VIỆC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN SOẠN THẢO NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP

TRƯƠNG HỒNG DƯƠNG – BAN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT – VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã quy định về chế định ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh.Tiếp đó, Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ và Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định việc thành lập và cơ chế tổ chức hoạt động của ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Thủ tướng Chính phủ  hoặc Bộ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền  thành lập.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 1996 và 2002), Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh là tổ chức liên ngành, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập; chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo các hoạt động soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh từ khi thành lập cho đến khi dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội thông qua; chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về chất lượng và tiến độ soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh. Trong bài viết này, tôi xin nêu những bất cập và giải pháp về tổ chức và hoạt động ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ thành lập.  

1. Về việc thành lập ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh

– Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm, Chính phủ có thẩm quyền thành lập ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hầu như các ban soạn thảo của các dự án luật, pháp lệnh đều do Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng cơ quan trì soạn thảo dự án luật, pháp được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền  thành lập. 

Việc ban hành một văn bản (Nghị định, Nghị quyết) của Chính phủ đòi hỏi thời gian dài, qua nhiều thủ tục phức tạp.Trong khi việc thành lập ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh không đòi hỏi phải có sự tham gia của tập thể của Chính phủ. Hơn nữa, trong thời gian qua, do yêu cầu của gia nhập WTO, một số dự án luật, pháp lệnh phải trình Quốc hội gấp, nếu để Chính phủ thành lập ban soạn thảo thì không bảo đảm yêu cầu về tiến độ và thời gian trình dự án luật, pháp lệnh. Vì vậy, để bảo đảm tiến độ trình dự án luật, pháp lệnh theo đúng với chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đơn giản hoá các thủ tục hành chính phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, các ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ chủ trì soạn thảo đều do Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng cơ quan trì soạn thảo dự án luật, pháp được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền  thành lập. 

Mới đây, Nghị định số 161/2005/NĐ-CP và Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 đã quy định ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Thủ tướng Chính phủ thành lập. Như vậy, về mặt pháp lý, giữa luật và các văn bản dưới luật về việc thành lập ban soạn thảo chưa thống nhất. 

Kiến nghị: sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp theo hướng Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo thành lập ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh. 

2. Hoạt động của ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh

Theo quy định của Điều 4 Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thì thành viên Ban soạn thảo phải là cấp vụ trưởng hoặc tương đương trở lên. Thành viên ban soạn thảo phải là những người  am hiểu chuyên môn liên quan đến dự án, dự thảo; có thời gian tham gia ban soạn thảo. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các ban soạn thảo trong thời gian qua nhiều khi còn mang tính hình thức, hiệu quả không cao. Vì một số lý do sau:  

– Đại diện các bộ, ngành tham gia ban soạn thảo thường là thứ trưởng,  hoạt động kiêm nhiệm, do đó rất hiếm cuộc họp của ban soạn thảo có sự tham gia đầy đủ của các thành viên ban soạn thảo; người được thành viên ban soạn thảo uỷ quyền họp thường xuyên bị thay đổi, thậm trí có trường hợp người được uỷ quyền họp thay là chuyên viên. Vì vậy, khi cần có ý kiến chính thức thể hiện quan điểm của các bộ ngành về những vấn đề này thì những người được cử đi họp thay không thể hiện quan điểm của thành viên ban soạn thảo (đại diện cho các bộ, ngành) mà thường  phát biểu với ý kiến cá nhân. Do đó, hiệu quả các cuộc họp của ban soạn thảo nhiều khi không đạt kết quả như mong muốn, không đưa ra được kết luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau. 

Kiến nghị: sửa đổi trách nhiệm của thành viên ban soạn thảo trong Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo theo hướng: trong trường hợp thành viên ban soạn thảo vì lý do chính đáng không thể tham gia họp ban soạn thảo thì phải báo cáo Trưởng ban soạn thảo và uỷ quyền cho Vụ trưởng hoặc Phó Vụ trưởng tham gia cuộc họp ban soạn thảo. Người được uỷ quyền phải chịu trách nhiệm trong phạm vi uỷ quyền và báo cáo nội dung cuộc họp với  thành viên ban soạn thảo đã uỷ quyền.

– Sự quan tâm chưa đúng mức của Trưởng ban soạn thảo đã tác động và làm ảnh hưởng đến việc họp ban soạn. Theo quy định tại Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg, thì ban soạn thảo phải họp định kỳ  (01 tháng/ 01 lần). Ngoài ra, tuỳ theo tính chất phức tạp và yêu cầu gấp về tiến độ của từng dự án, trưởng ban soạn thảo có thể triệu tâp thêm các cuộc họp để giải quyết các vấn đề liên quan đến dự án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, trung bình mỗi dự án luật, pháp lệnh, ban soạn thảo chỉ có thể họp được từ 3-5 lần, thậm trí có dự án luật do yêu cầu gấp về tiến độ chỉ có thể họp ban soạn thảo được 01 hoặc 02 lần. 

Việc họp không theo định kỳ của ban soạn thảo thể hiện sự thiếu nghiêm túc trong việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính trong hoạt động công vụ của các cán bộ, công chức nói chung và những người có trách nhiệm nói riêng; vi phạm các quy định của pháp luật về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến chất lượng của dự án luật, pháp lệnh. 

Kiến nghị:  Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của Trưởng ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, đề nghị bổ sung trách nhiệm của Trưởng ban soạn thảo phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ về hoạt động của ban soạn thảo; đồng thời quy định chế tài  đối với Trưởng ban soạn thảo vi phạm. 

