Khái niệm, đặc điểm, phân loại BẤT ĐỘNG SẢN

POKKIN  – Cục Quản lý nhà, Bộ Xây dựng

I. Khái niệm về bất động sản

V iệc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, cải tiến trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm công trình xây dựng, yên tĩnh, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.

 P háp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở nơi bất động sản (BĐS) bao gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp của mỗi nước cũng có những đặc thù riêng có thể hiện diện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giới giữa hai khái niệm bất động sản sản phẩm ”.

H đầu hết các nước đều coi BĐS là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng Pháp , Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Nga, Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức…). Tuy nhiên, Nga quy cụ thể bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi nhận điều này đã được giải quyết bởi đất đai nói chung là một bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân cư.

Tuy nhiên, mỗi nước lại có những quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai được coi là BĐS. Điều 520 Luật Dân sự Pháp động quy định “mùa ngủ chưa sâu, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, dù đã bứt khỏi cây được coi là sản phẩm”. Tương tự, quy định này cũng được áp dụng ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ. Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “BĐS là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”. Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm BĐS bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất.

N hư vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất , miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai”, và làm vậy là BĐS; thứ hai , không thích giải thích khái niệm này và hướng dẫn các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”.

Luật Dân sự Nga năm 1994 quy định về BĐS có những điểm khác biệt đáng chú ý đối với hệ thống truyền thông Luật Dân sự. Điều 130 của Luật này là một mặt , danh sách tương tự theo cách của hệ thống truyền thông Luật Dân sự; một mặt khác được đưa ra khái niệm chung về BĐS là “những đối tượng dịch chuyển sẽ gây tổn hại đến giá trị của chúng”. Ven bờ biển, Luật này còn liệt kê những vật không liên quan gì đến đất đai như “tàu biển, máy bay, phương tiện vũ trụ…” cũng là các BĐS.

Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tại Điều 174 có quy định: “ Động đất là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà xây dựng dự án Liền kề đất đai, kể cả các tài sản và nhà ở , công trình xây dựng dự án đó ; Các tài sản khác được gắn liền với tôi ; Các tài sản khác do pháp luật định nghĩa ”.

N hư vậy, khái niệm BĐS rất rộng, đa dạng và cần được quy định cụ thể bằng luật pháp của mỗi nước và có những tài sản có gia đình quốc gia cho BĐS BĐS là BĐS, khi quốc gia khác lại liệt kê vào danh sách mục TT. Hơn nữa, các quy định về BĐS trong luật pháp của Việt Nam là khái niệm mở cho đến nay chưa có các quy định cụ thể nào liệt kê các tài sản này

II. Đặc điểm của bất động sản

1. Tính cá đặc biệt và khan hiếm: Đặc điểm này của sản phẩm sản xuất được phát hiện từ tính cá đặc biệt và tính khan hiếm của đất đai đai. Tính khan hiếm của đất đai là diện tích mặt trái đất có giới hạn. Tính khan hiếm cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng mảnh đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ vv. Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không thể dịch chuyển của đất đai nên hàng hóa có tính đặc biệt. Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS biên giới nhau đều có những điều yếu tố không giống nhau. Trên thị trường BĐS khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng xây dựng theo một thiết kế. Ngay tại một tòa nhà cao ốc thì các căn hộ cũng có hướng và cơ sở hạ tầng khác nhau. Ngoài ra, chính các nhà tư vấn, kiến ​​trúc sư đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo ra sự hấp dẫn dẫn dắt cho khách hàng hoặc mãn sở thích cá nhân vv.

2. Tính bền lâu: Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như không thể vô duyên, trừ khi có thiên tai, ven bờ, tuyết ven. Đồng thời, các kiến ​​trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tiến để tạo cấp độ nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, tính bền vững lâu dài của BĐS chỉ là tuổi thọ của kiến ​​trúc vật liệu và công trình xây dựng. Cần phân biệt “tuổi thọ vật lý” và “tuổi thọ kinh tế” của BĐS. Tuổi thọ kinh tế chấm dứt trong điều kiện thị trường và trạng thái bình thường mà chi phí sử dụng bất động sản ngang bằng với lợi ích thu được từ bất động sản đó. Tuổi thọ vật lý dài hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó chấm dứt khi các cấu trúc chịu lực chủ yếu yếu của vật kiến ​​trúc và công trình xây dựng tòa nhà lão hóa và hư hỏng không thể tiếp tục an toàn cho công việc sử dụng . Trong trường hợp đó, nếu xét thấy tiến hành cải tiến, nâng cấp BĐS thu được nhiều lợi ích hơn là khám phá và xây dựng mới thì có thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa” được nhiều lần tuổi thọ kinh tế. Thực tế, các nước trên thế giới đã được chứng minh tuổi thọ kinh tế của BĐS có liên quan đến tính chất sử dụng của BĐS đó. Nói chung, tuổi thọ kinh tế của nhà ở, khách sạn, nhà hát là trên 40 năm; của tuổi thọ kinh tế nhà xưởng công nghiệp, nhà ở phổ thông là trên 45 năm vv. Chính vì tính chất vững chắc của hàng hóa BĐS là do đất đai không bị mất đi, không bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng vào nhiều mục tiêu khác nhau nên hàng hóa BĐS rất phong phú và đa dạng dạng, không bao giờ cạn. 

3. Tính chịu đựng những ảnh hưởng lẫn nhau: BĐS chịu đựng những ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể là tác động của BĐS khác. Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước tư vấn xây dựng công cụ cấu hình các tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cao giá trị sử dụng của BĐS trong khu vực đó. Trong thực tế, việc xây dựng BĐS này làm tôn lên vẻ đẹp và sự hấp dẫn của các loại BĐS khác đã trở thành một biểu tượng phổ biến khác.

4. Các tính chất khác: a. Tính thích ứng: Lợi ích của BĐS được sinh ra trong quá trình sử dụng. Bất kỳ sản phẩm nào trong quá trình sử dụng đều có thể điều chỉnh công việc nhưng vẫn giữ các chi tiết cụ thể của nó, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người dùng trong thời gian mãn kinh nhu cầu sinh hoạt, sản phẩm sản phẩm sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. b. Phụ thuộc vào năng lực quản lý: Hàng hóa đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng hóa thông thường khác. Công việc xây dựng bất động sản rất phức tạp, chi phí lớn trong thời gian dài. Do đó, BĐS Đòi hỏi cần có khả năng quản lý hợp lý và tương xứng. c. Mang nặng yếu tố tập quán, thị giác nguy hiểm và tâm lý xã hội: Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hóa thông thường khác. Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào thị giác, tập quán của người dân sinh sống tại đó. Yếu tố tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh vv. chi phối nhu cầu và hình thức BĐS.

III. Phân loại Bất động sản

Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, bất động sản có thể phân thành ba loại: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS đầu tư xây dựng và BĐS đặc biệt.

Bất động sản đầu tư xây dựng bao gồm: BĐS nhà ở, BĐS nhà xưởng và công trình thương mại dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm việc vv. Trong BĐS có đầu tư xây dựng thì nhóm BĐS nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản, sử dụng tỷ trọng rất lớn, tính chất phức tạp rất cao và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhóm này có tác động rất lớn đến quá trình phát triển doanh nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước cũng như phát triển đô thị bền vững. Nhưng quan trọng hơn là nhóm BĐS này sử dụng rất nhiều giao dịch trên thị trường BĐS ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới.

Bất động sản không đầu tư xây dựng: Bất động sản thuộc loại này chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất sét , đất chưa được sử dụng vv.

Bất động sản đặc biệt là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hóa vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu lừa, nghĩa trang vv. Đặc điểm của loại BĐS này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.

Việc phân chia bất động sản theo 3 loại trên đây là rất cần thiết để đảm bảo xây dựng cơ chế chính sách phát triển và quản lý thị trường bất động sản phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của nước ta.

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG


HÀNG HÓA BẤT ĐỘNG SẢN

Vũ Thị Ngọc Lan

1. Khái niệm và đặc trưng của sản phẩm

Hàng hóa bất động sản bao gồm 2 loại chủ yếu:

  • Đất đai

  • Cấu hình đã được xây dựng xong.

Hàng hoá BĐS có 2 đặc tính quan trọng khác như: Tính toán cố định và Giá trị của nó phụ thuộc nhiều vào mục tiêu sử dụng.

1.1. Cố định tính toán là đặc thù của các loại động vật hoang dã với các loại hàng hóa khác

  • Các hàng hóa khác, người bán, người mua có thể dễ dàng bán hàng hóa về nơi nào có ý nhưng với BĐS thì không thể rời xa. Nhân chủ của nó phải chuyển đến nơi có BĐS.

  • Hàng hóa địa ốc không thể trưng bày ở trường (siêu thị – chợ) để hiển thị như các loại hàng hóa khác mà phải giới thiệu thông tin mô tả bằng mô hình, hình ảnh, bản vẽ hoặc các mô tả khác.

  • Tính toán cố định vẫn tạo ra hàng hóa BĐS mang tính địa điểm và tính chất địa phương rất cao. Cùng một loại BĐS nhưng ở những địa điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau.

1.2. Giá trị hàng hoá BĐS có đặc thù khác với các loại BĐS khác

Giá trị của hàng hoá BĐS phụ thuộc vào mục đích sử dụng của chúng hay nói cách khác là phụ thuộc vào tác động của yếu tố con người làm tăng khả năng sinh lời của BĐS. Khi đất đai được quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp hoặc lâm nghiệp thường có giá trị thấp hơn so với trường hợp đất đai được quy hoạch phát triển nhà ở hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại… Nói cách khác, hoạt động công quy chiến lược có vai trò quyết định đối với giá trị chung của BĐS nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói riêng.

1.3. Các loại quyền liên quan đến BĐS

  • Quyền sở hữu: bao gồm quyền sử dụng, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

  • Quyền sử dụng: Là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc định nghĩa luật pháp.

  • Quyền định nghĩa: là quyền của chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định giá khác cho tài sản.

  • Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ 3 quyền là quyền sử dụng, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.

  • Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản sở hữu trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao luật.

  • Quyền chủ hữu: là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. ở nước ta, chế độ sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân mà nhà nước là người đại diện cho quyền sở hữu đất đai, chỉ có Nhà nước mới có quyền giao hoặc cho thuê đất, trong hoạt động của thị trường giao hoặc cho thuê đất (thị trường sơ cấp), Nhà nước có vai trò độc quyền và định giá hoàn toàn.

2. Điều kiện để BĐS trở thành hàng hóa trên thị trường

  • BĐS được coi là hàng hoá của thị trường khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Bất kỳ sản phẩm nào cũng phải có chủ sở hữu, phải được pháp luật cho phép và phải có đủ điều kiện để giao dịch. Cụ thể là có quyền sở hữu xác thực (có giấy chứng nhận), không sử dụng khóa thuộc tính vùng, không nằm trong quy hoạch phải chuyển hoặc thay đổi mục tiêu sử dụng mục tiêu của Nhà nước và không gây ô nhiễm môi trường .


NGUYÊN:  Mạng các sàn giao dịch Bất động sản Việt Nam

KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI BẤT ĐỘNG SẢN

PoKKin
Cục Quản lý nhà

I. Khái niệm về bất động sản

Việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi bất động sản (BĐS) gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm bất động sản và động sản”.

Hầu hết các nước đều coi BĐS là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp, Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…). Tuy nhiên, Nga quy định cụ thể bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự.

Tuy nhiên, mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai được coi là BĐS. Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản”. Tương tự, quy định này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ. Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “BĐS là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”. Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm BĐS bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất.

Như vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất, miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai”, và do vậy là BĐS; thứ hai, không giải thích rõ về khái niệm này và dẫn tới các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”.

Luật Dân sự Nga năm 1994 quy định về BĐS đã có những điểm khác biệt đáng chú ý so với các Luật Dân sự truyền thống. Điều 130 của Luật này một mặt, liệt kê tương tự theo cách của các Luật Dân sự truyền thống; mặt khác, đưa ra khái niệm chung về BĐS là “những đối tượng mà dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến giá trị của chúng”. Bên cạnh đó, Luật này còn liệt kê những vật không liên quan gì đến đất đai như “tàu biển, máy bay, phương tiện vũ trụ…” cũng là các BĐS.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tại Điều 174 có quy định: “BĐS là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn lin vi nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định”.

Như vậy, khái niệm BĐS rất rộng, đa dạng và cần được quy định cụ thể bằng pháp luật của mỗi nước và có những tài sản có quốc gia cho là BĐS, trong khi quốc gia khác lại liệt kê vào danh mục BĐS. Hơn nữa, các quy định về BĐS trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở mà cho đến nay chưa có các quy định cụ thể danh mục các tài sản này

II. Đặc điểm của bất động sản

1. Tính cá biệt và khan hiếm:
Đặc điểm này của BĐS xuất phát từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai. Tính khan hiếm của đất đai là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn. Tính khan hiếm cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ v.v.. Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá BĐS có tính cá biệt. Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau. Trên thị trường BĐS khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng xây theo một thiết kế. Ngay trong một toà cao ốc thì các căn phòng cũng có hướng và cấu tạo nhà khác nhau. Ngoài ra, chính các nhà đầu tư, kiến trúc sư đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo sự hấp dẫn đối với khách hàng hoặc thoả mãn sở thích cá nhân v.v..
2. Tính bền lâu:
Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp. Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, tính bền lâu của BĐS là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dựng.
Cần phân biệt “tuổi thọ vật lý” và “tuổi thọ kinh tế” của BĐS. Tuổi thọ kinh tế chấm dứt trong điều kiện thị trường và trạng thái hoạt động bình thường mà chi phí sử dụng BĐS lại ngang bằng với lợi ích thu được từ BĐS đó. Tuổi thọ vật lý dài hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu của vật kiến trúc và công trình xây dựng bị lão hoá và hư hỏng, không thể tiếp tục an toàn cho việc sử dụng. Trong trường hợp đó, nếu xét thấy tiến hành cải tạo, nâng cấp BĐS thu được lợi ích lớn hơn là phá đi và xây dựng mới thì có thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa” được mấy lần tuổi thọ kinh tế. Thực tế, các nước trên thế giới đã chứng minh tuổi thọ kinh tế của BĐS có liên quan đến tính chất sử dụng của BĐS đó. Nói chung, tuổi thọ kinh tế của nhà ở, khách sạn, nhà hát là trên 40 năm; của tuổi thọ kinh tế nhà xưởng công nghiệp, nhà ở phổ thông là trên 45 năm v.v.. Chính vì tính chất lâu bền của hàng hoá BĐS là do đất đai không bị mất đi, không bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nên hàng hoá BĐS rất phong phú và đa dạng, không bao giờ cạn.

3. Tính chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau:
BĐS chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể bị tác động của BĐS khác. Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cáo giá trị sử dụng của BĐS trong khu vực đó. Trong thực tế, việc xây dựng BĐS này làm tôn thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn của BĐS khác là hiện tượng khá phổ biến.
4. Các tính chất khác:
a. Tính thích ứng:
Lợi ích của BĐS được sinh ra trong quá trình sử dụng. BĐS trong quá trình sử dụng có thể điều chỉnh công năng mà vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong việc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, sản xuất-kinh doanh và các hoạt động khác.
b. Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý:
Hàng hoá BĐS đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng hoá thông thường khác. Việc đầu tư xây dựng BĐS rất phức tạp, chi phí lớn, thời gian dài. Do đó, BĐS đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng.
c. Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội:
Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá thông thường khác. Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó. Yếu tố tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh v.v.. chi phối nhu cầu và hình thức BĐS.

III. Phân loại Bất động sản

Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, bất động sản có thể phân thành ba loại: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS đầu tư xây dựng và BĐS sản đặc biệt.

Bất động sản có đầu tư xây dựng gồm: BĐS nhà ở, BĐS nhà xưởng và công trình thương mại- dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm việc v.v.. Trong BĐS có đầu tư xây dựng thì nhóm BĐS nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, tính chất phức tạp rất cao và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhóm này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như phát triển đô thị bền vững. Nhưng quan trọng hơn là nhóm BĐS này chiếm tuyệt đại đa số các giao dịch trên thị trường BĐS ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới.

Bất động sản không đầu tư xây dựng: BĐS thuộc loại này chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng v.v..

Bất động sản đặc biệt là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v.. Đặc điểm của loại BĐS này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.

Việc phân chia BĐS theo 3 loại trên đây là rất cần thiết bảo đảm cho việc xây dựng cơ chế chính sách về phát triển và quản lý thị trường bất động sản phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của nước ta.

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

============================================

HÀNG HÓA BẤT ĐỘNG SẢN

Vũ Thị Ngọc Lan

1/Khái niệm và đặc trưng của hàng hoá bất động sản.

Hàng hóa bất động sản bao gồm 2 loại chủ yếu:

  • Đất đai

  • Vật kiến trúc đã xây dựng xong.

Hàng hoá BĐS có 2 đặc tính quan trọng khác như: Tính cố định vàGiá trị của nó phụ thuộc nhiều vào mục đích sử dụng.

1.1.Tính cố định là đặc trưng khác biệt của hàng hoá BĐS so với các hàng hoá khác.

  • Các hàng hoá khác, người bán, người mua có thể dễ dàng đem hàng hoá về nơi nào tuỳ ý nhưng với BĐS thì không thể di dời được.Chủ nhân của nó phải chuyển đến nơi có BĐS.

  • Hàng hoá BĐS không thể đem ra thị trường (siêu thị – chợ) để trưng bày như các loại hàng hoá khác mà phải giới thiệu thông qua mô tả bằng mô hình, hình ảnh, bản vẽ, hoặc các mô tả khác.

  • Tính cố định còn tạo hàng hoá BĐS mang “tính địa điểm” và “tính địa phương” rất cao. Cùng một loại BĐS nhưng ở những địa điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau.

1.2. Giá trị hàng hoá BĐS có đặc thù khác biệt so với các loại BĐS khác.

Giá trị của hàng hoá BĐS phụ thuộc vào mục đích sử dụng chúng hay nói cách khác là phụ thuộc vào sự tác động của yếu tố con người làm tăng khả năng sinh lời của BĐS. Khi đất đai được quy hoạch vào sản xuất nông nghiệp hoặc lâm nghiệp thường có giá trị thấp hơn so với trường hợp đất đai đó được quy hoạch phát triển nhà ở hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại… Nói cách khác, công tác quy hoạch có vai trò ảnh hưởng quyết định đối với giá trị BĐS nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói riêng.

1.3 Các loại quyền liên quan đến BĐS

  • Quyền sở hữu: gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

  • Quyền sử dụng: Là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
    Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong
    các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định.

  • Quyền định đoạt: là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản.

  • Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ 3 quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.

  • Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao do pháp luật quy định.

  • Quyền chiếm hữu: là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình.
    ở nước ta, chế độ sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân mà nhà nước là người đại diện cho quyền sở hữu đất đai, chỉ có Nhà nước mới có quyền giao hoặc cho thuê đất, trong hoạt động của thị trường giao hoặc cho thuê đất (thị trường sơ cấp), Nhà nước có vai trò độc quyền và định đoạt hoàn toàn.

2/ Điều kiện để BĐS trở thành hàng hoá trên thị trường

  • BĐS chỉ được coi là hàng hoá của thị trường khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:

  • BĐS phải có chủ sở hữu cụ thể, phải được pháp luật cho phép và phải có đủ điều kiện để giao dịch. Cụ thể như có xác nhận quyền sở hữu (có giấy chứng nhận), không thuộc vùng cấm sử dụng, không nằm trong vùng quy hoạch phải di dời hoặc thay đổi mục đích sử dụng theo kế hoạch của Nhà nước và không gây ô nhiễm môi trường.

SOURCE: MẠNG CÁC SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ

NGUYỄN MẠNH KHỞI

Như chúng ta đã biết, ngày 29 tháng 11 năm 2006 Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng (Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2007). Theo quy định của Luật Công chứng thì từ ngày 01/7/2007 các Phòng Công chứng nhà nước hoặc Văn phòng công chứng tư là cơ quan có thẩm quyền thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng hoặc theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân, trong các loại giao dịch đó có các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản như hợp đồng mua bán, cho thuê, tặng cho, văn bản thừa kế nhà đất… Sau khi có Luật Công chứng, ngày 18/5/2007 Chính phủ đã ban hành tiếp Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về chứng thực bản sao và chữ ký, theo đó việc chứng thực bản sao hoặc chứng thực chữ ký sẽ do các Phòng tư pháp quận, huyện và UBND cấp xã thực hiện.

Như vậy, sau khi có hai văn nêu trên, UBND cấp huyện hoặc UBND cấp xã đã không có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch mà chỉ có thẩm quyền chứng thực bản sao hoặc chứng thực chữ ký. Có thể nói, quy định này là phù hợp với chủ trương “xã hội hóa” một số công việc của Nhà nước trong quá trình cải cách thủ tục hành chính của Nhà nước ta, chuyển dần việc Nhà nước trực tiếp thực hiện xác nhận, công nhận các giao dịch, hợp đồng sang cho các tổ chức không thuộc Nhà nước có năng lực thực hiện.

Thực tế, sau một thời gian triển khai thực hiện các quy định nêu trên, đã xuất hiện những vấn đề cần nghiên cứu để không chỉ bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của pháp luật mà còn phù hợp với thực tiễn của đất nước ta trong giai đoàn hiện nay. Như chúng ta đã biết, trước khi có Luật Công chứng thì pháp luật về đất đai và nhà ở đã có các quy định cụ thể về thủ tục công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản, nhìn chung trong cả nước thì các quy định này là phù hợp với thực tế, bảo đảm Nhà nước thực hiện quản lý có hiệu quả các giao dịch này. Theo pháp luật đất đai thì các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất nếu do các tổ chức hoặc người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài ký kết thì phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước; nếu do các hộ gia đình, cá nhân trong nước ký kết thì thực hiện công chứng tại UBND cấp xã; đối với các giao dịch về quyền sử dụng đất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất…thì phải có xác nhận của Ban quản lý dự án khu công nghiệp. Luật Nhà ở năm 2005 đã quy định các hợp đồng, giao dịch về nhà ở nếu tại đô thị thì phải có chứng nhận của cơ quan công chứng hoặc UBND cấp huyện, nếu tại nông thôn thì phải có chứng nhận của UBND cấp xã, trừ một số trường hợp như hợp đồng thuê mua nhà ở, hợp đồng thuê nhà của cá nhân có thời hạn dưới 6 tháng… Như vậy, pháp luật về nhà ở đã phân khu vực khi quy định về thủ tục công chứng các hợp đồng về nhà ở, việc phân vùng này là phù hợp với thực tế của hầu hết các tỉnh, thành, vì sẽ giảm bớt sự đi lại, tránh mất thời gian và đỡ tốn kém cho các bên ký kết hợp đồng, mặt khác tại khu vực nông thôn thì việc giao cho UBND cấp xã chứng nhận hợp đồng về nhà ở cũng sẽ giúp các xã quản lý có hiệu quả các giao dịch này.

Sau khi có Luật Công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP thì UBND cấp huyện hoặc UBND cấp xã đã không thực hiện việc chứng nhận các hợp đồng về bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về nhà ở. Thực tế cho thấy, tại khu vực đô thị thì việc áp dụng các quy định của Luật Công chứng là phù hợp vì sẽ thuận tiện cho các bên ký kết hợp đồng, tuy nhiên trong giai đoạn trước mắt hiện nay rất nhiều tỉnh chỉ có một hoặc hai Phòng Công chứng và chưa có Văn Phòng công chứng tư nào được thành lập theo Luật Công chứng, nếu yêu cầu phải công chứng hợp đồng về bất động sản tại Phòng công chứng thì sẽ rất khó khăn cho các bên tham gia ký kết hợp đồng và thực tế rất nhiều trường hợp đã không thực hiện thủ tục công chứng này và họ đồng ý với việc mua bán trao tay “giao dịch chui”, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, hiện nay các địa phương cũng đang lúng túng trong việc thực hiện Luật, bởi lẻ theo quy định của Luật Nhà ở thì trong trường hợp các Luật khác có quy định khác với Luật Nhà ở thì thực hiện theo Luật Nhà ở, nhưng lĩnh vực công chứng là Luật chuyên ngành thì phải thực hiện theo Luật Công chứng. Sự quy định khác nhau này đã dẫn đến hai vấn đề, đó là các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện của các địa phương và đặc biệt là hậu quả pháp lý của việc chứng nhận hợp đồng khi có tranh chấp xảy ra, toà án sẽ áp dụng luật nào để tuyên xử hợp đồng đó là có hiệu lực hoặc bị vô hiệu do vi phạm thủ tục chứng nhận ?

Qua thực tế cho thấy, trong giai đoạn hiện nay cần thiết nên tiếp tục cho phép UBND cấp xã tại khu vực nông thôn được chứng nhận các hợp đồng về bất động sản. Sau một thời gian từ 3 -5 năm áp dụng, khi chúng ta đã có một mạng lưới các Văn Phòng công chứng tư thì sẽ chuyển các việc này sang Văn phòng công chứng, như vậy sẽ tránh được những vướng mắc và phù hợp với thực tế hiện nay ở nước ta.

Đây là vấn đề quan trọng trong hoạt động quản lý của Nhà nước về lĩnh vực bất động sản, nếu chúng ta có những quy định thuận tiện, dễ dàng cho người dân thực hiện thì không những sẽ quản lý được một cách có hiệu quả các giao dịch mà còn tạo điều kiện để Nhà nước thu được một khoản tiền cho ngân sách Nhà nước./.

SOURCE: MẠNG CÁC SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở

Các hợp đồng, văn bản nhà ở bắt buộc phải có công chứng gồm: + Hợp đồng mua bán nhà ở giữa cá nhân với cá nhân,+ Hợp đồng tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân,

 

+ Hợp đồng thế chấp nhà ở,

+ Hợp đồng thuê nhà ở của cá nhân có thời hạn từ 6 tháng trở lên,

+ Biên bản phân chia di sản thừa kế;

+ Văn bản khai nhận di sản thừa kế.

A. Công chứng hợp đồng, giao dịch được soạn sẵn

1. Hồ sơ công chứng hợp đồng, giao dịch về nhà ở

– Phiếu yêu cầu công chứng (do cơ quan công chứng cũng cấp);

– Dự thảo hợp đồng, giao dịch;

– Bản sao giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở;

– Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

Nếu là Việt kiều phải kèm theo các giấy tờ chứnh minh đủ điều kiện được tham gia giao dịch về nhà ở như Hộ chiếu hợp lệ, Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Thủ tục công chứng Bước 1: Các bên đến công chứng nộp hồ sơ cho công chứng viên, khi đi đem theo bản chính giấy tờ sở hữu nhà ở để công chứng viên đối chiếuBước 2: Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ và vào sổ công chứng

 

Trường hợp cần làm rõ các vấn đề liên quan thì yêu cầu người đề nghị công chứng giải trình hoặc tiến hành thẩm tra, xác minh. Nếu không làm rõ được thì trả lại hồ sơ công chứng

Bước 3:Công chứng viên kiểm tra dự thảo, nếu có nội dung sai pháp luật thì yêu cầu người đề nghị công chứng chỉnh sửa lại dự thảo. Nếu dự thảo không được chỉnh sửa lại thì từ chối công chứng và trả lại hồ sơ công chứngBước 4:Các bên đọc lại dự thảo và ký vào hợp đồng, giao dịch. Côg chứng viên chứng nhận vào hợp đồng, giao dịch.Bước 5: Bên yêu cầu công chứng nộp lệ phí công chứng và nhận lại hợp đồng, giao dịch đã được công chứng. B. Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo 1. Hồ sơ công chứng hợp đồng, giao dịch về nhà ở– Phiếu yêu cầu công chứng;– Bản sao giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở;

 

 

 

– Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

Nếu là Việt kiều phải kèm theo các giấy tờ chứnh minh đủ điều kiện được tham gia giao dịch về nhà ở như Hộ chiếu hợp lệ, Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch Bước 1: Các bên đến công chứng nộp hồ sơ cho công chứng viên, khi đi đem theo bản chính giấy tờ sở hữu nhà ở để công chứng viên đối chiếu;Bước 2: Cơ quan công chứng xem xét, nếu các bên đủ điều kiện tham gia giao dịch thì lập hợp đồng. Nếu thấy cần thiết thì kiểm tra, xác minh.

 

Bước 3: Các bên đọc lại hợp đồng, giao dịch, nếu đồng ý thì ký vào hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên chứng nhận vào hợp đồng, giao dịch;

Bước 4:Người đề nghị công chứng nộp lệ phí công chứng và nhận lại hợp đồng, giao dịch đã công chứng.Thời hạn công chứng:không quá 02 ngày làm việc. Nếu hợp đồng, giao dịch phức tạp thì tối đa không quá 10 ngày làm việc. Thời hạn kiểm tra, xác minh (nếu có) không tính vào thời hạn công chứng

 

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC MUA BÁN NHÀ Ở

Vũ Anh – Cục Quản lý nhà
Cục Quản lý nhà

I. GIAO DỊCH MUA BÁN NHÀ Ở

A. Mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ mua bán nhà ở nộp cho cơ quan quản lý nhà ở bao gồm:

– Hợp đồng mua bán có chứng nhận của công chứng Nhà nước

– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi nhận nhà ở…

– Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).

Đối với cá nhân là người Việt kiều còn phải kèm theo giấy tờ như: bản sao Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam

2. Về trình tự, thủ tục mua bán nhà ở:

Bước 1: Các bên mua bán đến lập hợp đồng mua bán tại cơ quan công chứng (không phân biệt địa bàn), kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở và giấy tờ tuỳ thân. Hợp đồng có thể được soạn sẵn hoặc do công chứng viên soạn.

Bước 2: Một trong hai bên nộp hồ sơ mua bán tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức).

Trường hợp bán một phần nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở thì phải kèm theo bản vẽ sơ đồ diện tích nhà ở, đất ở có thẩm tra của của cơ quan quản lý nhà ở nếu tại đô thị, có xác nhận của UBND cấp xã nếu tại nông thôn.

Bước 3: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

Bước 4: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế.

Bước 5

: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

Theo quy định của pháp luật, các tỉnh, thành phố sẽ có quy định cụ thể trình tự chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở cho phù hợp với từng địa phương.

B. Mua bán nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1.

Về hồ sơ mua bán bao gồm:

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của Luật nhà ở (chỉ có quyền sở hữu nhà ở trên đất của người khác như xây dựng nhà ở trên đất thuê, đất mượn);

– Hợp đồng mua bán nhà ở có chứng nhận của công chứng Nhà nước;

– Bản kê khai nộp lệ phí trước bạ nhà ở.

Đối với cá nhân là người Việt kiều còn phải kèm theo giấy tờ như: bản sao Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam

2. Về trình tự, thủ tục mua bán nhà ở

Trình tự, thủ tục mua bán nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp mua bán nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.

Trong trường hợp này bên bán không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà bên mua chỉ phải nộp lệ phí trước bạ (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).

Người mua chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

VẤN ĐỀ LƯU Ý:

Hướng dẫn trên đây chỉ mang tính quy định chung. Căn cứ vào tình hình cụ thể, các địa phương hoặc Ngân hàng sẽ ban hành quy trình cụ thể để áp dụng cho từng trường hợp. Do vậy, những người có nhu cầu nên đến cơ quan quản lý nhà ở nơi có nhà ở hoặc Ngân hàng nơi cần vay tiền để được giải thích và hướng dẫn cụ thể hơn.

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ

VŨ ANH – Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

THỦ TỤC ĐỀ NGHỊ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở LẦN ĐẦU

A. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho cá nhân

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

– Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu)

– Bản sao giấy tờ chứng minh tạo lập nhà ở hợp pháp như Giấy phép xây dựng; hợp đồng mua bán nhà ở có xác nhận của UBND cấp xã…

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do chủ nhà thuê đơn vị có chức năng đo vẽ thực hiện. Nếu do chủ nhà tự đo vẽ thì phải có thẩm tra của cơ quan quản lý nhà ở cấp quận nếu tại đô thị, có thẩm tra của UBND xã nếu tại nông thôn.

2. Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

 

Bước 1: Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ và lệ phí cấp giấy tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện. Nếu là nhà ở tại nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại UBND xã, UBND xã sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện.

Trong trường hợp hồ sơ chưa đủ giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải hướng dẫn cụ thể để bổ sung hồ sơ.

