QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẦN MỘT TƯ DUY MỚI

Bao trùm nhất trong vấn đề quản lý nhà nước là việc phân định Nhà nước làm gì và người dân làm gì. Rõ ràng, có những việc chỉ Nhà nước mới làm được và có việc chỉ người dân mới làm được. Ranh giới giữa những việc Nhà nước làm và những công việc người dân làm chính là vấn đề đầu tiên cần phải xác định và là cái gốc của quản lý nhà nước (hay quản trị quốc gia).

Khái niệm người dân nói ở trên bao gồm cả các doanh nghiệp và các tổ chức của xã hội dân sự. Như vậy, ba loại chủ thể chính cấu thành thành xã hội là Nhà nước, các doanh nghiệp và xã hội dân sự. Ba loại chủ thể này giống như ba vòng tròn xếp chồng lên nhau theo hình hoa thị. Có những việc, Nhà nước có thể tự mình làm được, nhưng có những việc Nhà nước sẽ phải kết hộp với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức của xã hội dân sự.

Ví dụ, trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, chính sách tiền tệ, bảo đảm công lý… thì duy nhất Nhà nước mới có khả năng thực hiện. Thế nhưng, để xây dựng cơ sở hạ tầng, chắc chắn Nhà nước cần kết hợp với các doanh nghiệp; để chăm lo cho trẻ em lang thang, cơ nhỡ lại cần kết hợp với xã hội dân sự.

Như vậy, về bản chất, lúc nào cũng phải xác định được Nhà nước làm gì vì bất cứ lúc nào Nhà nước làm thừa nhiệm vụ, quá vai trò của mình, thì sẽ làm lãng phí các nguồn lực, đồng thời hạn chế năng lực sáng tạo của người dân.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quản lý nhà nước, vì vậy đổi mới quy trình làm luật đang là nhu cầu hết sức cấp bách. Hiện nay, đang có sự lẫn lộn giữa quy trình lập chính sách và quy trình soạn thảo văn bản pháp luật. Trong quản lý Nhà nước, quy trình hoạch định chính sách mạch lạc, khoa học là việc cần phải rất quan tâm.

Quy trình hoạch định chính sách có hai cách làm. Một là bắt đầu từ đường lối của Nhà nước, Nhà nước muốn thực hiện một chính sách nào đó, đề ra mục tiêu và các giải pháp để đạt được. Quy trình đó gọi là quy trình mang tính chất định hướng theo viễn kiến chủ quan, có thể tốt hoặc không, tuy nhiên đây là một quy trình nặng về ý chí.

Còn một quy trình chính sách khác bắt đầu từ việc nhận biết vấn đề. Xác định vấn đề đang đặt ra của đất nước là gì, sau đó, nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân làm phát sinh vấn đề và đề ra giải pháp để giải quyết; phân tích chính sách về giải pháp đã đề ra để làm rõ chi phí xã hội và chi phí của Nhà nước là bao nhiêu, với nhưng chi phí đó thì hiệu quả như thế nào. Chỉ sau khi chính sách được quyết định, việc soạn thảo văn bản pháp luật mới chính thức được bắt đầu.

Trong quản trị quốc gia, để có được quy trình chính sách đúng phải có số liệu và thông tin chính xác đồng thời hệ thống thu thập, phân tích phải rất phát triển và được đầu tư xứng đang.

Để quản trị quốc gia cũng cần có các nhà kỹ trị. Đây là đội ngũ chuyên gia am hiểu sâu sắc về kinh tế thị trường, về các vấn đề tài chính, ngân sách, về quan hệ cung-cầu…Ví dụ, quản lý nhà nước với vấn đề giá thuốc. Chúng ta đã sử dụng nhiều cơ quan trong bộ máy, đã đề ra nhiều giải pháp nhưng giá thuốc vẫn tăng như con ngựa bất kham. Có lẽ, cần có sự hiểu biết sâu hơn về quy luật cung-cầu liên quan đến thuốc mới có thể đề ra được những giải pháp hữu hiệu hơn. Cầu về thuốc có những đặc điểm rất đặc biệt. Cầu về thuốc là loại cầu không thể thay thế và không trì hoãn được. (Cầu đối với một số loại thuốc có thể thay thế được, nhưng điều này không phụ thuộc vào người bệnh mà phụ thuộc vào bác sĩ). Chỉ một tính chất đó thôi đã gây áp lực rất lớn lên giá thuốc. Do đó, nếu không hiểu những tính chất về cầu của thuốc thì không thể hoạch định chính sách nhằm giảm giá được. Khi cầu về thuốc giảm thì giá thuốc sẽ giảm theo.

TS Nguyễn Sĩ Dũng
Theo Thành Chung
Thời báo Kinh tế Sài Gòn

CÔNG VĂN SỐ 125/BXD-QLN NGÀY 21 THÁNG 1 NĂM 2008 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG NHÀ, ĐẤT KHI DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA

BỘ XÂY DỰNG
—–
Số: 125/BXD-QLN
V/v sử dụng nhà, đất khi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-
Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2008

Kính gửi: Sở Xây dựng Hải Phòng

Bộ Xây dựng đã nhận được văn bản số 1665/SXD-QLN ngày 19/12/2007 của Sở Xây dựng Hải Phòng về chính sách sử dụng nhà, đất khi doanh nghiệp nhà nước đang thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước thực hiện cổ phần hoá. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng cần triển khai thực hiện Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công ty nhà nước đang quản lý, sử dụng trên địa bàn thành phố để đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và theo tiêu chuẩn, định mức quy định.

Đối với doanh nghiệp nhà nước chưa cổ phần hoá thì việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng được thực hiện theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 83/2007/TT-BTC ngày 16/7/2007 của Bộ Tài Chính. Khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá thì quyền sử dụng đất do được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất và nhà được Nhà nước bán thanh lý là tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp phải được tính giá trị vào giá trị tài sản doanh nghiệp. Việc xác định giá trị nhà, đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và không để thất thoát tài sản của Nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp đang thuê nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước để làm cơ sở sản xuất, kinh doanh thì được tiếp tục thuê theo quy định của pháp luật. Uỷ ban nhân dân thành phố cần thống nhất giao cho một cơ quan quản lý nhà đất của địa phương thực hiện công việc này.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng để Sở Xây dựng báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố biết, thực hiện./.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Lưu VP, QLN.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

NHÀ NƯỚC ĐƯỢC GÌ TỪ CỔ PHẦN HÓA?

Dưới đây là một số nhận định về vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.

Khi bỏ ra 3.000 tỉ đồng để xây dựng Công ty Phân đạm và Hóa chất dầu khí (Đạm Phú Mỹ), Nhà nước không bao giờ nghĩ rằng chỉ vài năm sau lại thu về một khoản tiền lớn như vậy.

Vào thời điểm cổ phần hóa, giá trị doanh nghiệp của Đạm Phú Mỹ được xác định là 3.800 tỉ đồng, tăng thêm 800 tỉ so với vốn đầu tư. Với mức khởi điểm đấu giá 50.000 đồng/cổ phiếu, giá trị doanh nghiệp của Đạm Phú Mỹ tăng lên thành 19.000 tỉ đồng.

Đấu giá thành công 128,6 triệu cổ phần vào cuối tháng 4-2007 với giá bình quân 54.000 đồng/cổ phiếu, Nhà nước đã thu về gần 7.000 tỉ đồng, gấp 2,3 lần số vốn bỏ ra thành lập doanh nghiệp và vẫn giữ cổ phần chi phối tuyệt đối ở công ty này.

Nếu bán toàn bộ vốn nhà nước, Nhà nước sẽ thu về 20.520 tỉ đồng, đủ để xây dựng 4-5 nhà máy mới tầm cỡ Đạm Phú Mỹ. Quả là siêu lợi nhuận!

Cổ phần hóa nhưng vẫn bảo toàn vốn Nhà nước

Đạm Phú Mỹ khởi đầu giai đoạn mới của cổ phần hóa, hay nói chính xác là giai đoạn mới của cải cách doanh nghiệp quốc doanh: các công ty tầm cỡ quốc gia với vốn nhà nước hàng ngàn tỉ đồng vào cuộc.

Với vai trò cơ quan quản lý ngân khố đất nước, Bộ Tài chính là người trăn trở hơn ai hết về việc làm thế nào để không thất thoát tài sản nhà nước. Và điều này phụ thuộc nhiều vào điểm xuất phát định giá doanh nghiệp.

Ở Đạm Phú Mỹ, việc xác định giá trị doanh nghiệp không quá khó khăn như ở Bảo Việt, Vietcombank, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), MobiFone, Vinaphone… vì Đạm Phú Mỹ mới thành lập cách đây chưa lâu với số vốn đầu tư được hạch toán rõ ràng trên sổ sách.

Việc xác định giá trị Bảo Việt hay Vietcombank phải tính đến yếu tố quá trình xây dựng, phát triển công ty trong hàng chục năm, thương hiệu, kinh nghiệm, vị trí đầu ngành…

Có lẽ vì thế mà ở Đạm Phú Mỹ, Nhà nước chấp thuận phương án bán ra một phần vốn nhà nước, nhưng với Bảo Việt và Vietcombank, vốn nhà nước vẫn được giữ nguyên, chỉ phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn, nâng vốn điều lệ doanh nghiệp lên mức gấp 2-4 lần vốn điều lệ trước khi cổ phần hóa.

Việc khoanh vốn nhà nước thành một “cục”, tương ứng với một tỷ lệ vốn điều lệ doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, đồng thời Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất, nắm quyền chi phối điều hành doanh nghiệp, gửi đến công chúng đầu tư một thông điệp: bất kể giá cổ phiếu doanh nghiệp sau này biến động ra sao, phần vốn nhà nước vẫn còn nguyên đó. Nghĩa là doanh nghiệp cổ phần hóa, nhưng vốn nhà nước vẫn được bảo toàn.

Những bất cập

Việc xác định giá trị phần vốn nhà nước ở Bảo Việt, cũng như những đơn vị chuẩn bị IPO, như vậy, khác hẳn với việc định giá doanh nghiệp khi cổ phần hóa trước đây. Tuy nhiên cách thức mới này bắt đầu bộc lộ những bất cập.

Thứ nhất, chẳng hạn như ở Bảo Việt, đã có sự không công bằng trong việc đấu giá mua cổ phần giữa nhà đầu tư nhỏ lẻ cá nhân và nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư cá nhân phải mua với giá trúng bình quân của ngày 31-5-2007 là 73.910 đồng/cổ phiếu, trong khi nhà đầu tư chiến lược được mua với giá tối thiểu bằng giá bình quân của ngày 26-6-2007 (là ngày nhà đầu tư nộp tiền, chấp nhận mua thực sự), chắc chắn thấp hơn giá ngày 31-5-2007.

Thứ hai sự chênh lệch quá lớn vốn điều lệ doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa (vốn điều lệ thực của Bảo Việt trước cổ phần hóa là 1.800 tỉ đồng, sau cổ phần hóa là 6.800 tỉ đồng, gấp 3,77 lần) gây sức ép cho doanh nghiệp về hiệu quả kinh doanh bởi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận không thể ngang bằng tốc độ tăng vốn.

Mặt khác, việc tăng vốn như vậy sẽ làm giá trị cổ phiếu doanh nghiệp trở nên quá “loãng”, khó được chấp nhận đầu tư ở mức cao. Thường doanh nghiệp không muốn giá cổ phiếu của mình quá cao vì e ngại sức ép cổ đông về lợi nhuận, nhưng giá cổ phiếu thấp cũng không phải là điều họ mong muốn.

Hơn nữa, giá cổ phiếu thấp sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh công ty. Nhà đầu tư có thể nói: “Công ty đó chắc làm ăn kém nên giá cổ phiếu mới thấp như vậy”! Với cùng mức lợi nhuận sau thuế của năm 2007 là 615 tỉ đồng (theo bản cáo bạch), thì giá cổ phiếu của Bảo Việt sẽ khác xa hiện nay nếu vốn điều lệ của Bảo Việt là 1.800 tỉ đồng thay vì là 6.800 tỉ đồng.

Thứ ba việc Nhà nước thu về phần lớn thặng dư từ đợt đấu giá, doanh nghiệp chỉ được hưởng một phần nhỏ (mà trong phần nhỏ này, Nhà nước vẫn được hưởng phần lớn vì là cổ đông chi phối) là không hợp lý với doanh nghiệp.

Ngay cả những công ty tư nhân khi chuyển sang cổ phần, đấu giá cổ phần ra bên ngoài như Thủy sản Nam Việt, Thủy sản Minh Phú, phần thặng dư chủ đầu tư cũng để lại cho doanh nghiệp (nhập vào vốn chủ sở hữu công ty), chứ họ không lấy cho riêng mình.

Ở đây cần nhìn xa hơn là một khi phần vốn thặng dư được để lại, doanh nghiệp sẽ có tiềm lực phát triển, lợi nhuận cao, họ sẽ nộp thuế nhiều hơn và giá cổ phiếu công ty tăng, thì giá trị phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp cũng tăng lên. Khi đó nếu bán ra, Nhà nước sẽ thu về một khoản tiền lớn hơn nhiều lần số thặng dư đã để lại cho doanh nghiệp.

Cũng cần phải nói thêm là trong các thời kỳ cổ phần hóa từ năm 2005 trở về trước, số tiền thu về từ bán bớt phần vốn nhà nước tại các đơn vị chuyển đổi sở hữu, đều được để lại cho doanh nghiệp sử dụng vào những việc như đào tạo người lao động, giải quyết lao động dôi dư, tái đầu tư cho doanh nghiệp phát triển.

Chính nhờ đó, hầu hết doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách, nộp thuế tăng vọt, số lượng lao động tuyển mới cũng tăng thêm, thu nhập của công nhân được cải thiện đáng kể. Và kết quả cuối cùng là giá trị phần vốn nhà nước còn lại ở doanh nghiệp tăng gấp 3-4 lần, thậm chí gấp 10-15 lần trước cổ phần hóa.

Còn hiện nay, việc Nhà nước thu phần lớn thặng dư từ phát hành thêm cổ phiếu trong khi phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được giữ nguyên đang khiến không ít đơn vị băn khoăn. Mới đây nhất, BIDV đã đề xuất thặng dư từ bán cổ phần, Nhà nước nên để lại cho doanh nghiệp dưới hình thức vay ưu đãi hoặc sử dụng để tăng vốn cho chính Nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp huy động thêm vốn, mở rộng đầu tư kinh doanh. Đề xuất này rất nên được Nhà nước xem xét.

(Nguồn: TT Online)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 về việc đường lối giải quyết các khiếu kiện, các tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 169/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 VỀ VIỆC ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN, CÁC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI ĐẤT ĐÃ GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Để bảo đảm việc giải quyết của Toà án nhân dân được thống nhất, đúng pháp luật, ngày 04-9-2001 Toà án nhân dân tối cao đã có Công văn số 108/2001/KHXX gửi Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ đề nghị cho biết đường lối xử lý của Nhà nước đối với các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ngày 04-10-2002 Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 5538/VPCP-VII thông báo cho Toà án nhân dân tối cao về ý kiến của Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ; cụ thể 1à:

“1. Trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993: Trong thực tiễn có thể có trường hợp việc thực hiện chính sách đất đai là chưa đúng với quy định tại thời điểm đó (sai đối tượng, sai căn cứ…) như Công văn 108/2001/KHXX ngày 04-9-2001 của Toà án nhân dân tối cao nêu. Tuy nhiên, việc xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến quan hệ đất đai phải xuất phát từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, như Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 đã quy định. Cùng với các quy định này và trong thực tiễn thi hành quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 đến nay đã đảm bảo được ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, những người hiện đang sử dụng đất này thực tế đã được Nhà nước giao đất và sử dụng ổn định lâu dài, do đó không nên đặt ra vấn đề trả lại đất cho chủ cũ.

2. Trường hợp thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định số 13/HĐBT được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất trong thời gian đó. Sau khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực thi hành thì Quyết định này không còn hiệu lực nữa. Nếu chủ sử dụmg đất trước đây, nay đòi lại đất thì áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 không thừa nhận việc đòi lại đất cũ đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước”.

Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các Toà án các cấp khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng cần quán triệt đường lối xử lý trên đây của Chính phủ. Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết được thống nhất, đúng pháp luật, Toà án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm sau đây:

1. Khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng, Toà án cần thực hiện đúng các hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

2. Toà án chỉ được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ (được thông báo trong Công văn số 5538/VPCP-VII của Văn phòng Chính phủ) khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ví dụ 1: Thực hiện Thông tư số 73/TTg ngày 07-7-1962 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị” và Thông tư số 10-TTg ngày 04-02-1963 của Thủ tướng Chính phủ giải thích Thông tư số 73/TTg này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ra quyết định quản lý một diện tích đất của M đang cho người khác thuê và đã giao cho N sử dụng. Nay M khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho N sử dụng.

Ví dụ 2: Thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng “Về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất”, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quyết định thu hồi một diện tích đất của X và giao cho Y là thương binh sử dụng. Nay X khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho Y sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không đặt vấn đề xem xét việc thu hồi, quản lý đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng hay không đúng về các điều kiện thu hồi, quản lý đất mà phải căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ; cụ thể là phải áp dụng khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai không chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Nếu họ có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà chấp nhận toàn bộ hoặc chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận yêu cầu của họ.

3. Đối với các trường hợp người thuê đất, mượn đất, chiếm dụng đất… của người khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho sử dụng là do họ tự kê khai, tự làm các thủ tục mà không phải do việc thực hiện một chính sách đất đai nào đó của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì không phải là đối tượng thuộc đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ.

Ví dụ 1: A thuê đất của B. Trong quá trình thuê đất A tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho A.

Nay B khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho A sử dụng.

Ví dụ 2: C là người sử dụng hợp pháp một khu đất. Vì lý do nào đó mà không có điều kiện trực tiếp quản lý, sử dụng khu đất này. Tuy vậy, Nhà nước không thu hồi, không quản lý đối với khu đất đó. D đã chiếm dụng một phần hoặc toàn bộ khu đất đó để sản xuất hoặc để xây dựng nhà ở và đã tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đối với diện tích đất đã chiếm dụng. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho D. Nay C khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho D sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ mà phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai, Bộ luật dân sự cũng như các quy định khác của pháp luật và tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của đương sự; nếu đương sự có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án cũng giải quyết theo thủ tục chung.

4. Các hướng dẫn trong Công văn này được thực hiện kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2002 khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm các vụ án về khiếu kiện, về tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.

Đối với các vụ án hành chính, dân sự có liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Công văn này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao biết để có giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 VỀ VIỆC ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN, CÁC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI ĐẤT ĐÃ GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 169/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 VỀ VIỆC ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN, CÁC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI ĐẤT ĐÃ GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Để bảo đảm việc giải quyết của Toà án nhân dân được thống nhất, đúng pháp luật, ngày 04-9-2001 Toà án nhân dân tối cao đã có Công văn số 108/2001/KHXX gửi Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ đề nghị cho biết đường lối xử lý của Nhà nước đối với các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ngày 04-10-2002 Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 5538/VPCP-VII thông báo cho Toà án nhân dân tối cao về ý kiến của Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ; cụ thể 1à:

“1. Trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993: Trong thực tiễn có thể có trường hợp việc thực hiện chính sách đất đai là chưa đúng với quy định tại thời điểm đó (sai đối tượng, sai căn cứ…) như Công văn 108/2001/KHXX ngày 04-9-2001 của Toà án nhân dân tối cao nêu. Tuy nhiên, việc xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến quan hệ đất đai phải xuất phát từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, như Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 đã quy định. Cùng với các quy định này và trong thực tiễn thi hành quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 đến nay đã đảm bảo được ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, những người hiện đang sử dụng đất này thực tế đã được Nhà nước giao đất và sử dụng ổn định lâu dài, do đó không nên đặt ra vấn đề trả lại đất cho chủ cũ.

2. Trường hợp thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định số 13/HĐBT được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất trong thời gian đó. Sau khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực thi hành thì Quyết định này không còn hiệu lực nữa. Nếu chủ sử dụmg đất trước đây, nay đòi lại đất thì áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 không thừa nhận việc đòi lại đất cũ đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước”.

Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các Toà án các cấp khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng cần quán triệt đường lối xử lý trên đây của Chính phủ. Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết được thống nhất, đúng pháp luật, Toà án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm sau đây:

1. Khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng, Toà án cần thực hiện đúng các hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

2. Toà án chỉ được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ (được thông báo trong Công văn số 5538/VPCP-VII của Văn phòng Chính phủ) khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ví dụ 1: Thực hiện Thông tư số 73/TTg ngày 07-7-1962 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị” và Thông tư số 10-TTg ngày 04-02-1963 của Thủ tướng Chính phủ giải thích Thông tư số 73/TTg này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ra quyết định quản lý một diện tích đất của M đang cho người khác thuê và đã giao cho N sử dụng. Nay M khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho N sử dụng.

Ví dụ 2: Thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng “Về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất”, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quyết định thu hồi một diện tích đất của X và giao cho Y là thương binh sử dụng. Nay X khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho Y sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không đặt vấn đề xem xét việc thu hồi, quản lý đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng hay không đúng về các điều kiện thu hồi, quản lý đất mà phải căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ; cụ thể là phải áp dụng khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai không chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Nếu họ có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà chấp nhận toàn bộ hoặc chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận yêu cầu của họ.

3. Đối với các trường hợp người thuê đất, mượn đất, chiếm dụng đất… của người khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho sử dụng là do họ tự kê khai, tự làm các thủ tục mà không phải do việc thực hiện một chính sách đất đai nào đó của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì không phải là đối tượng thuộc đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ.

Ví dụ 1: A thuê đất của B. Trong quá trình thuê đất A tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho A.

Nay B khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho A sử dụng.

Ví dụ 2: C là người sử dụng hợp pháp một khu đất. Vì lý do nào đó mà không có điều kiện trực tiếp quản lý, sử dụng khu đất này. Tuy vậy, Nhà nước không thu hồi, không quản lý đối với khu đất đó. D đã chiếm dụng một phần hoặc toàn bộ khu đất đó để sản xuất hoặc để xây dựng nhà ở và đã tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đối với diện tích đất đã chiếm dụng. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho D. Nay C khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho D sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ mà phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai, Bộ luật dân sự cũng như các quy định khác của pháp luật và tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của đương sự; nếu đương sự có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án cũng giải quyết theo thủ tục chung.

4. Các hướng dẫn trong Công văn này được thực hiện kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2002 khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm các vụ án về khiếu kiện, về tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.

Đối với các vụ án hành chính, dân sự có liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Công văn này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao biết để có giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỂ XỨNG ĐÁNG VỚI KỲ VỌNG

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, và là một nội dung quan trọng của cải cách DNNN ở Việt Nam.

Kỳ vọng chưa đạt được

Mục tiêu của CPH DNNN đã được quán triệt trong Nghị quyết Hội nghị TW 3 khoá IX (tháng 8/2001) là “Tạo ra loại hình doanh nghiệp (DN) có nhièu chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản  lý năng động, có hiệu quả cho DNNN, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sát của xã hội đối với DN, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động…”.

Đánh giá kết quả của quá trình CPH DNNN sau 15 năm, có nhiều ý kiến khác nhau. Có nhiều ý kiến cho rằng quá trình CPH DNNN diễn ra quá chậm, không đạt mục tiêu đề ra. Một số ý kiến khác lại đánh giá cao kết quả của quá trình CPH DNNN trong thời gian qua, với việc đã CPH được trên 50% số DNNN và huy động được một số vốn lớn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nứơc, đã tăng không ngừng quy mô vốn nhà nước trong các DN.

Theo chúng tôi, trước hết cần khẳng định rằng CPH DNNN là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. CPH là nội dung quan trọng nhất trong tiến trình đổi mới và sắp xếp DNNN, nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các DNNN. Không thể tiếp tục kéo dài sự tồn tại của các DN mà vốn và tài sản thuộc sở hữu của toàn dân, toàn xã hội nhưng thực chất là không có ai là chủ sở hữu thực sự. Đi cùng với tình trạng DN “vô chủ”,vấn đề hiệu quả kinh doanh của các DNNN trong một thời gian dài đã không được coi trọng. Tình trạng DN thua  lỗ kéo dài không bị xử lý phá sản không còn là hiện tượng cá biệt trong khu vực DNNN. Trong bối cảnh chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, thì  yêu cầu phải thực hiện cải cách DNNN là một tất yếu khách quan. Tiến trình cải cách DNNN ở vn được diễn ra với các nội dung: (i)sắp xếp lại DNNN về mặt tổ chức, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê với các DNNN vốn nhỏ, thua lỗ; (ii) hình thành các DN lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường; (iii) đổi mới cơ chế quản lý DNNN; (iv) CPH các DN mà Nhà nước không cần nắm 100% sở hữu vốn-trong đó, CPH DNNN là nội dung được coi là quan trọng nhất.

Nhìn nhận một cách khách quan, có thể khẳng định rằng: Hầu hết các mục tiêu đặt ra đối với quá trình CPH đã được thực hiện.Tính tới 30/6/2006, cả nước đã thực hiện chuyển đổi được 3.365 DNNN thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thành công ty cổ phần; đã tăng được quy mô vốn nhà nước bình quân tại DN từ 24 tỷ đồng (năm 2001) lên 71 tỷ đồng (năm 2005) trên một DN; đã thu về cho NSNN hơn 13.000 tỷ đồng để đầu tư cho mục đích khác; thông qua CPH đã huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh; sau CPH có trên 90% số công ty hoạt động có hiệu quả; cổ tức bình quân đạt 17,11%/năm; người lao động trong DN đã quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với việc thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh (SXKD) được giao, cũng như đối với sựtồn tại và phát triển của DN. Kết quả điều tra đối với 850 DNNN sau chuyển đổi sở hữu từ một năm trở lên cho thấy các chỉ tiêu chủ yếu đều có sự tăng trưởng tích cực: vốn điều lệ tăng 44% so với trước khi CPH; doanh thu tăng 23,6%; lợi nhuận tăng 139%; nộp ngân sách tăng 24,95%.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, không thể phủ nhận  một thực tế là: quá trình CPH DNNN trong thời gian qua còn nhiều mặt hạn chế, kết quả đạt được còn hết sức khiêm tốn so với sự quan tâm và kỳ vọng của Đảng, Chính phủ và dư luận xã hội. Cụ thể:

Quá trình CPH diễn ra còn chậm so với kế hoạch

Sau 15 năm thực hiện CPH DNNN đến nay vẫn còn hơn 2.300 DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn và trên 1000 công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Để thực hiện lộ trình đến năm 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ các công ty Nhà nước sang hoạt động theo Luật DN  2005 thì mỗi năm cần CPH gần 600 DNNN. Tuy nhiên, với tốc độ CPH hết sức chậm chạp như hiện nay (bình quân mỗi năm CPH được khoảng 220 DNNN) thì quỹ thời gian 4 năm còn lại quả là quá ngắn để thực hiện kế hoạch đặt ra.

Các DN tiến hành CPH chủ yếu có vốn nhỏ, việc đa dạng hoá sở hữu trong CPH còn hạn chế

Mặc dù các DNNN đã thực hiện CPH chiếm tỷ trọng lớn về mặt số lượng (khoảng 53%), nhưng hcỉ chiếm khoảng 8,2% tổng số vốn nhà nước đầu tư tại DN. Các DNNN đã CPH có số vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm tới gần 60%; chỉ có 18,5% số DNNN CPH có quy mô vốn nhà nước trên 10 tỷ đồng.

Chuyển DNNN thành công ty cổ phần là nhằm đa dạng hoá sở hữu về vốn. Tuy nhiên, trong số trên 3.000 DN đã CPH, chỉ có 30% DN mà Nhà nước không  nắm giữ một đồng vốn nào; 20% DN mà Nhà nước giữ cổ phần từ 51% trở lên; tỷ lệ vốn nhà nứơc trong vốn điều lệ của các DNNN đã thực hiệnCPH chiếm tới 46,5%, người lao động nắm giữ 38,1% và cổ đông ngoài DN năm 15,4% vốn đièu lệ. Như vậy, Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất của phần lớn các DN sau CPH. Tỷ lệ vốn nhà nước trong vốn điều lệ của các DNNN đã thực hiện cổ phần hoá vẫn còn cao và có xu hướng ngày một tăng lên: từ chố chỉ chiếm 28% vào những năm 2000 và 2001 đã tăng dần lên 31% năm 2002, 55% năm 2003; 47$ năm 2004 và 57% năm 2005.

Chưa có sự đổi mới mạnh mẽ trong quản trị công ty

Hầu hết các DN sau khi CPH vẫn sử dụng gần như toàn bộ bộ máy và cán bộ quản lý cũ. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, sau khi CPH có tới 81,5% giám đốc, 78% phó giám đốc và kế toán trường DN vẫn giữ nguyên chức vụ; không có DN nào sau khi CPH sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành. Có ý kiến cho rằng điều này chứng tỏ chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý  của các DNNN thực hiện CPH là tốt, được sự tín nhiệm cao(?!). Tuy nhiên với những cán bộ quản lý cũ sẽ khó có thể tạo sự đổi mới và chuyển biến thực sự về phương pháp quản lý, lề lối làm việc và tư duy mới trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh theo mô hình tổ chức kinh doanh mới-công ty cổ phần. Việc công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính ở nhiều công ty chưa được coi trọng. Kết quả điều tra chothấy, chỉ có 27,5% DN thực hiện kiểm toán hàng năm và 18,7% thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của vụ việc, còn lại là không có kiểm toán. Việc quản lý và điều hành ở không ít công ty sau CPH chưa được tổ chức, hoạt động đúng quy định của pháp luật và điều lệ của công ty cổ phần. Số liệu điều tra cho thấy tại khoảng 70% DN CPH chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) kiêm giữ chức vụ giám đốc công ty. Việc kiêm nhiệm này tuy không trái quy định của pháp luật (Điều 85 Luật DN 1999), nhưng có nhược điểm là chưa tách bạch giữa quản lý với điều hành, vì vậy, không thích hợp để áp dụng một cơ chế quản trị công ty hiện đại với sự kiểm tra, giám sát có hiệu quả đối với bộ máy điều hành DN.

Hiệu quả SXKD của các DN sau CPH chưa cao

Thực hiện CPH, các DN được hưởng ưu đãi về thuế như các DN mới thành lập theo Luật Khuyến khích đàu tư trong nước, được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển nhượng các tìa sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của DNNN CPH thành sở hữu của công ty cổ phần, được tiếp tục vay vốn của ngân hàng thương mại nhà nước theo cơ chế và lãi suất như đối với DNNN và nhiều ưu đãi khác. Do đó, không quá bất ngờ khi một số chỉ tiêu của các DN sau CPH tăng khá ngoạn mục so với trước CPH, như bình quân doanh thu tăng 23,6%, lợi nhuận tăng 139%, thu  nhập người lao động tăng 11,8%. Tuy  nhiên, chưa có tài liệu nào đề cập tới các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhận vốn chủ sở hữu của DN thay đổi ra sao sau CPH DNNN; đặc biệt là, sau khi hết thời gian ưu đãi về thuế thu nhập, hiệu quả SXKD của các DN này đạt được như thế nào? Đây là những câu hỏi hiện chưa có lời giải đáp. Con số 28,6% các DN có doanh thu giảm, 10% số DN bị lỗ, 42% các DN có số nộp ngân sách giảm, 17% số DN có thu nhập giảm so với trước cổ phần hoá đã phản ánh khó rõ thực tế về sự sụt giảm  kết quả SXKD của một bộ phận không nhỏ các DN hậu CPH.

Hầu hết các DN hậu CPH không mặn mà với việc tham gia niêm yết thị trường chứng khoán

Công ty cổ phần là một mô hình tổ chức DN trong nền kinh tế thị trường với những ưu thế nổi bậtvề khả năng khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh, khả năng tồn tạilâu dài, khả năng tiếp cận các phương pháp kinh doanh tiên tiến, khả năng di chuyển vốn đầu tư dế dàng. Đặc biệt công ty cổ phần là loại hình DN duy nhất có khả năng giải quyết thành công vấn đề huy động vốn trên thị trường để mở rộng SXKD dựa vào phát hành chứng khoán công ty. Điều đáng ngạc nhiên là, mặc dù nhu cầu huy động vốn để đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ, nâng cao khả năng cạnhtranh của các DN hậu CPH là rất lớn; nhưng số công ty tham gia niêm yết chứng khoán trên thị trường vẫn còn rất nhỏ bé. Theo kết quả điều tra khảo sát mới đây của dự án “Điều tra, đánh giá khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các DN vừa và nhỏ Việt Nam” thì 74,9% DN được hỏi đang vay vốn của ngân hàng, vay của công nhân viên và nguồn khác; 42,2% số DN được hỏi có sử dụng hình thức huy động vốn qua phát hành chứng khoán; 48,6% DN có ý định tham gia niêm yết; 47,4% đủ điều kiện và có ý định niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sau năm 2007(?!). Phải chăng sự không mặn mà của các DN trong việc tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là do DN chưa quen huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán? Hay  là do cơ chế chính sách chưa khuyến khích các DN tham gia niêm yết? Hoặc các DN e ngại việc công khai và minh bạch hoá tình hình tài chính sẽ bộc lộ các điểm yếu của công ty và có nguy cơ bị các đối thủ cạnh tranh khai thác? Theo chúng tôi, các lý do nêu trên là không thể loại trừ.

Còn nhiều bất cập trong việc quản lý nhà nước đối với DN hậu CPH

Sau khi thực hiện CPH, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với DN đã có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên, nhiều vấn đè liên quan đến quản lý nhà nước đối với công ty sau CPH vẫn chưa được giải đáp rõ ràng, như: nội dung quản lý nhà nước đối với DN sau CPH DNNN, những cơ quan  nào có chức năng quản lý nhà nước với các DN hậu CPH DNNN, vấn đề thu hẹp đầu mối các cơ quan quản lý nhà nước để tránh chồng chéo, nhiều cửa, nhiều khoá. Tình trạng chưa thay đổi tư duy quản lý nhà nước, chưa hiểu đúng luật DN, vẫn coi công ty cổ phần như DNNN dẫn tới việc nhiều cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào nội bộ công ty một cách không đúng luật.

Những vấn đề cần quán triệt

Để đảm bảo thực hiện lộ trình đến 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN 2005, cũng như để đảm bảo quá trình CPH DNNN đạt được các mục tiêu đề ra,theo chúng tôi cần quán triệt một số vấn đề có tính chất nguyên tắc sau đây:

* Tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương CPH DNNN, nhưng cần lưu ý rằng CPH không phải là con đường duy nhất để đổi mới, sắp xếp lại DNNN ở Việt Nam.

Mặc dù DNNN đã có những đóng góp và tác động tích cực không thể phủ nhận đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; tuy nhiên, sự kém hiệu quả về kinh tế, sự kém về khả năng cạnh tranh đòi hỏi phải thực hiện đổi mới, sắp xếp lại DNNN-trong đó CPH là nội dung cơ bản. Tuy vậy, cần tránh rơi vào khuynh hướng quá đề cao CPH, coi CPH là con đường duy nhất để đưa các DNNN thoát khỏi tình trạng yếu kém kể trên, từ đó dẫn tới CPH theo kiểu phong trào, hình thức, chạy theo số lượng, sau CPH không tạo ra sự thay đổi về chất trong tổ chức quản lý SXKD, về hiệu quả và khả năng cạnh tranh-mục tiêu hàng đầu của CPH DNNN. Bên cạnh việc đẩy mạnh CPH, cần coi trọng các nội dung khác của quá trình đổi mới sắp xếp lại DNNN, như vấn đề xây dựng các tập đoàn kinh tế, vấn đề chuyển hoạt động của các tổng công ty, công ty theo mô hình công ty mẹ-công ty con, vấn đề giao bán khoán kinh doanh và cho thuê DNNN…

* Chỉ đạo quá trình CPH một cách quyết liệt hơn, đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch đã đề ra.

Để đảm bảo thực hiện lộ trình đến 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ các công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN 2005, cần có sự chỉ đạo quá trình CPH một cách quyết liệt hơn. Cần nghiên cứu sửa đổi Nghị đinh 187 theo hướng nới lỏng hơn nữa các quy định về bán cổ phần ra ngoài DN và tỷ lệ cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ, hạn chế, thậm chí cắt bỏ ưu đãi đối với các DN không thực hiện CPH đúng tiến độ, không thể chỉ hô hào chung chung, mà cần có sự thông suốt và phối hợp chặt chẽ từ Trung ương tới địa phương, từ các bộ, ngành tới ban lãnh đạo và tập thể người lao động trong DN. Đây thực sự là một cuộc đấu tranh không kém phần gay go, quyết liệt giữa tư tưởng níu kéo, tiếc nuối, sợ mất quyền lợigắn liền với sự trì trệ, với quyết tâm đổi mới, tạo động lực cho sự phát triển cho các DN và nền kinh tế.

* Mở rộng đối tượng thực hiện CPH, giảm tỷ lệ vốn nhà nước trong các DN CPH.

Hiện nay, đối tượng CPH chưa bao quát đối với cong ty mẹ trong mô hình công ty mẹ-công ty con và công ty TNHH một thành viên không thuộc diện nhà nước giữ 100% vốn. Việc triển khai CPH các tổng công ty và các ngân hàng thương mại còn rất chậm. Đặc biệt, tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước tại các DN CPH là quá cao. Vì vậy, trong thời gian tới cần rà soát lại đối tượng các DN phải CPH theo hướng: hạn chế việc chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH nhà nước một thành viên, cần giảm dần tỷ lệ vốn nhà nước tại công ty cổ phần và giảm bớt tỷ lệ công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.

* Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện để các công ty cổ phần tiến hành các hoạt động một cách thuận lợi, hiệu quả cao.

Sự cố suý tốt nhất cho quá trình CPH chính là hiệu quả hoạt động của các DN hậu CPH, điều này phụ thuộc không nhỏ vào sự hoàn thiện của môi trường pháp lý mà các DN đang hoạt động. Vì vậy, trong thơì gian tới cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách đối với công ty cổ phần, tránh việc vận dụng thiếu thống nhất giữa các công ty.Cần chấm dứt sự can thiệp không đúng luật của các cơ quan quản lý nhà nước vào công việc nội bộ của công ty, phát huy vai trò của đại hội đồng cổ đông và HĐQT  trong quản lý công ty theo các thông lệ quản trị DN tốt nhất; gắn CPH với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán.

(Nguồn: TCTC – MOI.GOV.VN)

TRÁNH THẤT THOÁT TÀI SẢN NHÀ NƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA (về quyền sử dụng đất khi xác định giá trị doanh nghiệp)

Tránh thất thoát tài sản nhà nước khi cổ phần hoá Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… Người sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh được lựa chọn hình thức nhận giao đất có thu tiền sử dụng dất hoặc thuê đất của nhà nước; nhận chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Luật quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất tuỳ theo hình thức thuế đất hay nhận giao đất. Cụ thể như: Đối với Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có các quyền và nghĩa vụ như: (i) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; (ii) Cho thuê quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; (iii) Tặng cho quyền sử dụng đất cho nhà nước, tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; (iv) Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn theo quy định của pháp luật; (v) Góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền nhưng tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng các công trình không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất. Người mua tài sản được nhà nước tiếp tục giao đất không thu tiền sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
Trường hợp tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê có các quyền và nghĩa vụ như: (i) Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật; (ii) Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuế; người mua tài sản được nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định; (iii) Cho thuê lại đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng tại khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế; (iv) Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có các quyền và nghĩa vụ như quy định đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ như đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ như đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai, tổ chức kinh tế thuê đất thì không có đủ các quyền về đất đai như đối với trường hợp tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất nộp ngân sách nhà nước không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá 70 năm. Theo đó, tiền sử dụng đất đã nộp NSNN hoặc nhận quyền chuyển nhượng hợp pháp về quyền sử dụng đất, tổ chức kinh tế được khấu hao và tính vào chi phí kinh doanh, mức khấu hao tối thiểu hàng năm bằng tổng số tiền nộp cho nhà nước hoặc trả tiền nhận chuyển nhượng hợp pháp chia cho số năm được giao quyền sử dụng đất. Trường hợp tổ chức kinh tế trả tiền về nhận chuyển nhượng đất lâu dài thì không tính khấu hao vào chi phí khoản tiền này (theo quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam); sở dĩ quy định không khấu hao đối với tổ chức kinh tế có quyền sử dụng đất lâu dài vì khi khấu hao hết giá trị, tổ chức kinh tế vẫn còn nguyên quyền sử dụng đất, mặt khác, giá trị quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng bởi vì đất đai ít gia tăng.
Việc chuyển đổi Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần thực chất là nhà nước chuyển đổi sở hữu giá trị tài sản thuần tương ứng với vốn nhà nước có tại doanh nghiệp tại thời điểm chuyển đổi và chuyển đổi Công ty nhà nước sang hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần. Giá trị tài sản thuần được xác định bằng tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ đi nợ phải trả. Trong đó giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất nhà nước giao có thu tiền (nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền) và giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, Thông tư số 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định: đối với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp được lựa chọn một trong hai hình thức thuê đất hoặc giao đất có nộp tiền sử dụng đất. Trong đó, nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp; Công ty cổ phần tiếp tục ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật và quản lý sử dụng đúng mục đích, không được nhượng bán; đối với đất đã nhận giao, đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, hoặc mua quyền sử dụng đất của các cá nhân, pháp nhân khác nếu chuyển sang thuê đất thì chỉ tính vào giá trị doanh nghiệp các khoản chi phí làm tăng giá trị sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất như: chi phí đền bù, giải toả, san lấp mặt bằng. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính giá trị doanh nghiệp để tính giá trị doanh nghiệp tính theo giá do UBND tỉnh quy định nhưng không tính tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Công ty cổ phần phải nộp số tiền này cho ngân sách nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai; đối với diện tích đất doanh nghiệp đã được giao, đã nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước: phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do UBND tỉnh quy định, khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại với giá trị hạch toán trên sổ kế toán được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Quy định về quyền sử dụng đất tính hay không tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá theo quy định như trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của văn bản pháp luật về đất đai.
Theo quy định giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được quy định tại Thông tư số 126/2004/TT-BTC, bao gồm: vị trí địa lý, giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển. Giá trị lợi thế kinh doanh được xác định bằng giá trị phần vốn nhà nước theo sổ kế toán tại thời điểm định giá nhân với (x) tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 3 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp trừ (-) lãi suất trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 10 năm trở lên tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo các tính này giá trị lợi thế kinh doanh chưa thể hiện đầy đủ tiềm năng phát triển của doanh nghiệp hoặc lợi thế về địa lý đối với một doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh thuận lợi và vị trí “đẹp”, mặc dù giá quyền sử dụng đất đã được quy định cao hơn nhiều đối với đất ở vị trí khác; đặc biệt đối với những doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá có kết quả kinh doanh thấp hạơc bị lỗ thì sẽ không có giá trị lợi thế kinh doanh dù đó là ở vị trí đẹp thứ nhất nhì ở một địa bàn nào đó . Do đó, để phản ánh đúng giá trị doanh nghiệp làm cơ sở cho việc xác định giá sàn để thực hiện đấu giá doanh nghiệp chuyển đổi sở hữu, nhà nước cần hoàn thiện phương thức tính toán lợi thế kinh doanh sao cho phù hợp với những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh lãi hoặc bị lỗ để phản ảnh đúng lợi thế địa lý, tiềm năng phát triển và giá trị thương hiệu của doanh nghiệp. Từ đó khắc phục được tình trạng thất thoát lợi ích của nhà nước tại Công ty mà nhà nước thực hiện chuyển đổi sở hữu nói chung và giá trị quyền sử dụng đất có tại doanh nghiệp nói riêng góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp lại Công ty nhà nước.

(Nguồn: TCDN – MOI.GOV.VN)

 

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CẦN QUAN TÂM KHI NHẬN THẾ CHẤP TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

Trong giai đoạn hiện nay, số lượng các doanh nghiệp nhận thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng không phải hợp đồng tín dụng (như hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mua bán tài sản…) ngày càng nhiều. Theo các chuyên gia đây là một trong những dấu hiệu đáng mừng của nền kinh tế nhằm thúc đẩy giao lưu giữa các nguồn vốn, cũng như thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phục vụ sản xuất, kinh doanh. Để thuận lợi cho bạn đọc khi tiếp cận các quy định của pháp luật hiện hành, cũng như thuận lợi trong quá trình áp dụng, chúng tôi xin cung cấp một số kiến thức pháp lý cơ bản về vấn đề này.

1. Về thế chấp và đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai để bảo đảm cho hợp đồng thuê

          Theo quy định tại của Bộ luật dân sự thì thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 318) và hợp đồng dân sự là một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự (khoản 1 Điều 281). Như vậy, tổ chức, cá nhân có quyền thoả thuận việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản.

          Trong trường hợp tài sản hình thành trong tương lai là nhà ở, công trình kiến trúc khác, rừng sản xuất là rừng trồng, vườn cây lâu năm được dùng để thế chấp cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thuê thì việc đăng ký thế chấp được thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nơi có tài sản gắn liền với đất đó. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT.

          Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Mục I của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT thì “việc thế chấp tài sản gắn liền với đất không thuộc các trường hợp đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì  đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp theo Thông tư số 01/2002/TT-BTP ngày 09/01/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và các Chi nhánh”. 

      2. Thỏa thuận về tài sản thế chấp

          Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc thế chấp tài sản gắn liền với đất không đương nhiên bao gồm cả thế chấp quyền sử dụng đất. Do vậy, việc thế chấp tài sản gắn liền với đất hoặc thế chấp tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất hoàn toàn do các bên thoả thuận, quyết định.

          Pháp luật chỉ quy định về điều kiện thế chấp và trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp đối với tài sản gắn liền với đất, đối với quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

3. Về xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên thế chấp không trả được nợ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước hoặc không trả được nợ cho ngân hàng

          3.1. Trong trường hợp bên thế chấp không trả được nợ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước thì toà nhà hình thành trong tương lai là tài sản thế chấp không đương nhiên bị tịch thu vì theo quy định của pháp luật hiện hành thì tài sản của chủ sở hữu chỉ bị tịch thu, suy quỹ nhà nước trong trường hợp tài sản đó là tang vật, phương tiện phạm tội trong vụ án hình sự hoặc tài sản đó là tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật hành chính.

          3.2. Trong trường hợp bên thế chấp không có khả năng trả nợ nghĩa vụ ngân  sách nhà nước hoặc trả nợ ngân hàng thì tòa nhà không bị tịch thu, nhưng nếu bên thế chấp bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì tòa nhà đó và các tài sản khác của bên thế chấp sẽ bị xử lý để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ.  

4.  Xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên thế chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc phá sản, giải thể

          4.1. Theo quy định tại Điều 355 của Bộ luật dân sự thì trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.

Do vậy, nếu bên thế chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc bị Toà án tuyên phá sản hoặc có quyết định giải thể thì bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo thoả thuận. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 325 Bộ luật dân sự và điểm 8.4 khoản 8 Mục I của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT thì trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký.

4.2. Khi xử lý tài sản thế chấp là toà nhà thì quyền sở hữu toà nhà đó có thể được chuyển cho bên nhận thế chấp vì theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ  về giao dịch bảo đảm thì “người mua tài sản bảo đảm, người nhận chính tài sản bảo đảm thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm đối với mình có quyền sở hữu đối với tài sản đó” và theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Đất đai thì “người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định”.

Trên đây là một số tình huống pháp lý đặt ra trong trường hợp tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai mà các bạn cần lưu ý. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến trao đổi từ phía bạn đọc.

SOURCE: nrast.moj.gov.vn

Kỹ năng tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu, HĐ thuê tài sản, HĐ cho thuê tài chính, HĐ chuyển giao quyền đòi nợ tại các Trung tâm Đăng ký GD, tài sản của Cục Đăng ký QGGDBĐ

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Hiện nay, việc tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (sau đây gọi chung là giao dịch bảo đảm) lưu giữ tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản (sau đây gọi tắt là Trung tâm Đăng ký) được thực hiện theo quy định của Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày tháng năm 2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Thông tư số 06), Thông tư số 04/2007/TT-BTP hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (sau đây gọi là Thông tư số 04).

Nhằm giúp cho việc tìm hiểu thông tin của các tổ chức, cá nhân diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, kết quả tìm hiểu thông tin được đầy đủ, chính xác, bài viết này giới thiệu những kỹ năng cần thiết trong việc tìm hiểu thông tin cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu tham khảo, lựa chọn.

1. Kỹ năng lựa chọn các hình thức tìm hiểu thông tin tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản

Nhằm đáp ứng các mục đích, nhu cầu đa dạng của cá nhân, tổ chức trong việc tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký, các Thông tư số 06 và Thông tư số 04 đã quy định nhiều hình thức tìm hiểu thông tin khác nhau cho người tìm hiểu thông tin lựa chọn trên cơ sở phù hợp với nhu cầu của mình. Theo quy định của các Thông tư, có ba hình thức tìm hiểu thông tin là Danh mục các giao dịch bảo đảm theo tên của bên bảo đảm (sau đây gọi tắt là Danh mục), Văn bản tổng hợp thông tin chi tiết về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Văn bản tổng hợp thông tin), Bản sao đơn yêu cầu đăng ký có chứng nhận của Trung tâm Đăng ký (sau đây gọi tắt là Bản sao đơn yêu cầu đăng ký).

Lưu ý: Khái niệm “bên bảo đảm” sử dụng trong bài viết này được dùng để chỉ bên bảo đảm trong giao dịch bảo đảm; bên bán trả chậm, trả dần trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần; bên thuê tài sản trong hợp đồng thuê tài sản; bên thuê tài chính trong hợp đồng cho thuê tài chính; bên chuyển giao quyền đòi nợ trong hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ.

1.1. Hình thức tìm hiểu thông tin theo Danh mục

Theo mẫu Danh mục của Trung tâm Đăng ký, người tìm hiểu thông tin được cung cấp các thông tin chung về những giao dịch bảo đảm mà bên bảo đảm đã tham gia và đang được lưu giữ tại Trung tâm Đăng ký, bao gồm thông tin về số hồ sơ, số đơn yêu cầu đăng ký, bên nhận bảo đảm, thời điểm đăng ký.

Nội dung của Danh mục không có thông tin cụ thể về tài sản bảo đảm, những lần thay đổi, sửa chữa nội dung đăng ký. Nếu muốn tìm hiểu những thông tin này thì người có nhu cầu tìm hiểu thông tin phải yêu cầu Trung tâm Đăng ký cung cấp thông tin theo các hình thức khác là Văn bản tổng hợp thông tin, Bản sao đơn yêu cầu đăng ký.

Một đặc điểm nữa của Danh mục là tiêu chí tìm kiếm và cung cấp các thông tin theo tên và số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của bên bảo đảm, được người có nhu cầu tìm hiểu thông tin kê khai trong đơn yêu cầu cung cấp thông tin. Do đó, nếu người có nhu cầu tìm hiểu thông tin không biết chính xác tên, số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của đối tượng cần tìm hiểu thì sẽ không thể có được thông tin chính xác, đầy đủ.

Bên cạnh đó, có những trường hợp thông tin về cùng một bên bảo đảm được lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu có những loại giấy tờ xác định tư cách pháp lý khác nhau. Theo quy định của Thông tư số 06 và Thông tư số 04, những đối tượng sau đây có thể được kê khai theo nhiều loại giấy tờ xác định tư cách pháp lý: Sỹ quan quân đội, quân nhân; cảnh sát nhân dân, an ninh nhân dân, công nhân, nhân viên trong lực lượng Công an nhân dân. Những đối tượng này vừa có thể được kê khai theo Chứng minh nhân dân, vừa có thể được kê khai theo các loại giấy tờ chứng minh nhân thân của ngành nơi người đó làm việc. Nếu người tìm hiểu thông tin chỉ tìm kiếm thông tin về đối tượng này theo một loại số giấy tờ xác định tư cách pháp lý thì sẽ bỏ sót thông tin về đối tượng này. Vì vậy, người tìm hiểu thông tin nên tìm hiểu thông tin theo một tiêu chí độc lập là tên của bên bảo đảm, bên cạnh việc tìm hiểu thông tin theo cả hai tiêu chí kết hợp.

Cũng có những trường hợp thông tin về một bên bảo đảm lưu giữ tại Trung tâm Đăng ký có nhiều tên gọi khác nhau nhưng có cùng số giấy tờ xác định tư cách pháp lý. Trong những trường hợp này, người tìm hiểu thông tin nên tìm hiểu thông tin theo một tiêu chí độc lập là số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của bên bảo đảm để có được thông tin đầy đủ.

1.2. Hình thức tìm hiểu thông tin theo Văn bản tổng hợp thông tin

Theo mẫu Văn bản tổng hợp thông tin của Trung tâm Đăng ký, người tìm hiểu thông tin được cung cấp các thông tin cụ thể, chi tiết về những giao dịch bảo đảm mà bên bảo đảm tham gia, bao gồm: số hồ sơ, số đơn yêu cầu đăng ký, thông tin về bên nhận bảo đảm, tài sản bảo đảm, thông tin về các lần thay đổi, sửa chữa sai sót, gia hạn (nếu có).

Những tiêu chí tìm kiếm thông tin theo hình thức Văn bản tổng hợp thông tin là tên; số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của bên bảo đảm; số khung, số máy của phương tiện giao thông cơ giới là tài sản bảo đảm.

So sánh với hình thức Danh mục, hình thức Văn bản tổng hợp thông tin có ưu điểm hơn hẳn là cung cấp thông tin về từng giao dịch bảo đảm đầy đủ hơn so với Danh mục, cụ thể là thông tin về tài sản bảo đảm, những lần thay đổi, sửa chữa sai sót, gia hạn. Ngoài ra, hình thức này cho phép tìm kiếm thông tin trực tiếp về tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới.

Một điểm hạn chế của Văn bản tổng hợp thông tin là nếu có sự thay đổi về tài sản, sửa chữa sai sót về nội dung mô tả tài sản, thì nó không cho người tìm hiểu biết về những nội dung đã bị thay đổi, sửa chữa sai sót.

1.3. Hình thức cung cấp thông tin theo Bản sao đơn yêu cầu đăng ký

Bản sao đơn yêu cầu đăng ký là một hình thức tìm hiểu thông tin mới, được quy định trong các Thông tư số 06 và Thông tư số 04. Hình thức này cho người tìm hiểu thông tin biết về toàn bộ lịch sử và nội dung đăng ký của một giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, người tìm hiểu thông tin chỉ lựa chọn được hình thức này khi đã biết thông tin về sự tồn tại của giao dịch bảo đảm đó, số hồ sơ, số đơn đăng ký của giao dịch bảo đảm. Đây là một ưu điểm vượt trội của hình thức Bản sao đơn yêu cầu đăng ký.

1.4. Kết luận

Mỗi hình thức tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm nêu trên có những đặc điểm riêng biệt. Đồng thời, mỗi hình thức đều có những ưu điểm riêng vượt trội so với hình thức khác. Người tìm hiểu thông tin cần căn cứ vào những thông tin về đối tượng cần tìm hiểu mà mình có được, để lựa chọn hình thức và cách thức tìm hiểu thông tin phù hợp. Trong một số trường hợp, cần kết hợp tìm hiểu thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau để có được một bức tranh toàn cảnh, đầy đủ và chính xác về các giao dịch bảo đảm có sự tham gia của đối tượng cần tìm hiểu.

2. Kỹ năng kết hợp giữa việc tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký với việc tìm hiểu thông tin từ các nguồn khác

Nội dung thông tin về giao dịch bảo đảm lưu giữ tại các Trung tâm Đăng ký được người yêu cầu đăng ký kê khai. Thông tin về các bên tham gia giao dịch được kê khai đầy đủ, theo đúng hướng dẫn của các Thông tư. Đối với nội dung mô tả tài sản bảo đảm, người yêu cầu đăng ký có thể lựa chọn giữa cách mô tả đầy đủ, chi tiết các đặc điểm của tài sản và cách mô tả chung về tài sản bảo đảm. Trong trường hợp tài sản bảo đảm được mô tả chung chung, người tìm hiểu thông tin cần tiếp tục tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm từ những nguồn khác trong thực tế.

Những nguồn thông tin có thể tham khảo, lựa chọn là:

(1). Các bên tham gia giao dịch bảo đảm đã được đăng ký và những người khác có liên quan;

(2). Các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng động sản như:

a) Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông trực thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

b) Sở Giao thông vận tải, Sở Giao thông công chính đối với phương tiện thủy nội địa được đăng ký tại

c) Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản hoặc Trung tâm Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản thuộc Sở NN&PTNT đối với tàu cá;

d) Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực đối với tàu biển;

đ) Cục Đường bộ Việt Nam, Sở Giao thông Vận tải, Sở Giao thông công chính đối với xe, máy chuyên dùng thi công đường bộ;

e) Văn phòng bảo hộ giống cây trồng thuộc Bộ NN&PTNT đối với các quyền đối với giống cây trồng; Cục Sở hữu trí tuệ v.v../.

SOURCE: MOj.GOV.VN

CÔNG VĂN SỐ 12/BTNMT – ĐĐ VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 2008

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Số: 12/BTNMT-ĐĐ

V/v đăng kýgiao dịch quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúcclip_image001

Hà Nội, ngày 02 tháng 01 năm 2008

 

Kính gửi: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Tại kỳ họp thứ hai (tháng 11 năm 2007), Quốc hội khoá XII đã thông qua Nghị quyết số 07/2007/QH12 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008, trong đó đã quyết định nhiều biện pháp để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định thời hạn hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước đến hết năm 2010.

Thực hiện Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hội và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP), Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Khoản 2 Điều 66 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP đối với việc đăng ký các giao dịch quyề sử dụng đất kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 như sau:

1. Đối với trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trước ngày 01 tháng 11 năm 2007 đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật về đất đai mà người đó có nhu cầu thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất thì giải quyết như sau:

1.1.Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/TP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất (gọi là Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT), trước khi thực hiện việc công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch, Phòng Công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải liên hệ với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nơi đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) để được cung cấp thông tin địa chính;

1.2. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm cung cấp thông tin địa chính theo Mẫu số 03/PYCCC bàn hành theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT và cung cấp thêm các thông tin sau:

a) Người sử dụng đất có hay không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai;

b) Trường hợp người sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì phải cung cấp thêm thông tin là người sử dụng đất có đủ điều kiện hay không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành của pháp luật về đất đai;

1.3. Phòng Công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện công chứng hoặc chứng thực hợp đồng giao dịch đối với trường hợp sau:

a) Người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai;

b) Người sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

1.4. Việc cung cấp thông tin địa chính, việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng giao dịch và việc đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP), Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT.

2. Trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2010 (theo thời hạn hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước được quy định trong Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hội).

Việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng giao dịch, việc đăng ký giao dịch được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT.

Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện thống nhất khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2006/NĐ-CP theo hướng dẫn nêu trên; đồng thời chỉ đạo việc lập và thực hiện kế hoạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của địa phương để sớm hoàn thành trước thời hạn nêu trên.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Tài nguyên và Môi trường để được giải quyết./.

Nơi nhận:

– Như trên;

– Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

– Bộ Tư pháp;

– Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên;

– Các Sở TNMT, Sở Tư pháp;

– Vụ ĐKTKĐĐ, PC, TTr Bộ;

– Lưu VT, ĐĐ.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Trần Thế Ngọc

——————————————————————

MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ THẨM QUYỀN VỀ CÔNG VĂN SỐ 12

1. Đề nghị xử lý hai công văn hướng dẫn về đất đai có điểm chưa phù hợp

Hôm qua (14/1), ông Lê Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), Bộ Tư pháp đã ký công văn số 09/KTrVB gửi Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường và Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh.

Trao đổi với phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, ông Lê Hồng Sơn cho biết, vừa qua, để thực hiện quy định tại Điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP về thời hạn thống nhất thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất bằng giấy chứng nhận, Bộ Tài nguyên – Môi trường và UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có 2 công văn hướng dẫn về vấn đề này. Bộ Tài nguyên – Môi trường có Công văn số 12/BTNMT-ĐĐ ngày 2/1/2008 và UBND thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 9261/UBND-ĐTMT ngày 31/12/2007.  Sau khi thực hiện thẩm quyền kiểm tra văn bản, nghiên cứu nội dung của 2 công văn, Cục Kiểm tra VBQPPL đã phát hiện ra một số điểm không phù hợp.

Về Công văn số 12/BTNMT-ĐĐ ngày 2/1/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bên cạnh việc hướng dẫn, tháo gỡ những vướng mắc thì công văn đã đưa ra một số nội dung hướng dẫn mang tính quy phạm pháp luật hoặc có cách diễn đạt làm cho người đọc hiểu rằng đây là những quy định có tính quy phạm. Đặc biệt, tại mục 2 của công văn có nêu: “Trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất chậm nhất đến ngày 31/12/2010 (theo thời hạn hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước được quy định  trong Nghị quyết số 07/2007/NQ-QH12 của Quốc hội“. Cục Kiểm tra VBQPPL cho rằng Bộ Tài nguyên – Môi trường đưa ra những nội dung nêu trên vừa không bảo đảm thẩm quyền về hình thức, vừa không phù hợp với nội dung Nghị quyết số 07: “phấn đấu đến năm 2010 cơ bản hoàn thành về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tất cả các loại đất trên phạm vi toàn quốc“

Tương tự, Công văn số 9261/UBND-ĐTMT ngày 31/12/2007 của UBND thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra nội dung hướng dẫn: “… Trường hợp người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận thì vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ hai điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP…”. Cục Kiểm tra VBQPPL cho rằng Công văn số 9261 của UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành trước Công văn số 12 của Bộ Tài nguyên và Môi trường 2 ngày, khi Công văn số 12 được ban hành đã dẫn đến tình trạng nội dung của 2 công văn mâu thuẫn nhau trong cách hiểu quy định khoản 2 Điều 66 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.

Ông Sơn cho biết thêm, theo hướng dẫn tại Công văn số 9261, “khi có đủ hai điều kiện” đã dẫn đến việc áp dụng trong thực tế như sau: người sử dụng đất, tuy đã nộp hồ sơ nhưng không có các loại giấy tờ đã được quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai cũng như người sử dụng đất tuy có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 mà chưa nộp hồ sơ cũng đều bị loại ra khỏi đối tượng được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. “Như vậy, diện được hưởng quyền sẽ còn lại không nhiều, nếu không nói là quá hẹp” – ông Sơn khẳng định.

Bên cạnh việc đề nghị Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường và Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh xem xét lại nội dung 2 công văn cho bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật, Cục Kiểm tra VBQPPL cũng mở ra một hướng giải quyết. Đó là, Bộ Tài nguyên – Môi trường là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong phạm vi toàn quốc về vấn đề này, những hướng dẫn của Bộ Tài nguyên – Môi trường có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các địa phương. Do đó, Bộ Tài nguyên – Môi trường và UBND thành phố Hồ Chí Minh có thể trao đổi để thống nhất cách hiểu nội dung quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, trường hợp cần thiết có thể báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để tháo gỡ vướng mắc.

Hồng Thuý – MOJ.GOV.VN

2. Giao dịch nhà đất chưa có “sổ đỏ”: Theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên – Môi trường
Chiều 22.1, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự kinh tế (Bộ Tư pháp) Dương Đăng Huệ cho biết, trong khi chưa có hướng dẫn mới tháo gỡ vướng mắc đối với hiệu lực giao dịch của đất, nhà chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo khoản 2 Điều 66 Nghị định 84/CP) thì vẫn áp dụng theo giải thích của Bộ Tài nguyên – Môi trường tại công văn số 12.

Theo ông Dương Đăng Huệ, vướng mắc trong cách tháo gỡ của Bộ Tài nguyên – Môi trường chỉ là chưa đúng cách thức ra văn bản pháp luật, nhưng về chủ trương là đúng. Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên – Môi trường sẽ có thông tư hướng dẫn về chủ trương tháo gỡ đối với khoản 2 Điều 66 sau khi được Thủ tướng thông qua để đảm bảo nhất thể hóa và tính hợp pháp của văn bản pháp luật.

Được biết, theo công văn số 12, đối với các loại đất chưa có “sổ đỏ” nhưng có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 50 Luật Đất đai thì được thực hiện các giao dịch đến hết 31.12.2010.

(Theo Người Lao Động)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 61/2002/KHXX NGÀY 20 THÁNG 5 NĂM 2002 VỀ VIỆC CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 129/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 129/2002/KHXX NGÀY 27 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC TRAO ĐỔI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Kính gửi: Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

Sau khi nghiên cứu Công văn số 140/CV.TA năm 2002 của Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Ngoài một số nguồn nguy hiểm cao độ đã liệt kê, khoản 1 Điều 627 Bộ luật dân sự còn quy định “… các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”, quy định này được hiểu là khi pháp luật có quy định về các nguồn nguy hiểm cao độ khác ngoài các nguồn đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 627 thì mới được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, ngoài các quy định tại khoản 1 Điều 627 nêu trên, cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định thêm về vấn đề này. Đối với các loại thuốc tân dược xét về bản chất, thành phần và công dụng, thuốc tân dược được dùng để điều trị bệnh nên không được coi là nguồn nguy hiểm cao độ theo tinh thần của Điều 627 Bộ luật dân sự.

2. Về trường hợp của bà Trần Thị Diên Hồng. Theo nội dung Công văn của quý Toà thì sau khi có kết luận của Tổ chức giám định pháp y trung ương, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định đình chỉ vụ án hình sự đối với y sĩ Trần Thị Diên Hồng. Nay gia đình nạn nhân khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại; do đó, khi thụ lý để giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về dân sự của gia đình nạn nhân Mai Thị Kim Anh, Toà án cần lưu ý như sau:

Theo tinh thần quy định tại Điều 53 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30-6-1989, thì thầy thuốc vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh… nếu gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Cũng theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự thì người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng của người khác thì phải bồi thường. Như vậy, Toà án cần xác định và có kết luận y sĩ Trần Thị Diên Hồng có vi phạm các quy định về khám, chữa bệnh hay không, có được phép và có đủ năng lực để tiến hành nạo thai cho phụ nữ hay không, tai nạn xảy ra là tai nạn điều trị do sự kiện bất khả kháng hay do lỗi nghề nghiệp? Nếu có căn cứ xác định bà Trần Thị Diên Hồng không vi phạm, không có lỗi thì bà Trần Thị Diên Hồng không phải bồi thường. Nếu xác định được bà Trần Thị Diên Hồng có vi phạm, có lỗi thì bà Trần Thị Diên Hồng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, do bà Trần Thị Diên Hồng là công chức nhà nước cho nên cần làm rõ việc bà Hồng gây thiệt hại có phải trong khi thi hành công vụ hay không? Nếu bà Hồng gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ thì theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự, cơ quan nhà nước (trong trường hợp này là Trung tâm y tế huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi) phải bồi thường thiệt hại do công chức của mình gây ra. Việc bồi thường thiệt hại được giải quyết theo quy định tại Chương V Phần thứ ba Bộ luật dân sự và Nghị định số 47/CP ngày 3-5-1997 của Chính phủ “về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra”. Nếu Trung tâm y tế huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi phải bồi thường cho người bị thiệt hại thì sau khi thực hiện việc bồi thường thiệt hại xong phải có trách nhiệm yêu cầu bà Trần Thị Diên Hồng hoàn trả khoản tiền mà Trung tâm đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến trao đổi của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà nghiên cứu áp dụng, giải quyết tốt các vấn đề nghiệp vụ.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Trong nền kinh tế thị trường của nước ta, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là một trong những nội dung cơ bản để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vậy kinh tế nhà nước là gì ? Thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước? Và làm thế nào để kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo ấy ? Đó là những câu hỏi được đặt ra không chỉ cho các nhà lãnh đạo và quản lý kinh tế mà còn cho cả các nhà quản trị, kinh doanh và bất cứ ai quan tâm đến những vấn đề kinh tế của nước ta.

Kinh tế nhà nước là gì ?

Trước đây, khái niệm thường dùng là kinh tế quốc doanh để chỉ bộ phận kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước trực tiếp quản lý và kinh doanh. Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (1991) nêu rõ: “Khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”. Continue reading →

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SANG CỔ PHẦN

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP (Nghị định 109), nhằm tránh những bất cập gây khó khăn cho quá trình cổ phần hoá các Công ty nhà nước mà các Nghị định trước chưa thể hoàn thiện. Nghị định 109 chính thức bãi bỏ cơ chế bán với giá ưu đãi “giảm 20% so với giá đấu bình quân” cho nhà đầu tư chiến lược

Sau gần 3 năm thực hiện, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP (Nghị định 187) đã khắc phục được nhiều bất cập của Nghị định số 64/2002/NĐ-CP. Tuy nhiên, trước những thay đổi của thực tiễn cổ phần hoá các Công ty nhà nước, Nghị định 187 đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, gây khó khăn cho quá trình cổ phần hoá.

Nhằm khắc phục những điểm bất cập của Nghị định 187, ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần, Nghị định 109 được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến mới trong việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá Công ty nhà nước được Chính phủ duy trì từ năm 1992.

Dưới đây là một số nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định 109:

1.Đối tượng cổ phần hoá theo Nghị định 109 đã được mở rộng, không chỉ bao gồm các Công ty nhà nước độc lập mà còn cả các Tổng Công ty nhà nước, Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Công ty con và Công ty TNHH do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Việc mở rộng đối tượng cổ phần hoá là hoàn toàn phù hợp với chủ trương nhà nước chỉ nắm giữ quyền chi phối đối với các doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế và từng bước giảm bớt sự tham gia của nhà nước vào quản lý doanh nghiệp, theo tinh thần của Quyết định số 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ, về tiêu chí, danh mục phân loại Công ty 100% vốn nhà nước. Quy định này đồng thời cụ thể hoá Quyết định số 1729/QĐ-TTg, ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt danh sách các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước thực hiện cổ phần hoá giai đoạn 2007-2010.

2.Vấn đề nhà đầu tư chiến lược trong một thời gian dài gây nhiều tranh cãi do quy định chưa rõ ràng cũng đã được thể hiện chi tiết và cụ thể hơn trong Nghị định 109.

Khái niệm nhà đầu tư chiến lược đã được mở rộng cho cả nhà đầu tư nước ngoài (Điều 6.3.a). Điều này không những đã mở rộng cửa cho doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá chủ động thu hút vốn, kinh nghiệm và nguồn lực của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chủ động đàm phán, tham gia đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

3.Sau một số vấn đề phát sinh liên quan đến giá bán ưu đãi danh cho nhà đầu tư chiến lược (trong nước), Nghị định 109 chính thức bãi bỏ cơ chế bán với giá ưu đãi “giảm 20% so với giá đấu bình quân” cho nhà đầu tư chiến lược (trong nước).

Theo quy định mới, nhà đầu tư chiến lược hiện nay được mua theo giá “không thấp hơn giá đấu thành công bình quân”. Đối với Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước (gồm ngân hàng thương mại nhà nước), nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hoá phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược.

Một điểm đáng lưu ý là, nhà đầu tư chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 3 năm, kể từ ngày Công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn trên phải được đại hội đồng cổ đông chấp thuận.

4.Nghị định 109 quy định về các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá, trong đó có đề cập cụ thể tới phương pháp tài sản và phương pháp dùng tiền chiết khấu. Trong mọi trường hợp, giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản.

5.Một trong những vấn đề quan trọng được kỳ vọng sửa đổi trong Nghị định 109 đó là việc định giá tài sản, đặc biệt đối với giá trị quyền sử dụng đất trong các trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm, trả tiền 1 lần và giao đất. Theo Nghị định 187, đất thuê trả tiền hàng năm sẽ không được tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá. Tuy nhiên, Nghị định 109 đã gắn giá trị thị trường khi xác định giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng đất thuê trả tiền 1 lần hoặc trên cơ sở xin giao đất.

6.Nghị định 109 cũng đã cụ thể hoá mục tiêu gắn cổ phần hoá với phát triển thị trường vốn bằng các quy định liên quan đến thực hiện công khai minh bạch thông tin và niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp cổ phần hoá có tình hình tài chính đáp ứng đủ điều kiện niêm yết theo quy định của pháp luật về chứng khoán phải xây dựng phương án cổ phần hoá, đảm bảo cơ cấu cổ đông thực hiện niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán.

7.Cơ cấu bán cổ phần lần đầu cũng được điều chỉnh theo hướng gia tăng việc nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư bên ngoài trong Công ty cổ phần. Theo đó, cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư bên ngoài khác không thấp hơn 25% vốn điều lệ và không hạn chế số lượng đối với nhà đầu tư chiến lược, nhưng phải đảm bảo số cổ phần bán cho nhà đầu tư bên ngoài khác không thấp hơn 50% tổng số cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược. Ngay cả khi nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư bên ngoài khác cũng không được thấp hơn 20% vốn điều lệ.

8.Nghị định 109 bổ sung vào nội dung bán cổ phần lần đầu phương thức bảo lãnh phát hành và thoả thuận trực tiếp. Biện pháp này phù hợp với các quy định của pháp luật chứng khoán và yêu cầu đối với các doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán khi cổ phần hoá.

9.Nhằm đảm bảo sự tham gia và quyền lợi của người lao động trong Công ty cổ phần, Nghị định 109 cho phép tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp mua cổ phần bằng nguồn quỹ hợp pháp (không huy động, vay vốn) với số lượng không quá 3% vốn điều lệ. Giá mua cổ phần của công đoàn sẽ là giá ưu đãi cho người lao động.

10.Nghị định 109 xoá bỏ cơ chế tự tổ chức chào bán cổ phần đối với các doanh nghiệp mà phần trị giá chào bán dưới 1 tỷ đồng. Thay vào đó, việc tổ chức đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian sẽ được thực hiện nếu khối lượng cổ phần bán ra dưới 10 tỷ đồng và tại Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán nếu từ 10 tỷ đồng trở lên.

11.Nghị định 109 cũng quy định về phương thức xử lý đối với số lượng cổ phần nhà đầu tư từ chối mua trong đấu giá bán cổ phần lần đầu. Nếu số lượng cổ phần từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào bán, số cổ phần còn lại sẽ được xem xét và quyết định bán tiếp cho các nhà đầu tư đã tham dự đấu giá. Nếu số lượng cổ phần từ chối mua bằng hoặc lớn hơn 30% tổng số cổ phần chào bán, doanh nghiệp phải tổ chức đấu giá để bán tiếp số cổ phần bị từ chối mua.

Nếu số lượng cổ phần không bán hết còn lại dưới 50%, thì điều chỉnh quy mô, cơ cấu vốn điều lệ, tăng phần vốn nhà nước góp tại doanh nghiệp, để chuyển thành Công ty cổ phần. Nếu còn lại từ 50% trở lên, sẽ xem xét, điều chỉnh giảm giá khởi điểm, tối đa bằng mệnh giá cổ phần và tổ chức đấu giá bán tiếp số cổ phần còn lại.

12.Khắc phục các điểm bất cập của Nghị định 187, Nghị định 109 đã quy định rõ ràng điều lệ Công ty cổ phần phải do Ban chỉ đạo cổ phần hoá của doanh nghiệp dự thảo và được công bố cho các nhà đầu tư trước khi bán cổ phần. Theo Nghị định 109, điều lệ của Công ty cổ phần được đại hội đồng cổ đông lần đầu thông qua khi có ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của các nhà đầu tư góp vốn mua cổ phần dự họp chấp thuận.

Ngoài những điểm mới, sửa đổi bổ sung quan trọng nêu trên, Nghị định 109 cũng quy định một số điểm sửa đổi, bổ sung khác so với Nghị định 187, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những điều chỉnh quan trọng nói trên, góp phần đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra đối với quá trình cổ phần hoá Công ty nhà nước, tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho các nhà đầu tư bên ngoài cả trong và ngoài nước tham gia.

(Nguồn: NCĐT)