– Theo quy định tại Điều 6 của Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg, Trưởng ban soạn thảo định kỳ 03 (ba) tháng một lần có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng về tiến độ xây dựng dự án, dự thảo hoặc những vấn đề khác với dự án, dự thảo do Chính phủ trình trong quá trình tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, có trường hợp quan điểm của cơ quan chủ trì soạn thảo (bảo vệ lợi ích cục bộ của bộ, ngành mình) không được Chính phủ chấp thuận nhưng sau khi dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo tranh thủ sự ủng hộ các cơ quan của Quốc hội chấp thuận quan điểm của mình hoặc do chịu sự tác động  trực tiếp của các uỷ ban thẩm tra của Quốc hội trong quá trình tiếp thu ý kiến của các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, đặc biệt là việc tiếp thu những ý kiến có quan điểm không thống nhất với quan điểm của Chính phủ, thì Trưởng ban soạn thảo hầu như không muốn báo cáo lại Thủ tướng những vấn đề đó hoặc né tránh những bất đồng về quan điểm giữa các Uỷ ban thẩm tra của Quốc hội với các cơ quan của Chính phủ để dự án luật, pháp lệnh được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua một cách trôi chẩy.

Kiến nghị: đề nghị bổ sung vào Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg  trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ trong việc đôn đốc Trưởng ban soạn thảo báo cáo nội dung các dự án luật, pháp lệnh theo định kỳ 3 tháng một lần. Trường hợp Trưởng ban soạn thảo không báo cáo nội dung dự án luật, pháp lệnh thì Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng vấn đề này tại Phiên họp Chính phủ hoặc có công văn thông báo ý kiến của Thủ tướng về trách nhiệm  của Trưởng ban soạn thảo không báo cáo nội dung dự án luật, pháp lệnh theo định kỳ. 

– Hoạt động của ban soạn thảo đề cao vai trò cá nhân của Trưởng ban soạn thảo do Trưởng ban sọan thảo là người chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng và nội dung dự án, dự thảo và báo cáo nội dung dự án, dự thảo trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cho nên  quyết định cuối cùng không phải là ý kiến của số đông thành viên ban soạn thảo mà là ý kiến của Trưởng ban soạn thảo được thể hiện trong dự án, dự thảo. 

Việc đề cao vai trò cá nhân của Trưởng ban soạn thảo đã làm lu mở vai trò hoạt động tập thể của các thành viên ban soạn thảo, tạo cơ chế “lạm quyền”, duy trì tính “cục bô” của các cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc bảo vệ lợi ích của bộ ngành mình, đồng thời không bảo đảm tính  khách quan, minh bạch trong hoạt động xây dựng pháp luật.  

Kiến nghị: bổ sung vào Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg nguyên tắc hoạt động của ban soạn thảo quyết định theo đa số, trường hợp ý kiến thành viên ban soạn thảo ngang nhau thì quyết định cuối cùng nghiêng về phía Trưởng ban soạn thảo. Trong trường hợp ý kiến của Trưởng ban soạn thảo là thiểu số thì ý kiến đó sẽ được bảo lưu và sẽ được đưa vào Tờ trình dự án luật, pháp lệnh trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. 

– Theo quy định của Nghị định số 161/2005/NĐ-CP, Trưởng ban soạn thảo có thẩm quyền đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý thành viên ban soạn thảo có biện pháp xử lý xử đối với thành viên ban soạn thảo không tham gia các cuộc họp của ban soạn thảo từ 3 lần trở lên. Tuy nhiên, trong thực tiễn chưa có trường hợp thành viên nào của ban soạn thảo bị xử lý kỷ luật do thiếu tinh thần trách nhiệm trong hoạt động của ban soạn thảo. 

Nguyên nhân của tình trạng trên là do sự thiếu nghiêm túc trong việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật hành chính của các thành viên ban soạn thảo; không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật cùng với sự nể nang đã làm cho hoạt động của ban soạn thảo kém hiệu quả, tác động và làm ảnh hưởng đến chất lượng của dự án luật, pháp lệnh. 

Kiến nghị: Cần nâng cao tinh thần trách nhiệm chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính của  thành viên ban soạn thảo trong việc tham gia các cuộc họp của ban soạn thảo. Bổ sung vào Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg trách nhiệm của thành viên ban soạn thảo báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp về việc tham gia của bản thân trong các hoạt động của ban soạn thảo, có xác nhận của Trưởng ban soạn thảo. 

– Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, sau khi Văn phòng Chính phủ xin ý kiến thành viên Chính phủ thì những nội dung trình Chính phủ lúc này do Văn phòng Chính phủ đóng vai trò chính. Do đó, nhiều khi những sang kién, tư vấn trong quá trình thẩm tra của Văn phòng Chính phủ về nội dung dự án luật, pháp lệnh chưa được Ban soạn thảo biết đến hay nói cách khác là chưa có sự thảo luận của tập thể ban soạn thảo mà đây chỉ là ý kiến  riêng của Văn phòng Chính phủ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Về mặt nguyên tắc, hoạt động của ban soạn thảo là hoạt động tập thể có tính chất liên ngành, trong đó mọi vấn đề trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều được Trưởng ban soạn thảo và các thành viên ban soạn thảo bàn bạc, thảo luận kỹ trước khi trình, kể cả những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Mặt khác, Trưởng ban soạn thảo còn có vai trò quan trọng  trong việc quyết định đối với nội dung dự án luật, pháp lệnh nhưng lại không được biết đến ý kiến thẩm tra của Văn phòng Chính phủ vuợt ra ngoài phạm vi đã bàn bạc thảo luận kỹ trước khi trình Chính phủ. 