 

Bước 2: Cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện xem xét, nếu đủ điều kiện thì làm thủ trình UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận và thông báo cho chủ nhà nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận thì phải có thông báo và trả lại lệ phí cấp Giấy cho người nộp hồ sơ. Nếu UBND xã nhận hồ sơ thì cơ quan quản lý nhà chuyển cho UBND xã để thông báo có người nộp hồ sơ biết lý do không được cấp Giấy chứng nhận.

Bước 3: Chủ nhà đi nộp các khoản thuế theo quy định và chuyển biên lai thuế cho cơ quan thụ lý hồ sơ;

Bước 4: Chủ nhà nộp lại giấy tờ gốc về sở hữu nhà ở, ký nhận vào Sổ đăng ký sở hữu và nhận Giấy chứng nhận tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện.

Nếu chủ sở hữu đã nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận tại UBND xã thì nhận Giấy chứng nhận và nộp giấy tờ gốc về sở hữu nhà ở tại UBND xã đẻ chuyển cho cơ quan quản lý nhà ở lưu.

Nếu chủ sở hữu uỷ quyền cho người khác đi nhận thay thì phải có Giấy uỷ quyền có xác nhận của UBND cấp xã

B Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho tổ chức

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

 

 

– Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu)

– Bản sao giấy tờ chứng minh tạo lập nhà ở hợp pháp như Giấy phép xây dựng; hợp đồng mua bán nhà ở có xác nhận của UBND cấp xã…

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do chủ nhà thuê đơn vị có chức năng đo vẽ thực hiện. Nếu do chủ nhà tự đo vẽ thì phải có thẩm tra của cơ quan quản lý nhà ở cấp quận nếu tại đô thị, có thẩm tra của UBND xã nếu tại nông thôn.

2. Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

 

Bước 1: Tổ chức cử người đại diện để nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận và nộp lệ phí cấp giấy tại Sở Xây dựng.

 

Bước 2: Sở Xây dựng xem xét, nếu đủ điều kiện thì làm thủ ký Giấy chứng nhận hoặc trình UBND cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận và thông báo cho chủ nhà nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận thì phải có thông báo và trả lại lệ phí cấp Giấy cho người nộp hồ sơ.

Bước 3: Người đại diện đi nộp các khoản thuế theo quy định và chuyển biên lai thuế cho cơ quan thụ lý hồ sơ (trường hợp không thuộc diện hoặc không phải nộp thì không có bước này);

Bước 4: Người đại diện nộp lại giấy tờ gốc về sở hữu nhà ở và nhận giấy chứng nhận tại Sở Xây dựng.

Người đi nhận Giấy chứng nhận phải có văn bản uỷ quyền của tổ chức.

C. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh nhà ở

 

Người mua nhà ở thực hiện kê khai vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận và nộp tiền lệ phí trước bạ cho doanh nghiệp để bên bán nhà làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho người mua.

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

 

– Văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận của doanh nghiệp kèm theo danh sách những người đã ký hợp đồng mua nhà ở

– Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người mua nhà ở;

– Hợp đồng mua bán nhà ở;

– Bản sao Quyết định phê duyệt dự án hoặc Quyết định đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Bản vẽ mặt bằng căn hộ nếu mua căn hộ hoặc bản vẽ sơ đồ nhà ở riêng lẻ nếu mua nhà ở riêng lẻ có đóng dấu xác nhận của bên bán nhà ở.

2. Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

 

Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

– Nếu người mua nhà ở cá nhân thì doanh nghiệp bán nhà ở nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện. Nếu người mua nhà ở là tổ chức thì doanh nghiệp bán nhà ở nộp hồ sơ tại Sở Xây dựng.

– Khi nhận Giấy chứng nhận, các doanh nghiệp không phải nộp bản gốc Quyết định phê duyệt dự án hoặc Quyết định đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư klèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Sau khi nhận Giấy chứng nhận, doanh nghiệp trao Giấy chứng nhận cho người mua nhà. Việc giao nhận Giấy chứng nhận phải có Sổ theo dõi.

 

 

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THỪA KẾ NHÀ Ở

VŨ ANH – Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

A. Thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ thừa kế nhà ở bao gồm:

 

– Một trong các giấy tờ thừa kế nhà ở như: di chúc hợp pháp, Biên bản phân chia di sản thừa kế, Bản án của toà án, bản khai di sản thừa kế có công chứng Nhà nước);

– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của người chết

– Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế nếu là con của người chết hoặc bản sao Giấy đăng ký kết hôn nếu người nhận thừa kế là vợ (chồng) của người chết làm cơ sở để miễn nộp nghĩa vụ tài chính.

– Giấy chứng tử;

– Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).

Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở

 

Bước 1: Bên thừa kế nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức).

Nếu bên thừa kế không có di chúc hoặc bản án thì phải đến công chứng lập thủ tục kê khai di sản thừa kế hoặc chứng nhận biên bản phân chia di sản thừa kế. Trường hợp có tranh chấp thì phải giải quyết xong tranh chấp.

Bước 2: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

Bước 3: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế (nếu chủ nhà không thuộc diện phải nộp hoặc được miễn nộp nghĩa vụ tài chính thì không có bước này).

Bước 4: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

 

Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

B. Thừa kế nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ thừa kế nhà ở bao gồm:

– Một trong các giấy tờ thừa kế nhà ở như: di chúc hợp pháp, Biên bản phân chia di sản thừa kế, Bản án của toà án, bản khai di sản thừa kế có công chứng Nhà nước);

 

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người chết

– Giấy chứng tử;

– Bản khai nộp nghĩa vụ tài chính.

Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở

 

Trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp thừa kế nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.

Bên nhận thừa kế nhà ở không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà chỉ phải nộp lệ phí trước bạ nhà ở (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).

Bên thừa kế nhà ở chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Nguồn: Cục Quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở

I. GIAO DỊCH MUA BÁN NHÀ Ở

A. Mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ mua bán nhà ở nộp cho cơ quan quản lý nhà ở bao gồm:

  • Hợp đồng mua bán có chứng nhận của công chứng Nhà nước
  • Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi nhận nhà ở…
  • Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).
  • Đối với cá nhân là người Việt kiều còn phải kèm theo giấy tờ như: bản sao Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam

2. Về trình tự, thủ tục mua bán nhà ở:

  • Bước 1: Các bên mua bán đến lập hợp đồng mua bán tại cơ quan công chứng (không phân biệt địa bàn), kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở và chứng minh thư nhân dân. Hợp đồng có thể được soạn sẵn hoặc do công chứng viên soạn.
  • Bước 2: Một trong hai bên nộp hồ sơ mua bán tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức).
    Trường hợp bán một phần nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở thì phải kèm theo bản vẽ sơ đồ diện tích nhà ở, đất ở có thẩm tra của của cơ quan quản lý nhà ở nếu tại đô thị, có xác nhận của UBND cấp xã nếu tại nông thôn.
  • Bước 3: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);
  • Bước 4: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế.
  • Bước 5: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
  • Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.
  • Các tỉnh, thành phố sẽ có quy định cụ thể trình tự chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở cho phù hợp với từng địa phương.

B. Mua bán nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ mua bán bao gồm:

  • Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của Luật nhà ở (chỉ có quyền sở hữu nhà ở trên đất của người khác như xây dựng nhà ở trên đất thuê, đất mượn);
  • Hợp đồng mua bán nhà ở có chứng nhận của công chứng Nhà nước;
  • Bản kê khai nộp lệ phí trước bạ nhà ở.
  • Đối với cá nhân là người Việt kiều còn phải kèm theo giấy tờ như: bản sao Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam

2. Về trình tự, thủ tục mua bán nhà ở

  • Trình tự, thủ tục mua bán nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp mua bán nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.
  • Trong trường hợp này bên bán không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà bên mua chỉ phải nộp lệ phí trước bạ (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).
  • Người mua chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

II. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1. Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm:

  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 Luật đất đai

2. Về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Bước 1: Một trong các bên tham gia giao dịch nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
  • Bước 2: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất kiểm tra và gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính;
  • Bước 3: Sau khi nhận thông báo của cơ quan thuế, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sẽ thông báo cho các bên chuyển nhượng đi nộp nghĩa vụ tài chính;
  • Bước 4: Các bên chuyển nhượng nộp nghĩa vụ tài chính và chuyển biên lai nộp tài chính cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
  • Bước 5: Các bên chuyển nhượng nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

III. GIAO DỊCH CHO THUÊ NHÀ Ở: Việc cho thuê nhà ở được thực hiện như sau:

  • Các bên tự thoả thuận lập hợp đồng thuê nhà ở hoặc đến cơ quan công chứng đề nghị lập hợp đồng thuê nhà ở.
  • Hợp đồng thuê nhà ở phải có chữ ký của bên cho thuê và bên thuê.
  • Hợp đồng thuê nhà ở có thời hạn thuê từ 6 tháng trở lên giữa cá nhân với cá nhân phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước. Trường hợp bên cho thuê nhà ở là công ty kinh doanh nhà thì hợp đồng không phải công chứng.
  • Nếu bên cho thuê nhà ở là cá nhân thì phải nộp hợp đồng thuê nhà ở tại cơ quan thuế để làm thu tục kê khai nộp thuế cho Nhà nước.
  • Thời hạn bàn giao nhà cho thuê và chấm dứt việc thuê nhà thực hiện theo thoả thuận trong hợp đồng.
    Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài ký hợp đồng thuê nhà ở thì phải có visa nhập cảnh vào Việt Nam từ 03 tháng liên tục trở lên.

IV. GIAO DỊCH THẾ CHẤP NHÀ Ở

1. Hồ sơ thế chấp nhà ở bao gồm:

  • Đơn đề nghị thế chấp nhà ở;
  • Kế hoạch hoặc dự án kinh doanh cần đầu tư vốn;
  • Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên thế chấp nhà ở;
  • Hợp đồng thế chấp nhà ở có chứng nhận của công chứng;
  • Xác nhận đăng ký thế chấp (nếu các bên có yêu cầu).

2. Trình tự thế chấp nhà ở

  • Bước 1: Bên thế chấp có đơn đề nghị thế chấp nhà ở gửi Ngân hàng kèm theo kế hoạch hoặc dự án kinh doanh cần đầu tư vốn;
  • Bước 2: Nếu đồng ý, Ngân hàng sẽ xem xét và thẩm định giá trị tài sản thế chấp;
  • Bước 3: Các bên lập hợp đồng thế chấp nhà ở có chứng nhận của công chứng
  • Bước 4: Ngân hàng có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở, nơi đã làm thủ tục cấp
    • Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở biết về việc thế chấp.Trường hợp các bên có yêu cầu đăng ký thì bên thế chấp có đơn gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất kèm theo Giấy tờ về sở hữu nhà ở để đăng ký thế chấp;
  • Bước 5: Bên thế chấp chuyển Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và thông báo đã đăng ký thế chấp cho Ngân hàng và làm thủ tục nhận tiền vay.
  • Bước 6: Sau khi bên thế chấp thanh toán đầy đủ tiền vay (cả gốc và tiền lãi) thì:
    • Ngân hàng có thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở biết về việc đã giải chấp; lập thủ tục thanh lý hợp đồng thế chấp và giao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho bên thế chấp
    • Nếu đã đăng ký thế chấp thì Bên thế chấp chuyển thông báo đã giải chấp của Ngân hàng kèm theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để xoá đăng ký thế chấp.
    • Lưu ý: Hiện nay các Ngân hàng thương mại được chủ động quy định cụ thể điều kiện và trình tự thế chấp tài sản. Do vậy, những người có nhu cầu nên liên hệ trực tiếp với Ngân hàng cần vay vốn để biết cụ thể hơn.

V. GIAO DỊCH THUÊ MUA NHÀ

1. Hồ sơ thuê mua nhà ở

  • Đơn đề nghị thuê mua nhà ở có xác nhận của cơ quan, đơn vị về số người trong hộ gia đình, mức thu nhập của người làm đơn và điều kiện nhà ở của người có đơn;
  • Xác nhận của UBND cấp xã nơi người có đơn sinh sống về điều kiện nhà ở (nếu là hộ gia đình)

2. Trình tự xét duyệt việc thuê mua:

  • Bước 1: Người có nhu cầu thuê mua gửi đơn có xác nhận tới Sở Xây dựng nơi người đó sinh sống;
  • Bước 2: Sở Xây dựng kiểm tra, đối chiếu về điều kiện, tiêu chuẩn thuê mua. Nếu đủ điều kiện thì lập danh sách và trình UBND tỉnh phê duyệt.
    Nếu không đủ điều kiện thì trả lại đơn và thông báo rõ lý do cho người có đơn.
  • Bước 3: UBND cấp tỉnh xem xét và quyết định người được thuê mua và diện tích được thuê mua;
  • Bước 4: Sau khi có quyết định của UBND tỉnh, Sở Xây dựng thông báo danh sách cho người được thuê mua biết;
  • Bước 5: Người được thuê mua nộp 20% giá trị diện tích nhà thuê mua và ký hợp đồng thuê mua với đơn vị được giao quản lý nhà thuê mua;
  • Bước 6: Làm thủ thục bàn giao nhà ở thuê mua

VI. GIAO DỊCH TẶNG CHO NHÀ Ở

A. Tặng cho nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở do tặng cho bao gồm:

  • Hợp đồng tặng cho có chứng nhận của công chứng Nhà nước;
  • Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho (như quy định trong mua bán nhà ở)
  • Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).
  • Bản sao Giấy khai sinh nếu các bên tặng cho có quan hệ gia đình như: cha mẹ, con, anh chị em ruột để làm cơ sở miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất.
  • Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục tặng cho nhà ở

  • Bước 1: Các bên tặng cho đến lập hợp đồng mua bán tại cơ quan công chứng (không phân biệt địa bàn), kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở và chứng minh thư nhân dân. Hợp đồng có thể được soạn sẵn hoặc do công chứng viên soạn.
  • Bước 2: Bên nhận tặng cho nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức).
    Trường hợp tặng cho một phần nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở thì phải có bản vẽ sơ đồ diện tích nhà ở, đất ở có thẩm tra của của cơ quan quản lý nhà ở nếu tại đô thị, có xác nhận của UBND cấp xã nếu tại nông thôn.
  • Bước 3: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);
  • Bước 4: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế.
  • Bước 5: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

B. Tặng cho nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ tặng cho nhà ở bao gồm:

  • Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của Luật nhà ở (chỉ có quyền sở hữu nhà ở trên đất của người khác như xây dựng nhà ở trên đất thuê, đất mượn);
  • Hợp đồng tặng cho nhà ở có chứng nhận của công chứng Nhà nước;
  • Bản kê khai nộp lệ phí trước bạ nhà ở.

Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục tặng cho nhà ở

  • Trình tự, thủ tục tặng cho nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp tặng cho nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.
  • Trong trường hợp này bên bán không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà bên mua chỉ phải nộp lệ phí trước bạ (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).
    Người nhận tặng cho chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

VII. THỪA KẾ NHÀ Ở

A. Thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ thừa kế nhà ở bao gồm:

  • Một trong các giấy tờ thừa kế nhà ở như: di chúc hợp pháp, Biên bản phân chia di sản thừa kế, Bản án của toà án, bản khai di sản thừa kế có công chứng Nhà nước);
  • Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của người chết
  • Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế nếu là con của người chết hoặc bản sao Giấy đăng ký kết hôn nếu người nhận thừa kế là vợ (chồng) của người chết làm cơ sở để miễn thế chuyển quyền sử dụng đất.
  • Giấy chứng tử;
  • Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).
    Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở

  • Bước 1: Bên thừa kế nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức).
    Nếu bên thừa kế không có di chúc hoặc bản án thì phải đến công chứng lập thủ tục kê khai di sản thừa kế hoặc chứng nhận biên bản phân chia di sản thừa kế. Trường hợp có tranh chấp thì phải giải quyết xong tranh chấp.
  • Bước 2: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);
  • Bước 3: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế.
  • Bước 4: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
    Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

A. Thừa kế nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ thừa kế nhà ở bao gồm:

  • Một trong các giấy tờ thừa kế nhà ở như: di chúc hợp pháp, Biên bản phân chia di sản thừa kế, Bản án của toà án, bản khai di sản thừa kế có công chứng Nhà nước);
  • Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người chết
  • Giấy chứng tử;
  • Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà.
    Đối với người được tặng cho là Việt kiều phải có thêm giấy tờ như Hộ chiếu hợp lệ chưa hết hạn do Việt Nam cấp hoặc Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Về trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở

  • Trình tự, thủ tục thừa kế nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp thừa kế nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.
  • Bên nhận thừa kế nhà ở không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà chỉ phải nộp lệ phí trước bạ nhà ở (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).
  • Bên thừa kế nhà ở chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

VIII. GIAO DỊCH CHUYỂN ĐỔI QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở

A. Chuyển đổi quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ chuyển đổi quyền sở hữu nhà ở bao gồm:

  • Hợp đồng chuyển đổi có chứng nhận của công chứng Nhà nước;
  • Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của 02 bên chuyển đổi nhà ở
  • Bản khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ).

2. Về trình tự, thủ tục chuyển đổi nhà ở

  • Bước 1: Các bên đổi nhà ở đến lập hợp đồng chuyển đổi nhà ở tại cơ quan công chứng (không phân biệt địa bàn), kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở và chứng minh thư nhân dân. Có thể soạn sẵn hoặc do công chứng viên soạn.
  • Bước 2: Các bên chuyển đổi nhà ở nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức) nơi có nhà ở.
  • Bước 3: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);
  • Bước4: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế.
  • Bước 5: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạ cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

B. Chuyển đổi quyền sở hữu nhà ở không có quyền sử dụng đất ở

1. Về hồ sơ chuyển đổi nhà ở bao gồm:

  • Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của Luật nhà ở (chỉ có quyền sở hữu nhà ở trên đất của người khác như xây dựng nhà ở trên đất thuê, đất mượn);
  • Hợp đồng chuyển đổi nhà ở có chứng nhận của công chứng Nhà nước;
  • Bản kê khai nộp lệ phí trước bạ nhà ở của cả hai bên.

2. Về trình tự, thủ tục chuyển đổi nhà ở

  • Trình tự, thủ tục chuyển đổi nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như quy định đối với trường hợp chuyển đổi nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở nêu tại phần a trên đây.
  • Trong trường hợp này cả hai bên không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất mà chỉ phải nộp lệ phí trước bạ nhà ở (bằng 1% giá trị nhà ở theo quy định).

Các bên chuyển đổi chỉ được quyền sở hữu nhà ở theo thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

IX. GIAO DỊCH CHO MƯỢN, CHO Ở NHỜ NHÀ Ở

Việc cho mượn, cho ở nhờ nhà ở được thực hiện như sau:

  1. Các bên tự thoả thuận lập hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ nhà ở hoặc đến cơ quan công chứng đề nghị lập Hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ nhà ở .
  2. Hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ nhà ở phải có chữ ký của bên cho mượn, cho ở nhờ và bên mượn, bên ở nhờ.
  3. Hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ nhà ở không cần có chứng nhận của công chứng Nhà nước.
  4. Thời hạn bàn giao nhà cho mượn, cho ở nhờ và chấm dứt việc cho mượn, cho ở nhờ nhà ở thực hiện theo thoả thuận trong hợp đồng.

X. CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở
Các hợp đồng, văn bản nhà ở bắt buộc phải có công chứng gồm:

  • Hợp đồng mua bán nhà ở giữa cá nhân với cá nhân,
  • Hợp đồng tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân,
  • Hợp đồng thế chấp nhà ở,
  • Hợp đồng thuê nhà ở của cá nhân có thời hạn từ 6 tháng trở lên,
  • Biên bản phân chia di sản thừa kế;
  • Văn bản khai nhận di sản thừa kế.

A. Công chứng hợp đồng, giao dịch được soạn sẵn

1. Hồ sơ công chứng hợp đồng, giao dịch về nhà ở

  • Phiếu yêu cầu công chứng (do cơ quan công chứng cũng cấp);
  • Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
  • Bản sao giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở;
  • Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

Nếu là Việt kiều phải kèm theo các giấy tờ chứnh minh đủ điều kiện được tham gia giao dịch về nhà ở như Hộ chiếu hợp lệ, Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Thủ tục công chứng

  • Bước 1: Các bên đến công chứng nộp hồ sơ cho công chứng viên, khi đi đem theo bản chính giấy tờ sở hữu nhà ở để công chứng viên đối chiếu
  • Bước 2: Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ và vào sổ công chứng
    Trường hợp cần làm rõ các vấn đề liên quan thì yêu cầu người đề nghị công chứng giải trình hoặc tiến hành thẩm tra, xác minh. Nếu không làm rõ được thì trả lại hồ sơ công chứng
  • Bước 3: Công chứng viên kiểm tra dự thảo, nếu có nội dung sai pháp luật thì yêu cầu người đề nghị công chứng chỉnh sửa lại dự thảo. Nếu dự thảo không được chỉnh sửa lại thì từ chối công chứng và trả lại hồ sơ công chứng
  • Bước 4: Các bên đọc lại dự thảo và ký vào hợp đồng, giao dịch. Côg chứng viên chứng nhận vào hợp đồng, giao dịch.
  • Bước 5: Bên yêu cầu công chứng nộp lệ phí công chứng và nhận lại hợp đồng, giao dịch đã được công chứng.

B. Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo

1. Hồ sơ công chứng hợp đồng, giao dịch về nhà ở

  • Phiếu yêu cầu công chứng;
  • Bản sao giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở;
  • Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

Nếu là Việt kiều phải kèm theo các giấy tờ chứnh minh đủ điều kiện được tham gia giao dịch về nhà ở như Hộ chiếu hợp lệ, Giấy xác nhận gốc là công dân Việt Nam…

2. Thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch

  • Bước 1: Các bên đến công chứng nộp hồ sơ cho công chứng viên, khi đi đem theo bản chính giấy tờ sở hữu nhà ở để công chứng viên đối chiếu;
  • Bước 2: Cơ quan công chứng xem xét, nếu các bên đủ điều kiện tham gia giao dịch thì lập hợp đồng. Nếu thấy cần thiết thì kiểm tra, xác minh.
  • Bước 3: Các bên đọc lại hợp đồng, giao dịch, nếu đồng ý thì ký vào hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên chứng nhận vào hợp đồng, giao dịch;
  • Bước 4: Người đề nghị công chứng nộp lệ phí công chứng và nhận lại hợp đồng, giao dịch đã công chứng.

Thời hạn công chứng: không quá 02 ngày làm việc. Nếu hợp đồng, giao dịch phức tạp thì tối đa không quá 10 ngày làm việc. Thời hạn kiểm tra, xác minh (nếu có) không tính vào thời hạn công chứng

XI VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ NỘP THUẾ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1. Hồ sơ nộp thuế

  • Bản sao có công chứng giấy tờ về sở hữu nhà ở (2 bản)
  • Hợp đồng, văn bản đã được công chứng (2 bản)
  • Bản kê khai nộp thuế (theo mẫu của cơ quan thuế);
  • Bản sao Giấy khai sinh hoặc Giấy đăng ký kết hôn để làm cơ sở miễn thuế trong trường hợp tặng cho hoặc nhận thừa kế nhà ở (2 bản);

2. Trình tự nộp thuế

  • Bước 1: Người nộp thuế đến Cơ quan quản lý nhà ở lấy tờ khai nộp thuế, thực hiện kê khai và nộp hồ sơ
  • Bước 2: Cơ quan quản lý nhà ở đối chiếu, kiểm tra thực địa và xác định vị trí thửa đất, diện phải nộp hoặc không phải nộp thuế.
  • Bước 3: Cơ quan quản lý nhà ở gửi số liệu đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ nộp thuế;
  • Bước 4: Sau khi nhận được thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà sẽ chuyển thông báo nộp thuế để chủ nhà đến cơ quan thuế nộp tiền;
  • Bước 5: Chủ nhà nộp thuế và chuyển biên lai thu thuế cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ và nhận lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã sang tên mình.

XII. THỦ TỤC ĐỀ NGHỊ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở LẦN ĐẦU

A. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho cá nhân

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

  • Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu)
  • Bản sao giấy tờ chứng minh tạo lập nhà ở hợp pháp như Giấy phép xây dựng; hợp đồng mua bán nhà ở có xác nhận của UBND cấp xã…
  • Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do chủ nhà thuê đơn vị có chức năng đo vẽ thực hiện. Nếu do chủ nhà tự đo vẽ thì phải có thẩm tra của cơ quan quản lý nhà ở cấp quận nếu tại đô thị, có thẩm tra của UBND xã nếu tại nông thôn.

2. Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

  • Bước 1: Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ và lệ phí cấp giấy tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện. Nếu là nhà ở tại nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại UBND xã, UBND xã sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện.
    Trong trường hợp hồ sơ chưa đủ giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải hướng dẫn cụ thể để bổ sung hồ sơ.
  • Bước 2: Cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện xem xét, nếu đủ điều kiện thì làm thủ trình UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận và thông báo cho chủ nhà nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định.
    Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận thì phải có thông báo và trả lại lệ phí cấp Giấy cho người nộp hồ sơ. Nếu UBND xã nhận hồ sơ thì cơ quan quản lý nhà chuyển cho UBND xã để thông báo có người nộp hồ sơ biết lý do không được cấp Giấy chứng nhận.
  • Bước 3: Chủ nhà đi nộp các khoản thuế theo quy định và chuyển biên lai thuế cho cơ quan thụ lý hồ sơ;
  • Bước 4: Chủ nhà nộp lại giấy tờ gốc về sở hữu nhà ở, ký nhận vào Sổ đăng ký sở hữu và nhận Giấy chứng nhận tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện.
    Nếu chủ sở hữu đã nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận tại UBND xã thì nhận Giấy chứng nhận và nộp giấy tờ gốc về sở hữu nhà ở tại UBND xã đẻ chuyển cho cơ quan quản lý nhà ở lưu.
    Nếu chủ sở hữu uỷ quyền cho người khác đi nhận thay thì phải có Giấy uỷ quyền có xác nhận của UBND cấp xã

B Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho tổ chức

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

  • Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu)
  • Bản sao giấy tờ chứng minh tạo lập nhà ở hợp pháp như Giấy phép xây dựng; hợp đồng mua bán nhà ở có xác nhận của UBND cấp xã…
  • Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do chủ nhà thuê đơn vị có chức năng đo vẽ thực hiện. Nếu do chủ nhà tự đo vẽ thì phải có thẩm tra của cơ quan quản lý nhà ở cấp quận nếu tại đô thị, có thẩm tra của UBND xã nếu tại nông thôn

2. Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

  • Bước 1: Tổ chức cử người đại diện để nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận và nộp lệ phí cấp giấy tại Sở Xây dựng.
  • Bước 2: Sở Xây dựng xem xét, nếu đủu điều kiện thì làm thủ ký Giấy chứng nhận hoặc trình UBND cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận và thông báo cho chủ nhà nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định.
    Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận thì phải có thông báo và trả lại lệ phí cấp Giấy cho người nộp hồ sơ.
  • Bước 3: Chủ nhà đi nộp các khoản thuế theo quy định và chuyển biên lai thuế cho cơ quan thụ lý hồ sơ;
  • Bước 4: Chủ nhà nộp lại giấy tờ gốc về sở hữu nhà ở và nhận giấy chứng nhận tại Sở Xây dựng.
    Người đi nhận Giấy chứng nhận phải có văn bản uỷ quyền của tổ chức.

C. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh nhà ở
Người mua nhà ở thực hiện kê khai vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận và nộp tiền lệ phí trước bạ cho doanh nghiệp để bên bán nhà làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho người mua.

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

  • Văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận của doanh nghiệp kèm theo danh sách những người đã ký hợp đồng mua nhà ở
  • Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người mua nhà ở;
  • Hợp đồng mua bán nhà ở;
  • Bản sao Quyết định phê duyệt dự án hoặc Quyết định đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Bản vẽ mặt bằng căn hộ nếu mua căn hộ hoặc bản vẽ sơ đồ nhà ở riêng lẻ nếu mua nhà ở riêng lẻ có đóng dấu xác nhận của bên bán nhà ở.

2. Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
Trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

  • Nếu người mua nhà ở cá nhân thì doanh nghiệp bán nhà ở nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện. Nếu người mua nhà ở là tổ chức thì doanh nghiệp bán nhà ở nộp hồ sơ tại Sở Xây dựng.
  • Khi nhận Giấy chứng nhận, các doanh nghiệp không phải nộp bản gốc Quyết định phê duyệt dự án hoặc Quyết định đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư klèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Sau khi nhận Giấy chứng nhận, doanh nghiệp trao Giấy chứng nhận cho người mua nhà. Việc giao nhận Giấy chứng nhận phải có Sổ theo dõi.
    Thời gian cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho các trường hợp quy định tại Mục X này là 30 ngày, kể từ ngày cơ quan quản lý nhà ở nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

VẤN ĐỀ LƯU Ý: Toàn bộ các hướng dẫn trên đây chỉ mang tính quy định chung. Căn cứ vào tình hình cụ thể, các địa phương hoặc Ngân hàng sẽ ban hành quy trình cụ thể để áp dụng cho từng trường hợp. Do vậy, những người có nhu cầu nên đến cơ quan quản lý nhà ở nơi có nhà ở hoặc Ngân hàng nơi cần vay tiền để được giải thích và hướng dẫn cụ thể hơn.

Nguồn: Cục quản lý nhà – BỘ XÂY DỰNG

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN, MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP

POKKIN – Cục Quản lý nhà- Bộ Xây dựng

1/ Tổ chức môi giới bất động sản trên thị trường BĐS:
– Nhà môi giới thuộc nhóm cung cấp dịch vụ bất động sản (nhóm giúp chủ đầu tư có thể chuyển các ý tưởng của họ thành hiện thực công trình có giá trị kinh tế cao hơn từ bất động sản)
– Nhà môi giới bất động sản: chịu trách nhiệm cho thuê hoặc bán các loại bất động sản cho khách hàng, họ chủ yếu tham gia vào các dự án lớn và là người phân cân đối các nhu cầu khách hàng với các phương án tài chính của chủ đầu tư. Các nhà môi giới bất động sản đóng vai trò chủ chốt trong kế hoạch tiếp thị, họ gợi ý các viễn cảnh, trình bày các đặc điểm của sản phẩm, các chức năng và lợi nhuận, thương thảo hợp đồng, đồng thời cung cấp các thông tin phản hồi về cho các nhà đầu tư để kịp thời điều chỉnh dự án.
– Tham khảo của Trung Quốc:
+ Người môi giới BĐS là người môi giới cá thể, người môi giới hợp doanh và công ty môi giới nhằm mục đích lấy tiền thuê, làm dịch vụ giới thiệu trung gian, đại lý để nhận tiền thù lao từ người đương sự kinh doanh, chuyển nhượng, cầm cố và cho thuê nhà.
+ Đặc điểm của người môi giới BĐS:Nhằm mục đích lấy tiền thuê; Thúc đẩy hai bên giao dịch, chứ bản thân không trực tiếp giao dịch; Hoạt động môi giới BĐS chủ yếu là trung gian giới thiệu và đại lý bán nhà đất; Phải phân biệt rõ giới hạn hoạt động của môi giới BĐS và tư vấn thuần tuý cung cấp thông tin về nhà đất.
– Sự cần thiết của tổ chức này đã được chứng minh trên thực tiễn là các giao dịch được tiến hành một cách nhanh chóng, tránh được nhiều phức tạp không cần thiết (vì người trung gian đã trực tiếp dàn xếp các xung đột…). Nhiều khi, bên mua và bên bán, bên thuê và cho thuê… không nắm được rõ ràng, chi tiết về các thông tin có liên quan về BĐS bằng trung gian môi giới, họ thực sự cần đến nhà môi giới như một trung gian tin cậy và chuyên nghiệp để thực hiện các dịch vụ đáp ứng yêu cầu của cả 2 bên.

