TRÁNH THẤT THOÁT TÀI SẢN NHÀ NƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA (về quyền sử dụng đất khi xác định giá trị doanh nghiệp)

Tránh thất thoát tài sản nhà nước khi cổ phần hoá Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… Người sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh được lựa chọn hình thức nhận giao đất có thu tiền sử dụng dất hoặc thuê đất của nhà nước; nhận chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Luật quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất tuỳ theo hình thức thuế đất hay nhận giao đất. Cụ thể như: Đối với Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có các quyền và nghĩa vụ như: (i) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; (ii) Cho thuê quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; (iii) Tặng cho quyền sử dụng đất cho nhà nước, tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; (iv) Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn theo quy định của pháp luật; (v) Góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền nhưng tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng các công trình không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất. Người mua tài sản được nhà nước tiếp tục giao đất không thu tiền sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
Trường hợp tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê có các quyền và nghĩa vụ như: (i) Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật; (ii) Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuế; người mua tài sản được nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định; (iii) Cho thuê lại đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng tại khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế; (iv) Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có các quyền và nghĩa vụ như quy định đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ như đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ như đối với tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai, tổ chức kinh tế thuê đất thì không có đủ các quyền về đất đai như đối với trường hợp tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất nộp ngân sách nhà nước không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá 70 năm. Theo đó, tiền sử dụng đất đã nộp NSNN hoặc nhận quyền chuyển nhượng hợp pháp về quyền sử dụng đất, tổ chức kinh tế được khấu hao và tính vào chi phí kinh doanh, mức khấu hao tối thiểu hàng năm bằng tổng số tiền nộp cho nhà nước hoặc trả tiền nhận chuyển nhượng hợp pháp chia cho số năm được giao quyền sử dụng đất. Trường hợp tổ chức kinh tế trả tiền về nhận chuyển nhượng đất lâu dài thì không tính khấu hao vào chi phí khoản tiền này (theo quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam); sở dĩ quy định không khấu hao đối với tổ chức kinh tế có quyền sử dụng đất lâu dài vì khi khấu hao hết giá trị, tổ chức kinh tế vẫn còn nguyên quyền sử dụng đất, mặt khác, giá trị quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng bởi vì đất đai ít gia tăng.
Việc chuyển đổi Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần thực chất là nhà nước chuyển đổi sở hữu giá trị tài sản thuần tương ứng với vốn nhà nước có tại doanh nghiệp tại thời điểm chuyển đổi và chuyển đổi Công ty nhà nước sang hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần. Giá trị tài sản thuần được xác định bằng tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ đi nợ phải trả. Trong đó giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất nhà nước giao có thu tiền (nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền) và giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, Thông tư số 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định: đối với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp được lựa chọn một trong hai hình thức thuê đất hoặc giao đất có nộp tiền sử dụng đất. Trong đó, nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp; Công ty cổ phần tiếp tục ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật và quản lý sử dụng đúng mục đích, không được nhượng bán; đối với đất đã nhận giao, đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, hoặc mua quyền sử dụng đất của các cá nhân, pháp nhân khác nếu chuyển sang thuê đất thì chỉ tính vào giá trị doanh nghiệp các khoản chi phí làm tăng giá trị sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất như: chi phí đền bù, giải toả, san lấp mặt bằng. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính giá trị doanh nghiệp để tính giá trị doanh nghiệp tính theo giá do UBND tỉnh quy định nhưng không tính tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Công ty cổ phần phải nộp số tiền này cho ngân sách nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai; đối với diện tích đất doanh nghiệp đã được giao, đã nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước: phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do UBND tỉnh quy định, khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại với giá trị hạch toán trên sổ kế toán được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Quy định về quyền sử dụng đất tính hay không tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá theo quy định như trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của văn bản pháp luật về đất đai.
Theo quy định giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được quy định tại Thông tư số 126/2004/TT-BTC, bao gồm: vị trí địa lý, giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển. Giá trị lợi thế kinh doanh được xác định bằng giá trị phần vốn nhà nước theo sổ kế toán tại thời điểm định giá nhân với (x) tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 3 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp trừ (-) lãi suất trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 10 năm trở lên tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo các tính này giá trị lợi thế kinh doanh chưa thể hiện đầy đủ tiềm năng phát triển của doanh nghiệp hoặc lợi thế về địa lý đối với một doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh thuận lợi và vị trí “đẹp”, mặc dù giá quyền sử dụng đất đã được quy định cao hơn nhiều đối với đất ở vị trí khác; đặc biệt đối với những doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá có kết quả kinh doanh thấp hạơc bị lỗ thì sẽ không có giá trị lợi thế kinh doanh dù đó là ở vị trí đẹp thứ nhất nhì ở một địa bàn nào đó . Do đó, để phản ánh đúng giá trị doanh nghiệp làm cơ sở cho việc xác định giá sàn để thực hiện đấu giá doanh nghiệp chuyển đổi sở hữu, nhà nước cần hoàn thiện phương thức tính toán lợi thế kinh doanh sao cho phù hợp với những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh lãi hoặc bị lỗ để phản ảnh đúng lợi thế địa lý, tiềm năng phát triển và giá trị thương hiệu của doanh nghiệp. Từ đó khắc phục được tình trạng thất thoát lợi ích của nhà nước tại Công ty mà nhà nước thực hiện chuyển đổi sở hữu nói chung và giá trị quyền sử dụng đất có tại doanh nghiệp nói riêng góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp lại Công ty nhà nước.

(Nguồn: TCDN – MOI.GOV.VN)

 

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CẦN QUAN TÂM KHI NHẬN THẾ CHẤP TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

Trong giai đoạn hiện nay, số lượng các doanh nghiệp nhận thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng không phải hợp đồng tín dụng (như hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mua bán tài sản…) ngày càng nhiều. Theo các chuyên gia đây là một trong những dấu hiệu đáng mừng của nền kinh tế nhằm thúc đẩy giao lưu giữa các nguồn vốn, cũng như thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phục vụ sản xuất, kinh doanh. Để thuận lợi cho bạn đọc khi tiếp cận các quy định của pháp luật hiện hành, cũng như thuận lợi trong quá trình áp dụng, chúng tôi xin cung cấp một số kiến thức pháp lý cơ bản về vấn đề này.

1. Về thế chấp và đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai để bảo đảm cho hợp đồng thuê

          Theo quy định tại của Bộ luật dân sự thì thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 318) và hợp đồng dân sự là một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự (khoản 1 Điều 281). Như vậy, tổ chức, cá nhân có quyền thoả thuận việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản.

          Trong trường hợp tài sản hình thành trong tương lai là nhà ở, công trình kiến trúc khác, rừng sản xuất là rừng trồng, vườn cây lâu năm được dùng để thế chấp cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thuê thì việc đăng ký thế chấp được thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nơi có tài sản gắn liền với đất đó. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT.

          Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Mục I của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT thì “việc thế chấp tài sản gắn liền với đất không thuộc các trường hợp đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì  đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp theo Thông tư số 01/2002/TT-BTP ngày 09/01/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và các Chi nhánh”

      2. Thỏa thuận về tài sản thế chấp

          Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc thế chấp tài sản gắn liền với đất không đương nhiên bao gồm cả thế chấp quyền sử dụng đất. Do vậy, việc thế chấp tài sản gắn liền với đất hoặc thế chấp tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất hoàn toàn do các bên thoả thuận, quyết định.

          Pháp luật chỉ quy định về điều kiện thế chấp và trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp đối với tài sản gắn liền với đất, đối với quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

3. Về xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên thế chấp không trả được nợ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước hoặc không trả được nợ cho ngân hàng

          3.1. Trong trường hợp bên thế chấp không trả được nợ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước thì toà nhà hình thành trong tương lai là tài sản thế chấp không đương nhiên bị tịch thu vì theo quy định của pháp luật hiện hành thì tài sản của chủ sở hữu chỉ bị tịch thu, suy quỹ nhà nước trong trường hợp tài sản đó là tang vật, phương tiện phạm tội trong vụ án hình sự hoặc tài sản đó là tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật hành chính.

          3.2. Trong trường hợp bên thế chấp không có khả năng trả nợ nghĩa vụ ngân  sách nhà nước hoặc trả nợ ngân hàng thì tòa nhà không bị tịch thu, nhưng nếu bên thế chấp bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì tòa nhà đó và các tài sản khác của bên thế chấp sẽ bị xử lý để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ.  

4.  Xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên thế chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc phá sản, giải thể

          4.1. Theo quy định tại Điều 355 của Bộ luật dân sự thì trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.

Do vậy, nếu bên thế chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc bị Toà án tuyên phá sản hoặc có quyết định giải thể thì bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo thoả thuận. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 325 Bộ luật dân sự và điểm 8.4 khoản 8 Mục I của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT thì trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký.

4.2. Khi xử lý tài sản thế chấp là toà nhà thì quyền sở hữu toà nhà đó có thể được chuyển cho bên nhận thế chấp vì theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ  về giao dịch bảo đảm thì “người mua tài sản bảo đảm, người nhận chính tài sản bảo đảm thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm đối với mình có quyền sở hữu đối với tài sản đó” và theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Đất đai thì “người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định”.

Trên đây là một số tình huống pháp lý đặt ra trong trường hợp tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai mà các bạn cần lưu ý. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến trao đổi từ phía bạn đọc.

SOURCE: nrast.moj.gov.vn

Kỹ năng tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu, HĐ thuê tài sản, HĐ cho thuê tài chính, HĐ chuyển giao quyền đòi nợ tại các Trung tâm Đăng ký GD, tài sản của Cục Đăng ký QGGDBĐ

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Hiện nay, việc tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (sau đây gọi chung là giao dịch bảo đảm) lưu giữ tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản (sau đây gọi tắt là Trung tâm Đăng ký) được thực hiện theo quy định của Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày tháng năm 2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Thông tư số 06), Thông tư số 04/2007/TT-BTP hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (sau đây gọi là Thông tư số 04).

Nhằm giúp cho việc tìm hiểu thông tin của các tổ chức, cá nhân diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, kết quả tìm hiểu thông tin được đầy đủ, chính xác, bài viết này giới thiệu những kỹ năng cần thiết trong việc tìm hiểu thông tin cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu tham khảo, lựa chọn.

1. Kỹ năng lựa chọn các hình thức tìm hiểu thông tin tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản

Nhằm đáp ứng các mục đích, nhu cầu đa dạng của cá nhân, tổ chức trong việc tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký, các Thông tư số 06 và Thông tư số 04 đã quy định nhiều hình thức tìm hiểu thông tin khác nhau cho người tìm hiểu thông tin lựa chọn trên cơ sở phù hợp với nhu cầu của mình. Theo quy định của các Thông tư, có ba hình thức tìm hiểu thông tin là Danh mục các giao dịch bảo đảm theo tên của bên bảo đảm (sau đây gọi tắt là Danh mục), Văn bản tổng hợp thông tin chi tiết về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Văn bản tổng hợp thông tin), Bản sao đơn yêu cầu đăng ký có chứng nhận của Trung tâm Đăng ký (sau đây gọi tắt là Bản sao đơn yêu cầu đăng ký).

Lưu ý: Khái niệm “bên bảo đảm” sử dụng trong bài viết này được dùng để chỉ bên bảo đảm trong giao dịch bảo đảm; bên bán trả chậm, trả dần trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần; bên thuê tài sản trong hợp đồng thuê tài sản; bên thuê tài chính trong hợp đồng cho thuê tài chính; bên chuyển giao quyền đòi nợ trong hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ.

1.1. Hình thức tìm hiểu thông tin theo Danh mục

Theo mẫu Danh mục của Trung tâm Đăng ký, người tìm hiểu thông tin được cung cấp các thông tin chung về những giao dịch bảo đảm mà bên bảo đảm đã tham gia và đang được lưu giữ tại Trung tâm Đăng ký, bao gồm thông tin về số hồ sơ, số đơn yêu cầu đăng ký, bên nhận bảo đảm, thời điểm đăng ký.

Nội dung của Danh mục không có thông tin cụ thể về tài sản bảo đảm, những lần thay đổi, sửa chữa nội dung đăng ký. Nếu muốn tìm hiểu những thông tin này thì người có nhu cầu tìm hiểu thông tin phải yêu cầu Trung tâm Đăng ký cung cấp thông tin theo các hình thức khác là Văn bản tổng hợp thông tin, Bản sao đơn yêu cầu đăng ký.

Một đặc điểm nữa của Danh mục là tiêu chí tìm kiếm và cung cấp các thông tin theo tên và số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của bên bảo đảm, được người có nhu cầu tìm hiểu thông tin kê khai trong đơn yêu cầu cung cấp thông tin. Do đó, nếu người có nhu cầu tìm hiểu thông tin không biết chính xác tên, số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của đối tượng cần tìm hiểu thì sẽ không thể có được thông tin chính xác, đầy đủ.

Bên cạnh đó, có những trường hợp thông tin về cùng một bên bảo đảm được lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu có những loại giấy tờ xác định tư cách pháp lý khác nhau. Theo quy định của Thông tư số 06 và Thông tư số 04, những đối tượng sau đây có thể được kê khai theo nhiều loại giấy tờ xác định tư cách pháp lý: Sỹ quan quân đội, quân nhân; cảnh sát nhân dân, an ninh nhân dân, công nhân, nhân viên trong lực lượng Công an nhân dân. Những đối tượng này vừa có thể được kê khai theo Chứng minh nhân dân, vừa có thể được kê khai theo các loại giấy tờ chứng minh nhân thân của ngành nơi người đó làm việc. Nếu người tìm hiểu thông tin chỉ tìm kiếm thông tin về đối tượng này theo một loại số giấy tờ xác định tư cách pháp lý thì sẽ bỏ sót thông tin về đối tượng này. Vì vậy, người tìm hiểu thông tin nên tìm hiểu thông tin theo một tiêu chí độc lập là tên của bên bảo đảm, bên cạnh việc tìm hiểu thông tin theo cả hai tiêu chí kết hợp.

Cũng có những trường hợp thông tin về một bên bảo đảm lưu giữ tại Trung tâm Đăng ký có nhiều tên gọi khác nhau nhưng có cùng số giấy tờ xác định tư cách pháp lý. Trong những trường hợp này, người tìm hiểu thông tin nên tìm hiểu thông tin theo một tiêu chí độc lập là số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của bên bảo đảm để có được thông tin đầy đủ.

1.2. Hình thức tìm hiểu thông tin theo Văn bản tổng hợp thông tin

Theo mẫu Văn bản tổng hợp thông tin của Trung tâm Đăng ký, người tìm hiểu thông tin được cung cấp các thông tin cụ thể, chi tiết về những giao dịch bảo đảm mà bên bảo đảm tham gia, bao gồm: số hồ sơ, số đơn yêu cầu đăng ký, thông tin về bên nhận bảo đảm, tài sản bảo đảm, thông tin về các lần thay đổi, sửa chữa sai sót, gia hạn (nếu có).

Những tiêu chí tìm kiếm thông tin theo hình thức Văn bản tổng hợp thông tin là tên; số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của bên bảo đảm; số khung, số máy của phương tiện giao thông cơ giới là tài sản bảo đảm.

So sánh với hình thức Danh mục, hình thức Văn bản tổng hợp thông tin có ưu điểm hơn hẳn là cung cấp thông tin về từng giao dịch bảo đảm đầy đủ hơn so với Danh mục, cụ thể là thông tin về tài sản bảo đảm, những lần thay đổi, sửa chữa sai sót, gia hạn. Ngoài ra, hình thức này cho phép tìm kiếm thông tin trực tiếp về tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới.

Một điểm hạn chế của Văn bản tổng hợp thông tin là nếu có sự thay đổi về tài sản, sửa chữa sai sót về nội dung mô tả tài sản, thì nó không cho người tìm hiểu biết về những nội dung đã bị thay đổi, sửa chữa sai sót.

1.3. Hình thức cung cấp thông tin theo Bản sao đơn yêu cầu đăng ký

Bản sao đơn yêu cầu đăng ký là một hình thức tìm hiểu thông tin mới, được quy định trong các Thông tư số 06 và Thông tư số 04. Hình thức này cho người tìm hiểu thông tin biết về toàn bộ lịch sử và nội dung đăng ký của một giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, người tìm hiểu thông tin chỉ lựa chọn được hình thức này khi đã biết thông tin về sự tồn tại của giao dịch bảo đảm đó, số hồ sơ, số đơn đăng ký của giao dịch bảo đảm. Đây là một ưu điểm vượt trội của hình thức Bản sao đơn yêu cầu đăng ký.

1.4. Kết luận

Mỗi hình thức tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm nêu trên có những đặc điểm riêng biệt. Đồng thời, mỗi hình thức đều có những ưu điểm riêng vượt trội so với hình thức khác. Người tìm hiểu thông tin cần căn cứ vào những thông tin về đối tượng cần tìm hiểu mà mình có được, để lựa chọn hình thức và cách thức tìm hiểu thông tin phù hợp. Trong một số trường hợp, cần kết hợp tìm hiểu thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau để có được một bức tranh toàn cảnh, đầy đủ và chính xác về các giao dịch bảo đảm có sự tham gia của đối tượng cần tìm hiểu.

2. Kỹ năng kết hợp giữa việc tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký với việc tìm hiểu thông tin từ các nguồn khác

Nội dung thông tin về giao dịch bảo đảm lưu giữ tại các Trung tâm Đăng ký được người yêu cầu đăng ký kê khai. Thông tin về các bên tham gia giao dịch được kê khai đầy đủ, theo đúng hướng dẫn của các Thông tư. Đối với nội dung mô tả tài sản bảo đảm, người yêu cầu đăng ký có thể lựa chọn giữa cách mô tả đầy đủ, chi tiết các đặc điểm của tài sản và cách mô tả chung về tài sản bảo đảm. Trong trường hợp tài sản bảo đảm được mô tả chung chung, người tìm hiểu thông tin cần tiếp tục tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm từ những nguồn khác trong thực tế.

Những nguồn thông tin có thể tham khảo, lựa chọn là:

(1). Các bên tham gia giao dịch bảo đảm đã được đăng ký và những người khác có liên quan;

(2). Các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng động sản như:

a) Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông trực thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

b) Sở Giao thông vận tải, Sở Giao thông công chính đối với phương tiện thủy nội địa được đăng ký tại

c) Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản hoặc Trung tâm Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản thuộc Sở NN&PTNT đối với tàu cá;

d) Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực đối với tàu biển;

đ) Cục Đường bộ Việt Nam, Sở Giao thông Vận tải, Sở Giao thông công chính đối với xe, máy chuyên dùng thi công đường bộ;

e) Văn phòng bảo hộ giống cây trồng thuộc Bộ NN&PTNT đối với các quyền đối với giống cây trồng; Cục Sở hữu trí tuệ v.v../.

SOURCE: MOj.GOV.VN

CÔNG VĂN SỐ 12/BTNMT – ĐĐ VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 2008

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Số: 12/BTNMT-ĐĐ

V/v đăng kýgiao dịch quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúcclip_image001

Hà Nội, ngày 02 tháng 01 năm 2008

 

Kính gửi: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Tại kỳ họp thứ hai (tháng 11 năm 2007), Quốc hội khoá XII đã thông qua Nghị quyết số 07/2007/QH12 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008, trong đó đã quyết định nhiều biện pháp để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định thời hạn hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước đến hết năm 2010.

Thực hiện Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hội và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP), Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Khoản 2 Điều 66 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP đối với việc đăng ký các giao dịch quyề sử dụng đất kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 như sau:

1. Đối với trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trước ngày 01 tháng 11 năm 2007 đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật về đất đai mà người đó có nhu cầu thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất thì giải quyết như sau:

1.1.Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/TP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất (gọi là Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT), trước khi thực hiện việc công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch, Phòng Công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải liên hệ với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nơi đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) để được cung cấp thông tin địa chính;

1.2. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm cung cấp thông tin địa chính theo Mẫu số 03/PYCCC bàn hành theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT và cung cấp thêm các thông tin sau:

a) Người sử dụng đất có hay không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai;

b) Trường hợp người sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì phải cung cấp thêm thông tin là người sử dụng đất có đủ điều kiện hay không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành của pháp luật về đất đai;

1.3. Phòng Công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện công chứng hoặc chứng thực hợp đồng giao dịch đối với trường hợp sau:

a) Người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai;

b) Người sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

1.4. Việc cung cấp thông tin địa chính, việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng giao dịch và việc đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP), Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT.

2. Trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2010 (theo thời hạn hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước được quy định trong Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hội).

Việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng giao dịch, việc đăng ký giao dịch được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT.

Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện thống nhất khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2006/NĐ-CP theo hướng dẫn nêu trên; đồng thời chỉ đạo việc lập và thực hiện kế hoạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của địa phương để sớm hoàn thành trước thời hạn nêu trên.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Tài nguyên và Môi trường để được giải quyết./.

Nơi nhận:

– Như trên;

– Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

– Bộ Tư pháp;

– Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên;

– Các Sở TNMT, Sở Tư pháp;

– Vụ ĐKTKĐĐ, PC, TTr Bộ;

– Lưu VT, ĐĐ.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Trần Thế Ngọc

——————————————————————

MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ THẨM QUYỀN VỀ CÔNG VĂN SỐ 12

1. Đề nghị xử lý hai công văn hướng dẫn về đất đai có điểm chưa phù hợp

Hôm qua (14/1), ông Lê Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), Bộ Tư pháp đã ký công văn số 09/KTrVB gửi Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường và Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh.

Trao đổi với phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, ông Lê Hồng Sơn cho biết, vừa qua, để thực hiện quy định tại Điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP về thời hạn thống nhất thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất bằng giấy chứng nhận, Bộ Tài nguyên – Môi trường và UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có 2 công văn hướng dẫn về vấn đề này. Bộ Tài nguyên – Môi trường có Công văn số 12/BTNMT-ĐĐ ngày 2/1/2008 và UBND thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 9261/UBND-ĐTMT ngày 31/12/2007.  Sau khi thực hiện thẩm quyền kiểm tra văn bản, nghiên cứu nội dung của 2 công văn, Cục Kiểm tra VBQPPL đã phát hiện ra một số điểm không phù hợp.

Về Công văn số 12/BTNMT-ĐĐ ngày 2/1/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bên cạnh việc hướng dẫn, tháo gỡ những vướng mắc thì công văn đã đưa ra một số nội dung hướng dẫn mang tính quy phạm pháp luật hoặc có cách diễn đạt làm cho người đọc hiểu rằng đây là những quy định có tính quy phạm. Đặc biệt, tại mục 2 của công văn có nêu: “Trường hợp người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất chậm nhất đến ngày 31/12/2010 (theo thời hạn hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước được quy định  trong Nghị quyết số 07/2007/NQ-QH12 của Quốc hội“. Cục Kiểm tra VBQPPL cho rằng Bộ Tài nguyên – Môi trường đưa ra những nội dung nêu trên vừa không bảo đảm thẩm quyền về hình thức, vừa không phù hợp với nội dung Nghị quyết số 07: phấn đấu đến năm 2010 cơ bản hoàn thành về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tất cả các loại đất trên phạm vi toàn quốc

Tương tự, Công văn số 9261/UBND-ĐTMT ngày 31/12/2007 của UBND thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra nội dung hướng dẫn: “… Trường hợp người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận thì vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ hai điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP…”. Cục Kiểm tra VBQPPL cho rằng Công văn số 9261 của UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành trước Công văn số 12 của Bộ Tài nguyên và Môi trường 2 ngày, khi Công văn số 12 được ban hành đã dẫn đến tình trạng nội dung của 2 công văn mâu thuẫn nhau trong cách hiểu quy định khoản 2 Điều 66 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.

Ông Sơn cho biết thêm, theo hướng dẫn tại Công văn số 9261, “khi có đủ hai điều kiện” đã dẫn đến việc áp dụng trong thực tế như sau: người sử dụng đất, tuy đã nộp hồ sơ nhưng không có các loại giấy tờ đã được quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai cũng như người sử dụng đất tuy có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 mà chưa nộp hồ sơ cũng đều bị loại ra khỏi đối tượng được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. “Như vậy, diện được hưởng quyền sẽ còn lại không nhiều, nếu không nói là quá hẹp” – ông Sơn khẳng định.

Bên cạnh việc đề nghị Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường và Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh xem xét lại nội dung 2 công văn cho bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật, Cục Kiểm tra VBQPPL cũng mở ra một hướng giải quyết. Đó là, Bộ Tài nguyên – Môi trường là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong phạm vi toàn quốc về vấn đề này, những hướng dẫn của Bộ Tài nguyên – Môi trường có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các địa phương. Do đó, Bộ Tài nguyên – Môi trường và UBND thành phố Hồ Chí Minh có thể trao đổi để thống nhất cách hiểu nội dung quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, trường hợp cần thiết có thể báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để tháo gỡ vướng mắc.

Hồng Thuý – MOJ.GOV.VN

2. Giao dịch nhà đất chưa có “sổ đỏ”: Theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên – Môi trường
Chiều 22.1, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự kinh tế (Bộ Tư pháp) Dương Đăng Huệ cho biết, trong khi chưa có hướng dẫn mới tháo gỡ vướng mắc đối với hiệu lực giao dịch của đất, nhà chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo khoản 2 Điều 66 Nghị định 84/CP) thì vẫn áp dụng theo giải thích của Bộ Tài nguyên – Môi trường tại công văn số 12.

Theo ông Dương Đăng Huệ, vướng mắc trong cách tháo gỡ của Bộ Tài nguyên – Môi trường chỉ là chưa đúng cách thức ra văn bản pháp luật, nhưng về chủ trương là đúng. Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên – Môi trường sẽ có thông tư hướng dẫn về chủ trương tháo gỡ đối với khoản 2 Điều 66 sau khi được Thủ tướng thông qua để đảm bảo nhất thể hóa và tính hợp pháp của văn bản pháp luật.

Được biết, theo công văn số 12, đối với các loại đất chưa có “sổ đỏ” nhưng có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 50 Luật Đất đai thì được thực hiện các giao dịch đến hết 31.12.2010.

(Theo Người Lao Động)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 61/2002/KHXX NGÀY 20 THÁNG 5 NĂM 2002 VỀ VIỆC CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 129/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 129/2002/KHXX NGÀY 27 THÁNG 8 NĂM 2002 VỀ VIỆC TRAO ĐỔI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Kính gửi: Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

Sau khi nghiên cứu Công văn số 140/CV.TA năm 2002 của Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Ngoài một số nguồn nguy hiểm cao độ đã liệt kê, khoản 1 Điều 627 Bộ luật dân sự còn quy định “… các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”, quy định này được hiểu là khi pháp luật có quy định về các nguồn nguy hiểm cao độ khác ngoài các nguồn đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 627 thì mới được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, ngoài các quy định tại khoản 1 Điều 627 nêu trên, cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định thêm về vấn đề này. Đối với các loại thuốc tân dược xét về bản chất, thành phần và công dụng, thuốc tân dược được dùng để điều trị bệnh nên không được coi là nguồn nguy hiểm cao độ theo tinh thần của Điều 627 Bộ luật dân sự.

2. Về trường hợp của bà Trần Thị Diên Hồng. Theo nội dung Công văn của quý Toà thì sau khi có kết luận của Tổ chức giám định pháp y trung ương, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định đình chỉ vụ án hình sự đối với y sĩ Trần Thị Diên Hồng. Nay gia đình nạn nhân khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại; do đó, khi thụ lý để giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về dân sự của gia đình nạn nhân Mai Thị Kim Anh, Toà án cần lưu ý như sau:

Theo tinh thần quy định tại Điều 53 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30-6-1989, thì thầy thuốc vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh… nếu gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Cũng theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự thì người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng của người khác thì phải bồi thường. Như vậy, Toà án cần xác định và có kết luận y sĩ Trần Thị Diên Hồng có vi phạm các quy định về khám, chữa bệnh hay không, có được phép và có đủ năng lực để tiến hành nạo thai cho phụ nữ hay không, tai nạn xảy ra là tai nạn điều trị do sự kiện bất khả kháng hay do lỗi nghề nghiệp? Nếu có căn cứ xác định bà Trần Thị Diên Hồng không vi phạm, không có lỗi thì bà Trần Thị Diên Hồng không phải bồi thường. Nếu xác định được bà Trần Thị Diên Hồng có vi phạm, có lỗi thì bà Trần Thị Diên Hồng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, do bà Trần Thị Diên Hồng là công chức nhà nước cho nên cần làm rõ việc bà Hồng gây thiệt hại có phải trong khi thi hành công vụ hay không? Nếu bà Hồng gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ thì theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự, cơ quan nhà nước (trong trường hợp này là Trung tâm y tế huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi) phải bồi thường thiệt hại do công chức của mình gây ra. Việc bồi thường thiệt hại được giải quyết theo quy định tại Chương V Phần thứ ba Bộ luật dân sự và Nghị định số 47/CP ngày 3-5-1997 của Chính phủ “về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra”. Nếu Trung tâm y tế huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi phải bồi thường cho người bị thiệt hại thì sau khi thực hiện việc bồi thường thiệt hại xong phải có trách nhiệm yêu cầu bà Trần Thị Diên Hồng hoàn trả khoản tiền mà Trung tâm đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến trao đổi của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà nghiên cứu áp dụng, giải quyết tốt các vấn đề nghiệp vụ.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Trong nền kinh tế thị trường của nước ta, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là một trong những nội dung cơ bản để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vậy kinh tế nhà nước là gì ? Thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước? Và làm thế nào để kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo ấy ? Đó là những câu hỏi được đặt ra không chỉ cho các nhà lãnh đạo và quản lý kinh tế mà còn cho cả các nhà quản trị, kinh doanh và bất cứ ai quan tâm đến những vấn đề kinh tế của nước ta.

Kinh tế nhà nước là gì ?

Trước đây, khái niệm thường dùng là kinh tế quốc doanh để chỉ bộ phận kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước trực tiếp quản lý và kinh doanh. Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (1991) nêu rõ: “Khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”. Continue reading

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SANG CỔ PHẦN

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP (Nghị định 109), nhằm tránh những bất cập gây khó khăn cho quá trình cổ phần hoá các Công ty nhà nước mà các Nghị định trước chưa thể hoàn thiện. Nghị định 109 chính thức bãi bỏ cơ chế bán với giá ưu đãi “giảm 20% so với giá đấu bình quân” cho nhà đầu tư chiến lược

Sau gần 3 năm thực hiện, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP (Nghị định 187) đã khắc phục được nhiều bất cập của Nghị định số 64/2002/NĐ-CP. Tuy nhiên, trước những thay đổi của thực tiễn cổ phần hoá các Công ty nhà nước, Nghị định 187 đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, gây khó khăn cho quá trình cổ phần hoá.

Nhằm khắc phục những điểm bất cập của Nghị định 187, ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần, Nghị định 109 được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến mới trong việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá Công ty nhà nước được Chính phủ duy trì từ năm 1992.

Dưới đây là một số nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định 109:

1.Đối tượng cổ phần hoá theo Nghị định 109 đã được mở rộng, không chỉ bao gồm các Công ty nhà nước độc lập mà còn cả các Tổng Công ty nhà nước, Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Công ty con và Công ty TNHH do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Việc mở rộng đối tượng cổ phần hoá là hoàn toàn phù hợp với chủ trương nhà nước chỉ nắm giữ quyền chi phối đối với các doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế và từng bước giảm bớt sự tham gia của nhà nước vào quản lý doanh nghiệp, theo tinh thần của Quyết định số 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ, về tiêu chí, danh mục phân loại Công ty 100% vốn nhà nước. Quy định này đồng thời cụ thể hoá Quyết định số 1729/QĐ-TTg, ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt danh sách các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước thực hiện cổ phần hoá giai đoạn 2007-2010.

2.Vấn đề nhà đầu tư chiến lược trong một thời gian dài gây nhiều tranh cãi do quy định chưa rõ ràng cũng đã được thể hiện chi tiết và cụ thể hơn trong Nghị định 109.

Khái niệm nhà đầu tư chiến lược đã được mở rộng cho cả nhà đầu tư nước ngoài (Điều 6.3.a). Điều này không những đã mở rộng cửa cho doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá chủ động thu hút vốn, kinh nghiệm và nguồn lực của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chủ động đàm phán, tham gia đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

3.Sau một số vấn đề phát sinh liên quan đến giá bán ưu đãi danh cho nhà đầu tư chiến lược (trong nước), Nghị định 109 chính thức bãi bỏ cơ chế bán với giá ưu đãi “giảm 20% so với giá đấu bình quân” cho nhà đầu tư chiến lược (trong nước).

Theo quy định mới, nhà đầu tư chiến lược hiện nay được mua theo giá “không thấp hơn giá đấu thành công bình quân”. Đối với Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước (gồm ngân hàng thương mại nhà nước), nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hoá phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược.

Một điểm đáng lưu ý là, nhà đầu tư chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 3 năm, kể từ ngày Công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn trên phải được đại hội đồng cổ đông chấp thuận.

4.Nghị định 109 quy định về các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá, trong đó có đề cập cụ thể tới phương pháp tài sản và phương pháp dùng tiền chiết khấu. Trong mọi trường hợp, giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản.

5.Một trong những vấn đề quan trọng được kỳ vọng sửa đổi trong Nghị định 109 đó là việc định giá tài sản, đặc biệt đối với giá trị quyền sử dụng đất trong các trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm, trả tiền 1 lần và giao đất. Theo Nghị định 187, đất thuê trả tiền hàng năm sẽ không được tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá. Tuy nhiên, Nghị định 109 đã gắn giá trị thị trường khi xác định giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng đất thuê trả tiền 1 lần hoặc trên cơ sở xin giao đất.

6.Nghị định 109 cũng đã cụ thể hoá mục tiêu gắn cổ phần hoá với phát triển thị trường vốn bằng các quy định liên quan đến thực hiện công khai minh bạch thông tin và niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp cổ phần hoá có tình hình tài chính đáp ứng đủ điều kiện niêm yết theo quy định của pháp luật về chứng khoán phải xây dựng phương án cổ phần hoá, đảm bảo cơ cấu cổ đông thực hiện niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán.

7.Cơ cấu bán cổ phần lần đầu cũng được điều chỉnh theo hướng gia tăng việc nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư bên ngoài trong Công ty cổ phần. Theo đó, cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư bên ngoài khác không thấp hơn 25% vốn điều lệ và không hạn chế số lượng đối với nhà đầu tư chiến lược, nhưng phải đảm bảo số cổ phần bán cho nhà đầu tư bên ngoài khác không thấp hơn 50% tổng số cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược. Ngay cả khi nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư bên ngoài khác cũng không được thấp hơn 20% vốn điều lệ.

8.Nghị định 109 bổ sung vào nội dung bán cổ phần lần đầu phương thức bảo lãnh phát hành và thoả thuận trực tiếp. Biện pháp này phù hợp với các quy định của pháp luật chứng khoán và yêu cầu đối với các doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán khi cổ phần hoá.

9.Nhằm đảm bảo sự tham gia và quyền lợi của người lao động trong Công ty cổ phần, Nghị định 109 cho phép tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp mua cổ phần bằng nguồn quỹ hợp pháp (không huy động, vay vốn) với số lượng không quá 3% vốn điều lệ. Giá mua cổ phần của công đoàn sẽ là giá ưu đãi cho người lao động.

10.Nghị định 109 xoá bỏ cơ chế tự tổ chức chào bán cổ phần đối với các doanh nghiệp mà phần trị giá chào bán dưới 1 tỷ đồng. Thay vào đó, việc tổ chức đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian sẽ được thực hiện nếu khối lượng cổ phần bán ra dưới 10 tỷ đồng và tại Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán nếu từ 10 tỷ đồng trở lên.

11.Nghị định 109 cũng quy định về phương thức xử lý đối với số lượng cổ phần nhà đầu tư từ chối mua trong đấu giá bán cổ phần lần đầu. Nếu số lượng cổ phần từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào bán, số cổ phần còn lại sẽ được xem xét và quyết định bán tiếp cho các nhà đầu tư đã tham dự đấu giá. Nếu số lượng cổ phần từ chối mua bằng hoặc lớn hơn 30% tổng số cổ phần chào bán, doanh nghiệp phải tổ chức đấu giá để bán tiếp số cổ phần bị từ chối mua.

Nếu số lượng cổ phần không bán hết còn lại dưới 50%, thì điều chỉnh quy mô, cơ cấu vốn điều lệ, tăng phần vốn nhà nước góp tại doanh nghiệp, để chuyển thành Công ty cổ phần. Nếu còn lại từ 50% trở lên, sẽ xem xét, điều chỉnh giảm giá khởi điểm, tối đa bằng mệnh giá cổ phần và tổ chức đấu giá bán tiếp số cổ phần còn lại.

12.Khắc phục các điểm bất cập của Nghị định 187, Nghị định 109 đã quy định rõ ràng điều lệ Công ty cổ phần phải do Ban chỉ đạo cổ phần hoá của doanh nghiệp dự thảo và được công bố cho các nhà đầu tư trước khi bán cổ phần. Theo Nghị định 109, điều lệ của Công ty cổ phần được đại hội đồng cổ đông lần đầu thông qua khi có ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của các nhà đầu tư góp vốn mua cổ phần dự họp chấp thuận.

Ngoài những điểm mới, sửa đổi bổ sung quan trọng nêu trên, Nghị định 109 cũng quy định một số điểm sửa đổi, bổ sung khác so với Nghị định 187, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những điều chỉnh quan trọng nói trên, góp phần đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra đối với quá trình cổ phần hoá Công ty nhà nước, tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho các nhà đầu tư bên ngoài cả trong và ngoài nước tham gia.

(Nguồn: NCĐT)

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Đổi mới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được triển khai thực hiện ở nước ta trên 10 năm. Thực chất của quá trình này là sự sắp xếp lại các DNNN, trong đó trọng tâm là tiến hành Cổ phần hoá (CPH) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh. Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu cũng như bản thân doanh nghiệp. Bài viết này sẽ đưa ra một số ý kiến xung quanh vấn đề CPH các DNNN ở Việt Nam.

Cải cách doanh nghiệp

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh. Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và mọi người lao động trong doanh nghiệp (các nhà quản lý, người lao động trực tiếp) đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, của xã hội. Điều này cũng có nghĩa là khi doanh nghiệp không đạt được những mục tiêu cơ bản trên thì phải xem xét đánh giá lại và cần có những thay đổi cần thiết. Trong nhiều trường hợp đó là một sự cải cách triệt để trong hoạt động kinh doanh để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã định. Không làm được như vậy sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ bị đe doạ. Trên thực tế do không nhận ra hay nhận ra nhưng không kịp cải cách, hoặc cải cách không đúng đã làm nhiều doanh nghiệp phá sản, bất kể đó là doanh nghiệp nhỏ hay các tập đoàn kinh tế lớn có phạm vi hoạt động toàn cầu, và cũng không loại trừ doanh nghiệp đó thuộc loại hình sở hữu nào. Như vậy, vấn đề cải cách doanh nghiệp luôn được đặt ra và cải cách là cần thiết để đạt được mục tiêu đã định..

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Ở Việt Nam cải cách hay đổi mới DNNN là yêu cầu khách quan. Do những áp lực cạnh tranh, vì sự tồn tại và phát triển, và vì sự cần thiết phải thực hiện sứ mệnh của các DNNN mà phải tiến hành đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp này. Trong đó CPH là nội dung chính, là hướng cải cách chủ yếu.

Những thành tựu đạt được của quá trình CPH

Sau hơn 13 năm tiến hành đổi mới DNNN (bắt đầu từ năm 1992), đã có 2.996 doanh nghiệp được CPH (tính đến cuối năm 2005), bình quân khoảng trên 200 DN/năm. Đây là con số không nhỏ. Trong vài năm gần đây ngày càng nhiều DNNN được CPH và tốc độ của quá trình này được đẩy nhanh hơn. Riêng năm 2005 cả nước CPH được 724 doanh nghiệp. Nhìn lại quá trình qua có thể thấy chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

* Số DNNN đã CPH chiếm khoảng 24% tổng số DN khi chưa tiến hành sắp xếp lại và CPH (khoảng 12.000 DN vào thời điểm trước năm 1995)

. Có trên 10% vốn của nhà nước trong các DNNN được CPH (khoảng 30.000 tỷ đồng)

* Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các DNNN. Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các DNNN khác.

* Trong các doanh nghiệp đã CPH, 30% số các doanh nghiệp (trên 800 DN) được hoàn toàn độc lập tự chủ trong kinh doanh mà không còn sự chi phối trực tiếp nào của nhà nước (nhà nước không nắm giữ một cổ phần nào, toàn bộ thuộc về tập thể người lao động).

* Việc sắp xếp lại và CPH các DNNN đã hoàn thành trên 61 trong tổng số 64 tỉnh thành.

* Qua CPH, nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết là: nợ xấu, tồn kho vật tư hàng hoá kém phẩm chất, các trang thiết bị và tài sản cũ nát…

* Với các doanh nghiệp đã CPH, bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực lao động mới đang dần được tạo ra.

* Các biện pháp tiến hành CPH ngày càng được hoàn thiện hơn. Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua các tổ chức tư vấn độc lập (thay vì qua hội đồng định giá như trước đây) được áp dụng. Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đấu thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Sau CPH, các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn trên hầu hết các mặt chủ yếu. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế của các DNNN sau CPH tăng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát hơn 850 doanh nghiệp cổ phần (năm 2005) cho thấy: vốn điều lệ tăng bình quân 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập người lao động tăng 12%. Cũng theo điều tra của Ban, có khoảng 87% số doanh nghiệp khẳng định kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp cổ phần hoá tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trước CPH. Có thể nói đây là con số rất ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, khẳng định CPH là một trong những biện pháp hữu ích nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN. Một điều có ý nghĩa quan trọng nữa là, kết quả trên sẽ tạo niềm tin và động lực cho các DNNN khác tiến hành đổi mới hoạt động kinh doanh của mình một cách tích cực hơn.

Những vấn đề còn tồn tại

Bên cạnh những thành tựu đạt được như trên thì cũng còn nhiều vấn đề tồn tại đang đặt ra trong quá trình CPH:

Thứ nhất: Chúng ta đã CPH và sắp xếp lại được khá nhiều doanh nghiệp nhưng xét về chỉ tiêu vốn nhà nước đã CPH thì vẫn chưa tới 10%. Hơn nữa trong số các doanh nghiệp đã được CPH có tới 29% số doanh nghiệp ở đó nhà nước vẫn giữ một lượng cổ phần chi phối (từ 51% trở lên). Nhà nước đang còn nắm khoảng 46,5% vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này. Như vậy, thực chất mới chỉ khoảng 8% vốn kinh doanh của các DNNN đã CPH thuộc về các chủ sở hữu khác-không phải nhà nước (phần lớn là những cổ đông vốn là người lao động trong doanh nghiệp). Con số này là quá ít. Vì nói đến CPH thì chỉ tiêu chủ yếu nhất là CPH vốn kinh doanh, do vậy có thể nói rằng CPH các DNNN được thực hiện rất chậm chạp, chưa nhiều.

Thứ hai: Xét về các DN đã CPH, trong khi về số lượng các doanh nghiệp là không nhỏ nhưng vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp này lại quá ít,  điều này chứng tỏ chúng ta mới chỉ CPH được các DN nhỏ và rất nhỏ. Đó cũng là các doanh nghiệp chủ yếu do các địa phương quản lý. Trên thực tế các doanh nghiệp này không có vai trò đáng kể và không thể hiện được vai trò là những DNNN chủ đạo trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta mới thực hiện được phần dễ nhất trong toàn bộ khối lượng công việc phải làm.

Thứ ba: Về vai trò của Nhà nước. Đến nay, trong các doanh nghiệp đã được CPH thì Nhà nước đang còn nắm quá nhiều vốn. Điều này cho thấy sự chi phối, gây ảnh hưởng của nhà nước vẫn ở mức độ lớn (dưới các hình thức khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp). Do vậy, trong nhiều doanh nghiệp đã CPH chưa thấy có những thay đổi căn bản về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh theo mô hình mới của một công ty cổ phần thực thụ. Các doanh nghiệp này vẫn chưa có hay rất thiếu những cổ đông mới có quyền lực mạnh, các cổ đông chiến lược mới. Việc Nhà nước còn nắm các cổ phần chi phối trong nhiều doanh nghiệp đã CPH cũng cho thấy Nhà nước còn đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực và phạm vi hoạt động kinh doanh, chưa có sự tập trung vốn cần thiết vào các lĩnh vực, các ngành hay các doanh nghiệp trọng điểm mà ở đó cần có sự hiện diện của Nhà nước.

Thứ tư: Những bước tiếp theo của CPH. Như đã nêu ở trên, CPH chủ yếu chỉ thực hiện ở các DN nhỏ và rất nhỏ, và có rất ít doanh nghiệp lớn đã tiến hành CPH (như Vinamilk). Tới đây, theo kế hoạch của Chính phủ, lượng vốn trong các DNNN cần phải CPH khoảng trên 270.000 tỷ đồng. Đây là một lượng vốn rất lớn. Số vốn này đang nằm trong các doanh nghiệp lớn (các tổng công ty, các công ty lớn). Việc tiến hành CPH các doanh nghiệp này không hề đơn giản như đã từng làm trong thời gian qua vì vai trò, tầm quan trọng và phạm vi kinh doanh, phạm vi ảnh hưởng của các doanh nghiệp này rất lớn và phức tạp hơn nhiều. Rõ ràng để CPH thành công các doanh nghiệp này cần phải có những giải pháp thích hợp.

Thứ năm: Những cản trở đối với quá trình CPH các DNNN trong thời gian qua là: Vướng mắc nhiều về đất đai và sở hữu tài sản, chưa có chính sách và cơ chế rõ ràng, CPH còn khép kín, còn có sự phân biệt đối xử trước và sau CPH, chẳng hạn như vay vốn ngân hàng, những khó khăn về giải quyết số lao động dôi dư của các doanh nghiệp, thủ tục hành chính phức tạp và thời gian kéo dài… Đây là những vấn đề nằm ngoài khả năng của doanh nghiệp. Do vậy, nếu nhà nước không giải quyết triệt để các vấn đề này thì không thể đẩy nhanh tiến trình CPH được.

Thứ sáu: Vai trò của các doanh nghiệp. Dường như vấn đề CPH vẫn chưa phải là nhu cầu tự thân, nhu cầu nội tại của các DNNN, thậm chí còn là sự miễn cưỡng. Trong thực tế thực hiện, hầu hết các chương trình hay kế hoạch CPH đều là của các bộ, ngành, hay chính quyền địa phương, chưa có (hoặc nếu có thì cũng rất ít) doanh nghiệp chủ động đề xuất đưa tên mình vào chương trình hay kế hoạch đó. Điều này chỉ có thể lý giải là đối với các doanh nghiệp, CPH không hấp dẫn họ. Hầu hết các DNNN vẫn không muốn, hay né tránh, hoặc tìm cách né tránh thực hiện CPH vì muốn được an toàn hơn và không muốn mất đi lợi ích hay lợi thế đang có. Một trong những lợi thế đang mang lại quá nhiều lợi ích-lợi nhuận siêu ngạch đó là sự độc quyền hoặc những ưu đãi mà các doanh nghiệp vẫn nghĩ là chỉ DNNN mới có được. Ở đây, nhà nước và các DNNN chưa có cùng một suy nghĩ và hành động. Do vậy, nếu còn có sự khác nhau về thái độ và quyết tâm đối CPH, và khi các DNNN vẫn còn e ngại và nghi ngờ, chưa quyết tâm thì vẫn còn nhiều trở ngại cho quá trình CPH.

Đẩy nhanh quá trình CPH-một vài kiến nghị

Đẩy nhanh quá trình CPH các DNNN trong thời gian tới đang còn rất nhiều những thách thức. Giải pháp để vượt qua theo chúng tôi cần tập trung vào những vấn đề chính sau :

1.  Nhà nước phải có những biện pháp chiến lược mới cho quá trình CPH vì các DNNN là đối tượng CPH trong thời gian tới có những điểm khác với các doanh nghiệp đã được CPH trước đây. Trong đó, việc tạo ra được động lực của chính các DNNN này có ý nghĩa quyết định cho sự thành công. Đối với doanh nghiệp, lợi ích chính là động lực mạnh mẽ nhất. Để có được điều này, cần phải làm cho các doanh nghiệp có được và thấy được lợi ích thực sự (so với không thực hiện CPH). Do vậy cần:

* Xoá bỏ nhanh bao cấp dưới mọi hình thức để không còn chỗ dựa tạo đặc quyền, đặc lợi như trước đây và hiện vẫn còn ở mức độ khác nhau của các DNNN (lợi thế hay lợi ích kiểu này không còn nữa).

* Có ưu tiên và nghiên cứu đưa ra những biện pháp khuyến khích và hỗ trợ cần thiết và thiết thực cho các doanh nghiệp đã CPH.

Làm như vậy tức là thay cho việc duy trì những bao cấp khi đang còn là DNNN cần chuyển sang hỗ trợ các doanh nghiệp đã hoàn thành CPH, đặc biệt đối với các DNNN có thành tích và thực hiện tốt quá trình này. Đây cũng là một sự khuyến khích mới.

2. Thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, với những biện pháp quyết liệt hơn, khẩn trương hơn, có lộ trình cụ thể. Tiến hành mở nhanh những vùng, lĩnh vực kinh doanh đang còn độc quyền hay mang tính độc quyền, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia . Cùng với đó tập trung chỉ đạo thực hiện nhanh và kiên quyết việc CPH các DNNN lớn, chiếm giữ một lượng vốn lớn của Nhà nước, đang nắm nhiều lợi thế độc quyền nhưng chậm đổi mới. Đối với các doanh nghiệp này,  thực hiện CPH còn phải được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Họ phải có trách nhiệm thực hiện những chủ trương đổi mới và cải cách, những chiến lược của chủ đầu tư-của Nhà nước. Chỉ có thực hiện thành công ở các doanh nghiệp này thì mới hoàn thành sự nghiệp CPH các DNNN.

3. Tổng điều tra đánh giá hiệu quả thực tế các doanh nghiệp sau CPH để rút ra những kinh nghiệm về thành công và chưa thành công của các doanh nghiệp. Qua đó làm cho mọi doanh nghiệp thấy được lợi ích rõ ràng, những bài học cụ thể từ CPH. Điều này sẽ có tác động làm thay đổi nhận thức, tạo những hiểu biết tốt hơn, từ đó tạo niềm tin và động lực từ bên trong của doanh nghiệp. Đồng thời có chiến lược hỗ trợ một cách có hiệu quả về đào tạo nâng cao năng lực trước, trong và sau CPH.

4. Nhanh chóng thực hiện những biện pháp giải quyết dứt điểm những vướng mắc hiện nay về vấn đề đất đai, tài sản và những vướng mắc về lao động (không để CPH làm thiệt hại đến người lao động trong doanh nghiệp). Đặc biệt cần sớm chấm dứt trên thực tế (không phải chỉ trên giấy tờ, văn bản) sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất là các DNNN đã CPH. Điều này rất quan trọng và sẽ là một nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành CPH có hiệu quả. Chúng ta cũng cần sớm hoàn thiện và tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể áp dụng tốt trình tự tiến hành CPH và cơ chế định giá doanh nghiệp mới, không gặp khó khăn tiếp cận thị trường chứng khoán. Mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia CPH để có những cổ đông mạnh, họ sẽ là một trong những tác nhân quan trọng nhất đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH.

(Nguồn: KTPT – MOI.GOV.VN)

XỬ LÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐANG THẾ CHẤP, BẢO LÃNH KHI BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI VÀ NHỮNG ĐIỀU LƯU Ý

TRẦN THU HUYỀN – NHCT Thái Nguyên

Nghị định 181/ 2004/ NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 quy định rõ việc xử lý quyền sử dụng đất (QSD) đang thế chấp, bảo lãnh khi bị nhà nước thu hồi:
1. Quy định về các trường hợp QSD đất đang thế chấp bảo lãnh tại ngân hàng bị nhà nước thu hồi
Trường hợp thứ nhất: Nhà nước thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế (Khoản 1 Điều 38 của Luật đất đai). Trong trường hợp này bên nhận thế chấp, bên nhận bảo lãnh được người bị thu hồi đất bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.
Trường hợp thứ hai: Đất đang thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp bị thu hồi do:
+ Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không hiệu quả.
+ Người sử dụng đất cố ý huỷ hoại đất;
+ Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước;
+ Đất không được sử dụng trong thời hạn nhà nước quy định (12 tháng đối với đất trồng cây hàng năm; 18 tháng đối với đất trồng cây lâu năm; 24 tháng đối với đất rừng);
+ Đất được Nhà nước giao, cho thuê có nộp tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép. Thì hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh bị chấm dứt và việc hoàn trả khoản vay được xử lý như sau:
+ Trường hợp thế chấp thì bên thế chấp phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật dân sự;
+ Trường hợp bảo lãnh thì bên được bảo lãnh phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dung (HĐTD) đã ký kết; nếu bên được bảo lãnh không có khả năng hoàn trả khoản vay thì bên bảo lãnh phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật về dân sự.
Trường hợp thứ ba: Đất do người sử dụng đất là cá nhân thế chấp, bảo lãnh tại Ngân hàng chết không có người thừa kế thì Nhà nước thu hồi đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh của cá nhân đó bị chấm dứt và quyền sử dụng đất được xử lý như sau:
+ Đối với trường hợp thế chấp bằng Quyền sử dụng đất vay vốn Ngân hàng thì UBND đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hoàn trả khoản vay cho bên nhận thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết; nếu giá trị quyền sử dụng đất được xác định thông qua đấu giá nhỏ hơn khoản vay thì Ngân hàng chỉ được nhận khoản tiền tương đương với giá trị quyền sử dụng đất đã thế chấp.
+ Đối với trường hợp bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất thì bên được bảo lãnh phải hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo HĐTD đã ký kết; nếu bên được bảo lãnh không có khả năng hoàn trả khoản vay thì UBND đã cấp giấy chứng nhận QSD đất tổ chức bán đấu giá để hoàn trả khoản vay cho Ngân hàng theo hợp đồng bảo lãnh (HĐBL) đã ký kết nếu giá trị QSD đất đã bảo lãnh xác định qua đấu giá nhỏ hơn khoản vay thì bên nhận bảo lãnh chỉ được nhận khoản tiền tương đương với giá trị QSD đất đã bảo lãnh.
2. Những vấn đề cần lưu ý cán bộ thẩm định (CBTĐ) khi thẩm định giá trị QSD đất của khách hàng
Khác với trường hợp Giấy chứng nhận QSD đất của khách hàng bị Nhà nước thu hồi do Giấy chứng nhận QSD đất bị cấp sai thẩm quyền, Giấy chứng nhận QSD đất là giả là do nguyên nhân khách quan Ngân hàng không buộc phải biết hay không thể nhận biết được. Ngược lại trong các trường hợp Giấy chứng nhận QSD đất bị Nhà nước thu hồi quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 2003 Ngân hàng bằng các biện pháp nghiệp vụ và nhạy cảm nghề nghiệp hoàn toàn có thể xác định và nhận biết được.
Căn cứ trên các quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tôi mạnh dạn đưa ra một số vấn đề cần lưu ý căn bản đối với cán bộ thẩm định, cán bộ tín dụng (CBTD) khi tiến hành thẩm định tài sản thế chấp, bảo lãnh của khách hàng là QSD đất để vay vốn Ngân hàng, nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro không mong muốn và có thể lường trước của ngân hàng.
Thứ nhất: CBTĐ khi xem xét thẩm định tài sản thế chấp, bảo lãnh hoàn toàn có thể tham khảo phòng tài nguyên môi trường thành phố, địa chính xã, phường về việc có hay không đề án quy hoạch sử dụng đất của Nhà nước trong thời gian tới tại khu vực có đất của khách hàng có nguyện vọng thế chấp, bảo lãnh hoặc trên các thông tin khác của Ngân hàng đề phòng trường hợp khách hàng thông đồng với các cơ quan quản lý Nhà nước cố tình che mắt Ngân hàng.
Tuy nhiên trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phát triển kinh tế; Nhà nước sẽ đền bù cho người có Giấy chứng nhận QSD đất theo giá đất được tính theo cơ chế một giá theo Nghị định 188/NĐ-CP của Chính phủ quy định về giá đất và người bị đền bù có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền vay ngân hàng bằng nguồn tiền Nhà nước bồi thường; trong trường hợp này rủi ro ngân hàng thấp hơn, song không loại trừ khả năng biến động giá thị trường đất khi Nhà nước đền bù thấp hơn quá nhiều so với giá tại thời điểm ngân hàng nhận thế chấp, bảo lãnh hoặc người bị thu hồi đất sử dụng hết số tiền được bồi thường trước khi hoàn trả ngân hàng; đặc biệt lưu ý đối với đất dự án được cấp đã vượt thời gian pháp luật quy định về thời hạn phải sử dụng khi khách hàng đem thế chấp, bảo lãnh.
Thứ hai: Trước khi xem xét món vay CBTD, CBTĐ cần đánh giá việc sử dụng đất của khách hàng có QSD đất có đúng mục đích hay không, việc sử dụng và khai thác quỹ đất được Nhà nước giao, cho thuê có trả tiền có hiệu quả hay không, có cố tình huỷ hoại đất hay không? Nếu có dấu hiệu trên CBTD từ chối không cho vay. Nếu trong trường hợp món vay đã được giải ngân trong quá trình kiểm tra sử dụng món vay, CBTD đặc biệt lưu ý hiện trạng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của khách hàng đang sử dụng như thế nào? Có dấu hiệu sử dụng đất sai với mục đích ban đầu hoặc không có hiệu quả hay cố tình huỷ hoại để có cơ sở lập biên bản và thu hồi vốn vay trước hạn, tránh nguy cơ bị Nhà nước thu hồi đất.
Thứ ba: Cần xem xét các giấy tờ chứng minh người có quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh vay vốn Ngân hàng có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không như tiền thuê đất, tiền sử dụng đất liên tiếp trong vòng năm năm gần nhất.
Thứ tư: Xem xét kỹ thời hạn Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thời hạn trong giấy chứng nhận QSD đất so với thời gian khách hàng đề nghị xin vay, trong trường hợp được gia hạn phải có giấy tờ chứng minh.
Thứ năm: Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án đầu tư có được sử dụng đúng thời hạn Nhà nước quy định hay không? Tiến độ thực tế thực hiện dự án so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư.
Trong trường hợp khách hàng không đáp ứng được hoặc đáp ứng không đầy đủ các vấn đề trên, mặc dù pháp luật bảo vệ quyền của Ngân hàng khi QSD đất của khách hàng đang thế chấp, bảo lãnh bị Nhà nước thu hồi. Song, ngân hàng hoàn toàn có quyền từ chối món vay đó do tài sản thế chấp, bảo lãnh không đáp ứng được điều kiện tín dụng của Ngân hàng dễ gây rủi ro thất thoát./.

SOURCE: ICB.COM.VN

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ CHUYỂN NỢ VAY NGÂN HÀNG THÀNH GÓP VỐN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

THS. NGUYỄN LAN HƯƠNG

Hiện nay Chính phủ đang quyết tâm đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng khả năng hội nhập của các doanh nghiệp (DN), nhất là khi chúng ta đang cận kề “Cửa ngôi nhà WTO”. Quá trình cổ phần hoá nảy sinh vấn đề khá bức xúc: Các doanh nghiệp đang có nợ vay ngân hàng (NH) đề nghị NH chuyển nợ vay thành vốn góp. Bài viết dưới đây xin giới thiệu cùng bạn đọc những qui định hiện có về góp vốn, mua cổ phần và đôi điều suy nghĩ của tác giả về việc chuyển nợ vay thành vốn góp.
Hoạt động góp vốn, mua cổ phần: Hiện nay hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các Tổ chức tín dụng được qui định trong Luật các tổ chức tín dụng, Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 của Thống đốc ngân hàng nhà nước. Trên cơ sở của Luật các Tổ chức tín dụng, Quyết định của Thống đốc NHNN, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã ban hành văn bản số 016/2001/QĐ-HĐQT -NHCT ngày 23/3/2001 qui định chi tiết mục đích, điều kiện, thủ tục và những vấn đề liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần áp dụng trong toàn hệ thống Ngân hàng Công thương .
Điều 69- Luật các Tổ chức tín dụng qui định: “Tổ chức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.”
Điều 80- Luật các Tổ chức tín dụng qui định: “Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.”
Quyết định số 492/2000/QĐ – NHNN5 ngày 28/11/2000 của Ngân hàng Nhà nước qui định đối tượng mà tổ chức tín dụng được góp vốn, mua cổ phần; thủ tục, trình tự và mức góp vốn của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác.
Quyết định số 016 /2001/ QĐ – HĐQT – NHCT ngày 23/03/2001 của Hội đồng quản trị Ngân hàng Công thương Việt Nam: Cụ thể hoá điều kiện và những vấn đề liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT VN).
Tại Điều lệ của NHCT VN (Điều 14§) có qui định: “ Ngân hàng Công thương thực hiện các hoạt động khác sau đây:
– Dùng điều lệ và quĩ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác theo qui định của pháp luật.
– Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại Việt Nam theo qui định của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam”.
Việc chuyển nợ vay thành vốn góp được qui định tại:
1. Nghị định số 69/ 2002/ NĐ-CP ngày 12/07/2002 của Chính phủ về quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước.
2. Thông tư số 05/2003/ TT – NHNN ngày 24/02/2003 hướng dẫn xử lý nợ tồn đọng của DNNN theo nghị định 69/2002 ngày 12/7/2002
Ngân hàng được chuyển nợ thành vốn góp vào doanh nghiệp và được chuyển nhượng phần vốn góp này.Trong trường hợp này, Ngân hàng thương mại phải dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ tương ứng với phần nợ đã chuyển thành vốn góp vào doanh nghiệp và phải đảm bảo tỷ lệ vốn góp theo quy định trong Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 ngày 28/11/2000 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành quy định về việc góp vốn mua cổ phần của tổ chức tín dụng (không vượt quá 11% so với vốn điều lệ của DN đó).
3. Công văn số 1097/CV-NHCT 4 ngày 07/04/2003 của Ngân hàng Công thương VN về việc hướng dẫn thực hiện thông tư 05/2003/TT-NHNN ngày 24/02/2003:
Trường hợp Chi nhánh, SGD có nhu cầu chuyển nợ thành vốn góp thì phải báo cáo, đề nghị NHCT VN và chỉ được thực hiện khi NHCT VN chấp thuận.
Những thuận lợi, vướng mắc trong việc chuyển nợ vay NH thành vốn góp:
1 – Thuận lợi:
+ Tạo cơ hội để thu hồi đối với các khoản nợ khó đòi. Giải quyết, xử lý nợ tồn đọng tại Ngân hàng, làm giảm nợ tồn đọng, thực hiện cơ cấu lại nợ, làm trong sạch báo cáo tài chính của Ngân hàng cũng như của doanh nghiệp.
+ Khi doanh nghiệp được cổ phần hóa, doanh nghiệp này sẽ có những kế hoạch và chiến lược kinh doanh chắc chắn, an toàn và khả thi hơn. Vì vậy khi chuyển nợ vay thành vốn góp tại doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp này có hướng phát triển đi lên, kinh doanh có lãi thì được coi khoản đầu tư của ngân hàng sẽ mang lại lợi nhuận
2 – Khó khăn:
+ Hiện nay, chưa có cơ chế góp vốn của tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp trong nước để thành lập nên 1 pháp nhân mới, hoạt động kinh doanh mà chỉ được mua cổ phần của công ty cổ phần.
+ Việc chuyển nợ vay thành vốn góp đối với doanh nghiệp khó khăn về tài chính trước khi cổ phần hoá sẽ khó mang lại hiệu quả. Do đó sẽ làm giảm hiệu quả của việc góp vốn, mua cổ phần.
+ Theo Điều 2 tại Quyết định số 016/20001/QĐ-HĐQT -NHCT ngày 23/03/2001 có quy định: “NHCT chỉ góp vốn liên doanh, mua cổ phần nào các dự án nếu xét thấy khả thi và có hiệu quả hoặc công ty kinh doanh có lãi (trừ trường hợp cấp có thẩm quyền chỉ định bằng văn bản)”. Việc chuyển nợ vay thành vốn góp ở những doanh nghiệp khó khăn về tài chính trước khi cổ phần hoá sẽ khó mang lại hiệu quả, làm giảm hiệu quả chung của việc góp vốn, mua cổ phần.
+ Ảnh hưởng hoạt động chính của Ngân hàng: Trong tình hình hiện nay, vốn điều lệ của ngân hàng còn thấp và đã phải san sẻ để cấp cho các công ty trực thuộc, góp vốn liên doanh theo qui định của Thống đốc NHNN. Vì vậy, nếu chuyển nhiều các khoản nợ vay thành vốn góp và theo qui định số vốn góp này phải được trích từ vốn điều lệ của ngân hàng sẽ làm vốn điều lệ của ngân hàng bị giảm sút nên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng (cho vay tối đa đối với 1 khách hàng không vượt quá 15c% vốn điều lệ, đầu tư mua sắm tài sản cố định không vượt qúa 50% vốn điều lệ…)
+ Việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng bị hạn chế theo mức quy định tại Quyết định số 492/2000/QĐ-NHNN5 ngày 28/11/2000 của Thống đốc ngân hàng nhà nước. Nếu khoản nợ vay đã quá đà, lớn hơn 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, thì việc chuyển nợ vay thành vốn góp không thể thực hiện một cách dễ dàng.
+ Góp vốn bằng nợ vay tại doanh nghiệp mà đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó ngân hàng ít am hiểu, không phải sở trường, không có thế mạnh thì dù NH có cổ phần đủ để tham gia Hội đồng quản trị hoặc trực tiếp quản lý DN cũng là một điều bất cập đối với ngân hàng và khó mang lại hiệu quả.
Qua việc phân tích trên đây cho thấy: Ngân hàng chỉ nên chuyển nợ vay thành vốn góp tại những doanh nghiệp tiềm năng hoặc đang làm ăn có lãi (đang trong tiến trình cổ phần hoá, có đề án cải cách hiệu quả, hoạt động kinh doanh phát triển) Có như vậy mới có thể đạt được hiệu quả góp vốn.
Việc phải chuyển nợ vay thành vốn góp tại các doanh nghiệp nhà nước đang làm ăn thua lỗ, không trả được nợ ngân hàng là giải pháp tình thế. Thông thường, các doanh nghiệp có nhu cầu chuyển khoản nợ vay sang làm vốn góp là những khoản nợ vay tồn đọng, không có tài sản bảo đảm và khó có thể thu hồi được. Vì vậy, thông tư 05/2003/TT-NHNN ra đời cho phép việc chuyển nợ vay thành vốn góp là một trong những giải pháp nhằm để xử lý nợ tồn đọng của DNNN. Đây là giải pháp tình thế trong tiến trình cơ cấu lại NHTM và DNNN. Còn bản chất của khoản nợ là không thay đổi -đây là khoản nợ tồn đọng, khó đòi, cho dù nó đã được thay đổi cách hạch toán để làm sạch bảng cân đối kế toán của Ngân hàng cũng như của doanh nghiệp (không còn nợ quá hạn, nợ gia hạn, lãi treo…).

SOURCE: icb.COM.VN

QUY TẮC BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

QUY TẮC BẢO HIỂM BẮT BUỘC
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

(Ban hành theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC
ngày 25 tháng 2 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

CHƯƠNG I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới kể cả chủ xe là người nước ngoài sử dụng xe cơ giới trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
2. Chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong Quy tắc này bao gồm:
– Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xe cơ giới gây ra thiệt hại về người và tài sản đối với người thứ ba;
– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Quy tắc này, các khái niệm dưới đây được hiểu như sau:
1. Người thứ ba: là những người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do việc sử dụng xe cơ giới gây ra, trừ những người sau:
– Lái xe, phụ xe trên chính chiếc xe đó;
– Người trên xe và hành khách trên chính chiếc xe đó;
– Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó.
2. Hành khách: là những người được chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách thuộc các hình thức quy định trong Bộ Luật dân sự.
3. Mức trách nhiệm bảo hiểm: là số tiền tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả cho thiệt hại về người và tài sản trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
4. Hành động cố ý gây thiệt hại: là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Điều 3. Hợp đồng bảo hiểm
Giấy chứng nhận bảo hiểm do doanh nghiệp cấp theo yêu cầu của người được bảo hiểm là bằng chứng ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa chủ xe cơ giới và doanh nghiệp bảo hiểm. Nội dung chính của Giấy chứng nhận bảo hiểm được quy định tại Phụ lục 1- Nội dung giấy chứng nhận bảo hiểm ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều 4. Phí bảo hiểm và mức trách nhiệm bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm và chủ xe cơ giới có trách nhiệm thực hiện bảo hiểm theo Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận với chủ xe để bảo hiểm theo biểu phí và mức trách nhiệm cao hơn hoặc phạm vi rủi ro bảo hiểm rộng hơn Quy tắc bảo hiểm, Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều 5. Hiệu lực bảo hiểm

Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo quy định ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm (trừ trường hợp có thoả khác bằng văn bản).
Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe mà chủ xe cơ giới không có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến chiếc xe được bảo hiểm vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới.
Điều 6. Huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm
Trường hợp có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm biết trước 15 ngày. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo huỷ bỏ, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên được huỷ bỏ, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời gian huỷ bỏ, trừ trường hợp trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đã xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến chiếc xe có yêu cầu huỷ bỏ bảo hiểm.
Điều 7. Trách nhiệm của chủ xe cơ giới
1. Khi yêu cầu bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải thông báo đầy đủ và trung thực những nội dung trong Giấy yêu cầu bảo hiểm.
2. Khi tai nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm:
2.1. Cứu chữa, hạn chế thiệt hại về người và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn, báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm để phối hợp giải quyết. Trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ khi có lý do chính đáng), chủ xe cơ giới phải gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông báo tai nạn (Phụ lục 2: Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính);
2.2. Không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp làm như vậy là cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại cho người và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
2.3. Bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm trong phạm vi số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường kèm theo toàn bộ chứng từ cần thiết có liên quan.
3. Chủ xe cơ giới phải trung thực trong việc thu thập và cung cấp các tài liệu, chứng từ trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình xác minh tính chân thực của các tài liệu, chứng từ đó.
4. Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng xe theo quy định tại Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, chủ xe cơ giới phải thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm biết để điều chỉnh lại tỷ lệ phí bảo hiểm cho phù hợp.
Nếu chủ xe cơ giới không thực hiện đầy đủ các trách nhiệm quy định trên thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường tương ứng với thiệt hại do lỗi của chủ xe cơ giới gây ra.
Điều 8. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm
1. Hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để chủ xe cơ giới tham gia bảo hiểm.
2. Trong các vụ tai nạn, nếu xét thấy cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải phối hợp chặt chẽ với chủ xe cơ giới và các cơ quan chức năng ngay từ đầu để giải quyết tai nạn. Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục một cách tốt nhất hậu quả tai nạn.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an để thu thập các giấy tờ cần thiết có liên quan nhằm xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại của vụ tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
4. Khi hồ sơ bồi thường đầy đủ và hợp lệ, doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành xét và giải quyết bồi thường trong thời hạn giải quyết bồi thường quy định tại Điều 13 dưới đây.

Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Điều 9. Trách nhiệm bảo hiểm
Trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thanh toán cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới phải bồi thường theo Bộ Luật Dân sự về những thiệt hại đã xảy ra cho người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển do việc sử dụng xe cơ giới gây ra cụ thể:
1. Đối với thiệt hại về người:
Bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, bồi dưỡng, chăm sóc người bị hại trước khi chết, mai táng phí hợp lý… theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.
Chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận lựa chọn phương pháp trả tiền áp dụng theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người (Phụ lục số 3 – Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
2. Đối với thiệt hại tài sản: bồi thường thiệt hại thực tế theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.
3. Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan tới vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra;
Tổng các khoản bồi thường và chi phí nêu trên không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm và không vượt quá số tiền thực tế chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân theo hoà giải dân sự hoặc quyết định của toà án.
Trường hợp chủ xe cơ giới tham gia từ 2 hợp đồng bảo hiểm trở lên cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính trên một hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm cấp hợp đồng bảo hiểm đầu tiên có trách nhiệm giải quyết bồi thường và thu hồi số tiền bồi thường chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm.
Điều 10. Giám định tổn thất
Mọi tổn thất về tài sản thuộc trách nhiệm bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành giám định thiệt hại (trừ khi có thoả thuận khác) với sự chứng kiến của chủ xe cơ giới, người thứ ba hoặc người đại diện hợp pháp của các bên có liên quan để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại do tai nạn gây ra.
Trường hợp chủ xe cơ giới không thống nhất về nguyên nhân và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm xác định, hai bên sẽ thoả thuận chọn giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp thực hiện việc giám định. Kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp là căn cứ để xác định thiệt hại. Trường hợp kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp khác với kết luận của giám định viên bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp trùng với kết luận của giám định viên bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải chịu chi phí giám định.
Trong trường hợp đặc biệt, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thể thực hiện được việc lập biên bản giám định, thì có thể căn cứ vào các biên bản, kết luận của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và các hiện vật thu được (ảnh chụp, lời khai của các bên có liên quan) để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại.
Điều 11. Loại trừ bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra trong các trường hợp sau:
1. Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe/lái xe, hoặc của người bị thiệt hại;
2. Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường (đối với loại xe yêu cầu phải có);
3. Lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ (đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có giấy phép lái xe); lái xe có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá quy định của pháp luật hiện hành, khi có kết luận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng;
4. Xe sử dụng để đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa (trừ khi có thoả thuận khác);
5. Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm;
6. Thiệt hại có tính chất gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại;
7. Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn;
8. Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự như chiến tranh;
9. Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.
Điều 12. Hồ sơ yêu cầu bồi thường
Hồ sơ bồi thường bao gồm các giấy tờ sau:
1. Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường (Phụ lục 2- Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
2. Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người như Giấy chứng thương của nạn nhân, Giấy ra viện, Phiếu mổ và các giấy tờ liên quan đến các chi phí chăm sóc, cứu chữa, Giấy chứng tử của nạn nhân, các chứng từ điều trị, chi phí mai táng.
3. Các giấy tờ chứng minh thiệt hại tài sản như hoá đơn sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại do tai nạn; các giấy tờ chứng minh các chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ xe đã chi ra để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.
4. Bản kết luận điều tra tai nạn của công an, trong trường hợp không có kết luận điều tra tai nạn của công an, việc bồi thường sẽ căn cứ vào Biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm.

Chương III
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Điều 13. Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường
1. Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới: một năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khả kháng theo quy định của pháp luật.
2. Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm: mười lăm (15) ngày kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường đầy đủ và hợp lệ và không kéo dài quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ.
Trường hợp từ chối bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho chủ xe cơ giới biết lý do từ chối bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm.
3. Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm: ba (3) năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Quá thời hạn trên mọi khiếu nại không còn giá trị.
4. Trường hợp người thứ ba hay hành khách theo hợp đồng vận chuyển bị thiệt hại về người và tài sản do xe cơ giới đã tham gia bảo hiểm gây ra khiếu nại trực tiếp đòi doanh nghiệp bảo hiểm đó bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm liên hệ với chủ xe cơ giới để giải quyết bồi thường theo đúng các quy định tại Quy tắc này.
Điều 14. Giải quyết tranh chấp
Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, nếu không giải quyết được bằng thương lượng giữa các bên liên quan sẽ được đưa ra Toà án tại Việt Nam giải quyết.

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Thứ trưởng
Lê Thị Băng Tâm

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

ĐÀO MINH THẢO – NHCT Bắc Ninh

Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm.
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên được thoả thuận về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó không chỉ có thể bảo đảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, mà còn bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai (đáp ứng nhu cầu vay theo hạn mức và vay theo dự án) và nghĩa vụ có điều kiện. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không có quy định, thì nghĩa vụ được coi là bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại (nếu có).
Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được thể hiện tập trung ở các tài sản sau:
– Vật bảo đảm nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch. Bên bảo đảm có thể là bên có nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng, trong các quan hệ dân sự khác như bồi thường thiệt hại, hành vi pháp lý đơn phương, nhưng cũng có thể là người thứ ba dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp.
– Bộ Luật dân sự quy định vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật được hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.
– Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy thực tế việc dùng tiền để bảo đảm ít xảy ra.
– Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Trong thực tế, khi thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm còn có những khó khăn vướng mắc:
– Mục III – Thông tư 05: Hồ sơ đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, quy định trên không phù hợp với trường hợp thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai do chủ sở hữu tài sản có quyết định giao đất của cấp thẩm quyền mà chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu công nghiệp hoặc bảo đảm bằng nhà ở gắn liền với đất ở của những căn hộ chung cư hình thành từ vốn vay tại khu đô thị do khách hàng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai. Mặt khác, Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 quy định “Giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có đủ điều kiện làm bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật, thì việc thế chấp, bảo lãnh đồng thời cả giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất và tách rời do các bên thoả thuận.
– Luật đất đai 2003 chỉ định trình tự thủ tục thực hiện đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất phải qua công chứng, chứng thực, còn lại các trình tự thủ tục khác liên quan giao dịch dân sự thường. Tuy nhiên tại địa phương khi đăng ký giao dịch bảo đảm tại sở tài nguyên môi trường vẫn phải qua công chứng.
– Thế chấp tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải đăng ký, trong khi Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 sửa đổi, bổ sung Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 chỉ quy định tài sản được dùng để bảo đảm cho các nghĩa vụ trả nợ tại nhiều tổ chức tín dụng mới phải đăng ký còn một tổ chức tín dụng không có quy định.
– Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký (Điều 8, 1 khoản 8 mục I Thông tư 05/2005/TTLT-TP-TNMT) quy định này chỉ áp dụng đối với hợp đồng thế chấp khác. Tuy nhiên, khi thực hiện tại địa phương thì tất cả các hợp đồng thế chấp bảo đảm tiền vay điều phải qua đăng ký làm ảnh hưởng đến thời gian giải quyết cho vay.
Xuất phát từ những khó khăn vướng mắc trên chúng tôi xin có một số kiến nghị như sau:
– Nhà nước cần ban hành quy định cụ thể đối với thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản của khách hàng như quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất, giấy phép xây dựng, hợp đồng xây lắp, hoá đơn…
– Thống nhất để các địa phương thực hiện đăng ký, giao dịch bảo đảm đối với trường hợp bắt buộc phải thông qua công chứng.
– Đối với việc thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ trả nợ tại nhiều tổ chức tín dụng mới phải đăng ký còn 1 tổ chức tín dụng việc đăng ký hay không đăng ký do các bên thoả thuận. Về trách nhiệm của các bên tham gia cầm cố, thế chấp Pháp luật đều đề cao việc các bên phải tự chịu trách nhiệm về các cam kết của mình. Do đó, khi cho vay vốn, bên cho vay đã phải thẩm định tính khả thi của phương án, dự án, khả năng trả nợ của người vay, tài sản dùng để bảo đảm có thuộc sở hữu của bên bảo đảm không và các yêu cầu khác. Bên cho vay không thể ỷ lại vào hợp đồng cầm cố, thế chấp có công chứng hoặc chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm mà bỏ qua việc xác minh đúng đắn quyền sở hữu tài sản bảo đảm và ta cách khách hàng vay vốn.
Đăng ký giao dịch bảo đảm là cơ sở pháp lý quan trọng đối với hoạt động đầu tư vốn trong và ngoài nước để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận cầm cố§, thế chấp trong trường hợp một tài sản để thế chấp, cầm cố nhiều nơi. Qua đó, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch bảo đảm, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tín dụng phát triển nhanh, ổn định; đồng thời tạo thuận lợi cho mọi hoạt động xét xử của toà án đối với các tranh chấp về giao dịch bảo đảm./.

SOURCE: ICB.COM.VN

 

BẢN CHẤT CỦA GIAO DỊCH NHẬN TIỀN GỬI LÀ HỢP ĐỒNG VAY TIỀN

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Hoạt động nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán – là nội dung thường xuyên của hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, với nội dung kinh tế là: Nhận các khoản tiền gửi của khách hàng với nhiều hình thức khác nhau (phân chia theo loại kỳ hạn và tính chất của tiện ích), có trả lãi hoặc, cũng có thể bao gồm, cung ứng dịch vụ tiện ích theo hình thức huy động; đồng thời NHTM được quyền sử dụng nguồn vốn huy động ấy để cho vay lại hoặc để cung ứng dịch vụ tiện ích nhằm mục tiêu thụ lợi nhuận. Như vậy, về kinh tế việc nhận tiền gửi với nội dung trên không thuần tuý là giao dịch gửi – giữ tài sản (mặc dù trong lịch sử đó là khởi nguồn của hoạt động ngân hàng) bởi khi thực hiện giao dịch này ngân hàng không có trách nhiệm hoàn trả đúng đồng tiền đặc định đã nhận, không thu phí giữ hộ tài sản mà ngân hàng còn phải trả lãi hoặc cung cấp các tiện ích cho khách hàng, đổi lại ngân hàng được quyền khai thác công dụng tài sản đang chiếm hữu, tức sử dụng tiền gửi. Do vậy, ngay ở góc độ này nó đã hàm chứa đựng nội dung kinh tế của một giao dịch lưỡng tính – giao dịch gửi giữ và giao dịch vay tài sản (ở đây là tiền).
Hợp đồng là giao dịch phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên, trong đó giao dịch gửi giữ tài sản và giao dịch vay tài sản đều là các hợp đồng và xét một cách độc lập thì chúng có bản chất pháp lý khác nhau. Về pháp lý, sự khác nhau giữ hợp đồng gửi giữ tài sản với hợp đồng vay tài sản chính là sự khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác lập từ hợp đồng, theo đó:
– Việc gửi giữ tài sản chỉ là sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản từ bên gửi sang bên giữ, tài sản gửi giữ vẫn thuộc quyền sở hữu của bên gửi, bên giữ không tự có quyền sử dụng, định đoạt tài sản nhận giữ và sự chuyển giao trên nhằm đến nội dụng bên giữ có trách nhiệm nhận tài sản để bảo quản và có nghĩa vụ trả lại chính tài sản ấy, được thu tiền công, tức phí giữ hộ tài sản, trừ khi có thoả thuận không thu phí (Điều 559 Bộ Luật dân sự năm 2005 – BLDS);
– Còn việc vay tài sản lại không đặt vấn đề trách nhiệm hoàn trả đúng tài sản đặc định đã nhận mà bên vay chỉ phải trả tài sản cùng chủng loại, cùng số lượng, chất lượng và có nghĩa vụ trả lãi theo thoả thuận (Điều 471 BLDS), trong thời hạn vay bên vay là chủ sở hữu tài sản vay nên được khai thác công dụng của tài sản để sinh lợi (Điều 472 BLDS), nghĩa là trong giao dịch vay tài sản bên cho vay đã có sự chuyển giao cả 3 quyền năng (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) và ngay lập tức trở thành chủ nợ của bên vay (cần lưu ý rằng quyền chủ nợ là một loại quyền tài sản và trong vị trí ấy chủ nợ sẽ có một số quyền cụ thể tương tự quyền của chủ sở hữu như: Chuyển nhượng, để lại thừa kế, dùng bảo đảm nghĩa vụ dân sự… Nhưng bởi đối tượng của quyền là khác nhau nên không bao giờ có thể xem chúng là một).
Khi tiếp nhận tiền gửi, NHTM và khách hàng đã mặc nhiên thoả thuận nội dung: NHTM được toàn quyền sử dụng tiền gửi để đầu tư cho các mục đích kinh doanh hợp pháp của mình với điều kiện có hoàn trả theo phương thức đã thoả thuận (vốn, lãi, dịch vụ), số dư trên tài khoản tiền gửi là khoản Nợ phải trả của ngân hàng đối với khách hàng. Như vậy, đối với ngân hàng quyền sử dụng tiền gửi để đầu tư là một quyền năng của quyền sở hữu được xác lập theo hợp đồng nhận tiền gửi, hay nói cách khác, xuất phát từ hợp đồng nhận tiền gửi ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận để chuyển giao, xác lập cho nhau quyền sở hữu (cho ngân hàng) và quyền chủ nợ (cho khách hàng). Ngay cả trường hợp mở tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn, mặc dù khách hàng được quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán hoặc trả lại tiền tại bất kỳ thời điểm nào (mà không bị chế tài) thì điều đó cũng không phải là dấu hiệu để loại trừ quyền sở hữu của ngân hàng trong trường hợp này. Về tính chất, hành vi phát lệnh thanh toán hay rút tiền khỏi ngân hàng chẳng qua là việc chủ nợ đang thực hiện quyền thanh toán, quyền đòi nợ đã được dự liệu theo điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng mở tài khoản với ngân hàng là sự xác lập lại quyền sở hữu cho mình và khi tất toán tài khoản thì quyền chủ nợ sẽ tự mất đi. Mặt khác, theo cơ cấu sử dụng tiền gửi của mình ngân hàng luôn dự liệu nguồn hoàn trả thay thế và hơn nữa các quyền trên của khách hàng không phải là quyền đặc trưng, không phải là thuộc tính riêng chỉ thuộc về quyền định đoạt của chủ sở hữu mà rõ ràng nó còn có thể thuộc về quyền của chủ nợ tuỳ theo loại hợp đồng gửi tiền đã xác lập. Như vậy việc phân định quyền năng nào đó là thuộc quyền sở hữu hay quyền chủ nợ không chỉ xem xét qua việc chủ thể thực hiện quyền ấy theo phương thức nào mà cần được nhìn nhận thêm từ nhiều góc độ khác.
Đồng tiền cụ thể là vật đặc định, song trong quan hệ gửi tiền (và sử dụng tiền nói chung) bên gửi rõ ràng chỉ quan tâm đến giá trị của đồng tiền, số lượng tiền sẽ thu về, giá trị và tiện ích của dịch vụ được cung ứng, hay nói cách khác hành vi gửi tiền là sự lựa chọn về một phương thức đầu tư của khách hàng và họ phải chấp thuận đổi lấy nó bằng việc trao quyền sở hữu tiền gửi cho ngân hàng trong một thời hạn nhất định. Như vậy, việc NHTM mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng đã phản ánh rõ bản chất là hành vi vay tiền của ngân hàng với cam kết bảo toàn và có sinh lợi cho người gửi tiền (ngày nay không chỉ là hoàn trả gốc, lãi mà còn trao quyền thụ hưởng thêm các dịch vụ, tiện ích mang tính cạnh tranh khác). Khi tài khoản tiền gửi được thiết lập, hợp đồng vay tài sản đã hình thành, quyền và nghĩa vụ pháp lý của 2 bên đã phát sinh, theo đó: NHTM đã tiếp nhận sự chuyển giao quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu đối với số tiền nhận gửi từ bên gửi (Điều 472 BLDS) nên có quyền định đoạt nguồn tiền huy động đó nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của mình và có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (Điều 17 Luật các TCTD) bằng việc bảo toàn tiền gửi và hoàn trả gốc, lãi theo thoả thuận, hoặc cung cấp các dịch vụ các cam kết, nếu có (theo quy chế nhận tiền gửi mà NHTM đã công bố công khai và theo hợp đồng gửi tiền cụ thể); Với khách hàng, họ có quyền của một chủ nợ (đòi nợ, yêu cầu thanh toán… theo loại hình tài khoản) do là chủ tài khoản gửi tiền, tức là chủ nợ của ngân hàng, và có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền vốn đã ký thác cho ngân hàng.
Việc xác định bản chất của hợp đồng nhận tiền gửi là hợp đồng vay tiền và hệ quả của nó V – dưới góc độ pháp lý sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp giải quyết tốt các tranh chấp có thể phát sinh từ giao dịch nhận tiền gửi mà trước hết giúp hình thành nhận thức đúng về 2 vấn đề thực tiễn sau:
– Về quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền gửi, một khi đã khẳng định vấn đề trên (hợp đồng nhận tiền gửi là hợp đồng vay tiền – là một hợp đồng song vụ) thì hiển nhiên đã thừa nhận sự xác lập quyền sở hữu của ngân hàng đối với số tiền vay, kèm theo đó là xác lập quyền chủ nợ của người gửi tiền đối với ngân hàng và xác lập các nghĩa vụ đối ứng của mỗi bên trong quan hệ cho vay – vay, từ đó giúp định hình rõ ràng về các nhóm quyền và nghĩa vụ khác liên quan của mỗi chủ thể sẽ chi phối trong suốt thời gian duy trì hiệu lực của thoả thuận vay tiền. Ví dụ: khi ngân hàng được giao quyền sở hữu thì đương nhiên có quyền định đoạt khoản tiền nhận gửi theo mục tiêu kinh doanh của mình và tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, có quyền từ chối yêu cầu đòi tiền bất hợp lý của khách hàng hoặc chấp nhận và buộc chịu chế tài theo hợp đồng, khách hàng không là chủ sở hữu nên không thể đơn phương thực hiện quyền của một sở hữu chủ đối với số tiền đã cho ngân hàng vay trong thời gian hợp đồng vay còn hiệu lực, v.v…
– Về quyền chủ nợ của người gửi tiền, trước hết cần nhất quán rằng chứng thư gửi tiền là bằng chứng xác định tư cách chủ nợ theo phạm vi số tiền gửi chứ không phải là việc xác định quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tiền gửi, vi phạm điều này sẽ gây ngộ nhận: khi gửi tiền khách hàng không trao quyền sở hữu cho ngân hàng (đồng nghĩa: không xem hợp đồng gửi tiền là hợp đồng vay), hoặc vô tình đồng nhất quyền sở hữu tài sản với quyền chủ nợ (trái với các chế định của pháp luật dân sự). Do bản chất là hợp đồng vay nợ, khách hàng gửi tiền là bên cho vay và “bên vay (ngân hàng) trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” (Điều 472 BLDS), khách hàng được nhận quyền chủ nợ với bằng chứng xác lập tư cách chủ nợ là chứng thư gửi tiền của ngân hàng phát hành (thẻ tiết kiệm, phiếu nhận nợ, sec…). Với tư cách chủ nợ, khách hàng không có quyền can dự vào việc sử dụng đồng tiền đã gửi vào ngân hàng, nhưng có thể dùng quyền chủ nợ để tham gia một số giao dịch dân sự khác theo thể loại của hợp đồng tiền gửi, được đòi nợ hoặc nhận tiện ích theo thoả thuận với ngân hàng.
Thực tiễn cho thấy do còn sự nhận thức khác nhau về bản chất vấn đề trên mà có văn bản còn sử dụng thuật ngữ hoặc có không ít nội dung quy định chưa phù hợp với các nguyên tắc và định chế cơ bản của pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này T (các quy định liên quan về quyền sở hữu, quyền tài sản – quyền chủ nợ trong BLDS, Luật các TCTD). Có thể tìm thấy sai sót ấy trong rất nhiều quy định trong quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/09/2004 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, như: Việc sử dụng cụm từ “Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm” trong các trường hợp liệt kê về người gửi tiền (tại các Điều 6, 9, 10, 11, 18, 24, 27…); “Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm” (Khoản 3 Điều 6); “Đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là 2 cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm” (Khoản 4 Điều 6); “Thẻ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm” (Khoản 7 Điều 6)… ở đây rõ ràng đã có sự nhầm lẫn khi luôn coi bên gửi tiền là chủ sở hữu của tiền gửi (thay vì: người đứng tên trên thẻ tiết kiệm coi là chủ sở hữu của thẻ tiết kiệm, là chủ nợ của ngân hàng (hoặc đồng chủ sở hữu, đồng chủ nợ), còn ngân hàng mới là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm). Không chỉ thế, căn cứ quy chế này các tổ chức tín dụng cũng đã ban hành quy định về tiền gửi tiết kiệm để áp dụng trong hệ thống của mình và trong các nội dung tương ứng đều hàm chứa quan niệm tương tự về vấn đề trên, trong đó bản Quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống NHCT Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 312/QĐ-HĐQT -NHCT9 ngày 12/09/2005 của Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam cũng rơi vào trường hợp này.
Để hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn huy động đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả, thiết nghĩ với các nội dung trên trước hết Ngân hàng Nhà nước cần có sự nghiên cứu và chỉnh lý thấu đáo nhằm bảo đảm tính chuẩn mực của thuật ngữ pháp lý, tính nhất quán của hệ thống quy phạm pháp luật dân sự, qua đó xác lập chính xác các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong quan hệ vay nợ (quyền sở hữu, quyền chủ nợ), trên cơ sở đó các NHTM sẽ có cơ sở để tiến hành chỉnh lý nội dung, hoàn thiện các quy định điều chỉnh đến hoạt động huy động và sử dụng vốn và các hướng dẫn có liên quan khác của mình./.

SOURVE: icb.com.vn

CẦN HOÀN THIỆN QUI ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

HIỀN PHA

 

Là loại hợp đồng phức tạp, thời hạn nhiều khi rất dài, điều đó khiến quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm chịu ảnh hưởng rất lớn của những thay đổi chủ quan từ các chủ thể hợp đồng và khách quan từ môi trường tự nhiên – xã hội.
Thực tế, dù muốn hay không vẫn xảy ra nhiều tình huống buộc các bên phải chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời điểm kết thúc thời hạn bảo hiểm đã thỏa thuận.
Vì thế, một trong những yêu cầu quan trọng của việc soạn thảo hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm là phải bao quát được những trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm có thể xảy ra và xác định rõ những hậu quả pháp lý tương ứng. Đối với các nhà bảo hiểm, trong thiết kế sản phẩm bảo hiểm, khi đưa ra điều khoản liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng phải dựa trên nguyên tắc: không trái pháp luật và đảm bảo quyền lợi hợp lý cho nhà bảo hiểm cũng như khách hàng.
Về hệ thống văn bản pháp luật bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung đã khái quát được những trường hợp cơ bản trong rất nhiều những tình huống đa dạng xung quanh việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Điểm qua các quy tắc, điều khoản bảo hiểm đang lưu hành trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, có thể thấy là các nhà bảo hiểm Việt Nam cũng đã chú ý đưa ra các điều khoản cụ thể bên cạnh những quy định chung của luật pháp về bảo hiểm.
Tuy nhiên, nếu xem xét một cách toàn diện và chi tiết, điều dễ nhận thấy là không ít vấn đề đáng để xem xét lại.
Thứ nhất: – Xung quanh trường hợp hủy bỏ hợp đồng. Trước hết hãy nhìn lại các quy định về vấn đề này từ một số mẫu hợp đồng bảo hiểm hiện hành.
* Đơn bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm.
“Người bảo hiểm có thể hủy bỏ đơn bảo hiểm này vào bất cứ thời điểm nào với điều kiện thông báo trước 30 ngày và trong trường hợp đó, người bảo hiểm sẽ hoàn trả phí bảo hiểm theo tỷ lệ cho người được bảo hiểm theo số ngày còn lại của thời hạn bảo hiểm”.
* Quy tắc bảo hiểm tiền.
“Người bảo hiểm có thể hủy đơn bảo hiểm này bằng cách thông báo bằng thư đảm bảo trước 07 ngày cho người được bảo hiểm và trong trường hợp như vậy sẽ hoàn lại phần phí bảo hiểm tương ứng của thời hạn bảo hiểm còn lại cho người được bảo hiểm.”
* Đơn tiêu chuẩn về bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt.
“4. Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm:
Hiệu lực của đơn bảo hiểm này có thể được chấm dứt tại bất cứ thời điểm nào theo yêu cầu của người được bảo hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sẽ giữ lại phần phí bảo hiểm được tính trên cơ sở tỷ lệ phí ngắn hạn áp dụng cho thời gian đơn bảo hiểm có hiệu lực. Hiệu lực của đơn này cũng có thể được chấm dứt theo quyết định của người bảo hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sẽ thông báo bằng văn bản cho người được bảo hiểm biết về việc này, và có trách nhiệm hoàn trả một phần phí bảo hiểm theo tỷ lệ tương ứng với thời gian từ ngày thông báo hủy bỏ cho đến ngày kết thúc hiệu lực của đơn bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm”.
Ở nhiều loại sản phẩm bảo hiểm khác cũng có quy định tương tự. Nhìn chung, đại đa số cho phép cả hai bên; một số ít cho phép riêng nhà bảo hiểm hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm mà không nói rõ điều kiện tương ứng, chỉ kèm theo việc hoàn lại một phần phí bảo hiểm.
Thay cho lời bình luận, xin dẫn chứng một số quy định liên quan của luật pháp về bảo hiểm.
Theo điều 23, luật kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm được chấm dứt theo quy định của luật dân sự và các trường hợp khác (gắn với điều kiện bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm không thực hiện đúng nghĩa vụ trả phí bảo hiểm).
Còn theo điều 418, 419 luật dân sự, một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự là khi bị hủy bỏ và “một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc luật pháp có quy định”. Hơn nữa: “Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận”; “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt hại”.
Đối với luật hàng hải, điều 208 quy định: “Người được bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng bảo hiểm vào bất cứ lúc nào, trước khi xuất hiện hiểm họa được bảo hiểm và có nghĩa vụ trả tiền phạt hợp đồng”.
Như vậy, hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng trong những sản phẩm bảo hiểm nói trên chưa nhất quán với quy định của luật dân sự, nhưng điều đáng nói ở đây là: nên chăng việc cho phép chấm dứt hợp đồng bảo hiểm mà không gắn với các hoàn cảnh nhất định, nhất là từ phía nhà bảo hiểm – bán một lời hứa và tự cho phép rút lại lời hứa bất cứ lúc nào. Nếu nhà bảo hiểm dễ dãi với bản thân mình như vậy sẽ tự làm giảm sút tín nhiệm của công chúng đối với sản phẩm bảo hiểm bán ra.
Đúng ra theo luật dân sự, hợp đồng dân sự có thể chấm dứt theo thỏa thuận của các bên, nhưng là người chủ động đưa ra các điều khoản cho việc thỏa thuận có một vấn đề các nhà bảo hiểm Việt Nam cần lưu ý là luật pháp về bảo hiểm ở nhiều nước trên thế giới hạn chế tối đa việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời điểm kết thúc thời hạn bảo hiểm. Gần như là một nguyên tắc trong xử sự: Đối với bảo hiểm thiệt hại (bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự), 2 bên buộc phải theo đuổi các cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm đến cùng, ngoại trừ khi bị rơi vào những hoàn cảnh cụ thể hợp lý, hợp tình.
Đối với bảo hiểm nhân thọ, do những đặc tính riêng, sự ràng buộc đó chỉ áp dụng đối với phía nhà bảo hiểm. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập không thể xem nhẹ vấn đề này.
Thứ hai: Cần có sự phân định rạch ròi hơn về các trường hợp dẫn đến chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Hãy xem xét các quy định sau của luật kinh doanh bảo hiểm.
Điều 19: Trách nhiệm cung cấp thông tin.
“2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:
a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường.
………………..
3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật”.
Điều 22: Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu.
“1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:
d) Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Như vậy sẽ có những tình huống mà quy cho hợp đồng vô hiệu là đúng hoặc thực hiện quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng của các bên cũng không sai. Duy chỉ có điều, hậu quả pháp lý tương ứng với trường hợp hợp đồng vô hiệu và trường hợp đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng lại không giống nhau. Mầm mống có thể dẫn đến việc phát sinh tranh chấp này quả thật là không đáng có.
Thứ ba: Việc xử lý hậu quả việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm phải trên quan điểm bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm:
Thông tư số 71/2001 của Bộ Tài chính có quy định về vấn đề chuyển giao hợp đồng bảo hiểm như sau:
“Bên mua bảo hiểm được phép hủy hợp đồng bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc chuyển giao tính theo dấu bưu điện. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm hủy hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm chuyển giao phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã nhận tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan đối với bảo hiểm phi nhân thọ, hoặc số phí bảo hiểm bên mua bảo hiểm đã đóng sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan đối với bảo hiểm nhân thọ”.
Với cách giải quyết trên, nhất là đối với bảo hiểm nhân thọ, bên mua bảo hiểm sẽ rất thiệt thòi. Tại sao họ phải chịu chi phí “hợp lý liên quan” khi chính nhà bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về tình trạng lỡ dở của hợp đồng bảo hiểm. Hơn nữa, quy định như vậy đã bỏ qua một khoản có thể là rất lớn mà họ có quyền được hưởng, đó là thu nhập từ sự sinh lợi đồng tiền phí nộp trước cho nhà bảo hiểm. Hãy xem qua một ví dụ đơn giản sau:
Hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ, phí đóng một lần toàn bộ ngay khi bắt đầu tham gia bảo hiểm trừ đi chi phí quản lý là 100 đơn vị tiền tệ (đvtt), lãi suất giả định là 5%/năm. Sau 6 năm tham gia bảo hiểm, phát sinh trục trặc từ phía nhà bảo hiểm; người tham gia bảo hiểm nhận được thông báo về việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nhưng không muốn chuyển giao. Nhà bảo hiểm chỉ trả lại cho khách hàng 100 đvtt, trong khi đó về nguyên tắc, khoản tiền đó đã sinh lợi ít nhất là:
100 đvtt x (1 + 0,05)5 = 134 đvtt
Xem ra điều này thật phi lý và vô hình chung bên mua bảo hiểm đã bị buộc phải chấp nhận chuyển giao hợp đồng bảo hiểm.
“Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm” đó là mục tiêu đầu tiên mà luật kinh doanh bảo hiểm đã đặt ra. Chính vì thế, xét duyệt các sản phẩm bảo hiểm; soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật về bảo hiểm phải hết sức thận trọng đối với các quy định về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm, một trong những vấn đề không chỉ liên quan tới quyền lợi của người tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm mà còn ảnh hưởng đến sự tín nhiệm đối với sản phẩm bảo hiểm Việt Nam, thậm chí là lòng tin vào hiệu lực của quản lý nhà nước trong kinh doanh bảo hiểm.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM SỐ 6/2003

————————————————————–

“… chấm dứt hợp đồng bảo hiểm” từ lý thuyết đến thực tiễn

TẠP CHÍ BẢO HIỂM: Sau khi Tạp chí bảo hiểm số tháng 6/2003 đăng bài “Cần hoàn thiện quy định pháp lý về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm”, chúng tôi đã nhận được bài “Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm – Từ lý thuyết đến thực tiễn” của tác giả Nguyên Hà. Mặc dù tác giả Nguyên Hà chỉ đưa ra các vấn đề mang tính thực tiễn chứ không trao đổi trên cơ sở lý luận. Để mở rộng đường cho các bài trao đổi, phản hồi về bài viết, chúng tôi đăng bài “Chấm dứt hợp đồng …” để bạn đọc tham khảo.
Với tư cách là khách hàng của các công ty bảo hiểm, sau khi đọc bài “Cần hoàn thiện quy định pháp lý về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm” của tác giả Hiền Pha trong Tạp chí bảo hiểm số 2/2003, chắc hẳn bạn sẽ ít nhiều hoang mang về quy định pháp lý trong những quy tắc và những đơn bảo hiểm hiện hành, như đã được tác giả viện dẫn.
Song trong thực tế không phải như vậy, bạn có thể hoàn toàn yên tâm vào những quy tắc, những điều khoản bảo hiểm đang được các công ty bảo hiểm cấp cho khách hàng. Bởi lẽ, từ lý thuyết đến thực tiễn còn có sự khác biệt lớn, đó là những điều kiện dẫn tới việc đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo hiểm mặc nhiên đã được ngầm định trong hợp đồng bảo hiểm.
Trước khi xem xét tính thực tiễn của sự ngầm định này, xin trở lại nội dung bài “cần hoàn thiện quy định pháp lý về chấm dứt hợp đồng bảo hiểm” chúng ta thấy tác giả lập luận rất lô gic, với việc trích dẫn nội dung một số đơn bảo hiểm và một số điều luật trong Luật kinh doanh bảo hiểm. Nhưng sự lô gic đó cần được kiểm chứng qua thực tiễn, trước khi đi đến một kết luận “Nhà bảo hiểm – bán một lời hứa bất cứ lúc nào…”. Thực tế, một ngàn lần không phải như vậy. Trong thời buổi kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm để có được một khách hàng đã và đang diễn ra ngày càng gay gắt, thì không một nhà bảo hiểm nào lại dại dột “dễ dãi với bản thân mình như vậy”.
Vấn đề đặt ra, tại sao những điều kiện cho phép nhà bảo hiểm đơn phương chấm dứt hợp đồng lại được ngầm định, mà không nêu rõ trong hợp đồng hay quy tắc bảo hiểm? Câu trả lời được xuất phát từ chính việc bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm. Bởi trước hết, nhà bảo hiểm không thể lường hết những trường hợp vi phạm hợp đồng từ phía người được bảo hiểm để đưa vào hợp đồng, thêm nữa điều quan trọng hơn việc ngầm định nhằm hạn chế tối đa việc tuyên bố chấm dứt hợp đồng từ nhà bảo hiểm. Điều đó xuất phát từ thực tiễn, khi những điều kiện đã được quy định cụ thể trong hợp đồng, thì không thể không xử lý theo hợp đồng khi điều kiện đó xảy ra. Nhưng ngược lại, do không quy định những điều kiện cụ thể nên hầu hết những vi phạm từ phía người được bảo hiểm vẫn được nhà bảo hiểm trao đổi, nhắc nhở mà không cần đến giải pháp chấm dứt hợp đồng.
Với lập luận trên, không có nghĩa là trong thực tế không có trường hợp tuyên bố chấm dứt hợp đồng từ phía nhà bảo hiểm. Mà trường hợp chấm dứt hợp đồng là rất hãn hữu khi và chỉ khi phía người được bảo hiểm cố tình lừa dối nhà bảo hiểm nhằm trục lợi như trường hợp nhà bảo hiểm phát hiện đối tượng được bảo hiểm không đủ điều kiện để bảo hiểm, nhưng người tham gia bảo hiểm đã khai báo đủ điều kiện.
Một vấn đề khác được tác giả đề cập “khi bên mua bảo hiểm hủy hợp đồng trong thời hạn 15 ngày…”, tác giả đã có sự nhầm lẫn lớn giữa huỷ hợp đồng trong thời hạn 15 ngày kể từ khi hợp đồng bắt đầu có hiệu lực với khi hợp đồng đã có hiệu lực 6 năm, khi đưa ra ví dụ được gọi là “đơn giản”. Thực chất đạo lý của quy định, người tham gia bảo hiểm phải chịu chi phí hợp lý có liên quan nếu hủy hợp đồng trong thời gian chờ, nhằm nâng cao trách nhiệm của các tư vấn viên bảo hiểm, mặt khác nhắn nhủ khách hàng cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định tham gia bảo hiểm. Khoản chi phí được xem là hợp lý có liên quan, thực tế sẽ rất nhỏ bé đối với những người tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm từ 100 triệu đồng trở lên, nhưng nếu không có quy định này thì các công ty bảo hiểm chắc chắn sẽ gặp rất nhiều rắc rối do hậu quả của việc hủy hợp đồng trong thời gian chờ mang lại.
Tóm lại, sau khi đọc bài viết trên cho thấy có nhiều điểm cần được chuẩn lịa cho đúng với bản chất của vấn đề. Tránh lý thuyết hóa vấn đề thực tiễn trong suy luận, gây hoang mang cho những độc giả không nắm được thực chất của vấn đề.

BẢO HIỂM QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN Ở MỸ

SOURCE: vietnamese.ctic.com

 

BẢO HIỂM QUYỀN SỞ HỮU LÀ GÌ?


Đôi nét về bất động sản

Từ trước đến nay, bất động sản trở thành tài sản giá trị nhất của mỗi gia đình. Đó là hiện thân của sự giàu có mà được pháp luật bảo vệ. Những luật này đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền sở hữu bất động sản của công dân và quyền cải tạo, sửa sang trên mảnh đất đó. Chủ sở hữu, gia đình chủ sở hữu và người thừa kế của chủ sở hữu có quyền đối với tài sản bạn mua. Họ là những người có thể có phần lợi ích nào đó hoặc quyền giữ thế chấp mà dựa vào đó tài sản có thể thuộc về cơ quan nhà nước, người đấu thàu, người cho vay, chủ nợ theo phán quyết, dịch vụ internet, hay doanh nghiệp và cá nhân khác. Bất động sản có thể về tay bạn mà không cần đến sự công nhận của những người này. Hơn thế, bạn có thể thực hiện mua mà không cần hiểu biết về những quyền này. Dẫu sao, khi đi mua, những quyền trên vẫn gắn liền với căn nhà cho đến khi chúng không còn giá trị pháp lí.

Quá khứ có thể quyết định tương lai

Thông thường, chúng ta nghĩ đến bảo hiểm phòng bồi thường cho mất mát xảy ra trong tương lai do sự cố bất thường có thể xảy ra. Ví dụ, ai đó mua bảo hiểm xe hơi để bù đắp cho mất mát về sau do xay xỉn đâm xe hoặc do mất cắp xe gây ra. Bảo hiểm quyền sở hữu là hình thức độc nhất vô nhị trong tất cả các loại hình bảo hiểm. Loại bảo hiểm này chi trả cho yêu cầu bồi thường hoặc thiệt hại do sai sót về quyền sở hữu có gốc rễ từ những sự việc qúa khứ (nghĩa là những việc xảy ra trước khi tiếp quản đất đai). Những rủi ro này kém rõ ràng hơn rất nhiều so với những rủi ro như ở ví dụ trên, nhưng tính nguy hại lại không kém chút nào. Dưới đây là một số thông tin giải đáp thắc mắc về bảo hiểm quyền sở hữu.

Bạn sẽ có quyền sở hữu chính đáng?

Điều quan trọng hàng đầu là bạn phải nhận được quyền sở hữu bất động sản hợp pháp khi đi mua nhà. Để được như vậy, trước hết bạn phải biết được mọi yêu cầu đòi hỏi hoặc quyền lợi mà có nguy cơ đe doạ đến quyền sở hữu và chiếm hữu bất động sản về sau. Chỉ có bảo hiểm quyền sở hữu đem lại sự bảo vệ hai lần cho bạn.

Làm thế nào biết được những đòi hỏi nào tồn tại?

Để xác định được tình trạng quyền sở hữu, Chicago Title tiến hành cuộc “truy lùng” công phu những bản báo cáo trước công chúng cho những tài liệu liên quan đến bất động sản. Sau đó, Chicago Title kiểm tra những tài liệu này để xác nhận xem liệu có bất kì quyền hay đòi hỏi nào có thể ảnh hưởng đến quyền sở hữu hay không. Cuộc tìm kiếm này có thể bộc lộ sự tồn tại của khuyết điểm lưu lại, quyền giữ thế chấp hoặc những phiền toái đối với quyền sở hữu như những khoản thuế chưa trả, thế chấp không thoả đáng, những phán quyết và thế chấp chưng thu thuế đối với chủ sở hữu trước hoặc hiện tại, quyền sử dụng trên đất người khác, hạn chế và kiện tụng toà án. Bạn sẽ được thông báo những rắc rối này trước khi tiến hành mua. Khi đó, những vướng mắc này có thể được chấp nhận, giải quyết hoặc huỷ bỏ trước khi giao dịch kết thúc. Ngoài ra, bạn được bảo vệ trước mọi phiền toái trên dựa trên điều kiện bạn không được thông báo về quyền sở hữu trên và quyền sở hữu đó thuộc mức bao trùm của chính sách cụ thể ban hành trong khi giao dịch. Đây là lợi ích đầu tiên mà bạn được hưởng từ dịch vụ bảo hiểm quyền sở hữu.

Với những đòi hỏi không biết đến thì sao?

Quyền sở hữu bất động sản mà bạn vừa nắm được có thể bị đe doạ hoặc tụt khỏi tay bởi mối nguy cơ được coi như “rủi ro tiềm ẩn.” Đó là những vụ việc, quyền lợi hoặc đòi hỏi không gi trong báo cáo công chúng, vì vậy mà không “lộ diện” trong cuộc tìm kiếm va kiểm tra. Những rắc rối như giả mạo, thiếu tư cách pháp lí hoặc không đủ năng lực, giả danh, và những thiếu sót không rõ ràng trong báo cáo như là những ví dụ cho “rủi ro tiềm ẩn” mà có thể tạo căn cứ cho đòi hỏi sau khi bạn vừa mua nhà. Để bảo vệ bạn trước những nguy cơ này, Chicago Title cung cấp dịch vụ trang trải bảo hiểm trước những đòi hỏi như vậy. Đây chính là lợi ích thứ hai mà bạn nhận được.

Làm thế nào mà chính sách bảo hiểm quyền sở hữu bảo vệ bạn trước những đòi hỏi này?

Nếu bạn bị “yêu sách” nào đó “hỏi thăm” quyền sở hữu được bảo hiểm, Chicago Title bảo vệ bạn bằng cách: (1) biện hộ, bằng bất kì giá nào, quyền sở hữu cho bạn trước toà, nếu cần thiết, và (2) Chịu chi phí giải quyết vụ kiện nếu có căn cứ chắc chắc.

Bảo hiểm quyền sở hữu bảo vệ tài sản của bạn

Bảo hiểm này đảm bảo rằng quyền sở hữu không rõ ràng- có thể không thấy trong báo cáo công chúng – được thông báo đến bạn để đính chính lại trước khi mua nhà. Hơn thế, bạn cũng được bảo đảm rằng nếu xuất hiện bất kì đòi hỏi nào từ quá khứ chưa phát hiện trước đựoc bảo hiểm trong chính sách, đe doạ quyền sở hữu thì chính sách đó sẽ bị huỷ bỏ hoặc bạn sẽ bồi hoàn lại đúng những gì chính sách bảo hiểm quyền sở hữu cung cấp.

Duy nhất một phí bảo hiểm

Không giống như các hình thức bảo hiểm khác, phí bảo hiểm ban đầu là phí duy nhất bạn phải trả miễn là bạn hoặc người thừa tự của bạn sở hữu tài sản nhà đó. Ngoài ra, bạn không phải trả thêm bất kì khoản tiền nào để duy trì hiệu lực của chính sách bảo hiểm quyền sở hữu.

TẠI SAO BẠN CẦN BẢO HIỂM QUYỀN SỞ HỮU?


Để bảo vệ vốn đầu tư khổng lồ nhất từ trước đến giờ – đầu tư bất động sản.

Với chính sách bảo hiểm quyền sở hữu, bạn, ở địa vị chủ sở hữu, sẽ có thoả thuận bồi thường sẽ bồi thường thiệt hại trong trường hợp ai đó đòi hỏi quyền lợi đối với ngôi nhà bạn sở hữu được bảo hiểm theo chính sách.

Làm sao tồn tại khiếm khuyết khi mà quyền sơ hữu được khảo sát kĩ lưỡng?

Bảo hiểm quyền sở hữu được ban hành sau khi có sự kiểm tra kĩ lưỡng các bản sao báo cáo công chúng. Trớ trêu thay, ngay cả khi cuộc tìm kiếm tốn nhiều lao khổ nhất cũng không thể dám chắc khăng khăng rằng không có nguy cơ đe doạ quyền sở hữu, cho dù các chuên gia thanh tra giàu kinh nghiệm và chuyên môn đến đâu đi chăng nữa. Ngoài những vấn đề nêu trong báo cáo, nhiều phức tạp khác vẫn tồn tại nhưng không tìm ra được.

Bảo hiểm quyền sở hữu bảo vệ cái gì

Dưới đây chỉ là một vài trong số vô vàn rủi ro tiềm ẩn thông thường nhất mà gây thiệt hại hoặc phiền phức cho bạn:

  • Giả danh chủ sở hữu đích thực của ngôi nhà.
  • Chứng thư giả, giấy bãi miễn hoặc chúc thư, văn bản pháp lí được thi hành do luật sư không còn tư cách pháp nhân hoặc nghiệp luật gia đã hết hạn.
  • Người thừa kế giả mạo hoặc không công khai; Sai phạm trong quá trình ghi chép tài liệu
  • Việc thực thi chúc thư, chứng thư do những người thần kinh không bình thường
  • Chứng thư do người chưa đủ tuổi
  • Chứng thư do người được xem là độc thân lập nhưng trên thực tế đã lập gia đình
  • Lừa lọc
  • Quyền giữ thế chấp đối với bất động sản còn nợ tiền, thừa kế, thu nhập hoặc thuế quà

Bảo hiểm quyền sở hữu có thể bảo vệ những gì trước rủi ro tiềm ẩn?

Trước hết là chi trả cho chi phí bào chữa kiện tụng chống lại quyền sở hữu được bảo hiểm, và sẽ được làm rõ các vấn đề quyền sở hữu hoặc thanh toán những khoản thất thoát đã bảo hiểm. Với phí bảo hiểm trả một lần, chính sách bảo hiểm quyền sở hữu còn hiệu lực miễn là bạn hoặc người thừa kế hưởng lợi bất động sản nào đó.

 

CÁC BƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU


Yêu cầu ban đầu về Bảo hiểm Quyền sở hữu
Yêu cầu bảo hiểm quyền sở hữu được thiết lập bởi một nhân viên xác định quyền sở hữu, người phúc đáp nhanh chóng đầu tiên trong vòng 24 đến 48 giờ. Một báo cáo sơ bộ có thể được gửi đi với lượng thông tin tối thiểu; thậm chí không xác định người mua hay các điều khoản của hợp đồng mua bán. Nó cho bạn biết về quyền sở hữu được ghi trong hồ sơ theo thể thức hiện tại và chỉ là một cách chào mời dịch vụ bảo hiểm. Để yêu cầu một báo cáo sơ bộ hãy liên hệ với đại diện hay văn phòng của Chicago Title.

Tìm kiếm và Kiểm tra tại chỗ
Nhân viên xác định quyền sở hữu thực hiện ba công việc tìm kiếm: Tìm kiếm Bất động sản, Tên, và Thuế. Báo cáo sơ bộ sẽ được tạo ra từ những thông tin đó. Trung tâm dịch vụ khách hàng tại chỗ sẽ tiến hành quá trình thu thập các bản in vi tính của các chứng từ được lưu trữ trong hồ sơ. Kỹ thuật ảnh hóa giúp thực hiện công tác tìm kiếm để thu thập được các chứng từ trực tuyến.

Sự xét lại về mặt kỹ thuật
Kỹ năng và sự tinh thông của nhân viên xác định quyền sở hữu của chúng tôi là chìa khóa cung cấp cho bạn một báo cáo quyền sở hữu hữu ích và chính xác. Một khi báo cáo được phát hành thì việc xem xét lại sẽ bắt đầu phân tích kỹ thuật các chứng từ đã được lưu hồ sơ. Một cái nhìn mang tính diễn dịch về tất cả mọi vấn đề trong hồ sơ lưu trữ sẽ đánh giá được ảnh hưởng của chúng lên quyền sở hữu bất động sản. Nhân viên kiểm tra thường hỏi những câu như: Liệu có bất kỳ vấn đề trong hồ sơ lưu trữ nào ngăn cản người mua sử dụng bất động sản vào mục đích đã được dự định của nó? Các hợp đồng cho thuê cũ có thể bị loại trừ khỏi chính sách do việc xem xét lại các hợp đồng cho thuê hiện tại không?

Phân tích kiểm tra
Để dự đoán mức chi trả ALTA thì việc kiểm tra lô đất là cần thiết. Từ báo cáo thẩm định, sản phẩm về quyền sở hữu ban đầu sẽ được bổ sung để xác định việc lấn chiếm hay các vấn đề không được ghi khác tác động đến quyền sở hữu.

Tái bảo hiểm
Hãng bảo hiểm quyền sở hữu sẽ bảo hiểm tối đa đến tổng mức giá bán hay tổng số tiền cho vay, và sau đó sẽ thuê lại một công ty bảo hiểm khác bảo hiểm các khoản đó. Phí bảo hiểm trả cho công ty tái bảo hiểm quyền sở hữu được trừ đi từ các khoản phí dịch vụ quyền sở hữu; nó không phải là một khoản phí bổ sung mà các bên phải trả thêm. Dịch vụ tái bảo hiểm sẽ do Phòng Dịch vụ Quyền sở hữu xử lý theo yêu cầu của người được bảo hiểm hoặc theo yêu cầu dựa trên các giới hạn bảo hiểm quyền sở hữu theo quy định hay do công ty tự đặt ra.

Đồng bảo hiểm
Người được bảo hiểm đề xuất có thể chỉ cho phép công ty bảo hiểm quyền sở hữu bảo hiểm tối đa một số tiền nhất định (nghĩa là không phải tổng giá bán hay tổng số tiền cho vay). Công ty bảo hiểm phải thuê lại một công ty bảo hiểm khác bảo hiểm phần còn lại của giá bán đó hay khoản tiền cho vay đó. Khi có thoả thuận đồng bảo hiểm, khách hàng sẽ chịu khoản phí tính trên tỷ lệ bảo hiểm mà mỗi công ty đứng ra nhận tương ứng với tỷ lệ trong tổng phần trách nhiệm do công ty đó bảo hiểm. Công ty đồng bảo hiểm có thể do khách hàng lựa chọn.

Chúng tôi được bạn tôn trọng vì Kỹ năng, Dịch vụ và Giải pháp của mình
Chúng tôi cố gắng không nêu ra những yếu tố ngăn cản việc kết thúc một vụ giao dịch mà không cung cấp sự trợ giúp và giải pháp nào. Hiểu được cán cân quyền lợi mong manh giữa các bên trong một vụ giao dịch, và xử lý các vấn đề phát sinh một cách chuyên nghiệp và nhã nhặn, chúng tôi có khả năng đưa một vụ giao dịch đi đến thành công.

Các chứng từ trong quá trình yêu cầu bảo hiểm Quyền sở hữu

  • Báo cáo sơ bộ.
  • Cam kết – Cho biết những điều kiện của quyền sở hữu theo phương thức mà chúng tôi sẽ phát hành.
  • Chiếu lệ – Mẫu của chính sách yêu cầu, yêu cầu như thế nào, sẽ như thế đó. Các vấn đề bảo hiểm chưa hoàn tất. Không ràng buộc công ty.
  • Chính sách – Sản phẩm cuối cùng. Hợp đồng bồi thường giữa đối tượng bảo hiểm được chỉ định và công ty.

    CÁCH THÔNG THƯỜNG ĐỂ NẮM QUYỀN SỞ HỮU


    BẠN NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHƯ THẾ NÀO – THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN:

    Ở California, quyền sở hữu bất động sản có thể do cá nhân nắm giữ, dưới hình thức sở hữu đơn nhất hoặc đồng sở hữu. Dạng thức thứ hai xảy ra khi 2 hoặc 3 người cùng nắm quyền sở hữu. Trong mỗi dạng thức sở hữu, có nhiều biến đổi về cách thức nắm quyền sở hữu. Dưới đây là sự trình bày ngắn gọn 7 tiểu phân dạng tham khảo trong các minh hoạ về hai loại hình sở hữu nêu trên.

    SỞ HỮU ĐƠN NHẤT

    1. Một nam giới hay nữ giới chưa kết hôn.
      Ví dụ: John Doe, một người chưa lập gia đình.
    2. Người không có vợ hoặc chồng:
      Một người đàn ông hoặc phụ nữ, đã từng kết hôn, li hôn hợp pháp.
      Ví dụ: John Doe, một người đàn ông không có vợ.
    3. Người đã kết hôn, nắm quyền sở hữu duy nhất bất động sản:
      Khi người đàn ông hoặc phụ nữ đã kết hôn muốn chiếm quyền sở hữu thành quyền đơn nhất của riêng mình, người chồng hoặc vợ phải chấp thuận nhường lại mọi quyền lợi, quyền sở hữu và lợi ích bằng chứng thư hoặc bằng những văn tự thoả hiệp khác.
      Ví dụ: John Doe, đã kết hôn, quyền sở hữu bất động sản duy nhất thuộc về anh ta.
    • Bất động sản chung:
      Bất động sản thuộc sở hữu của cả vợ và chồng, trong hôn nhân, chứ không phải sở hữu do là quà tặng, thừa kế, để lại, truyền lại hoặc tài sản riêng thì được coi là bất động sản chung.
      Ví dụ: John Doe và Mary Doe, là hai vợ chồng, sở hữu tài sản chung.
      Ví dụ: John Doe và Mary Doe, là vợ chồng.
      Ví dụ: John Doe, người đàn ông có vợ.
    • Liên đới sở hữu:
      Là hình thức mà hơn hai cá nhân trở lên ngang bằng hoặc liên đới nắm giữ quyền lợi được thiết lập theo văn bản chính thức duy nhất với quyền kiêm hưởng.
      Ví dụ: John Doe và Mary Doe, là vợ chồng, là liên đới sở hữu.
    • Sở hữu chung:
      Theo hình thức này, những người đồng sở hữu cùng nắm quyền lợi chung, nhưng không giống liên đới sở hữu, những lợi ích này không nhất thiết ngang bằng nhau và có thể nảy sinh ở nhiều thời điểm khác nhau. Không có quyền kiêm hưởng; mỗi người nắm giữ một quyền lợi, mà khi qua đời họ nhường lại cho con cháu thừa kế.
      Ví dụ: John Doe, chưa kết hôn, nắm ¾ quyền lợi chung, còn George Smith, cũng chưa kết hôn, nắm 1/4 quyền lợi chung, được gọi là những người sở hữu chung.
    • Sự uỷ thác:
      Ở California, quyền sở hữu bất động sản có thể nắm giữ dưới dạng uỷ thác. Người được uỷ thác nắm quyền sở hữu theo những điều khoản uỷ thác vì lợi ích của người uỷ thác/người được hưởng lợi.

    Những thông tin trên là một vài trong nhiều phương thức thông dụng để nắm quyền sở hữu ở California và chúng không nằm ngoài mục đích thông tin chung.

    Với những hình thức sở hữu như vậy, có nhiều hệ quả pháp lí và thuế quan tương ứng. Chúng tôi khuyến nghị liên hệ với luật sư và/hoặc CPA để nhận được lời khuyên cụ thể về việc bạn nên ban phát quyền sở hữu như thế nào.

    HIỆP HỘI NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG SỞ HỮU NHÀ

    Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra sự so sánh nhằm cung cấp thông tin là chủ yếu và bạn không nên căn cứ vào đó để xác định việc mình nắm quyền sở hữu như thế nào. Nhân đây, chúng tôi cũng khuyến nghị rằng bạn nên nghe theo những tư vấn chuyên môn của một luật sư và/hoặc CPA để xác định được những ràng buộc về thuế và pháp luật khi bạn được quyền sở hữu trong từng trường hợp cụ thể.

  •  

     

    BẤT ĐỘNG SẢN CHUNG

    LIÊN ĐỚI SỞ HỮU

    SỞ HỮU CHUNG

    SỞ HỮU HIỆP HỘI

    QUYỀN SỞ HỮU DO SỰ UỶ THÁC

    CÁC BÊN Chỉ chồng và vợ Bất kì nhóm người nào (có thể là chồng và vợ) Bất kì nhóm người nào (có thể là chồng và vợ) Chỉ những thành viên trong hiệp hội (bất kể bao nhiêu người) Cá nhân, nhóm người, hiệp hội hoặc công ty, người uỷ thác còn sống
    CHIA TÀI SẢN Quyền lợi sở hữu và quản lí như nhau trừ khi một mình chồng hoặc vợ kiểm soát việc kinh doanh Quyền lợi sở hữu phải như nhau Quyền lợi sở hữu có thể được chia thành bất kì theo phương thức nào, ngang bằng hoặc không Quyền lợi sở hữu xác định theo mối tương quan với lợi ích của thành viên hiệp hội Quyền lợi sở hữu bất động sản thuộc về cá nhân và có thể được chia thành nhiều phần khác nhau
    QUYỀN SỞ HỮU Quyền sở hữu là quyền “chung”. Lợi ích thì tách biệt nhưng việc quản lí lại thống nhất Việc bán thuộc quyền chủ đất không liên quan gì đến việc liên đới sở hữu Mỗi đồng sở hữu có quyền sở hữu hợp pháp riêng đối với lợi ích sở hữu chung của mình Quyền sở hữu thuộc “hiệp hội” Quyền sở hữu công bằng theo pháp luật do người được uỷ thác nắm giữ
    SỞ HỮU Hai bên sở hữu có quyền như nhau về quản lí và kiểm soát Quyền sở hữu như nhau Quyền sở hữu như nhau Quyền sở hữu ngang nhau nhưng vì mục đích của hiệp hội Quyền sở hữu nêu rõ trong điều khoản uỷ thác
    VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG Tài sản cá nhân (trừ “những vật dụng thiết yếu”) có thể chuyển nhượng để có được ích lợi giá trị khác mà không cần sự ưng thuận của vợ hoặc chồng; tài sản thực thì yếu cầu có sự chấp thuận bằng văn bản của vợ hoặc chồng, riêng tài sản phân chia không thể chuyển nhượng được trừ khi đã qua đời Việc chuyển nhượng do một đồng sở hữu đảm nhiệm mà không cần đến những người khác phá vỡ liên đới sở hữu Mỗi đồng sở hữu có thể tự mịnh chuyển nhượng riêng biệt phần tài sản của mình Bất kể hội viên được uỷ thác nào cũng có thể chuyển nhượng toàn bộ tài sản của hiệp hội vì mục đích của hiệp hội Các bên thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác cho phép người được uỷ thác chuyển nhượng tài sản. Và ích lợi của người được uỷ thác cũng có thể được chuyển giao.
    TÌNH TRẠNG CỦA NGƯỜI MUA Người mua chỉ có thể sở hữu toàn bộ quyền sở hữu chung; chứ không thể sở hữư một phần nào. Người mua sẽ trở thành chủ đất như những đồng sở hữu khác về tài sản của mình Người mua sẽ trở thành chủ đất như những đồng sở hữu khác về tài sản của mình Người mua chỉ có thể sở hữu quyền sở hữu chung Người mua có thể được hưởng lợi từ việc chuyển nhượng hoặc có thể được hưởng quyền sở hữu công bằng, pháp lí của người được uỷ thác
    QUA ĐỜI Khi người đồng sở hữu qua đời, ½ số tài sản riêng của người quá cố thuộc về người còn sống. Nửa còn lại chia cho người thừa kế là con cháu theo di chúc hoặc người còn sống thừa hưởng Khi người đồng sở hữu qua đời, quyền hưởng ích lợi không còn nữa nhưng không bị tước đoạt theo di chúc. Người tồn tại, lúc đó, sở hữu số tài sản theo luật kiêm hưởng Khi người đồng sở hữu qua đời, theo di chúc, quyền thừa kế được giao cho người thừa kế. Quyền kiêm hưởng không áp dụng ở đây. Khi một người trong hội qua đời, lợi ích của người này trong hiệp hội truyền cho thành viên còn sống mà còn nợ tiền hiệp hội. Lợi tức của người qua đời thuộc về di sản của người đó Những lợi ích của người thừa kế có thể được đưa ra trong hiệp ước uỷ thác, không cần đến thủ tục chứng thực di chúc.
    TÌNH TRẠNG CỦA NGƯỜI KẾ VỊ Nếu thừa kế theo di chúc, sự sở hữu chung giữa người thừa kế và người còn sống sẽ xảy ra. Người sống sót cuối cùng sẽ sở hữu số tài sản Người kế vị trở thành chủ sở hữu chung Người thừa kế có quyền trong lợi ích của hiệp hội nhưng không có tài sản nhất định. Do hiệp ước uỷ thác qui định, nói chung người kế thừa sẽ trở thành người được hưởng tài sản và quyền uỷ thác vẫn tiếp diễn
    QUYỀN CỦA NGƯỜI CHO VAY Bất động sản chung gánh phần trách nhiệm trả nợ cho vợ hoặc chồng, được thực hiện trước hoặc sau hôn nhân. Toàn bộ tài sản có thể bị bán theo các điều khoản pháp lí nhằm thoả mãn nguyện vọng của chủ nợ Phần tài sản của người đồng sở hữu có thể bị bán theo các điều khoản pháp lí nhằm thoả mãn nguyện vọng của chủ nợ. Việc liên đới sở hữu bị sụp đổ. Chủ nợ trở thành chủ sở hữu chung Phần tài sản của người đồng sở hữu có thể bị bán theo các điều khoản pháp lí nhằm thoả mãn nguyện vọng của chủ nợ. Chủ nợ trở thành chủ sở hữu chung Phần tài sản của thành viên hiệp hội không thể bị chủ nợ tịch thu hoặc bán riêng rẽ, nhưng lợi tức của người này có thể bị chủ nợ chiếm đoạt mất. Toàn bộ tài sản có thể bị bán theo các điều khoản pháp lí nhằm thoả mãn nguỵen vọng của chủ nợ của hiệp hội Chủ nợ có thể yêu cầu người được uỷ thác bán phần tài sản được hưởng theo pháp lí hoặc yêu cầu thanh lí số tài sản và số tiền sau thanh lí phải trả lại cho chủ nợ
    SỰ SUY ĐOÁN Giả định cốt lõi ở đây là bất động sản thuộc sở hữu của cả vợ và chồng là tài sản chung Phải được công bố rõ ràng Thiên về những trường họp không rõ ràng trừ trường hợp vợ chồng Chỉ nảy sinh vì tình trạng hiệp hội xét về bất động sản nội tại của hiệp hội Hiệp ước uỷ thác được thi hành sinh ra sự uỷ thác

    21 LÍ DO ĐỂ BẢO HIỂM QUYỀN SỞ HỮU


    Buôn bán bất động sản là một loại hình kinh doanh “may rủi”

    1. Một vụ hoả hoạn thiêu trụi ngôi nhà và sinh lời trước mắt. Tất cả còn lại chỉ là nền nhà trơ trọi. Quyền sở hữu không trọn vẹn ấy có thể tước đi không chỉ ngôi nhà mà cả mảnh đất nơi nó an toạ. Bảo hiểm quyền sở hữu (như nêu rõ trong chính sách) sẽ cứu vớt bạn trong sự mất mát như thế.
    2. Một bản chứng thư hay văn tự thế chấp trong loạt quyền sở hữu có thể đều là những giấy tờ giả.
    3. Một bản chứng thư hay văn tự thế chấp có thể mang chữ kí của một người chưa đủ tư cách pháp nhân.
    4. Một bản chứng thư hay văn tự thế chấp có thể do một người mất trí hoặc thiếu năng lực lập nên.
    5. Một bản chứng thư hay văn tự thế chấp cũng có thể do một luật sư không còn quyền hạn công việc và do đó có thể sẽ trở nên vô hiệu.
    6. Bản chứng thư hay văn tự thế chấp có thể không phải do người chủ bất động sản lập nên mà lại do một người nào đó trùng tên với người chủ.
    7. Người để lại chúc thư có thể đã để lại một đứa trẻ sinh ra sau khi chúc thư được thi hành. Nghĩa là, đứa trẻ có quyền được sở hữu một phần tài sản.
    8. Chứng thư hay văn tự thế chấp có thể bị mua bán trao tay bằng con đường gian lận hoặc cưỡng ép.
    9. Người thừa kế chuyển giao quyền sở hữu trong khi cái quyền đó có thể thuộc quyền giữ thế chấp tài sản liên bang.
    10. Người thừa kế hoặc một ai đó bị coi là đã qua đời có thể xuất hiện và đòi lại tài sản hoặc phần được chia trong đó.
    11. Quyền phán quyết hoặc tịch thu mà quyền sở hữu bị ràng buộc vào đó có thể vô hiệu hoặc mất hiệu lực vì một số khiếm khuyết trong quá trình làm hồ sơ.
    12. Bảo hiểm quyền sở hữu bao gồm cả chi phí cho toà án và luật sư.
    13. Bảo hiểm quyền sở hữu bao gồm cả chi phí cho toà án và luật sư.
    14. Bằng việc bảo hiểm quyền sở hữu, bạn có thể loại bỏ những vấn đề nhỏ nhặt hoặc sự trì hoãn khi chuyển giao quyền này cho người khác.
    15. Bảo hiểm quyền sở hữu sẽ bồi hoàn cho bạn những thiệt hại mà bạn gánh chịu.
    16. Bảo hiểm quyền sở hữu sẽ bồi hoàn cho bạn những thiệt hại mà bạn gánh chịu.
    17. Mỗi bảo hiểm quyền sở hữu sẽ có chính sách trả đầy đủ cả lãi bảo hiểm đầu tiên cứ miễn là bạn hoặc người thừa kế của bạn sở hữu bất động sản.
    18. Mỗi bảo hiểm quyền sở hữu sẽ có chính sách trả đầy đủ cả lãi bảo hiểm đầu tiên cứ miễn là bạn hoặc người thừa kế của bạn sở hữu bất động sản.
    19. Những đòi hỏi liên tục nảy sinh do tình trạng hôn nhân và những căn cứ li hôn. Chỉ có bảo hiểm quyền sở hữu mới bảo vệ bạn trước những đòi hỏi do những “ông xã”, “bà xã” đã li hôn hoặc vô hình.
    20. Nhiều luật gia, khi bào chữa về quyền sở hữu, có thể bảo vệ thân chủ cũng như chính bản thân họ bằng cách mua bảo hiểm quyền sở hữu.
    21. Những yêu cầu, đòi hỏi đã gia tăng chóng mặt trong vòng 24 năm qua.

     

     

     

     

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ về phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau như khởi kiện và thụ lý, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của toà án. Tại phiên toà sơ thẩm, toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong các giai đoạn trước, những yêu cầu của các đương sự được xem xét, đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và toàn diện với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trên cơ sở kết quả phiên toà, hội đồng xét xử sẽ quyết định ra bản án hoặc các quyết định về việc giải quyết vụ án, trong đó xác định các quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt là cơ sở để toà án ra bản án, quyết định chính xác, khách quan, góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm giải quyết được dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; ổn định giao lưu dân sự, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế XHCN được bảo đảm.

Trong những năm gần đây, số lượng các tranh chấp dân sự ngày càng ra tăng và phức tạp. “…Tuy nhiên, trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót…”[1], “… nhiều trường hợp việc điều tra, xác minh, xây dựng hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt việc chấp hành các thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót…”[2]. Bên cạnh đó, các quy định của các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ về phiên toà sơ thẩm còn sơ sài, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v.. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao …

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và toà án nói riêng. Đó là: “…Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, Hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”. Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của toà án tại phiên toà sơ thẩm. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, trong đó với 45 điều từ Điều 196 đến Điều 241, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, đầy đủ và chặt chẽ hơn trước, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các đương sự , người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v..

I. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm

Ba pháp lệnh PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996 ( sau đây gọi tắt là ba pháp lệnh thủ tục) không có những quy định chung về phiên toà sơ thẩm. BLTTDS có hẳn một mục, gồm 17 điều, từ Điều 196 đến Điều 212 quy định về những quy định chung về phiên toà sơ thẩm, trong đó chứa đựng nhiều quy định mới so với ba pháp lệnh trước kia.

1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm.

Để đảm bảo cho các hoạt động tiến hành phiên toà diễn ra đúng thời gian, địa điểm, công khai, khách quan thì việc tiến hành phiên toà sơ thẩm ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc chung được quy định từ Điều 3 đến Điều 24, BLTTDS còn quy định thêm hai nguyên tắc tại các điều 196, 197. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên toà.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS). Theo quy định này, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; và phát biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia không quy định về nguyên tắc này nhưng thực chất nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” là việc kế thừa nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng miệng và liên tục” đã được quy định trong “Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96- NCPL ngày 8/2/1997 của TANDTC”. Quy định này nhằm bảo đảm cho tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện.

Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi. Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197). Sở dĩ BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm bảo đảm cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ. Tòa án phải xét xử xong từng vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án.

1.2. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm và việc thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.

Theo PlTTGQCVADS thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.Theo các PlTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế và vụ án lao động gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của ba pháp lệnh trước kia và xuất phát từ thực tiễn Điều 52 BLTTDS quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Ba pháp lệnh thủ tục không quy định việc có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào đó của hội đồng xét xử vì một lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa. Điều 198 BLTTDS quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên toà. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do chánh án toà án quyết định.

1.3.Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để đảm bảo việc xét xử trực tiếp nên tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà. Ba pháp lệnh thủ tục quy định về những người tham gia phiên toà sơ thẩm trong một điều luật, nhưng BLTTDS quy định tại các điều, từ điều 199 đến điều 207. Theo đó, những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên. Về cơ bản thành phần những người tham gia phiên toà sơ thẩm không khác trước, tuy nhiên khác với các pháp lệnh trước kia, theo quy định của BLTTDS kiểm sát viên chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại ( khoản 2 Điều 21 BLTTDS).

1.4. Vấn đề hoãn phiên toà sơ thẩm

* Về căn cứ hoãn phiên toà

Theo khoản 1 Điều 208 BLTTDS hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:

– Trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký toà án, kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người dự khuyết để thay thế ( Điều 51, 207);

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng ( Điều 199, 200, 201, 203);

– Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch ( khoản 2 Điều 72). Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử ( Điều 206);

– Người làm chứng vắng mặt trong trường hợp lời khai của họ là cần thiết tại phiên toà; người giám định vắng mặt, trong trường hợp cần xem xét kết luận giám định tại phiên toà.

– Khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung tại phiên toà.

* Về thời hạn hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định về thời hạn hoãn phiên toà nên nếu phiên toà bị hoãn thời hạn giải quyết vụ án thường bị kéo dài. Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên toà không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

* Quyết định hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định rõ việc hoãn phiên toà có được thực hiện bằng quyết định hay không, sau khi hoãn phiên toà toà án có phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để xác định lại thời gian địa điểm mở phiên toà hay không dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các toà án. Để tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, BLTTDS quy định rõ việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều 208 BLTTDS. Quyết định hoãn phiên tòa phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về nội quy phiên toà, bản án sơ thẩm, biên bản phiên toà, chuẩn bị khai mạc phiên toà.

2. Thủ tục tiến hành phiên toà

So với các pháp lệnh thủ tục trước kia, các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy định trong BLTTDS chi tiết, cụ thể hơn, gồm 27 điều, từ Điều 213 đến Điều 239. Hơn nữa, trình tự của mỗi bước cũng có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền dân chủ và quyền tự định đoạt của các đương sự, xác định rõ quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.1.Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên toà

Các pháp lệnh chỉ có một điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà, BLTTDS có hẳn một mục về thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm bốn điều luật. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn đề mới so với các pháp lệnh nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới quan trọng của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên toà và thư ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên toà đã được triệu tập. Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù các pháp lệnh không quy định nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng xét xử chủ động giải quyết khi có người tham gia tố tụng vắng mặt.

2.2. Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”. Cách gọi đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự. Đối với vụ án dân sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải là việc truy xét của nhà nước về một hành vi vi phạm pháp luật.

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước rất nhiều. Trước kia các pháp lệnh quyđịnh khi khởi kiện các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng không có văn bản nào quy định trường hợp nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về toà án. Vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v.. Còn theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không ( Điều 217). Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại pjiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụngcủa các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Theo quy định của các pháp lệnh trước kia, việc hoà giải tại phiên toà sơ thẩm không mang tính chất bắt buộc và nếu xét thấy có khả năng hoà giải hội đồng xét xử sẽ hoà giải tại phần thủ tục tranh luận. Khác với trước kia, theo BLTTDS tại phiên toà toà án không hoà giải mà trong phần hỏichủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.

Sau khi nghe các đương sự trình bày xong, sẽ đến phần hỏi tại phiên toà. Về thứ tự người hỏi tại phiên toà cũng có sự thay đổi. Trước kia theo các pháp lệnh, sau khi hội đồng xét xử hỏi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi. Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt độngtư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Về nội dung hỏi, khác với trước kia hội đồng xét xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trong thủ tục này, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228). Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.

2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia chỉ quy định một điều luật về tranh luận tại phiên toà, còn BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án v.v.. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị là: “Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa”. Vì vậy, những quy định về tranh luận tại phiên toà cũng có nhiều thay đổi.

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận. Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa;

Về trình tự tranh luận, các pháp lệnh trước kia các đương sự trình bày quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Đề vai trò của người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trình tranh luận đạt kết quả, Điều 232 BLTTDS quy định khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến (theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan). Để đảm bảo cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ được sử dụng tất cả các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn chế thời gian tranh luận nhưnh chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

2.4. Nghị án và tuyên án

a, Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Các pháp lệnh thủ tục trước đây chỉ có một điều luật về nghị án với nội dung đơn giản và không cụ thể. Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và 237 với những nội dung trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”. Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án. Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, thứ tự biểu quyết khi nghị án cũng được quy định cụ thể là hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, BLTTDS còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.[3] Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án.

b, Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v.. không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc. Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v.. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

II. Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 là sự thống nhất ba pháp lệnh : PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ. Bộ luật đã có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Trong quy định về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, BLTTDS đã khắc phục được nhiều hạn chế của các pháp lệnh thủ tục trước đây. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy, nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, thủ tục tranh luận đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, tạo một bước đột phá trong việc mở rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng. Tuy vậy, BLTTDS còn có những bất cập nhất định. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có mặt của người đại diện tại phiên tòa sơ thẩm dân sự.

2. Theo ba pháp lệnh thủ tục trước kia, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, tòa án đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này. Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án. Theo chúng tôi, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà. Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành([4]).

Theo chúng tôi “lý do chính đáng” tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v..

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn [5]. Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà. Vì vậy, theo tôi đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà.

3. “Phạm vi yêu cầu” (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) quy định tại Điều 218 là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, nên hiểu phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi về giá trị của yêu cầu. Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu được nêu trong đơn khởi kiện chứ không phải là yêu cầu tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứ cứ phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

4. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. Theo chúng tôi, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. sẽ thay đổi . Cho nên, BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó.

5. Trong thủ tục hỏi tại phiên toà, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử nhưng hiện tại không phải toà án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án.

1.1. 6. Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án”. Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch bản án phải chính xác, vì vậy cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được công việc của mình đồng thời phải đảm bảo đủ thời gian cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Theo chúng tôi, Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”. Pháp luật tố tụng dân sự một số nước về phiên toà sơ thẩm dân sự.

Xây pháp luật TTDS nói chung và các qui định pháp luật về phiên toà sơ thẩm dân sự nói riêng phù hợp với thực tiễn Việt nam, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế là một vấn đề không đơn giản. Mặc dù khi nghiên cứu pháp luật TTDS Việt nam qua các giai đoạn lịch sử trước đó và pháp luật hiện hành, chúng ta có thể kế thừa những qui định hợp lý đã từng tồn tại, nhưng ngày nay( nghề luật ngày càng trở nên mang tính quốc tế và trong thề giới hiện đại các luật gia không thể tự giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu pháp luật của chính nước mình)[6]. Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số nét cơ bản về phiên toà sơ thẩm dân sự một số nước trên thế giới nhằm so sánh và tham khảo.

1.4.1. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Thuỵ Điển[7]:

Pháp luật Việt Nam và Thuỵ Điển đều thuộc hệ thống pháp luật Civil law nhưng có nhiều điểm khác biệt. Các quy định về tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật năm 1734. Đây là Bộ luật quy định về Đất đai, dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có cả các quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Hệ thống toà án được chia thành 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm. Toà sơ thẩm được thiết lập ở các địa phương, có chức năng xét xử cả hình sự và dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được bắt đầu bằng việc hai bên trao đổi tài liệu viết cho nhau. Sau đó, bên nguyên đơn sẽ gửi đơn đến toà án. Toà án sẽ gặp gỡ hai bên để hoà giải. Phiên toà sơ thẩm dân sự được mở nếu sau phiên toà trù bị, các bên vẫn còn có tranh chấp và không hoà giải được. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trên những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp liên quan đến bí mật riêng tư, liên quan đến người dưới 18 tuổi, một số vụ việc về gia đình… thì toà án xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Thành phần tham gia xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc về dân sự như tranh chấp về tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại…không có bồi thẩm, có thể một thẩm phán hoặc ba thẩm phán ( đối với vụ án phức tạp) . Các vụ việc về hôn nhân gia đình, lao động, liên quan đến… vì cần phải xem xét đến yếu tố đạo đức, xã hội nên có bồi thẩm tham gia với thành phần là 1 thẩm phán và 3 bồi thẩm.

Khác với pháp luật Việt Nam, Viện công tố chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự chứ không tham gia vào vụ án dân sự.

– Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do thì toà án vẫn mở phiên toà xét xử vắng mặt họ chứ không cần đến lần thứ hai như quy định của pháp luật Việt Nam.

– Về vấn đề tranh tụng tại phiên toà : không như pháp luật nước ta, ở Thuỵ Điển, thẩm phán chỉ lắng nghe ý kiến của người làm chứng, lập luận của các bên đương sự, có vấn đề gì không rõ, thẩm phán nêu một số câu hỏi để người làm chứng, đương sự trình bày. Sau khi nghe tất cả các bên tranh tụng thẩm phán sẽ đưa ra quyết định ai là người thắng kiện.

Điểm cần lưu ý

1.4.2. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ[8]

Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng dân sự khởi đầu với một văn bản viết lời buộc tội của nguyên đơn và hình thức bồi thường anh ta muốn, được gọi là “đơn kiện”. Sau đó toà án gửi trát đòi ra hầu toà, yêu cầu phải trả lời đơn kiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi nhận được nó.

Bị đơn phải thừa nhận hoặc phủ nhận từng lời cáo buộc và đưa ra những lý lẽ biện hộ. Anh ta cũng có thể đưa ra lời buộc tội chống lại nguyên đơn, một bị đơn khác hoặc một người vốn chưa được nêu tên trong vụ việc(điểm này có nét tương đồng với quy định của BLTTDS Việt Nam về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn). Trong văn bản trả lời, anh ta còn có thể yêu cầu toà án bác bỏ vụ kiện do không có lời buộc tội xác đáng, do thiếu quyền hạn pháp lý đối với nội dung vụ kiện hoặc bản thân bị đơn. Anh ta cũng có thể cho rằng nguyên đơn đã khởi kiện tại một toà án không thích hợp hoặc bị đơn không được thông báo một cách hợp lệ về vụ việc sắp xảy ra.

Giai đoạn tiếp theo là một“quá trình điều tra”khái quát, thường là quá trình

trình này không liên quan đến toà án. Tuy nhiên, một bên tìm kiếm chứng cứ có thể yêu cầu toà án giúp đỡ để buộc bên đối lập không chịu hợp tác hoặc những người khác phải cung cấp thông tin. Tương tự như vậy, bên bị hạch sách chứng cứ một cách bất hợp lý có thể yêu cầu toà án bảo vệ.

Việc điều tra có thể bao gồm những câu hỏi dạng viết cần phải được trả lời sau khi đã tuyên thệ trước toà; yêu cầu cung cấp những tài liệu thích hợp; kiểm tra về thể lực và tâm thần nếu có đơn kiện về gây thương tổn; yêu cầu thừa nhận những điều không thuộc phạm vi tranh chấp. Trước khi xét xử, mỗi bên đều có thể đề nghị phán quyết ngay về bất kỳ vấn đề nào thiếu chứng cứ. Nếu vụ việc tiếp tục được xét xử, toà án có thể ra một lệnh tiền xét xử, xác định những vấn đề sẽ được quyết định trong xét xử và đưa ra các điều khoản khác để tiến hành.

Phiên toà thường được tiến hành công khai trước dân chúng tại một toà án chỉ với một thẩm phán, nếu các bên không đồng ý với điều này thì thành phần xét xử sẽ có thêm ban bồi thẩm gồm từ 6 đến 12 bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên. Các bên cũng có quyền đòi loại ra một số bồi thẩm viên nhất định. Thẩm phán điều hành quy trình xét xử và tuyên bố luật pháp được áp dụng. Sau những lời tuyên bố mở đầu, bên nguyên đơn, người có trách nhiệm dẫn chứng đưa ra bằng chứng của mình còn bị đơn phải trình bày lập luận của mình. Thẩm phán có thể bác bỏ tất cả hoặc bất kỳ lời cáo buộc nào tỏ ra không có sức thuyết phục. Sau đó, mỗi bên được phép trình bày một tuyên bố kết thúc và thẩm phán giải thích luật cho ban bồi thẩm nhưng ban bồi thẩm phải tự mình quyết định sự thật là gì và theo đó quyết định về vụ án. Cũng giống như pháp luật tố tụng Việt Nam , bản án được quyết định dựa trên đa số. Trong trường hợp không có ban bồi thẩm thì thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết.

Kết luận

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời với nhiều quy định mới nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, trong đó có quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Song có thể nhận thấy rằng, trên thực tế, đây là điều không dễ dàng, nó đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực rất lớn.

Xét về mặt nghiên cứu lý luận thì phiên toà sơ thẩm dân sự không phải là vấn đề mới mẻ, nhưng xét trên phương diện thực tiễn thì đây là vấn đề còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm.

Trong khoá luận này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá những quy định của BLTTDS về các thủ tục cần tiến hành tại phiên toà sơ thẩm dân sự, từ việc chuẩn bị mở phiên toà cho đến khi nghị án và tuyên án, kể cả những việc phải tiến hành sau phiên toà sơ thẩm. Trong quá trình phân tích tác giả có nêu lên những tình huống và những hạn chế thiếu sót trên thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của phiên toà sơ thẩm và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự; đó là các kiến nghị về việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, người viết cũng đề cập đến một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về vấn đề nghiên cứu để tăng sự phong phú cho việc trình bày khoá luận.

Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, sự tiếp xúc với thực tiễn chưa nhiều nên chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp của các thày, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này./.


[1] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000

[2] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999

[3] Tài liệu hội thảo “ BLTTDS- nhừng điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(1)Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể.

[5] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.

[6] Luật so sánh

[7] Về pháp luật tố tụng dân sự- Kỷ yếu Dự án VIE/ 95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội 5/2000, tr 30-35.

[8] Tạp chí Điện tử – Triển vọng kinh tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1999.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau như khởi kiện và thụ lý, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của toà án. Tại phiên toà sơ thẩm, toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong các giai đoạn trước, những yêu cầu của các đương sự được xem xét, đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và toàn diện với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trên cơ sở kết quả phiên toà, hội đồng xét xử sẽ quyết định ra bản án hoặc các quyết định về việc giải quyết vụ án, trong đó xác định các quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt là cơ sở để toà án ra bản án, quyết định chính xác, khách quan, góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm giải quyết được dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; ổn định giao lưu dân sự, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế XHCN được bảo đảm.

Trong những năm gần đây, số lượng các tranh chấp dân sự ngày càng ra tăng và phức tạp. “…Tuy nhiên, trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót…”[1], “… nhiều trường hợp việc điều tra, xác minh, xây dựng hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt việc chấp hành các thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót…”[2]. Bên cạnh đó, các quy định của các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ về phiên toà sơ thẩm còn sơ sài, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v.. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao …

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và toà án nói riêng. Đó là: “…Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, Hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”. Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của toà án tại phiên toà sơ thẩm. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, trong đó với 45 điều từ Điều 196 đến Điều 241, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, đầy đủ và chặt chẽ hơn trước, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các đương sự , người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v..

I. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm

Ba pháp lệnh PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996 ( sau đây gọi tắt là ba pháp lệnh thủ tục) không có những quy định chung về phiên toà sơ thẩm. BLTTDS có hẳn một mục, gồm 17 điều, từ Điều 196 đến Điều 212 quy định về những quy định chung về phiên toà sơ thẩm, trong đó chứa đựng nhiều quy định mới so với ba pháp lệnh trước kia.

1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm.

Để đảm bảo cho các hoạt động tiến hành phiên toà diễn ra đúng thời gian, địa điểm, công khai, khách quan thì việc tiến hành phiên toà sơ thẩm ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc chung được quy định từ Điều 3 đến Điều 24, BLTTDS còn quy định thêm hai nguyên tắc tại các điều 196, 197. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên toà.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS). Theo quy định này, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; và phát biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia không quy định về nguyên tắc này nhưng thực chất nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” là việc kế thừa nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng miệng và liên tục” đã được quy định trong “Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96- NCPL ngày 8/2/1997 của TANDTC”. Quy định này nhằm bảo đảm cho tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện.

Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi. Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197). Sở dĩ BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm bảo đảm cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ. Tòa án phải xét xử xong từng vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án.

1.2. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm và việc thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.

Theo PlTTGQCVADS thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.Theo các PlTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế và vụ án lao động gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của ba pháp lệnh trước kia và xuất phát từ thực tiễn Điều 52 BLTTDS quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Ba pháp lệnh thủ tục không quy định việc có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào đó của hội đồng xét xử vì một lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa. Điều 198 BLTTDS quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên toà. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do chánh án toà án quyết định.

1.3.Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để đảm bảo việc xét xử trực tiếp nên tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà. Ba pháp lệnh thủ tục quy định về những người tham gia phiên toà sơ thẩm trong một điều luật, nhưng BLTTDS quy định tại các điều, từ điều 199 đến điều 207. Theo đó, những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên. Về cơ bản thành phần những người tham gia phiên toà sơ thẩm không khác trước, tuy nhiên khác với các pháp lệnh trước kia, theo quy định của BLTTDS kiểm sát viên chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại ( khoản 2 Điều 21 BLTTDS).

1.4. Vấn đề hoãn phiên toà sơ thẩm

* Về căn cứ hoãn phiên toà

Theo khoản 1 Điều 208 BLTTDS hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:

– Trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký toà án, kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người dự khuyết để thay thế ( Điều 51, 207);

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng ( Điều 199, 200, 201, 203);

– Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch ( khoản 2 Điều 72). Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử ( Điều 206);

– Người làm chứng vắng mặt trong trường hợp lời khai của họ là cần thiết tại phiên toà; người giám định vắng mặt, trong trường hợp cần xem xét kết luận giám định tại phiên toà.

– Khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung tại phiên toà.

* Về thời hạn hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định về thời hạn hoãn phiên toà nên nếu phiên toà bị hoãn thời hạn giải quyết vụ án thường bị kéo dài. Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên toà không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

* Quyết định hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định rõ việc hoãn phiên toà có được thực hiện bằng quyết định hay không, sau khi hoãn phiên toà toà án có phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để xác định lại thời gian địa điểm mở phiên toà hay không dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các toà án. Để tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, BLTTDS quy định rõ việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều 208 BLTTDS. Quyết định hoãn phiên tòa phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về nội quy phiên toà, bản án sơ thẩm, biên bản phiên toà, chuẩn bị khai mạc phiên toà.

2. Thủ tục tiến hành phiên toà

So với các pháp lệnh thủ tục trước kia, các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy định trong BLTTDS chi tiết, cụ thể hơn, gồm 27 điều, từ Điều 213 đến Điều 239. Hơn nữa, trình tự của mỗi bước cũng có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền dân chủ và quyền tự định đoạt của các đương sự, xác định rõ quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.1.Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên toà

Các pháp lệnh chỉ có một điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà, BLTTDS có hẳn một mục về thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm bốn điều luật. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn đề mới so với các pháp lệnh nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới quan trọng của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên toà và thư ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên toà đã được triệu tập. Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù các pháp lệnh không quy định nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng xét xử chủ động giải quyết khi có người tham gia tố tụng vắng mặt.

2.2. Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”. Cách gọi đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự. Đối với vụ án dân sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải là việc truy xét của nhà nước về một hành vi vi phạm pháp luật.

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước rất nhiều. Trước kia các pháp lệnh quyđịnh khi khởi kiện các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng không có văn bản nào quy định trường hợp nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về toà án. Vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v.. Còn theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không ( Điều 217). Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại pjiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụngcủa các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Theo quy định của các pháp lệnh trước kia, việc hoà giải tại phiên toà sơ thẩm không mang tính chất bắt buộc và nếu xét thấy có khả năng hoà giải hội đồng xét xử sẽ hoà giải tại phần thủ tục tranh luận. Khác với trước kia, theo BLTTDS tại phiên toà toà án không hoà giải mà trong phần hỏichủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.

Sau khi nghe các đương sự trình bày xong, sẽ đến phần hỏi tại phiên toà. Về thứ tự người hỏi tại phiên toà cũng có sự thay đổi. Trước kia theo các pháp lệnh, sau khi hội đồng xét xử hỏi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi. Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt độngtư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Về nội dung hỏi, khác với trước kia hội đồng xét xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trong thủ tục này, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228). Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.

2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia chỉ quy định một điều luật về tranh luận tại phiên toà, còn BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án v.v.. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị là: “Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa”. Vì vậy, những quy định về tranh luận tại phiên toà cũng có nhiều thay đổi.

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận. Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa;

Về trình tự tranh luận, các pháp lệnh trước kia các đương sự trình bày quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Đề vai trò của người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trình tranh luận đạt kết quả, Điều 232 BLTTDS quy định khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến (theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan). Để đảm bảo cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ được sử dụng tất cả các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn chế thời gian tranh luận nhưnh chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

2.4. Nghị án và tuyên án

a, Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Các pháp lệnh thủ tục trước đây chỉ có một điều luật về nghị án với nội dung đơn giản và không cụ thể. Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và 237 với những nội dung trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”. Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án. Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, thứ tự biểu quyết khi nghị án cũng được quy định cụ thể là hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, BLTTDS còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.[3] Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án.

b, Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v.. không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc. Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v.. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

II. Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 là sự thống nhất ba pháp lệnh : PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ. Bộ luật đã có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Trong quy định về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, BLTTDS đã khắc phục được nhiều hạn chế của các pháp lệnh thủ tục trước đây. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy, nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, thủ tục tranh luận đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, tạo một bước đột phá trong việc mở rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng. Tuy vậy, BLTTDS còn có những bất cập nhất định. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có mặt của người đại diện tại phiên tòa sơ thẩm dân sự.

2. Theo ba pháp lệnh thủ tục trước kia, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, tòa án đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này. Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án. Theo chúng tôi, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà. Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành([4]).

Theo chúng tôi “lý do chính đáng” tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v..

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn [5]. Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà. Vì vậy, theo tôi đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà.

3. “Phạm vi yêu cầu” (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) quy định tại Điều 218 là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, nên hiểu phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi về giá trị của yêu cầu. Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu được nêu trong đơn khởi kiện chứ không phải là yêu cầu tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứ cứ phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

4. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. Theo chúng tôi, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. sẽ thay đổi . Cho nên, BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó.

5. Trong thủ tục hỏi tại phiên toà, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử nhưng hiện tại không phải toà án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án.

1.1. 6. Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án”. Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch bản án phải chính xác, vì vậy cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được công việc của mình đồng thời phải đảm bảo đủ thời gian cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Theo chúng tôi, Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”. Pháp luật tố tụng dân sự một số nước về phiên toà sơ thẩm dân sự.

Xây pháp luật TTDS nói chung và các qui định pháp luật về phiên toà sơ thẩm dân sự nói riêng phù hợp với thực tiễn Việt nam, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế là một vấn đề không đơn giản. Mặc dù khi nghiên cứu pháp luật TTDS Việt nam qua các giai đoạn lịch sử trước đó và pháp luật hiện hành, chúng ta có thể kế thừa những qui định hợp lý đã từng tồn tại, nhưng ngày nay( nghề luật ngày càng trở nên mang tính quốc tế và trong thề giới hiện đại các luật gia không thể tự giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu pháp luật của chính nước mình)[6]. Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số nét cơ bản về phiên toà sơ thẩm dân sự một số nước trên thế giới nhằm so sánh và tham khảo.

1.4.1. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Thuỵ Điển[7]:

Pháp luật Việt Nam và Thuỵ Điển đều thuộc hệ thống pháp luật Civil law nhưng có nhiều điểm khác biệt. Các quy định về tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật năm 1734. Đây là Bộ luật quy định về Đất đai, dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có cả các quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Hệ thống toà án được chia thành 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm. Toà sơ thẩm được thiết lập ở các địa phương, có chức năng xét xử cả hình sự và dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được bắt đầu bằng việc hai bên trao đổi tài liệu viết cho nhau. Sau đó, bên nguyên đơn sẽ gửi đơn đến toà án. Toà án sẽ gặp gỡ hai bên để hoà giải. Phiên toà sơ thẩm dân sự được mở nếu sau phiên toà trù bị, các bên vẫn còn có tranh chấp và không hoà giải được. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trên những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp liên quan đến bí mật riêng tư, liên quan đến người dưới 18 tuổi, một số vụ việc về gia đình… thì toà án xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Thành phần tham gia xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc về dân sự như tranh chấp về tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại…không có bồi thẩm, có thể một thẩm phán hoặc ba thẩm phán ( đối với vụ án phức tạp) . Các vụ việc về hôn nhân gia đình, lao động, liên quan đến… vì cần phải xem xét đến yếu tố đạo đức, xã hội nên có bồi thẩm tham gia với thành phần là 1 thẩm phán và 3 bồi thẩm.

Khác với pháp luật Việt Nam, Viện công tố chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự chứ không tham gia vào vụ án dân sự.

– Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do thì toà án vẫn mở phiên toà xét xử vắng mặt họ chứ không cần đến lần thứ hai như quy định của pháp luật Việt Nam.

– Về vấn đề tranh tụng tại phiên toà : không như pháp luật nước ta, ở Thuỵ Điển, thẩm phán chỉ lắng nghe ý kiến của người làm chứng, lập luận của các bên đương sự, có vấn đề gì không rõ, thẩm phán nêu một số câu hỏi để người làm chứng, đương sự trình bày. Sau khi nghe tất cả các bên tranh tụng thẩm phán sẽ đưa ra quyết định ai là người thắng kiện.

Điểm cần lưu ý

1.4.2. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ[8]

Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng dân sự khởi đầu với một văn bản viết lời buộc tội của nguyên đơn và hình thức bồi thường anh ta muốn, được gọi là “đơn kiện”. Sau đó toà án gửi trát đòi ra hầu toà, yêu cầu phải trả lời đơn kiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi nhận được nó.

Bị đơn phải thừa nhận hoặc phủ nhận từng lời cáo buộc và đưa ra những lý lẽ biện hộ. Anh ta cũng có thể đưa ra lời buộc tội chống lại nguyên đơn, một bị đơn khác hoặc một người vốn chưa được nêu tên trong vụ việc(điểm này có nét tương đồng với quy định của BLTTDS Việt Nam về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn). Trong văn bản trả lời, anh ta còn có thể yêu cầu toà án bác bỏ vụ kiện do không có lời buộc tội xác đáng, do thiếu quyền hạn pháp lý đối với nội dung vụ kiện hoặc bản thân bị đơn. Anh ta cũng có thể cho rằng nguyên đơn đã khởi kiện tại một toà án không thích hợp hoặc bị đơn không được thông báo một cách hợp lệ về vụ việc sắp xảy ra.

Giai đoạn tiếp theo là một“quá trình điều tra”khái quát, thường là quá trình

trình này không liên quan đến toà án. Tuy nhiên, một bên tìm kiếm chứng cứ có thể yêu cầu toà án giúp đỡ để buộc bên đối lập không chịu hợp tác hoặc những người khác phải cung cấp thông tin. Tương tự như vậy, bên bị hạch sách chứng cứ một cách bất hợp lý có thể yêu cầu toà án bảo vệ.

Việc điều tra có thể bao gồm những câu hỏi dạng viết cần phải được trả lời sau khi đã tuyên thệ trước toà; yêu cầu cung cấp những tài liệu thích hợp; kiểm tra về thể lực và tâm thần nếu có đơn kiện về gây thương tổn; yêu cầu thừa nhận những điều không thuộc phạm vi tranh chấp. Trước khi xét xử, mỗi bên đều có thể đề nghị phán quyết ngay về bất kỳ vấn đề nào thiếu chứng cứ. Nếu vụ việc tiếp tục được xét xử, toà án có thể ra một lệnh tiền xét xử, xác định những vấn đề sẽ được quyết định trong xét xử và đưa ra các điều khoản khác để tiến hành.

Phiên toà thường được tiến hành công khai trước dân chúng tại một toà án chỉ với một thẩm phán, nếu các bên không đồng ý với điều này thì thành phần xét xử sẽ có thêm ban bồi thẩm gồm từ 6 đến 12 bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên. Các bên cũng có quyền đòi loại ra một số bồi thẩm viên nhất định. Thẩm phán điều hành quy trình xét xử và tuyên bố luật pháp được áp dụng. Sau những lời tuyên bố mở đầu, bên nguyên đơn, người có trách nhiệm dẫn chứng đưa ra bằng chứng của mình còn bị đơn phải trình bày lập luận của mình. Thẩm phán có thể bác bỏ tất cả hoặc bất kỳ lời cáo buộc nào tỏ ra không có sức thuyết phục. Sau đó, mỗi bên được phép trình bày một tuyên bố kết thúc và thẩm phán giải thích luật cho ban bồi thẩm nhưng ban bồi thẩm phải tự mình quyết định sự thật là gì và theo đó quyết định về vụ án. Cũng giống như pháp luật tố tụng Việt Nam , bản án được quyết định dựa trên đa số. Trong trường hợp không có ban bồi thẩm thì thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết.

Kết luận

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời với nhiều quy định mới nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, trong đó có quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Song có thể nhận thấy rằng, trên thực tế, đây là điều không dễ dàng, nó đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực rất lớn.

Xét về mặt nghiên cứu lý luận thì phiên toà sơ thẩm dân sự không phải là vấn đề mới mẻ, nhưng xét trên phương diện thực tiễn thì đây là vấn đề còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm.

Trong khoá luận này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá những quy định của BLTTDS về các thủ tục cần tiến hành tại phiên toà sơ thẩm dân sự, từ việc chuẩn bị mở phiên toà cho đến khi nghị án và tuyên án, kể cả những việc phải tiến hành sau phiên toà sơ thẩm. Trong quá trình phân tích tác giả có nêu lên những tình huống và những hạn chế thiếu sót trên thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của phiên toà sơ thẩm và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự; đó là các kiến nghị về việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, người viết cũng đề cập đến một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về vấn đề nghiên cứu để tăng sự phong phú cho việc trình bày khoá luận.

Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, sự tiếp xúc với thực tiễn chưa nhiều nên chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp của các thày, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này./.


[1] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000

[2] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999

[3] Tài liệu hội thảo “ BLTTDS- nhừng điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(1)Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể.

[5] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.

[6] Luật so sánh

[7] Về pháp luật tố tụng dân sự- Kỷ yếu Dự án VIE/ 95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội 5/2000, tr 30-35.

[8] Tạp chí Điện tử – Triển vọng kinh tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1999.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP.

TS. NGUYỄN HOÀNG LƯUPhó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, là quá trình tất yếu, khách quan nhằm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Sau một năm Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, tác động của nó đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, đặc biệt là đến môi trường kinh doanh.

1. Những kết quả đã đạt được:

Nhận xét chung của các doanh nghiệp đều nhất trí đánh giá việc Việt Nam gia nhập WTO có tác động tốt đến sự phát triển kinh doanh của mình. Ở cấp độ vĩ mô sẽ mở ra những cơ hội mới cho việc mở rộng thị trường, thu hút thêm đầu tư, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ở tất cả các lĩnh vực, đảm bảo sự hài hoà giữa luật lệ, chính sách và quy định của Việt Nam với thông lệ và tiêu chuẩn của quốc tế. Nhận xét này cũng đã được Ban thư ký Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam báo cáo trong Diễn đàn vào đầu tháng 12 vừa qua về : “Điều tra cảm nhận môi trường kinh doanh Việt Nam”. Các doanh nghiệp cũng nhận xét là trong những năm gần đây, đặc biệt năm 2007 môi trường kinh doanh cũng đã được cải thiện đôi chút và từng bước được hoàn thiện.

Thứ nhất: Chính phủ đã có những cải thiện hệ thống pháp lý, luật lệ cho phù hợp khi Việt Nam gia nhập WTO và những sáng kiến cải cách mà Chính phủ cam kết thực hiện. Bên cạnh việc ban hành các văn bản như Luật Doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật kế toán, kiểm toán, luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là đã xây dựng nhiều chương trình, đề án có mục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng phát triển.

Thứ hai: Đã có nhiều tiến bộ của Chính phủ và các doanh nghiệp trong việc gia nhập thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, cơ sở hạ tầng về dịch vụ viễn thông và cung cấp điện năng đã có nhiều nỗ lực tiến bộ.

Thứ ba: TRong năm qua đã có nhiều thay đổi tích cực trong việc đối xử bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài, điều này không những thể hiện ở việc ban hành và có hiệu lực của Luật doanh nghiệp , Luật đầu tư áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp mà còn thể hiện ở cả trong việc thực hiện Luật đất đai, luật thuế, luật kế toán và kiểm toán….

Thứ tư: Việc tiếp cận với các nguồn tài chính, tín dụng của các doanh nghiệp đã có nhiêuì tiến bộ; khoảng 25-30% số doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp đã có điều kiện tiếp cận với các nguồn tài chính, tín dụng khác nhau và được sự hỗ trợ đầy đủ trong việc triển khai các hoạt động kinh doanh.

Thứ năm: Qua điều tra nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đánh gía cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải tiến luật lệ và các quy định cho phù hợp với các quy định và thông lệ kinh doanh quốc tế.

Thứ sáu: Sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nướcvới hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp (các Hiệp hội đa ngành, đa lĩnh vực, ngành nghề…)đã có nhiều biến chuyển và vị thế của Hội, Hiệp hội ngày càng được nâng cao, doanh nghiệp có thành tích được tôn vinh.

2. Tồn tại :

Tuy nhiên, nhìn lại một năm gia nhập WTO , còn tồn tại những vấn đề cần phải giải quyết trong môi trường kinh doanh, cụ thể là:

Thứ nhất : Về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng về giao thông ( đường sắt, đường bộ, cầu, cảng ..v.v) còn kém. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế và dòng đầu tư của nước ngoài. Bên cạnh đó nhiều dự án lớn bị chậm trễ do nhiều nguyên nhân trong đó có vần đề giao thông, cũng như sự phát triển không đồng bộ trong lĩnh vực này như có đường thì chưa có cầu, chưa có bến cảng , kho bãi ..v.v .. làm cho tình hình lại càng khó khăn hơn, gây tốn kém thêm chi phí kinh doanh và làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp.

Thứ hai: Bảo hộ sở hữu trí tuệ ( IPR) : vẫn là vấn đề nóng hiện nay và là một trở ngại gây thiệt hại không chỉ doanh nghiệp nước ngoài mà cả doanh nghiệp trong nước. Tình trạng chiếm dụng thương hiệu, làm nhái sản phẩm của những thương hiệu nổi tiếng hàng giả, hàng kém chất lượng, tranh chấp bản quyền.v.v…vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều chỗ. Sự yếu kém trong bảo bộ sở hữu trí tuệ đã làm hại doanh nghiệp trong nước nhiều hơn doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ ba: Môi trường pháp lý: hệ thống tòa án và thực thi luật pháp còn nhiều hạn chế nguyên nhân do các thủ tục còn rườm rà và chi phí cao, thiếu tính minh bạch.

Thứ tư: Hiệu quả của dịch vụ hành chính vẫn còn yếu kém chưa được tinh giản, tốc độ cải cách hành chính vẫn chậm, nạn quan liêu, tham nhũng vẫn còn nhiều và ngày càng tinh vi, rất khó phát hiện.

Thứ năm: hệ thống thuế và quản lý thuế cũng còn nhiều bất cập từ chính sách thuế như chi phí quảng cáo khuyến mại, thuế giá trị gia tăng đối với hàng khuyến mại, thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ xuất khẩu….đến luật thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế cần có những bước điều chỉnh , cải cách, đồng bộ và thực tiễn hơn

Thứ sáu: nguồn nhân lực có trình độ quản lý và tay nghề cao còn rất thiếu. Theo thống kê chỉ có gần 30% lực lượng lao động là đã qua đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, chưa đồng đều, sử dụng chưa hiệu quả. Ngay ở Hà Nội là trung tâm kinh tế đứng thứ 2 trong cả nước sau thành phố Hồ chí minh thì với hơn nửa triệu lao động được đào tạo có bằng cấp các loại thì số có trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật chiếm 37 %( trong đó số có bằng công nhân kỹ thuật chỉ chiếm 10%) số có trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 21%, số có trình độ đại học và cao đẳng chiếm 40%, và số có trình độ trên đại học là 2%. Đặc biệt số công nhân kỹ thuật bậc cao ( bậc 6, 7/ 7) và số kỹ sư thực hành thạo chuyên môn là rất hiếm.

Thứ bảy : Vẫn còn sự bất bình đẳng trong sự việc phát triển các vùng miền. Tình trạng chỉ tập trung phát triển ở thành thị , còn nông thôn và các vùng sâu, vùng xa còn chưa được chú trọng đúng mức là vẫn còn chưa được cải tiến từ nhận thức đến hành động. Ngay tại các vùng miền cũng có sự phân bổ không đồng đều về nguồn ngân sách và sự chỉ đạo dẫn đến tình trạng mất cân đối. Bởi vậy doanh nghiệp hoạt động ở vùng nông thôn và các vùng miên xa xôi gặp rất nhiều khó khăn ( nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng, nguồn thông tin…)

3. Kiến nghị và giải pháp cần cải thiện môi trường kinh doanh.

Thứ nhất: Rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác có liên quan đều lo ngại về sự phục hồi hàng loạt các “ giấy phép con” khi cho ra đời những luật lệ và quy định mới; bởi vậy cần xóa bỏ những giấy phép không cần thiết, đấy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

Thứ hai: việc tiếp tục ngăn chặn, kiểm soát nạn quan liêu, tham nhũng phải được làm chặt chẽ, quyết liệt. Cần công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc, người chịu trách nhiệm ở tất cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện . Công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước những công chức gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân và doanh nghiệp, những người thiếu trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba: Tiếp tục cải cách việc soạn thảo và ban hành thực thi các văn bản pháp luật ( cấp phép, đầu tư , thương mại , sở hữu trí tuệ) theo hướng tinh giản, thực tiễn, đồng bộ, chuẩn mực, có sự tham gia ý kiến rộng rãi của đông đảo các tầng lớp nhân dân và doanh nghiệp, và được thực thi nghiêm minh, công bằng, không có trường hợp ngoại lệ đối với việc cấp phép đầu tư , giấy phép kinh doanh và bảo vệ sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Cần rà soát lại các văn bản pháp quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

Thứ tư: Cải cách, đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực: Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện nguồn nhân lực. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu. Để thực hiện mục tiêu trên cần tổng điều tra, đánh giá lại nguồn nhân lực nói chung và nhân lực kỹ thuật nói riêng; thực hiện quy hoạch sắp xếp hệ thống,các trường, cơ sở dậy nghề, các trường đào tạo của Nhà Nước, hướng vào đào tạo cơ bản, tập trung dài hạn theo hệ chuẩn và những ngành nghề mũi nhọn, công nghệ cao.

Coi trọng phát hiện bồi dưỡng, thu hút sử dụng và đãi ngộ đội ngũ tri thức, chuyên gia trình độ cao, đặc biệt là các nhân tài, phát triển thị trường lao động có tổ chức.

Thứ năm: Cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện: cần cho phép và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển hạ tầng. Đồng thời cần có nhiều nỗ lực hơn nữa đẩy nhanh sự phát triển cơ sở hạ tầng trên bộ, bao gồm đường sá, cầu cống.

Thứ sáu: Cần tiếp tục hỗ trợ việc phát triển các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời hỗ trợ các Hiệp hội doanh nghiệp cho xứng với tầm vóc là người đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp. Để thực hiện điều này Nhà nước cần ban hành Luật về phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, luật về Hiệp hội và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn để triển khai.

SOURCE: trade.hochiminhcity.gov.vn

WTO – KINH NGHIỆM MỘT NĂM TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ

LS. LÊ CÔNG ĐỊNH  – Công ty luật DC LAW

Việt Nam trở thành Thành viên chính thức của WTO thực sự mở ra cánh cửa cơ hội để phát triển đất nước, tất nhiên vẫn còn nhiều việc phía trước cần phải làm. Một năm trôi qua cho thấy chúng ta có nhiều vấn đề cần phải giải quyết từ những góc độ khác nhau của nền kinh tế. Bài viết này nêu lên một số vấn đề cần điều chỉnh từ kinh nghiệm của các luật sư tư vấn cho các doanh nghiệp đang hoạt động, kinh doanh tại thị trường Việt Nam trước và sau thời điểm Việt Nam trở thành hội viên WTO.

Vai trò điều hành và quản lý nền kinh tế của chính phủ

Trong môi trường cạnh tranh để định hình nền kinh tế thị trường, một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp là tăng cường khả năng quản trị. Giải pháp quản trị này có hai mặt, thứ nhất tự thân doanh nghiệp thay đổi và, thứ hai, chính phủ với tư cách là người hỗ trợ doanh nghiệp cũng phải thay đổi, tức là cải tổ cách thức điều hành và quản lý nền kinh tế của chính phủ theo hướng rõ ràng, minh bạch. Đây cũng là nguyên tắc của WTO và là yêu cầu đối với các Thành viên của tổ chức này.

Sự hiệu quả của mỗi chính phủ được đo lường bằng những luật lệ và chính sách tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp kinh doanh và tăng lợi nhuận. Luật lệ và chính sách được ban hành chỉ nhằm mục đích tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp yên tâm kiếm tiền và đóng thuế. Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn do những luật lệ hay chính sách hay việc thực thi từ phía các cơ quan nhà nước, thì ngày đó chúng ta vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện thêm chính sách và việc thực thi chúng để có một hệ thống, cơ chế điều hành nền kinh tế hiệu quả hơn.

Theo kết quả của một cuộc khảo sát gần đây đối với giới doanh nhân trong nước – những người đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia bằng chính của cải và kỹ năng quản lý của mình – đã dẫn đến một kết quả đáng ngạc nhiên là khá nhiều doanh nghiệp không cảm thấy hài lòng về cơ chế chính sách và hệ thống hành chính liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ.

Trong một nhà nước pháp trị có hệ thống luật pháp minh bạch được xây dựng trên những tiêu chuẩn mà Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đòi hỏi, cơ quan hành pháp cần tránh ấn định các quy tắc hạn chế hoặc ngăn cản quyền kinh doanh chính đáng của công dân mà Hiến pháp đã công nhận.

Việc cải tổ cách thức điều hành và quản lý nền kinh tế của chính phủ cũng đòi hỏi sự thay đổi cách suy nghĩ của các cán bộ trong bộ máy hành chính trong việc điều hành một nền kinh tế thị trường chuyên nghiệp. Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực, nên cần làm ngay và kiên trì từng bước.

Cải cách lập pháp và lập quy

Cải cách lập pháp và lập quy đã được tiến hành từ hơn mười năm nay với nhiều thành tựu. Tuy nhiên, trọng tâm của công cuộc cải tổ mang tầm vóc quốc gia này hầu như chỉ nhằm giải quyết những vấn đề nội tại của hệ thống luật pháp, hơn là hướng đến mục tiêu cải cách kinh tế hoặc tạo điều kiện để cả hai tiến trình này được thực thi đồng thời trong mối liên kết chặt chẽ. Do vậy, trọng tâm sắp tới của cải cách luật pháp cần phải được xác định rõ ràng là phát triển kinh tế. Để đạt mục tiêu như vậy cần lưu tâm đến các vấn đề quan trọng dưới đây.

Thứ nhất, cách soạn thảo luật hiện tại, đặc biệt trong lĩnh vực thuế và hải quan, hầu như không tính đến khả năng tuân thủ luật và lợi ích của đối tượng được áp dụng là các doanh nghiệp. Nguyên nhân là vì cho đến nay luật lệ chuyên ngành vẫn do chính các bộ ngành liên quan soạn thảo và các cơ quan này thường chỉ quan tâm đến sự tiện dụng của mình trong việc quản lý nhà nước.

Hãy trao cho các đại biểu quốc hội quyền soạn thảo những dự án luật. Họ sẽ tự trưng cầu ý kiến và sự hỗ trợ về chuyên môn từ các chuyên gia trong công việc lập pháp của mình. Tất nhiên các bộ vẫn được trao quyền đề xuất dự án luật, song chỉ hạn chế trong một số trường hợp đặc biệt và dự án đó phải được đệ trình lên quốc hội để tranh luận.

Thứ hai, việc soạn thảo các văn bản dưới luật của các cơ quan công quyền hiện chú trọng nhiều vào việc áp đặt nhiều thủ tục phức tạp và biện pháp trừng phạt khi vi phạm thủ tục đó, trong khi sự vi phạm của chính cơ quan công quyền thì không được quan tâm nhiều, hoặc nếu có thì cũng chỉ là những quy định chung chung. Bên cạnh đó, việc áp dụng và giải thích không nhất quán các cam kết WTO theo hướng mặc nhiên hạn chế hoặc ngăn cản quyền của nhà đầu tư nước ngoài cũng là điều đáng báo động hiện nay.

Để minh bạch hóa quy trình lập quy, cần tránh việc các cơ quan công quyền khi ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành luật tự ý giải thích luật theo ý của mình hoặc đặt ra các thủ tục mà luật không minh định. Phải cân bằng giữa lợi ích nhà nước và quyền lợi của công dân.

Thay đổi quan niệm về vai trò giải thích luật của tòa án

Vai trò của tòa án đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền rất quan trọng bởi vì nó liên quan đến niềm tin của giới doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài, đối với việc thực thi các cam kết WTO của Việt Nam.

Thứ nhất, tòa án cần thủ giữ vai trò kiến tạo đường hướng án lệ để giải thích luật pháp do Quốc hội ban hành. Đời sống pháp lý hàng ngày của xã hội rất cần những đường hướng án lệ để giúp làm sáng tỏ nhiều điều luật tối nghĩa mà cơ quan lập pháp vô tình tạo ra khi soạn thảo luật. Không một định chế nào khác ngoài tòa án có quyền giải thích luật. Thói quen trao cho cơ quan lập pháp hoặc hành pháp quyền hướng dẫn cách áp dụng luật bấy lâu nay cần phải chấm dứt, đơn giản là vì những cơ quan này không có thẩm quyền như vậy và hướng dẫn của họ không có giá trị ràng buộc đối với người dân.

Khi vận dụng luật để xét xử, thẩm phán có quyền đưa ra quan điểm cá nhân để giải thích luật, quan điểm đó nếu đúng đắn và hợp lý sẽ trở thành án lệ để các tòa án khác noi theo khi xét xử những vụ án tương tự trong tương lai. Đặc biệt, quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao khi can thiệp bằng một phán quyết chung thẩm, trong đó xác nhận hoặc bác bỏ cách giải thích luật của tòa sơ thẩm, sẽ tạo thành đường hướng án lệ mới mà mọi tòa án về sau, kể cả cơ quan hành pháp và người dân, phải quan tâm khi áp dụng luật. Như vậy, bằng hoạt động tài phán hàng ngày của mình, tòa án góp phần đáng kể vào việc duy trì sự ổn định của hệ thống luật pháp quốc gia.

Thứ hai, trong khi luật pháp vẫn còn chưa hoàn thiện và đầy đủ, thì tòa án bằng quyền tài phán của mình cần thủ giữ vai trò tạo lập và duy trì trật tự pháp lý và trật tự xã hội, tránh tình trạng vô tình góp phần tạo ra những bất công hoặc tiền lệ xấu cho hành vi ứng xử của công dân trong xã hội.

Trên thực tế, nhiều vụ tranh chấp đã được tòa án giải quyết với kết quả bất lợi đối với bên có quyền lợi chính đáng bị vi phạm, nhiều khi chỉ vì thẩm phán khi xét xử chỉ biết áp dụng luật một cách máy móc. Tuân thủ luật là điều quan trọng và cần thiết đối với thẩm phán trong hoạt động xét xử, song mục đích tối hậu của quyền tài phán vẫn là lẽ công bằng và sự ổn cố của xã hội, chính luật pháp cũng được ban hành chỉ nhằm mục đích mang lại công lý và trật tự mà thôi. Không nên nhầm lẫn giữa một bên là phương tiện và bên kia là mục đích.

* * * *

Trên đây là một vài nhận xét và góp ý mà giới luật sư trong phạm vi công việc hàng ngày thường gặp và hy vọng có sự điều chỉnh với mong ước điều đó có thể giúp tạo ra một tiền đề tốt thúc đẩy hơn nữa tiến trình cải cách nền kinh tế quốc gia./.

SOURCE: trade.hochiminhcity.gov.vn