HOÃN, TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ và trả lại đơn yêu cầu thi hành án

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong quá trình thi hành án dân sự có thể gặp những trở ngại khách quan dẫn đến việc thi hành án chưa thể thực hiện được, tạm thời bị gián đoạn, không thể thi hành án tiếp được hoặc không thể thi hành án được. Vì vậy, cơ quan thi hành án phải ra các quyết định hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án, đình chỉ thi hành án hoặc trả lại đơn yêu cầu thi hành án. Qua nghiên cứu các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (PLTHADS) chúng tôi có một số ý kiến trao đổi về hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ và trả lại đơn yêu cầu thi hành án dân sự. Continue reading

HOÃN, TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ VÀ TRẢ LẠI ĐƠN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong quá trình thi hành án dân sự có thể gặp những trở ngại khách quan dẫn đến việc thi hành án chưa thể thực hiện được, tạm thời bị gián đoạn, không thể thi hành án tiếp được hoặc không thể thi hành án được. Vì vậy, cơ quan thi hành án phải ra các quyết định hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án, đình chỉ thi hành án hoặc trả lại đơn yêu cầu thi hành án. Qua nghiên cứu các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (PLTHADS) chúng tôi có một số ý kiến trao đổi về hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ và trả lại đơn yêu cầu thi hành án dân sự. Continue reading

Tranh tụng trong tố tụng dân sự – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Vừa qua, Nghị quyết 08 – NQ/ TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh định hướng mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định). Tuy nhiên, để có thể thực hiện được nhiệm vụ này thì việc hiểu như thế nào là tranh tụng, nội dung, ý nghĩa và vai trò của nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ về mặt lý luận và thực tiễn mà còn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta.

Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng. Loại tố tụng này được áp dụng tại Hy lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục.

Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định và đến nay nó được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ.

ở Việt nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây:

Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay.

Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải.

Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Sự tranh tụng phát sinh ra hai mối tương quan: giữa các đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự và Quốc gia, mà đại diện là Tòa án có thẩm quyền.

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Sự tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử cho đến khi có một phán quyết của Tòa án.

Xem xét những quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy: Nếu tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác, bởi vì các đương sự chỉ khởi kiện ra Tòa án khi các đương sự không thể tự giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp của mình, họ cần đến Tòa án như là người “trọng tài” đứng ra phân xử, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Như vậy, tranh tụng không chỉ là mối tương quan giữa các đương sự mà còn bao hàm cả mối quan hệ giữa Tòa án và các đương sự. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm tranh tụng phát sinh hai mối quan hệ giữa các đương sự với nhau và giữa đương sự với Tòa án như quan điểm thứ hai thì mới chỉ nói đến sự liên hệ tranh tụng mà chưa nói lên được bản chất của tranh tụng là gì?. Còn nếu quan niệm tranh tụng như quan điểm thứ ba thì chưa hoàn chỉnh bởi vì ở đây mới chỉ đề cập đến tranh tụng là một quá trình từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra được một bản án, quyết định mà chưa nói lên được các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng đó được phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm mục đích gì?

Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về vụ án một cách trung thực, khách quan, toàn diện. Vì vậy, việc xác định sự thật khách quan về vụ án về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến chân lý khách quan của vụ án. Tất cả các hoạt động như cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên…trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, khởi tố, thu thập chứng cứ, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ kiện bị Tòa án cấp trên huỷ để tiến hành xét xử lại.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm khi có sự tham gia tranh luận của các bên đương sự.

Từ cách hiểu như vậy, để đảm bảo sự sự nhận thức đúng đắn và thống nhất về khái niệm tranh tụng, thì chúng ta cần phải làm sáng tỏ các đặc điểm của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng tại phiên tòa.

Với cách hiểu nghĩa rộng, quá trình tranh tụng trong tố tụng dân sự có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án không có nghĩa vụ điều tra

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, vì vậy, họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị đơn liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì nếu Tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì sẽ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời không phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các đương sự.

٭ Các hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định

Pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nói chung và các chủ thể tham gia tố tụng dân sự nói riêng là hai mặt không thể tách rời của một quy trình tố tụng. Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý của hoạt động tố tụng dân sự, vì vậy khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định. Việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích để cho việc điều hành công lý được phân minh, có hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai, trực tiếp và bằng lời nói.

Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Việc các bên đương sự trực tiếp trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giả quyết vụ án. Những chứng cứ, tài liệu nào đó nếu không được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều không được dùng làm căn cứ cho quyết định của Tòa án.

٭ Các chủ thể tham gia tranh tụng được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Để có thể phán quyết một bản án công minh, làm sáng tỏ được các tình tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước Hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án.

٭ Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng.

Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dân sự đòi hỏi Tòa án phải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả hai bên. Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa vai trò chủ động thuộc về các luật sư là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra nhân chứng, quyết định tiến trình và nhịp độ phiên tòa. Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Tòa án có quyền thẩm vấn các bên hoặc các nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lời trình bày của họ.

Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng dân sự có thể đi đến kết luận: Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, theo đó các chủ thể tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Xuất phát từ lý luận trên cho thấy tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quyền con người. Thông qua quá trình tranh tụng giúp Tòa án hiểu rõ yêu cầu của các đương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách quan của vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quyết các yêu cầu của đương sự, xác lập lại cho đúng các quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc những quan hệ mà pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra, xác định đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở của tranh tụng trong tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng dân sự đồng thời bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng quyền bình đẳng tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và các đương sự nói riêng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Tranh tụng trong tố tụng dân sự còn là một bảo đảm cơ bản cho một nền công lý trong sạch, trung thực và công bằng…, do đó tranh tụng không chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình đẳng, công bằng về thực tế của các cá nhân, tổ chức đó.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự để các bạn đồng nghiệp tham khảo và cùng trao đổi.


Nghị quyết 08 – NQ/TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Nhà pháp luật Việt – Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr. 2.

Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá- thông tin, Hà Nội, tr. 1686.

Thiều Chửu (1993), Hán- Việt tự điển, NXB TPHCM, tr. 621.

Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật TTDS Việt Nam, NXB Khai trí, tr. 367, 368.

Nguyễn Mạnh Bách (1996), Luật tố tụng dân sự Việt Nam giải lược, NXB Đồng Nai, tr. 63.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22Nguy%E1%BB%85n+Th%E1%BB%8B+Thu+H%C3%A0%22

TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀKhoa luật dân sự  – Đại học Luật Hà Nội

Vừa qua, Nghị quyết 08 – NQ/ TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh định hướng mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định). Tuy nhiên, để có thể thực hiện được nhiệm vụ này thì việc hiểu như thế nào là tranh tụng, nội dung, ý nghĩa và vai trò của nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ về mặt lý luận và thực tiễn mà còn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta.

Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng. Loại tố tụng này được áp dụng tại Hy lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục.

Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định và đến nay nó được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ.

ở Việt nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây:

Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay.

Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải.

Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Sự tranh tụng phát sinh ra hai mối tương quan: giữa các đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự và Quốc gia, mà đại diện là Tòa án có thẩm quyền.

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Sự tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử cho đến khi có một phán quyết của Tòa án.

Xem xét những quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy: Nếu tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác, bởi vì các đương sự chỉ khởi kiện ra Tòa án khi các đương sự không thể tự giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp của mình, họ cần đến Tòa án như là người “trọng tài” đứng ra phân xử, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Như vậy, tranh tụng không chỉ là mối tương quan giữa các đương sự mà còn bao hàm cả mối quan hệ giữa Tòa án và các đương sự. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm tranh tụng phát sinh hai mối quan hệ giữa các đương sự với nhau và giữa đương sự với Tòa án như quan điểm thứ hai thì mới chỉ nói đến sự liên hệ tranh tụng mà chưa nói lên được bản chất của tranh tụng là gì?. Còn nếu quan niệm tranh tụng như quan điểm thứ ba thì chưa hoàn chỉnh bởi vì ở đây mới chỉ đề cập đến tranh tụng là một quá trình từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra được một bản án, quyết định mà chưa nói lên được các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng đó được phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm mục đích gì?

Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về vụ án một cách trung thực, khách quan, toàn diện. Vì vậy, việc xác định sự thật khách quan về vụ án về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến chân lý khách quan của vụ án. Tất cả các hoạt động như cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên…trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, khởi tố, thu thập chứng cứ, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ kiện bị Tòa án cấp trên huỷ để tiến hành xét xử lại.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm khi có sự tham gia tranh luận của các bên đương sự.

Từ cách hiểu như vậy, để đảm bảo sự sự nhận thức đúng đắn và thống nhất về khái niệm tranh tụng, thì chúng ta cần phải làm sáng tỏ các đặc điểm của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng tại phiên tòa.

Với cách hiểu nghĩa rộng, quá trình tranh tụng trong tố tụng dân sự có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án không có nghĩa vụ điều tra

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, vì vậy, họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị đơn liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì nếu Tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì sẽ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời không phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các đương sự.

٭ Các hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định

Pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nói chung và các chủ thể tham gia tố tụng dân sự nói riêng là hai mặt không thể tách rời của một quy trình tố tụng. Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý của hoạt động tố tụng dân sự, vì vậy khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định. Việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích để cho việc điều hành công lý được phân minh, có hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai, trực tiếp và bằng lời nói.

Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Việc các bên đương sự trực tiếp trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giả quyết vụ án. Những chứng cứ, tài liệu nào đó nếu không được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều không được dùng làm căn cứ cho quyết định của Tòa án.

٭ Các chủ thể tham gia tranh tụng được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Để có thể phán quyết một bản án công minh, làm sáng tỏ được các tình tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước Hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án.

٭ Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng.

Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dân sự đòi hỏi Tòa án phải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả hai bên. Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa vai trò chủ động thuộc về các luật sư là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra nhân chứng, quyết định tiến trình và nhịp độ phiên tòa. Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Tòa án có quyền thẩm vấn các bên hoặc các nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lời trình bày của họ.

Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng dân sự có thể đi đến kết luận: Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, theo đó các chủ thể tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Xuất phát từ lý luận trên cho thấy tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quyền con người. Thông qua quá trình tranh tụng giúp Tòa án hiểu rõ yêu cầu của các đương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách quan của vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quyết các yêu cầu của đương sự, xác lập lại cho đúng các quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc những quan hệ mà pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra, xác định đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở của tranh tụng trong tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng dân sự đồng thời bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng quyền bình đẳng tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và các đương sự nói riêng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Tranh tụng trong tố tụng dân sự còn là một bảo đảm cơ bản cho một nền công lý trong sạch, trung thực và công bằng…, do đó tranh tụng không chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình đẳng, công bằng về thực tế của các cá nhân, tổ chức đó.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự để các bạn đồng nghiệp tham khảo và cùng trao đổi.


Nghị quyết 08 – NQ/TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Nhà pháp luật Việt – Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr. 2.

Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá- thông tin, Hà Nội, tr. 1686.

Thiều Chửu (1993), Hán- Việt tự điển, NXB TPHCM, tr. 621.

Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật TTDS Việt Nam, NXB Khai trí, tr. 367, 368.

Nguyễn Mạnh Bách (1996), Luật tố tụng dân sự Việt Nam giải lược, NXB Đồng Nai, tr. 63.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22Nguy%E1%BB%85n+Th%E1%BB%8B+Thu+H%C3%A0%22

XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN taij phiên toà dân sự sơ thẩm

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

ở phiên tòa, Hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án.

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm tuân theo một trình tự nhất định bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.

Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Theo quy định tại Điều 50 PLTTGQCVADS, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: “1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng;

2. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, rồi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm”.

Thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại Điều 51 PLTTGQCVADS được thực hiện như sau: “1. Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Nếu thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm sát viên trình bày ý kiến về hướng giải quyết vụ án.

2. Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.

Như vậy, theo quy định của các Điều luật đó thì thủ tục xét hỏi khác với thủ tục tranh luận. ở thủ tục xét hỏi Hội đồng xét xử đặt câu hỏi và nghe những người tham gia tố tụng trả lời, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án. ở thủ tục tranh luận đương sự, những người tham gia tố tụng được đưa ra ý kiến về chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thông qua xét hỏi Hội đồng xét xử thẩm tra các chứng cứ, tài liệu của vụ án, làm rõ thêm các tình tiết của vụ án. Thông qua tranh luận Hội đồng xét xử nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự , quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Với những quy định về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm chúng ta có thể thấy đây là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của Thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa thẩm phán giữ vai trò chủ động, tích cực. Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa được tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Vai trò tích cực và chủ động của Thẩm phán còn được thể hiện ở việc tham gia vào quá trình xét xử tại phiên tòa như: yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ, xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án… Còn các đương sự không có quyền xét hỏi mà có chỉ quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm, được trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa như trên là chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào Tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai Hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì Hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Mặt khác, việc Tòa án chủ động thu thập chứng cứ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Ngoài ra, trên thực tế hiện nay, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên tòa không được tiến hành hoặc được tiến hành rất đại khái, có nhiều trường hợp “chủ tọa phiên tòa để cho đương sự tranh luận trong quá trình thẩm vấn. “Tòa xét hỏi trước khi xét xử, Thẩm phán báo cáo… án, việc xét xử có chủ định, bàn bạc từ trước. Vì vậy phiên tòa không khách quan, không có việc tranh tụng thực tế mà việc đó diễn ra một cách hình thức và “một số Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa coi phiên tòa chỉ là một hình thức để hợp pháp hoá một bản án đã quyết định trưóc rồi, quyết định của tập thể Thẩm phán ở tại, của cấp uỷ hoặc của Tòa án cấp trên. Bên cạnh đó, Tòa án chưa thực sự tôn trọng, “chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư đọc hồ sơ vụ kiện; việc triệu tập phiên tòa quá gấp làm luật sư không kịp bố trí thời gian để thực hiện các quyền và nghiã vụ của mình trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa” và cũng không ít trường hợp “Hội đồng xét xử chưa tôn trọng, lắng nghe ý kiến của luật sư, cá biệt còn tư tưởng coi thường vai trò của luật sư tại phiên tòa, làm phiên tòa thiếu dân chủ

Do đó đã đến lúc trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa được quy định lại theo hướng bảo đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình trong tố tụng dân sự. Để đạt được mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của vụ án: “Tòa án sẽ thực sự đóng vai trò trọng tài nếu không phải tự đi thu thập chứng cứ mà chỉ xem xét, đánh giá chứng cứ do các đương sự cung cấp. Điều này có nghĩa là nếu đương sự (hoặc tự mình hoặc có luật sư giúp đỡ) không xuất trình được chứng cứ cho Tòa án thì yêu cầu của họ sẽ bị bác bỏ.

Vì vậy, để thực hiện đúng định hướng như Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đề ra: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”, nên bỏ thủ tục xét hỏi, các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn Tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau:

Sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

¨ Dưới sự hướng dẫn của Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày công khai tại phiên tòa nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của mình. Tiếp đó, các đương sự, những người tham gia tố tụng khác (người đại diện hoặc luật sư của họ) trình bày các yêu cầu cụ thể của mình.

¨ Để chứng minh cho các yêu cầu của mình nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày trước Tòa án ý kiến của họ và xuất trình, chứng minh sự việc bằng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lý lẽ, viện dẫn các quy định của pháp luật. (Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì đại diện Viện kiểm sát, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý).

¨ Bị đơn, người đại diện của bị đơn hoặc luật sư của bị đơn cũng đưa ra các quan điểm cùng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), các căn cứ pháp lý trên cơ sở đó đưa ra lập luận, lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác lại quan điểm, lập luận của phía nguyên đơn.

¨ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hoặc luật sư của họ cũng dựa vào chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với những người làm chứng khi khai báo tại tòa có thể bị chất vấn bởi đương sự, người đại diện của đương sự hoặc luật sư của đương sự phía bên kia.

Trong quá trình tranh luận giữa những người tham gia tố tụng, nếu có điểm nào chưa rõ thì Hội đồng xét xử có quyền hỏi thêm. Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự không đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thì họ có quyền đối đáp lại.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về các quy định của PLTTGQCVADS về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Mong rằng các ý kiến này được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu và tham khảo trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự.


(1) Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Xem: Lương Duy, “Thực tiễn tiến hành phiên tòa dân sự và một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ pháp luật số 7/1998, tr. 10

Xem: Lạc Thảo, “án tại hồ sơ – Quan niệm không còn phù hợp”, Báo pháp luật ngày 12/3/2002, tr. 3

5) Xem: Nguyễn Thành Vĩnh, Luật sư với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, NXB Pháp lý năm 1990, tr. 81.

Nguyễn quang Lộc (2002), “Luật sư dưới góc nhìn của Thẩm phán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (số2/2002), tr. 27.

Xem: Thu Tâm, “Để luật sư có vai trò đích thực”, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/4/2002, tr. 7.

) Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH (RẤT MONG ĐƠN VỊ PHÁT HÀNH VÀ TÁC GIẢ THÔNG CẢM)

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+THU+H%C3%80%22

XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

ở phiên tòa, Hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án.

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm tuân theo một trình tự nhất định bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.

Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Theo quy định tại Điều 50 PLTTGQCVADS, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: “1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng;

2. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, rồi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm”.

Thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại Điều 51 PLTTGQCVADS được thực hiện như sau: “1. Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Nếu thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm sát viên trình bày ý kiến về hướng giải quyết vụ án.

2. Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.

Như vậy, theo quy định của các Điều luật đó thì thủ tục xét hỏi khác với thủ tục tranh luận. ở thủ tục xét hỏi Hội đồng xét xử đặt câu hỏi và nghe những người tham gia tố tụng trả lời, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án. ở thủ tục tranh luận đương sự, những người tham gia tố tụng được đưa ra ý kiến về chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thông qua xét hỏi Hội đồng xét xử thẩm tra các chứng cứ, tài liệu của vụ án, làm rõ thêm các tình tiết của vụ án. Thông qua tranh luận Hội đồng xét xử nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự , quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Với những quy định về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm chúng ta có thể thấy đây là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của Thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa thẩm phán giữ vai trò chủ động, tích cực. Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa được tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Vai trò tích cực và chủ động của Thẩm phán còn được thể hiện ở việc tham gia vào quá trình xét xử tại phiên tòa như: yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ, xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án… Còn các đương sự không có quyền xét hỏi mà có chỉ quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm, được trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa như trên là chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào Tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai Hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì Hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Mặt khác, việc Tòa án chủ động thu thập chứng cứ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Ngoài ra, trên thực tế hiện nay, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên tòa không được tiến hành hoặc được tiến hành rất đại khái, có nhiều trường hợp “chủ tọa phiên tòa để cho đương sự tranh luận trong quá trình thẩm vấn. “Tòa xét hỏi trước khi xét xử, Thẩm phán báo cáo… án, việc xét xử có chủ định, bàn bạc từ trước. Vì vậy phiên tòa không khách quan, không có việc tranh tụng thực tế mà việc đó diễn ra một cách hình thức và “một số Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa coi phiên tòa chỉ là một hình thức để hợp pháp hoá một bản án đã quyết định trưóc rồi, quyết định của tập thể Thẩm phán ở tại, của cấp uỷ hoặc của Tòa án cấp trên. Bên cạnh đó, Tòa án chưa thực sự tôn trọng, “chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư đọc hồ sơ vụ kiện; việc triệu tập phiên tòa quá gấp làm luật sư không kịp bố trí thời gian để thực hiện các quyền và nghiã vụ của mình trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa” và cũng không ít trường hợp “Hội đồng xét xử chưa tôn trọng, lắng nghe ý kiến của luật sư, cá biệt còn tư tưởng coi thường vai trò của luật sư tại phiên tòa, làm phiên tòa thiếu dân chủ

Do đó đã đến lúc trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa được quy định lại theo hướng bảo đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình trong tố tụng dân sự. Để đạt được mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của vụ án: “Tòa án sẽ thực sự đóng vai trò trọng tài nếu không phải tự đi thu thập chứng cứ mà chỉ xem xét, đánh giá chứng cứ do các đương sự cung cấp. Điều này có nghĩa là nếu đương sự (hoặc tự mình hoặc có luật sư giúp đỡ) không xuất trình được chứng cứ cho Tòa án thì yêu cầu của họ sẽ bị bác bỏ.

Vì vậy, để thực hiện đúng định hướng như Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đề ra: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”, nên bỏ thủ tục xét hỏi, các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn Tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau:

Sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

¨ Dưới sự hướng dẫn của Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày công khai tại phiên tòa nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của mình. Tiếp đó, các đương sự, những người tham gia tố tụng khác (người đại diện hoặc luật sư của họ) trình bày các yêu cầu cụ thể của mình.

