CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI THẨM PHÁN THEO LUẬT PHÁP LIÊN BANG NGA

Pháp luật các nước đều thừa nhận vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc phải xây dựng hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả và gọn nhẹ. Ở Cộng hoà Liên bang Nga, nghề thẩm phán là một trong những nghề rất được xã hội trọng vọng và pháp luật dành cho nhiều ưu đãi.

Một bộ phận cốt lõi của hệ thống tư pháp là cơ quan xét xử. Các cơ quan xét xử chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có đội ngũ Thẩm phán giỏi, có năng lực, chuyên nghiệp, chí công, vô tư­.

Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạt động xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như­ quyền lợi của họ. Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn, quyền tài phán và quyền đư­ợc bảo vệ. Thẩm phán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn đư­ợc mở rộng đến nơi ở, nơi làm việc, phư­ơng tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bị truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Thẩm phán có thể không bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phê chuẩn của Toà án. Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ đư­ợc áp dụng khi Thẩm phán đ­ương nhiệm mà còn cả khi họ về hư­u, từ chức.

Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán đư­ợc hư­ởng lư­ơng, lư­ơng hư­u và phụ cấp tư­ơng xứng. Thẩm phán đư­ợc cấp nhà, đ­ược miễn hoặc ư­u tiên trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như­: đư­ợc quyền sử dụng các phư­ơng tiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, được quyền giữ chỗ trư­ớc, phục vụ ­ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụ điện thoại Thẩm phán và các thành viên trong gia đình được phục vụ và điều trị y tế không phải trả tiền. Tính mạng, sức khoẻ và tài sản của Thẩm phán đ­ược bảo hiểm bắt buộc lấy từ ngân sách Liên bang. Thẩm phán nghỉ hư­u mà vẫn tiếp tục nhiệm vụ của Thẩm phán thì đ­ược trả đủ lư­ơng h­ưu và tiền lương.

Ph­ương Yến (St) – HAIPHONG.GOV.VN

VIỆC THUÊ GIÁM ĐỐC KHÓ THỰC HIỆN – VƯỚNG TỪ ĐÂU?

Trong muôn vàn hoạt động thuê, sự thuê giám đốc DNNN là khó khăn, nhiêu khê hơn cả. Cho đến nay, tròn 10 năm kể từ năm 1997 chính phủ có chủ trương cho thuê giám đốc, việc thuê giám đốc DNNN vẫn đang trong giai đoạn thí điểm và đáng buồn hơn, cơ quan quản lý khó mà tổng kết những thí điểm này để phổ biến đại trà vì thành quả của nó còn quá nghèo nàn.

Trong mọi hoạt động liên quan đến kinh tế và xã hội, muốn đạt hiệu quả thiết thực phải chuyên môn hoá. Nghĩa là phải phân định rõ ràng: Việc nào mình tự làm tốt thì làm, việc nào thuê người khác làm hiệu quả thì nên thuê.

Trên thực tế, nhiều đơn vị hành chính và kinh tế đã tổ chức việc thuê khá hiệu quả. Thí dụ như tháng 8 vừa qua, UBND TP.Hà Nội đã thuê một đối tác nước ngoài thiết kế quy hoạch khu vực phía bắc thủ đô, hay một số NHTM quốc doanh thuê tư vấn và giám sát quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp. nhiều lĩnh vực được thuê đã trở nên khá phổ biến là: Thuê kê khai thuế, hải quan; thuê tư vấn thành lập DN; thuê thẩm định công nghệ; thuê kiểm toán nội bộ…

Trong muôn vàn hoạt động thuê, sự thuê giám đốc DNNN là khó khăn, nhiêu khê hơn cả. Cho đến nay, tròn 10 năm kể từ năm 1997 chính phủ có chủ trương cho thuê giám đốc, việc thuê giám đốc DNNN vẫn đang trong giai đoạn thí điểm và đáng buồn hơn, cơ quan quản lý khó mà tổng kết những thí điểm này để phổ biến đại trà vì thành quả của nó còn quá nghèo nàn.

Sau nhiều năm thai nghén, năm 2003, Chính phủ cho phép 5 TCty thực hiện thí điểm mô hình thuê chưc danh tổng giám đối, gồm: TCty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, TCty Công nghiệp ô tô Việt Nam, TCty Thiết bị kỹ thuật điện, TCty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng, TCty Xây dựng Sông Hồng. Sau gần 4 năm thực hiện, tính đến cuối năm 2006, vẫn chưa đơn vị nào thuê được tổng giám đốc. Theo đề án của các TCty, mức lương cho tổng giám đốc có thể nói là chấp nhận được với khoảng giãn cách từ 35 đến 50 triệu đồng/tháng, cộng với nhiều khoản tiền gửi theo doanh thu, lợi nhuận, mở rộng thị phần. Tuy nhiên, cái vướng nhất nổi lên là trao quyền cho tổng giám đốc được thuê đến đâu? Trách nhiệm của tổng giám đốc đến đâu? Nắm trong tay hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng của nhà nước, nếu để DN bị thua lỗ, cụt vốn, tổng giám đốc phải bồi thường, nhẹ nhất là bị mất chức. Trách nhiệm lớn như thế thì tổng giám đốc phải được quyền quyết định “ê-kíp” làm việc của mình. Nhưng trong DNNN xưa nay việc bổ nhiệm các chức danh từ trưởng phòng đến phó giám đốc đều phải được sự chấp nhận của Đảng uỷ, HĐQT.