Đây là vấn đề cũng cần có sự thảo luận thêm về phạm vi sáng kiến trong báo cáo thẩm tra của Văn phòng Chính phủ. Tuy nhiên, để tránh sự làm quyền hoặc tuỳ tiện trong hoạt động thẩm tra, tư vấn về nội dung dự án luật, pháp lệnh của Văn phòng Chính phủ, đề nghị quy định phạm vi thẩm tra của Văn phòng Chính phủ chỉ khuôn lại những ý kiến mà thành viên ban soạn thảo đã được nghiên cứu, thảo luận nhưng còn có ý kiến khác nhau. 

– Theo quy định của Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg, thì cơ cấu tổ chức của ban soạn thảo bao gồm: Trưởng ban soạn thảo là người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì soạn thảo, các thành viên là đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, các nhà khoa học.  

  Trong thực tiễn, thành viên ban soạn thảo không có sự tham gia đại diện các cơ quan của Quốc hội với lý do hoạt động thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội cần phải độc lập khách quan với dự thảo luật, pháp lệnh do Chính phủ trình. Do không có sự tham trong quá trình soạn thảo, không nắm bắt sâu những vấn đề khúc mắc và bất cập trong thực tiễn  đã được các cơ quan của Chính phủ thảo luận kỹ. Vì vậy, nhiều khi quan điểm của các cơ quan thẩm tra của Quốc hội mang ý chí chủ quan, thiếu tính khả thi trong thực tiễn, trái ngược với quan điểm của Chính phủ về nội dung dự án luật, pháp lệnh. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, hơn ai hết, Chính phủ là cơ quan nắm bắt sâu các quan hệ xã hội và đưa ra các cơ chế điều hành có hiệu quả nhưng lại bị các cơ quan của Quốc hội không chấp thuận. Tình trạng trên là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng của các dự án luật, pháp lệnh, làm cho các quy định của luật, pháp lệnh thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung, thiếu tính khả thi và hiệu quả trong cuộc sống.  

Kiến nghị: nên bổ sung vào Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg, thành viên ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh phải có sự tham gia đại diện các cơ quan của của Quốc hội.  

Một số bất cập trên đây đã hạn chế và làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của dự án luật, pháp lệnh. Vì vậy, cần  phải tiếp tục nghiên cứu để củng cố hoàn thiện đổi mới cơ chế tổ chức và phương thức hoạt động của ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của ban soạn thảo nhằm bảo đảm chất lượng và tiến độ trình các dự án luật, pháp lệnh./.

SOURCE: CHINHPHU.VN

BẢO VỆ PHỤ NỮ – SỰ TIẾN BỘ CỦA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

Vào thế kỷ 15 khi mà Nho giáo đã trở thành quốc giáo, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị cũng như tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ thì người phụ nữ chỉ được coi như một công cụ biết nói , họ phải phục tùng vô điều kiện những yêu cầu của người chồng, người cha trong gia đình.

Những quy định luật pháp mà Nhà vua đặt ra cũng được xây dựng trên quan điểm Nho giáo – hôn nhân không có sự tự do và hầu như không có tình yêu, cha , mẹ đặt đâu con ngồi đấy, đặc biệt rất khắt khe đối với người phụ nữ. Bởi giữa nam và nữ trong xã hội phong kiến không có sự bình đẳng, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, trai năm thê, bảy thiếp, Vai trò, quyền lực của người đàn ông trong gia đình gần như là tuyệt đối. Thế nhưng những quy định về hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hồng Đức (BLHĐ) lại trao cho người phụ nữ những quyền rất quan trọng, rất mới và rất tiến bộ, chưa một chế độ phong kiến nào từ phương Đông đến phương Tây nào dám nghĩ đến:

– Quyền được xin ly hôn: Theo quy định của Bộ luật Hồng Đức (BLHĐ), người vợ được xin ly hôn trong trường hợp người chồng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như người chồng không quan tâm, bỏ bê vợ trong một thời gian dài; hoặc người chồng vượt qúa quyền của mình, vô phép đối với nhạc phụ, nhạc mẫu thì không những là bất hiếu mà còn bất nghĩa đối với vợ, người vợ có quyền xin ly hôn: “Nếu con rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha, mẹ vợ, đem việc thưa quan sẽ cho ly dị…” (Điều 333 – BLHĐ).

Trong một số trường hợp cụ thể, quyền lợi của người phụ nữ cũng được ưu tiên bảo vệ như: khi đã đính hôn nhưng người con trai chẳng may bị ác tật, phạm tội hay phá sản thì người con gái vẫn có quyền khước từ trả lại đồ sính lễ, người con trai không có quyền đòi lại của.

Người phụ nữ, người vợ còn có quyền được hưởng tài sản sau khi ly hôn, đó là các trường hợp: Ly hôn không do lỗi của người vợ và hai vợ chồng không có con thì vợ, chồng mỗi người có quyền sở hữu số tài sản ruộng đất riêng của mình có trước thời kỳ hôn nhân và và 1/2 số tài sản ruộng đất do hai vợ, chồng tạo nên trong thời kỳ hôn nhân. Khi người chồng chết, người vợ được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất và có quyền giữ nguyên quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản riêng của mình và 1/2 số tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. (Quyền được sở hữu tài sản riêng, quyền đồng sở hữu đối với tài sản chung của hai vợ chồng).

– Một điều đặc biệt của BLHĐ là quyền được chia gia tài của con gái cũng ngang bằng với con trai (Điều 388); Không có con trai cũng không có nghĩa là không có người thừa tự, vì Điều 391 quy định: trong trường hợp gia đình không có con trai thì con gái cũng có quyền thừa kế hương hoả.

Mặc dù một số quy định nêu trên đôi khi chỉ mang tính hình thức về quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến nhưng đặt trong điều kiện kinh tế – xã hội của xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ đó thì đây là những quy định hết sức tiến bộ trong tiến trình lập pháp Việt Nam.

Luật Hôn nhân – Gia đình năm 2000 đã quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú; Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Ngọc Anh – HAIPHONG.GOV.VN

NHỮNG ĐIỀU CÓ THỂ HỌC TỪ HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI MỸ

PHAN VIỆT

Bài viết này tập trung trình bày những cái tinh túy nhất mà tôi quan sát được ở những trường học có chất lượng cao tại Mỹ – những điều có thể áp dụng trực tiếp cho đổi mới giáo dục tại Việt Nam. Vì thế, xin bạn đọc đừng cho rằng rằng tôi quá khen hệ thống giáo dục đại học tại Mỹ. Bài này gồm bốn phần: Đào tạo là để làm việc; Sinh viên; Giáo viên; Các vấn đề khác.

Đào tạo là để làm việc
Đào tạo tại Mỹ, nhìn chung, không nhằm vào việc tạo ra những con người hoàn hảo, những trí thức chung chung; mà nhằm đào tạo người để làm việc chuyên môn trong những ngành cụ thể, với những kỹ năng cụ thể, mục đích cụ thể. Để làm điều này, giáo dục đại học của Mỹ chú trọng ít nhất hai điều sau: (1) nó linh động thay đổi việc đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động; và (2) nó khuyến khích sinh viên học theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa.
Để làm điều thứ nhất, nó có thể co dãn lượng tiền đầu tư và số lượng sinh viên lấy vào cho mỗi ngành lớn và chuyên ngành hẹp trong đó, tùy theo xu hướng phát triển của xã hội. Ví dụ như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, y tế và vật liệu là những ngành mũi nhọn cho phát triển thì các trường sẽ tăng lượng người nhận cho các ngành này, lấy nhu cầu cao hơn, cấp nhiều học bổng hơn; trong khi đó, nó thu hẹp dần những ngành không còn mấy khả năng ứng dụng như nhân chủng học, sử học, thần học. Hoặc ngành công nghiệp giải trí (phim ảnh, báo chí, thể thao, giải trí nói chung), ngành chăm sóc sức khoẻ tinh thần đang ngày càng bành trướng và là một trong những ngành vẫn tăng trưởng lợi nhuận so với các ngành công nghiệp cũ đang chết dần; thì các trường nói riêng và toàn nền giáo dục nói chung tăng đầu tư cho các ngành đó. Cũng phải nói thêm, điều này thực hiện được là vì các trường học của Mỹ, nhất là trường tư, khá độc lập về tài chính và vận hành không chịu các kiểm soát về khung chương trình bắt buộc hay sử dụng tài chính từ một thứ Bộ hay Sở giáo dục nào; tuy rằng họ cũng có hội đồng kiểm soát riêng.
Để làm điều thứ hai, khi nhận sinh viên vào trường, giáo dục Mỹ áp dụng một mô hình chuyên môn hóa đối với việc học. Thay vì việc dựng một khung chương trình bắt buộc mà tất cả các sinh viên của một ngành học phải theo học giống hệt nhau, các trường Đại học tại Mỹ chỉ yêu cầu sinh viên mỗi ngành học một số lớp cơ bản, có tính nền tảng cho ngành; còn lại, họ được tự do chọn lớp học bổ trợ theo ý họ; sao cho họ có thể củng cố kỹ nhất kiến thức trong chuyên ngành hẹp của mình và trở thành chuyên gia ở lĩnh vực của họ. Lấy ví dụ như trong ngành công tác xã hội; sinh viên sẽ phải học bắt buộc một số lớp về các lý thuyết đưa đến đói nghèo và bất bình đẳng xã hội, về phương pháp nghiên cứu, về phát triển con người, và phải thực tập bắt buộc 2 năm. Nhưng ngoài những đòi hỏi trên, sinh viên sẽ được tự do chọn lớp để học và chọn nơi thực tập sao cho phù hợp nhất. Nếu bạn muốn tập trung vào nhóm đối tượng trẻ em chẳng hạn, bạn có thể học thêm các lớp về sự phát triển sinh lý của trẻ em, về tâm lý trẻ em, về quá trình hình thành nhận thức ở trẻ, về cách mà đứa trẻ học, vân vân… Trong mỗi một lĩnh vực nhỏ này, bạn có thể tự chọn thêm các lớp chuyên sâu; lấy ví dụ như đối với quá trình phát triển tâm lý, bạn lại rẽ nhánh tập trung vào phát triển tâm lý của trẻ bình thường, hay là trẻ bị khuyết tật, hay trẻ nghèo, trẻ sinh trong gia đình mà bố mẹ li dị hoặc liên tục có xung đột. Nói tóm lại là bạn sẽ học tập trung vào một lĩnh vực nhỏ mà bạn có thể ứng dụng để làm việc khi tốt nghiệp.
Sẽ có một vấn đề nảy sinh cho hướng giáo dục này là đôi khi nhà trường không có đủ lớp học và giáo viên cho tất cả các lĩnh vực hẹp trong một ngành. Giả sử như tôi muốn học về thời kỳ thuộc địa tại Việt Nam, tôi sẽ không tìm được lớp học hoặc giáo viên trực tiếp làm về vấn đề này vì, giả sử, khoa sử của trường tôi chỉ tập trung vào mảng lịch sử Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và một phần Châu Á (Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ) chứ không có Đông Nam Á. Để giải quyết vấn đề này, các trường học khuyến khích sinh viên đăng ký các lớp học độc lập (independent study hoặc independent reading). Theo cách này, sinh viên sẽ tìm một giáo sư gần nhất với lĩnh vực mà mình quan tâm (ví dụ như tôi tìm giáo sư về chính sách thuộc địa của Pháp); sau đó, sinh viên và giáo sư sẽ tự xây dựng danh sách các sách nên đọc, tự xây dựng lịch đọc, lịch gặp gỡ và nói chuyện về chủ đề, vv… Thậm chí, cho một lớp độc lập như thế, sinh viên có thể cùng lúc học với hai, ba thầy để bổ sung kiến thức cho nhau. Theo cách đó, tôi phải tự đọc và học rất nhiều. Nói tóm lại, sẽ không có chuyện sinh viên tốt nghiệp ra giống hệt nhau về các lớp học và chỉ có kiến thức chung chung; mà thường họ có kiến thức định hướng để áp dụng làm việc.
Nhìn lại giáo dục đại học ở Việt Nam mà tôi biết: hãy lấy ví dụ cụ thể là trường Ngoại thương mà tôi theo học từ năm 1995 đến năm 2000. Trong 5 năm, tất cả sinh viên học các lớp giống hệt nhau: một lớp thanh toán quốc tế, một lớp luật trong ngoại thương, một lớp bảo hiểm, một lớp vận tải; một lớp kế toán – tài chính; thậm chí học cả những lớp như Dân số, Giao tiếp quốc tế, vv… Tốt nghiệp ra, nhìn chung sinh viên đều chỉ có kiến thức chung chung giống nhau, một tí về bảo hiểm, một tí về thanh toán quốc tế, một tí về luật, một tí kế toán, một tí về kỹ năng giao tiếp trong đàm phán, vv… Khi đi làm cụ thể, sinh viên rất lúng túng và hầu như sẽ phải tự đào tạo lại. Lẽ ra, chỉ nên có một số lớp bắt buộc; còn lại, sinh viên nếu muốn chuyên sâu vào bảo hiểm hàng hoá trong ngoại thương thì nên chỉ chọn học các lớp chuyên sâu; sinh viên muốn làm về thanh toán quốc tế nên học chuyên sâu vào lĩnh vực đó. Những môn như Dân số, Giao tiếp quốc tế, vv… nên coi là môn tự chọn, ai thích thì học, ai không thích thì mạnh dạn bỏ hẳn; không nên đào tạo ra những người biết chung chung, hoàn hảo chung chung. Như thế, vừa đào tạo được một đội ngũ có chuyên môn chắc ở các lĩnh vực khác nhau, vừa khiến sinh viên tập trung học vào những gì mình thích và không bị phân tán vào những thứ khác. Đây sẽ là một cách hiệu quả để tạo cho sinh viên sự hứng thú trong học tập; đồng thời tập cho họ suy nghĩ về công việc, định hướng sống của mình; cũng như suy nghĩ một cách thực tế, có mục đích với những kiến thức của mình và biết cách tước bỏ những thứ rườm rà.