2/ Mô hình hoạt động:

Người mua và người bán tìm đến nhà môi giới để thông qua nhà môi giới tiến hành việc mua (bán, cho thuê) bất động sản một cách có hiệu quả và nhanh chóng nhất, nhà môi giới sau khi tìm hiểu kỹ các nguyện vọng, yêu cầu của các bên sẽ tiến hành làm các thủ tục cần thiết để thực hiện một giao dịch, bên có nhu cầu mua (bán, cho thuê…) sẽ phải trả một khoản chi phí nhất định gọi là lệ phí hợp đồng môi giới, sau khi nhà môi giới đạt đến kết quả cuối cùng và giao dịch thành công thì nhà môi giới sẽ được hưởng tiền hoa hồng tính trên % giá trị bất động sản đã được thoả thuận kỹ lưỡng trong hợp đồng của 2 bên.
Tham khảo thực tế: Mô hình 1 công ty TNHH kiêm trung tâm tư vấn nhà đất-việc làm
– Đứng đầu là giám đốc
– Dưới giám đốc có 3 văn phòng: tư vấn, môi giới và kế toán
+ Tư vấn: làm các thủ tục quảng cáo, giới thiệu về các loại BĐS cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng về các thủ tục khi thực hiện hợp đồng môi giới.
+ Môi giới: Sau khi tìm hiểu các thông tin đáp ứng yêu cầu của mình, bên có nhu cầu sẽ tiếp tục sang phòng môi giới, tại đây họ sẽ cùng người làm môi giới tiến hành các thủ tục ký hợp đồng gọi là hợp đồng môi giới với đầy đủ các thông tin cần thiết về bên nguyên đơn, về BĐS đem ra giao dịch và các giao kèo cần thiết khác về lệ phí hợp đồng, % hoa hồng, các cam kết khác v.v.. sau đó sẽ đưa bên có nhu cầu đi khảo sát thực địa và thực hiện các công việc tiếp theo cho đến kết quả cuối cùng.
+ Kế toán: Nếu giao dịch thành công, bên có nhu cầu sẽ tiếp tục đến phòng kế toán và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhân viên kế toán như đã thoả thuận trong hợp đồng môi giới.

3/ Thực trạng loại hình tổ chức này tại 4 thành phố lớn
3.1. Về mô hình hoạt động: tương tự như mô hình của công ty TNHH nêu trên.
3.2. Điều kiện hoạt động: hầu như không phải tuân thủ một điều kiện hoạt động nào cả, cụ thể như sau:
Hiện tại trên địa bàn của các thành phố lớn, các tổ chức và cá nhân hoạt động dịch vụ môi giới phát triển khá rầm rộ, dưới các hình thức tư nhân như: Trung tâm môi giới tư vấn nhà đất, trung tâm giới thiệu người thuê và cho thuê nhà ở… Sau khi nhận tiền hoa hồng môi giới giữa 2 bên, người môi giới không còn trách nhiệm gì. Hầu hết các tổ chức môi giới BĐS hiện nay đều là do các cá nhân, hộ gia đình có tiền mở văn phòng, trung tâm môi giới nhà đất tự phát theo nhu cầu của người dân và theo các cơn sốt nhà đất trên thị trường và họ coi đây như một nghề kinh doanh nhưng không có đăng ký hành nghề và nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước.
Phần lớn các văn phòng nhà đất này đều do những người không có nghề nghiệp, không được đào tạo kiến thức về tư vấn BĐS nhà đất, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tế, tự xoay sở và móc ngoặc với các cò mồi khác…tính chuyên nghiệp thấp, độ tin cậy về thông tin cũng như kết quả thành công chỉ chiếm tối đa là 50%. Họ chỉ đơn thuần làm môi giới giữa người bán và người mua, ít hoặc không có khả năng tư vấn về những thông tin cần thiết liên quan đến đất đai BĐS hoặc mới chỉ dừng lại ở mức độ tư vấn về thông tin và tư vấn hỗ trợ về tài chính liên quan đến BĐS.
Chỉ có 1 số tổ chức môi giới hiện nay là có đăng ký hoạt động nhưng các tổ chức này lại hoạt động dưới hình thức các công ty thương mại (chức năng hoạt động là làm dịch vụ tư vấn nhà đất, dịch vụ giới thiệu việc làm, dịch vụ vận chuyển hành khách, chuyển giao công nghệ-công nghiệp, lữ hành nội địa, đại lý vận tải, dịch vụ vui chơi giải trí..). Như vậy, có thể thấy hoạt động dịch vụ tư vấn môi giới BĐS nhà đất chỉ là 1 mảng trong hoạt động kinh doanh của các công ty loại này. Và theo quy định, thì các công ty thương mại khi thành lập phải được sự chấp thuận và cấp giấy phép từ phía Chi cục thuế của Thành phố.
3.3. Về các nội dung khác:
Tỷ lệ hoa hồng: Hiện nay, ở 4 thành phố lớn, thông thường tỷ lệ hoa hồng cho một giao dịch thông qua môi giới thành công là 1-2% giá trị BĐS được đem ra mua (bán), cho thuê…
Các loại BĐS tham gia giao dịch thông qua trung gian môi giới chủ yếu: là nhà bán (nhà ở), nhà cho thuê, cửa hàng, văn phòng kinh doanh.
Thời gian thực hiện hết 1 giao dịch: nói chung trong vòng 3 tháng
Phạm vi hoạt động: chủ yếu là các BĐS trên địa bàn
Đối tượng tham gia hoạt động tư vấn, môi giới bất động sản: các công ty thương mại, cá nhân, hộ gia đình, công ty TNHH…

4/ Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài:

Nộp khi ký hợp đồng môi giới. Nếu công việc không thành, bên môi giới không phải hoàn trả lại khoản lệ phí này.

  Mỹ (New-york) Trung Quốc (Thượng Hải)
Điều kiện tham gia hoạt động môi giới của cá nhân Cá nhân phải có giấy phép hành nghề do cấp QLNN ở Trung ương cấp (cấp Bộ), để được cấp phải thi lấy chứng chỉ hành nghề (thi viết) về các nội dung kỹ năng nghiệp vụ về tư vấn môi giới BĐS. 1. Có giấy chứng nhận tư cách người môi giới BĐS do cơ quan quản lý hành chính công thương địa phương cấp.2. Có vốn trên 20.000 NDT hoặc có người đảm bảo có tài sản đảm bảo trị giá trên 20.000 NDT.3. Có nơi hoạt động môi giới cố định.4. Trong vòng 3 năm trước khi làm đơn đề nghị không có tiền sự phạm tội.
Nội dung hoạt động Mua bán, đấu thầu, trao đổi, thương lượng giá cả, cho thuê…  
Điều kiện thành lập tổ chức môi giới BĐS 1. Có trên 5 người có giấy chứng nhận tư cách người môi giới BĐS.2. Được cấp giấy phép doanh nghiệp2. Có vốn trên 100.000 NDT3. Có điều lệ tổ chức xác định rõ tôn chỉ kinh doanh.

4. Có trụ sở kinh doanh cố định

Thành phần làm dịch vụ môi giới bên môi giới có 3 người: nhà môi giới (broker), người mua bán và nhân viên cộng tác  
Hợp đồng môi giới   gồm:1. Việc môi giới2. Yêu cầu và tiêu chuẩn việc môi giới3. Kỳ hạn thực hiện hợp đồng

4. Số tiền dịch vụ, cách thức, kỳ hạn chi trả

5. Trách nhiệm vi phạm hợp đồng, cách thức giải quyết tranh chấp

6. Các nội dung khác 2 bên giao ước.

Phí dịch vụ hoạt động môi giới Nộp khi ký hợp đồng môi giới. Nếu công việc không thành, bên môi giới không phải hoàn trả lại khoản lệ phí này. Do người môi giới nhà đất và đương sự thoả thuận trong tiêu chuẩn thu phí dưới đây và được chi trả trong kỳ hạn hợp đồng môi giới:1. Đại lý mua bán nhà, chuyển nhượng quyền SDD nhà nước, thu dưới 3% giá cả hợp đồng.2. Đại lý thuê nhà, thuê quyền sử dụng đất nhà nước, thu 1 lần 70% tiền thuê 1 tháng.3. Đại lý trao đổi nhà dưới 1% theo giá trị nhà đất.

Dịch vụ tư vấn, tiêu chuẩn phí dịch vụ do 2 bên bàn định.

Tỷ lệ hoa hồng Nếu công việc thành công sẽ được hưởng % hoa hồng, số tiền hoa hồng này được quy định rất rõ trước khi ký hợp đồng  

5/ Kiến nghị giải pháp:
Sau khi tìm hiểu thực trạng hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị trường BĐS và tham khảo kinh nghiệm của nước Mỹ về mô hình hoạt động của tổ chức này, đề nghị Chính phủ cần thực thi một số biện pháp quản lý hữu hiệu hoạt động của hệ thống dịch vụ môi giới nhà đất trên thị trường BĐS sau đây:
a/ Kiểm soát về đăng ký hành nghề:
– Kiểm soát hoạt động của các tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia dịch vụ tư vấn môi giới về BĐS. Chính phủ yêu cầu người làm dịch vụ tư vấn môi giới bắt buộc phải đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý Nhà nước và được cấp giấy phép mới được hoạt động tư vấn môi giới. Cụ thể là nên giao cho ai thực hiện cấp loại giấy phép này??
– Cần tổ chức thi lấy chứng chỉ hành nghề môi giới (Như vậy, chỉ những người có đủ tư cách pháp nhân, có đủ trình độ chuyên môn về môi giới BĐS mới được tham gia các dịch vụ môi giới về BĐS).
b/ Kiểm soát về việc thực hiện trách nhiệm của các tổ chức này:
Người tư vấn môi giới phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả của các hoạt động tư vấn môi giới như: tính trung thực trong các thông tin pháp lý của BĐS được môi giới; về độ tin cậy và có tính dự báo được lợi ích từ kết quả định giá và hình thành giá cả của BĐS giao dịch và chịu trách nhiệm về kết quả của các dịch vụ khác.
c/ Kiểm soát về chất lượng tư vấn môi giới:
Kiểm soát tính công khai của các thông tin và chất lượng dịch vụ tư vấn (những người tư vấn được quyền yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước xác nhận các thông tin pháp lý về BĐS).
Cần tổ chức các lớp đào tạo trong và ngoài nước về môi giới BĐS, nâng cao trình độ nghiệp vụ và đưa các cán bộ có nghiệp vụ về môi giới vào các công ty thương mại dịch vụ môi giới nhà đất hiện nay bằng cách yêu cầu các công ty này phải có các tiêu chuẩn đầu vào cần thiết, nếu không đáp ứng được thì sẽ không được cấp giấy phép hoạt động.
d/ Kiến nghị khác:
Phát triển các dịch vụ tư vấn và môi giới tổng hợp cho các nhu cầu có liên quan đến hoạt động giao dịch về BĐS như: dịch vụ cung cấp thông tin hàng hoá BĐS; dịch vụ kiểm tra và tư vấn tính pháp lý của BĐS; dịch vụ định giá BĐS; dịch vụ thanh toán và cho vay thế chấp BĐS và dịch vụ hoàn thiện hồ sơ giao dịch về BĐS. Những đơn vị dịch vụ này sẽ thay mặt bên mua và bên bán thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết để BĐS được giao dịch một cách hợp pháp, cơ quan tư vấn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và tính pháp lý của các dịch vụ này. Nên chăng cần có 1 sàn giao dịch BĐS và tổ chức môi giới sẽ nằm trong sàn giao dịch này??!Tổ chức này sẽ thay mặt các bên có nhu cầu thực hiện các thủ tục giao dịch với Nhà nước, làm cầu nối thanh toán giữa 2 bên theo đúng quy định của pháp luật.

Nguồn: Cục Quản lý nhà- Bộ Xây dựng

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸBÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN:1. CÔNG VĂN SỐ 4294/TNMT-TTDK CỦA UBNDTPHCM VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở;2. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH – TÍN DỤNG VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN;3. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2008 Ở VIỆT NAM;4. MỐI LIÊN HỆ TÀI CHÍNH – BẤT ĐỘNG SẢN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM;5. NHỮNG CON SỐ KINH HOÀNG VỀ GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH;6. Thị trường bất động sản của Việt Nam -Thực trạng và các giải pháp;7. TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: những khó khăn của khu vực doanh nghiệp tư nhân

PHÂN TÍCH VỀ MỘT TRONG NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ BÁN NHÀ Ở THEO PHƯƠNG THỨC TRẢ DẦN

VŨ CƯỜNG – Cục Quản Lý Nhà – BỘ XÂY DỰNG

Một trong những phương pháp tính giá bán nhà ở theo phương thức trả dần là xác định mức giá đảm bảo tính đủ các chi phí mà doanh nghiệp đầu tư cho nhà ở. Trên cơ sở mức giá này và tình hình cụ thể, doanh nghiệp có thể tính giá bán nhà ở theo phương thức trả dần, đảm bảo thu hồi đủ vốn đầu tư và có lãi.

Mức giá đảm bảo tính đủ các chi phí mà doanh nghiệp đầu tư cho nhà ở được xác định theo công thức:

Trong đó:

+ G: Mức giá đảm bảo tính đủ các chi phí tính trên một mét vuông sàn nhà ở (triệu đồng/m2/năm).

+ V: Tổng vốn đầu tư xây dựng dự án nhà ở tại thời điểm bàn giao đưa vào sử dụng (tr.đồng);

+ S: Tổng diện sàn của nhà ở trong dự án (m2);

+ n: Số năm thực hiện trả dần (năm);

+ r: Lãi suất vốn vay (%).

Công thức nêu trên được thiết lập với giả thiết là doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng để đầu tư cho nhà ở và phải trả cả vốn và lãi ghép với giá trị san đều hàng năm kể từ khi bán nhà ở, đồng thời đảm bảo tính đủ các chi phí mà doanh nghiệp đầu tư cho nhà ở, kể cả chi phí sử dụng vốn. Chi phí bảo trì, quản lý vận hành do người mua tự trả nên không đưa vào công thức.

Công thức nêu trên được phân tích cụ thể như sau:

1. Giá trị G có thể coi là mức giá bình quân tính cho 1 m2 sàn. Trường hợp giá bán tính theo m2 sử dụng thì giá trị này là mức giá bình quân tính cho 1 m2 sử dụng, khi đó S sẽ là tổng diện tích sử dụng của nhà ở trong dự án. Để có thể tính được giá bán theo phương thức trả dần cho từng căn hộ, căn nhà thì doanh nghiệp tính đến nhiều yếu tố như dự kiến lãi của doanh nghiệp; vị trí, tầng cao, chất lượng của từng căn hộ, căn nhà và một số yếu tố khác để điều chỉnh cho phù hợp. Trong trường hợp dự án có nhiều nhóm nhà ở mà có mức chi phí đầu tư xây dựng khác nhau thì cần tính mức giá riêng cho từng nhóm. Trong trường hợp có thoả thuận về việc người mua nhà ở phải thanh toán lần đầu một mức tiền nào đó thì vế trái của công thức trên phải được nhân với hệ số q, trong đó q bằng tỷ lệ giữa tổng số tiền phải trả dần với tổng số tiền mua nhà (Tổng số tiền phải trả dần = Tổng số tiền mua nhà – số tiền thanh toán lần đầu).

2. Tổng vốn chi phí đầu tư cho dự án nhà ở tại thời điểm bàn giao đưa vào sử dụng (V) bao gồm chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, chi phí liên quan đến đất đai; chi phí đầu tư xây dựng nhà ở, hạ tầng kỹ thuật; tiền trả lãi vốn vay trong quá trình đầu tư xây dựng dự án và các chi phí cần thiết khác. Trường hợp vay vốn để đầu tư xây dựng nhà ở và sẽ trả nợ dần sau khi bán nhà ở thì giá trị V được xác định như sau:

Trong đó: Tc là thời gian đầu tư xây dựng dự án nhà ở, j là thời điểm đi vay vốn Vj (tính từ khi bắt đầu xây dựng dự án đến thời điểm vay vốn), Vj là giá trị vốn vay, r là lãi suất vốn vay.

Trường hợp vay ở nhiều nguồn vốn có lãi suất khác nhau thì tính cho từng nguồn vốn theo công thức thức trên rồi cộng lại để có được giá trị V.

3. Giá trị S được xác định là tổng diện tích sàn diện tích sàn nhà ở trong dự án. Trường hợp cho thuê theo diện tích sử dụng thì S được được xác định là tổng diện tích sử dụng nhà ở trong dự án.

4. Thời gian thực hiện trả dần của công thức trên được tính theo năm. Nếu tính mức giá theo tháng thì về trái của công thức (1) được chia cho 12 (tháng).

5. Lãi suất vốn vay (r): Trong trường hợp vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau (m nguồn) mà mỗi nguồn có mức vốn vay khác nhau (V1, V2, …Vm) ứng với mức lãi suất khác nhau (r1, r2,… rm) thì giá trị r có thể xác định bằng phép tính bình quân gia quyền của các mức lãi suất với trọng số là mức vốn vay tương ứng, cụ thể như sau:

Trường hợp nếu doanh nghiệp bỏ ra một phần vốn của mình để đầu tư thì cũng có thể coi đó là một nguồn vốn vay với lãi suất được tính như mức lãi suất tiền gửi tại ngân hàng của doanh nghiệp để đưa vào công thức trên.

Trong trường hợp mua nhà ở trả dần tiền theo phương thức tăng dần hoặc giảm dần thì việc tính toán gía trị G trở nên rất phức tạp. Chúng tôi mong bạn đọc cho biết thêm những phương pháp khác và có ý kiến góp ý, bổ sung cho bài viết này./.

Nguồn: Cục Quản Lý Nhà – BỘ XÂY DỰNG

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005

THẠC SỸ LUẬT HỌC. NGUYỄN VĂN MẠNH – Ban Xây dựng pháp luật, Văn Phòng Chính phủ

I. KHÁI QUÁT CHUNG

Giao dịch về nhà ở rất thông dụng và thường mang giá trị lớn. Trong hệ thống quy phạm pháp luật thực định, chế định về nhà ở luôn chiếm vị trí quan trọng và đang ngày càng được hoàn thiện với sự ra đời của một loạt các văn bản luật và dưới luật: Luật Nhà ở 2005, Bộ Luật Dân sự 2005, Bộ Luật Dân sự 1995, Pháp lệnh về nhà ở 1991, Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh thừa kế 1990…

Hiện nay, giao dịch về nhà ở được điều chỉnh tập trung bởi các văn bản: Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Nhà ở 2005, Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Rất tiếc rằng, hệ thống quy phạm pháp luật này có nhiều điểm không thống nhất với nhau. Về những vấn đề chung, xin nêu hai điểm sau:

Thứ nhất: về hiệu lực áp dụng

Điều 3 Luật Nhà ở quy định “trong trường hợp có sự khác nhau của Luật này với pháp luật có liên quan về sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở thì áp dụng quy định của luật này”.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến giao dịch về nhà ở. Lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, nhà ở thường xuyên được giao dịch và có nhiều liên quan đến đất đai, các tài sản khác gắn liền với nhà ở. Đối với các tài sản này, đặc biệt là đất đai đều có hệ thống quy phạm điều chỉnh riêng và hầu hết đều quy định theo dạng nếu có sự khác nhau thì áp dụng luật chuyên ngành điều chỉnh. Điều đó vô hình chung tạo sự không thống nhất về cách hiểu và thực tiễn áp dụng.

Ví dụ: Bộ Luật Dân sự và Luật Đất đai không ngăn cấm việc thế chấp quyền sử dụng đất tại nhiều tổ chức tín dụng trong khi Luật Nhà ở quy định việc thế chấp nhà ở chỉ được thực hiện tại một tổ chức tín dụng. Vấn đề đặt ra là: trong trường hợp nhà ở gắn liền với đất thì có được thế chấp tại nhiều tổ chức tín dụng không. Thật khó có thể chấp nhận giải pháp: nếu làm thủ tục thế chấp nhà thì chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng, nếu làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất (và tài sản gắn liền với đất) thì được thế chấp tại nhiều tổ chức tín dụng.

Hiểu đúng nghĩa của Điều 3 Luật Nhà ở nêu trên, tất cả các giao dịch liên quan đến nhà ở đều tuân theo quy định của Luật Nhà ở, điều đó dẫn đến câu trả lời cho trường hợp nêu trên: chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng. Nhưng như vậy, không phù hợp với các quy định của Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai, không phản ánh đúng tính chất của các giao dịch dân sự nói chung và giao dịch về nhà ở nói riêng.

Thứ hai : về phạm vi điều chỉnh

Luật Nhà ở và Nghị định 90/2006/NĐ-CP đã đề cập nhiều nội dung của các giao dịch về nhà ở: điều kiện của nhà ở là đối tượng giao dịch, điều kiện về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên và đặc biệt Nghị định 90/2006/NĐ-CP có ban hành kèm theo các phụ lục về mẫu giao dịch về nhà ở (mẫu hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê, thuê mua nhà ở). Điều đó dẫn đến có cách cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề này:

Quan điểm 1: các mẫu hợp đồng tại phụ lục của Nghị định 90/2006/NĐ-CP là một phần của Nghị định, do vậy đây là những quy định bắt buộc về hình thức, khi tham gia giao dịch về nhà ở, buộc các bên phải tuân theo.

Quan điểm 2: các mẫu hợp đồng tại phụ lục của Nghị định 90/2006/NĐ-CP chỉ có tính tham khảo cho các bên khi tham gia giao dịch về nhà ở.

Chúng tôi cho rằng, một cách đương nhiên, các mẫu hợp đồng tại phụ lục là một phần của Nghị định 90/2006/NĐ-CP. Cùng với các phụ lục khác (mẫu giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; khung giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội; khung giá cho thuê nhà ở công vụ), các phụ lục về giao dịch nhà ở có tính bắt buộc với các bên. Nhưng như vậy, sự tự do ý chí của các chủ thể tham gia không được thể hiện rõ ràng. Giao dịch về nhà ở cũng như các giao dịch dân sự khác, khi tham gia, các chủ thể được tự do thể hiện ý chí. Sự thoả thuận đó thậm chí có thể khác đi so với quy định của pháp luật, miễn là không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật (ví dụ: trong hợp đồng vay các bên không thỏa thuận về lãi suất hoặc có thỏa thuận về lãi suất nhưng đến hạn trả nợ thì bên cho vay không yêu cầu trả lãi…). Trong điều kiện hiện nay, thật khó khả thi nếu yêu cầu các giao dịch dân sự về nhà ở phải được lập đúng (từng điều, khoản) theo mẫu hợp đồng ban hành kèm theo Nghị định 90/2006/NĐ-CP. Hệ quả là: khi không tuân thủ đúng các quy định theo mẫu giao dịch nhà ở được ban hành kèm theo Nghị định 90/2006/NĐ-CP thì các bên có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự. Rõ ràng, hệ quả này không phải là sự mong muốn của những nhà lập pháp. Nhưng nếu quan niệm các mẫu ban hành kèm theo Nghị định 90/2006/NĐ-CP chỉ có tính tham khảo thì việc quy định kèm theo một văn bản ‘ở tầm’ nghị định là một điều không cần thiết.

Chúng tôi cho rằng, việc ban hành các mẫu về giao dịch nhà ở kèm theo Nghị định 90/2006/NĐ-CP thể hiện tư duy quản lý ‘mang tính thuận lợi nhất’ trong việc quản lý nhà ở của các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này và điều này không hợp lý, thiếu khả thi. Luật Nhà ở chỉ nên quy định một số nội dung chưa được đề cập chi tiết trong Bộ Luật Dân sự, có thể đặt ra các quy định bắt buộc về hình thức, nội dung (cần xem xét kỹ Bộ Luật Dân sự để tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo), không cần ban hành các văn bản mẫu như hiện nay. Các mẫu hợp đồng cụ thể cã thÓ do các cơ quan quản lý nhà ở ban hành (chỉ mang tính tham khảo), thậm chí có thể do các cơ quan, cá nhân khác ban hành (văn phòng công chứng, luật sư, các nhà nghiên cứu luật học…).

II. CÁC VẤN ĐỀ CỤ THỂ

1. PHẠM VI GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở

Điều 90 Luật Nhà ở quy định “Giao dịch về nhà ở gồm các hình thức mua bán, cho thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ và ủy quyền quản lý nhà ở”.

Tinh thần điều luật rất rõ ràng, giao dịch dân sự về nhà ở chỉ được thực hiện dưới một (hoặc nhiều) hình thức kể trên. Trong trường hợp không rõ ràng về hình thức trong thực tiễn, cần xem xét để quy thành các hình thức theo quy định của luật. Ví dụ: trường hợp hứa thưởng và thi có giải có giải thưởng là nhà ở quy thành hợp đồng tặng cho nhà ở; đối với hợp đồng gửi giữ nhà ở được quy thành “uỷ quyền quản lý nhà ở”.

Tuy nhiên, nội dung của Điều 90 có những nhược điểm sau :

Thứ nhất: không thống nhất giữa tên gọi của giao dịch về nhà ở với quy định về hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự. Một số tên gọi giao dịch về nhà ở chỉ thể hiện hành vi của một bên, không đúng với thực tiễn.

Ví dụ : điều luật quy định “cho thuê”, bản chất phải được hiểu là hợp đồng thuê tài sản (trong Bộ Luật Dân sự); tương tự như vậy: “đổi”- hợp đồng trao đổi tài sản; cho mượn- hợp đồng mượn tài sản; “uỷ quyền quản lý nhà ở”- một dạng của hợp đồng uỷ quyền (hoặc hợp đồng gửi giữ tài sản).

Thứ hai: giao dịch “cho ở nhờ” quy định tại điều luật không chính xác. Việc ở nhờ có thể được thực hiện dưới hai hình thức:

– Giao nhà cho người ở nhờ, thuộc một trong các dạng : hợp đồng mượn nhà, hợp đồng thuê nhà, hợp đồng uỷ quyền quản lý nhà hoặc hợp đồng gửi giữ nhà.

– Không giao nhà cho người ở nhờ, người ở nhờ sống chung với chủ sở hữu (hoặc người đang chiếm hữu hợp pháp) nhà. Trong trường hợp này bản chất sẽ là hợp đồng thuê nhà hoặc hợp đồng dịch vụ.

Như vậy, hành vi ở nhờ tuy có liên quan đến nhà ở nhưng nhà ở không phải là đối tượng của sự thoả thuận “ở nhờ”, không là đối tượng của loại hợp đồng này. Nói khác hơn, không thể có giao dịch về nhà ở dưới dạng “ở nhờ” mà bản chất đây là một hợp đồng dịch vụ.

2. ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở

2.1. Điều kiện về chủ thể

Điều 92 Luật Nhà ở quy định điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở :

“1. Bên bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở phải có các điều kiện sau đây:

a) Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật về dân sự;

b) Cá nhân có năng lực hành vi dân sự; tổ chức bán, cho thuê nhà ở phải có chức năng kinh doanh nhà ở, trừ trường hợp tổ chức bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh.

2. Bên mua, thuê, thuê mua, đổi, nhận tặng cho, mượn, ở nhờ, được uỷ quyền quản lý nhà ở là tổ chức, cá nhân; nếu là cá nhân trong nước thì không phụ thuộc vào nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và phải có năng lực hành vi dân sự; nếu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải thuộc diện được sở hữu, được thuê nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này; nếu là tổ chức thì không phụ thuộc vào nơi đăng ký kinh doanh’.

Nhận xét 1: mặc dù tiêu đề của Điều 92 Luật Nhà ở là “Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở”, nhưng qua nội dung của điều luật, chúng ta nhận thấy đối tượng áp dụng điều kiện này là các hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở mà không bao gồm các loại giao dịch khác (như thừa kế…).

Rõ ràng, giữa tiêu đề của điều luật và nội dung của điều luật có sự không thống nhất.

Nhận xét 2 : về điều kiện của chủ thể : “là chủ sở hữu nhà ở hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật về dân sự”.

Xem xét các trường hợp sau :

Trường hợp 1: hợp đồng cho thuê lại nhà. Ví dụ A cho B thuê nhà để ở trong thời hạn 2 năm từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 3 năm 2008. Tháng 5/2007, B cho C thuê lại căn nhà này có sự đồng ý của A. Nhận thấy rằng khi này, hợp đồng thuê lại nhà được ký kết giữa B và C, sự đồng ý của A có thể được thể hiện trong hợp đồng này hoặc một văn bản riêng nhưng A không phải là một bên trong hợp đồng. Rõ ràng, trong trường hợp này B không phải là chủ sở hữu nhà, cũng không phải là người đại diện của A theo các quy định về đại diện “của pháp luật dân sự”. Nếu căn cứ điều kiện tại điểm a khoản 1 Điều 92 Luật Nhà ở như trên thì hợp đồng thuê lại nhà giữa B và C sẽ vô hiệu do vi phạm quy định về chủ thể. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thật khó chấp nhận sự vô hiệu trong trường hợp này. Nói khác hơn, điều luật trên không thể hiện được tính hợp lý, khả thi – xét về cả lý luận và thực tiễn.

Trường hợp 2: thế chấp nhà đang thuê. Ví dụ A cho B thuê nhà, B thế chấp căn nhà trên cho tổ chức tín dụng X để bảo đảm cho một khoản vay[1]. Việc thế chấp này được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm[2]. Đến thời hạn trả nợ, B vi phạm nghĩa vụ, X xử lý tài sản bảo đảm. Khi này, A không đồng ý với lý do tài sản thuộc sở hữu của A, việc B đem nhà thế chấp không có sự đồng ý của A và A không biết việc này. Vấn đề đặt ra là: hợp đồng thế chấp giữa B và X có hiệu lực không. Căn cứ Điều 92 Luật Nhà ở, chúng ta nhận thấy B không phải là chủ sở hữu, cũng không phải người đại diện của A; do vậy, hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do vi phạm quy định về chủ thể tham gia ; hệ quả là: A được lấy lại nhà (và giấy tờ kèm theo), khoản nợ của X trở thành khoản nợ không có bảo đảm. Tuy nhiên, căn cứ khoản 2 Điều 13 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ thì trường hợp này X được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình và được ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm[3] ; hệ quả là: tài sản bảo đảm bị xử lý để bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng X và khi này A phải khởi kiện B yêu cầu bồi thường thiệt hại. Việc lựa chọn quy phạm nào để giải quyết sẽ là một vấn đề nan giải của các cơ quan tư pháp[4].

Qua các trường hợp chúng tôi đã trình bày, có thể nhận thấy quy định về điều kiện của chủ thể khi tham gia các giao dịch về nhà ở tại Điều 92 chưa bao quát được hết các trường hợp và như vậy không tránh khỏi khó khăn, vướng mắc khi áp dụng.

Nhận xét 3: về điều kiện “cá nhân có năng lực hành vi dân sự”.

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự[5]. Về nguyên tắc, năng lực hành vi dân sự của cá nhân phát sinh khi cá nhân từ đủ 6 tuổi và đầy đủ khi cá nhân đủ 18 tuổi nếu không bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị Toà án hạn chế năng lực hành vi dân sự[6]. Tuy nhiên, đối với người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi không thể tự mình tham gia giao dịch dân sự về nhà ở mà nhất thiết phải có người đại diện theo pháp luật. Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thểm tham gia giao dịch dân sự về nhà ở nếu có đủ tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

Như vậy, khi tham gia các quan hệ mua bán, thuê, tặng cho, mượn, thế chấp, trao đổi nhà[7], cá nhân tối thiểu phải đủ 15 tuổi. Việc quy định điều kiện “cá nhân có năng lực hành vi dân sự” tại Điều 92 Luật Nhà ở là quá rộng, không chính xác.

2.2 Điều kiện về đối tượng giao dịch

Điều 91 Luật Nhà ở quy định:

‘1. Trong các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở thì nhà ở phải có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật;

b) Không có tranh chấp về quyền sở hữu;

c) Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Trường hợp nhà ở cho thuê ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn cho bên thuê nhà ở, cung cấp điện, nước, vệ sinh môi trường và các điều kiện thiết yếu khác.

3. Trong trường hợp nhà ở thuê mua phải bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại Mục 4 Chương III của Luật này’.

Nhà ở là nội dung bắt buộc phải có trong các giao dịch về nhà ở. Do vậy, việc quy định các điều kiện về nhà ở là đối tượng của giao dịch về nhà ở là rất cần thiết. Dựa vào tính chất của các giao dịch, Luật Nhà ở đã chia điều kiện về đối tượng giao dịch thành ba nhóm:a) các giao dịch gồm mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở; b) thuê nhà ở; c) thuê mua nhà ở. Đối với mỗi nhóm có các quy định khác nhau về điều kiện của nhà ở là đối tượng của giao dịch.

Nhận xét 1: về điều kiện “có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở”.

Cũng giống như các giao dịch dân sự khác, tài sản là đối tượng của giao dịch phải thuộc sở hữu của người đưa tài sản vào giao dịch[8]. Do vậy, việc yêu cầu nhà ở phải thuộc sở hữu của đưa nhà ở vào giao dịch là đúng. Tuy nhiên, việc đánh đồng khái niệm “sở hữu” và “có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở” là không chính xác. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở là một hành vi (thủ tục) hành chính ghi nhận quyền sở hữu, điều đó không đồng nghĩa với việc phát sinh quyền sở hữu-nói khác hơn đối với các trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu không làm mất quyền sở hữu của họ đối với nhà ở. Khi tham gia các giao dịch về nhà ở, chúng tôi nhất trí với việc chủ thể phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khi đưa nhà ở vào các quan hệ mua bán, tặng cho, thế chấp, trao đổi, mượn và uỷ quyền quản lý nhà ở[9]. Riêng đối với quan hệ thừa kế, chúng tôi không nhất trí với điều kiện nhà ở phải có “giấy chứng nhận quyền sở hữu” mới là đối tượng của quan hệ thừa kế.

Xin đưa ra ví dụ: A ký hợp đồng mua một căn nhà chung cư với công ty X (chủ đầu tư xây dựng chung cư). Tháng 1/2007, A thanh toán toàn bộ tiền mua nhà và nhận nhà để ở, chờ công ty X làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cho A (sổ hồng)[10]. Khi chưa được cấp sổ hồng, A chết. Vấn đề là người thừa kế của A có được thừa kế căn nhà trên không. Những người thừa kế của A lập biên bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế, trong đó có căn nhà nêu trên (cùng hợp đồng của A với công ty X) thì có công chứng được không[11].

Căn cứ Điều 91 Luật nhà ở sẽ dẫn đến hệ quả là nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu không thể là đối tượng của quan hệ thừa kế. Thật khó chấp nhận kết luận này xét cả về lý luận và thực tiễn.

Nhận xét 2: về điều kiện không có tranh chấp về quyền sở hữu”.

Khái niệm tranh chấp trong dân sự được hiểu rất rộng, việc giải quyết tranh chấp dân sự cũng có nhiều hình thức, thời gian diễn ra thường lâu dài. Trong khoảng thời gian này, việc ngăn cản đưa nhà ở vào các giao dịch dân sự ở phạm vi rộng như quy định tại Điều 91 là không hợp lý. Chúng tôi cho rằng sẽ hợp lý hơn nếu chỉ ngăn cấm việc chuyển quyền sở hữu trong trường hợp có tranh chấp, đối với các giao dịch không chuyển quyền sở hữu (chỉ chuyển quyền chiếm hữu, quyền sử dụng) thì không thể và không nên ngăn cấm (ví dụ : cho mượn nhà, uỷ quyền quản lý nhà)[12].

Nhận xét 3: về điều kiện của nhà ở trong giao dịch thuê nhà ở.

Luật định nhà ở là đối tượng của giao dịch thuê nhà ở phải đảm bảo các điều kiện ‘chất lượng, an toàn cho bên thuê nhà ở, cung cấp điện, nước, vệ sinh môi trường và các điều kiện thiết yếu khác’.

Đây là những điều kiện rất chung, không rõ ràng, ít tính khả thi (Ví dụ : các bên sẽ hiểu thế nào là những điều kiện thiết yếu khác). Việc cung cấp nước, điện, dịch vụ viễn thông… còn phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp các mặt hàng này. Chúng tôi cho rằng đây là những nội dung của hợp đồng thuê nhà, việc thoả thuận về những nội dung này hoàn toàn phụ thuộc ý chí của các bên, do các bên thoả thuận; việc quản lý các lĩnh vực chất lượng, an toàn, điện, nước… cần được xem xét trong văn bản khác hoặc trong chế định khác, không nên đưa vào là điều kiện của giao dịch[13].

2.3. Điều kiện về hình thức

Luật Nhà ở không có điều luật riêng biệt quy định về hình thức của từng loại giao dịch về nhà ở. Nguyên lý chung, giao dịch dân sự được thiết lập dưới ba hình thức: bằng hành vi dân sự cụ thể, bằng lời nói và bằng văn bản. Xem xét một cách tổng thể các quy định của Luật Nhà ở và Bộ Luật Dân sự, chúng ta có thể đưa ra kết luận sau: hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn, trừ các trường hợp sau đây: cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng; bên bán, bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở; thuê mua nhà ở xã hội; bên tặng cho nhà ở là tổ chức[14].

Đối với thừa kế nhà ở, di chúc chỉ có thể được thiết lập dưới một trong hai hình thức: lời nói (di chúc miệng-hay còn gọi là chúc ngôn) và văn bản (di chúc bằng văn bản-hay còn gọi là chúc thư).

Tuy nhiên, Điều 93 Luật Nhà ở về trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở quy định:

‘1. Các bên trực tiếp hoặc thông qua người đại diện thoả thuận về mua bán, thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở (sau đây gọi chung là hợp đồng về nhà ở). Trường hợp pháp nhân tặng cho nhà ở thì phải có văn bản tặng cho’.

2. Hợp đồng về nhà ở, văn bản tặng cho nhà ở phải thể hiện các nội dung…’

Nhận thấy, Điều 93 Luật Nhà ở như muốn tách hình thức của các giao dịch nhà ở[15] thành hai nhóm: hợp đồng về nhà ở và văn bản tặng cho về nhà ở. Chúng tôi cho rằng văn bản tặng cho về nhà ở thực chất là hình thức của hợp đồng tặng cho nhà ở. Do vậy, việc phân biệt như khoản 2 Điều 93 Luật Nhà ở không được chính xác. Chúng tôi cũng thấy khó hiểu với quy định tại khoản 1 Điều 93 với quy định “trường hợp pháp nhân tặng cho nhà ở thì phải có văn bản tặng cho”.

Quy định này dẫn đến cách hiểu : việc tặng cho nhà giữa cá nhân với cá nhân không phải lập văn bản, trường hợp cá nhân tặng cho pháp nhân nhà ở cũng không phải lập văn bản. Rõ ràng, cách hiểu này không được chấp nhận trong lý luận và thực tiễn hiện nay.

Bên cạnh đó, khoản 6 Điều 93 Luật Nhà ở quy định: “trường hợp cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở từ sáu tháng trở lên thì bên cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở phải nộp cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở bản sao hợp đồng về quy định tại khoản này.

Điều luật cũng rất khó hiểu, tối đa hoá sự tiện lợi cơ quan nhà nước và ngay lập tức cho thấy sự bất khải thi của nó. Cần nói thêm rằng ý nghĩa của việc giữ các văn bản này không cao, không mang tính chất quản lý nhà nước, cũng không là căn cứ giải quyết tranh chấp do Uỷ ban nhân dân không có thẩm quyền xét xử các tranh chấp về dân sự nói chung, về nhà ở nói riêng.

2.4. Về mua bán nhà ở

Điều 94 Luật Nhà ở quy định:

1. Việc bán nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu bằng văn bản.

Trường hợp có chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung không đồng ý bán thì các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung khác có quyền làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các chủ sở hữu nhà ở nhà ở thuộc sở hữu chung được quyền ưu tiên mua, nếu các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung không mua thì nhà ở đó được bán cho người khác.

Trường hợp có chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung vắng mặt mà đã được Toà án tuyên bố mất tích thì các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung còn lại được quyền bán nhà ở đó; phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người mất tích được xử lý theo quy định của pháp luật dân sự.

2. Trong trường hợp có chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung bán phần quyền sở hữu nhà ở của mình thì các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua; trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo về việc bán phần quyền sở hữu nhà ở và điều kiện bán mà không có chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung nào mua thì phần quyền đó được bán cho người khác. Trong trường hợp vi phạm quyền ưu tiên mua thì xử lý theo quy định của pháp luật dân sự’.

Trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng sở hữu một căn nhà, phần quyền của chủ thể này ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể khác. Do vậy, việc Luật Nhà ở quy định cần có sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu khi định đoạt nhà ở và quyền ưu tiên mua của các đồng chủ sở hữu chủ khi có một chủ sở hữu muốn bán phần quyền của mình là cần thiết. Tuy nhiên, nghiên cứu quy định của Luật nhà ở và các quy định có liên quan, chúng tôi có một số nhận xét sau:

Nhận xét 1: Điều 94 Luật Nhà ở đề cập đến sở hữu chung mà chưa có sự phân định giữa hai loại hình sở hữu chung: sở hữu chung hợp nhất và sở hữu chung theo phần. Trong sở hữu chung theo phần, dễ dàng đồng ý với quy định tại khoản 1 Điều 94 đã dẫn trên. Đối với sở hữu chung hợp nhất sẽ có trường hợp không tuân theo quy định này (ví dụ: sở hữu chung của vợ chồng – cả hai vợ chồng sẽ ký vào hợp đồng bán nhà – có thể hiểu hai người đã bán phần quyền của mình có sự đồng ý của người kia, việc quy định phải có sự đồng ý bằng văn bản sẽ không cần thiết).

Nhận xét 2: về trường hợp có chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung bị Toà án tuyên bố mất tích.

Trong trường hợp này, Bộ Luật Dân sự quy định tài sản sẽ do người đang quản lý tiếp tục quản lý, người quản lý tài sản chỉ được bán nếu tài sản đó là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hỏng – nhà ở đương nhiên không thuộc đối tượng này. Luật Nhà ở đã tiến thêm một bước khi cho phép các đồng sở hữu chủ được bán nhà ở thuộc sở hữu chung. Điều này đặt ra một số vấn đề:

+1. Trường hợp người đang quản lý tài sản không phải là đồng sở hữu chủ với người bị tuyên bố mất tích và họ không đồng ý giao căn nhà đó cho các đồng sở hữu chủ để bán. Có lẽ, khi này các đồng sở hữu chủ phải khởi kiện tại Toà án, yêu cầu Toà án kên biên căn nhà đó để phát mại.

+2. Trường hợp các đồng sở hữu chủ bán nhà thuộc sở hữu chung, một cách tất yếu quyền ưu tiên mua của người mất tích không còn. Vấn đề là: khoản tiền thu được thuộc phần quyền của người mất tích xử lý ra sao, ai giữ… Luật Nhà ở dẫn chiếu sang Bộ Luật Dân sự với quy định “phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người mất tích được xử lý theo quy định của pháp luật dân sự”.

Nhưng như trên chúng tôi đã trình bày, Bộ Luật Dân sự không đề cập đến việc bán nhà thuộc sở hữu chung khi có một đồng chủ sở hữu mất tích. Nói khác hơn, việc dẫn chiếu của Luật Nhà ở sẽ đẩy các cơ quan áp dụng luật vào tình thế không thể tìm thấy quy định để giải quyết.

Nhận xét 3: về quyền ưu tiên mua

Luật định trường hợp một trong các đồng sở hữu chủ muốn bán phần quyền của mình thì phải dành quyền ưu tiên mua cho các đồng sở hữu chủ khác. Quy định này là quy định chung đối với quyền định đoạt của của các đồng sở hữu chủ đối với tài sản thuộc sở hữu chung trong đó có nhà ở. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ưu tiên mua phần lớn tuỳ thuộc vào thiện chí của chủ sở hữu phần quyền muốn bán.

Ví dụ: A,B,C là đồng sở hữu một căn nhà, A muốn bán phần quyền sở hữu của mình. Theo quy định, A phải dành quyền ưu tiên mua cho B và C. Giả sử A không thiện chí trong việc bán cho B,C. Khi này, A sẽ thông báo cho B,C về việc bán phần quyền sở hữu của mình, nhưng với giá bán lớn hơn nhiều so với giá trị thực của phần quyền sở hữu đó. Dễ dàng nhận thấy, B và C từ chối không mua. Tiếp theo, A bán phần quyền sở hữu cho X với giá trị thấp hơn nhiều so với giá A đã thông báo cho B và C. Lập tức, B và C khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng giữa A và X vô hiệu (lý do là: nếu A thông báo giá bán cho B và C như giá đã bán cho X thì B và C đã mua phần quyền sở hữu đó, do vậy, trong trường hợp này đã vi phạm quyền ưu tiên mua của B và C).

Các phương án được đặt ra là:

*Phương án 1: Toà án tuyên bố giao dịch mua bán nhà giữa A và X vô hiệu vì A đã xâm phạm quyền ưu tiên mua của B và C; buộc A phải bán nhà cho B và C với giá đã bán cho X

*Phương án 2: Toà án tuyên bố giao dịch mua bán nhà giữa A và X vô hiệu vì A đã xâm phạm quyền ưu tiên mua của B và C, buộc A phải thông báo lại các điều kiện về việc bán phần quyền sở hữu tương ứng với các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng mua bán với X.

*Phương án 3: Toà án ra quyết định tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Toà án không có thẩm quyền buộc một chủ thể phải bán tài sản (nhà) cho người khác với giá bán do Toà án quy định[16]. Giả sử Toà án ra quyết định tuyên bố giao dịch mua bán trên vô hiệu, theo nguyên tắc, các bên trở lại tình trạng ban đầu như trước khi giao dịch (trả lại tài sản đã nhận). Khi này quyền ưu tiên mua của B và C được phục hồi – A lại thông báo về giá bán phần quyền của mình với giá cao hơn nhiều giá trị thực của nó – B, C vẫn sẽ không mua được phần quyền sở hữu của A, khi này A lại bán cho X – câu chuyện tranh chấp lại “quay vòng” – điều luật về tính ưu tiên không phát huy được trong thực tiễn[17].

2.5. Về hợp đồng thuê nhà ở

2.5.1. Về quyền ưu tiên mua nhà đang thuê

Điều 97 Luật Nhà ở quy định “trường hợp chủ sở hữu bán nhà ở đang cho thuê thì phải thông báo cho bên thuê nhà ở biết về việc bán và các điều kiện bán nhà ở; bên thuê nhà ở được quyền ưu tiên mua nếu không có chỗ ở khác và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên thuê nhà ở, trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu của cá nhân và nhà ở thuộc sở hữu chung“.

Cảm nhận ban đầu, điều luật không rõ ràng. Luật quy định dành quyền ưu tiên mua cho người đang thuê nhà ở trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu của cá nhân và nhà ở thuộc sở hữu chung”. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau:

Cách hiểu thứ nhất: đối với nhà ở thuộc sở hữu của cá nhân thì bên thuê không có quyền ưu tiên mua; đối với nhà ở thuộc sở hữu chung thì bên thuê cũng không có quyền ưu tiên mua. Hệ quả là, chỉ đối với nhà ở thuộc sở hữu của nhà nước hoặc của pháp nhân đang cho thuê thì bên thuê mới có quyền ưu tiên mua.

Cách hiểu thứ hai: quyền ưu tiên mua chỉ mất khi nhà ở đang thuê thuộc sở hữu chung của nhiều cá nhân.

Bên cạnh đó, việc xác định các điều kiện để bên thuê có quyền ưu tiên mua cũng không đơn giản. Luật định, bên thuê có quyền ưu tiên mua khi không có chỗ ở khác và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Phạm trù “chỗ ở khác” rất không rõ ràng về căn cứ xác định. Ví dụ: gia đình A (bố, mẹ và A) hộ khẩu thường trú tại Hà Đông- Hà Tây, A công tác tại cơ quan trong nội thành Hà Nội. Để thuận tiện cho việc đi lại, A thuê một căn nhà của B tại phố Hàng Bông- Hà Nội để ở. Trường hợp B muốn bán căn nhà đang cho thuê thì B có thể coi A có là đã “có chỗ ở khác” để bác bỏ quyền ưu tiên mua của A không là vấn đề không dễ có sự thống nhất. Việc xác định bên thuê đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ cũng không dễ dàng[18]. Điều 495 Bộ Luật Dân sự quy định

bên thuê nhà có các nghĩa vụ sau đây: sử dụng nhà đúng mục đích đã thoả thuận; trả đủ tiền thuê nhà đúng kỳ hạn đã thoả thuận; giữ gìn nhà, sửa chữa những hư hỏng do mình gây ra; tôn trọng quy tắc sinh hoạt công cộng; trả nhà cho bên cho thuê theo đúng thoả thuận

(nghĩa vụ “trả nhà cho bên cho thuê” sẽ không được áp dụng trong trường hợp này; nghĩa vụ “tôn trọng quy tắc sinh hoạt công cộng” rất khó xác định – cơ quan, tổ chức nào sẽ chứng nhận bên thuê nhà chấp hành tốt nghĩa vụ này).

Có quan điểm cho rằng, quyền ưu tiên mua của bên thuê nhà tương tự như quyền ưu tiên mua phần quyền sở hữu đối với nhà thuộc sở hữu chung. Chúng tôi cho rằng, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Nếu trong sở hữu chung, do tính chất đ�c thù của nhà ở mà phần quyền của người này ảnh hưởng lớn đến lợi ích của đồng sở hữu chủ khác dẫn đến việc quy định quyền ưu tiên mua là cần thiết thì trong quan hệ thuê nhà, yếu tố ảnh hưởng này không rõ ràng vì quyền thuê nhà (tiếp tục ở nhà đang thuê) không bị ảnh hưởng khi thay đổi chủ sở hữu nhà đang thuê. Do vậy, Bộ Luật Dân sự 2005 đã bỏ quy định về quyền ưu tiên mua của bên thuê nhà được quy định trong Bộ Luật Dân sự 1995 trên cơ sở tôn trọng tự do ý chí của các bên và sự “dễ dàng bị vô hiệu” khi bên cho thuê vận dụng các “kỹ thuật pháp lý” để loại bỏ quyền ưu tiên mua. Luật Nhà ở lại quy định quyền ưu tiên này cho dù không tránh khỏi những vướng mắc khi áp dụng.

2.5.2. Về nội dung của hợp đồng thuê nhà ở

Hợp đồng thuê nhà là một dạng đặc thù của hợp đồng thuê tài sản. Do vậy, Bộ Luật Dân sự bên cạnh việc quy định các quy tắc chung của hợp đồng thuê tài sản từ Điều 480 đến Điều 491 đã quy định về hợp đồng thuê nhà từ Điều 492 đến Điều 500. Cho dù vậy, các quy định của Bộ Luật Dân sự, nhìn từ một số khía cạnh vẫn mang tính chất khái quát và khi áp dụng trong thực tiễn không tránh khỏi có những vướng mắc. May mắn rằng, một số vướng mắc đó đã được đề cập và giải quyết trong Luật Nhà ở, như: việc thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước[19], việc thoả thuận lại về giá thuê khi bên cho thuê cải tạo (nâng cấp) lại nhà ở trong thời hạn thuê[20]. Nhưng cũng thật không may mắn khi trong hai đạo luật được ban hành cùng năm lại có những quy định khác nhau khiến việc hiểu và vận dụng chúng trong thực tiễn không thống nhất. Ví dụ[21]:

* Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Điều 498 Bộ Luật Dân sự:

1. Bên cho thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà khi bên thuê có một trong các hành vi sau đây:

c) Cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng;

d) Sửa chữa, đổi hoặc cho người khác thuê lại toàn bộ hoặc một phần nhà đang thuê mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê;

đ) Làm mất trật tự công cộng nhiều lần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của những người xung quanh;

e) Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường.

Điều 103 Luật Nhà ở

1. Bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:

c) Cố ý làm hư hỏng nhà ở cho thuê;

d) Sửa chữa, cải tạo, đổi nhà ở đang thuê hoặc cho người khác thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê nhà ở;

đ) Làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục.

2. Bên thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà khi bên cho thuê có một trong các hành vi sau đây:

a) Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm trọng;

b) Tăng giá thuê nhà bất hợp lý.

2. Bên thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:

a) Không sửa chữa nhà ở khi nhà ở có hư hỏng nặng;

b) Tăng giá cho thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thoả thuận;

* Chấm dứt hợp đồng thuê:

Điều 499 Bộ Luật Dân sự

1. Thời hạn thuê đã hết; nếu hợp đồng không xác định thời hạn thuê thì hợp đồng chấm dứt sau sáu tháng, kể từ ngày bên cho thuê báo cho bên thuê biết về việc đòi nhà;

4. Nhà cho thuê phải phá dỡ do bị hư hỏng nặng có nguy cơ sập đổ hoặc do thực hiện quy hoạch xây dựng của Nhà nước.

Điều 102 Luật Nhà ở

1. Hợp đồng thuê nhà ở hết hạn; trường hợp trong hợp đồng không xác định thời hạn thì hợp đồng chấm dứt sau sáu tháng, kể từ ngày bên cho thuê nhà ở thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm dứt hợp đồng.

4. Nhà ở cho thuê hư hỏng nặng có nguy cơ sập đổ hoặc nằm trong khu vực đã có quyết định thu hồi đất, giải phóng mặt bằng hoặc có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2.6. Về tặng cho nhà ở

Bộ Luật Dân sự không có quy định riêng về hợp đồng tặng cho nhà ở. Sự phân biệt có chăng là ở chỗ có các quy định áp dụng riêng cho tặng cho động sản và tặng cho bất động sản[22].

Luật Nhà ở cũng không xây dựng các quy định về tặng cho nhà ở một cách hệ thống mà chỉ có một số quy định “đặc thù”. Điều đó có thể hiểu, việc tặng cho nhà ở tuân thủ các quy định của Bộ Luật Dân sự. Tiếc rằng, trong các quy định được gọi là “đặc thù” của Luật Nhà ở lại có vấn đề không được thống nhất với Bộ Luật Dân sự: thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho. Theo quy định tại Điều 467 Bộ Luật Dân sự, hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký,và do đó, nhà ở – với ý nghĩa là một bất động sản khi tặng cho cũng phải tuân theo quy định này. Hoàn toàn khác với quy định trên, Luật Nhà ở quy định hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng[23]. Về mặt áp dụng luật, Luật Nhà ở sẽ được áp dụng. Chỉ tiếc rằng, trong hai đạo luật điều chỉnh cùng một vấn đề, được ban hành trong cùng một năm lại không thể hiện được sự thống nhất.

2.7. Hợp đồng trao đổi nhà ở

Bộ Luật Dân sự không có quy định riêng biệt về hợp đồng trao đổi nhà ở. Việc các chủ thể trao đổi nhà ở, về nguyên tắc, phải tuân theo các quy định chung về hợp đồng và các quy định về hợp đồng trao đổi tài sản tại các Điều 463, 464 Bộ Luật Dân sự.

Luật Nhà ở ghi nhận trao đổi nhà ở dưới “hình thức” đổi nhà ở. Luật Nhà ở cũng không có quy định đặc thù về hợp đồng “đổi nhà ở” mà chỉ quy định một số vấn đề “đặc thù” trong đổi nhà ở, thể hiện ở các điều luật: Điều 109-đổi nhà ở thuộc sở hữu chung; Điều 110-đổi nhà ở đang cho thuê; Điều 111- thanh toán giá trị chênh lệch. Theo các quy định này, trong trường hợp đổi nhà thuộc sở hữu chung hợp nhất phải có sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu chủ; đối với nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần chỉ được đổi phần quyền của mình và bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ sở hữu chung khác; đối với nhà ở đang cho thuê là đối tượng của hợp đồng đổi nhà ở thì quyền tiếp tục ở (thuê nhà ở) được bảo đảm theo hợp đồng với chủ sở hữu “cũ” của nhà ở đó; trường hợp có sự chênh lệch trong việc đổi tài sản thì các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó.

Xem xét các quy định của Luật Nhà ở, chúng tôi nhận thấy có một số yếu tố chưa được hợp lý sau:

Thứ nhất: Luật định trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần, chủ sở hữu có thể đổi phần quyền sở hữu của mình cho người khác và phải bảo đảm không được ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ sở hữu khác. Dễ dàng nhận thấy, trong trường hợp này, các chủ sở hữu khác không có quyền ưu tiên trong trao đổi tài sản, đồng thời họ không có quyền can thiệp vào việc trao đổi phần quyền sở hữu của chủ sở hữu – vậy yếu tố đảm bảo không được ảnh hưởng đến lợi ích của các đồng chủ sở hữu được thể hiện ở các khía cạnh nào; trong trường hợp sau khi trao đổi phần quyền sở hữu, chủ sở hữu mới yêu cầu thoả thuận lại với các đồng sở hữu chủ về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nhà ở thì các đồng sở hữu chủ (ban đầu) có quyền gì, nếu khởi kiện thì phương hướng giải quyết của Toà án như thế nào… đây là những vấn đề phát sinh khi ghi nhận nghĩa vụ của chủ sở hữu khi đổi phần quyền sở hữu của mình phải đảm bảo lợi ích của các chủ sở hữu khác nhưng chúng ta không tìm thấy quy phạm để giải quyết[24].

Thứ hai: Luật Nhà ở quy định trong trường hợp đổi nhà ở đang cho thuê thì chủ sở hữu nhà đang cho thuê phải thông báo cho bên thuê biết về việc đổi nhà ở. Quy định này có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm 1: việc trao đổi nhà ở đang cho thuê không ảnh hưởng đến lợi ích của bên thuê. Do vậy, không cần thiết quy định nghĩa vụ thông báo của bên cho cho thuê. Việc Luật Nhà ở hiện hành quy định nghĩa vụ thông báo nhưng không đề cập đến hình thức thông báo (bằng văn bản, lời nói), phạm vi thông báo (nội dung thông báo) cũng như trách nhiệm của chủ sở hữu trong việc không thông báo khiến cho tính “quy phạm bắt buộc” của điều luật không có.

Quan điểm 2: Việc thông báo ở đây là thông báo về quyền yêu cầu (trả tiền thuê nhà…). Khi này, việc thông báo thực hiện theo các quy định về chuyển giao quyền yêu cầu của Bộ Luật Dân sự (từ Điều 309 đến Điều 314 Bộ Luật dân sự).

Quan điểm 2: hợp đồng thuê nhà là hợp đồng song vụ (bên cho thuê và bên thuê đều có nghĩa vụ với nhau). Trong trường hợp nhà đang thuê được đổi thì quyền và nghĩa vụ đều bị ảnh hưởng. Do vậy, quan niệm đây là việc chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ thì không hợp lý vì theo nguyên tắc, việc chuyển giao nghĩa vụ phải được sự đồng ý của bên có quyền[25]. Luật Nhà ở chỉ quy định nguyên tắc “thông báo việc đổi nhà ở”, không phải là trường hợp chuyển giao quyền và chuyển giao nghĩa vụ. Chúng tôi đồng ý với quan điểm này.

2.8. Về thừa kế nhà ở

Bộ Luật Dân sự coi nhà ở cũng như các tài sản khác, do vậy, trong quan hệ thừa kế không có quy định riêng về thừa kế nhà ở.

Luật Nhà ở, trong phạm vi điều chỉnh của mình, “cố” đưa thêm một một số điều luật “đặc thù” về thừa kế nhà ở. Do sự “cố gắng” này, theo quan điểm của chúng tôi, khiến các quy định về thừa kế nhà ở không hợp lý, không thống nhất, khó hiểu và khó áp dụng. Xem xét quy định tại

Điều 112 Luật Nhà ở: ’nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất mà người thừa kế là một hoặc các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung còn lại thì những người này được thừa kế nhà ở đó theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp có người thừa kế không phải là chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất thì người thừa kế được thanh toán phần giá trị nhà ở mà họ được thừa kế”. Điều luật rất ‘trúc trắc’ và khó hiểu. Tôi tin tưởng rằng, một người dân bình thường không được đào tạo về luật học sẽ khã hiểu được điều luật này.

Nội dung của điều luật có thể tóm lược: a) nếu người thừa kế cũng là đồng sở hữu chủ (sở hữu chung) nhà ở thì được thừa kế (được ở) toàn bộ nhà; b) nếu người thừa kế không phải là đồng sở hữu chủ thì không được thừa kế (ở) phần nhà được thừa kế mà chỉ được thanh toán phần giá trị nhà được thừa kế.

Ví dụ: A và B là vợ chồng, có một con gái là C. C đã kết hôn và ở với chồng là H. A chết không để lại di chúc, có một căn nhà để lại. Theo quy định của Điều 112 Luật Nhà ở, B sẽ được ở toàn bộ ngôi nhà này (vì căn nhà là sở hữu chung hợp nhất giữa A và B), C được B thanh toán phần giá trị thừa kế được hưởng.

Thoạt tiên, điều luật có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn thì chúng tôi nhận thấy có nhiều vấn đề cần trao đổi:

Thứ nhất: về nguyên tắc, sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung – ví dụ: sở hữu chung của vợ chồng[26], hình thức sở hữu chung này chấm dứt đương nhiên khi quan hệ vợ chồng không tồn tại. Do vậy, khi chồng (hoặc vợ chết), quan hệ sở hữu chung hợp nhất giữa họ chấm dứt, người vợ (hoặc chồng) còn lại là chủ sở hữu phần tài sản của mình và sở hữu chung (theo phần) với những người thừa kế khác đối với di sản để lại. Cách

viết như Điều 112 Luật Nhà ở đã dẫn ở trên vô hình trung lại đi ngược lại lý thuyết này khi dẫn đến cách hiểu: hình thừa sở hữu chung hợp nhất vẫn tồn tại khi đồng sở hữu chủ chết.

Thứ hai: chúng tôi cho rằng, đối với hình thức sở hữu chung hợp nhất về nhà ở cũng như trong hình thức sở hữu chung khác về nhà ở, khi có một (trong số) các đồng sở hữu chủ chết, những người thừa kế là đồng sở hữu chủ khác hay không là đồng sở hữu chủ đều có quyền ngang nhau về thừa kế nhà ở và họ là chủ sở hữu phần di sản mà mình được nhận theo di chúc hoặc theo pháp luật. Việc phân chia cơ học di sản là nhà ở hay không còn tuỳ thuộc vào kết cấu của ngôi nhà và quan trọng hơn, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của những người thừa kế. Luật Nhà ở quy địnhnếu người thừa kế không phải là đồng sở hữu chủ thì không được thừa kế (ở) phần nhà được thừa kế mà chỉ được thanh toán phần giá trị nhà được thừa kế vi phạm quy định của Hiến pháp 92 về quyền có chỗ ở của công dân, vi phạm quy định của Bộ Luật Dân sự về quyền sở hữu tài sản của cá nhân[27]. Về thực tiễn, quy định này không thể áp dụng được trong trường hợp người thừa kế không phải là đồng sở hữu chủ mà không có chỗ ở khác.

Thứ ba: Điều 113 Luật Nhà ở quy định quyền ưu tiên mua của các đồng thừa kế, đồng sở hữu đối với phần quyền thừa kế nhà ở trong hình thức sở hữu chung theo phần. Một điểm dễ nhận thấy là: tranh chấp trong quan hệ thừa kế là tranh chấp giữa những người thừa kế với nhau. Do vậy, khi xảy ra tranh chấp này, bằng kỹ thuật pháp lý, người thừa kế có phần quyền thừa kế nhà ở muốn bán dễ dàng vô hiệu hoá quyền ưu tiên mua của những người thừa kế, đồng sở hữu chủ khác[28].

Trên đây là một số ý kiến bình luận của chúng tôi về chế định giao dịch về nhà ở trong Luật Nhà ở, không mang tính phê phán mà chỉ xuất phát với mong muốn hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện[29]./.


[1] Một cách tất yếu, khi này B phải có được giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu nhà. [2] Về nguyên tắc, hợp đồng thế chấp nhà ở không cần phải đăng ký. Tuy nhiên, các bên có thể đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm (thuộc Cục đăng ký giao dịch bảo đảm – Bộ Tư­ pháp, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, thậm chí trong một số trường hợp có thể đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã. Việc có quá nhiều cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm như hiện nay chúng tôi sẽ đề cập đến trong một bài viết khác. [3] Khoản 2 Điều 13 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định “trong trường hợp …hợp đồng thuê được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng…, bên cho thuê có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất…; nếu không đăng ký hoặc đăng ký sau thời hạn trên và sau thời điểm giao dịch bảo đảm đã dăng ký thì bên nhận bảo đảm được coi là bên nhận bảo đảm được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình và có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm.

[4] Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng trong trường hợp có sự khác nhau giữa luật chuyên ngành và luật chung thì áp dụng luật chuyên ngành để điều chỉnh. Tuy nhiên, vấn đề luật nào là chuyên ngành của luật nào là vấn đề không dễ trả lời. Trong ví dụ này, có thể hiểu Luật Nhà ở là luật chuyên ngành so với Bộ Luật dân sự, nhưng quy định chi tiết thi hành về bảo đảm nghĩa vụ liên quan đến nhà ở có được coi là luật chuyên ngành hay không so với Luật Nhà ở sẽ dẫn đến nhiều tranh luận. Cũng xin nói thêm là thuật ngữ luật chuyên ngành và luật chung không được đề cập đến trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ quy định nguyên tắc xác định luật áp dụng theo thời điểm có hiệu lực của luật. Tiếc rằng trong quá trình xây dựng luật, chúng ta không tuân thủ triệt để nguyên tắc này, dẫn đến tình trạng nhiều đạo luật tự coi là luật chuyên ngành và quy định nguyên tắc áp dụng mang tính triệt tiêu các luật khác. Ví dụ như Điều 3 Luật Nhà ở như chúng tôi đã trình bày ở bài viết này.

[5] Xem Điều 17 Bộ Luật Dân sự

[6] Xem các Điều 19,20,21,22,23 Bộ Luật Dân sự

[7] Đối với quan hệ thừa kế nhà ở không cần điều kiện này. Do vậy, việc loại trừ quan hệ thừa kế khỏi phạm vi của Điều 92 Luật Nhà ở là hợp lý. Tuy nhiên, chúng tôi không nhất trí khi đưa quan hệ “cho ở nhờ” vào phạm vi điều chỉnh của Điều này như đã trình bày ở phần trên.

[8] Trong trường hợp không phải là chủ sở hữu thì phải được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc pháp luật có quy định

[9] Trong trường hợp uỷ quyền có trường hợp uỷ quyền lại, khi thiết lập hợp đồng uỷ quyền lại có lẽ không cần xem xét tính chấp pháp lý của nhà ở. Tuy nhiên, theo quy định về hợp đồng, việc uỷ quyền lại chỉ được thực hiện nếu có sự đồng ý của ngườii uỷ quyền (đầu tiên chủ sở hữu nhà), do vậy, tính chất pháp lý của nhà ở được bảo đảm. Đối với giao dịch cho ở nhờ, việc quy định các điều kiện như­ Điều 91 là không hợp lý, không khả thi, tuy nhiên, ở phần trên chúng tôi đã trình bày quan điểm giao dịch này liên quan đến nhà ở nhưng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Nhà ở, do vậy khi trình bày vấn đề này chúng tôi không đề cập đến giao dịch cho ở nhờ.

[10] Trong thực tiễn, thời gian trung bình được cấp là 6 tháng.

[11] Các trường hợp mua bán, tặng cho, trao đổi… tuy đã công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên (cấp chứng nhận quyền sở hữu) mà người mua, được tặng cho, nhận nhà qua hợp đồng trao đổi…chết cũng sẽ dẫn đến hệ quả tương tự.

[12] Trường hợp người được cấp chứng nhận sở hữu nhà nhưng đang bị tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền chưa có quyết định giải quyết tranh chấp cuối cùng, do điều kiện khách quan hoặc chủ quan (đi công tác, nằm viện…) không thể trực tiếp quản lý nhà. Việc không cho phép ngườii này uỷ quyền quản lý nhà cho ngườii khác là giải pháp khó chấp nhận.

[13] Suy nghĩ trường hợp sau khi thuê nhà, khu nhà đó bị cắt điện (theo chính sách cắt điện luân phiên của EVN) hoặc không có hệ thống truyền hình cáp. Căn cứ Điều 91 Luật Nhà ở, bên thuê yêu cầu huỷ hợp đồng do không đảm bảo có điện thường xuyên hoặc không có nhu cầu thiết yếu (bên thuê cho rằng việc xem truyền hình là nhu cầu thiết yếu). Có lẽ Toà án sẽ bác yêu cầu của bên thuê, nhưng khi đó hiểu khoản 2 Điều 91 với ý nghĩa là điều kiện bắt buộc của nhà ở là đối t­ợng của hợp đồng thuê như thế nào. Việc quy định quá chung như Điều 91 vừa gây khó áp dụng cho các bên tham gia, vừa gây khó cho cơ quan áp dụng pháp luật.

[14] Khoản 3 Điều 93 Luật Nhà ở. Điều luật này khá tương đồng với các Điều 343, 450, 492 Bộ Luật Dân sự.

[15] Trừ vấn đề di chúc chúng tôi đã trình bày ở trên.

[16] Do vậy, phương án 1 và 2 không thể áp dụng.

[17] Mặc dù nhận thấy vấn đề này, nhưng chúng tôi cũng chưa tìm thấy giải pháp vì như đã phân tích, việc dành quyền ­­ tiên mua cho các đồng sở hữu chủ là điều cần thiết.

[18] Luật Nhà ở không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thuê nhà. Để vận dụng, các bên phải dùng Bộ Luật Dân sự.

[19] Điều 101 Luật Nhà ở.

[20] Điều 99 Luật Nhà ở.

[21] Chúng tôi chỉ đề cập đến những điểm khác nhau trong các điều luật tương ứng. Xem Điều 466, 467 Bộ Luật Dân sự

[23] Với quy định này, nhà làm luật cũng loại trừ luôn việc chứng thực của Uỷ ban nhân dân trong việc tặng cho nhà ở.

[24] Về nguyên lý, các đồng sở hữu chủ thoả thuận về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung. Do vậy, các đồng sở hữu chủ nếu không thoả thuận được thì tài sản không đưa vào quan hệ dân sự được. Phương án là các chủ thể bán phần quyền của mình, khi này tuân theo các quy định về mua bán nhà ở (chúng tôi đã đề cập ở phần trên). Nhưng như vậy, quy định “phải đảm bảo lợi ích của các chủ sở hữu khác” không có ý nghĩa trong việc áp dụng pháp luật.

[25] Do vậy, nếu quan niệm là chuyển giao quyền và chuyển giao nghĩa vụ thì bên thuê (với tư cách chủ thể quyền) không đồng ý cho việc đổi nhà ở (vì khi đó chủ thể có nghĩa vụ – chủ sở hữu nhà thay đổi), việc đổi nhà không thực hiện được. Chúng ta không thể đồng ý với hệ quả pháp lý này.

[26] Xem thêm Điều 217, 219 Bộ Luật Dân sự

[27] Có lẽ điều luật chỉ mang lại sự tiện dụng trong việc quản lý nhà ở (hạn chế sự phân chia nhà ở, từ đó hạn chế các thủ tục cho sự phân chia đó)

[28] Các kỹ thuật này chúng tôi đã trình bày tại phần 2.4, 2.5 bài viết này.

[29] Về các dạng giao dịch khác được quy định trong Luật Nhà ở: a) Thế chấp nhà ở: chúng tôi đã có ý kiến bình luận trong bài viết “hoàn hiện chế định giao dịch bảo đảm” đăng tại Tạp chí lập pháp số 06/2007; b) Cho ở nhờ: như chúng tôi đã trình bày ở phần 1, về bản chất đây không phải là giao dịch về nhà ở; c) Uỷ quyền quản lý nhà ở: Luật nhà ở quy định khá tốt, có hạn chế chăng là một số lỗi về kỹ thuật pháp lý (ví dụ: quy định Toà án tuyên bố chết, Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng lại quy định “bên được uỷ quyền quản lý nhà ở mất tích” – khoản 5 Điều 123 Luật Nhà ở mà không lưu ý là việc tuyên bố một người là mất tích cũng thuộc thẩm quyền của Toà án).

SOURCE: CHINHPHU.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN:1. CÔNG VĂN SỐ 4294/TNMT-TTDK CỦA UBNDTPHCM VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở;2. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH – TÍN DỤNG VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN;3. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2008 Ở VIỆT NAM;4. MỐI LIÊN HỆ TÀI CHÍNH – BẤT ĐỘNG SẢN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM;5. NHỮNG CON SỐ KINH HOÀNG VỀ GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH;6. Thị trường bất động sản của Việt Nam -Thực trạng và các giải pháp;7. TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: những khó khăn của khu vực doanh nghiệp tư nhânBÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

HIẾN PHÁP HOA KỲ VÀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC SUỐT ĐỜI CỦA CÁC THẨM PHÁN LIÊN BANG

ĐỖ XUÂN (theo “Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ”)

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, thẩm phán liên bang sẽ “được giữ chức vụ đó suốt đời nếu luôn luôn có hành vi đúng đắn. Trong thời gian nói trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó”.

Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được thông qua lần đầu tiên từ thời Tổng thống G. Washington (1787), có thể xem là một trong những bản hiến pháp ngắn nhất thế giới với 15 trang in (khổ 13x 21cm bản dịch tiếng Việt) gồm 7 điều và 27 Tu chính án gồm 12 trang in. Trong khi đó, hệ thống luật pháp của Hoa Kỳ lại là một trong những hệ thống luật phân chia thành nhiều cấp và phức tạp bậc nhất thế giới. Lịch sử Hoa Kỳ không hình thành từ một quốc gia mà là liên minh 13 khu vực thuộc địa, mỗi khu vực đều độc lập tách ra khỏi Anh Quốc. Do vậy, tuyên ngôn Độc lập (1776) đã nhắc đến “dân tộc của các khu vực thuộc địa” và thừa nhận đó là “các khu vực thuộc địa của Hợp chủng quốc là, và có quyền được làm các bang tự do và độc lập”. Toàn bộ hệ thống được dựa trên các quy tắc pháp lý truyền thống của Thông luật Anh. Mục 2. Điều II của Hiến pháp Hoa Kỳ ghi “… Cùng với sự cố vấn và tán thành của Thượng viện, Tổng thống sẽ bổ nhiệm các đại sứ,các công sứ, lãnh sự, các thẩm phán của Toà án tối cao của Hoa Kỳ”. Mục 1. Điều III ghi rõ “…Các thẩm phán của toà án tối cao và các toà án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi đúng đắn. Trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó”.

Vậy các thẩm phán Hoa Kỳ, họ là ai? Các nhân vật chính của hệ thống pháp lý liên bang là những người đảm nhiệm chức vụ thẩm phán và chánh án. Phải học tập rèn luyện như thế nào để trở thành thẩm phán? Các thẩm phán được lựa chợn ra sao và khi nào họ bị bãi miễn? Người dân Mỹ thường có quan niệm rằng một người sinh ra trong hoàn cảnh tầm thường nhất (như Abraham Lincon) một ngày nào đó cũng có thể trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, hoặc ít nhất cũng sẽ là thẩm phán tòa án tối cao. Về nguyên tắc, mọi người ai cũng có thể trở thành một quan chức chính phủ xuất chúng. Có thể nêu ra nhiều ví dụ về những người có xuất thân thấp kém song đã đạt tới đỉnh cao quyền lực. Tuy vậy, các thẩm phán liên bang Mỹ cũng như những quan chức chính phủ khác, cả những người đứng đầu các ngành thương mại, công nghiệp, hầu hết đều xuất thân tù tầng lớp trung lưu và thượng lưu của đất nước này. Tất cả các thẩm phán đều tốt nghiệp đại học, khoảng một nửa trong số họ đã theo học tại các trường đại học nổi tiếng ở miền đông-bắc Mỹ với mức học phí rất cao. Các thẩm phán cũng “khác” công chúng ở tính kế nghiệp, nghĩa là thường xuất thân từ những gia đình có truyền thống làm việc trong ngành tư pháp hoặc dịch vụ công. Mặc dù 51% dân số Mỹ là phụ nữ, song các thẩm phán hầu như đều là nam giới. Cho tới tận nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter (1977-1982), mới chỉ có chưa đến 2% các thẩm phán hạt là phụ nữ. Các nhóm chủng tộc thiểu số (không phải là người thuộc chủng tộc Anglo) cũng chỉ chiếm một tỷ lệ rất ít ỏi trong số các thẩm phán. Cho đến nay, chỉ có Jimmy Carter là đã bổ nhiệm một lượng đáng kể phụ nữ (14,4%) và những người không thuộc chủng tộc Anglo (21%) vào ngành tư pháp. Trong thời gian cầm quyền (1993-2001), Tổng thống Bill Clinton đã bổ nhiệm 49% số người giữ các chức vụ trong ngành tư pháp là phụ nữ và người thuộc nhóm thiểu số. Đó là một sự thay đổi lớn. Khoảng 90% các thẩm phán là người thuộc cùng một đảng với tổng thống đã bổ nhiệm họ và trong số đó có khoảng 60% tham gia hoạt động đảng phái rất tích cực.

Thông thường các thẩm phán thường được bổ nhiệm ở độ tuổi 49 và hầu như không thấy có sự khác biệt lớn về độ tuổi được bổ nhiệm thẩm phán giữa các nhiệm kỳ tổng thống. Năng lực chuyên môn nổi bật và phẩm chất chính trị xuất sắc qua hoạt động đảng phái là cơ sở để thượng viện biết, giới thiệu và Tổng thống bổ nhiệm làm thẩm phán. Tuy vậy, thẩm phán tương lai nào biết tiến hành vận động kín đáo và gặp sự ngẫu nhiên may mắn đúng vào lúc cần bổ sung thẩm phán bị khuyết, vẫn sẽ có cơ hội trúng cử hơn những người có cùng trình độ năng lực và phẩm chất. Quy trình tuyển chọn thẩm phán rất nghiêm ngặt, khắt khe. Trước hết phải được tham khảo ý kiến của đội ngũ nhân viên Nhà Trắng, văn phòng Chưởng lý, một số thượng nghị sĩ và các nhà hoạt động chính trị khác. Các phẩm chất và năng lực của ứng cử viên sẽ được bộ phận chuyên môn của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ đánh giá. Tiếp theo là thủ tục kiểm tra an ninh của Cục điều tra liên bang (FBI), của bộ phận chuyên trách thuộc Bộ tư pháp. Tên của ứng cử viên sẽ được gửi tên Uỷ ban Tư Pháp Thượng viện Hoa Kỳ. Uỷ ban sẽ tiến hành một cuộc điều tra xem ứng cử viên có phù hợp với vị trí này hay không. Nếu mọi kết quả đều thuận lợi, việc bổ nhiệm ứng cử viên làm thẩm phán sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Thượng viện và tiến hành bỏ phiếu thông qua hoặc phản đối do đa số quyết định. Các thẩm phán Hoa Kỳ chỉ ngừng thực hiện nhiệm vụ khi nghỉ hưu theo nguyện vọng, do tình trạng sức khoẻ yếu kém hay qua đời hoặc khi họ phải kỷ luật. Tất cả các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm theo quy định của Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ đều được giữ chức vụ đó “trong thời gian có hành vi chính đáng”, có nghĩa là họ sẽ được giữ chức vụ đó suốt đời hoặc cho đến khi họ muốn ngừng lại. Cách thức duy nhất buộc họ phải từ nhiệm là tiến hành luận tội tại Hạ viện và kết tội tại Thượng viện. Theo quy định của Hiến pháp (Đối với các thẩm phán Toà án tối cao) và các quy định về lập pháp (đối với thẩm phán Toà phúc thẩm và sơ thẩm), chỉ tiến hành luận tội khi phạm các tội danh “phản quốc, nhận hối lộ hoặc những trọng tội khác”. Thẩm phán bị luận tội đó sẽ bị kết án tại Thượng viện khi có 2/3 số người dự họp bỏ phiếu tán thành. Từ 1789 đến nay, Hạ viện mới chỉ khởi xướng luận tội đối với 13 thẩm phán và có 7/13 người đã bị kết tội. Bên cạnh đó, có hơn mười thẩm phán khác đã xin từ chức trước khi bị luận tội. Ngày 1-10-1980, một đạo luật mới được thông qua với tên gọi “Về cải cách các hội đồng thẩm phán, hành vi sai phạm và suy thoái tư cách của thẩm phán”. Đạo luật có hai phần riêng biệt. Phần thứ nhất uỷ quyền cho các Hội đồng thẩm phán được “đưa ra những quy định phù hợp và cần thiết để thực thi luật pháp hiệu quả và nhanh chóng”. Phần thứ hai quy định một trình tự khiếu kiện các thẩm phán cho phép một bên không đồng tình trong vụ xử được đệ đơn khiếu nại lên toà phúc thẩm. Chánh án toà phúc thẩm có thể bác bỏ nếu có đủ căn cứ cho thấy việc khiếu nại và không đúng. Nếu thấy khiếu nại có đủ cơ sở để xem xét, chánh án sẽ phải chỉ định một ủy ban điều tra gồm bản thân (chánh án) và một số lượng bằng nhau các thẩm phán của toà sơ thẩm và toà phúc thẩm để tiến hành điều tra. Uỷ ban này sẽ báo cáo kết quả điều tra lên Hội đồng thẩm phán. Hội đồng sẽ lựa chọn quyết định miễn tội hoặc cách chức đối với các thẩm phán (cấp bang). Đối với các thẩm phán (liên bang) Hoa Kỳ được bổ nhiệm theo điều III của Hiến pháp thì Hội đồng chỉ có thể khiển trách, tuyên bố không đủ tư cách hoặc cấm xét xử trong những vật việc cụ thể, không đước phép cách chức. Nếu Hội đồng thẩm phán cho rằng hành vi sai phạm có đủ điều kiện để luận tội thì thông báo cho Hội đồng tư pháp để chuyển bên Hạ viện xem xét luận tội. Thuyết phục những thẩm phán đã quá già không còn đủ khả năng thực thi trách nhiệm rời bỏ chức vụ còn khó hơn cả việc cách chức các thẩm phán có những hành vi sai phạm. Quốc hội Hoa Kỳ đã cố gắng,- với đôi chút thành công,- khuyến khích các thẩm phán cao tuổi nghỉ hưu bằng cách dành cho họ những ưu đãi vật chất hấp dẫn khi nghỉ hưu.

Từ năm 1984, các thẩm phán liên bang được phép nghỉ hưu mà vẫn hưởng nguyên lương và các khoản phúc lợi theo cái gọi là “quy tắc 80” (khi số tuổi cộng số năm làm thẩm phán đạt 80 năm). Quốc hội Hoa Kỳ cũng cho phép các thẩm phán chuyên sang ngạch chuyên gia cao cấp thay vì nghỉ hưu hoàn toàn.Trong trường hợp đó, tuy không phải trực tiếp tham gia việc xét xử, nhưng họ được phép giữ lại văn phòng với các nhân viên tư pháp và, quan trọng nhất là vẫn giữ được uy tín và có quyền tự hào rằng vẫn đang là một thẩm phán đương nhiệm.

SOURCE: BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY VỀ SỞ HỮU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

QUANG CẬN – Tạp chí Cộng sản điện tử, số 113-2006

Văn kiện Đại hội X của Đảng viết: “Qua tổng kết lý luận – thực tiễn 20 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần giải đáp.

Sau Đại hội X, Đảng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển Cương lĩnh (QC nhấn mạnh), làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội”(1). Việc tiếp tục đổi mới tư duy về sở hữu xã hội chủ nghĩa, thuộc phạm trù quan hệ sản xuất, là sự cần thiết, vừa cấp bách vừa cơ bản, xuất phát từ yêu cầu tiếp tục giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiếp cận những thành tựu mới nhất của kinh tế tri thức, góp phần xây dựng mô hình mới của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Theo đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng về phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, được nêu trong Cương lĩnh năm 1991 và được Đại hội X tiếp tục khẳng định, Đảng ta, trên thực tế, đã dần dần tiếp cận một tư duy mới về sở hữu xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ dài đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đó là chế độ đa sở hữu mà chủ thể là chế độ công hữu. Như vậy, chúng ta chấp nhận cả sở hữu tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế, bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, và nó thuộc phạm trù chế độ tư hữu; đồng thời, vẫn khẳng định chủ thể là chế độ công hữu. Đây là sự trở lại luận điểm đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về sự phụ thuộc của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất dưới ánh sáng lịch sử và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội hiện thực mô hình cũ: không thể xóa bỏ chế độ tư hữu một cách chủ quan khi sự phát triển cao của lực lượng sản xuất chưa cho phép. Vấn đề ở đây là: vẫn cần có tư duy mới về chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, về sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước. Cụ thể là, trong doanh nghiệp nhà nước của kinh tế nhà nước, thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân, cùng với chủ sở hữu là nhà nước, có thể còn chấp nhận cả chủ sở hữu trực tiếp của cá nhân và tập thể người lao động không, và ý nghĩa của việc đó như thế nào? (ở đây không đề cập đến chủ sở hữu của người lao động cá thể, tiểu chủ, hộ xã viên hợp tác xã đã được xác nhận trong đường lối kinh tế nhiều thành phần).

Nhận thức của chủ nghĩa xã hội theo mô hình cũ về sở hữu xã hội chủ nghĩa là thiết lập chế độ công hữu, xóa bỏ chế độ tư hữu. Điều này đã được ghi trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một công thức duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu”. Sở hữu cá nhân chỉ được quan niệm là sở hữu về tư liệu sinh hoạt, không chấp nhận sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất, coi đó là sở hữu tư nhân, trái với công hữu. Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề đường lối chính trị, đường lối kinh tế, là lịch sử và thực tiễn của hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình cũ, với cả mặt tích cực và hạn chế, mà sự hạn chế là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô.

Trong chủ nghĩa xã hội mô hình cũ ở nước ta, ở các doanh nghiệp nhà nước thuộc kinh tế nhà nước, sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân, khi người lao động mới được giải phóng, đã xuất hiện động lực to lớn trong sản xuất, kinh doanh, nhưng theo thời gian, động lực đó bị hạn chế dần dần. Hiện nay, nền kinh tế nhiều thành phần và đa sở hữu trong sự nghiệp đổi mới đã giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, động viên các tầng lớp dân cư phát triển sản xuất, kinh doanh, nhưng cá nhân người lao động vô sản vẫn đi làm thuê, không chỉ làm thuê cho chủ tư bản mà còn làm thuê cho cả Nhà nước; trong doanh nghiệp nhà nước, người lao động vẫn không phải là người chủ sở hữu trực tiếp về tư liệu sản xuất. Như vậy, chẳng lẽ chúng ta chỉ chấp nhận quyền chủ sở hữu về tư liệu sản xuất của người lao động cá thể, tiểu chủ, hộ xã viên hợp tác xã và của cả nhà tư bản, chứ không chấp nhận quyền đó của người lao động, của giai cấp công nhân trong doanh nghiệp nhà nước. Do đó, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, giai cấp công nhân là người làm chủ hay là người làm thuê (hay chỉ làm chủ về chính trị thông qua Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa)? Vai trò làm chủ thực tế, trực tiếp về kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước được thể hiện như thế nào và liệu có thể tạo nên động lực mạnh mẽ trong các doanh nghiệp nhà nước, trong thành phần kinh tế nhà nước như trong các thành phần kinh tế khác hay không, và do vậy việc phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này sẽ ra sao?

Bên cạnh đó, một vấn đề quan trọng khác đang được đặt ra là, kinh tế cổ phần có phải là giải pháp đột phá cho vấn đề sở hữu tài sản nói chung, sở hữu về tư liệu sản xuất nói riêng đối với mọi người dân trong tất cả các thành phần kinh tế, cả trong kinh tế nhà nước?

Tôi cho rằng, kinh tế cổ phần là một bước tiến bộ, tích cực, huy động được mọi nguồn vốn trong các tầng lớp dân cư, trong và ngoài doanh nghiệp, trong và ngoài nước, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động… ; ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, thực hiện được phần nào quyền chủ sở hữu của cá nhân người lao động. Do vậy, nó rất cần được tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, đó có phải là câu trả lời, là giải pháp của chủ nghĩa xã hội không? Bởi kinh tế cổ phần này là kinh tế của những người hữu sản, những người hữu sản không lao động và những người lao động hữu sản, không chỉ trong doanh nghiệp mà cả ngoài doanh nghiệp, cùng góp vốn vào sản xuất, kinh doanh. Trong đó, nguyên tắc phân phối là theo tài sản, theo cổ phần, không phải là theo lao động, nghĩa là tư bản là yếu tố chi phối chứ không phải là lao động (khi người lao động chỉ có thể có tài sản bằng sức lao động của mình). ở đây là gộp nhiều c (c con) thành C (C to) và phân phối theo C, tức là từ c đến C. Ai cũng biết, giải pháp tích cực có tính đột phá này là thuộc phạm trù kinh tế tư bản, xuất hiện từ mấy thế kỷ trước, khi chủ nghĩa tư bản cần tích tụ và tập trung những khoản tiền vốn lớn để xây dựng những công trình lớn, phát triển mạnh mẽ sản xuất, kinh doanh. Trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, có những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa nhưng thực chất là tư nhân hóa. Đây là điều mà Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX đã nhắc nhở cần phải tránh. Vấn đề đặt ra là, người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa được mua cổ phiếu ưu đãi để trở thành cổ đông, đúng là có phần làm chủ, nhưng có chi phối được toàn bộ cổ phần không? Bởi vì, có những trường hợp, do hoàn cảnh khó khăn, người lao động phải bán cổ phiếu của mình cho nhà hữu sản có cổ phần lớn hơn và biến nó thành tư liệu sinh hoạt để giải quyết khó khăn trong đời sống. Điều đó dẫn đến cơ cấu sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp thay đổi: sở hữu cổ phần của tư nhân, tư bản tư nhân ngày càng phát triển, tỷ lệ nghịch với sở hữu cổ phần của người lao động trong doanh nghiệp. Lúc này, người có cổ phần chi phối là người làm chủ doanh nghiệp chứ không phải là người lao động. Theo tôi, có thể có cái gọi là kinh tế cổ phần thuộc phạm trù kinh tế xã hội chủ nghĩa nếu chi phối cổ phần là người lao động chủ sở hữu (sẽ nêu ở dưới).

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, sức lao động cũng là một loại hàng hóa, nghĩa là có thị trường sức lao động và người lao động bán được hàng hóa sức lao động của mình, có việc làm, được đi làm thuê. Giải quyết việc làm cho người lao động, không để thất nghiệp, đúng hơn là hạn chế thất nghiệp ở mức thấp nhất, luôn luôn là vấn đề chiến lược của tất cả các nước, kể cả những nước tư bản phát triển. Tuy nhiên, có việc làm đâu phải chỉ là đi làm thuê. Nếu chỉ là lao động làm thuê, thì cũng chỉ là giải pháp của chủ nghĩa tư bản mà chủ nghĩa xã hội cũng rất cần. Giải pháp về lao động, việc làm, còn phải là lao động làm chủ, trong đó điều quan trọng nhất là làm sao để người lao động làm chủ sở hữu tư liệu sản xuất của mình trong sản xuất, kinh doanh. Hiện nay đã rõ, người lao động cá thể, tiểu chủ, hộ xã viên hợp tác xã làm chủ trực tiếp sở hữu của mình, nhưng còn người lao động trong doanh nghiệp nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong thành phần kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa, vẫn là người vô sản đi làm thuê như đã nêu ở trên (đương nhiên cả người lao động trong doanh nghiệp tư bản trong nước và ngoài nước). Phải chăng nên đặt vấn đề tìm nhiều biện pháp làm cho công nhân, người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, thành phần kinh tế nhà nước, trong sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân không chỉ là chủ sở hữu gián tiếp thông qua sở hữu nhà nước, mà còn thực sự là chủ sở hữu trực tiếp của cá nhân trong sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu.

Toàn dân sở hữu, toàn dân sản xuất, kinh doanh, người lao động làm chủ sở hữu trực tiếp tư liệu sản xuất của mình, đó là giải pháp theo tư duy mới về sở hữu xã hội chủ nghĩa nói chung, kể cả trong doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước, sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu. Làm được như vậy, sẽ tạo ra một động lực mới, to lớn trong sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, cơ sở vật chất bảo đảm cho người dân, người lao động làm chủ chính trị, xã hội, làm chủ bản thân, giữ được phẩm chất, nhân cách trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đích thực, sẽ được xác lập và không ngừng tăng cường. Người ta thường nói: “Lao động sáng tạo ra tất cả”. Cương lĩnh Gô-ta của Hội những người công nhân Đức ở thế kỷ XIX cũng nêu như vậy, và điều đó đã bị C.Mác phê phán trong “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta” rằng, “đó là điều có thể tìm thấy trong sách vỡ lòng của các nhà trường tư sản”. Theo C. Mác, lao động không thể sáng tạo ra tất cả nếu không có đối tượng lao động: thiên nhiên, ruộng đất, hầm mỏ… Nói “lao động sáng tạo ra tất cả” là lờ đi vấn đề cốt tủy: tư liệu sản xuất thuộc về ai? Đương nhiên, về vấn đề này, chủ nghĩa xã hội mô hình cũ đã có lời giải với cả mặt tích cực và hạn chế như chúng ta đã biết, và nay cần được giải quyết theo tư duy mới.

Như vậy, công hữu xã hội chủ nghĩa phải là sự liên hiệp của những người lao động trí óc và lao động chân tay làm chủ sở hữu trực tiếp về tư liệu sản xuất của mình trong nhiều hình thức: thông qua Nhà nước, trực tiếp của tập thể và của cá nhân, đan xen trong các hình thức sở hữu khác nhau, trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học và công nghệ hiện đại, của văn minh trí tuệ. Công hữu, sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước cần có sự đổi mới như thế nào đó để nó gắn liền với chế độ đa sở hữu và tác động tích cực đến các hình thức sở hữu khác.

Sở hữu thuộc phạm trù quan hệ sản xuất, nhất thiết phải phát triển phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất để phát huy tính tích cực, đẩy mạnh sản xuất, chứ không phát huy tính tiêu cực, hạn chế, kìm hãm sản xuất. Có thể dự báo sự xuất hiện và phát triển nhiều hình thức sở hữu khác nữa (và nhiều loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh) trong chế độ công hữu cũng như trong các hình thức sở hữu khác trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trước sự tác động của văn minh trí tuệ, trực tiếp là của kinh tế tri thức. Ví dụ, việc chuyển một số tổ chức nghiên cứu khoa học – công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, sẽ hình thành những cái gọi là “trí nghiệp” (intelprise), khác với những xí nghiệp truyền thống (enterprise), không chỉ là một hình thức sản xuất, kinh doanh mới, mà còn là một hình thức sở hữu mới trong kinh tế tri thức. Đó là sự liên kết, hợp tác của những người lao động trí óc chủ sở hữu – làm chủ mà không nhất thiết có người làm thuê, không chỉ là chủ sở hữu trí tuệ mà có thể còn là chủ sở hữu cả cơ sở vật chất, kỹ thuật của nghiên cứu khoa học – công nghệ và sản xuất, kinh doanh.

Nên chăng, để bảo đảm quyền sở hữu trực tiếp về tư liệu sản xuất của cá nhân và tập thể người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, ngoài tiền công làm thuê như trong doanh nghiệp tư bản và doanh nghiệp nhà nước của chủ nghĩa xã hội mô hình cũ, có thể dành cho cá nhân người lao động một phần giá trị thặng dư m do chính họ làm ra, tạo thành sở hữu tập thể, không chia nhưng vẫn hình thành cổ phần riêng của từng người lao động trong tập thể người lao động của doanh nghiệp để mở rộng sản xuất, kinh doanh? Làm như vậy, người lao động vô sản vẫn có cổ phần gắn với quyền làm chủ doanh nghiệp. Sở hữu tập thể này cũng là cổ phần của tập thể người lao động trong doanh nghiệp, được phân phối theo cổ phần (hưởng cổ tức). Cổ tức được tích tụ và tập trung để không ngừng phát triển sở hữu tập thể, cũng đồng thời là sự phát triển sở hữu cá nhân người lao động trong sở hữu tập thể đó. Nó không phải là sở hữu tư nhân, không giống cổ phần trong kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Tuy cũng là cổ phần và cổ tức, nhưng đó là phân phối theo lao động, bị lao động chi phối. Sở hữu cá nhân trong sở hữu tập thể này là lao động tích lũy của người lao động, trực tiếp thuộc về người lao động, người lao động được hưởng và trở thành tài sản đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. ở đây, m biến thành c và tích tụ, tập trung m thành C, tức là từ m đến C đều là của người lao động và do lao động chi phối. Từ đó, có thể cho rằng, kinh tế cổ phần mà người lao động là chủ sở hữu chi phối thuộc phạm trù kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, lao động của người vô sản đã tạo ra tài sản cho người vô sản một cách trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh để biến người lao động thành chủ sở hữu. ở đây, lao động của người vô sản hoàn toàn khác với nó dưới chế độ tư bản. Nó cũng không giống dưới chủ nghĩa xã hội mô hình cũ: người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, trong kinh tế nhà nước vẫn là người làm thuê (nhưng được coi là tạo ra sở hữu cho mình một cách gián tiếp, thông qua Nhà nước).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ ý tưởng của mình trong Sắc lệnh số 29 (ngày 12-3-1947): “Để khuyến khích công nhân trong các ngành kỹ nghệ và thương mại, có thể định cho công nhân tham gia vào việc chia lãi hàng năm”. ở đây, có thể Người nói đến những doanh nghiệp tư nhân và tư bản tư nhân có từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cả một số ít doanh nghiệp nhà nước mới hình thành sau Cách mạng Tháng Tám. Nhưng Người chỉ mới nói đến việc chia lãi, chưa nói đến việc công nhân sử dụng lãi được chia ấy như thế nào.

Sở hữu tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân cũng có khả năng đi vào chủ nghĩa xã hội theo đường lối của Đảng nếu định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Bởi vậy, cần tiếp tục huy động vốn trong dân cư, vốn của nước ngoài, động viên mọi nguồn lực để mở rộng và hiện đại hóa sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phát triển kinh tế cổ phần. Cần thực hiện kinh tế cổ phần thuộc phạm trù kinh tế tư bản chủ nghĩa, đồng thời nghiên cứu thực hiện kinh tế cổ phần thuộc phạm trù kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhằm dần dần bảo đảm quyền chủ sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất của mọi người lao động trong tất cả các thành phần kinh tế, kể cả trong kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu.

Như vậy, sở hữu công cộng (công hữu) không đối lập với sở hữu cá nhân (về tư liệu sản xuất). Sở hữu cá nhân phải là những tế bào của sở hữu công cộng để tạo nên động lực mạnh mẽ cho người lao động trong sản xuất, kinh doanh. Sở hữu toàn dân dưới hình thức sở hữu nhà nước không phải là ngoại lệ, dù là một hình thức đặc thù. Trong công hữu, ngoài sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, còn có sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân. Sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước không phải là vô chủ mà phải có những người chủ trực tiếp, cụ thể (những cá nhân trong tập thể người lao động mà lợi ích cá nhân gắn bó trực tiếp với lợi ích tập thể, với lợi ích của cả nước).

Hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các định chế xã hội Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GS. TS. LÊ VĂN QUANG – Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự

Trong lịch sử, mỗi hình thức quan hệ xã hội cụ thể quy định sự hình thành và phát triển của từng định chế xã hội. Về thực chất, định chế xã hội là tổng hòa hệ thống tổ chức thiết chế xã hội với hệ thống quy định về phương thức tổ chức hoạt động của cá nhân và cộng đồng theo những mối quan hệ tương ứng. Khi xã hội có sự phân chia giai cấp, hệ thống định chế xã hội luôn mang tính giai cấp, đồng thời được phân định thành các định chế xã hội chính trị như chính đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị, liên minh chính trị… và các định chế xã hội dân sự như tổ chức cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, tổ chức dân tộc, tổ chức tôn giáo, tổ chức kinh tế…
Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện ở sự tương tác giữa kiến trúc thượng tầng pháp lý cùng các tổ chức nhà nước tương ứng với các tổ chức đoàn thể, xã hội và các thành viên của nó. Nhà nước vừa là một định chế xã hội chính trị, vừa là trung tâm nối kết, điều tiết, xác lập và thực hiện cơ chế quan hệ giữa các định chế xã hội về mặt pháp luật. Các tổ chức chính trị – xã hội không thuộc hệ thống bộ máy nhà nước luôn đóng vai trò pháp nhân với quyền và nghĩa vụ pháp lý, đồng thời với tư cách thể nhân khi quan hệ với các định chế xã hội khác. Quan hệ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với xã hội dân sự ở Việt Nam là quan hệ đang trong quá trình hình thành, phát triển của một xã hội có nền kinh tế chậm phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chịu sự tác động mạnh của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vậy, chúng ta cần dựa vào các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ thực tiễn đất nước, trước hết là nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, để có một hệ thống nguyên tắc chỉ đạo trong giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự. Trong đó, việc giải quyết quan hệ giữa nguyên tắc định chế xã hội chính trị và nguyên tắc định chế xã hội dân sự là một nhiệm vụ cần thiết trong nhận thức và tổ chức thực tiễn.
Nguyên tắc định chế xã hội chính trị thực chất là nhận thức và giải quyết vấn đề kết hợp biện chứng giữa định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng dân chủ hóa trong đổi mới tổ chức và hoạt động của tất cả các định chế xã hội phù hợp với tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Việc thực hiện nguyên tắc này trước hết đòi hỏi phải không ngừng đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn bộ đời sống xã hội. Đồng thời, nhất thiết xây tạo được hệ thống động lực chính trị – tinh thần nhằm mục đích xây dựng Nhà nước với các định chế và đời sống xã hội dân sự theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nguyên tắc định chế xã hội dân sự xuất phát từ yêu cầu hướng Nhà nước vào mục tiêu bảo đảm nhu cầu dân sự của nhân dân, thực hiện chức năng xã hội dân sự trong quản lý các chế định xã hội. Đồng thời, khuyến khích vai trò tự quản của các chế định xã hội trên cơ sở tuân theo pháp luật và được bảo hộ các quyền hợp pháp, tự quyết định kế hoạch phát triển nội bộ và phấn đấu vì lợi ích cao nhất của mọi thành viên theo nguyên tắc công bằng, dân chủ và không trái pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi phải xây tạo và phát huy hệ thống động lực về chính trị – xã hội để hoàn thiện cơ chế quan hệ về phương diện xã hội dân sự.
Từ sự nhận thức và định hướng giải quyết các vấn đề nói trên, chúng ta thấy, để hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với các định chế xã hội ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp cơ bản sau:
Một là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội. Trước hết, Đảng cần nâng cao hiệu quả lãnh đạo hệ thống chính trị để thắt chặt quan hệ giữa Nhà nước với xã hội dân sự, làm cho mọi phương tiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều hướng về nhân dân, xuất phát từ đời sống xã hội dân sự và quyền con người, đồng thời mở rộng dân chủ và giữ nghiêm kỷ cương, pháp luật. Đảng không những quyết định quá trình hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các chế định xã hội theo định hướng chính trị, yêu cầu pháp luật, mà còn theo định hướng nâng cao tính nhân văn. Cần có nhiều biện pháp lãnh đạo trực tiếp các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức; phát huy tốt vai trò của nhân dân và các định chế xã hội; khắc phục những bức xúc có thể gây cản trở quá trình củng cố, hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội, cần triển khai nhiều nội dung: phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa đối với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức, hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội; chính quyền các cấp cần cụ thể hóa nghị quyết của tổ chức đảng thành quyết định quản lý và phối hợp hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. Đảng lãnh đạo chính quyền các cấp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, cải thiện mối quan hệ với các định chế xã hội; lãnh đạo hệ thống chính trị và phát huy tất cả các định chế xã hội trong xây dựng Nhà nước và xây dựng xã hội dân sự. Những nội dung cơ bản trên đòi hỏi toàn Đảng cũng như mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tự xây dựng, chỉnh đốn; không ngừng hoàn thiện cơ chế phối hợp hoạt động với các thành viên của hệ thống chính trị và các định chế xã hội dân sự; thực sự gần dân và làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, hoàn thiện các quy phạm xã hội dân sự nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với hoàn thiện cơ sở pháp lý để quản lý xã hội dân sự bằng pháp luật. Trong việc hoàn thiện các quy phạm xã hội dân sự, cần xác định những nguyên tắc lý luận để tiếp tục làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các định chế xã hội cơ bản nhất; giải quyết một cách khoa học nguyên tắc phân định giữa quy phạm pháp luật với quy phạm xã hội dân sự. Khi tổ chức thực hiện, cần tập trung hoàn thiện các tôn chỉ, mục đích, quy tắc, quy định, điều lệ của các định chế xã hội trên cơ sở tuân thủ pháp luật và độc lập với pháp luật. Cùng với việc thường xuyên phát hiện và khắc phục những hạn chế, tiêu cực trong đời sống cộng đồng và các định chế xã hội, cần hoàn thiện hệ thống quy phạm xã hội dân sự một cách có cơ sở khoa học nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân và giữ vững kỷ cương, pháp luật. Trong hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần phát triển hệ thống lý luận nhằm xác định những nguyên tắc cơ bản khẳng định nội dung của dân, do dân, vì dân của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Toàn bộ Hiến pháp, các bộ luật, các nghị định và hoạt động của mọi cơ quan nhà nước đều dựa vào sự đồng tình ủng hộ của toàn dân, phản ánh lợi ích của toàn dân tộc, trước hết là của nhân dân lao động. Việc không ngừng bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp và các bộ luật cần được tiến hành thường xuyên trên cơ sở coi trọng pháp chế hóa mối quan hệ giữa tư cách thể nhân và pháp nhân của từng định chế xã hội. Tổ chức thực thi pháp luật trong mọi phương diện đời sống xã hội theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là giải pháp thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay.
Ba là, xây dựng đoàn thể và tổ chức xã hội vững mạnh trong sự kết hợp với xây dựng cấp ủy và chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các đoàn thể chính trị và tổ chức xã hội đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và tổ chức chặt chẽ là nhằm không chỉ giữ vững định hướng chính trị, mà còn phát huy cao nhất dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đối với các tổ chức chính trị – xã hội, cần nâng cao vai trò của chúng trên cơ sở pháp lý trong hiệp thương chính trị và quản lý dân sự. Đối với các tổ chức cộng đồng cư dân, cần định rõ tư cách pháp nhân nhằm tạo thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động và phát huy vai trò của các thành viên trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đối với các tổ chức phi chính phủ, cần phát huy vai trò tự quản, cung cấp dịch vụ công theo nguyên tắc không trái pháp luật, đồng thời được củng cố trên cơ sở tuân thủ sự quản lý bằng pháp luật. Đối với các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, việc quản lý dân sự cần được thể chế hóa phù hợp với đặc điểm của từng tôn giáo; định rõ giữa thể nhân tôn giáo và pháp nhân tôn giáo, giữa tự quản dân sự của tổ chức tôn giáo và quản lý bằng pháp luật của chính quyền. Đối với các tổ chức kinh tế, phải tuân thủ đầy đủ Hiến pháp và pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, thực hiện chính sách thuế và bảo đảm quyền lợi của người lao động. Trong xây dựng các cơ quan nhà nước, cần tập trung nâng cao tính định hướng chính trị, tính nhân dân và tính dân tộc; đổi mới tổ chức và hoạt động để tăng hiệu lực quản lý xã hội. Phải triển khai toàn diện việc kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao hiệu quả các cơ quan dân cử, bộ máy hành chính, cơ quan tư pháp từ trung ương đến cơ sở. Đồng thời, cần luật pháp hóa cơ chế quản lý vĩ mô và ban hành quy định về hiệp đồng quản lý nhà nước, về tư vấn và trọng tài pháp luật trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực dân sự; thể chế hóa chế độ kiểm tra, giám sát thực hiện Hiến pháp, pháp luật; ban hành và thực hiện nghiêm chính sách thuế theo luật định. Cần hiện thực hóa nguyên tắc kết hợp giữa phân công nhiệm vụ theo chức năng cho các cơ quan chuyên môn với phân cấp quản lý cho các cấp chính quyền.
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ của đoàn thể và tổ chức xã hội, nâng cao trình độ dân trí trong sự kết hợp với củng cố đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trước hết, cần định rõ vai trò của cán bộ, công chức nhà nước, cán bộ các đoàn thể, tổ chức xã hội và trình độ dân trí trong hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các định chế xã hội. Với tư cách định chế xã hội – đảng cầm quyền, Đảng ta phải quan tâm đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ cho cả hệ thống chính trị, không chỉ là cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước mà còn là cán bộ các đoàn thể, tổ chức xã hội. Cần xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan nhà nước, cũng như tính chất của từng định chế xã hội để xây dựng và triển khai mô hình chung và mô hình chuyên biệt cho từng nhóm, ngành cán bộ; xác định quy chế, phương pháp xem xét, đánh giá cả về đức và tài để hoàn thiện nội dung đào tạo, quy hoạch sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; tổ chức lại công tác cán bộ theo yêu cầu thắt chặt quan hệ giữa Nhà nước và các định chế xã hội. Sử dụng cán bộ cần đi đôi với bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, trình độ văn hóa toàn diện và công tác chính sách. Cùng với xây dựng đội ngũ cán bộ, cần khẳng định vai trò của trình độ dân trí nhằm phát huy mạnh mẽ văn hóa dân chủ và văn hóa pháp luật trong nhân dân, đồng thời có chiến lược toàn diện, phát huy truyền thống và đón trước được khả năng tiếp tục phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, của toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Để nâng cao văn hóa pháp luật, trách nhiệm công dân trong giữ gìn kỷ cương, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước và các định chế xã hội, cần tập trung nâng cao trình độ hiểu biết của công dân về các giá trị truyền thống, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm trên thế giới về phương diện nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc Quy chế Dân chủ ở cơ sở nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, gắn với chăm lo xây dựng thôn, bản, khu phố theo tiêu chuẩn văn hóa, văn minh. Trong giáo dục – đào tạo, việc chú trọng giáo dục pháp luật phải chiếm vị trí xứng đáng, được tiến hành chặt chẽ, cơ bản và khoa học. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần gắn với xây dựng môi trường văn hóa pháp luật, kỷ luật, phát huy sức mạnh đặc biệt của văn hóa, làm cho các quy phạm pháp luật và quy phạm xã hội thấm sâu vào mỗi người dân như những giá trị bền vững.
Năm là, tập trung giải quyết những bức xúc xã hội nhằm hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các định chế xã hội. Cần gắn việc giải quyết các bức xúc xã hội với xây dựng môi trường và động lực xã hội nhằm hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội. Để có cơ chế quan hệ thông suốt thì không những cơ chế đó phải được xác định đúng mà còn phải được đặt trong một môi trường, điều kiện, hoàn cảnh mà mọi thành viên đều thấy đó là giá trị cần theo. Xây dựng được môi trường dân chủ và pháp luật sẽ tạo ra điều kiện tổng thể thuận lợi để giải quyết tốt các bức xúc trong đời sống xã hội, song bản thân quá trình xây dựng môi trường ấy cũng đòi hỏi phải giải quyết tốt các bức xúc xã hội. Giải quyết các bức xúc xã hội sẽ góp phần tích cực xây tạo, kết hợp, cộng hưởng cùng chiều giữa động lực về chính trị – xã hội và động lực về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự; giải quyết trọn vẹn, triệt để các bức xúc trong lĩnh vực chính trị và lĩnh vực dân sự sẽ góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội. Từ định hướng cơ bản đó, cần thực hiện những nội dung chủ yếu trong giải quyết các bức xúc xã hội: Về nhận thức, tư tưởng, phải xác định rõ, mục đích của việc giải quyết các bức xúc xã hội là làm lành mạnh hóa các quan hệ Nhà nước với các định chế xã hội; đồng thời, xác định rõ thái độ và phương pháp đấu tranh. Về công tác tổ chức, cần cụ thể hóa các nhiệm vụ của cả Nhà nước và các định chế xã hội; nâng cao đời sống nhân dân, kết hợp giữa cải cách cơ bản chế độ tiền lương với xóa bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi; giải quyết công bằng xã hội; nâng cao tính nghiêm minh của pháp luật và định hướng công luận xã hội; phát huy vai trò của các chủ thể xã hội trong tổ chức thực hiện; đổi mới quá trình dân chủ hóa… nhằm giải quyết tận gốc các bức xúc xã hội./.

SOURCE: Tạp chí Cộng sản điện tử số111-2006

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VỚI CÁC ĐỊNH CHẾ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GS. TS. LÊ VĂN QUANG- Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Tạp chí Cộng sản điện tử số 111-2006

Trong lịch sử, mỗi hình thức quan hệ xã hội cụ thể quy định sự hình thành và phát triển của từng định chế xã hội. Về thực chất, định chế xã hội là tổng hòa hệ thống tổ chức thiết chế xã hội với hệ thống quy định về phương thức tổ chức hoạt động của cá nhân và cộng đồng theo những mối quan hệ tương ứng. Khi xã hội có sự phân chia giai cấp, hệ thống định chế xã hội luôn mang tính giai cấp, đồng thời được phân định thành các định chế xã hội chính trị như chính đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị, liên minh chính trị… và các định chế xã hội dân sự như tổ chức cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, tổ chức dân tộc, tổ chức tôn giáo, tổ chức kinh tế…
Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện ở sự tương tác giữa kiến trúc thượng tầng pháp lý cùng các tổ chức nhà nước tương ứng với các tổ chức đoàn thể, xã hội và các thành viên của nó. Nhà nước vừa là một định chế xã hội chính trị, vừa là trung tâm nối kết, điều tiết, xác lập và thực hiện cơ chế quan hệ giữa các định chế xã hội về mặt pháp luật. Các tổ chức chính trị – xã hội không thuộc hệ thống bộ máy nhà nước luôn đóng vai trò pháp nhân với quyền và nghĩa vụ pháp lý, đồng thời với tư cách thể nhân khi quan hệ với các định chế xã hội khác. Quan hệ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với xã hội dân sự ở Việt Nam là quan hệ đang trong quá trình hình thành, phát triển của một xã hội có nền kinh tế chậm phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chịu sự tác động mạnh của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vậy, chúng ta cần dựa vào các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ thực tiễn đất nước, trước hết là nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, để có một hệ thống nguyên tắc chỉ đạo trong giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự. Trong đó, việc giải quyết quan hệ giữa nguyên tắc định chế xã hội chính trị và nguyên tắc định chế xã hội dân sự là một nhiệm vụ cần thiết trong nhận thức và tổ chức thực tiễn.
Nguyên tắc định chế xã hội chính trị thực chất là nhận thức và giải quyết vấn đề kết hợp biện chứng giữa định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng dân chủ hóa trong đổi mới tổ chức và hoạt động của tất cả các định chế xã hội phù hợp với tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Việc thực hiện nguyên tắc này trước hết đòi hỏi phải không ngừng đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn bộ đời sống xã hội. Đồng thời, nhất thiết xây tạo được hệ thống động lực chính trị – tinh thần nhằm mục đích xây dựng Nhà nước với các định chế và đời sống xã hội dân sự theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nguyên tắc định chế xã hội dân sự xuất phát từ yêu cầu hướng Nhà nước vào mục tiêu bảo đảm nhu cầu dân sự của nhân dân, thực hiện chức năng xã hội dân sự trong quản lý các chế định xã hội. Đồng thời, khuyến khích vai trò tự quản của các chế định xã hội trên cơ sở tuân theo pháp luật và được bảo hộ các quyền hợp pháp, tự quyết định kế hoạch phát triển nội bộ và phấn đấu vì lợi ích cao nhất của mọi thành viên theo nguyên tắc công bằng, dân chủ và không trái pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi phải xây tạo và phát huy hệ thống động lực về chính trị – xã hội để hoàn thiện cơ chế quan hệ về phương diện xã hội dân sự.
Từ sự nhận thức và định hướng giải quyết các vấn đề nói trên, chúng ta thấy, để hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với các định chế xã hội ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp cơ bản sau:
Một là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội. Trước hết, Đảng cần nâng cao hiệu quả lãnh đạo hệ thống chính trị để thắt chặt quan hệ giữa Nhà nước với xã hội dân sự, làm cho mọi phương tiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều hướng về nhân dân, xuất phát từ đời sống xã hội dân sự và quyền con người, đồng thời mở rộng dân chủ và giữ nghiêm kỷ cương, pháp luật. Đảng không những quyết định quá trình hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các chế định xã hội theo định hướng chính trị, yêu cầu pháp luật, mà còn theo định hướng nâng cao tính nhân văn. Cần có nhiều biện pháp lãnh đạo trực tiếp các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức; phát huy tốt vai trò của nhân dân và các định chế xã hội; khắc phục những bức xúc có thể gây cản trở quá trình củng cố, hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội, cần triển khai nhiều nội dung: phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa đối với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức, hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội; chính quyền các cấp cần cụ thể hóa nghị quyết của tổ chức đảng thành quyết định quản lý và phối hợp hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. Đảng lãnh đạo chính quyền các cấp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, cải thiện mối quan hệ với các định chế xã hội; lãnh đạo hệ thống chính trị và phát huy tất cả các định chế xã hội trong xây dựng Nhà nước và xây dựng xã hội dân sự. Những nội dung cơ bản trên đòi hỏi toàn Đảng cũng như mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tự xây dựng, chỉnh đốn; không ngừng hoàn thiện cơ chế phối hợp hoạt động với các thành viên của hệ thống chính trị và các định chế xã hội dân sự; thực sự gần dân và làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, hoàn thiện các quy phạm xã hội dân sự nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với hoàn thiện cơ sở pháp lý để quản lý xã hội dân sự bằng pháp luật. Trong việc hoàn thiện các quy phạm xã hội dân sự, cần xác định những nguyên tắc lý luận để tiếp tục làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các định chế xã hội cơ bản nhất; giải quyết một cách khoa học nguyên tắc phân định giữa quy phạm pháp luật với quy phạm xã hội dân sự. Khi tổ chức thực hiện, cần tập trung hoàn thiện các tôn chỉ, mục đích, quy tắc, quy định, điều lệ của các định chế xã hội trên cơ sở tuân thủ pháp luật và độc lập với pháp luật. Cùng với việc thường xuyên phát hiện và khắc phục những hạn chế, tiêu cực trong đời sống cộng đồng và các định chế xã hội, cần hoàn thiện hệ thống quy phạm xã hội dân sự một cách có cơ sở khoa học nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân và giữ vững kỷ cương, pháp luật. Trong hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần phát triển hệ thống lý luận nhằm xác định những nguyên tắc cơ bản khẳng định nội dung của dân, do dân, vì dân của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Toàn bộ Hiến pháp, các bộ luật, các nghị định và hoạt động của mọi cơ quan nhà nước đều dựa vào sự đồng tình ủng hộ của toàn dân, phản ánh lợi ích của toàn dân tộc, trước hết là của nhân dân lao động. Việc không ngừng bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp và các bộ luật cần được tiến hành thường xuyên trên cơ sở coi trọng pháp chế hóa mối quan hệ giữa tư cách thể nhân và pháp nhân của từng định chế xã hội. Tổ chức thực thi pháp luật trong mọi phương diện đời sống xã hội theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là giải pháp thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay.
Ba là, xây dựng đoàn thể và tổ chức xã hội vững mạnh trong sự kết hợp với xây dựng cấp ủy và chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các đoàn thể chính trị và tổ chức xã hội đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và tổ chức chặt chẽ là nhằm không chỉ giữ vững định hướng chính trị, mà còn phát huy cao nhất dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đối với các tổ chức chính trị – xã hội, cần nâng cao vai trò của chúng trên cơ sở pháp lý trong hiệp thương chính trị và quản lý dân sự. Đối với các tổ chức cộng đồng cư dân, cần định rõ tư cách pháp nhân nhằm tạo thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động và phát huy vai trò của các thành viên trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đối với các tổ chức phi chính phủ, cần phát huy vai trò tự quản, cung cấp dịch vụ công theo nguyên tắc không trái pháp luật, đồng thời được củng cố trên cơ sở tuân thủ sự quản lý bằng pháp luật. Đối với các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, việc quản lý dân sự cần được thể chế hóa phù hợp với đặc điểm của từng tôn giáo; định rõ giữa thể nhân tôn giáo và pháp nhân tôn giáo, giữa tự quản dân sự của tổ chức tôn giáo và quản lý bằng pháp luật của chính quyền. Đối với các tổ chức kinh tế, phải tuân thủ đầy đủ Hiến pháp và pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, thực hiện chính sách thuế và bảo đảm quyền lợi của người lao động. Trong xây dựng các cơ quan nhà nước, cần tập trung nâng cao tính định hướng chính trị, tính nhân dân và tính dân tộc; đổi mới tổ chức và hoạt động để tăng hiệu lực quản lý xã hội. Phải triển khai toàn diện việc kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao hiệu quả các cơ quan dân cử, bộ máy hành chính, cơ quan tư pháp từ trung ương đến cơ sở. Đồng thời, cần luật pháp hóa cơ chế quản lý vĩ mô và ban hành quy định về hiệp đồng quản lý nhà nước, về tư vấn và trọng tài pháp luật trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực dân sự; thể chế hóa chế độ kiểm tra, giám sát thực hiện Hiến pháp, pháp luật; ban hành và thực hiện nghiêm chính sách thuế theo luật định. Cần hiện thực hóa nguyên tắc kết hợp giữa phân công nhiệm vụ theo chức năng cho các cơ quan chuyên môn với phân cấp quản lý cho các cấp chính quyền.
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ của đoàn thể và tổ chức xã hội, nâng cao trình độ dân trí trong sự kết hợp với củng cố đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trước hết, cần định rõ vai trò của cán bộ, công chức nhà nước, cán bộ các đoàn thể, tổ chức xã hội và trình độ dân trí trong hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các định chế xã hội. Với tư cách định chế xã hội – đảng cầm quyền, Đảng ta phải quan tâm đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ cho cả hệ thống chính trị, không chỉ là cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước mà còn là cán bộ các đoàn thể, tổ chức xã hội. Cần xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan nhà nước, cũng như tính chất của từng định chế xã hội để xây dựng và triển khai mô hình chung và mô hình chuyên biệt cho từng nhóm, ngành cán bộ; xác định quy chế, phương pháp xem xét, đánh giá cả về đức và tài để hoàn thiện nội dung đào tạo, quy hoạch sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; tổ chức lại công tác cán bộ theo yêu cầu thắt chặt quan hệ giữa Nhà nước và các định chế xã hội. Sử dụng cán bộ cần đi đôi với bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, trình độ văn hóa toàn diện và công tác chính sách. Cùng với xây dựng đội ngũ cán bộ, cần khẳng định vai trò của trình độ dân trí nhằm phát huy mạnh mẽ văn hóa dân chủ và văn hóa pháp luật trong nhân dân, đồng thời có chiến lược toàn diện, phát huy truyền thống và đón trước được khả năng tiếp tục phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, của toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Để nâng cao văn hóa pháp luật, trách nhiệm công dân trong giữ gìn kỷ cương, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước và các định chế xã hội, cần tập trung nâng cao trình độ hiểu biết của công dân về các giá trị truyền thống, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm trên thế giới về phương diện nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc Quy chế Dân chủ ở cơ sở nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, gắn với chăm lo xây dựng thôn, bản, khu phố theo tiêu chuẩn văn hóa, văn minh. Trong giáo dục – đào tạo, việc chú trọng giáo dục pháp luật phải chiếm vị trí xứng đáng, được tiến hành chặt chẽ, cơ bản và khoa học. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần gắn với xây dựng môi trường văn hóa pháp luật, kỷ luật, phát huy sức mạnh đặc biệt của văn hóa, làm cho các quy phạm pháp luật và quy phạm xã hội thấm sâu vào mỗi người dân như những giá trị bền vững.
Năm là, tập trung giải quyết những bức xúc xã hội nhằm hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các định chế xã hội. Cần gắn việc giải quyết các bức xúc xã hội với xây dựng môi trường và động lực xã hội nhằm hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội. Để có cơ chế quan hệ thông suốt thì không những cơ chế đó phải được xác định đúng mà còn phải được đặt trong một môi trường, điều kiện, hoàn cảnh mà mọi thành viên đều thấy đó là giá trị cần theo. Xây dựng được môi trường dân chủ và pháp luật sẽ tạo ra điều kiện tổng thể thuận lợi để giải quyết tốt các bức xúc trong đời sống xã hội, song bản thân quá trình xây dựng môi trường ấy cũng đòi hỏi phải giải quyết tốt các bức xúc xã hội. Giải quyết các bức xúc xã hội sẽ góp phần tích cực xây tạo, kết hợp, cộng hưởng cùng chiều giữa động lực về chính trị – xã hội và động lực về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự; giải quyết trọn vẹn, triệt để các bức xúc trong lĩnh vực chính trị và lĩnh vực dân sự sẽ góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện cơ chế quan hệ giữa Nhà nước với các định chế xã hội. Từ định hướng cơ bản đó, cần thực hiện những nội dung chủ yếu trong giải quyết các bức xúc xã hội: Về nhận thức, tư tưởng, phải xác định rõ, mục đích của việc giải quyết các bức xúc xã hội là làm lành mạnh hóa các quan hệ Nhà nước với các định chế xã hội; đồng thời, xác định rõ thái độ và phương pháp đấu tranh. Về công tác tổ chức, cần cụ thể hóa các nhiệm vụ của cả Nhà nước và các định chế xã hội; nâng cao đời sống nhân dân, kết hợp giữa cải cách cơ bản chế độ tiền lương với xóa bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi; giải quyết công bằng xã hội; nâng cao tính nghiêm minh của pháp luật và định hướng công luận xã hội; phát huy vai trò của các chủ thể xã hội trong tổ chức thực hiện; đổi mới quá trình dân chủ hóa… nhằm giải quyết tận gốc các bức xúc xã hội./.