DNNN mang trong mình nhiều cơ chế, việc điều hành DNNN đòi hỏi nhiều trách nhiệm, trong khi đó quyền lợi; quyền hạn bị hạn chế và bị giám sát bởi cả một bộ máy như HĐQT, Đảng uỷ TCty, cơ quan chủ quản… Vì thế, tìm được một ứng cử viên tổng giám đốc có năng lực, chấp nhận điều hành một TCty Nhà nước vô cùng khó khăn.

Bước sang năm 2007, 3 trong số 5 TCty nói trên là TCty Xây dựng Sông Hồng, TCty Thuỷ tinh và Gỗm xây dựng đã chuyển sang mô hình Cty mẹ – Cty con hoặc tập đoàn kinh tế như Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam nên không thực hiện đề án thí điểm thuê tổng giám đốc nữa. 2 đơn vị còn lại là TCty Công nghiệp ô tô ( vinamotor) và TCty Thiết bị kỹ thuật điện (VEC) tiếp tục thí điểm. Kết quả là VEC đã tuyển được giám đốc. Người ứng cử và trúng cử chính là… Tổng giám đốc đương nhiệm. Đáng chú ý là không có ứng cử viên bên ngoài tham dự, mặc dù đã thông báo rộng rãi trên báo chí một tháng, sau đó gia hạn thêm một tháng nữa. Còn Vinamotor vẫn đang trong quá trình… tuyển.

Qua hơn 4 năm thí điểm, mới chỉ có 1 DNNN thuê được tổng giám đốc, mà lại chính là tổng giám đốc đương nhiệm thì chắc chắn đề án thí điểm thuê tổng giám đốc  DNNN có điều gì đó chưa ổn hoặc tổ chức hoạt động của DNNN hiện có “vấn đề”. Bởi vì, khi luật DN 2005 cho phép thuê giám đốc (khoản 1, Điều 70; khoản 2,3 Điều 74) nhiều cty TNHH, cty cổ phần, DNTN đã thuê được giám đốc, tổng giám đốc. Điều đó cho thấy, mặc dù đã có luật DN 2005 ( thường gọi là Luật DN thống nhất) nhưng cơ chế của DNNN vẫn còn nặng nề, không dễ gì “ thống nhất” được với DN ngoài quốc doanh.

Nguồn tinTạp chí Thương Mại

MUA, BÁN, SÁT NHẬP ĐỔ BỂ VÌ SAO?

Những doanh nghiệp gặt hái được thành công lớn trong kinh doanh – như hãng phần mềm Microsoft của tỷ phú Bill Gates, và tập đoàn Berkshire Hathaway của ông trùm đầu tư Warren Buffet – thường được chèo lái bởi những người có đầu óc nhìn xa trông rộng, đem đến sự thay đổi cho các lĩnh vực mà doanh nghiệp của họ hoạt động.

Nhưng không may, trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập (M&A), đôi khi kết cục của lối nghĩ lớn này lại là thảm họa.

Không ít những thỏa thuận trị giá nhiều tỷ USD được tiến hành dựa trên các mối quan hệ cá nhân và cái tôi của các nhà quản lý, những kế hoạch vĩ đại với hy vọng làm biến đổi bộ mặt của một ngành công nghiệp, và niềm tin cho rằng giá trị của doanh nghiệp sau khi sáp nhập sẽ lớn hơn rất nhiều so với tất cả những gì riêng lẻ trước đó cộng lại. Và dĩ nhiên, những thỏa thuận này còn được thúc đẩy bởi các ngân hàng và giới luật sư tìm cách tìm kiếm lợi nhuận trên mảnh đất mua bán và sáp nhập.

Vài ví dụ tiêu biểu

Giới kinh doanh hiện đang chứng kiến không ít những vụ đổ bể của các thỏa thuận sáp nhập trước đó từng diễn ra tốt đẹp.

Ngày 4/10 vừa qua, hãng sản xuất ôtô Đức DaimlerChrysler đã quyết định đổi tên thành Daimler, trút bỏ những tàn tích cuối cùng của vụ mua lại hãng Chrysler vào năm 1998 với giá 40 tỷ USD. Mặc dù tiếp tục duy trì cổ phần 19,9% trong Chrysler, các cổ đông của Daimler vẫn sẽ rất vui mừng được quên đi quãng thời gian “sống chung” này – một thời kỳ đầy rẫy những kiện tụng liên quan đến thỏa thuận mua lại, thiếu những mẫu xe thu hút, sự xung đột về văn hóa và cách thức điều hành giữa các nhà quản lý của phía Mỹ và phía Đức, cũng như thâm hụt tài chính nặng nề.

Tháng 5 vừa qua, Daimler đã đồng ý bán lại phần lớn cổ phần của tập đoàn cho một công ty đầu tư tư nhân có tên Cerberus Capital Management với giá chỉ 6 tỷ USD.

Vào ngày 1/10 vừa qua, trang web bán đấu giá trực tuyến eBay thừa nhận là mình đã trả “hớ” trong thỏa thuận trị giá 2,6 tỷ USD mua lại công ty dịch vụ điện thoại Internet Skype vào năm 2005. eBay cho biết, họ đã phải chi tới 1,4 tỷ USD cho công ty này, và những người sáng lập ra Skype là Niklas Zennström và Janus Friis ra đi với không một lời giã biệt những người trước đó đã từng “ve vãn” họ.

Và đã nhiều năm sau vụ sáp nhập giữa Time Warner và AOL, Time Warner vẫn phải đang nỗ lực để làm cho vụ sáp nhập này đem lại hiệu quả. Động thái mới đây nhất của Time Warner là tập tung AOL vào thị trường quảng cáo và chuyển trụ sở của AOL từ Virginia về Manhattan.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, đã có không ít những thỏa thuận lớn đã đem lại những kết quả tuyệt vời. Một trong những thỏa thuận tốt đẹp nhất là thỏa thuận năm 1965 sáp nhập Pepsi-Cola và Frito-Lay để tạo thành PepsiCo.. Trong những thập kỷ sau đó, Pepsico đã trở thành một người khổng lồ toàn cầu với 15 thương hiệu, mỗi thương hiệu đạt doanh thu trên 100 triệu USD mỗi năm.

Vào tháng 7/2005, nhiều người đã nghi ngờ khi tập đoàn truyền thông News Corp của tỷ phú Rupert Murdoch bỏ ra 580 triệu USD để mua lại mạng xã hội ảo MySpace. Tuy nhiên, các nhà phân tích tính toán rằng, hiện nay, MySpace có giá khoảng 10 tỷ USD. Như vậy, rõ ràng là tỷ phú truyền thông Murdoch đã giành được khoản hời lớn.

Thất bại do đâu?

Trong hầu hết những vụ M&A gặp thất bại, phía mua lại là một công ty lớn nằm dưới sự điều hành của các nhà quản lý chuyên nghiệp và sự giám sát của hội đồng quản trị. Các công ty mục tiêu của họ được nhà phân tích theo sát, được các cố vấn xem xét kỹ và được các cổ đông – mà trong số này có nhiều tổ chức đầu tư chuyên nghiệp – thông qua. Tuy nhiên, tất cả bọn họ vẫn không thể ngăn chặn được kết cục xấu như trong trường hợp của Time Warner, eBay hay Daimler. Lý do tại sao?

Nguyên nhân thứ nhất là yếu tố tâm lý

Trong nhiều vụ M&A, các nhà quản lý đổ ra những khoản tiền lớn vào vụ đánh cược giống như một tay chơi bạc ở Las Vegas đang tuyệt vọng và muốn giành một vụ thắng bạc lớn khi thấy túi tiền của mình đang teo dần. Và kết quả của nỗi sợ hãi hoặc tuyệt vọng thường là những thỏa thuận tồi tệ. Nỗi sợ hãi hoặc tuyệt vọng đó có thể xuất phát từ việc một công ty đối thủ nào đó đang tạo ra một thị trường mới hoặc xâm nhập vào một thị trường đang tồn tại, khiến những công ty đang ở trong thị trường đó phải phản ứng lại.

Trong lĩnh vực công nghệ và viễn thông, có thể kể ra rất nhiều những thỏa thuận đáng buồn là kết quả của những thay đổi có tính chất cách mạng về công nghệ và quy định luật pháp đã gây ra những mối lo ngại, đẩy các nhà quản lý vào những quyết định tồi. Tính cao ngạo, lòng ghen tị và tham vọng không bị kiềm chế cũng là những yếu tố dẫn tới những quyết định thiếu sáng suốt.

“Tâm lý đóng một vai trò lớn trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập”, Hal Ritch, Giám đốc điều hành của công ty tư vấn mua bán và sáp nhập Sagent Advisors, đồng thời từng đứng đầu bộ phận mua bán và sáp nhập của Citigroup, và là một tỷ phú kinh doanh lớn, cho biết.

Nguyên nhân thứ hai là các nhà quản lý cố gắng dùng M&A để giải quyết những vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp phải đối mặt, chẳng hạn như khi thị trường đối mặt với những mối đe dọa về công nghệ hay quy định pháp luật mới. Có thể kể ra đây vài ví dụ.

Trong trường hợp AT&T, tập đoàn này đã cố gắng chuyển từ lĩnh vực điện thoại cố định truyền thống đang chết dần sang một lĩnh vực mới hơn và hứa hẹn hơn là Internet băng thông rộng và cáp quang. M&A đã chứng tỏ là một con đường không hiệu quả cho sự chuyển đổi này. Còn Revco thì cố gắng chuyển ra khỏi lĩnh vực kinh doanh dược phẩm bằng vụ mua lại năm 1983 công ty bán hàng giảm giá Odd Lots. Vụ mua lại này đã đóng dấu chấm hết cho số phận của Revco một thập kỷ sau đó.

Cũng giống như AT&T, hãng sản xuất đồ chơi Mattel cũng gần lâm vào cảnh phá sản khi sử dụng M&A như một công cụ để đuổi kịp công nghệ. Mattel đã chi hàng tỷ USD để mua lại hãng sản xuất game và phần mềm Learning Co. và tiếp đó là một chuỗi kết quả kinh doanh đáng thất vọng và Giám đốc điều hành Jill Barad bị mất việc.

Nguyên nhân thứ ba là, đôi khi, những người trong cuộc tự tin quá mức về những gì sẽ xảy đến trong tương lai cũng như khả năng của họ trong việc kết hợp những mảnh ghép khác nhau lại. Không ít vụ M&A có kết thúc buồn ban đầu được quảng cáo là “thay đổi cục diện cuộc chơi”, “làm biến đổi bộ mặt ngành công nghiệp X”…

Một số bài học

Những thất bại này cũng giải thích những lý do dẫn tới một thỏa thuận thành công. Các công ty có thành tích mua bán và sáp nhập tốt – như hãng sản xuất các thiết bị Internet Cisco Systems – thường có xu hướng tiến hành mua lại dựa trên một nền tảng khá ổn định. Họ có những quy trình giàu tính phương pháp để lựa chọn mục tiêu và biết cách hợp nhất hai doanh nghiệp sau khi tiến hành thỏa thuận. Đặc biệt, họ không bao giờ mua lại những công ty khác vì mục đích tăng lợi nhuận hoặc gia nhập nhanh chóng vào những lĩnh vực kinh doanh mới.

“Chúng tôi không thích những thỏa thuận quá lớn dẫn tới sự thay đổi lớn”, Ned Hooper, Phó chủ tịch phụ trách phát triển doanh nghiệp của Cisco cho biết.

Ông nói thêm: “Chúng tôi cho rằng M&A đem lại hiệu quả tốt nhất khi đó là một phần của một quy trình kinh doanh thường xuyên và ổn định. Những thỏa thuận tốt nhất thường là những thỏa thuận thúc đẩy những lĩnh vực kinh doanh đã có hoặc mở ra những lĩnh vực kinh doanh mới tại các thị trường lân cận. Chúng tôi cũng không thực hiện các thỏa thuận để tăng lợi nhuận trong ngắn hạn.”

Ngoài ra, những doanh nghiệp thành công trong lĩnh vực M&A cũng không chịu nhiều sự ảnh hưởng từ bên ngoài của các ngân hàng đầu tư. Hoopers cũng là người điều hành nhóm M&A của công ty và nhóm này là một phần trong bộ phận phát triển doanh nghiệp, chuyên cung cấp các ý tưởng về M&A cho công ty.

Các nhà quản lý có xu hướng coi những vụ M&A lớn là những kẻ làm hỏng việc khi họ cố gắng thuyết phục bản thân rằng, thời gian đã thay đổi và những quy tắc kinh doanh cơ bản đã không còn phù hợp nữa. Tuy nhiên, Hal Ritch cho rằng: “Những người giỏi nhất trong lĩnh vực M&A có thói quen liên tục tìm kiếm những cơ hội mua lại có khả năng thành công, và không bao giờ phụ thuộc quá nhiều vào việc liệu thị trường sẽ đi lên hay đi xuống vào thời điểm đó”.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc các mục tiêu M&A nhất thiết phải là những công ty đem lại lợi nhuận. Cisco thường mua lại những công ty mới được thành lập chưa có lợi nhuận và miễn là công ty này sở hữu một kế hoạch kinh doanh tốt.

Các công ty mua lại tốt cũng chú ý nhiều đến sự phù hợp về văn hóa giữa hai doanh nghiệp trong thỏa thuận và khả năng hai công ty có thể hòa hợp thành công. Hiện nay, giữa nhân viên trong các bộ phận của AOL và Time Warners vẫn có sự chia rẽ lớn về văn hóa, khiến công ty hợp nhất khó có thể hoạt động thành công.

Và, có một quy tắc chung là, thỏa thuận càng lớn và tham vọng bao nhiêu, khả năng thất bại càng cao bấy nhiêu. Đã rất, rất nhiều lần, những thỏa thuận được quảng cáo là “làm biến đổi doanh nghiệp” rốt cục chỉ chuyển biến một doanh nghiệp vốn đã ngập trong rắc rối thành một doanh nghiệp dở sống dở chết và đi vào con đường phá sản.

SOURCE: VnEconomy

HƯỚNG DẪN HỒ SƠ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

(Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006)

Hồ sơ kết hôn gồm:
Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định (2 bản) có chữ ký của cả 2 bên nam, nữ.
A. Đối với công dân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài:
1- Giấy xác nhận về tình trang hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng.
Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng guấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó.
2- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tân thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
3- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực Hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú.
4- Bản sao công chứng hoặc chứng thực thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).
B. Đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước:
1- Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp phường, xã, thị trấn cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng.
2- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam (Trung tâm Sức khoẻ tâm thần thành phố) cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tân thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
3- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân. Sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn.
Đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật quốc gia thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởc đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái quy định của ngành đó.
Ghi chú:
Hồ sơ được lập thành 02 bộ, nộp tại phòng HT-LLTP-QT (Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh số 141 – 143 Pasteur phường 6, quận 3).
Khi đến nộp hồ sơ kết hôn hai bên nam nữ phải xuất trình CMND, Hộ chiếu, Sổ hộ khẩu. Trong trường hợp chỉ có một bên đến nộp hồ sơ thì bên vắng mặt (phải là người đang cư trú ở nước ngoài) phải có giấy ủy quyền được chứng thực hợp lệ (giấy ủy quyền ghi rõ nội dung ủy quyền nộp hồ sơ kết hôn và lý do ủy quyền). Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ Sở Tư pháp sẽ có thư mời 2 bên nam nữ đến Sở Tư pháp để phỏng vấn. Khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn phải có đầy đủ 2 bên nam nữ, xuất trình CMND, Hộ chiếu, Visa để ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và sổ bộ.
Các văn kiện bằng tiếng nước ngoài phải nộp bản chính, kèm bản dịch ra tiếng Việt của cơ quan có thẩm quyền.
+ Văn kiện được cấp từ cơ quan Đại diện ngoại giao của nước ngoài đang trú đóng tại Việt Nam thì do Bộ Ngoại giao Việt Nam hoặc cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam uỷ nhiệm hợp pháp hóa.
+ Văn kiện được cấp từ nước ngoài do cơ quan Lãnh sự Việt Nam tại nước đó hợp pháp hóa.
+ Trường hợp văn kiện được cấp từ nước ngoài đã mang về Việt Nam nhưng chưa được hợp pháp hóa thì văn kiện này phải thông qua cơ quan Ngoại giao của nước họ đang trú đóng tại Việt Nam thị thực. Sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam hay cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam ủy nhiệm hợp pháp hóa.
Thời hạn giải quyết hồ sơ là 30 ngày.
Sau ngày hẹn trả hồ sơ 07 ngày nếu 2 bên nam nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì hồ sơ sẽ bị huỷ bỏ (không hoàn lại lệ phí). Trường hợp có lý do chính đáng, có yêu cầu khác về thời gian phải có đơn trình bày và hẹn ngày đến ký Giấy chứng nhận kết hôn, nhưng thời hạn kéo dài thêm không quá 90 ngày. Hết thời hạn này đương sự vẫn có yêu cầu kết hôn thì phải làm lại thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.
Địa chỉ cơ quan liên hệ (ở địa phương khác với thành phố Hồ Chí Minh các bạn liên hệ phòng công chứng thuộc sở tư pháp hoặc Sở tư pháp để hỏi thủ tục):
Phòng Công chứng số 1 Số 97 Pasteur, quận 1
Phòng Công chứng số 2 Số 94-96 Ngô Quyền, quận 5
Phòng Công chứng số 3 Số 12 Thống Nhất, quận Thủ Đức
Phòng Công chứng số 4 Số 25/5 Hoàng Việt, quận Tân Bình
Phòng Công chứng số 5 Số 278 Nguyễn Văn Nghi, quận Gò Vấp
Phòng Công chứng số 6 Số 80/1 Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh
Sở Ngoại vụ thành phố Số 06 Alexandre Rhodes, quận 1
Trung tâm sức khỏe tâm thần Số 192 Bến Hàm Tử, quận 5
Sở Tư pháp thành phố thu mỗi hồ sơ đăng ký kết hôn là: 1.000.000VNĐ (Một triệu đồng Việt Nam) thực hiện theo Quyết định số 57/2000/QĐ-BTC ngày 20/4/2000 của Bộ Tài chính.

SOURCE: SỞ TƯ PHÁP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGHỀ LUẬT SƯ Ở SINGAPOR

Hiện nay, Xin-ga-po được coi là một trong những nước có hệ thống pháp luật phát triển khá mạnh ở châu á. Dịch vụ pháp lý nói chung và hành nghề luật sư nói riêng được khuyến khích phát triển. Từ những năm 90 đến nay, các luật sư và hãng luật ở nước này không chỉ hành nghề trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra ở nhiều nước khác trên thế giới.

Theo Điều 12 của đạo luật về hành nghề luật sư ở Xin-ga-po, người muốn hành nghề luật sư phải từ 21 tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt; đã qua thời kỳ tập sự theo quy định và tham gia các lớp tập huấn, các kỳ kiểm tra theo quy định của Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po. Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po là cơ quan thực hiện chức năng đăng ký những người có đủ điều kiện để trở thành luật sư. Ngoài chức năng trên, Uỷ ban còn tiến hành công tác đào tạo và kiểm tra đối với những người có đủ điều kiện muốn trở thành luật sư. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Uỷ ban có thể xem xét và công nhận luật sư đối với các trường hợp ngoại lệ khi người nộp đơn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định trong Điều 12 nêu trên. Ngoài ra, Uỷ ban cũng có thể miễn cho một số người không phải theo học các khoá tập huấn và các kỳ kiểm tra nếu những người này được coi là ‘có đủ kinh nghiệm hoặc có quyền được miễn vì một lý do nào đó‘.

Thời gian tập sự ở Xin-ga-po là 6 tháng. Trong thời gian này, người tập sự không được phép mở văn phòng riêng hay làm thuê, cộng tác để làm nghề luật sư dưới bất cứ hình thức nào trừ khi được Uỷ ban chấp thuận bằng văn bản. Thời hạn tập sự có thể được xét giảm nếu người tập sự là luật sư tư vấn của Anh, Bắc Ailen hay đã hành nghề trong Khối thịnh vượng chung (gồm 54 thành viên, trong đó có 3 nước Đông Nam á là Xin-ga-po, Malaixia và Brunây). Những người này đã đăng ký ở Uỷ ban và đáp ứng đầy đủ các điều kiện trở thành luật sư phải nộp đơn đến Toà án để được công nhận là luật sư. Đơn đồng thời cũng được gửi đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hiệp hội Luật sư và các cơ quan hữu quan khác. Toà án chỉ xem xét công nhận sau khi đã nhận được ý kiến của các cơ quan này.

Chứng chỉ hành nghề luật sư do Lục sự ký và có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến hết năm. Khi một luật sư rút tên khỏi danh sách, chứng chỉ hành nghề của luật sư ngay lập tức sẽ không còn giá trị. Khi có sự thay đổi về họ tên, địa chỉ, địa điểm hành nghề và các dữ liệu cá nhân khác, luật sư phải thông báo cho Lục sự để thay đổi nội dung chứng chỉ hành nghề.

Chứng chỉ hành nghề của các luật sư Xin-ga-po cho phép các luật sư hành nghề với cả tư cách của luật sư bào chữa và luật sư tư vấn. Tại bất kỳ thời điểm nào sau khi công nhận người nộp đơn là luật sư mà Toà án phát hiện ra rằng người nộp đơn đã khai man các nội dung trong đơn, bản khai có tuyên thệ hoặc các giấy tờ liên quan hoặc cố tình che giấu sự thật thì Toà án sẽ xoá tên luật sư đó khỏi danh sách.

Luật sư của Xin-ga-po có quyền hành nghề với cả hai tư cách: Luật sư tư vấn và luật sư bào chữa. Một luật sư có thể hành nghề dưới hình thức cá nhân hoặc hành nghề trong các hãng luật dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn hoặc hợp danh. Hình phạt dành cho người hành nghề trái pháp luật có thể từ 500 đôla Xin-ga-po đến 6 tháng tù giam tuỳ theo mức độ vi phạm. Điều đặc biệt là ở Xin-ga-po tồn tại một loại hình luật sư theo vụ việc. Điều này có nghĩa là Toà án có quyền xem xét và công nhận một người không được công nhận và cấp chứng chỉ theo Đạo luật này là luật sư của một vụ việc cụ thể, nếu người đó được cấp chứng chỉ luật sư của Hoàng gia; không thường xuyên cư trú tại Xin-ga-po nhưng dự định đến Xin-ga-po để tham gia vào một vụ việc nào đó và có khả năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực của vụ việc đó.

Hiện nay các luật sư của Xin-ga-po hành nghề trong các hãng luật có quy mô khác nhau: Những hãng lớn thường có từ 80 luật sư trở lên; loại trung bình thì có khoảng 20 đến 30 luật sư; chiếm đa số vẫn là các hãng luật nhỏ có khoảng 5 luật sư thành viên. Trong đó, các hãng luật lớn thường có các bộ phận chuyên môn về một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, hàng hải, còn những hãng nhỏ ít có sự chuyên môn hoá hơn và thường tập trung vào các lĩnh vực như pháp luật về hình sự, giao thông, xây dựng và thu hồi nợ./.

P.L (St) – HAIPHONG.GOV.VN

 

ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – NHỮNG KHÓ KHĂN CẢN TRỞ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Việc nghiên cứu khái quát bài học từ 20 năm đổi mới doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa quan trọng với việc thực hiện nhanh và có hiệu quả nhiệm vụ này trong thời gian tới.

Nếu năm 1995 cả nước vẫn còn 12.400 doanh nghiệp nhà nước, thì đến tháng 6/2005, cả nước chỉ còn 2.983 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 2.253 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, 440 doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, 290 nông lâm trường quốc doanh với tổng số vốn khoảng 220.000 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có 670 Công ty cổ phần mà nhà nước giữ 51% vốn điều lệ trở lên. Mặc dù đã có những chuyển biến quan trọng và đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhưng nhiều khiếm khuyết, bất cập của các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được khắc phục một cách cơ bản, việc đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước thường được đánh giá là chậm so với yêu cầu. Đã có nhiều công trình phân tích nguyên nhân của tình trạng này. Trong bài này, chúng tôi xin nêu thêm một số yếu tố cản trở quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước và những bài học kinh nghiệm.

Những khó khăn cản trở việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, sự không rõ ràng trong nhận thức và thực thi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.

Trong điều kiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế là vấn đề phức tạp. Nhà nước đóng “vai trò kép” trong nền kinh tế nhiều thành phần: một mặt, là người quản lý vĩ mô hệ thống doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà nước phải được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; mặt khác, lại là người chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước, dù nhiều hay ít, nhà nước vẫn muốn giành cho chúng sự quan tâm riêng. Nhà nước chưa tạo lập được môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế.

Thứ hai, sự không rõ ràng trong nhận thức vai trò của doanh nghiệp nhà nước như “công cụ vật chất” để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này thường được hiểu là: nhà nước sử dụng doanh nghiệp nhà nước để khắc phục các trục trặc của thị trường và nhà nước tác động trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước để qua đó tác động đến doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Nhận thức này dẫn đến 2 hệ luỵ:

– Nhà nước không muốn hoặc khó giảm đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước, bởi lẽ nhà nước luôn muốn có “công cụ vật chất” mạnh. Điều này là yếu tố cản trở việc thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước vốn dĩ hiện đang còn khá phân tán;

– DNNN là một chủ thể bình đẳng với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, nó có quyền tự chủ và phải tự chịu trách nhiệm với hoạt động của mình. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng bị điều tiết bởi các quan hệ thị trường và phải hoạt động thích ứng với các điều kiện của thị trường.

Thứ ba, ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp còn khá nặng nề. Tuy yêu cầu phải chuyển nhanh sang cơ chế thị trường, nhưng một số chính sách của nhà nước vẫn thể hiện tính bao cấp và hành xử của một số cơ quan quản lý nhà nước vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử theo hướng giành ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước, chưa thể hiện quyết tâm đưa doanh nghiệp nhà nước ra đối mặt với cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Sự níu kéo này còn có nguyên nhân từ lợi ích của một số nhóm xã hội và một số cá nhân có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ tư, một số biện pháp của nhà nước còn mang tính chủ quan. Điều này thể hiện rõ nét trong việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt các doanh nghiệp của mình. Song sự định đoạt ấy phải tuân thủ các quy luật khách quan về sự vận động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đáng tiếc là, quyết định về mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nước vẫn chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan. Trong những năm 1970, đó là mô hình liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh, còn trong những năm 1990 là mô hình Tổng Công ty nhà nước. Trong khi yêu cầu phải tiến hành thí điểm thận trọng, thì những chủ trương này lại được triển khai đại trà trong một thời gian ngắn. Trong nhiều trường hợp, quyết định hành chính được sử dụng thay cho quá trình vận động khách quan của các doanh nghiệp.

Thứ năm, chưa tạo được hậu thuẫn vững chắc về chính trị-xã hội cho việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là quá trình phức tạp, vừa chứa đựng những nội dung kinh tế vừa chứa đựng những nội dung chính trị-xã hội.

Việc thực hiện nội dung kinh tế chịu những ràng buộc chính trị-xã hội; việc tạo lập hậu thuẫn chính trị-xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng hàng đầu cho sự thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Thực tế thời gian qua cho thấy, một trong những nguyên nhân làm cho đổi mới doanh nghiệp nhà nước chưa đạt được yêu cầu mong muốn là chưa tạo lập được nền tảng chính trị-xã hội thật sự vững chắc. Đó là: i) chưa hoàn toàn có sự thống nhất trong nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, về các thành phần kinh tế, về vai trò của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; ii) chưa tiên liệu đầy đủ tác động chính trị-xã hội có thể xảy ra, hoặc bị chi phối quá nặng bởi các yếu tố chính trị; iii) chưa xác định rõ ràng cơ chế, chính sách về quyền lợi và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; iv) sự chậm trễ trong tiến hành cải cách hành chính, chưa cắt đứt được cơ chế “lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm” gắn với sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Một số bài học chủ yếu.

1. Đổi mới tư duy và nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là bài học có tính chất bao trùm bảo đảm sự thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Sẽ không thể đổi mới một cách cơ bản hệ thống doanh nghiệp nhà nước nếu dựa trên nền tảng tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội. Cần nhận thức rằng việc phát triển kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong những phương tiện để xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh ở Việt Nam chứ không phải là mục tiêu cần đạt được. Đổi mới tư duy phải được thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành, nhưng trước hết phải là cấp cấp có thẩm quyền cao nhất trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện các quyết sách chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói riêng.

Việc đổi mới tư duy và nhận thức lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện “trong điều kiện xã hội thuận lợi: bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là trong sinh hoạt Đảng, trong nghiên cứu khoa học, tinh thần tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lý; hệ thống thông tin chính xác… Điều quan trọng là phải coi trọng công tác lý luận nhằm cung cấp nội dung khoa học cho việc đổi mới tư duy”.

2. Xác định lại phạm vi và vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Về phạm vi của các doanh nghiệp nhà nước

Việc xác định lại phạm vi doanh nghiệp nhà nước phù hợp với điều kiện Việt Nam là một trong những cơ sở để hoạch định chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiện nay Việt Nam và nhiều nước coi doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp nhà nước nắm phần vốn hoặc cổ phần chi phối. Việc coi loại thứ hai là doanh nghiệp nhà nước có thể dẫn đến những bất hợp lý trong tư duy và hành xử: sự lạm quyền của người nắm phần vốn chi phối, coi nhẹ quyền của các chủ thể khác cùng góp vốn, trái với tính chất của doanh nghiệp đa sở hữu hoạt động theo nguyên tắc đối vốn. Từ đó, làm hạn chế khả năng động viên các chủ thể kinh tế khác cùng góp vốn với nhà nước thực hiện đầu tư.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chỉ nên coi doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn là doanh nghiệp nhà nước. Theo quan niệm này, phạm vi doanh nghiệp nhà nước sẽ được thu hẹp đáng kể và chắc chắn sẽ: i) không làm ảnh hưởng đến vai trò của doanh nghiệp nhà nước; ii) tạo thuận lợi cho hành xử của nhà nước với doanh nghiệp đích thực của mình; iii) tạo cơ sở thuận lợi mở rộng, quan hệ liên kết giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế khác.

Về vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Việc xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước liên quan đến xác định vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong bài này, chúng tôi không lạm bàn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà chỉ đề cập đôi điều về doanh nghiệp nhà nước như một “công cụ vật chất” của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Luận điểm này chưa dựa trên nền tảng xác định rõ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế ấy, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước, hệ thống pháp luật phải được coi là công cụ chủ yếu của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, thay vì bận tâm vào việc củng cố và tăng cường “công cụ vật chất” của mình, nhà nước cần tập trung trí tuệ, thời gian và công sức vào việc xây dựng hệ thống pháp luật và tạo nền nếp hành xử theo pháp luật.

3. Thực sự đưa doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ tạo động lực huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Khi quyết định theo đuổi cơ chế thị trường cũng có nghĩa phải chấp nhận cạnh tranh như một trong những đặc trưng cơ bản. Trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lợi thế cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Việc giành cho doanh nghiệp nhà nước nhiều ưu đãi, thậm chí vẫn tồn tại những doanh nghiệp độc quyền, không những hạn chế quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, làm doanh nghiệp nhà nước chưa thể trở thành “tấm gương” trong nền kinh tế nhiều thành phần, mà còn tạo nên sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, hạn chế khả năng huy động các nguồn lực của xã hội vào hoạt động đầu tư.

Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể được đẩy mạnh khi thực sự tư duy và hành động theo cơ chế thị trường, đoạn tuyệt hoàn toàn với cơ chế bao cấp, thực sự đưa các doanh nghiệp nhà nước ra cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã khuyến cáo rằng: “Cạnh tranh cải thiện hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước không chỉ vì các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước hoạt động tốt hơn, mà còn vì cạnh tranh sẽ làm rõ các khoản chi phí hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả hay những chi phí sử dụng doanh nghiệp nhà nước để theo đuổi các mục tiêu chính trị-xã hội. Cạnh tranh cũng cung cấp thông tin về hoạt động quản lý: Chính phủ có thể đánh giá vai trò của quản lý, mức độ cố gắng trong quản lý bằng cách so sánh hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước với hiệu quả của đối thủ cạnh tranh. Thực tế đây là điều mà các nước cải cách thành công đã làm: họ tăng cạnh tranh trong nước bằng cách xoá bỏ các kiểm soát giá cả và rào cản gia nhập thị trường, tăng cạnh tranh quốc tế bằng tự do hoá ngoại thương. Không chỉ vậy, các nước này còn giải thể hầu hết các doanh nghiệp nhà nước thuộc khu vực cạnh tranh.

4. Xác định rõ chủ sở hữu và xoá bỏ cơ chế chủ quản của doanh nghiệp nhà nước

Về chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước

Nếu giới hạn vào các doanh nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn, thì sở hữu cụ thể của doanh nghiệp là nhà nước. Song trong sự cụ thể đó lại chứa đựng nhiều yếu tố trừu tượng: trong hệ thống quản lý nhà nước với nhiều cơ quan ở nhiều cấp khác nhau có sự phân công và phối hợp để thực hiện các quyền và trách nhiệm về quản lý kinh tế, không xác định được rõ cơ quan nào là chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp nhà nước. Hậu quả khó tránh khỏi là tình trạng thiếu trách nhiệm, chồng chéo trùng lắp trong việc thực hiện các chức năng của quản lý nhà nước với doanh nghiệp nhà nước.

Bởi vậy, để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, cần xác định rõ được chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp nhà nước. Với tinh thần nhà nước bỏ vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động kinh tế (trong giới hạn hợp lý), tiền vốn đó phải được quản lý một cách có hiệu quả, Chính phủ có thể thành lập một cơ quan trực thuộc với chức năng quản lý vốn của nhà nước tại doanh nghiệp. Người được giao vốn (Hội đồng Quản trị hoặc Giám đốc doanh nghiệp nhà nước) có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý nhà nước khác thực hiện việc quản lý doanh nghiệp nhà nước theo đúng chức năng được giao như quản lý doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

Về cơ chế chủ quản với doanh nghiệp nhà nước

Chủ trương xoá bỏ chế độ chủ quản đã được nêu ra từ đầu những năm 1990, nhưng đến nay vẫn chưa có chuyển biến cơ bản. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là: i) sự chưa rõ ràng trong xác định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; ii) sự e ngại mất quyền lực và lợi ích khi không còn doanh nghiệp “trực thuộc”; iii) thói quen của người quản lý doanh nghiệp trong việc tìm chỗ dựa để chia sẻ trách nhiệm trong hoạt động sản xuất-kinh doanh. Sự tồn tại cơ chế chủ quản đã dẫn đến hạn chế quyền chủ động và tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước, sự chậm trễ trong sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và ban hành các chính sách phù hợp với cơ chế thị trường.

Việc xoá bỏ cơ chế chủ quản phải được thực hiện trong khuôn khổ cải cách nền hành chính quốc gia. Theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ được tổ chức theo các chức năng mà nhà nước phải thực hiện phù hợp với cơ chế thị trường. Quan hệ giữa các cơ quan này với doanh nghiệp nhà nước được quy định cũng giống như quan hệ với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Như vậy, để thúc đẩy đổi mới doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ làm từ doanh nghiệp, mà trước hết phải làm từ chính các cơ quan quản lý nhà nước, nhà nước phải đổi mới mình làm cơ sở để đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

5. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các vấn đề kinh tế với các vấn đề chính trị-xã hội trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Đây là một trong những điều kiện tiền đề để bảo đảm thành công của đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Trong khuôn khổ bài này, xin nhấn mạnh 2 điểm sau đây:

Thứ nhất, xác định đúng hệ mục tiêu mà doanh nghiệp nhà nước cần đạt. Trong thực tế, doanh nghiệp nhà nước thường được đặt nhiệm vụ phải thực hiện hệ đa mục tiêu, gồm cả kinh tế, chính trị và xã hội. Điều này đã gây nên những bất cập trong quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô, chẳng hạn: i) không xác định rõ được mục tiêu trung tâm để tập trung sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; ii) tạo cớ để biện minh cho những kém cỏi trong quản lý hoạt động của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, trừ những doanh nghiệp liên quan đến an ninh, quốc phòng, doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo đúng cơ chế thị trường với mục tiêu kinh tế là trung tâm và trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu xã hội như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Thứ hai, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chắc chắn sẽ động chạm đến tâm tư và lợi ích của nhiều bộ phận dân cư. Bởi vậy, về mặt chính trị, một mặt, nhà nước phải có quyết tâm cao trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, mặt khác, phải bảo đảm tính khả thi của những nội dung đổi mới và tạo sự đồng thuận của cả xã hội về đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

SOURCE: irv.moi.gov.vn