Ưu việt rõ ràng của mô hình đào tạo để làm việc là nó sẽ liên tục có người khai phá những con đường mới trong lý thuyết và ứng dụng. Ví dụ như trong lúc sinh viên học chuyên sâu một ngành nào đó mà phải dùng tới kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau, họ sẽ nảy ra những câu hỏi về những vấn đề mới, đưa đến những phát minh mới. Nói cách khác, sự mở đường có thể liên tục được manh nha trong quá trình học và nghiên cứu.

Sinh viên

1. Nâng cao tính tự chủ và quyền của sinh viên:
Giáo dục đại học nói riêng và giáo dục ở Mỹ nói chung chú trọng xây dựng con người có khả năng tư duy độc lập, biết điều mình muốn làm, biết cách suy nghĩ và ra quyết định, biết các quyền và nghĩa vụ của mình; cũng như biết cách thực hành các quyền ấy trong đời sống hàng ngày (ít nhất là tôi thấy biểu hiện của những điều này nhiều hơn rất nhiều so với Việt Nam). Trong giáo dục đại dục, để nâng cao tính tự chủ và quyền sinh viên, các nhà trường xây dựng một quy chế trong đó:

Giáo dục đại học nói riêng và giáo dục ở Mỹ nói chung chú trọng xây dựng con người có khả năng tư duy độc lập.

 

 

 

 

 

 