¨ Để chứng minh cho các yêu cầu của mình nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày trước Tòa án ý kiến của họ và xuất trình, chứng minh sự việc bằng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lý lẽ, viện dẫn các quy định của pháp luật. (Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì đại diện Viện kiểm sát, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý).

¨ Bị đơn, người đại diện của bị đơn hoặc luật sư của bị đơn cũng đưa ra các quan điểm cùng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), các căn cứ pháp lý trên cơ sở đó đưa ra lập luận, lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác lại quan điểm, lập luận của phía nguyên đơn.

¨ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hoặc luật sư của họ cũng dựa vào chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với những người làm chứng khi khai báo tại tòa có thể bị chất vấn bởi đương sự, người đại diện của đương sự hoặc luật sư của đương sự phía bên kia.

Trong quá trình tranh luận giữa những người tham gia tố tụng, nếu có điểm nào chưa rõ thì Hội đồng xét xử có quyền hỏi thêm. Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự không đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thì họ có quyền đối đáp lại.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về các quy định của PLTTGQCVADS về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Mong rằng các ý kiến này được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu và tham khảo trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự.


(1) Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Xem: Lương Duy, “Thực tiễn tiến hành phiên tòa dân sự và một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ pháp luật số 7/1998, tr. 10

Xem: Lạc Thảo, “án tại hồ sơ – Quan niệm không còn phù hợp”, Báo pháp luật ngày 12/3/2002, tr. 3

5) Xem: Nguyễn Thành Vĩnh, Luật sư với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, NXB Pháp lý năm 1990, tr. 81.

Nguyễn quang Lộc (2002), “Luật sư dưới góc nhìn của Thẩm phán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (số2/2002), tr. 27.

Xem: Thu Tâm, “Để luật sư có vai trò đích thực”, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/4/2002, tr. 7.

) Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH (RẤT MONG ĐƠN VỊ PHÁT HÀNH VÀ TÁC GIẢ THÔNG CẢM)

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+THU+H%C3%80%22

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ phiên toà dân sự sơ thẩm

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ Khoa luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên toà sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên toà sơ thẩm, toà án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước toà án. ở phiên toà, hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên toà, hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án. Hiện nay, xét xử tại phiên toà sơ thẩm được quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn vận dụng các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự cho thấy có nhiều vấn đề nảy sinh mà pháp luật chưa có quy định hoặc có quy định nhưng thiếu cụ thể, không phù hợp với thực tiễn dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hoàn thiện của pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình Nhà nước ta đã cho xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự. Nghiên cứu các quy định về phiên tòa sơ thẩm trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chúng tôi thấy vẫn còn một số quy định chưa hợp lý, chưa khắc phục được những thiếu sót của phiên toà sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự hiện nay.

1. Về sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện kiểm sát nhân dân

Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: ”1. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp có nhiệm vụ tham gia phiên toà xét xử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố. Đối với những vụ án khác, kiểm sát viên có thể tham gia phiên toà, nếu xét thấy cần thiết…“.

Tuy nhiên trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có ý kiến cho rằng viện kiểm sát cần phải tham gia tất cả các phiên toà và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án vì theo Khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát thì viện kiểm sát tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, việc viện kiểm sát tham gia phiên toà là để thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Do đó, cần quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự tinh thần này của Luật tổ chức Viện kiểm sát.

Quan điểm khác cho rằng theo quy định tại Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì:”Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án “. Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động xét xử của toà án bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không bắt buộc phải tham gia tất cả các phiên toà xét xử các vụ án. Mặt khác khi viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa thì toà án nhân dân bắt buộc phải chuyển tất cả hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm và như vậy ảnh hưởng đến thời gian giải quyết vụ án. Do đó quy định như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hợp lý và phù hợp với thực tế.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố vụ án thì theo quy định tại Điều 166 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự viện kiểm sát phải có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của bên đương sự mà viện kiểm sát đứng ra bảo vệ đồng thời viện kiểm sát phải đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia đưa ra. Để có thể làm được điều đó thì khi xét xử tại phiên toà viện kiểm sát phải tham gia tố tụng. Còn trong trường hợp viện kiểm sát không khởi tố vụ án thì viện kiểm sát đứng về phía ai, nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nếu họ không đứng về phía đương sự nào mà chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng để kiểm sát hoạt động xét xử của toà án thì không cần thiết phải tham gia phiên toà. Và trên thực tế “Tỷ lệ kiểm sát viên tham gia phiên toà hiện nay là khá cao nhưng tỷ lệ án bị huỷ và cải sửa vẫn rất lớn. Nhiều sai sót về thủ tục, về hồ sơ nhưng kiểm sát viên vẫn không phát hiện được mặc dù đã kiểm sát hồ sơ và tham gia phiên toà. Điều đó cho thấy việc tham gia phiên tòa chỉ là hình thức. Vì vậy viện kiểm sát chỉ bắt buộc tham gia phiên tòa xét xử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố để bảo đảm chất lượng tham gia phiên toà cũng như bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, kịp thời.

Nếu chúng ta tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài thì thấy rất ít nước trong Bộ luật tố tụng dân sự quy định về sự tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm của viện kiểm sát và nếu có thì cũng chỉ trong một số trường hợp nhất định ví dụ Điều 431 Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp quy định:”Viện công tố chỉ phải dự phiên toà trong những trường hợp Viện công tố với tư cách các bên đương sự chính tham gia tố tụng hoặc đại diện cho người khác hoặc khi pháp luật quy định Viện công tố phải có mặt tại phiên toà“.

Vì vậy chúng tôi cho rằng quy định về sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện kiểm sát như trong Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hoàn toàn hợp lý.

2. Về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà

1. Điều 223 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thứ tự xét hỏi, Điều 224, Điều 225, Điều 226, Điều 227 và Điều 231 Dự thảo quy định về việc hỏi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định.

Việc quy định về thủ tục xét hỏi như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự vẫn là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa hội đồng xét xử vẫn giữ vai trò chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định…. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa như trên là chưa hợp lý, chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Ngoài ra, việc quy định như vậy không phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp đã được quán triệt trong Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đó là: “Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”

Do đó chúng tôi cho rằng trong Bộ luật tố tụng dân sự cần bỏ thủ tục xét hỏi. Khi xét xử các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau: sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, hội đồng xét xử cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

2. Hiện nay tranh luận tại phiên tòa trong Dự thảo cũng mới chỉ đề cập đến trình tự phát biểu khi tranh luận, phát biểu khi tranh luận và đối đáp, phát biểu của viện kiểm sát và trở lại việc xét hỏi mà chưa đề cập đến những người có quyền tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, cơ sở của việc tranh luận trong khi đó đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng để ra những bản án, quyết định có căn cứ và hợp pháp.

· Về những người tham gia tranh luận:

Các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội, theo đó các chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Trong trường hợp có tranh chấp hoặc vi phạm xẩy ra thì họ cũng có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp. Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình phải thuộc về các đương sự. Hơn nữa, các vụ kiện dân sự chủ yếu phát sinh là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự. Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thoả mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa những người tham gia tranh luận, giữ vai trò chủ động và tích cực trong quá trình tranh luận chính là các bên đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Đối với những vụ án do viện kiểm sát khởi tố hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì mặc dù viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội là người đưa ra yêu cầu khởi kiện, khởi tố nên để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, khởi tố của mình là có căn cứ và hợp pháp thì viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội phải có quyền tranh luận. Trong quá trình tranh luận, thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh luận, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh luận giữa hai bên, hướng quá trình tranh luận vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Như vậy, chúng tôi cho rằng cần bổ sung thêm điều luật quy định về những người có quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa đó là: Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có quyền tranh luận.

· Về phạm vi tranh luận:

Khi tiến hành tranh luận thì vấn đề cơ bản là phải xác định chính xác nội dung những vấn đề các đương sự tranh luận tại phiên tòa hay nói cách khác là phải xác định phạm vi tranh luận.

Theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 57 Dự thảo thì đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, được biết và ghi chép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập. Do đó đương sự người có nghĩa vụ phải trả lời các yêu cầu tự nhận thấy yêu cầu, các chứng cứ mà đương sự phía bên kia đưa ra là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở và họ thừa nhận những chứng cứ, những yêu cầu đó. Việc thừa nhận này sẽ giải phóng cho đương sự phía bên kia khỏi nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên có những yêu cầu mà các bên hoặc một bên đương sự không chấp nhận và những thông tin, tài liệu mà các bên không đồng ý là chứng cứ hoặc một bên không đồng ý là chứng cứ. Khi phiên tòa diễn ra, sau khi các đương sự trình bày xong các yêu cầu, đề nghị và đã xuất trình đầy đủ chứng cứ thì phiên tòa chỉ tập trung vào những vấn đề các bên hoặc một bên từ chối không công nhận, còn những vấn đề các bên không từ chối thì coi như là đã được giải quyết và những chứng cứ nào các bên đã thừa nhận thì cũng không tranh luận nữa. Như vậy Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần bổ sung thêm điều luật quy định về phạm vi tranh luận đó là: Những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận về những vấn đề mà các bên đương sự còn mâu thẫn và có những chứng cứ chứng minh không thống nhất.

· Về cơ sở của việc tranh luận:

Trong tố tụng dân sự đương sự có trách nhiệm chứng minh, có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu, phẩn yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng đương sự phía bên kia phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Để thực hiện trách nhiệm chứng minh các đương sự phải tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình như chứng cứ viết, đề xuất để tòa án triệu tập những người làm chứng cần thiết, các vật chứng… và cung cấp các chứng cứ đó cho tòa án và thông báo cho bên kia biết những chứng cứ đó. Đồng thời với việc xuất trình các chứng cứ cho tòa án thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ để chứng minh rằng yêu cầu của mình hoặc để phản đối yêu cầu của đối phương là có căn cứ, hợp pháp. Với việc tranh luận này của các đương sự, hội đồng xét xử sẽ nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật. Như vậy, cần bổ sung thêm điều luật quy định về cơ sở của việc tranh luận đó là: Khi tiến hành tranh luận thì đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự lần lượt trình bày trước hội đồng xét xử ý kiến của họ về các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lập luận về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp vụ án do viện kiểm sát khởi tố, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý.

Như vậy tranh luận tại phiên tòa trong Dự thảo cần quy định cụ thể về: những người tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, trình tự tranh luận, cơ sở của việc tranh luận, phát biểu của kiểm sát viên và quay trở lại việc xem xét chứng cứ.

3. Về phát biểu của kiểm sát viên

Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Sau khi những người tham tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ toạ phiên toà đề nghị kiểm sát viên phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án

Theo quy định này thì kiểm sát viên vẫn là người phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án sau cùng trước khi hội đồng xét xử tuyên bố nghỉ vào nghị án. Đây là điểm hoàn toàn khác so với phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự. ở phiên tòa dân sự sơ thẩm, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự không tranh luận với viện kiểm sát mà viện kiểm sát là người cuối cùng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án để hội đồng xét xử xem xét và quyết định. Sau khi đại diện viện kiểm sát trình bày kết luận của mình thì những người tham gia tranh luận không phát biểu gì thêm. Còn ở phiên tòa hình sự theo Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự thì bắt đầu vào phần tranh luận, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn, sau đó mới đến bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa và những người tham gia tố tụng khác phát biểu ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác có quyền tranh luận, đối đáp với Viện kiểm sát về những điểm mình không đồng ý.

Về vấn đề này chúng tôi cho rằng trong tố tụng dân sự luôn luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đương sự là người có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng theo qui định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì viện kiểm sát là người đưa ra hướng giải quyết vụ án, mà một khi đã đưa ra hướng giải quyết vụ án thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ làm cơ sở cho việc đề xuất hướng giải quyết vụ án. Những đề xuất đó có thể có lợi cho phía đương sự này hoặc phía đương sự kia và ít nhiều có tác động đến hội đồng xét xử. “Thực tiễn cũng đã cho thấy không phải kết luận nào của viện kiểm sát cũng là chân lý mà đôi khi có trường hợp vô tình làm một bên hưởng lợi không đúng luật

Do đó, cần phải để cho các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền đáp lại ý kiến của viện kiểm sát về những vấn đề mà họ không đồng ý, có như vậy mới giúp hội đồng xét xử có được đầy đủ ý kiến tranh luận của các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra bản án, quyết định đúng đắn và chính xác nhất. Và như vậy, Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định như sau: “Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của đương sự không đồng ý với ý kiến của kiểm sát viên thì họ có quyền đối đáp lại“.

4. Thời gian nghị án

Điều 239 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài, thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không được quá năm ngày làm việc…

Bản án là kết quả cụ thể của toàn bộ quá trình điều tra, xét xử một vụ án. Nó xác định sự thật khách quan, rút ra những kết luận về những vấn đề liên quan đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, lợi ích của con người, của tập thể, của Nhà nước và những vấn đề liên quan đến toàn xã hội. Do đó thẩm phán phải mất rất nhiều thời gian để trình bày nội dung, phân tích, đánh giá các chứng cứ, các tình tiết của vụ án, việc vận dụng pháp luật làm căn cứ để xác định sự việc, chứng minh cho những kết luận, những vấn đề cần phải giải đáp trong vụ án, làm cơ sở cho việc ra phán quyết. Vì vậy, trong một thời gian ngắn thì hội đồng xét xử không thể làm được tất cả những việc đó cho nên trên thực tế hầu như đối với việc xét xử các vụ án dân sự bản án đều được viết sẵn. Về mặt lý luận, bản án được chuẩn bị trước khi nghị án là không đúng và khi bản án đã được viết trước như vậy thì quá trình tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa, việc tham gia tố tụng của các luật sư để bảo vệ quyền lợi cho đương sự cũng bị hạn chế…bởi vì các thành viên của hội đồng xét xử đã định hình sẵn phương hướng giải quyết vụ án trước khi giai đoạn xét xử được diễn ra, việc giải quyết vụ án đã được quyết định trước bởi một tập thể thẩm phán rồi.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng thời gian nghị án không chỉ áp dụng đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp mà thời gian nghị án này phải được áp dụng đối với tất cả các vụ án ngay cả đối với những vụ án có thể nghị án ngay được thì cũng không nên tuyên án ngay vì hội đồng xét xử cần có đủ thời gian cần thiết để bàn bạc, thảo luận về các vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra được bản án, quyết định đúng đắn, chính xác và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các đương sự.

Nếu chúng ta tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài thì thấy các nước trong Bộ luật tố tụng dân sự đều có quy định về thời hạn nghị án và thời hạn này được áp dụng cho tất cả các vụ án ví dụ như Bộ luật tố tụng dân sự Đài loan qui định “bản án phải được tuyên công khai trong vòng năm ngày sau khi kết thức thủ tục thẩm vấn, tranh luận. Bản án phải được hoàn thiện và chuyển cho thư kí trong vòng năm ngày sau ngày tuyên án(6) hoặc pháp luật tố tụng dân sự của Thái lan qui định: “Khi việc xem xét thẩm vấn đã kết thúc, Tòa án ấn định và công bố ngày tuyên án. Việc tuyên án phải được tiến hành tại phiên tòa có đầy đủ thành phần Hội đồng xét xử và công khai, có mặt tất cả các bên. Nếu tất cả các bên đều không có mặt tại ngày tuyên án thì Tòa án có thể không cần tuyên án và được coi rằng bản án đã tuyên theo pháp luật”(7)

Do đó, Điều 239 cần quy định như sau: “Sau khi kết thúc phần tranh luận, chủ tọa phiên tòa tuyên bố và quyết định thời gian nghị án nhưng không được quá năm ngày làm việc…”.


Xem: TS Trần Văn Trung, “Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự”, Tài liệu toạ đàm Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, Câu lạc bộ luật gia Việt – Đức và văn phòng Viện Konard Adenauer, 11/2003.

Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

Xem: Khánh Tuệ, Văn Vũ (2002), “Nâng cao chất lượng xét xử”, Báo pháp luật chủ nhật, số 83/2002.

(6) Xem: Kỷ yếu dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, NXB văn hóa dân tộc TANDTC, Hà Nội, tr.129.

(7)Xem: Kỷ yếu dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, NXB văn hóa dân tộc TANDTC, Hà Nội, tr.57.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên toà sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên toà sơ thẩm, toà án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước toà án. ở phiên toà, hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên toà, hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án. Hiện nay, xét xử tại phiên toà sơ thẩm được quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn vận dụng các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự cho thấy có nhiều vấn đề nảy sinh mà pháp luật chưa có quy định hoặc có quy định nhưng thiếu cụ thể, không phù hợp với thực tiễn dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hoàn thiện của pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình Nhà nước ta đã cho xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự. Nghiên cứu các quy định về phiên tòa sơ thẩm trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chúng tôi thấy vẫn còn một số quy định chưa hợp lý, chưa khắc phục được những thiếu sót của phiên toà sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự hiện nay.

1. Về sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện kiểm sát nhân dân

Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: ”1. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp có nhiệm vụ tham gia phiên toà xét xử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố. Đối với những vụ án khác, kiểm sát viên có thể tham gia phiên toà, nếu xét thấy cần thiết…“.

Tuy nhiên trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có ý kiến cho rằng viện kiểm sát cần phải tham gia tất cả các phiên toà và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án vì theo Khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát thì viện kiểm sát tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, việc viện kiểm sát tham gia phiên toà là để thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Do đó, cần quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự tinh thần này của Luật tổ chức Viện kiểm sát.

Quan điểm khác cho rằng theo quy định tại Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì:”Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án “. Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động xét xử của toà án bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không bắt buộc phải tham gia tất cả các phiên toà xét xử các vụ án. Mặt khác khi viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa thì toà án nhân dân bắt buộc phải chuyển tất cả hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm và như vậy ảnh hưởng đến thời gian giải quyết vụ án. Do đó quy định như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hợp lý và phù hợp với thực tế.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố vụ án thì theo quy định tại Điều 166 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự viện kiểm sát phải có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của bên đương sự mà viện kiểm sát đứng ra bảo vệ đồng thời viện kiểm sát phải đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia đưa ra. Để có thể làm được điều đó thì khi xét xử tại phiên toà viện kiểm sát phải tham gia tố tụng. Còn trong trường hợp viện kiểm sát không khởi tố vụ án thì viện kiểm sát đứng về phía ai, nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nếu họ không đứng về phía đương sự nào mà chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng để kiểm sát hoạt động xét xử của toà án thì không cần thiết phải tham gia phiên toà. Và trên thực tế “Tỷ lệ kiểm sát viên tham gia phiên toà hiện nay là khá cao nhưng tỷ lệ án bị huỷ và cải sửa vẫn rất lớn. Nhiều sai sót về thủ tục, về hồ sơ nhưng kiểm sát viên vẫn không phát hiện được mặc dù đã kiểm sát hồ sơ và tham gia phiên toà. Điều đó cho thấy việc tham gia phiên tòa chỉ là hình thức. Vì vậy viện kiểm sát chỉ bắt buộc tham gia phiên tòa xét xử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố để bảo đảm chất lượng tham gia phiên toà cũng như bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, kịp thời.

Nếu chúng ta tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài thì thấy rất ít nước trong Bộ luật tố tụng dân sự quy định về sự tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm của viện kiểm sát và nếu có thì cũng chỉ trong một số trường hợp nhất định ví dụ Điều 431 Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp quy định:”Viện công tố chỉ phải dự phiên toà trong những trường hợp Viện công tố với tư cách các bên đương sự chính tham gia tố tụng hoặc đại diện cho người khác hoặc khi pháp luật quy định Viện công tố phải có mặt tại phiên toà“.

Vì vậy chúng tôi cho rằng quy định về sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện kiểm sát như trong Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hoàn toàn hợp lý.

2. Về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà

1. Điều 223 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thứ tự xét hỏi, Điều 224, Điều 225, Điều 226, Điều 227 và Điều 231 Dự thảo quy định về việc hỏi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định.

