CÔNG VĂN VỀ VIỆC CÔNG CHỨNG GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số tổ chức, cá nhân gặp vướng mắc khi yêu cầu công chứng giao dịch bảo đảm. Nhằm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về công chứng đối với giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về công chứng hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Khoản 2 Điều 319 của Bộ luật dân sự quy định: “Các bên được thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”. 

Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) thì “nghĩa vụ được bảo đảm là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự, có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện mà việc thực hiện nghĩa vụ đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm” (khoản 5) và “nghĩa vụ trong tương lai là nghĩa vụ dân sự mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đó được xác lập sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết” (khoản 6). 

Như vậy, theo các quy định nêu trên thì tổ chức, cá nhân có quyền ký kết giao dịch bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai. Trong trường hợp này, do nghĩa vụ được bảo đảm (ví dụ: nghĩa vụ trả nợ trong các hợp đồng vay) chưa được xác lập tại thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng, nên việc yêu cầu phải ghi cụ thể về lãi suất, số tiền vay, thời hạn vay và các nội dung khác về hợp đồng sẽ ký trong tương lai là không phù hợp với quy định của pháp luật. 

2. Về công chứng hợp đồng thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 của Bộ luật dân sự và Điều 5 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì các bên có quyền thoả thuận dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện thực hiện nhiều nghĩa vụ và thoả thuận về việc tài sản đó có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (nghĩa vụ được bảo đảm có thể là một phần hoặc toàn bộ khoản vay). Do đó, khi các bên đã thoả thuận rõ về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm theo Điều 5 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì việc yêu cầu các bên phải xoá đăng ký thế chấp đối với hợp đồng thế chấp trước, rồi mới thực hiện công chứng đối với hợp đồng thế chấp sau là không phù hợp với quy định của pháp luật. 

Riêng đối với trường hợp thế chấp nhà ở theo quy định tại Điều 114 của Luật nhà ở thì giá trị tài sản nhà ở phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ và chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng. 

3. Về việc công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trong cụm công nghiệp, tổ công nghiệp

Theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 2 của Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 21/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thì “trường hợp chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao thì phải có xác nhận của Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao”. 

Do đó, đối với những trường hợp không thuộc quy định nêu trên, ví dụ: thế chấp quyền sử dụng đất thuộc cụm công nghiệp, tổ công nghiệp, thế chấp đất ở… thì cụm công nghiệp, tổ công nghiệp không có thẩm quyền xác nhận hợp đồng thế chấp đó. Trong trường hợp này, các bên ký kết hợp đồng thế chấp có quyền yêu cầu công chứng viên thực hiện việc công chứng hợp đồng theo thủ tục do pháp luật quy định.
4. Về quy định “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật”

Một số công chứng viên cho rằng “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật” theo Điều 5 của Luật công chứng đã loại bỏ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của Bộ luật dân sự và do đó đã không công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai. Cách hiểu như vậy là sai. Tài sản hình thành trong tương lai cũng được coi là tài sản có thật nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý để chứng minh. Vì vậy, Bộ Tư pháp yêu cầu các công chứng viên không được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch thuộc loại này. 

5. Về công chứng hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức

Việc ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức là hoạt động thuộc nghiệp vụ của ngân hàng và đã được pháp luật ngân hàng quy định. Mặt khác, hợp đồng bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức là một dạng cụ thể của hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai. Do đó, việc từ chối công chứng đối với hợp đồng bảo đảm có thoả thuận dùng để bảo đảm cho các khoản vay theo hạn mức (ví dụ: các bên thoả thuận “tài sản bảo đảm cho dư nợ tối đa là … triệu đồng”) là không phù hợp với quy định của pháp luật. 

Bộ Tư pháp yêu cầu các Phòng công chứng nghiên cứu, thực hiện.

SOURCE: MOJ.GOV.VN

TRANH TỤNG TRONG THỰC TIỄN: VƯỚNG MẮC TỪ PHÍA NÀO?

HOÀNG THƯ – HƯƠNG GIANG

Báo cáo tại kỳ họp Quốc hội khoá XII vừa rồi, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, nếu tính theo hoạt động của luật sư tham gia bào chữa ở các phiên toà hình sự thì nước ta có tới 80% các vụ án chưa có luật sư tham gia tố tụng. Bộ trưởng Hà Hùng Cường đã nhận định, ngay án văn của Toà án cũng chưa nêu rõ quan điểm, lập luận của luật sư trong khi bào chữa, chưa thực sự có tranh tụng trong nhiều vụ án hình sự hiện nay. Một trong những nguyên nhân quan trọng chính là việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 cũng như Luật Luật sư năm 2006 về việc tham gia tố tụng của luật sư.

———————————————————————————————–

Ở nước ta, tính trung bình cứ 20.500 dân mới có 1 luật sư, trong khi tỷ lệ này ở Singapore là 1000 dân/1 luật sư, ở Thái Lan là 1.700 dân/1 luật sư, ở Nhật Bản là 5.500 dân/1 luật sư. So với các nước phát triển, độ chênh của tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều. Ví dụ, ở Mỹ, cứ 270 dân có 1 luật sư, ở Pháp là 500 dân/1 luật sư. Như vậy, so với chỉ tiêu mà Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp đề ra đến năm 2020 cố gắng nước ta có khoảng 18.000 luật sư thì con số luật sư hiện có còn rất khiêm tốn.

———————————————————————————————–

Thực trạng trên đã gây khó khăn cho cả luật sư lẫn các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này khiến cho mục tiêu mà Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đề ra là tranh trụng tại phiên phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng và kết quả xét xử phải dựa trên kết quả tranh tụng chưa được hiện thực nhanh chóng. Không những thế, theo đánh giá của ngành Tư pháp, việc thực hiện quyền của luật sư trong hoạt động tố tụng chưa được quan tâm đúng mức. Một số người tiến hành tố tụng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết vụ án. Thậm chí, vẫn còn trường hợp cơ quan điều tra ở địa phương gây khó khăn, cản trở công việc của luật sư. Chẳng hạn, yêu cầu luật sư xuất trình rất nhiều giấy tờ, gây phiền hà trong việc gặp người bị tam giữ, bị can, bị cáo, trong việc photo, sao tài liệu liên quan đến vụ án…

* Ông Vũ Phi Long – Phó Chánh Hình sự, TAND TP. HCM

PV: Thưa ông, tinh thần của các Nghị quyết của Bộ Chính trị là rất rõ nhưng tranh tụng dân chủ, bình đẳng sao vẫn cứ xa vời?

– Chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề này từ 2 khía cạnh. Về mặt tích cực, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương rất rộng lớn về vấn đề tranh trụng tại phiên . Điều đó thể hiện trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trên tinh thần của Nghị quyết 08 và 49 của Bộ Chính trị với định hướng lớn là đảm bảo công bằng, bình đẳng và dân chủ tại phiên , đảm bảo tác nghiệp của luật sư tại phiên . Tiếp đến, BLTTHS cùng các văn bản dưới luật đều đang tìm tòi, hướng dẫn vấn đề này. Và, trong xu thế hội nhập, các dự án, các hiệp định tư pháp song phương, đa phương mà Việt Nam đã ký kết là một điều kiện thuận lợi để nước ta tiếp cận môi trường tranh tụng công bằng, bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số yếu tố cản trở, kìm hãm như năng lực, trình độ của cán bộ tư pháp ở chừng mực nhất định chưa đáp ứng được nhu cầu. Thứ 2, nhận thức chung về pháp luật của người dân, hay có thể nói là mặt bằng dân trí về pháp luật chưa được cao. Thứ 3, chính những văn bản, nghị quyết, chỉ thị, thông tư cũng phải xem lại một số quy định để sửa đổi, bổ sung mới có thể tiến tới việc tranh tụng đúng nghĩa.

PV: Đã có trường hợp chủ phiên vì sức ép nào đó không để việc tranh tụng thực sự được diễn ra. Quan điểm của ông ra sao và ở TAND TP. HCM có xảy ra tình trạng tương tự không?

– Theo tôi, đây chỉ là thiếu sót của vài cá nhân. Quả thật, cũng có một số trường hợp như vậy và tôi cho là bình thường vì trong một tập thể trong quá trình hoạt động không tránh khỏi sự va vấp của một vài người, một vài đơn vị. Những điều này không làm cản trở bước tiến về phía trước của chúng ta trong đảm bảo tranh tụng. TAND TP. HCM đã nghiên cứu rất kỹ về BLTTHS, trong đó bảo đảm các quyền của bị can, bị cáo, quyền của luật sư và những thủ tục tố tụng khác liên quan đến vấn đề tranh tụng được chúng tôi nghiên cứu, mổ xẻ và thảo luận để đưa ra mô hình tố tụng mang tinh thần đó. chúng tôi là đơn vị đầu tiên tổ chức phiên mẫu của cả nước. Do vậy, tiếp thu được nhiều ý kiến về tranh tụng của các đơn vị bạn. Từ đấy, tự có những quy định làm rõ thêm những ưu điểm trong yếu tố tranh tụng của BLTTHS. Ví dụ, luôn yêu cầu luật sư, kiểm sát viên đối đáp tất cả vấn đề tại phiên ; giải thích cho bị cáo biết rõ tường tận quyền của bị cáo, tại cơ quan điều tra cũng như khi hồ sơ chuyển cho VKS truy tố và chuyển cho xét xử, quyền của bị can, bị cáo luôn được nhắc đến. Những người nào không bảo đảm được, không ý thức được đầy đủ thì chúng tôi có nhiệm vụ giải thích cặn kẽ để cho họ hiểu được, họ làm được những quyền đó. Mặt khác là cách tổ chức phiên , chúng tôi luôn dành quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo lên trên hết.

* Bà Pernille Kjaerulff – Thẩm phán Toà án TP. Copenhagen (Đan Mạch)

PV: Thưa Thẩm phán, bà nhận xét gì về những qui định pháp luật và thực tiễn của Việt Nam liên quan đến thủ tục tranh tụng?

Mặc dù Việt Nam bắt đầu thực hiện thủ tục tranh tụng tại toà muộn hơn nhiều nước khác một bước nhưng rõ ràng là các bạn đang đi đúng hướng. Trước khi sang Việt Nam, tôi đã nghiên cứu một số văn bản pháp luật về tố tụng của Việt Nam, trong đó có BLTTHS và phải thừa nhận là các bạn có một bộ luật tố tụng rất tốt, nhấn mạnh đến những thủ tục tranh tụng tại toà. Tuy nhiên, những qui định đó lại chủ yếu tập trung vào việc sử dụng hồ sơ hoặc tài liệu có trước, trong khi vấn đề rắc rối, khó khăn là bị cáo và người bào chữa của họ khó có điều kiện tiếp cận các hồ sơ tố tụng. Tôi cho rằng, đây là vấn đề rất nghiêm trọng mà Việt Nam cần phải khắc phục. Bên cạnh đó, tôi nhận thấy, một trong những hạn chế đối với thủ tục tranh tụng của Việt Nam chính là mặt thực hành khi nhiều bị cáo ở Việt Nam chưa có điều kiện để có luật sư bào chữa cho mình.

PV: Vậy theo bà, đâu là nguyên nhân của những hạn chế đó?

Tôi cho rằng, nguyên nhân khiến nhiều bị cáo chưa có điều kiện để có luật sư bào chữa có thể là do vẫn còn tồn tại các thủ tục hành chính quan liêu ở Việt Nam và một phần là do đội ngũ luật sư của các bạn chưa đủ khả năng, cũng như số lượng để đảm bảo quyền có luật sư của mỗi người dân. Về thủ tục tranh tụng, tôi thấy do chưa được triển khai lâu ở Việt Nam nên đội ngũ thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên giữ quyền công tố còn phải vật lộn với nhiều khó khăn để tiếp cận với thủ tục tranh tụng này. Ngoài ra, trở ngại đối với yêu cầu đạt được một phiên toà bình đẳng và công bằng của Việt Nam là ở chỗ thẩm phán Việt Nam mới được chỉ định hoặc bổ nhiệm và quyết định của họ lại bị giám sát chặt chẽ.

PV: Việt Nam cần làm gì để đạt được các yêu cầu của thủ tục tranh tụng trong thực tiễn, thưa bà?

Để cải tiến cũng như hoàn thiện thủ tục tranh tụng của mình, Việt Nam có rất nhiều việc phải làm. Chẳng hạn, các thẩm phán Việt Nam cần làm quen với việc yêu cầu đọc to các chứng cứ tại toà để các phương tiện thông tin và công chúng có thể nghe rõ; đảm bảo các quyền lợi của bị cáo như có luật sư bào chữa tốt; nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc xét xử công khai. Theo tôi, không nên đặt ra qui định bãi nhiệm thẩm phán và không nên giám sát họ quá chặt chẽ. Thẩm phán sẽ phải xuất hiện trước công chúng, nếu bị giám sát quá chặt chẽ họ khó có thể làm tất cả những gì cần làm. Đặc biệt tôi nghĩ rằng, chất lượng của thẩm phán Việt Nam phải được nâng cao hơn nữa. Tuy nhiên, tôi tin các bạn sẽ dần đáp ứng được yêu cầu của thủ tục tranh tụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.

* LS. Nguyễn Vĩnh Ban – Văn phòng Luật sư Chương Dương, Hà Nội

PV: Theo LS, yếu tố nào trong qui định pháp luật và thực tiễn đang kìm hãm hiệu quả tiến hành các thủ tục tranh tụng ở nước ta hiện nay?

– Quy định của pháp luật, theo tôi, cũng đã tương đối đầy đủ và không có gì phải bình luận nhiều. Song, thực tiễn có nhiều vấn đề cần đề cập như việc các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là cơ quan điều tra còn gây ra không ít khó khăn trong quá trình tranh tụng của LS. Điều đó có thể thấy qua việc cấp Giấy chứng nhận bào chữa, Giấy chứng nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Trong quá trình hành nghề LS, tôi chưa bao giờ được cơ quan tiến hành tố tụng cấp đúng thời hạn theo quy định của BLTTHS hay dân sự. Sự chậm trễ này gây không ít khó khăn cho LS trong việc bảo vệ khách hàng của mình bởi phải có các Giấy chứng nhận trên, LS mới có thể liên hệ làm việc với các cơ quan liên quan để thu thập các bằng chứng bảo vệ cho khách hàng hoặc gặp mặt khách hàng trong trường hợp khách hàng bị tạm giam trong trại giam. Ngoài ra, các cơ quan tiến hành tố tụng hầu như “quên” các quyền của LS như ít khi thông báo cho LS về lịch hỏi cung bị can, bị cáo và lịch xét xử, hay không tự giác tuân thủ các qui định về gửi các Kết luận điều tra, Cáo trạng cho LS. Cơ quan điều tra còn thường áp dụng các quy định của ngành công an, kể cả khi văn bản của ngành trái với BLTTHS. Tôi dẫn ra những ví dụ trên để thấy rằng “thực thi đúng pháp luật còn quan trọng hơn là ban hành nhiều bộ luật mà không được thực thi đúng tinh thần của nó”.

PV: Vậy theo ông, cần làm gì để khắc phục những khó khăn cho hoạt động của các LS trong tranh tụng?

– Tôi cho rằng, bên cạnh việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các bên trong quá trình tranh tụng, bản thân đội ngũ LS cũng cần nâng cao kỹ năng hành nghề, như chuyên môn nghề nghiệp, văn hoá ứng xử tại TA. Đó là các điều kiện cần thiết để có thể tạo ra sự thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa TA và LS, LS tôn trọng TA, ngược lại TA sẽ tôn trọng LS. Ngoài ra, phải có những chế tài cụ thể và đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi cản trở hoạt động của LS vì các quy định của pháp luật hiện hành còn rất chung chung. Cuối cùng, tôi nghĩ rằng, sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông rất cần thiết vì qua các thông tin truyền thông, cơ quan nhà nước, tổ chức và người dân có thể hiểu rõ hơn về hoạt động thực tiễn của LS cũng như những qui định pháp luật liên quan đến hoạt động của LS. Nhờ đó, sẽ góp phần hạn chế những khó khăn cho LS khi tác nghiệp.

PV: Xin cảm ơn các ông bà!

SOURCE: MOJ.GOV.VN

VIỆC THI HÀNH ÁN – THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT

HOÀNG THẾ ANH – Cục Thi hành án dân sự

Thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng là một trong những hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó, thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có một ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật, cũng như hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự; các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và toàn thể cán bộ, công chức ngành thi hành án đã nỗ lực phấn đấu để nâng cao kết quả và hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. Nhờ có sự quan tâm và cố gắng trên, nhiều bản án, quyết định của Toà án đã được thi hành dứt điểm (Biểu số 1), bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cơ quan, tổ chức và các cá nhân công dân góp phần vào việc ổn định tình hình an ninh, chính trị của đất nước, tạo tiền đề cho sự phát triển của kinh tế – xã hội.

(Biểu số 1)

Số TT

Năm

Số việc giải quyết xong ở thời điểm báo cáo

Số việc thi hành xong hoàn toàn ở thời điểm báo cáo

Tỷ lệ giải quyết xong/tổng số phải thi hành

Tỷ lệ thi hành xong/số có điều kiện

1

2003

189.542

150740

35%

47%

2

2004

209.747

168022

39%

50%

3

2005

233.522

145468

42%

42%

4

2006

270.967

213218

45%

56%

5

2007

336.823

261197

52%

69%

 

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, thì vẫn còn không ít những bản án, quyết định có hiệu lực thi hành chưa được tổ chức thi hành dứt điểm, khiến cho quyền, lợi ích hợp pháp của một bộ phận quần chúng nhân dân không được đảm bảo, gây bức xúc trong xã hội. Theo số liệu thống kê hàng năm, thì số lượng các bản án, quyết định bị tồn lại chưa được thi hành dứt điểm vào các kỳ báo cáo hàng năm (năm báo cáo được tính từ ngày 1/10 năm trước và kết thúc vào 30/9 năm sau) mặc dù tỷ lệ có giảm, nhưng vẫn còn cao (Biểu số 2).

(Biểu số 2)

Số TT

Năm

Tổng số việc phải thi hành của năm báo cáo

Số lượng án chưa được giải quyết vào thời điểm báo cáo hàng năm

Tỷ lệ

1

2003

546.346

356.804

65.30%

2

2004

537.405

323.773

60.24%

3

2005

561.180

327.658

58.38%

4

2006

602.059

331.092

54.99%

5

2007

648.266

311.443

48.04%

          Qua phân tích số lượng các vụ việc còn tồn chuyển sang năm sau tiếp tục tổ chức thi hành (gọi tắt là việc tồn) trong 5 năm trở lại đây (Biểu số 2) cho thấy, mặc dù số lượng việc tồn đọng chuyển kỳ sau có lúc tăng, lúc giảm. Nhưng thực tế số lượng việc tồn cần phải giải quyết tính đến ngày 31/10/2007 vẫn còn một số lượng lớn (311.443). Số lượng những việc tồn này là số việc tồn của những năm trước cộng dồn sang. Một điều đáng chú ý là trong số tồn này có những việc tồn đã được thụ lý từ năm măm 1993 (thời điểm chuyển giao công tác thi hành án từ Toà án sang cho các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý) đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, thậm chí, còn cả một số việc từ những năm trước đó còn tồn lại (thời kỳ Toà án nhân dân quản lý công tác thi hành án dân sự).

          Trong cơ cấu của án tồn chuyển sang kỳ sau, theo quy định của Chế độ thống kê thi hành án dân sự được ban hành kèm theo Quyết định số 02/2006/QĐ-BTP ngày 14/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự bao gồm: Án thi hành dở dang, án chưa thi hành được, án hoãn, tạm đình chỉ, lý do khác. Trong đó:

Điều đáng chú ý là số vụ việc dở dang và số án chưa thi hành được còn tồn khối lượng lớn (31% số việc tồn chuyển kỳ sau) chưa được thi hành dứt điểm . Đây là những vụ việc có điều kiện về tài sản, cơ quan Thi hành việc có thể tổ chức thi hành xong trên thực tế số việc này, nhưng chưa được các cơ quan thi hành án tổ chức thi hành.

Nguyên nhân:

          Chủ quan

Một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự trình độ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, sự phối hợp chặt chẽ của Học Viện tư pháp, Sở Tư pháp, Thi hành án dân sự địa phương, Đội ngũ Chấp hành viên của ngành thi hành án dân sự đã được đào tạo một cách cơ bản. Các Chấp hành viên mới được bổ nhiệm, hầu hết đều phải qua lớp đào nghề Chấp hành viên mới được bổ nhiệm. Bên cạnh đó, để nâng cao trình độ cho số Chấp hành viên cũ và các cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự khác, Cục Thi hành án dân sự cũng thường xuyên phối hợp với các đơn vị hữu quan tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ để cập nhật những văn bản, kiến thức mới cho đội ngũ này. Chính vì vậy, trong những năm vừa qua đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng cũng được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự do thiếu rèn luyện, tu dưỡng và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã không theo kịp sự phát triển của ngành, năng lực làm việc chưa đáp ứng được các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Chính vì vậy, kết quả tổ chức thi hành án không cao, dẫn tới những việc được giao thi hành phải chuyển sang năm sau nhiều.

        Nhiều trường hợp Chấp hành viên chưa thực sự tích cực, quyết liệt đối với những vụ việc phức tạp, khó khăn; ngại khó, ngại va chạm

Tại Điều 14 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định “Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định dân sự, áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và đương sự…”. Đồng thời, Pháp lệnh Thi hành án dân sự cũng quy định cho Chấp hành viên nhiều quyền năng để tổ chức thi hành án, kể cả việc cưỡng chế Thi hành án. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng Chấp hành viên chưa tích cực tổ chức thi hành án; ngại va chạm, nên không sử dụng các biện pháp mạnh để tổ chức thi hành dứt điểm bản án.

Mặt khác, theo quy định của pháp luật về thi hành án hiện hành, thì phần lớn các việc trong thi hành án dân sự đều có biện pháp giải quyết. Ví dụ đối với những việc có tài sản thì Chấp hành viên được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành dứt điểm bản án. Còn đối với những việc không có điều kiện về tài sản, thì tuỳ từng trường hợp, Chấp hành viên sẽ áp dụng các biện pháp thích hợp để giải quyết như: trả đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn); đình chỉ thi hành án (nếu đủ điều kiện đình chỉ thi hành án); hoãn thi hành án, miễn, giảm thi hành án án (trường hợp thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước…). Tuy nhiên, do chưa tích cực rà soát, phân loại án để xử lý theo các biện pháp nêu trên, nên số lượng việc được loại khỏi sổ thụ lý của cơ quan thi hành án dân sự ít, dẫn tới lượng việc tồn chuyển sang kỳ tiếp theo lớn.

Một số trường hợp vi phạm pháp luật nhưng chậm được khắc phục, vẫn còn hiện tượng gây sách nhiễu, gây cản trở hoạt động thi hành án.

Theo quy định tại Điều Điều 59, 60 thì đương sự được quyền khiếu nại, tố cáo đối với những hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên. Đồng thời, Điều 67 Pháp lệnh thi hành án dân sự, nếu Chấp hành viên, cơ quan thi hành án vi phạm pháp luật trong tổ chức thi hành án, thì tuỳ theo mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Nhưng trên thực tế, trong thời gian vừa qua, có nhiều trường hợp khiếu nại của đương sự đúng đã không được xử lý dứt điểm, khiến cho việc thi hành án bị dây dưa, kéo dài qua nhiều năm, thậm chí có việc hàng chục năm vẫn chưa giải quyết xong.

Trình độ quản lý, điều hành của Lãnh đạo cơ quan quản lý thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Theo quy định tại Điều 16 của Pháp lệnh thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm ra các quyết định thi hành án, phân công Chấp hành viên thi hành vụ việc; quản lý và đôn đốc, hướng dẫn nghiệp vụ đối với việc thi hành án; kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp thi hành án hiệu quả. Nếu xét thấy Chấp hành viên không thể hoàn thành nhiệm vụ, thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có quyền sử dụng các biện pháp về hành chính, tổ chức, tài chính để thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ của Chấp hành viên của của các đơn vị thi hành án thuộc quyền quản lý của mình. Để làm được điều này, đòi hỏi Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự phải nắm chắc được khối lượng việc và trạng thái thực hiện công việc của các Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự thuộc quyền quản lý của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp để nâng cao kết quả thi hành án. Nhưng trên thực tế cho thấy, hiện tại vẫn còn nhiều nơi, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự chưa thực sự nắm vững được khối luợng công việc, trạng thái công việc của Chấp hành viên và các đơn vị thuộc quyền quản lý, nên sự chỉ đạo điều hành chưa kịp thời và hiệu quả chưa cao, dẫn tới kết quả thi hành án không cao.

         Khách quan

Là những nguyên nhân nằm ngoài sự kiểm soát của cơ quan Thi hành án. Những nguyên nhân này xuất phát từ đặc thù của thi hành án dân sự; từ pháp luật và từ phía các cơ quan hữu quan.

        Pháp luật và cơ chế về thi hành án dân sự còn nhiều điểm bất cập nhưng chậm được bổ sung, sửa đổi.

Pháp lệnh năm 2004 mặc dù đã được sửa đổi nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Nhiều quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn hoặc có nhiều tình huống phát sinh trên thực tiễn nhưng chưa được điều chỉnh như: Ví dụ như việc ra quyết định thi hành án trong trường hợp Toà án chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn; vấn đề miễn, giảm đối với các khoản tiền phải thi hành án là án phí, tiền phạt, kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản…;

Vị trí và quyền năng pháp lý của cơ quan thi hành án chưa tương ứng với yêu cầu của nhiệm vụ;

Việc ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc về tổ chức cán bộ đã làm ảnh hưởng tới công tác chỉ đạo, điều hành của Trưởng thi hành án dân sự, nhất là việc điều động Chấp hành viên, cán bộ công chức làm công tác thi hành án nhằm mục đích xử lý các điểm nóng về việc tồn đọng;

Chế độ đối với Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự chưa hợp lý, nên việc thu hút người có trình độ vào làm việc cho cơ quan Thi hành án dân sự gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc quy định Chấp hành viên huyện, Chấp hành viên tỉnh là chưa hợp lý, gây khó khăn cho việc giải quyết chế độ khi điều động Chấp hành viên từ tỉnh xuống hỗ trợ cho cấp huyện.

             Người phải thi hành án chây ỳ, chống đổi, cản trở việc thi hành án.

Qua thực tiễn tổ chức thi hành án dân sự trong hơn 14 năm qua cho thấy, trong quá trình thi hành án quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và những người có quyền, lợi ích liên quan đã trực tiếp bị ảnh hưởng, nhất là đối với người phải thi hành án. Lúc này các quyền về nhân thân (thi hành án buộc làm hoặc không được là một công việc), quyền về tài sản và tài sản (thi hành nghĩa vụ về tài sản) của người phải thi hành án đã trực tiếp bị tác động, nếu họ không tự nguyện, thì Chấp hành viên sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc họ phải thực hiện theo đúng nội dung bản án, quyết định của Toà án vì lợi ích của người được thi hành án. Do đó, trong giai đoạn này, người phải thi hành án thường tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án, làm cho việc thi hành án trở lên khó khăn phức tạp, nhất là những trường hợp người phải thi hành án chưa thoả mãn với kết quả giải quyết của Toà án và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

           Các hoạt động Thanh tra, Kiểm sát thi hành án chưa thực sự phát huy được vai trò của mình trong việc thúc đẩy nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thi hành án dân sự của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự.

Điều 10 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định “trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan nhà nước khác, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật”. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động kiểm sát thi hành án phần lớn chỉ hướng vào hoạt động của cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên, mà ít hướng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự. Do đó, tác động của hoạt động kiểm sát thi hành án chưa cao, chưa thực sự có tác động đến ý thức chấp hành pháp luật về thi hành án của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến thi hành án dân sự.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì Thanh tra tư pháp thực hiện chức năng thành tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Mặc dù vậy, cũng như hoạt động kiểm sát, hoạt động thanh tra ít thực hiện thành tra chuyên ngành, nhằm hỗ trợ cho cơ quan Thi hành án dân sự trong việc tác động đến ý thức chấp hành pháp luật thi hành án của các cơ quan, tổ chức.

Một số trường hợp Toà án nhân dân tuyên án không rõ.

          Một số bản án, quyết định của toà án có nội dung không rõ, không đúng với thực tế, có sai sót; một số phán quyết của toà án mà cơ chế, trình tự, thủ tục tổ chức thi hành chưa được quy định cụ thể (ví dụ như: thủ tục thi hành án hành chính, lao động, phá sản, bản án, quyết định của toà án, trọng tài nước ngoài được công nhận và thi hành tại Việt Nam…) gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan thi hành án, dẫn đến tình trạng thi hành án kéo dài.

Sự phối hợp giữa Toà án và cơ quan Thi hành án trong việc chuyển giao bản án chưa chặt chẽ, kịp thời.

          Trong thực tế, có nhiều trường hợp, sau khi bản án, quyết định được tuyên, Toà án chậm hoặc không chuyển giao cho cơ quan Thi hành án để thi hành, hoặc chuyển giao bản án, nhưng không chuyển giao tang vật, tài sản kèm theo, gây khó khăn cho việc thi hành án. Đồng thời, có nhiều trường hợp, để hoàn thành nhiệm vụ, trong dịp cuối năm Toà án mới chuyển giao một số lượng lớn án cho cơ quan Thi hành án để tổ chức thi hành. Lúc này đã vào thời điểm báo cáo, nếu cơ quan Thi hành án không ra quyết định và thụ lý để tổ chức thi hành thì vi phạm pháp luật, còn nếu ra quyết định và thụ lý để thi hành, thì số chưa thể thi hành kịp trước khi lập báo cáo. Do đó, số này lại là số tồn và chuyển sang kỳ sau.

Người phải thi hành án không có khả năng để thi hành án.

          Người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hợp pháp để thi hành án hoặc không xác định được nơi cư trú của đương sự; đặc biệt đối với trường hợp người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản; người phải thi hành án có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án, hoặc chỉ có tài sản đã kê biên, phát mãi nhưng không bán được, mà người được thi hành án không đồng ý nhận để trừ vào số tiền được thi hành án và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác. Người phải thi hành nghĩa vụ giao vật đặc định mà vật đó đã bị mất, hư hỏng mà hai bên không thoả thuận được về phương thức thanh toán, cơ quan thi hành án đã hướng dẫn các đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường, nhưng chưa có quyết định giải quyết của Toà án….

           Giải pháp

Giải quyết triệt để số lượng án thụ lý trong năm báo cáo, không để tồn chuyển sang kỳ sau luôn là một bài toán lớn đối với cơ quan quản lý Thi hành án, cơ quan Thi hành án, đồng thời cũng là mong mỏi của toàn xã hội. Chúng tôi nxin nêu một số giải pháp để khắc phục một số nguyên nhân, chủ quan và khách quan nhằm nầng cao kết quả thi hành án và giảm lượng án tồn đọng trong thời gian tới như sau:

Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Dự thảo Luật thi hành án dân sự.

Phấn đấu thực hiện đúng chương trình, kế hoạch đã được đề ra, đảm bảo trình các cơ quan thẩm định đúng thời hạn để Luật thi hành án dân sự có thể trình Quốc hội xem xét và thông qua vào cuối năm 2008; cố gắng khắc phục tối đa những bất cập trong Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và những vấn đề khác qua hoạt động thực tiễn thời gian qua;

        Tiếp tục mở các đợt cao điểm về giải quyết án tồn chưa được giải quyết.

Tính đến thời điểm 30/9/2007, trên địa bàn toàn quốc còn tồn chuyển sang năm 2008 là 311.443 việc với tổng số tiền là 14.586.510.244.000 đồng. Trong số tồn này, có 97.225 việc là việc có điều kiện, nhưng cơ quan Thi hành án chưa tổ chức thi hành (chiếm 25,51% số án có điều kiện của năm 2007). Đây là số án có thể giải quyết được ngay trong năm các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương tập trung vào giải quyết loại án này để nâng cao kết quả về việc và giá trị trong thi hành án dân sự. Đối với các loại việc khác, tiếp tục phân loại, và có biện pháp xử lý thích hợp.

      Dừng việc chuyển giao án có gái trị đến 500.000 đồng cho UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành và nghiên cứu cơ chế mới để áp dụng.

Rà soát, đánh giá lại việc chuyển giao án có giá trị đến 500.000 đồng cho UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành, đồng thời đề xuất các biện pháp về việc phối hợp giữa cơ quan thi hành án phạt tù với cơ quan Thi hành án dân sự trong việc thi hành án. Đối với những vụ việc có giá trị nhỏ, thi hành án phí hoặc tiền phạt, có thể giao hoặc cho phép cơ quan Thi hành án ủy quyền cho các trại giam, trại tù tổ chức đôn đốc thi hành;

         Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi một số điểm của Thông tư số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn việc miễn, giảm án phí, tiền phạt cho phù hợp thực tiễn.

Để hỗ trợ cho việc giải quyết án tồn khi người phải thi hành án không có điều kiện tài sản để thi hành án, ngày 17/6/2005 Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính đã phối hợp ban hành Thông tư số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC hướng dẫn việc miễn, giảm án phí, tiền phạt cho người phải thi hành án. Tuy nhiên việc thực hiện thông tư này còn có nhiều bất cập cần sửa đổi theo hướng cho phép cơ quan Thi hành án dân sự sau khi xác minh thấy đương sự không có tài sản, mà đủ điều kiện về thời gian, thì làm thủ tục miễn, giảm và đình chỉ việc thi hành án mà không yêu cầu người phải thi hành án có đơn xin miễn giảm; mở rộng phạm vi miễn giảm; thu ngắn thời gian được xét miễn giảm…

         Tăng cường hoạt động kiểm tra công tác thi hành án dân sự.

Các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự cần tăng cường kiểm tra hoạt động thi hành án dân sự, nhất là kiểm tra kết quả thi hành án dân sự một cách thường xuyên, nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các sai phạm. Đồng thời qua đó phân loại án để có kế hoạch thi hành án cụ thể phù hợp với từng địa phương, từng giai đoạn phù hợp với tình trạng nhiệm vụ phải thực hiện.

          Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm về việc thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc về tổ chức thi hành án dân sự.

Tiến hành tổng kết, đánh giá việc áp dụng Quyết định về việc ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc về tổ chức, nếu thấy cần thiết, có thể kiến nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao cho Trưởng Thi hành án dân sự thực hiện công tác tổ chức theo ủy quyền của Bộ trưởng, nhằm tạo điều kiện cho Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thể chủ động trong việc luôn chuyển, điều động Chấp hành viên, cán bộ, công chức thi hành án để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương, phù hợp với từng địa bản, từng thời điểm, để nâng cao kết quả thi hành án.

        Thi hành án dân sự địa phương cần rà soát, phân loại án chính xác trên cơ sở các tiêu chí thống kê, từ đó áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định để giải quyết từng loại án.

Đối với việc đang giải quyết (thi hành dở dang và chưa thi hành được), đây là những vụ việc đương sự có điều kiện thi hành, nhưng cơ quan thi hành án chưa tổ chức thi hành được phần nào hoặc đang tổ chức thi hành. Cơ quan Thi hành án dân sự cần đôn đốc Chấp hành viên phụ trách hồ sơ tích cực, chủ động trong việc giáo dục, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp giáo dục, thuyết phục không có kết quả, thì cương quyết áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để thi hành dứt điểm vụ việc;

Đối với Những trường hợp hoãn thi hành án (những trường hợp cơ quan Thi hành án chủ động thi hành án), cần phải thường xuyên theo dõi sát sao điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có điều kiện, thì ra quyết định tiếp tục thi hành án và tổ chức thi hành ngay theo quy định của pháp luật. Đối với những trường hợp hoãn kéo dài mà người phải thi hành án vẫn không có điều kiện thi hành án, nếu xét thấy đủ các điều kiện để miễn, giảm thi hành án thì thực hiện các thủ tục miễn, giảm theo quy định của pháp luật;

Đối với những trường hợp tạm đình chỉ thi hành án, hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, cơ quan Thi hành án dân sự cần phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, để khi có quyết định mới thì tiếp tục đưa bản án ra thi hành hoặc ra quyết về thi hành án phù hợp để giải quyết dứt điểm vụ việc;

Những trường hợp bản án tuyên không rõ, thì kịp thời có văn bản đề nghị Toà án đã ra bản án, quyết định đó giải thích, đính chính, làm cơ sở cho việc thi hành bản án, quyết định đó. Trường hợp không được giải thích kịp thời, thì báo cáo cơ quan Thi hành án và Toà án cấp trên trực tiếp để có biện pháp chỉ đạo giải quyết.

Đối với những trường hợp chưa thống nhất ý kiến. Đây là những việc thi hành án có điều kiện thi hành án, nhưng do có nhiều quan điểm khác nhau về việc thi hành án, nên bản án, quyết định chưa thi hành được. Những việc này, cơ quan Thi hành án cần chỉ đạo Chấp hành viên tích cực rà soát, đề xuất với Lãnh đạo Thi hành án hoặc cơ quan Thi hành án cấp trên trực tiếp để phối hợp với các cơ quan hữu quan bàn bạc, thống nhất biện pháp giải quyết, tránh tình trạng kéo dài việc thi hành án, nâng cao kết quả thi hành án trong kỳ báo cáo;

Đối với tài sản kê biên hoặc phải giao chưa xử lý được. Những việc này trách nhiệm chủ yếu thuộc về Chấp hành viên phụ trách hồ sơ, Lãnh đạo các cơ quan Thi hành án cần kiểm tra, đôn đốc Chấp hành viên kịp thời xử lý. Trường hợp có vướng mắc, báo cáo Lãnh đạo cơ quan để phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tháo gỡ những vướng mắc đó;

Đối với những việc tạm ngưng do giải quyết khiếu nại, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cần giao cho những cán bộ, Chấp hành viên có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn giỏi rà soát, nghiên cứu hồ sơ để giải quyết khiếu nại của đương sự trong thời hạn quy định của pháp luật. Sau đó tiến hành áp dụng các biện pháp cần thiết để thi hành dứt điểm bản án, quyết định. Những trường hợp khó khăn, phức tạp, cần báo cáo Ban chỉ đạo thi hành án để chỉ đạo phối hợp các cơ quan hữu quan giải quyết dứt điểm.

Đối với trường hợp người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hợp pháp để thi hành án, có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án. Trước hết cơ quan thi hành án cần thông qua chính quyền địa phương, cơ quan chức năng, người được thi hành án để xác định chính xác điều kiện tài sản, thu nhập của người phải thi hành án. Cơ quan thi hành án cũng cần xác định tài sản như thế nào gọi là có giá trị nhỏ (không đủ để chi phí cưỡng chế thi hành án, là đồ dùng thiết yếu…); Đối với trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu, cơ quan thi hành án trả đơn yêu cầu thi hành án; còn đối với trường hợp chủ động thi hành án, cơ quan thi hành án cần phải lập sổ theo dõi riêng và thường xuyên xác minh điều kiện thu nhập, tài sản của người phải thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án có tài sản nhưng không tài sản thuộc diện không được kê biên hoặc chưa được xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan thi hành án cần căn cứ pháp luật hiện hành để xác định cụ thể những tài sản nào không được kê biên và áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Cần có quy định về giải quyết nơi ở tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình (như để lại diện tích tối thiểu khi kê biên, bán đấu giá hay để lại khoản tiền nhất định khi bán nhà để họ tạo lập nơi ở trong thời gian nhất định…);

Quy định thời hạn trả lời kiến nghị của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự cấp trên đối với thỉnh thị của cấp dưới.

          Quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan thi hành án cấp trên, cơ quan quản lý công các thi hành án, Viện Kiểm sát nhân dân trong việc cho ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án, trong đó quy định cụ thể về thời hạn trả lời, xem xét giải quyết vướng mắc. Cơ quan quản lý công tác thi hành án, cơ quan thi hành án cấp trên, Viện Kiểm sát nhân dân phải chịu trách nhiệm, kể cả việc bồi thường thiệt hại trong việc chậm trễ giải quyết, giải quyết không đúng pháp luật gây thiệt hại cho các bên đương sự.

Rà soát đối tượng phải thi hành án hoạt động bằng kinh phí Nhà nước cấp.

          Tiến hành rà soát các khoản chưa thi hành mà đối tượng phải thi hành án là cơ quan nhà nước hoạt động bằng kình phí cấp từ Ngân sách hoặc một phần từ ngân sách để kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét hỗ trợ về tài chính để thi hành án.

Rà soát, lập danh sách đối tượng phải thi hành án là doanh nghiệp

          Rà soát, lập danh sách các đối tượng phải thi hành án là các cơ quan, tổ chức kinh tế không tự nguyện thi hành án, cố tình lẩn tránh trách nhiệm xin ý kiến Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho phép công bố công khai trên trang Thông tin thi hành án dân sự.

Tiếp tục triển khai việc tin học hóa hoạt động quản lý, điều hành thi hành án dân sự.

          Tiếp tục triển khai bước 2 của việc tin học hoá hoạt động thi hành án dân sự, triển khai hộp thư điện tử, đào tạo sử dụng, khai thác các cơ sở dữ liệu Thi hành án dân sự nói riêng và khái thác dữ liệu trên Internet nói chung cho thi hành án dân sự địa phương (hiện tại, thực hiện kế hoạch triển khai tin học hóa thi hành án dân sự hầu hết các cơ quan Thi hành án dân sự đã nối mạng Internet); triển khai việc gửi báo cáo, văn bản…bằng thư điện tử theo đúng tinh thần Chỉ thị số 27/2007/CT-TTg ngày 29/11/2007 của Thủ trrướng Chính phủ về trấn chỉnh công tác văn bản trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Tiếp tục khảo sát, xây dựng, hoàn thiện phần mềm thống kê kết quả thi hành án dân sự để giảm bớt khối lượng công việc cho Chấp hành viên và cập nhật dữ liệu hàng ngày về Cục Thi hành án dân sự theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Nghiên cứu, triển khai đề án Thừa phát lại.

          Nghiên cứu và triển khai thí điểm đề án Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.

          Về cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy

Cần tiếp tục xác định rõ hơn trách nhiệm quản lý toàn diện, tập trung thống nhất công tác tổ chức, hoạt động thi hành án từ trung ương đến địa phương của Bộ Tư pháp. Đồng thời tăng cường vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, ban ngành liên quan trong việc hỗ trợ để cơ quan thi hành án hoàn thành nhiệm vụ.

Bộ máy cơ quan thi hành án, cần hoàn thiện tổ chức cơ quan thi hành án theo hướng đảm bảo tính độc lập trong hoạt động, nâng cao vai trò của cơ quan thi hành án, tương xứng với vị trí của các cơ quan tố tụng ở địa phương như Toà án, Kiểm sát, Công an…

Thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ quan thi hành án; xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án, đảm bảo các chấp hành viên trước khi bổ nhiệm phải qua đào tạo nghề. Sớm ban hành chế độ chính sách đãi ngộ với chấp hành viên và cán bộ thi hành án, trước mắt là chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ thi hành án như với thư ký toà án (hiện mới chỉ có chế độ bồi dưỡng đối với Chấp hành viên).

           Đáp ứng đầy đủ và kịp thời kinh phí hoạt động cho cơ quan thi hành án

Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động, đặc biệt là xây dựng trụ sở, hệ thống kho tang tài vật của các cơ quan thi hành án. Phấn đấu đến năm 2008 xây dựng xong trụ sở cho số cơ quan thi hành án chưa có trụ sở và trang bị đầy đủ phương tiện làm việc cho các cơ quan thi hành án. từng bước nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thi hành án, nhằm hiện đại hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thi hành án và cơ quan quản lý công tác thi hành án.

         Tăng cường công tác giải thích pháp luật

Thường xuyên tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục thuyết phục đương sự tự nguyện chấp hành; chỉ tiến hành cưỡng chế trong trường hợp bất đắc dĩ; phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an và các cơ quan hữu quan khác bảo đảm tốt cho công tác thi hành án có hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường sự giám sát của nhân dân, thực hiện xã hội hoá một số nội dung trong hoạt động thi hành án.

———————

người phải thi hành án ốm nặng hoặc chưa xác định được nơi cư trú hoặc vì lý do chính đáng khác không thể thực hiện được nghĩa vụ, mà theo bản án, quyết định người đó phải tự mình thực hiện; người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành; người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên; có tranh chấp về tài sản kê biên theo quy định tại Khoản 5 Điều 41 của Pháp lệnh này mà đang được Toà án thụ lý, giải quyết; người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Có quyết định thụ lý đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp; có kháng nghị của người có thẩm quyền.

Số lý do khác bao gồm các trường hợp bản án, quyết định tuyên không rõ ràng, chưa có sự thống nhất ý kiến giữa các ngành về việc giải quyết vụ việc; tài sản đã kê biên hoặc phải giao theo bản án, quyết định nhưng chưa xử lý được; tạm ngưng thi hành án để giải quyết khiếu nại.

SOURCE: MOJ.GOV.VN

GỠ VƯỚNG VỀ HỘ TỊCH CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

HƯƠNG NGUYỄN

Mới đây, trong 2 ngày (10-11/1)Hội nghị về đăng ký khai sinh (ĐKKS)và quốc tịch cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đã diễn ra tại Hà Nội do Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp chủ trì. Tham dự hội nghị có đại diện của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Công an và đại diện của các Sở tư pháp địa phương. Tại hội nghị, đại diện các bên đã đưa ra những thực tế, các giải pháp và kiến nghị để cùng nhau tìm ra phương pháp giải quyết những bất cập trong quá trình thực thi trong thời gian tới.

Những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trong lĩnh vực ĐKKS bao gồm nhóm trẻ được sinh ra ở nước ngoài, nhưng cha mẹ không có đăng ký kết hôn; nhóm  trẻ được sinh ở nước ngoài, có cha là người nước ngoài, cha mẹ  của trẻ có đăng ký kết hôn nhưng cha mẹ đã ly hôn hoặc ly thân, người mẹ đưa con về Việt Nam sinh sống; nhóm trẻ đang sống cùng mẹ trong trại giam do mẹ vi phạm pháp luật. Do đó điều mà các bên quan tâm đó là tình trạng pháp lý (phức tạp) cũng như thiếu cơ sở để các cháu được đăng ký kết hôn.

Trẻ sẽ được ĐKKS tại nơi cha hoặc mẹ đang tạm trú hoặc làm việc ổn định?

Đó là một trong những kiến nghị mà đại diện của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh đưa ra trong bản báo cáo tham luận sáng qua tại hội nghị. Trên thực tế, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có đông dân cư nhất trong cả nước và là một trong những nơi có lượng hồ sơ hộ tịch và quốc tịch được giải quyết hàng năm là rất lớn. Do đó, thành phố này cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết đăng ký khai sinh và quốc tịch cho con lai của các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam và một số trẻ có cha hoặc mẹ là người Campuchia đang sinh sống và lao động tại đây. Các cặp vợ chồng Hàn Quốc-Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc)-Việt Nam thường định cư tại nước ngoài, nhưng khi các mà mẹ quay trở về Việt Nam muốn xin ĐKKS cho con lại gặp nhiều vấn đề vì trẻ em là con lai lại thuộc trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Nhiều người khi muốn làm thủ tục ĐKKS cho con  nhưng lại không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch như không có giấy tờ chứng sinh, khai sinh hoặc có lại cố tình “dấu” đi…

Theo Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, các trường hợp cha mẹ trẻ định cư ở nước ngoài, gửi con về gia đình nuôi dưỡng cần đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho trẻ do cha mẹ làm việc tại các khu công nghiệp  trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng hộ khẩu ở các tỉnh thành khác được hưởng mọi quyền lợi, Bộ Tư pháp cho phép giải quyết ĐKKS theo sự lựa chọn nơi cư trú, thậm chí là tạm trú của cha hoặc mẹ. Để hạn chế việc ĐKKS cho trẻ ở nhiều nơi, thì sau khi ĐKKS, UBND cấp xã nơi đang ký tạm trú gửi thông báo cho UBND cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú của đương sự để biết và theo dõi.

Ngượng không dám ĐKKS cho con

Tình trạng này không phải là hiếm tại tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh có lượng lớn người kết hôn với công dân Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Theo ước tính, có khoảng 5000-6000  trường hợp kết hôn kiểu này tại Vĩnh Long, chiếm một nửa tỷ lệ của cả nước. Và cũng tại đây ngày càng có nhiều trường hợp trẻ sinh ra tại nước ngoài  nhưng do mẹ bị ngược đãi bỏ trốn về Việt Nam sinh sống và ly hôn tại Việt Nam hoặc ly hôn tại nước ngoài ( không mang theo giấy khai sinh hay các giấy tờ chứng minh) về Việt Nam nên không thể ghi chú khai sinh theo điều 55 của NĐ158.  Từ đó dẫn đến thực trạng nhiều trẻ em chưa có khai sinh. Nhiều người cảm thấy mặc cảm, ngượng vì đã bị ngược đãi tại nước ngoài nên  không trình báo với cơ quan nhà nước để xin ĐKKS hay nhập quốc tịch cho con. Một số trường hợp thì nghĩ con còn nhỏ chưa đi học nên chưa cần làm vội…

Cán bộ trại giam tự ĐKKS cho trẻ?

Theo chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua, nhiều nữ bị can, bị cáo, nữ bị kết án tù khi mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được các cơ quan pháp luật cho tại ngoại, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên trên thực tiễn, một số đối tượng này đã lợi dụng điều này để liên tục được “xếp” vào diện được hoãn, đình chỉ, hay tại ngoại. Và nhiều khi những đứa trẻ sinh ra tại trại giam không dễ dàng được UBND cấp xã ĐKKS cho. Tại nhiều địa phương, UBND cấp xã chỉ ĐKKS vì “tình cảm” chứ không theo “ nguyên tắc”, thậm chí còn “ khuyến khích’ cán bộ trại giam tự đi mà …ĐKKS lấy cho trẻ. Theo những uỷ ban này, khi bắt phạm nhân đến  cán bộ trại giam không đăng ký với họ  nên họ không quản lý. Các nguyên nhân của tình trạng này là do những người cha hoặc mẹ đứa trẻ khi bị giam bị bắt không mấy quan tâm đến việc ĐKKS cho con,  nhiều người không có giấy đăng ký kết hôn hay thậm chí không biết cha đứa trẻ là ai…UBND cấp xã chưa nắm vững được các quy định của pháp luật, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho người đến làm thủ tục khai sinh.

Chính những vướng mắc trên mà các đại biểu đều đưa ra kiến nghị cần sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ158 cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Bên cạnh đó cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các ban ngành có liên quan như Bộ Công An, Bộ Giáo dục đào tạo… để ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết những bất cập nẩy sinh. Đồng thời nâng cao  hiệu quả thực thi pháp luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để mọi người hiểu, nhận thức đúng và chấp hành tốt các quy định đó. Sắp tới, việc soạn thảo đề án sửa đổi Luật Quốc tịch sẽ có thể cho phép người có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng 2 quốc tịch.

Bên cạnh đó, các đại biểu tham gia Hội nghị cũng bàn luận về các vấn đề như thực tiễn việc ĐKKS cho trẻ  bị buôn bán, là nạn nhân bị buôn bán trở về, việc ĐKKS cho trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam, HIV, trẻ mồ côi lang thang cơ nhỡ. Kết thúc hội nghị, Vụ Hành chính Tư pháp nhất trí sẽ nhanh chóng sửa đổi NĐ158 cho phù hợp với tình hình hiện nay, tiến hành rà soát việc thi hành pháp luật về vấn đề ĐKKS cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt tại một số tỉnh thành, phối hợp với các Bộ có liên quan đến ban hành các Thông tư liên tịch nhằm hướng dẫn thi hành các vấn đề còn vướng mắc/.

Hương Nguyễn – MOJ.GOV.VN

TÒA ÁN PHẢI XÉT XỬ ĐỘC LẬP

LƯU TIẾN DŨNG – Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, hiện đang công tác tại Văn phòng Luật sư YKVN của Việt Nam.

Trong buổi làm việc với Tòa án nhân dân tối cao gần đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã yêu cầu Tòa án phải độc lập khi xét xử và khẳng định các cơ quan, cũng như những nhà lãnh đạo cấp cao không can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Vấn đề đặt ra là, cần phải làm những gì để cam kết chính trị đó của Chủ tịch nước trở thành hiện thực trong công cuộc xây dựng Nhà nước Pháp quyền.

Một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó không thể thiếu được một nền tư pháp độc lập bởi lẽ tính tối thượng của pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi có các vị quan tòa áp dụng pháp luật một cách độc lập. Độc lập xét xử cùng có ý nghĩa rất quan trọng để bảo đảm một môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ chế phán xét độc lập, vô tư và khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi những người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là điều rất quan trọng để bảo đảm sự thành công của việc phòng và chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án.   Continue reading

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIA ĐÌNH VÀ VIỆC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MINH ANH – Tạp chí Triết học

Được ví như cái nước nh, Nho giáo cho rng, gia đình có v trí quan trng trong s n đnh ca xã hi. Vì vy, nhng hành vi ng x và giao tiếp ca mi thành viên trong gia đình được Nho giáo quy đnh cht ch, ph thuc vào danh phn mi người. Nhng quy đnh này, nếu loi b nhng yếu tô bo th, mt dân ch thì cho đến nay, vn còn có giá tr. Do đó, kế tha nhng tư tưởng tích cc ca Nho giáo v gia đình trong vic xây dng gia đình mi Vit Nam hin nay nhm thc hin thành công xây dng nn kinh tế th trường đnh hướng xã hi ch nghĩa, là vic làm cn thiết.

Khác với các học thuyết triết học Phương Tây, triết học phương Đông nói chung và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người cá nhân, một cái tôi tách khỏi xã hội. Chính việc nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội đã giúp Nho giáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội. Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

NGUYỄN MINH HẰNG  – Học viện tư pháp

NGUYỄN MINH HIẾU  – Toà dân sự TAND TP HCM

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 lần đầu tiên đã pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự, trong đó có việc hôn nhân và gia đình. Có thể nói, đây là một bước đột phá về thủ tục tố tụng, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc giải quyết nhanh, giản lược các việc mang tính chất đặc trưng là không có tranh chấp, nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền về dân sự, hôn nhân gia đình… Bên cạnh những ưu điểm, thực tiễn thụ lý và giải quyết các việc dân sự (theo nghĩa rộng) nói chung và việc hôn nhân gia đình nói riêng đã và đang đặt ra khá nhiều vướng mắc cần tháo gỡ và cần có sự hướng dẫn thống nhất. Continue reading

LUẬT SƯ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ LUẬT SƯ CỦA NGƯỜI DÂN

ĐOÀN TIỂU LONG – Sài Gòn Giải phóng thứ bảy

1. Bất bình đẳng giữa hai loại luật sư

Tại phiên toà hình sự, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố thường được gọi là luật sư của Nhà nước, đối lập với người bào chữa là luật sư của người dân. Về bản chất, một vụ án hình sự cũng là một vụ kiện, trong đó Nhà nước thông qua luật sư của mình kiện một công dân vi phạm một số điều khoản nào đó của Bộ luật Hình sự. Việc tranh tụng tại toà giữa công tố viên và bị cáo hay luật sư của bị cáo, vì thế, cũng không khác gì việc tranh tụng giữa bên nguyên và bên bị trong bất kỳ vụ kiện tụng nào khác. Trong tiếng Anh, công tố viên – prosecutor – có nghĩa gốc là “người đi kiện”, xuất phát từ động từ prosecute là “kiện”. Trước toà, hai bên nguyên – bị đều bình đẳng với nhau, và điều này được khẳng định trong điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nói thì có vẻ đơn giản, nhưng hiểu thế nào là “bình đẳng trước Toà án” lại là cả một vấn đề. Từ trước tới nay, các chuyên gia pháp lý của ta đều nhất trí rằng “bình đẳng trước Toà án” chỉ là một nội dung của quyền “bình đẳng trước pháp luật” mà Hiến pháp quy định, tuy nhiên trước Toà án các bên chỉ bình đẳng về mặt tố tụng, tức là đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu và tranh luận, chứ không bình đẳng về mọi mặt. Chính đây là điều đáng suy ngẫm.

Do không nhận thức được rằng một vụ án hình sự cũng chỉ là một vụ kiện, lại bị lối tư duy “suy đoán có tội” – cứ bị bắt, truy tố là chắc chắn có tội – chi phối, chúng ta thường coi đó là một vụ xét xử tội phạm để trừng phạt, răn đe. Do đó tư thế của các bên trong phiên toà hình sự khác nhau rõ rệt. Chưa hề có bản án, chưa biết đúng sai ra sao, người ta đã thấy bị cáo mặc áo tù, bị còng tay, bị cảnh sát kèm chặt dẫu chẳng hề có dấu hiệu phản kháng hay bổ trốn; buộc phải đứng trước vành móng ngựa nghe công tố viên, rồi nhiều lúc cả hội đồng xét xử nữa, thi nhau mắng mỏ, quát nạt, trấn áp tinh thần. Luật sư bào chữa ngồi đâu đó phía sau, muốn nghe, muốn nhìn mặt thân chủ cũng khó. Trong khi đó công tố viên ngồi trên cao phía trước, sang sảng đọc cáo trạng, luận tội, thỉnh thoảng lườm xuống bị cáo và luật sư một cách đầy thị uy. Và lạ thay, một thời gian dài ai ai cũng coi đó là chuyện đương nhiên. Nó giống y như trong các bộ phim cổ trang của Tàu có cảnh xử án: đương sự quỳ mọp dưới đất, còn quan phụ mẫu, Bao Công chẳng hạn, ngồi trên cao đập bàn quát tháo. Hình ảnh này trái ngược hoàn toàn với hình ảnh ta thường thấy trong các bộ phim diễn cảnh phiên toà ở các nước có nền tư pháp phát triển, trong đó bị cáo ăn mặc rất lịch sự, chẳng mấy khi bị xiềng xích, còn luật sư thì tranh cãi nảy lửa với viên chưởng lý, tức công tố viên, và thường là thắng mới thú chứ! Phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” là một ví dụ.

Vì sao vậy? Vì trong ý thức của đa số chúng ta kiểm sát viên đại diện cho Nhà nước, còn luật sư chỉ đại diện cho một cá nhân, hơn nữa lại là cá nhân đang bị truy tố, mà đã truy tố là 99% đi tù, so thế quái nào được! Không thể có chuyện bình đẳng về tư cách, về vị trí ngồi, về trang phục, về khả năng tiếp cận hồ sơ, và cả về sự ưu ái của hội đồng xét xử giữa hai bên ở đây – người ta nghĩ thế.

Đó là biểu hiện rất rõ của quan điểm “Nhà nước cai trị”, sản phẩm của chế độ phong kiến châu Á hàng ngàn năm, trong đó vua là thiên tử, quan là cha mẹ, còn dân đen chỉ là con sâu cái kiến. Còn theo quan điểm “Nhà nước phục vụ” mà chúng ta đang nỗ lực tiến tới thì sao?

2. Bộ máy không thể cao hơn chủ nhân, và luật sư cũng thế

Trong một chế độ dân chủ, Nhà nước là bộ máy do nhân dân lập ra để quản lý xã hội, và những công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước chỉ là những công bộc của dân, ăn lương của dân để thực thi những nhiệm vụ do người dân giao phó. Không lý nào bộ máy lại đứng cao hơn chủ nhân, công bộc đứng trên ông chủ. Vậy thì luật sư của bộ máy làm sao có thể đứng ngang hàng với luật sư của ông chủ, chứ đừng nói gì đến đứng trên. Ý tưởng sơ đẳng đó về một nền dân chủ đích thực tiếc thay không phải ai cũng nhận thức ra, kể cả trong số các chuyên gia pháp lý. Có lẽ vì thế mà trong Bộ luật tố tụng hình sự mới được sửa đổi tranh tụng vẫn chưa được công nhận như một nguyên tắc. Dường như nhiều người vẫn lo ngại rằng nếu chỉ hoàn toàn dựa vào tranh tụng thì các kiểm sát viên sẽ không đấu lại các luật sư chăng, và vì thế vẫn cần sự hỗ trợ của Hội đồng xét xử để giành phần thắng? Người ta có quyền đặt ra nghi vấn này, vì cho đến nay vẫn còn tồn tại một hiện tượng khá phi lý: trước khi vụ án được đưa ra xét xử bao giờ cũng có cuộc làm việc giữa ba bên: cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án, nhằm “thống nhất đường lối xét xử”. Luật sư không được phép có mặt trong cuộc họp này, và vì thế người ta rất dễ nghĩ rằng ba bên họp nhau là để bàn cách chống lại bị cáo cùng luật sư. Vậy thì còn cần đến phiên toà làm gì nữa?

Chúng ta đã có Nghị quyết 08 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp; một số nơi đã tiến hành những phiên toà mẫu, trong đó chỗ ngồi của công tố viên và luật sư bào chữa được xếp đối xứng nhau thể hiện sự bình đẳng trước Toà. Mới đây đã có quyết định là bị cáo ra toà không phải mặc áo tù nữa (nhưng chuyện còng tay thì vẫn bỏ ngỏ). Tại nhiều phiên toà, việc tranh tụng được tiến hành dân chủ hơn. Đó là những nỗ lực sơ khởi đáng ghi nhận. Mong sao những phiên toà mẫu đó không còn là mẫu nữa, mà sẽ trở thành thông lệ, để sau này con cháu chúng ta sẽ phải trợn mắt kinh ngạc khi nghe kể về những phiên toà xưa kia.

Theo Sài Gòn Giải phóng thứ bảy