– Mỗi sinh viên được tự chọn lĩnh vực học, tự chọn lớp học và tự xây dựng lịch học cho mình. Họ không nhất thiết phải tốt nghiệp trong 4 năm, mà chỉ cần hoàn thành một số lượng học trình nhất định; họ có thể hoàn thành nhanh hoặc chậm tùy ý; tuỳ điều kiện; có người học 2 năm, rồi bảo lưu kết quả để đi làm, rồi lại quay lại trường học tiếp.
– Đầu mỗi kỳ học, giáo viên công bố lịch học cụ thể cho cả kỳ học (gọi là syllabus), trong đó ghi rõ các sách phải có cho học kỳ, các nội dung sẽ học với từng ngày lên lớp, và các bài sẽ đọc trong mỗi giờ lên lớp. Giáo viên có thể tải lịch học này lên mạng từ trước học kỳ, để sinh viên biết nội dung lớp học mà quyết định có chọn học hay không (thường sinh viên được khuyến khích đến gặp giáo viên để nói chuyện trước khi kỳ học bắt đầu, để có thể quyết định tốt hơn). Sinh viên thường phải đọc bài trước khi đến lớp và lớp học sẽ mang tính thảo luận, chứ không theo hướng thầy giảng – trò ghi bài.
– Sinh viên được khuyến khích tự học, tự đọc, tự tìm hiểu rất nhiều bên ngoài những gì giảng trên trường. Các bài tập hàng tuần hướng nhiều vào thực hành và kỹ năng phân tích vấn đề, chứ không phải hướng vào việc “thuộc bài”. Ví dụ như bài tập có thể yêu cầu sinh viên phải trực tiếp đi phỏng vấn bên ngoài, đi lấy số liệu để phân tích vấn đề hoặc đọc thêm rất nhiều để viết bài phân tích. Cũng trên khía cạnh này, hầu hết sinh viên Mỹ đều đi làm thêm, trong hoặc ngoài trường. Rất nhiều người làm các công việc bình dân như hầu bàn, đưa báo, lái taxi, khuân vác, bán hàng, vv… và họ thấy rất thoải mái, không có gì phải xấu hổ.
– Sinh viên có thể vay tiền của chính phủ, của trường hoặc các tổ chức tài chính thông qua trường để trả học phí; sau này đi làm, sinh viên sẽ trả lại tiền. Có những sinh viên vay nợ toàn bộ học phí để có thể đi học, tập trung học giỏi; sau khi tốt nghiệp, họ dùng lương trả nợ trong vòng vài năm. Ví dụ, một giáo sư mà tôi quen, mặc dù năm nay đã hơn 40 tuổi, vẫn đang tiếp tục trả nợ tiền học phí từ thời đi học đại học theo kiểu trả từng khoản nhỏ hàng tháng.
– Sinh viên có quyền sử dụng tất cả các cơ sở vật chất trong trường học như thư viện, nhà thể thao, phòng máy tính, lấy giấy chứng nhận điểm học, vân vân… Ví dụ như ở trường tôi (Đại học Chicago – University of Chicago ), mỗi lần vào thư viện, sinh viên tự tra sách, tìm sách trong kho, rồi mượn thoải mái về nhà; sinh viên có thể lấy điểm học bất cứ lúc nào, không mất lệ phí và không cần chữ ký mà có hệ thống chuẩn về việc này.
– Sinh viên được có tổ chức và đại diện để tham gia vào các quyết định của trường học hoặc của khoa, như quyết định về thay đổi chương trình học, quyết định về việc thay hiệu trưởng, quyết định về học phí, về bảo hiểm, về việc xây dựng trường, về các hoạt động xã hội, vân vân…
– Sinh viên có quyền và được khuyến khích trao đổi thẳng thắn với giáo viên; kiến nghị khi có các biểu hiện không lành mạnh ở giáo viên; yêu cầu thay đổi giáo viên không có trình độ chuyên môn, vv…
– Sinh viên có quyền được truy cập hồ sơ về bản thân mình, có quyền xem các nhận xét của giáo viên về bản thân (trừ khi họ ký giấy từ bỏ quyền này) và có quyền kiện khi giáo viên có nhận xét sai hoặc có biểu hiện phân biệt đối xử với mình.
– Cuối mỗi kỳ, sinh viên phải làm một bản đánh giá giáo sư của mình (bảng này không đề tên sinh viên) và điểm đánh giá của các giáo sư được công khai trong trường cho sinh viên xem. Thường trước mỗi học kỳ, khi chọn lớp học, sinh viên hay xem điểm đánh giá giáo viên các năm trước để quyết định.
– Sinh viên có quyền đề cử và bầu các giáo viên giỏi, có tâm huyết vào các chức danh; thay vì để cho nhà trường xét duyệt giáo viên giỏi. Thường cuối mỗi năm học, hiệu trưởng trường hoặc trưởng một khoa gửi thư cho sinh viên toàn trường yêu cầu đề cử giáo viên giỏi. Các sinh viên sẽ viết thư đề cử và ký tên gửi lên hiệu trưởng. Họ công khai các thư này và còn công khai viết thư để vận động trong trường cho giáo viên mà họ kính trọng.