Việc quy định về thủ tục xét hỏi như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự vẫn là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa hội đồng xét xử vẫn giữ vai trò chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định…. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa như trên là chưa hợp lý, chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Ngoài ra, việc quy định như vậy không phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp đã được quán triệt trong Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đó là: “Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”

Do đó chúng tôi cho rằng trong Bộ luật tố tụng dân sự cần bỏ thủ tục xét hỏi. Khi xét xử các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau: sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, hội đồng xét xử cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

2. Hiện nay tranh luận tại phiên tòa trong Dự thảo cũng mới chỉ đề cập đến trình tự phát biểu khi tranh luận, phát biểu khi tranh luận và đối đáp, phát biểu của viện kiểm sát và trở lại việc xét hỏi mà chưa đề cập đến những người có quyền tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, cơ sở của việc tranh luận trong khi đó đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng để ra những bản án, quyết định có căn cứ và hợp pháp.

· Về những người tham gia tranh luận:

Các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội, theo đó các chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Trong trường hợp có tranh chấp hoặc vi phạm xẩy ra thì họ cũng có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp. Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình phải thuộc về các đương sự. Hơn nữa, các vụ kiện dân sự chủ yếu phát sinh là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự. Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thoả mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa những người tham gia tranh luận, giữ vai trò chủ động và tích cực trong quá trình tranh luận chính là các bên đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Đối với những vụ án do viện kiểm sát khởi tố hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì mặc dù viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội là người đưa ra yêu cầu khởi kiện, khởi tố nên để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, khởi tố của mình là có căn cứ và hợp pháp thì viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội phải có quyền tranh luận. Trong quá trình tranh luận, thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh luận, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh luận giữa hai bên, hướng quá trình tranh luận vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Như vậy, chúng tôi cho rằng cần bổ sung thêm điều luật quy định về những người có quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa đó là: Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có quyền tranh luận.

· Về phạm vi tranh luận:

Khi tiến hành tranh luận thì vấn đề cơ bản là phải xác định chính xác nội dung những vấn đề các đương sự tranh luận tại phiên tòa hay nói cách khác là phải xác định phạm vi tranh luận.

Theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 57 Dự thảo thì đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, được biết và ghi chép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập. Do đó đương sự người có nghĩa vụ phải trả lời các yêu cầu tự nhận thấy yêu cầu, các chứng cứ mà đương sự phía bên kia đưa ra là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở và họ thừa nhận những chứng cứ, những yêu cầu đó. Việc thừa nhận này sẽ giải phóng cho đương sự phía bên kia khỏi nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên có những yêu cầu mà các bên hoặc một bên đương sự không chấp nhận và những thông tin, tài liệu mà các bên không đồng ý là chứng cứ hoặc một bên không đồng ý là chứng cứ. Khi phiên tòa diễn ra, sau khi các đương sự trình bày xong các yêu cầu, đề nghị và đã xuất trình đầy đủ chứng cứ thì phiên tòa chỉ tập trung vào những vấn đề các bên hoặc một bên từ chối không công nhận, còn những vấn đề các bên không từ chối thì coi như là đã được giải quyết và những chứng cứ nào các bên đã thừa nhận thì cũng không tranh luận nữa. Như vậy Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần bổ sung thêm điều luật quy định về phạm vi tranh luận đó là: Những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận về những vấn đề mà các bên đương sự còn mâu thẫn và có những chứng cứ chứng minh không thống nhất.

· Về cơ sở của việc tranh luận:

Trong tố tụng dân sự đương sự có trách nhiệm chứng minh, có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu, phẩn yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng đương sự phía bên kia phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Để thực hiện trách nhiệm chứng minh các đương sự phải tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình như chứng cứ viết, đề xuất để tòa án triệu tập những người làm chứng cần thiết, các vật chứng… và cung cấp các chứng cứ đó cho tòa án và thông báo cho bên kia biết những chứng cứ đó. Đồng thời với việc xuất trình các chứng cứ cho tòa án thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ để chứng minh rằng yêu cầu của mình hoặc để phản đối yêu cầu của đối phương là có căn cứ, hợp pháp. Với việc tranh luận này của các đương sự, hội đồng xét xử sẽ nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật. Như vậy, cần bổ sung thêm điều luật quy định về cơ sở của việc tranh luận đó là: Khi tiến hành tranh luận thì đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự lần lượt trình bày trước hội đồng xét xử ý kiến của họ về các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lập luận về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp vụ án do viện kiểm sát khởi tố, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý.

Như vậy tranh luận tại phiên tòa trong Dự thảo cần quy định cụ thể về: những người tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, trình tự tranh luận, cơ sở của việc tranh luận, phát biểu của kiểm sát viên và quay trở lại việc xem xét chứng cứ.

3. Về phát biểu của kiểm sát viên

Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Sau khi những người tham tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ toạ phiên toà đề nghị kiểm sát viên phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án

Theo quy định này thì kiểm sát viên vẫn là người phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án sau cùng trước khi hội đồng xét xử tuyên bố nghỉ vào nghị án. Đây là điểm hoàn toàn khác so với phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự. ở phiên tòa dân sự sơ thẩm, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự không tranh luận với viện kiểm sát mà viện kiểm sát là người cuối cùng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án để hội đồng xét xử xem xét và quyết định. Sau khi đại diện viện kiểm sát trình bày kết luận của mình thì những người tham gia tranh luận không phát biểu gì thêm. Còn ở phiên tòa hình sự theo Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự thì bắt đầu vào phần tranh luận, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn, sau đó mới đến bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa và những người tham gia tố tụng khác phát biểu ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác có quyền tranh luận, đối đáp với Viện kiểm sát về những điểm mình không đồng ý.

Về vấn đề này chúng tôi cho rằng trong tố tụng dân sự luôn luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đương sự là người có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng theo qui định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì viện kiểm sát là người đưa ra hướng giải quyết vụ án, mà một khi đã đưa ra hướng giải quyết vụ án thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ làm cơ sở cho việc đề xuất hướng giải quyết vụ án. Những đề xuất đó có thể có lợi cho phía đương sự này hoặc phía đương sự kia và ít nhiều có tác động đến hội đồng xét xử. “Thực tiễn cũng đã cho thấy không phải kết luận nào của viện kiểm sát cũng là chân lý mà đôi khi có trường hợp vô tình làm một bên hưởng lợi không đúng luật

Do đó, cần phải để cho các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền đáp lại ý kiến của viện kiểm sát về những vấn đề mà họ không đồng ý, có như vậy mới giúp hội đồng xét xử có được đầy đủ ý kiến tranh luận của các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra bản án, quyết định đúng đắn và chính xác nhất. Và như vậy, Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định như sau: “Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của đương sự không đồng ý với ý kiến của kiểm sát viên thì họ có quyền đối đáp lại“.

4. Thời gian nghị án

 

Điều 239 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài, thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không được quá năm ngày làm việc…

Bản án là kết quả cụ thể của toàn bộ quá trình điều tra, xét xử một vụ án. Nó xác định sự thật khách quan, rút ra những kết luận về những vấn đề liên quan đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, lợi ích của con người, của tập thể, của Nhà nước và những vấn đề liên quan đến toàn xã hội. Do đó thẩm phán phải mất rất nhiều thời gian để trình bày nội dung, phân tích, đánh giá các chứng cứ, các tình tiết của vụ án, việc vận dụng pháp luật làm căn cứ để xác định sự việc, chứng minh cho những kết luận, những vấn đề cần phải giải đáp trong vụ án, làm cơ sở cho việc ra phán quyết. Vì vậy, trong một thời gian ngắn thì hội đồng xét xử không thể làm được tất cả những việc đó cho nên trên thực tế hầu như đối với việc xét xử các vụ án dân sự bản án đều được viết sẵn. Về mặt lý luận, bản án được chuẩn bị trước khi nghị án là không đúng và khi bản án đã được viết trước như vậy thì quá trình tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa, việc tham gia tố tụng của các luật sư để bảo vệ quyền lợi cho đương sự cũng bị hạn chế…bởi vì các thành viên của hội đồng xét xử đã định hình sẵn phương hướng giải quyết vụ án trước khi giai đoạn xét xử được diễn ra, việc giải quyết vụ án đã được quyết định trước bởi một tập thể thẩm phán rồi.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng thời gian nghị án không chỉ áp dụng đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp mà thời gian nghị án này phải được áp dụng đối với tất cả các vụ án ngay cả đối với những vụ án có thể nghị án ngay được thì cũng không nên tuyên án ngay vì hội đồng xét xử cần có đủ thời gian cần thiết để bàn bạc, thảo luận về các vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra được bản án, quyết định đúng đắn, chính xác và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các đương sự.

Nếu chúng ta tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài thì thấy các nước trong Bộ luật tố tụng dân sự đều có quy định về thời hạn nghị án và thời hạn này được áp dụng cho tất cả các vụ án ví dụ như Bộ luật tố tụng dân sự Đài loan qui định “bản án phải được tuyên công khai trong vòng năm ngày sau khi kết thức thủ tục thẩm vấn, tranh luận. Bản án phải được hoàn thiện và chuyển cho thư kí trong vòng năm ngày sau ngày tuyên án(6) hoặc pháp luật tố tụng dân sự của Thái lan qui định: “Khi việc xem xét thẩm vấn đã kết thúc, Tòa án ấn định và công bố ngày tuyên án. Việc tuyên án phải được tiến hành tại phiên tòa có đầy đủ thành phần Hội đồng xét xử và công khai, có mặt tất cả các bên. Nếu tất cả các bên đều không có mặt tại ngày tuyên án thì Tòa án có thể không cần tuyên án và được coi rằng bản án đã tuyên theo pháp luật”(7)

Do đó, Điều 239 cần quy định như sau: “Sau khi kết thúc phần tranh luận, chủ tọa phiên tòa tuyên bố và quyết định thời gian nghị án nhưng không được quá năm ngày làm việc…”.


 

Xem: TS Trần Văn Trung, “Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự”, Tài liệu toạ đàm Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, Câu lạc bộ luật gia Việt – Đức và văn phòng Viện Konard Adenauer, 11/2003.

Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

Xem: Khánh Tuệ, Văn Vũ (2002), “Nâng cao chất lượng xét xử”, Báo pháp luật chủ nhật, số 83/2002.

(6) Xem: Kỷ yếu dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, NXB văn hóa dân tộc TANDTC, Hà Nội, tr.129.

(7)Xem: Kỷ yếu dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, NXB văn hóa dân tộc TANDTC, Hà Nội, tr.57.

QUI ĐỊNH LUẬT PHÁP về đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Hoa Kỳ

1. Thủ tục đăng ký và công chứng giấy tờ

  • Công ty Việt Nam phải có đầy đủ giấy tờ thành lập công ty tại Việt Nam:  điều lệ thành lập công ty, danh sách cổ đông, sáng lập viên,  giấy phép hành nghề tại Việt Nam..
  • Có các giấy tờ kèm theo:  xác nhận hoạt động kinh doanh tốt, có hiệu quả do các công ty kiểm toán độc lập, có uy tín cấp, do các ngân hàng có uy tín cấp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (những giấy tờ này do mỗi bang yêu cầu khác nhau).
  • Mỗi bang có những yêu cầu công chứng giấy tờ khác nhau.

2. Lệ phí nộp đơn xin thành lập công ty

Tại Hoa Kỳ, quy định thu lệ phí khi nộp đơn không thực hiện thống nhất, có bang không thu lệ phí khi nộp đơn như ở Washington DC, hoặc lệ phí 225USD như ở New York nhưng cũng thường phát sinh một số chi phí khác. Tổng lệ phí thường không vượt quá 500USD.

Thông thường công ty xin thành lập tự nộp đơn cho các cơ quan hữu quan Hoa Kỳ và hoàn chỉnh các giấy tờ khi có yêu cầu, Tuy nhiên để tránh những tốn phí mất thời gian, hồ sơ chưa có kinh nghiệm nên khó hoàn chỉnh, có thể thuê công ty luật hướng dẫn thủ tục, nộp hồ sơ và lệ phí. Tốt nhất là thuê công ty luật tại tiểu bang chúng ta muốn thành lập công ty. Phí cho công ty luật làm thủ tục từ vài trăn đến một nghìn USD.

Thời gian cấp phép kể từ khi nhận hồ sơ hoàn chỉnh khoảng 30 ngày.

3. Hình thức thành lập công ty

Các công ty nước ngoài có thể thành lập các loại hình công ty như chi nhánh công ty nước ngoài, công ty con của công ty nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty liên doanh TNHH tuỳ theo luật mỗi bang cho phép và tuỳ theo loại hình kinh doanh.

Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến thuế phải nộp sau này. Mỗi bang quy định riêng cho mình các loại thuế công ty và cá nhân phải nộp.

Sau khi thành lập doanh nghiệp phải khai báo với sở thuế tại địa phương đóng trụ sở và phải tuân thủ các quy định về khai báo thuế hàng năm.

4. Đăng ký giữ tên công ty :

Công ty có thể đăng ký giữ tên công ty mình tại một số bang của Hoa Kỳ (trong lúc công ty thấy chưa tiến hành hoạt động ngay được và phải đăng ký sớm tên công ty của mình ,tránh trường hợp có công ty khác đăng ký trước tên công ty của mình ). Thủ tục gần tương tự với việc đăng ký thành lập ,nhưng không phải đăng ký tiếp với sở thuế ,không bị tính thời hạn hoạt động (một số bang cho phép giảm miễn thuế công ty ). Thời hạn bảo lưu tên công ty khoảng 6 tháng và được gia hạn thêm 6 tháng tới 2 năm ,tuỳ theo bang .Lệ phí giữ tên không cao ,chỉ vài chục USD /tháng.

5. Nội dung cấp phép hoạt động :

Theo nội dung kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam và theo đơn đặt xin doanh nghiệp không được kinh doanh những lĩnh vực không đăng ký .Sau khi có giấy phép kinh doanh tại Hoa Kỳ,doanh nghiệp phải đăng ký với các sở tải chính ,sở thuế và các sở phụ trách chuyên ngành nếu hoạt động trong lĩnh vực có quản lý chuyên ngành .

Những yêu cầu về đăng ký kinh doanh cho các bang quy định và công bố danh mục mặt hàng phải có giấy phép kinh doanh mới được hành nghề .Người nước ngoài đầu tư ở Hoa Kỳ chiếm trên 10% cổ phần của công ty phải báo cáo cho Vụ kinh tế Bộ Thương mại và phải tuân thủ quy định 22 USC  3101-3108 về thương mại và dịch vụ , 15 CFR nếu vi phạm quy chế báo cáo sẽ bị phạt từ 2500-25000 USD .Có bang không cho phép người nước ngoài được sở hữu một số loại tài sản cố định như đất đai nông nghiệp ,rừng v.v…

6. Thành lập các công ty mới ở bang khác :

Công ty nước ngoài được thành lập tại một bang mà muốn mở thêm công ty mới tại bang khác , phải làm thủ tục như khi bắt đầu từ nước ngoài vào bang đó .Tuy nhiên thủ tục sẽ đơn giản hơn ( Công ty Hoa Kỳ từ bang này muốn thành lập công ty /chi nhánh ở một bang khác cũng có những luật lệ riêng áp dụng cho họ).

7. Thủ tục nhập cảnh cho thương nhân :

Thị thực nhập cảnh vào Hoa Kỳ có thể cấp cho một năm ,nhiều lần ;tuy nhiên việc gia hạn tiếp tại Hoa Kỳ chưa có tiền lệ hoặc thoả thuận cụ thể giữa chính phủ 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ.Thị thực thương được xếp loại B1 .Nếu có công ty chi nhánh tại Hoa Kỳ thì loại thị thực là L1và thời hạn tới 3 năm .Tuy nhiên việc xin thị thực cho lãnh đạo công ty ,cán bộ đến Hoa Kỳ làm việc thương khó khăn phức tạp về thủ tục ,giấy tờ do chính sách quản lý nhập cảnh chung , chính sách quản lý hoạt động và nhân sự của Hoa Kỳ. Thông thường nếu thuê luật sư để xin thị thực thì chi phí rất lớn ;từ 1500 đến 3000USD cho việc hoàn thiện hồ sơ xin thị cho tới lúc được cấp (phí nộp cho chính quyền chỉ khoảng hơn 100USD 1 thị thực).

8. Thuế dịch vụ tư vấn luật, thuế, mở tài khoản ngân hàng và lệ phí :

Không nhất thiết phải có luật sư giúp khai thủ tục và nộp đơn .Phí thuê luật sư để thành lập công ty không đắt ,nhưng trong quá trình hoạt động có những vướng mắc thì sẽ được tính theo giờ ,vụ việc và tổng chi phí thường là khá cao và tuỳ theo uy tín của các công ty luật và trình độ ,thâm niên của chính luật sư làm việc với khách hàng.

Nếu thuê công ty luật giúp thủ tục đăng ký thành lập công ty thì họ cũng chấp nhận làm địa chỉ liên lạc khi cần thiết .Dịch vụ này thường là không tính tiền vì coi như làm địa chỉ liên hệ ,khi nào có vụ việc phát sinh thì sẽ thoả thuận tính tiền theo vụ việc đó.

Sau khi có giấy phép thành lập thì một số ngành nghề còn phải đăng ký với các cơ quan quản lý chuyên ngành cấp một giấy phép đăng ký kinh doanh và hành nghề luôn .Tiếp theo là đăng ký với sở thuế và mở tài khoản ngân hàng .

Trong quá trình hoạt động việc khai thuế chính xác không chậm trễ là một trong những yêu cầu quan trọng đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả, tránh những trở ngại không cần thiết .Việc thuê công ty kiểm toán viên trong trường hợp này cũng tuỳ theo quy mô kinh doanh vì việc thuê kiểm toán viên giống như thuê luật sư ,khá tốn kém và mức độ làm quyết toán báo cáo tài chính khác nhau thì mức tiền thuê cũng khác nhau để đảm phù hợp với yêu cầu của công ty và giảm thiểu các chi phí cần thiết.

9. Chi phí hoạt động của một chi nhánh/công ty Việt Nam tại Hoa Kỳ :

Nói chung, việc thành lập thì không tốn kém tuy nhiên chi phí để duy trì hoạt động của một văn phòng công ty tại Hoa Kỳ tương đối cao ,gồm các khoản chủ yếu sau đây:

  • Tiền thuê văn phòng :văn phòng ở những thành phố trung bình gồm 2 phòng làm việc (công trình phụ chung bên ngoài hành lang ,vị trí tương đối trung tâm giá khoảng 2500USD /tháng ;(không có trang thiết bị nội thất).
    Điện thoại ,fax ,Internet :tuỳ theo hoạt động giao dịch nhiều ít sẽ quyết định chi phí .Nói chung các dịch vụ này ở Hoa Kỳ thuộc loại rẻ nhất thế giới :thuê bao nội đường điện thoại (tự lắp máy fax không bị phụ phí ) là 20 USD một tháng ;thuê bao Internet 22 USD một tháng được dùng 24/24 tiếng và phải có thêm đường điện thoại .Như vậy một văn phòng phải có ít nhất 2 đường điện thoại .
    Các loại thiết bị như điện thoại ,fax ,PC,TV,video đều rẻ hơn ở Việt Nam (một số các thiết bị điện 110V, đơn hệ .Nếu mua 220 V hoặc điện thế dải rộng , đa hệ thì tương đương ở Việt Nam ).
    Ôtô đã qua sử dụng ở Hoa Kỳ bán ra rất rẻ ,ví dụ Toyota Carmy đời 88-90 giá khoảng 3000-4000USD, nhiều loại còn rẻ hơn .Trong khi đó, tiền bảo hiểm khá đắt, khoảng 200-400/tháng và tiền gửi xe tại nhà ở cơ quan khoảng 250USD /tháng.
  • Bằng lái xe ôtô tại Hoa Kỳ rất dễ lấy và lệ phí thấp (20 USD cho cả khoá học lý thuyết và lái ),nếu đã có bằng tại Việt Nam thì phải thi lý thuyết.
  • Tiền xăng tương đương ở Việt Nam.
  • Tiền thuê nhà :14000/năm cho căn hộ có một phòng khách và phòng ngủ ,một phòng tắm và một bếp.
  • Lương cán bộ 10000USD/năm .Bảo hiểm y tế khá đắt ,nếu khám bệnh vừa phải thì có thể trả tiền ;nếu bênh nặng hơn thì nên về Việt Nam điều trị vì chi phí sẽ thấp hơn .Trong tiền công tác phí bên trong Hoa Kỳ thì tiền vé máy bay lên xuống theo thời điểm và tuỳ thuộc thời gian đặt mua vé trước hay gần mà nức chênh lệch rất lớn , đôi khi gấp nhiều lần .Tiền đi ôtô buýt liên tỉnh thì rất rẻ ,nhiều xe đón liên tục và giá không thay đổi ,tiện nghi tốt  ,nên giữa các banh gần nhau thì nên dùng xe buýt hoặc tự lái xe .Tiền khách sạn không chênh lệch nhiều so với Việt Nam.
  • Các chi phí khác :Tổng chi phí cho một văn phòng gồm 1 người ,sinh hoạt tiết kiệm như ở Việt Nam ít nhất vào khoảng 35000/năm .Nếu tính đầy đủ thì vào khoảng 50000USD/năm .Gợi ý giải pháp tiết kiệm :có thể thuê một nhà vừa ở vừa để làm văn phòng ,hoặc một vài công ty chung nhau thuê một diện tích để làm việc.

SOURCE: VCCI.COM.VN

QUI ĐỊNH LUẬT PHÁP VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP Ở HOA KỲ

1. Thủ tục đăng ký và công chứng giấy tờ

  • Công ty Việt Nam phải có đầy đủ giấy tờ thành lập công ty tại Việt Nam:  điều lệ thành lập công ty, danh sách cổ đông, sáng lập viên,  giấy phép hành nghề tại Việt Nam..
  • Có các giấy tờ kèm theo:  xác nhận hoạt động kinh doanh tốt, có hiệu quả do các công ty kiểm toán độc lập, có uy tín cấp, do các ngân hàng có uy tín cấp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (những giấy tờ này do mỗi bang yêu cầu khác nhau).
  • Mỗi bang có những yêu cầu công chứng giấy tờ khác nhau.

2. Lệ phí nộp đơn xin thành lập công ty

Tại Hoa Kỳ, quy định thu lệ phí khi nộp đơn không thực hiện thống nhất, có bang không thu lệ phí khi nộp đơn như ở Washington DC, hoặc lệ phí 225USD như ở New York nhưng cũng thường phát sinh một số chi phí khác. Tổng lệ phí thường không vượt quá 500USD.

Thông thường công ty xin thành lập tự nộp đơn cho các cơ quan hữu quan Hoa Kỳ và hoàn chỉnh các giấy tờ khi có yêu cầu, Tuy nhiên để tránh những tốn phí mất thời gian, hồ sơ chưa có kinh nghiệm nên khó hoàn chỉnh, có thể thuê công ty luật hướng dẫn thủ tục, nộp hồ sơ và lệ phí. Tốt nhất là thuê công ty luật tại tiểu bang chúng ta muốn thành lập công ty. Phí cho công ty luật làm thủ tục từ vài trăn đến một nghìn USD.

Thời gian cấp phép kể từ khi nhận hồ sơ hoàn chỉnh khoảng 30 ngày.

3. Hình thức thành lập công ty

Các công ty nước ngoài có thể thành lập các loại hình công ty như chi nhánh công ty nước ngoài, công ty con của công ty nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty liên doanh TNHH tuỳ theo luật mỗi bang cho phép và tuỳ theo loại hình kinh doanh.

Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến thuế phải nộp sau này. Mỗi bang quy định riêng cho mình các loại thuế công ty và cá nhân phải nộp.

Sau khi thành lập doanh nghiệp phải khai báo với sở thuế tại địa phương đóng trụ sở và phải tuân thủ các quy định về khai báo thuế hàng năm.

4. Đăng ký giữ tên công ty :

Công ty có thể đăng ký giữ tên công ty mình tại một số bang của Hoa Kỳ (trong lúc công ty thấy chưa tiến hành hoạt động ngay được và phải đăng ký sớm tên công ty của mình ,tránh trường hợp có công ty khác đăng ký trước tên công ty của mình ). Thủ tục gần tương tự với việc đăng ký thành lập ,nhưng không phải đăng ký tiếp với sở thuế ,không bị tính thời hạn hoạt động (một số bang cho phép giảm miễn thuế công ty ). Thời hạn bảo lưu tên công ty khoảng 6 tháng và được gia hạn thêm 6 tháng tới 2 năm ,tuỳ theo bang .Lệ phí giữ tên không cao ,chỉ vài chục USD /tháng.

5. Nội dung cấp phép hoạt động :

Theo nội dung kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam và theo đơn đặt xin doanh nghiệp không được kinh doanh những lĩnh vực không đăng ký .Sau khi có giấy phép kinh doanh tại Hoa Kỳ,doanh nghiệp phải đăng ký với các sở tải chính ,sở thuế và các sở phụ trách chuyên ngành nếu hoạt động trong lĩnh vực có quản lý chuyên ngành .

Những yêu cầu về đăng ký kinh doanh cho các bang quy định và công bố danh mục mặt hàng phải có giấy phép kinh doanh mới được hành nghề .Người nước ngoài đầu tư ở Hoa Kỳ chiếm trên 10% cổ phần của công ty phải báo cáo cho Vụ kinh tế Bộ Thương mại và phải tuân thủ quy định 22 USC  3101-3108 về thương mại và dịch vụ , 15 CFR nếu vi phạm quy chế báo cáo sẽ bị phạt từ 2500-25000 USD .Có bang không cho phép người nước ngoài được sở hữu một số loại tài sản cố định như đất đai nông nghiệp ,rừng v.v…

6. Thành lập các công ty mới ở bang khác :

Công ty nước ngoài được thành lập tại một bang mà muốn mở thêm công ty mới tại bang khác , phải làm thủ tục như khi bắt đầu từ nước ngoài vào bang đó .Tuy nhiên thủ tục sẽ đơn giản hơn ( Công ty Hoa Kỳ từ bang này muốn thành lập công ty /chi nhánh ở một bang khác cũng có những luật lệ riêng áp dụng cho họ).

7. Thủ tục nhập cảnh cho thương nhân :

Thị thực nhập cảnh vào Hoa Kỳ có thể cấp cho một năm ,nhiều lần ;tuy nhiên việc gia hạn tiếp tại Hoa Kỳ chưa có tiền lệ hoặc thoả thuận cụ thể giữa chính phủ 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ.Thị thực thương được xếp loại B1 .Nếu có công ty chi nhánh tại Hoa Kỳ thì loại thị thực là L1và thời hạn tới 3 năm .Tuy nhiên việc xin thị thực cho lãnh đạo công ty ,cán bộ đến Hoa Kỳ làm việc thương khó khăn phức tạp về thủ tục ,giấy tờ do chính sách quản lý nhập cảnh chung , chính sách quản lý hoạt động và nhân sự của Hoa Kỳ. Thông thường nếu thuê luật sư để xin thị thực thì chi phí rất lớn ;từ 1500 đến 3000USD cho việc hoàn thiện hồ sơ xin thị cho tới lúc được cấp (phí nộp cho chính quyền chỉ khoảng hơn 100USD 1 thị thực).

8. Thuế dịch vụ tư vấn luật, thuế, mở tài khoản ngân hàng và lệ phí :

Không nhất thiết phải có luật sư giúp khai thủ tục và nộp đơn .Phí thuê luật sư để thành lập công ty không đắt ,nhưng trong quá trình hoạt động có những vướng mắc thì sẽ được tính theo giờ ,vụ việc và tổng chi phí thường là khá cao và tuỳ theo uy tín của các công ty luật và trình độ ,thâm niên của chính luật sư làm việc với khách hàng.

Nếu thuê công ty luật giúp thủ tục đăng ký thành lập công ty thì họ cũng chấp nhận làm địa chỉ liên lạc khi cần thiết .Dịch vụ này thường là không tính tiền vì coi như làm địa chỉ liên hệ ,khi nào có vụ việc phát sinh thì sẽ thoả thuận tính tiền theo vụ việc đó.

Sau khi có giấy phép thành lập thì một số ngành nghề còn phải đăng ký với các cơ quan quản lý chuyên ngành cấp một giấy phép đăng ký kinh doanh và hành nghề luôn .Tiếp theo là đăng ký với sở thuế và mở tài khoản ngân hàng .

Trong quá trình hoạt động việc khai thuế chính xác không chậm trễ là một trong những yêu cầu quan trọng đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả, tránh những trở ngại không cần thiết .Việc thuê công ty kiểm toán viên trong trường hợp này cũng tuỳ theo quy mô kinh doanh vì việc thuê kiểm toán viên giống như thuê luật sư ,khá tốn kém và mức độ làm quyết toán báo cáo tài chính khác nhau thì mức tiền thuê cũng khác nhau để đảm phù hợp với yêu cầu của công ty và giảm thiểu các chi phí cần thiết.

9. Chi phí hoạt động của một chi nhánh/công ty Việt Nam tại Hoa Kỳ :

Nói chung, việc thành lập thì không tốn kém tuy nhiên chi phí để duy trì hoạt động của một văn phòng công ty tại Hoa Kỳ tương đối cao ,gồm các khoản chủ yếu sau đây:

  • Tiền thuê văn phòng :văn phòng ở những thành phố trung bình gồm 2 phòng làm việc (công trình phụ chung bên ngoài hành lang ,vị trí tương đối trung tâm giá khoảng 2500USD /tháng ;(không có trang thiết bị nội thất).
    Điện thoại ,fax ,Internet :tuỳ theo hoạt động giao dịch nhiều ít sẽ quyết định chi phí .Nói chung các dịch vụ này ở Hoa Kỳ thuộc loại rẻ nhất thế giới :thuê bao nội đường điện thoại (tự lắp máy fax không bị phụ phí ) là 20 USD một tháng ;thuê bao Internet 22 USD một tháng được dùng 24/24 tiếng và phải có thêm đường điện thoại .Như vậy một văn phòng phải có ít nhất 2 đường điện thoại .
    Các loại thiết bị như điện thoại ,fax ,PC,TV,video đều rẻ hơn ở Việt Nam (một số các thiết bị điện 110V, đơn hệ .Nếu mua 220 V hoặc điện thế dải rộng , đa hệ thì tương đương ở Việt Nam ).
    Ôtô đã qua sử dụng ở Hoa Kỳ bán ra rất rẻ ,ví dụ Toyota Carmy đời 88-90 giá khoảng 3000-4000USD, nhiều loại còn rẻ hơn .Trong khi đó, tiền bảo hiểm khá đắt, khoảng 200-400/tháng và tiền gửi xe tại nhà ở cơ quan khoảng 250USD /tháng.
  • Bằng lái xe ôtô tại Hoa Kỳ rất dễ lấy và lệ phí thấp (20 USD cho cả khoá học lý thuyết và lái ),nếu đã có bằng tại Việt Nam thì phải thi lý thuyết.
  • Tiền xăng tương đương ở Việt Nam.
  • Tiền thuê nhà :14000/năm cho căn hộ có một phòng khách và phòng ngủ ,một phòng tắm và một bếp.
  • Lương cán bộ 10000USD/năm .Bảo hiểm y tế khá đắt ,nếu khám bệnh vừa phải thì có thể trả tiền ;nếu bênh nặng hơn thì nên về Việt Nam điều trị vì chi phí sẽ thấp hơn .Trong tiền công tác phí bên trong Hoa Kỳ thì tiền vé máy bay lên xuống theo thời điểm và tuỳ thuộc thời gian đặt mua vé trước hay gần mà nức chênh lệch rất lớn , đôi khi gấp nhiều lần .Tiền đi ôtô buýt liên tỉnh thì rất rẻ ,nhiều xe đón liên tục và giá không thay đổi ,tiện nghi tốt  ,nên giữa các banh gần nhau thì nên dùng xe buýt hoặc tự lái xe .Tiền khách sạn không chênh lệch nhiều so với Việt Nam.
  • Các chi phí khác :Tổng chi phí cho một văn phòng gồm 1 người ,sinh hoạt tiết kiệm như ở Việt Nam ít nhất vào khoảng 35000/năm .Nếu tính đầy đủ thì vào khoảng 50000USD/năm .Gợi ý giải pháp tiết kiệm :có thể thuê một nhà vừa ở vừa để làm văn phòng ,hoặc một vài công ty chung nhau thuê một diện tích để làm việc.

SOURCE: VCCI.COM.VN

CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

DƯƠNG HOÀNG OANH

Qui mô doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế ở mỗi nước khác nhau, nhưng khu vực này có một đặc điểm chung là hiệu quả không cao. Điều đó là gánh nặng cho ngân sách quốc gia của mỗi nước. Chính từ đánh giá đó mà mà từ khoảng đầu những năm 80 đã dấy lên xu hướng cải tổ khu vực kinh tế kém hiệu quả này. Hướng cơ bản là chuyển từ sở hữu nhà nước sang các hình thức sở hữu khác trong hoàn cảnh của mỗi quốc gia. Một trong những nước làm khá mạnh và thành công trong vấn đề này là Trung Quốc thời mở cửa. Hy vọng rằng thành công của Trung Quốc được giới thiệu qua bài này sẽ hữu ích cho chúng ta.

Khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã, đang và sẽ còn tồn tại kinh tế – xã hội, song vai trò và qui mô của khu vực này không giống nhau ở các nước và ngay trong 1 nước qua các thời kỳ lịch sử. Trong các nước tư bản phát triển tỷ lệ tài sản quốc gia thuộc sở hữu DNNN có khác nhau: ở Mỹ chiếm 2%, Nhật Bản 11%, Italia chiếm tỷ lệ cao 39 – 42%. ở các nước XHCN trước đây như Liên Xô, Hungari, Bungari tỷ lệ tài sản cố định của khu vực DNNN chiếm tới trên 90% tổng tài sản cố định quốc gia. Với các nước chậm phát triển tỷ lệ DNNN cũng ở mức độ khá cao, như Cộng hòa A Rập, Ai Cập kinh tế quốc doanh kiểm soát tới 70% tư bản sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.. Dù tỷ lệ nêu trên ở mỗi nước khác nhau, song tất cả các DNNN ở các nước đều hoạt động kém hiệu quả. Chẳng hạn, ở Italia thiếu hụt của khu vực quốc doanh lên tới 4,5% GDP. ở Bồ Đào Nha khu vực quốc doanh thua lỗ 1/3 GDP trong khoảng thời gian 1974-1976. Các nước kinh tế chậm phát triển và các nước XHCN tình hình cũng tương tự. Sở dĩ có tình hình như vậy là do những nguyên nhân chính sau:

– Hệ thống kế hoạch hóa và tài chính không thích ứng với cơ chế thị trường.

– Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN bị hạn chế, bởi những nguyên tắc liên quan đến quyền sở hữu nhà nước.

– Tình trạng độc quyền của DNNN trên thị trường được pháp luật và Nhà nước bảo vệ.

– Các DNNN thành lập nhờ vào nguồn vốn của Nhà nước, từ đó tạo ra sức ỳ lớn.

Vào thời điểm Chính phủ phải đương đầu khó khăn về tài chính, thâm hụt ngân sách, nợ nần nước ngoài ngày càng tăng và lại phải gánh nặng việc làm ăn thua lỗ của DNNN ngày càng làm cho ngân sách tồi tệ hơn. ở Tandania, ngân sách Nhà nước cung cấp cho các DNNN tương đương khoảng 72% ngân sách của Nhà nước dành cho ngành giáo dục và bằng 150% cho ngành y tế.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN dù chỉ mức khiêm tốn cũng có thể góp phần làm giảm được thâm hụt tài chính ở các nước đang phát triển. Trước thực tế đó bắt đầu từ những năm 80, ở cấp độ toàn cầu đã dấy lên xu hướng cải tổ cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi sở hữu trong khu vực DNNN thành sở hữu tư nhân, hoặc sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước với tư nhân. Chỉ tính từ năm 1984-1991 trên toàn thế giới có khoảng 250 tỷ USD trị giá tài sản của Nhà nước đã được đem bán. Riêng năm 1991 đã chiếm tới 50 tỷ USD. Cao trào này bắt đầu từ nước Anh, sau đó lan rộng ra các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển. Tháng 10 năm 1979 Chính phủ Anh quyết định bán 5% quyền cổ phần của công ty dầu mỏ Anh cho xí nghiệp tư nhân mở đầu thời kỳ tư nhân hóa. Năm 1988 nước Anh đã bán 22,25 tỷ USD cổ phần nhà nước của các công ty hàng không Anh. ở Pháp từ năm 1981, Chính phủ đã có ý đồ tư hữu hóa DNNN, đến năm 1986 khi phái hữu lên cầm quyền, trong vòng 5 năm (1986-1991) đã bán 66 doanh nghiệp và ngân hàng nhà nước cho tư nhân với tổng số tài sản trị giá 275 tỷ France. Còn ở Mỹ, từ năm 1986 đến 1991 Chính phủ đã bán khoảng 52 tỷ USD tài sản nhà nước cho tư nhân.

Các nước đang phát triển có xu hướng thu hẹp DNNN, chuyển đổi sở hữu nhà nước thành sở hữu tư nhân, hoặc sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước và tư nhân. Hiện nay đã có tới hơn 80 nước đã xây dựng và từng bước triển khai kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữu trong khu vực DNNN thành sở hữu tư nhân, trong đó cổ phần hóa (CPH) được coi là biện pháp quan trọng. Ngoài lĩnh vực then chốt Nhà nước cần phải nắn giữ, các DNNN đều được tiến hành tư nhân hóa hoặc CPH. Xu hướng này là một cơ sở thực tiễn cho việc cải cách DNNN khá mạnh mẽ ở Trung Quốc.

1. Tiến trình cải cách DNNN ở Trung Quốc.

Qua hơn 20 năm cải cách mở cửa ở Trung Quốc, tình trạng phân bổ các nguồn lực đã có những thay đổi cơ bản, tỷ lệ thị trường điều tiết ngày càng tăng, kinh tế phi quốc doanh trong nước phát triển mạnh mẽ, các DNNN đã dần dần mất vị trí độc quyền trong rất nhiều ngành nghề và tỷ trọng trong lĩnh vực công nghiệp không ngừng giảm xuống.

Kể từ 1978 cải cách DNNN Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn: Giảm sự can thiệp hành chính trực tiếp, giảm thuế, để lại lợi nhuận, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh, chuyển đổi cơ chế kinh doanh, từng bước phân tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh và hiện nay là xúc tiến xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại.

Về mặt chủ trương và cơ sở pháp lý, Trung Quốc bắt đầu thực hiện CPH DNNN vào giữa những năm 1980 và phát triển mạnh vào năm 1992, khi Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn Báo cáo “Tình hình cuộc tọa đàm về công tác thí điểm CPH của ủy ban cải cách kinh tế Nhà nước. Sau đó Nhà nước đã ban hành một loạt văn kiện quan trọng: “Biện pháp thí điểm thực hiện cổ phần xí nghiệp”, “ý kiến qui phạm cổ phần công ty hữu hạn cổ phần” những văn bản này tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện cổ phần DNNN.

Tháng 11/1993, Hội nghị Trung ương 3 (khóa 14) đã thông qua quyết định “Về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đề ra chế độ xí nghiệp hiện đại, là chế độ xí nghiệp thích ứng với yêu cầu thị trường: Quyền sở hữu rõ ràng, trách nhiệm tài sản phân minh; chính quyền và xí nghiệp tách riêng quản lý theo khoa học. Trước hội nghị nêu trên đã đưa ra chủ trương: Thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ về quyền tài sản, thực hiện tách rời nhà nước và doanh nghiệp, thực hiện quyền tự chủ của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp thực sự trở thành thực thể pháp nhân và chủ thể thị trường, chủ thể kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, chịu trách nhiệm đảm bảo và làm tăng giá trị tài sản Nhà nước.

Ngày 29/12/1993, Hội nghị lần thứ 5 ủy ban thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 8 thông qua Luật công ty nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và bắt đầu được thực hiện từ 01/7/1994. Trong Đại hội đại biểu nhân dân lần thứ 9 ngày 9/3/1998 Thủ tướng Chính phủ Chu Dung Cơ tuyên bố: “Chuyển các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sang kinh doanh có lãi, đồng thời xây dựng hệ thống doanh nghiệp hiện đại, để đạt mục tiêu này Chính phủ sẽ khuyến khích việc sáp nhập , và mua DNNN, chuẩn hóa thủ tục phá sản, chuyển các doanh nghiệp truyền thống thành công ty trách nhiệm hữu hạn, hay công ty cổ phần, đồng thời Nhà nước sẽ giữ lại cổ phần đa số trong các doanh nghiệp lớn của quốc gia”.

Trung Quốc thực hiện CPH doanh nghiệp trước hết nhằm góp phần cải cách toàn bộ cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả khu vực DNNN, nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của nó, đồng thời xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại thu hút nguồn vốn từ ngoài nhà nước, tăng thêm nguồn vốn cho DNNN phát triển sản xuất, rút vốn ra khỏi những doanh nghiệp Nhà nước không cần giữ, chuyển sang các lĩnh vực khác cần thiết hơn.

Trung Quốc không phân biệt sở hữu cổ phần là “họ tư” hay “họ xã”, mà xem đó là hình thức sở hữu xã hội tiến bộ.

Trên thực tế, tháng 7 năm 1984 công ty cổ phần đầu tiên của Trung Quốc mới ra đời: Công ty hữu hạn cổ phần bách hóa Thiên Kiều Bắc Kinh. Tháng 11 năm ấy công ty Âm hưởng Phi Nhạc Thượng Hải thành lập do nhà máy điện thanh Thượng Hải đã phát hành ra xã hội một vạn cổ phiếu, đây là công ty hữu hạn cổ phần đầu tiên có qui mô lớn kể từ khi Trung Quốc mở cửa. Tháng 12/1986 Trung Quốc có “qui định việc đi sâu cải cách tăng cường sức sống cho doanh nghiệp Trung ương” cho phép các nơi chọn các DNNN thích hợp để thực hiện thí điểm, khí xuất hiện hai Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến, việc CPH doanh nghiệp phát triển nhanh. Tính đến cuối năm 1993, trên cả nước đã có tới 300 doanh nghiệp nhà nước được thí điểm CPH. Số công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thẩm Quyến lên tới 196 công ty, trong đó có 33 công ty phát hành cổ phiếu B, trị giá cổ phiếu trên thị trường là 400 tỷ NDT. Sau khi có Luật Công ty ra đời (1/7/1994) tiến độ CPH được đẩy nhanh hơn rõ rệt. Tính đến năm 1996 có hơn 9200 DNNN chuyển thành công ty cổ phần với số vốn là 600 tỷ NDT. Nhiều công ty đã tham gia thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thâm Quyến, một số công ty đã tham gia thị trường chứng khoán nước ngoài. Năm 1997 có 35 công ty tham gia thị trường chứng khoán nước ngoài với vốn 7,9 tỷ NDT.

2. Phân loại các doanh nghiệp cổ phần ở Trung Quốc.

* Phân loại theo hình thức góp vốn:

Qua thí điểm chế độ cổ phần, Trung Quốc phân các DNNN thực hiện chế độ cổ phần thành 4 loại:

– Doanh nghiệp cổ phần hình thành do việc tham gia nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh nghiệp. Nó ra đời bằng cách sáp nhập, liên kết kinh tế và sự biến động của quyền tài sản. Loại hình này phát triển nhanh ở Trung Quốc.

– Doanh nghiệp cổ phần hình thành từ vốn tập trung của người lao động trong doanh nghiệp. Loại doanh nghiệp này gắn lợi ích của người lao động với lợi ích doanh nghiệp.

– Doanh nghiệp cổ phần do phát hành công khai cổ phiếu ra ngoài xã hội.

– Doanh nghiệp cổ phần lấy quan hệ tiền tệ làm chủ thể tham gia cổ phần với doanh nghiệp lớn phát hành cổ phiếu ra ngoài xã hội, loại doanh nghiệp nghiệp này ở Trung Quốc chưa nhiều.

* Phân loại theo hình thức tổ chức:

Gồm hình thức công ty cổ phần hữu hạn, hay công ty trách nhiệm hữu hạn.

3. Quan hệ giữa nhà nước – doanh nghiệp – người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần.

Trong các DNNN Trung Quốc thực hiện CPH thường có 3 loại cổ đông: Nhà nước, pháp nhân xã hội và người lao động trong doanh nghiệp. Việc CPH DNNN Trung Quốc tiến hành bằng cách xác định giá trị tài sản doanh nghiệp thành cổ phần rồi bán cho người lao động trong doanh nghiệp và cho các pháp nhân khác – có đến 95% doanh nghiệp làm theo cách này. Nhà nước qui định mỗi người lao động được mua tối đa 5% tổng số cổ phiếu, tập thể công nhân viên không được mua vượt quá 20% tổng số cổ phiếu, còn lại thuộc về cổ phần nhà nước. Như vậy, cổ phần nhà nước chiếm ưu thế và nhà nước vẫn kiểm soát doanh nghiệp. Hiện nay, người lao động được mua cổ phiếu của DNNN đủ tiêu chuẩn CPH trước khi bán ra thị trường chứng khoán, nhưng tổng số cổ phiếu không vượt quá 5% giá trị phát hành. Đối với những cổ phần của bản thân DNNN được quyền chi phối sử dụng phần vốn trích từ lợi nhuận sau khi đã nộp lợi nhuận lên trên. Bộ phận tài sản này chỉ thuộc sở hữu tập thể của người lao động trong doanh nghiệp và cuối cùng nó vẫn thuộc về nhà nước. Có thể nói cổ phần tập thể này của doanh nghiệp là hình thức biểu hiện đặc thù về sở hữu tài sản nhà nước (lãi cổ phần này dùng một phần tích lũy doanh nghiệp, phần khác dùng làm kinh phí bảo hiểm xã hội).

Sau khi CPH doanh nghiệp có quyền sở hữu pháp nhân, tức có quyền hoàn toàn chiếm hữu, sử dụng, quyền thu lợi nhuận và quyền xử lý đối với tài sản do nhà nước và các cổ đông góp vào. Nhà nước không trực tiếp kinh doanh hoặc can thiệp vào kinh doanh. Những lợi ích Nhà nước được phản ánh thông qua đại hội cổ đông, thông qua việc tham gia Hội đồng quản trị để gián tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp và Nhà nước thu lời từ sở hữu cổ phần và có quyền chuyển nhượng cổ phần sở hữu. Với chế độ cổ phần, quyền sở hữu nhà nước được phân giải từ quyền sở hữu Nhà nước đơn nhất, thành quyền sở hữu pháp nhân và quyền sở hữu cổ phần. Nói cách khác, quyền sở hữu nhà nước lúc này được biểu hiện bằng sự phân giải quyền sở hữu vật chất và quyền sở hữu giá trị. Như vậy, tài sản hiện vật là tài sản pháp nhân của doanh nghiệp, còn tài sản với hình thái giá trị cổ phiếu hay giấy chứng nhận quyền tài sản Nhà nước thì thuộc sở hữu Nhà nước.

Do người lao động được quyền sở hữu một phần tài sản doanh nghiệp khi CPH, lợi ích của họ luôn gắn với lợi ích doanh nghiệp. Bên cạnh được hưởng phân phối theo lao động, người lao động còn được hưởng phân phối theo tỷ lệ góp vào. Nhờ vậy và cùng với tính tiết kiệm cao, người lao động Trung Quốc ngày càng tăng khả năng tài chính để mua cổ phần, đời sống người lao động được cải thiện rõ rệt. Mặt khác Trung Quốc đang chủ trương mở rộng bảo hiểm xã hội, tách dần bảo hiểm xã hội ra khỏi doanh nghiệp để bảo đảm quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp thuộc mọi loại hình, thành phần kinh tế.

Các công ty cổ phần của Trung Quốc ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng. Doanh nghiệp cổ phần và thị trường cổ phiếu có mối quan hệ phụ thuộc vào nhau và cùng phát triển. Sự hình thành và hoàn thiện của thị trường cổ phiếu là tiền đề cho sự phát triển doanh nghiệp cổ phần. Nhận thức được mối quan hệ này bước đầu Trung Quốc đã xây dựng phát triển thị trường chứng khoán bằng cách phát các loại cổ phiếu: A, B, H, N (cổ phiếu A, B được giao dịch trong nước, A bán cho người trong nước bằng NDT, B bán cho người nước ngoài bằng ngoại tệ; H niêm yết tại thị trường chứng khoán ở Hồng Kông, N niêm yết trên thị trường NewYork). Trung Quốc đang từng bước xây dựng và kiện toàn các pháp qui, chế độ quản lý thị trường chứng khoán tiến tới chuẩn mực hóa xây dựng một hệ thống thị trường lành mạnh. Từ đó Trung Quốc từng bước tăng lượng giao dịch cổ phiếu trên thị trường, tăng hiệu suất vận hành thị trường chứng khoán, phát huy tác dụng kích thích chế ước của nó đối với doanh nghiệp.

Từ thực tiễn việc cải cách DNNN và thực hiện CPH ở Trung Quốc có thể đi đến kết luận: Chế độ CPH đã có vai trò thúc đẩy cải cách DNNN và phát triển kinh tế quốc dân.

Thứ nhất: Trước hết chế độ cổ phần đã thúc đẩy tập trung vốn góp phần giải quyết vấn đề thiếu vốn. Hiện Trung Quốc đã có hơn 1 vạn công ty cổ phần, trong đó có hơn 700 công ty bán cổ phiếu trên thị trường với giá trị lưu thông hơn 500 tỷ NDT chiếm 7,3% GDP năm 1996 của Trung Quốc và đã có hơn 10 vạn người làm việc trên thị trường chứng khoán, 31 triệu người đã mua cổ phiếu loại B tại lục địa. Hiện có 38 công ty cổ phần bán cổ phiếu ra ngoài lục địa, 79 công ty bán cổ phiếu loại B tại lục địa, số vốn tập trung được cả hai loại công ty ấy đã góp lại là 131 tỷ USD đó là nguồn vốn quan trọng giúp ích đầu tư vào các công trình trọng điểm.

Thứ hai: CPH doanh nghiệp tạo cho tính độc lập tự chủ trong kinh doanh của DNNN. Vì nó tách rời quyền sở hữu với quyền kinh doanh, vì công ty cổ phần không còn đơn thuần là sở hữu Nhà nước nữa, nên chính quyền không còn có khả năng để can thiệp trực tiếp vào nhiều xí nghiệp.

Thứ ba: Việc cổ phần hóa DNNN tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc thiết lập các tập đoàn xí nghiệp quy mô lớn vươn ra thị trường thế giới.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2001

MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THIẾT LẬP VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH

NGUYỄN KHÁNH NGỌC

Ưu thế lớn nhất của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh. Nền kinh tế thị trường mà không có thể chế cạnh tranh chắc chắn sẽ không phát huy được những mặt tích cực của nó. Thể chế cạnh tranh được thể hiện ở nhiều luật, trong đó Luật cạnh tranh đóng vai trò trung tâm. Sự cấp bách trong việc đòi hỏi ban hành Luật cạnh tranh ở Việt Nam không phải vì các nước khác đều có Luật cạnh tranh mà chính từ nhu cầu của bản thân nền kinh tế thị trường. Vấn đề soạn thảo Luật cạnh tranh phù hợp với điều kiện Việt Nam không đơn giản do nhiều nguyên nhân như: Cấu trúc thị trường Việt Nam được tích tụ ở mức quá cao, sự ưu đãi đối với các doanh nghiệp Nhà nước… Tuy vậy, trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng Luật cạnh tranh ở các nước, chúng ta hy vọng vào sự ra đời một Luật cạnh tranh ở Việt Nam với nội dung phù hợp trong thời gian tới.

Pháp luật về cạnh tranh trên thế giới đã phát triển thành một chuyên ngành độc lập và đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các nhà học giả, luật gia, kinh tế và hoạch định chính sách trên thế giới. Dù tên gọi có khác nhau, có thể là pháp luật về chống độc quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh, hay bảo vệ người tiêu dùng… nhưng pháp luật về cạnh tranh vẫn có chức năng chính là bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh và hoạt động có hiệu quả của thị trường, chống lại những hạn chế trong kinh doanh hay bóp méo thương mại. Do đó, trong bài viết này, các thuật ngữ “pháp luật về cạnh tranh” và ” pháp luật về chống độc quyền” được dùng với nghĩa giống nhau.

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình chuẩn bị thiết lập nên các qui định của mình về cạnh tranh, do vậy chúng tôi đưa ra một số thông tin về kinh nghiệm xây dựng và áp dụng pháp luật về cạnh tranh của một số nước và việc quốc tế hoá các qui định về cạnh tranh trên thế giới, với hy vọng là thông qua đó, chúng ta có thể tham khảo và trao đổi về mô hình pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam.

1. Mục tiêu của pháp luật về cạnh tranh.

Một điều có lẽ đã được thừa nhận là cạnh tranh không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường, bất kể là nền kinh tế thị trường đó có truyền thống phương Đông hay phương Tây hoặc được đặt trong bối cảnh Bắc Mỹ hay Tây Âu.

Nhiều nhà phân tích đã cho rằng cạnh tranh của nền kinh tế thị trường sẽ đem lại lợi ích cho người dân và sự phát triển chung của toàn đất nước nếu đó là cạnh tranh lành mạnh. Do đó, Nhà nước có vai trò chính trong việc xây dựng và hoàn thiện một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nhiều học giả quốc tế đã cho rằng một môi trường cạnh tranh lành mạnh không thể có sự tôn vinh độc quyền kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào mà sẽ làm ảnh hưởng tới sự hoạt động bình thường của thị trường. Do đó, tại một số nước thì vấn đề về độc quyền là trọng tâm của pháp luật về cạnh tranh. Tuy nhiên, dù phạm vi, đối tượng điều chỉnh và mức độ nghiêm túc thực thi các qui định pháp luật về cạnh tranh không hoàn toàn giống nhau tại các nước khác nhau, nhưng mục tiêu của pháp luật về cạnh tranh là tương đối giống nhau tại các nước. Sau đây xin đề cập một số mục tiêu của các qui định về chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh.

a. Pháp luật về chống độc quyền cần đạt được những kết quả kinh tế mong muốn cho toàn bộ nền kinh tế: Trước hết, các qui định về chống độc quyền cần tạo ra khả năng sử dụng các nguồn lực hiện có một cách hiệu quả nhất. Tiếp đó, các qui định này cũng cần thúc đẩy sự tiến bộ và cải tiến trong hoạt động kinh doanh để đưa ra các sản phẩm có chất lượng và giá thành tốt hơn. Hơn nữa, pháp luật về chống độc quyền cần tạo ra sự ổn định về sản lượng đầu ra và công ăn việc làm. Cuối cùng, các qui định về chống độc quyền cần bảo đảm có sự phân bổ công bằng các nguồn lợi thu được.

b. Thúc đẩy các hoạt động cạnh tranh: ở đây các hoạt động cạnh tranh cần được các qui định về chống độc quyền bảo đảm thông qua việc giảm dần và tiến tới xóa bỏ độc quyền trong kinh doanh.

c. Đưa ra được các qui tắc ứng xử của các doanh nghiệp trong kinh doanh: Pháp luật về chống độc quyền cần khuyến khích các doanh nghiệp có sự ứng xử lành mạnh và trừng trị các hành vi không lành mạnh nhằm tạo ra địa thế độc quyền trên thị trường.

d. Hạn chế các doanh nghiệp quá lớn trên thị trường: Với mục tiêu này thì pháp luật về chống độc quyền cần tạo ra khả năng có sự phân bổ công bằng các quyền lực trên thị trường giữa các doanh nghiệp, đặc biệt là giữa doanh nghiệp quá lớn và doanh nghiệp nhỏ. Các nhà phân tích cho rằng các doanh nghiệp quá lớn dù chưa phải có vị thế độc quyền nhưng cũng có thiên hướng hoạt động giống như nhà độc quyền.

e. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền không thể không tính đến quyền lợi của người tiêu dùng và phải coi đây là một trong những mục tiêu của các qui định trong lĩnh vực này. Người tiêu dùng ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng và được đánh giá trong phạm vi rộng và với mục tiêu lâu dài. Ví dụ, chúng ta không thể coi hành vi giảm giá thấp hơn chi phí sản xuất để giết chết đối thủ cạnh tranh trong một thời gian ngắn như là việc làm có lợi cho người tiêu dùng trong thời gian dài.

Có thể nói cả 5 mục tiêu của pháp luật về chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh nêu trên đều có liên quan mật thiết và bổ sung cho nhau. Việc đạt được các mục tiêu này là điều kiện quan trọng để pháp luật về chống độc quyền góp phần vào duy trì trật tự thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực của nền kinh tế.

2. Cho phép các tổ chức và cá nhân khởi kiện ra tòa án đối với các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh – một biện pháp hữu hiệu để thực thi chính sách về cạnh tranh.

Trong nền kinh tế thị trường thì vai trò của các tổ chức và các cá nhân trong việc bảo vệ và duy trì trật tự pháp luật ngày càng được nâng cao, đặc biệt trong việc phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật. Điều này rất đúng trong lĩnh vực cạnh tranh bởi vì các đối thủ cạnh tranh luôn theo sát nhau, tìm hiểu nhau và thậm chí moi móc các điểm xấu của nhau để cạnh tranh. Do đó, một điều quan trọng là pháp luật về canh tranh phải tận dụng và phát huy được sự tham gia của các tổ chức và cá nhân trong thực thi pháp luật về cạnh tranh. Kinh nghiệm về vấn đề này của Hoa Kỳ, một nước được coi là có hệ thống pháp luật về cạnh tranh lâu đời và tinh vi nhất để chúng ta cùng tham khảo.

Pháp luật của Hoa Kỳ, cụ thể là đạo luật Clayton Act cho phép các tổ chức và cá nhân bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về chống độc quyền được khởi kiện tại tòa án để đòi bồi thường gấp 3 lần thiệt hại đã chịu và tất cả các chi phí kiện tụng, kể cả chi phí luật sư hợp lý. Đồng thời pháp luật Hoa Kỳ cũng cho phép các tổ chức, cá nhân được dựa vào kết quả xét xử trước đó của một vụ kiện dân sự hay hình sự do cơ quan công tố nhà nước hay cơ quan có thẩm quyền khởi tố hay khởi kiện như là một chứng cứ rõ ràng để khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại.

Cho tới tận thập kỷ 60 thì ở Hoa Kỳ cũng có rất ít các vụ kiện về vi phạm pháp luật độc quyền được các tổ chức và cá nhân (sau đây gọi chung là cá nhân) khởi kiện. Từ năm 1890 tới năm 1940 chỉ có 175 vụ kiện dân sự của các cá nhân nguyên đơn mà đã được tòa án xét xử và các nguyên đơn cũng chỉ thắng được trong 13 vụ. Từ năm 1952 tới năm 1958, các nguyên đơn đã thắng được 20 trong số 144 vụ đã được báo cáo. Bên cạnh đó, các nguyên đơn đã đàm phán, hòa giải thành chỉ đạt 15% tổng số các vụ kiện của cá nhân – nguyên đơn, trong khi đó con số hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp khác tại tòa án Hoa Kỳ thường đạt rất cao 60% -70%.

Các nhà phân tích cho rằng các con số thống kê nêu trên không được thực sự khích lệ vì trong giai đoạn quá khứ đó thì hầu hết (75%) các vụ kiện của cá nhân – nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại là dựa vào một phán quyết trước đó của tòa án. Nhưng tình hình đã thay đổi từ thập kỷ 60 vì Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã có một loạt các quyết định tháo gỡ cho các qui định về tố tụng và tiêu chí đánh giá thiệt hại, cũng như có những thay đổi về pháp luật nội dung.

Một số học giả Hoa Kỳ đã nhận xét là cho tới tận năm 1965 thì tỷ lệ giữa các vụ kiện do nguyên đơn là cá nhân và nhà nước là khoảng 6/1. Từ giữa những năm 1960 tới cuối những năm 1970 thì số lượng các vụ kiện về độc quyền do cá nhân nguyên đơn đã tăng nhanh và đạt kỷ lục vào năm 1977 với 1611 vụ, và so với các vụ kiện do nhà nước là nguyên đơn đã đạt tỷ lệ là hơn 20/1. Tuy nhiên, trong thập kỷ 80 thì xu thế lại giảm và tỷ lệ tương ứng chỉ còn khoảng độ 10/1. Các học giả cũng nhận định là xu thế phát triển các vụ kiện do cá nhân là nguyên đơn sẽ tiếp tục trong khoảng 1 hoặc 2 thập kỷ tới.

Một điểm đáng lưu ý là cho tới năm 1976 thì các cơ quan nhà nước của Hoa Kỳ khởi kiện ra tòa án đối với những vi phạm của tổ chức và cá nhân chỉ với tư cách thay mặt nhà nước để bảo vệ quyền lợi nhà nước và trật tự công. Nhưng từ năm 1976 thì pháp luật Hoa Kỳ đã cho phép Bộ tư pháp các bang được nhân danh các cá nhân là nạn nhân của vi phạm và thường trú tại bang đó được kiện ra tòa để đòi bồi thường gấp ba lần thiệt hại và chi phí tố tụng, luật sư bên cạnh chế tài về ngăn chặn hành vi vi phạm.

Việc pháp luật cho phép tổ chức, cá nhân khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại như vậy cũng đã gây nhiều tranh cãi trong giới học giả mặc dù Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã nhiều lần khẳng định đây là qui định đúng và hiệu quả để phát hiện ra các vi phạm pháp luật về chống độc quyền và thu lại những lợi nhuận bất chính. Các nhà phân tích cũng chỉ ra một số trường hợp nguyên đơn là cá nhân đã bị lôi cuốn bởi việc được bồi thường gấp 3 lần thiệt hại nên đã khởi kiện dù có ít khả năng thắng để tranh thủ có được việc hòa giải với bị đơn. Trong các vụ kiện về chống độc quyền thì bị đơn thường rất ngại ngùng phải ra tòa với mối đe dọa bị bồi thường một khoản lớn trong một vụ kiện hết sức phức tạp (các vụ kiện về chống độc quyền được coi là một trong những loại vụ kiện dân sự phức tạp nhất và tốn kém nhất tại Hoa Kỳ). Vấn đề còn trở nên trầm trọng hơn là trong một số trường hợp các đối thủ cạnh tranh nhau đã tranh thủ các vụ kiện này để tấn công đối thủ khác hay cản trở các vụ sát nhập. Do đó, đã có học giả cảnh báo về tình trạng có thể sẽ có lạm dụng thi hành các qui định của pháp luật về chống độc quyền.

Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia và kết luận của Tòa án tối cao Hoa Kỳ thì việc đa dạng hóa các phương thức đấu tranh chống vi phạm pháp luật về chống độc quyền, mở rộng đối tượng có quyền khởi kiện (cơ quan công tố liên bang, cơ quan quản lý về cạnh tranh, cơ quan công tố bang và các tổ chức cá nhân bị hại) và có những tháo gỡ về mặt tố tụng, cũng như qui định cho phép áp dụng các chế tài kinh tế nghiêm khắc và khoản bồi thường dân sự gấp 3 lần thiệt hại cộng với chi phí tố tụng, luật sư là hướng đi đúng và hiệu quả để phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về chống độc quyền Hoa Kỳ.

3. Một số vấn đề về ảnh hưởng của xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa tới việc hình thành thể chế về cạnh tranh.

Có thể nói đã có một thời pháp luật của Hoa Kỳ về chống độc quyền được dư luận quốc tế coi là sự “độc đáo” của Hoa Kỳ. Nhưng ngày nay điều này không còn nữa bởi vì nhiều nước trên thế giới đã đưa ra các qui định về chống độc quyền. Theo ý kiến của các nhà phân tích thì hiện có khoảng hơn 60 quốc gia đã có luật về cạnh tranh và hàng năm số lượng các nước thông qua luật này ngày càng tăng. Thậm chí, trên bình diện quốc tế cũng xuất hiện những đề xuất ký kết các điều ước quốc tế hay thỏa thuận đa phương như trong Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nhiều nhà phân tích cho rằng một trong những nội dung của vòng đàm phán mới trong WTO sẽ là các cam kết cụ thể về bảo đảm cạnh tranh lành mạnh tại mỗi quốc gia thành viên, mặc dù các ý tưởng này đã được thể hiện tại các qui định của WTO về không phân biệt đối xử hay đối xử tối huệ quốc (MFN) hoặc đối xử quốc gia (NT), cũng như việc bảo đảm các doanh nghiệp nhà nước khi tham gia kinh doanh trên thị trường phải có cùng địa vị về quyền và nghĩa vụ như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Về mặt lịch sử thì pháp luật về cạnh tranh (một thuật ngữ chung chỉ tất cả các qui định của pháp luật về bảo đảm cho cạnh tranh và thị trường hoạt động lành mạnh và hiệu quả) tại các nước khác nhau cũng có những sự khác biệt về quá trình phát triển, phạm vi áp dụng và mức độ nghiêm túc thực thi. Trước Đại chiến thế giới lần thứ II thì các đạo luật về cạnh tranh là tương đối hiếm. Ngoài Hoa Kỳ thì tại Canada cũng đã có một đạo luật có phạm vi điều chỉnh hẹp được thông qua năm 1889 bao gồm các qui định nghiêm khắc về trách nhiệm nhưng lại hiếm khi áp dụng. ở một vài nước khác cũng đã từng có các qui định đơn lẻ về chống các Cartel nhưng trên thực tế có rất ít ảnh hưởng. Ví dụ, Hiến pháp Mehico năm 1917 và Luật về độc quyền của Mehico năm 1934 đã cấm sự độc quyền và hành vi hạn chế kinh doanh với ngoại lệ dành cho các công đoàn, một số Cartel xuất khẩu, sở hữu trí tuệ và các hoạt động chiến lược cụ thể được dành cho chính phủ. Nhưng các học giả quốc tế cho rằng hoàn toàn đúng khi nhận xét rằng pháp luật về cạnh tranh như là một hiện tượng toàn cầu chỉ được bắt đầu từ những năm sau Đại chiến thế giới II.

Trong một số trường hợp thì Hoa Kỳ thực tế đã xuất khẩu và áp đặt pháp luật về cạnh tranh của mình cho các nước bị xâm chiếm. Chẳng hạn sự hình thành pháp luật cạnh tranh tại Đức và Nhật Bản là do ảnh ưởng của Hoa Kỳ sau Đại chiến thế giới II.

Tuy nhiên, theo các nhà phân tích thì bản thân các nước đã tỏ ra quan tâm hơn tới pháp luật cạnh tranh như là một nhu cầu phát triển kinh tế của mình. Có lẽ nhiều người đã biết nếu như Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn Hiệp ước về Hiến chương thành lập tổ chức thương mại quốc tế (ITO) vào cuối thập kỷ 40 thì có lẽ cộng đồng quốc tế đã có một điều ước quốc tế chung về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh đã còn phát triển hơn nhiều.

Trong dự thảo Hiến chương ITO đã được ký mà không được Hoa Kỳ phê chuẩn, các quốc gia thành viên dự kiến thành lập ra ITO để quản lý các qui định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã có hẳn một chương riêng qui định về các thực tế hạn chế thương mại. Theo các qui định này thì nếu được thông qua, mỗi nước thành viên phải có các biện pháp chống lại những thực tế hạn chế thương mại mà có hại cho thương mại quốc tế.

Hiệp ước về thành lập Cộng đồng than và thép châu Âu năm 1952 đã bao gồm các qui định về cạnh tranh cho 6 nước thành viên Cộng đồng. Đối với nước Anh thì đã có một sự thay đổi hầu như ngược lại với trước đó: Trước đại chiến thế giới II, Anh có thiên hướng phát triển các Cartel nhưng chính quyền sau cuộc Đại chiến này đã chống lại thiên hướng này bằng việc ban hành Luật về độc quyền và những thực tế hạn chế kinh doanh năm 1948. Na Uy đã ban hành Luật về giá (năm 1953) để thiết lập một cơ chế kiểm tra và giám sát các thực tế hạn chế kinh doanh và các doanh nghiệp có vị trí thống trị trên thị trường. Sự phát triển tại những nước này cho thấy pháp luật cạnh tranh đã bắt đầu thâm nhập vào các nước dù không phải bị đô hộ hay do ảnh hưởng của Hoa Kỳ như là Đức và Nhật Bản.

Dù có thể còn có những lý giải khác nhau về sự hình thành mạnh mẽ của pháp luật cạnh tranh tại các nước từ sau Đại chiến thế giới II, nhưng các học giả đã chỉ ra một số yếu tố đem lại sự phát triển này. Trước hết, các nước đã rút ra bài học là chính các Cartel được hình thành trước Đại chiến thế giới II tại Đức và Nhật Bản đã đóng góp cho sức mạnh của thể chế độc tài phát xít. Thứ hai, sự lạm phát tràn lan sau chiến tranh tại nhiều nước đã đương nhiên làm các nước phải quan tâm tới bất kỳ chính sách kinh tế nào làm giảm giá cả. Thứ ba, nền kinh tế Hoa Kỳ đã có giai đoạn phát triển mạnh mẽ và chính quyền Hoa Kỳ đã trừng trị nhiều tập đoàn Cartel lớn – chính điều này làm ảnh hưởng và gây ấn tượng mạnh mẽ cho các nước khác.

Trong bối cảnh khu vực hóa và toàn cầu hóa hiện nay mà Việt Nam đang tích cực và chủ động tham gia thì không thể không tính tới pháp luật cạnh tranh. Như đã trình bày ở trên, nếu đúng ra thì các qui định về cạnh tranh đã là các cam kết có hiệu lực tại WTO, nhưng dù chưa phải là các cam kết cụ thể tại thời điểm này thì các nước vẫn còn đang theo đuổi việc phải có các cam kết như vậy trong các vòng đàm phán mới. Ngay cả trong khu vực ASEAN của chúng ta thì sớm muộn cũng sẽ có những thỏa thuận về vấn đề này khi mà các hàng rào về thuế quan và phi thuế quan bị dỡ bỏ để bảo đảm cho thương mại giữa các nước được phát triển và ổn định. Để có thêm những trao đổi về hội nhập quốc tế liên quan tới pháp luật cạnh tranh, chúng ta hãy tham khảo một số thông tin về pháp luật cạnh tranh trong liên minh châu Âu (EU) sau đây.

Một điều dễ nhận thấy là các qui định về cạnh tranh của EU có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Hoa Kỳ về vấn đề này và tương đối phát triển. Ngay từ khi cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) được thành lập bởi Hiệp ước Roma ký ngày 25/3/1957 thì các nước thành viên đã nhất trí về một trong những mục đích cơ bản của mình là ”thiết lập nên một thể chế để bảo đảm là sự cạnh tranh trên thị trường chung không bị bóp méo”. Mục đích này đã được thể hiện trong các quy định cụ thể của Hiệp ước này và các văn bản tiếp theo của EU mà đối tượng áp dụng là các công ty, tổ chức kinh doanh và chính phủ thành viên. Điều 85 của Hiệp ước Roma cấm các thỏa thuận và các thực tế thông đồng hay phối hợp cùng nhau mà có mục đích hoặc ảnh hưởng cản trở, hạn chế hay bóp méo cạnh tranh trừ những trường hợp ngoại lệ mà những thỏa thuận đó đem lại nhiều lợi ích cho cạnh tranh. Tuy nhiên, những lợi ích nào là quan trọng thì cũng đã được thảo luận nhiều trong EU và ý kiến chung là phải lấy tiêu chí hiệu quả kinh tế làm chính…. Năm 1989, EU cũng ban hành Quy chế về sát nhập để kiểm soát các vụ sát nhập lớn.

Trong EU thì Uỷ ban châu Âu có nhiệm vụ thực thi các qui định của EU kể cả đối với pháp luật về cạnh tranh của Liên minh. Uỷ ban châu Âu được chia thành các ban, trong đó Ban IV chịu trách nhiệm thực thi các chính sách về cạnh tranh. Uỷ ban châu Âu có thẩm quyền trừng trị các công ty vi phạm các qui định của EU về cạnh tranh, kể cả việc tuyên phạt các khoản tiền phạt hàng triệu đô la vì vi phạm Hiệp ước Roma. Mô hình pháp luật EU về cạnh tranh cũng đã gây được sự chú ý của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước Trung và Đông Âu đang cố gắng gia nhập EU trong thời gian tới.

Một điểm cuối cùng về ảnh hưởng của tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa là giờ đây các nước phải có những sự hợp tác nhất định trong việc bảo đảm cạnh tranh. Pháp luật về cạnh tranh của các nước phải có sự xích lại gần nhau để hạn chế và chống lại việc các công ty lựa chọn thị trường có pháp luật cạnh tranh lỏng lẻo nhất để hoạt động. Hơn nữa, việc tự do hóa thương mại cũng đặt ra yêu cầu phải tính toán lại phạm vi thị trường và các hàng hóa hay dịch vụ giống nhau và cùng cạnh tranh nhau vì hàng hóa nhập khẩu đã trở thành một nguồn cạnh tranh và thay thế hàng trong nước một cách hiệu quả. Chẳng hạn, khi chúng ta nói về hàng hóa là máy bay hành khách thì số lượng đối thủ cạnh tranh phải được xét trên bình diện toàn thế giới. Vụ kiện giữa các hãng Kodak và Fujifilm tại Hoa Kỳ cũng đã được toà án tính toán tới các yếu tố quốc tế.

Đối với Việt Nam thì đây là một vấn đề tương đối mới mẻ và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm của các nước một cách có chọn lọc để đưa ra một thể chế pháp luật về cạnh tranh cho phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 5/2001

THÁI LAN: LUẬT PHÁP BẢO VỆ NGUỒN GEN THỰC VẬT

Surawit Wannakrairoj

Để bảo vệ nguồn gen thực vật, Thái Lan đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật: Luật bảo vệ rừng, Luật y học dân tộc, Luật bảo hộ giống thực vật… Đây là những kinh nghiệm tốt đối với nhiều nước, trong đó có nước ta để chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen thực vật, khi mà nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm đáng kể. Tuy nhiên những thỏa thuận khu vực có một ý kiến rất quan trọng để mỗi quốc gia, trong đó có Thái Lan thành công trong vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên đang suy giảm này.

Sinh vật hữu sinh tiến hóa và sinh tồn trong môi trường xung quanh. Sự tiến hóa là một quá trình hệ thống trong đó mọi vật phải được hài hòa cân đối với nhau để tồn tại. Sự cân bằng của bất kỳ hệ sinh thái nào cũng mang tính động và thay đổi theo thời gian. Một số loài có thể bị tuyệt chủng, một số loài mới lại hình thành. Loài người là một phần nhỏ của hệ thống, nhưng lại mong muốn mình là nhân tố lớn gây xáo trộn sự cân bằng. Khi công nghệ do con người triển khai đạt được các bước tiến, sinh thái toàn cầu tỏ ra không còn cân bằng nữa. Các nhà khoa học trên thế giới đã nhận thức ra vấn đề này và đang cố gắng giảm thiểu quá trình hủy hoại. Một số cam kết và công ước quốc tế đã được đưa ra nhằm sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên sinh học.

Thái Lan cũng giống như các nước đang phát triển khác trong vùng nhiệt đới, giàu về đa dạng sinh học, về hệ sinh thái, loài và di truyền. Sự khai thác thái quá các nguồn sinh học trước đây đã khiến các cơ quan lập pháp phải thông qua Đạo luật về rừng vào năm 1941. Theo Đạo luật này khi muốn khai thác bất cứ một nguồn tài nguyên thiên nhiên nào trong phạm vi của rừng thì phải xin phép và trả một khoản phí trên danh nghĩa. Việc quyết định cho khai thác các nguyên liệu trong rừng phải dựa trên hiện trạng của các nguồn tài nguyên trong vùng. Tuy vậy, đạo luật này đã không có hiệu lực thực hiện do diện tích có rừng quá rộng.

Từ năm 1973, Thái Lan trở thành thành viên của Công ước quốc tế về cấm buôn bán các loài động, thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng (CITES). Dưới sức ép của Công ước, Chính phủ đã sửa đổi Đạo luật về thực vật vốn là văn bản được soạn thảo để bảo vệ các quyền lợi của các nông dân để phù hợp với các qui định của CITES. Tất cả các loài được liệt kê trong CITES cũng được coi là các loài được bảo tồn đã được qui định trong pháp lệnh thực vật. Việc xuất nhập khẩu cũng như tái xuất các loài được bảo tồn cũng được qui định rõ ràng. Những loài thực vật chỉ có trong rừng không được phép dùng để buôn bán quốc tế trừ khi được nhân giống nhân tạo. Hệ thống này đòi hỏi một biện pháp kiểm soát có hiệu quả tại cả các nước xuất và các nước nhập khẩu. Nhưng đáng tiếc là Công ước này mới chỉ liệt kê danh sách các giống loài đang có nguy cơ tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng trong buôn bán quốc tế.

Việc hình thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã dẫn đến những thay đổi lớn trong xã hội của các nước đang phát triển. Các nước mạnh cố gắng tận dụng công nghệ tiên tiến của họ cũng như sức mạnh thương lượng. Các quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), một vấn đề cốt yếu của WTO đang làm thay đổi cách thức mà các nước giải quyết các nguồn tài nguyên sinh vật và các tri thức truyền thống có liên quan.

Người dân địa phương đã từng sống hài hòa với rừng. Cây là thức ăn, gia vị là những vị thuốc vô cùng quan trọng. Các công thức của các vị thuốc cổ truyền được hình thành qua một thời gian dài, trả bằng giá cuộc sống và sức khỏe của các thế hệ trước. Các tri thức về các thuộc tính sử dụng cây thuốc được tích lũy từ nhiều thế hệ. Thế nhưng khối tri thức này lại không được hệ thống bảo vệ SHTT quốc tế hiện nay đề cập đến mặc dù giá trị to lớn của nó.

Chính phủ nhận thức được 25% thuốc tân dược trong nước được sản xuất bằng các công nghệ y học cao dựa vào tri thức và các loài thực vật của đất nước. Chính phủ cũng biết được các nhà nghiên cứu nước ngoài đến Thái Lan đã rất thành công trong việc thương mại hóa những loại thuốc có nguồn gốc từ cây bản địa mà không phải chia sẻ bất kỳ lợi ích cho địa phương. Chính phủ hiện đang cố gắng thông qua đạo luật bảo vệ và khuyến khích nền y học dân tộc của Thái Lan.Vì quyền lợi quốc gia, Chính phủ đã phê duyệt dự thảo đạo luật này và sắp tới Thượng viện sẽ xem xét và thông qua.

Dự thảo Đạo luật y học dân tộc Thái Lan là một cố gắng đầu tiên nhằm bảo vệ cây thuốc và các tri thức. Nguồn tri thức này được phân nhóm: Thuộc sở hữu quốc gia, của dân chúng và tư nhân. Chỉ có những người được phép mới được thực hành, nghiên cứu hoặc triển khai cũng như thương mại hóa các kiến thức về y học dân tộc này. Cần phải trả chi phí cơ hội của tri thức cổ truyền cho người giám hộ. Việc chia sẻ các kết quả nghiên cứu và lợi ích của nó có thể sẽ khuyến khích sự bảo tồn và phát triển của các tri thức này. Bên cạnh việc bảo vệ các tri thức truyền thống trước những kẻ khai thác quá đáng, dự thảo đạo luật này còn nhằm bảo tồn tính đa dạng đang bị suy giảm của các loài và nơi cư trú của chúng. Việc bảo tồn đa dạng sinh học trong một đất nước trong chừng mực nào đó có nghĩa là sẽ chậm phát triển hơn. Một số lượng quan trọng các loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng sẽ được liệt kê như những loài cây thuốc đang bị kiểm duyệt. Bất cứ một hành động nào đối với các loài cây này đều bị giám sát chặt chẽ, thông qua hệ thống giấy phép và thỏa thuận. Nơi cư trú của các cây thuốc này có thể được xây dựng làm khu bảo tồn nhằm bảo tồn tính đa dạng của chúng. Phải xây dựng kế hoạch hành động quản lý để khai thác và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Đạo luật đã được soạn thảo trên nền tảng của Công ước bảo vệ đa dạng sinh học mà không vi phạm bất cứ một thỏa thuận quốc tế nào. Nguyên tắc đồng ý có thông báo trước, việc chia sẻ lợi ích và chuyển giao công nghệ của Công ước đa dạng sinh học về cơ bản phải được ràng buộc trong dự thảo. Bản Dự thảo luật này đã khuyến khích các cộng đồng địa phương thực hiện các quyền liên quan đến tri thức cổ truyền của mình.

Theo Hiệp định về các khía cạnh SHTT liên quan đến thương mại (TRIPS) của WTO, các nước thành viên phải thiết lập một hệ thống pháp lý có hiệu lực để bảo hộ các giống thực vật thông qua hệ thống các Patent hoặc hệ thống giống lạ duy nhất hoặc hai hệ thống kết hợp. Trong trường hợp của Thái lan, hệ thống giống lạ duy nhất được lựa chọn để sử dụng. Một đạo luật được soạn thảo dựa trên Hiệp hội quốc tế về bảo tồn các loài thực vật mới (UPOV), Công ước về bảo vệ các loài thực vật mới và Công ước về bảo vệ đa dạng sinh học nhằm bảo vệ các loài và giống động, thực vật. Đối với công ước UPOV, chỉ năm 1978các ý tưởng về mô hình lợi ích mới được chấp nhận và thay đổi cho phù hợp với cấu trúc xã hội trong điều kiện của Thái lan. Quyền của các nông dân sẽ được bảo vệ tối đa, trong khi các nhà gây giống sẽ được khen thưởng xứng đáng cho công trình của họ.

Dự thảo luật bảo hộ giống thực vật sẽ tạo ra quyền của cộng đồng trên cơ sở đồng ý có thông báo trước và chia sẻ các quyền lợi. Cộng đồng sẽ được khuyến khích để bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc giám sát tất cả khả năng với tới các nguồn gen thực vật. Nếu một người nhân giống muốn áp dụng để bảo vệ một giống cây mới trên một vùng đất nào đó thì người này phải nêu ra một hợp đồng chia sẻ lợi ích trước khi được cấp giấy phép. Không giống như các nước giàu tài nguyên khác, Thái Lan giành quyền kiểm soát và trực tiếp chia sẻ quyền lợi cho cộng đồng chứ không phải cho Chính phủ. Người ta cho rằng các cơ chế khuyến khích bằng tài chính sẽ tạo động lực cho các cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn và phát triển các giống loài của địa phương cho việc sử dụng của các nhà nghiên cứu thực vật trong tương lai.

Cơ chế khuyến khích tài chính này cũng sẽ hướng cộng đồng vào việc bảo vệ các giống hoang dã và nơi cư trú của chúng.

Dư luận cũng đã được các dư luận xã hội chú ý. Một thông tin cũng được tiết lộ rằng Công ty xay xát của Mỹ vừa đăng ký nhãn hàng cho một loại gạo thơm. Nhãn đăng ký của loại gạo này là Jasmati kết hợp từ 2 giống gạo thơm nổi tiếng “Jamin” của Thái và “Basmati” của ấn Độ và Pakistan. Nhãn hàng được đăng ký này có thể gây cho người tiêu dùng sự nhầm lẫn rằng đây là một loại gạo lai giữa hai loại nổi tiếng trên. Sử dụng tên gọi không hề liên quan với các tên hàng nổi tiếng trên gây sự hiểu lầm trong người tiêu dùng về chất lượng gạo. Mặt khác công ty của Mỹ sẽ phải tốn rất nhiều tiền để thu hồi lại nhãn hàng này. Thay vào đó, hiện nay Thái Lan đang áp dụng nhãn hàng cho loại gạo Dự của Thái đối với phần lớn các nước nhập khẩu gạo Thái. Chiến lược này, cùng với chương trình khuyến khích lai giống sẽ đưa ngành công nghiệp gạo của Thái tiến triển, đương đầu với bất cứ sự vi phạm bản quyền nào trên thị trường tự do.

Một dự luật khác về việc bảo vệ các nguồn gen thực vật là các khu rừng cộng đồng. Kinh nghiệm trong quá khứ về chính sách bảo vệ rừng cho thấy là không thành công. Các vùng rừng mênh mông bị phá hủy. Một mình các quan chức chính phủ không thể điều hành chính sách một cách có hiệu quả. ý thức về quyền sở hữu của người dân cũng rất cần thiết. Một cộng đồng cần được thụ hưởng từ các nỗ lực bảo vệ rừng. Một dự luật mới ra đời sẽ cho phép dân làng sống cộng sinh với rừng. Dân làng sẽ vừa gìn giữ rừng vừa sử dụng bền vững các sản phẩm của rừng.

Tất cả các dự luật trên sẽ giúp Thái Lan bảo vệ các nguồn gen thực vật khỏi nạn cướp sinh học. Việc thực thi các dự luật sẽ được tăng cường thông qua một thỏa thuận cấp khu vực. Điều này là do các loài thực vật trên đất Thái Lan cũng dễ tìm thấy ở các nước láng giềng. Đạo luật quốc gia không thể vượt qua biên giới. Một thỏa thuận khu vực giữa các nước giàu tài nguyên, đặc biệt là các điều khoản và điều kiện về chia sẻ lợi ích và chuyển giao công nghệ, sẽ đưa các nước công nghiệp hóa đến bàn thương lượng. Không có một thỏa thuận khu vực, tương lai của các nguồn tài nguyên thực vật sẽ bị lãng quên.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 5/2001

NHỮNG ĐIỀU KHÁC BIỆT GIỮA HƯƠNG ƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI XƯA

Vốn có nguồn gốc từ phong tục, tập quán nên hương ước có một sức sống bền bỉ, lâu dài. Hương ước đã từng tồn tại song song với luật nước, từng giữ vai trò là công cụ quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư và để quản lý làng xã. Trong xã hội, mỗi người dân không những phải làm đúng phép nước mà còn phải tuân thủ lệ làng. Vậy giữa hương ước và pháp luật có sự khác biệt như thế nào?

Nội dung của hương ước đơn giản và gọn nhẹ hơn so với pháp luật. Bộ luật Hồng Đức có tới 722 điều quy định liên quan hầu hết đến các mặt của đời sống, còn một bản hương ước của người Việt chỉ gồm vài chục điều khoản liên quan đến một số mặt của đời sống làng mạc. Mỗi mặt của đời sống xã hội (ví dụ những quy định về hôn nhân gia đình), được luật pháp Nhà nước cụ thể thành hàng chục, thậm chí hàng trăm điều khoản, trong khi đó, ở các bản hương ước, vấn đề này được ghi nhận trong một vài điều khoản ngắn gọn.

Trong văn bản pháp luật chỉ quy định các hình thức xử phạt, mà không có hình thức khen thưởng như hương ước. Điều này là do tính cưỡng chế Nhà nước của các quy phạm pháp luật quy định. Nó khác với hương ước, ngoài tính áp đặt còn mang tính khuyến cáo, khuyên răn, khuyến thiện. Khung hình phạt của hương ước thường đơn giản và ít mang tính nghiêm khắc hơn so với pháp luật. Hình phạt chính trong hương ước chủ yếu là phạt tiền; còn pháp luật thời kỳ phong kiến quy định 5 hình phạt (ngũ hình) rất nghiêm khắc, đó là: suy (đánh bằng roi), trượng (đánh bằng gậy), đồ (bắt làm công việc nặng nhọc), lưu (đày ải đi nơi xa) và tử (phải tội chết). Tuy nhiên, việc xử phạt theo hương ước có nét tinh tế là nó đánh vào tinh thần, danh dự không chỉ của cá nhân mà có khi còn là cả gia đình, dòng họ; đánh vào cả những nỗi sợ hãi vô hình, những điều sâu thẳm trong tâm linh của con người, ví dụ như việc truất, hạ ngôi thứ, tẩy chay đám tang và cao nhất là việc đuổi ra khỏi làng. Hương ước nhiều khi còn được nhân dân coi trọng như một nghi lễ thiêng liêng. Nhiều làng, xã vào dịp đầu xuân thường tổ chức Lễ Minh thệ – Lễ ăn thề – tập hợp đông đảo dân làng đến chốn đình chung, hay những nơi linh thiêng của làng để nghe đọc hương ước và mọi người có mặt phải thề sẽ tuân thủ theo hương ước, nếu không sẽ bị thần linh trừng phạt. Trong tâm thức của người nông dân, việc tuân thủ theo các điều khoản của hương ước, tuy là những ràng buộc vô hình nhưng hữu hiệu mà không phải bất cứ quy phạm pháp luật nào cũng có được.

Trong hương ước không có hình thức giảm tội cho bất kỳ ai có hành vi vi phạm, cho dù người đó thuộc thành phần xuất thân và có địa vị xã hội như thế nào trong làng. Trong khi đó, pháp luật phong kiến có quy định bát nghị, cho phép một số giai tầng trong xã hội (chủ yếu là thân thích của hoàng tộc, các công thần) được giảm mức hình phạt khi phạm tội. Điều đó cho thấy tính bình đẳng của hương ước rõ nét hơn so với pháp luật.

Hương ước được xây dựng từ những phong tục truyền thống rất thiết thực và gần gũi với mỗi cộng đồng làng. Chính bởi vậy, hương ước có tính bảo lưu lâu dài, ít thay đổi, mặt khác, nó được con người biết đến từ tấm bé, do cách lưu truyền tự nhiên từ gia đình, từ dòng họ và trở thành một thói quen, một nếp sống. Trong khi đó, pháp luật được hình thành do ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, mang tính cưỡng chế và dễ thay đổi khi thể chế thay đổi. Đây chính là sự khác biệt cơ bản của hương ước và pháp luật.

Công Minh (st)- HAIPHONG.GOV.VN

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY trong xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

GS.TS. LÊ HỮU NGHĨA –  Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới toàn diện đất nước, tư duy về kinh tế thị trường ở nước ta đã từng bước được hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội. Tuy vậy, những năm tới, trong xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới tư duy vẫn là vấn đề bức thiết.

1. Trước đổi mới, Việt Nam đã áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp theo mô hình của Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong mô hình này, sở hữu tư nhân và cá nhân bị coi nhẹ, nặng về mục tiêu phát triển quan hệ sản xuất, xây dựng nền kinh tế hầu như khép kín, không coi trọng đúng mức vai trò của các ngành dịch vụ, không chú trọng phát triển quan hệ hàng hóa – tiền tệ và các yếu tố thị trường trong nền kinh tế. Tuy mô hình này không phù hợp với điều kiện thực tiễn mới khi đã chuyển sang kiến thiết đất nước trong thời bình, nhưng duy trì quá lâu, làm thui chột các động lực tăng trưởng, nền kinh tế của nước ta lâm vào khủng khoảng trầm trọng. Thực tế đó đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư duy, mà điểm then chốt là tư duy về kinh tế thị trường.

Trong thời kỳ đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển. Nếu ở Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ dưới CNXH, thì đến Đại hội VII và VIII Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đại hội IX tiếp tục đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong lý luận của Đảng ta, đã xác định “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hinh kinh tế tổng quát” trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

Đại hội X của Đảng đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trên các phương diện: nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Đại hội đã xác định 4 tiêu chí lớn của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta và tiếp tục chủ trương: “Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh”. Theo đó, có 5 loại thị trường cơ bản được xác định là: thị trường hàng hóa và dịch vụ; sức lao động; khoa học và công nghệ; bất động sản và thị trường tài chính. Sự phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả cả 5 loại thị trường cơ bản ấy là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Tuy nhanh, chậm và quy mô có khác nhau, nhưng các loại thị trường ở Việt Nam đều chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa bao gồm nhiều thành phần và nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy thời gian phát triển chưa nhiều, nhất là so với những nước phát triển có nền kinh tế thị trường đã tồn tại hàng trăm năm, nhưng về cơ bản thể chế kinh tế thị trường ở nước ta đã được hình thành ngày một rõ nét hơn.

Tư duy lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được thực tiễn khẳng định là đúng đắn và từng bước đi vào cuộc sống. Những thành tựu về phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong thời gian qua đã khẳng định điều đó. Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, các thị trường chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tính định hướng XHCN đối với kinh tế thị trường còn chưa sáng tỏ. Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và đổi mới tư duy trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

2. Thực tiễn cho thấy, đến nay chúng ta vẫn chưa hình thành được một khung lý thuyết vững chắc về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên trong xây dựng, vận hành và xử lý các vấn đề của cơ chế kinh tế, nhiều khi, chưa tôn trọng đầy đủ và nhất quán những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường cũng như của định hướng XHCN. Chưa xác định rõ và tạo được sự nhất trí cao về những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt về cấu trúc, quan hệ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, vẫn chậm làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa hai thành tố là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự kết hợp chúng một cách hữu cơ để tạo thành một phương thức mới giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam.

Nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm so với thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề đặt ra còn chưa được giải quyết, tổng kết kịp thời. Do vậy, trong công tác chỉ đạo còn thiếu nhất quán, lúc mở ra lúc co lại, lúc thiên bên này, lúc lại lệch bên khác, làm chậm quá trình phát triển chung của nền kinh tế.

Mối quan hệ trong cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” chưa được giải quyết hiệu quả trên thực tế, làm giảm hiệu lực quản lý kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường, nhất là về mặt lợi ích kinh tế, chưa được xử lý phù hợp, chưa phát huy được tính năng động của Nhà nước cũng như vai trò thúc đẩy của thị trường, đặc biệt là vai trò lực lượng xung kích của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế, ngay cả khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Thể chế kinh tế thị trường, kể cả hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước, mặc dù đã dần được hình thành, song còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở, làm méo mó quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Hiệu lực quản lý Nhà nước còn hạn chế, nhất là trong điều hành nền kinh tế còn nặng tính hành chính; phân định chức năng chưa rõ ràng. Một mặt, có xu hướng buông lỏng chức năng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế thị trường, mặt khác, lại duy trì quá lâu sự độc quyền trong một số lĩnh vực (nhiều trường hợp độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp).

Đến nay chúng ta chưa xây dựng được Chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy, các ngành, địa phương và doanh nghiệp còn lúng túng khi xác định nội dung, bước đi cụ thể trong quá trình hội nhập.

Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh ở nước ta vừa qua có được cải thiện thêm đáng kể. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), năm 2007 môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 13 bậc so với năm 2006 (xếp thứ 91/187 nước). Nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập, chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp vẫn thuộc loại cao so với các nước khác trong khu vực. Xét về tổng thể, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua bị giảm sút liên tục.

Tăng trưởng kinh tế tuy cao, nhưng vẫn chủ yếu là tăng về lượng, còn chất lượng tăng trưởng chưa cao, khoảng cách phát triển của Việt Nam so với các nước trong khu vực chưa được rút ngắn, sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm chậm được cải thiện, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Những đặc trưng của kinh tế thị trường như tự do hóa giá cả, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bỏ dần hàng rào bảo hộ đối với doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhà nước còn chậm được tiến hành trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO.

Thực tế nhiều giá cả như viễn thông, hàng không… còn mang tính độc quyền đã ảnh hưởng đến sức cạnh tranh chung của nền kinh tế. Thực trạng đầu tư chưa theo tín hiệu của thị trường còn phổ biến, nhiều dự án đầu tư vẫn theo chỉ định cấp phát, dấu ấn của mô hình kế hoạch hóa tập trung, tệ nạn “xin – cho” vẫn còn tồn tại.

Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, được xác định là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, song còn nhiều doanh nghiệp chưa chủ động vươn lên, đổi mới công nghệ, quản lý, nâng cao sức cạnh tranh để đứng vững trong cạnh tranh hội nhập. Vẫn còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước, trong lúc sức ép cắt giảm các khoản bảo hộ của nhà nước đang rất lớn trong khung khổ của WTO.

Cải cách thể chế còn chậm, nhất là thủ tục hành chính, các thị trường như thị trường bất động sản, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường khoa học, công nghệ… chậm phát triển. Hạn chế này đã tạo ra tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, gây bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong cạnh tranh thương mại quốc tế.

Các công cụ quản lý nhà nước như quy hoạch, kế hoạch chưa phát huy được vai trò tích cực, dẫn đến trong điều hành vĩ mô chưa hạn chế được nhiều mặt trái của kinh tế thị trường; tình trạng đầu cơ quyền sử dụng đất đai; sử dụng đất và khai thác tài nguyên thiếu quy hoạch, bán quặng thô diễn ra tràn lan ở các địa phương gây nhiều bức xúc trong nhân dân; đầu tư tràn lan theo phong trào (mía đường, hệ thống cầu cảng, sản xuất bia…) và dàn trải kém hiệu quả.

Cơ chế thị trường hoạt động kém hiệu quả, quá trình tự do hóa kinh tế diễn ra chậm chạp, một phần do sự chi phối quá mức của Nhà nước vào quá trình sản xuất – kinh doanh, mặt khác do duy trì quá lâu quan hệ kinh tế phi thị trường giữa Nhà nước và doanh nghiệp, các nguyên tắc thị trường bị vi phạm.

Trong phát triển kinh tế, chưa chú trọng đầy đủ đến việc giải quyết các vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội; tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, khoảng cách giàu nghèo đang tăng nhanh, đe dọa đến sự ổn định xã hội. Môi trường sinh thái có nguy cơ bị hủy hoại, sẽ ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Một số chủ trương trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế (như vấn đề tăng học phí, cổ phần hóa bệnh viện…) gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội.

3. Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, cần tiếp tục đổi mới tư duy lý luận về kinh tế thị trường ở Việt Nam trên mấy vấn đề sau:

a) Thống nhất về nhận thức, tư tưởng. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam phải vừa bảo đảm tôn trọng các nguyên tắc của kinh tế thị trường, vừa phát triển bền vững trên cơ sở chú trọng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.

Kinh tế thị trường theo mô hình mà chúng ta lựa chọn là phương thức phát triển kinh tế dựa trên những nguyên tắc của thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Kinh tế thị trường tự nó không thể quyết định bản chất và định hướng phát triển của một chế độ xã hội. Bản chất của chế độ chính trị – xã hội quyết định bản chất của nền kinh tế thị trường. Có thể khẳng định, chỉ phát triển có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì mới có khả năng thực hiện thành công công nghiệp hóa rút ngắn ở Việt Nam, theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Kinh tế thị trường và định hướng XHCN phải là những thuộc tính bản chất, những yếu tố nội tại bền vững trong mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta, không thể coi nhẹ yếu tố nào. Định hướng XHCN phải được quán triệt khi vận hành các nguyên tắc của thị trường, ngược lại, việc thực hiện định hướng XHCN không được tách rời biệt lập với các quy luật của thị trường.

Giữ vững định hướng XHCN trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường là thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Chỉ có phát triển hiệu quả và bền vững nền kinh tế thị trường trong quá trình thực thi các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới tạo được cơ sở kinh tế bảo đảm cho phát triển theo định hướng XHCN ở nước ta. Nhưng lại chỉ có sức mạnh của nền kinh tế thị trường hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần, kinh tế trong đó kinh tế nhà nước thực sự có hiệu quả đóng vai trò chủ đạo, mới là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng XHCN.

b) Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển; Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội; Bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường; Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái.

Tăng cường vai trò của Nhà nước về kinh tế trên cơ sở đổi mới phương thức quản lý từ chỗ can thiệp trực tiếp vào thị trường sang quản lý vĩ mô. Nhà nước có vai trò quyết định trong việc tạo các điều kiện, môi trường để thúc đẩy nhanh hơn sự hình thành và phát triển các loại thị trường, cũng như các yếu tố trong từng loại thị trường theo mục tiêu đã được đề ra, đặc biệt khi nước ta đã vào WTO. Nhà nước cần dự báo ngắn hạn và dài hạn những gì xảy ra trong giai đoạn hậu WTO, thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp và có giải pháp vĩ mô để nâng cao khả năng cạnh tranh trên cả ba cấp độ: doanh nghiệp, sản phẩm và nền kinh tế.

Việc vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu vai trò của Nhà nước càng cần thiết hơn. Điều này thể hiện sự can thiệp của Nhà nước phải vừa bảo đảm tốt lợi ích quốc gia trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc thị trường, phải tôn trọng tính tất yếu của các quy luật kinh tế khách quan (nghĩa là phát huy các mặt mạnh của kinh tế thị trường để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh), vừa tôn trọng các định chế kinh tế, thương mại quốc tế.

Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm hẳn sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Để thực hiện nhiệm vụ này cần xác định các định hướng:

+ Tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, thu hẹp và tiến tới các bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố không còn thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 5, khóa X.

+ Xóa bỏ “chế độ chủ quản”; tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi cơ quan sự nghiệp; phát triển mạnh các dịch vụ công (giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục – thể thao…).

+ Thực hiện việc phân công hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thực hiện các chức năng hành pháp, tư pháp và lập pháp trong hoạt động của bộ máy nhà nước, khắc phục sự chồng chéo, bỏ sót và giảm hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nhà nước cần quy định, kiểm soát, hướng dẫn cạnh tranh, tạo cơ hội bình đẳng trong cạnh tranh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Gần đây, trong nền kinh tế nước ta đang diễn ra các quá trình sáp nhập các doanh nghiệp nhà nước thành công ty mẹ – con, tập đoàn… Đây là quá trình, trong nhiều trường hợp, đã được lý giải bởi sự cần thiết của việc tăng cường hiệp tác sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện mở cửa, hội nhập và tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Song, ở một khía cạnh khác của vấn đề, quá trình đó phải được thực hiện đúng quy luật khách quan, nghĩa là dựa trên nguyên tắc thị trường, xuất phát từ những tất yếu về mặt kinh tế, kỹ thuật, đó là tính hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh khi sáp nhập hoặc hình thành mới các doanh nghiệp nhà nước, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính chủ quan, duy ý chí.

c) Tiếp tục phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.

Một là, tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa sở hữu, phát triển nền kinh tế với nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh vừa tạo ra sức cung, vừa tạo ra sức cầu cho các loại thị trường. Về mặt lý thuyết, một trong những cơ sở phát triển kinh tế thị trường là có sự tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Do đó, để phát triển thể chế kinh tế thị trường nói chung, các loại thị trường nói riêng, cần đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Không những thế, phát triển nền kinh tế thị trường đa sở hữu, nhiều thành phần phải dựa trên sự coi trọng mối quan hệ bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, lấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh và kinh tế – xã hội làm tiêu chí đánh giá. Đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước một cách lành mạnh, vững chắc, phát triển các hình thức kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân và các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới…

Hai là, phải có một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; phát triển khoa học, công nghệ; áp dụng kịp thời các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào đổi mới công nghệ trong sản xuất. Đẩy mạnh sự phân công, hợp tác giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, cũng như mối quan hệ hợp tác trên phạm vi quốc tế. Một số giải pháp chủ yếu cho vấn đề này là:

– Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội, cần chú trọng phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

– Điều chỉnh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực, ngành nghề theo yêu cầu phát triển cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong các kỳ kế hoạch 5 năm để đến năm 2020 nước ta có một cơ cấu lao động của một nước công nghiệp mới.

– Đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ nhằm tạo ra những công nghệ sản xuất phù hợp, tiên tiến, tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Hoàn thiện môi trường thể chế, trước hết là môi trường pháp lý, để thị trường hoạt động trong một hành lang pháp lý thông thoáng và minh bạch là nhiệm vụ cấp bách thúc đẩy sự phát triển các loại thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế.

Ba là, hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, được cấu thành từ nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất. Trong đó, kinh tế nhà nước và tập thể phải ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa các nguồn vốn sản xuất.

Hiện nay, môi trường pháp lý và năng lực quản lý nhà nước của các cơ quan công quyền chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường. Để tạo môi trường thể chế phát triển các loại thị trường, trước hết cần rà soát lại hệ thống văn bản pháp luật nhằm khắc phục những quy định không thống nhất giữa các văn bản, xóa bỏ những bất cập trong hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành làm ảnh hưởng đến việc hình thành môi trường kinh doanh chung của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Các văn bản pháp luật phải có tính thực thi cao, phù hợp với thực tiễn và có tính ổn định. Phải tiếp tục nâng cao năng lực của các cơ quan soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật, đồng thời nâng cao dân trí và trình độ nhận thức và chấp hành pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện các bộ luật liên quan đến kinh tế thị trường.

Bốn là, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho các loại hình thị trường theo hướng hội nhập, trong đó cần phải chú ý đúng mức đến việc tăng cường xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các loại thị trường; hình thành và phát triển các dịch vụ hỗ trợ thị trường; sớm xây dựng thể chế cho việc chính thức ra đời và phát triển các loại giao dịch điện tử, thương mại điện tử. Cần tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, hiện đại hóa các cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, thể thao, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển một nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế.

d) Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh

Cần quán triệt và cụ thể hóa quan điểm Đại hội X của Đảng, xác định các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Không nên đồng nhất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với tỷ trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân, mà phải xem xét trong sự chi phối, tác động chung đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục được đổi mới, sắp xếp lại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đi đầu và là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Muốn vậy, phải nhanh chóng khắc phục mọi khuynh hướng bao cấp trở lại nhằm kéo dài thời gian bảo hộ cho doanh nghiệp nhà nước, cần kiên quyết chống độc quyền doanh nghiệp, thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh.

Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần.

Cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch, công khai, tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành viên tham gia thị trường, chú ý tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc khuyến khích, tạo điều kiện cho phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khắc phục tư tưởng kỳ thị. Phải coi sự phát triển kinh tế tư nhân như một động lực phát triển của kinh tế dân tộc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Thực sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu. Nhà nước chỉ thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm; một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, khắc phục rủi ro; một số địa bàn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực hiện sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài).

Quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế đang được đẩy lên với tốc độ nhanh hơn. Trong khuôn khổ của WTO, vòng đàm phán Đô-ha tiếp tục được thúc đẩy. Nền kinh tế nước ta sẽ tiếp tục hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và quốc tế. Điều này sẽ tác động sâu sắc đến việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Từ đó chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, khẩn trương và có bước đi phù hợp trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 23 (143) NĂM 2007

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS.TS. LÊ HỮU NGHĨA –  Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới toàn diện đất nước, tư duy về kinh tế thị trường ở nước ta đã từng bước được hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội. Tuy vậy, những năm tới, trong xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới tư duy vẫn là vấn đề bức thiết.

1. Trước đổi mới, Việt Nam đã áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp theo mô hình của Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong mô hình này, sở hữu tư nhân và cá nhân bị coi nhẹ, nặng về mục tiêu phát triển quan hệ sản xuất, xây dựng nền kinh tế hầu như khép kín, không coi trọng đúng mức vai trò của các ngành dịch vụ, không chú trọng phát triển quan hệ hàng hóa – tiền tệ và các yếu tố thị trường trong nền kinh tế. Tuy mô hình này không phù hợp với điều kiện thực tiễn mới khi đã chuyển sang kiến thiết đất nước trong thời bình, nhưng duy trì quá lâu, làm thui chột các động lực tăng trưởng, nền kinh tế của nước ta lâm vào khủng khoảng trầm trọng. Thực tế đó đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư duy, mà điểm then chốt là tư duy về kinh tế thị trường.

Trong thời kỳ đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển. Nếu ở Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ dưới CNXH, thì đến Đại hội VII và VIII Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đại hội IX tiếp tục đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong lý luận của Đảng ta, đã xác định “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hinh kinh tế tổng quát” trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

Đại hội X của Đảng đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trên các phương diện: nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Đại hội đã xác định 4 tiêu chí lớn của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta và tiếp tục chủ trương: “Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh”. Theo đó, có 5 loại thị trường cơ bản được xác định là: thị trường hàng hóa và dịch vụ; sức lao động; khoa học và công nghệ; bất động sản và thị trường tài chính. Sự phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả cả 5 loại thị trường cơ bản ấy là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Tuy nhanh, chậm và quy mô có khác nhau, nhưng các loại thị trường ở Việt Nam đều chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa bao gồm nhiều thành phần và nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy thời gian phát triển chưa nhiều, nhất là so với những nước phát triển có nền kinh tế thị trường đã tồn tại hàng trăm năm, nhưng về cơ bản thể chế kinh tế thị trường ở nước ta đã được hình thành ngày một rõ nét hơn.

Tư duy lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được thực tiễn khẳng định là đúng đắn và từng bước đi vào cuộc sống. Những thành tựu về phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong thời gian qua đã khẳng định điều đó. Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, các thị trường chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tính định hướng XHCN đối với kinh tế thị trường còn chưa sáng tỏ. Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và đổi mới tư duy trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

2. Thực tiễn cho thấy, đến nay chúng ta vẫn chưa hình thành được một khung lý thuyết vững chắc về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên trong xây dựng, vận hành và xử lý các vấn đề của cơ chế kinh tế, nhiều khi, chưa tôn trọng đầy đủ và nhất quán những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường cũng như của định hướng XHCN. Chưa xác định rõ và tạo được sự nhất trí cao về những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt về cấu trúc, quan hệ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, vẫn chậm làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa hai thành tố là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự kết hợp chúng một cách hữu cơ để tạo thành một phương thức mới giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam.

Nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm so với thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề đặt ra còn chưa được giải quyết, tổng kết kịp thời. Do vậy, trong công tác chỉ đạo còn thiếu nhất quán, lúc mở ra lúc co lại, lúc thiên bên này, lúc lại lệch bên khác, làm chậm quá trình phát triển chung của nền kinh tế.

Mối quan hệ trong cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” chưa được giải quyết hiệu quả trên thực tế, làm giảm hiệu lực quản lý kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường, nhất là về mặt lợi ích kinh tế, chưa được xử lý phù hợp, chưa phát huy được tính năng động của Nhà nước cũng như vai trò thúc đẩy của thị trường, đặc biệt là vai trò lực lượng xung kích của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế, ngay cả khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Thể chế kinh tế thị trường, kể cả hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước, mặc dù đã dần được hình thành, song còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở, làm méo mó quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Hiệu lực quản lý Nhà nước còn hạn chế, nhất là trong điều hành nền kinh tế còn nặng tính hành chính; phân định chức năng chưa rõ ràng. Một mặt, có xu hướng buông lỏng chức năng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế thị trường, mặt khác, lại duy trì quá lâu sự độc quyền trong một số lĩnh vực (nhiều trường hợp độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp).

Đến nay chúng ta chưa xây dựng được Chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy, các ngành, địa phương và doanh nghiệp còn lúng túng khi xác định nội dung, bước đi cụ thể trong quá trình hội nhập.

Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh ở nước ta vừa qua có được cải thiện thêm đáng kể. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), năm 2007 môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 13 bậc so với năm 2006 (xếp thứ 91/187 nước). Nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập, chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp vẫn thuộc loại cao so với các nước khác trong khu vực. Xét về tổng thể, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua bị giảm sút liên tục.

Tăng trưởng kinh tế tuy cao, nhưng vẫn chủ yếu là tăng về lượng, còn chất lượng tăng trưởng chưa cao, khoảng cách phát triển của Việt Nam so với các nước trong khu vực chưa được rút ngắn, sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm chậm được cải thiện, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Những đặc trưng của kinh tế thị trường như tự do hóa giá cả, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bỏ dần hàng rào bảo hộ đối với doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhà nước còn chậm được tiến hành trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO.

Thực tế nhiều giá cả như viễn thông, hàng không… còn mang tính độc quyền đã ảnh hưởng đến sức cạnh tranh chung của nền kinh tế. Thực trạng đầu tư chưa theo tín hiệu của thị trường còn phổ biến, nhiều dự án đầu tư vẫn theo chỉ định cấp phát, dấu ấn của mô hình kế hoạch hóa tập trung, tệ nạn “xin – cho” vẫn còn tồn tại.

Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, được xác định là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, song còn nhiều doanh nghiệp chưa chủ động vươn lên, đổi mới công nghệ, quản lý, nâng cao sức cạnh tranh để đứng vững trong cạnh tranh hội nhập. Vẫn còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước, trong lúc sức ép cắt giảm các khoản bảo hộ của nhà nước đang rất lớn trong khung khổ của WTO.

Cải cách thể chế còn chậm, nhất là thủ tục hành chính, các thị trường như thị trường bất động sản, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường khoa học, công nghệ… chậm phát triển. Hạn chế này đã tạo ra tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, gây bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong cạnh tranh thương mại quốc tế.

Các công cụ quản lý nhà nước như quy hoạch, kế hoạch chưa phát huy được vai trò tích cực, dẫn đến trong điều hành vĩ mô chưa hạn chế được nhiều mặt trái của kinh tế thị trường; tình trạng đầu cơ quyền sử dụng đất đai; sử dụng đất và khai thác tài nguyên thiếu quy hoạch, bán quặng thô diễn ra tràn lan ở các địa phương gây nhiều bức xúc trong nhân dân; đầu tư tràn lan theo phong trào (mía đường, hệ thống cầu cảng, sản xuất bia…) và dàn trải kém hiệu quả.

Cơ chế thị trường hoạt động kém hiệu quả, quá trình tự do hóa kinh tế diễn ra chậm chạp, một phần do sự chi phối quá mức của Nhà nước vào quá trình sản xuất – kinh doanh, mặt khác do duy trì quá lâu quan hệ kinh tế phi thị trường giữa Nhà nước và doanh nghiệp, các nguyên tắc thị trường bị vi phạm.

Trong phát triển kinh tế, chưa chú trọng đầy đủ đến việc giải quyết các vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội; tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, khoảng cách giàu nghèo đang tăng nhanh, đe dọa đến sự ổn định xã hội. Môi trường sinh thái có nguy cơ bị hủy hoại, sẽ ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Một số chủ trương trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế (như vấn đề tăng học phí, cổ phần hóa bệnh viện…) gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội.

3. Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, cần tiếp tục đổi mới tư duy lý luận về kinh tế thị trường ở Việt Nam trên mấy vấn đề sau:

a) Thống nhất về nhận thức, tư tưởng. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam phải vừa bảo đảm tôn trọng các nguyên tắc của kinh tế thị trường, vừa phát triển bền vững trên cơ sở chú trọng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.

Kinh tế thị trường theo mô hình mà chúng ta lựa chọn là phương thức phát triển kinh tế dựa trên những nguyên tắc của thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Kinh tế thị trường tự nó không thể quyết định bản chất và định hướng phát triển của một chế độ xã hội. Bản chất của chế độ chính trị – xã hội quyết định bản chất của nền kinh tế thị trường. Có thể khẳng định, chỉ phát triển có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì mới có khả năng thực hiện thành công công nghiệp hóa rút ngắn ở Việt Nam, theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Kinh tế thị trường và định hướng XHCN phải là những thuộc tính bản chất, những yếu tố nội tại bền vững trong mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta, không thể coi nhẹ yếu tố nào. Định hướng XHCN phải được quán triệt khi vận hành các nguyên tắc của thị trường, ngược lại, việc thực hiện định hướng XHCN không được tách rời biệt lập với các quy luật của thị trường.

Giữ vững định hướng XHCN trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường là thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Chỉ có phát triển hiệu quả và bền vững nền kinh tế thị trường trong quá trình thực thi các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới tạo được cơ sở kinh tế bảo đảm cho phát triển theo định hướng XHCN ở nước ta. Nhưng lại chỉ có sức mạnh của nền kinh tế thị trường hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần, kinh tế trong đó kinh tế nhà nước thực sự có hiệu quả đóng vai trò chủ đạo, mới là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng XHCN.

b) Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển; Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội; Bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường; Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái.

Tăng cường vai trò của Nhà nước về kinh tế trên cơ sở đổi mới phương thức quản lý từ chỗ can thiệp trực tiếp vào thị trường sang quản lý vĩ mô. Nhà nước có vai trò quyết định trong việc tạo các điều kiện, môi trường để thúc đẩy nhanh hơn sự hình thành và phát triển các loại thị trường, cũng như các yếu tố trong từng loại thị trường theo mục tiêu đã được đề ra, đặc biệt khi nước ta đã vào WTO. Nhà nước cần dự báo ngắn hạn và dài hạn những gì xảy ra trong giai đoạn hậu WTO, thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp và có giải pháp vĩ mô để nâng cao khả năng cạnh tranh trên cả ba cấp độ: doanh nghiệp, sản phẩm và nền kinh tế.

Việc vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu vai trò của Nhà nước càng cần thiết hơn. Điều này thể hiện sự can thiệp của Nhà nước phải vừa bảo đảm tốt lợi ích quốc gia trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc thị trường, phải tôn trọng tính tất yếu của các quy luật kinh tế khách quan (nghĩa là phát huy các mặt mạnh của kinh tế thị trường để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh), vừa tôn trọng các định chế kinh tế, thương mại quốc tế.

Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm hẳn sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Để thực hiện nhiệm vụ này cần xác định các định hướng:

+ Tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, thu hẹp và tiến tới các bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố không còn thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 5, khóa X.

+ Xóa bỏ “chế độ chủ quản”; tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi cơ quan sự nghiệp; phát triển mạnh các dịch vụ công (giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục – thể thao…).

+ Thực hiện việc phân công hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thực hiện các chức năng hành pháp, tư pháp và lập pháp trong hoạt động của bộ máy nhà nước, khắc phục sự chồng chéo, bỏ sót và giảm hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nhà nước cần quy định, kiểm soát, hướng dẫn cạnh tranh, tạo cơ hội bình đẳng trong cạnh tranh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Gần đây, trong nền kinh tế nước ta đang diễn ra các quá trình sáp nhập các doanh nghiệp nhà nước thành công ty mẹ – con, tập đoàn… Đây là quá trình, trong nhiều trường hợp, đã được lý giải bởi sự cần thiết của việc tăng cường hiệp tác sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện mở cửa, hội nhập và tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Song, ở một khía cạnh khác của vấn đề, quá trình đó phải được thực hiện đúng quy luật khách quan, nghĩa là dựa trên nguyên tắc thị trường, xuất phát từ những tất yếu về mặt kinh tế, kỹ thuật, đó là tính hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh khi sáp nhập hoặc hình thành mới các doanh nghiệp nhà nước, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính chủ quan, duy ý chí.

c) Tiếp tục phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.

Một là, tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa sở hữu, phát triển nền kinh tế với nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh vừa tạo ra sức cung, vừa tạo ra sức cầu cho các loại thị trường. Về mặt lý thuyết, một trong những cơ sở phát triển kinh tế thị trường là có sự tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Do đó, để phát triển thể chế kinh tế thị trường nói chung, các loại thị trường nói riêng, cần đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Không những thế, phát triển nền kinh tế thị trường đa sở hữu, nhiều thành phần phải dựa trên sự coi trọng mối quan hệ bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, lấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh và kinh tế – xã hội làm tiêu chí đánh giá. Đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước một cách lành mạnh, vững chắc, phát triển các hình thức kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân và các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới…

Hai là, phải có một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; phát triển khoa học, công nghệ; áp dụng kịp thời các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào đổi mới công nghệ trong sản xuất. Đẩy mạnh sự phân công, hợp tác giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, cũng như mối quan hệ hợp tác trên phạm vi quốc tế. Một số giải pháp chủ yếu cho vấn đề này là:

– Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội, cần chú trọng phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

– Điều chỉnh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực, ngành nghề theo yêu cầu phát triển cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong các kỳ kế hoạch 5 năm để đến năm 2020 nước ta có một cơ cấu lao động của một nước công nghiệp mới.

– Đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ nhằm tạo ra những công nghệ sản xuất phù hợp, tiên tiến, tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Hoàn thiện môi trường thể chế, trước hết là môi trường pháp lý, để thị trường hoạt động trong một hành lang pháp lý thông thoáng và minh bạch là nhiệm vụ cấp bách thúc đẩy sự phát triển các loại thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế.

Ba là, hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, được cấu thành từ nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất. Trong đó, kinh tế nhà nước và tập thể phải ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa các nguồn vốn sản xuất.

Hiện nay, môi trường pháp lý và năng lực quản lý nhà nước của các cơ quan công quyền chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường. Để tạo môi trường thể chế phát triển các loại thị trường, trước hết cần rà soát lại hệ thống văn bản pháp luật nhằm khắc phục những quy định không thống nhất giữa các văn bản, xóa bỏ những bất cập trong hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành làm ảnh hưởng đến việc hình thành môi trường kinh doanh chung của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Các văn bản pháp luật phải có tính thực thi cao, phù hợp với thực tiễn và có tính ổn định. Phải tiếp tục nâng cao năng lực của các cơ quan soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật, đồng thời nâng cao dân trí và trình độ nhận thức và chấp hành pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện các bộ luật liên quan đến kinh tế thị trường.

Bốn là, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho các loại hình thị trường theo hướng hội nhập, trong đó cần phải chú ý đúng mức đến việc tăng cường xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các loại thị trường; hình thành và phát triển các dịch vụ hỗ trợ thị trường; sớm xây dựng thể chế cho việc chính thức ra đời và phát triển các loại giao dịch điện tử, thương mại điện tử. Cần tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, hiện đại hóa các cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, thể thao, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển một nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế.

d) Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh

Cần quán triệt và cụ thể hóa quan điểm Đại hội X của Đảng, xác định các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Không nên đồng nhất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với tỷ trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân, mà phải xem xét trong sự chi phối, tác động chung đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục được đổi mới, sắp xếp lại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đi đầu và là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Muốn vậy, phải nhanh chóng khắc phục mọi khuynh hướng bao cấp trở lại nhằm kéo dài thời gian bảo hộ cho doanh nghiệp nhà nước, cần kiên quyết chống độc quyền doanh nghiệp, thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh.

Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần.

Cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch, công khai, tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành viên tham gia thị trường, chú ý tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc khuyến khích, tạo điều kiện cho phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khắc phục tư tưởng kỳ thị. Phải coi sự phát triển kinh tế tư nhân như một động lực phát triển của kinh tế dân tộc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Thực sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu. Nhà nước chỉ thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm; một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, khắc phục rủi ro; một số địa bàn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực hiện sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài).

Quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế đang được đẩy lên với tốc độ nhanh hơn. Trong khuôn khổ của WTO, vòng đàm phán Đô-ha tiếp tục được thúc đẩy. Nền kinh tế nước ta sẽ tiếp tục hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và quốc tế. Điều này sẽ tác động sâu sắc đến việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Từ đó chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, khẩn trương và có bước đi phù hợp trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 23 (143) NĂM 2007