SUY NGẪM 2

"Hiện nhiều người vẫn gọi ĐH Việt Nam là “trường cấp 4”. Điều này đúng cả về hai phương diện: cơ sở vật chất và cách nghĩ, cách dạy. Để khắc phục tình trạng này Nhà nước phải cấp đất cho các ĐH (kể cả công và tư) và đầu tư xây dựng một số ĐH thật đàng hoàng.

Đồng thời phải tạo điều kiện cho các trường ĐH có quyền chủ động nhiều hơn nữa trong việc xây dựng chương trình, xuất bản, tổ chức đào tạo. Đặc biệt, phải hình thành tư duy ĐH trong nhà trường và xã hội, làm cho trường ĐH trở thành trung tâm chất xám, nơi bồi dưỡng tinh thần dân chủ, dám nghĩ, dám phát minh, có ý kiến mới, thành một môi trường mở về tri thức và tư tưởng, trung tâm giao lưu quốc tế về khoa học và sáng tạo.

Cần tập trung xây dựng một số ĐH thật hiện đại để đào tạo nhân tài, để làm mẫu và cung cấp cán bộ giảng dạy cho các ĐH khác. Đồng thời mở rộng hệ thống ĐH, chấp nhận nhiều loại trường (trường công, trường tư), nhiều qui mô, hình thức đào tạo (tại chức, từ xa, tín chỉ…). Bên cạnh đó cần lập một hay vài trung tâm kiểm định quốc gia để đánh giá, xếp loại các cơ sở đào tạo ĐH."

Trích từ bài viết mang tên "học để làm người, học để sống với nhau" của GS.TSKH. LÊ NGỌC TRÀ – chungta.com

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP

BÌNH LUẬN VÀ 10 KIẾN NGHỊ CHỌN LỌC VỀ DỰ THẢO LUẬT DOANH NGHIỆP THỐNG NHẤT

TS.PHAN HUY HỒNG – Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

I. BÌNH LUẬN CHUNG

Việc xây dựng Luật Doanh nghiệp thống nhất trên cơ sở phát triển Luật Doanh nghiệp 1999 (LDN 1999) cùng với phạm vi điều chỉnh của luật này thể hiện là một phương án hợp lý khi ta đánh giá nó trong hoàn cảnh lập pháp cụ thể. Các lập luận và nhận định sau đây nhằm ủng hộ phương án đã được lựa chọn khi có thể vẫn có ý kiến khác nhau về vấn đề này.

1. Trước hết, nếu không có chủ trương bổ sung một loại hình doanh nghiệp mới nào vào hệ thống pháp luật doanh nghiệp thì việc lấy LDN 1999 làm cơ sở để xây dựng luật mới là phù hợp, bởi vì luật này đã quy định bốn loại hình doanh nghiệp căn bản trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp Việt Nam. Bản thân LDN 1999 đã được xây dựng trên cơ sở các điều tra nghiên cứu khá công phu và đã phản ánh được sự đồng thuận cao trong các giới, các tầng lớp xã hội. Qua hơn bốn năm có hiệu lực thực hiện, luật này đã thể hiện là công cụ phù hợp để thực hiện các mục tiêu được ghi nhận trong lời nói đầu của Luật.

2. Việc lấy LDN 1999 làm cơ sở để xây dựng luật mới cho phép phát huy tốt nhất tính kế thừa trong lập pháp. Sự sửa đổi, bổ sung luật này trên cơ sở kết quả của các điều tra, nghiên cứu, đanh giá thực tiễn áp dụng là cách làm tiết kiệm tiền bạc và thời gian hơn cả. Một yếu tố không thể không xem xét tính đến để ủng hộ phương án này là việc xây dựng Luật Doanh nghiệp thống nhất và Luật Đầu tư chung còn chịu áp lực về mặt thời gian bởi mục tiêu sớm được gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Continue reading

ĐỀ CƯƠNG VẤN ĐỀ 1 – MODUL2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGHĨA VỤ

* YÊU CẦU TÀI LIỆU

1. Tài liệu bắt buộc:

– Bộ luật dân sự năm 2005 (điều 280 – 387) đối chiếu tương ứng với Bộ luật dân sự năm 2005;

– Các văn bản qui phạm pháp luật khác có liên quan. Xem trang 33 -34 Đề cương môn học Luật dân sự Modul 2

– Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập 2 – Đại học Luật hà Nội;

– Các tài liệu khác được liệt kê tại Đề cương môn học Luật dân sự Modul 2 Tr 32 – 33

2. Tài liệu tham khảo lựa chọn:

– Các bài viết hoặc thông tin có liên quan đăng tải trên các tạp chí Luật học, Nghề Luật, Tòa án nhân dân, Nghiên cứu lập pháp, Nhà nước và pháp luật… và trên các trang Web.

Continue reading

HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN – NHỮNG VƯỜNG MẮC VỀ ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số : /2006/ CĐDS

 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

          Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 TP. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 6 năm 2006

CHUYÊN ĐỀ DÂN SỰ

HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN – NHỮNG VƯỜNG MẮC VỀ ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT

 

*****

Trong thời gian qua, do áp dụng đúng các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) và hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) nên việc giải quyết các tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản của ngành Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (TAND TPHCM) đã có sự chuyển biến tích cực: giảm tỉ lệ bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa án, hủy án; các bản án có hiệu lực pháp luật cũng ít sai sót nên tỉ lệ án bị giám đốc cũng giảm nhiều.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây (năm 2005 và 08 tháng đầu năm 2006), các Toà án nhân dân quận huyện (TAND Q-H) đã đề cập đến một số khó khăn, vướng mắc khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, ví dụ như các trường hợp sau: hợp đồng vay tài sản do các đưong sự ký kết bị biến tướng thành hợp đồng dân sự khác (giả tạo) nhưng lại được chính pháp luật dân sự thừa nhận khi phát sinh tranh chấp; trường hợp xác định vợ, chồng phải liên đới nghĩa vụ dân sự khi giải quyết hợp đồng vay tài sản có giá trị lớn thì việc áp dụng nguyên tắc tương tự giữa Tòa án hai cấp có quan điểm khác nhau; trường hợp thực hiện hợp đồng vay tài sản có bảo lãnh của người khác hoặc chuyển giao nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng vay tài sản … Khi giải quyết một số loại tranh chấp này thì giữa các toà án vẫn có sự khác nhau về việc áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự.

Những vướng mắc nêu trên cần được thảo luận và qua đó đề nghị Ủy ban thẩm phán TAND TPHCM kết luận hoặc kiến nghị TANDTC có văn bản hướng dẫn. Vì vậy, TAND TPHCM xây dựng chuyên đề “Hợp đồng vay tài sản – những vướng mắc về đường lối giải quyết”. Đề nghị Toà chuyên trách, Phòng nghiệp vụ và các TAND Q-H nghiên cứu, tham gia thảo luận nhằm làm rõ các quan hệ, đề xuất hướng giải quyết các vướng mắc nêu trên.

Continue reading

VÍ DỤ VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA PHÁP NHÂN VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CHỦ THỂ DÂN SỰ KHÁC

QUYẾT ĐỊNH SỐ 20/2003/HĐTP-DS NGÀY 23-06-2003 VỀ VỤ ÁN YÊU CẦU CHẤM DỨT HÀNH VI QUẢNG CÁO, TRÁI PHÁP LUẬT VÀ BUỘC XIN LỖI CÔNG KHAI

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

…………………….

Tại phiên toà ngày 23-06-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án yêu cầu chấm dứt hành vi quảng cáo trái pháp luật và buộc xin lỗi công khai giữa các đương sự:

– Nguyên đơn:

1. Công ty TNHH sản xuất và thương mại Vạn Thành do ông Trần Trí Lương, chức vụ Phó Giám đốc đại diện theo uỷ quyền; địa chỉ: số 213/10 C Hoà Bình, phường 19, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh

2. Công ty TNHH sản xuất Mousse Ưu Việt do bà Lưu Thuý Châu, chức vụ Giám đốc đại diện; địa chỉ: C5/6D quốc lộ 1, Tân Kiên, Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh

3. Công ty TNHH sản xuất đồ nhựa Anh Dũng do ông Nguyễn Văn Dang, chức vụ Giám đốc đại diện; địa chỉ số 60-62 Ngô Gia Tự, phường 9, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

-Bị đơn: Công ty Cổ phần cao su Sài Gòn Kymdan do bà Phạm Thị Dã, chức vụ Phó Tổng giám đốc đại diện theo uỷ quyền; địa chỉ: số 28 Bình Thới, phường 14, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO

PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế mỗi nước. Tình hình sôi động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam, thời gian qua đã phản ánh hiện tượng kinh tế tốt lành. Sự phát triển của TTCK một cách ổn định là tác nhân quan trọng không chỉ cho sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng mà đối với cả nền kinh tế nói chung. 

