HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ

TS. LÊ NẾT –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Trong dân gian đã có câu “vô phúc đáo tụng đình”; song lại có câu “dĩ hòa vi quý”. Trong Luật Dân sự, luật cũng đề cao nguyên tắc hòa giải.1 Vì vậy từ lâu, hòa giải đã trở thành thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự.2 Không những vậy, Luật Tố tụng dân sự còn phải điều chỉnh hành vi của người tham gia tố tụng sao cho họ hòa giải với nhau tốt hơn là đưa vụ án ra xét xử. Phương pháp điều chỉnh của Luật Tố tụng dân sự vì vậy dựa trên hai cơ sở: (1) bảo đảm quyền khởi kiện của bên có quyền trong giao dịch dân sự, song (2) khuyến khích các bên hòa giải.

Để giải quyết được hai vấn đề trên, không những phải nắm những nguyên tắc của luật, mà còn phải hiểu được tâm lý, hành vi của các bên tham gia tố tụng, để sao cho khi Luật Tố tụng dân sự đưa ra quy định A thì các bên sẽ lựa chọn hành vi B, là hành vi hướng đến hòa giải hơn là đưa vụ án ra xét xử. Trong lĩnh vực này, môn kinh tế học về hành vi (còn gọi là lý thuyết đấu trí/lý thuyết trò chơi – game theory) có thể cung cấp cho chúng ta nhiều kinh nghiệm thú vị. Bài viết này phân tích vai trò của kinh tế luật trong việc nghiên cứu hành vi của các bên tham gia tố tụng, khuyến khích họ thương lượng, hòa giải với nhau. Bài viết tập trung vào quá trình hòa giải bắt buộc trong tố tụng. Ngoài quá trình này, việc hòa giải của các bên còn có thể tiến hành thông qua các hình thức hòa giải ngoài tố tụng do các tổ hòa giải ở cơ sở hay các tổ chức trọng tài tiến hành.3

1. Các yếu tố cấu thành của quá trình hòa giải và nguyên tắc hòa giải

Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”.4 Từ điển pháp lý của Rothenberg cũng định nghĩa hòa giải (reconciliation) là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”.5 Một định nghĩa khác của hòa giải (mediation) là “việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt”.6 Cả ba khái niệm nêu trên cho thấy hòà giải có ba yếu tố. Thứ nhất là phải có tranh chấp giữa hai bên. Thứ hai là có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít. Thứ ba là trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (trong tố tụng dân sự là thẩm phán) để cho ý kiến tư vấn, đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không gọi là hòa giải mà là thương lượng.

Trong Đấu trí và Luật,7 chúng ta biết rằng người ta phân đấu trí ra thành hai loại: đấu trí hợp tác và đấu trí bất hợp tác. Khi bên A kiện bên B ra tòa, họ đang ở trong một cuộc đấu trí bất hợp tác. Nhiệm vụ của kinh tế luật là phải tìm cơ chế để các bên có thể biến đổi từ đấu trí bất hợp tác thành đấu trí hợp tác. Trong bất kỳ cuộc đấu trí nào cũng có hai yếu tố, đó là chiến lược (strategy) và kết quả (payoff). Nhiệm vụ của đấu trí là phải tạo cơ chế sao cho kết quả của hợp tác bao giờ cũng cao hơn kết quả của việc bất hợp tác. Ngoài ra, còn phải tạo ra cho các bên niềm tin rằng kết quả là không thể khác được. Có như vậy các bên mới thực hiện chiến lược theo hướng hợp tác (hòa giải).

Một trong những cách để đưa các bên mau chóng đến hòa giải là thiết kế một cuộc đấu trí giống như trò chơi cắt bánh. Bên A cắt, bên B chọn. Khi vấn đề này xảy ra, bên A phải có cách giải quyết sao cho cả hai bên cùng có lợi, vì nếu không thì bên B sẽ chọn phần có lợi cho mình. Trên thực tế trường hợp này ít xảy ra, vì khi tranh chấp các bên đều có những quan điểm nhất định về quyền lợi của mình. Không thể đặt bên này vào trường hợp bên kia. Cũng không thể nói: tôi đề nghị chúng ta chia đôi số thiệt hại (trong một vụ tranh chấp về lỗi của mỗi bên khi thiệt hại xảy ra) để đạt thỏa thuận, khi rõ ràng một bên có lỗi nhiều hơn bên kia khi để xảy ra thiệt hại.

Cách giải quyết thứ hai là dựa trên đấu trí Rubinstein.8 Trong cuộc đấu trí này, một bên được quyền đưa ra yêu cầu, bên kia có quyền từ chối hay đồng ý. Trong trường hợp bên kia từ chối, thì hai bên sẽ cùng không được gì. Khi đó, bên đề nghị phải đề nghị sao cho hợp lý. Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm của đấu trí Rubinstein cho thấy rằng khi trò chơi này xảy ra, các bên có xu hướng chia đều lợi ích, khiến cho việc đạt được thỏa thuận diễn ra mau chóng hơn.

Như vậy, hòa giải là biện pháp có hòa giải. Vấn đề đặt ra là thẩm phán nên cư xử như thế nào để bên tham gia tranh chấp không thể lợi dụng hòa giải để kéo dài vụ kiện hay tẩu tán tài sản. Muốn như vậy, qúa trình hòa giải cần phải được diễn ra nhanh chóng. Giải pháp để đạt được mục đích này thì nhiều người đã phân tích về khía cạnh tâm lý,9 song về khía cạnh kinh tế và pháp lý, người ta thường tập trung vào hai giải pháp sau đây nhằm thúc đẩy tiến trình hòa giải diễn ra nhanh chóng hơn. Thứ nhất là làm cho quá trình kiện tụng và thi hành án khó khăn hơn (các bên khi đó sẽ chọn phương án hòa giải cho nhanh chóng). Thứ hai là hoàn thiện các qui định về hòa giải theo hướng cung cấp thông tin cho các bên để họ có thể quyết định hòa giải nhanh chóng hơn, đồng thời đặt ra những cơ chế như đấu trí Rubinstein (đã nêu trên đây) để mọi sự chậm trễ trong quá trình hòa giải đều phải trả giá. Nhìn chung, Luật Tố tụng dân sự của Việt Nam đã có những cải cách để làm tốt được vai trò thứ nhất thông qua các qui định gần đây trong Luật Sở hữu trí tuệ, song vẫn chưa làm tốt được vai trò thứ hai. Nhận định này được phân tích trong hai mục dưới đây.

2. Khuyến khích hòa giải bằng cách qui định thủ tục hòa giải bắt buộc và tạo khó khăn cho quá trình tố tụng xét xử

a. Định hướng hành vi của các bên trong tố tụng qua qui định về án phí hay qui trình xét xử thông qua bồi thẩm đoàn

Xét về góc độ kinh tế, con người ai cũng tự nguyện lựa chọn giải pháp có lợi nhất cho mình. Khi quá trình xét xử trở nên khó khăn, người ta sẽ chọn giải pháp ít tốn kém hơn, là hòa giải. Thí dụ, Luật Tố tụng dân sự của Việt Nam hiện nay chọn giải pháp tăng tiền tạm ứng án phí nếu giá ngạch của vụ kiện tăng. Điều này sẽ làm các bên ngần ngại trước khi khởi kiện vụ án và tìm kiếm giải pháp hòa giải. Tuy nhiên, cách này có thể sẽ không hiệu quả, vì nếu các bên không khởi kiện thì sẽ không có thủ tục hòa giải trước tòa Các thủ tục hòa giải ngoài tòa thông thường sẽ có hiệu quả kém hơn. Kinh nghiệm giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế cho thấy khả năng hòa giải thường thành công sau khi nguyên đơn đã khởi kiện và gây sức ép cho bị đơn.10

Như vậy làm thế nào để vừa bảo vệ quyền khởi kiện của các bên, vừa khuyến khích các bên hòa giải? Giải pháp của Luật Tố tụng dân sự Hoa Kỳ có thể là cách để chúng ta tham khảo. Thứ nhất, để đảm bảo công dân có quyền bảo vệ quyền lợi của mình, pháp luật Hoa kỳ khuyến khích công dân kiên tụng. Để khởi kiện một vụ án, nguyên đơn chỉ phải trả một khoản án phí nhỏ, khoảng 150 USD. Sau đó, tòa án sẽ xem xét khả năng tiếp tục vụ kiện. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bên phải cung cấp cho nhau mọi chứng cứ mà mình có; trong trường hợp đặc biệt do tòa án yêu cầu, kể cả những chứng cứ không có lợi cho mình. Thủ tục này gọi là thủ tục khám phá – discovery.11 Quá trình này làm giảm chi phí tìm chứng cứ cho các bên. Sau giai đoạn này, các bên sẽ xem xét xem tranh chấp có thể được giải quyết theo con đường hòa giải hay ra tòa. Việc hòa giải được khuyến khích, vì điều này làm giảm chi phí kiện tụng và tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt của các bên. Nếu tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì trước tiên các bên phải trình bày trước bồi thẩm đoàn (jury). Các vị bồi thẩm là những công dân bình thường, không nhất thiết phải có kiến thức về pháp luật. Các vị bồi thẩm (thông thường 11 người) sẽ đưa ra ý kiến của mình diễn biến sự việc và phán quyết xem ai sai, ai đúng, đồng thời ấn định mức bồi thường thiệt hại (trừ trường hợp các bên có quy định khác).12 Các phán quyết này phải là phán quyết nhất trí. Bên thua kiện có thể kháng án lên tòa phúc thẩm, tuy nhiên tòa án chỉ có thể xem xét những vấn đề thuộc về áp dụng luật, chứ không xem xét lại diễn biến vụ kiện, trừ trường hợp bên thua kiện trưng ra được những bằng chứng mới. Như vậy, điều này cũng tiết kiệm được chi phí tranh tụng và giảm được gánh nặng cho tòa án.13

Điểm độc đáo của tố tụng Hoa Kỳ trong việc khuyến khích các bên hòa giải là sự khó dự đoán của các phán quyết do bồi thẩm đoàn đưa ra. Do phần lớn các vị bồi thẩm chưa từng được đào tạo luật nên họ chỉ xử theo lương tâm của họ. Điều này khiến cho các luật sự dẫu lách luật giỏi cũng chưa chắc giải quyết tranh chấp, vì vấn đề là ở lương tâm của bồi thẩm đoàn và khả năng thuyết phục của luật sư. Đây là những vấn đề không thể dự đoán trước. Do các bên không có khả năng tính được khả năng thắng hay thua của vụ kiện, nên họ có khuynh hướng hòa giải hơn là đưa vụ kiện ra xét xử. Do mức bồi thường thiệt hại của bồi thẩm đoàn qui định có thể rất lớn, nên bên biết mình khó thắng kiện sẽ tìm cách hòa giải và nhận lỗi hơn là ra tòa và phải chịu bồi thường thiệt hại với số tiền lớn. Ngoài ra, mức độ bồi thường thiệt hại còn phụ thuộc vào cách sắp xếp vụ xử. Cooter và Ulen (2003) đưa ra một vấn đề khá thú vị.14 Đó là, trong một vụ kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu bên nguyên đơn nêu ra thiệt hại của mình trước Bồi thẩm đoàn, thì bồi thẩm đoàn thông thường có khuynh hướng kết tội bị đơn. Tuy nhiên nếu giấu không nói thiệt hại (chỉ nói về hành vi trái luật), thì bồi thẩm đoàn sẽ có cái nhìn chính xác hơn. Như vậy, tâm lý học cũng là vấn đề cần quan tâm trong tố tụng dân sự để tìm cách giải quyết những vấn đề liên quan đến việc làm thế nào để cho các bên e ngại việc đưa vụ án ra xét xử và lựa chọn hình thức hòa giải. Theo thống kê của Toà án Tối cao Hoa Kỳ, nhờ những biện pháp kể trên (áp dụng phương thức xét xử bằng bồi thẩm đoàn, và cho phép bồi thẩm đoàn được áp đặt mức bồi thường thiệt hại cao), chỉ có khoảng 10% các vụ tranh chấp là phải giải quyết tại Tòa án.

Ở Việt Nam, do đặc thù của hệ thống pháp luật kế thừa từ truyền thống Châu Âu lục địa, chúng ta không xây dựng hệ thống bồi thẩm đoàn. Việt Nam cũng không cho phép đưa ra những phán quyết bồi thường thiệt hại có tính chất trừng phạt (punitive damages), vì vậy việc thất bại trong hòa giải chưa chắc đã làm bị đơn e sợ. Muốn đẩy nhanh phương thức hòa giải, nên chăng tòa án nên tăng mức bồi thường thiệt hại cho bên thua kiện khi đưa vụ án ra xét xử. Luật Sở hữu trí tuệ vừa thông qua ngày 25/11/2005 vừa qua đã lựa chọn phương án này. Tại Chương V của Luật có qui định Tòa án có quyền tự ấn định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại do hành vi của bị đơn gây ra. Mức bồi thường thiệt hại được ấn định tối đa là 500 triệu đồng. Ngoài ra, bên thua kiện còn phải thanh toán các chi phí luật sư cho bên thắng kiện. Điều này sẽ khiến cho bên biết mình sắp thua kiện phải suy tính kỹ giữa hai giải pháp: một là thừa nhận hành vi xâm phạm và chịu mức bồi thường thiệt hại theo hòagiải ở mức thấp hơn, hai là không thừa nhận hành vi xâm phạm và đưa vụ án ra xét xử. Khi đó nếu bị đơn thắng, họ sẽ được bồi hoàn chi phí luật sư. Nếu bị đơn thua, họ phải đối diện với mức bồi thường thiệt hại rất cao, đồng thời với việc phải hoàn trả phí luật sư. Điều này sẽ khuyến khích các bên hòa giải nhanh hơn. Hy vọng kinh nghiệm thành công của tố tụng dân sự liên quan đến các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ được nhân rộng ở các dạng tố tụng dân sự khác.

b. Định hướng hành vi của các bên trong tố tụng thông qua qui định về bồi hoàn phí luật sư

Hiện nay, chúng ta vẫn có quan điểm là dùng mức án phí cao để cho các bên cân nhắc hình thức hòa giải hơn là khởi kiện. Như đã trình bày ở trên, giải pháp này không hiệu quả. Trong khi đó việc điều chỉnh hành vi của các bên có thể hữu hiệu hơn nếu qui định bên thua phải trả phí luật sư. Quan điểm này có đúng không?

Phí luật sư là một trong những chi phí rất lớn cho các bên khi tham gia tố tụng, đôi khi còn cao hơn án phí. Tuy các qui định về án phí đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cản các bên giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án, các qui định bất thành văn về phí luật sư mới thực sự là mối quan ngại của các bên trong việc quyết định xem có nên khởi kiện hay theo đuổi vụ kiện hay không. Các nghiên cứu về kinh tế quan tâm đến vấn đề phí luật sư để đưa ra câu trả lời cho một vấn đề hiện nay vẫn còn tranh cãi: đó là luật có nên cho phép bên thắng kiện được đòi bồi hoàn phí luật sư hay không? Hiện nay theo qui định của Bộ luật Tố tụng Dân sự hay của Bộ luật Dân sự của Việt Nam, không có điều khoản nào cho hay không cho phép bên thắng kiện được bồi hoàn phí luật sư. Trên thực tế, rất ít thẩm phán tuyên bố cho phép bên nguyên đơn được đòi phí luật sư. Lý do là vì nhiều người quan niệm thuê luật sư là quyền chứ không phải nghĩa vụ. Vì thế bị đơn không phải là nguyên nhân trực tiếp để nguyên đơn gánh chịu phí luật sư. Không ai nghĩ rằng nếu không thuê luật sư thì nguyên đơn cũng khó lòng trình bày ý kiến của mình trước tòa một cách thuyết phục. Điều này gián tiếp ảnh hưởng đến kết quả của vụ kiện.

Ở nhiều nước Châu Âu, đặc biệt là Anh, cho phép bên thắng kiện được yêu cầu bên thua kiện trả phí luật sư. Một số nhà nghiên cứu như Rasmusen (1998) cho rằng điều này làm cho bị đơn ngần ngại không dám “ngoan cố”, từ đó dễ dàng chịu thua trước nguyên đơn để tránh phải trả án phí.15 Tuy nhiên, cũng chưa có kết quả thống kê nào cho thấy việc cho phép bên thắng kiện đòi bồi hoàn phí luật sư của bên thua kiện sẽ làm các bên mau chóng đạt được hòa giải hơn. Katz (1999) đã tiến hành nghiên cứu nhiều thực nghiệm song chỉ nhận thấy kết quả rõ rệt nhất của việc cho phép bồi hoàn là ở chỗ các bên sẽ sẵn sàng bỏ tiền ra thuê luật sư hơn trước kia, đồng thời các luật sư sẽ cạnh tranh với nhau về chất lượng hơn là về giá cả.16 Dẫu sao, cũng chưa có nghiên cứu nào phủ định việc bồi hoàn phí luật sư có tác dụng tích cực đến việc thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng của tố tụng dân sự, đó là giảm chi phí cho các bên trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, và khuyến khích các bên hòa giải.

Tuy nhiên, có quan điểm lo ngại rằng việc cho phép bên thắng kiện được bồi hoàn phí luật sư sẽ khiến các bên tiêu quá nhiều tiền vào việc thuê luật sư, và thông thường bên nào thuê luật sư giỏi nhất sẽ thắng kiện. Hiện tại chưa biết điều này có phải là sự thật không, và đây là vấn đề mà cả hai chuyên ngành kinh tế và luật cần nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu một hệ thống pháp luật mà kết quả phụ thuộc vào luật sư bên nào giỏi, chứ không phải vì bên nào thực hiện đúng luật hơn, thì hệ thống pháp luật đó có vấn đề. Vì thế, thiết nghĩ chúng ta đừng nên cho rằng luật sư giải quyết được tất cả các vấn đề của vụ kiện, mà nên nghĩ rằng luật sư là công cụ để giúp tòa án tìm hiểu sự thật, và không nên để xảy ra tình trạng đáng tiếc, đó là một bên thua kiện vì không đủ tiền thuê luật sư, hay một bên được kiện song tiền trả luật sư còn cao hơn tiền được bồi thường.

Để giải quyết vấn đề này, luật tố tụng dân sự có thể qui định rằng tòa án có thể (không bắt buộc) ra quyết định buộc bên thua kiện phải hoàn trả phí luật sư nếu chi phí này là hợp lý, hoặc nếu các bên đã có thỏa thuận trước trong hợp đồng rằng bên thua kiện sẽ hoàn trả chi phí luật sư. Khi đó, câu hỏi đặt ra sẽ là: chi phí như thế nào thì sẽ được coi là hợp lý? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lại phải quan tâm đến câu hỏi: yêu cầu bên thua kiện phải hoàn trả phí luật sư để làm gì? Để giảm bớt gánh nặng cho bên thắng kiện, hay để bên biết mình sẽ thua đừng cố kéo dài quá trình hòa giải? Nếu mục đích chúng ta muốn đạt được là mục đích thứ hai, thì mức độ hợp lý sẽ phụ thuộc vào khả năng kinh tế của bên thua kiện. Nếu bên thua kiện có hoàn cảnh khó khăn, tòa án có thể chỉ bắt họ bồi hoàn một khoản tiền án phí vừa phải. Ngược lại, nếu bên thua kiện là một công ty có tiềm lực kinh tế lớn, tòa án cần áp dụng mức bồi thường phí luật sư cao, bằng chi phí thực tế mà nguyên đơn phải gánh chịu. Thậm chí nếu bị đơn không chịu thi hành bản án, thì sẽ phải gánh chịu các khoản lãi phát sinh từ định mức bồi thường.

3. Khuyến khích hòa giải bằng việc hoàn thiện cơ chế hòagiải trong và ngoài tố tụng

a. Khuyến khích hòa giải thông qua cơ chế ngoài tố tụng – bài học từ Luật Đất đai

Điều 135, 136 Luật Đất đai 2003 quy định trước khi thụ lý vụ án tranh chấp về đất đai, các bên phải tiến hành hòa giải ở cấp xã.17 Theo qui trình này, nếu các bên có tranh chấp về đất đai không tự hòa giải được, thì gửi đơn đến Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp xã nơi có tranh chấp đề nghị giải quyết. UBND phối hợp với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức xã hội khác thành lập tổ hòa giải để tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn. Các qui định về hòa giải ngoài tố tụng được nêu trong Pháp lệnh về hòa giải ngày 25/12/1998 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá X ban hành. Khi tiến hành hòa giải, tổ hòa giải sẽ căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức phong tục, tập quán tại địa phương và sự tự nguyện giữa các bên. Chỉ riêng tại tỉnh Bình Dương, tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh đã có 626 tổ hòa giải và 3.776 hòa giải viên. Cũng trong năm các tổ hòa giải đã tiếp nhận 2.078 việc, sau giải quyết đạt tỷ lệ hòa giải thành hơn 76%.18 Ngoài việc làm giảm bớt gánh nặng của tòa án, việc tăng cường hòa giải ngoài tố tụng cũng giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời giảm chi phí tố tụng.

Bên cạnh đó, qui trình hòa giải ngoài tố tụng không phải không có vấn đề. Đã có trường hợp nội dung hòa giải được ghi sơ sài, hay thành phần hòa giải thiếu thành viên MTTQ hay các tổ chức khác mà quyết định hòa giải thành không được công nhận. Điều này rất mất thời gian cho các bên giải quyết tranh chấp, trong khi thời hiệu khởi kiện tranh chấp về đất đai cũng như các tranh chấp dân sự thông thường khác (trừ thừa kế) là 2 năm. Ngoài ra, việc một bên vắng mặt khi tổ chức hòa giải cũng không có quy định rõ ràng xem hình thức xử lý như thế nào: tạm hoãn, tạm đình chỉ hòa giải hay ra quyết định hòa giải không thành? Khi phương hướng giải quyết không rõ ràng, thời gian hòa giải sẽ kéo dài lâu hơn và mục tiêu “nhanh chóng, hiệu quả” đề ra từ đầu cho cơ chế hòa giải sẽ không đạt được. Có quan điểm cho rằng, hướng giải quyết cho những vướng mắc trên có thể là không nên câu nệ hình thức hòa giải cơ sở, vì đây chỉ là hoạt động mang tính chất xã hội hơn là pháp lý. Vì thế, việc thiếu sót một vài hình thức trong thủ tục hòa giải cấp xã không thể làm cho tòa án từ chối thụ lý vụ kiện. Nếu không, các bên sẽ lợi dụng sơ hở của pháp luật để tìm mọi cách kéo dài vụ kiện.

b. Khuyến khích hoà giải thông qua cơ chế trong tố tụng – cơ chế cung cấp thông tin và chống lạm dụng thủ tục hoà giải

Để được thủ tục hòa giải đạt kết quả, các bên khi tham gia hòa giải phải được cung cấp đầy đủ thông tin. Ở điều này Luật Tố tụng dân sự của Việt Nam có thể học hỏi ở Luật Tố tụng dân sự của Hoa Kỳ. Như đã trình bày ở phần trên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ở toà án Hoa Kỳ, các bên phải cung cấp cho nhau mọi chứng cứ mà mình có, theo yêu cầu bên kia (discovery). Sau khi chấm dứt thủ tục khám phá, các bên không đưa ra thêm bằng chứng nữa, trừ khi chứng minh được rằng mình nắm được bằng chứng sau thời điểm đưa vụ án ra xét xử. Nhờ thủ tục này mà các bên nắm được các thông tin cần thiết để quyết định có nên hòa giải vụ việc hay không.

Ở Việt Nam, tuy truyền thống luật lục địa sẽ không áp dụng quy trình khám phá kiểu Mỹ, song các quy định của Luật Đất đai về hòa giải cấp cơ sở đã giúp các bên đưa hết lý lẽ của mình ra trước tổ hòa giải. Quá trình này làm giảm chi phí tìm chứng cứ cho các bên. Đây cũng là cơ hội để các bên có thể trao đổi quan điểm, chuẩn bị chứng cứ khi hòa giải không thành. Ngoài Luật Đất đai, Luật Sở hữu trí tuệ cũng cung cấp các cơ chế cần thiết để nguyên đơn có thể nắm những chứng cứ thuộc phạm vi kiểm soát của bị đơn, nhờ các qui định rằng trong tranh chấp liên quan đến qui trình sáng chế, không phải nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh bị đơn đã xâm phạm, mà là bị đơn phải chứng minh mình không xâm phạm qui trình của nguyên đơn. Nguyên do của vấn đề này là do tình trạng mà môn kinh tế học gọi là thông tin bất đối xứng (assymetric information). Theo lý thuyết kinh tế, khi một bên nắm thông tin và bên kia không nắm thông tin, các giải pháp đưa ra chưa chắc đã tối ưu và có lợi cho các bên. Cách thức giải quyết khiếm khuyết này là buộc bên có thông tin phải bộc lộ thông tin, hoặc bằng phép thử, hoặc bằng qui định của pháp luật.19

Ngoài vấn đề cung cấp và bộc lộ thông tin, các quy định quá cứng nhắc ở thủ tục hòa giải trong tố tụng cũng có thể làm một bên tham gia tranh chấp trục lợi. Trong khi đó, pháp luật qui định nếu bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì vụ việc sẽ được đưa ra xét xử.20 Vấn đề là ở chỗ: thế nào là triệu tập hợp lệ, và chuyện gì sẽ xảy ra nếu một bên có mặt một buổi, rồi lại vắng mặt một buổi? Nhiều thư ký tòa án đã căn cứ vào giấy ủy quyền không hợp lệ mà coi một bên vắng mặt trong buổi hòa giải, hoặc giải thích rằng “triệu tập hợp lệ” là phải có tống đạt tại nơi cư trú bởi cơ quan công an. Như vậy bao nhiêu lần tống đạt bằng thư đến nơi cư trú của bị đơn đều bị coi là “không hợp lệ”. Ngay cả khi nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại buổi hòa giải, song không có mặt người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cũng khiến buổi hòa giải được giải thích là không thể tiến hành.21 Ngoài ra, tuy pháp luật qui định thẩm phán phải chủ trì hòa giải, song trong nhiều trường hợp buổi hòa giải do thư ký chủ trì và ghi biên bản. Điều này dẫn đến việc biên bản hòa giải sau này có thể coi là sai về mặt tố tụng và bị kháng cáo, thậm chí giám đốc thẩm. Để giải quyết những khó khăn này, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự nên được bổ sung theo hướng đơn giản hóa thủ tục hòa giải và triệu tập các đương sự đến buổi hòa giải. Nếu có đương sự vắng mặt sau khi đã xác nhận giấy triệu tập đã gửi bằng thư bảo đảm và đương sự đã nhận được, thì đương nhiên coi đó là căn cứ để có thể xét xử vắng mặt đương sự lần sau. Ngoài ra, đương sự không có quyền vắng mặt quá 2 lần không có lý do chính đáng (không cần phải là 2 lần liên tục). Nếu đương sự vắng mặt thì tòa án vẫn hòa giải tranh chấp liên quan đến các đương sự có mặt. Nếu việc hòa giải về bản chất không thể thiếu sự đồng ý của đương sự vắng mặt thì mới coi việc vắng mặt là sự kiện dẫn đến việc tạm hoãn buổi hòa giải.

Một vấn đề nữa là biên bản hòa giải nên được coi là thỏa thuận giữa các bên và có hiệu lực thi hành ngay. Việc phải đợi thêm 7 ngày sau khi có biên bản hòa giải mới ra quyết định công nhận hòa giải của các bên, rồi 15 ngày sau quyết định này mới có hiệu lực sẽ khiến cho các bên có thời gian suy nghĩ lại hay cố tình kéo dài vụ việc bằng cách phản đối lại những gì mình đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải trước đó.22 Thiết nghĩ, nên bãi bỏ quy định về thời gian chờ đợi 7 ngày để ra quyết định công nhận hòa giải các bên. Thời gian phúc thẩm quyết định công nhận hòa giải thành, nếu có, chỉ dựa trên những căn cứ do việc áp dụng pháp luật của thẩm phán có sai sót, chứ không phải là do đương sự không đồng ý với những gì mình đã ký trong biên bản mà không có lý do chính đáng.

Tóm lại, những vấn đề về quá trình hòa giải có thể là đối tượng nghiên cứu không những của khoa học pháp lý mà còn có thể là đối tương nghiên cứu của khoa học kinh tế, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ thể quyền, đồng thời giảm chi phí cho xã hội liên quan đến việc bảo vệ công lý. Một quá trình hòa giải tốt sẽ giúp tòa án phải xác định được nội dung vụ việc tranh chấp. Kể cả khi hòa giải không thành, các thông tin mà tòa án có được qua quá trình hòa giải sẽ giúp tòa án áp dụng được luật vào trong vụ kiện tranh chấp để ra được kết quả.

Để quá trình hòa giải có hiệu quả, nên tạo cơ chế sao cho việc xét xử luôn bắt các bên phải trả giá cao hơn việc hòa giải. Phải tạo được cơ chế giống như đấu trí Rubinstein (đã nêu ở phần đầu), có nghĩa là càng chậm trễ thì càng phải trả giá cao. Nhiều nước đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để đạt được mục đích này, như tố tụng thông qua bồi thẩm đoàn, áp dụng mức bồi thường thiệt hại ấn định hay buộc bên thua kiện phải trả chi phí luật sư. Ở Việt Nam vấn đề này đã được giải quyết thí điểm trong các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ.

Vấn đề cần thiết hơn là phải hoàn thiện cơ chế hòa giải sao cho nó phát huy được ưu điểm vốn có, là nhanh chóng và hiệu quả. Chúng ta đã áp dụng cơ chế bắt buộc hòa giải ngoài tố tụng trong một số trường hợp người dân tranh chấp là do không hiểu luật hay không có bằng chứng. Trường hợp hòa giải bắt buộc ở cấp cơ sở trong Luật Đất đai là thí dụ điển hình. Bên cạnh đó, khi tiến hành hòa giải, cần cung cấp thông tin đầy đủ cho các bên để các bên dễ dàng hình dung được mình sẽ được gì hay mất gì nếu không có hòa giải. Ngoài ra, cần có qui định rõ ràng cách tính bồi thường thiệt hại hay các qui định về chế tài, để các bên nhận thấy nếu không hoà giải, tham gia tố tụng và thua kiện thì sẽ phải trả giá như thế nào. Cuối cùng, cần đơn giản hóa thủ tục hòa giải và nâng cao giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành; có như vậy hiệu quả của biện pháp hòa giải mới cao.

Chú thích:

1 Theo Điều 12, BLDS 2005 thì trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với qui định của pháp luật được khuyến khích. Ngay từ sau năm 1945, đã có nhiều văn bản pháp luật qui định về hòa giải, như Sắc lệnh 90-SL ngày 10/10/1945, 13-SL ngày 24/1/1946, 51-SL ngày 17/4/1946, 85-SL ngày 22/5/1950.

2 Chương XIII, BLTTDS.

3 Xem Điều 2 Pháp lệnh về hòa giải ngày 25/12/1998 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá X ban hành: Về hòa giải cơ sở.

4 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1998, tr. 430.

5 Rothenberg, R. Plain Language Dictionary of Law, Signet, 1996, tr. 410.

6 Sđd, tr. 290.

7 Lê Nết, Đấu trí và Luật. Nxb Đại học Quốc gia, TP. Hồ Chí Minh, 2005.

8 Sđd, tr. 94 – 98. Cuộc đấu trí này mang tên nhà kinh tế học Do Thái Daniel Rubinstein.

9 Xem Fisher, R. và Ury, W. (2000) Getting to Yes – Làm thế nào để đạt được thoả thuận, Nxb TP. Hồ Chí Minh. Để đạt được mục đích này dưới góc độ tâm lý, Fisher và Ury đã đề ra ba nguyên tắc sau đây: (i) tách con người ra khỏi vấn đề, (ii) tập trung vào lợi ích, không tranh cãi về lập trường, và (iii) tạo ra các phương án để đôi bên cùng có lợi.

10 Trong vụ tranh chấp giữa công ty phần mềm DataCraft và công ty EIS (Toà Kinh tế, TAND TP. Hồ Chí Minh, tháng 8/1998), bị đơn chỉ chịu thanh toán khoản nợ sau khi bị khởi kiện ra tòa và nguyên đơn yêu cầu đưa vụ việc lên báo chí trước khi giám đốc EIS sang Mỹ tháp tùng đoàn đại biểu của Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh. Như vậy việc khởi kiện đóng vai trò quan trọng trong việc gây sức ép để các bên hòa giải. Trong vụ tranh chấp giữa công ty Okamoto và công ty giải trí Saigon Wonderland (Tòa Dân sự, TAND TP. Hồ Chí Minh, tháng 2/2002), việc công ty Okamoto khởi kiện công ty Saigon Wonderland, sau đó yêu cầu công ty Phú Mỹ Hưng ra tòa với tư cách bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đã khiến các bên tiến đến hòa giải nhanh chóng hơn, có lợi cho công ty Okamoto.

11 Rule 26(b)(1), Federal Rules of Civil Procedure: “Các bên có thể khám phá (yêu cầu bên kia cung cấp) chứng cứ liên quan đến bất kỳ vấn đề gì, trừ những vấn đề bị cấm theo luật, liên quan đến các yêu cầu hay bào chữa của bất bên nào, kể cả các tài liệu, sách vở hay các vật chứng khác cũng như địa điểm mà bên đó cho là có cất dấu bằng chứng. Trong trường hợp có lý do chính đáng, tòa án có thể yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ”. Xem http://www.law.cornell.edu/rules/frcp/Rule26.htm.

12 Rule 38, Federal Rules of Civil Procedure. Xem http://www.law.cornell.edu/rules/frcp/Rule38.htm.

13 Jonathan Suffrin (2005) thuyết trình về hệ thống tố tụng dân sự Hoa Kỳ tại Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh ngày 15/3/2005.

14 Cooter R. và Ulen, T. (2003) Law and Economics. Addison Wesley, Chương 8.

15 Rasmusen, P. (1998) Games and Information. Edward Elgar, tr. 83.

16 Katz, J. (1999) “Law and Economics – Legal Fees”, trong Geritz, E. (chủ biên, 1999) Encyclopedia of Law and

Economics. Kluwer Law International.

17 Xem thêm Điều 159 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Tuy nhiên lưu ý là theo Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của TAND Tối cao hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai, các tranh chấp

đất đai mà tòa án thụ lý trước ngày 1/7/2004 thì tòa án tiếp tục giải quyết mà không phải trả lại đơn kiện cho đương sự để

tiến hành hoà giải tại UBND cấp xã.

18 Sở Tư pháp Bình Dương (2005) Báo cáo tình hình thực hiện công tác năm 2005 và phương hướng hoạt động năm 2006.

19 Xem Lê Nết, Đấu trí và Luật. Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2005.

20 Điều 182 BLTTDS.

21 Điều 184 khoản 3, BLTTDS (chỉ áp dụng nếu việc hòa giải có liên quan đến người vắng mặt).

22 Điều 187, 188 BLTTDS.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2006

THỦ TỤC LY HÔN

▪ Hồ sơ cần thiết:

– Đơn xin ly hôn (theo mẫu). Nếu hai người thuận tình ly hôn thì đơn ly hôn của vợ hoặc chồng phải có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc sứ quán Việt Nam tại nước ngoài.

– Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

– Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn kiện.

– Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

– Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

– Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

– Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn. Trong trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.

▪ Thời gian giải quyết:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

▪ Địa điểm tiếp nhận:
Tổ thụ lý – Văn phòng Tòa án nhân dân ĐỊA PHƯƠNG

SOURCE: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HOÃN VÀ TẠM NGỪNG PHIÊN TÒA SƠ THẨM

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự có thể trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của Toà án, nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp. Về nguyên tắc, phiên toà sơ thẩm sẽ được tiến hành với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo đúng thời gian, địa điểm được xác định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử ( viết tắt là HĐXX) ra bản án, quyết định về giải quyết toàn bộ vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp vì những lý do khác nhau dẫn đến phiên toà sơ thẩm dân sự không diễn ra theo đúng trình tự nêu trên, phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn hoặc tạm ngừng. Hoãn và tạm ngừng phiên toà là hai khả năng khác nhau có thể xảy ra tại phiên toà nhưng việc hiểu và áp dụng hai trường hợp này trong thực tiễn không được phân biệt rõ ràng. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn trao đổi về hai trường hợp này.

1.Hoãn phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong tiếng Việt “hoãn là chuyển thời điểm đã định để làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hơn”(1). Theo nội hàm của từ này thì hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn. Việc hoãn phiên toà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật quy định

1.1. Căn cứ hoãn phiên tòa

Vì tính chất quan trọng của sự tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định HĐXX phải hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:

– Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND), Thư ký Tòa án mà không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế; vắng mặt Kiểm sát viên trong trường hợp Viện Kiểm sát (VKS) phải tham gia phiên toà hoặc trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế như quy định tại Điều 207 BLTTDS;

– Trường hợp phải thay đổi người giám định mà không có người khác thay thế như quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTDS;

– Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử như quy định tại khoản 2 Điều 206 BLTTDS;

– Trường hợp người làm chứng, người giám định vắng mặt thì tùy từng hoàn cảnh cụ thể, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử như quy định tại Điều 204 và Điều 205 BLTTDS;

– Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng như quy định tại các Điều 199, 200, 201và 203 BLTTDS;

– Trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Bên cạnh đó, nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng mặt người làm chứng, người giám định, người phiên dịch) thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do (Điều 215 BLTTDS). Quy định này cho phép HĐXX sẽ được tuỳ nghi lựa chọn hoãn hay không hoãn. Trên thực tế, các HĐXX thường chọn giải pháp an toàn là hoãn phiên toà. Tuy nhiên, theo chúng tôi HĐXX vẫn có thể tiếp tục phiên toà nếu người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ.

Ngoài ra, đối với các trường hợp khác theo các Điều 199, 201 BLTTDS thì HĐXX giải quyết như sau:

– Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn, bị đơn đồng ý.

So với quy định của pháp luật tố tụng dân sự ( viết tắt là PLTTDS) trước kia, các căn cứ hoãn phiên toà trong BLTTDS đã đầy đủ, chặt chẽ hơn, hạn chế việc hoãn phiên toà tuỳ tiện nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. . Tuy nhiên, một số căn cứ hoãn phiên tòa vẫn chưa rõ ràng, chưa bao quát được các trường hợp xảy ra trong thực tiễn xét xử dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau.

Về trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt tại phiên tòa.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt dù có lý do chính đáng hay không thì HĐXX đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần, đặc biệt với những vụ án có nhiều đương sự, có những đương sự lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS quy định, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì hoãn phiên tòa nhưng không đưa ra cách giải quyết trong trường hợp vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng. Tuy vậy, quy định tại các khoản 2 Điều 200, khoản 2 Điều 201 BLTTDS lại quy định dứt khoát bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được xét xử vắng mặt họ; khoản 2 Điều 199 quy định dứt khoát nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Chính quy định không chặt chẽ và thiếu logic đó của BLTTDS đã dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau của các Toà án trong thời gian đầu khi BLTTDS mới được ban hành. Thẩm phán Bùi Huy Tiến – Thẩm phán toà Kinh tế TANDTC đã thẳng thắn đánh giá rằng: “Đây là một lỗ thủng của BLTTDS”(2). Để giải quyết tình huống này nhiều Thẩm phán cho rằng: “bất luận vắng mặt lần thứ nhất của đương sự có lý do chính đáng hay không thì Toà án vẫn phải hoãn phiên toà và việc xét xử vắng mặt đương sự chỉ có thể tiến hành khi họ được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt“(3). Hơn nữa, BLTTDS cũng không chỉ ra những trường hợp nào được coi là lý do chính đáng nên trong thực tiễn xét xử “ việc hiểu thế nào là lý do chính đáng hiện nay vẫn chưa thống nhất” (4). Có ý kiến cho rằng, lý do được coi là chính đáng khi nó là bất khả kháng đối với đương sự đó như tai nạn, ốm đau, đi công tác xa đột xuất…và tất cả các lý do đó đương sự phải chứng minh được khi HĐXX kiểm tra căn cước ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Cho đến ngày 12/5/2006 Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS ( Viết tắt là NQ 02) đã quy định: “Khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất dù không có lý do chính đáng thì Toà án vẫn hoãn phiên toà” (5). Như vậy, hướng dẫn trên là “bất nhất” với BLTTDS và giống như quy định của PLTTDS trước khi ban hành BLTTDS.

Đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có lý do.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, khi đương sự được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt có lý do chính đáng dù là lần thứ mấy thì HĐXX đều hoãn phiên toà. Bộ luật TTDS không quy định về vấn đề này nhưng NQ 02 hướng dẫn: “Đối với những trường hợp đương sự đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của BLTTDS, đã được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà theo quy định tại các điều từ Điều 150 đến Điều 156 của BLTTDS và đương sự đã chuẩn bị tham dự phiên toà xét xử vụ án, nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay vào thời điểm trước ngày Toà án mở phiên toà hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường đến Toà án để tham dự phiên toà (do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết…) nên họ không thể có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, thì Toà án cũng hoãn phiên toà” (6). Nhưng NQ 02 lại không hướng dẫn rõ hướng dẫn trên áp dụng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ mấy. Rõ ràng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất Toà án phải hoãn phiên toà. Cho nên, cần phải hiểu đây là hướng dẫn cho trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai trở đi mà vẫn vắng mặt tại phiên toà khi có lý do chính đáng. Do đó, quy định của PLTTDS về vấn đề này lại giống như quy định của PLTTDS trước khi có BLTTDS. Cách quy định, giải thích pháp luật về vấn đề này thể hiện sự lúng túng, thiếu nhất quán của các nhà làm luật.

Đối với trường hợp vụ án có nhiều đương sự.

BLTTDS không quy định cách giải quyết trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự nhưng khi Toà án triệu tập họ tham gia phiên toà sơ thẩm thì một trong số họ lại vắng mặt. Tại NQ 02, HĐTPTANDTC hướng dẫn, mỗi đương sự sẽ được quyền vắng mặt một lần khi có lý do chính đáng. Cách giải quyết này nhìn chung là hợp lý vì bảo đảm được sự bình đẳng giữa các đương sự, nhưng đối với những vụ án có nhiều đương sự cách giải quyết này sẽ làm thời hạn giải quyết bị kéo dài. Có Thẩm phán cho rằng, “đối với những vụ án phức tạp có quá nhiều người tham gia tố tụng cần có quy định để tránh phải hoãn phiên toà nhiều lần. Chẳng hạn, trong vụ án chia thừa kế có tới hàng chục đương sự tham gia tố tụng, nếu mỗi đương sự được một lần vắng mặt có lý do chính đáng thì việc hoãn phiên toà cũng phải tới hàng chục lần, do đó cần có quy định thêm trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ” (7)

Chúng tôi cho rằng quan điểm trên là hợp lý vì vừa bảo đảm được quyền lợi của các đương sự, vừa giải quyết nhanh chóng vụ án. Do đó cần bổ sung thêm Khoản 4 Điều 202 theo hướng: “trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ”.

Đối với trường hợp hoãn phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Đây là trường hợp hoãn phiên toà khi HĐXX đã giải quyết về nội dung vụ án; khác với các trường hợp khác HĐXX hoãn phiên toà ở thời điểm trong phần thủ tục bắt đầu. Nếu xem xét về tính chất của hoãn phiên toà thì trường hợp này phải là trường hợp tạm ngừng phiên toà nên cần bỏ căn cứ hoãn phiên toà quy định tại Khoản 4 Điều 230 và quy định đây là căn cứ tạm ngừng phiên toà. Khi xây dựng BLTTDS vấn đề này đã có ý kiến khác nhau. Nhưng có lẽ do thời hạn tạm ngừng phiên toà quá ngắn, tối đa chỉ là 5 ngày làm việc nên thực tế các cơ quan, tổ chức giám định không thể trả lời kết quả giám định và vì thế, trường hợp này BLTTDS vẫn cứ quy định là căn cứ hoãn phiên toà để có thời gian hoãn phiên toà dài hơn.

1.2. Thời hạn hoãn phiên tòa

Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 BLTTDS, khi có căn cứ hoãn phiên toà thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc hoãn phiên tòa do HĐXX quyết định. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa. Thời hạn hoãn phiên toà tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Thời hạn hoãn phiên toà không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm việc mở lại phiên toà xét xử vụ án theo đúng quy định, thì sau khi hoãn phiên toà Toà án phải có kế hoạch mở lại phiên toà trong thời gian sớm nhất mà không nhất thiết phải để đến 30 ngày mới mở lại phiên toà.

1.3. Hình thức hoãn phiên tòa

Việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng một quyết định. Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung về ngày, tháng năm ra quyết định; tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng; vụ án được đưa ra xét xử; lý do của việc hoãn phiên toà; thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Quyết định này được coi như giấy triệu tập mới đối với đương sự. Trong trường hợp có sự thay đổi về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà, thì Toà án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Đây là điểm mới của BLTTDS so với quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước kia. Pháp luật tố tụng dân sự trước kia không quy định việc hoãn phiên toà phải bằng một quyết định nên dẫn đến việc hoãn phiên toà nhiều khi tuỳ tiện, không đúng các căn cứ do pháp luật quy định.

1.4. Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa

Hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn, nên về nguyên tắc chỉ khi phiên toà được mở thì Toà án mới xác định chính xác được chính xác có căn cứ hoãn hay không, do đó quyền hoãn phiên toà chỉ thuộc về HĐXX. Chức năng và mục đích của phiên tòa sơ thẩm dân sự là giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cho nên khi hoãn phiên toà nội dung vụ án chưa xem xét, tức là thời điểm hoãn phiên toà chỉ xảy ra ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Về thẩm quyền hoãn phiên tòa, khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định: “ HĐXX quyết định hoãn phiên toà…”. Vì vậy, thời điểm hoãn phiên toà là trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà và quyền ra quyết định hoãn phiên toà là thuộc về HĐXX.

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hiện nay còn có nhiều trường hợp việc hoãn phiên toà không thực hiện tại phiên toà mà Thẩm phán tự hoãn phiên toà trước khi mở phiên toà với các lý do như đương sự thông báo trước là sẽ không đến phiên toà vào ngày, giờ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc theo giấy triệu tập, HTND có việc đột xuất không tham gia xét xử được… Trong trường hợp, lý do mà đương sự đề nghị hoãn phiên tòa là chính đáng hoặc các trường hợp khác thuộc căn cứ hoãn phiên tòa thì khi mở phiên tòa, HĐXX vẫn phải hoãn phiên tòa. Do đó, việc Thẩm phán hoãn phiên tòa trước khi mở phiên tòa nếu thông báo được cho những người tham gia tố tụng sẽ có lợi cho đương sự có yêu cầu, thuận tiện cho Toà án và tiết kiệm được chi phí tố tụng. Vì vậy, cần sửa khoản 1 Điều 208 BLTTDS theo hướng: “ Tòa án quyết định hoãn phiên toà…”.

Có thể thấy, lần đầu tiên pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định chặt chẽ về căn cứ, thủ tục, thời hạn ra quyết định hoãn phiên toà nhằm tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, từ đó bảo đảm việc bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2. Tạm ngừng phiên toà sơ thẩm dân sự

Xét xử là hoạt động tố tụng và tư duy nên để bảo đảm cho HĐXX và những người tham gia tố tụng dễ dàng theo dõi được diễn biến cũng như các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ thì việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phải xét xử xong dứt điểm từng vụ án một rồi mới được chuyển sang xét xử vụ án khác, không được phép làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp sau khi kết thúc bước 1- thủ tục khai mạc phiên tòa, chuyển sang thủ tục hỏi – bắt đầu đi vào giải quyết phần nội dung vụ án có những lý do khác nhau dẫn đến phiên tòa không thể tiếp tục được, trong trường hợp đó HĐXX phải tạm ngừng phiên toà.

Theo sách Đại Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1998, “tạm ngừng” là từ ghép của hai từ “tạm”“ngừng”. Tạm là chỉ trong thời gian ngắn và sẽ còn thay đổi. Ngừng là dừng lại, không tiếp tục hoạt động. Tạm ngừng là không tiếp tục hoạt động mà phải dừng lại trong thời gian ngắn (8). Như vậy, tạm ngừng phiên tòa có thể hiểu là phiên tòa không tiếp tục các hoạt động tố tụng trong thời gian ngắn khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Căn cứ tạm ngừng phiên toà

Khoản 2 Điều 197 quy định, về nguyên tắc phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà, trừ trường hợp có căn cứ tạm ngừng phiên toà và Toà án chỉ tạm ngừng phiên toà trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật này quy định. Nhưng BLTTDS và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành BLTTDS lại không quy định những trường hợp nào là căn cứ tạm ngừng phiên toà dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các Toà án, thậm chí giữa các Thẩm phán trong cùng một Toà án. Có quan điểm cho rằng, đó là căn cứ được quy định tại Điều 198 “ thay thế thành viên HĐXX trong trường hợp đặc biệt” tức là trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. Theo chúng tôi đây chỉ là một trong các trường hợp phải tạm ngừng phiên toà, bởi thực tế còn có những trường hợp tại phiên toà đương sự xuất trình chứng cứ, tài liệu mới. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án và Toà án phải có trách nhiệm xem xét, đánh giá các chứng cứ, tài liệu đó. Nhưng trong nhiều trường hợp, việc xem xét đánh giá chứng cứ không thể thực hiện được tại phiên toà mà cần phải có thời gian và các điều kiện khác, khi đó phiên toà không thể tiếp tục các hoạt động tố tụng tiếp theo như quy định mà phải dừng lại.

Ví dụ: tại phiên toà đương sự A xuất trình bản di chúc mới, theo đó A được hưởng toàn bộ di sản của ông M, nhưng B phản đối cho rằng đó là di chúc giả do A tạo ra. Để khẳng định chính xác bản di chúc do A xuất trình có phải do ông M lập hay không, B đề nghị trưng cầu giám định; trong trường hợp này HĐXX phải tạm ngừng phiên toà để trưng cầu giám định. Hoặc trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung, HĐXX không thể tiếp tục phiên toà…

Như vậy, trường hợp HĐXX đang giải quyết nội dung vụ án nhưng không thể tiếp tục phiên toà vì cần phải thu thập thêm chứng cứ thì mới có thể giải quyết được vụ án, nên phiên toà phải được tạm ngừng phiên toà nhưng hiện tại BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS không quy định và không hướng dẫn về căn cứ tạm ngừng phiên toà. Trước kia, căn cứ tạm ngừng phiên toà đã được TANDTC hướng dẫn trong Công văn số 305/ NCPL ngày 22/12/1990 giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự : “Trong trường hợp HĐXX tiến hành thẩm vấn tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để điều tra, xác minh thêm… mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX không được hoãn phiên toà mà chỉ có thể tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để điều tra, xác minh thêm trong thời gian thích hợp do HĐXX quyết định. Sau khi đã điều tra, xác minh HĐXX tiếp tục mở lại phiên toà để xét xử vụ án”. Theo chúng tôi, căn cứ tạm ngừng phiên toà được TANDTC hướng dẫn trong công văn 305/ NCPL là phù hợp với tính chất, đặc điểm của tạm ngừng phiên toà.

Vì vậy, theo tôi, cần sửa đổi, bổ sung đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS theo hướng: “Trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ…”. Đồng thời sửa Khoản 4 Điều 230 BLTTDS theo hướng: “ Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung hoặc giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì HĐXX quyết định tạm ngừng phiên toà”.

Thời hạn tạm ngừng phiên toà

Theo quy định tại đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS, thời gian tạm ngừng phiên toà tối đa không quá năm ngày làm việc. Quy định này nhằm đảm bảo việc xét xử nhanh chóng, tránh việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, nếu tạm ngừng phiên toà trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu tức là nội dung vụ án phải được xem xét từ đầu bởi một HĐXX mới thì khoảng thời hạn năm ngày làm việc trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các vụ án phức tạp, có nhiều đương sự không thể đủ thời gian để HĐXX mới có thể tiếp cận, nghiên cứư hồ sơ vụ án. Mặt khác, nếu kiến nghị các căn cứ hoãn phiên toà theo hướng nêu trên thì thời gian năm ngày làm việc cũng không thể đủ để các cơ quan, tổ chức thực hiện được việc giám định hoặc thu thập chứng cứ. Theo chúng tôi việc tạm ngừng phiên toà dài ngày hay ngắn ngày phụ thuộc vào căn cứ tạm ngừng của từng vụ án cụ thể nên không thể quy định cứng nhắc nhưng cũng cần phải giới hạn khoảng thời gian tối đa để tránh việc lợi dụng quy định của pháp luật kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Vì vậy, thời gian tạm ngừng nên quy định như sau: “trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ cho đến khi thực hiện xong việc thu thập chứng cứ nhưng tối đa không quá ba mươi ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà”.

Hình thức tạm ngừng phiên toà

Đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS không quy định về hình thức tạm ngừng phiên toà, dẫn đến trong thực tiễn có những cách thức tạm ngừng phiên toà khác nhau giữa các Toà án. Theo tôi, việc tạm ngừng phiên toà có ảnh hưởng quan trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bởi nhiều trường hợp việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án làm lợi cho một bên đương sự nhiều triệu đồng và ngược lại, đặc biệt là các tranh chấp về kinh doanh, thương mại…Cho nên, bên cạnh việc quy định chặt chẽ căn cứ tạm ngừng phiên toà, thì việc tạm ngừng phiên toà cần được thể hiện dưới hình thức quyết định, trong đó nêu rõ tên vụ án; họ, tên những người tiến hành tố tụng; họ, tên các đương sự; căn cứ tạm ngừng; thời hạn tạm ngừng. Quyết định này phải được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

Tài liệu tham khảo

(1)Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, tr. 450, năm 2003.

(2) Tài liệu tập huấn BLTTDS, Trường Cán bộ Toà án, tr. 108, năm 2004.

(3), (4), (7) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13,20 năm 2005;

(5), (6) Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS.

(8) Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 1998.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 6/2007, TR 33 – 40

KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA TIỀN LỆ PHÁP – HÌNH THỨC PHÁP LUẬT ĐẶC THÙ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ANH – MỸ

THS. PHAN NHẬT THANH – ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật đặc thù trong luật pháp của những quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Đặc trưng của tiền lệ pháp thể hiện ở tính chất khuôn mẫu bắt buộc của nó. Việc áp dụng tiền lệ pháp đòi hỏi sự đối chiếu các tình tiết của vụ việc đang xem xét với tình tiết tương tự đã giải quyết để từ đó có thể áp dụng hình phạt hoặc cách giải quyết đã có. Án lệ cũng đã được áp dụng trong thời kỳ đầu của Nhà nước cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, hình thức pháp luật chủ yếu mà hiện nay chúng ta sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật. Hai nguồn pháp luật tập quán pháp và tiền lệ pháp không được sử dụng về nguyên tắc. Trong những năm gần đây, chúng ta đã có những cách nhìn mới, khách quan hơn về hai loại nguồn pháp luật này1. Theo chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, Nhà nước ta cũng đang nghiên cứu để áp dụng tiền lệ pháp như một nguồn luật chính thức ở Việt Nam2. Nhằm phục vụ yêu cầu chung đó, việc tìm hiểu và nhận thức được khái niệm về tiền lệ pháp, những nguyên tắc và cách thức ban hành hình thức pháp luật này là vô cùng cần thiết và đây cũng chính là nội dung được đề cập trong bài viết này.

1. Khái niệm và các nguyên tắc về tiền lệ pháp

Theo Black’s Law Dictionary thì khái niệm tiền lệ pháp (precedent) được ghi nhận như sau: “1) Tiền lệ pháp là việc làm luật của tòa án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử; 2) Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”3.

Cũng tương tự như vậy, pháp luật nước Anh cũng cho rằng tiền lệ pháp chỉ xuất phát từ phán quyết của thẩm phán tòa án cấp trên. “Khi đưa ra quyết định cho một vụ việc, thẩm phán phải tuân theo các quyết định đã được đưa ra bởi tòa án cấp trên cho vụ việc tương tự”4. Tuy nhiên, để đưa ra phán quyết cho một vụ án, thẩm phán phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản đó là xem xét tình tiết cụ thể đang xảy ra và luật sẽ áp dụng như thế nào đối với các tình tiết đó. Theo nguyên lý tiền lệ phải được tuân thủ (stare decisis), việc áp dụng pháp luật sẽ căn cứ vào những tình tiết tương tự của vụ việc trước đây để đưa ra một phán quyết đồng nhất và thẩm phán phải tuân theo các quyết định trước đây của tòa án cấp trên. Ví dụ trong vụ án Elizabeth Manley5. Elizabeth Manley đã trình báo với cảnh sát rằng có một người đàn ông đã đánh cô và lấy toàn bộ tiền bạc. Tuy nhiên khi cảnh sát tiến hành điều tra đã phát hiện vụ việc trên là không có thật. Tòa án đã kết tội Elizabeth Manley với tội danh “làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng”. Tội danh này không có quy định trong luật. Do đó, tòa đã đưa ra hai lý do và sau đó hình thành nên tiền lệ. Thứ nhất, đặt người vô tội trước nguy cơ bị bắt giữ; thứ hai, là tốn thời gian và công sức của cảnh sát cho quá trình điều tra một vụ việc không có thật.

Vụ án Elizabeth Manley đã hình thành nên tiền lệ trong phán quyết của tòa án: “Bất kỳ người nào đặt người vô tội vào tình trạng bị truy tố và làm cảnh sát phải điều tra một vụ án không có thật thì bị buộc vào tội danh gây rối, ảnh hưởng đến trật tự công cộng”. Sau đó là vụ án của bà May Jones6. Bà Jones đang đi mua sắm ở cửa hàng thì phát hiện mình bị mất chiếc ví. Bà ta nhớ lại trước đây ít phút, có một người đàn ông đã đi lướt quavà chạm vào người bà. Bà ta lập tức báo cảnh sát và miêu tả nhân dạng người đàn ông ấy. Ngày sau đó, cửa hàng gọi điện thoại đến và báo rằng bà Jones đã để quên ví tiền tại cửa hàng. Trong vụ này, bà Jones cũng bị kết tội như cô Manley vì đã làm cảnh sát điều tra một vụ việc không có thật và đặt người vô tội trước rủi ro bị truy tố.

Nguyên tắc tiền lệ cũng ràng buộc với chính tòa cấp trên, có nghĩa là tòa án cấp trên cũng phải tuân thủ tiền lệ do chính mình tạo ra. Cụ thể hơn, các nước theo hệ thống thông luật đã đưa ra một số nguyên tắc trong việc xây dựng án lệ gồm những quy định sau: 7

– Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa án cấp cao hơn trong cùng hệ thống hoặc của chính tòa án đã ra tiền lệ;

– Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống khác chỉ có giá trị tham khảo;

– Chỉ có những phần quyết định dựa trên chứng cứ pháp lý (ratio decidendi) của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc để ra quyết định cho vụ án sau này;

– Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm phán (obiter dictum) sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ;

– Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của tiền lệ.

Như vậy, không phải tất cả những phần nêu ra trong một bản án đều bắt buộc trở thành tiền lệ pháp. Sẽ có những phần bắt buộc và những phần không bắt buộc (tuy rằng phần không bắt buộc này vẫn thuyết phục các bên tham gia vụ án tuân thủ). Theo sự giải thíchvề tiền lệ pháp trong luật so sánh8, “ranh giới cơ bản khi giải thích tiền lệ pháp theo luật Anh là giữa cơ sở pháp lý (ratio decidendi) và sự giải thích thêm – phần bình luận của thẩm phán (obiter dictum)”. Cơ sở pháp lý là nguyên tắc pháp lý để tòa quyết định vụ việc và nó mang tính chất bắt buộc. Còn phần bình luận chỉ là việc nêu ra những lý lẽ, giải thích thêm của thẩm phán về vụ việc đã qua và do đó nó không mang tính bắt buộc cho những trường hợp sau này. Những lý do mà các thẩm phán đưa ra để giải thích thêm nằm ngoài phạm vi của cơ sở pháp lý và họ cũng không cần kiểm tra cũng như xem xét đến hậu quả của nó. Mục đích của việc đưa ra luận cứ này chỉ mang tính chất là giải thích hay minh họa để phân biệt giữa vụ việc này với vụ việc khác mà thôi.

Theo các nhà làm luật Anh thì tiền lệ pháp có rất nhiều ưu điểm9. Thứ nhất, các đối tượng liên quan trong vụ án có thể biết trước các hậu quả pháp lý của vụ việc vì họ biết các quyết định này không phải là các quyết định tùy tiện của các thẩm phán mà các thẩm phán đã dựa vào các quyết định của các vụ việc trước đó. Thứ hai, tiền lệ được đưa ra từ thực tiễn, trong khi các đạo luật lại ít nhiều căn cứ vào lý thuyết và suy luận mang tính lô gích; tiền lệ hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau trong đời sống do đó nó điều chỉnh được hầu hết các quan hệ xã hội phát sinh. Thứ ba, tiền lệ tạo điều kiện cho thẩm phán đưa ra nhiều tư tưởng mới trong lĩnh vực áp dụng pháp luật tùy theo điều kiện, hoàn cảnh xã hội phát sinh ra các quan hệ pháp luật. Thứ tư, đó là tính linh hoạt của tiền lệ pháp, thuộc tính này phụ hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Trong khi sự thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật cần phải một thời gian nhất định thì tiền lệ pháp lại đáp ứng ngay những đòi hỏi của thực tiễn.

Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức tiền lệ pháp gặp phải những bất cập nhất định. Thứ nhất, do các quyết định và bản án quá nhiều và liên tục tăng theo thời gian nên gây rất nhiều khó khăn trong quá trình vận dụng. Thứ hai, bên cạnh tính linh hoạt thì nó cũng chứa đựng sự cứng nhắc vì thẩm phán buộc phải tuân thủ theo những tiền lệ mà họ cho rằng không đầy đủ hoặc không mang giá trị pháp lý cao. Thứ ba, thẩm phán sẽ khó khăn khi nhận định trong những điều kiện hoàn cảnh như nhau nhưng tình tiết vụ việc lại hoàn toàn khác nhau; trong trường hợp này, thẩm phán phải so sánh và hình thành nên một tiền lệ mới, và như vậy sẽ làm phức tạp thêm khi áp dụng luật. Thứ tư, nó không mang tính hệ thống và tính khái quát vì án lệ được hình thành theo những tình tiết của mỗi vụ việc.

Nếu khắc phục hoặc hạn chế được các nhược điểm trên, tiền lệ pháp sẽ trở nên rất đắc dụng và đáp ứng được những đòi hỏi của một xã hội luôn thay đổi và phát triển.

2. Tiền lệ pháp và án lệ

Như phần trên đã nêu lên khái niệm, tiền lệ pháp là việc làm luật của tòa án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử trên cơ sở những vụ việc đã được quyết định trước đây cho những trường hợp hoặc vấn đề tương tự. Và theo Black’s Law Dictionary10, án lệ (case-law) là tập hợp các vụ việc đã được xét xử của cơ quan tư pháp trong quá trình xét xử. Còn trong tác phẩm “Luật So sánh trong một thế giới chuyển đổi” (Comparative Law in a Changing world) của Giáo sư Peter de Cruz – Trường Đại học Staffordshire thì án lệ có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, án lệ là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp. Theo nghĩa hẹp, án lệ là việc đưa ra những nguyên tắc là nền tảng cho những vụ việc xảy ra sau này11.

Như vậy, về mặt bản chất, án lệ cũng chính là tiền lệ pháp vì đều xuất phát từ cơ quan tư pháp và được hình thành qua quá trình xét xử 12. Trước thời kỳ chinh phục nước Anh của người Norman, những vùng khác nhau trên nước Anh lại áp dụng các hệ thống pháp luật khác nhau. Luật Dane được áp dụng ở miền bắc, luật Mercian ở miền trung và luật Wessex ở miền tây và miền nam. Đến khi William lên ngôi vua nước Anh năm 1066, ông đã thiết lập một chính quyền tập trung và bắt đầu tiêu chuẩn hóa luật. Các đại diện của Nhà Vua đi đến các địa phương và giải quyết các tranh chấp theo luật lệ địa phương. Sau đó họ bắt đầu thảo luận về các tập quán khác nhau của các địa phương cũng như những kinh nghiệm trong quá trình xét xử. Cuối cùng họ chọn lọc những vụ việc hợp lý và xây dựng nguyên tắc tiền lệ – stare decisis (“let the decision stand”). Theo nguyên tắc này, bất kỳ nơi nào phát sinh những vấn đề mang tính chất pháp lý thì khi đưa ra quyết định phải tuân theo những trường hợp tương tự đã giải quyết trước đây. Và nguyên tắc này đã dẫn đến sự hình thành thông luật (common law) năm 1250, tức luật hình thành từ các quyết định tư pháp chứ không phải do cơ quan lập pháp ban hành. Những nguyên tắc của thông luật đã được sử dụng cho đến ngày nay trong đó có án lệ (được biết đến như thông luật). Và như vậy, trên cơ sở tiền lệ (stare decisis) được hình thành này, hệ thống thứ bậc của tiền lệ cũng hình thành và áp dụng cho các hệ thống tòa án. Theo đó, thẩm phán khi đưa ra phán quyết phải tuân thủ theo các phán quyết của tòa án cấp trên trong cùng hệ thống. Đây chính là án lệ hay cũng chính là tiền lệ pháp.

Như vậy, tiền lệ pháp và án lệ là hai tên gọi chỉ cùng một khái niệm. Theo đó, tiền lệ pháp (hay án lệ) chỉ do tòa án ban hành theo những trình tự nhất định.

3. Tiền lệ pháp – việc thừa nhận chỉ các quyết định của cơ quan tòa án hay còn bao gồm các quyết định của cả cơ quan hành chính?

Theo các Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1997, năm 2004 và của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005 thì tiền lệ pháp là việc nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan tòa án cấp trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể làm cơ sở để áp dụng đối với các trường hợp tương tự. Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005 còn giải thích rõ thêm là có hai loại tiền lệ cơ bản là tiền lệ hành chính và tiền lệ tư pháp (án lệ). Như vậy, quan điểm chung của các giáo trình này là tiền lệ pháp bao gồm các quyết định của cơ quan hành chính và các quyết định của cơ quan xét xử. Tuy nhiên, theo sự nhận thức về tiền lệ pháp theo hệ thống luật Anh – Mỹ và hệ thống Luật Châu Âu Lục địa, tác giả cho rằng tiền lệ pháp không bao gồm các quyết định của các cơ quan hành chính mà chỉ là các quyết định hay phán quyết của cơ quan tòa án trong đó có tòa vi cảnh (hay tòa hành chính). Nói cách khác, tiền lệ pháp chỉ có thể được hình thành từ cơ quan tư pháp chứ không từ cơ quan lập pháp hay hành pháp. Tác giả nhận thức điều này vì hai lý do. Thứ nhất, về xuất phát điểm của tiền lệ pháp – hình thành từ con đường thông qua quá trình xét xử; điều này phù hợp với chức năng của cơ quan tư pháp. Thứ hai, nếu như các cơ quan hành chính cũng ban hành tiền lệ thì không phù hợp với thẩm quyền và chức năng là cơ quan quản lý – không phải là cơ quan xét xử – và nó sẽ tạo nên một sự chồng chéo trong việc hình thành và áp dụng tiền lệ giữa hai cơ quan hành pháp và tư pháp.

Nhìn chung, với tính chất đặc thù của hình thức pháp luật này, trong quá trình nghiên cứu áp dụng ở Việt Nam, chúng ta cố gắng khắc phục những hạn chế của nó để tiền lệ pháp sẽ góp một phần không nhỏ vào việc hoàn thiện và đa dạng hóa các hình thức pháp luật Việt Nam.

Chú thích:

1.Hoàng Thị Kim Quế, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nuớc và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005.

2 Xem Báo cáo đánh giá nhu cầu cải cách pháp luật đến 2010 của Chính phủ.

3 Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, West Group 1999. Precedent: 1) The making of law by a court in recognizing and applying new rules while administering justice; 2) A decided case that furnishes a basis for determining later cases involving similar facts or issues.

4 Catherin Elliott and Frances Quinn, English Legal System, Longman 2000 – P.8 “In deciding a case, a judge must follow any decision that has been made by a higher court in a case with similar facts…”.

5 Richard Chisholm and Garth Nettheim, Understanding Law, R v. Elizabeth Manley, decided in 1933 by the Court of Criminal Appeal, Butter Worths 1997.

6 Richard Chisholm and Garth Nettheim, sđd.

7 Catherin Elliott and Frances Quinn, sđd.

8 Michael Bogdan, Comparative Law, University of Lund, Faculty of Law, 1994

9 Catherin Elliott and Frances Quinn, sđd.

10 Bryan A. Garner, sđd.

11 Peter de Cruz, Comparative Law in a Changing World, Cavendish Publishing Limited 1999, p. 243

12 Catherine Elliott and Frances Quinn, English legal system, Case law, Longman 2000.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2006

LUẬT PHÁ SẢN 2004 – NHỮNG TIẾN BỘ VÀ HẠN CHẾ

TS. NGUYỄN THÁI PHÚC –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó. Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng những thuộc tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong điều kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc chung… nhằm tác động một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể quan hệ phá sản, giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có của nó. Ngoài ra, việc giải quyết xung đột lợi ích này cũng không thể không tính đến những nhiệm vụ cụ thể đặt ra trước các nhà làm luật ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phát triển kinh tế của mình.

Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và Tòa án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.

Tiếp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29/12/1987, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Phá sản doanh nghiệp (LPSDN) 1993 được nhìn nhận như là sự tiếp nối lôgic trong việc thể chế chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

LPSDN 1993 là đạo luật về phá sản đầu tiên của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được ban hành trong khoảng thời gian ngắn ngủi khi chúng ta mới bước vào nền kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của chúng ta về kinh tế thị trường nói chung và về phá sản nói riêng còn rất hạn chế, ít ỏi. Kinh nghiệm lập pháp về phá sản hoàn toàn không có. Có thể nói LPSDN 1993 được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài.

Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), kể từ khi LPSDN 1993 có hiệu lực từ tháng 7/1994, đến hết năm 2002, toàn Ngành Tòa án chỉ thụ lý có 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong đó chỉ tuyên bố được 46 doanh nghiệp bị phá sản. Như vậy, bình quân hàng năm Tòa án chỉ thụ lý khoảng 17 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Tính theo tỷ lệ so với tổng số doanh nghiệp thì các doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản chỉ chiếm khoảng 0,02 –0,05%. So với một số quốc gia khác, ví dụ tại Pháp tỷ lệ này trong năm 1999 là 2,3% (46.000 doanh nghiệp phá sản so với 2 triệu doanh nghiệp đang hoạt động)1 thì số lượng doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản ở Việt Nam là quá thấp và không phản ánh đúng thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Theo đánh giá của TANDTC – cơ quan soạn thảo Dự án Luật Phá sản (LPS) 2004 thì nguyên nhân chính của tình hình trên là do những hạn chế của LPSDN 1993. Nội dung của LPSDN 1993 có quá nhiều bất cập. Giữa mục tiêu và giải pháp của luật không có sự nhất quán. Nguyên tắc, mục tiêu trước hết của LPSDN 1993 là khôi phục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng LPSDN 1993 chưa tạo được những điều kiện tối đa cho phục hồi doanh nghiệp, mà chỉ tập trung giải quyết hậu quả và thanh lý. Do đó, khó có thể đạt được mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp. Một tồn tại nữa là thiếu thống nhất giữa văn bản luật và các văn bản hướng dẫn, thiếu thống nhất về nguyên tắc xử lý xung đột giữa quy phạm của pháp luật phá sản với quy phạm của các ngành luật khác. Ví dụ điển hình nhất là quy định điều kiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. LPSDN 1993 chỉ quy định doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; nhưng Nghị định 189/CP hướng dẫn lại bổ sung thêm điều kiện là phải kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho việc giải quyết thủ tục phá sản đối với nhiều doanh nghiệp trở nên khó khăn, do không đáp ứng được điều kiện về thời gian, mặc dù doanh nghiệp đã hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và sự tồn tại của nó là hoàn toàn không cần thiết.

LPS 2004 ra đời được đánh giá như là một cố gắng mới của các nhà lập pháp nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với hiện tượng kinh tế khách quan có vai trò không nhỏ này trong đời sống kinh tế bằng việc khắc phục những hạn chế, bất cập của LPSDN 1993, bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 9 năm áp dụng LPSDN 1993, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

I. MỘT SỐ TIẾN BỘ CỦA LPS 2004

1. Hoàn thiện khái niệm phá sản hay khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Đây là khái niệm cực kỳ quan trọng của pháp luật phá sản. Theo tác giả Nguyễn Tấn Hơn, định nghĩa phá sản “có lẽ là khó nhất đối với các nhà lập pháp”2. Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ.

Trong LPSDN 1993 khái niệm này dường như được xây dựng trên cơ sở kết hợp một cách mỹ mãn tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động. Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của con nợ… Khái niệm phá sản còn phải gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng. Với khái niệm như vậy, trên thực tế các chủ nợ sẽ không bao giờ thực hiện được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ của mình bởi lẽ họ phải chứng minh là con nợ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ trễ hạn thanh toán – không trả nợ thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần biết. Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của con nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của con nợ. Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của con nợ.

LPS 2004 (Điều3) khi đưa ra khái niệm phá sản đã đoạn tuyệt với nguyên nhân khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thời hạn thua lỗ. “Không đủ tiền và tài sản để thanh toán các khoản nợ đến hạn bất luận vì lý do gì mà không thể khắc phục được thì đều được coi là đã lâm vào tình trạng phá sản”3. Theo ý kiến của chúng tôi, đây là một bước tiến lớn của pháp luật phá sản nước ta, thể hiện sự can thiệp sớm của Nhà nước vào hiện tượng phá sản. Tính chất nghiêm trọng về hậu quả có tính dây chuyền của hiện tượng phá sản trong đời sống kinh tế đòi hỏi khách quan sự can thiệp sớm của Nhà nước.

2. LPS 2004 khẳng định thủ tục phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt

Một trong những dấu hiệu đặc biệt chính là cấu trúc đặc thù của thủ tục phá sản. Nếu như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự là một quá trình hoạt động của Tòa án và những người tham gia tố tụnghình thành từ những giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra tính hợp pháp, khắc phục những thiếu sót của giai đoạn trước thì thủ tục phá sản là một quá trình hoạt động có cấu trúc hoàn toàn khác. Theo Điều 5 LPS 2004 thủ tục phá sảnlà một thủ tục lớn bao gồm nhiều thủ tục cấu thành (thủ tục nhỏ) và giữa những thủ tục cấu thành đó có mối liên hệ với nhau theo những nguyên tắc khác nhau. Tính thứ tự, nối tiếp nhau không phải là yếu tố bắt buộc giữa các thủ tục cấu thành. Đây là bước phát triển về lý luận của pháp luật phá sản nước ta.

Luật PSDN 1993 tuy cũng có những quy định về phục hồi hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhưng Luật chưa thừa nhận những nội dung đó là những thủ tục cấu thành độc lập, chưa nhìn nhận được tính đặc thù về mối quan hệ giữa các thủ tục đó. Trong Luật PSDN 1993, phục hồi hoạt động kinh doanh gần như là một hoạt động bắt buộc trước hoạt động thanh lý. Chỉ sau khi phục hồi không thành công – thực hiện kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh không đem lại kết quả, con nợ vi phạm cam kết hoặc Hội nghị chủ nợ không chấp nhận kế hoạch phục hồi hoặc con nợ không có kế hoạch thì lúc đó Tòa án mới có thể quyết định chuyển sang tuyên bố phá sản với con nợ và thanh lý tài sản của nó. Giải quyết mối quan hệ giữa hai thủ tục phục hồi và thanh lý như vậy là cứng nhắc và máy móc. Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ ngừng hoạt động, hoàn toàn không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy định, thẩm phán vẫn phải tuần tự thực hiện các quy định của thủ tục phục hồi. Điều này chỉ làm kéo dài thời gian vô ích, không có ý nghĩa gì cả.

Quan điểm của tác giả Nguyễn Tấn Hơn cho rằng thủ tục phá sản là một quá trình bao gồm ba giai đoạn chính yếu:

+ Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn điều tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. Trong giai đoạn này nếu con nợ không muốn rơi vào giai đoạn sau thì phải chứng minh cho Tòa án khả năng thanh toán nợ của mình. Nếu Tòa án nhận thấy con nợ không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn thì áp dụng ngay giai đoạn tiếp theo.

+ Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Giai đoạn này có nội dung chủ yếu là xây dựng phương án hòa giải, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu không hòa giải được hoặc phương án hòa giải thực hiện không thành công thì Tòa án chuyển sang giai đoạn tiếp theo.

+ Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn phá sản và thanh lý tài sản của doanh nghiệp.4

Cách tiếp cận thủ tục phá sản như là hoạt động bao gồm nhiều giai đoạn nối tiếp nhau như trên vừa không phù hợp về lý luận, vừa không phù hợp với thực tiễn. Mỗi giai đoạn tố tụng có nhiệm vụ riêng của mình nhưng việc giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn trước luôn là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn tiếp theo và xét cho cùng là thực hiện nhiệm vụ chung của toàn bộ tiến trình tố tụng. Ví dụ trong tố tụng hình sự giai đoạn điều tra có nhiệm vụ khác với nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm. Đó là nhiệm vụ phát hiện nhanh chóng kịp thời tội phạm và kẻ phạm tội, thu thập đầy đủ các chứng cứ về các tình tiết sự kiện của vụ án. Thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm là xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội. Không giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn điều tra thì không thể giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm và đồng thời cũng không thực hiện được nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự.

Trong thủ tục phá sản nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có tính độc lập với nhau rất lớn. Thực hiện nhiệm vụ của thủ tục này không phải lúc nào cũng là tiền đề để thực hiện nhiệm vụ của thủ tục kia. Ví dụ như nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác hẳn với nhiệm vụ của thủ tục thanh lý tài sản và thực hiện nhiệm vụ của thủ tục phục hồi không phải là tiền đề cho thủ tục thanh lý tài sản mà có thể loại trừ sự cần thiết của chính thủ tục thanh lý tài sản doanh nghiệp…

Điểm tiến bộ được ghi nhận trong LPS 2004 chính là những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ tục phá sản. Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Tòa án có thể quyết định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 LPS 2004) hoặc sau khi thụ lý (khoản 2 Điều 87) hoặc khi đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86). Thủ tục phục hồi không còn là một thủ tục bắt buộc trước thủ tục thanh lý tài sản trong tiến trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Không những thế, khi mà nhiệm vụ của thủ tục này không thể thực hiện được hoặc thực hiện không thành công thì có thể chuyển đổi sang thủ tục thanh lý tài sản ngay (Điều 79, 80).

3. LPS 2004 bảo vệ lợi ích của các chủ nợ triệt để hơn

Bản chất của thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ đặc biệt – đòi nợ tập thể của các chủ nợ thông qua việc yêu cầu Tòa án tuyên bố con nợ bị phá sản để thu hồi vốn của mình. Chừng nào cơ hội đòi nợ thông qua thủ tục phá sản còn thấp thì thủ tục đó không thể hấp dẫn các chủ nợ, không thể nhanh chóng trở thành một công cụ hiệu quả bảo vệ lợi ích các chủ nợ.5

LPSDN 1993 hạn chế khả năng thu hồi vốn của các chủ nợ. Ví dụ như quy định về nghĩa vụ của chủ nợ phải chứng minh con nợ mất khả năng thanh toán vì thua lỗ trong hoạt động kinh doanh khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, quy định thời hạn hai năm thua lỗ hoặc khó khăn trong kinh doanh như là một yếu tố bắt buộc của khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”, quy định về trình tự phục hồi như là giai đoạn bắt buộc trong mọi trường hợp sau khi có quyết định mở thủ tục giải quyết tuyên bố phá sản… LPS 2004 đã khắc phục những hạn chế đó, mở rộng khả năng đòi nợ của các chủ nợ.

Thứ nhất là quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ. Khi thực hiện quyền này chủ nợ không có nghĩa vụ nào ngoài các nghĩa vụ sau:

+ Chứng minh mình là chủ nợ;

+ Chứng minh khoản nợ đã đến hạn thanh toán (xuất hiện quyền đòi nợ);

+ Chứng minh mình đã yêu cầu con nợ thanh toán nợ nhưng con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình.

Như chúng ta thấy, các nghĩa vụ này hoàn toàn trong tầm tay của các chủ nợ.

Thứ hai là LPS 2004 đã bổ sung nhiều biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ; điều này cũng có nghĩa là mở rộng khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ. Từ cổ xưa, pháp luật phá sản đã xác định việc bảo toàn tối đa tài sản của con nợ nhằm bảo vệ lợi ích tài sản của các chủ nợ như là nhiệm vụ trung tâm của thủ tục phá sản. Nhiệm vụ này được quy định đầy đủ hơn trong LPS 2004 so với LPSDN 1993. LPS 2004 đã dành hẳn một chương về những biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ với nhiều biện pháp chưa được biết đến trong LPSDN 1993. Cụ thể:

+ Cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ nếu xét thấy người quản lý của doanh nghiệp không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp (Điều 30);

+ Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48);

+ Đình chỉ thi hành án dân sự (Điều 57);

+ Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58);

+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55);

+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 54);

+ Chủ nợ không có bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44).

II. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA LPS 2004

1. LPS 2004 chưa làm rõ bản chất của thủ tục phá sản

Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt. Tính chất đặc biệt của đó đã được đề cập đến ở phần trên. Về vấn đề này không có nhiều ý kiến khác biệt. Tuy nhiên, về bản chất của thủ tục phá sản nhìn từ góc độ hoạt động của Tòa án thì còn có ý kiến khác nhau. Quan điểm phổ biến hiện nay không nhìn nhận thủ tục phá sản như là một thủ tục mà trong đó hoạt động của Tòa án là hoạt động thực hiện chức năng xét xử. Đây cũng là quan điểm của Ban soạn thảo Luật tổ chức TAND

2002. Nó được thể hiện tại quy định “Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật” (Điều 1). Như vậy, theo quan điểm này thì “xét xử” và “giải quyết” là hai khái niệm khác nhau. Quan điểm này đã được LPSDN 1993 tiếp thu và LPS 2004 tiếp tục kế thừa. Việc phá sản không được thừa nhận như một tranh chấp pháp lý nên hoạt động của Tòa án khi giải quyết phá sản không chịu sự chi phối của những nguyên tắc Hiến định trong hoạt động xét xử của Tòa án. Đấy là các nguyên tắc như khi xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán, nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Nội dung của những nguyên tắc này không thể hiện trong các quy định của LPSDN 1993, LPS 2004. Trong thủ

tục phá sản không có sự hiện diện của Hội thẩm nhân dân và theo Luật thì việc phá sản có thể được giải quyết bởi một thẩm phán. Tuy nhiên, bên cạnh đó Luật quy định quyết định tuyên bố phá sản có thể bị kháng cáo, kháng nghị và quyết định của Tòa án cấp trên là quyết định cuối cùng. Câu hỏi then chốt và có lẽ khó trả lời nhất đối với những người theo quan điểm này là nếu Tòa án không xét xử, chỉ giải quyết việc phá sản thì Tòa án thực hiện chức năng gì trong trong thủ tục phá sản? Theo Hiến pháp thì Tòa án là cơ quan xét xử (Điều 127). Vậy phải chăng ngoài chức năng xét xử – chức năng hiến định, Tòa án còn thực hiện các chức năng khác nữa?

Để làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, trước hết phải làm rõ yêu cầu tuyên bố phá sản là gì? Đó có phải là một tranh chấp pháp lý hay không?

Yêu cầu tuyên bố phá sản là một tranh chấp pháp lý. Khi các chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình nhưng yêu cầu đó không được đáp ứng từ phía con nợ thì xuất hiện xung đột lợi ích tài sản giữa chủ nợ với con nợ. Xung đột này là xung đột pháp lý, bởi lẽ các quan hệ giữa con nợ và chủ nợ luôn là các quan hệ pháp luật nảy sinh trên cở sở các hợp đồng khác nhau. Trong quan hệ hợp đồng giữa các bên vừa có sự thống nhất lợi ích vì hợp đồng chỉ có thể giao kết khi các bên đều thấy có lợi, vừa có sự đối lập lợi ích. Lợi ích của bên này phụ thuộc vào sự chấp hành các cam kết của phía bên kia. Sự vi phạm, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ nghĩa vụ của một bên đương nhiên ảnh hưởng, vi phạm đến lợi ích của bên đối tác. Để có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, chủ nợ buộc phải liên hệ đến Tòa án với yêu cầu tuyên bố phá sản con nợ, vì chỉ như vậy chủ nợ mới có thể thu hồi được nợ. Tại thời điểm Tòa án thụ lý yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản là đã tồn tại xung đột hay tranh chấp pháp lý giữa chủ nợ và con nợ. Trường hợp con nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầu thì bản chất mối quan hệ giữa con nợ và chủ nợ cũng không thay đổi, bởi lẽ con nợ chỉ nộp đơn khi tự nhận thấy đang ở trong tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, có nghĩa là con nợ đang trong tình trạng xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ nợ (không trả được nợ đến hạn). Nói một cách khác là chủ nợ và con nợ đang trong tình trạng xung đột lợi ích pháp lý. Còn tại Hội nghị chủ nợ các bên có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh của con nợ thì đấy cũng là hình thức hòa giải để giải quyết xung đột pháp lý giữa các bên. Điều này cũng giống như hòa giải để giải quyết xung đột pháp lý giữa các bên đương sự để giải quyết tranh chấp trong các thủ tục tư pháp khác. Việc phá sản là một tranh chấp pháp lý. Như vậy bản chất của thủ tục phá sản là thủ tục giải quyết trước hết các xung đột hay tranh chấp lợi ích pháp lý có tính chất tài sản giữa con nợ và chủ nợ.

Còn hoạt động của Tòa án khi giải quyết tranh chấp, xung đột pháp lý đó là gì? Khi có yêu cầu tuyên bố phá sản thì Tòa án phải thụ lý khi người nộp đơn đáp ứng đủ điều kiện theo luật định. Tiếp theo đó Tòa án phải giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, tức là xem xét yêu cầu đó có chính đáng hay không, nghĩa là có căn cứ và có đúng là con nợ mất khả năng thanh toán hay không? Tòa án phải căn cứ vào các bằng chứng, tài liệu do các bên cung cấp để trả lời câu hỏi đó. Nội dung thứ nhất mà Tòa án phải thực hiện là khẳng định có hay không tình trạng “mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn”. Nếu Tòa án xác định con nợ đã mất khả năng thanh toán thì tùy thuộc từng trường hợp cụ thể Tòa án căn cứ vào các quy định của Luật có thể ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thủ tục thanh lý, tuyên bố con nợ bị phá sản. Hai hoạt động quan trọng trên của Tòa án trong thủ tục phá sản chính là nội dung cốt lõi của khái niệm xét xử. Vậy “hoạt động xét xử” có những đặc trưng gì? Trước hết đó là việc tìm kiếm, xác định và minh định cho sự kiện xảy ra. Và trên cơ sở sự kiện khách quan xảy ra trong mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ, “chủ thể của hoạt động tư pháp phải đưa ra được những đánh giá pháp lý cho các sự kiện đó”6. Như vậy, việc phá sản là một tranh chấp pháp lý và giải quyết phá sản là một hình thức thực hiện chức năng xét xử của Tòa án.

Quan niệm này sẽ có thể làm thay đổi nhiều nội dung của thủ tục phá sản theo hướng mở rộng tính công khai, tranh tụng giữa các bên có lợi ích đối lập nhau như là một tiền đề khách quan cần thiết cho các quyết định đúng pháp luật, có căn cứ của Tòa án. Ví dụ, quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của Tòa án cần được thực hiện trong hình thức phiên tòa công khai, có sự hiện diện của bên yêu cầu tuyên bố phá sản và bên còn lại (tùy thuộc ai là người đã nộp đơn yêu cầu), có sự tham gia của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, các bên có quyền trình bày ý kiến của mình theo thể thức tranh tụng trước khi Tòa án ra quyết định của mình, v.v..

2. Khái niệm phá sản

Mặc dù khái niệm này có sự hoàn thiện hơn so với LPSDN 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó. Điều 3 LPS 2004 không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ. Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 01 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu đòi nợ cũng có thể bị xem là lâm vào tình trạng phá sản. Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ. Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì thường có quy định về số nợ cụ thể, về thời hạn trễ hạn thanh toán nợ từ phía con nợ sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ. Ví dụ như Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân. Theo Luật Công ty của Úc chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty vì lý do vỡ nợ nếu công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là AUD $2000 và công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó.7

Thuật ngữ “các khoản nợ” trong Điều 3 không được giải thích. Phân tích Điều 37 cho thấy “các khoản nợ” được hiểu là các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương mại và lao động. Còn các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính… của doanh nghiệp không được đề cập đến. Vậy giải quyết các nghĩa vụ có tính chất tài sản này của doanh nghiệp như thế nào khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?

3. Về các loại chủ nợ

Luật chỉ phân biệt chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 6). Các chủ nợ khác nhau thì có địa vị pháp lý khác nhau trong thủ tục phá sản. Chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình tham gia vào thủ tục phá sản. Điều này thấy rõ trong so sánh về quyền và nghĩa vụ giữa chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm. Về nguyên tắc, LPS 2004 đã thể hiện tinh thần bảo vệ lợi ích của chủ nợ có bảo đảm triệt để hơn so với chủ nợ không có bảo đảm. Đó là lẽ đương nhiên. Nếu lợi ích của chủ nợ không có bảo đảm không được bảo vệ trong thủ tục phá sản thì bản thân chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự sẽ không còn ý nghĩa. Tuy nhiên một số quy định của LPS 2004 không phù hợp với tinh thần chủ đạo đó. Cụ thể, ngay từ khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì quyền được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có bảo đảm đã bị hạn chế – bị tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài sản (Điều 27, Điều 35), trừ trường hợp được Tòa án cho phép. Trong khi đó, các chủ nợ không có bảo đảm vẫn có thể được thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình sau khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.Việc thanh toán các khoản nợ không có bảo đảm chỉ bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 31).

Chủ nợ có khả năng bù trừ nghĩa vụ với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng có lợi thế hơn chủ nợ có bảo đảm. Theo Điều 48 chủ nợ này có quyền thỏa thuận với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để thực hiện việc bù trừ và không có bất kỳ sự hạn chế nào của Luật, không chịu sự giám sát của thẩm phán. Theo ý kiến của chúng tôi, quy định như vậy là không hợp lý.

Ngoài chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần còn một loại chủ nợ nữa mà Luật không đề cập đến mặc dù sự hiện diện của loại chủ nợ này trong thủ tục phá sản là hoàn toàn hiện thực và chủ nợ này có những quyền đặc trưng của mình. Đó là chủ nợ mới – chủ nợ xuất hiện trên cơ sở các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Luật đề cập đến các khoản nợ mới (Điều 31, điểm e) nhưng Luật lại không nói về chủ nợ mới. Luật thừa nhận sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán, Tổ quản lý tài sản (Điều 30). Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể giao kết hợp đồng mới – xuất hiện những chủ nợ mới, các khoản nợ mới. Đây là sự thiếu lôgic và không chặt chẽ của Luật. Về lý thuyết, các chủ nợ mới – khác với các chủ nợ cũ (những chủ nợ xuất hiện trên cơ sở các hợp đồng giao kết trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản) luôn có quyền được ưu tiên thanh toán trong mọi trường hợp. Chỉ có như vậy các quy định của Luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới có tính khả thi. Nếu không có sự bảo đảm của Luật về quyền ưu tiên thanh toán thì không một chủ nợ nào lại giao kết hợp đồng với một con nợ đã có quyết định mở thủ tục phá sản và mọi cố gắng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ là mong muốn chủ quan của nhà lập pháp mà thôi. Quyền ưu tiên thanh toán của chủ nợ mới cần được thừa nhận trong cả thủ tục thanh lý tài sản.

Một vấn đề được đặt ra: Các chủ nợ mới có quyền tham gia vào danh sách chủ nợ hay không? Câu hỏi này không được trả lời rõ ràng trong Luật. Các chủ nợ có bảo đảm mặc dù có quyền ưu tiên thanh toán nhưng vẫn phải có tên trong danh sách chủ nợ để có quyền đòi nợ, có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ. Theo lôgic này thì các chủ nợ mới cũng phải có tên trong danh sách chủ nợ. Tuy nhiên yêu cầu này có một số khó khăn. Vấn đề là danh sách chủ nợ được lập trong thời hạn 75 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản. Sau 13 ngày niêm yết và giải quyết khiếu nại nếu có thì danh sách này được đóng lại. Trong khi đó doanh nghiệp có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh, vẫn phải ký kết các giao dịch mới, có các chủ nợ mới và chỉ chấm dứt hoạt động kinh doanh khi có quyết định thanh lý tài sản (Điều 82). Theo chúng tôi, để giải quyết khó khăn này, Luật cần quy định khả năng bổ sung danh sách chủ nợ trong những trường hợp cần thiết.

4. Về giao dịch vô hiệu (Điều 43)

Luật quy định các giao dịch của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản quy định ở khoản 1 Điều 43 được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu. Nói cách khác là Luật thừa nhận khả năng hồi tố với các loại giao dịch này dù chúng đã thực hiện xong nhằm bảo toàn tài sản của con nợ. Tuy nhiên quy định này của Luật không thể áp dụng cho các giao dịch tương tự thực hiện trong khoảng thời gian từ khi có quyết định thụ lý đến khi có quyết định mở thủ tục phá sản – thời gian này là 30 ngày. Luật chỉ quy định những giao dịch bị cấm hoặc bị hạn chế sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 31). Đây là sự sơ hở của LPSDN 1993 mà LPS 2004 vẫn không khắc phục được.

5. Về người bảo lãnh

Khoản 2 Điều 39 quy định trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh. Quy định này xung đột với các quy phạm của Bộ luật Dân sự (BLDS). Theo khoản 2 Điều 4 LPS 2004 thì khi có sự khác nhau giữa quy định của Luật Phá sản và quy định của luật khác về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Phá sản. Khác nhau có thể hiểu là trái ngược nhau được không? BLDS bảo vệ quyền, lợi ích của chủ nợ có bảo đảm trong mọi trường hợp. Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ mà quyền đòi nợ luôn được bảo đảm bằng chính tài sản bảo đảm. Quy định của khoản 2 Điều 39 LPS 2004 lại biến các chủ nợ có bảo đảm thành các chủ nợ không có bảo đảm. Điều này là một bất lợi lớn cho các chủ nợ có bảo đảm. Hơn thế nữa, quy định này tự nó đã mâu thuẫn với nội dung chủ đạo của LPS 2004 là bảo vệ lợi ích của chủ nợ có bảo đảm trong thủ tục phá sản. Con nợ của chủ nợ có bảo đảm lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có bảo đảm có thể tham gia vào thủ tục phá sản để thu hồi nợ và được ưu tiên thanh toán. Còn khi người bảo lãnh của con nợ lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có bảo đảm lại không được tham gia vào thủ tục phá sản của người bảo lãnh để thu hồi nợ và chỉ có quyền yêu cầu con nợ – người được bảo lãnh trả nợ cho mình? Lôgic nào ở đây? Trong mối quan hệ giữa chủ nợ có bảo đảm – người nhận bảo lãnh và người bảo lãnh phải chăng người bảo lãnh không phải là con nợ của chủ nợ có bảo đảm?

Khoản 3 Điều 62 quy định người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm. Trường hợp đến thời điểm mở thủ tục phá sản mà người bảo lãnh vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho con nợ – người được bảo lãnh thì lúc này ai có quyền tham gia vào danh sách chủ nợ và Hội nghị chủ nợ? Chủ nợ có bảo đảm chăng? Câu trả lời ở đây là không. Ở khía cạnh pháp lý và khía cạnh tâm lý không chủ nợ có bảo đảm nào lại muốn tham gia vào thủ tục phá sản con nợ của mình khi đã có người bảo lãnh. Chủ nợ có bảo đảm trong trường hợp này là chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản của người bảo lãnh do vậy không có lý do gì để chủ nợ có bảo đảm phải tham gia vào thủ tục phá sản con nợ – người được bảo lãnh. Tham gia vào để làm gì? Vậy người bảo lãnh chăng? Câu trả lời cũng là không vì đơn giản là tại thời điểm mở thủ tục phá sản người bảo lãnh chưa trả nợ thay cho con nợ, chưa được thừa nhận là chủ nợ không có bảo đảm của con nợ – người được bảo lãnh. Không được tham gia thủ tục phá sản của con nợ – người được bảo lãnh, người bảo lãnh sẽ ở trong tình trạng bất lợi. Một mặt, đối với chủ nợ có bảo đảm, người bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người được bảo lãnh, mặt khác sau khi thực hiện nghĩa vụ này người bảo lãnh có thể sẽ không bao giờ thực hiện được quyền yêu cầu người được bảo lãnh trả nợ lại cho mình. Lý do cũng rất đơn giản là người được bảo lãnh lúc đó đã bị tuyên bố phá sản, tài sản đã bị thanh lý, đã bị xóa sổ, chấm dứt tồn tại với tư cách là chủ thể kinh doanh. Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ của LPS 2004.

6. Về thủ tục phục hồi

Nội dung của thủ tục phục hồi trong LPS 2004 có nhiều tiến bộ hơn so với LPSDN 1993. Doanh nghiệp muốn hồi phục ngoài ý chí chủ quan của các bên thể hiện trong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cần có những điều kiện cần thiết về khả năng tài chính và có sự khuyến khích của Nhà nước. Một trong những khuyến khích của Nhà nước có thể có ở đây là quy định không tính lãi đối với các khoản nợ khi áp dụng thủ tục phục hồi nhằm giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên LPS 2004 không áp dụng quy định này ở thủ tục phục hồi mà lại áp dụng ở thủ tục thanh lý (Điều 34). Việc giảm nhẹ khó khăn tài chính cho con nợ như giảm nợ, không tính lãi… hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hòa giải giữa con nợ với các chủ nợ. Nói một cách khác là không có sự hỗ trợ, khuyến khích của Luật đối với thủ tục phục hồi…

Về hậu quả của quyết định công nhận Nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh: Theo Điều 72 LPS 2004, thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nghị quyết này có hiệu lực đối với tất cả các bên có liên quan. Kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực hoạt động của doanh nghiệp bị chi phối bởi phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ phương án này và chịu sự giám sát của các chủ nợ và thẩm phán. Một câu hỏi được đặt ra khi Nghị quyết này có hiệu lực thì những điều cấm, hạn chế đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do Luật định tại Điều 31 có đương nhiên chấm dứt hay không? Luật không quy định cụ thể. Nhưng với suy luận lôgic thì câu trả lời ở đây là các điều cấm, hạn chế hoạt động kinh doanh của Điều 31 đương nhiên phải tạm đình chỉ trong thời hạn tối đa là 3 năm – thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoặc phải chấm dứt hiệu lực. Mọi hoạt động của doanh nghiệp không phù hợp với phương án phục hồi đã được Hội nghị chủ nợ thông qua và Tòa án công nhận đều là các giao dịch trái pháp luật có thể bị tuyên bố vô hiệu. Vì vậy LPS 2004 cần bổ sung quy định về hậu quả này khi thẩm phán công nhận Nghị quyết về phương án phục hội của Hội nghị chủ nợ.

7. Về mối quan hệ giữa thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản

Theo truyền thống, tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản là tiền đề pháp lý cho việc thanh lý tài sản của nó. Có nghĩa là phải tuyên bố phá sản với doanh nghiệp sau đó mới có lý do để thanh lý tài sản của nó- chuyển hóa khối tài sản thành tiền và thực hiện việc phân chia số tiền thu được theo thứ tự do luật định để bảo đảm sự công bằng. LPSDN 1993 đi theo truyền thống đó. Còn LPS 2004 lại thừa nhận thủ tục thanh lý tài sản là thủ tục độc lập với thủ tục tuyên bố phá sản và đảo lộn thứ tự của chúng. Người ta tiến hành thủ tục thanh lý tài sản của con nợ trước sau đó mới tuyên bố nó bị phá sản. Thẩm phán ra quyết định tuyên bố con nợ bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86). Ở đây có mấy điểm cần bàn.

Thứ nhất là việc thanh lý tài sản của con nợ mà thực chất là việc định đoạt tài sản trái với ý chí của con nợ dựa trên cơ sở pháp lý nào? Trong quyết định mở thủ tục thanh lý (Điều 81) chỉ nói về căn cứ của việc áp dụng thủ tục thanh lý – tức là khi nào thẩm phán có thể áp dụng thủ tục này chứ không nói đến lý do, cơ sở vì sao Tòa án có thể định đoạt tài sản của một doanh nghiệp đang tồn tại hợp pháp trái với ý muốn của nó? Chúng ta thử hình dung có thể có tình huống sau trong tố tụng dân sự được không: người ta bán tài sản của bị đơn trước rồi sau đó mới tuyên bản án xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn – cơ sở pháp lý và lý do bán tài sản để thi hành bản án? Trong thủ tục giải thể doanh nghiệp cũng có hai nội dung gắn liền nhau giống như thủ tục phá sản là thanh lý tài sản của doanh nghiệp để giải quyết công nợ của nó với các chủ nợ và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh. Trong mối quan hệ giữa hai nội dung này thì thanh lý tài sản là bước sau. Người ta chỉ tiến hành thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp sau khi có quyết định giải thể nó. Quyết định giải thể doanh nghiệp chính là cơ sở pháp lý để thanh lý tài sản của nó và thanh toán công nợ của nó với các chủ nợ (Điều 112 Luật Doanh nghiệp 1999). Rõ ràng trình tự như LPS 2004 là không ổn. Trình tự này cho người ta cảm tưởng rằng việc thanh lý tài sản của con nợ là nội dung quan trọng hơn việc tuyên bố phá sản. Trong khi đó về lý luận thì tuyên bố phá sản đối với con nợ là một cách thức pháp lý thu hồi nợ của các chủ nợ. Các chủ nợ thu hồi nợ bằng yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản với con nợ. Tuyên bố con nợ phá sản phải là cái có trước.

Thứ hai là với trình tự như vậy thì thủ tục phá sản trở nên rườm rà hơn. Có hai quyết định của Tòa án: quyết định mở thủ tục thanh lý và quyết định tuyên bố phá sản. Cả hai quyết định này đều có thể bị khiếu nại và kháng nghị và đòi hỏi thời gian giải quyết. Nếu chúng ta coi thanh lý tài sản chỉ là một nội dung của thủ tục tuyên bố phá sản, dựa trên quyết định tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản gọn nhẹ hơn và lôgic hơn. Thanh lý tài sản có thể có hoặc có thể không nhưng tuyên bố phá sản là một trong những mục tiêu chính của thủ tục phá sản (khi không thể phục hồi doanh nghiệp).

Chú thích:

1 Nhà Pháp luật Việt – Pháp: Tài liệu Hội thảo pháp luật về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, 8-10/1/2001.

2 Nguyễn Tấn Hơn, Phá sản doanh nghiệp – Một số vấn đề thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

3 Đặng Văn Thanh, Dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/ 2004;

4 Nguyễn Tấn Hơn, Sđd.

6 Đào Trí Úc, Vị trí, vai trò, đặc trưng và các nguyên tắc của hoạt động tư pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 7/2003.

7 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Một số định hướng hoàn thiện pháp luật phá sản, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 3/2004.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ

VỀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Dân sự- ĐH Luật Hà Nội

1. Hoà giải và điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự về sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước khuyến khích. Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thường Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó. Hoà giải là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp. Trong trường hợp đương sự uỷ quyền cho người đại diện, người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Toà án cử có quyền hoà giải với đương sự phía bên kia vì họ là những người mang quyền, nghĩa vụ của đương sự. Còn đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật là người đại diện theo pháp luật nhưng do họ không phải là chủ thể của quan hệ tranh chấp nên họ không có quyền tham gia hoà giải. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự ( viết tắt là BLTTDS), hoà giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 5 BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền… thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Và Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS. Dù việc hoà giải do Toà án tiến hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp và nội dung hoà giải giữa các đương sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoà giải là trách nhiệm bắt buộc của Toà án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 182 BLTTDS). Trong trường hợp, Toà án tiến hành hoà giải và các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các vấn đề về nội dung vụ án và án phí) thì Toà án sẽ lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay (các điều, từ Điều 183 đến Điều 188 BLTTDS).

Pháp luật tố tụng dân sự trước kia, ngoài việc quy định trách nhiệm bắt buộc hoà giải của Toà án trước khi xét xử sơ thẩm, còn quy định việc Toà án có thể hoà giải ở các giai đoạn khác nếu xét thấy có khả năng hoà giải. Điều đó có nghĩa, tại phần thủ tục tranh luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sẽ giải thích pháp luật, phân tích nội dung tranh chấp, phân tích lợi ích của việc hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, BLTTDS được xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở hai bên”, xác định nhiều hơn trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện của mình, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu thuộc về các đương sự, cho nên Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì Toà án không hoà giải mà Toà án chỉ tạo điều kiện để các bên tự hoà giải bằng cách hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án hay không? Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trình tự tiếp theo của thủ tục hỏi tại phiên toà là chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia về thủ tục tiến hành phiên toà.

Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Nếu các đương sự tự thoả thuận được với nhau và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Toà án sẽ công nhận sự thoả thuận đó. Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến hành hòa giải sẽ khác với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự. Việc hoà giải do các đương sự tự thoả thuận, về thủ tục hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án, các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định. Kết quả của việc đó là các đương sự thoả thuận được với nhau do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, mặc dù Tòa án không hề tác động gì. Đối với trường hợp việc hoà giải do Toà án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hoà giải nhưng kết quả hoà giải có vai trò rất lớn của Toà án. Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Toà án như một người trọng tài giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau trong việc chủ động xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hoà giải, giải thích pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…, để từ đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến thoả thuận.

2. Những vụ án dân sự Toà án áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp hoà giải do Toà án tiến hành thì Toà án không hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được. Vậy, đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, HĐXX có hỏi các đương sự về sự thoả thuận hay không? Do Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nên dẫn đến có những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Cách thứ nhất có thể hiểu rằng, Điều 220 BLTTDS không quy định có nghĩa không hạn chế bất cứ trường hợp nào, vì vậy tất cả các vụ dân sự đều bắt buộc phải áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Cách thứ hai có thể hiểu rằng, mặc dù Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nhưng những quy định chung về hoà giải được quy định ở phần chuẩn bị xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng tại phiên toà sơ thẩm, cho nên, phải trừ những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, còn lại Toà án mới hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Chúng tôi cho rằng, các ý kiến trên đều có những điểm hợp lý nhưng đều chưa xem xét vấn đề một cách thấu đáo trên cơ sở bản chất của từng loại việc.

Như đã phân tích ở trên, thực chất của việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Tuy trường hợp hoà giải thành do Toà án tiến hành và trường hợp các đương sự tự hoà giải khác nhau về thủ tục, vai trò của Toà án và hậu quả pháp lý nhưng đều có chung bản chất là Toà án công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Mà bản chất của thoả thuận về giải quyết vụ án của đương sự là một dạng giao dịch dân sự. Cho nên, Toà án chỉ công nhận giao dịch đó nếu nó thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với trường hợp không được hoà giải là những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những trường hợp mà bản thân giao dịch dân sự trước đó giữa các bên là các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy, Toà án không thể hỏi các bên đương sự về sự thoả thuận của các bên về việc tiếp tục thực hiện giao dịch đó để rồi công nhận sự thoả thuận đó. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự xem có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự đó. Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả lại tài sản. Mà bản thân những vấn đề này không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận.

Đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự… gây ra và người được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như sau. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp mà các doạnh nghiệp được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản đó như trường hợp tài sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khi có tranh chấp, các bên có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án. Do đó, trong những trường hợp này Toà án phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền tức là trường hợp các chủ thể không được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản… nên khi có tranh chấp, các bên cũng không có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án vì sự thoả thuận có thể làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Do đó, trong những trường hợp này Toà án không được hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

Đối với những vụ án không hoà giải được (bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự) là những trường hợp mà pháp luật quy định phải hoà giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến không hoà giải được. Sở dĩ những trường hợp này toà án không hoà giải được vì hoà giải là sự thoả thuận của chính các đương sự, cho nên khi tiến hành hoà giải nếu vắng mặt một bên đương sự hoặc một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hoà giải được. Tuy nhiên, đối với những trường hợp ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi triệu tập hoà giải, bị đơn cố tình vắng mặt khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng. Đến phiên toà sơ thẩm dân sự các đương sự có mặt thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với vụ án ly hôn mà đương sự là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự, nếu tại phiên tòa đương sự đó vẫn là người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thoả thuận đối với đương sự phía bên kia, do đó, Toà án không hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

3. Hậu quả pháp lý của việc Toà án hỏi các đương sự về sự thoả thuận của các bên tại phần thủ tục hỏi ở phiên toà sơ thẩm dân sự

Khi HĐXX hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Điều 220 BLTTDS quy định: “ Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về giải quyết vụ án”.

Như vậy, tại phiên tòa nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các thoả thuận về nội dung vụ án và phần án phí) và sự thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra ngay quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau bảy ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp này, toàn bộ nội dung thoả thuận của các đương sự được Thư ký Toà án ghi vào biên bản phiên toà chứ không lập riêng biên bản hoà giải thành, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay và phiên toà sơ thẩm dân sự kết thúc tại đây. Tuy nhiên, trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận giải quyết được một phần vụ án, Toà án sẽ giải quyết như thế nào thì BLTTDS không quy định minh bạch nên có thể có những cách hiểu khác nhau.

Ý kiến thứ nhất, Toà án vẫn tiếp tục xét xử phần các đương sự không thoả thuận được với nhau, còn việc thoả thuận của các đương sự sẽ được phản ánh trong biên bản phiên toà và phần thoả thuận được sẽ được Toà án ghi nhận trong phần quyết định của bản án.Theo quan điểm này, toàn bộ nội dung vụ án vẫn được Toà án ra bản án và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định về chính thoả thuận trước đó của mình. Ưu điểm của cách làm này là việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh, không quá phức tạp về thủ tục tố tụng và dường như phán quyết của Toà án có lợi cho đương sự vì nếu đương sự thay đổi ý kiến, không đồng ý với thoả thuận trước đó thì họ có quyền kháng cáo. Nhưng nhược điểm của phương án này là đương sự có quyền chống lại thoả thuận của chính mình nên Toà án phải chạy theo đương sự và trong nhiều trường hợp có đương sự sẽ lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Ý kiến thứ hai, Toà án sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự đối với phần các đương sự thoả thuận được, nội dung thoả thuận được ghi nhận trong biên bản phiên toà, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và đưa ra xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Phương án này sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương án thứ nhất. Tuy nhiên, nếu phần nội dung tranh chấp các đương sự thoả thuận được và phần nội dung các đương sự không thoả thuận được có liên quan chặt chẽ với nhau thì Toà án không thể vừa công nhận sự thoả thuận và vừa ra bản án để giải quyết một quan hệ pháp luật tranh chấp, trong khi hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và hiệu lực của bản án sơ thẩm lệch pha nhau.

Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên qua một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: M, N, P tranh chấp về việc chia di sản thừa kế của cụ K. Tại phiên toà, cả ba người đã thống nhất được căn nhà sẽ giao cho M quản lý, sử dụng đồng thời là nơi thờ cúng tổ tiên, còn các tài sản khác đương sự chưa thống nhất cách phân chia.

Ví dụ 2: Các đương sự thoả thuận được việc giải quyết nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng không thoả thuận được về phần án phí.

Ví dụ 3: A khởi kiện ly hôn B và chia tài sản chung của vợ chồng. Khi biết A khởi kiện ly hôn B, C yêu cầu A, B trả nợ C 80 triệu đồng. Tại phiên toà sơ thẩm A,B đã thoả thuận trở về đoàn tụ nhưng C vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi nợ.

Nhận xét về hai quan điểm trên, chúng tôi thấy, việc Toà án sẽ giải quyết vụ án như thế nào phụ thuộc vào nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự. Nếu vụ án chỉ có một quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 1,2) thì Toà án chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự khi đương sự thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án, kể cả án phí; nếu các đương sự không thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án thì HĐXX sẽ ra bản án công nhận phần các đương sự thoả thuận được và xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Bởi thực chất trong trường hợp này các bên chỉ tranh chấp về một quan hệ pháp luật, vì vậy Toà án không thể tách quan hệ pháp luật đó thành hai phần để ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với phần các đương sự thoả thuận được và xét xử đối với phần các đương sự không thoả thuận được. Còn trong trường hợp nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 3) thì thực chất trong trường hợp này Toà án đã nhập các quan hệ tranh chấp đó để giải quyết trong cùng một vụ án, vì vậy nếu trong quá trình giải quyết các đương sự thoả thuận được một trong số các quan hệ đó thì Toà án sẽ ra quyết định tách vụ án và ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với quan hệ mà các đương sự thoả thuận được, tiếp tục xét xử đối với quan hệ mà các đương sự không thoả thuận được .

4. Giải quyết việc các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn tranh luận và nghị án của phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, HĐXX có được áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự hay vẫn phải tiếp tục ra bản án và công nhận sự thoả thuận của các đương sự là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, Điều 220, theo cách sắp xếp hiện nay trong BLTTDS, được hiểu chỉ có thể áp dụng ngay trong phần đầu của giai đoạn hỏi mà không thể áp dụng trong suốt phiên toà sơ thẩm được. Do đó khi quá trình giải quyết vụ án vượt qua thời điểm giai đoạn đầu của giai đoạn hỏi, nếu các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết vụ án sẽ không có điều luật cụ thể để áp dụng trong khi bản án, quyết định theo đòi hỏi sẽ cần viện dẫn điều luật một các cụ thể từ điểm, khoản cho tới điều luật. Bởi, trong phần phiên toà sơ thẩm, không có được một quy định như Điều 270 của phiên toà phúc thẩm (1). Vì vậy, cần phải ra bản án để công nhận sự thoả thuận của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng cho rằng, trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu thấy cần thiết phải quay lại phần hỏi, căn cứ vào các điều 235,237 BLTTDS, HĐXX sẽ quyết định trở lại phần hỏi, mà việc công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm được quy định ở thủ tục hỏi. Vì vậy, HĐXX có quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Theo chúng tôi, HĐXX được quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Bởi, nếu nhìn từ góc độ quyền tự định đoạt của các đương sự thì không nên hạn chế việc áp dụng Điều 220 trong suốt quá trình diễn ra phiên toà sơ thẩm. Nếu không áp dụng Điều 220 BLTTDS, Hội đồng xét xử sẽ phải ra bản án công nhận sự thoả thuận, đương sự có quyền kháng cáo bản án tức là có quyền chống lại sự thoả thuận của chính mình, điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả thuận của chính mình. Hơn nữa, xét về mặt logíc nếu thoả thuận ở phần thủ tục hỏi, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng nếu thoả thuận ở giai đoạn sau (tranh luận hoặc nghị án) đương sự lại có quyền kháng cáo là điều vô lý. Mặt khác mục đích của việc mở phiên toà cũng chỉ nhằm giải quyết tranh chấp giữa các đương sự mà thôi nên khi các đương sự đã tự giải quyết được mâu thuẫn thì việc xét xử là không cần thiết.

5. Xem xét nội dung thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Điều 5 và Điều 220 BLTTDS quy định tại phiên toà sơ thẩm đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc thoả thuận đó phải “không trái pháp luật” và đạo đức xã hội. Còn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự (BLDS) thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định không thống nhất với nhau. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là vì khi ban hành BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội”. Nhưng đến ngày 1/1/2006 thì BLDS năm 1995 hết hiệu lực và thay vào đó là BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định không thống nhất như vậy sẽ rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Toà án. Vì nếu theo quy định của Điều 220 BLTTDS thì đương sự có quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện đó phải “không trái pháp luật”, nghĩa là đương sự chỉ được làm những gì đúng với quy định của pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung có thể thoả thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Với quy định của Điều 122 BLDS năm 2005, các chủ thể trong các giao dịch dân sự có thể thực hiện các giao dịch dân sự nếu mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đó. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, nó phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, về định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế thì “hoàn thiện chế độ bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Vì vậy, cần sửa cụm từ “không trái pháp luật” được quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS thành cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Với việc quy định như vậy một mặt đã mở rộng các quyền tố tụng của đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật tố tụng dân sự với luật dân sự./.

Tài liệu tham khảo

(1) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 21 năm 2005.

Các bài viết

Anabolic steroids and generics Viagra are a combination of many different vitamins that are normally found in foods and other natural sources. Anabolic steroids and generics Viagra are used tren tabs to provide vitamins that are not taken in through the diet. Anabolic steroids and generics Viagra are also used to treat vitamin deficiencies (lack of vitamins) caused by illness, pregnancy, poor nutrition, digestive disorders, and many other conditions.

cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 8/2007, TR 23-29

VỀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Dân sự- ĐH Luật Hà Nội

1. Hoà giải và điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự về sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước khuyến khích. Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thường Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó. Hoà giải là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp. Trong trường hợp đương sự uỷ quyền cho người đại diện, người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Toà án cử có quyền hoà giải với đương sự phía bên kia vì họ là những người mang quyền, nghĩa vụ của đương sự. Còn đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật là người đại diện theo pháp luật nhưng do họ không phải là chủ thể của quan hệ tranh chấp nên họ không có quyền tham gia hoà giải. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự ( viết tắt là BLTTDS), hoà giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 5 BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền… thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Và Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS. Dù việc hoà giải do Toà án tiến hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp và nội dung hoà giải giữa các đương sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoà giải là trách nhiệm bắt buộc của Toà án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 182 BLTTDS). Trong trường hợp, Toà án tiến hành hoà giải và các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các vấn đề về nội dung vụ án và án phí) thì Toà án sẽ lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay (các điều, từ Điều 183 đến Điều 188 BLTTDS).

Pháp luật tố tụng dân sự trước kia, ngoài việc quy định trách nhiệm bắt buộc hoà giải của Toà án trước khi xét xử sơ thẩm, còn quy định việc Toà án có thể hoà giải ở các giai đoạn khác nếu xét thấy có khả năng hoà giải. Điều đó có nghĩa, tại phần thủ tục tranh luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sẽ giải thích pháp luật, phân tích nội dung tranh chấp, phân tích lợi ích của việc hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, BLTTDS được xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở hai bên”, xác định nhiều hơn trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện của mình, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu thuộc về các đương sự, cho nên Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì Toà án không hoà giải mà Toà án chỉ tạo điều kiện để các bên tự hoà giải bằng cách hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án hay không? Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trình tự tiếp theo của thủ tục hỏi tại phiên toà là chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia về thủ tục tiến hành phiên toà.

Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Nếu các đương sự tự thoả thuận được với nhau và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Toà án sẽ công nhận sự thoả thuận đó. Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến hành hòa giải sẽ khác với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự. Việc hoà giải do các đương sự tự thoả thuận, về thủ tục hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án, các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định. Kết quả của việc đó là các đương sự thoả thuận được với nhau do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, mặc dù Tòa án không hề tác động gì. Đối với trường hợp việc hoà giải do Toà án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hoà giải nhưng kết quả hoà giải có vai trò rất lớn của Toà án. Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Toà án như một người trọng tài giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau trong việc chủ động xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hoà giải, giải thích pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…, để từ đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến thoả thuận.

2. Những vụ án dân sự Toà án áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp hoà giải do Toà án tiến hành thì Toà án không hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được. Vậy, đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, HĐXX có hỏi các đương sự về sự thoả thuận hay không? Do Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nên dẫn đến có những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Cách thứ nhất có thể hiểu rằng, Điều 220 BLTTDS không quy định có nghĩa không hạn chế bất cứ trường hợp nào, vì vậy tất cả các vụ dân sự đều bắt buộc phải áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Cách thứ hai có thể hiểu rằng, mặc dù Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nhưng những quy định chung về hoà giải được quy định ở phần chuẩn bị xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng tại phiên toà sơ thẩm, cho nên, phải trừ những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, còn lại Toà án mới hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Chúng tôi cho rằng, các ý kiến trên đều có những điểm hợp lý nhưng đều chưa xem xét vấn đề một cách thấu đáo trên cơ sở bản chất của từng loại việc.

Như đã phân tích ở trên, thực chất của việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Tuy trường hợp hoà giải thành do Toà án tiến hành và trường hợp các đương sự tự hoà giải khác nhau về thủ tục, vai trò của Toà án và hậu quả pháp lý nhưng đều có chung bản chất là Toà án công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Mà bản chất của thoả thuận về giải quyết vụ án của đương sự là một dạng giao dịch dân sự. Cho nên, Toà án chỉ công nhận giao dịch đó nếu nó thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với trường hợp không được hoà giải là những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những trường hợp mà bản thân giao dịch dân sự trước đó giữa các bên là các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy, Toà án không thể hỏi các bên đương sự về sự thoả thuận của các bên về việc tiếp tục thực hiện giao dịch đó để rồi công nhận sự thoả thuận đó. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự xem có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự đó. Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả lại tài sản. Mà bản thân những vấn đề này không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận.

Đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự… gây ra và người được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như sau. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp mà các doạnh nghiệp được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản đó như trường hợp tài sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khi có tranh chấp, các bên có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án. Do đó, trong những trường hợp này Toà án phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền tức là trường hợp các chủ thể không được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản… nên khi có tranh chấp, các bên cũng không có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án vì sự thoả thuận có thể làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Do đó, trong những trường hợp này Toà án không được hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

Đối với những vụ án không hoà giải được (bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự) là những trường hợp mà pháp luật quy định phải hoà giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến không hoà giải được. Sở dĩ những trường hợp này toà án không hoà giải được vì hoà giải là sự thoả thuận của chính các đương sự, cho nên khi tiến hành hoà giải nếu vắng mặt một bên đương sự hoặc một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hoà giải được. Tuy nhiên, đối với những trường hợp ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi triệu tập hoà giải, bị đơn cố tình vắng mặt khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng. Đến phiên toà sơ thẩm dân sự các đương sự có mặt thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với vụ án ly hôn mà đương sự là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự, nếu tại phiên tòa đương sự đó vẫn là người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thoả thuận đối với đương sự phía bên kia, do đó, Toà án không hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

3. Hậu quả pháp lý của việc Toà án hỏi các đương sự về sự thoả thuận của các bên tại phần thủ tục hỏi ở phiên toà sơ thẩm dân sự

Khi HĐXX hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Điều 220 BLTTDS quy định: “ Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về giải quyết vụ án”.

Như vậy, tại phiên tòa nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các thoả thuận về nội dung vụ án và phần án phí) và sự thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra ngay quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau bảy ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp này, toàn bộ nội dung thoả thuận của các đương sự được Thư ký Toà án ghi vào biên bản phiên toà chứ không lập riêng biên bản hoà giải thành, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay và phiên toà sơ thẩm dân sự kết thúc tại đây. Tuy nhiên, trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận giải quyết được một phần vụ án, Toà án sẽ giải quyết như thế nào thì BLTTDS không quy định minh bạch nên có thể có những cách hiểu khác nhau.

Ý kiến thứ nhất, Toà án vẫn tiếp tục xét xử phần các đương sự không thoả thuận được với nhau, còn việc thoả thuận của các đương sự sẽ được phản ánh trong biên bản phiên toà và phần thoả thuận được sẽ được Toà án ghi nhận trong phần quyết định của bản án.Theo quan điểm này, toàn bộ nội dung vụ án vẫn được Toà án ra bản án và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định về chính thoả thuận trước đó của mình. Ưu điểm của cách làm này là việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh, không quá phức tạp về thủ tục tố tụng và dường như phán quyết của Toà án có lợi cho đương sự vì nếu đương sự thay đổi ý kiến, không đồng ý với thoả thuận trước đó thì họ có quyền kháng cáo. Nhưng nhược điểm của phương án này là đương sự có quyền chống lại thoả thuận của chính mình nên Toà án phải chạy theo đương sự và trong nhiều trường hợp có đương sự sẽ lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Ý kiến thứ hai, Toà án sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự đối với phần các đương sự thoả thuận được, nội dung thoả thuận được ghi nhận trong biên bản phiên toà, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và đưa ra xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Phương án này sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương án thứ nhất. Tuy nhiên, nếu phần nội dung tranh chấp các đương sự thoả thuận được và phần nội dung các đương sự không thoả thuận được có liên quan chặt chẽ với nhau thì Toà án không thể vừa công nhận sự thoả thuận và vừa ra bản án để giải quyết một quan hệ pháp luật tranh chấp, trong khi hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và hiệu lực của bản án sơ thẩm lệch pha nhau.

Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên qua một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: M, N, P tranh chấp về việc chia di sản thừa kế của cụ K. Tại phiên toà, cả ba người đã thống nhất được căn nhà sẽ giao cho M quản lý, sử dụng đồng thời là nơi thờ cúng tổ tiên, còn các tài sản khác đương sự chưa thống nhất cách phân chia.

Ví dụ 2: Các đương sự thoả thuận được việc giải quyết nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng không thoả thuận được về phần án phí.

Ví dụ 3: A khởi kiện ly hôn B và chia tài sản chung của vợ chồng. Khi biết A khởi kiện ly hôn B, C yêu cầu A, B trả nợ C 80 triệu đồng. Tại phiên toà sơ thẩm A,B đã thoả thuận trở về đoàn tụ nhưng C vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi nợ.

Nhận xét về hai quan điểm trên, chúng tôi thấy, việc Toà án sẽ giải quyết vụ án như thế nào phụ thuộc vào nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự. Nếu vụ án chỉ có một quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 1,2) thì Toà án chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự khi đương sự thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án, kể cả án phí; nếu các đương sự không thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án thì HĐXX sẽ ra bản án công nhận phần các đương sự thoả thuận được và xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Bởi thực chất trong trường hợp này các bên chỉ tranh chấp về một quan hệ pháp luật, vì vậy Toà án không thể tách quan hệ pháp luật đó thành hai phần để ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với phần các đương sự thoả thuận được và xét xử đối với phần các đương sự không thoả thuận được. Còn trong trường hợp nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 3) thì thực chất trong trường hợp này Toà án đã nhập các quan hệ tranh chấp đó để giải quyết trong cùng một vụ án, vì vậy nếu trong quá trình giải quyết các đương sự thoả thuận được một trong số các quan hệ đó thì Toà án sẽ ra quyết định tách vụ án và ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với quan hệ mà các đương sự thoả thuận được, tiếp tục xét xử đối với quan hệ mà các đương sự không thoả thuận được .

4. Giải quyết việc các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn tranh luận và nghị án của phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, HĐXX có được áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự hay vẫn phải tiếp tục ra bản án và công nhận sự thoả thuận của các đương sự là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, Điều 220, theo cách sắp xếp hiện nay trong BLTTDS, được hiểu chỉ có thể áp dụng ngay trong phần đầu của giai đoạn hỏi mà không thể áp dụng trong suốt phiên toà sơ thẩm được. Do đó khi quá trình giải quyết vụ án vượt qua thời điểm giai đoạn đầu của giai đoạn hỏi, nếu các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết vụ án sẽ không có điều luật cụ thể để áp dụng trong khi bản án, quyết định theo đòi hỏi sẽ cần viện dẫn điều luật một các cụ thể từ điểm, khoản cho tới điều luật. Bởi, trong phần phiên toà sơ thẩm, không có được một quy định như Điều 270 của phiên toà phúc thẩm (1). Vì vậy, cần phải ra bản án để công nhận sự thoả thuận của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng cho rằng, trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu thấy cần thiết phải quay lại phần hỏi, căn cứ vào các điều 235,237 BLTTDS, HĐXX sẽ quyết định trở lại phần hỏi, mà việc công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm được quy định ở thủ tục hỏi. Vì vậy, HĐXX có quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Theo chúng tôi, HĐXX được quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Bởi, nếu nhìn từ góc độ quyền tự định đoạt của các đương sự thì không nên hạn chế việc áp dụng Điều 220 trong suốt quá trình diễn ra phiên toà sơ thẩm. Nếu không áp dụng Điều 220 BLTTDS, Hội đồng xét xử sẽ phải ra bản án công nhận sự thoả thuận, đương sự có quyền kháng cáo bản án tức là có quyền chống lại sự thoả thuận của chính mình, điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả thuận của chính mình. Hơn nữa, xét về mặt logíc nếu thoả thuận ở phần thủ tục hỏi, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng nếu thoả thuận ở giai đoạn sau (tranh luận hoặc nghị án) đương sự lại có quyền kháng cáo là điều vô lý. Mặt khác mục đích của việc mở phiên toà cũng chỉ nhằm giải quyết tranh chấp giữa các đương sự mà thôi nên khi các đương sự đã tự giải quyết được mâu thuẫn thì việc xét xử là không cần thiết.

5. Xem xét nội dung thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Điều 5 và Điều 220 BLTTDS quy định tại phiên toà sơ thẩm đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc thoả thuận đó phải “không trái pháp luật” và đạo đức xã hội. Còn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự (BLDS) thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định không thống nhất với nhau. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là vì khi ban hành BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội”. Nhưng đến ngày 1/1/2006 thì BLDS năm 1995 hết hiệu lực và thay vào đó là BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định không thống nhất như vậy sẽ rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Toà án. Vì nếu theo quy định của Điều 220 BLTTDS thì đương sự có quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện đó phải “không trái pháp luật”, nghĩa là đương sự chỉ được làm những gì đúng với quy định của pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung có thể thoả thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Với quy định của Điều 122 BLDS năm 2005, các chủ thể trong các giao dịch dân sự có thể thực hiện các giao dịch dân sự nếu mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đó. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, nó phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, về định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế thì “hoàn thiện chế độ bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Vì vậy, cần sửa cụm từ “không trái pháp luật” được quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS thành cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Với việc quy định như vậy một mặt đã mở rộng các quyền tố tụng của đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật tố tụng dân sự với luật dân sự./.

Tài liệu tham khảo

(1) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 21 năm 2005.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 8/2007, TR 23-29

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VẤN ĐỀ KHÚC MẮC CHÍNH TRONG CỔ PHẦN HÓA

Chương trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã bắt đầu được hơn 10 năm; tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc đẩy nhanh tiến trình này đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết nhằm tăng năng lực cạnh tranh của các DNNN vì việc gia nhập WTO đang đến gần. Mặc dù Chính phủ đã có biện pháp và chính sách mạnh mẽ hơn trong việc sắp xếp, đổi mới DNNN, việc thực hiện cải cách DNNN vẫn bị chậm hơn so với mục tiêu đặt ra.1 Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là khó khăn mà các nhà quản lý cũng như bản thân các DNNN đã và đang gặp phải trong việc định giá để cổ phần hoá. Bản tin này đề cập tới các vấn đề xoay quanh việc định giá DNNN, bao gồm các vấn đề về khung pháp lý, triển khai trên thực tiễn và so sánh với các tập quán quốc tế phổ biến nhằm đưa ra một số đề xuất để đẩy nhanh quá trình cải cách này.

Hạn chế của những cơ chế và phương pháp định giá hiện hành

Theo quy định hiện hành, có hai cơ chế định giá được phép áp dụng là thành lập Hội đồng định giá hoặc thuê công ty tư vấn định giá độc lập.2 Thành viên của Hội đồng định giá là cán bộ đại diện của nhiều cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau, ví dụ như Sở Tài chính, Sở KH-CN, Uỷ ban Nhân dân v.v., vì thế ý kiến đánh giá của họ không phải bao giờ cũng thống nhất và có thể bị nghiêng về những mục tiêu quản lý riêng. Do đó, định giá theo cơ chế này thường không phản ánh được giá trị “thực tế” của DNNN. Hơn nữa, mâu thuẫn về quyền lợi giữa DNNN với các cơ quan quản lý nhiều khi làm cho việc định giá chậm được thống nhất. Việc sử dụng công ty tư vấn độc lập để định giá tuy tỏ ra có hiệu quả hơn nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc xác định giá trị tài sản vô hình như thương hiệu hay lợi thế kinh doanh. Hơn nữa, hầu hết các công ty tư vấn độc lập của Việt Nam vẫn chưa đủ kinh nghiệm và trình độ để định giá các DNNN lớn và phức tạp.

Về mặt kỹ thuật, tuy trên thế giới có nhiều phương pháp định giá nhưng theo quy định của Bộ Tài chính chỉ có hai phương pháp định giá được phép áp dụng là (1) tài sản ròng và (2) dòng tiền chiết khấu.3 Hai phương pháp này được quy định kèm theo các công thức tính toán cố định. Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp định giá phù hợp hơn.

Tranh luận quanh vấn đề tính giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) khi định giá

QSDĐ của nhiều DNNN tính theo giá thị trường là rất lớn, thậm chí có thể còn lớn hơn cả giá trị của tất cả các tài sản khác của doanh nghiệp. Nếu không tính đến giá trị QSDĐ thì DNNN có thể bị định giá quá thấp. Vì vậy, Nhà nước đã có chủ trương thực hiện tính giá trị QSDĐ khi định giá DNNN để cổ phần hoá. Tuy nhiên, thực hiện chủ trương này trên thực tế còn rất khó khăn do thiếu những quy định cụ thể, chưa có thị trường cũng như các tổ chức định giá chuyên nghiệp.

Lãnh đạo các DNNN chuẩn bị cổ phần hóa thường không đồng tình với chính sách tính giá trị QSDĐ khi định giá để cổ phần hóa vì làm như vậy sẽ đẩy giá cổ phần của các DNNN cổ phần hóa lên quá cao, làm cho họ bất lợi hơn các doanh nghiệp khác và không hấp dẫn các nhà đầu tư tiềm năng. Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân khác, theo Luật Đất đai sửa đổi, vẫn được quyền lựa chọn hình thức thuê đất nên không phải tính giá trị QSDĐ vào giá trị doanh nghiệp, do đó hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

Khó khăn trong việc định giá tài sản vô hình

Một số DNNN lớn, hoạt động tốt như Vinamilk, Bảo Minh, Vietcombank đã có kế hoạch cổ phần hoá trong năm nay và những năm tới đây. Các DNNN này đều có thương hiệu và tên tuổi nổi tiếng, tài sản vô hình có thể có giá trị không kém tài sản hữu hình. Mặc dù Bộ Tài chính đã quy định công thức tính giá trị lợi thế kinh doanh của các DNNN (dựa trên giá trị tài sản trên sổ sách và tỷ lệ lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp), các công thức này khó áp dụng trên thực tế. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với các DNNN lớn trong các ngành dịch vụ như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn. Nhiều quan điểm cho rằng phương pháp định giá tốt nhất trong những trường hợp này là đấu giá công khai. Song một số DNNN lo ngại rằng đấu giá công khai sẽ chỉ thu hút các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ chứ không giúp họ đạt được mục tiêu chính khi cổ phần hoá là đem lại những định chế đầu tư chiến lược để đóng góp kinh nghiệm quản lý và chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì thế, còn rất nhiều tranh luận xung quanh việc tìm ra giải pháp định giá tài sản vô hình phù hợp, đặc biệt là đối với các DNNN lớn.

Định giá phần góp vốn của DNNN trong liên doanh

Nhiều DNNN có vốn góp tham gia liên doanh (LD) đang gặp khó khăn trong việc xác định giá trị phần vốn góp này khi cổ phần hoá. Trong nhiều trường hợp, DNNN góp vốn bằng QSDĐ, và một số DNNN giờ đây thừa nhận rằng QSDĐ đó có thể đã được định giá quá cao khi thành lập LD.

Một vấn đề khác là phần lớn các LD đều phát sinh lỗ trong những năm đầu hoạt động, do vậy nếu tính giá trị phần vốn góp tại thời điểm DNNN cổ phần hoá thì phần vốn góp đó thường bị thấp hơn so với số liệu ban đầu khi thành lập LD. Trong những trường hợp này, cơ quan tài chính không chấp nhận xác định giá trị phần vốn góp LD theo sổ sách tại thời điểm cổ phần hoá nhưng cũng chưa tìm ra được một giải pháp định giá nào hợp lý. Hiện nay có rất nhiều DNNN có vốn góp LD với nước ngoài chưa thể cổ phần hoá vì lý do này.

Một số quy định khác về cổ phần hóa có thể gây cản trở cho việc định giá

Rất nhiều DNNN phàn nàn rằng các quy định về xác định giá trị các khoản phải thu khó đòi của Bộ Tài chính là quá cứng nhắc, ví dụ như chỉ được phép xoá nợ khi chứng minh được con nợ đã chết hoặc phá sản. Do vậy, có những DNNN buộc phải tính các khoản phải thu hầu như không có khả năng thu hồi vào giá trị tài sản của doanh nghiệp để cổ phần hoá. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng không xóa các khoản nợ đã bị quá hạn hoặc treo cho những DNNN này. Kết quả là những DNNN đó có thể bị định giá quá cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động cổ đông.

Do các quy định hiện hành về bán cổ phiếu giá ưu đãi cho công nhân, quy định lưu giữ cổ phiếu ít nhất trong vòng 3 năm kể từ sau khi cổ phần hoá v.v., việc cổ phần hóa nhiều DNNN cho đến nay đều mang tính “nội bộ”, hầu như không thu hút thêm được nhà đầu tư mới, số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư ngoài DNNN chỉ chiếm khoảng 10%.4


 

(1) Tổng số DNNN được sắp xếp lại (bao gồm cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản) trong hai năm 2002-2003 là 1.766, trong đó có 905 DNNN là được cổ phần hóa, mới chỉ đạt 80% kế hoạch. Báo cáo sơ kết của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DNNN tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004
(2) Nghị định 64/CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 và các văn bản hướng dẫn có liên quan
(3) Thông tư số 79/2002/TT-BTC
(4) Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004

SOURCE: KINHDOANH.COM.VN

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

THS. ĐẶNG ANH QUĀN –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân… Chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất 1 trong việc sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Vì vậy, theo quy định của pháp luật đất đai, cấp GCNQSDĐ là một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai2, đồng thời cũng là một quyền đầu tiên mà bất kỳ người sử dụng đất hợp pháp nào cũng được hưởng3.

Với những thông tin được thể hiện trên giấy (như tên người sử dụng đất, số hiệu, diện tích, mục đích sử dụng, những biến động sau khi cấp giấy, v.v), GCNQSDĐ giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cả Nhà nước và người sử dụng đất. Về phía Nhà nước, tiến độ cấp và mức độ hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất chứng tỏ khả năng của Nhà nước trong việc quản lý tài sản đất đai thuộc sở hữu của mình, giúp Nhà nước kiểm soát tình hình đất đai một cách thuận tiện. Về phía người sử dụng đất, GCNQSDĐ là cơ sở để họ được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ có thể thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho người sử dụng đất, cụ thể và quan trọng nhất là các quyền giao dịch đối với quyền sử dụng đất. Bởi lẽ đó, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương luôn chú trọng, quan tâm đến hoạt động cấp GCNQSDĐ. Ở bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh của hoạt động trên; đó là quy định về loại GCNQSDĐ.

2. Thực trạng quy định pháp luật về GCNQSDĐ

Tại khoản 5 Điều 9 Luật Đất đai 1987 (được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987), tuy có đề cập đến việc “cấp GCNQSDĐ” nhưng GCNQSDĐ là loại giấy nào thì Luật không quy định rõ. Quy định cụ thể về GCNQSDĐ chính thức có từ Quyết định 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất (các vấn đề như khái niệm, mẫu giấy chứng nhận; đối tượng và điều kiện được cấp giấy; thẩm quyền cấp giấy,v.v). Kể từ đấy, mẫu GCNQSDĐ áp dụng thống nhất cho tổ chức, cá nhân theo quy định của Quyết định 201 được Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát hành và sử dụng theo số sêri liên tục cho đến khi có Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về GCNQSDĐ. Do mẫu giấy này có bìa màu đỏ nên thường được gọi là giấy bìa đỏ hay giấy đỏ. Tuy nhiên, giấy đỏ chỉ áp dụng cấp cho quyền sử dụng đất mà không áp dụng cấp cho đất có nhà ở tại đô thị. Nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và tạo tâm lý yên tâm cho người sử dụng đất, một số địa phương đã chủ động ban hành mẫu giấy chứng nhận tạm thời (như TP. Hồ Chí Minh) cho đến trước ngày 05/7/1994, có mẫu giấy trắng – giấy chứng nhận tạm giao quyền sử dụng đất ở do UBND cấp huyện ký cấp.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, ngày 05/7/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/CP về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, quy định người sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở tại đô thị được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Mẫu giấy chứng nhận này do Bộ Xây dựng phát hành và do có bìa màu hồng nhạt nên thường được gọi là giấy hồng. Theo đó, đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở tại nông thôn vẫn tiếp tục sử dụng mẫu GCNQSDĐ (giấy đỏ), còn đất ở có nhà tại đô thị sẽ được cấp giấy hồng.

Cũng khoảng thời gian này, nảy sinh thực trạng phổ biến là sự buông lỏng quản lý về nhà, đất thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị của Nhà nước gây ra bất hợp lý, lãng phí, sử dụng không đúng mục đích tài sản Nhà nước. Do vậy, để tăng cường, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức trong việc bảo tồn quỹ đất, công trình trụ sở cơ quan, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhà làm việc của các cơ quan hành chính sự nghiệp kèm theo Quyết định 399TC/QLCS ngày 17/5/1995. Những năm tiếp theo, Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 về quản lý tài sản nhà nước, mở rộng đối tượng, quy định các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đều phải đăng ký đất đai, nhà và công trình xây dựng khác gắn liền với đất tại cơ quan quản lý công sản cấp tỉnh. Sau khi đăng ký, các cơ quan, đơn vị, tổ chức sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước. Giấy chứng nhận này do Bộ Tài chính phát hành theo Quyết định 20/1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 và do có màu tím nên thường được gọi là giấy tím.

Như vậy, trước tháng 11/2004, cùng lúc tồn tại cả 3 mẫu GCNQSDĐ hợp pháp do 3 cơ quan khác nhau chịu trách nhiệm phát hành và tổ chức thực hiện cấp cho người sử dụng đất, gồm:

– GCNQSDĐ – giấy đỏ, thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường.

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở – giấy hồng, thuộc ngành Xây dựng.

– Giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà, đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước – giấy tím, thuộc ngành Tài chính.

Với những quy định đó, mỗi một loại giấy chứng nhận được cấp theo một trình tự, thủ tục khác nhau; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất liên quan cũng có ít nhiều khác biệt, đồng thời hoạt động quản lý đất đai của nhà nước đối với từng loại đất và tài sản trên đất cũng bị tách rời, thuộc nhiều cơ quan khác nhau, gây khó khăn trong việc kiểm soát biến động đất đai. Do đó, một số thành phố trực thuộc Trung ương (như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) đã có sáng kiến sáp nhập hai Sở Địa chính và Nhà đất thành Sở Địa chính – Nhà đất, và cơ quan này chỉ cấp cho người dân một loại giấy hồng.

Với mong muốn tạo thuận tiện cho người sử dụng đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thống nhất việc quản lý đất đai và tài sản gắn liền với đất, không phụ thuộc loại đất, mục đích sử dụng đất, đến Luật Đất đai 2003 (được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004) quy định về GCNQSDĐ đã có sự thay đổi cơ bản.

Khoản 4 Điều 48 Luật Đất đai 2003 quy định: “GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất. Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên GCNQSDĐ; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản”. Người đã được cấp giấy đỏ hoặc giấy hồng sẽ được đổi sang giấy mới khi có sự chuyển quyền sử dụng đất. Và theo Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành quy định về GCNQSDĐ thì mẫu giấy chứng nhận này cũng có màu đỏ. Như vậy, một sản phẩm giấy đỏ mới đã ra đời theo Luật Đất đai 2003 thay thế cho ba loại giấy tờ đỏ, hồng, tím hợp pháp đang tồn tại, thống nhất chung một giấy chứng nhận cho mọi loại đất và cả tài sản trên đất. Người dân chưa kịp vui mừng vì thủ tục hành chính trong cấp GCNQSDĐ có thể sẽ đơn giản hơn thì thực tiễn áp dụng lại nảy sinh không ít vướng mắc.

Thứ nhất, số lượng GCNQSDĐ mà một người sử dụng đất phải cất giữ sẽ tăng lên. Đối với người sử dụng một diện tích đất bao gồm nhiều thửa, nếu trước đây, họ chỉ cần một giấy đỏ cũ (mỗi giấy chứng nhận được ghi nhiều thửa4), thì nay, mỗi một thửa đất phải cấp riêng một giấy, bao nhiêu thửa đất là bấy nhiêu giấy đỏ mới (GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất5), kéo theo đó là thời gian, công sức đo vẽ thực địa, đối chiếu, xác minh hồ sơ, bản đồ địa chính tăng lên.

Thứ hai, người sử dụng đất từ chỗ được thừa nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất, có thể sẽ chỉ còn quyền sử dụng đất sau khi được cấp giấy đỏ mới do việc chuyển quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, giấy đỏ mới chỉ ghi nhận tài sản trên đất chứ không công nhận quyền sở hữu. Muốn xác lập quyền sở hữu, chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản6.

Chính sự mập mờ, không rõ ràng của thuật ngữ pháp lý tại Điều 48 Luật Đất đai 2003 đã gây lúng túng cho các cơ quan cấp giấy trong việc xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất cho người sử dụng đất. Việc “ghi nhận” có phải là công nhận sở hữu hay không? Điều này đã dẫn đến sự tranh chấp giữa các cơ quan quản lý có thẩm quyền liên quan, cụ thể là giữa Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường về vấn đề thừa nhận quyền sở hữu tài sản. Hệ quả của cuộc tranh cãi “bất phân thắng bại” là một sản phẩm giấy chứng nhận mới nữa lại tiếp tục ra đời. Đó là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng do Bộ Xây dựng phát hành theo Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ. Sự việc dường như quay trở lại thời điểm ban đầu với sự tồn tại song song hai giấy chứng nhận: giấy hồng và giấy đỏ. Thế nhưng, một làn sóng ý kiến phản đối mạnh mẽ từ công luận đã dấy lên thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cho thấy sự việc không đơn giản. Nếu giấy hồng cũ thừa nhận chung cho cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thì giấy hồng mới lại bỏ đi quyền sử dụng đất mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng. Nghĩa là cùng một diện tích đất có tài sản gắn liền, nếu trước đây chỉ cần một giấy hồng cũ, thì nay để công nhận cần phải có hai giấy chứng nhận: một giấy hồng mới chứng nhận quyền sở hữu tài sản và một giấy đỏ mới chứng nhận quyền sử dụng đất. Một số rắc rối cũng nảy sinh từ đấy.

Thứ nhất, đối tượng áp dụng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng được quy định rõ là tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài7, nhưng không có hộ gia đình, dù đây là một trong những chủ thể sử dụng đất được thừa nhận, đồng thời cũng là chủ sở hữu của tài sản mà các thành viên trong hộ cùng tạo lập trên đất. Như vậy, quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của hộ gia đình có được đảm bảo hay không; hay là xem việc sở hữu nhà, sở hữu công trình xây dựng của hộ gia đình thuộc trường hợp sở hữu của nhiều chủ sở hữu như quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 95? Trong trường hợp như thế, mỗi thành viên trong hộ đều được cấp riêng một giấy hồng hay chỉ cần chung một giấy; và giấy này có thể hiện được nhà ở hoặc công trình xây dựng đó là tài sản chung hợp nhất hay theo phần hay không nhằm phân định rõ quyền định đoạt tài sản của mỗi thành viên? Đây cũng là vấn đề mà quy định về giấy hồng chưa giải quyết được đối với trường hợp sở hữu của nhiều chủ sở hữu.

Thứ hai, theo quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng, khi nộp hồ sơ, chủ sở hữu phải xuất trình giấy tờ gốc về nhà ở, công trình xây dựng để cán

bộ có thẩm quyền đối chiếu với các bản sao8. Tuy nhiên, đây là điều rất khó thực hiện đối với những chủ sở hữu tài sản đã làm thủ tục xét cấp GCNQSDĐ trước khi làn thủ tục để được cấp giấy hồng. Nguyên nhân là khi cấp giấy đỏ cho người sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền cũng đã đồng thời thu giữ toàn bộ giấy tờ nhà bản chính thì làm sao họ có thể xuất trình được các giấy tờ này?

Thứ ba, hai loại giấy chứng nhận với hai quy định về trình tự, thủ tục cấp giấy tiến hành ở hai hệ thống cơ quan quản lý khác nhau liệu có phải đã là một sự cải cách thủ tục hành chính tạo thuận tiện và đơn giản hơn cho người dân? Hầu như ai cũng biết người sử dụng đất trước đây đã phải tốn công sức, tiền của để có trong tay mảnh giấy chứng nhận đỏ hoặc hồng, thậm chí có người phải chờ đợi hàng chục năm cũng chưa được cấp.

Vì vậy, việc họ “dị ứng” khi nghe nói đến phải trải qua hai lần thủ tục khác nhau là lẽ đương nhiên. Bởi vì, mặc dù quy định pháp luật đã “cố hết sức” tỏ ra đơn giản; các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền hùng hồn tuyên bố sẽ tạo điều kiện thuận tiện, dễ dàng cho dân, nhưng có ai dám bảo đảm và kiển tra được những cán bộ thừa hành không cố tình đặt ra các quy định, đòi hỏi ngoài lề; không cố tình tạo ra rắc rối, phức tạp, gây khó dễ để mà nhũng nhiễu, hạch sách người xin cấp giấy?

Thứ tư, đất đai và nhà ở, công trình xây dựng là những bất động sản không thể tách rời nhau nhưng thực tế lại bị tách rời bởi ý chí của nhà quản lý. Khác nào chính cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trước hết, đã tự làm khó cho hoạt động quản lý của mình khi mà trong điều kiện hiện nay, việc cung cấp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan chưa có cơ chế ràng buộc rõ ràng, thuận tiện và nhanh chóng. Giả sử, một người có cả giấy đỏ lẫn giấy hồng, họ vừa thế chấp nhà bằng giấy hồng vừa chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy đỏ; hoặc thế chấp hai giấy chứng nhận tại hai tổ chức tín dụng khác nhau thì cơ quan quản lý giải quyết thế nào? Quyền lợi của người nhận chuyển nhượng hoặc của tổ chức tín dụng khi tài sản bị phát mại được đảm bảo ra sao? Bởi lẽ, không thể tách ra giải quyết riêng nhà và đất, và cũng không thể nào ngăn cấm người có hai giấy chứng nhận thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình.

Mặc dù có nhiều điểm không phù hợp yêu cầu cuộc sống trong quy định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng đã được dư luận phản ánh nhưng Bộ Xây dựng vẫn “tích cực” thúc đẩy việc cấp giấy hồng như: nhanh chóng ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 95/2005/NĐ-CP9, phổ biến, hướng dẫn các địa phương trong thủ tục cấp giấy, v.v. Tuy nhiên, đổi lại là sự dè dặt, ngần ngại áp dụng của hầu hết các địa phương. Thậm chí, có nơi (như Đà Nẵng) không chấp nhận việc cấp giấy hồng bởi cơ quan quản lý có thẩm quyền đã linh động thừa nhận quyền sở hữu tài sản trên đất cho người sử dụng đất ngay trong giấy đỏ. Việc làm này được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo người dân.

Vào thời điểm vấn đề hai giấy chứng nhận chưa được giải quyết, thực hiện triệt để, dư luận chỉ mới tạm lắng xuống thì một cơ quan quản lý khác là Bộ Tư pháp, thông qua dự thảo Luật Đăng ký bất động sản, đã dự định cho ban hành một mẫu giấy mới thay thế cho cả giấy đỏ và giấy hồng đang tranh chấp. Theo dự thảo Luật Đăng ký bất động sản, khi đăng ký quyền sở hữu bất động sản của mình tại Văn phòng đăng ký bất động sản, chủ sở hữu sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký bất động sản và dùng giấy này để tham gia giao dịch. Vì chưa định hình mẫu giấy nên tạm gọi là giấy xanh để phân biệt với những sắc màu đỏ, hồng sẵn có (nghĩa là giấy đỏ hay giấy hồng thì cuối cùng rồi cũng phải đổi thành giấy xanh) Tuy chỉ là dự thảo góp ý nhưng quy định này còn bất cập hơn, gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ từ dư luận bởi nó chẳng những không giải quyết được vấn đề mà còn làm cho việc cấp giấy thêm rắc rối, phức tạp, thậm chí có thể trở thành vô nghĩa bởi vì hai lý do sau đây.

Thứ nhất, mục đích của việc đăng ký bất động sản là nhằm công khai thông tin về bất động sản đó trên thị trường, đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia giao dịch. Hành vi đăng ký không thể xem là hành vi xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng và hoạt động tiếp nhận đăng ký không thể thay thế cho hoạt động công nhận quyền sở hữu một tài sản hay quyền sử dụng đất. Theo quy định của khoản 1 Điều 48 Luật Đất đai 2003: “chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản”. Như vậy, chỉ có chủ sở hữu mới có thể thực hiện hành vi đăng ký, nghĩa là người có tài sản đã được Nhà nước công nhận quyền sở hữu của họ đối với tài sản đó trước khi thực hiện hành vi đăng ký bất động sản. Hơn nữa, việc xác lập, công nhận quyền sở hữu là công việc thuộc chức năng, thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước chứ không thể là chức năng, thẩm quyền của Văn phòng đăng ký bất động sản – một loại hình tổ chức thực hiện dịch vụ công.

Thứ hai, nếu phải đổi sang giấy xanh để được đưa vào giao dịch thì hàng triệu giấy hồng, giấy đỏ đã được cấp sẽ chẳng có giá trị, nghĩa lý gì. Người có nhu cầu sẽ không quan tâm tới việc làm thủ tục để được nhận giấy đỏ, giấy hồng bởi vì cuối cùng thì họ cũng phải đổi giấy xanh. Bao nhiêu thời gian, nhân lực và tiền bạc mà Nhà nước và nhân dân đã bỏ ra trong thời gian qua cho việc cấp giấy đỏ, giấy hồng là hoàn toàn lãng phí. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỉ lệ đất trong cả nước có giấy tờ hợp pháp đến tháng 6/2005 là 97% đối với đất nông nghiệp, 75% đối với đất lâm nghiệp, 45% đối với đất ở đô thị10. Có 26 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ nông nghiệp; 15 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp; 10 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ ở đô thị; 20 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp GCNQSDĐ ở nông thôn; có năm tỉnh là Đà Nẵng, Long An, Bắc Ninh, Hậu Giang và Sóc Trăng hoàn thành cấp GCNQSDĐ cho tất cả các loại đất11. Việc cấp giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước nhìn chung chưa thực hiện được. Theo đó, chọn lựa nào là hợp lý giữa một hệ thống GCNQSDĐ đã được xây dựng khá ổn định, lâu dài (dù còn phải cải tiến nhiều) với việc phủ nhận tất cả để xây dựng một hệ thống giấy chứng nhận hoàn toàn mới mà mô hình của nó còn chưa rõ ràng, nó mới đang được mày mò trong áp dụng? Theo chúng tôi, việc chọn lựa khôn ngoan và đơn giản hơn cả là tiếp tục hoàn thiện việc cấp giấy đỏ, giấy hồng và chỉ cần chỉnh lý những biến động (nếu có) trực tiếp vào trong giấy.

Vì thế, quy định về đăng ký bất động sản tạm thời vẫn còn phải tiếp tục được nghiên cứu, chưa thể trở thành quy phạm pháp luật áp dụng vào cuộc sống. Vấn đề một hay hai giấy chứng nhận đối với nhà và đất vẫn còn phải chờ sự quyết định của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho toàn thể nguyện vọng của nhân dân. Từ ngày 01/7/2006 trở đi, khi Luật Nhà ở có hiệu lực, sẽ chỉ còn thống nhất một giấy chứng nhận cho cả nhà và đất (có thể là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở12). Những điều trên cho thấy những quy định không được cuộc sống chấp nhận sẽ không thể tồn tại và phải nhường chỗ cho những quy định phù hợp hơn được khai sinh và phát triển.

3. Bài học từ quy định mẫu GCNQSDĐ

Từ thực tế cấp các loại GCNQSDĐ diễn ra trong thời gian qua, có thể rút ra được nhiều điều.

Thứ nhất, chúng ta không thể phủ nhận mong muốn tốt đẹp cải cách hành chính trong việc cấp GCNQSDĐ của các cơ quan quản lý. Từ một “rừng” giấy chứng nhận đỏ, hồng, tím hoặc những giấy tờ hợp lệ ở từng thời điểm khác nhau trước đây, thống nhất lại chỉ còn một hoặc hai loại giấy là điều đáng mừng. Thế nhưng, dường như ở các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa xác định rõ được cái gốc của vấn đề, chưa có sự phối kết hợp trong thực hiện nên càng tiến hành cải cách càng bước lùi lại xa hơn mốc ban đầu để rồi cứ hết cơ quan này lại đến cơ quan khác loay hoay sửa đổi; cuối cùng vẫn gần như trở lại điểm xuất phát: giấy đỏ cho quyền sử dụng đất, giấy hồng (tạm gọi) cho cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của mà Nhà nước và nhân dân đã tiêu tốn nhưng mục tiêu hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được giải quyết, càng ngày càng gặp phải nhiều khó khăn hơn. Hậu quả là nguồn kinh phí Nhà nước phải chi cho những giấy đỏ, giấy hồng cũ đã in phải bỏ, cho bộ máy nhân sự triển khai cấp giấy đỏ, giấy hồng, cho mẫu giấy hồng mới vừa in có thể sẽ bị hủy để thay thế bằng giấy chứng nhận theo Luật Nhà ở, v.v rất lớn; đó là chưa kể tới tác động về mặt xã hội: gây hoang mang, bất ổn cho người sử dụng đất trước sự bất nhất của các cơ quan quản lý.

Ở đây, khách quan mà nói, có cần thiết phải ban hành hai mẫu giấy chứng nhận cho đất và cho nhà với đất hay không? Đất là loại bất động sản cố định, không có sự di chuyển dù quyền đối với đất có thể đưa vào giao dịch. Còn nhà, tuy là tài sản gắn liền trên đất nhưng vẫn có thể dịch chuyển được; kết cấu, hình thể của nó có thể thường thay đổi theo nhu cầu, sở thích của người sở hữu. Với giấy hồng cho nhà và đất thì khi nhà có sự thay đổi phải thay đổi luôn cả giấy chứng nhận, làm lại hồ sơ. Trong khi đó, với giấy đỏ mới thì chỉ cần ghi nhận, bổ sung sự thay đổi đó trong giấy, kết hợp với việc đăng ký biến động quyền thì đối với cả Nhà nước lẫn người dân đều đỡ phải tốn công sức, thời gian làm thủ tục. Như vậy, so với việc loay hoay nghiên cứu, ban hành rồi lại thay thế mẫu giấy cho phù hợp (nhưng lại tiến hành theo kiểu “gọt chân cho vừa giày”) thì việc nghiên cứu cải tiến nội dung GCNQSDĐ thể hiện được sự thừa nhận quyền sở hữu tài sản trên đất là điều đơn giản hơn, đồng thời cũng giảm đáng kể nguồn kinh phí. Quan trọng là các cơ quan có thẩm quyền cần xác định rõ mục đích của việc cải tiến này là nhằm thuận tiện hơn cho công tác quản lý chứ không phải là vấn đề tranh chấp quyền quản lý, bớt quyền của cơ quan này, tăng quyền cho cơ quan khác.

Thứ hai, ba cơ quan Tài nguyên – Môi trường, Xây dựng và Tư pháp với ba loại giấy chứng nhận cùng với những quy định, lý lẽ bảo vệ mẫu giấy của mình khác nhau, nhưng các cơ quan này đều giống nhau ở một điểm mà tác giả Diệp Văn Sơn đã nêu trên Báo Tuổi trẻ ngày 11/7/2005 là tư duy quản lý lỗi thời, ăn cây nào rào cây nấy. Bộ Tài nguyên và Môi trường gom công việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở vốn dĩ trước đây thuộc ngành xây dựng vào lĩnh vực quản lý của mình. Bộ Xây dựng thì tìm mọi cách giữ lại công việc đó. Bộ Tư pháp là người thứ ba, bất chấp sự tranh chấp đang diễn ra, cũng tìm cách ôm việc. Ba cơ quan trên không mấy quan tâm đến việc phối hợp với nhau trong việc cùng giải quyết một vấn đề hữu quan. Và cho dù họ có tuyên bố các quy định, thủ tục của ngành mình thuận lợi, đơn giản đến đâu thì chính sự không phối hợp này đã chẳng thể nào che giấu được sự tranh chấp ngầm công việc gắn liền với những quyền lợi nhất định giữa họ với nhau. Bản chất của vấn đề là cơ quan nào cũng chỉ muốn kéo quyền lợi về phía mình. Chính vì vậy, khi được giao trọng trách quy định điều chỉnh một vấn đề rất chung, khó tách rời là nhà và đất (kể cả tài sản gắn liền trên đất), cả ba ngành đều không cùng chí hướng với nhau, cuối cùng gây khổ cho người dân. Nếu ngay từ đầu cả ba cơ quan có thể gạt bỏ những quyền lợi riêng ngành mà ngồi lại cùng trao đổi với nhau thì sự việc có lẽ sẽ thuận lợi, đơn giản hơn nhiều, không đến mức độ phải liên tục thay đổi làm cho người sử dụng đất hoang mang. Vì lẽ đó cần phải xem lại cách làm luật hiện nay; chúng ta không nên chỉ giao cho cơ quan quản lý lĩnh vực nào thì soạn thảo quy định điều chỉnh quan hệ của lĩnh vực đó. Đối với những vấn đề chung có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý cần phải có một ban soạn thảo chung giữa các cơ quan. Đã đến lúc phải xem xét đến một cơ quan chuyên trách cho hoạt động lập pháp sau này. Nếu không, phải có quy định ràng buộc, xử lý trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan phụ trách soạn thảo luật nhằm nậng cao sự trao đổi, thống nhất, đảm bảo tính khả thi của luật pháp. Bởi lẽ kinh phí cho mỗi dự luật, mỗi lần sửa đổi, bổ sung mà ngân sách nhà nước phải chi là không ít; trách nhiệm không rõ ràng thì việc luật được soạn thảo, ban hành vẫn không phù hợp và vẫn cứ phải thay đổi, bổ sung là lẽ đương nhiên.

Thứ ba, hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất là điều đáng hoan nghênh, nhưng trong giai đoạn hiện nay, hoạt động này có phải là quan trọng nhất, cần đặt ưu tiên, để rồi cứ tranh cãi hết mẫu giấy này đến mẫu giấy khác? Thực tế đã chứng minh, dù hàng năm Chính phủ đều đề ra chỉ tiêu, kế hoạch cấp GCNQSDĐ; dù công tác cấp giấy có được cải tiến như thế nào đi nữa thì hầu hết các địa phương đều không thể hoàn thành. Nguyên nhân là: để tiến hành cấp GCNQSDĐ thì điều kiện đòi hỏi là việc sử dụng đất phải phù hợp quy hoạch, có bản đồ địa chính; nhưng cả quy hoạch sử dụng đất, cụ thể là quy hoạch sử dụng đất chi tiết lẫn hệ thống bản đồ địa chính tại các địa phương vẫn chưa được hoàn thiện, phủ kín địa bàn. Nơi có thì đã lạc hậu, nhiều sai lệch, không kịp thời cập nhật. Nơi thì thiếu, thậm chí chưa có. Vì vậy, các địa phương không thể tiến hành cấp GCNQSDĐ một cách đại trà mà chỉ có thể xem xét cấp cho từng trường hợp theo nhu cầu, nhưng vẫn phải mất thời gian xác minh, đo vẽ lại. Thiết nghĩ, vấn đề quan trọng hiện nay là Nhà nước và chính quyền các địa phương cần tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính và quy hoạch sử dụng đất làm nền tảng cho việc cấp GCNQSDĐ có thể triển khai nhanh chóng hơn là cứ mất thời gian cho việc tranh cãi về các loại giấy, thẩm quyền. Vả lại, đối với người sử dụng đất, thực chất GCNQSDĐ hay quyền sở hữu nhà ở chỉ là một văn bản pháp quy mà họ mong mỏi có trong tay để an tâm về quyền sử dụng đất hay quyền sở hữu tài sản của mình, để chắc rằng Nhà nước đã thừa nhận và bảo vệ quyền của họ. Người sử dụng đất chưa có GCNQSDĐ thì không có nghĩa họ không phải là người sử dụng đất hợp pháp. Quan hệ pháp luật đất đai vẫn đã phát sinh và Nhà nước vẫn đã thừa nhận tư cách của người sử dụng đất trước cả thời điểm họ được cấp giấy chứng nhận bằng những quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, bằng những giấy tờ hợp lệ chứng minh, bằng sự công nhận việc người sử dụng đất nhận quyền hợp pháp từ người khác. Cấp GCNQSDĐ chỉ là việc tiến hành thủ tục cấp đổi mà thôi.

Thứ tư, Luật Nhà ở sẽ có hiệu lực vào ngày 01/7/2006, quy định chỉ cần một giấy chứng nhận cho cả nhà và đất. Vì vậy, đối với người sử dụng đất, để tránh bị tốn công sức, tiền bạc, thời gian làm đi làm lại giấy, nếu chưa thực sự cần thiết thì nên chờ cho đến khi cơ quan có thẩm quyền quy định, ban hành và triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thống nhất theo Luật Nhà ở hãy tiến hành làm thủ tục xin cấp giấy.

Chú thích:

1 Xem quy định về việc cấp GCNQSDĐ ban hành kèm Quyết định 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất.

2 Xem điểm e khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai 2003.

3 Xem khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai 2003.

4 Xem Mục III.3, Phần I Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ.

5 Xem khoản 3 Điều 48 Luật Đất đai 2003.

6 Xem khoản 1 Điều 48 Luật Đất đai 2003.

7 Xem Điều 2 Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005.

8 Xem Điều 12 Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005.

9 Thông tư 13/2005/TT-BXD ngày 05/8/2005.

10 Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh ngày 29/6/2005.

11 Theo báo Thị trường bất động sản và tài sản ngày 22/7/2005.

12 Xem Điều 11 Luật Nhà ở được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2006

THỦ TỤC TUYÊN BỐ PHÁ SẢN

Đối tượng áp dụng:

Thẩm quyền của tòa án

Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhận đơn và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh thành phố.

Toà án nhân dân huyện, quận có thẩm quyền nhận đơn và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện, quận đó.

Những người có quyền nộp đơn

–   Chủ nợ

–   Ngư­ời lao động trong trư­ờng hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả đ­ược l­ương, các khoản nợ khác cho ngư­ời lao động

–   Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nư­ớc

–   Các cổ đông công ty cổ phần

–   Thành viên hợp danh công ty hợp danh.

Những người có nghĩa vụ nộp đơn:

– Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

▪ Hồ sơ cần thiết:

I. Người nộp đơn là chủ nợ

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của ng­ời làm đơn;

c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

d) Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không đ­ợc doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;

đ) Quá trình đòi nợ;

e) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

II. Người nộp đơn là người lao động

1. Đại diện cho ng­ười lao động đ­ược cử hợp pháp sau khi đ­ược quá nửa số ng­ười lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diện cho ng­ười lao động đ­ược cử hợp pháp phải đựơc quá nửa số người được cử làm đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của ng­ừơi làm đơn;

c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

d) Số tháng nợ tiền l­ương, tổng số tiền l­ương và các khoản nợ khác mà doanh nghiệp, hợp tác xã không trả đ­ược cho ng­ười lao động;

đ) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

III. Người nộp đơn là doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;

c) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải đ­ược gửi cho Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 7 của Luật phá sản.

4. Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài liệu sau đây:

a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải đ­ựơc tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận;

b) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, nhưng vẫn không khắc phục đ­ược tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;

c) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có tài sản nhìn thấy đư­ợc (mẫu 1);

d) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ ch­ưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm (mẫu 2);

đ) Danh sách những ng­ươì mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chư­a đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm (mẫu 3);

e) Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh nghiệp;

g) Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải cung cấp theo quy định của pháp luật.

IV. Người nộp đơn là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước

1. Khi nhận thấy doanh nghiệp nhà n­ước lâm vào tình trạng phá sản mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đu­ợc thực hiện như mục III trên đây.

V. Người nộp đơn là các cổ đông công ty cổ phần

1. Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn đ­ược thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông. Tr­ường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành đ­ược đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đ­ược thực hiện như mục III, trừ các giấy tờ, tài liệu điểm d, đ và e .

VI. Người nộp đơn là thành viên công ty hợp danh

1. Khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản thì thành viên hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó.

2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đ­ợc thực hiện như mục III.

▪ Thời gian giải quyết:

– Ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản: 30 ngày kể từ ngày toà án thụ lý hồ sơ.

– Niêm yết danh sách chủ nợ, người mắc nợ: 60 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản.

– Khiếu nại và giải quyết khiếu nại danh sách chủ nợ: 15 ngày kể từ ngày niêm yết.

– Hội nghị chủ nợ: 15 ngày kể từ ngày khoá sổ danh sách chủ nợ.

▪ Địa điểm tiếp nhận:
– Tổ thụ lý, Văn phòng TAND ĐỊA PHƯƠNG

OAN SAI TRONG TỐ TỤNG – NGUYÊN TẮC, THỦ TỤC BỒI THƯỜNG

LÊ THỊ MẬN –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

“Oan sai” là khái niệm không mới với hoạt động tố tụng. “Bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai” cũng là thuật ngữ quen thuộc trong nhà nước pháp quyền, biểu hiện của công bằng xã hội, cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hiện nay, bồi thường oan sai không phải là sự áp đặt hoặc sao chép máy móc tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác mà phải được thực hiện theo thông lệ hay trên cơ sở những định chế toàn diện – hệ thống, vừa đầy đủ nguyên tắc của việc bồi thường, vừa đảm bảo tuân theo một trình tự thủ tục chặt chẽ nhất định.

1. Oan, sai và quyền được bồi thường oan sai trong tố tụng

Theo Từ điển tiếng Việt, “oan” là “bị qui cho tội mà bản thân không phạm, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân không đáng phải chịu”. Còn “sai” được hiểu là “không đúng, không phù hợp với lẽ phải”1. Trong tố tụng hình sự, một người được coi là “oan” khi bản thân họ không phạm tội nhưng các cơ quan tư pháp xác định họ phạm tội và thực hiện các biện pháp tố tụng gây tổn hại về mặt vật chất, tinh thần với họ. Còn “sai” trong tố tụng thường thể hiện qua nhiều cấp độ. Người được coi là bị truy tố xét xử sai khi cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án thiếu khách quan mà hậu quả cuối cùng là người bị truy tố xét xử sai phải gánh chịu những tổn hại nhất định. Việc tiên lượng đánh giá bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra vì vậy cần có sự cân nhắc. Tuy nhiên, điều ai cũng biết là oan, sai không phải là hiện tượng cá biệt. Mọi quốc gia, mọi nơi trên thế giới này, đâu cũng có oan, sai – cho dù nền tư pháp của một nước yếu kém hay phát triển. Bởi theo như đánh giá của giới chuyên môn thì “không một thiết chế nào của con người có thể miễn dịch hoàn toàn với sai lầm. Vì rằng sai lầm nằm trong bản tính con người” 2.

Thật vậy, cho dù câu nói “Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai” của người xưa vẫn còn đó với ngụ ý vẻ như ở đời thật khó có chỗ cho hai chữ “oan, sai”. Thế nhưng“oan, sai” vẫn song hành trên “con đường tố tụng”. Và để bù đắp thiệt hại oan, sai, Điều 9 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, khoản 6 Điều 14 Công ước Dân sự chính trị nêu rõ: “Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ và giam cầm trái phép có quyền được Chính phủ bồi thường thiệt hại”. Xuất phát từ cơ sở kinh tế, đặc điểm xã hội và từ những cách tiếp cận khác nhau, nhiều quốc gia cũng đưa ra các thể chế bảo vệ quyền được bồi thường phát sinh trong hoạt động tố tụng. Ở một số nước theo hệ thống thông luật như Anh, Mỹ, dù việc bồi thường oan, sai không được pháp điển hoá bằng văn bản cụ thể song vẫn được thực hiện trên cơ sở án lệ hay từ cam kết của cơ quan có thẩm quyền (Ví dụ: căn cứ vào cam kết của Bộ trưởng Bộ nội vụ trước Hạ viện Anh từ năm 1985, người bị giam giữ oan, sai ở Anh hiện vẫn có thể kiện đòi bồi thường). Mới đây, tháng 5/2005, báo VnExpress lại đưa tin một công dân Trung Quốc vừa đệ đơn đòi cơ quan chức năng phải chính thức xin lỗi và bồi thường cho 11 năm ngồi tù của mình. Theo luật định, người từng chịu oan ức này có thể được khôi phục tinh thần và được bù đắp vật chất khoảng 256.000 NDT. Tại Nhật Bản, bồi thường thiệt hại do oan, sai được xét trên cả hai yếu tố: vật chất lẫn tinh thần. Tòa án khi quyết định mức bồi thường phải “xem xét tính chất và thời gian người được bồi thường thiệt hại bị giam giữ; những thiệt hại về tài sản, về lợi ích kinh tế; những tổn thương về thể chất và tinh thần” (khoản 4 Điều 4 Luật Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự Nhật Bản).

Cách đây gần 6 thế kỷ, nguyên tắc điều tra xét xử tránh gây oan, sai đã được quy định trong pháp luật nước ta. Điều 667 Bộ luật Hồng Đức nêu rõ: “Khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải xem xét kỹ tìm ra sự thật, để cho kẻ phạm phải nhận tội, không được hỏi quá rộng đến cả người ngoài để tìm chứng cứ bậy”. Còn “quan xét án… tìm việc khác để buộc tội người thì xử là cố ý bắt tội người” (Điều 670). Cũng theo Bộ luật Hồng Đức, “Những quan ty làm việc có điều lầm lỗi, sự tình đã rõ ràng mà không chịu phục tình tạ lỗi, lại còn dối trá che đậy, xét tội nhẹ thì thì xử biếm hay tội đồ, nặng thì xử lưu” (Điều 237). Kế thừa và phát huy tư tưởng văn minh đó, pháp luật hiện đại tiếp tục xây dựng những nguyên tắc tiến bộ nhằm bảo đảm quyền được bồi thường do hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra. Điều 72 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Người bị bắt, bị giam giữ, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”. Trong tố tụng hình sự, quyền được bồi thường cho người bị truy tố, xét xử oan cũng được ghi nhận bằng nguyên tắc độc lập. Theo đó, “người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi” (Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự). Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng nêu rõ: cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và có quyền yêu cầu người đã gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường.Đặc biệt, Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17/03/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (gọi tắt là Nghị quyết 388) và Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/03/2004 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thi hành một số qui định của Nghị quyết 388 (gọi tắt là Thông tư 01) ra đời đánh dấu thêm bước tiến mới trong lý luận bồi thường thiệt hại. Đối tượng được bồi thường, tiêu chí xác định thiệt hại và mức bồi thường, kinh phí, cơ quan có trách nhiệm bồi thường và đặc biệt là nguyên tắc và trình tự thủ tục bồi thường được qui định cụ thể theo hướng bảo đảm quyền con người, thể hiện ngày một đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước trước công dân.

2. Nguyên tắc, thủ tục bồi thường thiệt hại

2.1 Nguyên tắc bồi thường

Nghiên cứu án lệ và văn bản pháp luật các nước có thể thấy giới hạn thiệt hại bồi thường do hoạt động tố tụng gây ra đa phần được xác định gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Gần đây, do tính bất hợp lý của nguyên tắc “miễn trừ quốc gia” – nguyên tắc có nội dung xác định nhà nước không phải là bị đơn trong vụ kiện yêu cầu bồi thường do hành vi của nhân viên mình gây ra khi thi hành công vụ – ngày càng ít được vận dụng. Thay vào đó, “Thuyết trách nhiệm đại diện” được nhiều nước lưu tâm. Theo đó nhân viên nhà nước khi thực hiện chức phận của mình mà gây tổn hại thì phải chịu trách nhiệm bồi hoàn. Tuy nhiên, nhà nước được coi là chủ thể “đại diện” đứng ra chi trả bồi thường sau đó yêu cầu người trực tiếp gây tổn hại hoàn trả. Mục đích của qui định này nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền, nâng cao trách nhiệm, phát huy tính tích cực chủ động của cá nhân đồng thời bảo đảm cho việc giải quyết bồi thường kịp thời, nhanh chóng.

Ở nước ta, bồi thường thiệt hại cho người bị oan cũng xuất phát từ nguyên tắc và ý nghĩa đó. Theo Điều 3 Nghị quyết 388 và khoản 1 mục 3 Thông tư liên tịch 01 thì bồi thường thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra phải đảm bảo các tiêu chí :

– Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;

– Tạo điều kiện thuận lợi để người bị oan, thân nhân người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền được bồi thường của mình;

– Việc bồi thường trước hết phải được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị oan, thân nhân người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ. Khi thương lượng không thành, người bị oan có quyền khởi kiện ra tòa để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự;

– Cơ quan tố tụng nào gây oan thì cơ quan đó có trách nhiệm chủ động giải quyết bồi thường. Kinh phí bồi thường trích từ ngân sách nhà nước và người trực tiếp gây thiệt hại phải có nghĩa vụ hoàn trả;

– Bảo đảm bồi thường toàn bộ thiệt hại theo luật định, bao gồm cả thiệt hại vật chất lẫn thiệt hại tinh thần. Về tinh thần, người bị oan được khôi phục danh dự, được xin lỗi cải chính công khai. Khi nhân thân bị xâm hại như tự do bị hạn chế, sức khỏe bị tổn hại thì được bồi thường bằng tiền theo mức lương tối thiểu (1 ngày tù bằng 3 ngày lương; người bị oan chết: người thân của họ được bồi thường 360 tháng lương; oan khác: 1 ngày oan bằng 1 ngày lương). Với thiệt hại vật chất thì xác định theo từng trường hợp như khi người bị oan chết, khi người bị oan bị tổn hại sức khỏe, khi tài sản người bị oan bị xâm hại hoặc khi thu nhập thực tế của họ bị mất.

2.2 Trình tự, thủ tục bồi thường

Mỗi một quốc gia trên thế giới có một cách giải quyết bồi thường oan, sai song đa phần trình tự thủ tục bồi thường được xác định theo hướng giản đơn, thời hiệu ngắn. Luật pháp Đức qui định trong thời hạn 6 tháng khi có quyết định hoặc bản án của Tòa, người bị hại có quyền gửi đơn đến Bộ Xã hội yêu cầu giải quyết bồi thường. Và để bảo đảm công bằng, khách quan, luật pháp nhiều nước trao thẩm quyền giải quyết bồi thường do hoạt động tố tụng gây ra cho một cơ quan độc lập.

Ở Bỉ và Tây Ban Nha, cơ quan giải quyết bồi thường thuộc về Bộ tư pháp. Tại Pháp, vấn đề này được tiến hành theo trình tự đặc biệt và thuộc thẩm quyền của Phòng hình sự Tòa phá án. Riêng tại Thụy Điển, Văn phòng bồi thường thiệt hại với gần 10 luật sư, một số cán bộ quản lý và cán bộ giúp việc được thành lập để thực hiện chuyên trách của mình3.

Ở nước ta, cùng với Hiến pháp, các Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự cũng như các văn bản pháp luật hiện hành đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản xác định trình tự thủ tục khôi phục danh dự và thủ tục bồi thường thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra. Phương thức, kinh phí bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường cũng được qui định cụ thể. Nghị định 47/CP ngày 03/05/1997 quy định rõ khi người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu, trong thời hạn 15 ngày, thủ trưởng có thẩm quyền lập Hội đồng xem xét đánh giá và kiến nghị mức bồi thường gửi Thủ trưởng cơ quan tố tụng quyết định. Việc giải quyết bồi thường phải được tiến hành trong thời hạn 45 ngày kể từ khi nhận được đơn yêu cầu. Điều 14, 15, 16 Nghị định cũng nêu rõ người tiến hành tố tụng gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả phí bồi thường cho Nhà nước kể từ ngày có quyết định hoàn trả hoặc trừ dần vào lương với mức không quá 30% và không dưới 10% tổng thu nhập lương và phụ cấp hàng tháng.

Kể từ khi có Nghị quyết 388 và Thông tư liên tịch 01 hướng dẫn thi hành đến nay, trình tự thủ tục giải quyết bồi thường cho người bị oan từng bước được đơn giản hoá, nhiều vụ việc được giải quyết kịp thời, giảm phiền hà cho dân. Theo qui định hiện hành thì kể từ ngày nhận được bản án hoặc quyết định có hiệu lực xác định một người bị oan, trong thời một tháng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành xin lỗi và cải chính công khai trên báo chí (3 số liên tiếp, trừ trường hợp người bị oan yêu cầu không đăng báo, khoản 1 mục V Thông tư 01). Việc bồi thường thiệt hại vật chất trước hết phải được thông qua thương lượng giữa các bên. Và để được bồi thường, người bị oan phải làm đơn yêu cầu, phải trình “các chứng từ hợp lệ về các chi phí hợp lệ, về thu nhập” để cơ quan tố tụng lấy đó làm cơ sở giải quyết bồi thường.

3. Vướng mắc trong quá trình áp dụng và hướng tháo gỡ

Không thể phủ nhận ý nghĩa tích cực và sự chuyển biến khả quan của việc áp dụng các nguyên tắc, thủ tục bồi thường cho người bị oan trong thực tiễn. Những lời xin lỗi đã đến với dân, những giá trị vật chất được đền bù… bù đắp phần nào những tổn thất mà nhiều người bao năm gánh chịu.

Tuy nhiên, một thực tế rõ ràng là lý luận cũng như thực tiễn bồi thường thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra đã đang bộc lộ nhiều bất cập. Từ khi có Nghị quyết 388 về bồi thường cho người bị oan và Thông tư 01 hướng dẫn thi hành đến nay, việc giải quyết bồi hoàn chủ yếu mới dừng ở việc công khai xin lỗi khôi phục danh dự, còn bồi thường vật chất vẫn gặp nhiều khó khăn. Thương thuyết bồi thường hiện còn nhiều trở lực. Chất lượng, tốc độ bồi thường hạn chế. Báo cáo của ngành tư pháp tại phiên họp thứ 6 Quốc hội khóa XI cho thấy chỉ riêng năm 2004, Công an đã đình chỉ điều tra 950 vụ với 1.262 bị can (có 125 bị can không phạm tội). Cơ quan công tố đình chỉ điều tra 665 vụ với 1.394 bị can (có 108 bị can không phạm tội). Riêng ngành Tòa án từ 01/10/2003 đến 31/8/2004 đã có tới 8.500 bản án hoặc quyết định bị sửa, hơn 2.000 bản án, quyết định bị huỷ. Song điều nghịch lý là tính đến cuối năm 2004, Tòa án các cấp mới nhận được 28 đơn yêu cầu bồi thường, hòa giải thành 9 trường hợp, bồi thường 631 triệu đồng. Còn với Viện kiểm sát, trả lời phỏng vấn báo giới nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập ngành mới đây, Viện trưởng Viện KSNDTC Hà Mạnh Trí cho biết tính đến nay (cuối tháng 7/2005), Viện kiểm sát các cấp mới nhận 53 đơn yêu cầu bồi thường, xử lý dứt điểm được 33 trường hợp. Rõ ràng là với thực trạng oan, sai chưa có điểm dừng như hiện nay thì những con số trên cho thấy việc khôi phục thiệt thòi cho người bị oan mới đạt ở mức rất khiêm tốn. Đó là chưa kể có không ít trường hợp bị truy tố xét xử sai không được bồi thường vì vấn đề chưa được dự liệu bằng qui phạm cụ thể. Nhiều vụ tiếp tục kéo dài do thương lượng bất thành và các bên lại phải tốn thêm thời gian sức lực cho vụ kiện4 .

Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng? Câu giải đáp trước tiên nằm ở khâu lý luận bồi thường oan, sai. Điều dễ nhận thấy là hiện nay, qui định về nguyên tắc và trình tự thủ tục bồi thường chưa giải quyết hết các đặc thù từng trường hợp oan, sai. Đến nay, Nghị quyết 388 chỉ mới là cơ sở để giải quyết các trường hợp oan, còn những đối tượng bị truy tố xét xử sai hiện vẫn còn “bỏ ngõ”, chưa có văn bản nào cụ thể hóa. Hay như nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả được đặt ra từ lâu nhưng chưa thấy Thông tư 01 hướng dẫn thực hiện. Các chi phí thực tế bồi thường cho người bị oan chưa bao quát, chưa dự liệu đầy đủ (ví dụ phí thăm nuôi người bị oan trong thời gian họ bị tạm giam, tạm giữ; phí thuê luật sư bảo vệ quyền lợi…) gây thiệt thòi cho người bị oan. Bên cạnh đó, tính khách quan trong quá trình bồi thường chưa được đảm bảo do cơ quan giải quyết lại chính là một “mắt xích” trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng. Lại có tình trạng cán bộ, cơ quan tố tụng do lo lắng phải bồi thường nên không thẳng thắn thừa nhận sửa sai, cứng nhắc khi thực hiện bồi thường. Sự thiếu hụt nhân lực cũng như sự hạn chế về chất cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử lý vụ việc5… Tất cả tạo trở lực cho ngành tư pháp và đặt ra những vấn đề nan giải cho việc bồi thường oan, sai.

Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thiện chế định bồi thường, nhất là nguyên tắc thủ tục bồi thường oan, sai cả về lý luận cũng như thực tiễn, thiết nghĩ cần làm tốt các nội dung sau:

– Về nghĩa vụ hoàn trả: Bổ sung và qui định rõ theo hướng cán bộ trực tiếp gây oan, sai sẽ bị xử lý hành chính, hình sự và phải có nghĩa vụ bồi hoàn công quĩ cho Nhà nước tùy tính chất, mức độ sai phạm. Thực ra nguyên tắc này được quy định tại chương 2 Nghị định 47/CP và tại mục 5, Điều 16, 17 Nghị quyết 388. Tuy nhiên vấn đề này chưa được Thông tư 01 hướng dẫn thực hiện đề cập tới. Và trên thực tế, trách nhiệm bồi hoàn hiện vẫn bộc lộ nhiều trì trệ, nếu không nói là nhiều nơi còn buông lỏng. Xác định rạch ròi trách nhiệm bồi hoàn toàn bộ hoặc một phần tài sản và các trách nhiệm khác nếu cótùy thuộc vào mức độ lỗi của người trực tiếp gây tổn hại vừa có ý nghĩa đề cao trách nhiệm cá nhân, vừa góp phần ngăn ngừa oan, sai trong tố tụng.

– Về cơ quan giải quyết bồi thường: Xúc tiến thành lập cơ quan chuyên môn giải quyết bồi thường thiệt hại. Kinh nghiệm một số nước như Thụy Điển, Bỉ, Tây Ban Nha cho thấy việc thương thuyết bồi thường do hoạt động tố tụng gây ra thường do một cơ quan chuyên môn đảm trách. Các cơ quan này vừa quản lý nguồn quỹ bồi thường oan, sai lại vừa có trách nhiệm giải quyết bồi thường xảy ra trong thực tế. Ở nước ta, việc giao cho cơ quan đã gây oan, sai đứng ra thương thuyết bồi thường, trao thẩm quyền giải quyết khiếu kiện bồi thường cho Tòa án như hiện nay – thiết nghĩ – sẽ làm cho nguyên tắc khách quan, minh bạch trong bồi thường “lệch hướng và phải chăng đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nhiều vụ bồi thường thiệt hại kéo dài? Bởi vậy, như quan điểm một số nhà chuyên môn6, chúng tôi cho rằng việc lập cơ quan độc lập với các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử để giải quyết bồi thường cho người bị oan trong điều kiện hiện nay là cần thiết (Riêng cơ quan tố tụng nào gây oan, sai vẫn phải tiến hành thủ tục xin lỗi cải chính và nên chăng hình thành một quỹ bồi thường tại Bộ Tài chính, các Sở Tài chính và giao trách nhiệm thương thuyết, giải quyết bồi thường cho các bộ phận chuyên môn ở những cơ quan này?) vì đây là cơ sở bảo đảm tính công minh, vừa là tiêu chuẩn quyết định hiệu quả giải quyết vụ việc một cách khách quan, hiệu quả.

– Về chứng cứ bồi thường: Cần qui định theo hướng giản đơn, thuận tiện và thực tiễn phải được đánh giá toàn diện, khách quan, có tình có lý, tránh gây thêm thiệt thòi cho người bị hại. Nên chăng không cứng nhắc qui định “Các chứng từ hợp lệ và các khoản chi phí hợp lệ, về thu nhập của người bị oan trước khi bị tạm giam, tạm giữ hoặc chấp hành hình phạt tù” là điều kiện thủ tục “cần phải có” ( theo khoản c, mục 2, phần V Thông tư 01) trong mọi trường hợp giải quyết bồi thường vì rằng trong nhiều trường hợp, thiệt hại thực tế là có thật song do nhiều yếu tố khách quan, người bị oan đã không tìm được chứng cứ theo yêu cầu. Bởi khi đã vướng vào vòng lao lý, chẳng mấy ai còn đủ sáng suốt để biết, để có động thái thu thập, truy tìm, lưu giữ chứng cứ rồi một ngày nào đó lại đưa ra bảo vệ quyền lợi cho chính mình 7. Nên xác định chứng cứ bồi thường theo hướng trên chính là tạo cơ hội và điều kiện tốt nhất để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan trong thực tiễn.

– Đồng thời cần sớm ban hành Luật bồi thường nhà nước theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh oan, sai. Theo đó – cùng với những trường hợp bị oan – các trường hợp bị truy tố xét xử sai phải được cụ thể hóa bằng các qui phạm. Nguyên tắc, thủ tục bồi thường cũng cần được luật hóa theo hướng giản đơn, tạo thuận lợi cho người bị hại. Bổ sung những thiệt hại thực tế nhằm bảo đảm hơn nữa nguyên tắc bồi thường toàn bộ, kịp thời và nhanh chóng. Trong điều kiện hiện nay,

để xây dựng đạo Luật Bồi thường có khả năng đi vào cuộc sống, cần tổng kết thực tiễn và nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới. Vì rằng kinh nghiệm cho thấy giải quyết bồi thường oan sai tại nhiều quốc gia đa phần được thực hiện trên cơ sở đạo luật (chẳng hạn Luật bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự 1959 của Nhật Bản, Luật Nhà nước bồi thường 1995 của Trung Quốc, Luật về bồi thường thiệt hại do tạm giữ, tạm giam oan của Pháp…) và đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm có hiệu quả quyền được bồi thường oan, sai.

Cuối cùng, phải nhanh chóng rà soát, chấn chỉnh và nâng cao năng lực phẩm chất cho cán bộ tư pháp; hiện đại hóa, bảo đảm điều kiện vật chất kết hợp với việc xác định rạch ròi trách nhiệm cá nhân trong mỗi ngành nhằm hạn chế oan, sai đồng thời đẩy nhanh hiệu quả thương thuyết và giải quyết bồi thường.

4. Kết luận

Oan, sai là điều ít ai muốn nhưng cũng là điều khó loại bỏ hoàn toàn. Vấn đề là làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất trình trạng oan, sai và làm thế nào để sửa sai cho hiệu quả, bảo đảm quyền được bồi thường của người bị hại và cảnh tỉnh những sai lầm tương tự trong tương lai.

Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Việc bồi thường thiệt hại cần được thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với những trường hợp cụ thể”. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày

2/1/2000 của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh: “Khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm

túc các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp oan sai trong tố tụng. Nghiên cứu xây dựng quỹ bồi thường thiệt hại về tư pháp”.

Đã đến lúc cần xem xét lại cả lý luận cũng như thực tiễn chế định bồi thường, xem lại nguyên tắc, thủ tục bồi thường oan, sai nhằm bảo đảm quyền được bồi thường cho người bị hại một cách thỏa đáng. Đó là mục đích của tiến trình cải cách tư pháp và cũng chính là đòi hỏi tất yếu của một xã hội công bằng mà chúng ta đang phấn đấu để đạt được.

Chú thích:

1 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb TP. Hồ Chí Minh năm 2005, tr. 683 và tr. 772

2 Nguyễn Sĩ Dũng, Công lý gắn với pháp quyền, Tuổi Trẻ ngày 27/7/1994;

4 Ông Hoàng Minh Tiến đòi VKSND Hà Nội bồi thường 2.2 tỷ cho 1.309 ngày bị hàm oan. Sau nhiều lần thương lượng bất thành, ông Tiến đành khởi kiện ra tòa. Mới đây, tháng 6/2005, Toà án Quận Hai Bà Trưng đưa ra xét xử và tuyên vẫn giữ nguyên mức bồi thường 27.3 triệu khiến ông Tiến bức xúc cho biết sẽ tiếp tục kháng án lên trên; Vụ hai vợ chồng doanh nghiệp ở Kiên Giang tiếp tục khởi kiện Toà án Tỉnh đòi bồi thường gần 10 tỷ cho 6 năm bị kếtán oan do hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường.

5 Sẽ không ngạc nhiên khi biết tính đến cuối năm 2003, cả nước mới có 3.543 thẩm phán, thiếu 1.210 người so với chỉ tiêu. Riêng TPHCM đến thời điểm này thiếu 89 thẩm phán. Nếu trung bình một thẩm phán xử 5 vụ/ tháng thì đến năm 2010 cơ quan xét xử còn thiếu 7.000 người. Cũng theo báo cáo của các ngành chức năng, tính đến năm 2000, chỉ có 48% cán bộ tư pháp có trình độ cử nhân. Riêng cán bộ cơ quan điều tra số thạo việc mới đạt 30 – 40%, 11% có trình độ sơ học hoặc chưa qua đào tạo;

6 Phát biểu tại cuộc họp báo ngày 3.6.2005, ông Dương Thanh Biểu, Phó Viện trưởng Viện KSNNDTC cho việc xét xử bồi thường oan sai cần giao cho một cơ quan chuyên trách độc lập với các cơ quan tiến hành tố tụng. Còn theo Viện trưởng Viện Khoa học kiểm sát Ngô Quang Liễn, việc để Tòa án đứng ra xét xử bồi thường thiệt hại là chưa khách quan, thậm chí dư luận còn cho rằng cách giải quyết này sẽ thiên về bảo vệ quyền lợi cho Nhà nước, cá nhân và tổ chức gây ra oan sai.

7 Theo yêu cầu của Tòa án, vợ chồng ông Bùi Văn Mãnh ở Tiền Giang dù rất nỗ lực vẫn không tìm ra chứng cứ chứng minh thu nhập bị mất trong thời gian gian tù đày. Tuổi trẻ CN ngày 9/1/2005 có bài: “Bồi thường oan sai – con đường nhọc nhằn” đề cập những giọt nước mắt của một nông dân 84 tuổi ở Tiền Giang – ông Nguyễn Công Ơi khi hành trình 14 năm đòi công bằng của ông kết thúc không mấy tốt đẹp vì ông không đưa ra được y bạ, đơn thuốc chứng từ chứng minh bệnh tật hay nguồn thu nhập bị mất… để Viện kiểm sát lấy đó làm cơ sở bồi thường.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…./2006

VỤ CHÓ CẮN TRẺ: CHỦ CHÓ PHẢI BỒI THƯỜNG!

 Đến nay gia đình ông Tư Cóc đã hỗ trợ chị 3,2 triệu đồng để lo thuốc thang. Do nghĩ sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên vợ chồng chị không khiếu nại đòi ông Tư Cóc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, chị cũng rất lo lắng vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của bé sau này.

Hôm qua (28-12), chị Lê Thị Thanh Mỹ, ngụ ấp Long Thới, Long Bình, Gò Công Tây (Tiền Giang), cho biết sức khỏe của con chị – cậu bé bốn tuổi Đào Văn Quý, bị chó giằng xé suýt chết – hiện đã tạm ổn định. Bé đã chơi đùa trở lại nhưng thỉnh thoảng vẫn còn bị co giật cục bộ ở hai chi dưới.

Mới được hỗ trợ 3,2 triệu đồng

Chị Mỹ kể khoảng 8 giờ sáng 6-12, vợ chồng chị gửi bé Quý cho người cô cùng ấp để đi làm đồng. Bé đi theo những người phóng lúa ngang sân nhà ông Tư Cóc thì bị ba con chó (mỗi con nặng khoảng 15-20 kg) đang nuôi con nhào ra cắn xé. Do bé Quý nhỏ mà ba con chó lại lớn nên các nông dân không thấy, tưởng chúng cắn nhau. Mãi hồi lâu một người hàng xóm đi ngang qua, thấy bé Quý đẫm máu, nằm im lìm dưới chân ba con chó bèn vội la lên. Liền đó, hai con chó hung dữ rượt đuổi người này, con còn lại đứng giữ bé Quý. Mọi người phải xúm lại dùng cây đuổi chúng rồi đưa bé đi cấp cứu.

Khi được đưa đến bệnh viện, toàn thân bé Quý chi chít vết thương và đã hôn mê, hai mắt không còn mở ra được. Chỉ trong một ngày, bé được chuyển đến bốn bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Cuối cùng, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) đã chữa trị được cho bé tai qua nạn khỏi.

Theo chị Mỹ, đến nay gia đình ông Tư Cóc đã hỗ trợ chị 3,2 triệu đồng để lo thuốc thang. Do nghĩ sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên vợ chồng chị không khiếu nại đòi ông Tư Cóc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, chị cũng rất lo lắng vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của bé sau này.

Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã Long Bình xác định ba con chó trên đều chưa được tiêm ngừa nhưng cơ quan thú y chưa phát hiện chúng có dấu hiệu bị bệnh. Theo ông Đinh Văn Thế, Chi cục trưởng Chi cục Thú y Long An, sau một tháng, nếu chúng không phát bệnh thì sức khỏe của bé Quý tạm thời sẽ không bị ảnh hưởng.

Dân sự: Phải bồi thường!

Xung quanh vụ này đã phát sinh vấn đề pháp lý thú vị: Chủ chó có phải bồi thường và có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

Theo Bộ luật Dân sự, nếu chủ sở hữu súc vật có lỗi (kể cả lỗi vô ý) thì phải bồi thường cho người bị súc vật gây tổn hại sức khỏe. Chỉ trong trường hợp người bị tổn hại có lỗi hoàn toàn trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ súc vật mới thoát.

Muốn khởi tố chủ chó, phải xác định chó có phải là “nguồn nguy hiểm cao độ” và khi tấn công người, chó có đang “thi hành lệnh” của chủ hay không.

Trong vụ việc trên, dù sân nhà hàng xóm là “vùng lãnh thổ” canh giữ của ba con chó nhưng gia đình này có lỗi là không treo biển báo, không rào giậu kỹ, để bé Quý băng qua sân. Cạnh đó, khi chó đẻ con, gia đình này biết rõ chó mẹ sẽ hung dữ bất thường nhưng lại không xích, nhốt chó lại. Như vậy, chủ chó hoàn toàn có lỗi nên phải bồi thường cho người giám hộ của bé Quý.

Theo luật sư Cổ Hiệp (Đoàn luật sư TP.HCM), nếu người giám hộ của bé Quý yêu cầu thì chủ chó phải bồi thường toàn bộ chi phí điều trị cho bé và thu nhập của người nhà trong thời gian chăm sóc bé ở bệnh viện, tổn thất tinh thần của bé… theo quy định của pháp luật dân sự.

Hình sự: Vô can!

Một thẩm phán TAND tối cao cho rằng muốn khởi tố chủ chó thì phải xác định chó có phải là “nguồn nguy hiểm cao độ” và khi chó tấn công bé Quý có phải là thi hành lệnh của chủ hay không. Nếu trả lời được hai câu hỏi này thì mới có thể bàn đến trách nhiệm hình sự.

Cụ thể, nếu chó là “nguồn nguy hiểm cao độ” thì chủ phải có trách nhiệm nhốt giữ cẩn thận, sơ suất để chó thoát ra cắn người thì tùy theo hậu quả mà có thể bị xử lý về tội vô ý gây thương tích hoặc vô ý làm chết người. Nếu chủ cố tình suỵt chó cắn người (một số loài chó thông minh, được huấn luyện có khả năng nghe lệnh chủ tấn công người khác) thì có thể bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc giết người.

Còn ở đây, theo quy định, chó nhà không được liệt vào “nguồn nguy hiểm cao độ” (thú dữ, điện cao thế, các phương tiện vận tải đang lưu thông) nên BLHS không đưa hành vi nuôi chó nhà trong chuồng hay thả rông vào diện phòng ngừa chung. Mặt khác, ba con chó tự phát tấn công bé Quý nên không có cơ sở nào để xử lý hình sự người chủ cả.

Theo thẩm phán này, hiện nay nuôi chó thả rông vẫn là thói quen của người dân, nhất là ở các vùng nông thôn nên việc chó cắn người thường xảy ra. Để tránh chuyện đáng tiếc, tốt nhất là chính quyền địa phương phải làm mạnh tay trong việc bắt buộc người dân xích chó, làm chuồng…

+ Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

+ Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Người bị xâm phạm sức khỏe được bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị. Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động, cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu.

(Theo Điều 625, 609 BLDS)

Nguồn: HỒNG CHÂU – HOÀNG ANH (Pháp Luật TP)

BÀN VỀ KHÁI NIÊM “TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI” TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

THS. LƯU QUỐC THÁI –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) là một hiện tượng bình thường trong mọi đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai. Đối với Việt Nam, trong suốt thời gian từ khi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được thiết lập từ năm 19801 cho đến nay, TCĐĐ luôn là vấn đề thời sự, có những diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng đất (SDĐ) nói riêng và gây những bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế – xã hội nói chung.2 Sự kiện Bộ Tài nguyên – Môi trường từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên trách để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đã phần nào cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề.3 Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, mà một trong số đó chính là do quy định của pháp luật về vấn đề TCĐĐ trong thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế. Bài viết này không có tham vọng đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề vừa nêu, mà chỉ nhằm làm rõ về mặt học thuật, cũng như về mặt pháp lý khái niệm TCĐĐ theo Luật Đất đai năm 2003 (LĐĐ 2003) – Luật Đất đai hiện hành. Đây là một vấn đề nhỏ nhưng lại có ý nghĩa nhất định trong việc xác định chính xác về thẩm quyền, thủ tục và nội dung cần giải quyết đối với một TCĐĐ.

2. Trải nhiều giai đoạn với những chính sách đất đai khác nhau, cho dù đất đai có được coi là một loại tài sản có giá, quyền sử dụng đất (QSDĐ) có phải là hàng hóa đặc biệt hay không, hiện tượng TCĐĐ đều được pháp luật chính thức ghi nhận và quy định việc giải quyết.4 Tuy nhiên, cho đến trước khi LĐĐ 2003 ra đời, thuật ngữ “TCĐĐ” chưa một lần được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến QSDĐ trong các đạo luật LĐĐ qua các thời kỳ5 và trong các văn bản pháp luật có liên quan của các cơ quan nhà nước.

LĐĐ 2003 lần đầu tiên tại khoản 26 Điều 4 quy định: “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (NSDĐ) giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Khái niệm này đã được đón nhận với nhiều nhận thức và cảm xúc khác nhau, bởi đây là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng và cũng không mấy rõ ràng. Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ là quyền và nghĩa vụ của NSDĐ. Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của NSDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà NSDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủ thể: chỉ là NSDĐ hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NSDĐ trong quan hệ TCĐĐ? Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể. Đã có quan niệm cho rằng, TCĐĐ “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất”6; hoặc “TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”7.

Rõ ràng, các quan điểm trên đã mở rộng một cách tuyệt đối khái niệm TCĐĐ. Theo đó, TCĐĐ bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh từ các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ, và tất nhiên trong đó có cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất,8 tranh chấp hợp đồng giao dịch về QSDĐ. Theo quan điểm này, TCĐĐ là một khái niệm rộng, bao gồm tranh chấp QSDĐ9 và tất cả các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, kể cả trường hợp tranh chấp mục đích sử dụng đất (?) và tranh chấp về địa giới hành chính theo Điều 137 LĐĐ 2003.10 Tuy nhiên, quan điểm trên không thuyết phục vì đã không được chứng minh bởi một căn cứ pháp lý cụ thể nào. Xem xét toàn bộ các quy định của pháp luật đất đai cho đến thời điểm này, có lẽ chỉ có một quy định duy nhất mà thông qua nội dung và cách thiết kế của nó, khái niệm TCĐĐ mới có thể được suy diễn theo nghĩa rộng, đó là Điều 136 LĐĐ 2003 về thẩm quyền giải quyết TCDĐ. Lý lẽ có thể được đưa ra ở đây là, Điều 136 LĐĐ 2003 khi quy định về thẩm quyền giải quyết TCĐĐ đã phân chia vấn đề ra thành hai trường hợp: thẩm quyền giải quyết tranh chấp QSDĐ thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản gắn liền với đất. Do đó, dựa vào nội dung Điều 136 LĐĐ 2003 người ta có thể quy kết: TCĐĐ không thể đồng nhất với tranh chấp QSDĐ, hay nói cách khác TCĐĐ là khái niệm rộng hơn khái niệm tranh chấp QSDĐ.

Tuy nhiên, cách hiểu trên lại vấp phải một vấn đề rất lớn về mặt pháp lý, đó là sự không phù hợp giữa khái niệm TCĐĐ và vấn đề thẩm quyền, thủ tục giải quyết TCĐĐ, cũng như một số quy định có liên quan khác của pháp luật về TCĐĐ. Thứ nhất, theo Điều 135 LĐĐ 2003, TCĐĐ buộc phải được thông qua hòa giải tại ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi có đất, trước khi được đưa ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, nếu coi TCĐĐ là một khái niệm rộng như trên thì các tranh chấp có liên quan đến đất đai như tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ cũng phải được hòa giải tại UBND cấp xã. Điều này là không phù hợp với pháp luật đất đai, pháp luật về tố tụng dân sự và thực tiễn cũng chưa bao giờ xảy ra, bởi đó chỉ là những tranh chấp dân sự thuần túy và việc hòa giải tại UBND cấp xã như là một thủ tục bắt buộc chỉ áp dụng đối với tranh chấp QSDĐ. Thứ hai, quan niệm này cũng không phù hợp với thuật ngữ TCĐĐ được sử dụng tại Điều 160 Nghị định 181/2004/NĐ-CP (NĐ 181) ngày 29/10/2004 về thi hành LĐĐ 2003. Cụ thể là, theo Điều 160 NĐ 181 thì việc giải quyết các “TCĐĐ” trong trường hợp đương sự không có giấy tờ về QSDĐ được quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 LĐĐ 2003 sẽ thuộc về thẩm quyền của cơ quan hành chính. Tất nhiên ai cũng biết rằng, cơ quan hành chính không thể giải quyết tranh chấp tài sản nào khác, ngoài tranh chấp QSDĐ. Do đó, nếu lấy cách hiểu thuật ngữ TCĐĐ tại Điều 135 LĐĐ 2003, Điều 160 NĐ 181 làm chuẩn thì khái niệm TCĐĐ phải được coi là đồng nghĩa với khái niệm tranh chấp QSDĐ.

Như vậy, phải hiểu thế nào là TCĐĐ cho phù hợp, cả về lý luận lẫn về mặt pháp lý? Không thể có việc một thuật ngữ pháp lý trong cùng một văn bản pháp luật lại được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Muốn làm rõ điều này, chúng ta cần có sự phân tích cặn kẽ những cách hiểu khác nhau về TCĐĐ và hạn chế của quan niệm quá rộng nói trên về TCDĐ.

Theo những phân tích ở trên, thuật ngữ TCĐĐ tại khoản 26 Điều 4 và tại Điều 135 LĐĐ 2003, 160 NĐ 181 có thể được suy diễn theo hai hướng không giống nhau. Việc xác định thế nào là TCĐĐ vì vậy sẽ phụ thuộc vào việc quy định nào được lấy làm chuẩn mực cho khái niệm TCĐĐ. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm TCĐĐ tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003 sẽ được lấy làm tiêu chuẩn để đánh giá các quy định có liên quan còn lại của pháp luật đất đai về vấn đề này. Từ đây có mấy vấn đề sau đây có thể đúc kết:

Thứ nhất, quy định tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003 như đã phân tích ở trên là quy định không được rõ ràng, không cụ thể. Vì vậy, việc lấy một quy định không rõ ràng làm tiêu chuẩn để đánh giá những quy định cụ thể (Điều 135 LĐĐ 2003, Điều 160 NĐ 181) là hoàn toàn không khoa học. Hơn nữa, việc mở rộng khái niệm TCĐĐ như trên không đem lại một giá trị thực tiễn nào.

Thứ hai, cần nhớ rằng, mỗi một thuật ngữ có một phạm vi biểu đạt ý nghĩa nhất định, không thể mở rộng hay thu hẹp một cách không có giới hạn theo ý chí chủ quan được. Điều này không khó chứng minh khi phân tích thuật ngữ TCĐĐ. Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là việc “giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”11. Cho nên, thuật ngữ TCĐĐ tự thân nó đã nói lên đối tượng tranh chấp: đó chính là đất đai. Vấn đề là các chủ thể thực hiện hành vi TCĐĐ như thế nào, thông qua yếu tố gì thì lại phụ thuộc vào vấn đề chế độ sở hữu đất đai. Trong điều kiện của chế độ tư hữu đất đai, TCĐĐ thường là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai. Với chế độ sở hữu đất đai “hỗn hợp” như trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn (với đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước, đất ở khu vực nông thôn thuộc sở hữu tập thể12), TCĐĐ được xác định ở 02 dạng: đó là tranh chấp quyền sở hữu QSDĐ (disputes over land ownership and the right to use).13

Từ các phân tích trên cho thấy, TCĐĐ ở nước ta theo quy định của pháp luật chỉ có thể hiểu là tranh chấp QSDĐ. Kết luận này được củng cố thêm bởi hai cơ sở: một là, xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước) đối với toàn bộ đất đai, NSDĐ chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai, vì vậy, cái mà họ tranh chấp khi TCĐĐ chỉ có thể là QSDĐ; và hai là, các thuật ngữ TCĐĐ và tranh chấp QSDĐ đã được sử dụng như những thuật ngữ thay thế nhau kể từ LĐĐ 1987 đến nay mà không hề có sự phân biệt.14 Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của NSDĐ (gồm tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ) cũng đã từng được định danh cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là “tranh chấp liên quan đến QSDĐ”, chứ không phải là TCĐĐ một cách chung chung.15 Do đó, việc mở rộng khái niệm TCĐĐ như trên trong điều kiện Việt Nam là không hợp lý và làm lu mờ đi đặc trưng của quan hệ đất đai, tạo ra một món “thập cẩm” không có hương vị rõ ràng, “cơm không ra cơm, cháo không ra cháo”, vốn thường thấy ở những đầu bếp bất đắc dĩ.

Ngược lại, việc đồng nhất TCĐĐ với tranh chấp QSDĐ về mặt lý luận tạo nên được sự cụ thể về đối tượng tranh chấp, làm nổi bật đặc trưng của quan hệ đất đai. Từ đây tạo ra được một ranh giới tương đối rõ ràng giữa TCĐĐ với các tranh chấp dân sự thông thường khác có liên quan đến đất đai và lý giải được tạo sao việc giải quyết TCĐĐ lại có thể được tiến hành bởi các cơ quan hành chính nhà nước, theo các thủ tục hành chính nhất định. Đó là, cơ quan hành chính không phải giải quyết TCĐĐ dưới góc độ là một hoạt động phân xử về tài sản thông thường, mà với tư cách là người đại diện chủ sở hữu quyết định ai sẽ là người có quyền sử dụng đối với đất đang bị tranh chấp, khi đất đó về mặt hình thức pháp lý chưa được chính thức trao cho ai sử dụng (đương sự không có giấy tờ về QSDĐ).

3. Nếu đồng nhất TCĐĐ với tranh chấp QSDĐ thì nhiệm vụ còn lại ở đây là lý giải thế nào cho phù hợp về khái niệm: “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ” tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ 2003, dù rằng việc lý giải này là không cần thiết bởi ngôn từ được dùng trong khái niệm trên chỉ là “sản phẩm” mang tính chủ quan của các nhà làm luật. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng hãy thử tiếp cận vấn đề từ thuật ngữ “QSDĐ” – yếu tố mà các phân tích trên khẳng định là đối tượng của TCĐĐ.

QSDĐ, nếu xét ở góc độ là quyền sử dụng một loại tài sản, hiểu theo nghĩa thông thường, chỉ là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đất đai.16 Ở góc độ này, QSDĐ là một khái niệm pháp lý. Tuy nhiên, theo pháp luật đất đai, ý nghĩa trên chỉ chiếm một phần nội dung về QSDĐ của NSDĐ. Theo pháp luật hiện hành, ngoài việc khai thác, hưởng các lợi ích từ đất đai nói trên, QSDĐ còn bao hàm cả việc NSDĐ được quyền thực hiện các giao dịch về QSDĐ (như chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, …) của mình như là những giao dịch về tài sản. Và để được thực hiện các quyền giao dịch này, NSDĐ phải thực hiện những nghĩa vụ tài chính nhất định đối với Nhà nước (như nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, … ). Ở góc độ này, QSDĐ mang nội dung kinh tế sâu sắc và nó là một quyền kinh tế. Như vậy, QSDĐ là một khái niệm phức tạp – nó vừa là một khái niệm pháp lý, vừa là một khái niệm kinh tế.17 Có thể khẳng định rằng, QSDĐ trong pháp luật đất đai hiện hành là một khái niệm phức tạp mà nghĩa gốc của các từ đơn lẻ hợp thành không đủ sức thể hiện hết nội dung và bản chất của nó. QSDĐ vì thế có thể coi là một tổng thể không thể tách rời các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ theo quy định của pháp luật đất đai.

Từ phân tích trên có thể kết luận rằng, khái niệm “TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ” tại khoản 26 Điều 4 LĐĐ cần được diễn giải là tranh chấp một tổng thể những yếu tố hợp nhất tạo thành QSDĐ nói trên, chứ không phải là việc tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ rời rạc, đơn lẻ hay tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ khác của NSDĐ có liên quan đến các quyền nghĩa vụ nêu trên. Cách hiểu này đặt khái niệm TCĐĐ trong mối quan hệ không thể tách rời với tất cả các quy định có liên quan, chứ không phải cô lập nó hoặc đặt nó lên trên tất cả các quy định khác nhằm phát huy trí tưởng tượng một cách thái quá, dẫn đến những suy diễn không phù hợp. Có nghĩa là, không thể “trộn lẫn” TCĐĐ với những tranh chấp dân sự thuần túy có liên quan đến đất đai.

Tóm lại, làm rõ khái niệm TCĐĐ có nhiều ý nghĩa thực tiễn quan trọng chứ không chỉ là vấn đề mang tính học thuật. Về mặt nội dung, việc làm này giúp xác định chính xác đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ, giúp việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất hơn. Về mặt phương pháp luận, nó sẽ giúp tránh được trường hợp quy định của luật này chồng lấn lên luật kia, giúp hoàn thiện pháp luật đất đai nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.

Chú thích:

1 Theo Điều 19 Hiến pháp 1980.

2 Kết quả kiểm tra việc thi hành Luật Đất đai 2003 theo Quyết định 1741/QĐ-BTNMT ngày 14/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường cho thấy, 70% khiếu kiện của người dân là về đất đai, rất nhiều tranh chấp về đất đai không thể giải quyết dứt điểm. Xem: “Sau tổng kiểm tra việc thi hành Luật Đất đai: làm gì để giảm cơ bản khiếu kiện của dân?”, http://www.hanoitv.org.vn ngày 19/9/2005.

3 http://www.hanoitv.org.vn ngày 19/9/2005; http://www.vneconomy.com.vn ngày 12/10/2005.

4 Trong thời gian LĐĐ năm 1987 có hiệu lực, QSDĐ dù không được coi là hàng hóa nhưng hiện tượng TCĐĐ vẫn được ghi nhận và quy định về thẩm quyền giải quyết. Xem Điều 15 Nghị định 30 – HĐBT ngày 23/3/1989 về thi hành LĐĐ 1987; sau đó, LĐĐ 1993 ngày 14/7/1993 cũng chính thức đề cập vấn đề này tại Điều 38.

5 Từ Hiến pháp 1980 cho đến trước LĐĐ 2003, Việt Nam đã có LĐĐ 1987, LĐĐ 1993 và hai Luật Sửa đổi, bổ sung LĐĐ 1993 được thông qua ngày 02/2/1998, ngày 29/6/2001.

6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân 1999, tr. 74.

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, Nxb.Tư pháp 2005, tr. 455.

8 Tài sản gắn liền với đất được hiểu là những tài sản không thể tách rời khỏi đất đai nếu muốn giữ được nguyên giá trị sử dụng của nó. Các tài sản này bao gồm: nhà ở, vật kiến trúc, công trình xây dựng khác, cây lâu năm trên đất. Xem khoản 4 Điều 3 Quy định ban hành kèm theo Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường về cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

9 Tranh chấp QSDĐ được hiểu là tranh chấp nhằm xác định ai là người có QSDĐ hợp pháp.

10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, sđd, tr. 457 – 458.

11 Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng 1996, tr. 989.

12 Theo Điều 10 Hiến pháp 1982 đã được sửa đổi, bổ sung năm 1988 của Trung Quốc.

13 Điều 16 Luật Quản lý nhà nước về đất đai của Trung Quốc. Xem The Law of Land Administration of the People’s

Republic of China, Article 16, http://www.china.org.cn/english/environment/34345.htm

14 Ví dụ như Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân (TAND) các cấp về thẩm quyền của TAND theo quy định của LĐĐ 2003. Điểm 1 Công văn này được viết là: “Về đối tượng đất mà tranh chấp QSDĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND”.

15 Ví dụ như Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ theo Điều 38 LĐĐ năm 1993.

16 Điều 192 Bộ Luật Dân sự năm 2005.

17 Xem thêm Lê Văn Tứ, Quyền sử dụng đất – một khái niệm pháp lý, một khái niệm kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 9/1997, tr. 40 – 49.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2006

CÔNG VĂN SỐ 132/2005/KHXX VỀ VIỆC ĐÒI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN TRẢ LẠI TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******
Số: 132/2005/KHXX
V/v: đòi cơ quan thi hành án trả lại tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Hà Nội, ngày 13 tháng 06 năm 2005

Kính gửi: Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất – tỉnh Kiên Giang

Tòa án nhân dân tối cao nhận được Bản kiến nghị ngày 12-5-2005 của cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất và bản kiến nghị số 96/CV-THA ngày 20-5-2005 của Cơ quan thi hành án tỉnh Kiên Giang kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thụ lý đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Đẹp vợ ông Lưu Bỉnh Hiền (thụ lý số 97/DSST ngày 6-4-2005) đòi cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất trả lại số tiền 222.500.000đ đang bị kê biên tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho ông Hiền và việc triệu tập cơ quan thi hành án huyện Hoàn Đất tham gia hòa giải với tư cách là bị đơn trong vụ án là không đúng quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự.

Sau khi nghiên cứu nội dung các bản kiến nghị của cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất và cơ quan thi hành án tỉnh Kiên Giang cùng các tài liệu gửi kèm theo, Tòa án nhân dân tối cao lưu ý Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất một số vấn đề sau đây:

Bà Phạm Thị Đẹp có quan hệ sống chung với ông Lưu Bỉnh Hiền (Việt kiều tại Mỹ). Ông Lưu Bỉnh Hiền là người phải thi hành án theo bản án dân sự số 230/DSPT ngày 05-10-2000 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 03/QĐ-HGT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang với tổng số tiền phải thi hành án là 222.500.000đ.

Số tiền 222.500.000đ mà Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, thu từ số tiền bà Đẹp, ông hiền bán nhà đất bị kê biên cho bà Phượng tương ứng với số tiền mà ông Hiền phải thi hành án. Nay bà Đẹp khởi kiện Cơ quan thi hành ánh huyện Hòn Đất ra Tòa án huyện Hòn Đất để đòi lại số tiền đó với lý do số tiền này là rài sản riêng của bà Đẹp.

Để xem xét giải quyết yêu cầu của bà Đẹp, Tòa án phải phân biệt như sau:

1. Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất đã kê biên thu giữ số tiền 222.500.000đ để thi hành án đối với ông Hiền.

Nếu bà Đẹp, ông Hiền cho rằng quyết định kê biên, giữ tài sản của Chấp hành viên Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đẹp và ông Hiền, thì bà Đẹp ông Hiền có quyền khêíu nại quyết định đó đến thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục quy định tại Điều 60 và Điều 62 của Pháp lệnh thi hành án dân sự mà không có quyền khởi kiện Chấp hành viên hoặc Cơ quan thi hành án ra Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.

2. Bà Đẹp chỉ có quyền khởi kiện ra Tòa án trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 41 Pháp lệnh thi hành án dân sự; cụ thể là:

“Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện, thì tài sản bị kê biên được xử lý để thi hành án.

Trong trường hợp cần xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung mà các bên không thỏa thuận được, thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Như vậy, nếu bà Đẹp cho rằng khoản tiền mà Cơ quan thi hành án kê biên, thu giữ để bảo đảm thi hành án đối với ông Hiền là tài sản riêng của bà Đẹp thì bà đẹp phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác dịnh tài sản đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình mà không phải là tài sản riêng của ông Hiền hoặc tài sản chung với ông Hiền. Trong trường hợp bà Đẹp và ông Hiền đều cho rằng tài sản đó là của bà Đẹp, thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định quyền ở hữu đối với tài sản đó. Chỉ trong các trường hợp này, Tòa án mới thụ lý giải quyết.

Do đó, việc Tòa án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thụ lý đơn khởi kiện của bà đẹp đòi Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải trả lại 222.500.000đ và xác định Cơ quan thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang là bị đơn là không đúng thẩm quyền và không đúng với các quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự.

Vì vậy, Tòa án cần căn cứ vào khỏan 2 Điều 192 Bộ luật ố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Tòa tham khảo trong việc giải quyết vụ án cụ tểh tại địa phương.

Nơi nhận:
– Như trên;
– TAND tỉnh Kiên Giang;(để biết)
– Thi hành án huyện Hòn Đất; (để biết)
– Thi hành án tỉnh Kiên Giang;(để biết)
– Đ/c Chánh án TAND TC (để báo cáo);
– Lưu VP, Viện KHXX (TANDTC).

KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN THƯỜNG TRỰC
Đặng Quang Phương

THỦ TỤC KHỞI KIỆN ÁN KINH TẾ – KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

▪ Đối tượng áp dụng:

I. Các loại vụ kiện

Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhận đơn khởi kiện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế – kinh doanh thương mại sau đây nếu bị đơn cư trú, làm việc (bị đơn là cá nhân) hoặc bị đơn có trụ sở (bị đơn là cơ quan tổ chức) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh:

1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thư­ơng mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau hoặc một hay các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm:

a) Mua bán hàng hoá;

b) Cung ứng dịch vụ;

c) Phân phối;

d) Đại diện, đại lý;

đ) Ký gửi;

e) Thuê, cho thuê, thuê mua;

g) Xây dựng;

h) Tư­ vấn, kỹ thuật;

i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đ­ờng sắt, đư­ờng bộ, đ­ường thuỷ nội địa;

k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đ­ờng hàng không, đ­ờng biển;

l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;

m) Đầu tư­, tài chính, ngân hàng;

n) Bảo hiểm;

o) Thăm dò, khai thác.

CHÚ Ý: Nếu bị đơn cư trú, làm việc (bị đơn là cá nhân) hoặc bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan tổ chức) trên địa bàn quận 5 và quận 11 thì các tranh chấp từ điểm a đến điểm i do Tòa án nhân dân quận các quận đó trực tiếp thụ lý và giải quyết do đã được tăng thẩm quyền. Tòa án nhân dân các quận huyện còn lại giải quyết các vụ tranh chấp có giá trị tranh chấp dưới 50.000.000 đồng.

Những tranh chấp trên đây có đ­ương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác t­ư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở n­ước ngoài, cho Toà án nư­ớc ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện mà thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố (không giới hạn trị giá tranh chấp).

2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

II. Các loại yêu cầu

Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhận đơn yêu cầu giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các yêu cầu về kinh doanh thương mại sau đây nếu bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan tổ chức trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh:

1. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài th­ương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài th­ơng mại.

2. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, th­ơng mại của Toà án n­ớc ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, th­ơng mại của Toà án n­ớc ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

3. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, th­ơng mại của Trọng tài n­ớc ngoài.

III. Lựa chọn của nguyên đơn

Tòa án nhân dân thành phố và Tòa án các quận huyện TP Hồ Chí Minh nhận đơn yêu cầu giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo sự lựa chọn của nguyên đơn, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Nếu không biết nơi c­ trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn c­ trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi c­ trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình c­ trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi th­ờng thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình c­ trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng đ­ợc thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn c­ trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn c­ trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa ph­ơng khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết./.

▪ Hồ sơ cần thiết:

– Đơn khởi kiện (theo mẫu)

– Hợp đồng kinh tế hoặc văn bản, tài liệu giao dịch có giá trị như hợp đồng kinh tế.

– Biên bản bổ sung, phụ lục, phụ kiện hợp đồng (nếu có). 

– Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố, thế chấp, tài sản (nếu có).

– Tài liệu về việc thực hiện hợp đồng như giao nhận hàng , các biên bản nghiệm thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng;

– Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp.

– Các tài liệu giao dịch khác (nếu thấy cần thiết);

– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

▪ Lệ phí:

1/ Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.

2/ Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế không có giá ngạch là 500.000 đồng.

3/ Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế có giá ngạch được quy định như sau:

Giá trị tranh chấp kinh tế

Mức án phí

Từ 10.000.000 đồng trở xuống.

500.000 đồng.

Từ trên 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

  5% Giá trị tranh chấp kinh tế

Từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

5.000.000 đồng + 4% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 100.000.000 đồng.

Từ trên 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

9.000.000 đồng + 3% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 200.000.000 đồng.

Từ trên 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.

  18.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 500.000.000 đồng.

Từ trên 1.000.000.000 đồng.

  28.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 1.000.000.000 đồng.

4) Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án Kinh tế là 200.000 đồng.

Tiền tạm ứng án phí sơ thẩm

Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có liên quan, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong các vụ án kinh tế phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo thông báo của Toà án.

Người nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết về kinh doanh thương mại theo quy định tại mục II trên đây phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết theo thông báo của Toà án.

▪ Thời gian giải quyết:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: từ 2 đến 3 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý

Thời hạn mở phiên tòa: từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử

▪ Địa điểm tiếp nhận:
Tổ thụ lý – Văn phòng TAND ĐỊA PHƯƠNG

SOURCE: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. NGUYỄN XUĀN QUANG –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự, góp phần giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Tuy nhiên với xu thế hội nhập cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước và thế giới, các quy định trong BLDS 1995 đã trở nên bất cập. Vì vậy Quốc hội nước ta đã tiến hành sửa đổi và thông qua BLDS vào ngày 14/6/2005 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2006. Với mong muốn tìm hiểu và chia sẻ thông tin, tác giả xin được phép nêu một số sửa đổi, bổ sung của BLDS 2005.

1. Một số điểm mới tại phần Những quy định chung

Thứ nhất: Về phạm vi điều chỉnh của BLDS

Nếu như Điều 1 BLDS 1995 quy định phạm vi điều chỉnh của BLDS chỉ bó hẹp trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự thì trong Điều 1 BLDS 2005 đã có sự mở rộng: “… Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Như vậy, BLDS 2005 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh không chỉ bó hẹp trong các quan hệ dân sự thuần túy mà còn có các quan hệ kinh doanh, thương mại. Quy định này đã xác định BLDS là luật trung tâm, luật “gốc” dùng để điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng. Trong trường hợp có mâu thuẫn về quan hệ kinh doanh, thương mại, lao động… mà luật chuyên ngành không có quy phạm điều chỉnh thì sẽ dùng BLDS để giải quyết. Với quy định này, BLDS 2005 đã khắc phục được tình trạng khiếm khuyết của pháp luật đối với những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân nằm “lửng lơ” giữa hoặc ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại…

Thứ hai: Về quyền nhân thân

Trong phần quyền nhân thân, các nhà làm luật đã bổ sung thêm các quyền nhân thân quan trọng là quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34); quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35) và quyền xác định lại giới tính (Điều 36). Có thể nói đây là những cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền nhân thân của con người. Tuy nhiên các quyền này chỉ được thực hiện trong y học, khám chữa bệnh mà không mang mục đích kinh doanh, thương mại, tránh tình trạng biến các bộ phận cơ thể người thành hàng hóa.

Thứ ba: Về nơi cư trú của cá nhân

Điều 52 BLDS 2005 quy định:

“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

Khác với quy định tại Điều 48 BLDS 1995, các nhà làm luật xác định nơi cư trú của cá nhân còn phụ thuộc vào yếu tố hộ khẩu, quy định này mang tính hành chính và không phù hợp với quyền tự do đi lại, tự do cư trú được quy định tại Điều 68 Hiến pháp năm 1992 và Điều 44 BLDS 1995. Bên cạnh đó BLDS 1995 còn quy định các vấn đề hộ tịch và đăng ký hộ tịch từ Điều 54 đến Điều 66. Đây thực chất là các quan hệ hành chính do pháp luật hành chính điều chỉnh. Do đó các nhà làm luật đã loại bỏ những quy định này trong BLDS sửa đổi, bổ sung năm 2005.

Thứ tư: Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Trong chương giao dịch dân sự (GDDS), tại Điều 122 BLDS 2005 chỉ quy định 3 điều kiện có hiệu lực của GDDS chứ không quy định 4 điều kiện như BLDS 1995. Cụ thể là BLDS 2005 đã bỏ điều kiện về hình thức của giao dịch. BLDS 2005 quy định hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Với quy định này, BLDS 2005 đã góp phần hạn chế trong việc tuyên bố GDDS vô hiệu đối với những giao dịch có nội dung và mục đích phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với ý chí đích thực của các bên nhưng có vi phạm về hình thức; qua đó cũng hạn chế những người không có thiện chí viện dẫn sự vi phạm về hình thức của giao dịch mà yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên. Và điều kiện về nội dung và mục đích cũng có sự thay đổi cơ bản. Nếu như BLDS 1995 quy định nội dung và mục đích không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội thì BLDS 2005 lại quy định không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Quy định này tôn trọng nguyên tắc hiến định công dân được làm những gì pháp luật không cấm.

2. Một số điểm mới tại phần “Những quy định riêng”

Thứ nhất: Về tài sản và quyền sở hữu

Trong phần thứ hai của BLDS quy định về tài sản và quyền sở hữu, có thể coi đây là chế định trung tâm trong pháp luật dân sự. Việc điều chỉnh của pháp luật phản ánh đúng bản chất các quan hệ sở hữu sẽ góp phần to lớn trong việc thúc đẩy các giao lưu dân sự phát triển, khuyến khích các chủ thể đầu tư sản xuất kinh doanh và khai thác tài sản đạt hiệu quả cao.

Tại Điều 163 BLDS 2005 quy định các loại tài sản không có gì khác so với Điều 172 BLDS 1995 nhưng khái niệm về vật đã có sự nhìn nhận mới. Trong khi Điều 172 BLDS 1995 nói rằng “tài sản bao gồm vật có thực…” thì Điều 163 BLDS 2005 lại nói rằng “ tài sản bao gồm vật, tiền…”. Với quy định này, BLDS 2005 đã bỏ cụm từ “có thực”. Việc thay đổi này không chỉ đơn thuần là việc thay đổi câu từ mà nó có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác lập, thực hiện và bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp trong giao lưu dân sự, phản ánh đúng tình hình phát triển của các quan hệ kinh tế. Bởi lẽ trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thương mại, kinh doanh nói riêng có những quan hệ được thiết lập mà tài sản được hình thành trong tương lai như công trình xây dựng, hoa lợi, hàng hóa trong sản xuất, kinh doanh… Vì vậy các chủ thể có thể tự do thỏa thuận xác lập các giao dịch mà đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai mà không sợ bị tuyên bố vô hiệu.

Về hình thức sở hữu, điểm thay đổi lớn so với BLDS 1995 là hình thức sở hữu toàn dân được thay thế bằng hình thức sở hữu nhà nước. Điều 172 BLDS 2005 quy định “trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể,…”. Thông qua quy định đó, BLDS 2005 xác định chủ thể cụ thể trong việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản này và thực hiện quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt; qua đó khắc phục được tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu đối với loại tài sản này. Điều 172 BLDS 2005 còn là cơ sở pháp lý quan trọng đối với việc ban hành pháp luật khi thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản này. Trong hình thức sở hữu, các nhà làm luật đã bỏ loại hình sở hữu hỗn hợp. Bởi vì suy cho cùng đây là một loại hình sở hữu theo hình thức sở hữu chung theo phần. Do đó không cần quy định một loại hình thức sở hữu riêng biệt.

Trong chương “Bảo vệ quyền sở hữu” đã có sự sửa đổi cơ bản so với BLDS 1995. Điều 264 BLDS 1995 quy định quyền đòi lại tài sản: “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật này”. Như vậy với quy định này, chúng ta hiểu rằng chủ sở hữu hoặc người đang chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người đang chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của mình hoặc thuộc quyền chiếm hữu của mình phải trả lại tài sản mà không phân biệt đến nguồn gốc của việc chiếm hữu đó là ngay tình hay không ngay tình, có đền bù hay không có đền bù; do đó nó đã không bảo vệ được người thứ ba ngay tình một cách tích cực, làm xáo trộn các giao lưu dân sự và không tạo ra được tâm lý an tâm cho chủ thể trong giao lưu dân sự. Nhằm khắc phục tình trạng trên, Điều 257 BLDS 2005 quy định quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Theo quy định này, chủ sở hữu cũng có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu bất hợp pháp mà có, trường hợp tài sản rời chủ sở hữu theo ý chí của người này mà người thứ ba ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù thì không được quyền đòi lại. Ví dụ: A cho B mượn xe đạp, B bán cho C, C không biết xe này là của A nên đã mua ngay thẳng nên A không có quyền kiện C đòi lại xe đạp mà chỉ có quyền khởi kiện B yêu cầu bồi thường thiệt hại. Quy định này nâng cao trách nhiệm của chủ sở hữu đối với tài sản của mình trong các giao dịch và bảo vệ người chiếm hữu ngay tình.

Điều 258 BLDS 2005 quy định kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người ngay tình: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”.

Thứ hai: Về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng

Chế định nghĩa vụ và hợp đồng là những chế định quan trọng bởi nó thể hiện rõ nét tính tự do, tự nguyện của các chủ thể trong giao dịch nói riêng và trong xã hội nói chung. Điều 2 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 có quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”. Thể chế hóa quy định trên của Hiến pháp, BLDS 2005 đã giảm lược các quy định mang tính hành chính can thiệp vào các quan hệ dân sự, tăng cường sự tự do, tự nguyện của các chủ thể trong quan hệ dân sự.

Khái niệm nghĩa vụ đã được mở rộng và cụ thể hóa hơn so với BLDS 1995. Điều 280 BLDS 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.

Quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong BLDS 2005 tại Điều 290 cũng có sự sửa đổi đáng kể, thể hiện rõ sự tự do, tự nguyện và phù hợp với xu thế hội nhập của đất nước. Quy định này chỉ quy định chủ thể nghĩa vụ phải trả tiền đúng như đã cam kết mà không bắt buộc họ phải trả bằng đồng Việt Nam như trong BLDS 1995.

Trong các biện pháp bảo đảm đã có sự sửa đổi cơ bản, ví dụ phạt vi phạm không còn là một biện pháp bảo đảm nữa mà đã được đưa vào phần nội dung của hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng như là một biên pháp chế tài; quy định bảo lãnh bằng tín chấp đã trở thành một biện pháp bảo đảm cụ thể có đặc thù khác biệt so với các biện pháp khác nói chung và biện pháp bảo lãnh nói riêng.

Các biện pháp cầm cố và thế chấp cũng có sự thay đổi cho đúng với bản chất của chúng. BLDS 1995 quy định việc cầm cố được thực hiện bằng động sản, thế chấp được thực hiện bằng bất động sản. Như vậy, tiêu chí để phân biệt hai biện pháp này cơ bản căn cứ vào động sản và bất động sản. BLDS sửa đổi, bổ sung đã không sử dụng tiêu chí trên mà căn cứ vào cách thức thực hiện và xác định rủi ro. Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia, còn thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiên nghĩa vụ mà không phải chuyển giao tài sản. Với quan điểm tôn trọng sự tự do ý chí nhằm thúc đẩy các giao lưu dân sự phát triển, BLDS 2005 còn quy định bên cầm cố, thế chấp được bán tài sản đó nếu được bên nhận cầm cố, thế chấp đồng ý; được bán tài sản thế chấp nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Đây là những quy định tạo ra sự thông thoáng cho các bên và phù hợp với nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng.

Trong chế định giao kết hợp đồng, các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng cũng được quy định cụ thể hơn về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (Điều 391), thời điểm chấm dứt đề nghị (Điều 394). Đặc biệt Điều 401 quy định hình thức của hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể và không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về vấn đề hợp đồng vô hiệu, BLDS 2005 có quy định bổ sung hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được (Điều 411).

Trong phần thực hiện hợp đồng, các nhà làm luật đã bổ sung thêm Điều 416 về cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ. Đây là một biện pháp chế tài mới được đưa vào trong Bộ luật cho phù hợp với tập quán thương mại quốc tế.

Khiếm khuyết của BLDS 1995 là không quy định vấn đề thời hiệu khởi kiện về hợp đồng. Khiếm khuyết ấy đã dẫn đến tình trạng tranh chấp kéo dài, không giải quyết dứt điểm, làm cản trở giao lưu dân sự và gây tâm lý bất an cho chủ thể tham gia. Để giải quyết vấn đề này, BLDS 2005 đã bổ sung quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự là 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm (Điều 427).

Trong hợp đồng mua bán, về cơ bản BLDS 2005 vẫn giữ những quy định trong BLDS 1995, chỉ quy định cụ thể thêm một số điểm như giá cả. Nếu thỏa thuận mà giá không cụ thể, rõ ràng thì giá cả tài sản mua bán được xác định căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng. Điều này tránh được tình trạng tuyên bố hợp đồng vô hiệu được giao kết do không có thỏa thuận hay thỏa thuận không rõ ràng về nội dung chủ yếu của hợp đồng. BLDS 2005 cũng quy định cụ thể, rõ ràng trong việc xác định quyền sở hữu hoa lợi, lợi tức đối với tài sản mua bán trong quá trình chuyển giao (Điều 439). Nếu tài sản chưa được chuyển giao thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán.

Trong hợp đồng vay, vấn đề lãi suất được BLDS 2005 quy định cụ thể, rõ ràng hơn so với BLDS 1995. Điều 476 BLDS sửa đổi bổ sung quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng…”.

Ngoài ra BLDS 2005 còn bổ sung thêm quy định giải quyết vấn đề hụi ho, một vấn đề khá phổ biến trong nhân dân mà trong một thời gian dài chúng ta không giải quyết (Điều 479). Đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước giải quyết các mâu thuẫn về hụi họ và thông qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Trong hợp đồng thuê nhà, quy định về giá thuê nhà trong trong luật mới đã thông thoáng hơn, tôn trọng sự tự do thoả thuận của các bên. Đặc biệt, BLDS 2005 đã bỏ quy định về quyền lưu cư của người thuê nhà khi hết thời hạn thuê. Quy định này đã góp phần giải quyết triệt để các mâu thuẫn về thuê nhà và tạo ra sự bình đẳng giữa các bên.

Thứ ba: Về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Kế thừa và pháp điển hóa các quy định về bồi thường thiệt hại (BTTH) trước đây, BLDS 2005 đã quy định cụ thể hơn vấn đề BTTH về tinh thần, quy định mức tối đa trong các trường hợp do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, tính mạng, sức khỏe làm cơ sở pháp lý cho việc yêu cầu BTTH và giải quyết tranh chấp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể: Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm); tương tự thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (đối với trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm) và mức tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (đối với trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm).

Người có quyền yêu cầu BTTH về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm cũng được quy định cụ thể. Đó là những người thân thích ở hàng thừa kế thứ nhất, nếu không có những người này thì những người mà người bị thiệt hại đó trực tiếp nuôi dưỡng và người trực tiếp nuôi dưỡng người bị hại cũng được quyền yêu cầu.

Ngoài ra trong phần BTTH cụ thể, BLDS 2005 đã quy định bổ sung thêm hai quyền mới đang là vấn đề bức xúc trong nhân dân và trong quá trình giải quyết tranh chấp. Đó là quyền BTTH do xâm phạm thi thể (Điều 628) và BTTH do xâm phạm mồ mả (Điều 629). Thông qua quy định này, BLDS 2005 góp phần bảo vệ các thuần phong, mỹ tục đã tồn tại từ lâu đời trong dân cư.

Để ổn định các quan hệ dân sự, hạn chế sự tranh chấp kéo dài, BLDS sửa đổi bổ sung đã quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH là 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm.

Thứ tư: Về thừa kế

Trong chương về thừa kế, kế thừa những quy định trong BLDS 1995, BLDS 2005 vẫn khẳng định quyền thừa kế là một quyền cơ bản của công dân, nhưng đã có một số sửa đổi, bổ sung nhằm giải quyết những mâu thuẫn, bất cập của BLDS 1995.

Điều 637 BLDS sửa đổi, bổ sung đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm của người thừa kế trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế. Nếu di sản thừa kế đã được chia thì người thừa kế chi phí thực hiện nghĩa vụ tương ứng với phần mình đã nhận nhưng không vượt quá phần di sản mình đã nhận.

Về trường hợp những người có quyền thừa kế của nhau nhưng chết cùng thời điểm đã có sự thay đổi đáng kể, nếu theo BLDS 1995 thì họ không có quyền thừa kế của nhau, tài sản của người nào thì do những người thừa kế của người đó hưởng. Quy định này dẫn đến một bất cập là có trường hợp cha hoặc mẹ chết cùng ông bà nhưng cháu lại không được hưởng di sản thừa kế của ông bà mà di sản đó lại thuộc về Nhà nước. Điều này không phù hợp với truyền thống dân tộc, không công bằng xã hội. Để khắc phục những hạn chế trên BLDS 2005 đã quy định nếu những người này mà chết cùng thời điểm thì cháu hoặc chắt được hưởng thừa kế thế vị (Điều 641 và Điều 677).

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế cũng được BLDS 2005 bổ sung cụ thể. Điều 645 đã quy định bổ sung thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Về hàng thừa kế, nếu theo quy định của BLDS 1995 về hàng thừa kế thứ hai, chúng ta thấy ông bà là người thừa kế ở hàng thứ hai của cháu nhưng cháu lại không là người thừa kế ở hàng thứ hai của ông bà vì cho rằng đã có thừa kế thế vị nhưng như thế sẽ không đảm bảo tính công bằng bởi lẽ ông bà được thừa kế một suất của cháu bằng những người thừa kế khác cùng hàng. Nhưng nếu bố hoặc mẹ của cháu chết trước ông bà thì các cháu cũng chỉ được một suất bằng một phần của bố hoặc mẹ lẽ ra được hưởng khi còn sống. Ở hàng thừa kế thứ ba cũng vậy, BLDS 2005 đã bổ sung quy định cháu được hưởng di sản thừa kế của cụ nội, cụ ngoại.

Về vấn đề thừa kế thế vị đã được sửa đổi tại Điều 677, trong từng trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ được hưởng nếu còn sống…

Về hạn chế phân chia di sản thừa kế được quy định cụ thể hơn trong BLDS 2005: “Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế;…”.

Các quy định về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ trong BLDS 2005 chỉ quy định mang tính nguyên tắc còn các quy định cụ thể sẽ do Luật đất đai năm 2003 quy định và Luật sở hữu trí tuệ (đang dự thảo trình Quốc hội thông qua) điều chỉnh.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ…./2006

GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ – NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA LÀNG, XÃ VIỆT NAM

Mai Văn Hai

Những mâu thuẫn, xung đột gia đình, dòng họ xảy ra ở nhiều nơi dưới sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa đặt ra câu hỏi: liệu gia đình, dòng họ có còn là những giá trị cơ bản trong đời sống làng, xã hay sẽ bị mai một dần, thậm chí tan rã?

1- Quan niệm về gia đình, dòng họ

Trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, các giá trị cơ bản của văn hóa làng, xã như gia đình, dòng họ đang giảm dần ý nghĩa đối với một bộ phận người dân. Nhiều quan niệm cho rằng, cuộc sống gia đình với sự lo toan cơm áo gạo tiền làm tiêu hao nhiều thời gian, sức lực; các chuẩn mực gia đình gò bó, cản trở tự do cá nhân, từ đó hạ thấp, thậm chí phủ định hoàn toàn vai trò của gia đình. Với dòng họ, tư tưởng “gia trưởng, ngôi thứ”, sự ganh đua, hiện tượng cục bộ, bè phái… cũng góp phần tạo ra những quan niệm tiêu cực, làm giảm bớt vai trò của dòng họ.

Tuy nhiên, gia đình, dòng họ trong quan niệm của đa số người dân vẫn có vai trò quan trọng. Điều này thống nhất ở các nhóm đối tượng khác nhau về giới, lứa tuổi, mức sống, nghề nghiệp… Nghiên cứu tại hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ (Bắc Ninh) cho thấy, trong tổng số 420 hộ gia đình được phỏng vấn, có 97 – 99,6% khẳng định hiện nay gia đình, dòng họ vẫn rất quan trọng.

Người dân đánh giá cao vai trò của gia đình hiện nay vì họ cho rằng, gia đình là nơi không chỉ đáp ứng nhu cầu tình cảm và tái sản sinh giống nòi mà còn là nơi tốt nhất cho việc di dưỡng tuổi già, sự phát triển của trẻ em… Trong tâm tưởng của người dân, dòng họ cũng có vai trò không kém. Gần 100% số người được hỏi cho rằng đến nay, các câu nói theo khẩu ngữ dân gian như: “một giọt máu đào hơn ao nước lã” hay “xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì” là “vẫn đúng”; số người phủ định chỉ có từ 0,5% đến 3,5%. Thậm chí, quan niệm của đa số người dân còn khẳng định gia đình, dòng họ hiện nay có vai trò lớn hơn trong quá khứ và ở tương lai vai trò đó vẫn sẽ vẫn tiếp tục được phát huy.

2 – Những hành vi thực tiễn sống động

– Gia đình

Từ góc nhìn văn hóa, những quan niệm trên rất quý báu. Tuy nhiên, trong điều kiện gia đình và dòng họ đang chịu nhiều biến động mạnh mẽ dưới tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, không ít băn khoăn đặt ra: liệu sự đánh giá như trên có lạc quan quá hay không? Giải đáp nỗi băn khoăn này đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc xem xét quan niệm mà còn phải tìm hiểu về hành vi của người dân. Nói rộng ra là phát hiện cơ sở xã hội nào đã bảo đảm cho sự đánh giá của người dân là đúng với những gì họ nghĩ.

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, sau 20 năm đổi mới, gia đình ở Việt Nam đã có nhiều biến đổi. Hai địa phương Tam Sơn và Đồng Kỵ được nghiên cứu như đã nêu cũng không là ngoại lệ. Về mặt kinh tế, từ chỗ chỉ có chức năng tiêu thụ dưới thời hợp tác xã bao cấp, khi đổi mới, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh nên ngành nghề phát triển, mức sống cao hơn, điều kiện sống được cải thiện… Trong quan hệ gia đình, nếu trước đây những bất cập nổi bật là sự bất bình đẳng, sự thủ tiêu lợi ích cá nhân, cá tính, thì ngày nay – sau nhiều cuộc cải cách xã hội – quan hệ giữa vợ và chồng, bố mẹ và con cái có tính dân chủ hơn, vị thế người phụ nữ được nâng lên, quyền tự do của mỗi cá nhân được coi trọng.

Xét theo cơ cấu, ở mỗi gia đình, số con đã giảm xuống, việc sinh con trai để “nối dõi tông đường” không còn là nguyên tắc bất di bất dịch, tỷ lệ ly hôn ở hai địa phương này cũng chỉ chiếm chưa đến 1%. Từ góc độ văn hóa tinh thần, các hình thức hưởng thụ văn hóa mới như: xem truyền hình, nghe ra-đi-ô, đọc sách báo… đã chiếm tỷ lệáp đảo. Nếp sống mới khuyến khích việc đưa các cháu nhỏ tới lớp mẫu giáo để bố mẹ, ông bà có thêm thời gian lao động, nghỉ ngơi cũng được hầu hết các nhóm xã hội ủng hộ…

Rõ ràng, những biến đổi theo chiều hướng ngày càng no đủ, bình đẳng, dân chủ và văn minh như trên đang làm tăng thêm vai trò và củng cố vị trí vững chắc của gia đình.

Nhưng mặt khác, bên cạnh những yếu tố động, các biến đổi trong gia đình cũng có yếu tố tĩnh ít biến đổi hơn. Lối sống gia đình ở hai địa phương được xem xét vẫn bảo lưu nhiều nét của gia đình cổ truyền. Chẳng hạn, ở Đồng Kỵ, mặc dù là nơi có mức sống rất cao với nguồn thu từ các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ của nhiều hộ mỗi năm hàng trăm triệu, người dân vẫn không xa rời với truyền thống nông nghiệp. Hầu hết các gia đình vẫn giữ đất canh tác, số hộ không còn đất chỉ chiếm 5,6%. Họ vẫn tự sản xuất – kinh doanh trên phần ruộng của mình, số cho thuê, cho mượn không đáng kể. Trong sinh hoạt hằng ngày, gần 100% các gia đình ở cả hai làng đều giữ thói quen ăn chung cho tất cả mọi người trong nhà. Giữa các thế hệ luôn có mối liên hệ chặt chẽ và ấm áp. Nếp sống cổ truyền trong đó bố mẹ ở với con trai trưởng vẫn được giữ…

Như vậy, không chỉ những yếu tố động mà cả những yếu tố tĩnh đều góp phần củng cố sự bền vững của gia đình, với tư cách là một giá trị trong hệ giá trị văn hóa làng.

– Dòng họ

Ở thời điểm chuyển giao giữa thời kỳ bao cấp sang giai đoạn đổi mới, với việc hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ bị giải thể, các hộ gia đình nông thôn phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh trên phần ruộng được giao khoán lâu dài của mình. Trong điều kiện đó, để có thể tồn tại và phát triển, người nông dân đã quay trở về tìm chỗ dựa trong các mối quan hệ của họ hàng thân tộc nhằm khắc phục những khó khăn của buổi đầu tự lập như: công cụ, sức lao động, vốn liếng, kỹ thuật… Hầu hết các gia đình khi gặp khó khăn đã nhờ vả, nương tựa vào họ hàng nội ngoại, nhất là các mối quan hệ cận huyết. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, công việc kinh doanh ở các địa phương như đã nêu vẫn có sự đan xen đậm nét của các quan hệ họ hàng, làng mạc, thể hiện rõ nét nhất ở việc thuê mướn lao động ưu tiên cho những người thuộc họ tộc thân thích và người làng. Những biểu hiện trên mặc dù không phải là cách giải quyết tối ưu song nó càng khẳng định vai trò của dòng họ trong điều kiện hiện nay.

Về mặt quản lý và quyền lực, người ta thường nói đến tệ kéo bè kéo cánh của dòng họ. Nhưng điều đó hiện nay không còn mang tính phổ biến và ảnh hưởng tiêu cực của nó không lớn. Ngay trước đây ở nông thôn, sự đan xen của nguyên lý tập hợp nhiều người khác nhau như lớp tuổi (giáp), địa vực (xóm, ngõ), sự tự nguyện (phe, phường, hội) và nhất là về kinh tế (giai cấp, tầng lớp) đã làm cho dòng họ không phải là một đơn vị thống nhất và duy nhất để có thể khuynh loát mọi điều. Ngày nay, với sự bổ sung của các nhân tố mới như chính quyền, đoàn thể, các quan hệ dòng họ càng không thể giữ vai trò quyết định trong đời sống chính trị – xã hội làng, xã. Việc “kéo bè kéo cánh” trong các dòng họ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết xóm làng thực sự không phải trầm trọng và mang tính phổ biến như nhiều người vẫn lầm tưởng. Điều đó góp phần nâng cao nét đẹp hình ảnh dòng họ trong đời sống ở nông thôn hiện nay.

Về mặt văn hóa tinh thần, nhờ việc tạo ra niềm cộng cảm dựa trên huyết thống, dòng họ từ xưa đến nay vẫn là một chỗ dựa vững chắc đối với mỗi cá thể trong cộng đồng. Không chỉ dừng lại ở quan niệm, việc đề cao dòng họ về phương diện văn hóa tinh thần còn được thể hiện trong các hành vi cụ thể của mỗi người, như sự tham dự của họ vào các ngày giỗ tổ, trong việc sửa sang từ đường, xây cất mồ mả tổ tiên, cưới xin, ma chay, khuyến học, khuyến tài trong dòng họ. Sự tham gia nhiệt thành và tâm huyết của người dân vào các hoạt động trên khẳng định vai trò của dòng họ vẫn còn quan trọng trong đời sống cộng đồng dân cư làng, xã.

Vai trò của gia đình và dòng họ không chỉ được bảo lưu bền vững ở các làng, xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp mà còn ở cả những nơi có nghề phụ phát triển, hòa nhập và chịu tác động sâu vào nền kinh tế thị trường với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Đồng Kỵ là một làng sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ phát triển với lối sống của người dân đã có phần đô thị hóa, nhưng các giá trị cổ truyền làng, xã vẫn được gìn giữ và phát huy đậm nét. Đó là việc duy trì các bữa ăn chung hằng ngày, việc tổ chức các ngày lễ, tết trong năm, thăm nom cha mẹ, mối quan hệ chặt chẽ giữa ông bà, cha mẹ và con cái trong phạm vi gia đình, việc liên kết làm ăn kinh tế trong dòng họ, giỗ tổ họ… Đây là những nét đẹp và biểu hiện khẳng định sức sống bền vững của gia đình, dòng họ trong lối sống thôn làng của người Việt.

Vai trò của gia đình và dòng họ với những giá trị tốt đẹp và đặc trưng trong nếp sống không những không bị mai một mà còn thích ứng, biến đổi, tạo ra các giá trị mới và có khả năng trường tồn cùng với đời sống làng, xã Việt Nam.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 18 (138) NĂM 2007

Trẻ em Việt nam được người Pháp nhận làm con nuôi: xác định luật áp dụng (Bản án của Tòa Phúc thẩm Grenoble)

NHÂN DANH NHÂN DÂN PHÁP

Tòa phúc thẩm Grenoble, Phòng biện pháp khẩn cấp

Bản án ngày 8 tháng 3 năm 2000

Bên kháng cáo

Ông X

Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954

quốc tịch Pháp

Bà Y

Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966

Quốc tịch Pháp

Phiên tòa gồm

Khi thảo luận và nghị án:

Bà …. Chủ tịch hội đồng

Bà … Thẩm phán

Bà … Thẩm phán

Tham gia phiên tòa còn có

Bà … Thư ký

Bà … Đại diện Viện Công tố

Phần thảo luận

Trong buổi thẩm vấn không công khai tại Phòng thẩm phán ngày 2 tháng 2 năm 2000,

Sau khi chuyển hồ sơ cho đại diện Viện kiểm sát,

Sau khi nghe trình bày của luật sư và đại tụng viên, kết luận viết và trình bày của đại diện Viện kiểm sát,

Hồ sơ vụ án đã chuyển sang phần nghị án trước khi tuyên án công khai tại phiên tòa hôm nay.

Ông X và vợ là bà Y đã gửi kháng cáo đúng thủ tục bằng thư bảo đảm ngày 17 tháng 6 năm 1999 bản án ngày 19 tháng 5 năm 1999 của Tòa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JALLIEU.

Tóm tắt sự việc, trình tự giải quyết và lập luận của các bên

Ngày 19 tháng 7 năm 1996, Ông bà X-Y được Hội đồng dân cử vùng Isere cấp giấy phép nhận con nuôi.

Ngày 4 tháng 8 năm 1998, hai người đến Việt nam để tìm con nuôi.

Ngày 7 tháng 8 năm 1998, cô Z, chưa lập gia đình, mẹ đẻ của cháu A, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1998 (không xác định được người cha), đã ký giấy từ bỏ con tại Ủy ban nhân dân xã Quang Khuê, huyện Ba Bể, tỉnh T. (Thái nguyên).

Ngày 22 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh đã ký quyết định cho phép ông bà X-Y nhận cháu bé làm con nuôi.

Cùng ngày, biên bản giao cháu A cho ông bà X-Y làm con nuôi trọn vẹndứt khoát được lập với sự có mặt của đại diện Sở tư pháp. 

Ngày 21 tháng 8 năm 1999, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đã cấp cho ông bà X-Y giấy chứng nhận cho phép cháu bé định cư tại Pháp.

Trở về Pháp, ngày 18 tháng 9 năm 1998, ông bà X-Y nộp đơn lên Chưởng lý hạt BOURGOIN – JANLIEU xin công nhận cháu A là con nuôi trọn vẹn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1999, Tòa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JANLIEU ra quyết định từ chối yêu cầu chính của ông bà X-Y là xin được công nhận cháu A con nuôi trọn vẹn, mà chỉ chấp nhận yêu cầu thứ yếu công nhận cháu A là con nuôi ơn giản

Ông bà X-Y kháng cáo quyết định sơ thẩm.

Ông bà X-Y lập lụân rằng « Giấy từ bỏ » trong hồ sơ của Tòa là do mẹ đẻ cháu bé ký và đã được Ủy ban nhân dân xác nhận thể hiện rõ cô Z tự nguyện đồng ý cho con nuôi  và nhận thức đầy đủ hệ quả pháp lý của việc nhận con nuôi (trọn vẹn) qui định trong luật của Pháp  ; rằng theo án lệ đã ổn định của Pháp, hai vợ chồng Pháp có thể xin con nuôi trọn vẹn một đứa trẻ mà luật nhân thân của trẻ không qui định hoặc thậm chí cấm việc nhận con nuôi (trọn vẹn) nếu như, không phụ thuộc vào qui định của luật pháp, người đại diện của trẻ đã đồng ý khi nhận thức được đầy đủ hệ quả của việc nuôi con nuôi (trọn vẹn) ; rằng sự đồng ý của mẹ đẻ đứa trẻ đã đáp ứng hết các điều kiện nói trên và rằng việc ông bà nhờ tới trung gian của một người thứ 3 để liên hệ với cháu bé không ảnh hưởng gì đến tính chất của việc đồng ý này.

Ông bà X-Y đề nghị tòa phúc thẩm công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn với tấp cả hệ quả pháp lý kèm theo.

Đại dịên Viện kiểm sát, căn cứ vào những tài liệu ông bà X-Y cung cấp, không có ý kiến phản đối yêu cầu của họ.

Xét rằng

Theo qui tắc đã ổn định trong luật của Pháp thì trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, luật (nhân thân) của người nuôi con nuôi điều chỉnh điều kiện và hệ quả của việc nuôi con nuôi, luật (nhân thân) của con nuôi xác định điều kiện (hiệu lực) của thòa thụân cho con nuôi và vấn đề đại diện của trẻ.

Nếu luật Việt nam chỉ qui định trường hợp nhận con nuôi đơn giản, thì theo lụât của Pháp, việc nhận con nuôi trọn vẹn tại Pháp một đứa trẻ mà luật nhận thân gốc không qui định hoặc thậm chí cấm chế định này, vẫn có thể được chấp nhận với điều kiện người đại diện hợp pháp của trẻ đã đồng ý sau khi nhận thức được đầy đủ hệ quả pháp lý qui định trong luật của Pháp về việc nhận con nuôi trọn vẹn, cụ thể là  tính chất đầy đủ và vĩnh viễn của việc nuôi con nuôi và việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lý giữa đứa trẻ và gia đình gốc.

Trong vụ kiện, tài liệu cho thấy thủ tục cho phép nuôi con nuôi, với tính chất thủ tục hành chính tại Việt nam, là phù hợp với luật pháp nước này : Giấy từ bỏ ký ngày 7 tháng 8 năm 1998 trước mặt Ủy ban nhân dân xã ; chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh T. bằng quyết định ngày 22 tháng 8 năm 1998 theo đề xuất của Sở tư pháp, đã cho phép ông bà X nhận đứa trẻ làm con nuôi.

Thi hành quyết định này, Biên bản giao con nuôi đã được lập cùng ngày xác nhận việc cháu A đã được giao cho ông bà X-Y để làm con nuôi « trọn vẹn và vĩnh viễn », với sự có mặt của Giám đốc sở tư pháp và mẹ đẻ cháu bé,.

Sau hết, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đã cấp giấy chứng nhận cho phép đứa trẻ định cư tại Pháp.

Việc cô Z, mẹ đẻ của đứa trẻ là người duy nhất được quyền cho phép nuôi con nuôi do người cha vắng mặt là không thể bác bỏ.

Giấy từ bỏ ký ngày 7 tháng 8 năm 1998 do cô Z viết có nội dung như sau :

« Tôi đồng ý để con gái tôi có tên như trên làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn của ông X và bà Y, quốc tịch Pháp, cư trú tại V. Tôi tự nguyên giao con tôi cho người nước ngoài nhận làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn và cam kết không bao giờ đòi lại ».

Cam kết trên, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Quang Khê nơi cư trú của cô Z xác thực, đã thể hiện đồng ý cho con nuôi trọn vẹn là tự nguyện và cô Z nhận thức được việc chấm dứt vĩnh viễn mọi quan hện (pháp lỹ) với đứa trẻ.

Việc đồng ý được tái khẳng định bởi vì mẹ đẻ của cháu bé có mặt ngày 22 tháng 8 năm 1998 trong lễ bàn giao con nuôi và ký vào biên bản mà không bảo lưu.

Vì vậy, việc đồng ý của cô Z là tự nguyên và nhận thức được hậu quả hành vi của mình.

Việc ông bà X-Y đã nhờ tới trung gian của một người thứ 3 chỉ để liên hệ với mẹ đẻ của cháu bé không ảnh hưởng gì đến nội dung của việc đồng ý này.

Do vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu nhận con nuôi trọn vẹn của nguyên đơn vì chế định này, ngược lại với chế định nhận con nuôi đơn giản, duy nhất có thể đảm bảo sự hòa nhập hoàn toàn của đứa trẻ vào gia đình cha mẹ nuôi cững như trong xã hội Pháp và phù hợp với lợi ích của con nuôi.

Vì lý do trên,

Tòa

quyết định công khai, bằng bản án tranh tụng cấp cho các bên theo qui định của pháp luật,

Về hình thức: chấp nhận đơn kháng cáo của ông bà X-Y

Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của ông bà X-Y, sửa án sơ thẩm ngày 19 tháng năm 1999 và quyết định lại như sau

Tuyên công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn cháu A, giới tính nữ, sinh gnày 10 tháng 5 năm 1998, tại bệnh viện đa khoa Bắc cạn, tỉnh T, Việt nam, của ông X, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954 và bà Y vợ ông X, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966, cả hai cư trú tại tỉnh U.

Tuyên cháp bé từ nay sẽ mang họ cha X và tên …

Lệnh chuyển bản án để ghi chú vào Sổ Đăng ký hộ tịch (Trung tâm về hộ tịch tại Nantes) và việc ghi chú này sẽ thay cho giấy khai sinh của con nuôi

Án phí sẽ do Kho bạc nhà nước thanh toán

Bản án đã được Bà …tuyên công khai và bà … đã ký.

Bản sao có giá trị thi hành được cấp cho

S.C.P. CALAS
S.C.P. GRIMAUD
Me RAMILLON
S.C.P. PERRET & POUGNAND
S.E.LA.R.L. DAUPHIN & NEYRET

SOURCE: vietnamese-law-consultancy.com

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU CẢI CÁCH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN – THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI

TS. LÊ NẾT –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Điều khoản giải quyết tranh chấp bao giờ cũng là một phần của bất cứ hợp đồng thương mại quốc tế nào. Thông thường, các bên hay chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là trọng tài nước ngoài hơn là Tòà án Việt Nam hay trọng tài Việt Nam. Tại sao vậy? Trước khi ban hành Pháp lệnh Trọng tài, chúng ta có thể giải đáp những thắc mắc trên là do cơ chế trọng tài cũ còn nặng nề những qui định từ thời kỳ bao cấp của trọng tài kinh tế. Song từ khi Pháp lệnh Trọng tài ra đời,1 các giải pháp được đề ra trong Pháp lệnh rất tương đồng với các thủ tục trọng tài của Trung tâm Luật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) hay của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC). Như vậy tại sao thủ tục trọng tài tại Việt Nam vẫn chưa được tín nhiệm. Báo cáo này xin đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp thông qua con đường trọng tài tại Việt Nam, và những vướng mắc chưa giải quyết.

Về các vướng mắc, bài viết sẽ tập trung đi vào hai vấn đề mấu chốt: chọn trọng tài viên và thời gian giải quyết tranh chấp. Đó là vì khi soạn thảo điều khoản giải quyết tranh chấp, vấn đề các bên quan tâm sẽ là “khi tranh chấp xảy xa, tôi có được xử công bằng và nhanh chóng không?” Liên quan đến câu hỏi trên sẽ là hai câu hỏi: “ai sẽ xử vụ tranh chấp của chúng tôi?”, và “tốn bao nhiêu thời gian để có được kết quả?”.

1. Chọn trọng tài viên

Khoản 3 Điều 49 có qui định: “Trọng tài viên do các bên chọn hoặc do Tòa án chỉ định có thể là Trọng tài viên có tên trong danh sách hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài của Việt Nam hoặc là Trọng tài viên nước ngoài theo quy định của pháp luật về trọng tài nước đó”. Tuy nhiên, qui định tại Điều 49 không nói rõ bên nước ngoài có quyền chọn trọng tài viên theo “pháp luật về trọng tài nước đó” không, nếu hợp đồng qui định sẽ giải quyết tranh chấp theo luật Việt Nam và pháp luật trọng tài của Việt Nam. Để cho rõ, theo tôi, câu “theo quy định của pháp luật về trọng tài nước đó” có thể được lược bỏ.

Vấn đề chọn trọng tài viên nước ngoài là một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay của Pháp lệnh. Mặc dù có qui định tại Điều 49, Điều 25 Pháp lệnh Trọng tài lại qui định rằng trọng tài viên sẽ được chọn trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài. Một thực tế xảy ra là phần lớn các Trung tâm trọng tài ở Việt Nam chỉ có người Việt Nam là thành viên. Đây là điều sẽ làm cho bên nước ngoài e ngại. Họ không thể chọn người nước ngoài làm trọng tài viên vì không có tên trọng danh sách. Nếu họ phải chọn một trọng tài viên là người Việt Nam, các nghi vấn tiếp theo sẽ là: “tôi có thể tin trọng tài viên đó không? Trọng tài viên đó có vô tư không? Trọng tài đó có đủ khả năng giải quyết vấn đề phức tạp của tôi không?”. Nếu họ không chắc những vấn đề đó, sẽ rất khó thuyết phục các bên chọn một Trung tâm trọng tài Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, việc một số trung tâm vẫn qui định tiếng Việt là ngôn ngữ của trọng tài (trong khi Pháp lệnh cho phép các bên lựa chọn) cũng là một lý do tại sao các bên nước ngoài ngại lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam.

Một số trung tâm trọng tài cho rằng nếu cho phép các bên chọn trọng tài ngoài danh sách thì trung tâm không thể nào chịu trách nhiệm về chất lượng cũng như tư cách đạo đức của trọng tài viên. Các lo ngại này không phải không có cơ sở. Tuy nhiên họ có thể tránh chịu trách nhiệm bằng qui định “trung tâm sẽ không chịu trách nhiệm về hành vi của trọng tài viên trong trường hợp trọng tài viên đó do một bên chọn ngoài danh sách của trung tâm”. Đây cũng là cách mà Quy tắc Trọng tài ICC đã chọn (Điều 34).

Thiết nghĩ, để cho nhất quán với Điều 49, thì Điều 25 của Pháp lệnh Trọng tài nên qui định rằng các bên có quyền chọn trọng tài viên ngoài danh sách. Đi xa hơn nữa, các trung tâm trọng tài trong nước có thể mời các chuyên gia nước ngoài vào danh sách các trọng tài viên của mình.

2. Thời gian tố tụng

Trong Pháp lệnh vẫn còn các bẫy về thời gian khiến thủ tục trọng tài theo luật Việt Nam có thể bị kéo dài một cách không cần thiết và không dự đoán được. Các bẫy đó nằm ở ba điểm: vắng mặt trong phiên xử, thẩm quyền trọng tài và thời gian xét xử.

Đối với vấn đề thứ nhất, các bên có thể vắng mặt trong phiên xử nếu có “lý do chính đáng” (Điều 40), và không định nghĩa thế nào là lý do chính đáng cũng như thời hạn thông báo. Như vậy, các bên có thể liên tục vắng mặt với “lý do chính đáng”. Trong khi đó, Qui tắc UNCITRAL qui định các bên chỉ được phép vắng mặt nếu thông báo cho Hội đồng trọng tài trước phiên xử ít nhất 15 ngày. Qui tắc ICC cũng qui định tương tự (Điều 20-21).

Đối với vấn đề thứ hai, Pháp lệnh cho phép các bên phản đối thẩm quyền trọng tài cũng như tư cách của trọng tài viên trong bất cứ thời gian nào trước khi quyết định trọng tài được đưa ra. Như vậy, mọi cố gắng giải quyết tranh chấp có thể uổng phí nếu sau đó bị đơn nại rằng hội đồng trọng tài không có thẩm quyền hay có một trọng tài viên không vô tư khi làm nhiệm vụ. Trong khi đó, Qui tắc UNCITRAL qui định bị đơn chỉ được phép phản đối thẩm quyền của trọng tài không muộn hơn khi nộp bản tự bảo vệ. Qui tắc ICC còn qui định việc không nộp bản tự bảo vệ có nghĩa là bị đơn đã từ bỏ quyền phản đối đơn kiện. Pháp lệnh không có qui định như vậy, khiến cho bị đơn có thể phản đối đơn kiện kể cả khi không có bản tự bảo vệ.

Đối với vấn đề thứ ba (thời gian xét xử), Pháp lệnh không có qui định cụ thể khi nào thì phải kết thúc xét xử và ra quyết định, trong khi đó Qui tắc UNCITRAL qui định phiên họp giải quyết tranh chấp sẽ kết thúc khi các bên không đưa ra thêm được bằng chứng gì. Qui tắc ICC, tại Điều 22 cũng qui định phiên họp giải quyết tranh chấp sẽ kết thúc khi các bên đã có cơ hội trình bày về vụ việc và không được phép mở lại trừ trường hợp Hội đồng cho phép. Điều này khiến cho thủ tục giải quyết tranh chấp được tiến hành nhanh hơn, tránh tình trạng các bên cố tình tạo ra chứng cứ mới và yêu cầu mở lại phiên họp để trì hoãn việc ra quyết định.

3. Các vấn đề khác

Ngoài vấn đề chỉ định trọng tài và thời gian giải quyết tranh chấp, Pháp lệnh còn có một số điểm sau đây sẽ ảnh hưởng đến kết quả giải quyết tranh chấp.

– Đối chứng giám định: Đối với những vấn đề kỹ thuật, hoặc các qui định liên quan đến pháp luật nước ngoài, đôi khi hội đồng trọng tài không đủ kiến thức để giải quyết. Khi đó, các bên có thể mời giám định (Điều 32 Pháp lệnh Trọng tài). Tuy nhiên khác với Qui tắc UNCITRAL, Pháp lệnh không qui định về việc đối chứng giữa các giám định viên nếu giám định viên mỗi bên nói mỗi khác (expert interrogation).

– Nguyên tắc giải quyết tranh chấp: Pháp lệnh tuy qui định các trình tự tố tụng trọng tài, song không qui định rõ trọng tài viên sẽ xem xét vụ việc dựa trên tiêu chí nào, cũng không nêu bật được nguyên tắc giải quyết tranh chấp. Trong khi đó Qui tắc UNCITRAL qui định trọng tài viên có thể tiến hành giải quyết theo bất cứ phương thức nào, tuy nhiên nội dung của phán quyết phải đảm bảo tính công bằng cho các bên, và phải cho các bên cơ hội để trình bày quan điểm của mình. Qui tắc ICC cũng qui định như vậy (Điều 15). Thiết nghĩ, một điều khoản về nguyên tắc giải quyết trọng tài sẽ hạn chế rủi ro khi phán quyết sai về mặt nội dung do không nhìn nhận đúng vấn đề, do áp dụng luật sai hay do luật không qui định rõ ràng. Điều này chưa hẳn là do trọng tài viên không vô tư, khách quan (khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh), vì thế nên không thể hủy phán quyết trong những trường hợp như vậy. Trong Pháp lệnh, Tòa án chỉ có thể hủy phán quyết trọng tài nếu có vi phạm về tố tụng (Điều 54). Nếu các đối tác nước ngoài không tin tưởng về trình độ trọng tài viên Việt Nam và luật áp dụng là luật Việt Nam, thì họ cũng không đủ can đảm để thỏa thuận rằng phán quyết của trọng tài là chung cuộc và bắt buộc phải thi hành. Vì vậy, xác định một tiêu chuẩn giải quyết tranh chấp trọng tài về mặt nội dung là rất cần thiết.

Quyết định trọng tài từng phần hay tạm thời: Các qui định tại Qui tắc UNCITRAL cho phép hội đồng trọng tài ra các quyết định từng phần và tạm thời (interim, interlocutory, partial awards) song vẫn được coi là quyết định sau cùng ràng buộc đối với các bên. Thí dụ, trong tranh chấp có ba điểm, song chỉ có hai điểm rõ ràng và một điểm còn chưa rõ. Hội đồng trọng tài có thể ra phán quyết tạm thời hay từng phần đối với những phần đã rõ. Trong Pháp lệnh hiện chưa có qui định như vậy.

– Chi phí: Chi phí trọng tài hiện nay tại các Trung tâm trọng tài Việt Nam còn tương đối thấp và không qui định rõ các bên có thể phải trả thêm chi phí đi lại, lưu trú của trọng tài viên nếu mời trọng tài viên từ địa phương khác hay từ nước ngoài hay không. Điều này cũng ảnh hưởng phần nào đến khả năng lựa chọn những người có trình độ nhất để giải quyết tranh chấp, nếu họ không cư trú gần nơi giải quyết tranh chấp.

Tóm lại, doanh nghiệp chọn hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp vì trình độ chuyên môn cao của trọng tài viên và vì thủ tục đơn giản, nhanh chóng. Nếu Pháp lệnh không giải quyết được hai vấn đề này – thông qua việc cho phép chọn trọng tài viên nước ngoài một cách đơn giản hay rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp bằng cách qui định rõ các thời hạn; thì sẽ rất khó để các bên có thể chọn giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Ngoài ra, một số vấn đề khác như nguyên tắc giải quyết tranh chấp hay khả năng ban hành quyết định tạm thời hay từng phần cũng nên được đề cập đến, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thủ tục trọng tài Việt Nam và trọng tài quốc tế, đồng thời tạo thêm niềm tin cho các doanh nghiệp nước ngoài khi làm ăn tại Việt Nam.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ …./2006