VẤN ĐỀ ĐẤT ĐAI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Hiện nay, ở nước ta đất nông nghiệp bị thu hẹp rất nhanh, nhiều cánh đồng mầu mỡ đang biến mất dần, nhường chỗ cho các xa lộ lớn và đô thị. Bài toán đặt ra cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước về sử dụng hiệu quả và bền vững quỹ đất đang chưa có lời giải thỏa đáng. Bởi vậy, đất đai đang và sẽ còn là vấn đề “nóng” của cả nền kinh tế.
Để thực hiện được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nước ta phải chuyển đổi mạnh mẽ và đúng hướng cơ cấu kinh tế, trong đó vấn đề cốt lõi là chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Mục tiêu chiến lược cụ thể là phải giảm số lao động nông nghiệp xuống còn một nửa (50%). Nếu không thực hiện được mục tiêu này thì chẳng những tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp sẽ trầm trọng thêm, mà năng suất lao động nông nghiệp và thu nhập của người nông dân cũng sẽ khó có thể được cải thiện, chưa nói khoảng cách giàu – nghèo, nông thôn – thành thị càng doãng ra nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển bền vững.
Trong những bước đi ban đầu của công nghiệp hóa, chính nông thôn vừa là nguồn cung cấp lao động, vừa là thị trường của công nghiệp. Nhưng càng vào giai đoạn cuối của công nghiệp hóa và đô thị hóa, vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm sút. Trước tác động của quy luật thị trường, nhiều nước đã cố gắng phát triển nông nghiệp, nhưng vẫn không giữ được an ninh lương thực, nên ngày càng phải lệ thuộc vào thị trường bên ngoài. Điều đó đặc biệt nguy hiểm đối với những nước đông dân. Một số nước đến lúc công nghiệp đã đạt trình độ phát triển cao, thì chính phủ lại phải hỗ trợ nông nghiệp rất nhiều. Việc bảo hộ nông nghiệp đã trở nên cần thiết tới mức các nước giàu khó lòng cắt bỏ được, và đây cũng chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong các vòng đàm phán của WTO, mà 5 năm gần đây thế giới đã chứng kiến những thất bại liên tiếp trong các vòng đàm phán Đô-ha.
Ở các nước Đông Á, trong thời kỳ công nghiệp hóa do có ít đất (đất nông nghiệp chỉ còn dưới ngưỡng 400 m2/người) nên phải nhập thức ăn ngày càng nhiều. Ở Nhật Bản có dự báo rằng, trong 10 năm tới sẽ không còn nông nghiệp nữa, vì hiện nay chỉ có người già làm ruộng!. Nông dân Hàn Quốc đang gặp nhiều khó khăn trong điều kiện toàn cầu hóa, nên họ đang đấu tranh chống lại quá trình này rất mãnh liệt. Chỉ có Đài Loan chú ý đến nông nghiệp hơn cả, nhưng đến nay cũng đã phải nhập thức ăn ngày càng nhiều. Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong nông nghiệp, vì sản xuất lương thực có xu hướng giảm dần và đang lo thiếu lương thực cho việc cung cấp cho hơn 1,3 tỉ người? Vì vậy, nước này gần đây đã phát động một phong trào xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới.
Sự phát triển bền vững là quá trình phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ hiện nay mà không làm tổn hại đến sự phát triển trong tương lai. Phát triển bền vững bao gồm ba mục tiêu: chất lượng của môi trường, lợi ích kinh tế, công bằng xã hội và kinh tế. Trong quá trình phát triển này, mục tiêu giữ vững an ninh lương thực, thực phẩm có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nước càng đông dân số, và càng ở cấp vĩ mô, điều đó càng rõ. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị là một xu thế có sức cuốn hút mạnh, vì giá đất có sự chênh lệch rất lớn giữa các mục đích sử dụng – canh tác và xây dựng. Xu thế này sẽ có tác động tiêu cực và cản trở đến việc đầu tư thâm canh nông nghiệp và đang trở thành mối quan tâm lớn trong quá trình phát triển.
Muốn bảo đảm sự phát triển bền vững cần thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhất là chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp để khu vực này hỗ trợ cho công nghiệp hóa, trong đó trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu đất đai một cách hợp lý. Ruộng đất vừa là phương tiện để bảo đảm đời sống, vừa là một nhân tố sản xuất để tích lũy vốn. Vì vậy, việc tiếp cận với ruộng đất, quyền sở hữu hay quyền sử dụng, đều phải có tác dụng đến sản xuất, giúp nông dân thoát khỏi tự cấp, vươn lên phát triển nông nghiệp hàng hóa, đồng thời tham gia vào việc đầu tư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Lịch sử cho thấy, các mối quan hệ về ruộng đất thường có tính phức tạp, không đơn thuần chỉ là mối quan hệ con người với tài nguyên, mà chủ yếu lại bắt nguồn từ quan hệ giữa con người với con người xung quanh vấn đề ruộng đất.
Trong vòng 10 năm (1993 – 2003), ở nước ta Luật Đất đai đã phải sửa đổi đến 4 lần (từ 7 chương – 89 điều của Luật năm 1993 lên 7 chương – 146 điều của Luật năm 2003). Đó là chưa kể, hàng chục văn bản dưới luật cũng đã được ban hành trong giai đoạn này. Điều này chứng tỏ, cùng với việc phát triển kinh tế sôi động, đất đai đang ngày càng trở thành một vấn đề phức tạp, và là một thách thức trong phát triển tương lai.
Qua nghiên cứu của chúng tôi, những biến động và tính chất phức tạp của việc chuyển đổi cơ cấu đất đai thể hiện trên mấy nội dung sau:
1 – Thách thức lớn nhất của nước ta là việc thừa lao động ở nông thôn do các ngành phi nông nghiệp không đủ sức thu hút số lao động nông thôn đang tăng nhanh và dư thừa. Dân số nước ta đông và tăng khá nhanh, tỷ lệ dân số nông thôn chiếm gần 80% tổng dân số. Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất lương thực và đầu tư lao động sống của kinh tế hộ nông nghiệp nhỏ lẻ. Những giải pháp nhằm tích tụ ruộng đất, phát triển trang trại quy mô lớn, tăng cường cơ giới hóa không hợp lý có thể sẽ còn tạo ra nguy cơ làm tăng thất nghiệp ở nông thôn, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân. Một bộ phận lao động nông nghiệp dư thừa có thể sẽ chuyển vào thành phố và trở thành người nghèo đô thị, gây nên hiện tượng chuyển dịch cái nghèo từ nông thôn ra đô thị. Diện tích đất nông nghiệp nước ta ít, bình quân đầu người hơn 1.000 m2, so với các nước đang phát triển châu Á chỉ cao hơn Băng-la-đét. Việc giữ cho diện tích canh tác không giảm nhanh song song với việc phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn là các giải pháp cấp thiết. Cả hai việc này đều có liên quan đến quản lý ruộng đất.
Lịch sử cho thấy những khủng hoảng nông thôn thường bắt đầu từ khủng hoảng ruộng đất. Trong khi đó, sự phân hóa về ruộng đất có nguyên nhân chính là sự yếu kém của các nhà nước trước đây trong việc xử lý vấn đề ruộng đất ở nông thôn. Mâu thuẫn giữa tập trung ruộng đất phát triển sản xuất hàng hóa và sự sinh tồn của các tầng lớp dưới của xã hội cần được giải quyết thỏa đáng. Những mô hình trang trại quy mô lớn khó có thể phát triển ở những vùng đông dân, nơi mà đa số các hộ có quy mô nhỏ, sản xuất thủ công và thâm canh với năng suất lao động quá thấp.
Phải giải quyết vấn đề đất đai thế nào để vừa có đủ diện tích phát triển nông nghiệp, vừa có đất xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình công ích, công nghiệp hóa, đô thị hóa. Việc giảm diện tích đất nông nghiệp, nhưng vẫn bảo đảm được an ninh lương thực đang là một bài toán chưa có lời giải thỏa đáng. Muốn cho nông nghiệp nước ta phát triển bền vững thì trong thời kỳ công nghiệp hóa đừng để mất quá nhiều đất nông nghiệp. Thế nhưng, hiện nay đất nông nghiệp bị thu hẹp rất nhanh, nhiều cánh đồng màu mỡ nhất đang biến mất dần. Các khu công nghiệp và đô thị mới mọc lên nhanh chóng, nếu không đem lại hiệu quả, thì sử dụng đất rất lãng phí. Ngoài ra, sự chênh lệch giá quá lớn giữa đất trồng trọt với đất được chuyển đổi sang mục đích xây dựng đang làm cho các “hàng rào” bảo vệ đất nông nghiệp trở nên quá mong manh. Trong lúc Nhà nước ngăn chặn việc sử dụng đất sai mục đích, thì không ít các cơ quan nhà nước, có thể do lịch sử để lại, hiện đang chiếm dụng đất và sử dụng rất lãng phí. Bởi vậy, nên có các quy định chặt chẽ về sử dụng đất phi nông nghiệp và phát triển phi nông nghiệp và các loại đất không có khả năng phát triển nông nghiệp.
Ngoài ra, cần bảo vệ các thành quả của cải cách ruộng đất. Sở dĩ nước ta đã có một nền nông nghiệp không những nuôi được số dân hơn 80 triệu người, lại đang tăng nhanh, mà còn xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới là do nhiều nguyên nhân trong đó có việc chúng ta đã tiến hành được cuộc cải cách ruộng đất, mà đến nay nhiều nước không làm được, đồng thời có những chính sách ruộng đất đúng đắn.
Nhiều tổ chức quốc tế cho rằng, quá trình chuyển sang cơ chế thị trường của các nước xã hội chủ nghĩa là phải tư nhân hóa tài sản, sau đó thay đổi luật để cho việc trao đổi tài sản được tự do. Thực tế cho thấy, vừa qua thị trường mua bán ruộng đất đã phát triển rất mạnh và đã xuất hiện tình trạng đầu cơ ruộng đất, tham nhũng và chiếm dụng ruộng đất khá phổ biến ở nhiều nơi. Hiện tượng nông dân mất đất mà chưa có đầy đủ việc làm khác thay thế đang xảy ra rất phổ biến.
Luật Đất đai mới đã làm cho thị trường ruộng đất phi chính thức chuyển thành thị trường chính thức, người dân được tự do thực hiện các quyền về sử dụng đất, mà về thực chất đang mở đường cho việc tư nhân hóa đất đai, vì quyền của bản thân chủ sở hữu là Nhà nước chưa rõ ràng, cụ thể. Quy định giá đất mới cho các vùng, gần với giá thị trường là công nhận chính thức kết quả của việc đầu cơ ruộng đất thời gian qua, làm cho người nghèo khó có thể tiếp xúc với đất đai và thúc đẩy quá trình mất đất của nông dân diễn ra nhanh hơn nữa. Ở đồng bằng sông Cửu Long, nếu cách đây 10 năm tỷ lệ nông dân không có đất đã làm cho Đảng và Nhà nước lo lắng, thì hiện nay tỷ lệ ấy lại còn cao hơn, gây ra việc thừa lao động nông nghiệp, nhiều người phải đi làm thuê kiếm sống bằng lao động phổ thông vì chưa được đào tạo tay nghề.
Một số tổ chức quốc tế lại cho rằng, quá trình này là tích cực, vì thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu lao động. Nhưng ruộng đất do nông dân không trực tiếp canh tác lại không được chuyển sang cho các hộ chuyên làm nông nghiệp, mà thực tế đang tham gia vào thị trường đầu cơ vì thiếu biện pháp bảo vệ ruộng đất nông nghiệp. Tình trạng nông dân ra thành phố kiếm việc làm đang tác động tiêu cực đến chất lượng thâm canh trong nông nghiệp.
Gần đây có nhiều địa phương thực hiện “dồn điền, đổi thửa” để tạo thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế hàng hóa. Kết quả cho thấy, bên cạnh một số tác dụng tích cực, thì cũng có biểu hiện cản trở quá trình vươn lên sản xuất hàng hóa của kinh tế hộ do tập trung canh tác có thể làm tăng rủi ro kinh doanh nông nghiệp đối với từng hộ gia đình (như thiên tai, sâu bệnh, thừa sản phẩm, không có thị trường tiêu thụ…). Nhiều nơi nông dân phải thực hiện một cách gượng ép, trong lúc kinh tế hộ chưa thấy thực sự cần thiết, cán bộ xã lại rất hăng hái có lẽ vì sẽ có những lô đất lớn để đấu thầu.
Thiết nghĩ, chính sách ruộng đất để thúc đẩy việc chuyển hộ nông dân từ nông nghiệp tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa, thúc đẩy việc mở rộng quy mô của hộ phải xuất phát từ khẩu hiệu trước đây là “ruộng đất cho người cày”. Bởi vậy, nên biến quyền sử dụng đất thành quyền thuê đất, ban hành các chính sách thuê đất làm tăng trách nhiệm kinh tế của người thuê trước chủ sở hữu – Nhà nước. Có như vậy mới khuyến khích đầu tư thâm canh, hạn chế tình trạng sử dụng nguồn lực quý hiếm này lãng phí và kém hiệu quả do nạn đầu cơ đất đai.
2 – Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định, đất đai là sở hữu toàn dân, nhưng đất đai bị thất thoát cả về số lượng lẫn giá trị, nhất là giá trị gia tăng do kết cấu hạ tầng tạo ra(địa tô chênh lệch I). Hằng năm, ngân sách nhà nước đã bỏ ra hàng ngàn tỉ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng, song giá trị gia tăng của đất đai do kết cấu hạ tầng mang lại bị thất thoát lớn vào quá trình mua đi bán lại đất bởi các nhà đầu cơ. Đây là nguyên nhân cơ bản làm tăng nạn đầu cơ đất đai, chiếm dụng vốn đầu tư cho phát triển sản xuất và làm cho kinh tế mất ổn định. Nông dân nghèo có ruộng đất là một mong ước lớn nhất của họ, thế mà hiện nay phải “bấm bụng” để bán hoặc cầm cố mảnh đất nhỏ bé của mình để đi tìm việc làm ở nơi khác. Ruộng đất của nông dân, nhất là của nông dân nghèo, bị mất dần, mà việc làm mới lại thiếu, trình độ tay nghề yếu. Các hộ nông dân đã tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp lại không dám nhường đất của mình cho người khác, giữ lại đất và thuê người làm hay quảng canh một cách kém hiệu quả, rất lãng phí.
Việc thiếu một cơ chế bảo vệ ruộng đất nông nghiệp đang làm cho nạn đầu cơ ruộng đất trở thành phổ biến. Không giải quyết được bài toán này thì khó có thể tăng được năng suất lao động và tăng thu nhập của nông dân. Nếu chúng ta tiếp tục phát triển thị trường quyền sử dụng đất như hiện nay thì câu “đất đai là sở hữu toàn dân” sẽ có nguy cơ làm cho Nhà nước không có các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu này một cách thực chất trên phương diện sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển bền vững.
3 – Theo các chuyên gia, cản trở của việc chuyển đổi cơ cấu ruộng đất là do thị trường ruộng đất chưa được công khai, còn là phi chính thức. Việc chính thức hóa sở hữu thông qua cấp chứng chỉ quyền sử dụng ruộng đất và công khai hóa thị trường đất đai bằng cách quy định giá không làm cho thị trường hoạt động được, vì giá đất không phản ánh đúng giá trị thực tế của đất. Ruộng đất vừa là một nhân tố sản xuất, vừa là tài sản dùng để đầu cơ, lại không dịch chuyển và sinh sôi được. Sở dĩ giá đất cao vì nó hiếm và hơn nữa chưa có một thị trường công khai và hoàn chỉnh; có chi phí trao đổi cao, vì nó gắn liền với tham nhũng và đầu cơ. Giá đất sai lệch sẽ làm cho việc sử dụng ruộng đất không đúng hướng (trong đó có cả việc thiếu rõ ràng về quy hoạch sử dụng đất), cản trở việc trao đổi đất của nhân dân và việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Một doanh nghiệp nếu muốn xin đất phải trả thêm chi phí trao đổi rất cao, như: tiền đền bù thiệt hại tài sản, tiền giải phóng mặt bằng, tiền bồi dưỡng,… đều không nằm trong tiền thuê đất, nên giá thành thực tế thuê đất cao gấp nhiều lần so với giá thuê do Nhà nước quy định. Ở đâu chênh lệch giữa chi phí thuê đất thực tế với giá thuê theo quy định của Nhà nước cao thì ở đó doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tăng trưởng kinh tế. Giá thuê đất ở miền Bắc cao hơn miền Nam và khác nhau rất nhiều giữa các tỉnh trong mỗi vùng. Đây cũng là yếu tố chính làm cho chi phí cuộc sống của Hà Nội (đứng thứ 32 trên thế giới) đắt đỏ hơn thành phố Hồ Chí Minh (đứng thứ 39), theo một đánh giá gần đây của quốc tế.
Chúng ta dường như đang ở thế “lưỡng nan”: Quản lý ruộng đất có thể tiến hành bằng luật lệ và quy định của Nhà nước, biện pháp này đã gây nạn chiếm dụng ruộng đất và tham nhũng; và phát triển thị trường ruộng đất sẽ đẩy mạnh được việc chuyển đổi, nhưng lại tạo điều kiện cho việc đầu cơ và tập trung đất đai vào tay người giàu. Để giải quyết các mâu thuẫn này, nhiều nước đã sử dụng các thể chế cộng đồng và huy động họ tham gia vào việc quản lý đất đai:
– Ở Pháp là một nước có quyền tư hữu về đất đai, các tổ chức nông dân đã thành lập các công ty quản lý đất và cơ sở nông thôn. Có 37 công ty trong cả nước được thành lập từ năm 1960, là công ty phi lợi nhuận do các tổ chức nông dân quản lý dưới sự kiểm soát của nhà nước. Các công ty này mua tất cả đất đai nông nghiệp mà nông dân muốn bán để nhượng lại cho các nông trại muốn mở rộng quy mô hay cho các nông dân trẻ muốn lập nghiệp, do đó kiểm soát được việc mất đất nông nghiệp và tránh được nạn đầu cơ.
– Ở Ấn Độ và nhiều nước khác đã thành lập các hợp tác xã mua đất ở đô thị, xây nhà giá rẻ để bán hay cho xã viên thuê, đem lại lợi nhuận cho người nghèo và chống đầu cơ ruộng đất.
– Ở vùng rừng núi, nhất là các nước có nhiều cộng đồng sắc tộc thiểu số sinh sống, phải phục hồi lại đất cộng đồng để xây dựng các đồng cỏ chăn nuôi và bảo vệ rừng phòng hộ, vì việc tư nhân hóa ruộng đất đã thực hiện gần đây không giải quyết được nhiều vấn đề của phát triển bền vững.
4 – Như đã nói ở trên, trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, phải đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu ruộng đất để thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu lao động. Chính cơ cấu lao động mới nói lên một cách đầy đủ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu này phải thực hiện được các quá trình sau:
– Phải giảm khoảng một nửa số nông dân, khuyến khích và giúp đỡ các hộ nông dân, chủ yếu là nông dân nghèo, thiếu điều kiện để kinh doanh nông nghiệp, chuyển sang công nghiệp và dịch vụ ở đô thị hay ở nông thôn, nhường lại đất cho các hộ có năng lực và điều kiện phát triển nông nghiệp. Để làm được công việc này, Nhà nước phải có chính sách giống như trước kia đã làm với việc di dân đi các vùng kinh tế mới, không để cho dân di cư một cách tự phát như hiện nay. Phải có chính sách để chuyển đổi ruộng đất: đất nông nghiệp lấy đất phi nông nghiệp hay chuyển cho các hộ kinh doanh nông nghiệp. Cần có một tổ chức và cơ chế thu hồi lại đất của những người muốn bỏ nông nghiệp, đền bù thích đáng và bảo đảm không thất thoát quỹ đất.
– Chuyển các hộ nông dân muốn tiếp tục kinh doanh nông nghiệp thành các trang trại gia đình hay doanh nghiệp nông nghiệp như ở các nước công nghiệp tiên tiến hiện nay. Ở các nước này, nông dân chỉ còn khoảng 5% – 7% dân số, nhưng nhờ thâm canh tăng năng suất mà họ vẫn nuôi sống toàn xã hội và còn có nông sản xuất khẩu. Các nông trại này chỉ có 1 – 3 lao động chủ yếu là thành viên của gia đình. Nước có ít đất canh tác cũng phải bảo đảm quy mô trung bình trên dưới 1 héc-ta. Nông trại gia đình kinh doanh tổng hợp, có thể chuyên môn hóa về trồng trọt, chăn nuôi hay thủy sản. Để giải quyết việc tăng quy mô nông trại có thể phát triển các ngành sản xuất công nghệ cao, cần ít đất như chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, trồng cây trong nhà kính hoặc có mái che. Nhiều hộ nông dân có thể chỉ kinh doanh nông nghiệp, nhưng cũng có thể có lao động hoạt động phi nông nghiệp, rất đa dạng.
Kinh tế hộ gia đình nông dân là một vốn quý, chúng ta cần giữ gìn và phát triển. Mô hình phát triển các trang trại lớn thành các doanh nghiệp thuê nhân công cần phải được nghiên cứu, thử nghiệm kỹ càng để rút kinh nghiệm, bởi vì ngay ở các nước công nghiệp người làm thuê trong nông nghiệp cũng rất hạn chế. Lý do rất cơ bản là giá lao động làm thuê trong nông nghiệp thấp hơn trong các lĩnh vực khác. Bởi vậy, cần phát triển các loại hình trang trại hộ gia đình. Muốn vậy, đầu tư vào nông nghiệp phải hướng tới khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, có chính sách khuyến khích và hỗ trợ việc tăng quy mô đất đai, tách hẳn chăn nuôi ra khỏi khu vực dân cư để có đất phát triển và tránh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.
Khuyến khích phát triển doanh nhân nông thôn cũng là chìa khóa để phát triển kinh tế nông thôn. Hiện nay, ở nước ta có nhiều hộ nông dân trở thành chủ trang trại, nhưng hiện tượng này chưa phổ biến, vì chưa có các thể chế thích hợp để giúp nông dân làm tốt việc này. Kinh nghiệm cho thấy, các hợp tác xã kiểu mới hay hiệp hội nông dân có thể giúp các hộ nông dân trung bình trở thành các chủ trang trại sau một thời gian ngắn nhờ các dịch vụ có chất lượng cao về: kỹ thuật, tín dụng, đầu vào, đầu ra.
– Muốn thúc đẩy phát triển nông thôn phải xây dựng các khu công nghiệp ở nông thôn. Chúng ta có chủ trương phát triển làng nghề với mục đích giải quyết việc làm, tăng thu nhập của nông dân. Thế nhưng các khu công nghiệp ở nông thôn phải đủ sức lôi kéo nông nghiệp mới thúc đẩy được cả phát triển nông nghiệp lẫn công nghiệp. Muốn có sự phát triển nông nghiệp ở toàn lãnh thổ phải có một hệ thống đô thị nhỏ phân bố đều trong cả nước. Các thị trấn, thị tứ này không những là nơi phát triển công nghiệp nông thôn, mà còn là trung tâm của thị trường nông thôn với các chợ và hoạt động dịch vụ. Để làng nghề phát triển bền vững, cần đẩy mạnh các hoạt động phi nông nghiệp theo các hướng sau: Phục hồi các làng nghề truyền thống và hiện đại hóa để thích ứng với thị trường hiện đại; phát triển thêm công nghiệp chế biến thực phẩm và nông sản bằng các xí nghiệp nhỏ; đa dạng hóa dịch vụ, buôn bán và cung cấp lao động cho thị trường nông thôn và đô thị.
Ở nông thôn, đã có nhiều làng nghề phát triển thành các cụm công nghiệp có chuyên môn hóa một số nghề chính và phân công lao động, chuyển một số hộ nông dân chuyên làm nghề thành các doanh nghiệp gia đình nhỏ. Các cụm này có tác dụng làm giảm các chi phí trao đổi, rủi ro trong kinh doanh, là nơi tiếp nhận các sáng kiến, thông tin,… Nếu có tổ chức mềm dẻo và sử dụng được công nghệ hiện đại, thì các cụm công nghiệp có hiệu quả hơn các xí nghiệp lớn. Mô hình này đã được phổ biến cả ở các nước tiên tiến và các nước đang phát triển.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM  (theo Đào Thế Tuấn,
Tạp Chí cộng sản, số 10-2006).

CHẾ ƯỚC QUYỀN LỰC Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

(ĐCSVN)- Chế ước quyền lực là quy luật lịch sử không thể vi phạm. Chế ước quyền lực là nhận thức về tính quy luật trong sự phát triển chính trị của loài người; là nguyên tắc quan trọng và con đường thực hiện chính trị dân chủ mà thế giới công nhận, nó đã đóng vai trò thúc đẩy to lớn đối với sự phát triển của nền chính trị dân chủ lập hiến ở các nước phương Tây. Với tính cách là đòi hỏi tất yếu của chính trị, dân chủ, chế ước quyền lực cũng không thể là ngoại lệ đối với chủ nghĩa xã hội.
Trung Quốc đang tự giác tuân theo quy luật lịch sử về chế ước quyền lực, mạnh dạn tham khảo những kinh nghiệm pháp trị chín muồi của nước ngoài vào thực tiễn nước mình để xây dựng nên hệ thống chế ước quyền lực thích hợp.
Với tính cách là một quy luật chính trị trọng yếu, chế ước quyền lực là một vấn đề trọng đại mà xưa nay các nhà tư tưởng chính trị đã chú trọng tìm tòi, đưa ra những học thuyết, mô hình khác nhau.
Ngay trong thời cổ đại Hy Lạp, A-ri-xtốt và Plô-tin đã chủ trương phân quyền và đối trọng. Đó là manh nha học thuyết chế ước quyền lực. Đến thời kỳ của phong trào Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, Mông-te-xki-ơ đã chỉ ra rằng: “Tất cả những người có quyền lực đều dễ lạm dụng quyền lực, đây là một kinh nghiệm muôn đời không thay đổi… Xét từ tính chất của sự vật, muốn ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực, cần dùng quyền lực để chế ước quyền lực”. Ông là người đã đặt nền móng cho học thuyết về chế ước quyền lực.
Lịch sử hình thành nhà nước dân chủ hiện đại phương Tây cũng là lịch sử tư tưởng chế ước quyền lực trong thực tế, chế ước quyền lực ở các nước phương Tây đương đại đã vượt ra ngoài phạm vi chế ước lẫn nhau của 3 quyền lập pháp, tư pháp, hành pháp; và quyền chính trị công dân, lực lượng dư luận cũng tạo thành sự chế ước đối với quyền lực công cộng.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân làm chủ, toàn bộ quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa là thuộc về nhân dân. Do những hạn chế về trình độ phát triển kinh tế – văn hoá và xã hội, nhân dân còn chưa thể trực tiếp nắm quyền lực nhà nước để tiến hành quản lý công việc nhà nước, mà chỉ có thể do những người cầm quyền mà nhân dân bầu ra thay mặt nhân dân điều hành quyền lực nhà nước. Trong điều kiện của cải vật chất chưa thực sự dồi dào, lợi ích cá nhân chưa được thoả mãn đầy đủ, cũng chưa thống nhất với lợi ích xã hội, thì khó bảo đảm là nguời điều hành quyền lực không lợi dụng quyền lực trong tay để mưu cầu tư lợi cho cá nhân hay tập đoàn nhỏ. Vì vậy làm thế nào để dùng cơ chế chế ước hữu hiệu làm cho quyền lực trước sau được phân bổ và vận hành theo ý chí quyền lực Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thiết thực, thực hiện nguyên tắc “quyền lực do nhân dân sử dụng, lợi ích do nhân dân mưu cầu”, ngăn chặn nguy cơ những người đầy tớ của nhân dân tự biến mình thành kẻ cai trị, áp bức, bóc lột nhân dân…
Đây là vấn đề có tính bức thiết ở các nước xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa đã xẩy ra ở một số nước có lịch sử phong kiến lâu đời, cơ sở chủ nghĩa chuyên chế thâm căn cố đế, thiếu truyền thống dân chủ.
Như Trung Quốc, xã hội phong kiến mấy nghìn năm tôn thờ nguyên tắc “trẫm tức là quốc gia”. Do vậy dân chúng đông đảo không những không có bất cứ quyền lợi gì mà còn buộc phải kính sùng bái quyền lực.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc đã dần dần khắc phục những nguy hại nghiêm trọng do sùng bái quyền lực gây ra. Ngày nay, Trung Quốc đang ra sức thực hiện hiện đại hoá và xây dựng nhà nước pháp trị, tuân thủ quy luật lịch sử về chế ước quyền lực. Đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng, là một trong những nội dung cốt lõi của chính trị dân chủ hiện đại. Vì vậy những năm gần đây, giới học thuật Trung Quốc nghiên cứu rất sôi động về vấn đề chế ước quyền lực.
Những vấn đề mà giới lý luận Trung Quốc đang tập trung nghiên cứu:
– Một là, về đặc trưng quyền lực.
– Hai là, về đặc tính chế ước quyền lực.
– Ba là, về yêu cầu bên trong của chế ước quyền lực. Cơ chế bên trong của nó gồm phân lập quyền lực; bình đẳng quyền lực; đối đẳng quan hệ chế ước; pháp trị hoá quyền lực và quan hệ chế ước.
– Bốn là, về phương thức chế ước quyền lực, bao gồm quyền chế ước quyền lực, dân chủ đại nghị chế ước quyền lực; pháp luật chế ước quyền lực; lực lượng xã hội chế ước quyền lực.
– Năm là, về thái độ của chủ nghĩa Mác đối với vấn đề chế ước quyền lực.

