ỦY QUYỀN KÝ, GIAO DỊCH LIÊN QUAN QUYỀN, NGHĨA VỤ THUẾ

LÊ VĂN CHẤN

Đại diện là việc một người (người đại diện) nhân danh một người khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện (theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2006).

Theo Điều 140 và khoản 4 Điều 141 Bộ luật Dân sự (BLDS) thì “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định”; và “Người đại diện theo pháp luật là: “…Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;…” và theo khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 143 BLDS: thì “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”; và người được đại diện theo ủy quyền là: “cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”; và theo Điều 581 BLDS: “hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Mặt khác, tại khoản 4 Điều 143 Luật Doanh nghiệp (LDN) ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 thì “Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Theo khoản 13 Điều 14 Luật Doanh nghiệp: “người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, Giám đốc Doanh nghiệp Tư nhân, thành viên hợp danh Công ty Hợp danh, Chủ tịch Hội đồng Thành viên, Chủ tịch Công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”, và theo khoản 3 Điều 9 LDN: một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp là: “Đăng ký mã số thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật”.

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 103 BLDS: “Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện quy định tại điều 84 của bộ luật này là pháp nhân”.

Do đó, người đại diện theo pháp luật quy định phải chịu thực hiện các quy định của pháp luật nói chung và nghỉa vụ tài chính nói riêng trong đó có luật, pháp lệnh thuế hiện hành. Cơ quan thuế quản lý thuế đối với doanh nghiệp là người đứng đầu pháp nhân như: Chủ tịch Hồi đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc hoặc; hoặc Chủ tịch công ty; Chủ tịch hồi dồng quản trị; hoặc thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật công ty (theo điều 46; khỏa 5 điều 67; khoản 1 điều 116; khoản 1 Điều 137 LDN).

Tổng cục thuế hướng dẫn thực hiện thống nhất trong việc ủy quyền khi ký các tài liệu, hồ sơ, thực hiện giao dịch liên quan quyền, nghĩa vụ về thuế (Công văn số 1498/TCT – PCCS ngày 24/4/2006) như sau:

– Tại khoản 2, Điều 584 BLDS quy định người đại diện theo pháp luật gồm: “Báo cho người thứ 3 trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền”.

– Tại Điều 10 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 8/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư quy định thẩm quyền ký văn bản:

1. “Ở cơ quan, tổ chức lảm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản của cơ quan, tổ chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

[…]

3. Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa ủy quyền (TUQ) một số văn bản mà mình phải ký. Việc giao ký thừa ủy quyền phải được quy định bằng văn bản và giới hạn trong một thời gian nhất định. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người khác ký.

4. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho Chánh Văn phòng, Trưởng phòng hành chính hoặc trưởng một số đơn vị ký thừa lệnh (TL) một số loại văn bản. Việc giao ký thừa lệnh phải được quy định cụ thể trong quy chế công tác văn thư của cơ quan, tổ chức.”

Căn cứ các quy định trên, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh trực tiếp hoặc giao cho cấp phó của mình ký thay trên các văn bản giao dịch, tờ khai thuế, bảng biểu, mẫu biểu kèm theo tờ khai thuế gửi cho cơ quan thuế thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

Trường hợp đặc biệt, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh cá thể ủy quyền bằng văn bản cho cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa ủy quyền các văn bản nêu trên. Khi thực hiện quan hệ giao dịch với cơ quan thuế, người được ủy quyền phải thông báo cho cơ quan thuế biết về thời hạn, phạm vi ủy quyền hoặc khi có thay đổi về thời hạn, phạm vi được ủy quyền.

Riêng đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập thì các văn bản trong hồ sơ đăng ký thuế lần đầu, văn bản trong hồ sơ mua hóa đơn lần đầu phải do người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh ký tên, đóng dấu mới được coi là hợp lệ.

Tóm lại, việc giao dịch với cơ quan Thuế nếu là người của DN thì thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 1498/TCT-PCCS nêu trên. Nếu là người ngoài doanh nghiệp thì phải có hợp đồng ủy quyền theo BLDS, bởi vì người đại diện theo ủy quyền này chỉ trực tiếp làm việc với cơ quan thuế về các nội dung mang tính chất có vấn đề về thủ tục pháp lý cho DN trên cơ sở đó thông báo lại các nội dung làm việc cho người đại diện theo pháp luật biết. Toàn bộ các chứng từ có liên quan đến lĩnh vực thuế thì người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm ký tên; đóng dấu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu đã kê khai với cơ quan thuế./

SOURCE: Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán số 8 (37) – 2006)

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ

LÊ VĂN CHẤN

Hiện nay có một số vướng mắc liên quan đến hợp đồng thuê nhà (HĐTN), làm các nhà soạn thảo HĐTN bận tâm, cụ thể như:

Bên thuê (Bên B) gửi đơn đến cơ quan thuế yêu cầu thu thuế ba năm đối với Bên cho thuê (Bên A), quên nộp thuế cho thuê nhà, vì Bên B là DN khi quyết toán thuế không có hóa đơn để trừ chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập DN (TNDN). Bên B yêu cầu Bên A giao hóa đơn mà thực tế Bên A có nộp thuế hàng tháng nhưng quên mua hóa đơn để giao Bên B trong 2 năm nay. Khi cho thuê nhà, Bên A quên không gửi HĐTN đến cơ quan thuế để đăng ký, do đó Bên B khi quyết toán thuế sẽ gặp khó khăn khi xác định chi phí trả tiền thuê nhà (do Bên A quên nộp thuế), và xác định chi phí điện, nước, điện thoại, fax, …một số cá nhân như: Người hàng xóm của bên A, nhân viên của DN Bên B, người trong nhà của Bên A có thư gửi cơ quan thuế nhắc thu thuế Bên A vì đã quên không khai thuế cho thuê nhà cả 3 năm nay.
Vì sao như vậy, là do các nhà soạn thảo HĐTN cho khách hàng không chú ý đến vấn đề: hóa đơn và thuế mà chỉ chú ý thiết kế các điều khoản bổ sung chặt chẽ của Bên B, Bên A. Do đó, Bên B là DN là người hưởng thụ dịch vụ soạn thảo HĐTN sẽ có cái nhìn không mấy thiện cảm đối với nhà tư vấn, vì chính họ không lường được hậu quả xảy ra mà Bên B gánh chịu sau thời gian kết thúc hợp đồng, thanh lý HĐTN.
Tìm hiểu, chúng tôi thấy giá thuế nhà là giá thanh toán (là giá cho thuê đã có thuế GTGT, gọi là giá gồm thuế). Do vậy, Bên B là người vừa trả tiền thuê nhà (theo giá chưa có thuế) vừa trả thuế GTGT vào trả tiền thuế nhà (theo giá chưa có thuế) vừa trả thuế GTGT vào trong giá thuê nhà: gộp chung lại vào giá cho thuê nhà đã có thuế GTGT.
Theo Phần B Mục I Điều 6 Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài Chính thì giá để tính thuế GTGT và theo Phần B, Mục II, Điểm 3.18 Thông tư 120/2003/TT-BTC nêu trên thì thuế suất thuế GTGT là 10% cho thuê nhà.
Theo Luật thuế TNDN, thì Bên A có nhiệm vụ nộp thuế TNDN. Giá để tính thuế TNDN là giá đã có thuế GTGT (khi xuất hóa đơn bán hàng).
Theo điều 4.1 HĐTN ở Mẫu số 19/CC-HĐ ban hành theo quyết định của UBND TP. Hồ Chí Minh số 58/2004/QĐ-UB ngày 15/3/2004 bên cho thuê có nghĩa vụ nộp các khoản thuế về nhà và đất. Phân tích cụ thể chúng tôi thấy:
Bên cho thuê có nghĩa vụ nộp các khỏa thuế như sau:
– Thuế GTGT (thực chất thuế GTGT này đã được Bên B trả gộp chung với giá thuê chưa có thuế nằm trong giá thanh toán);
– Thuế TNDN;
– Thuế môn bài;
– Lệ phí công chứng.
Như trình bày ở trên, nhà soạn thảo cần ghi đầy đủ các chi tiết sau vào Mẫu 19/CC-HĐ hoặc phụ lục HĐTN;
Điều 2: Giá thuê nhà là giá thanh toán (là giá cho thuê đã có thuế GTGT). Giá để tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Giá để tính thuế TNDN là giá đã có thuế GTGT.
Điều 4.1: Nghĩa vụ của Bên A là: nộp thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNDN và lệ phí công chứng.
Thuế GTGT = giá chưa có thuế x 10% thuế suất GTGT
Giá chưa có thuế = giá có thuế GTGTx10/11
Giá gồm thuế GTGT = giá chưa có thuế + thuế GTGT = hay còn gọi là giá thanh toán.
Bên A giao hóa đơn bán hàng cho Bên B mỗi lần thu tiền nhà.
Điều 7: Thỏa thuận riêng giữa Bên B và Bên A:
Trường hợp Thuế GTGT, thuế TNDN do Bên B nộp thay Bên A, thì Bên A chỉ nhận tiền thuế nhà là giá chưa có thuế GTGT = giá gồm thuế GTGT (hay giá thanh toán) x10/11
Như vậy, Bên B phải trả như sau: Giá thuê nhà chưa có thuế GTGT, thuế GTGT, thuế TNDN.
Do bên B phải trả thay cho Bên A về thuế GTGT, thuế TNDN, theo quy định, nên các loại thuế này không được tính vào chi phí của DN Bên B khi xác định thu nhập chịu thuế thuế TNDN của DN.
Trách nhiệm của Bên cho thuê:
– Đem HĐTN hoặc phụ lục HĐTN đến đăng ký tại chi cục thuế quận (huyện) tại địa phương.
– Mỗi khi nhận tiền thuê nhà do Bên B trả, bên A phải làm phiếu thu tiền cho Bên B và sau khi nộp thuế GTGT, thuế TNDN hàng tháng về nhà cho thuê, Bên A phải đến chi cục thuế quận (huyện) tại địa phương mua hóa đơn lẻ (hóa đơn bán hàng thông thường) do cơ quan thuế phát hành và giao lại cho Bên B để trừ vào chi phí khi quyết toán thuế (Bên A giữ lại hóa đơn liên 2 bản photocopy). Bên A phải nộp thuế môn bài từ lúc bắt đầu cho Bên B thuê nhà. Trường hợp Bên A là hộ kinh doanh thì thủ tục mua hóa đơn lần đầu áp dụng hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai mua hóa đơn lần đầu phải nộp các giấy tờ theo quy định tại Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003 của Bộ Tài chính.
“Trường hợp DN sử dụng chung công tơ điện với chủ cho thuê mặt bằng theo hợp đồng thuê, để được tính là chi phí hợp lệ đối với tiền thuê mặt bằng và tiền điện, khi thanh toán khoản tiền này thì chủ cho thuê mặt bằng phải xuất hóa đơn cho thuê mặt bằng và tiền điện (theo chỉ số của công tơ phụ). Nếu chủ cho thuê là đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc cá nhân thì phải đăng ký để được cấp hóa đơn lẻ (không thu tiền) tại cơ quan thuế để có thể xuất hóa đơn cho DN đi thuê”. (Theo công văn số 2822 CTC/CS ngày 4/8/2003 của Tổng cục Thuế).
Trách nhiệm của bên thuê:
“Bên B chịu trách nhiệm thanh toán tiền điện, nước, điện thoại do Bên B dùng và thực tế Bên B đã chi trả, có phiếu chi tiền đúng số tiền ghi trên hóa đơn GTGT thanh toán tiền điện, nước, điện thoại nhưng hóa đơn ghi tên chủ nhà (người ký hợp đồng điện, nước, điện thoại) thì Bên B được căn cứ vào các hóa đơn kèm theo chứng từ thanh toán điện, nước, điện thoại dùng cho kinh doanh để tính khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN theo chế độ quy định”. (Văn bản số 3025 TCT/NV6 ngày 12/7/2000 của Tổng cục Thuế).

Tóm lại, nhà soạn thảo HĐTN ghi đầy đủ các chi tiết về thuế và hóa đơn vào HĐTN hoặc Phụ lục HĐTN sẽ giúp cho DN an tâm trong kinh doanh tránh các phiền toái sau này

SOURCE: TẠP CHÍ THƯƠNG MẠI SỐ 39/2004

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VÀ CHÚ THÍCH

Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004 – Bản dịch của đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Phỏng theo TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA WORLD BOOK, bản quyền của Công ty World Book năm 2004. Được phép của Nhà xuất bản. Địa chỉ trên Internet: ww.worldbook.com

Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tác phẩm của một số nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của Mỹ sau Chiến tranh giành Độc lập của các thuộc địa, đã bảo vệ quyền lợi và các quyền tự do của người Mỹ kể từ khi có hiệu lực vào ngày 21/6/1788. Văn kiện này cũng là nguồn cảm hứng cho những người yêu nước ở khắp mọi nơi mong muốn xây dựng một “Chính phủ công bằng và khôn ngoan”, mục tiêu mà đại biểu George Mason đã đề ra đối với những nhà soạn thảo hiến pháp họp tại Đại hội Lập hiến năm 1787.

Đối với các độc giả quan tâm đến việc nghiên cứu văn kiện lịch sử này và sự phù hợp với chính phủ dân chủ hiện đại, ấn phẩm này cung cấp toàn văn nguyên bản Hiến pháp, Tuyên ngôn Nhân quyền, và các Điều bổ sung sửa đổi khác được thông qua đầu tiên. Ấn phẩm này còn có một bài viết về những diễn biến lịch sử dẫn đến việc triệu tập Đại hội Lập hiến, bất đồng và thỏa hiệp giữa các đại biểu, và quy trình thông qua và sửa đổi. Cuối cùng, ấn phẩm này cung cấp các chú giải về bản Hiến pháp và 27 Điều bổ sung sửa đổi.

“Một quốc gia, một hiến pháp, một vận mệnh” — Thượng Nghị sỹ Hoa Kỳ Daniel Webster, ngày 15/3/1837

HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC đề ra những bộ luật cơ bản của quốc gia. Hiến pháp thiết lập nên hình thức chính phủ quốc gia và xác định quyền và các quyền tự do của nhân dân Mỹ. Trong đó cũng nêu ra các mục tiêu của chính phủ quốc gia và các biện pháp để đạt được các mục tiêu đó. Trước đó, các nhà lãnh đạo quốc gia đã thành lập một liên minh các bang theo các Điều khoản Hợp bang. Nhưng Quốc hội được thành lập theo Các điều khoản này thiếu quyền lực để các bang hợp tác với nhau giải quyết các vấn đề của quốc gia.

Sau khi các bang giành độc lập trong Chiến tranh Cách mạng (1775-1783), họ phải đối mặt với tất cả những vấn đề của chính phủ thời bình. Các bang phải bảo vệ luật pháp và trật tự, thu thuế, trả khoản nợ công lớn, và điều tiết hoạt động thương mại giữa các bang. Họ cũng phải giải quyết vấn đề các bộ lạc người da đỏ và đàm phán với các chính phủ khác. Những chính khách hàng đầu như George Washington và Alexander Hamilton bắt đầu bàn đến sự cần thiết phải xây dựng một chính phủ quốc gia vững mạnh theo một hiến pháp mới.

Hamilton đã giúp tổ chức đại hội lập hiến họp ở Philadelphia, bang Pennsylvania, năm 1787 để sửa đổi các Điều khoản Hợp bang. Nhưng thay vào đó, đa số các đại biểu tại Đại hội đã quyết định soạn thảo một kế hoạch mới của chính phủ – tức là Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hiến pháp không chỉ thành lập nên một liên hiệp các bang mà còn lập ra một chính phủ thực thi quyền lực của mình trực tiếp đối với tất cả công dân. Hiến pháp định ra các quyền cho chính phủ quốc gia. Ngoài ra, nó bảo vệ các quyền dành cho các bang và quyền của mọi cá nhân. Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4294/TNMT-TTDK CỦA UBNDTPHCM VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
******
Số: 4294/TNMT-TTĐK
V/v: hướng dẫn việc đăng ký thế chấp nhà ở
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 06 năm 2007

Kính gửi: Ủy ban nhân dân quận, huyện.

Ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố có Công văn số 2511/UBND-ĐT đã chỉ đạo đối với nhà, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu  nhà ở, quyền sử dụng đất ở; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (sau đây gọi tắt là giấy hồng mới) thì tạm ngưng việc ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp tại trang bổ sung giấy chứng nhận. Tuy nhiên hiện nay việc giải quyết đăng ký thế chấp của các quận, huyện không thống nhất và có một số quận, huyện tự ngưng đăng ký thế chấp đối với nhà đất có giấy hồng mới đã làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người dân.

Ngày 21 tháng 5 năm 2007 Liên Bộ Tư pháp – Bộ Xây dựng – Bộ Tài nguyên và Môi trường – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở; theo đó nếu đăng ký thế chấp nhà ở cùng với quyền sử dụng đất ở thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đồng thời việc đăng ký thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở; và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉ ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp vào sổ địa chính và sổ theo dõi biến động đất đai, không ghi nhận đăng ký thế chấp, xóa thế chấp trên giấy chứng nhận hoặc trang bổ sung kèm theo giấy chứng nhận.

Để thống nhất trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký thế chấp không gây trở ngại cho người có nhu cầu thực hiện ngay việc thế chấp nhà ở, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo cơ quan đăng ký quận, huyện thực hiện:

1. Trong thời gian đến khi Thông tư số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN có hiệu lực pháp luật thì việc đăng ký thế chấp nhà ở được thực hiện như sau:

a) Đối với giấy hồng mới; giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình được cấp theo Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng (giấy hồng Nghị định 95):

Đăng ký thế chấp theo quy định hiện hành; trình tự, thủ tục được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 của liên Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (gọi tắt là Thông tư 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT);

Không ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp trên giấy chứng nhận (hoặc trên trang bổ sung kèm theo giấy chứng nhận – gọi tắt là trang bổ sung).

b) Đối với hồ sơ có giấy chứng nhận quyền sở hữu  nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định số 60/CP (giấy hồng cũ):

Thực hiện như đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy đỏ); trình tự, thủ tục theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT.

Khi Thông tư số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN có hiệu lực thì chấm dứt việc ghi nhận nội dung đăng ký trên giấy hồng cũ.

2. Trong trường hợp nhà ở thế chấp chưa có thông tin về thửa đất, do đó không thể biết được vị trí của nhà ở này trên bản đồ địa chính để ghi vào sổ bộ địa chính thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận, huyện sử dụng mẫu sổ đăng ký thế chấp nhà ở kèm theo Thông tư số 05/2007/TTLT-BTP-TXD-BTNMT-NHNN để ghi nội dung đăng ký thế chấp.

3. Đối với các loại giấy hồng đã đăng ký thế chấp trên giấy chứng nhận hoặc trên trang bổ sung, khi có yêu cầu chỉnh lý hoặc xóa đăng ký thì cơ quan đăng ký thể hiện các nội dung đăng ký thay thế này trên trang bổ sung.

Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh các vấn đề có liên quan; đề nghị các quận, huyện phản hồi lại Sở Tài nguyên và Môi trường để có hướng dẫn thực hiện./.

KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC

Đào Anh Kiệt

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ "CÔNG VỤ" VÀ "DỊCH VỤ CÔNG"

NGUYỄN VĂN DŨNG

Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, một mục tiêu cụ thể được đặt ra trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính từ 2001-2010 là “các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận”.

Cụ thể hơn, trong nội dung của Chương trình đã nêu rõ “chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện”. Như vậy, một nội dung để thực hiện tinh giản bộ máy hành chính nhà nước là vấn đề tách bạch rõ ràng giữa những công việc nào mà Nhà nước phải thực hiện (theo đúng vai trò, chức năng của mình), những công việc nào Nhà nước và các chủ thể không mang quyền lực Nhà nước cùng thực hiện, những công việc Nhà nước có thể tham gia hay không tham gia thực hiện và những công việc chỉ để cho các chủ thể không mang quyền lực Nhà nước thực hiện.

Sự tách bạch trên đây là cần thiết và để làm được điều này thì việc phân biệt được hoạt động công vụ và dịch vụ công là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng.

Hoạt động công vụ và dịch vụ công có một điểm chung mà nếu không có sự phân biệt rõ ràng thì rất dễ dẫn đến nhầm lẫn đó là cả hai hoạt động này đều hướng tới mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích công cộng.

Theo Từ điển Tiếng việt công vụ được hiểu là “việc công”, theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì công vụ được hiểu là “hoạt động do cán bộ, viên chức, quân nhân tiến hành nằm thực hiện các nhiệm vụ được giao”, còn theo Dự thảo Luật Công vụ (do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo) có nêu định nghĩa về công vụ: “công vụ là hoạt động do công chức thực hiện nhằm phục vụ lợi ích chung của nhân dân và xã hội”. Như vậy, ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích công cộng, công vụ trước hết là hoạt động gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước, thực thi pháp luật (do công chức thực hiện) và được điều chỉnh chặt chẽ bằng pháp luật.

Công vụ có tính chất phục vụ bởi bản chất hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều hành, hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước, đó cũng là nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung và của nền hành chính nói riêng, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì tính chất phục vụ này càng thể hiện rõ nét. Xuất phát từ tính chất phục vụ của công vụ, hoạt động công vụ do đó được bảo đảm thực hiện bằng ngân sách nhà nước và đối tượng được phục vụ của công vụ về nguyên tắc không phải trả tiền, hoạt động công vụ không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

Đối tượng phục vụ hướng tới của công vụ là người dân có đủ điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật và các công dân đều bình đẳng trong việc hưởng quyền này;

Công vụ được thực hiện thông qua đội ngũ công chức hoặc những người được Nhà nước uỷ quyền.

Dịch vụ công cũng giống với công vụ ở chỗ mục đích của nó nhằm phục vụ nhân dân, vì lợi ích công cộng, tuy nhiên, khác với công vụ, dịch vụ công không có tính chất phục vụ mà mang tính chất dịch vụ, tức là “công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” từ đó dịch vụ công sẽ mang một số đặc điểm sau:

– Hoạt động dịch vụ công có thể do cả nhà nước và tư nhân thực hiện bởi nó không gắn với quyền lực nhà nước, không nhất thiết phải do Nhà nước thực hiện thông qua đội ngũ công chức;

– Dịch vụ công có thể được thực hiện thông qua quan hệ hợp đồng dân sự (hợp đồng dịch vụ) giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ;

– Do mang tính chất dịch vụ nên trong một chừng mực nhất định hoạt động dịch vụ công có thể hướng tới mục đích lợi nhuận;

– Đối tượng phục vụ có thể không bình đẳng hoàn toàn trong việc hưởng dịch vụ công vì có thể trong một số trường hợp có người dân có nhu cầu sử dụng, có người không có nhu cầu sử dụng, có người có điều kiện sử dụng và có người không, do vậy, người sử dụng có thể phải trả tiền.

Ngoài các hoạt động trên, có một hoạt động nữa cũng thường được nói tới đó là “dịch vụ hành chính công”, tuy nhiên, theo tác giả, dịch vụ hành chính công thực chất cũng là hoạt động công vụ vì nó gắn với yếu tố quyền lực nhà nước và pháp luật.

Tầm quan trọng của việc phân biệt trên đây còn là vấn đề xác định “xã hội hoá” hay không “xã hội hoá” một hoạt động của nhà nước, tức là chỉ có thể thực hiện “xã hội hoá” những hoạt động có tính chất của một dịch vụ công, đối với những hoạt động công vụ – dịch vụ hành chính công Nhà nước không thể chuyển giao cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện. Đồng thời, sự phân biệt này cũng có ý nghĩa làm cơ sở để tiếp tục thực hiện việc tách các hoạt động có tính chất sự nghiệp ra khỏi các hoạt động có tính chất quản lý hành chính nhà nước thuần túy. Cuối cùng, nó còn có một ý nghĩa là nếu là công vụ thì một công dân bất kỳ có quyền đòi hỏi được nhà nước thực hiện nếu anh ta đã có đủ các điều kiện do pháp luật quy định, còn dịch vụ công thì không phải như vậy./.      

SOURCE: MOJ.GOV.VN