2. Giảm sự coi trọng bằng cấp, điểm, và các thứ hình thức; chú trọng vào con người:

Đây có lẽ là điều mà tôi tâm đắc nhất với hệ thống giáo dục Mỹ nói riêng và hệ thống vận hành của nước Mỹ nói chung: nó chú trọng vào bạn, chính con người bạn – như một cá thể riêng biệt và trọn vẹn; chứ không phải dựa trên những thước đo hình thức chung chung. Điều này được thực hiện thông qua các hoạt động như:
– Việc chọn vào học đại học không thông qua một kỳ thi đại học mà thông qua xét hồ sơ cá nhân, bao gồm học bạ trung học, điểm thi các kỳ thi trắc nghiệm trình độ được chuẩn hoá bởi cơ quan độc lập (SAT), thư giới thiệu của giáo sư hoặc người quản lý, bài tự viết của thí sinh về mục đích và kế hoạch học tập, các tài liệu bổ trợ khác về kinh nghiệm cá nhân, hoạt động ngoại khoá, vv… Hình thức này có thể chưa thực tế ở Việt Nam; tuy nhiên, về lâu về dài, chúng ta nên nghĩ đến việc đánh giá con người dựa trên khả năng và tiềm năng tổng thể thay vì các biểu hiện hình thức và có tính rủi ro cao như thi đại học.
– Không công bố điểm của sinh viên một cách công khai với các sinh viên khác hoặc với giáo viên khác, trừ khi có lí do chính đáng. Nên coi chuyện điểm học là chuyện riêng tư, sinh viên có quyền giữ kín. Điều này để sinh viên có thể có một môi trường bình đẳng với nhau và với giáo viên; tạo cho sinh viên sự tự trọng. Đồng thời, sinh viên phải làm bài liên tục trong kỳ, giữa kỳ và một bài lớn cuối kỳ để tính điểm cho cả học kỳ chứ không theo phương thức “cái chết bất ngờ” như ở Việt Nam (tức là cả kỳ chỉ có một bài thi ở cuối kỳ).
– Không có chính sách ưu tiên với lớp trưởng, cán bộ hoặc con giáo viên. Nếu ai thích làm lớp trưởng hoặc chủ tịch hội sinh viên thì tự ứng cử và sau này sẽ có lợi trong hồ sơ xin làm việc hoặc học bổng; nhưng không đánh đồng hoạt động này với trình độ học hành; do đó không có chuyện cộng điểm cho người hoạt động.
– Sinh viên có quyền chọn học lấy điểm thông thường (A, B, C, D), hoặc chỉ nghe giảng mà không lấy điểm nhưng vẫn có tên môn học trong bảng điểm, hoặc lấy điểm theo chế độ Qua/Trượt (Pass/Fail); như vậy, sinh viên có thể tập trung sức vào những môn mình muốn học

Giáo dục đại học tại Mỹ tạo cho sinh viên môi trường để thực hành quyền làm chủ, nuôi dưỡng cảm giác mình là một người lớn, một công dân ngang bằng với những người khác, có tiếng nói, có sự tự tôn, có các quyền và nghĩa vụ mà mình phải làm. Nó cũng tập cho sinh viên cách tự suy nghĩ, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm với các quyết định của mình. Nó tập cho họ sự trung thực, biết rằng sự thực được tôn trọng và do đó mà sống thẳng thắn hơn trong cuộc sống.

và không phải quá lo lắng về điểm ở những môn mình không quan tâm nhiều.
– Nếu sinh viên gặp khó khăn với một môn học dù đã hết sức cố gắng thì có thể nói chuyện với giáo viên để tìm sự giúp đỡ riêng; và miễn là bạn cố gắng, bạn sẽ được đánh giá về cố gắng của bạn. Ví dụ như trong lớp học về phân tích số liệu mà tôi là trợ giảng, có một số sinh viên đã lớn tuổi (trên 50 tuổi), cho nên họ rất chật vật với tính toán và các phần mềm phân tích số liệu mặc dù đã rất cố gắng. Trong trường hợp này, họ sẽ gặp gỡ với giáo sư và trợ giảng hàng tuần để học thêm. Khi xem xét bài làm của họ, chúng tôi thường châm chước các lỗi vì biết họ cố gắng rất nhiều.
– Không quá coi trọng điểm số trong quá trình xét học bổng, xin việc của sinh viên; mà xem xét mỗi người trong hoàn cảnh riêng của họ, xem xét nỗ lực, khả năng và tiềm năng của họ.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

6 KIẾN NGHỊ VỀ ĐÀO TẠO TIẾN SĨ Ở VIỆT NAM

TRẦN VĂN THỌ

Trong khi dư luận báo chí và những người hiểu biết cảnh báo về sự lạm phát về văn bằng tiến sĩ, thì những người có trách nhiệm của nhà nước vẫn tiếp tục đưa ra mục tiêu thiếu căn cứ khoa học (cho đến năm 2010 phải có 19.000 tiến sĩ!) và để đạt mục tiêu, đã đưa các chỉ tiêu xuống các cơ sở giáo dục đào tạo mà theo chuẩn mực quốc tế còn rất xa mới đủ năng lực để dạy bậc tiến sĩ. Phải chăng là do Nhà nước có ảo tưởng là cứ tăng số lượng nguời có bằng tiến sĩ là có đủ “nhân tài” gánh vác công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Còn xã hội thì ngày càng chạy theo bằng cấp, có bằng càng cao càng dễ được đề bạt lên các chức vụ cao hơn.

Gần 10 năm truớc, trên mục “Ý kiến nhà khoa học” (báo Nhân Dân, 7.1997), tôi đã viết rõ những yêu cầu của một luận án tiến sĩ và trình độ học vấn của một người có tư cách bảo vệ luận án. Tôi cũng giới thiệu trường hợp của Đại học Thammasat, một đại học dạy kinh tế lâu đời nhất của Thái Lan. Trong số gần 60 giáo sư, phó giáo sư và giảng viên chính của khoa kinh tế trường nầy, có hơn 2/3 là những người đã học và lấy bằng tiến sĩ từ các nước tiên tiến, phần lớn là từ các đại học hàng đầu của Mỹ, nên về mặt số giáo sư có tư cách hướng dẫn, họ đã có đủ nhưng các điều kiện khác không cho phép nghiên cứu sinh tại Thái Lan cập nhật với các nghiên cứu mới trên thế giới nên họ chưa đào tạo. Vào thời điểm hiện tại, Đại học Thammasat vẫn còn rất thận trọng mặc dù lực lượng giáo sư của họ hùng hậu hơn truớc và họ đã chính thức xây dựng chương trình đào tạo tiến sĩ nhưng mỗi năm cũng chỉ cấp 4 hoặc 5 văn bằng. Một người bạn của tôi đang dạy ở đó giải thích: Vì muốn văn bằng tiến sĩ tại Thái Lan tương đương chất lượng với văn bằng tại các nước tiên tiến nên chúng tôi chủ trương không đào tạo nhiều, nên chỉ những sinh viên giỏi và quyết chí học mới thi đỗ và học đến khi lấy được bằng.
Thật ra Đại học Thammasat không phải là trường hợp cá biệt mà sự nghiêm túc đó rất phổ biến tại các nước. Tôi cũng đã kiến nghị trước mắt cần có kế hoạch tích cực gửi nhiều người đi học ở nước ngoài sau nầy chính những người nầy sẽ đảm nhận việc đào tạo bậc tiến sĩ.

Cái gốc của vấn đề là gì?
Trên báo Tia Sáng số 17 (tháng 9 năm 2003), tôi có viết chi tiết về chuẩn mực của luận án tiến sĩ, về điều kiện học lực của người có tư cách bảo vệ luận án và người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu luận án tiến sĩ. Nay xin rút gọn lại thành một đề nghị gồm mấy điểm mà tôi cho là cơ bản nhất:
1/ Cần thống nhất phương châm cơ bản là văn bằng tiến sĩ đào tạo ở Việt Nam (VN) phải tương đương chất lượng với văn bằng tại các nước khác. Không thể cho rằng trình độ phát triển kinh tế, xã hội VN còn thấp thì phải chấp nhận văn bằng có giá trị thấp.
2/ Nhà nước không giao chỉ tiêu đào tạo đến các viện, các truờng, và không tạo điều kiện cho quan chức đi học tại chức để lấy bằng tiến sĩ (quan chức nhà nước chỉ cần có bằng đại học, không xem học vị thạc sĩ hay tiến sĩ là tiêu chuẩn để đề bạt).
3/ Tạm ngừng các chương trình đào tạo tiến sĩ tại các viện, các trường cho đến khi có chính sách mới, đồng thời tiến hành lập các hội đồng thẩm định gồm những nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước với nhiệm vụ thẩm định, đánh giá tư cách đào tạo tiến sĩ của các trường, các viện và các giáo sư. Công khai trên báo đài tên tuổi, thành tích khoa học của những thành viên trong các hội đồng thẩm định.

—————————————————-

Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang có kế hoạch cải thiện chương trình đào tạo tiến sĩ. Đó là ý định tốt. Tuy nhiên, không thể chỉ sửa đổi các tiêu chuẩn, điều kiện liên quan đến luận án, đến quy trình đánh giá luận án và đưa chỉ thị mới xuống các cơ sở đào tạo hiện nay là cải thiện được tình hình. Phải giải quyết cái gốc của vấn đề.

—————————————————

4/ Sau chừng nửa năm hoặc một năm hoạt động của các hội đồng thẩm định, công bố danh sách các trường, các viện và tên các giáo sư đã qua thẩm định và được thừa nhận có tư cách đào tạo tiến sĩ. Các cơ quan này được phép tiếp tục các chương trình đào tạo tiến sĩ.
5/ Những nghiên cứu sinh đã được nhận vào các viện, các trường không đủ tư cách đào tạo tiến sĩ phải thi lại vào các viện, các trường có tư cách đó.
6/ Khuyến khích những “tiến sĩ” đã lấy bằng tại các cơ sở không đủ tiêu chuẩn mạnh dạn xin bảo vệ lại tại những viện, những trường có đủ tiêu chuẩn đào tạo. Trong tương lai, những tiến sĩ chân chính sẽ ghi thêm chi tiết về nơi được đào tạo trong danh thiếp hoặc trong các giấy tờ liên hệ, và như vậy những tiến sĩ không đủ tiêu chuẩn phải bảo vệ lại hoặc tự đào thải.
Những đề nghị này tập trung giải quyết trên căn bản vấn đề tiêu chuẩn của các cơ sở đào tạo và của các giáo sư, phó giáo sư và hẳn sẽ gặp phải sự phản kháng của những cơ cở và của những người không đủ tiêu chuẩn. Nhưng không thể có phương pháp nào khác để giải quyết tình trạng hiện nay.
Dư luận phê phán “chợ luận án”, lên án người đi mua và bán luận án nhưng tôi lấy làm lạ là không ai đặt câu hỏi “làm sao những người mua luận án đã bảo vệ thành công và lấy bằng tiến sĩ? Họ đã bảo vệ tại đâu, ai ở trong hội đồng chấm luận án ấy? Làm sao nhờ người khác thi hộ để được ghi danh học tiến sĩ mà giáo sư hướng dẫn sau đó không phát hiện được? Chung quy cái gốc vẫn là ở cơ sở đào tạo và ở người hướng dẫn làm luận án.
Tiến sĩ ở VN hiện nay quá nhiều. Ít nhất là trong bộ máy nhà nước và trong giới doanh nghiệp, số người có bằng tiến sĩ ở VN nhiều hơn hẳn ở Nhật Bản là nước đông dân hơn nhiều và có thu nhập đầu người gấp 75 lần VN. Nếu đề án 6 điểm này được thực hiện thì mỗi năm số người lấy được bằng tiến sĩ tại VN sẽ ít hẳn đi, nhưng thay vào đó, ta sẽ không còn thấy tình trạng học vị tiến sĩ xuất hiện tràn lan trên báo, trên các tạp chí, trong bản ghi chương trình của những hội thảo thông thường của các cơ quan trong nước. Và đó là trạng thái bình thường ở giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước ta./..

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG