệu do vi phạm quy định nói trên của Bộ luật Dân sự năm 2005. Chia sẻ những băn khoăn, lo lắng với các ngân hàng thương mại, ông Nguyễn Ngọc Bảo – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước cho rằng: quy định nói trên của Bộ luật Dân sự năm 2005 là không phù hợp với chủ trương tự do hoá lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước đang phấn đấu thực hiện và có thể vi phạm cơ chế lãi suất thoả thuận mà Chính phủ chỉ đạo các ngân hàng thực hiện từ tháng 6/2002 đến nay(1).

Để làm rõ hơn quy định nói trên của Bộ Luật Dân sự năm 2005 và cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của Ngân hàng Nhà nước, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin có một số ý kiến như sau:

Hợp đồng vay vốn ngân hàng có phải là hợp đồng vay tài sản?

Theo quy định tại Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Quy định về lãi suất vay trên đây chỉ áp dụng đối với hợp đồng vay tài sản tại mục 4 Chương XVIII của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, lãi suất vay vốn ngân hàng chỉ chịu sự điều chỉnh của quy định tại Điều 476 nói trên nếu hợp đồng vay vốn ngân hàng (hay còn gọi là hợp đồng tín dụng) là hợp đồng vay tài sản.

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005, thì hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định (2). Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành không có định nghĩa về hợp đồng tín dụng mà chỉ quy định nội dung của hợp đồng tín dụng phải có: điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận (3). Trong các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, thì cho vay là hình thức chủ yếu mà theo đó ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho nên, nói đến vốn vay ngân hàng là nói đến tiền mặt chứ không phải là hình thức mua bán chịu hàng hoá như tín dụng thương mại. Do vậy, khi ngân hàng và khách hàng đã ký kết hợp đồng tín dụng, thì ngân hàng có nghĩa vụ giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định và khách hàng có nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nợ mà khách hàng phải trả cho ngân hàng bao gồm: nợ gốc, nợ lãi (lãi trong hạn, lãi quá hạn) và các khoản phạt (nếu có). Đối với lãi trong hạn được xác định theo công thức:

Lãi quá hạn cũng được xác định tương tự theo công thức trên, trong đó lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất trong hạn được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Mặt khác, Bộ luật Dân sự năm 2005 (kể cả phần chung và Điều 476 mục 4 Chương XVIII) và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật không quy định trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật chung (Bộ luật Dân sự) và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành (Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành) quy định về cùng một vấn đề (lãi suất vay) mà có khác nhau, thì áp dụng văn bản pháp luật chuyên ngành. Cho nên, khi có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về lãi suất vay, ngân hàng không có cơ sở để áp dụng quy định của văn bản pháp luật chuyên ngành trong việc xác định lãi suất cho vay. Thêm nữa, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định mang tính liệt kê về tài sản, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (4).

Chính vì vậy, vốn vay ngân hàng (tiền) là tài sản và hợp đồng vay vốn ngân hàng là hợp đồng vay tài sản.

Quy định về lãi suất vay trong Bộ luật Dân sự 2005 có áp dụng đối với hợp đồng tín dụng?

Hoạt động tín dụng là một lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội. Cho nên, mặc dù nước ta đã xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ đầu những năm 90 thế kỉ XX (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986), nhưng vì những nguyên chủ quan và khách quan, đến trước ngày 05 tháng 08 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước vẫn thực hiện cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam và đô la Mỹ của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Ngay cả khi điều kiện đã thuận lợi, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa trao ngay quyền tự xác định lãi suất cho vay cho các ngân hàng mà chỉ giảm bớt sự can thiệp vào việc xác định lãi suất cho vay của các ngân hàng bằng cách thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ. Sự thận trọng của Ngân hàng Nhà nước bảo đảm cho Nhà nước quản lý và kiểm soát được hoạt động cho vay của các ngân hàng trên thị trường. Với cơ chế điều hành lãi suất mới nói trên, ngân hàng được ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố nhưng không vượt quá mức lãi suất cơ bản và biên độ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định từng thời kỳ.

Cho đến ngày 30/5/2002, khi xét thấy các điều kiện đã phù hợp cho việc xoá bỏ sự can thiệp vào việc xác định lãi suất cho vay của các ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới ban hành Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN để thay đổi cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản cộng với một biên độ nhất định bằng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín nhiệm đối với khách hàng. Kể từ thời điểm đó cho đến nay, các ngân hàng được xác định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay. Chính nhờ có quy định này mà các ngân hàng đã chủ động, linh hoạt hơn trong việc xác định lãi suất vay cho phù hợp với những biến động trên thị trường; qua đó, làm tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối với lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ, Ngân hàng Nhà nước chỉ thực sự không can thiệp, cho phép các ngân hàng ấn định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước kể từ 01/06/2001(4). Trước đó, lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ do các tổ chức tín dụng xác định cũng bị hạn chế theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể, các ngân hàng ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ theo nguyên tắc lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất đô la Mỹ trên thị trường tiền tệ ngân hàng Xinh-ga-po (lãi suất Sibor) kỳ hạn 3 tháng đối với cho vay ngắn hạn, kỳ hạn 6 tháng đối với cho vay trung hạn, dài hạn tại thời điểm cho vay và một biên độ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ (5). Ví dụ: biên độ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định tháng 08/2000 là 1%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 2,5%/năm đối với cho vay trung, dài hạn.

Trước đây, Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng” (6). Lúc bấy giờ, quy định này không chỉ vô hình chung phủ nhận cơ chế điều hành trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước mà còn không cho phép các ngân hàng được cho vay với lãi suất cao nhất bằng trần lãi suất cho vay tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. Sự quy định không nhất quán giữa Bộ luật Dân sự năm 1995 với các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã đặt các ngân hàng vào tình thế khó xử: nếu xác định lãi suất cho vay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thì ngân hàng mới có lãi để duy trì hoạt động và phát triển kinh doanh; ngược lại, ngân hàng có thể chỉ hoà vốn hoặc lỗ từ hoạt động cho vay nếu lãi suất cho vay được xác định không quá 50% lãi suất vay cao nhất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định (Bộ luật Dân sự năm 1995 chỉ cho phép lãi suất vay tối đa bằng 1/2 lãi suất trần tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định). Do đó, để an toàn trong hoạt động cho vay, ngân hàng phải xác định lãi suất cho vay theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, nhưng để cho vay có hiệu quả, ngân hàng phải xác định lãi suất cho vay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Trong trường hợp xác định lãi suất cho vay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng phải chấp nhận rủi ro khi có tranh chấp phát sinh liên quan đến lãi vay vì khi đó, theo yêu của của bên/các bên, toà án xem xét và giải quyết trên nguyên tắc áp dụng: văn bản quy phạm pháp luật cấp trên (Bộ luật Dân sự do Quốc hội thông qua) có hiệu lực pháp lý cao hơn văn bản quy phạm pháp luật cấp dưới (các quyết định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Cho nên, lãi suất cho vay được xác định phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước (không vượt lãi suất trần) nhưng vi phạm quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 không được Tòa án công nhận. Vì vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có lãi suất cho vay vượt quá 50% lãi suất trần tương ứng của Ngân hàng Nhà nước không được pháp luật bảo vệ.

Do trước khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được Quốc hội thông qua, Ngân hàng Nhà nước đã chuyển đổi từ cơ chế điều hành lãi suất trần sang cơ chế tự do hoá lãi suất, nên quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về lãi suất vay đã có sự thay đổi so với quy định trước đây của Bộ luật Dân sự năm 1995. Thay vì quy định lãi suất vay không được vượt quá 50% lãi suất cao nhất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định như Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định lãi suất vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Như đã nêu ở trên, lãi suất vay áp dụng đối với hợp đồng vay tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng được áp dụng đối với hợp đồng vay vốn ngân hàng, nên kể từ 01/01/2006 (ngày có hiệu lực thi hành của Bộ luật Dân sự năm 2005), lãi suất cho vay mà các ngân hàng và khách hàng vay thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Cần sửa đổi quy định về lãi suất vay trong Bộ luật Dân sự năm 2005

So với Luật các Tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì phạm vi điều điều chỉnh của Bộ luật Dân sự rộng hơn. Nếu như Luật các Tổ chức tín dụng chỉ quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác tại Việt Nam, thì Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Trong cuộc sống, cho vay không chỉ là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các ngân hàng mà còn là hoạt động của nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức khác nữa. Trước đây, việc cho vay giữa các nhân, hộ gia đình với nhau chưa được pháp luật điều chỉnh, nên một số cá nhân, hộ gia đình đã lợi dụng để cho vay nặng lãi mang tính chất “bóc lột” đối với những cá nhân, hộ gia đình thiếu vốn (thông thường là các hộ gia đình, cá nhân nghèo). Đây là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm và đi ngược lại với bản chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (6). Cho nên, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung quy định về họ, hụi, biêu, phường (gọi tắt là họ) để điều chỉnh các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống dân sự. Các hình thức này chỉ mang tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau, không nhằm mục đích kinh doanh và không được phép tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi. Mặt khác, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm” (7). Do đó, nếu Bộ luật Dân sự không quy định lãi suất vay, thì các cơ quan tiến hành tố tụng không có cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm pháp lý hoặc xử phạt dưới hình thức khác đối với người có hành vi cho vay nặng lãi. Vì vậy, việc Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định lãi suất vay là cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự và duy trì trật tự xã hội, tạo cơ sở pháp lý để ngăn ngừa và xử lý đối với những người có hành vi cho vay nặng lãi.

Tuy nhiên, nếu quy định về lãi suất vay tại Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 được áp dụng đối với dịch vụ cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng, thì quy định này là không phù hợp vì bốn lý do chính sau đây:

Thứ nhất: Hoạt động cho vay vốn ngân hàng đã được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành (Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành). Cho nên, lãi suất cho vay của các ngân hàng đối với khách hàng đã được xác định theo quy định của luật chuyên ngành. Khoản 12 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước (một văn bản quy phạm pháp luật cũng do Quốc hội thông qua như Bộ luật Dân sự) quy định lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản được Ngân hàng Nhà nước công bố hàng tháng trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước lựa chọn trong từng thời kỳ. Trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời. Do đó, lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là tương đối linh hoạt và sát với lãi suất trên thị trường. Vì vậy, việc các ngân hàng xác định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố bảo đảm nguyên tắc: hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Thứ hai: Ngân hàng Nhà nước không công bố lãi suất cơ bản đối với loại cho vay tương ứng mà chỉ công bố lãi suất cơ bản chung. Do đó, các ngân hàng không có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc hạn chế lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Chính vì vậy, hiện tại lãi suất cho vay của các ngân hàng áp dụng đối với loại cho vay ngắn hạn (thời hạn vay từ 12 tháng trở xuống), cho vay trung hạn (từ 12 tháng đến 60 tháng) và cho vay dài hạn (trên 60 tháng) đều được ấn định trên cơ sở mức lãi suất cơ bản chung do Ngân hàng Nhà nước công bố hàng tháng.

Thứ ba: Nguồn vốn cho vay của các ngân hàng chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức và cá nhân (chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động). Hiện nay, pháp luật không hạn chế lãi suất tiền gửi của các tổ chức và cá nhân tại ngân hàng (khống chế lãi suất tối đa hoặc tối thiểu), nên lãi suất tiền gửi được xác định trên nhu cầu huy động vốn, chính sách khách hàng, chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng và mặt bằng lãi suất tiền gửi trên thị trường. Do đó, nếu pháp luật hiện hành không hạn chế lãi suất huy động (lãi suất tiền gửi) mà Bộ luật Dân sự năm 2005 khống chế lãi suất cho vay đối với dịch vụ tín dụng ngân hàng, thì ngân hàng có thể thua lỗ do lãi suất cho vay bằng hoặc thấp hơn lãi suất huy động. Thậm chí ngay cả trường hợp lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, ngân hàng vẫn có thể không có lãi vì khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động chưa đủ bù đắp các chi phí cho hoạt động của ngân hàng liên quan đến hoạt động huy động vốn và cho vay đó. Do vậy, việc các ngân hàng bị hạn chế lãi suất cho vay theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (đầu ra) mà không có quy định lãi suất trần hoặc lãi suất sàn đối với lãi suất tiền gửi (đầu vào) là chưa hợp lý.

Thứ tư: Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11/2006. Do đó, chính sách tiền tệ của nước ta cần được tiếp tục đổi mới theo nguyên tắc thị trường với việc phát triển thị trường tiền tệ phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng khẳng định hạn chế và xoá bỏ sự can thiệp hành chính vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc Bộ luật Dân sự năm 2005 hạn chế lãi suất vay nêu trên mà không có loại trừ đối với một số lĩnh vực đặc thù đã được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành không chỉ không phù hợp với chủ trương và chính sách của Đảng, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mà còn không nhất quán với cơ chế điều hành lãi suất hiện hành của Ngân hàng Nhà nước.

Chính vì những lẽ trên, chúng tôi thiết nghĩ Bộ Tư pháp – cơ quan được giao chủ trì soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 cần xem xét quy định về lãi suất vay tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi theo hướng: không áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 476 đối với dịch vụ cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng (tương tự nhiều điều khoản khác trong Bộ luật Dân sự năm 2005: khoản 2 Điều 410 …).

——————————————————————————–

(1): Song Linh: “Hàng triệu hợp đồng tín dụng có nguy cơ đổ vỡ”, báo điện tử VNExpress thứ ba ngày 17/10/2006.

(2): Điều 471 của Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 và có hiệu lực kể từ 01/01/2006.

(3): Điều 51 của Luật các Tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997và Điều 17 của Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

(4): Quyết định số 718/2001/QĐ-NHNN ngày 29/05/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

(5): Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02 tháng 08 năm 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

(6): Khoản 1 Điều 473 của Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm 1996.

(6): Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.

(7): Khoản 1 Điều 163 của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và có hiệu lực kể từ 01 tháng 07 năm 2000.

SOURCE: TẠP CHÍ NHÂN HÀNG SỐ 23/2006

VẤN ĐỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN VÀ QUI ĐỊNH LÃI SUẤT CHO VAY KHÔNG ĐƯỢC VƯỢT QUÁ 150% LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG

LUẬT SƯ TRƯƠNG THANH ĐỨC

Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995. Một loạt quy định bất cập của Bộ luật Dân sự (cũ) liên quan đến lãi suất ngân hàng trong suốt 10 năm qua đã được Bộ luật Dân sự (mới) giải quyết một cách cơ bản. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 lại làm phát sinh những vướng mắc mới xung quanh vấn đề lãi suất. Đó là hiệu lực pháp lý của quyết định công bố lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và quy định lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

1. Các quy định của Bộ luật Dân sự liên quan đến lãi suất cơ bản

Bộ luật Dân sự năm 2005 có 8 điều khoản đề cập đến lãi suất cơ bản do NHNN quy định, bao gồm:

– Khoản 2, Điều 305 về “Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” có quy định: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”;

– Khoản 2, Điều 4 về “Trách nhiệm do giao vật không đồng bộ” có quy định: “Trong trường hợp bên mua đã trả tiền nhưng chưa nhận vật do giao không đồng bộ thì được trả lãi đối với số tiền đã trả theo lãi suất cơ bản do NHNN quy định…”;

– Khoản 4 và 5, Điều 474 về “Nghĩa vụ trả nợ của bên vay” có quy định: “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.” và “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”;

– Khoản 1 và 2, Điều 476 về “Lãi suất” có quy định: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng” và “Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”;

– Khoản 2, Điều 576 về “Trả tiền bảo hiểm” có quy định: “Trong trường hợp bên bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm thì phải trả cả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do NHNN quy định tại thời điểm trả tiền bảo hiểm tương ứng với thời gian chậm trả.”;

– Điều 709 về “Chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất” có quy định: “Khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thoả thuận thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, yêu cầu bên thuê trả lại đất. Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả đủ tiền trong thời gian đã thuê kể cả lãi đối với khoản tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do NHNN quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.”.

Như vậy, lần đầu tiên lãi suất cơ bản đã trở thành căn cứ pháp lý chính thức để áp dụng cho các quan hệ mua bán, vay mượn, thanh toán và trong nhiều linh vực khác. Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, quy định trên có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến các hợp đồng tín dụng, mà cụ thể là quy định giới hạn về mức lãi suất cho vay.

2. Việc triển khai lãi suất cơ bản trên thực tế

Theo quy định của Luật NHNN Việt Nam năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004), lãi suất cơ bản “do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Tuy nhiên cho đến ngày 02/8/2000, NHNN mới ban hành Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN bắt đầu công bố lãi suất cơ bản. Từ ngày 05/8/2000 đến ngày 31/5/2002, lãi suất cơ bản được cộng với biên độ từ 0,3 – 0,5%/tháng để làm cơ sở tính lãi suất cho vay đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng (TCTD).

Từ ngày 01/6/2002 đến ngày 31/12/2005, lãi suất cơ bản hầu như không còn giá trị pháp lý và ý nghĩa thực tế. Vì theo Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002 của Thống đốc NHNN “Về việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng”, thì các TCTD hoàn toàn không phải chịu bất kỳ giới hạn nào về mức lãi suất cho vay. Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005, mặc dù không có chủ đích, nhưng đã mặc nhiên chấm dứt giai đoạn tự do hoá lãi suất và điều hành lãi suất cho vay theo cơ chế tự thoả thuận của NHNN (xem Biểu đồ mức lãi suất cho vay tối đa).

Các quyết định công bố lãi suất cơ bản hằng tháng của NHNN trong thời gian gần đây chỉ được coi là quyết định cá biệt, mà không được xác định là văn bản quy phạm pháp luật và do vậy cũng không được đăng Công báo. Lý do có thể là: Thứ nhất, lãi suất cơ bản không có ý nghĩa trực tiếp và bắt buộc điều chỉnh các quan hệ cho vay, thanh toán của bất kỳ đối tượng nào. Thứ hai, nếu là văn bản quy phạm pháp luật, thì chỉ có hiệu lực sau 15 ngày (hoặc muộn hơn), kể từ ngày đăng Công báo. Nhưng lãi suất cơ bản được công bố hằng tháng, nếu chờ đăng Công báo, thì ngày có hiệu lực cũng sẽ gần trùng với ngày hết hiệu lực, thậm chí sau ngày hết hiệu lực.

3. Yêu cầu mới đối với lãi suất và quyết định công bố lãi suất cơ bản

Từ năm 2006 trở đi, với một loạt quy định nói trên của Bộ luật Dân sự, lãi suất cơ bản do NHNN quy định sẽ chính thức trở thành một căn cứ quan trọng và phổ biến hàng đầu để áp dụng đối với các giao dịch cho vay và thanh toán.

Như vậy, các quyết định công bố lãi suất cơ bản của NHNN đã vượt khỏi phạm vi nội bộ ngành Ngân hàng, mà có giá trị áp dụng bắt buộc đối với cả nền kinh tế xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh thương mại, ngân hàng và giao dịch dân sự khác. Do đó, các quyết định công bố lãi suất cơ bản phải trở thành văn bản quy phạm pháp luật và chỉ có hiệu lực sau khi đã được đăng Công báo theo quy định tại khoản 3, Điều 75 về “Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật” của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002).

Theo quy định tại khoản 1, Điều 476 của Bộ luật Dân sự, từ ngày 01/01/2006 trở đi, lãi suất trong các hợp đồng cho vay nói chung, lãi suất trong các hợp đồng tín dụng nói riêng “do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố”. Trong thời gian gần đây, cụ thể là từ tháng 5 đến tháng 10/2005, lãi suất cơ bản do NHNN quy định là 0,65%/tháng hay 7,8%/năm. Nếu theo quy định này, thì các ngân hàng chỉ được phép cho vay với mức lãi suất tối đa là 0,975%/tháng hay 11,7%/năm. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều ngân hàng đang cho vay đối với một số loại khách hàng cao hơn mức lãi suất này, thậm chí cá biệt lên tới 1,3 – 1,5%/tháng hay 15 – 18%/năm, tương đương với 200 – 230% lãi suất cơ bản. Theo dự báo của Bản tin Ngân hàng – Tài chính – Tiền tệ (Trung tâm Thông tin Thương mại) số ra ngày 26/9/2005, thì lãi suất huy động trong những tháng cuối năm có thể lên tới 10%/năm, lãi suất cho vay có thể lên đến 13 – 14% năm đối với các ngân hàng thương mại. Nếu giữ nguyên lãi suất cơ bản, thì từ năm 2006 trở đi, rất nhiều hợp đồng tín dụng sẽ có nguy cơ vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về mức lãi suất cho vay tối đa. Đặc biệt, với mức lãi suất cho vay tối đa chưa đến 1%/tháng áp dụng đối với các hợp đồng vay vốn trong kinh doanh và dân sự là quá xa rời thực tế.

Như vậy, gánh nặng trách nhiệm pháp lý về vấn đề lãi suất cơ bản đang đè nặng lên NHNN. Với những quy định như trên của Bộ luật Dân sự, việc công bố lãi suất cơ bản phải được duy trì một cách chính thức, lâu dài và phù hợp nhất cho đến khi có một cơ chế khác thay thế, dù sau này khái niệm lãi suất cơ bản có hay không được tiếp tục ghi nhận trong Luật NHNN. Cần tránh tình trạng đã từng xảy ra: NHNN đã bãi bỏ việc quy định mức lãi suất tiết kiệm đúng 6 tháng trước khi các điều luật căn cứ vào mức lãi suất tiết kiệm do NHNN quy định có hiệu lực pháp luật. Rồi sau đó là việc bãi bỏ các quy định cụ thể về lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn của NHNN trong khi còn nhiều văn bản pháp luật lấy làm căn cứ. Những việc đó đã dẫn tới hậu quả là, trong nhiều năm qua, những điều luật rất cần thiết, cụ thể và thực tế trong Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng như trong một số đạo luật khác liên quan đến lãi suất đã trở thành lạc lõng, khó hiểu và vô căn cứ.

4. Đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, cần sửa đổi Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005, nâng giới hạn lãi suất cho vay từ 150% lên 200% mức lãi suất cơ bản do NHNN quy định. Tuy nhiên, điều này là không khả thi, vì không thể sửa ngay Bộ luật Dân sự vừa mới được thông qua. Thực tế cho thấy, những kiến nghị tương tự từ nhiều năm trước cũng đều chưa được xem xét giải quyết1.

Thứ hai, giải pháp khả thi hơn là, NHNN cần tăng lãi suất cơ bản (có thể gấp khoảng 1,5 lần so với hiện nay), để bảo đảm cho các hợp đồng tín dụng và vay vốn khác có thể áp dụng mức lãi suất tối đa lên tới khoảng 1,5%/tháng (mức này cũng vẫn là thấp so với mặt bằng vay vốn bên ngoài TCTD). Tuy việc này ít nhiều ảnh hưởng đến chủ trương điều hành chính sách tiền tệ, nhưng là giải pháp tối ưu để bảo đảm cho các giao dịch vay vốn trong xã hội diễn ra một cách bình thường, tự do, chính đáng và hợp pháp.

Thứ ba, nếu chưa sửa đổi được Bộ luật Dân sự và cũng chưa tăng được lãi suất cơ bản, thì bên cạnh việc cho vay với mức lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định, các TCTD có thể chuyển hoá tất cả phần lãi suất vượt quá (nếu có) vào các loại phí cho vay. Tuy nhiên, như vậy sẽ không phản ánh đúng bản chất kinh tế và làm méo mó thị trường tiền tệ. Hơn nữa, phí cho vay chỉ được khách hàng chấp nhận khi chiếm đến năm mười phần trăm, chứ khó được chấp nhận khi chiếm tới vài chục phần trăm so với lãi suất. Và việc này cũng gần như không thể áp dụng được đối với những giao dịch vay vốn bên ngoài TCTD.

Thứ tư, các quyết định công bố lãi suất cơ bản của Thống đốc NHNN phải được xác định là văn bản quy phạm pháp luật và phải được đăng Công báo. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, muốn những quyết định này có hiệu lực kịp thời, thì phải sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể là, cho phép một số văn bản đặc biệt của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, như quyết định công bố lãi suất cơ bản, có hiệu lực từ ngày công bố. Tuy nhiên, điều này là thiếu thực tế, vì ngoài việc phải sửa đổi Luật, còn lý do cơ bản là, không bảo đảm đủ thời gian cần thiết để các đối tượng liên quan có thể nắm bắt thực hiện. Biện pháp khả thi hơn là, ban hành quyết định công bố lãi suất cơ bản rất sớm để kịp đăng Công báo và có hiệu lực vào đúng ngày mùng 1 hằng tháng. Nhưng, có sự bất hợp lý ở chỗ, quyết định công bố lãi suất của tháng này lại luôn phải ban hành trước đó khoảng một tháng. Hơn nữa, việc công bố lãi suất cơ bản hằng tháng cũng gây ra nhiều khó khăn, phức tạp trên thực tế, vì phải theo dõi thực hiện theo quá nhiều quyết định, nhất là đối với các giao dịch bên ngoài TCTD và đối với các vụ việc tranh chấp về vay mượn, thanh toán kéo dài trong nhiều năm. Do vậy, theo tôi, giải pháp hợp lý nhất là, NHNN nên bỏ việc công bố lãi suất cơ bản hằng tháng, mà chỉ công bố khi nào thấy cần có sự thay đổi. Việc đăng Công báo được thực hiện như bình thường; nếu cần thiết, thì có thể đề nghị Văn phòng Chính phủ ưu tiên cho đăng Công báo một cách sớm nhất.

_______________________________________________

(1) Xem bài “Vấn đề nan giải khi áp dụng lãi suất ngân hàng”, Tạp chí Thị trường – Tài chính – Tiền tệ số 3/1998 và “Một số vướng mắc pháp lý giữa lãi suất ngân hàng với các quy định về lãi suất trong các văn bản pháp luật”, Tạp chí Ngân hàng số Chuyên đề, tháng 7-1999 (LS. Trương Thanh Đức).

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ  11/2005

RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM- CÁCH TIẾP CẬN TỪ TÍNH CHẤT SỞ HỮU

TS PHAN THỊ THU HÀ – Khoa Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân

Hoạt động ngân hàng luôn hàm chứa rủi ro, đặc biệt và thường xuyên là rủi ro tín dụng. Qua hoạt động giám sát của đoàn Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội đối với hoạt động của ngân hàng (NH) tại một số tỉnh, rủi ro tín dụng củạ ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) đang trở nên rất đáng quan tâm. Trong bài này tác giả tập trung phân tích tính chất sở hữu nhà nước của các NHTMNN như là một yếu tố gây rủi ro tín dụng.

1. Thực trạng rủi ro tín dụng của NHTM nhà nước

Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với NH, gây tổn thất cho NH, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho NH. Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của NHTM như: Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỔ PHẦ N HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ

1. Một số vấn đề chung về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

Chủ trương cổ phần hoá DNNN được đặt ra khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới theo Quyết định số 143/HĐBT ngày 15/10/1990 và thực hiện thí điểm từ năm 1992 theo Quyết định số 202/HĐBT ngày 8/6/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Đây là một quá trình khó khăn phức tạp với nhiều thử nghiệm, tìm tòi và ứng dụng từ những kinh nghiệm của các nước trên thế giới để lựa chọn phương thức phù hợp với những đặc thù riêng của DNNN ở Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc cổ phần hoá DNNN được mở rộng và thực hiện mạnh mẽ ngay sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Khoá IX về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Trong khoảng từ tháng 7 năm 1998 đến nay, là giai đoạn đẩy mạnh (hay giai đoạn chủ động) CPH theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ. Việc CPH ở nước ta được Đảng và Nhà nước chỉ đạo thường xuyên, sát sao, chặt chẽ. Trong giai đoạn từ 1999 – 2002, mỗi năm CPH cũng chỉ được trên 175 doanh nghiệp, riêng năm 2003 CPH được 537 doanh nghiệp và 6 tháng đầu năm 2004, tiến trình CPH chậm lại (chỉ CPH được 70 DNNN). Số DNNN còn lại khoảng 4.300, trong đó phải tiến hành đa dạng hoá hoặc CPH khoảng 2.400 doanh nghiệp. Như vậy, vấn đề phải hoàn thành cơ bản việc cổ phần hóa các DNNN đến cuối năm 2005 là rất khó khăn. Số DNNN còn lại thường là những đơn vị có vị trí quan trọng trong các ngành kinh tế then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến cả kinh tế – chính trị – xã hội và có thể làm vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế trong điều kiện nước ta chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN.

Theo các nhà kinh tế và các cơ quan hữu trách, CPH tiến triển chậm chủ yếu là do vấn đề định giá doanh nghiệp. Định giá doanh nghiệp là vấn đề không đơn giản, trong đó khâu quan trọng nhất là phải xác định chính xác giá trị doanh nghiệp.

2- Mục tiêu của việc cổ phần hoá NHTM Nhà nước

NHTM Nhà nước cũng là một DNNN, nhưng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng, Luật DNNN và các luật có liên quan. CPH NHTM Nhà nước trước hết cũng phải thực hiện các mục tiêu chung về CPH các DNNN và sau đó thực hiện mục tiêu của ngành Ngân hàng, trong đó:

– Thực hiện cơ cấu lại để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của toàn hệ thống.

– Tăng vốn, thực hiện việc mở rộng kinh doanh, đồng thời bảo đảm các tiêu chí an toàn trong hoạt động, đặc biệt là an toàn vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế;

– Sắp xếp lại đội ngũ lao động một cách phù hợp, đồng thời chú ý việc đào tạo lại một cách hệ thống hơn đối với đội ngũ lao động hiện nay.

3. Vấn đề xác định giá trị của NHTM Nhà nước trong CPH

3.1- Về phương pháp xác định giá trị NHTM Nhà nước

Tựu chung, có 2 phương pháp thực hiện:

Thứ nhất, trực tiếp đánh giá trị giá của các tài sản trong mỗi ngân hàng, bao gồm cả tài sản hữu hình, tài sản vô hình và định lượng giá trị các yếu tố về: tổ chức, vị thế, thị phần hoạt động, thương hiệu… của từng ngân hàng.

Thứ hai, đánh giá giá trị gián tiếp qua việc lượng hoá các khoản thu nhập kinh doanh mà ngân hàng có thể mang lại cho nhà đầu tư trong suốt thời gian còn lại của ngân hàng.

Đối với Việt Nam, có lẽ phương pháp xác định trực tiếp thì thuận lợi và dễ làm hơn.. Với phương pháp này, thì thông thường giá trị doanh nghiệp gồm 3 bộ phận chính là: Giá trị tài sản hữu hình; Giá trị tài sản vô hình; Giá trị quyền sử dụng đất và lượng hoá giá trị của các nhân tố phi kinh tế như: địa điểm đóng trụ sở, bộ máy tổ chức, uy tín, thương hiệu của ngân hàng…

3.2- Những vấn đề lưu ý trong quá trình xác định giá trị NHTM Nhà nước

Có 4 vấn đề như sau:

Thứ nhất, làm trong sạch bảng cân đối tài sản để tạo ra sự lành mạnh về tài chính và bảo đảm điều kiện thực hiện CPH. Về việc này cũng cần lưu ý: (1) Nợ đọng do cho vay hoặc bảo lãnh theo chỉ định của Nhà nước trước đây (điển hình là ở VCB); (2) Nợ đọng trong các vụ án (điển hình là ở Incombank liên quan đến vụ án Minh Phụng – EPCO); (3) và các khoản nợ xấu khác do nhiều nguyên nhân.

Thứ hai, chú trọng về lợi thế kinh doanh. Xét trên khía cạnh này thì VCB và Agribank có điều kiện hơn. VCB có: địa điểm thuận lợi, trình độ cán bộ và công nghệ vào loại đứng đầu so với các NHTM Nhà nước khác; quan hệ đối ngoại có truyền thống và thị trường rộng; có kết quả kinh doanh tốt, mức độ sinh lời khá cao (theo cách hạch toán của Việt Nam) và do đó, xem xét về thương hiệu ngân hàng, giá trị kỳ vọng của VCB sẽ tốt hơn. Agribank có lợi thế về địa bàn hoạt động, đất và trụ sở nhiều, nhiều nguồn vốn tài trợ và đầu tư với lãi suất thấp… nhưng cũng có những hạn chế như: cán bộ nhân viên đông, trình độ không đồng đều; bộ máy lớn và khó quản lý…

Thứ ba, việc CPH các NHTM Nhà nước cần: (1) Thực hiện theo một lộ trình cụ thể, không thể làm ồ ạt mà thực hiện từng bước. Việc chọn hai ngân hàng là VCB và MHB làm thí điểm là phù hợp. (2) Trước hết, cho phép các NHTM Nhà nước thực hiện CPH được niêm yết bán cổ phần ưu đãi trên thị trường để tăng thêm vốn tự có, mọi đối tượng trong xã hội đều được mua một cách bình đẳng.

Thứ tư, đề nghị Nhà nước ban hành những quy định về CPH đối với các NHTM Nhà nước, đáp ứng yêu cầu CPH các NHTM và không trái với các quy định hiện hành về CPH các DNNN, trong đó cần lưu ý những đặc thù về hoạt động ngân hàng.

TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 8/2004

MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

NGUYỄN CAO KHỔI

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, thì việc cổ phần hóa còn là cơ hội để huy động vốn của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; đồng thời, có điều kiện tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ và phương thức quản lý cho phù hợp với tình hình mới. Thực tiễn, trong những năm qua, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn. Điều đó, càng khẳng định tính đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chủ trương chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần.

Trong những năm bao cấp trước đây, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, nên các doanh nghiệp này thường không quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình mà chỉ tìm mọi cách để hoàn theo chỉ tiêu, kế hoạch do cơ quan cấp trên phân bổ xuống vì mọi công việc đều đã được Nhà nước làm thay, kể cả việc tính toán đầu vào và đầu ra. Cho nên, khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, những yếu kém và hạn chế của các doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ rõ, như: nợ nần kéo dài, quản lý yếu kém, máy móc – thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu… Do đó, các doanh nghiệp nhà nước khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Để bảo đảm cho thành phần kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo và Nhà nước có thể kiểm soát, quản lý được hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trên thị trường, trong giai đoạn đầu của quá trình cổ phần hoá, Nhà nước chỉ cổ phần hoá những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp nhà nước được chọn để cổ phần hóa có vốn điều lệ thấp (dưới 10 tỷ đồng) và hoạt động kinh doanh không có hiệu quả (không có lãi hoặc có lãi không đáng kể), nên việc bán cổ phần của các doanh nghiệp này khi cổ phần hóa thường không thể tổ chức bán đấu giá công khai ra công chúng mà thường thực hiện bán đấu giá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp cổ phần hóa. Mặt khác, năm 2000 thị trường chứng khoán nước ta được hình thành và đi vào họat động, nhưng số đông các doanh nghiệp cổ phần hóa nêu trên không đủ điều kiện để niêm yết (mức vốn thấp…). Một số ít doanh nghiệp cổ phần hóa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán, song cổ phiếu của các doanh nghiệp này không đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư. Do đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đầu những năm 2000 luôn ở trong tình trạng thiếu hàng có chất lượng cao. Chính vì lẽ đó, Chính phủ đã quyết định mở rộng diện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX.

Trong lĩnh vực ngân hàng, theo lộ trình được Chính phủ phê duyệt, năm 2005 – 2006 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) phải thực hiện cổ phần hóa. Năm 2007 – 2008, cổ phần hóa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank). Cuối cùng là cổ phần hóa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) vào năm 2008. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là sự bất cập và quy định thiếu đầy đủ của pháp luật hiện hành, nên cả 4 ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên không thể thực hiện được các công việc cổ phần hóa theo đúng lộ trình được duyệt. Cho đến nay, Chính phủ đã nhiều lần sửa đổi và ban hành các nghị định khác nhau hướng dẫn về việc chuyển đổi các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần, nhưng tiến độ cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước vẫn không thực hiện theo đúng kế hoạch. Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 109) hướng dẫn về việc chuyển các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, trong đó có các ngân hàng thương mại nhà nước. Nghị định số 109 được đánh giá là cởi mở, thông thoáng, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, dưới góc độ cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước, chúng tôi thấy có một số khó khăn, vướng mắc dưới đây khi thực hiện Nghị định số 109:

1. Tổ chức đấu thầu hay đấu giá riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược?

Cho đến nay, có 4/5 ngân hàng thương mại nhà nước đang thực hiện việc cổ phần hoá theo chỉ đạo của Chính phủ, bao gồm: Vietcombank, MHB, BIDV, Incombank. Nhận thấy những hạn chế của mình trong bối cảnh hội nhập quốc tế (như sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu, vốn thấp, công nghệ lạc hậu… so với các tổ chức tín dụng nước ngoài), nên khi cổ phần hoá, các ngân hàng này đều mong muốn bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài để nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của họ. Tuỳ theo đặc điểm và điều kiện thực tế của từng ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước có thể xây dựng tiêu chí và điều kiện lựa chọn nhà đầu tư chiến lược riêng cho phù hợp. Theo quy định chung của Chính phủ, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được lựa chọn phải am hiểu thị trường, văn hóa Việt Nam và có tiềm năng tài chính mạnh thực sự, có những thế mạnh mà ngân hàng cổ phần hóa đang cần mở rộng, phát triển. Chính phủ có những quy định riêng về bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Trước đây, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 187) quy định nhà đầu tư chiến lược được mua tối đa 20% số cổ phần bán ra với giá giảm 20% so với giá đấu bình quân. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần phổ thông của ngân hàng cổ phần hóa theo giá ưu đãi sau khi ngân hàng đó đã tổ chức bán xong cổ phần lần đầu ra công chúng. Đổi lại, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài phải có văn bản cam kết và bảo đảm hỗ trợ ngân hàng cổ phần hóa trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ hiện đại. Trong thời hạn 5 năm kể từ ngày trở thành nhà đầu tư chiến lược tại một ngân hàng Việt Nam, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan không được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước).

Sau một thời gian thực hiện Nghị định số 187, Chính phủ thấy rằng việc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được mua cổ phần theo giá ưu đãi nêu trên là không còn phù hợp nữa. Cho nên, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 109 sửa đổi quy định nêu trên, theo đó nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần theo giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân. “Đối với các Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà nước (bao gồm cả các ngân hàng thương mại nhà nước), nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hóa báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược” (điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị định số 109). Quy định này đã làm cho các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá trở nên lúng túng khi tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đấu thầu là một hình thức mua hàng hóa, dịch vụ giữa nhà đầu tư với nhà thầu (người bán hàng, dịch vụ), trong đó nhà đầu tư xác định mức giá cao nhất và các nhà thầu (nhà đầu tư chiến lược) không được trả giá cao hơn mức giá đã được chủ đầu tư xác định. Trong khi mục đích bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài là bán được giá càng cao càng tốt và nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật tối đa của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Tinh thần của quy định trên cũng được áp dụng đối với các nhà đầu tư thông thường khác, họ phải tham gia đấu giá trên thị trường chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở Giao dịch chứng khoán) để mua được cổ phần phổ thông của ngân hàng cổ phần hoá. Mặt khác, đấu giá tài sản, dịch vụ là việc bên bán đấu giá tài sản, dịch vụ xác định mức giá tối thiểu (giá khởi điểm) để những người tham gia đấu giá trả giá. Người mua được tài sản, dịch vụ là người trả giá cao nhất và không được thấp hơn giá khởi điểm. Do vậy, nếu căn cứ vào quy định trên đây và quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6 của Nghị định số 109, thì ngân hàng thương mại nhà nước phải chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài trả giá thấp nhất để bán cổ phần. Điều này không nằm trong mong muốn của cả doanh nghiệp cổ phần hoá và Chính phủ vì khi bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược theo hình thức đấu thầu nêu trên, lợi ích của Nhà nước sẽ bị thiệt so với hình thức đấu giá riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược.

Chính vì lý do trên, để bảo đảm lợi ích của Nhà nước khi bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược tại các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6 của Nghị định số 109 “tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược” nên được sửa lại thành “tổ chức đấu giá riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược”.

2. Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản là bắt buộc?

Một trong các điều kiện để doanh nghiệp được cổ phần hoá là phải còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực, từng doanh nghiệp và mục tiêu cổ phần hoá, Nhà nước có thể giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước, vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Theo quy định của Nghị định số 109, thì doanh nghiệp cổ phần hoá có tổng giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên phải thuê tổ chức có chức năng định giá để thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp. Với quy định này, thì tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay đều phải thuê tổ chức tư vấn định giá để xác định giá trị doanh nghiệp. Về nguyên tắc, tổ chức tư vấn định giá được lựa chọn các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thích hợp để định giá, bảo đảm các nguyên tắc quy định của Nhà nước và chịu trách nhiệm về kết quả xác định giá trị doanh nghiệp. Các phương pháp mà tổ chức tư vấn định giá được lựa chọn để xác định giá trị doanh nghiệp gồm có: phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiết khấu và các phương pháp khác được Bộ Tài chính chấp thuận. Tuy nhiên, Nghị định số 109 lại yêu cầu giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản (Điều 23 – Nghị định số 109).

Như vậy, về lý thuyết, tổ chức tư vấn định giá có quyền lựa chọn một trong các phương pháp nói trên để xác định giá trị doanh nghiệp, nhưng thực tế, tổ chức này có thể phải xác định giá trị doanh nghiệp theo hai phương pháp khác nhau nếu phương pháp được chọn để xác định giá trị doanh nghiệp không phải là phương pháp tài sản. Quy định trên đã vô hình trung làm kéo dài thời gian và tăng chi phí cổ phần hóa trong trường hợp tổ chức tư vấn định giá chọn các phương pháp khác (không phải là phương pháp tài sản) để xác định giá trị doanh nghiệp, kể cả những phương pháp theo thông lệ quốc tế tốt nhất. Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản sẽ làm cơ sở cho tổ chức tư vấn định giá so sánh với các phương pháp khác. Do vậy, giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp khác có thể trở nên “vô nghĩa” khi giá trị này nhỏ hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản vì trong trường hợp này, giá trị doanh nghiệp được công bố là giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản chứ không phải là giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp khác.

Đối với các tổ chức tín dụng, nếu áp dụng phương pháp tài sản để xác định giá trị doanh nghiệp, thì tổ chức tư vấn định giá được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn và giá trị quyền sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định. Vừa qua, Quyết định số 1289/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng quy định “Ngoài áp dụng các phương pháp quốc tế trong xác định giá trị doanh nghiệp, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện các bước xử lý tài chính, xác định giá trị quyền sử dụng đất và hình thức sử dụng đất sau cổ phần hóa, đánh giá tài sản khác … kết hợp với kết quả xác định giá trị doanh nghiệp của tổ chức tư vấn cổ phần hóa và định giá nước ngoài …. công bố giá trị doanh nghiệp và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo số đánh giá lại” (khoản 5 Điều 1). Do vậy, sau khi xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản, ngân hàng phải hạch toán và điều chỉnh lại giá trị sổ sách. Điều này thường làm cho các nhà đầu tư thắc mắc về số liệu được hạch toán trong số sách kế toán của ngân hàng cổ phần hoá. Nhiều nhà đầu tư còn cho rằng việc không công nhận các số liệu trong báo cáo tài chính hằng năm của ngân hàng đã được kiểm toán quốc tế kiểm tra và xác nhận là không phù hợp với thông lệ quốc tế. Thêm nữa, giá trị doanh nghiệp có thể thay đổi theo thời gian (thậm chí là thay đổi theo từng ngày) do giá trị tài sản biến động theo giá thị trường. Đối với ngân hàng, thì nợ và doanh thu phát sinh hằng ngày tương đối lớn. Cho nên, kể cả trong trường hợp xác định lại theo phương pháp tài sản, thì giá trị doanh nghiệp cũng chỉ mang tính tương đối tại thời điểm xác định.

Hiện nay, một số tổ chức tư vấn quốc tế đang tư vấn định giá Vietcombank, MHB, Incombank, BIDV để thực hiện các thủ tục chuyển đổi các ngân hàng này sang ngân hàng thương mại cổ phần và họ rất ngạc nhiên về quy định nêu trên của Nghị định số 109. Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nên pháp luật Việt Nam không nên có những quy định khác biệt so với pháp luật quốc tế và thông lệ quốc tế. Vì vậy, Bộ Tài chính – cơ quan được giao chủ trì soạn thảo Nghị định số 109 cần xem xét lại các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp tại Điều 23 của Nghị định số 109 để có đề xuất sửa đổi quy định đó cho phù hợp với thông lệ quốc tế và pháp luật quốc tế.

3. Có nhất thiết thanh toán tiền mua cổ phần bằng đồng Việt Nam?

Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 109, thì các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp bằng đồng Việt Nam. Cho nên, khi mua cổ phần của các ngân hàng thương mại nhà nước, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài phải thanh toán bằng đồng Việt Nam. Tuy nhiên, Nghị định số 109 lại không hướng dẫn nhà đầu tư nước ngoài về thủ tục chuyển ngoại tệ ra nước ngoài vì rõ ràng nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chỉ có vốn bằng ngoại tệ để thanh toán tiền mua cổ phần chứ không có đồng Việt Nam. Do đó, các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài rất khó trả lời về việc liệu có đủ số tiền đồng Việt Nam để thanh toán tiền mua cổ phần đúng thời hạn hay không khi đàm phán mua cổ phần với bên Việt Nam.

Số tiền đồng Việt Nam mà nhà đầu tư chiến lược nước ngoài phải thanh toán tiền mua cổ phần bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại nhà nước là rất lớn. Tại Quyết định số 1289/QĐ-TTg phê duyệt phương án cổ phần hóa Vietcombank nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đồng ý bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tối đa không quá 20% vốn điều lệ. Cũng theo Quyết định này, vốn điều lệ của Vietcombank được xác định là 15.000 tỷ đồng. Cho nên, 20% vốn điều lệ của Vietcombank là 3.000 tỷ đồng. Đây là số tiền lớn hơn vốn điều lệ của bất kỳ ngân hàng thương mại cổ phần nào ở nước ta hiện nay. Do vậy, nếu nhà đầu tư chiến lược nước ngoài muốn mua đồng Việt Nam tại một ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, thì không có ngân hàng nào đủ lượng tiền đồng Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài trong một khoảng thời gian không phải là dài (thời gian mà nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đã thỏa thuận nộp đủ tiền mua cổ phần theo hợp đồng mua cổ phần và quy định của Chính phủ).

Theo Nghị định số 109, sau thời hạn 3 tháng kể từ ngày được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hoá, ngân hàng phải hoàn thành việc bán cổ phần (kể cả bán cổ phần theo phương thức bảo lãnh phát hành và bán thỏa thuận trực tiếp). Tiếp theo ngày hoàn thành việc bán cổ phần (thời hạn là 1 tháng), ngân hàng phải tổ chức Đại hội đồng cổ đông lần đầu để chuyển ngân hàng thương mại nhà nước thành ngân hàng thương mại cổ phần và đăng ký kinh doanh. Trong một khoảng thời gian không dài như trên (không quá 4 tháng), nhà đầu tư chiến lược nước ngoài vừa phải hoàn thành các thủ tục nội bộ (bao gồm thủ tục xin phép, chấp thuận tại tổ chức tín dụng nước ngoài và tại cơ quan có thẩm quyền nước ở sở tại để đầu tư ra nước ngoài), vừa phải đàm phán, thương lượng với ngân hàng cổ phần hoá để ký được hợp đồng mua cổ phần. Cho nên, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài khó có thể thu xếp được đủ một lượng tiền đồng Việt Nam bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng cổ phần hoá nếu không được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam hỗ trợ.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước không thể mua ngay một số lượng ngoại tệ bằng 20% vốn điều lệ của Vietcombank nói trên, vì việc Ngân hàng Nhà nước mua vào hoặc bán ra một lượng ngoại tệ nhất định phải cân nhắc thận trọng và tính toán kỹ lưỡng trên cơ sở chính sách tiền tệ quốc gia và cung – cầu ngoại tệ trên thị trường. Chẳng hạn như lượng ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại được phép hoạt động ngoại hối không đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân, thì Ngân hàng Nhà nước có thể “bơm thêm” vào nền kinh tế một lượng ngoại tệ thông qua các ngân hàng được phép nhằm bù đắp phần chênh lệch thiếu ngoại tệ trên thị trường. Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước có thể mua vào một lượng ngoại tệ để cân đối cung – cầu ngoại tệ trên thị trường và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia. Do đó, nếu thị trường ngoại tệ đang trong tình trạng bình thường mà Ngân hàng Nhà nước mua số ngoại tệ của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài bằng 20% vốn điều lệ của Vietcombank, thì có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ quốc gia.

Chính vì lo sẽ không mua được đủ lượng đồng Việt Nam tại một ngân hàng thương mại ở Việt Nam hoặc tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên nhiều đầu tư chiến lược nước ngoài đã đề nghị bên Việt Nam làm rõ cơ chế chuyển đổi. Trên thực tế, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố chỉ là tỷ giá mang tính chất định hướng, không phải là tỷ giá giao dịch thực sự trên thị trường. Do vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cần xem xét và có quy định về cơ chế mua ngoại tệ cho các nhà đầu tư chiến lược theo hướng sau:

– Đối với số tiền nhỏ (ví dụ dưới 100 triệu USD): nhà đầu tư có thể bán trên thị trường liên ngân hàng;

– Đối với số tiền lớn (ví dụ từ 100 triệu USD trở lên): thị trường liên ngân hàng có thể không hấp thụ được số lượng ngoại tệ lớn mà nhà đầu tư cần bán. Cho nên, Ngân hàng Nhà nước cần có ý kiến về việc có mua số ngoại tệ này hay không và cơ chế thực hiện, vì việc cung một lượng tiền đồng Việt Nam lớn để mua ngoại tệ có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ và mục tiêu tăng trưởng của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, để giảm sức ép về mua ngoại tệ, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể quy định phần góp vốn của nhà đầu tư (theo mệnh giá) và phần thặng dư để lại cho doanh nghiệp được thanh toán bằng đồng Việt Nam, còn phần Nhà nước thu về có thể được thanh toán bằng ngoại tệ.

Từ thực trạng về việc thực hiện những quy định của pháp luật về cổ phần hoá liên quan đến các ngân hàng thương mại nhà nước trên đây, thiết nghĩ, bên cạnh những quy định của pháp luật (Nghị định số 109) áp dụng chung cho việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể tham khảo các kiến nghị trên đây để ban hành quy định riêng áp dụng đối với việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước cho phù hợp với ngành nghề hoạt động kinh doanh đặc thù có điều kiện này.

TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 22/2007

CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN (MORTGAGE STOCK)

Cầm cố chứng khoán (CK) là một nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán có ít nhất có hai chủ thể tham gia:

  • Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người đi vay uỷ quyền giao chứng khoán cho bên nhận cầm cố;

  • Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người cho vay uỷ quyền nhận cầm cố chứng khoán bên cầm cố.

Việc thực hiện cầm cố chứng khoán trên cơ sở hợp đồng pháp lý  chứng của hai chủ thể tham gia, trong đó quy định rõ giá trị CK cầm cố, số tiền vay, lãi suất và thời hạn trả nợ, phương thức xử lý CK cầm cố.

Trung tâm giao dịch chứng khoán sau khi kiểm tra thủ tục, nhất là tính hợp pháp, hợp lý của nó thì trung tâm phải mở tài khoản cầm cố và chuyển CK vào tài khoản cầm cố theo yêu cầu của bên cầm cố.

Trường hợp bên cho vay (hoặc bên vay) không phải là thành viên lưu ký, bên cho vay (hoặc bên vay) phải uỷ quyền việc nhận cầm cố CK (hoặc việc giao CK cầm cố) cho một thành viên lưu ký khác.

Tài khoản cầm cố phải tách biệt với tài khoản lưu ký các CK khác của bên cầm cố. Sau khi ghi vào tài khoản cầm cố CK, thì phải đình chỉ việc rút, chuyển khoản hoặc chuyển nhượng các CK trên tài khoản cầm cố trong thời gian cầm cố. TTGDCK gửi thông báo bằng công văn cho bên nhận cầm cố về việc đã thực hiện cầm cố CK.

Việc giải toả cầm cố CK được thực hiện theo các nguyên tắc:

  • Người giải toả cầm cố CK phải là bên nhận cầm cố CK;

  • Có thể giải toả toàn bộ hoặc một phần CK cầm cố bằng hình thức rút chứng chỉ hay chuyển khoản;

  • Có văn bản đề nghị giải toả cầm cố CK của bên nhận cầm cố. Trên cơ sở đó, TTGDCK thực hiện huỷ bỏ việc cầm cố CK trong đăng ký người sở hữu CK và thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố việc huỷ bỏ cầm cố CK và giải toả tài khoản cầm cố sang tài khoản khác.

Nếu bên cầm cố CK thực hiện không đúng theo thoả thuận thì CK cầm cố đó được xử lý do các bên thoả thuận hoặc đưa ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

SOURCE: SAGA.VN