1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam

Việc buôn bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, nhưng thị trường chứng khoán (TTCK) nước ta mới chính thức hoạt động từ năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28-7-2000. Khi đó mới có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công ty chứng khoán thành viên. Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD. Vài năm gần đây mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt 24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếu tính cả trái phiếu thì đạt mức 46% GDP.

Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% so với năm 2000. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có sự gia tăng đáng kể. Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vào khoảng 4 tỉ USD. Theo dự tính, quy mô của thị trường còn tiếp tục được mở rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá sẽ tiếp tục niêm yết vào năm 2007-2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Continue reading

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LÊ QUÍ ĐỨC – VŨ THỊ HUỆ

Gia đình có vai trò to lớn mang tính đặc thù trong việc duy trì nòi giống và là môi trường nuôi dưỡng nhân cách của con người, không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Để hình thành nhân cách con người Việt Nam hôm nay, cùng với việc phát huy vai trò của xã hội, chúng ta cần phát huy vai trò của gia đình.

Gia đình – “hạt nhân của xã hội”

Gia đình sẽ còn tồn tại mãi mãi trong đời sống xã hội, trong các cộng đồng người, nên cần nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình và giáo dục của gia đình đối với con người và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt”[1]. Nếu xét từ chiều sâu tư tưởng, đạo đức, tinh thần thì gia đình là hạt nhân của xã hội. Gia đình bao chứa những quan hệ nhân bản, sâu nhất của con người, gắn với bản chất của con người – tính người. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH VIỆC GIA HẠN NỢ

KHẮC LUYỆN – NHCT Phú Yên

Trong quan hệ vay vốn, việc khách hàng chậm trả nợ là điều khó tránh khỏi. Vẫn biết, chậm trả nợ dẫn đến gia hạn nợ phải xuất phát từ yếu tố khách quan, song cũng có trường hợp xin gia hạn nợ lại xuất phát từ yếu tố chủ quan của chính người vay vốn. Vậy làm cách nào để nhận biết và hạn chế được tình trạng gia hạn nợ không đúng hiện nay?
Thông thường, khi người vay vốn chưa có khả năng trả được nợ đúng hạn theo cam kết đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) trong các hợp đồng tín dụng thì họ phải làm đơn xin gia hạn nợ để có thời gian thu hồi vốn từ người mua hàng (gọi là thu hồi công nợ), hoặc tiếp tục đẩy mạnh bán hàng hoá tồn kho để có tiền trả nợ cho các TCTD. Trước đây, các TCTD quy định thời gian cho gia hạn trả nợ đối với khách hàng vay vốn tối đa bằng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh nhưng không quá 12 tháng đối với cho vay ngắn hạn và bằng 1/2 thời gian vay vốn đối với cho vay trung hạn và dài hạn (Quyết định 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÊN DOANH NGHIỆP

TRẦN THỊ PHƯƠNG HẠNH –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng…”, đây chính là đoạn đầu trong khái niệm doanh nghiệp được nghi nhận tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN 2005). Điều này cho thấy tên doanh nghiệp là một thành tố – một thành tố quan trọng – cấu thành doanh nghiệp. Tên có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của doanh nghiệp, nó gắn liền với sự tồn tại, hưng thịnh hay suy vong của doanh nghiệp. Hiểu được tầm quan trọng của tên doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã có những chiến lược xây dựng và bảo vệ đối với tên gọi của doanh nghiệp mình; bên cạnh đó, pháp luật kinh tế, đặc biệt là pháp luật doanh nghiệp, cũng đã tạo dựng một hành lang pháp lý nhằm bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp đối với tên gọi của doanh nghiệp.

1. Các yếu tố cấu thành tên doanh nghiệp

Cũng giống như con người, doanh nghiệp khi được khai sinh cũng cần có một cái tên. Tuy nhiên, khác với con người, doanh nghiệp là một sản phẩm nhân tạo mang tính pháp lý vì thế tên của doanh nghiệp phải thể hiện được những nội dung theo quy định của pháp luật, cụ thể là quy định của LDN 2005. Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 LDN 2005 thì tên doanh nghiệp phải viết được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp tên riêng.

Thành tố thứ nhất, loại hình doanh nghiệp là hình thức tổ chức của doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân. Thành tố thứ hai, tên riêng của doanh nghiệp là từ hoặc nhóm từ mà những người thành lập tùy ý đặt cho doanh nghiệp. Tên riêng của doanh nghiệp là yếu tố giúp phân biệt các doanh nghiệp với nhau, nhất là các doanh nghiệp có loại hình giống nhau hoạt động cùng ngành, nghề. Theo quy định của Nghị định số 8 8/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh (sau đây viết tắt là Nghị định 88) thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể sử dụng tên riêng bằng tiếng nước ngoài đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn bộ tên riêng của doanh nghiệp. Continue reading

HIỂU VÀ VẬN DỤNG QUI ĐỊNH ĐIỀU CHỈNH KỲ HẠN TRẢ NỢ NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG

VÕ MƯỜI – Ngân hàng Nhà nước Quảng Ngãi

Thời gian qua, việc thực hiện điều chỉnh kỳ hạn trả nợ đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) đi vào nề nếp, không những góp phần quan trọng vào công tác quản lý tín dụng, đặc biệt là tín dụng trung, dài hạn mà còn tạo điều kiện cho khách hàng vượt qua khó khăn tạm thời về tài chính và để phục hồi sản xuất kinh doanh, có nguồn trả nợ. Tuy niên, trong thực tiễn việc nhận thức và vận dụng qui định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ vẫn đang là nỗi băn khoăn của nhiều người. Continue reading

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: QUAN NIỆM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GS.TS. NGUYỄN PHÚ TRỌNG – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

I – Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?

1- Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.

Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm – ngoại vi”. Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo. Continue reading

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA : QUAN NIỆM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GS.TS. NGUYỄN PHÚ TRỌNG – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

I – Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?

1- Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.

Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm – ngoại vi”. Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo. Continue reading

CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM HẬU WTO

GS.TS. NGUYỄN THANH TUYỀN

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế. Gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một biểu hiện sinh động của quá trình đó. 

Sau 12 năm kiên trì đàm phán VN đã được kết nạp vào WTO (ngày 7.11.2006). Xét trên góc độ về nội dung, chức năng và các nguyên tắc hoạt động của WTO, có thể thấy đây là cơ hội để VN tiến sâu vào hội nhập và phát triển bình đẳng với các quốc gia trên thế giới. Song nhìn về đặc điểm, trình độ, các mối quan hệ kinh tế hiện hữu và năng lực điều kinh tế vi mô, vĩ mô, thì chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức không phải là nhỏ.  Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ Ở THỦ TỤC SƠ THẨM

THS. ĐẶNG THANH HOA  – Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Hòa giải trong tố tụng dân sự, nguyên tắc đặc trưng của ngành luật Tố tụng dân sự, đã được tiếp tục ghi nhận và hoàn thiện tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 (BLTTDS). Việc quán triệt, củng cố và phát triển nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự đã góp phần đưa Tòa án về đúng vị trí và vai trò của mình khi giải quyết các tranh chấp dân sự (tranh chấp “tư”), đó chính là vai trò trung gian, trọng tài, giải quyết các tranh chấp dân sự trên nền tảng sự chủ động thỏa thuận của đôi bên đương sự. Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với quan điểm và ghi nhận của BLTTDS về vấn đề này. Bởi lẽ, các tranh chấp về dân sự phần lớn được hình thành trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận của chính các chủ thể trong quan hệ đó (khái niệm tranh chấp dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động). Vì vậy, một khi có xảy ra tranh chấp thì không ai khác mà chính các chủ thể này phải tiến hành thương lượng để đi đến thống nhất nhằm hóa giải các mâu thuẫn, tranh chấp và Toa án chỉ phải ra quyết định giải quyết các tranh chấp một khi các bên không thể thỏa thuận được với nhau. Cũng chính vì vậy, quyền hòa giải – thỏa thuận của các đương sự được thực hiện xuyên suốt trong quá trình tố tụng dân sự từ lúc Tòa án thụ lý vụ án dân sự, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, cho đến khi mở phiên tòa sơ thẩm và cả trong thủ tục phúc thẩm… Song song đó, nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án cũng đã được BLTTDS quy định cụ thể đối với hoạt động hòa giải: nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 180); thông báo về phiên hòa giải (Điều 183); nội dung hòa giải, biên bản hòa giải và việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 185, 186, 187),… Continue reading

VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TS. BÙI NGỌC CƯỜNG – Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

Ở nước ta Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ra đời từ những năm đầu của thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường tạo cơ sở pháp lý cho việc ký kết hợp đồng kinh tế, đã có tác dụng thúc đẩy các hoạt động kinh tế phát triển. Tuy nhiên, pháp lệnh này cho tới nay vẫn chưa một lần được sửa đổi, bổ sung đã bộc lộ nhiều bất cập. Những bất cập đó ngày càng gia tăng cùng việc Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp… Những quy định bất hợp lý trong pháp luật về hợp đồng kinh tế đã “đóng khung” các hoạt động kinh doanh vốn dĩ hết sức mềm dẻo, linh hoạt, năng động và nhiều tính sáng tạo. Trong điều kiện mới, pháp luật về hợp đồng kinh tế không những không tạo được sự điều chỉnh pháp lý thuận lợi hơn cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng mà còn gây những trở ngại, thậm chí là thiệt hại về kinh tế cho các chủ thể. Chính vì vậy mà vấn đề hoàn thiện pháp luật về hợp đồng phục vụ cho hoạt động kinh doanh đang được đặt ra hết sức bức xúc. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC CHUYỂN ĐỔI SANG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ VÀ CÔNG TY CON

LÊ CAO THẾ

Xây dựng các tập đoàn kinh tế hoạt động hiệu quả theo mô hình công ty mẹ – công ty con, tạo thành những đầu tàu mạnh, thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta. Để mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp trên hoạt động hiệu quả, vai trò quản lý của Nhà nước là nhân tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

1. Mô hình tổ chức quản lý công ty mẹ – công ty con

Thực hiện quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp, từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, tiến trình sắp xếp và chuyển đổi công ty nhà nước đang được khẩn trương thực hiện, theo tinh thần Đại hội X của Đảng: “khẩn trương hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần. Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối… Đối với những tổng công ty lớn chưa cổ phần hóa toàn bộ tổng công ty, thực hiện cổ phần hóa hầu hết các đơn vị thành viên và chuyển các doanh nghiệp thành viên còn lại sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà chủ sở hữu là Nhà nước; đồng thời, chuyển các tổng công ty này sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Tổ chức lại Hội đồng quản trị để thực sự là đại diện trực tiếp của chủ sở hữu tại tổng công ty”(1).

Mô hình công ty mẹ – công ty con là mô hình tiên tiến được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Mô hình này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc giữa công ty mẹ và công ty con, trong đó yếu tố vốn là nút liên kết cơ bản.

Thông qua việc nắm giữ và chi phối về vốn đầu tư, công ty mẹ có vị trí, vai trò quan trọng trong việc quyết định chiến lược phát triển của các công ty con nhằm thực hiện mục tiêu chung của cả tập đoàn. Quyền sở hữu đem lại cho công ty mẹ khả năng chi phối đối với công ty con, thông qua việc quyết định về tổ chức, quản lý, nhân sự chủ chốt, thị trường cũng như những vấn đề quan trọng khác. Mức độ sở hữu vốn của công ty mẹ trong công ty con quyết định nội dung của mối quan hệ trên. Công ty con được công ty mẹ góp 100% vốn thì mối quan hệ với công ty mẹ sẽ hết sức chặt chẽ, thể hiện ở việc công ty mẹ có quyền quyết định hoàn toàn những vấn đề quan trọng của công ty con. Các công ty con mà công ty mẹ giữ cổ phần hoặc vốn góp chi phối sẽ có mối quan hệ ít chặt chẽ với công ty mẹ. Tuy nhiên, với tỷ lệ vốn góp giành được quyền chi phối, các công ty mẹ vẫn đủ sức kiểm soát và định hướng cho công ty con hoạt động nhằm phục vụ lợi ích, chiến lược của công ty mẹ.

Ngoài ra, giữa các công ty con lại có mối quan hệ ràng buộc với nhau, phụ thuộc vào sự điều tiết của công ty mẹ nhằm phục vụ mục tiêu chung của tập đoàn. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, các công ty con vẫn hoàn toàn độc lập và tự chủ trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của mình.

Nghị định 153/2004/NĐ-CP quy định, công ty mẹ có các quyền và nghĩa vụ: quyết định nội dung, sửa đổi, bổ sung điều lệ, cơ cấu tổ chức, quản lý công ty con; có trách nhiệm đầu tư vốn điều lệ cho công ty trực thuộc, thực hiện quyền chủ sở hữu đối với phần vốn này; xây dựng chiến lược kinh doanh chung, phân cấp quyết định các dự án đầu tư cho các đơn vị thành viên; tổ chức giám sát, theo dõi và đánh giá hoạt động kinh doanh, tài chính công ty con; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty thành viên trong phạm vi số vốn góp vào…

Trong khi đó, công ty con có các quyền và nghĩa vụ: quản lý và sử dụng linh hoạt số vốn do công ty mẹ đầu tư, chịu trách nhiệm trước công ty mẹ về hiệu quả sử dụng vốn và các nguồn lực; có quyền tự chủ kinh doanh trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của công ty, phù hợp với nhu cầu thị trường và các mục tiêu, phương án phối hợp kế hoạch kinh doanh chung của công ty mẹ; tham gia các hình thức đầu tư hoặc được công ty mẹ giao tổ chức thực hiện các dự án đầu tư…

2. Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

Luật Doanh nghiệp năm 2005 từng bước đã tách quyền sở hữu doanh nghiệp và quyền quản lý doanh nghiệp của Nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình trên các mặt: định hư­ớng phát triển, xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách quản lý đối với công ty mẹ và công ty con, hệ thống thông tin trên thị trư­ờng chứng khoán, đội ngũ cán bộ quản lý, kiểm tra, giám sát… Gắn liền với sự chuyển đổi, việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với mô hình công ty mẹ – công ty con có ý nghĩa quan trọng, thực hiện trên cơ sở những nội dung sau:

Thứ nhất, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật.

Luật Doanh nghiệp năm 2005 mặc dù đã nêu quyền và trách nhiệm của công ty mẹ, công ty con nhưng mới chỉ ở dạng chung nhất mà chưa có những quy định cụ thể về quản lý đối với mô hình này. Các tổng công ty đã và sẽ được thành lập thành các tập đoàn kinh tế mạnh, nhưng tại Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ mới nêu được tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Quy định về quản lý vốn, một yếu tố quan trọng bậc nhất trong mô hình tổ chức trên cũng chưa cụ thể, nhất là việc các công ty mẹ trực tiếp đầu tư vốn cho công ty con hoặc mua cổ phần của công ty con…

Để mô hình trên hoạt động hiệu quả, trong thời gian tới khi Luật Doanh nghiệp thống nhất được ban hành, Chính phủ cần có nghị định hướng dẫn tiêu chí tổ chức quản lý, hoạt động, cũng như quản lý vốn của các tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con.

Thứ hai, đổi mới các chính sách quản lý.

Các tổng công ty được thành lập trên cơ sở có các doanh nghiệp nhà nước nòng cốt, những doanh nghiệp thành viên khác tham gia trên tinh thần tự nguyện, vì lợi ích chung và lợi ích của chính mình. Các tổng công ty lớn phải có tiềm lực tài chính mạnh, sử dụng phương thức “tham gia vốn vào các doanh nghiệp thành viên” thông qua công ty đầu tư tài chính của mình, dần dần trở thành các tập đoàn kinh doanh mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Từng bước hoàn thiện mô hình các tổng công ty đang hoạt động theo hướng phân định rõ ràng quyền sở hữu và quyền quản lý, tránh sự chồng chéo lẫn nhau. Nhà nước chỉ bổ nhiệm chức năng quản lý, tức là chấp thuận danh sách thành viên Hội đồng quản trị và bổ nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, quy định chế độ trách nhiệm và quyền hạn của Hội đồng quản trị. Đối với chức danh điều hành như Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng và giám đốc các đơn vị trực thuộc do Hội đồng quản trị quyết định bổ nhiệm hoặc thuê.

Chuyển mô hình điều hành sản xuất của tổng công ty từ điều hành bằng phương pháp hành chính sang phương pháp kinh tế. Tăng cường năng lực hoạch định chiến lược, phân tích thị trường, thẩm định dự án đầu tư, công tác kế hoạch, quản lý chất lượng, định mức kinh tế – kỹ thuật của các cơ quan tổng công ty theo hướng tăng về chất nhưng giảm về lượng.

Thực hiện chế độ hạch toán đầy đủ và rành mạch theo từng doanh nghiệp thành viên để biết rõ năng lực điều hành của giám đốc mỗi đơn vị. Quy định chế độ trách nhiệm vật chất trong việc bảo toàn và phát triển vốn đối với công ty con, chấm dứt việc sáp nhập đơn vị lỗ vào đơn vị lãi để “hòa” lãi lỗ. Với mô hình công ty mẹ – công ty con, các đơn vị làm ăn thua lỗ phải tự chịu trách nhiệm, công ty mẹ chỉ là người góp vốn chứ không là chủ sở hữu vốn như trước đây.

Thứ ba, đổi mới cơ chế quản lý.

Thực hiện mở cửa các lĩnh vực mà khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đảm nhận cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia, trừ một số ngành đặc biệt phải có sự độc quyền của Nhà nước. Các doanh nghiệp phải tự chủ hoàn toàn về tài chính, tự tính toán chi phí, doanh thu và lỗ lãi của doanh nghiệp, xóa bỏ mọi khoản trợ cấp hay bù lỗ từ ngân sách một cách trực tiếp hay gián tiếp. Với tổng công ty vừa phải đảm nhiệm mục tiêu phi thương mại, vừa phải đạt các mục tiêu thương mại thì cần thiết phải chia tách doanh nghiệp thành hai bộ phận hạch toán độc lập hoặc thành hai doanh nghiệp riêng rẽ, để cho các tổng công ty được theo đuổi mục tiêu lợi nhuận.

Nhà nước giám sát, kiểm tra, đánh giá tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh đi đôi với minh bạch về tài chính, có cơ chế thưởng phạt và trách nhiệm rõ ràng; kiên quyết xóa bỏ cơ chế xin – cho trong đầu tư và quan hệ tài chính giữa Nhà nước và tổng công ty. Việc đầu tư không theo phương thức cấp phát như trước mà chuyển sang hình thức qũy đầu tư hoặc công ty đầu tư tài chính của Nhà nước. Tiếp tục phân cấp thực hiện các quyền chủ sở hữu nhà nước đối với tổng công ty, trong đó Hội đồng quản trị là cơ quan nhà nước đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại tổng công ty, chủ tịch Hội đồng quản trị được giao bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước.

Thứ tư, sắp xếp lại các tổng công t.y

Củng cố, đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý các tổng công ty, kết hợp sắp xếp lại với đầu tư mới hoặc cải tạo, hiện đại hóa các doanh nghiệp nhà nước cần thiết. Các cơ quan có trách nhiệm chỉ đạo đổi mới kinh tế và các bộ, ngành, địa phương phải quán triệt nhận thức về các giải pháp sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược hoặc lo sợ làm bất ổn xã hội, mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, hay tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước…

Tổ chức tuyên truyền, vận động rộng rãi để công chúng đồng tình, nhiệt tình tham gia thảo luận phương án sắp xếp lại doanh nghiệp, hăng hái mua cổ phần. Có các giải pháp hỗ trợ cho sắp xếp lại như phát triển thị trường vốn, phổ biến các biện pháp kỹ thuật xác định giá trị doanh nghiệp, cải tiến thủ tục hành chính liên quan…

Thứ năm, kiểm tra, giám sát các hoạt động của tổng công ty.

Kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật và làm trọng tài bảo đảm sự công bằng trong các quan hệ kinh tế. Đây là chức năng quan trọng của Nhà nước nhằm duy trì các luật chơi và làm trọng tài giải quyết các tranh chấp về kinh tế, bảo đảm tất cả các doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật. Để thực hiện chức năng này, hệ thống các tòa án, hệ thống thanh tra phải được tổ chức để giải quyết các xung đột về kinh tế một cách có hiệu quả, công bằng và ngăn ngừa những hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể kinh doanh như: trốn thuế, buôn lậu, đầu cơ…

Giám sát, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một chức năng rất quan trọng của chủ sở hữu nhằm mục đích: giám sát các hành vi tư lợi của người quản lý; đánh giá kết quả hoạt động quản lý để đưa hệ thống khuyến khích lợi ích cá nhân vào việc nâng cao nỗ lực quản lý của giám đốc doanh nghiệp… Hệ thống giám sát, kiểm tra có thể được tổ chức bao gồm: hệ thống cung cấp các thông tin kịp thời và chính xác; hệ thống đánh giá kết quả quản lý của doanh nghiệp.

Thứ sáu, đổi mới mối quan hệ chủ sở hữu với các tổng công ty.

Thực hiện sự đổi mới trên nhằm tránh hai khuynh hướng: Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hạn chế sáng kiến và tính năng động của các tổng công ty; việc giao quyền tự chủ kinh doanh cho các tổng công ty không trên cơ sở xác định rõ ràng trách nhiệm và quyền quản lý tài sản tại doanh nghiệp, thiếu sự giám sát và kiểm tra hoạt động tài chính, dẫn đến tình trạng tham ô, lãng phí tài sản nhà nước.

Xác định đúng chức năng chủ sở hữu của Nhà nước trong quá trình mở rộng quyền sản xuất kinh doanh cho các tổng công ty để nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp. Việc xác định đại diện chủ sở hữu tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc: chỉ có một đại diện chủ sở hữu duy nhất ở doanh nghiệp; xác định rõ quyền hạn cũng như trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp; quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh.

Nhà nước cần có cơ chế chính sách giúp đỡ các doanh nghiệp tiếp tục giải quyết những vấn đề vướng mắc sau khi chuyển đổi để nhanh chóng ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp sau khi chuyển đổi thành các công ty con được quyền chủ động vận dụng cơ chế thị trường có sự quản lý theo đúng pháp luật của Nhà nước, được bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trước pháp luật. Nhà nước ban hành đồng bộ các quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, chính sách giải quyết thoả đáng điều kiện cần thiết phục vụ sản xuất, kinh doanh của tập đoàn kinh tế như: mặt bằng, đất đai, công nợ, vốn, tiền lương – thưởng, bảo hiểm…


(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 223

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 12 (132) NĂM 2007

CHỈ THỊ SỐ 01/2008/CT-TTg VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
*****
Số: 01/2008/CT-TTg
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2008

CHỈ THỊ

VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

Thị trường bất động sản nước ta tuy mới hình thành, nhưng đã có bước phát triển tích cực, nhiều dự án nhà ở, công trình dịch vụ, thương mại, sản xuất kinh doanh đã được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, nhiều khu nhà ở, khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng đồng bộ đã được đầu tư làm thay đổi bộ mặt, cảnh quan đô thị. Thị trường bất động sản đã thu hút được đáng kể nguồn vốn trong nước và nước ngoài, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội trong những năm vừa qua. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường bất động sản đã từng bước được hoàn thiện, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn cho cả các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của thị trường bất động sản thời gian qua cũng đã bộc lộ những mặt yếu kém, phát triển thiếu ổn định và bền vững. Đặc biệt, trong thời gian gần đây tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã xảy ra tình trạng giá văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở riêng lẻ tăng đột biến cục bộ ở một số dự án, một số khu vực nhất định. Trong khi thị trường bất động sản tại một số địa phương khác vẫn trong tình trạng kém sôi động, ít giao dịch. Nguyên nhân cơ bản của tình hình nêu trên là do nguồn cung về nhà đất tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh gần đây bị hạn chế, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, giá đầu vào (vật liệu, nhân công) tăng cao cũng như sự tác động của thị trường tài chính, tiền tệ đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tăng giá bất động sản. Tại những khu vực giá bất động sản tăng đột biến đã xảy ra tình trạng nhà đầu tư giữ hàng không đưa ra thị trường nhằm đẩy giá lên cao; chính quyền các cấp thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý kịp thời các trường hợp đầu cơ, nâng giá xảy ra trên địa bàn. Ngoài ra còn có nguyên nhân quan trọng là nhiều địa phương chưa quan tâm tới việc đầu tư xây dựng quỹ nhà xã hội để cho một số đối tượng thu nhập thấp thuê hoặc thuê mua theo quy định của Luật Nhà ở. Tình trạng đầu cơ, đẩy giá giao dịch bất động sản lên quá cao so với giá trị thực gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động đầu tư, giảm nguồn thu cho ngân sách, gây tác động xấu tới tâm lý và đời sống xã hội. Để khắc phục những bất cập nêu trên, góp phần phát triển thị trường bất động sản hoạt động lành mạnh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

1. Bộ Xây dựng:

a) Chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sửa đổi những nội dung liên quan đến lập, thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở trong Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở theo hướng phân cấp, loại bỏ các quy định bất hợp lý để rút ngắn thời gian thực hiện các dự án, khuyến khích các chủ đầu tư xây dựng đa dạng các loại căn hộ có diện tích phù hợp với các đối tượng có thu nhập thấp và trung bình, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, soạn thảo Nghị định xử phạt các vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản, trình Chính phủ trong quý II năm 2008;

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản trong quý I năm 2008;

d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành hạn mức sở hữu nhà ở để làm cơ sở xác định thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về thuế ngay sau khi văn bản pháp luật về thuế liên quan đến thị trường bất động sản được sửa đổi, bổ sung;

đ) Chỉ đạo đôn đốc các địa phương đẩy mạnh công tác đầu tư xây dựng nhà ở xã hội kể cả từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác, tìm kiếm nguồn vốn ODA để tạo quỹ nhà ở của Nhà nước nhằm từng bước điều tiết thị trường nhà ở;

e) Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh doanh bất động sản theo thẩm quyền;

g) Đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương thực hiện tốt Chỉ thị số 11/2007/CT-TTg ngày 08 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Kinh doanh bất động sản.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường:

a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế chỉ định chủ đầu tư các dự án nhà ở, khu đô thị mới được giao đất, thuê đất theo hướng đảm bảo lựa chọn chủ đầu tư có kinh nghiệm, năng lực tài chính, đảm bảo yêu cầu về tiến độ, đồng thời có chế tài xử lý cụ thể đối với các trường hợp chậm triển khai dự án, không đảm bảo tiến độ quy định, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

b) Trong quý I năm 2008 ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn việc cho phép chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới được lựa chọn hình thức nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai để tạo điều kiện cho các chủ đầu tư giảm bớt chi phí đất đai, góp phần giảm giá bán, giá cho thuê nhà ở trong các dự án;

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành hạn mức sử dụng đất để làm cơ sở xác định thuế nhà, đất theo quy định của pháp luật về thuế ngay sau khi văn bản pháp luật về thuế liên quan đến thị trường bất động sản được sửa đổi, bổ sung.

3. Bộ Tài chính:

a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh về thuế nhà đất theo hướng đánh thuế luỹ tiến đối với các trường hợp chủ sở hữu, chủ sử dụng có nhiều nhà, đất vượt hạn mức quy định, có nhà đất nhưng không đưa vào khai thác sử dụng nhằm mục đích hạn chế đầu cơ, tăng nguồn thu cho ngân sách, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất ngày 22 tháng 6 năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất số 17/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 theo hướng giảm thuế suất đối với các trường hợp giao dịch, chuyển nhượng đất ở, đất xây dựng công trình nhằm khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân kê khai, đăng ký nộp thuế khi thực hiện giao dịch, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trình Chính phủ trong quý I năm 2008;

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và Nghị định số 47/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Điều 6 Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ theo hướng giảm tỷ lệ (%) lệ phí trước bạ đối với các trường hợp đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản nhà, đất, trình Chính phủ trong quý I năm 2008.

4. Bộ Công Thương có trách nhiệm đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương thực hiện tốt Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường để góp phần bình ổn giá bất động sản.

5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Kiểm tra, rà soát lại danh mục và tiến độ thực hiện đối với tất cả các dự án nhà ở, dự án khu đô thị mới trên phạm vi địa bàn; thực hiện việc thu hồi đất đối với các chủ đầu tư dự án đã giao đất hoặc cho thuê đất nhưng chưa triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Có biện pháp xử lý kiên quyết đối với các trường hợp đầu cơ nhà đất, mua bán, chuyển nhượng bất động sản trái quy định của pháp luật, trốn lậu thuế cũng như các trường hợp khác vi phạm quy định pháp luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản trên phạm vi địa bàn;

c) Báo cáo tình hình phát triển và quản lý thị trường bất động sản tại địa phương mình gửi Bộ Xây dựng trước ngày 01 tháng 02 năm 2008 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

6. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị này.

7. Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

8. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– Văn phòng BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– Các Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty 91;
– VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ,
Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, CN (5b).

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

BẢO KHÁNH – Bộ Thương Mại

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu, tìm kiếm, mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ nói riêng, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nắm được những vấn đề cơ bản của thương mại quốc tế. Trong các nội dung của thương mại quốc tế ngày nay, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một vấn đề không mấy xa lạ với các nước trên thế giới nhưng lại khá mới mẻ đối với ngay cả các cơ quan và cán bộ làm công tác hội nhập và xây dựng chính sách kinh tế – thương mại của nước ta.

Hoạt động sở hữu công nghiệp bao hàm mọi hoạt động xã hội liên quan tới các đối tượng là kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết sản xuất, thiết kế vi mạch, chủng vi sinh, giống sinh vật); của hoạt động sáng tạo mỹ thuật ứng dụng (kiểu dáng công nghiệp) và của hoạt động sáng tạo trong kinh doanh (nhãn hiệu hàng hóa; nhãn hiệu dịch vụ; bí mật thương mại; các chỉ dẫn thương mại; đặc quyền thương mại)… Các hoạt động nói trên có tính chất pháp lý liên quan tới các vấn đề kinh tế (vật chất) và tinh thần trong quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đó.

Mục tiêu của hoạt động sở hữu công nghiệp là khuyến khích hoạt động sáng tạo khoa học – công nghệ; cổ vũ đầu tư tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật – mỹ thuật ứng dụng cũng như các sáng kiến kinh doanh mới; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh đồng thời sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội.

Biện pháp để đạt được các mục tiêu trên là thông qua việc vận hành hệ thống các quy phạm pháp luật mà xây dựng và duy trì một lĩnh vực hoạt động gọi là hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp – trong đó quan hệ giữa các chủ thể liên quan tới đối tượng trên mang nội dung quan hệ quyền và nghĩa vụ và các quan hệ đó được điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế – xã hội. Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được cấu thành bởi ba hệ thống chủ chốt, đó là: hệ thống bảo hộ sáng chế (hay còn gọi là hệ thống patent); hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và hệ thống bảo hộ thông tin bí mật. Nguyên tắc chung của cả ba hệ thống này là thông qua việc thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với quyền sở hữu công nghiệp mà chủ thể các quyền đó (người nắm giữ quyền) được bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất trong một thời gian nhất định đủ để khai thác nhằm không những bù đắp các chi phí đầu tư tạo ra giá trị của các đối tượng đó mà còn có thể thu được lợi nhuận để tiếp tục tạo ra các thành tựu mới. Một cách tổng quát, mọi đối tượng nói trên đều được coi là đối tượng sở hữu, các quan hệ xã hội liên quan tới các đối tượng đó được điều chỉnh chủ yếu theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ sở hữu.

Theo thông lệ trên thế giới cũng như quy định tại các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu trí tuệ bao gồm 2 nhánhquyền sở hữu công nghiệp quyền tác giả (Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, bí mật thương mại v.v.; Quyền tác giả gồm quyền đối với: các tác phẩm văn học nghệ thuật, quyền của các nhà ghi âm, các nghệ sĩ biểu diễn, các tổ chức phát thanh truyền hình v.v..). Theo nghĩa rộng nhất, sở hữu trí tuệ có nghĩa là quyền pháp lý phát sinh từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm hai mục đích: bảo đảm về mặt pháp lý đối với quyền vật chất và tinh thần của các nhà sáng tạo đối với các kết quả sáng tạo của họ và quyền của công chúng được tiếp cận các thành quả sáng tạo này; thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, phổ biến và ứng dụng các thành quả sáng tạo và khuyến khích kinh doanh lành mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội.

Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” đôi khi bị hiểu nhầm là liên quan đến các động sản hoặc bất động sản được sử dụng cho sản xuất công nghiệp, chẳng hạn như các nhà máy, các trang thiết bị phục vụ sản xuất công nghiệp v.v.. Tuy nhiên, sở hữu công nghiệp là một loại tài sản trí tuệ và do đó chúng liên quan đến các thành quả sáng tạo trí tuệ của con người. Điển hình của các thành quả sáng tạo này là các sáng chế và các kiểu dáng công nghiệp. Ngoài ra, sở hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh. Thuật ngữ “quyền sở hữu công nghiệp” sử dụng trong Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không chỉ bao hàm những gì liên quan tới “công nghiệp”. Đây là một định nghĩa truyền thống về sở hữu công nghiệp trên thế giới.

Nội dung quyền sở hữu công nghiệp cũng có đầy đủ 3 loại quyền năng quy định tại Chương 2, Phần thứ 6 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, vì đây là một loại tài sản vô hình nên quyền sử dụng và quyền định đoạt có ý nghĩa lớn hơn so với quyền chiếm hữu. Giống như mọi loại quyền sở hữu khác, quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật. Ngoài những quy định chung điều chỉnh về tài sản, quyền tài sản, Bộ luật Dân sự có riêng Chương 2, Phần thứ 6 quy định về quyền sở hữu công nghiệp.

Để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thiết lập quyền sở hữu công nghiệp của mình trên thị trường nội địa và bước ra thương trường thế giới với mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, chúng ta phải tập trung một số giải pháp sau:

Thứ nhất, Nhà nước phải hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu công nghiệp.

Trong nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nhấn mạnh vì quyền sở hữu công nghiệp là một loại tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, bản thân doanh nghiệp chính là người phải chủ động thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ quyền của mình. Nhà nước chỉ tạo ra những cơ chế, hành lang pháp lý thích hợp để các chủ thể bảo vệ quyền của mình. Giải pháp hỗ trợ kinh phí để doanh nghiệp tiến hành đăng ký xác lập quyền không phải là giải pháp có hiệu quả. Cần phải nhắc lại rằng việc đăng ký xác lập quyền chỉ là một công đoạn đầu tiên trong một quá trình lâu dài để bảo vệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ, trong đó có quyền sở hữu công nghiệp. Nhà nước hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền trong khi doanh nghiệp không hiểu rõ vai trò, ý nghĩa cũng như không có chiến lược cho hoạt động sở hữu công nghiệp thực tế sẽ phản tác dụng, làm cho doanh nghiệp ảo tưởng rằng chỉ cần đăng ký quyền là đủ mà không có bất cứ hành động nào khác để khai thác cũng như bảo vệ quyền đó. Hơn nữa, việc lấy ngân sách nhà nước (thực tế là tiền đóng thuế của các doanh nghiệp) để hỗ trợ cho một số doanh nghiệp nào đó đơn thuần để đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp là không công bằng, không bình đẳng trong hoạt động kinh doanh. Trong giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, có một cách tiếp cận có hiệu quả đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay, đó là cách tiếp cận tập thể – tiếp cận theo ngành hàng.

+ Đối với các loại nông phẩm: Dường như phương thức tiếp cận tập thể để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là có hiệu quả nhất. Ví dụ điển hình là trường hợp cà-phê Cô-lôm-bi-a. Hành khách đi trên các hãng hàng không thường nghe thấy lời mời của tiếp viên về loại sản phẩm này. Khi đó, chúng ta có thể thấy tất cả những người sản xuất và buôn bán loại sản phẩm này của Cô-lôm-bi-a đều được hưởng lợi. Liên hệ với các sản phẩm xuất khẩu tương tự của Việt Nam, nếu từng doanh nghiệp sản xuất, chế biến cà-phê tiến hành quảng bá sản phẩm của mình với các nhãn hiệu riêng rẽ, sẽ rất khó có thể đạt được thành công trên thị trường quốc tế, nhất là hiện nay loại sản phẩm này hầu hết được xuất khẩu dưới dạng cà-phê hạt (sản phẩm thô). Trong trường hợp đó, khi các doanh nghiệp chế biến của nước ngoài mua nguyên liệu thô của Việt Nam và chế biến, gắn nhãn hiệu của họ vào sản phẩm và tung ra thị trường thì khi đó sẽ không còn mối liên quan nào đến Việt Nam trong sản phẩm đó.

+ Tương tự như vậy là đối với sản phẩm gạo: Người tiêu dùng thường biết đến một loại gạo mà họ mua xuất xứ từ nước nào trước khi họ quan tâm đến việc hãng bán lẻ nào cung cấp loại gạo đó. Chưa nói đến việc tự mình tạo ra một mạng lưới phân phối và sử dụng riêng nhãn hiệu của mình trên bao bì bán lẻ hàng hóa, việc làm cho khách hàng biết được nguồn gốc gạo của Việt Nam hiện vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

+ Đối với sản phẩm dệt, may: Khi hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu hướng tới các thị trường của các nước phát triển thì việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của riêng mình hay sử dụng nhãn hiệu của các hãng nổi tiếng trên thế giới cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong kinh doanh. Một số công ty may mặc có truyền thống và đã có những thành công nhất định ở thị trường nước ngoài có thể nghĩ đến việc sử dụng nhãn hiệu riêng của mình (chẳng hạn Công ty May 10). Tuy nhiên, hầu hết các công ty may mặc của Việt Nam chủ yếu gia công cho các hãng nước ngoài. Trong trường hợp đó, đương nhiên bên đặt gia công sẽ yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam phải gắn trên sản phẩm nhãn hiệu của họ. Ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam tự sản xuất (không phải là gia công) thì việc không có hệ thống phân phối ở nước ngoài cũng là một trở ngại cho các doanh nghiệp khi sử dụng nhãn hiệu của mình trên sản phẩm. Khi mua sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam sau đó gắn những nhãn hiệu nổi tiếng, các doanh nghiệp nhập khẩu của nước ngoài có thể thu được lợi nhuận rất lớn. Đó cũng là lý do vì sao có rất nhiều ý kiến của các doanh nghiệp dệt may cho rằng, không cần thiết phải đăng ký và sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của mình ở nước ngoài mà thay vào đó là xuất khẩu hàng không gắn nhãn hiệu, còn sau đó việc gắn nhãn hiệu nào vào sản phẩm đó là công việc của người nhập khẩu hàng. Như vậy, Nhà nước cần tập trung vào hỗ trợ các ngành hàng xác lập quyền sở hữu công nghiệp ở nước ngoài thay vì hỗ trợ từng doanh nghiệp xuất khẩu. Giải pháp này đặc biệt phù hợp với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp là chỉ dẫn địa lý/tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Thứ hai, hỗ trợ thành lập các tổ chức quản lý tập thể chỉ dẫn địa lý/tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Ở nước ta, hầu như mỗi địa phương đều có không ít các đặc sản truyền thống mang tên của địa phương đó (như nước mắm Phú Quốc, cà-phê Đắc Lắc, bưởi năm roi Bình Minh, xoài cát Hòa Lộc, thanh long Bình Thuận, v.v.). Nhiều đặc sản được người tiêu dùng ưa chuộng, vì thế bị làm giả ở mức độ khác nhau và vì vậy doanh nghiệp cũng đã ít nhiều thấy được sự cần thiết phải có sự bảo hộ pháp lý đối với tên gọi của sản phẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thường không biết sản phẩm của mình có đáp ứng các điều kiện luật định để được hưởng sự bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hay không. Bởi vậy, họ cần được hỗ trợ trong việc đánh giá sơ bộ khả năng đáp ứng các điều kiện bảo hộ đó. Mặt khác, công việc xác định và chứng minh các điều kiện bảo hộ rất tốn công và tốn của, trong khi cộng đồng doanh nghiệp chưa thể khẳng định được giá trị kinh tế thực sự do sự bảo hộ đem lại. Bởi vậy, họ cần được hỗ trợ về phương pháp luận và các nguồn lực để đánh giá sự cần thiết phải bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm của địa phương mình.

Chỉ dẫn địa lý được coi là tài sản quốc gia, vì thế, để hỗ trợ những cộng đồng chưa đủ điều kiện có tổ chức đại diện của mình, Ủy ban nhân dân các tỉnh có thể thành lập hoặc chỉ định một tổ chức tạm thời thực hiện chức năng của tổ chức quản lý tập thể đối với chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, hiệp hội các nhà sản xuất, nếu được thành lập, sẽ là chủ thể bảo vệ quyền của chính mình một cách thiết thực hơn. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng vẫn là phải thành lập một tổ chức quản lý tập thể đối với chỉ dẫn địa lý của cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất đặc sản đó. Cần có sự hỗ trợ về tài chính cho các tổ chức này hoạt động trong giai đoạn đầu và nguồn hỗ trợ chính phải là ngân sách nhà nước vì chỉ dẫn địa lý được coi là tài sản quốc gia. Khuôn khổ hỗ trợ thích hợp là Chương trình xúc tiến thương mại vì chỉ dẫn địa lý là phương tiện xúc tiến thương mại.

Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược về sở hữu công nghiệp.

Tương tự như chiến lược kinh doanh, muốn bảo hộ có hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược về hoạt động này. Chiến lược về bảo hộ sở hữu công nghiệp thường phải gắn chặt với chiến lược kinh doanh, đặc biệt khi doanh nghiệp có chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu. Chiến lược sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp phải đặt ra được những nội dung sau:

– Xác định các đối tượng sở hữu công nghiệp chủ yếu của doanh nghiệp

Trong nội dung này, tùy vào quy mô của mình mà doanh nghiệp phải xác định danh mục các quyền sở hữu công nghiệp mà mình đang có hoặc phấn đấu sẽ có được. Chẳng hạn, hầu hết các doanh nghiệp phải đưa tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa vào danh mục các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình. Có thể nói rằng, không doanh nghiệp nào có thể hoạt động được, nhất là các doanh nghiệp có chiến lược làm ăn lâu dài, mà thiếu được hai đối tượng sở hữu công nghiệp này.

– Xác định cách thức tạo dựng (nguồn) của khối tài sản sở hữu công nghiệp

Các quyền sở hữu công nghiệp có thể phát sinh từ các thành quả sáng tạo của chính doanh nghiệp, cũng có thể được tạo dựng bằng cách nhận chuyển nhượng từ người khác, bao gồm cả việc được cấp li-xăng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Khi xác định cách thức tạo dựng quyền sở hữu công nghiệp, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý đến lợi thế cạnh tranh nói chung. Không nên tập trung vào việc tạo dựng những tài sản trí tuệ cần đến sự đầu tư quá lớn, không phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp.

– Xác định lãnh thổ cần bảo hộ đối với từng đối tượng sở hữu công nghiệp

Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược sở hữu công nghiệp vì nó liên quan đến các hoạt động xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp. Lãnh thổ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được xác định phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không nhất thiết phải tiến hành bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp ở tất cả các thị trường mà mình kinh doanh. Có những thị trường mà việc đưa trực tiếp hàng hóa mang nhãn hiệu của mình vào hệ thống bán lẻ là không thể được thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp cần sử dụng quyền sở hữu công nghiệp của người khác bằng cách mua li-xăng.

– Xác định bộ máy quản lý quyền sở hữu công nghiệp

Tùy thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, việc quản lý quyền sở hữu công nghiệp có thể được giao cho các bộ phận liên quan đến kinh doanh hoặc thành lập ra những bộ phận chuyên môn để quản lý quyền sở hữu công nghiệp. Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, danh mục các tài sản sở hữu công nghiệp còn hạn chế, do vậy phương thức phù hợp hơn cả là giao chức năng quản lý quyền sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp cho bộ phận có chức năng quản lý kinh doanh.

Thứ tư, doanh nghiệp cần đầu tư nhân lực, vật lực cho việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp.

Sở hữu công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp với quy mô khác nhau. Những doanh nghiệp lớn nói chung có các phòng, ban chuyên trách về phát triển và thực hiện chiến lược về sở hữu công nghiệp, gồm đội ngũ nhân viên với đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết, có thể là các luật sư, các kỹ sư, nhà khoa học, nhà kinh tế, các chuyên gia nghiên cứu thị trường… Đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ cần có một bộ phận hoặc một người chuyên trách về vấn đề sở hữu công nghiệp. Hơn nữa, do sở hữu công nghiệp là một lĩnh vực đặc thù có quan hệ tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nên những người trực tiếp tiến hành các công việc về sở hữu công nghiệp đòi hỏi phải có hiểu biết về các vấn đề đó.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 2+3 (122 + 123) NĂM 2007

GÓP Ý DỰ THẢO THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN VIỆC GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRÊN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

THS-LS.PHAN THÔNG ANH – Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam
Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quy luật tất yếu và là một xu thế phát triển trên thế giới, các quốc gia cần có chính sách mở cửa tham gia hội nhập với các tổ chức kinh tế liên minh khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế để phát triển. Do sự phát triển nên phương thức hoạt động mua bán hàng hóa, đầu tư quốc tế ngày càng đa dạng và phương thức giao dịch mua bán, đầu tư trên các mạng thông tin điện tử (websites) là một phương thức phổ biến và đang là một vấn đề Việt Nam cần quan tâm trong tiến trình hội nhập. Chủ thể tham gia các giao dịch thương mại điện tử hiện nay không chỉ dừng lại các tổ chức cá nhân nước ngoài với tổ chức cá nhân Việt Nam mà còn có giao dịch giữa các tổ chức cá nhân Việt Nam với nhau.
Để đảm bảo sự phù hợp của pháp luật quốc gia khi tham gia hội nhập, Việt Nam đã từng bước ban hành các văn bản điều chỉnh liên quan đến các giao dịch điện tử trong đó đáng lưu ý là Luật giao dịch điện tử được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/3/2006 ; Nghị định của Chính phủ về thương mại điện tử ngày 09/06/2006 ; Nghị định của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số ban hành ngày 15/02/2007 ; Quyết định của Bộ Thương mại ( nay là Bộ công thương) về việc ban hành Quy chế sử dụng chữ ký số ngày 25/07/2006 và nhiều lĩnh vực khác cũng có các văn bản pháp luật khác do các bộ ngành và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ban hành điều chỉnh tương ứng về giao dịch điện tử như trong hoạt động tài chính, về cấp chứng chỉ xuất xứ hàng hóa điện tử ; trong hoạt động ngân hàng ; trong việc sử dụng in phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử; Quy chế chứng thực chữ ký số ; Quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử ; Quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử. . . . . .
Chương trình đầu tư tài chính lừa đảo thông qua trang thông tin điện tử “colonyinvest.com” là một vấn đề đang khá nóng và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng chưa thống kế hết số thiệt hại của các nhà đầu tư, cái giá mà các nhà đầu tư Việt Nam đã phải trả quá đắt cho sự cả tin của mình và cũng là một tiếng chuông đã gióng lên cho các cơ quan nhà nước cần phải tăng cường hơn nữa xây dựng các hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử nhằm bảo vệ các thương nhân, các nhà đầu tư giao dịch mua bán hàng và đầu tư thông qua các mạng thông tin điện tử. Do vậy việc xây dựng Thông tư hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử là điều hết sức cần thiết và theo chúng tôi cần phải sớm ban hành để đưa giao dịch thương mại điện tử vào đời sống xã hội với một hành lang pháp lý chặt chẻ.
1)-Sự hợp lý của dự thảo Thông tư :
Trước tiên chúng tôi xin ghi nhận sự nỗ lực và cố gắng của ban dự thảo xây dựng Thông tư này tuy chỉ mới là dự thảo 2 nhưng những nội dung cơ bản để có thể đủ tầm điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử hiện nay. Ngoài một số quy định chung dự thảo đã giải quyết được hai nội dung chính đó là
1.1- Quy định các điều kiện về đề nghị giao kết, chấp nhận giao kết hợp đồng
(-) Đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân ; (-) đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng (-) Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng ;(-) chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng; (-) quy định về thời điểm giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử ; (-) xác định giá trị pháp lý của hợp đồng giao kết bằng chức năng đặt hàng trực tuyến; (-) quy định phải cung cấp các điều khoản của hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử.
1.2- Quy định về các điều khoản phải có đối với một hợp đồng điện tử
(-) Thông tin của thương nhân; (-) Thông tin về hàng hóa dịch vụ; (-) Thông tin về các điều khoản giao dịch; (-) Thông tin về vận chuyển và giao nhận; (-) Thông tin về giá cả; (-) Thông tin về các phương thức thanh toán và hai thông tin khác có liên quan đến hợp đồng được quy định ở một mục khác đó là (-) về thủ tục chấm dứt hợp đồng đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ trực tuyến dài hạn ; (-) về giải quyết tranh chấp  liên quan đến các hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử.
Song song đó dự thảo cũng còn một số vấn đề mà theo chúng tôi cần góp ý bổ sung như sau :

2)-Về tên gọi của Thông tư cần xem lại và bổ sung :
Nghị định được xây dựng với tên gọi là hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử theo chúng tôi là chưa đủ mà cần bổ sung thêm cụm từ “ và thực hiện “ để thông tư có thể điều chỉnh hai nhóm hành vi hướng dẫn giao kết và thực hiện hợp đồng trên website thương mại điện tử chứ không phải chỉ giao kết không.
Cơ sở pháp lý chúng tôi đề nghị bổ sung nội dung này là trên cơ sở chương IV Luật giao dịch điện tử ( từ điều 33 đến điều 38) quy định là Giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử và theo sự hợp lý của nó chúng ta nên điều chỉnh tiếp hành vi thứ hai sau giao kết là thực hiện hợp đồng mà ở đây là hợp đồng trên website thương mại điện tử. Sự bổ sung này nếu được chấp nhận còn mang một ý nghĩa là sự thống nhất hướng dẫn từ văn bản Luật xuống đến văn bản thi hành của một lĩnh vực riêng biệt.

3)-Về nội dung thực hiện hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử
Như đã trình bày ở trên nội dung của hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử trong dự thảo quy định khá cơ bản nhưng theo chúng tôi cần quy định bổ sung việc thực hiện hợp đồng trên website sẽ thực hiện như thế nào về giao hàng và thanh toán. . .Cần quy định về chế độ phản hồi thông tin khi các bên đã thực hiện các quyền nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng.
– Nếu bên khách hàng phải ký quỹ một số tiền thì sau khi thực hiện việc ký quỹ xong việc phản hồi thông tin cho bên thương nhân như thế nào ? để bên thương nhân tiến hàng giao hàng ? và sau khi giao hàng xong việc phản hồi thông tin của hai bên như thế nào ? để cho bên khách hàng thanh toán tiếp số tiền còn lại . . .
– Nếu hàng giao không đủ số lượng và đúng chất lượng thì khách hàng cần phản hồi cho thương nhân theo chế độ thông tin nào để khiếu nại ?. . . .
Đây cũng là cơ sở pháp lý để  giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến việc chậm thanh toán và chậm giao hàng trong giao dịch mua bán hàng hóa trên website thương mại điện tử.

4)-Cơ sở pháp lý để xác định thông tin chủ thể một bên trong giao dịch “ khách hàng khi đặt mua hàng “
Dự thảo thông tư đã quy định rõ đối tượng áp dụng bao gồm ba nhóm đối tượng
(1)     Tổ chức, cá nhân sử dụng website thương mại điện tử để bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (sau đây gọi là thương nhân);
(2)     Tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trên website thương mại điện tử (sau đây gọi là khách hàng);
(3)     Tổ chức, cá nhân quản lý và vận hành website thương mại điện tử (sau đây gọi là người quản lý website).
Nhưng trong nội dung của hợp đồng điện tử lại không quy địnhthông tin về khách hàng ( nhóm 2) chỉ quy định thông tin của Thương nhân ( nhóm 1)
Nếu có những vấn đề liên quan đến người mua hàng (khách hàng) chứ không phải liên quan đến người bán hàng (thương nhân) thì thông tin sẽ được xác định như thế nào ? với quy định của pháp luật hiện hành thì khó có thể truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người mua hàng nếu họ đặt hàng xong nhưng họ không nhận hàng.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong thương mại đã có trường hợp một thư điện tử do A viết và gửi đi nhưng A  phủ nhận là không có viết và không có gửi và họ cho đó là thư giả mạo  vì cơ chế lưu trữ thông tin thư điện tử đối chiếu hiện nay chỉ lưu trữ có 6 tháng.Quá thời gian 6 tháng không có cơ sở đối chiếu xác minh.
Vấn đề được đặt ra là cơ sở pháp lý nào để có thể quy trách nhiệm pháp lý cho người đặt hàng(khách hàng)qua mạng họ là người đã đặt hàng.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì trong tranh chấp thương mại dân sự thì nghĩa vụ chứng minh là của các bên yêu cầu nên trong trường hợp này nếu có thiệt hại thì người bán hàng khó có thể có cơ sở để chứng minh yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đặc biệt Tòa án khó có thể chấp nhận dữ liệu trong hệ thống của người bán hàng được in ra làm bằng chứng để yêu cầu bồi thường thiệt hại.Do đó theo chúng tôi để giải quyết rốt ráo vấn đề pháp lý này cần quy định bổ sung những vấn đề sau :
(1)    Cần quy định bổ sung về thông tin của khách hàng ( có thể 3 chi tiết a,b và c như thông tin của thương nhân.
(2)    Quy định bổ sung các thương nhân khi đăng ký bán hàng qua mạng phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ý nghĩa pháp lý : có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước với vai trò là giám sát giao dịch có thật, nhà nước sẽ thực hiện vai trò bảo vệ cả hai phía thương nhân và khách hàng.

5)-Phương thức giao kết hợp đồng điện tử :
Theo quy định của Luật giao dịch điện tử Điều 23 quy định về Nguyên tắc sử dụng chữ ký điện tử
1. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, các bên tham gia giao dịch điện tử có quyền thỏa thuận:
a) Sử dụng hoặc không sử dụng chữ ký điện tử để ký thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch;
b) Sử dụng hoặc không sử dụng chữ ký điện tử có chứng thực;
c) Lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử trong trường hợp thỏa thuận sử dụng chữ ký điện tử có chứng thực.
Theo chúng tôi việc giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử cần quy định sử dụng chữ ký điện tử để ký thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch nhưng không cần thiết phải chứng thực và chỉ chứng thực khi cần thiết cho hoạt động cung cấp chứng cứ giải quyết tranh chấp trong tố tụng thương mại.

6)-Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến các hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử :
Giải quyết tranh chấp là vấn đề hết sức phức tạp, khi Tòa án và tổ chức trọng tài giải quyết các tranh chấp đòi hỏi phải có đầy đủ các chứng cứ liên quan. Hiện nay vấn để liên quan đến việc giải quyết tranh chấp giao dịch thương mại điện tử được quy định :
(*) Khoản 21 của dự thảo Thông tư quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến các hợp đồng giao kết trên website thương mại điện tử
a) Các website thương mại điện tử phải có cơ chế hiệu quả để tiếp nhận khiếu nại của khách hàng liên quan đến hợp đồng được giao kết trên website và công bố rõ thời hạn trả lời khiếu nại;
b) Việc giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng phải dựa trên các điều khoản của hợp đồng được công bố tại website vào thời điểm giao kết hợp đồng;
c) Thương nhân không được lợi dụng các ưu thế của mình trên môi trường điện tử để đơn phương giải quyết những vấn đề tranh chấp khi chưa có sự đồng ý của khách hàng.
(**) Điều 52. Giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tửcủa Luật giao dịch điện tử  quy định
1. Nhà nước khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải quyết thông qua hòa giải.
2. Trong trường hợp các bên không hòa giải được thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chỉ với những quy định trên chúng tôi cho rằng không ổn vì các chứng cứ liên quan của các bên sẽ được cung cấp như thế nào để các cơ quan tài phán xem xét;  có thể chấp nhận dữ liệu của hai bên tự in trong hệ thống mình ra hay không ? tổ chức giám định nào có thể giám định được các giao dịch này là có thật để các cơ quan tài phán có thể gải quyết.Theo chúng tôi cần quy định bổ sung thêm những nội dung sau :
(1)    Các loại văn bản, hệ thống dữ liệu thông tin nào được cung cấp
(2)    Các cơ quan nào có thẩm quyền xác minh các giao dịch đó là chứng cứ xác định giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận.
(3)    Quy định thực hiện việc chứng thực chữ ký điện tử bổ sung khi có tranh chấp xảy ra để có cơ sở xác định giao dịch của hai bên là có thật.

Trên đây chỉ là một số vấn đề mà chúng tôi  đặt ra để ban soạn thảo Thông tư xem xét nghiên cứu. Chúng tôi thiết nghĩ còn nhiều vấn đề nữa cần phải tiếp tục đặt ra để cho dự thảo của Thông tư được đầy đủ hơn trước khi trình người có thẩm quyền ký ban hành nhằm điều chỉnh kịp thời một lĩnh vực hết sức nhạy cảm hiện nay nhất là thời điểm sau khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại thế giới.
Xin chân thành cám ơn các đại biểu tham gia hội thảo đã lắng nghe phần trình bày tham luận của chúng tôi.
Trân trọng kính chào.

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/TopicDetail.aspx?TopicID=1860