BVK – BÁO ĐIỆN TỬ đẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

PHẢN BIỆN XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

Mặc dù là một yếu tố rất quan trọng, phản biện xã hội cũng chỉ là một trong các biểu hiện của cơ chế tập trung dân chủ, nó chỉ có ý nghĩa và giá trị khi nằm trong các tổng thể cơ chế tập trung dân chủ. Phản biện xã hội áp dụng tràn lan và cứng nhắc có thể làm mất đi tính năng động và kịp thời của quá trình điều hành xã hội. Nếu tổ chức không tốt quá trình phản biện xã hội, dẫn đến bị lợi dụng, thì có thể làm tê liệt nhất thời sự điều hành của Nhà nước. Do đó, nhìn nhận phản biện xã hội phải theo tư duy nguyên tắc, nhưng cũng phải biện chứng. Điều này rất quan trọng khi chúng ta bàn về phương thức phản biện xã hội.
Nội dung của phản biện xã hội
Phản biện xã hội là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương án, dự án) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó.
Một đề án, dự án, phương án xã hội khi đưa ra bao giờ cũng dựa trên những cơ sở lập luận nhất định. Vì vậy, phản biện xã hội dựa vào các lập luận, phân tích từ một góc nhìn khác, một hệ thống công cụ khác với góc nhìn và hệ thống công cụ đã dùng ở đề án xã hội nói trên. Như vậy, phản biện xã hội chỉ có thể triển khai trên cơ sở đa nguyên ý kiến, lập luận và công cụ phân tích (không nên đánh đồng đa nguyên này với đa nguyên về tổ chức chính trị và hệ tư tưởng).
Phản biện xã hội có thể được thực hiện với bất cứ một phương án xã hội nào được công bố, cho dù là từ đâu: từ phía lực lượng lãnh đạo xã hội hay từ các lực lượng hoạt động xã hội khác. Phương án xã hội nhằm chỉ bất cứ một kế hoạch, chủ trương… nào có tính chất xã hội, tức là liên quan đến quyền lợi và đời sống của đông đảo mọi người trong quốc gia. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, chúng ta giới hạn “phản biện xã hội” là sự nhận xét đối với các phương án xã hội lớn do lực lượng đang nắm quyền lãnh đạo xã hội đưa ra (đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, các quyết định kinh tế – xã hội lớn…).
Khi giới hạn như vậy, một nội hàm hẹp hơn của phản biện xã hội là: những ý kiến, lập luận, quan điểm được đưa ra khác với phương án “chính thống”, nhằm mục đích vạch ra những điểm thiếu sót, bổ sung, làm rõ những khía cạnh chưa hợp lý, hoặc khẳng định, hoặc bác bỏ phương án “chính thống”.
Lập luận phản biện đương nhiên khác với lập luận “chính thống” là cơ sở của đề án xã hội đã được đưa ra. Tuy nhiên “dải tần” của sự khác biệt này rất rộng, dẫn đến các kết quả cuối cùng rất khác nhau. Như trên đã chỉ ra, phản biện có thể dẫn đến kiểm tra, rà soát, bổ khuyết, và có thể cả phê phán và bác bỏ phương án được đưa ra để trưng cầu phản biện.
Phản biện có thể dẫn đến phản bác. Nhưng phản biện khác phản bác chính là ở chỗ “dải tần” của phản biện rộng, và phản bác chỉ là một khả năng, một tình huống có thể có trong phản biện.
Phản biện xã hội và phản biện khoa học có những điểm giống và khác biệt rất quan trọng.
Phản biện xã hội cũng phải dựa trên cơ sở các lập luận và ý kiến hướng đến chân lý khách quan như phản biện khoa học. Trong nhiều trường hợp (tùy thuộc nội dung và chủ thể phản biện xã hội), phản biện xã hội cũng chính là phản biện khoa học. Ví dụ: Chính phủ đưa ra chủ trương phát triển nguồn năng lượng, trong đó đề xuất xây dựng nhà máy điện nguyên tử. Đây vốn là vấn đề kinh tế – kỹ thuật, nhưng do tầm quan trọng lớn lao của nó với an sinh xã hội nên cần phải tranh thủ rộng rãi ý kiến khác nhau, trong đó có phản biện của các nhà khoa học.
Điểm khác nhau giữa phản biện xã hội và phản biện khoa học:
– Phản biện khoa học bao giờ cũng phải có sự hoàn chỉnh tương đối của lập luận để “đua tranh” với lập luận “chính thống”. Phản biện xã hội không phải bao giờ cũng như vậy. Có những trường hợp phản biện xã hội là sự tập hợp của nhiều ý kiến, phản ứng, dư luận, lý lẽ… riêng rẽ, không có tính hoàn chỉnh tương đối, nhưng vẫn có thể tác động mạnh đến phương án xã hội “chính thống” đã được đưa ra.
– Phản biện khoa học về bản chất là khách quan, không có tính giai cấp. Phản biện xã hội bên cạnh thuộc tính khoa học, có thuộc tính xã hội, tức là phản ánh các quan điểm, quyền lợi của các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Vì vậy phản biện xã hội không phải lúc nào cũng dựa trên cơ sở lập luận khoa học thuần túy. Ngược lại, trong đa số các trường hợp của phản biện xã hội có thể thấy yếu tố quyền lợi chính trị – kinh tế – xã hội được phản ánh thông qua chủ thể phản biện.
Đây là khác biệt hết sức quan trọng. Không nắm vững điểm khác biệt này sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong việc nhìn nhận và tổ chức, xây dựng cơ chế phản biện xã hội, nhất là trong bối cảnh xã hội có những quyền lợi khác biệt, trong giai đoạn quá độ.
Về khái niệm, không khó phân biệt phản biện xã hội và phản kháng xã hội. Tuy nhiên, thực tế đây là vấn đề rất phức tạp. Trong bối cảnh đấu tranh giai cấp, xung đột quyền lợi (kể cả trong nước và quốc tế), phản kháng xã hội có thể nấp dưới hình thức phản biện xã hội, ít ra là trong một giai đoạn nhất định. Trong trường hợp này, phản biện xã hội là hình thức đấu tranh hợp pháp của lực lượng theo đuổi mục tiêu xã hội đối lập với mục tiêu xã hội “chính thống”.
Từ một góc nhìn khác, cần lưu ý rằng phản biện xã hội mặc dầu có tính chất xây dựng nhưng trong những bối cảnh, tình huống nhất định có thể bị lực lượng theo đuổi phản kháng xã hội lợi dụng để phục vụ cho hoạt động phản kháng, ít nhất là trong quá trình vận động, tập hợp lực lượng, gây dư luận xã hội. Do vậy, trong bối cảnh cụ thể của nước ta, khi Đảng cộng sản là đảng cầm quyền duy nhất, việc xây dựng cơ chế phản biện xã hội cần phải khoa học, chặt chẽ, tránh kẽ hở để các lực lượng thù địch lợi dụng.
Nội dung của phản biện xã hội rất rộng. Lực lượng lãnh đạo trong xã hội có những đường lối, hệ thống các quan điểm lãnh đạo chính trị – kinh tế – xã hội cho từng giai đoạn, thể chế và pháp chế hóa các chủ trương, quan điểm đó, đồng thời thường xuyên phải cụ thể hóa đường lối của mình thành các chính sách. Đó là đối tượng của phản biện xã hội. Tiếp nữa, vì ở vị thế cầm quyền, lực lượng này phải đưa ra các quyết sách cụ thể. Không phải tất cả các quyết định có tính chất điều hành này đều là đối tượng của phản biện. Nhưng nhiều quyết định có ảnh hưởng lớn đến đời sống và tâm trạng của toàn xã hội hoặc của một bộ phận, tầng lớp dân cư, một khu, vùng miền… cũng cần có phản biện xã hội.
Phản biện xã hội thực hiện chủ yếu ở hai trường hợp: Một là, đối với các dự thảo chủ trương, chính sách; Hai là, phát hiện các điểm chưa hoàn thiện, thậm chí sai sót, hoặc không còn phù hợp trong đường lối, chính sách, quy định pháp lý… đang được thực hiện trong thực tế, để lực lượng cầm quyền có những điều chỉnh, sửa đổi hoặc thay đổi chính sách cho phù hợp, ưu việt.
Phản biện không hoàn toàn giống với việc đề xuất, phát biểu, kiến nghị nói chung. Phản biện là hoạt động sau khi đã có những công bố (diện hẹp hoặc rộng) các quan điểm, chủ trương, chính sách và nhằm vào các chủ trương, chính sách… đã công bố. Còn việc biểu lộ quan điểm, chính kiến, đề xuất có thể không gắn với một chủ trương, chính sách đã đưa ra thì không thuộc phạm vi khái niệm phản biện xã hội.
Ý nghĩa và giá trị của phản biện xã hội
A – Phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách, pháp luật do lực lượng cầm quyền đề xuất và chủ trương thực hiện là hoạt động thường xuyên diễn ra, là hiện tượng không thể thiếu trong cuộc sống chính trị của mỗi đất nước trong các thời kỳ. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến điều này:
– Thứ nhất, các lực lượng cầm quyền có nhu cầu về phản biện xã hội đối với các chính sách của mình.
Thực tế đã chứng minh rằng cá nhân hoặc lực lượng lãnh đạo, cầm quyền thường cần phản biện xã hội để kiểm tra, khẳng định hay để điều chỉnh, sửa đổi, thay đổi các chủ trương, chính sách, quyết định xã hội của mình. Các hình thức để có được phản biện xã hội thay đổi tùy theo từng thời kỳ, phụ thuộc từng chính thể, có thể rất thô sơ, và cũng có thể rất phức tạp. Trong lịch sử, các nhà cầm quyền khôn ngoan luôn biết cách sử dụng phản biện xã hội như một kênh thông tin rất quan trọng phục vụ cho công việc của mình.
Bản thân việc chấp nhận và sử dụng phản biện xã hội chưa có nghĩa là nhà nước đó là nhà nước tiến bộ. Đối với nhà nước “do dân, vì dân”, phản biện xã hội là hình thức sinh hoạt chính trị dân chủ giúp thực hiện mục đích xã hội tốt đẹp. Nhưng các thể chế khác cũng có thể chấp nhận phản biện xã hội như là phương thức thu thập thông tin để xử lý theo hướng đối phó với tâm trạng xã hội. Trong xã hội tư bản, các đảng tư sản đấu tranh quyết liệt để giành vị trí cầm quyền. Điều này phản ánh sự xung đột trong lợi ích của một bộ phận giai cấp tư sản với bộ phận khác. Nhưng giai cấp tư sản có quyền lợi chung, nên xung đột này chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định. Sau khi một đảng thắng cử, đảng tư sản kia trở thành đảng đối lập. Điều ấy không có nghĩa là đảng này đối lập về đường lối và mục tiêu với đảng cầm quyền. Quá trình chỉ trích, phê phán diễn ra trong toàn bộ thời gian sau đó chỉ có ý nghĩa như cuộc tranh cử sớm, và cũng lại có vai trò như một hình thức phản biện xã hội của giai cấp tư sản. Quá trình này phục vụ một cách hiệu quả cho sự cầm quyền của giai cấp tư sản trong nhiều thập kỷ qua.
– Thứ hai, trong lịch sử có những thể chế, cá nhân cầm quyền “dị ứng” với sự nhận xét, phê phán của xã hội nhằm vào các chính sách của mình. Nhưng phản biện xã hội là phản ứng tự nhiên của các thành phần trong xã hội đối với các chủ trương, chính sách (đã được áp dụng hoặc mới là dự định) của phía cầm quyền, nó khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của nhà cầm quyền. Khi chính sách được áp dụng hoặc được công bố, nó sẽ động đến quyền lợi của các tầng lớp xã hội. Do vậy các tầng lớp này bao giờ cũng biểu lộ ý kiến của mình. Tùy theo bản chất nhà nước và cách thức vận hành của hệ thống phản biện xã hội mà các ý kiến này được ghi nhận đến đâu, nhưng trong mọi trường hợp nó đều hiện hữu. Một nhà nước không chấp nhận phản biện đối với các chính sách của mình, cũng không thể có phương tiện để ngăn chặn triệt để sự xuất hiện, lan truyền và tác động của phản biện xã hội đối với các chính sách của nhà nước đó. Hơn thế, thực tế chứng minh rằng, ngăn chặn phản biện xã hội là con đường ngắn nhất dẫn đến phản kháng xã hội. Đó là điều mà một thể chế chính trị tỉnh táo nên tránh.
Thực tế diễn ra ở Liên Xô trước đây, riêng trong vấn đề phản biện xã hội, cho ta hai bài học đau xót. Bài học đầu tiên là mặc dầu có một hệ thống nghiên cứu khoa học xã hội rất đồ sộ và trình độ dân trí rất cao, nhưng các đường lối, chính sách lớn lại không có sự phản biện xã hội thật sự. Thông thường một số cơ quan nghiên cứu trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô soạn thảo các văn kiện quan trọng, và dự thảo văn kiện được thông qua dưới sự chỉ đạo của một nhóm nhỏ các cá nhân lãnh đạo trong lĩnh vực đó. Ngay trong nội bộ Viện Hàn lâm khoa học xã hội trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô – một trung tâm có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, hình thành các văn kiện – quá trình soạn thảo cũng có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng không có sự thảo luận dân chủ kỹ càng. Một đặc điểm nữa là việc giao nhiệm vụ chuẩn bị văn kiện cho cơ quan nghiên cứu nào phụ thuộc nhiều vào việc cá nhân người lãnh đạo là ai. Nếu như Tổng Bí thư Brê-giơ-nhép dựa chủ yếu vào bộ máy của Ban Chấp hành Trung ương, thì Tổng Bí thư Goóc-ba-chốp hầu như “không tin tưởng” các cơ quan này. Thời Goóc-ba-chốp, Viện Hàn lâm khoa học xã hội trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô hầu như chỉ là nơi thực hiện các khóa đào tạo. Các văn kiện chủ yếu được tin tưởng giao phó cho một số viện nằm trong cơ cấu Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (ví dụ: Viện nghiên cứu kinh tế của A-ban-kin và Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế của Pri-ma-cốp). Hậu quả là quan điểm, chủ trương lớn của toàn Đảng nhiều khi chỉ là “tác phẩm” của một nhóm, một trường phái, một cơ quan khoa học. Có thể nêu ví dụ học thuyết về giai đoạn “chủ nghĩa xã hội phát triển” được Tổng Bí thư Brê-giơ-nhép đưa ra và thể chế hóa trong Hiến pháp Liên Xô năm 1977, đóng vai trò như là định hướng quan trọng nhất của đường lối chính trị – kinh tế – xã hội của Liên Xô giai đoạn này – không phải là sản phẩm khoa học được hình thành qua sự nghiên cứu, chà xát khoa học kỹ lưỡng của toàn bộ các lực lượng nghiên cứu khoa học xã hội. Ngay từ thời gian đó, nhiều nhà khoa học, nhiều cán bộ Đảng đã có ý kiến cho rằng: xã hội Liên Xô có những biểu hiện trì trệ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ (công nghệ thông tin không được áp dụng để đẩy mạnh nền kinh tế), lĩnh vực kinh tế (cơ chế quản lý hành chính quan liêu mệnh lệnh trong kinh tế khiến cho Liên Xô tụt hậu trong việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của tiêu dùng trong nước, chưa nói đến phát triển để thích ứng với bối cảnh “chiến tranh kinh tế” trên thế giới). Do đó, thuyết “Giai đoạn chủ nghĩa xã hội phát triển” không vạch ra được con đường bứt phá khỏi trì trệ, mà như sự “hợp thức hóa” trì trệ. Điều này về lâu dài sẽ không có lợi cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô. Tuy nhiên, những ý kiến đó hầu như không có diễn đàn để thảo luận nghiêm túc, chỉ âm ỉ trong phạm vi hẹp.
Phải nói rằng thiếu phản biện xã hội thực sự, phản biện xã hội có tổ chức trong giai đoạn thể chế chính trị còn rất ổn định tại Liên Xô thời kỳ Brê-giơ-nhép đã khiến cho Ban lãnh đạo Xô-viết khi đó không nắm bắt được các yêu cầu và thách thức xã hội đang ngầm trở thành hiểm họa, do đó không sớm xử lý được nhiệm vụ chính trị, góp phần dẫn đến tình trạng sụp đổ ở giai đoạn sau.
Bài học thứ hai, còn cay đắng hơn, là khi đứng trước tình huống bị tụt hậu khá xa về kinh tế, khi cả xã hội nhận thức được rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đứng vững và vượt lên nếu tạo được năng suất lao động không thua kém (điều mà Lê-nin từng khẳng định như một nguyên tắc sống còn), khi cần đưa ra những chủ trương, đường lối mới, thì nhóm Goóc-ba-chốp vừa không thoát khỏi cách làm cũ (quá trình dự thảo chính sách vẫn thiếu sự chuẩn bị khoa học), nhưng đồng thời lại phạm vào những sai lầm mới: biến phản biện xã hội thành một quá trình không kiểm soát được, biến hoạt động khoa học và lý luận của các cơ quan soạn thảo văn kiện nhiều khi thành một hoạt động dạng câu lạc bộ vô chính phủ.
Như vậy, phản biện xã hội vừa là một nhu cầu khách quan của công việc lãnh đạo xã hội, vừa là một hiện thực tất yếu luôn tồn tại trong đời sống xã hội. Không nên và cũng không thể ngăn cản phản biện xã hội, nhưng lại có thể và cần thiết tổ chức phản biện xã hội để phục vụ cho các mục tiêu phát triển xã hội đúng đắn, phân biệt để hạn chế và đấu tranh với việc lợi dụng phản biện xã hội vào các mục đích chống lại thể chế.
B – Phản biện xã hội có ý nghĩa và giá trị lớn, thể hiện qua hai khía cạnh:
– Phản biện xã hội, nếu được thực hiện đúng đắn, sẽ đem lại kết quả tích cực trực tiếp: chủ trương, đường lối, chính sách sẽ phù hợp với vận động của thực tiễn khách quan; các chính sách và chế tài phản ánh đúng nhu cầu thực tế, có cơ sở khoa học vững chắc, đem lại hiệu quả cao, không hoặc ít gây ra các hậu quả trái với mục tiêu đề ra.
Thực tế chỉ ra rằng có những chủ trương, chính sách không hẳn là vấn đề chính trị – xã hội, nhưng ảnh hưởng nhiều đến dân sinh, như: cải cách sách giáo khoa, chế tài về an toàn giao thông, quản lý giá thuốc…, hoàn toàn có điều kiện để trưng cầu phản biện xã hội rộng rãi trước khi đưa vào thực hiện, nhưng do không làm tốt việc này, nên gặp rất nhiều khó khăn. Phản biện xã hội tạo điều kiện để chúng ta có những phương án hợp lý nhất, chắc chắn nhất, hiệu quả nhất, gặp được sự ủng hộ rộng rãi khi đưa vào thực hiện.
– Phản biện xã hội cũng có thể không đem lại hiệu quả cụ thể trước mắt vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, nhưng vẫn đem lại hiệu quả xã hội tích cực về lâu dài là góp phần xây dựng nền nếp dân chủ trong hoạch định chính sách, không khí đồng thuận trong xã hội và nhất là tránh được hiện tượng bàng quan chính trị trong dân chúng.
Bàng quan chính trị là hiện tượng nguy hiểm đối với chính thể. Hiện tượng này là kết quả của quá trình giảm sút lòng tin của quần chúng đối với Nhà nước, và cũng là kết quả của việc quần chúng không hoặc ít có cơ hội tham gia vào các quyết sách xã hội. Hiện tượng bàng quan chính trị do không có biểu hiện gay gắt như chống đối và phản kháng, nên mức độ nguy hiểm của nó ít khi được đánh giá đúng mức. Một phân tích kỹ càng sẽ cho ta thấy: Liên Xô sụp đổ không phải do lực lượng chống chế độ có sức mạnh to lớn vào thời điểm đó. Thậm chí vào lúc đó các lực lượng này chưa có một cơ sở xã hội rõ ràng (về cơ bản, hạ tầng kinh tế và xã hội khi đó chưa bị biến dạng quá nhiều so với giai đoạn ổn định). Sự phản bội của nhóm người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là một yếu tố rất quyết định, nhưng không phải có tính chất gốc rễ, bởi trong một bối cảnh khác, sự phản bội này gây thiệt hại lớn, nhưng không thể dẫn đến sự sụp đổ thể chế. Thể chế chính trị của Liên Xô sụp đổ chủ yếu do đông đảo đảng viên, quần chúng đã không bảo vệ chính thể lúc cần thiết. Và xảy ra điều này là do trước đó, đã có trạng thái bàng quan chính trị trong xã hội, khi đông đảo cán bộ, đảng viên và người dân đã không còn thấy mình là người trong cuộc đối với các vấn đề lớn của xã hội. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bàng quan chính trị tại Liên Xô trước đây có nhiều, nhưng trong đó có phần thiếu dân chủ trong việc hình thành các chủ trương, chính sách điều chỉnh đời sống xã hội, vi phạm các nguyên tắc dân chủ của Lê-nin.
– Thấy hết ý nghĩa và giá trị của phản biện xã hội là điều cần thiết, nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò của phản biện xã hội, cho đó là giải pháp vạn năng trong đời sống chính trị. Mặc dù là một yếu tố rất quan trọng, phản biện xã hội chỉ là một trong các biểu hiện của cơ chế tập trung dân chủ, nó chỉ có ý nghĩa và giá trị khi nằm trong tổng thể cơ chế tập trung dân chủ. Cũng cần phải vạch ra rằng, phản biện xã hội không thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi tình huống, bối cảnh. Một nhà nước phải điều hành hoạt động xã hội hằng ngày, trong các bối cảnh trong nước và quốc tế rất đa dạng, không thể áp dụng phản biện xã hội cho mọi quyết sách của mình. Phản biện xã hội áp dụng tràn lan và cứng nhắc có thể làm mất đi tính năng động và kịp thời của quá trình điều hành hoạt động xã hội. Nếu tổ chức không tốt quá trình phản biện xã hội, dẫn đến bị lợi dụng, thì có thể còn làm tê liệt nhất thời sự điều hành của nhà nước. Do đó, nhìn nhận phản biện xã hội phải theo tư duy nguyên tắc, nhưng cũng phải biện chứng. Điều này rất quan trọng khi chúng ta bàn về phương thức thực hiện phản biện xã hội.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (Theo TS. Trần Đăng Tuấn
Tạp chí Cộng sản điện tử, số 114-2006)

VỀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM "KHU VỰC" Ở KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

(ĐCSVN)Kể từ sau kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay, toàn cầu hoá, khu vực hoá đã trở thành một xu thế phát triển khách quan và ngày càng diễn ra sôi động, phức tạp hơn. Từ đó cũng đặt ra cho chúng ta không ít vấn đề về mặt học thuật cần phải có sự nghiên cứu, trao đổi để cùng thống nhất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Dưới đây là góp phần luận giải ( theo quan điểm riêng của tác giả ) về cách xác định một số khái niệm ” khu vực ” có liên quan ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
1. Theo cách hiểu truyền thống, người ta vẫn xác định khu vực theo vị trí địa lý. Chẳng hạn, tuỳ theo các vị trí địa lý, sắc tộc, màu da… khác nhau mà từ lâu đã có sự hình thành nên các khái niệm khu vực khác nhau như châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi…Và tương tự ngay cùng một châu lục như châu Á, nếu căn cứ thêm cả tiêu thức phương hướng, vị trí lãnh thổ… lại có thể phân thành các khái niệm tiểu khu vực khác nhau như Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Á, Nam Á…. Thực ra việc đặt tên gọi như vậy chỉ mang tính tương đối nhằm so sánh khu vực này với khu vực khác hay tiểu khu vực này với tiểu khu vực khác trong cùng một khu vực. Vì thế thông thường để đơn giản hoá cách gọi, người ta hay dùng khái niệm chung nhất là khu vực (region) để diễn đạt ở mức chính xác tương đối có thể thay cho cả khái niệm tiểu khu vực trong những trường hợp không thực sụ cần thiết phải cụ thể hoá, chi tiết hoá đến mức chính xác tuyệt đối.
Việc định nghĩa khu vực theo vị trí địa lý như trên được hiểu là bất đổi vì như đã biết vị trí địa lý của mỗi quốc gia, lãnh thổ, khu vực hay tiểu khu vực là một tiêu thức tự nhiên mang tính tồn tại khách quan, bất đổi. Tuy nhiên, cách định nghĩa truyền thống này ngày càng tỏ ra là cứng nhắc, thiếu thuyết phục trước xu hướng giữa các quốc gia, lãnh thổ ở các khu vực, tiểu khu vực khác nhau trên thế giới ngày càng gia tăng sự hợp tác toàn diện về nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế những năm gần đây. Từ đó các học giả, chính khách đã nghiêng dần về xu thế coi khái niệm khu vực là một thực thể địa lý-kinh tế-chính trị-xã hội… Do vậy khái niệm khu vực theo cách hiểu hiện đại phải là một khái niệm mở và động, luôn được tạo dựng và thay đổi tuỳ theo quan điểm của các chủ thể tham gia vào quá trình tương tác trong khu vực. Chẳng hạn như nếu chỉ xét về yếu tố vị trí địa lý thì Mỹ và Tây Âu là hai chủ thể độc lập và do đó không thể hợp thành một khu vực được. Thế nhưng sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, để chống lại hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu, đã dẫn đến sự hình thành khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), cho thấy Mỹ và Tây Âu do nhu cầu lợi ích chính trị-quân sự… có thể hợp thành một khu vực bao gồm các chủ thể khác nhau về vị trí địa lý. Tương tự như vậy khái niệm ” khu vực Đông Nam Á ” hiểu theo nghĩa là một thực thể chính trị-xã hội cũng đã được hình thành cuối Thế chiến thứ hai với việc thành lập Bộ chỉ huy quân sự khu vực Đông Nam Á của Anh do Nguyên soái Mountbatten đứng đầu. Sau Thế chiến thứ hai, nhiều sự kiện chính trị khác ra đời đã tiếp tục định hình khu vực Đông Nam Á. Ví dụ điển hình là sự hình thành của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) được thành lập tại Manila năm 1954, đã khiến cho khái niệm về một khu vực Đông Nam Á mang màu sắc chính trị rõ nét… Từ đó đến nay khu vực Đông Nam Á đã phát triển thành một thực thể chính trị-xã hội hiểu theo nghĩa rộng bao gồm sự hợp tác, liên kết toàn diện về nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế, an ninh, chính trị, quân sự và văn hoá, xã hội. Thực thể này đến năm 1967 đã được phát triển thành một tổ chức hợp tác khu vực ở tầm cao hơn, đó là Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN ), khi đó chỉ có 5 nước thành viên ( ASEAN 5 ) đã tham gia là: Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapo, và Thái Lan. Cùng với sự tiến triển của thời gian và xu thế hội nhập toàn cầu hoá, khu vực hoá ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng hơn, ASEAN 5 hiện nay đã trở thành ASEAN 10 – một tổ chức cộng đồng bao gồm đủ cả 10 nước thành viên ở Đông Nam Á (Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapo, Thái Lan, Brunây, Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma).
2. Khái niệm “ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” đã được các học giả và chính khách đề cập đến từ đầu thế kỷ XX, nhưng phải đến cuối thập niên 1980 với sự hình thành của Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi. Cùng thời gian này đã trùng hợp với sự nổi lên của các nền kinh tế thần kỳ Đông Á mà dẫn đầu là “con rồng” Nhật Bản, tiếp theo là NIEs ( Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapo) và sự tăng trưởng nhanh liên tục của nhiều quốc gia ASEAN. Chính vì thế, “ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” còn được hiểu theo nghĩa hẹp coi đó chính là “khu vực kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương” bao gồm các nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Á (kể cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á). Đây cũng chính là khu vực đã có nhiều nước và lãnh thổ có sự phát triển năng động và liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao trong hơn 3 thập niên vừa qua.
Như đã biết APEC là tổ chức đa quốc gia được thành lập vào tháng 11 năm 1989 theo sáng kiến của Thủ tướng Australia Bob Hawke nhưng cơ sở chính trị của nó đã được hình thành từ năm 1980 với sự ra đời của Hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) do Thủ tướng Nhật Okira và Thủ tướng Australia Frazer đề xuất. Từ đó đến nay APEC ngày càng phát triển mạnh trở thành tổ chức đa quốc gia lớn nhất ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với 21 quốc gia và lãnh thổ thành viên: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc ( bao gồm cả Hồng Kông ), Đài Loan, Singapo, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Brunây, Mỹ, Canada, Mêxicô, Australia, Chilê, Niu Dilân, Papua Niu Ghinê, Pêru, Nga và Việt Nam. Vị thế lớn mạnh không ngừng của tổ chức này vừa qua càng thể hiện rõ nét hơn ở sự thống nhất ý chí với một quyết tâm cao về một Kế hoạch hành động thiết thực cho sự hợp tác phát triển toàn diện đã được ký kết giữa các thành viên tham dự Hội nghị APEC 14 tại Hà Nội từ ngày 12-19/11/2006.
3. Với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, kể từ đầu thập niên 1990 thế giới từ ” hai cực ” đã trở thành thế giới của ” nhất siêu đa cường ” và tương quan lực lượng giữa các nước lớn có nhiều thay đổi đã khiến cho các quốc gia đều nhận thấy cần thiết phải thể chế hoá các quan hệ quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Diễn đàn an ninh khu vực Đông Nam Á của các nước ASEAN (ARF) đã ra đời năm 1993 để thảo luận, hợp tác những vấn đề an ninh khu vực thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột. Thành viên của ARF bao gồm 10 nước ASEAN (trong đó 4 nước thành viên mới: Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma đã là thành viên của ARF trước khi gia nhập ASEAN) và 11 thành viên khác trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, CHDCND Triều Tiên, Australia, Niu Dilân, Mông Cổ, và Papua Niu Ghinê. Ngoài ra, đáng chú ý có cả EU cũng là thành viên của ARF, một minh chứng về việc định nghĩa khái niệm khu vực ngày nay không chỉ giới hạn trong phạm vi đÞa lý lãnh thổ mà như trên đã đề cập cần có một định nghĩa mở về khu vực, coi đó là một thực thể địa lý-kinh tế-chính trị-xã hội… Với cách định nghĩa này, cho phép các chủ thể cùng tham gia tương tác trong khu vực có thể mở rộng đến nhiều vấn đề cùng quan tâm. Các cuộc gặp gỡ cấp cao Á-Âu (ASEM) được tiến hành liên tục từ năm 1996 đến nay với thành viên là các nước ASEAN, cùng với 3 nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và có cả các nước EU là ví dụ điển hình về sự mở rộng các quan hệ đa quốc gia không chỉ giới hạn ở yếu tố địa lý trong cùng một khu vực mà đã trở thành yếu tố địa lý đa khu vực.
Cũng tương tự vậy, nhưng ở quy mô hẹp hơn so với ASEM, các cuộc gặp ASEAN+1 ( Nhật Bản, hoặc Hàn Quốc, hoặc Trung Quốc ), và đặc biệt là các cuộc gặp thường niên ASEAN+3 vào dịp cuối năm cũng đều là minh chứng cho sự mở rộng khái niệm khu vực Đông Nam Á đã được 10 nước ASEAN và 3 nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) tiến hành trong những năm gần đây, mà thực chất đó chính là các mô hình liên kết đa quốc gia trong cùng một khu vực Đông Á đã diễn ra ở các cấp độ khác nhau. Riêng về mô hình ASEM, cũng có thể coi đó là liên kết giữa nhiều quốc gia, lãnh thổ ở khu vực Đông Á với các nước thành viên của EU ở khu vực Châu Âu. Mô hình này có đặc điểm nổi bật là không có sự tham gia của Mỹ – siêu cường số 1 thế giới, nhưng đã được tất cả các thành viên tham gia hết sức coi trọng và ủng hộ sự tiến triển của nó kể từ khi thành lập (1996) đến nay. Sở dĩ như vậy vì mô hình này trên thực tế đã tỏ rõ đó là một cơ chế hợp tác liên khu vực đầu tiên nhằm vào mục tiêu phục vụ cho việc thiết lập một quan hệ đối tác toàn diện giữa châu Á và châu Âu, nhằm tăng cường đối thoại, hiểu biết và hợp tác cũng như tạo điều kiện thuân lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội giữa hai châu lục và duy trì một thế giới hoà bình và ổn định.
4. Từ một số dẫn giải trên đây cho thấy, việc định nghĩa về khái niệm khu vực trên thế giới ngày nay đã không nhất thiết chỉ giới hạn ở tiêu thức địa lý, hay địa lý-kinh tế, mà ngày càng mở rộng ra nhiều tiêu thức có liên quan đến các vấn đề chính trị-xã hội… cùng quan tâm của các thành viên tương tác trong khu vực đó. Từ đó cho thấy, riêng đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có thể có hai cách xác định tương đối về khu vực này. Thứ nhất, hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu dựa vào tiêu thức địa lý – kinh tế: khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cũng có nghĩa là khu vực kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương mà thực chất cho đến nay vẫn được hiểu là khu vực kinh tế Đông Á (bao gồm cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á) giới hạn ở một số quốc gia và lãnh thổ như trên đã đề cập. Thứ hai, hiểu theo nghĩa rộng, dựa vào tiêu thức tổng hợp cả về địa lý-kinh tế-chính trị-xã hội…, cho thấy khái niệm khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với sự hình thành và phát triển của các tổ chức tiểu khu vực, khu vực trên cơ sở tương tác và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, xã hội… Trong đó có những vấn đề đặc biệt sôi động đang được sự quan tâm của tất cả các thành viên tham gia tương tác, đó là hợp tác phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh chính trị-xã hội, môi trường sinh thái của mỗi quốc gia, lãnh thổ và toàn khu vực. Hiểu theo nghĩa rộng như vậy về khái niệm khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đương nhiên sẽ cho ta thấy, hiện tại APEC chính là tổ chức đa quốc gia duy nhất và lớn nhất đã đại diện cho một ý chí và hành động vì lợi ích phát triển chung của cả khu vực này. Những kết quả thành công tốt đẹp đạt được từ Hội nghị APEC 14 – 2006 vừa diễn ra tại Hà Nội đã là minh chứng rõ nét thêm về vị thế của tổ chức này.
5. Như đã đề cập, trong cách hiểu của nhiều học giả và chính khách về khái niệm khu vực Đông Á lâu nay vẫn được coi là bao gồm cả hai khu vực là Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Tuy nhiên đã có một thời khi nói đến khu vực Đông Á là chủ yếu nói về Đông Bắc Á – nơi mà những năm của các thập niên 1970-1980 đã từng xuất hiện một số nền kinh tế thần kỳ Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, cho dù khi đó ở Đông Nam Á cũng đã xuất hiện nền kinh tế thần kỳ Singapo là một trong những thành viên của ASEAN và cũng thuộc khu vực Đông Á. Điều lưu ý về khái niệm khu vực Đông Bắc Á, nếu chỉ căn cứ vào tiêu thức địa lý thì ở khu vực này ngoài các nước và lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ( bao gồm cả Hồng Kông ), Đài Loan, còn có cả một số quốc gia khác như CHDCND Triều Tiên (Bắc Triều Tiên), Mông Cổ và toàn bộ khu vực Viễn Đông nước Nga. Thế nhưng hiện nay nhắc đến khu vực Đông Bắc Á đã có không ít người chỉ quan niệm đó là khu vực bao gồm các quốc gia, lãnh thổ đang có vị trí, vai trò quan trọng, chi phối sự phát triển khu vực này và có ảnh hưởng đến cả khu vực Đông Á nói riêng và toàn bộ khu vực Châu Á -Thái Bình Dương nói chung. Với quan niệm này thì khu vực Đông Bắc Á theo cách hiểu khá phổ biến hiện nay đã có giới hạn hẹp hơn về qui mô, chỉ bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc (kể cả Hồng Kông ), Đài Loan và vùng Viễn Đông nước Nga những nơi giáp ranh với Nhật Bản và Trung Quốc. Một khu vực Đông Bắc Á hiểu theo nghĩa hẹp như vậy trong thực tiễn của tiến trình toàn cầu hoá, và nhất là khu vực hoá đang diễn ra rất sôi động, phức tạp hiện nay đã và đang là đối tượng, mục tiêu quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, chính khách trong và ngoài.

*

Tóm lại, tuy chưa thể đưa ra kết luận duy nhất chính xác về cách thức định nghĩa khái niệm khu vực, song về phương diện nhận thức luận cũng đủ cho ta thấy cần hiểu và xác định khu vực là một khái niệm mở và động. Ngoài việc căn cứ vào các tiêu thức cơ bản mang tính truyền thống về vị trí địa lý và các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…; cần tính đến cả các tiêu thức nảy sinh hiện tại từ yêu cầu, xu thế phát triển thực tiễn theo từng thời kỳ… để từ đó khái niệm khu vực có thể được xác định theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau sao cho có thể phù hợp ở mức cao nhất cho tiến trình hội nhập, hợp tác phát triển cùng có lợi của các nước và lãnh thổ thành viên cùng tham gia.
Thống nhất quan điểm nhận thức trên đây, sẽ cho ta cách nhìn đúng đắn, khoa học để dự báo tương lai, nếu như một cộng đồng kinh tế Đông Á mở rộng bao gồm cả ( ASEAN+3 ) + Australia + Ấn Độ+ Niu Dilân theo như ý tưởng đã đề xuất từ đầu năm 2002 của cựu Thủ tướng Nhật Bản J. Koizumi trở thành hiện thực, và mới đây, nếu như ý tưởng đề xuất của Việt Nam tại Hội nghị APEC 14 – 2006 về sự cần thiết tiến tới việc hình thành một cộng đồng kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương cũng trở thành hiện thực…thì tất cả đó đều là những khu vực mới được hình thành từ các tiêu thức nảy sinh hiện tại theo yêu cầu khách quan của tiến trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế.

BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM