BÀI HỌC TỪ VIỆC VIETNAM AIRLINES THUA KIỆN Ở Ý VÀ PHÁP

TS. ĐỖ VĂN ĐẠI 

GV Trường Paris 13, CH Pháp

TRƯƠNG QUANG DŨNG 

NCS, Trường Đại học Rouen, CH Pháp

Trong bài phỏng vấn liên quan đến vụ Vietnam Airlines (VNA) thua kiện luật sư người Ý[1], Tổng giám đốc của VNA Nguyễn Xuân Hiển kết luận rằng « đây là bài học lớn về kinh nghiệm làm ăn với quốc tế, kinh nghiệm mở cửa »[2]. Quả thực đây là bài học lớn đối với Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, hội nhập. Nhưng cụ thể những bài học đó là gì ? Trong bài « tại sao Vietnam Airlines lại thua kiện ở Paris », chúng tôi đã cho công bố toàn bộ bản án của Tòa phúc thẩm Paris với những bình luận nhìn từ góc độ pháp luật của Pháp để chúng ta biết được những lý do mà Tòa án Paris đã không chấp nhận kháng cáo của VNA[3]. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến một khía cạnh khác, cụ thể là nêu ở đây ba bài học nhìn từ phía Việt Nam : thứ nhất, không nên quá dựa dẫm vào « pháp luật quốc tế » ; thứ hai, không nên sử dụng « tư duy Việt Nam » khi làm việc ở nước ngoài ; thứ ba, hãy tôn trọng pháp luật nơi mà mình có quan hệ.

I- Không nên quá dựa dẫm vào « pháp luật quốc tế »

Từ khi Việt Nam mở cửa, cụm từ « pháp luật quốc tế » thường xuyên được sử dụng. Ví dụ, chúng ta thường thấy, « pháp luật Việt Nam cần phải phù hợp với pháp luật quốc tế » ; « điều này phù hợp với pháp luật quốc tế » ; « chúng tôi hoàn toàn tôn trọng pháp luật quốc tế »… Kinh nghiệm cho thấy, cụm từ này được sử dụng trong những hoàn cảnh rất trìu tượng nên có người nói, có người nghe nhưng không có người bàn luận, phân tích sâu. Trong vụ việc đang nghiên cứu, ông Tổng giám đốc của VNA Nguyễn Xuân Hiển cũng nói, « quả thực vào những năm 1994, hiểu biết về pháp luật quốc tế của Vietnam Airlines chưa nhiều nên mới xảy ra chuyện rắc rối hôm nay »[4]. Continue reading

Thực trạng và giải pháp PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

Luật gia PHAN THỊ VIỆT THU

Vấn đề buôn bán phụ nữ trẻ em (PNTE) tại VN nói riêng, trên toàn thế giới nói chung hiện là nỗi nhức nhối đau xót chung của cả nhân loại. Chế độ nô lệ dã man buôn bán PNTE của thời Trung Cổ xa xưa tưởng chừng chỉ còn trên phim ảnh, sách vở, như là những vết nhơ trong lịch sử loài người, nay lại  tái hiện, phá vỡ tất cả những giá trị luân lý, đạo đức truyền thống mà nhiều thế hệ con người trên khắp hành tinh này đã phải đấu tranh  bằng máu và nước mắt  để giành lấy và bảo vệ cho đến  hôm nay như là chân lý của loài người.

Điều đau lòng nhất là Việt Nam hiện đang trở thành điểm nóng  của tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em. Vào tháng 6 năm 2005, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đưa ra báo cáo rằng Việt Nam là một trong những nước cần chú ý vì có tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam sang Trung Quốc, Hongkong, Macao, Malaysia, Đài Loan và Cộng Hoà Czech để làm công việc mãi dâm. Cũng trong năm vừa qua, đã có rất nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức ở Đài Loan cùng những cam kết của các quốc gia trong vùng sông Mêkông để tìm cách ngăn chận nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam.

Chính phủ VIỆT NAM cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán trẻ em từ tháng 7 năm 2004 và được sự hỗ trợ tài chính của nhiều cơ quan quốc tế như International Labor Organization (ILO), USAID, IOM…nhằm ngăn chận tệ nạn này.

Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước và cũng là nơi tập trung đa dạng các hình thức buôn bán phụ nữ trẻ em, trong mấy năm qua đã tích cực triển khai chương trình hành động này và kết thúc giai đoạn I từ 2004-2006. Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động của loại tội phạm này  không gói gọn trong thành phố Hồ Chí Minh, mà dính líu tổ chức xuyên quốc gia, cũng như tội phạm xuất phát và hầu hết nạn nhân có liên quan từ nhiều tỉnh, cho nên việc đánh giá thực trạng tình hình tội phạm  và nhận định công tác phòng chống tội phạm mua bán PNTE  phải trên phạm vi cả nước, trong đó có sự đóng góp của tp. HCM .

1. Thực trạng tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em

+Thông tin mới nhất mà chúng tôi đã đọc được trên số báo Công An TP Hồ Chí Minh ra ngày chúa nhựt 22-4-2007 sau khi tổng kết giai đoạn I chương trình hành động chống tội phạm buôn bán PNTE 2004-2006;

-“Trong 2 năm 2005-2006, cả nước phát hiện 568 vụ, 993 đối tượng phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em. Trong số 1.518 nạn nhân, số phụ nữ bị lừa bán ở lứa tuổi từ 18 đến 35 chiếm đa số, gồm 511 vụ với 882 đối tượng tham gia.” -“ So với năm 2005, số vụ buôn bán PNTE của năm 2006 được phát hiện nhiều hơn 72%; số đối tượng tăng 89% và số người bị hại tăng 138%” -“Từ năm 1998 đến nay (9 năm) cả nước xác định được 33 tuyến, 139 địa bàn trọng điểm thường diễn ra hoạt động buôn bán PNTE ra nước ngoài; đưa vào diện quản lý 2.048 đối tượngvới 654 đối tượng có liên quan, lập danh sách 5746 PNTE bị bán ra nước ngoài; 7940 PNTE vắng mặt lâu ngày tại địa phương nghi đã bị bán.”

Cho đến nay, theo thống kê, có  5746 PNTE được đưa vào danh sách chính thức bị bán ra nước ngoài là ; và 7940 PNTE vắng mặt lâu ngày tại địa phương bị nghi là đã bị bán. Như vậy trên 13.000 mảnh đời PNTE VN đã ghi nhận là nạn nhân của tội ác buôn bán PNTE,  đã bị vùi chôn nghiệt ngã trong những địa ngục  trần gian mà những người có lương tri không bao giờ có thể tưởng tượng được. Và trong đó bao nhiêu người hiện còn đang sống với nỗi đọa đày xác thân bị vùi dập ngày đêm làm trò tiêu khiển và mang lại lợi nhuận cho những loại người không còn nhân tính; bao nhiêu người đang rên siết trong bệnh hoạn, cô đơn, trong nỗi niềm tuyệt vọng, và bao nhiêu người đã  chết dần mòn trong đớn đau tủi nhục….

Bài báo đã nêu thực trạng: Mặc dù phong trào phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em (PNTE) được thực hiện rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, nhất là PNTE ở các vùng có nguy cơ cao đã được nâng cao, song tình hình hoạt động của tội phạm buôn bán PNTE vẫn diễn biến phức tạp. Tính chất và qui mô hoạt động phạm tội có chiều hướng gia tăng, có tổ chức chặt chẽ  và xuyên quốc gia…Bọn tội phạm thường lợi dụng triệt để số PNTE ở các vùng nông thôn nghèo, có trình độ học vấn thấp,hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hứa tìm việc làm thích hợp, nhẹ nhàng ở thành phố, thị xã với mức lương ổn định, sau đó tìm mọi cách đưa qua biên giới  bán cho các chủ chứa hoặc các tổ chức tội phạm ở nước ngoài.”

Một cách tổng quát, khi nói đến vấn đề buôn bán PNTE, ai cũng bức xúc nghĩ ngay đến những kẻ tội phạm đã làm những hành vi tội ác vô nhân, và mong muốn góp phần tìm những phương cách để tiêu diệt, để ngăn chận nó, để chấm dứt những bi kịch đau thương trong đó không chỉ nhân phẩm con người bị chà đạp mà cả tính mạng con người cũng bị rẻ rúng, nhất là đối với trẻ em vô tội mà tại Hội nghị tổng kết, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã phát biểu: “Thật đáng buồn và đau lòng. Ngày càng nhiều trẻ em bị coi là hàng hóa, rao bán”. Ông Trọng yêu cầu, các cơ quan cần nhìn thẳng vào sự thật vì “không gì quan trọng bằng tính mạng con người”. Điều này mới có ý nghĩa ở góc độ luật pháp. Tuy nhiên,  vượt lên trên đó, đây là một vấn đề xã hội phức tạp liên quan lĩnh vực tâm sinh lý và phạm trù đạo đức vô cùng nghiêm trọng, khó có thể giải quyết một cách chủ quan cảm tính mà cần phải có sự phân tích rạch ròi các nguyên nhân để tìm ra những giải pháp phòng chống tích cực hiệu quả . Theo lời của tiến sĩ Lê Bạch Dương, Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội ở Hà Nội, thì ở Việt Nam, việc buôn bán phụ nữ và trẻ em đã xảy ra từ cuối những năm 80, nhưng việc này chỉ xảy ra  lẻ tẻ ở một vài nơi mà thôi, mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ   sự mở cửa kinh tế, buôn bán dọc theo biên giới Việt Nam và Trung Quốc. Tại các chợ biên giới do có rất nhiều người từ Việt Nam sang để làm cửu vạn, khuân hàng, chuyển hàng…và những “dịch vụ vui chơi, giải trí” đã hình thành .

Đó chính là đầu đến của những việc buôn bán phụ nữ và trẻ em từ Việt Nam sang Trung Quốc. Tệ nạn này càng ngày càng phát triển, nhất là vào những năm 90 trở đi cho đến bây giờ thì đã trở thành vấn đề rất lớn. Theo Thứ trưởng Bộ Công an Lê Thế Tiệm, phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị đưa ra nước ngoài chủ yếu bằng đường bộ qua các tuyến biên giới. Tại khu vực biên giới Trung Quốc, bọn tội phạm chủ yếu “xuất khẩu” người làm gái mại dâm hay con nuôi. Còn tại biên giới giáp Campuchia, Lào, chúng đưa phụ nữ sang làm gái mại dâm, hoặc làm điểm trung chuyển để mang sang nước thứ ba. Đa số các vụ buôn người đều có “bàn tay” của các đường dây tội phạm xuyên quốc gia, mang lại cho chúng lợi nhuận khổng lồ.

Hàng năm, có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em Việt Nam đã trở thành nạn nhân của những vụ mua bán người, hầu hết những nạn nhân này bị đưa sang Trung Quốc và Campuchia, và cũng có người bị đưa sang Đài Loan, Thái Lan, Singapore và Nam Triều Tiên. Theo UNICEF, những nạn nhân này, trong số đó có 98% là phụ nữ, hầu hết bị đem bán để hoạt động mại dâm và cưỡng  bức hôn nhân, cũng như lao động cưỡng bức hay làm nô lệ, đôi khi họ cũng bị đem bán để lấy nội tạng.

Đau lòng nhất là thực trạng trẻ em bị mua bán để phục vụ tình dục  bệnh hoạn được thể hiện qua một đoạn của cuốn phim tài liệu “Children For Sale” do Dateline NBC thực hiện, được trình chiếu. Phim cho thấy có nhiều trẻ em VN mới lên 5 tuổi bị bắt bán dâm tại làng Svay Pak ở Campuchia, rất thương tâm. Cơ quan International Justice Mission (IJM) do Bà Luật Sư Sharon Cohn, Phó Chủ Tịch cơ quan IJM. bao vây bất ngờ và đã cứu thoát 37 em. Có 8 thủ phạm đã bị truy tố và bị toà án Campuchia kết án từ 5 đến 20 năm tù.

Kết hôn trá hình Việc mua bán phụ nữ còn đựơc đề cập qua hình thức “kết hôn” với người Đài Loan qua các cá nhân hay tổ chức môi giới, theo con đường xuất cảnh hợp pháp, mà cũng theo Tiến sĩ Dương, phong trào này nở rộ từ khoảng năm 2000, và đến nay có khoảng 90.000 cô dâu Đài Loan. Hiện nay phong trào bắt đầu lan sang Hàn Quốc, điển hình, tháng 9/2006, tại Bình Dương, một nhóm buôn người đã dựng đám cưới giả để 41 người Hàn Quốc chọn 266 phụ nữ Việt Nam làm vợ. Hay ở Cần Thơ, hơn 130 phụ nữ đã coi là món hàng để những người đàn ông ngoại quốc lựa chọn.

Tuy nhiên, ông Dương cho rằng khó kết luận vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan gắn với mua bán phụ nữ, vì họ đi hợp pháp, cũng đăng ký kết hôn đàng hoàng, cũng sống và hoà nhập vào cộng đồng. Tất nhiên, cũng xảy ra một số trường hợp như bị gia đình nhà chồng đối xử không tốt, thậm chí cũng có một số trường hợp bị bán vào mãi dâm. Do trong bối cảnh thiếu sự giám sát, sự phối hợp giữa Đài Loan và Việt Nam, giám sát các hoạt động môi giới, nên đã mở ra một mảnh đất màu mỡ cho việc buôn bán phụ nữ Việt Nam giả danh lấy chồng Đài Loan, nhưng cuối cùng để đưa vào những khu vực khác…”

Mới đây, công an và biên phòng đã phá đường dây buôn bán phụ nữ do một phụ nữ Việt và chồng Đài Loan câu kết với khoảng trên 70 người ở TPHCM và các tỉnh phía Nam. Với thủ đoạn rủ đi tìm việc làm, môi giới lấy chồng nước ngoài giàu có, chúng đã lừa hơn 126 phụ nữ đưa sang các nhà chứa ở Singapore, Malaysia, Đài Loan. Mỗi phụ nữ, chúng bán với giá khoảng 25.000 ringgit (tiền Malaysia) và được các đối tượng tại Malaysia trả công từ 1.500 đến 2.000 USD/người.

Xin trích lời Tiến sĩ Lê Bạch Dương trong khi trả lời phóng viên Đài VOA: “Khi tôi sang Singapore, có những phố mà phụ nữ Việt Nam làm mãi dâm ở Singapore một cách công khai. Ở nhiều nơi công cộng có những tấm biển quảng cáo lấy vợ Việt Nam cho người Singapore với giá 10 ngàn, 12 ngàn Mỹ kim…”

Theo tin của AFP, cảnh sát tại thành phố Hồ Chí Minh đã bắt giữ  thủ phạm đã đưa khoảng 30 phụ nữ Việt Nam ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long sang Malaysia kể từ năm 2003 với lời hứa hẹn là họ sẽ có việc làm tại đây. Tuy nhiên ngay khi đến nước này, họ đã bị bán làm gái mại dâm với giá 8000 đôla một người. Mạng lưới này đã bị phát hiện khi hai người phụ nữ trốn thoát và trở về Việt Nam.

Chân dung tội phạm

Liên Hiệp Quốc cho rằng nạn buôn bán người hiện nay lớn gấp 10 lần về quy mô so với nạn buôn nô lệ vào thế kỷ 19 và đang là vấn đề nhức nhối của toàn cầu. Ước tính, hằng năm có khoảng 4 triệu người, phần lớn là phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Riêng ở khu vực Đông Nam Á có khoảng 200-250.000 phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của các băng nhóm tội phạm. Các nạn nhân thường bị bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động và phải đi ăn xin có tổ chức. Tại Việt Nam, vấn nạn này đang có chiều hướng gia tăng. Những phụ nữ trẻ chưa chồng, trình độ học vấn thấp và hầu như không có thông tin đều là những đối tượng có nguy cơ bị lừa gạt cao. Các nạn nhân thường bị lừa sang Trung Quốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan. Hành vi lừa gạt, câu móc của bọn tội phạm rất tinh vi. Ngoài thủ đoạn dụ dỗ phụ nữ đi làm xa, lấy chồng ngoại, bọn lừa đảo còn “sáng tạo” ra những chiêu thức mới như qua hình thức du học, lao động xuất khẩu, du lịch. Điển hình như một trường hợp ở Hải Dương. Nạn nhân được một nhóm người đến giới thiệu, mời chào đi du học. Em gái này không những phải mất hơn 10 triệu đồng để lo lót “thủ tục” mà còn bị bán cho một nhóm người ở Trung Quốc.

Đau lòng hơn khi một gia đình ở Nghệ An mất cả 3 đứa cháu gái. Mọi chuyện bắt đầu khi một nhóm người đến giới thiệu là đại diện của một công ty xuất khẩu lao động đi tuyển người, cả gia đình đã chạy vạy lo lót cho ba đứa cháu được đi “Tây” làm việc. Nhưng một năm trời trôi qua, gia đình không hề nhận được tin tức của những đứa trẻ này. Chẳng ai biết chúng ở đâu và cũng chẳng biết công ty nào đã đưa cháu mình đi nước ngoài. Lo lắng và ân hận, mọi người đều cứu cạnh khắp nơi, mong nhận được tin tức của con cháu mình

Qua những thực trạng đã nêu  thì có thể kết luận, trong vấn đề buôn bán PNTE tại Việt Nam hiện nay, mánh lới lường gạt của bọn buôn người rất đa dạng, nhưng chủ yếu gồm các hình thức: Dùng tiền bạc để lung lạc cha mẹ của nạn nhân. Môi giới hôn nhân, xuất khẩu lao động hay du lịch Giới thiệu việc làm có thu nhập cao. Lợi dụng tình cảm các cô gái rồi gạt đem bán. –    Cưỡng ép dưới nhiều hình thức: cho mượn nợ, hăm dọa… Bắt cóc: bằng thuốc gây mê rồi chuyển đi

Nạn nhân của những đường dây “buôn người” này thường tập trung ở nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, các tỉnh giáp biên giới. Những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm, gặp cảnh “éo le” về tình cảm, thiếu hiểu biết xã hội, nhẹ dạ cả tin thường là đối tượng bị chúng dụ dỗ. Với những lời hứa hẹn, giúp đỡ một việc làm ổn định, thu nhập cao, hoặc lấy một người chồng nước ngoài khá giả, những cô gái nghèo, nhẹ dạ đã bị lừa đưa sang đất khách quê người. Cũng có những có gái trẻ, thích hưởng thụ, bị dụ dỗ đi du lịch, tham quan… và rơi vào cảnh ngộ bị… bán. Đau đớn hơn, có những nạn nhân bị chính những người thân của mình lừa gạt đem đi bán… Và cả những trường hợp vì nhiều lý do, các cô gái tự nguyện chọn lựa con đường “bán thân” để mong đổi đời theo sự suy nghĩ hạn hẹp của mình, không lường hết được những sự nguy hiểm, khổ đau cùng cực sẽ xảy ra mà cuối cùng vẫn không đạt được mục đích kiếm tiền, trái lại còn mất cả tương lai và mạng sống. Chính vì thế khi đối diện với thực tế, họ không chịu nổi phải tìm cách trốn thoát; hoặc là trở thành tội phạm buôn bán dẫn đưa người khác đi vào con đường đau khổ mà mình đã từng là nạn nhân. Đó chẳng qua là tình trạng chung của mọi loại tội phạm trong xã hội, đã biết là tội lỗi nhưng vẫn nhắm mắt đưa chân.

Từ nhận định này, tội phạm không chỉ là những kẻ buôn người, và đồng lõa cấu kết mà còn phải kể đến những người làm cha mẹ vô lương, đành lòng bán con, đôi khi chỉ với vài trăm đô la, không cần biết số phận nó ra sao! Và cả những cô gái lười lao động, thích hưởng thụ, sẵn sàng bán rẻ danh dự và nhân phẩm của mình.

Theo thông tin điều tra từ C14, tại VN, bọn tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em thường liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành những đường dây có tổ chức. Phương thức phổ biến nhất của những đối tượng chuyên mua bán phụ nữ, trẻ em thường dùng là: một người Việt Nam móc nối với một số đối tượng là người nước ngoài, hoặc là người Việt sinh sống, làm ăn ở nước ngoài (chủ yếu là ở Trung Quốc và Campuchia), tạo thành đường dây hoạt động buôn bán phụ nữ trẻ em.

Những địa điểm nóng nhất, thường xuyên diễn ra các “phi vụ buôn người” tập trung tại 14 tỉnh có biên giới giáp với Trung Quốc và Campuchia như: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Bình Phước… Những địa phương này, có địa hình hiểm trở, nhiều đường mòn, tạo điều kiện cho những kẻ “buôn người” đưa người qua biên giới trái phép, mà lực lượng biên phòng và công an rất khó kiểm soát. Sau khi đưa qua biên giới bằng nhiều ngả đường, họ bị bán, và “sang tay” qua nhiều ông chủ, trải qua nhiều quốc gia, rồi bị đẩy vào những ổ chứa mại dâm, hoặc bị đưa sâu vào trong lãnh thổ, bán cho những người có nhu cầu lấy vợ, hay cần người giúp việc. Đê tiện hơn, một số kẻ còn dùng nhiều thủ đoạn đẩy phụ nữ, trẻ em hoặc gia đình họ vào con đường sa ngã, bị lệ thuộc như cho sử dụng ma túy, và sau đó khống chế, cưỡng ép làm theo ý chúng.

2. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE

Vấn đề mang tính toàn cầu

Cần phải nhận thức rõ, vấn đề buôn bán PNTE ngày càng nghiêm trọng vì không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia mà mang tính toàn cầu, và bọn buôn người sẽ ngày càng tổ chức tinh vi khiến cho việc phòng chống trở nên khó khăn. Theo báo cáo của  Văn phòng Chống ma tuý và tội phạm của LHQ (UNDOC) mạng lưới buôn bán con người làm nô lệ tình dục hoặc lao động cưỡng bức đã toả “chân rết” tới tất cả các khu vực trên thế giới. Phần lớn các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Họ bị đưa qua nhiều trạm trung chuyển khác nhau, và bị buộc trở thành nô lệ lao động hoặc tình dục tại một quốc gia xa lạ. UNDOC ước tính, có tới 77% số nạn nhân là phụ nữ, 33% là trẻ em và chỉ có 9% là nam giới. Có 87% tổng số các nạn nhân này bị buộc trở thành nô lệ tình dục. Riêng trẻ em, mỗi năm có hơn 1 triệu em là nạn nhân của bọn buôn người.

Báo cáo chỉ rõ, trên thế giới có 127 quốc gia “cung cấp” nạn nhân, nhưng có tới 137 quốc gia là đích đến của các đường dây buôn người. 11 quốc gia đứng đầu về đích đến là Bỉ, Đức, Hy Lạp, Israel, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Anh. Điều này chứng tỏ, nhu cầu về nô lệ tình dục vẫn gia tăng trên thế giới. Các khu vực trung chuyển mà những đường dây này thường chọn là Albania, Bulgaria, Hungary, Italia, Ba Lan và Thái Lan.

Theo UNDOC, các nỗ lực chống nạn buôn người trên toàn cầu hết sức khó khăn bởi thiếu thông tin và dữ liệu đáng tin cậy. Ông Antonio Maria Costa – Giám đốc UNDOC – nhận định, các nỗ lực chống nạn buôn người giữa các nước cho đến nay vẫn chưa được phối hợp chặt chẽ và hữu hiệu.

Những thuận lợi trong việc phòng, chống nạn buôn PNTE tại VN.-

Vấn đề phòng chống tội phạm buôn bán PNTE đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ngày 14-7-2004, và đến nay đã bước vào giai đoạn 2 (2007-2010).

+ Chương trình hành động quốc gia:

Tại Hội nghị triển khai chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn 2007-2010, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã nêu rõ nguy cơ về tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền và các ngành chức năng tăng cường phối hợp để thực hiện tốt chương trình này trong 3 năm tới. Phó Thủ tướng cũng đề nghị 2 ngành Công an và Bộ đội biên phòng tăng cường công tác điều tra khảo sát , cập nhật, bổ sung đầy đủ thông tin vào dữ liệu có liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở địa phương và tập trung điều tra, khám phá các vụ án phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng xuyên quốc gia thông qua việc tổ chức các đợt cao điểm tấn công tội phạm trên dọc các tuyến biên giới. Thượng tướng Lê Thế Tiệm, Thứ trưởng Bộ Công an, cơ quan được giao thường trực Ban Chỉ đạo 130CP, cho rằng cần thực hiện tốt 2 biện pháp chính: đó là đẩy mạnh công tác truyền thông và đấu tranh trấn áp tội phạm. Thượng tướng Lê Thế Tiệm nhấn mạnh, từ nay đến 2010, đây là giai đoạn quyết liệt, Thủ tướng sẽ chỉ thị các cấp, các ngành tập trung triển khai đồng bộ quyết liệt hơn, trước hết tập trung công tác truyền thông mạnh mẽ để nâng cao ý thức cảnh giác của người dân trước bọn tội phạm dụ dỗ, lừa phỉnh phụ nữ, trẻ em đem bán ở nước ngoài. Một số văn bản pháp luật chưa được hoàn thiện, các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung trình Quốc hội thông qua Luật về chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em nhằm tạo một hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh có hiệu quả. Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ VIỆT NAM đã có Quyết định 130 với 4 đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán người qua biên giới. Theo đó: Đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do Bộ Công an và Bộ Tư lệnh Biên phòng chủ công thực hiện. Đề án tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về phòng chống tội phạm do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì. Việc tiếp nhận những nạn nhân là phụ nữ, trẻ em từ nước ngoài trở về do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đảm nhiệm. Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do Bộ Tư pháp chủ trì. Ngoài ra hai bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư cũng có trách nhiệm thực hiện những công việc liên quan.

+ Dự án hợp tác quốc tế:

Mặt khác, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác với Dự án Phòng ngừa Buôn bán Phụ nữ và Trẻ em (BBPNTE) tại Tiểu vùng Mê Kông của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) kể từ năm 2001 (Giai đoạn I). Năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã ký 2 Văn bản Thỏa thuận cho phép mở rộng Dự án Phòng ngừa BBPNTE giai đoạn II ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Hoạt động tại các khu vực dự án mới này (bao gồm cả Tp Hồ Chí Minh) tập trung vào lĩnh vực phòng ngừa, thông qua nâng cao nhận thức cho các nhóm mục tiêu, đồng thời xác định các yếu tố nguy cơ đối với người di cư lao động ở tại cộng đồng nơi đi và cộng đồng nơi đến thông qua mối quan hệ đối tác với Bộ LĐTBXH, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các đối tác ở các cấp khác. Dự án Phòng ngừa BBPNTE của ILO cũng hợp tác với Quĩ Cứu trợ Nhi đồng Anh, Dự án Liên minh các Tổ chức LiênHợp Quốc (UNIAP), Tổ chức Di dân Quốc tế (IOM) và các tổ chức quốc tế khác vận động cho sự tham gia tư vấn của trẻ em đối với các quyết định chính sách về phòng chống BBPNTE.

+ Xác nhận những điểm nguy cơ:

-Năm 2005, Dự án Phòng ngừa BBPNTE của ILO giai đoạn II tại Việt Nam- Kế hoạch 2006 – 2008:  nhận được phê chuẩn của Chính phủ cho phép hoạt động tại Tp Hồ Chí Minh, là một điểm đến lớn đối với  nhiều lao động nhập cư, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em đến từ các khu vực nông thôn. Việc này đã mở ra cơ hội nghiên cứu các khu vực được coi là điểm đến đối với các lao động nhập cư và gia đình họ nhằm xác định các yếu tố nguy cơ trước những kẻ buôn người.

-Tp Cần Thơ cùng các khu công nghiệp gần đó cũng là những điểm đến phổ biến của lao động nữ trẻ và đã được Dự án xác định là khu vực “tiếp nhận” tiềm năng của nạn buôn người trong nước.

-Thanh Hóa là khu vực “nguồn” của phụ nữ và trẻ em nguy cơ. Một số trong số họ đã bị bán sang Trung Quốc. Quảng Ninhđược coi là khu vực “nguồn và trung chuyển” của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em sang Trung Quốc.  -Các báo cáo cho thấy một số tỉnh miền Nam như Tây Ninh, Hậu Giang, Cần Thơ là những khu vực “nguồn” chính của tội phạm buôn bán người sang Campuchia. Phụ nữ ở các khu vực này cũng bị bọn môi giới hôn nhân tiếp cận để lừa bán sang Đài Loan.

Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả

Không thể phủ nhận trong những năm qua, Chính phủ VN  đã có rất nhiều nỗ lực và hiện vẫn đang tích cực tiếp tục đề ra những giải pháp nhằm ngăn chận nạn buôn bán PNTE, nhưng thành thật mà nói, vẫn chưa đạt hiệu quả cao, trong khi tình hình tội phạm đang có xu hướng phát triển, cụ thể là riêng tại Campuchia,  qua khảo sát, trong số khoảng hơn 18.000 người phục vụ trong lĩnh vực tình dục, trong số đó có 66% là người Khmer, 33% là người Việt Nam và 1% là người các nước khác; và sắp tới với chiều hướng mở rộng, trẻ em, phụ nữ có thể bị đưa sang các nước châu Á, châu Âu, Hoa Kỳ để bán các cơ quan nội tạng, làm gái mại dâm… thì  thời Việt Nam có thể là điểm trung chuyển của loại tội phạm này. Bọn tội phạm sẽ đưa các đối tượng phụ nữ, trẻ em từ Campuchia, Lào… sang Việt Nam sau đó chuyển tiếp sang các nước khác.

+ Phải có sự phối hợp chặt chẽ về pháp luật với các nước láng giềng liên quan

Để có thể kiểm soát ngăn chận việc buôn bán PNTE qua biên giới, VIỆT NAM phải có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền các nước láng giềng có liên quan như  Trung Quốc và Campuchia  trong việc phòng, chống tội phạm này  với việc hoàn chỉnh khung pháp lý phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nước, và luật phải được thi hành nghiêm minh rốt ráo.

Hiện nay, tại Campuchia dù có luật về bài trừ nạn mua bán phụ nữ trẻ em có từ 1996 nhưng  đến nay kết quả thực hiện cũng rất hạn chế, lại chỉ bắt được một vài vụ nhỏ xảy ra trong nội địa, những vụ buôn người xuyên biên giới thì chưa phát hiện được trong khi chưa có luật về mại dâm và chưa có luật về bằng chứng nên khó khăn trong xét xử loại tội phạm này.  Thời gian đưa ra xét xử các vụ án liên quan tới mua bán phụ nữ, trẻ em cũng rất lâu, sơ thẩm từ 4 đến 6 tháng, phúc thẩm từ 1 đến 2 năm, làm cho nạn nhân chán nản không muốn tham gia tố tụng.. Đó là chưa kể đa số nạn nhân ra trước tòa đều lên tiếng bảo vệ chủ chứa, nói bị cảnh sát ép khai như vậy.

+ Xóa đói giảm nghèo- Nâng cao trình độ dân trí

  Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng phụ nữ, trẻ em bị lừa bán ra nước ngoài do Bộ Công an hợp tác với tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc) thực hiện, nguyên nhân chủ yếu để dẫn đến tình trạng trên ngày càng tăng là do đời sống kinh tế còn nghèo nàn, trình độ dân trí, sự hiểu biết còn thấp. Trong số trên 1.750 nạn nhân của những vụ “buôn người”, có hơn một nửa là người mù chữ hoặc chỉ dừng lại ở cấp tiểu học. Nghề nghiệp của các nạn nhân trước khi bị lừa bán ra nước ngoài chủ yếu là làm ruộng và thất nghiệp. Những khó khăn trong cuộc sống, hạn chế về trình độ nhận thức đã “đẩy” họ trở thành “miếng mồi” ngon cho những tên “buôn người”.

Như vậy, phải giải quyết bài toán xã hội là sự đói nghèo cả 2 mặt vật chất lẫn tinh thần, vì việc phòng chống tệ nạn buôn bán PNTE chỉ đạt được hiệu quả tích cực với sự tham gia của chính những đối tượng có nguy cơ trở thành nạn nhân. Nói một cách cụ thể, là làm sao cho tất cả người dân có đời sống kinh tế ổn định, có công ăn việc làm, có khả năng thu nhập để có thể thỏa mãn phần nào nhu cầu đời sống trong nền kinh tế thị trường có quá nhiều hàng hóa, tiện nghi. Thêm vào đó, người dân phải có nền tảng tri thức tối thiểu để không chỉ hiểu được những điều luật pháp cấm đoán mà còn phải nhận thức được giá trị nhân bản của chính mình mà không làm những điều đi ngược với đạo đức xã hội.

Để làm được điều này, cần có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập qua dạy nghề, cho vay vốn…cho đối tượng phụ nữ có nguy cơ cao ở những vùng khó khăn, song song với việc trang bị kiến thức cho họ về nguy cơ bị buôn bán với viễn ảnh tương lai đen tối nếu chẳng may bị sa vào. Thực tế hiện nay, chỉ mới tại thành phố Hồ Chí Minh, được Hội Liên Hiệp Phụ nữ các cấp triển khai có hiệu quả các chương trình hỗ trợ cho vay vốn, tìm việc làm….nhưng vẫn còn một số nơi còn ngại khó chưa thực sự  tích cực, nên hiệu quả còn hạn chế.

Vấn đề thực sự xóa mù chữ, phổ cập giáo dục cũng hết sức cần thiết cho những đối tượng  có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán PNTE, vì nhờ đó họ có thể tiếp cận với mọi thông tin từ các phương tiện truyền thông để tự bảo vệ mình. Đồng thời sự mở mang trí óc bằng kiến thức học hành căn bản cũng giúp rất nhiều cho con người nhận ra những điều phải trái.

Cần đưa vào chương trình giáo dục ở bậc Tiểu học và Trung học vấn đề buôn bán PNTE với những phương thức phòng ngừa trong môi trường xã hội phức tạp cũng như giúp cho các em thấy được tính chất phi nhân tội ác của để các em hình thành ý thức đạo đức ngay từ tuổi nhỏ. Do vậy, ngành giáo dục cũng phải dự phần tham gia chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE.

+Tăng cường hiệu quả của việc tuyên truyền phổ biến giáo dục

Mặt khác, phải triển khai rộng rãi chương trình hành động qua các cuộc tuyên truyền phổ biến giáo dục thường xuyên đến nhân dân, mà các đoàn thể địa phương, khu phố, tổ dân phố là lực lượng nòng cốt, để vừa giúp người dân cảnh giác đối với thủ đoạn của bọn tội phạm, vừa xây dựng họ thành lực lượng phòng, chống, phát hiện kịp thời bọn tội phạm ngay khi chúng manh nha tội ác. Đồng thời cũng cần có biện pháp đối với những loại người vô tình, thờ ơ trước tội ác. Nếu có sự góp tay của quần chúng thì không thể nào tồn tại những điểm tập kết phụ nữ, trẻ em như đã xảy ra rất nhiều trong thời gian qua tại tp.HCM. Ngoài ra cũng sẽ có tác động dối với thành phần phụ nữ lười lao động, có khuynh hướng thích sống thiên về bản năng hưởng thụ, sẵn sàng bán rẻ danh dự, thân xác mình, mà “chương trình 3 giảm” của thành phố đã có những biện pháp để nhằm đẩy lùi tệ nạn mãi dâm, nhưng vẫn còn tồn tại lén lút, và đây cũng chính là những đầu mối nguy cơ dẫn dắt cho việc buôn bán PNTE ra nước ngoài.

Đối với trẻ em, đã có Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em các cấp chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, thành thật mà nói, lực lượng này ở nhiều địa phương còn thiếu năng lực và nhiệt tình, cho nên vẫn còn rất nhiều tình trạng trẻ em bỏ học, trẻ em bị cha mẹ ngược đãi, bị bán, mà không hề được địa phương quan tâm. Nếu mỗi phường, mỗi xã chú ý hơn đến từng gia đình để biết được hoàn cảnh của các em trong địa phương mình và sẵn sàng can thiệp giúp đỡ kịp thời, chận đứng mọi trường hợp vi phạm quyền trẻ em, để các em được sống trong sự chở che, bảo bọc của người lớn, thì vấn đề buôn bán trẻ em không thể nào tồn tại.

Kết luận:

Buôn bán PNTE không chỉ là  vấn đề xã hội đơn thuần, mà là sự biểu hiện của tình trạng suy đồi đạo đức đến mức phi nhân và đã trở thành vấn nạn trong cộng đồng thế giới loài người mà nếu không giải quyết được, đó chính là những gam màu xám đen làm lem luốc, phá hỏng toàn cảnh bức tranh văn minh nhân loại  cho dù  về phương diện khoa học kỹ thuật vật chất, con người có tiến bộ đến đâu  đi nữa. Bởi lẽ đó, việc phòng chống ngăn chận tội phạm mua bán phụ nữ trẻ em là trách nhiệm chung của tất cả những ai còn lương tri, còn biết suy nghĩ về lẽ phải, về sự công bình, về tình người, để cùng góp phần vào sự ổn định của xã hội mà cũng là sự bình an cuộc sống của chính mình.

Việc đấu tranh với tội phạm sẽ vô cùng khó khăn; chừng nào con người vẫn còn đặt nhu cầu tình dục lên trên nhân cách đạo đức thì vấn đề buôn bán PNTE vẫn còn xảy ra. Cho nên, việc phòng, chống loại tội phạm  này đòi hỏi sự nỗ lực tham gia của toàn xã hội, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của chính quyền hay các tổ chức, đoàn thể nào đã được phân công.

——————————————————————————————

THỰC TRẠNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM, KẾT QUẢ ĐẤU TRANH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Luật sư Nguyễn Hữu Hậu Trưởng ban Ban tuyên truyền Hội Luật gia Tp.HCM

I) THỰC TRẠNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

Trong bối cảnh đất nước “mở cửa” hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạch những mặt thuận lợi thì cũng còn nhiều khó khăn thách thức, nhất là vấn đề liên quan đến phụ nữ và trẻ em, ở đó có phụ nữ, trẻ em (PNTE) đã bị lừa gạt trở thành món hàng trong tay những kẻ trục lợi.

Hiện nay tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em (BBPNTE) trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, đặc biệt là BBPNTE ra nước ngoài diễn ra dưới nhiều hình thức như xuất cảnh trái phép, kết hôn giả, lừa đưa ra nước ngoài laođộng, du lịch sau đó ép làm nghề mại dâm, thậm chí có cháu gái còn dưới 18 tuổi v.v…diễn biến phức tạp, tính chất và quy mô hoạt động phạm tội có chiều hướng gia tăng, có tổ chức chặt chẽ và xuyên quốc gia.

Thủ đoạn nổi lên của bọn tội phạm là lợi dụng sơ hở pháp luật trong tư vấn môi giới hôn nhân với người nước ngoài, cho nhận con nuôi, du lịch thăm thân nhân, đi hợp tác lao động để lừa dối người lao động. Nhiều PNTE ở các vùng nông thôn nghèo, trình độ học vấn thấp,hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thất nghiệp, thiếu việc làm, chỉ vì nhẹ dạ cả tin vào những lời đường mật như hứa tìm việc làm thích hợp, nhẹ nhàng ở thành phố lớn có mức lương ổn định, sau đó bị lừa qua biên giới bán cho các chủ chứa. Thậm chí bọn tội phạm còn lợi dụng chính sách mở cửa và hội nhập của nước ta; thônbg qua internet, chat, games… để thiết lập các đường dây BBPNTE, các đường dây gái gọi qua mạng, điện thoại di động, tổ chức các chuyến du lịch tình dục xuyên quốc gia nên nhiều PNTE, kể cả sinh viên cũng trở thành nạn nhân của chúng.

Ngoài ra, phong trào lấy chồng ngoại quốc cũng nhức nhối không kém.Do thủ tục kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là Hàn Quốc đơn giản, chỉ cần có bản xác nhận lai lịch bản thân cô dâu và thỏa thuận của gia đình, có thể đăng ký kết hôn tại nước sở tại, nên bọn tội phạm đã dùng hình thức hôn nhân trá hình ngụy trang cho hành vi BBPNTE. Thực tế, có không ít trường hợp thương tâm các cô gái sau khi kết hôn đã bị bán làm gái mại dâm trong các nhà chứa mà báo chí đã có nêu xảy ra tại Trung Quốc, Đài Loan, hay bị lừa gạt lấy phải người chồng tâm thần tàn tật…

II) TÌNH HÌNH CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

Ngày 14-7-2004 Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm BBPNTE, Bộ Công an với chức năng là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo, đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ xây dựng và trình Thủ tướng ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành động, chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em (130/CP) và ban hành quy chế hoạt động, mở hội nghị trên toàn quốc;

Thường trực BCĐ 103/CP phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí mở chuyên mục về phòng, chống loại tội phạm này. Qua vận động quần chúng bảo vệ ANTQ, lực lượng Công an và Bộ đội Biên phòng đã tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia phát hiện, tố giác tội phạm BBPNTE. Quần chúng đã cung cấp hàng nghìn nguồn tin giái trị, giúp đấu tranh triệt phá nhiều đường dây tội phạm BBPNTE xuyên quốc gia. Hai năm qua 2005-2006, Tp. Hồ Chí Minh cùng cả nước đã điều tra, khám phá 445 vụ, bắt giữ 790 đối tượng, lập cáo trạng và ra quyết định truy tố 271 vụ, với 468 bị can; xét xử 241 vụ, với 448 bị cáo (đạt 86% số vụ và 83% số bị cáo); trong đó có 58 bị cáo xử phạt tù trên 15 năm. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và hợp tác quốc tế trong đấu tranh, phòng chống tội phạm BBPNTE.

Để tiếp tục triển khai thực hiện chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ của Chính phủ tại Tp. Hồ Chí Minh và ngăn ngừa tội phạm buôn bán phụ nữ ở các tỉnh đang tạm trú tại TPHCM, UBND.TP đã đề nghị Ban chỉ đạo138 của Chính phủ cho phép thành phố chủ động phối hợp với các tỉnh miền Tây Nam bộ chuyển sang đối tượng chính cần tuyên truyền phòng ngừa là phụ nữ các tỉnh tạm trú tại thành phố chờ môi giới lấy chồng hoặc tìm việc làm ở nước ngoài có nguy cơ bị lừa dối mua bán.

Cùng với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE của đơn vị công an thành phố, các cấp Hội Phụ nữ trong thành phố đã làm tốt công tác tuyên truyền tới các tầng lớp phụ nữ và nhân dân về công tác phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE. Các hoạt động tuyên truyền phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái được triển khai đến khắp các cơ sở Hội; các cấp Hội Phụ nữ đã vận dụng nhiều hình thức tuyên truyền nhằm nâng cáo nhận thức, ý thức cảnh giác trong chị em phụ nữ biết cách tự bảo vệ mình, phòng tránh tệ nạn buôn bán người. Trên 150.000 tài liệu bướm được phát hành trong nhân dân và chị em phụ nữ cùng với 6.000 sổ tay cẩm nang tuyên truyền được cung cấp đến các tuyên truyền viên nòng cốt của Hội. Báo phụ nữ thành phố, cơ quan ngôn luận của Hội, đã thực hiện hàng loạt bài phóng sự điều tra, phản ánh về tệ nạn xã hội “chợ vợ, về các đường dây, các công ty môi giới hôn nahn6 bất hợp pháp, mà thực chất là buôn bán phụ nữ. Cùng với các báo khác, Báo Phụ nữ thành phố đã góp vào tiếng nói chung mạnh mẽ trong hàng trăm bài báo ở Việt Nam để vạch trần và đưa ra trước công luận tệ nạn này.

Ngày 01/01/2001 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chính thức có hiệu lực, đã dành hẳn một chương quy định về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đồng thời nói lên vấn đề hôn nhân không còn bó hẹp trong một quốc gia, dân tộc. Nhu cầu kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ có xu hướng ngày càng tăng và thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm điểm để phụ nữ các tỉnh đến tìm kiếm cơ hội. Vì vậy, ngày 20/10/2003, thực hiện sự chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, và được sự cho phép của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Hỗ trợ kết hôn của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố đã chính thức được thành lập, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội, để hoạt động hỗ trợ kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, bảo vệ các quyển công dân trong quan hệ hôn nhân, nhất là phụ nữ Việt Nam trong việc kết hôn với người nước ngoài và góp phần ngăn chặn các hoạt động môi giới kết hôn vì mục đích kinh doanh, vụ lợi, không lành mạnh.

Ngoài ra nhà Văn hóa phụ nữ thành phố với chức năng giáo dục thẩm mỹ và định hướng nghề nghiệp, đã tổ chức dạy nghề miễn, giảm phí cho hàng trăm phụ nữ nghèo, những đối tượng có nguy cơ nhằm tạo điều kiện cho chị em có thể tự giải quyết đời sống kinh tế bằng chính các nghề được đào tạo.

III) PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

Tuy nhiên, công tác đấu tranh với tội phạm buôn bán PNTE trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh còn gặp nhiều bất cập do thủ đoạn của bọn tội phạm buôn bán PNTE ngày càng tunh vi, chủ yếu lợi dụng PNTE ở các vùng nông thông nghèo, có trình độ văn hóa thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang cần việc làm, bằng những lời “đường mật” như hứa giúp tìm việc làm có thu nhập cao, sau đó tìm mọi cách đưa qua biên giới đẻ bán. Địa bàn hoạt động của bọn tội phạm rộng đối tượng đông, liên quan đến nhiều địa phương nên công tác nắm bắt tình hình, thu thập tài liệu rất khó khăn. Một số đối tượng lợi dụng sơ hở trong các quy định kết hôn với người nước ngoài, cho, nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài để lừa gạt đưa số PNTE ra nước ngoài bán…

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE trên địa bàn thành phố, cần có sự vào cuộc đồng bộ, thường xuyên của các cấp, các ngành và toàn xã hội, phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của PNTE trong giai đoạn hiện nay. Công an thành phố và các cần tập trung lực lượng, đấu tranh quyết liệt với bọn tội phạm buôn bán PNTE; chủ động đề xuất mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm và xác lập các chuyên án, đi sâu điều tra, bóc gỡ các đường dây, ổ nhóm buôn bán PNTE liên quan đến nhiều đối tượng ở nhiều địa phương. Chúng tôi đề nghị, cần tăng cường các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa ở những địa phương trọng điểm, các địa bàn có nguy cơ PNTE bị buôn bán ra nước ngoài ngày càng tăng.

Bên cạnh đó, cần xác định phòng, chống tội phạm BBPNTE là vấn đề mang tính xã hội cao, lấy phòng ngừa là chính; các bộ, ngành và địa phương tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền với nhiều hình thức và nội dung phong phú, để mọi người thấy được thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm, trách nhiệm của các tổ chức, gia đình và của mọi người dân, từ đó chủ động phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn.

Đối với những vụ buôn bán PNTE đã điều tra, khám phá, cần nhanh chóng đưa ra xét xử công khai nghiêm khắc, nhằm răn đe tội phạm, nâng cao ý thức cảnh giác trong quần chúng nhân dân và tạo đà phát động quần chúng tham gia tố giác, đấu tranh với tội phạm này.

Đề nghị lực lượng công an và chính quyền địa phương quản lý chặt chẽ số đối tượng đã có tiền án, tiền sự, trong đó chú ý tới các đối tượng liên quan đến hành vi buôn bán PNTE, chứa chấp, môi giới mại dâm, môi giới hôn nhân, cho, nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài không để cho đối tượng tiếp tục phạm tội. Thiết lập mạng lưới tai mắt từ cơ sở để tiếp nhận các nguồn tin do nhân dân cung cấp, trên cơ sở đó làm tốt công tác nắm bắt tình hình tội phạm buôn bán PNTE từng tháng, từng quý. Tìm hiểu và phối hợp với những nan nhân đã bị buôn bán ra nước ngoài nay trở về địa phương để thu thập thông tin tội phạm, đây là cơ sở quan trọng cho việc điều tra, khám phá, bóc gỡ các vụ án được nhanh chóng.

Bên cạnh đó, Thành phố cần kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các tỉnh vùng sâu, vùng xa đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để gia đình và chị em phụ nữ có nhận thức đúng đắn về kết hôn với người nước ngoài, nâng cao ý thức dân tộc, giữ gìn truyền thống, phẩm giá của người phụ nữViệt Nam để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phụ nữ các tỉnh về thành phố để cho người nước ngoài xem “mắt” và phòng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ dưới hình thức hoạt động mại dâm.

Hoạt động của tội phạm BBPNTE ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp, xu hướng tăng và quốc tề hóa. Tiềm ẩn tội phạm còn rất lớn, nhiều đường dây tội phạm còn hoạt động ngầm, quy mô lớn chưa bị khám phá, bóc gỡ. Do thiếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nên chua tạo hành lang pháp luật cho các cơ quan, ban, ngành, đặc biệt là các cơ quan thi hành pháp luật trong thông tin tội phạm điều tra khám phá các đường dây, giải cứu nạn nhân. Vì vậy Thành phố có kiến nghị để các cơ quan lập pháp sửa đổi bổ sung nhằm kiện toàn hành lang pháp lý giúp nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng ngừa tội phạm BBPNTE.

Lực lượng đảm nhiệm phòng và chống tội phạm BBPNTE chủ yếu kiêm nhiệm; việc phối hợp, trao đổi thong tin điều tra xác minh, truy bắt tội phạm BBPNTE hoặc giải cứu, tiếp nhận nạn nhân bị buôn bán với các nước còn khó khăn do thiếu các hiệp định tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, các nghị định thư, quy chế liên quan quốc gia… trong lĩnh vực này.

Hiện nay, để khắc phục những vướng mắc, hạn chế nói trên, phải đẩy mạnh truyền thông, coi đó là biện pháp quan trọng trong chiến lược phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế sự gia tăng tội phạm BBPNTE, kết hợp không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đặc biệt là PNTE ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa; gắn trách nhiệm của từng bộ, ngành, UBND các cấp với công tác phòng, chống nạn BBPNTE. Đề nghị Hội phụ nữ Tp.Hồ Chí Minh phối hợp cùng Hội Luật gia Tp.Hồ Chí Minh đẩy mạnh các chương trình trang bị về kiến thức pháp luật, cách phòng ngừa những tệ nạn xã hội, hướng dẫn những kỹ năng xây dựng cuộc sống gia đình cho những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, chậm tiến, lạc hậu và tiếp tục tổ chức các hội thảo về phòng chống mua bán phụ nữ trẻ em.

Tham gia tham luận về THỰC TRẠNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM, KẾT QUẢ ĐẤU TRANH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH. Ban tuyên truyền Hội Luật gia Tp.Hồ Chí Minh xem đây là một việc làm mang tính nhân văn sâu sắc, thông qua đó, chúng tôi muốn gióng lên tiếng chuông cảnh báo về hiểm họa đối với PNTE, về những đường dây buôn bán phụ nữ xuyên quốc gia, núp dưới danh nghĩa kết hôn với người nước ngoài, đồng thời có những kháng nghị với chính quyền về biện pháp ngăn chặn, phòng chống.

THAM LUẬN HỘI THẢO: Thực trạng và giải pháp phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NŨ VÀ TRẺ EM

Luật gia PHAN THỊ VIỆT THU

Vấn đề buôn bán phụ nữ trẻ em (PNTE) tại VN nói riêng, trên toàn thế giới nói chung hiện là nỗi nhức nhối đau xót chung của cả nhân loại. Chế độ nô lệ dã man buôn bán PNTE của thời Trung Cổ xa xưa tưởng chừng chỉ còn trên phim ảnh, sách vở, như là những vết nhơ trong lịch sử loài người, nay lại  tái hiện, phá vỡ tất cả những giá trị luân lý, đạo đức truyền thống mà nhiều thế hệ con người trên khắp hành tinh này đã phải đấu tranh  bằng máu và nước mắt  để giành lấy và bảo vệ cho đến  hôm nay như là chân lý của loài người.

Điều đau lòng nhất là Việt Nam hiện đang trở thành điểm nóng  của tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em. Vào tháng 6 năm 2005, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đưa ra báo cáo rằng Việt Nam là một trong những nước cần chú ý vì có tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam sang Trung Quốc, Hongkong, Macao, Malaysia, Đài Loan và Cộng Hoà Czech để làm công việc mãi dâm. Cũng trong năm vừa qua, đã có rất nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức ở Đài Loan cùng những cam kết của các quốc gia trong vùng sông Mêkông để tìm cách ngăn chận nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam.

Chính phủ VIỆT NAM cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán trẻ em từ tháng 7 năm 2004 và được sự hỗ trợ tài chính của nhiều cơ quan quốc tế như International Labor Organization (ILO), USAID, IOM…nhằm ngăn chận tệ nạn này.

Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước và cũng là nơi tập trung đa dạng các hình thức buôn bán phụ nữ trẻ em, trong mấy năm qua đã tích cực triển khai chương trình hành động này và kết thúc giai đoạn I từ 2004-2006. Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động của loại tội phạm này  không gói gọn trong thành phố Hồ Chí Minh, mà dính líu tổ chức xuyên quốc gia, cũng như tội phạm xuất phát và hầu hết nạn nhân có liên quan từ nhiều tỉnh, cho nên việc đánh giá thực trạng tình hình tội phạm  và nhận định công tác phòng chống tội phạm mua bán PNTE  phải trên phạm vi cả nước, trong đó có sự đóng góp của tp. HCM .

1-Thực trạng tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em .-

+Thông tin mới nhất mà chúng tôi đã đọc được trên số báo Công An TP Hồ Chí Minh ra ngày chúa nhựt 22-4-2007 sau khi tổng kết giai đoạn I chương trình hành động chống tội phạm buôn bán PNTE 2004-2006;

-“Trong 2 năm 2005-2006, cả nước phát hiện 568 vụ, 993 đối tượng phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em. Trong số 1.518 nạn nhân, số phụ nữ bị lừa bán ở lứa tuổi từ 18 đến 35 chiếm đa số, gồm 511 vụ với 882 đối tượng tham gia.”
-“ So với năm 2005, số vụ buôn bán PNTE của năm 2006 được phát hiện nhiều hơn 72%; số đối tượng tăng 89% và số người bị hại tăng 138%”
-“Từ năm 1998 đến nay (9 năm) cả nước xác định được 33 tuyến, 139 địa bàn trọng điểm thường diễn ra hoạt động buôn bán PNTE ra nước ngoài; đưa vào diện quản lý 2.048 đối tượngvới 654 đối tượng có liên quan, lập danh sách 5746 PNTE bị bán ra nước ngoài; 7940 PNTE vắng mặt lâu ngày tại địa phương nghi đã bị bán.”

Cho đến nay, theo thống kê, có  5746 PNTE được đưa vào danh sách chính thức bị bán ra nước ngoài là ; và 7940 PNTE vắng mặt lâu ngày tại địa phương bị nghi là đã bị bán. Như vậy trên 13.000 mảnh đời PNTE VN đã ghi nhận là nạn nhân của tội ác buôn bán PNTE,  đã bị vùi chôn nghiệt ngã trong những địa ngục  trần gian mà những người có lương tri không bao giờ có thể tưởng tượng được. Và trong đó bao nhiêu người hiện còn đang sống với nỗi đọa đày xác thân bị vùi dập ngày đêm làm trò tiêu khiển và mang lại lợi nhuận cho những loại người không còn nhân tính; bao nhiêu người đang rên siết trong bệnh hoạn, cô đơn, trong nỗi niềm tuyệt vọng, và bao nhiêu người đã  chết dần mòn trong đớn đau tủi nhục….

Bài báo đã nêu thực trạng:
Mặc dù phong trào phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em (PNTE) được thực hiện rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, nhất là PNTE ở các vùng có nguy cơ cao đã được nâng cao, song tình hình hoạt động của tội phạm buôn bán PNTE vẫn diễn biến phức tạp. Tính chất và qui mô hoạt động phạm tội có chiều hướng gia tăng, có tổ chức chặt chẽ  và xuyên quốc gia…Bọn tội phạm thường lợi dụng triệt để số PNTE ở các vùng nông thôn nghèo, có trình độ học vấn thấp,hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hứa tìm việc làm thích hợp, nhẹ nhàng ở thành phố, thị xã với mức lương ổn định, sau đó tìm mọi cách đưa qua biên giới  bán cho các chủ chứa hoặc các tổ chức tội phạm ở nước ngoài.”

Một cách tổng quát, khi nói đến vấn đề buôn bán PNTE, ai cũng bức xúc nghĩ ngay đến những kẻ tội phạm đã làm những hành vi tội ác vô nhân, và mong muốn góp phần tìm những phương cách để tiêu diệt, để ngăn chận nó, để chấm dứt những bi kịch đau thương trong đó không chỉ nhân phẩm con người bị chà đạp mà cả tính mạng con người cũng bị rẻ rúng, nhất là đối với trẻ em vô tội mà tại Hội nghị tổng kết, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã phát biểu: “Thật đáng buồn và đau lòng. Ngày càng nhiều trẻ em bị coi là hàng hóa, rao bán”. Ông Trọng yêu cầu, các cơ quan cần nhìn thẳng vào sự thật vì “không gì quan trọng bằng tính mạng con người”. Điều này mới có ý nghĩa ở góc độ luật pháp. Tuy nhiên,  vượt lên trên đó, đây là một vấn đề xã hội phức tạp liên quan lĩnh vực tâm sinh lý và phạm trù đạo đức vô cùng nghiêm trọng, khó có thể giải quyết một cách chủ quan cảm tính mà cần phải có sự phân tích rạch ròi các nguyên nhân để tìm ra những giải pháp phòng chống tích cực hiệu quả .
Theo lời của tiến sĩ Lê Bạch Dương, Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội ở Hà Nội, thì ở Việt Nam, việc buôn bán phụ nữ và trẻ em đã xảy ra từ cuối những năm 80, nhưng việc này chỉ xảy ra  lẻ tẻ ở một vài nơi mà thôi, mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ   sự mở cửa kinh tế, buôn bán dọc theo biên giới Việt Nam và Trung Quốc. Tại các chợ biên giới do có rất nhiều người từ Việt Nam sang để làm cửu vạn, khuân hàng, chuyển hàng…và những “dịch vụ vui chơi, giải trí” đã hình thành .

Đó chính là đầu đến của những việc buôn bán phụ nữ và trẻ em từ Việt Nam sang Trung Quốc. Tệ nạn này càng ngày càng phát triển, nhất là vào những năm 90 trở đi cho đến bây giờ thì đã trở thành vấn đề rất lớn. Theo Thứ trưởng Bộ Công an Lê Thế Tiệm, phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị đưa ra nước ngoài chủ yếu bằng đường bộ qua các tuyến biên giới. Tại khu vực biên giới Trung Quốc, bọn tội phạm chủ yếu “xuất khẩu” người làm gái mại dâm hay con nuôi. Còn tại biên giới giáp Campuchia, Lào, chúng đưa phụ nữ sang làm gái mại dâm, hoặc làm điểm trung chuyển để mang sang nước thứ ba. Đa số các vụ buôn người đều có “bàn tay” của các đường dây tội phạm xuyên quốc gia, mang lại cho chúng lợi nhuận khổng lồ.

Hàng năm, có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em Việt Nam đã trở thành nạn nhân của những vụ mua bán người, hầu hết những nạn nhân này bị đưa sang Trung Quốc và Campuchia, và cũng có người bị đưa sang Đài Loan, Thái Lan, Singapore và Nam Triều Tiên. Theo UNICEF, những nạn nhân này, trong số đó có 98% là phụ nữ, hầu hết bị đem bán để hoạt động mại dâm và cưỡng  bức hôn nhân, cũng như lao động cưỡng bức hay làm nô lệ, đôi khi họ cũng bị đem bán để lấy nội tạng.

Đau lòng nhất là thực trạng trẻ em bị mua bán để phục vụ tình dục  bệnh hoạn được thể hiện qua một đoạn của cuốn phim tài liệu “Children For Sale” do Dateline NBC thực hiện, được trình chiếu. Phim cho thấy có nhiều trẻ em VN mới lên 5 tuổi bị bắt bán dâm tại làng Svay Pak ở Campuchia, rất thương tâm. Cơ quan International Justice Mission (IJM) do Bà Luật Sư Sharon Cohn, Phó Chủ Tịch cơ quan IJM. bao vây bất ngờ và đã cứu thoát 37 em. Có 8 thủ phạm đã bị truy tố và bị toà án Campuchia kết án từ 5 đến 20 năm tù.

Kết hôn trá hình
Việc mua bán phụ nữ còn đựơc đề cập qua hình thức “kết hôn” với người Đài Loan qua các cá nhân hay tổ chức môi giới, theo con đường xuất cảnh hợp pháp, mà cũng theo Tiến sĩ Dương, phong trào này nở rộ từ khoảng năm 2000, và đến nay có khoảng 90.000 cô dâu Đài Loan. Hiện nay phong trào bắt đầu lan sang Hàn Quốc, điển hình, tháng 9/2006, tại Bình Dương, một nhóm buôn người đã dựng đám cưới giả để 41 người Hàn Quốc chọn 266 phụ nữ Việt Nam làm vợ. Hay ở Cần Thơ, hơn 130 phụ nữ đã coi là món hàng để những người đàn ông ngoại quốc lựa chọn.

Tuy nhiên, ông Dương cho rằng khó kết luận vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan gắn với mua bán phụ nữ, vì họ đi hợp pháp, cũng đăng ký kết hôn đàng hoàng, cũng sống và hoà nhập vào cộng đồng. Tất nhiên, cũng xảy ra một số trường hợp như bị gia đình nhà chồng đối xử không tốt, thậm chí cũng có một số trường hợp bị bán vào mãi dâm. Do trong bối cảnh thiếu sự giám sát, sự phối hợp giữa Đài Loan và Việt Nam, giám sát các hoạt động môi giới, nên đã mở ra một mảnh đất màu mỡ cho việc buôn bán phụ nữ Việt Nam giả danh lấy chồng Đài Loan, nhưng cuối cùng để đưa vào những khu vực khác…”

Mới đây, công an và biên phòng đã phá đường dây buôn bán phụ nữ do một phụ nữ Việt và chồng Đài Loan câu kết với khoảng trên 70 người ở TPHCM và các tỉnh phía Nam. Với thủ đoạn rủ đi tìm việc làm, môi giới lấy chồng nước ngoài giàu có, chúng đã lừa hơn 126 phụ nữ đưa sang các nhà chứa ở Singapore, Malaysia, Đài Loan. Mỗi phụ nữ, chúng bán với giá khoảng 25.000 ringgit (tiền Malaysia) và được các đối tượng tại Malaysia trả công từ 1.500 đến 2.000 USD/người.

Xin trích lời Tiến sĩ Lê Bạch Dương trong khi trả lời phóng viên Đài VOA: “Khi tôi sang Singapore, có những phố mà phụ nữ Việt Nam làm mãi dâm ở Singapore một cách công khai. Ở nhiều nơi công cộng có những tấm biển quảng cáo lấy vợ Việt Nam cho người Singapore với giá 10 ngàn, 12 ngàn Mỹ kim…”

Theo tin của AFP, cảnh sát tại thành phố Hồ Chí Minh đã bắt giữ  thủ phạm đã đưa khoảng 30 phụ nữ Việt Nam ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long sang Malaysia kể từ năm 2003 với lời hứa hẹn là họ sẽ có việc làm tại đây. Tuy nhiên ngay khi đến nước này, họ đã bị bán làm gái mại dâm với giá 8000 đôla một người. Mạng lưới này đã bị phát hiện khi hai người phụ nữ trốn thoát và trở về Việt Nam.

Chân dung tội phạm

Liên Hiệp Quốc cho rằng nạn buôn bán người hiện nay lớn gấp 10 lần về quy mô
so với nạn buôn nô lệ vào thế kỷ 19 và đang là vấn đề nhức nhối của toàn cầu. Ước tính, hằng năm có khoảng 4 triệu người, phần lớn là phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Riêng ở khu vực Đông Nam Á có khoảng 200-250.000 phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của các băng nhóm tội phạm. Các nạn nhân thường bị bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động và phải đi ăn xin có tổ chức.
Tại Việt Nam, vấn nạn này đang có chiều hướng gia tăng. Những phụ nữ trẻ chưa chồng, trình độ học vấn thấp và hầu như không có thông tin đều là những đối tượng có nguy cơ bị lừa gạt cao. Các nạn nhân thường bị lừa sang Trung Quốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan. Hành vi lừa gạt, câu móc của bọn tội phạm rất tinh vi. Ngoài thủ đoạn dụ dỗ phụ nữ đi làm xa, lấy chồng ngoại, bọn lừa đảo còn “sáng tạo” ra những chiêu thức mới như qua hình thức du học, lao động xuất khẩu, du lịch. Điển hình như một trường hợp ở Hải Dương. Nạn nhân được một nhóm người đến giới thiệu, mời chào đi du học. Em gái này không những phải mất hơn 10 triệu đồng để lo lót “thủ tục” mà còn bị bán cho một nhóm người ở Trung Quốc.

Đau lòng hơn khi một gia đình ở Nghệ An mất cả 3 đứa cháu gái. Mọi chuyện bắt đầu khi một nhóm người đến giới thiệu là đại diện của một công ty xuất khẩu lao động đi tuyển người, cả gia đình đã chạy vạy lo lót cho ba đứa cháu được đi “Tây” làm việc. Nhưng một năm trời trôi qua, gia đình không hề nhận được tin tức của những đứa trẻ này. Chẳng ai biết chúng ở đâu và cũng chẳng biết công ty nào đã đưa cháu mình đi nước ngoài. Lo lắng và ân hận, mọi người đều cứu cạnh khắp nơi, mong nhận được tin tức của con cháu mình

Qua những thực trạng đã nêu  thì có thể kết luận, trong vấn đề buôn bán PNTE tại Việt Nam hiện nay, mánh lới lường gạt của bọn buôn người rất đa dạng, nhưng chủ yếu gồm các hình thức:
Dùng tiền bạc để lung lạc cha mẹ của nạn nhân.
Môi giới hôn nhân, xuất khẩu lao động hay du lịch
Giới thiệu việc làm có thu nhập cao.
Lợi dụng tình cảm các cô gái rồi gạt đem bán.
–    Cưỡng ép dưới nhiều hình thức: cho mượn nợ, hăm dọa…
Bắt cóc: bằng thuốc gây mê rồi chuyển đi

Nạn nhân của những đường dây “buôn người” này thường tập trung ở nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, các tỉnh giáp biên giới. Những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm, gặp cảnh “éo le” về tình cảm, thiếu hiểu biết xã hội, nhẹ dạ cả tin thường là đối tượng bị chúng dụ dỗ. Với những lời hứa hẹn, giúp đỡ một việc làm ổn định, thu nhập cao, hoặc lấy một người chồng nước ngoài khá giả, những cô gái nghèo, nhẹ dạ đã bị lừa đưa sang đất khách quê người. Cũng có những có gái trẻ, thích hưởng thụ, bị dụ dỗ đi du lịch, tham quan… và rơi vào cảnh ngộ bị… bán. Đau đớn hơn, có những nạn nhân bị chính những người thân của mình lừa gạt đem đi bán… Và cả những trường hợp vì nhiều lý do, các cô gái tự nguyện chọn lựa con đường “bán thân” để mong đổi đời theo sự suy nghĩ hạn hẹp của mình, không lường hết được những sự nguy hiểm, khổ đau cùng cực sẽ xảy ra mà cuối cùng vẫn không đạt được mục đích kiếm tiền, trái lại còn mất cả tương lai và mạng sống. Chính vì thế khi đối diện với thực tế, họ không chịu nổi phải tìm cách trốn thoát; hoặc là trở thành tội phạm buôn bán dẫn đưa người khác đi vào con đường đau khổ mà mình đã từng là nạn nhân. Đó chẳng qua là tình trạng chung của mọi loại tội phạm trong xã hội, đã biết là tội lỗi nhưng vẫn nhắm mắt đưa chân.

Từ nhận định này, tội phạm không chỉ là những kẻ buôn người, và đồng lõa cấu kết mà còn phải kể đến những người làm cha mẹ vô lương, đành lòng bán con, đôi khi chỉ với vài trăm đô la, không cần biết số phận nó ra sao! Và cả những cô gái lười lao động, thích hưởng thụ, sẵn sàng bán rẻ danh dự và nhân phẩm của mình.

Theo thông tin điều tra từ C14, tại VN, bọn tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em thường liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành những đường dây có tổ chức. Phương thức phổ biến nhất của những đối tượng chuyên mua bán phụ nữ, trẻ em thường dùng là: một người Việt Nam móc nối với một số đối tượng là người nước ngoài, hoặc là người Việt sinh sống, làm ăn ở nước ngoài (chủ yếu là ở Trung Quốc và Campuchia), tạo thành đường dây hoạt động buôn bán phụ nữ trẻ em.

Những địa điểm nóng nhất, thường xuyên diễn ra các “phi vụ buôn người” tập trung tại 14 tỉnh có biên giới giáp với Trung Quốc và Campuchia như: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Bình Phước… Những địa phương này, có địa hình hiểm trở, nhiều đường mòn, tạo điều kiện cho những kẻ “buôn người” đưa người qua biên giới trái phép, mà lực lượng biên phòng và công an rất khó kiểm soát.
Sau khi đưa qua biên giới bằng nhiều ngả đường, họ bị bán, và “sang tay” qua nhiều ông chủ, trải qua nhiều quốc gia, rồi bị đẩy vào những ổ chứa mại dâm, hoặc bị đưa sâu vào trong lãnh thổ, bán cho những người có nhu cầu lấy vợ, hay cần người giúp việc. Đê tiện hơn, một số kẻ còn dùng nhiều thủ đoạn đẩy phụ nữ, trẻ em hoặc gia đình họ vào con đường sa ngã, bị lệ thuộc như cho sử dụng ma túy, và sau đó khống chế, cưỡng ép làm theo ý chúng.

2-Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE.-

Vấn đề mang tính toàn cầu

Cần phải nhận thức rõ, vấn đề buôn bán PNTE ngày càng nghiêm trọng vì không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia mà mang tính toàn cầu, và bọn buôn người sẽ ngày càng tổ chức tinh vi khiến cho việc phòng chống trở nên khó khăn. Theo báo cáo của  Văn phòng Chống ma tuý và tội phạm của LHQ (UNDOC) mạng lưới buôn bán con người làm nô lệ tình dục hoặc lao động cưỡng bức đã toả “chân rết” tới tất cả các khu vực trên thế giới. Phần lớn các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Họ bị đưa qua nhiều trạm trung chuyển khác nhau, và bị buộc trở thành nô lệ lao động hoặc tình dục tại một quốc gia xa lạ. UNDOC ước tính, có tới 77% số nạn nhân là phụ nữ, 33% là trẻ em và chỉ có 9% là nam giới. Có 87% tổng số các nạn nhân này bị buộc trở thành nô lệ tình dục. Riêng trẻ em, mỗi năm có hơn 1 triệu em là nạn nhân của bọn buôn người.

Báo cáo chỉ rõ, trên thế giới có 127 quốc gia “cung cấp” nạn nhân, nhưng có tới 137 quốc gia là đích đến của các đường dây buôn người. 11 quốc gia đứng đầu về đích đến là Bỉ, Đức, Hy Lạp, Israel, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Anh. Điều này chứng tỏ, nhu cầu về nô lệ tình dục vẫn gia tăng trên thế giới. Các khu vực trung chuyển mà những đường dây này thường chọn là Albania, Bulgaria, Hungary, Italia, Ba Lan và Thái Lan.

Theo UNDOC, các nỗ lực chống nạn buôn người trên toàn cầu hết sức khó khăn bởi thiếu thông tin và dữ liệu đáng tin cậy. Ông Antonio Maria Costa – Giám đốc UNDOC – nhận định, các nỗ lực chống nạn buôn người giữa các nước cho đến nay vẫn chưa được phối hợp chặt chẽ và hữu hiệu.

Những thuận lợi trong việc phòng, chống nạn buôn PNTE tại VN.-

Vấn đề phòng chống tội phạm buôn bán PNTE đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ngày 14-7-2004, và đến nay đã bước vào giai đoạn 2 (2007-2010).

+ Chương trình hành động quốc gia:

Tại Hội nghị triển khai chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn 2007-2010, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã nêu rõ nguy cơ về tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền và các ngành chức năng tăng cường phối hợp để thực hiện tốt chương trình này trong 3 năm tới. Phó Thủ tướng cũng đề nghị 2 ngành Công an và Bộ đội biên phòng tăng cường công tác điều tra khảo sát , cập nhật, bổ sung đầy đủ thông tin vào dữ liệu có liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở địa phương và tập trung điều tra, khám phá các vụ án phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng xuyên quốc gia thông qua việc tổ chức các đợt cao điểm tấn công tội phạm trên dọc các tuyến biên giới. Thượng tướng Lê Thế Tiệm, Thứ trưởng Bộ Công an, cơ quan được giao thường trực Ban Chỉ đạo 130CP, cho rằng cần thực hiện tốt 2 biện pháp chính: đó là đẩy mạnh công tác truyền thông và đấu tranh trấn áp tội phạm. Thượng tướng Lê Thế Tiệm nhấn mạnh, từ nay đến 2010, đây là giai đoạn quyết liệt, Thủ tướng sẽ chỉ thị các cấp, các ngành tập trung triển khai đồng bộ quyết liệt hơn, trước hết tập trung công tác truyền thông mạnh mẽ để nâng cao ý thức cảnh giác của người dân trước bọn tội phạm dụ dỗ, lừa phỉnh phụ nữ, trẻ em đem bán ở nước ngoài. Một số văn bản pháp luật chưa được hoàn thiện, các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung trình Quốc hội thông qua Luật về chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em nhằm tạo một hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh có hiệu quả.
Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ VIỆT NAM đã có Quyết định 130 với 4 đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán người qua biên giới. Theo đó:
Đề án phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do Bộ
Công an và Bộ Tư lệnh Biên phòng chủ công thực hiện.
Đề án tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về phòng chống tội phạm do Trung
ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì.
Việc tiếp nhận những nạn nhân là phụ nữ, trẻ em từ nước ngoài trở về do Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội đảm nhiệm.
Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do Bộ Tư pháp chủ trì.
Ngoài ra hai bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư cũng có trách nhiệm thực hiện
những công việc liên quan.

+ Dự án hợp tác quốc tế:

Mặt khác, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác với Dự án Phòng ngừa Buôn bán Phụ nữ và Trẻ em (BBPNTE) tại Tiểu vùng Mê Kông của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) kể từ năm 2001 (Giai đoạn I). Năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã ký 2 Văn bản Thỏa thuận cho phép mở rộng Dự án Phòng ngừa BBPNTE giai đoạn II ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Hoạt động tại các khu vực dự án mới này (bao gồm cả Tp Hồ Chí Minh) tập trung vào lĩnh vực phòng ngừa, thông qua nâng cao nhận thức cho các nhóm mục tiêu, đồng thời xác định các yếu tố nguy cơ đối với người di cư lao động ở tại cộng đồng nơi đi và cộng đồng nơi đến thông qua mối quan hệ đối tác với Bộ LĐTBXH, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các đối tác ở các cấp khác. Dự án Phòng ngừa BBPNTE của ILO cũng hợp tác với Quĩ Cứu trợ Nhi đồng Anh, Dự án Liên minh các Tổ chức LiênHợp Quốc (UNIAP), Tổ chức Di dân Quốc tế (IOM) và các tổ chức quốc tế khác vận động cho sự tham gia tư vấn của trẻ em đối với các quyết định chính sách về phòng chống BBPNTE.

+ Xác nhận những điểm nguy cơ:

-Năm 2005, Dự án Phòng ngừa BBPNTE của ILO giai đoạn II tại Việt Nam- Kế hoạch 2006 – 2008:  nhận được phê chuẩn của Chính phủ cho phép hoạt động tại Tp Hồ Chí Minh, là một điểm đến lớn đối với  nhiều lao động nhập cư, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em đến từ các khu vực nông thôn. Việc này đã mở ra cơ hội nghiên cứu các khu vực được coi là điểm đến đối với các lao động nhập cư và gia đình họ nhằm xác định các yếu tố nguy cơ trước những kẻ buôn người.

-Tp Cần Thơ cùng các khu công nghiệp gần đó cũng là những điểm đến phổ biến của lao động nữ trẻ và đã được Dự án xác định là khu vực “tiếp nhận” tiềm năng của nạn buôn người trong nước.

-Thanh Hóa là khu vực “nguồn” của phụ nữ và trẻ em nguy cơ. Một số trong số họ đã bị bán sang Trung Quốc. Quảng Ninhđược coi là khu vực “nguồn và trung chuyển” của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em sang Trung Quốc.
  -Các báo cáo cho thấy một số tỉnh miền Nam như Tây Ninh, Hậu Giang, Cần Thơ là những khu vực “nguồn” chính của tội phạm buôn bán người sang Campuchia. Phụ nữ ở các khu vực này cũng bị bọn môi giới hôn nhân tiếp cận để lừa bán sang Đài Loan.

Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả

Không thể phủ nhận trong những năm qua, Chính phủ VN  đã có rất nhiều nỗ lực
và hiện vẫn đang tích cực tiếp tục đề ra những giải pháp nhằm ngăn chận nạn buôn bán PNTE, nhưng thành thật mà nói, vẫn chưa đạt hiệu quả cao, trong khi tình hình tội phạm đang có xu hướng phát triển, cụ thể là riêng tại Campuchia,  qua khảo sát, trong số khoảng hơn 18.000 người phục vụ trong lĩnh vực tình dục, trong số đó có 66% là người Khmer, 33% là người Việt Nam và 1% là người các nước khác; và sắp tới với chiều hướng mở rộng, trẻ em, phụ nữ có thể bị đưa sang các nước châu Á, châu Âu, Hoa Kỳ để bán các cơ quan nội tạng, làm gái mại dâm… thì  thời Việt Nam có thể là điểm trung chuyển của loại tội phạm này. Bọn tội phạm sẽ đưa các đối tượng phụ nữ, trẻ em từ Campuchia, Lào… sang Việt Nam sau đó chuyển tiếp sang các nước khác.

+ Phải có sự phối hợp chặt chẽ về pháp luật với các nước láng giềng liên quan

Để có thể kiểm soát ngăn chận việc buôn bán PNTE qua biên giới, VIỆT NAM phải có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền các nước láng giềng có liên quan như  Trung Quốc và Campuchia  trong việc phòng, chống tội phạm này  với việc hoàn chỉnh khung pháp lý phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nước, và luật phải được thi hành nghiêm minh rốt ráo.

Hiện nay, tại Campuchia dù có luật về bài trừ nạn mua bán phụ nữ trẻ em có từ 1996 nhưng  đến nay kết quả thực hiện cũng rất hạn chế, lại chỉ bắt được một vài vụ nhỏ xảy ra trong nội địa, những vụ buôn người xuyên biên giới thì chưa phát hiện được trong khi chưa có luật về mại dâm và chưa có luật về bằng chứng nên khó khăn trong xét xử loại tội phạm này.  Thời gian đưa ra xét xử các vụ án liên quan tới mua bán phụ nữ, trẻ em cũng rất lâu, sơ thẩm từ 4 đến 6 tháng, phúc thẩm từ 1 đến 2 năm, làm cho nạn nhân chán nản không muốn tham gia tố tụng.. Đó là chưa kể đa số nạn nhân ra trước tòa đều lên tiếng bảo vệ chủ chứa, nói bị cảnh sát ép khai như vậy.

+ Xóa đói giảm nghèo- Nâng cao trình độ dân trí

  Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng phụ nữ, trẻ em bị lừa bán ra nước ngoài do Bộ Công an hợp tác với tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc) thực hiện, nguyên nhân chủ yếu để dẫn đến tình trạng trên ngày càng tăng là do đời sống kinh tế còn nghèo nàn, trình độ dân trí, sự hiểu biết còn thấp. Trong số trên 1.750 nạn nhân của những vụ “buôn người”, có hơn một nửa là người mù chữ hoặc chỉ dừng lại ở cấp tiểu học. Nghề nghiệp của các nạn nhân trước khi bị lừa bán ra nước ngoài chủ yếu là làm ruộng và thất nghiệp. Những khó khăn trong cuộc sống, hạn chế về trình độ nhận thức đã “đẩy” họ trở thành “miếng mồi” ngon cho những tên “buôn người”.

Như vậy, phải giải quyết bài toán xã hội là sự đói nghèo cả 2 mặt vật chất lẫn tinh thần, vì việc phòng chống tệ nạn buôn bán PNTE chỉ đạt được hiệu quả tích cực với sự tham gia của chính những đối tượng có nguy cơ trở thành nạn nhân. Nói một cách cụ thể, là làm sao cho tất cả người dân có đời sống kinh tế ổn định, có công ăn việc làm, có khả năng thu nhập để có thể thỏa mãn phần nào nhu cầu đời sống trong nền kinh tế thị trường có quá nhiều hàng hóa, tiện nghi. Thêm vào đó, người dân phải có nền tảng tri thức tối thiểu để không chỉ hiểu được những điều luật pháp cấm đoán mà còn phải nhận thức được giá trị nhân bản của chính mình mà không làm những điều đi ngược với đạo đức xã hội.

Để làm được điều này, cần có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập qua dạy nghề, cho vay vốn…cho đối tượng phụ nữ có nguy cơ cao ở những vùng khó khăn, song song với việc trang bị kiến thức cho họ về nguy cơ bị buôn bán với viễn ảnh tương lai đen tối nếu chẳng may bị sa vào. Thực tế hiện nay, chỉ mới tại thành phố Hồ Chí Minh, được Hội Liên Hiệp Phụ nữ các cấp triển khai có hiệu quả các chương trình hỗ trợ cho vay vốn, tìm việc làm….nhưng vẫn còn một số nơi còn ngại khó chưa thực sự  tích cực, nên hiệu quả còn hạn chế.

Vấn đề thực sự xóa mù chữ, phổ cập giáo dục cũng hết sức cần thiết cho những đối tượng  có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán PNTE, vì nhờ đó họ có thể tiếp cận với mọi thông tin từ các phương tiện truyền thông để tự bảo vệ mình. Đồng thời sự mở mang trí óc bằng kiến thức học hành căn bản cũng giúp rất nhiều cho con người nhận ra những điều phải trái.

Cần đưa vào chương trình giáo dục ở bậc Tiểu học và Trung học vấn đề buôn bán PNTE với những phương thức phòng ngừa trong môi trường xã hội phức tạp cũng như giúp cho các em thấy được tính chất phi nhân tội ác của để các em hình thành ý thức đạo đức ngay từ tuổi nhỏ. Do vậy, ngành giáo dục cũng phải dự phần tham gia chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE.

+Tăng cường hiệu quả của việc tuyên truyền phổ biến giáo dục

Mặt khác, phải triển khai rộng rãi chương trình hành động qua các cuộc tuyên truyền phổ biến giáo dục thường xuyên đến nhân dân, mà các đoàn thể địa phương, khu phố, tổ dân phố là lực lượng nòng cốt, để vừa giúp người dân cảnh giác đối với thủ đoạn của bọn tội phạm, vừa xây dựng họ thành lực lượng phòng, chống, phát hiện kịp thời bọn tội phạm ngay khi chúng manh nha tội ác. Đồng thời cũng cần có biện pháp đối với những loại người vô tình, thờ ơ trước tội ác. Nếu có sự góp tay của quần chúng thì không thể nào tồn tại những điểm tập kết phụ nữ, trẻ em như đã xảy ra rất nhiều trong thời gian qua tại tp.HCM. Ngoài ra cũng sẽ có tác động dối với thành phần phụ nữ lười lao động, có khuynh hướng thích sống thiên về bản năng hưởng thụ, sẵn sàng bán rẻ danh dự, thân xác mình, mà “chương trình 3 giảm” của thành phố đã có những biện pháp để nhằm đẩy lùi tệ nạn mãi dâm, nhưng vẫn còn tồn tại lén lút, và đây cũng chính là những đầu mối nguy cơ dẫn dắt cho việc buôn bán PNTE ra nước ngoài.

Đối với trẻ em, đã có Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em các cấp chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, thành thật mà nói, lực lượng này ở nhiều địa phương còn thiếu năng lực và nhiệt tình, cho nên vẫn còn rất nhiều tình trạng trẻ em bỏ học, trẻ em bị cha mẹ ngược đãi, bị bán, mà không hề được địa phương quan tâm. Nếu mỗi phường, mỗi xã chú ý hơn đến từng gia đình để biết được hoàn cảnh của các em trong địa phương mình và sẵn sàng can thiệp giúp đỡ kịp thời, chận đứng mọi trường hợp vi phạm quyền trẻ em, để các em
được sống trong sự chở che, bảo bọc của người lớn, thì vấn đề buôn bán trẻ em không thể nào tồn tại.

Kết luận:

Buôn bán PNTE không chỉ là  vấn đề xã hội đơn thuần, mà là sự biểu hiện của tình trạng suy đồi đạo đức đến mức phi nhân và đã trở thành vấn nạn trong cộng đồng thế giới loài người mà nếu không giải quyết được, đó chính là những gam màu xám đen làm lem luốc, phá hỏng toàn cảnh bức tranh văn minh nhân loại  cho dù  về phương diện khoa học kỹ thuật vật chất, con người có tiến bộ đến đâu  đi nữa. Bởi lẽ đó, việc phòng chống ngăn chận tội phạm mua bán phụ nữ trẻ em là trách nhiệm chung của tất cả những ai còn lương tri, còn biết suy nghĩ về lẽ phải, về sự công bình, về tình người, để cùng góp phần vào sự ổn định của xã hội mà cũng là sự bình an cuộc sống của chính mình.

Việc đấu tranh với tội phạm sẽ vô cùng khó khăn; chừng nào con người vẫn còn đặt nhu cầu tình dục lên trên nhân cách đạo đức thì vấn đề buôn bán PNTE vẫn còn xảy ra. Cho nên, việc phòng, chống loại tội phạm  này đòi hỏi sự nỗ lực tham gia của toàn xã hội, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của chính quyền hay các tổ chức, đoàn thể nào đã được phân công.

——————————————————————————————

THỰC TRẠNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM, KẾT QUẢ ĐẤU TRANH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Luật sư Nguyễn Hữu Hậu
Trưởng ban Ban tuyên truyền Hội Luật gia Tp.HCM

I) THỰC TRẠNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

Trong bối cảnh đất nước “mở cửa” hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạch những mặt thuận lợi thì cũng còn nhiều khó khăn thách thức, nhất là vấn đề liên quan đến phụ nữ và trẻ em, ở đó có phụ nữ, trẻ em (PNTE) đã bị lừa gạt trở thành món hàng trong tay những kẻ trục lợi.

Hiện nay tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em (BBPNTE) trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, đặc biệt là BBPNTE ra nước ngoài diễn ra dưới nhiều hình thức như xuất cảnh trái phép, kết hôn giả, lừa đưa ra nước ngoài laođộng, du lịch sau đó ép làm nghề mại dâm, thậm chí có cháu gái còn dưới 18 tuổi v.v…diễn biến phức tạp, tính chất và quy mô hoạt động phạm tội có chiều hướng gia tăng, có tổ chức chặt chẽ và xuyên quốc gia.

Thủ đoạn nổi lên của bọn tội phạm là lợi dụng sơ hở pháp luật trong tư vấn môi giới hôn nhân với người nước ngoài, cho nhận con nuôi, du lịch thăm thân nhân, đi hợp tác lao động để lừa dối người lao động. Nhiều PNTE ở các vùng nông thôn nghèo, trình độ học vấn thấp,hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thất nghiệp, thiếu việc làm, chỉ vì nhẹ dạ cả tin vào những lời đường mật như hứa tìm việc làm thích hợp, nhẹ nhàng ở thành phố lớn có mức lương ổn định, sau đó bị lừa qua biên giới bán cho các chủ chứa. Thậm chí bọn tội phạm còn lợi dụng chính sách mở cửa và hội nhập của nước ta; thônbg qua internet, chat, games… để thiết lập các đường dây BBPNTE, các đường dây gái gọi qua mạng, điện thoại di động, tổ chức các chuyến du lịch tình dục xuyên quốc gia nên nhiều PNTE, kể cả sinh viên cũng trở thành nạn nhân của chúng.

Ngoài ra, phong trào lấy chồng ngoại quốc cũng nhức nhối không kém.Do thủ tục kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là Hàn Quốc đơn giản, chỉ cần có bản xác nhận lai lịch bản thân cô dâu và thỏa thuận của gia đình, có thể đăng ký kết hôn tại nước sở tại, nên bọn tội phạm đã dùng hình thức hôn nhân trá hình ngụy trang cho hành vi BBPNTE. Thực tế, có không ít trường hợp thương tâm các cô gái sau khi kết hôn đã bị bán làm gái mại dâm trong các nhà chứa mà báo chí đã có nêu xảy ra tại Trung Quốc, Đài Loan, hay bị lừa gạt lấy phải người chồng tâm thần tàn tật…

II) TÌNH HÌNH CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

Ngày 14-7-2004 Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm BBPNTE, Bộ Công an với chức năng là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo, đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ xây dựng và trình Thủ tướng ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành động, chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em (130/CP) và ban hành quy chế hoạt động, mở hội nghị trên toàn quốc;

Thường trực BCĐ 103/CP phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí mở chuyên mục về phòng, chống loại tội phạm này. Qua vận động quần chúng bảo vệ ANTQ, lực lượng Công an và Bộ đội Biên phòng đã tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia phát hiện, tố giác tội phạm BBPNTE. Quần chúng đã cung cấp hàng nghìn nguồn tin giái trị, giúp đấu tranh triệt phá nhiều đường dây tội phạm BBPNTE xuyên quốc gia. Hai năm qua 2005-2006, Tp. Hồ Chí Minh cùng cả nước đã điều tra, khám phá 445 vụ, bắt giữ 790 đối tượng, lập cáo trạng và ra quyết định truy tố 271 vụ, với 468 bị can; xét xử 241 vụ, với 448 bị cáo (đạt 86% số vụ và 83% số bị cáo); trong đó có 58 bị cáo xử phạt tù trên 15 năm. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và hợp tác quốc tế trong đấu tranh, phòng chống tội phạm BBPNTE.

Để tiếp tục triển khai thực hiện chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ của Chính phủ tại Tp. Hồ Chí Minh và ngăn ngừa tội phạm buôn bán phụ nữ ở các tỉnh đang tạm trú tại TPHCM, UBND.TP đã đề nghị Ban chỉ đạo138 của Chính phủ cho phép thành phố chủ động phối hợp với các tỉnh miền Tây Nam bộ chuyển sang đối tượng chính cần tuyên truyền phòng ngừa là phụ nữ các tỉnh tạm trú tại thành phố chờ môi giới lấy chồng hoặc tìm việc làm ở nước ngoài có nguy cơ bị lừa dối mua bán.

Cùng với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE của đơn vị công an thành phố, các cấp Hội Phụ nữ trong thành phố đã làm tốt công tác tuyên truyền tới các tầng lớp phụ nữ và nhân dân về công tác phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE. Các hoạt động tuyên truyền phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái được triển khai đến khắp các cơ sở Hội; các cấp Hội Phụ nữ đã vận dụng nhiều hình thức tuyên truyền nhằm nâng cáo nhận thức, ý thức cảnh giác trong chị em phụ nữ biết cách tự bảo vệ mình, phòng tránh tệ nạn buôn bán người. Trên 150.000 tài liệu bướm được phát hành trong nhân dân và chị em phụ nữ cùng với 6.000 sổ tay cẩm nang tuyên truyền được cung cấp đến các tuyên truyền viên nòng cốt của Hội. Báo phụ nữ thành phố, cơ quan ngôn luận của Hội, đã thực hiện hàng loạt bài phóng sự điều tra, phản ánh về tệ nạn xã hội “chợ vợ, về các đường dây, các công ty môi giới hôn nahn6 bất hợp pháp, mà thực chất là buôn bán phụ nữ. Cùng với các báo khác, Báo Phụ nữ thành phố đã góp vào tiếng nói chung mạnh mẽ trong hàng trăm bài báo ở Việt Nam để vạch trần và đưa ra trước công luận tệ nạn này.

Ngày 01/01/2001 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chính thức có hiệu lực, đã dành hẳn một chương quy định về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đồng thời nói lên vấn đề hôn nhân không còn bó hẹp trong một quốc gia, dân tộc. Nhu cầu kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ có xu hướng ngày càng tăng và thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm điểm để phụ nữ các tỉnh đến tìm kiếm cơ hội. Vì vậy, ngày 20/10/2003, thực hiện sự chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, và được sự cho phép của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Hỗ trợ kết hôn của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố đã chính thức được thành lập, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội, để hoạt động hỗ trợ kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, bảo vệ các quyển công dân trong quan hệ hôn nhân, nhất là phụ nữ Việt Nam trong việc kết hôn với người nước ngoài và góp phần ngăn chặn các hoạt động môi giới kết hôn vì mục đích kinh doanh, vụ lợi, không lành mạnh.

Ngoài ra nhà Văn hóa phụ nữ thành phố với chức năng giáo dục thẩm mỹ và định hướng nghề nghiệp, đã tổ chức dạy nghề miễn, giảm phí cho hàng trăm phụ nữ nghèo, những đối tượng có nguy cơ nhằm tạo điều kiện cho chị em có thể tự giải quyết đời sống kinh tế bằng chính các nghề được đào tạo.

III) PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

Tuy nhiên, công tác đấu tranh với tội phạm buôn bán PNTE trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh còn gặp nhiều bất cập do thủ đoạn của bọn tội phạm buôn bán PNTE ngày càng tunh vi, chủ yếu lợi dụng PNTE ở các vùng nông thông nghèo, có trình độ văn hóa thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang cần việc làm, bằng những lời “đường mật” như hứa giúp tìm việc làm có thu nhập cao, sau đó tìm mọi cách đưa qua biên giới đẻ bán. Địa bàn hoạt động của bọn tội phạm rộng đối tượng đông, liên quan đến nhiều địa phương nên công tác nắm bắt tình hình, thu thập tài liệu rất khó khăn. Một số đối tượng lợi dụng sơ hở trong các quy định kết hôn với người nước ngoài, cho, nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài để lừa gạt đưa số PNTE ra nước ngoài bán…

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán PNTE trên địa bàn thành phố, cần có sự vào cuộc đồng bộ, thường xuyên của các cấp, các ngành và toàn xã hội, phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của PNTE trong giai đoạn hiện nay. Công an thành phố và các cần tập trung lực lượng, đấu tranh quyết liệt với bọn tội phạm buôn bán PNTE; chủ động đề xuất mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm và xác lập các chuyên án, đi sâu điều tra, bóc gỡ các đường dây, ổ nhóm buôn bán PNTE liên quan đến nhiều đối tượng ở nhiều địa phương. Chúng tôi đề nghị, cần tăng cường các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa ở những địa phương trọng điểm, các địa bàn có nguy cơ PNTE bị buôn bán ra nước ngoài ngày càng tăng.

Bên cạnh đó, cần xác định phòng, chống tội phạm BBPNTE là vấn đề mang tính xã hội cao, lấy phòng ngừa là chính; các bộ, ngành và địa phương tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền với nhiều hình thức và nội dung phong phú, để mọi người thấy được thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm, trách nhiệm của các tổ chức, gia đình và của mọi người dân, từ đó chủ động phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn.

Đối với những vụ buôn bán PNTE đã điều tra, khám phá, cần nhanh chóng đưa ra xét xử công khai nghiêm khắc, nhằm răn đe tội phạm, nâng cao ý thức cảnh giác trong quần chúng nhân dân và tạo đà phát động quần chúng tham gia tố giác, đấu tranh với tội phạm này.

Đề nghị lực lượng công an và chính quyền địa phương quản lý chặt chẽ số đối tượng đã có tiền án, tiền sự, trong đó chú ý tới các đối tượng liên quan đến hành vi buôn bán PNTE, chứa chấp, môi giới mại dâm, môi giới hôn nhân, cho, nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài không để cho đối tượng tiếp tục phạm tội. Thiết lập mạng lưới tai mắt từ cơ sở để tiếp nhận các nguồn tin do nhân dân cung cấp, trên cơ sở đó làm tốt công tác nắm bắt tình hình tội phạm buôn bán PNTE từng tháng, từng quý. Tìm hiểu và phối hợp với những nan nhân đã bị buôn bán ra nước ngoài nay trở về địa phương để thu thập thông tin tội phạm, đây là cơ sở quan trọng cho việc điều tra, khám phá, bóc gỡ các vụ án được nhanh chóng.

Bên cạnh đó, Thành phố cần kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các tỉnh vùng sâu, vùng xa đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để gia đình và chị em phụ nữ có nhận thức đúng đắn về kết hôn với người nước ngoài, nâng cao ý thức dân tộc, giữ gìn truyền thống, phẩm giá của người phụ nữViệt Nam để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phụ nữ các tỉnh về thành phố để cho người nước ngoài xem “mắt” và phòng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ dưới hình thức hoạt động mại dâm.

Hoạt động của tội phạm BBPNTE ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp, xu hướng tăng và quốc tề hóa. Tiềm ẩn tội phạm còn rất lớn, nhiều đường dây tội phạm còn hoạt động ngầm, quy mô lớn chưa bị khám phá, bóc gỡ. Do thiếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nên chua tạo hành lang pháp luật cho các cơ quan, ban, ngành, đặc biệt là các cơ quan thi hành pháp luật trong thông tin tội phạm điều tra khám phá các đường dây, giải cứu nạn nhân. Vì vậy Thành phố có kiến nghị để các cơ quan lập pháp sửa đổi bổ sung nhằm kiện toàn hành lang pháp lý giúp nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng ngừa tội phạm BBPNTE.

Lực lượng đảm nhiệm phòng và chống tội phạm BBPNTE chủ yếu kiêm nhiệm; việc phối hợp, trao đổi thong tin điều tra xác minh, truy bắt tội phạm BBPNTE hoặc giải cứu, tiếp nhận nạn nhân bị buôn bán với các nước còn khó khăn do thiếu các hiệp định tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, các nghị định thư, quy chế liên quan quốc gia… trong lĩnh vực này.

Hiện nay, để khắc phục những vướng mắc, hạn chế nói trên, phải đẩy mạnh truyền thông, coi đó là biện pháp quan trọng trong chiến lược phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế sự gia tăng tội phạm BBPNTE, kết hợp không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đặc biệt là PNTE ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa; gắn trách nhiệm của từng bộ, ngành, UBND các cấp với công tác phòng, chống nạn BBPNTE. Đề nghị Hội phụ nữ Tp.Hồ Chí Minh phối hợp cùng Hội Luật gia Tp.Hồ Chí Minh đẩy mạnh các chương trình trang bị về kiến thức pháp luật, cách phòng ngừa những tệ nạn xã hội, hướng dẫn những kỹ năng xây dựng cuộc sống gia đình cho những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, chậm tiến, lạc hậu và tiếp tục tổ chức các hội thảo về phòng chống mua bán phụ nữ trẻ em.

Tham gia tham luận về THỰC TRẠNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM, KẾT QUẢ ĐẤU TRANH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH. Ban tuyên truyền Hội Luật gia Tp.Hồ Chí Minh xem đây là một việc làm mang tính nhân văn sâu sắc, thông qua đó, chúng tôi muốn gióng lên tiếng chuông cảnh báo về hiểm họa đối với PNTE, về những đường dây buôn bán phụ nữ xuyên quốc gia, núp dưới danh nghĩa kết hôn với người nước ngoài, đồng thời có những kháng nghị với chính quyền về biện pháp ngăn chặn, phòng chống.

THAM LUẬN HỘI THẢO: Thực trạng và giải pháp phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO – CƠ CHẾ BẢO ĐẢM SỰ BÌNH ĐẲNG CHO CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN

THS. PHAN THỊ THÀNH DƯƠNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Đến nay cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) thực sự trở thành một trong những định chế quyền lực trên thế giới – nhiều phán quyết của cơ quan này đã buộc các bên phải tuân thủ. Riêng đối với các nước đang phát triển, cơ chế giải quyết tranh chấp được áp dụng nguyên tắc đối xử đặc biệt. Điểm chính của cơ chế đặc biệt là các nước đang phát triển có quyền yêu cầu Tổng giám đốc WTO làm trung gian hoà giải, có quyền yêu cầu đại diện một nước đang phát triển trong nhóm chuyên gia xem xét vụ việc, thời gian xem xét có thể kéo dài hơn và có quyền yêu cầu Ban thư ký WTO trợ giúp pháp lý. Chính vì thế, trong những năm gần đây các nước đang phát triển đã sử dụng nhiều hơn cơ chế này.

Điều đó có thể nhận thấy trong số 352 vụ tranh chấp đã được đưa ra giải quyết tại WTO, thì có đến 179 vụ kiện liên quan đến Mỹ (bị kiện 95 vụ), tiếp theo sau là khối EC liên quan đến 130 vụ (bị kiện 54 vụ). Các nước phát triển khởi kiện khoảng hơn 120 vụ. Như vậy là các nước lớn hay nhỏ đều có quyền được kiện và có thể bị kiện như nhau. Các phán quyết của DBS không vì thế mà mất đi tôn chỉ đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các nước thành viên, tạo điều kiện cho các bên đàm phán đạt được thỏa thuận thích hợp theo thỏa thuận chung.

Có thể dẫn ra một số vụ kiện điển hình làm minh chứng cho sự công minh trong phán xét của DSB. Như vụ Venezuela kiện Mỹ vào ngày 23/1/1995 về việc phân biệt đối xử đối với xăng dầu nhập khẩu từ Venezuela theo Luật Clean Air của Mỹ được sửa đổi năm 1990. Tiếp đó tháng 4/1995, Brazil cũng đệ đơn lên DSB kiện Mỹ về vấn đề này. Theo đó, Venezuela và Brazil cho rằng Mỹ áp dụng những quy định nghiêm ngặt về thành phần hóa học đối với xăng dầu nhập khẩu so với xăng dầu được tinh lọc trong nội địa, như thế là không công bằng vì xăng dầu của Mỹ cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn này. Điều này vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và không thể được xem là ngoại lệ theo quy định thông thường của WTO về sức khỏe và môi trường. Hội đồng giải quyết tranh chấp đồng ý với luận điểm của Venezuela và Brazil. Kết quả là Mỹ đã buộc phải đồng ý sửa đổi quy định này trong vòng 15 tháng, đến ngày 26/8/1997 thì Mỹ ban hành quy định mới.

Một vụ kiện khác vào tháng 11/2000 liên quan đến quy định về chống bán phá giá giữa Ấn độ và Mỹ về mặt hàng thép nhập khẩu từ Ấn độ. Theo đó Ấn cho rằng mặt hàng lá thép của mình hợp tiêu chuẩn của Mỹ, nhưng đã bị áp dụng quy định về thuế chống bán phá giá và thuế nhập khẩu bổ sung do kết quả điều tra của Phòng thương mại Mỹ (DOC) là chưa phù hợp với quy định tại Điều 6, 10 của GATT 1994, điều 1,2,3,5,6,12,15,18 và Phụ lục số 2 của Thỏa thuận về chống bán phá giá , điều 18 của Thỏa thuận WTO. Sau khi xem xét hội đồng giải quyết tranh chấp yêu cầu Mỹ phải đưa ra những tiêu chuẩn tuân thủ theo những nghĩa vụ quy định tại Thỏa thuận chống bán phá giá. Kết quả là các bên đã đạt được thỏa thuận bổ sung tuân thủ các phán quyết của hội đồng, cũng như cam kết của các bên.

Ngược lại, cũng có khá nhiều vụ kiện mà nước bị kiện là nước đang phát triển. Các vụ kiện mang mã số WT/DS54, WT/DS55 and WT/DS64 là ví dụ. Trong đó Indonesia bị EC, Nhật và Mỹ kiện lên BSD về việc Indonesia đã áp dụng quy định miễn giảm thuế quan và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với việc nhập khẩu xe có động cơ nội địa hóa và linh kiện. Phía khởi kiện cho rằng Indonesia vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều I, III của GATT 1994, Điều 2 của Thỏa thuận về TRIMs, điều 3 thỏa thuận SCM. Nhật cho rằng Indonesia vi phạm Điều I.1,III.2, III.4 và điều X.3a của GATT 1994, Điều 2, 5.4 thỏa thuận TRIMs. Theo Mỹ, Indonesia cũng vi phạm điều I,II của GATT 1994, Điều 2 Thỏa thuận TRIMs, Điều 3,6,28 Thỏa thuận SCM và Điều 3,20,65 của thỏa thuận TRIPs. Hội đồng giải quyết tranh chấp đã xác định rằng Indonesia vi phạm Điều I,II.2 của GATT 1994, Điều 2 Thỏa thuận TRIMs, Điều 5c Thỏa thuận SCM nhưng không vi phạm Điều 28.2 Thỏa thuận SCM, nhưng phía khởi kiện đã không chứng minh được Indonesia vi phạm Điều 3 và 65.5 của thỏa thuận TRIPs. Indonesia chấp thuận tuân thủ những khuyến nghị của DBS trên cơ sở đó ngày 24/6/1999 Indonesia đã ban hành chính sách mới về ngành Ôtô.

Thực tế cho thấy, giữa các nước đang phát triển, hay các nước phát triển nếu có tranh chấp thương mại cũng dùng cơ chế này để giải quyết. Chẳng hạn như vụ Achentina kiện Chi lê về quy định tự vệ áp dụng đối với sản phẩm sữa ngày 25/10/2006. Hay như vụ EC kiện Mỹ và Canada về việc quy kết nghĩa vụ của EC đối với thực phẩm biến đổi gen.

Như vậy cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nơi bảo vệ những quyền lợi chính đáng, phù hợp với những quy định cuả hiệp định và thoả thuận trong WTO cho tất cả các nước thành viên khi xảy ra những tranh chấp thương mại ở nhiều góc độ như thuế quan, chất lượng hàng hóa, phân biệt đối xử, phá giá, tự vệ, trademark… Được bình đẳng trong cơ chế giải quyết tranh chấp WTO là cơ hội để Việt nam hoàn thiện cơ chế, chính sách thương mại của mình, tăng cường uy tín về chất lượng, giá cả hàng hóa-dịch vụ, mặt khác hỗ trợ Việt nam trong bảo vệ quyền lợi thương mại chính đáng trên thương trường quốc tế.

SOURCE: Báo Pháp luật Việt Nam, Chuyên đề số 2 tháng 12/2007

TRANH CHẤP MỸ – CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU VỀ SẢN PHẨM BIẾN ĐỔI GEN

THS. NGUYỄN THANH TÚ – NCS Luật, Đại học Lund, Thụy Điển

Mỹ và Cộng đồng Châu Âu (EC) là hai đối tác thương mại quốc tế lớn nhất hiện nay, đóng góp hơn 1/3 thương mại hàng hóa toàn cầu. Bởi vậy, các tranh chấp thương mại trước WTO thường liên quan đến Mỹ và EC. Đến nay, trong số 352 tranh chấp thương mại trước WTO thì Mỹ là bên khiếu nại trong 84 vụ và bị khiếu nại trong 95 vụ. EC cũng không thua kém với 74 vụ khiếu nại và 56 vụ bị khiếu nại. Đặc biệt, Mỹ đã khởi khiện EC 17 lần tại WTO. Ngược lại EC đã 30 lần đưa Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.

Ngày 29/9/2006, sau hơn 3 năm xem xét, Ban hội thẩm của WTO, đã đưa ra báo cáo giải quyết tranh chấp Mỹ khiếu nại các biện pháp của EC ảnh hưởng đến vấn đề chấp thuận và tiếp thị các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm biến đổi gen nhập khẩu vào thị trường Châu Âu. Đây là báo cáo giải quyết tranh chấp dài nhất trong lịch sử của WTO, gồm 1087 trang nội dung chính (chưa kể 11 phụ lục) chứa đựng các sự kiện và lập luận pháp lý.

NGUYÊN NHÂN VỤ KIỆN

Tranh chấp này phát sinh từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, từ tháng 10/1998 đến lúc thành lập Ban hội thẩm, EC đã không đưa ra bất kỳ quyết định chính thức nào liên quan đến việc chấp thuận, cho phép các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm biến đổi gen được nhập khẩu vào thị trường Châu Âu. Hệ quả là EC đã từ chối chấp thuận trên thực tế, và/hoặc trì hoãn việc chấp thuận các sản phẩm biến đổi gen nhập khẩu để tiêu dùng hay sử dụng trong trồng trọt. Thứ hai, một số quốc gia thành viên của EC đã ban hành một số biện pháp cấm hay hạn chế việc tiếp thị, bán hay sử dụng các sản phẩm biến đổi gen trên thị trường trong nước nếu các quốc gia này có các chứng cứ cụ thể về việc các sản phẩm này gây ra những rủi ro đối với sức khỏe con người hay môi trường.

LẬP LUẬN CỦA BÊN NGUYÊN

Mỹ cùng với Canada và Argentina cho rằng các biện pháp đó của EC và các quốc gia thành viên trên thực tế đã trở thành việc từ chối một cách bất hợp lý, không cho các sản phẩm biến đổi gen thâm nhập vào thị trường Châu Âu trong khi không có một bằng chứng khoa học nào để biện minh. Điều này vi phạm Hiệp định về kiểm dịch động thực vật của WTO (Hiệp định SPS). Việc cấm nhập khẩu và sử dụng như vậy khiến cho nông dân trồng các sản phẩm biến đổi gen của Mỹ, Canada và Argentina phải gánh chịu các thiệt hại kinh tế hàng trăm triệu USD hàng năm.

BIÊN MINH CỦA BÊN BỊ

EC biện minh lệnh cấm của mình là dựa trên nguyên tắc phòng ngừa (cẩn trọng). EC lập luận là không thể có sự chắc chắn tuyệt đối dưới góc độ khoa học rằng sản phẩm biến đổi gen có thực sự an toàn cho sức khỏe con người và không gây hại cho môi trường hay không.

BÁO CÁO CỦA BAN HỘI THẨM

Ban hội thẩm đã khẳng định là các quốc gia thành viên, khi có quan ngại về độ an toàn của sản phẩm sản xuất theo công nghệ sinh học, cần phải tuân thủ các quy định trong Hiệp định SPS. Theo đó, các quốc gia có quyền cấm nhập khẩu một số sản phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe con người, động vật, hay bảo vệ môi trường. Tuy nhiên những quy định cấm như vậy cần phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành, hoặc phải được ban hành trên cơ sở các bằng chứng khoa học đầy đủ. Điều đó có nghĩa là khi không tồn tại các tiêu chuẩn quốc tế liên quan, hoặc khi một quốc gia từ chối áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia ban hành quy định cấm nhập khẩu có nghĩa vụ tiến hành việc đánh giá rủi ro của sản phẩm một cách hợp lý, đầy đủ, thực tế và khách quan trên cơ sở khoa học về mặt nội dung, và không được chậm trễ về mặt thủ tục. Việc đánh giá rủi ro như vậy phải được tiến hành trước khi ban hành quy định cấm hay hạn chế nhập khẩu. EC và một số quốc gia thành viên của nó đã không thực hiện được yêu cầu này khi cấm nhập khẩu, bán và sử dụng các một số sản phẩm biến đổi gen trong thị trường nội địa. Do đó, họ đã vi phạm nghĩa vụ đánh giá rủi ro của Hiệp định SPS cả về mặt nội dung lẫn thủ tục.

Về biện minh của EC, Ban hội thẩm cho rằng việc không có sự chắc chắn về mặt khoa học không có nghĩa là không có thông tin đầy đủ, và không thể vì lý do đó mà không tiến hành các yêu cầu cần thiết của việc đánh giá rủi ro. Vì vậy, việc EC viện dẫn nguyên tắc phòng ngừa là quá mức.

KINH NGHIỆM

Các tranh chấp thương mại giữa hai bờ Đại Tây Dương luôn thu hút sự quan tâm của cộng đồng thương mại quốc tế. Các lập luận và quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đối với các tranh chấp này thường trở thành những kinh nghiệm quý, thậm chí là quy tắc pháp lý bắt buộc mà các thành viên khác của WTO phải tuân thủ, nhất là trong quan hệ thương mại giữa họ với chính một trong hai thành viên quan trọng này.

Có nhiều quan điểm khác nhau về phán quyết của Ban hội thẩm chống lại EC. Tuy nhiên kinh nghiệm rút ra từ phán quyết này là tầm quan trọng của các cơ sở khoa học trong các biện pháp hạn chế thương mại của các quốc gia thành viên. Ngoài ra, dễ dàng nhận thấy quan điểm ủng hộ tự do hóa thương mại ngày càng gia tăng trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

SOURCE: Báo Pháp luật Việt Nam, Chuyên đề số 2 tháng 12/2007

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Quan hệ thương mại quốc tế (TMQT) càng được mở rộng, khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn. Không chỉ doanh nghiệp, mà cả Nhà nước sẽ phải bước vào những địa hạt pháp lý không quen thuộc. Sự tham vấn các chuyên gia luật trước và trong quá trình tiến hành hoạt động TMQT cũng như khi ban hành các chính sách thương mại sẽ giúp doanh nghiệp và Nhà nước tránh được những rủi ro tiềm ẩn.

Quan hệ TMQT bao gồm quan hệ giữa các chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động đó cũng như quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Các tranh chấp phát sinh từ đó cũng được phân loại tương ứng và được giải quyết bởi những cơ chế khác nhau.

Giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động TMQT

Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hoạt động TMQT là hoạt động có sự tham gia của các chủ thể có quốc tịch khác nhau, hoặc có sự chuyển dịch vốn và tài sản khác từ quốc gia hay vùng lãnh thổ này vào một quốc gia hay vùng lãnh thổ khác.

Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể này được giải quyết bằng tòa án hoặc trọng tài thương mại, nếu chúng không giải quyết được bằng thương lượng.

Giải quyết tranh chấp bằng tòa án là quyền đương nhiên, các bên tranh chấp không cần phải thỏa thuận. Bên có quyền lợi bị xâm phạm có thể khởi kiện tại tòa án nước mình, tòa án của bên vi phạm hoặc thậm chí tại tòa án của một nước thứ ba, tùy thuộc tòa án của các nước này có thẩm quyền giải quyết loại tranh chấp cụ thể đó không. Thẩm quyền của tòa án cũng có thể được xác lập bởi thỏa thuận của các bên, nếu pháp luật tố tụng của nước đó chấp nhận thỏa thuận này. Tuy nhiên, quyết định của tòa án nước này muốn được thi hành tại một nước khác thì phải được nước khác đó công nhận. Bởi vậy, thuận tiện nhất là lựa chọn khởi kiện ở nơi mà bản án cũng cần được thi hành. Tòa án công nhận xem xét việc đáp ứng các điều kiện công nhận, nhưng không bao gồm xem xét lại sự việc.

Bên cạnh giải quyết tranh chấp bằng tòa án, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đặc biệt được ưa chuộng trong hoạt động TMQT. Tuy nhiên, trọng tài chỉ có thẩm quyền nếu được các bên thỏa thuận. Thỏa thuận trọng tài có thể là thỏa thuận trong hợp đồng hoặc trong một văn bản riêng biệt, trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp. Thỏa thuận phải chỉ định một trung tâm trọng tài cụ thể hoặc một hội đồng trọng tài do các bên thành lập. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu điểm, như được các bên tín nhiệm, thủ tục đơn giản, có thể thỏa thuận nơi tiến hành xét xử, nhất là giữ được bí mật và uy tín của các bên do phiên xét xử không công khai. Phán quyết trọng tài là chung thẩm, các bên phải thi hành, trừ trường hợp bị tòa án hủy theo thủ tục hủy quyết định trọng tài, trong đó tòa án không xem xét lại sự việc mà chỉ xem xét việc tuân thủ các điều kiện và thủ tục tố tụng. Phán quyết của trọng tài quốc tế hoặc nước ngoài muốn được thi hành tại một nước khác cũng phải được nước khác đó công nhận. Trong thủ tục công nhận này tòa án cũng không xem xét lại sự việc.

Trong hoạt động xuất khẩu, nhà xuất khẩu cũng có thể bị kiện bán phá giá (BPG) bởi các nhà sản xuất của các nước nhập khẩu. Vụ kiện BPG được giải quyết theo luật chống BPG của quốc gia nhập khẩu. Ở Việt Nam vụ kiện loại này được giải quyết theo Pháp lệnh chống BPG 2004. Tuy nhiên luật chống BPG của các thành viên WTO đều phải phù hợp với Hiệp định về chống BPG (ADP).

Giải quyết tranh chấp giữa nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài

Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước tiếp nhận đầu tư được giải quyết theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư đó và theo các công ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Ở Việt Nam, loại tranh chấp này được giải quyết thông qua tòa án, hoặc trọng tài nếu có sự thỏa thuận giữa đại diện cơ quan nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam đang cân nhắc việc tham gia Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài (ICSID). Khi tham gia công ước này, Nhà nước Việt Nam có thể bị nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện, nhưng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng có thể khởi kiện nhà nước này theo định chế trọng tài của công ước này.

Giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia

Loại tranh chấp này có thể pháp sinh do chính sách thương mại của một thành viên WTO vi phạm luật của tổ chức này và làm tổn hại đến lợi ích thương mại của thành viên khác. Tranh chấp giữa các thành viên cũng có thể phát sinh do việc một thành viên áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu trái với các quy định của Hiệp định về các biện pháp tự vệ (ASG), hoặc từ việc giải quyết vụ kiện chống BPG trái với quy định của WTO. Các tranh chấp loại này được giải quyết theo Hiệp định về giải quyết tranh chấp (DSU). Hậu quả tồi tệ nhất là bị bên khiếu nại áp dụng quyền trả đũa bằng cách rút lại nhượng bộ thương mại tương đương. Như vậy, các thành viên WTO, trong đó có Việt Nam, bị ràng buộc bởi các luật lệ của tổ chức này trong các chính sách thương mại cũng như trong giải quyết các vụ việc TMQT.

SOURCE: Báo Pháp luật Việt Nam, Chuyên đề số 2 tháng 12/2007

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TY NHÀ NƯỚC

Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ tư ngày 26-11-2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2004. Tại chương VI, Luật đã quy định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với công ty nhà nước và đối với vốn Nhà nước ở doanh nghiệp khác.

Chương này gồm ba mục, trong đó mục I quy định về chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu công ty nhà nước và vốn Nhà nước ở doanh nghiệp khác; Mục II quy định quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với công ty nhà nước; Mục III quy định quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu đối với vốn Nhà nước đầu tư ở doanh nghiệp khác.

So với Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, chương này có những điểm mới đáng chú ý là:

Thứ nhất, Luật năm 2003 sửa lại các quy định về phân công, phân cấp đại diện chủ sở hữu, quy định rõ hơn cơ chế phân công, phân cấp quyền chủ sở hữu. Theo đó, Nhà nước là chủ sở hữu và Chính phủ là cơ quan thống nhất tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu. Chính phủ phân công, phân cấp cho các tổ chức, cá nhân sau đây thực hiện:

Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu công ty nhà nước không có Hội đồng quản trị;

Bộ Tài chính thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu về quản lý tài chính;

Hội đồng quản trị là đại diện trực tiếp chủ sở hữu đối với công ty do mình đầu tư toàn bộ vốn điều lệ;

Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với công ty do mình đầu tư toàn bộ vốn điều lệ và đại diện chủ sở hữu phần vốn do mình đầu tư ở doanh nghiệp khác;

Công ty nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn của công ty đầu tư ở doanh nghiệp khác;

Ðối với công ty nhà nước đặc biệt quan trọng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho các bộ liên quan thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty này.

Thứ hai, chủ sở hữu chỉ quản lý về giá trị, không can thiệp vào tác nghiệp sản xuất kinh doanh của công ty, trả lại cho công ty các quyền chiếm hữu, sử dụng và một phần quyền định đoạt đối với vốn và tài sản. Một số cơ quan bộ, UBND cấp tỉnh được giao thực hiện quyền của chủ sở hữu; các cơ quan nhà nước khác chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Thứ ba, chủ sở hữu Nhà nước có các quyền:

Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty; quyết định cơ cấu tổ chức quản lý của công ty; tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ lương, thưởng của chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc công ty; phê duyệt nội dung, sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty.

Quyết định mục tiêu, chiến lược và định hướng kế hoạch phát triển công ty; quyết định các dự án đầu tư có giá trị hơn 30% tổng giá trị tài sản còn lại trên sổ kế toán của công ty nhà nước không có Hội đồng quản trị hoặc tỷ lệ nhỏ hơn được quy định tại điều lệ công ty; quyết định các dự án đầu tư có giá trị hơn 50% tổng giá trị tài sản còn lại trên sổ kế toán của công ty có Hội đồng quản trị hoặc tỷ lệ nhỏ hơn được quy định tại Ðiều lệ công ty; quyết định các hợp đồng vay, cho vay, thuê, cho thuê và hợp đồng kinh tế khác vượt quá mức vốn điều lệ của công ty; quy định chế độ giao kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu, mức giá bán, mức bù chênh lệch cho các công ty cung ứng các sản phẩm dịch vụ công ích.

Quyết định mức vốn, đầu tư ban đầu, mức vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ của công ty; quyết định dự án vay, cho vay có giá trị trên mức phân cấp cho Hội đồng quản trị và Giám đốc đối với công ty không có Hội đồng quản trị; quy định chế độ tài chính của công ty.

Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.

Thứ tư, Luật năm 2003 quy định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh:

Phải bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm của công ty; không can thiệp vào các công việc thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, Giám đốc và bộ máy quản lý của công ty;

Chịu trách nhiệm đầu tư đủ vốn điều lệ cho công ty;

Chịu trách nhiệm hành chính và vật chất về các quyết định của mình trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ được giao; liên đới chịu trách nhiệm và chịu các hình thức kỷ luật khi công ty không thực hiện đúng mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược, kế hoạch phát triển dài hạn đã quy định; để xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, thất thoát tài sản Nhà nước ở các công ty có vốn Nhà nước thuộc quyền quản lý; cán bộ quản lý công ty nhà nước do mình bổ nhiệm gây thiệt hại lớn đối với các công ty nhà nước; báo cáo không trung thực tình hình tài chính công ty; tiếp tục bổ nhiệm lại hoặc quyết định chuyển công tác sang vị trí tương đương hoặc cao hơn đối với các chức danh quản lý công ty nhà nước đã vi phạm quy định tới mức bị cách chức, miễn nhiệm.

Luật mới cũng quy định trách nhiệm của Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải tổ chức thực hiện chuyển giao quyền chủ sở hữu cho Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước; quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho chủ sở hữu đối với vốn Nhà nước đầu tư ở doanh nghiệp khác.

(Theo Nhandan.com.vn)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ VÀ NGHĨA VỤ NỘP THUẾ

Các bạn thân mến chúng tôi xin đăng tải ý kiến của đại biểu quốc hội Trần Văn Nam – Tỉnh Bình Dương – Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá 11 về Dự thảo Luật quản lý thuế (Luật hiện nay đã có hiệu lực) để các bạn tham khảo. Trong đó có những nội dung về nghĩa vụ thanh thanh tóan nợ thuế sau khi người có nghĩa vụ nộp thuế chết và nội dung liên quan đến nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm:

Kính thưa Quốc hội.
Dự thảo luật lần này tôi cảm nhận được rằng đã thấy sự hợp lý, rõ ràng và tính khả thi cao, nghiên cứu giải trình, tiếp thu chỉnh lý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cơ bản tôi nhất trí, tuy nhiên, còn vài vấn đề chung tôi thấy cần nói rõ thêm về chính kiến của mình. Đó là:
Vấn đề thứ nhất, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, vấn đề đặt ra ở đây là có thật sự cần thiết phải hình thành loại hình tổ chức này hay không. Thực chất, đây là hình thức trung gian thay mặt người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với cơ quan quản lý thuế. Nói cách khác, nó như hình thức đại diện theo uỷ quyền thông qua một hợp đồng giữa người nộp thuế và tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Tôi cho rằng việc hình thành loại hình này sẽ giúp người nộp thuế thuận tiện hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Việc thông qua tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đồng nghĩa với việc người nộp thuế phải mất một khoản chi phí cho tổ chức này. Nhưng các doanh nghiệp, cơ sở, sản xuất kinh doanh cũng sẽ tiết kiệm được việc không phải đầu tư quá nhiều cho bộ phận kế toán, tài vụ hoặc bố trí người cũng như mất thời gian để làm việc công này. Tuy nhiên, Nhà nước không thu trực tiếp từng người nộp thuế mà phải qua trung gian, liệu có tránh khỏi tình trạng thông đồng giữa người nộp thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ thuế với cơ quan quản lý thuế hay không?
Hiện nay, việc nộp thuế cũng có khá nhiều điều cần bàn, trong đó nổi lên tình trạng thông đồng giữa cán bộ thuế với người nộp thuế để được miễn giảm thuế. Do đó, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc đơn giản hóa các thủ tục về hồ sơ đăng ký thuế, tổ chức các địa điểm với các hình thức nộp thuế, hoàn thuế thuận lợi, công khai đối tượng nộp thuế, mức thuế. Kiểm tra, xử lý thật nghiêm tình trạng cán bộ thuế nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho người nộp thuế.
Bên cạnh đó, đề nghị Ban soạn thảo xem xét lại nội dung quy định tại Điểm đ Khoản 3, Điều 19 của Dự thảo: Nếu tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thực hiện không đúng quy định của pháp luật, thì người nộp thuế vẫn phải chịu trách nhiệm với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Vậy, tại sao, phải có một tổ chức trung gian để người nộp thuế phải chịu thêm chi phí cho tổ chức trung gian này, vừa lại phải chịu thêm trách nhiệm khi chính tổ chức này thực hiện không đúng quy định pháp luật về thuế. Rõ ràng, cần phải xem xét thật kỹ để bảo đảm tính hợp lý khi lập ra tổ chức trung gian này. Tôi đề nghị cần quy định thêm nghĩa vụ liên đới trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế đối với người nộp thuế, để khi tổ chức này thực hiện không đúng quy định của pháp luật về thuế.
Vấn đề thứ hai, điều tra thuế. Dự thảo lần này, sau khi đã được chỉnh lý, nhìn chung đã làm rõ hơn vấn đề điều tra thuế, một số quy định có liên quan đến việc tạm giữ tang vật, phương tiện của người nộp thuế, khám nơi cất dấu tang vật, phương tiện liên quan đến hành vi trốn thuế, chiến đoạt tiền thuế theo quy định, theo thủ tục hành chính, lắp đạt thiết bị giám sát tại trụ sơ kinh doanh của tổ chức, cá nhân đã bị thay thế bằng các quy định khác. Cụ thể việc điều tra thuế đã được giới hạn trong phạm vi đó là: cơ quan quản lý thuế thực hiện việc điều tra thuế đối với trường hợp người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân khác Điều 84. Theo tôi nếu chỉ vì việc trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân khác mà trao cho cơ quan quản lý thuế thêm thẩm quyền điều tra thuế là chưa thoả đáng, cho dù đó chỉ là điều tra hành chính, mặt khác các biện pháp áp dụng trong điều tra trốn thuế, gian lận thuế Điều 86 cũng không khác gì các biện pháp thực hiện trong việc điều tra, thanh tra thuế hiện nay.
Nếu cho rằng hoạt động thanh tra thuế hiện nay không thể thực hiện được nhiệm vụ này là do liên quan đến thành lập cùng lúc nhiều đoàn thanh tra, vì phát hiện nhiều đối tượng có liên quan. Theo tôi một khi thanh tra, kiểm tra mà phát hiện dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế có liên quan đến nhiều đối tượng thì cơ quan quản lý thuế chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra của công an ở nơi đấy điều tra, giải quyết vụ việc. Nếu lập luận rằng đây chỉ là điều tra hành chính thì mặt nào đó vẫn chưa thể phản ánh hết được cái đích cuối cùng của điều tra. Vì kết quả điều tra không chỉ là chỉ ra có sự gian lận thuế, trốn thuế hay không để truy thu, mà còn có thể xử lý về mặt hình sự, để đạt được kết quả này có thể phải liên quan đến hoạt động tố tụng của quá trình điều tra. Do đó việc trao cho cơ quan thuế thẩm quyền điều tra sẽ không khỏi phát sinh sự lạm quyền, lạm dụng điều tra để gây nhũng nhiễu, phiền hà cho doanh nghiệp. Vấn đề cốt lõi ở đây là đội ngũ cán bộ phụ thuộc vào khả năng, năng lực của cán bộ, với đội ngũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ cao và làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra thì không nhất thiết phải trao quyền điều tra cho cơ quan quản lý thuế.
Vấn đề thứ ba, Điều 11 Hội đồng tư vấn xã, phường, thị trấn. Tôi xin đề nghị bỏ điều này, vì hoạt động của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn trong thời gian qua có hoạt động nhưng không có hiệu quả cao, khả năng chuyên sâu về thuế của Hội đồng này hạn chế và không thể tư vấn được. Có thể nói chỉ mang tính thực hiện sự công bằng về thuế trên địa bàn, nhưng vấn đề này đã được giải quyết nếu như sự công khai rõ ràng, rộng rãi về đối tượng, về mức thuế. Việc tính thuế là do cán bộ thuế tính và công khai theo quy định của luật này. Ngoài ra, còn có sự theo dõi, kiểm tra, giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, của các tổ chức Mặt trận, của cơ quan thuế cấp trên. Như vậy, vai trò phải chịu trách nhiệm của cá nhân, của cán bộ thuế đã rõ ràng, cán bộ thuế chỉ thực hiện lập bộ thuế hàng năm theo quy định và ổn định thuế 6 tháng, 1 năm rồi giao cho Ủy ban xã, phường, thị trấn là cơ quan ủy nhiệm thu thực hiện.
Hơn nữa, theo quy định tại Khoản 2, Điều 10 dự thảo luật này, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm phối hợp cùng cơ quan quản lý thuế lập dự toán thu ngân sách và tổ chức thực hiện việc này trên địa bàn. Do đó, quy định theo Hội đồng tư vấn thuế, xã, phường, thị trấn được thành lập sẽ dẫn tới tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” Đề nghị Ban soạn thảo xem xét. Một số vấn đề cụ thể:
Điều 53 nghĩa vụ nộp thuế? Trong trường hợp giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động ở Khoản 3 nên sửa lại doanh nghiệp chấm dứt hoạt động chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì phần thuế còn nợ lại do chủ sở hữu doanh nghiệp chịu trách nhiệm nộp. Bỏ quy định do người điều hành phải chịu trách nhiệm này, vì có thể người điều hành là người làm thuê cho doanh nghiệp bị chấm dứt hoạt động.
Điều 54 nghĩa vụ nộp thuế? Trong trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp, trường hợp các doanh nghiệp bị chia, tách, hợp nhất, bị sáp nhập, bị chuyển đổi sở hữu quy định tại Khoản 1, 2, 3 nên quy định cụ thể các doanh nghiệp này phải hoàn tất nghĩa vụ nộp thuế trước khi thực hiện việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập. Chỉ chấp nhận việc nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp mới trong trường hợp đặc biệt. Riêng đối với doanh nghiệp chuyển đổi sở hữu thì việc hoàn tất nghĩa vụ là một điều bắt buộc. Quy định như trên nhằm loại trừ trường hợp các doanh nghiệp lợi dụng việc chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi sở hữu để né tránh, trì hoãn nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp mình đối với Nhà nước, gây thất thu cho ngân sách. Chúng ta đã có rất nhiều bài học trong thực tế về việc này.
Điều 55, nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân là người đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc người mất tích theo quy định của pháp luật dân sự. Đề nghị cần xác định rõ nguyên tắc, nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân, chấm dứt từ thời điểm người này chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hay mất tích theo quy định của pháp luật dân sự. Tức những người thừa kế hay quản lý tài sản thừa kế của họ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thay cho đối tượng này tính từ thời điểm người này chết, hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hay mất tích theo quy định của pháp luật dân sự trở về trước, chứ không phải những đối tượng này phải nộp thuế tính từ thời điểm tài sản được phân chia đối với người chết, hay tại thời điểm người quản lý tài sản đối với người mất năng lực hành vi dân sự, hay mất tích theo tuyên bố của Tòa án, nhận trách nhiệm quản lý tài sản. Nếu quy định như thế thì bảo đảm được quyền lợi hợp pháp không chỉ của người chết, người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hay mất tích mà còn bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khác, có liên quan đến quyền lợi của khối tài sản mà các đối tượng trên, cũng như tránh sự lạm thu của các cơ quan quản lý thuế đối với các trường hợp này.
Chương VII, thủ tục hoàn thuế quy định tại các Điều 56, 57, 58, 59 của Dự thảo luật là còn mang nặng tính hành chính và hình thức, chưa xây dựng được một quy trình kiểm tra của cơ quan quản lý thuế đối với hồ sơ hoàn thuế, nhằm bảo đảm loại trừ được những trường hợp lợi dụng hoàn thuế để chiếm đoạt tài sản Nhà nước mà trong thời gian qua đã xảy ra
.
Trên thực tế, thậm chí có những doanh nghiệp được thành lập chỉ nhằm một mục đích duy nhất là thực hiện việc mua, bán ảo với nhau để chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Nhà nước trong một thời gian rất dài mà cơ quan quản lý không phát hiện ra được. Do đó, cần đề nghị cụ thể việc quy định chi tiết hơn về quy trình kiểm tra, cơ quan phối hợp kiểm tra, nội dung, phương pháp kiềm tra v.v…đối với các doanh nghiệp có hồ sơ hoàn thuế trong chương này. Xin hết.”

SOURCE: VCCI.COM.VN