SẼ HỢP PHÁP HÓA CỜ BẠC, CÁ ĐỘ

NGUYỄN THƯỜNG

Tienphongonline – Theo ông Phạm Văn Hoàng – Trưởng phòng Xổ số, vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính) thì đây là phương pháp quản lý tối ưu mà thế giới đã lựa chọn. Tất nhiên, song hành là những công cụ giám sát, kiểm tra chặt chẽ, khoa học từ tư duy đến tổ chức, thi hành.

Hợp pháp hóa đánh bạc có thể sẽ được hiện thực hóa sau khi hai bộ Tài chính, KH&ĐT hoàn tất việc rà soát, đề xuất và trình Chính phủ các dự thảo pháp quy.

“Bất diệt” và lợi hại

Các sòng bạc, trường gà, đường dây cá độ bóng đá của Năm Cam, Thắng “tài dậu”, Khánh “trắng”, Dung “hà”… từng làm kinh hoàng xã hội. Rất nhiều sới bạc người Việt ở Campuchia, Trung Quốc với quy mô khổng lồ quy tập các đại gia khát nước…

Các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều tụ điểm có bảo kê, công nghệ hiện đại, cấu kết với chính quyền và cơ quan bảo vệ luật pháp. Cá độ từng làm mục ruỗng cả một nền bóng đá quốc gia, còn dẫn dắt cả những con bạc “triệu đô” tai to mặt lớn.

Ngày 26/5 vừa qua, tại khách sạn Food Centrer of Saigon, liên doanh của một DN thuộc Công an TPHCM, 45 con bạc bị bắt thì có tới 32 khách nội địa. Rồi ngày 4/8 gần đây, công an lại hốt được 28 người Việt “nội địa” đang sát phạt tại Casino Hoàng Gia (Quảng Ninh), nơi từng có một công chức trẻ đốt 4 triệu USD rồi sa lưới pháp luật… 

Ngành công an thống kê: hiện cả nước có hơn 200 “chủ đề” (tổ chức chơi số đề) doanh thu từ 500 triệu đến hàng tỷ đồng/chủ/ngày đêm. Và cứ trong 24 tiếng đồng hồ thì có tới hàng ngàn người qua biên giới Campuchia, Trung Quốc đánh bạc với con số hàng chục triệu USD.

Ở “chiếu trên” thì vậy, còn trong đời sống thì có thể bắt gặp các hình thức đánh bạc ở bất cứ đâu, ai, lứa tuổi nào và thời gian nào với các trò bài lá, đánh cờ ăn tiền, bi-a, bida, cá độ bóng đá, ném vòng, bắn súng, chọi gà… Đánh bài dân gian có thể tổ chức ở quán cà phê, cơ quan, gia đình, nhà nghỉ, trên tàu xe, ngoài vỉa hè…

Tháng 8 vừa qua, tại Tam Đảo công an cất vó nhiều lãnh đạo TCT Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội cũng vì sát phạt.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng, bước đầu nên chọn những trò có hình thức, quy mô dễ chơi, dễ quản lý và mức độ thắng thua vừa phải.

Mối liên kết của tội phạm có tổ chức, lũng đoạn chính quyền, ma túy, mại dâm… cần cảnh giác cao độ. Để khống chế mặt trái như bần cùng hóa, giàu có bất ngờ, sự cám dỗ quá đáng v.v… thì bên cạnh việc kiểm soát quảng cáo, chúng ta cần tạo những sân chơi phi cờ bạc thật hấp dẫn, phong phú và đại chúng.

Ông Hoàng cho biết, hiện hai cơ quan được giao là Bộ KHĐT và Bộ Tài chính nghiên cứu rà soát thực trạng các cơ sở đang kinh doanh đặt cược, đánh bạc và đề xuất các văn bản pháp lý quản lý mô hình này.

Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, đánh bạc hấp dẫn bởi nó là hoạt động giải trí có động lực, có tính cộng đồng cao.

Về lý thuyết, nó có luật chơi minh bạch và công bằng, sòng phẳng và có hiệu ứng nhanh (trả tiền ngay). Chơi bạc có hàm lượng tính hồi hộp, căng thẳng, cân não đòi hỏi bản lĩnh và sự may rủi.

Nhưng điều quyến rũ nhất là lợi nhuận quá lớn so với đồng vốn và thời gian đầu tư…

Vì vậy từ khi đánh bạc ra đời, chưa ở nước nào và khi nào đánh bạc bị triệt tiêu hoàn toàn. Nó đã là một nhu cầu và một thực tế bất diệt. Đa số quốc gia phát triển đã thừa nhận điều này.

Đến nay đánh bạc bằng Internet; chơi xổ số, kinh doanh chứng khoán bằng công nghệ thông tin đã phá bỏ biên giới và mọi rào cản quốc gia thì nhận định trên càng đúng hơn. Với câu chuyện này Việt Nam  không  ngoại lệ.

Cũng theo ông Doanh, nếu không thừa nhận đánh bạc thì những hiệu ứng mặt trái của nó không những khó hạn chế mà do thiếu thông tin nên chúng càng thêm nguy hại.

Ngược lại những mặt tích cực mà rõ nét nhất là thuế thu từ lĩnh vực này, một khối lượng tài chính khổng lồ lại gieo mầm cho những tội phạm mới.

Bộ Tài chính thống kê: kinh doanh xổ số (hình thức duy nhất mang tính đánh bạc, vui chơi có thưởng được cấp phép rộng rãi ở Việt Nam) dù mới chỉ là một phần nhỏ trong lĩnh vực đánh bạc nhưng mỗi năm doanh thu cũng chiếm tới 2,4% GDP và nộp ngân sách đạt 2,5% tổng thu trên toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực này là niềm mơ ước của nhiều ngành kinh tế: 22%/năm!

Đánh bạc trái phép còn là công cụ rửa tiền đáng sợ. Ngược lại nó cũng là một hoạt động quan trọng trong cơ cấu du lịch, giải trí.

Quản lý bằng “móng tay nhọn”

Ở Việt Nam, theo ông Phạm Văn Hoàng – Trưởng phòng xổ số, Vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính): Từ năm 2003 về trước, mọi hình thức đặt cược, đánh bạc đều bị cấm, trừ hình thức chơi xổ số.

Theo xu thế hội nhập, năm 2003 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 32 cho phép một số khách sạn (4 sao trở lên, lưu lượng khách quốc tế lớn) được kinh doanh trò chơi có thưởng bằng máy điện tử và bàn chơi. Nay có khoảng trên dưới 20 điểm.

Về kinh doanh Casino, Chính phủ cấp phép tùy từng dự án cụ thể và hiện có 4 điểm là Đồ Sơn (Hải Phòng), Hoàng Gia, Lợi Lai (Quảng Ninh) và Lào Cai. Xét về số lượng các đơn vị có phép thì Việt Nam hơi nhiều so với các nước cùng khu vực hoặc các quốc gia tương đồng về kinh tế xã hội.

Về công tác quản lý những DN kinh doanh loại hình đặc biệt này được giao cho cơ quan công an các địa phương cùng những bộ ngành liên quan, theo nguyên tắc: chỉ dành cho người có hộ chiếu nước ngoài.

Tuy nhiên, trên thực tế thì tại tất cả những cơ sở đã được kiểm tra đều phát hiện có người Việt (không có hộ chiếu) tham gia. Có cơ sở đã biến thành sân chơi của những ông lớn ham sát phạt, may rủi. Và những khoản tiền khổng lồ đó thường là tiền “không sạch”. Đó là hàng triệu USD của Bùi Tiến Dũng (PMU 18), của những cán bộ biến chất hoặc tội phạm có tổ chức.

Ông Hoàng cho rằng quản lý loại hình kinh doanh đặc biệt phải có những công cụ đặc biệt do các cơ quan chuyên trách đảm nhận. Hiện chúng ta đang quản lý theo hình thức kiêm nhiệm và phương pháp lồng ghép (chung với các nhiệm vụ phòng chống tệ nạn khác). Các cơ sở kinh doanh manh mún, nhỏ lẻ, dàn trải và quá cận kề với địa bàn dân cư…

Ông Hoàng nói, chủ trương mới sẽ thừa nhận và hợp pháp hóa đánh bạc, cá độ. Các văn bản mới sẽ được soạn thảo trên quan điểm: mở nhưng phải chặt. Việc này nhằm giải quyết nhu cầu giải trí và nằm trong xu thế phát triển của một xã hội toàn diện. Nhà nước thu được nguồn thuế lớn từ đây.

Hợp pháp hóa đánh bạc, cá độ còn là phương pháp hữu hiệu để chống cờ bạc, sát phạt phi pháp và bảo vệ quyền lợi người chơi. Sẽ hạn chế số lượng DN bằng cách sàng lọc, chọn những DN có quy mô lớn, khó lẩn tránh kiểm soát.

Ví dụ, DN kinh doanh casino phải có 4 tỷ USD trở lên và phải là một tổ hợp giải trí, nghỉ dưỡng, khách sạn liên hoàn. Các DN phải đặt vấn đề “trách nhiệm xã hội” lên hàng đầu.

Ví dụ: phải phát tờ rơi khuyến cáo khách hàng hãy biết cân đối thu chi. Không được đặt máy rút tiền tự động gần nơi vui chơi… Sơ đồ thiết kế phòng chơi phải báo cáo, trình duyệt. Máy chơi điện tử phải chịu sự quản lý ngặt nghèo về phần mềm.

Các tụ điểm tổ chức đánh bạc, cá độ phải nối máy với cơ quan quản lý để theo dõi trực tiếp. Tỷ lệ thắng tối thiểu phải được đăng ký. Có thể tách khu vực kinh doanh đặc biệt này ra những đặc khu.

Đối với người chơi, cần kiểm soát nguồn gốc tiền tham gia, thành lập danh sách những người không được chơi (có máu sát phạt, từng cầm cố, vay mượn quá sức vì cờ bạc…). Nên quy định mỗi người chơi chỉ được nhận một lần thưởng (trò chơi có thưởng)…

SOURCE: TIENPHONGONLINE

VAI TRÒ CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TRONG KINH DOANH

Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng; khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng đã nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.

Trong kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.

Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm…

Xét về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (giao dịch bảo đảm) mang tính phái sinh. Vấn đề được đặt ra là quan hệ bảo lãnh có phải là quan hệ hợp đồng hay chỉ là cam kết đơn phương? Hợp đồng bảo lãnh ngân hàng được ký kết giữa những chủ thể nào? Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo lãnh thì cơ quan tài phán có thể xem xét một cách độc lập với quan hệ phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh hay không?

Cam kết bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) nếu đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Để được ngân hàng bảo lãnh, bạn cần có đủ các điều kiện sau:

  1. Phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
  2. Mục đích đề nghị bảo lãnh là hợp pháp.
  3. Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, thanh toán với ngân hàng
  4. Phải có tài sản đảm bảo hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh. Quy định về đảm bảo cho bảo lãnh nói rõ: “Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh bao gồm ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật”.
  5. Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong thời hạn cam kết.
  6. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh hoặc bên được bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài, thì ngoài các điều kiện trên, khách hàng còn phải thực hiện các quy định về quản lý vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, quy định về quản lý ngoại hối và các quy định có liên quan khác.
  7. Đối với trường hợp nhận bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu, khách hàng phải đảm bảo các quy định của pháp luật về thương phiếu.

Vậy cam kết của người bảo lãnh có thể xem là hành vi giao kết hợp đồng hay không? Có quan điểm cho rằng, cam kết của người bảo lãnh không thể xem là hợp đồng, vì đây chỉ là sự cam kết đơn phương.

Bộ luật dân sự Việt cũng như của các nước đều xác định các bên có thể thoả thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Với nội dung quy định như vậy, Bộ luật dân sự đã thể hiện rõ là quan hệ bảo lãnh phát sinh trên cơ sở thoả thuận từ việc đưa ra cam kết của người bảo lãnh. Việc ghi nhận yếu tố thoả thuận này chứng tỏ quan hệ bảo lãnh không phát sinh mang tính đơn phương bằng cam kết của riêng bên bảo lãnh.

Trong thực tiễn pháp lý, quan niệm “quan hệ bảo lãnh là quan hệ hợp đồng” vẫn còn khá phổ biến. Theo Từ điển pháp luật của Mỹ, thì bảo lãnh là sự thoả thuận, mà theo đó người bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện.

Như vậy, có thể thấy rõ rằng việc xác định yếu tố thoả thuận trong quan hệ bảo lãnh (dấu hiệu cơ bản của quan hệ hợp đồng) được thể hiện khá rõ trong tư tưởng pháp lý. Vì vậy, sự thoả thuận giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh (bên chấp nhận hành vi bảo lãnh của bên bảo lãnh) là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ bảo lãnh. Đối với cam kết bảo lãnh mà bên bảo lãnh đưa ra thì không nên xem đó chỉ là cam kết đơn phương, mà về bản chất pháp lý thì đó là văn bản dự thảo hợp đồng và nếu không được bên nhận bảo lãnh chấp nhận thì quan hệ bảo lãnh không được thiết lập.

Việc xác định đúng bản chất pháp lý của bảo lãnh là cơ sở để phân định cơ cấu chủ thể của nó. Dựa trên các biểu hiện bên ngoài, việc bảo lãnh có ba bên, bao gồm bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh; nhưng về mặt pháp lý, quan hệ bảo lãnh chỉ đòi hỏi bắt buộc hai bên là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Nhiều chuyên gia pháp luật cho rằng việc tham gia ký kết của bên được bảo lãnh không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lãnh, mặc dù cam kết của bên được bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ với bên bảo lãnh sau khi họ thực hiện nghĩa vụ thay cho mình là cơ sở để người bảo lãnh đưa ra cam kết bảo lãnh. Theo quy định thì cam kết bảo lãnh được đưa ra và chấp nhận giữa hai bên là “người thứ ba” (người bảo lãnh) và “bên có quyền” (người nhận bảo lãnh). Còn việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh được quy định như sau: khi người bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi đã bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác. Theo quan điểm pháp luật của nhiều nước, thì Ngân hàng được phép sử dụng uy tín và khả năng tài chính của mình để đảm bảo cho người nhận bảo lãnh.

Với các quy định trên đây, bên được bảo lãnh là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp đồng bảo lãnh mà không phải là bên đóng vai trò thiết lập hợp đồng bảo lãnh là bên bắt buộc ký kết hợp đồng bảo lãnh. Về mặt nguyên tắc, các bên có thể ký kết hợp đồng bảo lãnh gồm 3 bên, là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Tuy nhiên, do bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh không phải là các chủ thể thuộc cấu trúc chủ thể của hợp đồng bảo lãnh, nên họ không có các quyền và nghĩa vụ tương ứng như quan hệ giữa người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh thưa kiện lẫn nhau, thì tư cách của họ không phải là tư cách của các bên ký kết hợp đồng bảo lãnh, mà là tư cách của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người được bảo lãnh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lãnh.

Khi ngân hàng thực hiện bảo lãnh thì các quan hệ sau đây phát sinh:

– Thứ nhất, quan hệ giữa ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh).

– Thứ hai, quan hệ dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (bên có nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh) phát sinh do thoả thuận giữa các bên trong việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng và nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng với tổ chức tín dụng.

Như vậy, căn cứ vào cấu trúc chủ thể ký kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng theo quy định của pháp luật, sẽ tồn tại 2 loại quan hệ hợp đồng, là quan hệ hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng. Việc phân định rõ hai loại quan hệ tồn tại song song này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh chấp.

Tại Việt Nam, theo quy định của Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, thì bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng; còn bên nhận bảo lãnh (bên có quyền) là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Mặc dù Quy chế bảo lãnh ngân hàng không trực tiếp quy định các loại chủ thể cụ thể là bên nhận bảo lãnh, nhưng căn cứ vào các loại hình bảo lãnh mà các tổ chức tín dụng được phép thực hiện, thì có thể xác định bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia các loại hợp đồng như hợp đồng tín dụng, các loại hợp đồng cung ứng dịch vụ, sản phẩm phát sinh quan hệ thanh toán, các loại hợp đồng phát sinh trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng…

Điều 4 Quy chế bảo lãnh ngân hàng quy định khách hàng được bảo lãnh gồm có: doanh nghiệp nhà nước, các loại doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng, hộ kinh doanh cá thể.

Như vậy, căn cứ vào loại chủ thể và mục đích tham gia ký kết hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự.

Vấn đề được đặt ra là trong trường hợp phát sinh tranh chấp từ hợp đồng bảo lãnh ngân hàng hay từ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng thì có thể xem xét các tranh chấp này độc lập với hợp đồng chính (hợp đồng ký kết giữa bên nhận bảo lãnh với bên được bảo lãnh) hay không?

Trước đây, theo quy định của Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/ 01/1990 của Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi có vi phạm hợp đồng kinh tế được thực hiện cùng với giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế. Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 165/1999/NĐ – CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm thì quy định trên đây của Nghị định số 17/HĐBT hết hiệu lực thi hành. Đến nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này.

Căn cứ vào quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo lãnh ngân hàng (ký kết giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền) và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng (ký kết giữa tổ chức tín dụng với bên được bảo lãnh) có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự. Mặc dù hiện nay ở nước ta, vấn đề cơ sở để phân định hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng không thể giản đơn mà cho rằng tất cả hợp đồng bảo đảm (giao dịch bảo đảm) đều là hợp đồng dân sự. Tuy các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật dân sự, nhưng pháp luật có các quy định mang tính phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự. Bởi vậy, nếu xác định tất cả các hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ (trong đó có hợp đồng bảo lãnh ngân hàng) là hợp đồng dân sự sẽ không phù hợp với pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật về hợp đồng dân sự. Ví dụ, nếu xem là hợp đồng dân sự thì sẽ không phù hợp với pháp luật hợp đồng kinh tế đối với trường hợp tổ chức tín dụng ký hợp đồng bảo lãnh với doanh nghiệp (bên nhận bảo lãnh) để công ty cổ phần (bên được bảo lãnh) dự thầu. Căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì cả hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đều thoả mãn điều kiện của hợp đồng kinh tế, vì các bản hợp đồng trên đều được ký kết giữa các chủ thể kinh doanh, đều thoả mãn điều kiện là phải có một bên tham gia ký kết hợp đồng đủ tư cách pháp nhân và đều nhằm mục đích kinh doanh.

Mặc dù cùng mang tính phái sinh và phụ thuộc vào hợp đồng được bảo đảm (hợp đồng chính), nhưng do hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng có cơ cấu chủ thể mà các quyền, nghĩa vụ tương ứng mang tính độc lập, nên về mặt tố tụng nếu xem tất cả các quan hệ tranh chấp từ các hợp đồng này phụ thuộc vào hợp đồng chính sẽ không hợp lý. Chẳng hạn, nếu tranh chấp phát sinh giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh được xem là tranh chấp mang tính phái sinh, thì rõ ràng tổ chức tín dụng hoặc bên nhận bảo lãnh không thực hiện được quyền khởi kiện một cách độc lập. Mặt khác, nếu các bên tham gia hợp đồng bảo lãnh ngân hàng hoặc hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng không có quyền khởi kiện độc lập và toà án không xem xét tranh chấp một cách độc lập với hợp đồng chính, thì vấn đề đặt ra là họ tham gia tố tụng với tư cách gì? Nếu xem họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn hoặc chỉ với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan thì trong nhiều trường hợp họ không thể chủ động thực hiện các hành vi trong tố tụng như khởi kiện, tham gia phiên toà, kháng cáo để bảo vệ quyền lợi của mình. Chẳng hạn, tổ chức tín dụng và bên được bảo lãnh tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì rõ ràng tranh chấp này có tính độc lập về quyền, nghĩa vụ với hợp đồng chính nên có thể giải quyết một cách độc lập.

Những dẫn giải trên đây cho thấy, dựa trên cơ sở xác định các loại quan hệ hợp đồng liên quan tới bảo lãnh ngân hàng, cũng như nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh, thì pháp luật cần có quy định cụ thể theo hướng cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp có thể xem xét giải quyết các tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh ngân hàng, hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng độc lập nếu các quyền, nghĩa vụ bị tranh chấp không phụ thuộc vào hợp đồng chính. Hướng làm này sẽ tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong việc bảo lãnh của ngân hàng một cách kịp thời, thúc đẩy dịch vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng phát triển, phát huy vai trò to lớn của chúng trong việc tăng tốc độ luân chuyển các nguồn vốn đầu tư.

Nhìn chung, không thể phủ nhận vai trò của bảo lãnh ngân hàng trong kinh doanh ngày nay. Rất nhiều công ty đã có được các khoản vốn cần thiết phục vụ dự án đầu tư kinh doanh của mình thông qua bảo lãnh ngân hàng. Chắc chắn rằng trong tương lai, hoạt động bảo lãnh sẽ còn rất sôi động. Nếu bạn cần đến nguồn vốn đề đầu tư mà đã “đi gõ nhiều cửa” nhưng vẫn chưa huy động được vốn, hãy thử quan tâm đến bảo lãnh ngân hàng xem sao.

Nguồn: Bwportal

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: PHIỀN HÀ, LÃNG PHÍ

MINH CHÂU – DDDN.COM.VN

5 năm hình thành đăng ký giao dịch bảo đảm (GDBĐ) ở VN, nhưng còn quá nhiều vướng mắc, phiền hà để người dân và DN tiếp cận, sử dụng. Quá nhiều chi phí bất hợp lý và lãng phí. Giới NH là đối tượng bức xúc đầu tiên, bởi GDBĐ và bảo đảm tiền vay là một phần quan trọng trong hoạt động của họ.

Văn bản đá nhau

Việc quy định các trường hợp phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của các nghị định cũng khác biệt cơ bản, khiến người thực hiện khó khăn khi áp dụng. Theo NĐ 08/2000/NĐ-CP, khách hàng thế chấp bằng quyền sử dụng đất sẽ không phải đăng ký GDBĐ, nhưng theo Luật Đất đai năm 2003 và NĐ 163 CP vẫn phải đăng ký giao dịch. Đăng ký GDBĐ với mỗi loại tài sản có thủ tục khác nhau, thậm chí cơ quan đăng ký cũng khác nhau…

Nhiều văn bản với nội dung không thống nhất, dẫn đến việc vận dụng thế nào cũng không sai. Khoảng 80 – 90 % tài sản bảo đảm các khoản vay của NH là nhà đất, mà những quy định liên quan đến nhà đất phức tạp, giấy tờ không thống nhất, văn bản được vận dụng khác nhau ở từng địa phương khiến cho NH tốn nhiều thời gian cho thủ tục và tăng chi phí. Hiện còn tồn tại quá nhiều loại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, các nội dung ghi trên giấy không thống nhất… ảnh hưởng đến yếu tố pháp lý trong bảo đảm tiền vay…

Ông Vũ Văn Trình – Trưởng Ban Tín dụng DN của NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận xét: Đăng ký giao dịch đối với quyền sử dụng đất và nhà ở đang bị điều chỉnh bởi 3 thông tư hướng dẫn, vì thế, cần gộp 3 thông tư này thành một thông tư duy nhất.

Tốn phí không nhỏ

Đại diện của NH Công thương cho biết, thời gian và chi phí cho GDBĐ gây tốn phí lớn làm mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của NH cũng như khách hàng. Bà Nguyễn Thị Kim Xuyến – Phó TGĐ NH Đông Á đề xuất: Cần thống nhất thời gian đăng ký để người dân chủ động. Nên áp dụng thời gian đăng ký giấy hồng, giấy đỏ là 1 ngày và giấy tờ cũ là 3 ngày.

Ông Trình cho biết, theo quy định, mức lệ phí là 60.000 đồng/giao dịch cầm cố thế chấp. Nhưng một số địa phương “vận dụng” mỗi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi liền với 1 đơn yêu cầu đăng ký thế chấp và thu mỗi đơn 60.000 đồng. Tại Phòng đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường HN, còn thu 60.000 đồng/đơn và 330.000 đồng tiền đăng ký thế chấp. Thu cắt cổ như vậy, nhưng NH biết kêu ai? Tất cả những chi phí này cuối cùng đổ lên đầu người đi vay.

Đại diện Habubank cho biết: Không hiếm đăng ký viên hành xử như công chứng viên, đặt ra những câu hỏi bất hợp lý như: Tại sao số tiền vay lớn? Mục đích vay là gì? Tại sao chia thành nhiều hợp đồng tín dụng mà không gộp thành một?… Thậm chí nhiều khoản thu không có hóa đơn hay phiếu thu. NH này kiến nghị: Bộ Tư pháp và các bộ ngành liên quan chỉ đạo kiên quyết và tăng cường kiểm tra các cơ quan đăng ký GDBĐ, cơ quan công chứng…

Tài sản tương lai bảo đảm thế nào?

Một vướng mắc tại hầu hết các NH là việc bảo đảm được hình thành trong tương lai. Ông Bùi Minh Khải – Phó Ban Pháp chế NH Đầu tư phát triển phân tích: Theo quy định của Luật Công chứng: “Đối tượng của giao dịch, hợp đồng là có thật” vẫn bị cơ quan công chứng hiểu nhầm là cái phải tồn tại, Điều này vô hình trung đã loại trừ các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, tài sản hình thành trong tương lai mà bộ Luật Dân sự và quy định về GDBĐ đều ghi nhận. Cần hiểu cái “có thật” là đối tượng của hợp đồng, giao dịch thực sự có chứ không phải các bên lập hợp đồng khống có tính chất lừa dối.

Ông Trần Dũng – Trưởng Ban Pháp chế của NHTMCP Sài Gòn cho biết: Luật quy định cụ thể về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, nhưng chưa quy định về việc bán tài sản hình thành trong tương lai. Như vậy, NH làm sao xửá lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ? Theo thủ tục hiện hành, việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai phải thực hiện công chứng và đăng ký GDBĐ đến 2 lần làm lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc cho Nhà nước, DN và khách hàng. Bà Nguyễn Thị Mười – Phó TGĐ Sài Gòn công thương NH đánh giá: Theo NĐ 163, bên nhận bảo đảm chưa thể có được sự bảo đảm an toàn về mặt pháp lý khi nhận tài sản này. Tài sản hình thành trong tương lai cho dù có được xác lập hợp pháp song luôn có nguy cơ rủi ro. Tháng 5/2007, Bộ Tư pháp đã yêu cầu các phòng công chứng cần linh hoạt khi xác định đâu là giấy tờ chứng minh quyền sở hữu vì điều này bất khả thi với việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, hiện nay yêu cầu công chứng đối với loại hợp đồng này vẫn bị đa số phòng công chứng từ chối thực hiện.

5 năm đã trôi qua kể từ khi triển khai thực hiện đăng ký GDBĐ, nhưng còn quá nhiều vấn đề bức xúc, phiền hà và lãng phí. Trách nhiệm trước hết từ cơ quan đăng ký GDBĐ trong việc sửa đổi, bổ sung, áp dụng thống nhất các quy định, cải cách hành chính và chấn chỉnh bộ máy.

Minh Châu

TRANH CHẤP VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

VŨ ÁNH DƯƠNG  – dddn.com.vn

Các bên:

  • Nguyên đơn: Một ngân hàng Pháp
  • Bị đơn: Một Cty Ma-rốc

Các vấn đề được đề cập:

1.Bảo đảm thực hiện hợp đồng

2. Bảo đảm độc lập

3. Bảo đảm phụ thuộc

4. Giám định kỹ thuật

Tóm tắt vụ việc:

Ngày 20/9/1982 một Cty xây dựng Pháp đã ký hợp đồng với một Cty Ma-rốc theo đó Cty Pháp sẽ xây dựng một khu liên hợp tại Ma- rốc với tổng trị giá công trình là 211.200.000 Frăng Pháp (FF) và 60.264.000 Dirhams. Hợp đồng này có điều khoản chọn trọng tài ICC. Cty xây dựng còn chấp nhận yêu cầu một ngân hàng Pháp phát hành bảo đảm thực hiện hợp đồng với trị giá 20% tổng trị giá hợp đồng. Ngày 9 tháng 11 năm 1982, ngân hàng Pháp, nguyên đơn trong vụ việc này, đã phát hành một thư bảo đảm thực hiện với trị giá tối đa là 54.575.438,16 FF, tức là 20% trị giá hợp đồng. Ngân hàng tuyên bố trong giấy bảo đảm rằng:

“Bằng việc khước từ quyền tranh luận và quyết định của mình, chúng tôi chấp nhận trả toàn bộ hoặc một phần trong khoản tiền nói trên trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của quý Cty (bị đơn), kèm theo một bản báo cáo chuyên môn được lập bởi một chuyên gia của Trung tâm Giám định kỹ thuật quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế”.

Hai bên thoả thuận với nhau là khoản tiền bảo đảm sẽ giảm xuống tương ứng với tiến độ hoàn thành công trình. Theo văn thư ngày 9/11/1984, mọi tranh chấp liên quan đến việc bảo đảm sẽ được đưa ra ICC.

Năm 1984, giữa nhà thầu Pháp và chủ dự án Ma-rốc đã xảy ra tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng và hai bên đã đưa tranh chấp này ra ICC giải quyết ngày 10/9/1985. Tố tụng trọng tài trong tranh chấp vẫn đang được tiến hành.

Ngày 10/10/1985, Cty Ma-rốc yêu cầu Trung tâm Giám định kỹ thuật quốc tế chỉ định một chuyên gia như yêu cầu trong thư bảo đảm năm 1984 của ngân hàng Pháp. Ngày 12/11/1985, trung tâm đã chỉ định một chuyên gia người Thuỵ Sỹ, và chuyên gia này đã trình báo cáo vào tháng 4/1986 trong đó có nêu rõ phần công việc chưa thực hiện của nhà thầu Pháp tương ứng với khoản bảo đảm thực hiện là khoảng 16.902.000 FF và 13.076.000 Dirhams.

Ngày 21/4/1986, Cty Ma-rốc yêu cầu ngân hàng Pháp trả khoản tiền mà chuyên gia đã ấn định. Ngày 2/5/1986, ngân hàng từ chối trả tiền và ngày 22/5/1986 đã khởi kiện ra trọng tài ICC.

Ngân hàng Pháp lập luận rằng bảo đảm cấp cho Cty Ma-rốc chỉ là một bảo đảm phụ thuộc và do đó nó phụ thuộc vào kết quả của trọng tài trong tranh chấp giữa Cty Pháp và Cty Ma-rốc. Ngân hàng cũng cho rằng ngay cả nếu bảo đảm này là bảo đảm chứng từ chỉ dựa trên yêu cầu duy nhất là báo cáo giám định thì báo cáo này cũng không hợp pháp vì việc lập báo cáo có gian lận. Cuối cùng, nguyên đơn cho rằng do có các khó khăn trong việc giải thích báo cáo, bảo đảm này không thể được tự động thanh toán.

Phía Cty Ma-rốc lại lập luận rằng báo cáo đã được lập theo đúng qui định và đáp ứng được các yêu cầu nêu trong thư bảo đảm, và rằng thư bảo đảm có giá trị độc lập. Cty này cũng kiện lại đòi được thanh toán khoản tiền mà chuyên gia đã ấn định(16.902.000 FF và khoản tiền tương đương với FF của 13.076.000 Dirhams), tiền lãi trên khoản tiền đó, phí trọng tài và phí cho báo cáo giám định và 1.500.000 FF để bù đắp cho các thiệt hại kinh tế đã phải gánh chịu.

 

Phán quyết của trọng tài:

A. Về khiếu kiện chính:

1. Bảo đảm độc lập hay bảo đảm phụ thuộc?

Các thuật ngữ dùng trong thư bảo đảm không rõ ràng. Thực tế, một mặt Ngân hàng sử dụng các từ như bảo đảm thực hiện đúng của Ngân hàng, bảo đảm liên đới, và khước từ quyền tranh luận và quyết định là đặc trưng của bảo đảm phụ thuộc. Mặt khác, Ngân hàng lại hứa sẽ thanh toán “trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của quý Cty (bị đơn), kèm theo một báo cáo của chuyên gia”.

Ngân hàng đưa ra ba điểm mà theo Ngân hàng thì có thể xác định tính chất phụ thuộc của bảo đảm đó. Thứ nhất, Ngân hàng viện dẫn rằng Ngân hàng đã hứa sẽ trả “toàn bộ hoặc một phần” khoản tiền nêu trong thư bảo đảm vì việc trả này phụ thuộc vào việc thanh toán khoản tiền chính mà Cty xây dựng có thể phải trả. Thứ hai, trị giá của bảo đảm này sẽ giảm tương ứng với tiến độ hoàn thành công trình. Và thứ ba, Ngân hàng cho rằng sự tồn tại của một điều khoản trọng tài nhằm giải quyết những khó khăn trong việc giải thích và thực hiện bảo đảm cho thấy bản thân bảo đảm đó không thể thực hiện tự động được.

Tuy nhiên, theo Uỷ ban Trọng tài ba khía cạnh này không đủ để xác định tính phụ thuộc hay tính độc lập của bảo đảm. Về điểm thứ nhất, hứa trả toàn bộ hay một phần là xuất phát từ thực tế Cty Ma- rốc có thể yêu cầu một khoản tiền nhỏ hơn tổng trị giá khoản bảo đảm. Về điểm thứ hai, việc trị giá bảo đảm giảm tương ứng với tiến độ hoàn thành công việc hoàn toàn không có mối liên hệ gì với tính độc lập hay phụ thuộc của bảo đảm. Về điểm thứ ba, việc đưa một điều khoản trọng tài vào hợp đồng để giải quyết các khó khăn trong việc giải thích hay thực hiện bảo đảm không có nghĩa là bảo đảm đó không độc lập. Ngược lại, nếu như hiệu lực của bảo đảm phụ thuộc vào kết quả trọng tài giữa Cty Ma-rốc và Cty Pháp thì đã không phải quy định cho nó một thủ tục trọng tài thứ hai. Việc trị giá bảo đảm giảm tương ứng với tiến độ hoàn thành công việc cũng đủ để có thể làm phát sinh những khó khăn cần đến Trọng tài.

Mặt khác, có một số thuật ngữ sử dụng trong bảo đảm lại thể hiện tính độc lập của bảo đảm này như hứa trả “trên cơ sở yêu cầu”.

Như vậy, trong trường hợp này người ta thấy có sự mâu thuẫn giữa các từ “bảo đảm hoàn thành” và “bảo đảm liên đới” với hứa trả “trên cơ sở yêu cầu”. Uỷ ban Trọng tài, do buộc phải lựa chọn giữa các từ ngữ mâu thuẫn này, và lấy làm tiếc là một ngân hàng mà lại để có tình trạng mâu thuẫn như vậy.

Sau khi xem xét, Uỷ ban Trọng tài cho rằng đây là một bảo đảm Ngân hàng dạng chứng từ, độc lập với nghĩa vụ chính và chỉ phụ thuộc vào yêu cầu xuất trình tài liệu. Thực tế, khi từ chối trả tiền vào ngày 2/5/1986, Ngân hàng đã không nêu lý do là các nghĩa vụ của mình phụ thuộc vào kết quả giải quyết tranh chấp giữa Cty Ma- rốc và Cty Pháp mà chỉ khẳng định rằng bảo đảm này “không thể thực hiện được”.

Quyết đinh này của Trọng tài căn cứ vào một số chi tiết sau đây:

Nếu đây không phải là một bảo đảm độc lập (tức là Ngân hàng chỉ bị ràng buộc với bảo đảm này sau khi tranh chấp giữa Cty Ma-rốc và Cty xây dựng Pháp đã được giải quyết) thì không thể giải thích tại sao lại có yêu cầu Cty Ma-rốc trình một báo cáo của chuyên gia để được nhận tiền bảo đảm từ phía Ngân hàng. Yêu cầu về bản báo cáo thực chất để tránh các yêu cầu đòi thanh toán bảo đảm vô căn cứ, chứ không đơn thuần chỉ là một bằng chứng “chính xác” về thiệt hại của Cty Ma-rốc mà Ngân hàng lập luận.

Thực tế, sự không rõ ràng trong các thuật ngữ được sử dụng cũng xuất phát từ thực tế đây là một giải pháp thoả hiệp giữa:

Một bảo đảm phụ thuộc theo nghĩa hẹp mà Ngân hàng đã gợi ý trong văn thư đề ngày 10/10/1984; phương thức này đã bị loại bỏ,

Một bảo đảm độc lập theo gợi ý đầu tiên của Cty Ma-rốc; phương thức này cũng bị loại bỏ.

Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ bảo đảm phụ thuộc (caution/surety) theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này, tức là cùng nghĩa với thuật ngữ bảo đảm (guarantee) theo nghĩa rộng, chứ không phải là theo nghĩa pháp lý đặc trưng của nó. Do đó, Ngân hàng không thể lập luận rằng văn thư ngày 9/11/1984 đã thiết lập một bảo đảm phụ thuộc.

Uỷ ban Trọng tài, cho rằng Ngân hàng trong trường hợp này đã lập một bảo đảm chứng từ cho Cty Ma-rốc hưởng lợi, đã quyết định rằng báo cáo do chuyên gia Thuỵ SĩÁ¤ lập là điều kiện cần và đủ, do chính Ngân hàng đặt ra, để thực hiện bảo đảm.

 

2.Về vấn đề gian lận hay không đúng quy định trong việc lập báo cáo:

Báo cáo giám định không hề nhằm tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp giữa công ty Ma-rốc và Cty Pháp; báo cáo này là nhằm tránh những yêu cầu trả tiền không có căn cứ của Cty Ma- rốc, thông qua việc nhờ một chuyên gia có thẩm quyền và trung lập xác định trị giá yêu cầu của Cty Ma-rốc đối vớiCty xây dựng Pháp, và dẫn tới việc thanh toán tự động khoản bảo đảm.

Báo cáo này không có mối liên hệ pháp lý với tố tụng trọng tài liên quan đến Cty xây dựng Pháp, bao gồm cả các trọng tài viên và các bên. Chuyên gia đã được chỉ định theo các yêu cầu trong thư bảo đảm và theo các quy tắc về giám định kỹ thuật nêu trong thư đó. Hơn nữa, không chỉ Ngân hàng mà cả Cty xây dựng Pháp đều được thông báo về việc chỉ định chuyên gia đó, chuyên gia này cũng đã đến gặp và nghe họ trình bày, đã đi thăm công trình thực địa và, theo yêu cầu của Cty Pháp, đã đến thăm một nơi khác tương tự. Vì thế trong việc lập báo cáo này không có gì là bất bình thường hay gian lận như đã từng thấy trong các vụ việc có liên quan đến bảo đảm ngân hàng. Vì vậy báo cáo này được chấp nhận.

3. Về vấn đề liệu các khó khăn trong việc giải thích báo cáo có làm cho bảo đảm trở thành không thể thực hiện được hay không:

Đây là lý do chính để Ngân hàng từ chối trả tiền bảo đảm với lập luận rằng những nhận xét của chuyên gia là không chính xác và rằng chuyên gia đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc giải thích các điều khoản của hợp đồng, và rằng các kết luận trong báo cáo của chuyên gia chỉ mang tính giả thiết.

Trong vấn đề này cần xem lại những phân tích về bản chất của bảo đảm. Về mặt nguyên tắc, việc trình một báo cáo được lập bởi một chuyên gia được chỉ định theo đúng thoả thuận của các bên phải được coi là đủ để thực thi một bảo đảm của ngân hàng, dĩ nhiên với điều kiện là các kết luận của chuyên gia không trái với các viện dẫn của Cty Ma-rốc. Về mặt hình thức, nếu chuyên gia kết luận là không tồn tại quyền được hoàn trả thì yêu cầu của Cty Ma-rốc cũng không thể được đáp ứng. Ngược lại, sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng, chuyên gia đã xác định chính xác trị giá các yêu cầu có thể của Cty Ma- rốc, và Cty Ma-rốc đã nêu khoản tiền này trong yêu cầu của mình.

Hơn nữa, kết luận mà chuyên gia đưa ra không phải là các giả thiết; chuyên gia đã phân loại các đánh giá và nhận xét thành ba loại khác nhau và cũng nhấn mạnh rằng các đánh giá của mình có thể thay đổi nếu tình hình thay đổi. Vì vậy, báo cáo của chuyên gia là hoàn toàn rõ ràng và minh bạch, các kết luận trong đó không hề mang tính giả thiết như lập luận của nguyên đơn.

B. Về đơn kiện lại:

Từ các phân tích nêu trên có thể thấy bị đơn, Cty Ma-rốc, có quyền yêu cầu thực hiện bảo đảm và hơn nữa, nguyên đơn, Ngân hàng Pháp, phải bồi thường cho những thiệt hại phát sinh trực tiếp từ việc từ chối không thực hiện bảo đảm. Về vấn đề này, bị đơn đã có căn cứ khi yêu cầu các khoản tiền sau đây ngoài khoản tiền do chuyên gia xác định:

Tiền lãi trên số tiền nêu trên, bắt đầu tính từ ngày có thông báo yêu cầu trả tiền bảo đảm chính thức bằng thư bảo đảm ngày 21/4/1986; tiền lãi này được tính toán theo luật của Pháp với lãi suất 9,5%/năm.

Tiền bồi thường cho những thiệt hại vật chất và hệ quả của cùng nguyên nhân mà bị đơn phải chịu, độc lập với việc trì hoãn thực hiện khoản bảo đảm.

Uỷ ban Trọng tài xác định tổng số tiền thiệt hại phát sinh là 1.300.000 FF.

Bị đơn không có cơ sở để yêu cầu nguyên đơn thanh toán các chi phí cho báo cáo giám định bởi chính Cty phải chịu chi phí này nếu Cty muốn được trả bảo hiểm.

Về phí trọng tài (phí hành chính cho ICC và thù lao cho các trọng tài viên), Uỷ ban Trọng tài xác định các chi phí này sẽ được thanh toán theo tỷ lệ sau đây:

Ngân hàng Pháp, nguyên đơn chịu 3/4

Công ty Ma-rốc, bị đơn chịu 1/4.

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở

Ngày 21/5, các bộ Tư pháp, Xây dựng, Tài nguyên – Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở. Xin giới thiệu nội dung văn bản.

Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN ngày 21-5-2007 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên – Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 36/2003/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;

Căn cứ Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm,

Nhằm đảm bảo thống nhất trong việc thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng nhà ở, Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở như sau:

1. Việc đăng ký thế chấp nhà ở được thực hiện khi có yêu cầu của một trong các bên hoặc các bên ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở. Trong trường hợp đăng ký thế chấp nhà ở theo quy định của pháp luật về phá sản thì người yêu cầu đăng ký có thể là Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản.

Người yêu cầu đăng ký thế chấp nhà ở có thể là người được bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp uỷ quyền theo quy định của pháp luật dân sự.

Trong trường hợp đăng ký thế chấp nhà ở cùng với quyền sử dụng đất ở thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đồng thời việc đăng ký thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

2. Trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp nhà ở đối với những trường hợp quy định tại khoản 1 của Thông tư này được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT), Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT) và theo hướng dẫn tại Thông tư này.

3. Khi nhận được hồ sơ yêu cầu đăng ký thế chấp nhà ở hợp lệ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp vào sổ địa chính và sổ theo dõi biến động đất đai.

Trong trường hợp thế chấp nhà ở nhưng trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở chưa ghi đầy đủ thông tin về đất ở hoặc chưa có thông tin về thửa đất nơi có nhà ở đó trong hồ sơ địa chính thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ghi nội dung đăng ký thế chấp vào Sổ đăng ký thế chấp nhà ở theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

4. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không ghi nội dung đăng ký thế chấp, chỉnh lý việc đăng ký thế chấp, xoá đăng ký thế chấp trên các loại giấy tờ sau đây và cũng không lập trang bổ sung đính kèm theo các loại giấy tờ sau đây:

a) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị;

b) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng;

c) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

5. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc đăng ký thế chấp nhà ở cho cơ quan có chức năng quản lý nhà ở nơi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo thủ tục quy định tại điểm 12.3 khoản 12 của Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT.

6. Tổ chức, cá nhân có quyền tìm hiểu thông tin về thế chấp nhà ở đã đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định tại mục VII Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.

7. Tổ chức thực hiện

7.1. Thông tư này có hiệu lực sau mười lăm (15) ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

7.2. Quy định tại khoản 4 của Thông tư này thay thế các quy định về đăng ký thế chấp và đính chính việc đăng ký thế chấp trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất nêu tại các điểm 4.1 khoản 4 mục III, điểm 4.1 khoản 4 mục IV, điểm 3.1 khoản 3 mục VI và điểm 4.1 khoản 4 mục VII của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT; các khoản 8, 9 và 10 của Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT.

7.3. Các hợp đồng thế chấp nhà ở đã được đăng ký theo quy định của pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành không phải đăng ký lại theo hướng dẫn tại Thông tư này.

7.4. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc thì cá nhân, tổ chức phản ánh kịp thời về Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để nghiên cứu, giải quyết.

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ XÂY DỰNG
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Tống Văn Nga

  KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Đinh Trung Tụng

KT. THỐNG ĐỐC
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
PHÓ THỐNG ĐỐC
(Đã ký)

Nguyễn Đồng Tiến

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Phạm Khôi Nguyên

 

SOURCE: DDDN.COM.VN

CỬA HÀNG THƯƠNG MẠI: MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ ĐỂ CHUYỂN DỊCH TÀI SẢN

VŨ MINH HỒNG – Uỷ ban TƯ Mặt trận TQ VN

Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại (TM), Luật Sở hữu trí tuệ, và Bộ luật Hàng hải là bốn đạo luật hết sức thiết thân và quan trọng đối với mọi thể nhân và pháp nhân kinh doanh (doanh nhân). Ở VN hiện nay, chúng ta thiếu các thể chế pháp lý vi mô là các quy định pháp lý liên quan đến năng lực chiếm hữu tài sản và năng lực dịch chuyển tài sản cần cấp thiết xây dựng, nhằm tạo ra nguồn lực tài sản mới đuợc giao dịch an toàn, dựa trên các dịch chuyển pháp lý như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh đối với động sản, bất động sản, quyền đối với động sản, bất động sản, trong đó quan trọng là động sản vô hình, tài sản đặc biệt trong hoạt động TM.

Do phạm vi bài viết, tôi kiến nghị bổ sung quy định về cửa hàng thương mại (CHTM) mà chế định về giao dịch bảo đảm trong Luật Dân sự sửa đổi (mục 5), Luật TM sửa đổi, Luật Sở hữu trí tuệ (mới) hiện nay không quy định cụ thể chúng sẽ được dịch chuyển pháp lý ra sao. Đây là một bỏ ngỏ của pháp luật dân sự – TM.

Về phương diện pháp lý, tài sản bao hàm cả quyền tài sản, với hai thuộc tính của tài sản là vật và quyền đối với vật.Tài sản luôn là đối tượng giao dịch trong nền kinh tế thị trường, gồm:

– Bấtđộng sản: đất đai và các vật gắn liền với nó một cách vững chắc, khó tháo rời;

– Động sản: động sản hữu hình (vật có thực); động sản vô hình (tài sản xã hội như sự tin cậy, quen biết, kinh nghiệm; tài sản trí tuệ như sáng chế, bản quyền, nhãn mác…);

– Quyền tài sản: quyền đối với bất động sản và động sản: cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh … (vật quyền), và cầm giữ tài sản, cho thuê lại, khiếu nại … (trái quyền).

Như chúng ta biết, bất động sản, các động sản đặc biệt như tàu bay, tàu biển, nhất là các quyền tài sản, chúng tạo ra các giá trị lớn trong thương mại thông qua các dịch chuyển pháp lý – giao dịch bảo đảm là chính, chứ ít ở dạng giao dịch mua bán.

CHTM (động sản vô hình) là đối tượng giao dịch TM:

a. Thực tiễn về giao dịch CHTM:

Thị trường với đặc trưng là hoạt động giao dịch của mọi thực thể thị trường và bán thị trường, nơi diễn ra các hành vi của các thể nhân, pháp nhân và một số thực thể có giới hạn năng lực, nhằm tìm kiếm lợi nhuận và các lợi ích công phi lợi nhuận. Đối tượng của giao dịch thị trường là tài sản và các lợi ích có giá trị. Trong chuỗi vận động hàng hoá thị truờng thì vận chuyển và cung ứng cho các đại lý bán buôn và bán lẻ là các hoạt động sôi động nhất, tham gia và góp phần chính yếu cho hoạt động sôi động đó chính là các CHTM. Hàng hoá chỉ là một trong những yếu tố của toàn bộ sản nghiệp TM của doanh nhân mà thôi, và cũng chưa phải là yếu tố quan trọng. Điều quan trọng lại nằm ở việc doanh nhân đó thủ đắc CHTM ra sao.Khi thị phần bán sản phẩm mở rộng hoặc teo lại thì số phận của Cty và CHTM sẽ thay đổi, doanh nhân phải tính tới số phận của CHTM: bán, cho thuê lại, sáp nhập nhiều CHTM với nhau, sáp nhập vào Cty, đem thế chấp…

Điều quan tâm của mọi doanh nhân có CHTM không chỉ là cửa hàng đó bán gì, doanh thu ra sao, mà là có thể dịch chuyển pháp lý tài sản (mua bán và bảo đảm) từng yếu tố trong toàn bộ sản nghiệp của CHTM đó hoặc dịch chuyển pháp lý toàn bộ sản nghiệp của CHTM đó ra sao: có an toàn, có đảm bảo lợi ích hay không.

Luật sư Nguyễn Hữu Danhcho biết: “Cách đây khoảng 10 năm, báo chí đưa tin một Cty nước ngoài nhận chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S với giá 1 triệu USD; tại Sài Gòn trước 1975, giá chuyển nhượng một CHTM rất cao, cao hơn nhà ở gấp 10 lần… Có ý kiến cho rằng Luật TM của ta không quy định CHTM vì không định lượng khách hàng được? điều quan trọng là CHTM có uy tín, tất yếu sẽ có lượng kháchhàng nhất định”.

Thật đáng suy nghĩ khi gần như cả hệ thống pháp luật dân sự-TM đang được sửa đổi lại không hề tính đến đời sống dịch chuyển tài sản của các doanh nhân có CHTM.

b. Tài sản trong CHTM gồm có:

– Tài sản với tính vật, có thực: các phương tiện vận chuyển, thiết bị, máy móc, hàng hoá, dụng cụ, khí cụ.

– Tài sản có giá trị khác (thường chứng minh địa vị pháp lý): giấy chứng nhận đăng ký cửa hàng, biển hiệu, tài khoản, biên lai thuế, giấy đăng ký chi nhánh (nếu có), giấy phép kinh doanh mặt hàng đặc biệt (nếu có),…

– Tài sản không có tính vật (vô hình) không được mã hoá, nhưng có giá trị: danh sách khách hàng, sự tin cậy, uy tín thương mại, kinh nghiệm cá nhân, …

– Tài sản trí tuệ (vô hình) được mã hoá: bản quyền tác giả, sáng chế, nhãn mác hàng hoá, giải pháp hữu ích, chỉ dẫn địa lý, chuyển giao công nghệ…

– Tài sản có tính chất quyền (quyền tài sản): hợp đồng thuê cửa hàng, giấy sở hữu cửa hàng, quyền thuê cửa hàng (đất/mặt bằng/không gian), quyền thuê nhân công.

 

c. Tính cách pháp lý giao dịch của CHTM:

– CHTM là đối tượng của hai loại giao dịch tài sản chính gồm mua bán và bảo đảm, nghĩa là chủ của CHTM có thể đem toàn bộ sản nghiệp của mình đi bán hoặc thế chấp hoặc chỉ dùng một vài yếu tố tài sản trong cả sản nghiệp của CHTM để bán hoặc thế chấp, nhằm có một khoản tài chính hay để thực hiện nghĩa vụ.

– CHTM, trong đó một số yếu tố như khách hàng, uy tín thương mại – là hai yếu tố năng động có giá trị kinh tế lớn nhất trong chuỗi giá trị của một sản nghiệp thương mại bằng cách giao dịch mua bán hoặc giao dịch bảo đảm, tạo nên giá trị cao hơn, mới hơn cho thương hiệu của một doanh nhân, làm tăng trưởng các giá trị tài sản trong một DN.

Điều chỉnh thế nào về hai loại giao dịch CHTM: mua bán và bảo đảm

a. Tham khảo Bộ luật Thương mại Sài Gòn:

– Tại chương 3. “Các CHTM”. Điều 42: “CHTM gồm toàn thể tài vật, động sản họp thành một khối đem sung dụng vào một hoạt động thương mại. CHTM gồm có khách hàng là yếu tố chính và, trừ phi có điều khoản trái lại, tất cả những tài vật khác cần thiết cho sự khai thác cửa hàng, như bảng hiệu, thương hiệu, quyền thuê mướn,…; nhãn hiệu chế tạo, hình vẽ và kiểu mẫu, quyền sở hữu văn nghệ và mỹ thuật.”

– Điều 47 nói lên yếu tố khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong toàn bộ sản nghiệp mà một CHTM có.

– Điều 44 chỉ ra phạm vi áp dụng đối với CHTM.

b. Kiến nghị môi trường pháp luật đối với giao dịch tài sản là CHTM:

CHTM là đối tượng của hai loại giao dịch phổ thông là mua bán và bảo đảm, vậy, các dịch chuyển pháp lý về mua bán và bảo đảm sẽ diễn ra thế nào đối với CHTM?

i. Bộ luật Dân sự quy định nguyên tắc giao dịch mua bán và giao dịch bảo đảm, và nguyên tắc đăng ký đối với bất động sản và động sản và các quyền tài sản;

ii. Luật Bất động sản và Luật Động sản quy định chi tiết mọi giao dịch về bất động sản và động sản; quy định chi tiết về thủ tục đăng ký mua bán và đăng ký bảo đảm.

iii. Luật Thương mại (nếu giao dịch sở hữu trí tuệ đặt trong tổng thể giao dịch thương mại) sẽ quy định cụ thể thủ tục đăng ký khác nhau:

– Dịch chuyển pháp lý mua bán CHTM trong cả hai trường hợp: mua bán yếu tố chính trong CHTM, hoặc mua bán toàn bộ sản nghiệp của CHTM;

– Dịch chuyển pháp lý bảo đảm đối với CHTM trong cả hai trường hợp: bảo đảm yếu tố chính trong CHTM, hoặc bảo đảm toàn bộ sản nghiệp của CHTM;

iv. Luật Sở hữu trí tuệ (nếu tách khỏi Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại) sẽ quy định thủ tục đăng ký chi tiết dịch chuyển pháp lý (mua bán và bảo đảm) đối với các tài sản vô hình là yếu tố thuộc trí tuệ sau khi đã được mã hoá, tách ra khỏi toàn bộ sản nghiệp thương mại của CHTM.

v. Bộ luật Hàng hải quy định thủ tục riêng về mua bán tàu biển và thế chấp tàu biển. Các tài sản khác thuộc hàng hải sẽ được dịch chuyển pháp lý thông qua hệ thống pháp luật liên quan đến giao dịch tài sản.

vi. Luật Hàng không dân dụng quy định thủ tục riêng về mua bán máy bay và thế chấp máy bay. Các tài sản khác thuộc hàng không sẽ được dịch chuyển pháp lý thông qua hệ thống pháp luật liên quan đến giao dịch tài sản.

Tuy nhiên, với môi trường pháp lý như vậy, rất khó tránh khỏi sự chồng lấn, làm khổ doanh nhân và làm rắc rối thêm hoạt động giao dịch tài sản. Nếu chúng ta có Bộ luật Dân sự, Bộ luật Thương mại, Luật Bất động sản và Luật Động sản (trong đó có chế định đăng ký quốc gia thống nhất tài sản) thì mọi giao dịch tài sản đều có đủ căn cứ áp dụng giải quyết. Các luật đặc thù trên các lĩnh vực có tài sản giao dịch mà hoạt động giao dịch tài sản đó có quan hệ bắt buộc với pháp luật công như hàng hải, hàng không, thì dựa trên bốn đạo luật kể trên để có nghị định cụ thể về thủ tục đăng ký đặc thù ngành, lĩnh vực.

SOURCE: DDDN.COM.VN

MUA NHÀ, CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: SƠ SUẤT NHỎ HẬU QUẢ LỚN

ĐÀO THIỆN – DDDN.COM.VN

Sau 8 ngày nghỉ để nghị án, Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ sẽ tuyên án vụ tranh chấp hợp đồng (HĐ) mua bán nhà đất giữa nguyên đơn (ông Phạm Hùng Lân), bị đơn (ông Bùi Hữu Hùng). Vụ án này là một kinh nghiệm thực sự cần thiết đối với những người muốn tránh những rủi ro khi thực hiện loại giao dịch này.

Ký Hợp đồng – căn nguyên rủi ro

Trong vụ án này, người bán – ông Phạm Hùng Lân là cán bộ thi hành án quận Tây Hồ, rất am hiểu pháp luật; người mua – ông Bùi Hữu Hùng, là họa sỹ, trình độ pháp luật chỉ ở mức phổ thông. HĐ mua bán được ông Lân tự tay viết, chỉ có một bản duy nhất, chỉ có chữ ký của ông Lân và vợ là bà Phạm Bích Hằng. HĐ được giao cho người mua giữ. Thời điểm ký HĐ: ngày 11/6/2001. Nội dung HĐ: ông Phạm Hùng Lân bán cho ông Bùi Hữu Hùng mảnh đất diện tích 130 m2 tại Thôn Đông Nhật Tân, Tây Hồ, Hà Nội với giá 190 cây vàng 9999. Ngày 11/6/2001 ông Hùng đã đặt cọc trước 100 cây vàng. Hẹn khi nào ông Lân giải tỏa xong căn lều trước mặt mảnh đất, ông Hùng sẽ trả nốt 90 cây vàng còn lại. Ông Hùng đã giao đủ 100 cây vàng, ông lân dã giao cho ông Hùng toàn bộ giấy tờ thuế nhà đất hàng năm cho ông Hùng. Số giấy tờ còn lại liên quan đến mảnh đất trên, sau khi ông Hùng trả nốt tiền, ông Lân sẽ bàn giao gồm: HĐ mua bán nhà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tờ khai nộp lệ phí trước bạ, trích lục bản đồ, biên lai thu lệ phí trước bạ. Hai bên đã thỏa thuận miệng về thời hạn giải phóng căn lều và hoàn tất thủ tục mua bán là 3 tháng kể từ ngày ký HĐ. Tự tin vì đã mua bán một cách ngay thẳng và đã trả tới hơn ½ giá trị hợp đồng, chỉ vài ngày sau đó, ông Hùng đã chuyển toàn bộ xưởng vẽ của mình đến mảnh đất nói trên và xưởng vẽ hoạt động suốt từ đó đến nay. Quá tin tưởng vào trình độ pháp luật của người bán, ông Hùng đã chấp nhận một giao dịch mang nhiều rủi ro cho chính mình.

Cùng một mảnh đất, bán cho 2 người

Sau gần 3 tháng chờ đợi vẫn không thấy người bán có ý định thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong HĐ, ông Bùi Hữu Hùng đã tìm cách gặp lại được người bán. Tại các cuộc gặp ngày 16 và 17/8/2001, Phạm Hùng Lân vẫn khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện HĐ và xin lùi thời hạn hoàn tất các nghĩa vụ của mình thêm một thời gian. Vì vậy, ngày 16/8, Lân chỉ trả lại cho ông Hùng 800 USD tiền thừa trong số 33 ngàn USD ông Hùng đã thanh toán cho Lân, để số tiền còn lại tương đương với 100 cây vàng 9999. Ngày 17/8, Lân ký xác nhận việc trả lại số tiền này. Trong phần thẩm vấn tại phiên tòa ngày 30/12/2003, một sự thật đã được làm sáng tỏ, đó là: cũng chính vào ngày 17/8/2003 Lân đã ký HĐ bán tiếp chính mảnh đất này cho người mua thứ hai là bà Phùng Thị Ánh Vân với giá 1.560 triệu đồng. HĐ này không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Sau đó, ngày 1/10/2003 để đối phó với việc ông Bùi Hữu Hùng đã chuyển xưởng vẽ của mình đến và đang quản lý ổn định khu đất trên, Phạm Hùng Lân và bà Vân ký tiếp một HĐ mua bán mảnh đất này để hợp thức hóa trước chính quyền. Theo HĐ này, giá trị mảnh đất chỉ có 540 triệu đồng và được Ủy Ban nhân dân Phường Nhật Tân xác nhận.

Cơ quan Pháp luật nói gì?

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tập trung làm rõ tính chất của HĐ giữa Phạm Hùng Lân với người mua thứ nhất (ông Hùng) là HĐ mua bán hay HĐ đặt cọc. Qua thẩm vấn cho thấy, ông Hùng đã thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong HĐ là đã trả trước 100 cây vàng 9999. Người bán cũng đã thực hiện nghĩa vụ của mình là bàn giao một loại giấy tờ gốc (biên lai thu thuế nhà đất), bản sao bộ hồ sơ về quyền sử dụng đất. Bản chính bộ hồ sơ này các bên thỏa thuận người bán giữ để thực hiện nốt nghĩa vụ hòan tất thủ tục mua bán nhà đất. Đây chính là những điểm cơ bản để kết luận HĐ nói trên là HĐ mua bán chứ không phải là HĐ đặt cọc. Bày tỏ quan điểm trong phần tranh luận tại phiên tòa, ông Phạm Chương Dương, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát quận Tây Hồ lại cho rằng HĐgiữa Phạm Hùng Lân với người mua thứ nhất tuy là HĐ mua bán nhưng vô hiệu vì các lẽ sau: Không đáp ứng được các điều kiện quy định tại điều 443 Bộ luật Dân sự về hình thức HĐ (không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận). Mặt khác, mặc dù HĐ quy định thanh toán bằng vàng nhưng thực tế hai bên đã thanh toán bằng USD, tức là đã vi phạm chế độ quản lý ngoại hối của nhà nước. Do đó, cần hủy bỏ hiệu lực của HĐ này. Đối với giao dịch giữa người bán và người mua thứ hai (bà Ấnh Vân), vị đại diện Viện kiểm sát đã bỏ qua, không nhắc một lời nào về bản HĐ trị giá 1.560 triệu đồng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền mà chỉ xét bản HĐ ký ngày 1/10/2001, có UBND Phường nhật Tân xác nhận. Theo vị đại diện VKS, HĐ này là hợp pháp vì đáp ứng điều kiện quy định về mặt hình thức tại điều 443 Bộ luật dân sự. Vì vậy, yêu cầu ông Bùi Hữu Hùng dỡ bỏ nhà xưởng, giao lại khu đất cho người mua thứ hai; kiến nghị Tòa án cho phép người bán, người mua thứ hai được hoàn tất mọi thủ tục còn lại về nhà đất.

Bài học pháp lý về vụ kiện

Về HĐ kýngày1/6/2001 giữa người bán và người mua thứ nhất (ông Bùi Hữu Hùng), Luật sư Đào Ngọc Lý, đoàn luật sư TP Hà Nội cho rằng: đây là một HĐ mua bán hòan toàn hợp pháp. Kết luận này dựa vào các căn cứ: Thứ nhất: dây là sự thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp giữa người bán, người mua. Thứ hai: điều quan trọng nhất là có một sự thống nhất chặt chẽ giữa ý thức chủ quan (thể hiện trong HĐ) với hành vi khách quan của các bên. Đó là việc các bên đã, đang thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo cam kết trong HĐ. Người mua đã thực hiện việc thanh toán tiền lần một, đã nhận một loại giấy tờ gốc. Thời điểm chuyển giao quyền sử dụng mảnh đất này được tính từ khi ông Hùng chuyển xưởng vẽ của m ình đến hoạt động tại mảnh đất này và ông Lân không phản đối. Người bán (ông Lân) đã nhận tiền thanh toán đợt một của người mua, đã đồng ý để người mua chuyển xưởng vẽ đến, đã giữ bộ hồ sơ đất (bản chính) để thực hiện tiếp nghĩa vụ hoàn tất thủ tục pháp lý việc mua bán này. Việc HĐ không thực hiện được đến cùng, thủ tục mua bán không hoàn tất được, hoàn toàn do lỗi của người bán. Xuất phát từ quan điểm này, việc HĐ được lập thành một hay nhiều bản và chưa được cơ quan thẩm quyền xác nhận chỉ là thủ tục cần được tạo điều kiện để các bên tiếp tục hoàn tất. Về HĐ giữa người bán với người mua thứ 2 (bà Ánh Vân), luật sư Lý cho rằng có đủ căn cứ kết luận là HĐ vô hiệu. Bởi lẽ: có sự gian dối trong ký kết. Vào cùng một ngày, người bán vừa xác nhận việc vẫn giữ 100 cây vàngcủa người mua thứ nhất vừa ký HĐ bán chính mảnh đất đó cho người mua thứ hai lấy 1.560 triệu đồng. Mặt khác trong lời khai còn lưu giữ trong hồ sơ vụ áncho thấy ngưới mua thứ hai có biết việc mua bán của người mua thứ nhất nhưng vẫn ký HĐ mua mảnh dất này vì giá rẻ. Một sự gian dối khác là: với chính quyền Phường Nhật Tân, người bán, người mua đã ngụy tạo nên một HĐmới mà giá trị chênh lệch với HĐ cũ đã giảm đi tới 1.020 triệu đồng gây nên một khoản thất thu cho Ngân sách. Xét riêng HĐ giữa người bán với người mua thứ hai đã được UBND phường Nhật Tân xác nhận, Luật sư Đào Ngọc Lý đã phát hiện rằng, cơ quan này đã không thực hiện đúng các thủ tục luật pháp yêu cầu về việc xác nhận này; đã không xem xét hiện trạng mảnh đất trên thực tế, không niêm yết công khai hoặc đăng báo trước khi xác nhận. Vì vậy việc xác nhận này không thể được coi là có giá trị pháp lý.

Bác lại luận điểm của ông Phó viện trưởng VKSND quận Tây Hồ, Luật sư Đào Ngọc Lý đã dẫn chứng những quy định của ngành Tòa án để khẳng định cần phải căn cứ vào quy định vềthanh toán trong chính HĐ chứ không căn cứ vào việc các bên thực tế thanh toán với nhau bằng đồng tiền nào. Vì vậy ông cho rằng kết luận thiếu căn cứ của vị đại diện VKS là không thể chấp nhậnđược. Từ những phân tích cặn kẽ về các khía cạnh pháp lý của vụ kiện, vị luật sư này kiến nghị Hội đồng xét xử kết luận HĐ giữa người bán với người mua thứ nhất là hợp pháp , cho tiếp tục thực hiện; HĐ giữa người bán với người mua thứ hai là HĐ vô hiệu. Việc giải quyết hậu quả HĐ vô hiệu sẽ được xem xét tùy thuộc mức độ lỗi của các bên. Mặc dù là phiên tòa dân sự nhưng vị Luật sư này vẫn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi lừa đảo rõ ràng của người bán đối với những người mua.

Từ những sơ xuất nhỏ đã dẫn đến những thiệt hại vật chất lớn, kéo dài. Đây là bài học cần thiết không chỉ với những người trong cuộc.

HÌNH SỰ HÓA QUAN HỆ DÂN SỰ, KINH TẾ: LỖI KHÔNG CHỈ THUỘC VỀ CƠ QUAN TỐ TỤNG

TRẦN MINH SƠN – Bộ Tư pháp

Một nhà DN đã nói: Mỗi lần nghe tiếng còi xe Cảnh sát hú ngoài đường,tôi lạigiật mình thon thót mặc dù không làm gì nên tội.

Hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế không chỉ là tình trạng những tranh chấp dân sự hoặc kinh tế đáng lẽ phải được xử lý theo pháp luậtdân sự, kinh tế lại bị xử lý theo pháp luật hình sự. Ngược lại, còn là tình trạng các vụ án hình sự được chuyển sang giải quyết theo pháp luật dân sự hoặc kinh tế.

Chỉ tính riêng trong một năm và chỉ tính riêng công tác giám đốc xét xử án hình sự của Toá án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) thì Chánh án, Phó chánh án, Viện trưởng, Phó viện trưởng đã kháng nghị 48 vụ án có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thuộc ba loại tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng trái phép tài sản. Uỷ ban thẩm phán và Toà hình sự TANDTC mới xét xử giám đốc thẩm được 33 vụ thì 8 vụ các bị cáo bị xử phạt tù oan, họ không phạm tội hình sự. Mộtđơn vị làm công tác giám đốc của TANDTC chỉ giám đốc những vụ án đã trải qua nhiều giai đoạn tố tụng của nhiều cấp, nhiều ngành (Công an, Kiểm sát, Toà án) mà một năm đã giải oan tới 8 vụ, vậy còn lại 3 Toà Phúc thẩm TANDTC, 61 Toà án tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương làmcả công tácxét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm đối với án củagần 600 Toà án cấp huyện đã giải oan được bao nhiêu? Và còn bao nhiêu số oan chưa được giải?

Xu hướng ngược lại là phi hình sự hoá, nhiều vụ vi phạm pháp luật về chiếm đoạt tài sản nhà nước, tài sản tập thể, tài sản công dân… đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chỉ bị xử lý hành chính, hoặc theo tố tụng dân sự hoặc cố ý bỏ qua không xử lý gì.

Nguyên nhân của tình trạng trên là:

Thứ nhất là từ các quy định của pháp luật. Sự thiếu rõ ràng trong các quy định của pháp luật dẫn tới hiện tượng hiểu sai và áp dụng sai pháp luật hoặc dựa vào đó một số cơ quan tố tụng cố tình hiểu sai, áp dụng sai pháp luật.

Thứ hai từ phía cơ quan tiến hành tố tụng: đó là trình độ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu; lực lượng cán bộ, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán thiếu; ý thức đạo đức của cán bộ chưa cao.

Thứ ba từ phía các DN: cơ chế kinh tế thị trường chuyển đổi quá nhanh làm cho những người quản lý DN không theo kịp về nhận thức và năng lực. Nhiều giám đốc DN thiếu kiến thức cơ bản về pháp luật và kinh doanh, chưa thích nghi kịp với quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường. Tại TP HCM trong số 22 giám đốc bị truy tố, có một người học vấn lớp 4, một người học vấn lớp 5, hai người học vấn lớp 6. Theo số liệu của Bộ KH-CN thì khu vực quốc doanh có khoảng 30% số giám đốc DN không được đào tạo có hệ thống, không có bằng cấp, không am hiểu luật lệ kinh doanh. Có lẽ vì thế nhiều DN đã đòi nợ theo kiểu “luật rừng”, cũng không hiếm trường hợp do quá bức xúc về nguy cơ mất tài sản nên chủ nợ đã tố giác hành vi của con nợ không đúng với bản chất sự việc.

Giải pháp khắc phục:Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông dân sự, kinh tế, đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho công dân. Pháp luật phải thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để cho mọi tổ chức cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, tăng cường hiệu lực hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật: các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong kiểm tra giám sát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; phát huy vai trò tích cực của các cơ quan tài phán trong việc giải quyết các tranh chấp mang yếu tố tài sản; tăng cường vai trò của cơ quan thi hành án để các bản án, quyết định của toà án, trong tài có hiệu lực thực hiện trong thực tế. Thứ ba, thiết lập cơ chế kiểm tra giám sát thích hợp đối với các hoạt động của DN để không buông lỏng quản lý đối với DN và không can thiệp sâu vào các hoạt động kinh doanh hợp pháp của DN. Thứ tư, đào tạo đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật vừa giỏi chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh nghề nghiệp. Chính quy hoá đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán. Thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao chuyên môn cho đội ngũ cán bộ.Thứ năm, đẩy mạnh công tác giáo dục, phổ biến pháp luật cho công dân.

dddn.com.vn

BỒI THƯỜN OAN SAI: SAO VẪN… SAI?

BÁ TÚ

Khi cá nhân, tổ chức bị cơ quan nhà nước xâm phạm thì liệu Nhà nước có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như những chủ thể thông thường khác hay không? Thực tế lập pháp trên thế giới đã trả lời “có”. Nhưng…

Người dân và DN sai phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật, còn cơ quan chức năng biết sai lại “né” trách nhiệm thì sao?

Hành lang pháp lý chưa đủ rộng

Mặc dù, thời gian qua hành lang pháp lý cho việc bồi thường trách nhiệm nhà nước đã được Nhà nước chú ý xây dựng như Nghị quyết số 47/CP ngày 3/5/1997 về giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, hay Nghị quyết số 388/2003/NQ của UB Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chế định pháp luật này chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra nhằm điều chỉnh một cách toàn diện, hợp lý các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của nhà nước.

TS Dương Đăng Huệ – Vụ trưởng Vụ Pháp luật Kinh tế (Bộ Tư pháp) cho rằng: Luật Bồi thường Nhà nước nên áp dụng cơ chế bồi thường đối với tất cả những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp. Theo ông Huệ, cần quy định thủ tục thương lượng là thủ tục được khuyến khích thực hiện, nhưng bên cạnh đó, quyền khởi kiện ngay ra Toà án vẫn được luật quy định.

Đơn cử như vụ việc bồi thường cho ông Hoàng Minh Tiến là một điển hình cho việc thương lượng không thành công. Ông Tiến đã được xác định rõ VKSND TP Hà Nội có sai phạm đối với ông và phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khi ông Tiến yêu cầu bồi thường 4 tỷ đồng cho 13 khoản thiệt hại thì qua thương lượng VKSND Hà Nội chỉ chấp nhận bồi thường 27,9 triệu đồng về tinh thần cho 403 ngày tạm giam của ông Tiến. Còn lại tất cả các khoản thiệt hại khác cùng yêu cầu trả lại ngôi nhà số 6/295 Bạch Mai, TP Hà Nội đều bị VKSND Hà Nội bác bỏ.

Theo ông Nguyễn Tuấn Khanh – Viện Khoa học thanh tra: Việc thương lượng giữa người bị oan với cơ quan có trách nhiệm bồi thường đều không đạt được kết quả như mong muốn và tốn rất nhiều thời gian. Cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại thường uỷ quyền cho một cán bộ chuyên môn và chỉ có thể thoả thuận mức bồi thường thấp hơn mức quy định. Điều này không đúng với bản chất của việc thương lượng.

Nên cơ quan thi hành vẫn cố tránh lỗi

Vụ án hình sự oan đối với ông Lương Ngọc Phi – Giám đốc Cty TNHH Thương mại Thanh Phong là một điển hình. Vụ án bắt đầu từ ngày 30/4/1998, cơ quan Cảnh sát điều tra Thái Bình khởi tố vụ án đối với ông Lương Ngọc Phi về tội “lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản XHCN”, tiếp sau đó thêm tội “trốn thuế”. Ngày 29/9/1999, TAND tỉnh Thải Bình đã xét xử sơ thẩm tuyên ông Phi 17 năm tù giam. Đến TAND tối cao xử phúc thẩm ngày 25/5/2000, tuyên ông Phi không phạm tội. Ông Phi đã liên tục làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nhưng đến tận 13/6/2006, TAND tỉnh Thái Bình mới tổ chức xin lỗi công khai ông Phi.

Bên cạnh đó, trong đơn yêu cầu bồi thường gửi TAND tỉnh Thái Bình, ông Phi đã liệt kê 5 mục lớn với tổng trị giá bằng tiền lên đến hơn 24 tỷ đồng như tổn thất về tinh thần gần 107 triệu đồng, tài sản bị thu giữ, kê biên hơn 5,3 tỷ đồng, thiệt hại do lãi từ khoản tiền tịch thu 2,1 tỷ đồng… Nhưng TAND tỉnh Thái Bình chỉ chấp nhận 4 mục nhỏ như việc bồi thường cho 1.066 ngày bị giam oan, số tiền thăm nom trong thời gian bị giam và tiền thuê luật sư. Tổng số tiền của 4 mục này là 163 triệu đồng.

Từ vụ án trên cho thấy TAND tỉnh Thái Bình là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng cũng lại là cơ quan xét xử vụ kiện bồi thường với chính mình là bị đơn ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm thì thật khó có thể khách quan. Ông Phi chua xót: Gần 10 năm qua các cơ quan tố tụng tỉnh Thái Bình đã bắt giam, xét xử oan đối với ông nhưng ngay việc xác định cơ quan nào phải giải quyết bồi thường thiệt hại cho ông đã vô cùng khó khăn. Các cơ quan tố tụng khi biết vụ án bị oan thì họ co cụm lại với nhau, tìm cách trốn tránh trách nhiệm bồi thường.

Điển hình hơn là vụ việc về áp mã thuế XNK đối với Cty TNHH Hà Vinh (Bắc Ninh) cũng rơi vào tình trạng tương tự. Theo ông Nguyễn Thế Vinh – GĐ Cty Hà Vinh, ngày 3/10/2003, theo chỉ đạo của Tổng cục Hải quan, Cty đã làm việc với Cục Hải quan Lào Cai kết quả thống nhất huỷ bỏ quyết định xử phạt và biên bản vi phạm của Cty. Đến 6/2/2004, sau nhiều lần khiếu nại của Cty, Hải quan Lào Cai đã thống nhất trả tiền phạt, tiền thuế phạt, tiền bồi thường các khoản trên. Nhưng đến ngày 16/4/2004, Cục Hải quan Lào Cai lại thay đổi sang một mã thuế NK khác với tên hàng giống các lô hàng mà Cty đang tranh chấp. Nhưng thực tế mã số thuế NK mới không đúng với tên hàng Cty NK và lại xử phạt hành chính Cty. Vụ việc kéo dài đến nay, mặc dù đã có văn bản của Tổng cục Hải quan và Thanh tra Hải quan nhưng Hải quan Lào Cai mới chỉ trả một phần trong số thuế được trừ. Ông Vinh đặt ra câu hỏi, DN nộp thuế chậm thì bị phạt nhưng Hải quan trả chậm thì tại sao không bị chế tài gì xử lý?

Bá Tú – DDDN.COM.VN

ĐÁNH GIÁ LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005: NHIỀU VƯỚNG MẮC

Với những nội dung tiến bộ, Luật DN năm 2005 (có hiệu lực từ 1/7/2006) đã góp phần tích cực trong việc tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thông thoáng. Tuy nhiên, theo Luật gia Vũ Xuân Tiền – GĐ Cty tư vấn VFAM VN có 3 vấn đề phát sinh trong thực tế, đòi hỏi được tháo gỡ.

Bởi, “những hạt sạn” trong văn bản luật xuất hiện vì lý do nào đó cũng cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Chứng chỉ hành nghề đối với Giám đốc

Cả 3 điều: Khoản 4 Điều 16 Khoản 5 Điều 18 và Khoản 5 Điều 19 đều quy định với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề thì Giám đốc phải có chứng chỉ đó. Tuy nhiên, đó là điều vô lý và đã được giải thích rằng, do sơ suất trong việc soạn văn bản đã có sự nhầm lẫn chuyển chữ “hoặc” thành chữ “và”. Khoản 3 Điều 6 dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật DN đã đưa ra phương án bằng cách quy định chung chung “Đối với DN kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật đòi hỏi giám đốc hoặc người đứng đầu DN phải có chứng chỉ hành nghề thì giám đốc của DN đó phải có chứng chỉ hành nghề”. Dự thảo nghị định cũng không đưa ra danh mục những ngành nghề nào mà pháp luật đòi hỏi “Giám đốc phải có chứng chỉ hành nghề”. Do đó, quy định như trên lại là bật “đèn xanh” cho hàng loạt quy định vô lý sẽ ra đời.

Tỷ lệ cổ phần phổ thông khi thông qua biểu quyết

Khoản 2 Điều 52 quy định: “2. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây: a) Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ Cty và việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty, tổ chức lại, giải thể Cty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”.

Khoản 3 Điều 104 quy định: “3. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định; b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Cty; tổ chức lại, giải thể Cty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Cty nếu Điều lệ Cty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”.

Quy định trên gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi ở một số lĩnh vực, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn đến tỷ lệ cao nhất là 49%. Trong thực tế, quy định tại Điều 52 và Điều 104 như trích dẫn trên cũng gây khó khăn cho các Cty TNHH, Cty cổ phần của VN vì việc triệu tập cho đủ những thành viên góp vốn hoặc cổ đông đại diện 65% hoặc 75% tổng số phiếu có quyền biểu quyết là không dễ. Nếu chúng ta chỉ sửa lại theo hướng “cho các bên liên doanh thỏa thuận tỷ lệ cụ thể trong Điều lệ Cty” sẽ vi phạm nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử. Do đó, xin đề nghị sửa lại quy định của luật theo hướng quy định một tỷ lệ khác áp dụng chung cho tất cả mọi thành phần DN.

Tư cách pháp nhân của Cty hợp danh Điều 130 Luật DN quy định:

1. Cty hợp danh là DN, trong đó: a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của Cty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty; c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Cty trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty.

2. Cty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Theo tôi, quy định nêu trên mâu thuẫn với Điều 84 Luật Dân sự năm 2005 quy định về pháp nhân: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”.

Như vậy, khi các thành viên hợp danh góp vốn thành lập Cty và Cty có tư cách pháp nhân thì họ hoạt động nhân danh pháp nhân đó. Do đó, quy định “Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty” là vô lý. Từ đó, xin kiến nghị sửa lại: Cty hợp danh không có tư cách pháp nhân hoặc bỏ tiết b khoản 1 Điều 130 nêu trên.

Dưới đây là một số ý kiến của các thành viên tham gia hội thảo:

Ý kiến của Luật gia Cao Bá Khoát – GĐ Cty tư vấn Doanh nghiệp K&Cộng sự

Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư là hai luật luôn đi đôi với nhau để điều chính các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm, kể từ ngày có hiệu lực (1/7/2006), hai luật này đã khiến nhiều doanh nghiệp gặp không ít khó khăn vướng mắc. Một số quy định trong hai luật mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau làm cho doanh nghiệp lúng túng trong quá trình hoạt động của mình. Nghiên cứu kỹ hai luật này chúng tôi thấy:

– Liên quan đến việc hoạt động của doanh nghiệp, đáng lẽ Luật đầu tư chỉ cần điều chỉnh việc cấp GCNĐT nhằm xác định những dự án được hưởng ưu đãi nhưng trên thực tế luật này đang điều chỉnh cả việc cấp GCNĐKKD cho DN bằng quy định: GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD. Như vậy, luật đầu tư đang lấn sân sang luật DN tạo ra những vướng mắc khó giải quyết. Chẳng hạn một DN có GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD có quyền thay đổi ĐKKD tại cơ quan ĐKKD hay không? Đây là một câu hỏi khó trả lời vì trong mắt của Luật DN thì những DN trên chưa được cấp GCNĐKKD. Rõ ràng việc không tách bạch hai thẩm quyền này đã gây khó khăn cho DN.

– Với nhà đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư quy định chỉ cần có: Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy thế, sau khi có được giấy chứng nhận này nhà đầu tư cũng không thể cắt đuôi các loại giấy phép khác như: Giấy phép xây dựng, giấy phéo của các cơ quan quản lý đất đai, giấy phép của cơ quan quản lý môi trường và giấy phép kinh doanh…. Vậy giấy chứng nhận đầu tư để làm gì khi không thể thay thế các loại giấy trên? Nếu theo nguyên tắc, GCNĐT là chứng nhận các điều kiện đầu tư đó là hợp pháp. Vậy tại sao lại buộc nhà đầu tư lại phải xin các loại giấy phép khác. Quản lý nhà nước về đầu tư trong trường hợp này đã thống nhất hay chưa?

Trên thực tế, hiện nay không chỉ có Luật Đầu tư mới “gặm nhấm” Luật DN mà còn có Luật kinh doanh Bảo hiểm và Luật Chứng khoán.

Từ những thực tế trên, chúng ta cần bàn lại về khái niệm “đồng thời” trong các văn bản luật.

Với những thực tế đang xẩy ra hiện nay thì có thể hiểu giấy phép hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do các cơ quan chủ quản cấp có hai giá trị: giá trị thứ nhất là bảo đảm tính hợp pháp và giá trị thứ hai là nó xác nhận tư cách pháp nhân cho DN. Chúng ta không tài nào hiểu nổi tại sao một giấy phép hoạt động lại có thể có quyền năng này trong khi doanh nghiệp đó chưa đó chưa được đăng ký kinh doanh. Hệ quả từ khái niệm đồng thời còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề từ lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và ngân hàng. vừa trong lĩnh vực đầu tư thì sẽ đăng ký kinh doanh như thế nào? Cơ quan nào sẽ quản lý doanh nghiệp này? Việc lập chi nhánh của doanh nghiệp này sẽ do cơ quan nào cấp phép? Không biết liệu cơ quan đăng ký kinh doanh có đồng ký cho doanh nghiệp lập chi nhánh hay không khi mà DN không đăng ký kinh doanh mà chỉ có các loại giấy phép hoạt động đồng thời là giấy phép kinh doanh?

Chúng tôi có các kiến nghị như sau:

1. Để thống nhất quản lý nhà nước về doanh nghiệp và giúp hoạt động kinh doanh của DN được thuận lợi cần: Trả lại thẩm quyền cho đăng ký kinh doanh cho Luật DN và ban hành một văn bản hướng dẫn thực hiện áp dụng thống nhất về đăng ký kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề, không để tình trạng các luật khác lấn sân sang Luật DN.

2. Xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan đăng ký kinh doanh, thiết lập một hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh thống nhất từ TƯ đến cấp tỉnh với tên: Cơ quan đăng ký doanh nghiệp.

3. Coi giấy phép đầu tư và các loại giấy phép hoạt động là những hoạt động độc lập với giấy phép đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp.

4. Thực hiện thống nhất tư duy đã hoạt động kinh doanh trước tiên phải đăng ký kinh doanh để xác lập tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh sau đó cấp giấy phép hoạt động ngành nghề gì thì cấp.

Ý kiến của PGS – TS Phạm Duy Nghĩa – Tổ luật kinh doanh, ĐH Luật HN:

Về thủ tục đăng ký kinh doanh tôi có mấy ý kiến sau:

– Về quy trình thành lập khá tốt so với thế giới. Tuy nhiên, để tốt hơn người dân cần chuẩn bị các bộ hồ sơ để đồng thời gửi các nơi. Người dân không chỉ nhìn nhận mọi việc qua góc độ là quyền mình được hưởng mà cần phẩn xem xét trên khía cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ cần phải thực hiện các hoạt động đó của mình nữa.

– Hiện nay, việc đăng ký tên hộ kinh doanh được bảo hộ trong phạm vi quận/huyện, tên DNTN, Cty TNHH, CTCP và hợp danh được bảo vệ trong phạm vi của tỉnh, nơi doanh nghiệp đó đăng ký kinh doanh. Từ đó có nhiều doanh nghiệp bị trùng tên giữa các tỉnh. Việc đăng ký bảo hộ tên của các doanh nghiệp trên toàn quốc (Tránh trùng nhau) cần có một ban đăng ký kinh doanh riêng đảm bảo tính thống nhất, và bảo hộ tên thương hiệu của doanh nghiệp trên toàn quốc. Doanh nghiệp muốn bảo hộ tên của mình trên địa phương thì đóng tiền mức riêng, trên toàn quốc thì phải đóng phí.

– Doanh nghiệp tư nhân là một sai lầm. Ngay từ khái niệm sai lầm. Nên quan niệm theo thế giới là coi doanh nghiệp này là của một ông chủ vì thế không thể nói là công ty. Như thế doanh nghiệp hợp doanh là của một nhóm các ông chủ.Tôi cho cần hợp nhất mô hình hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân – sau này nên gọi là cá nhân kinh doanh sole proprietorship để tránh gây nhầm lẫn từ khái niệm “doanh nghiệp tư nhân”. Hai mô hình này cần nên cùng đăng ký kinh doanh ở một cấp và không nên quy định chỉ ĐKKD mới được phép tiến hành kinh doanh. Đăng ký chỉ là thống kê theo dõi không khai sinh quyền kinh doanh. Và với hai mô hình kinh doanh cá nhân này cũng chỉ nên đánh thuế thu nhập cá nhân của người chủ mà không nên đánh thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như không bắt buộc phải có con dấu.

– Từng bước tiến tới thống nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế, tiếp tục giảm bới thủ tục cho doanh nghiệp. Muốn vậy cần thiết lập nghĩa vụ chia sẻ giữa thông tin giữa phòng ĐKKD, cơ quan Thuế và VCCI. Doanh nhân có nghĩa vụ tham gia VCC một cách bắt buộc.

Ông Vũ Duy Thái – Chủ tịch Hiệp hội Công thương TP Hà Nội

Bộ Kế hoạch Đầu tư và Tổ Công tác thi hành 2 luật đã thừa nhận những vướng mắc về nội dung trong việc thực thi hai luật và các nghị định hướng dẫn thi hành. Song nếu nhìn từ phía doanh nghiệp và các địa phương thì những vướng mắc này còn lớn hơn rất nhiều: Từ việc đăng ký kinh doanh, đặt tên doanh nghiệp, các quy định về quản trị, chuyển nhượng vốn, chuyển đổi của doanh nghiệp, thành lập văn phòng đại diện, hay như vấn đề trách nhiệm của chủ doanh nghiệp như thế nào khi cho thuê doanh nghiệp? Thế nào là trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu (điều 144)?…

Có cái tưởng như đã thành công như quy trình “3 trong 1” (cấp đăng ký kinh, mã số thuế, cấp phép khắc dấu tuy đã được thống nhất vào một cửa với thời hạn không 15 ngày là một bước tiến đáng kể). Song năng lực và phương tiện của cơ quan đăng ký kinh doanh còn yếu, nên kết quả của cái cách này chưa được như mong đợi, doanh nghiệp vẫn thấy còn có biện pháp cải tiến thêm, dònh chữ vành ngoài của con dấu cấp cho doanh nghiệp thuộc cấp tỉnh, thành phố quản lý, nhưng lại ghi theo địa phương (quận, huyện) khiến mỗi khi đi di chuyển từ quận này sang quận khác nếu tuân thủ triệt để doanh nghiệp phải làm thủ tục khắc lại con dấu!

QUI ĐỊNH VỀ HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ TRONG TỐ TỤNG CẦN THÔNG THOÁNG HƠN

PHẠM VĂN CHUNG – (Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum)

Theo quy định của pháp luật thì người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần…

Theo đó khi khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (hay còn gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) thì nguyên đơn phải xuất trình được chứng cứ chứng minh gồm: chứng minh việc cấp cứu, cứu chữa người bị hại như thuê xe chở cấp cứu, chi phí tiền thuốc men…; tiền chi phí cho việc mai táng như tiền mua quan tài, áo vải khâm liệm, thuê người khâm liệm, thuê xe đưa tang, tiền công lao động của người chăm sóc, người bị hại trong thời gian chữa trị…; tiền cấp dưỡng cho người mà nếu người bị hại nếu còn sống phải cấp dưỡng như cha, mẹ, vợ con không có khả năng lao động, con dưới 18 tuổi…; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần thường được quy định cứng, ví dụ trong trường hợp người bị hại chết thì được bồi thường không quá 60 tháng lương tối thiểu.

Theo thống kê sơ bộ các khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên là gồm 4 khoản, trong đó chỉ có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là dễ tính toán nhất (ví dụ trên), còn lại các khoản thiệt hại đều rất khó chứng minh, trong đó phức tạp nhất là chứng từ chứng minh cho các khoản thiệt hại trên. Theo quy định về chứng từ kế toán, quan hệ dân sự, kinh tế thì khi mua hàng phải có hoá đơn, thuê, mướn, vay tài sản thì phải có hợp đồng kinh tế, dân sự, thương mại…

Tuy nhiên, trong vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhất là khi người bị hại đã chết thì những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rất khó xác định đầy đủ, đúng những thiệt hại thực tế một mặt do trình độ của nhiều nguyên đơn còn hạn chế. Mặt khác khi xảy ra sự việc do tình huống khẩn cấp, bối rối mà các bên liên quan không thể thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định như thuê xe không có hợp đồng, mua hàng không nhận hoá đơn… dẫn đến không đúng quy trình như xuất hoá đơn sau khi mua hàng đã lâu nên không có giá trị, hợp đồng ký kết sau khi đã thực hiện xong nội dung cần thoả thuận dẫn đến bất hợp lý, vô hiệu…

Thiết nghĩ, các cơ quan có thẩm quyền quy định theo hướng thông thoáng, linh hoạt hơn, theo đó đối với các trường hợp đã có chi phí thực tế và hợp lý thì có thể được bồi thường thiệt hại theo thực tế và chứng cứ chứng minh chỉ cần tính tương đối, không nhất thiết phải được thu thập đúng trình tự như việc thuê xe không đòi hỏi phải có hợp đồng mà chỉ cần có xác nhận của bên được thuê là có sự thuê, mướn; hoặc được bên mua hàng xác nhận có sự việc mua bán loại hàng hoá đó. Như vậy, một mặt giúp cho bên bị thiệt hại bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác tránh được sự rắc rối tiêu cực khi người được thuê, được mua hàng trước đây gây khó khăn như buộc phải chi phần trăm mới xuất hoá đơn, ký hợp đồng… dẫn đến vi phạm về luật thuế, luật dân sự.

SOURCE: DDDN.COM.VN

MỘT SỐ LỖI THƯƠNG THẢO HỢP ĐỒNG

1. Không tự mình soạn thảo

Bạn nên tự soạn thảo bản dự thảo đầu tiên của hợp đồng, bởi như vậy bạn sẽ có nhiều lợi thế trong khi đàm phán, đồng thời còn có thể đưa ra những điều khoản có lợi nhất cho mình. Hơn nữa, tự mình soạn thảo hợp đồng thường có hiệu quả về mặt chi phí tốt hơn so với việc nghiên cứu, chỉnh sửa hợp đồng khi thuê luật sư soạn thảo.

2. Điều khoản thanh toán không rõ ràng

Hầu hết mọi người đều hiểu rằng các điều khoản thanh toán là phần không thể thiếu trong hợp đồng và không được phép bỏ qua hay để tới tận khi ký kết hợp đồng mới xem xét. Một hợp đồng chặt chẽ thì các điều khoản thanh toán phải được quy định rõ ràng, như tránh những quy định tối nghĩa về số tiền sẽ được nợ, hay phải có công thức rõ ràng để xác định số nợ; đưa ra các điều khoản quy định rõ ràng số tiền được nợ là bao nhiêu và nợ tới khi nào; các hình thức chế tài nếu một bên không thanh toán hay thanh toán chậm; quy định phân chia trách nhiệm thanh toán các khoản thuế liên quan tới hợp đồng.

3. Thiếu các điều khoản chung

Hợp đồng phải có các điều khoản chung. Đó không chỉ là các căn cứ pháp luật mà còn là những vấn đề cơ bản quyết định việc tham gia vào hợp đồng, bao gồm:

– Lý do ký kết hợp đồng với đối tác là gì?

– Đối tác có kinh nghiệm tham gia hoạt động lĩnh vực kinh doanh này không?

– Đối tác cam kết sẽ làm gì cho bạn và bạn cam kết làm gì cho đối tác?

– Khi nào các bên đồng ý thực hiện hợp đồng?

– Có những chi tiết đặc biệt nào được thảo luận trong quá trình đàm phán hợp đồng để đi đến quyết định ký kết hợp đồng?

– Có thời hạn cụ thể trong việc giao nhận hàng hoá hay dịch vụ không?

– Có sự việc hay điều kiện nào diễn ra trước khi bạn phải thực hiện các nghĩa vụ của mình không?

4. Suy diễn

Đừng suy diễn khi soạn thảo hợp đồng. Như vậy có nghĩa là bạn phải quy định rõ ràng tất cả các nghĩa vụ và các tình huống giả định trong hợp đồng. Ví dụ:

Nếu bạn mua của đối tác một thiết bị nào đó thì đừng nghĩ rằng họ sẽ phải giao kèm theo những phần mềm hay phụ tùng liên quan. Hãy quy định rõ ràng.

– Đối tác không cần biết bạn sẽ thiệt hại như thế nào nếu như họ giao hàng chậm. Quy định thời hạn rõ ràng là điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng.

– Nếu các bên đồng ý vận chuyển và giao hàng tại một địa điểm nhất định, nên có quy định rõ ràng về địa điểm giao hàng và chi phí vận chuyển do bên nào chịu.

Trong giai đoạn đàm phán, nếu chưa hiểu rõ điều khoản nào của hợp đồng, hãy hỏi lại cho kỹ và ngược lại, nếu đối tác chưa hiểu điều nào, bạn hãy giải thích cho rõ. Đừng cho rằng đối tác hiểu tất cả những gì bạn nói. Sau đó hãy quy định rõ trong hợp đồng.

5. Bỏ sót một số điều khoản

– Trong trường hợp tranh chấp, bên thua kiện phải trả chi phí thuê luật sư của bên thắng kiện.

– Tất cả những sửa đổi của hợp đồng phải được lập thành văn bản.

– Không được chuyển nhượng hợp đồng cho bên thứ ba.

6. Không đàm phán mọi thứ

Nên nhớ rằng không có điều gì là không thể đàm phán. Mọi thứ, thậm chí cả những điều mà đối tác khẳng định không thể thì vẫn có thể đàm phán. Với bạn, một số phần của hợp đồng có thể quan trọng hơn các phần khác, nhưng nên nhớ là tất cả các phần đều trở nên quan trọng nếu có tranh chấp xảy ra. Do vậy, trong giai đoạn đàm phán nên xác định trước những vấn đề nào không thể chấp nhận và những vấn đề nào có thể chấp nhận.x

Trần (Theo Entrepreneur) – DDDN.COM.VN

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI CHƯA THEO KỊP… WTO

Hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng như tranh chấp trong các giao dịch thương mại dự kiến sẽ gia tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Thế nhưng, hai dịch vụ pháp lý quan trọng là luật sư và trọng tài hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho quá trình hội nhập nói trên.

Thiếu cả lượng lẫn chất

Theo ông Lê Hồng Sơn, Vụ phó Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp), tính đến nay cả nước đã có 3.918 luật sư và luật sư tập sự, tăng tới 187% so với năm 2001.

Mặc dù vậy, số lượng luật sư hiện có vẫn chưa đủ so với nhu cầu ngày càng tăng của người dân. Tỷ lệ luật sư chỉ mới đạt 1/21.215 người dân, trong khi tỷ lệ này ở Nhật là 1/4.546; Thái Lan: 1/1.526; Singapore: 1/1.000; Mỹ: 1/250…

Có những tỉnh như Kon Tum, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn số lượng luật sư chỉ có khoảng 3-4 người. Thậm chí, có địa phương như Lai Châu, Điện Biên không có đủ số luật sư cần thiết để thành lập đoàn luật sư.

Vì vậy, một số phiên tòa ở đây từng phải tạm hoãn do thiếu luật sư hoặc trong các vụ án chỉ định luật sư tòa phải mời luật sư từ các địa phương khác đến tham gia!

Tại cuộc tọa đàm về tác động của Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (BTA) đối với nghề luật sư và trọng tài do Bộ Tư pháp tổ chức tuần qua ở TPHCM, nhiều ý kiến cho rằng điều đáng ngại là chất lượng luật sư vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập.

Trong tổng số luật sư hiện có, chỉ có 2.611 người (chiếm gần 67%) đã qua lớp đào tạo nghề luật sư; số còn lại chưa qua lớp đào tạo hoặc được miễn đào tạo theo quy định.

Luật sư Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Văn phòng Luật sư tư vấn Độc Lập, thừa nhận số lượng các luật sư tinh thông về ngoại ngữ và có trình độ tiếp cận với các hợp đồng thương mại quốc tế gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Phần lớn còn lại hành nghề tư vấn đơn giản hoặc tranh tụng tại tòa với khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân trong nước, cá nhân và hộ gia đình.

Nguyên nhân của tình hình trên, theo Luật sư Phạm Thị Vạn Thanh (Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng) có phần do việc đào tạo cử nhân luật hiện còn nhiều bất cập, dẫn đến chất lượng thấp. “Có những sinh viên ra trường mà kiến thức cơ bản hay những khái niệm rất đơn giản vẫn hiểu sai hoặc không biết”, bà Thanh nói.

Cùng quan điểm trên, Luật sư Fred Burke (Chi nhánh Công ty Luật Baker & McKenzie) cho rằng, khiếm khuyết nằm ở phương pháp đào tạo theo kiểu “học vẹt” lâu nay trong các trường đại học luật. “Các sinh viên đã lãng phí thời gian để học thuộc lòng các văn bản luật nhưng đến khi họ tốt nghiệp thì những văn bản này đã hết hiệu lực.

Trong khi đó, nhà trường lại rất ít khi dạy cho sinh viên cách làm thế nào để nghiên cứu các luật mới và phân tích các vấn đề pháp lý, những thứ mà họ sẽ phải làm hằng ngày trong suốt cuộc đời hành nghề của mình”.

Theo Luật sư Fred Burke, biện pháp để cải thiện tình hình là nên cho phép các giảng viên luật được hành nghề luật sư vì điều đó sẽ làm cho việc giảng dạy hiệu quả hơn nhiều (Hiện ở Việt Nam, luật không cho phép vì giảng viên là công chức).

“Ngay cả ở các trường luật nổi tiếng thế giới, các giáo sư luật cũng phải bỏ thời gian để tư vấn cho khách hàng riêng” – ông cho biết.

Ông Burke cũng cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm xuất khẩu dịch vụ pháp lý toàn cầu như Hồng Công, Singapore nhưng hiện vẫn còn những trở ngại nhất định.

Thí dụ, dịch vụ pháp lý xuất khẩu hiện vẫn bị đánh thuế giá trị gia tăng 10% trong khi hàng hóa xuất khẩu thông thường khác là 0%.

Hoặc quy định của Luật Luật sư về việc thu hồi chứng chỉ luật sư khi luật sư không thường trú tại Việt Nam; tiêu chuẩn luật sư với điều kiện bắt buộc phải là công dân Việt Nam.

“Luật cho phép các hãng luật Việt Nam được thành lập cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài nhưng làm sao họ có thể bố trí luật sư làm việc ở nước ngoài nếu luật sư của họ bị mất chứng chỉ hành nghề ngay khi vừa rời khỏi đất nước?”.

Nỗi khổ trọng tài

Không chỉ có luật sư, trọng tài thương mại cũng là vấn đề báo động. Hiện cả nước có năm trung tâm trọng tài thương mại với tổng số trọng tài viên là 136 người.

Theo Vụ Bổ trợ tư pháp, số vụ việc giải quyết bằng trọng tài hàng năm còn rất khiêm tốn. Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) thuộc loại lớn nhất nhưng mỗi năm cũng chỉ xử lý được 20-25 vụ. Các trung tâm khác khoảng 5-7 vụ, thậm chí có trung tâm không có vụ nào.

Đại diện của Vụ Bổ trợ tư pháp cho rằng sở dĩ các doanh nghiệp chưa mặn mà lắm với trọng tài là vì họ chưa biết nhiều về phương thức giải quyết tranh chấp này, kể cả đối với các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, thi hành án.

Theo Luật sư Lê Công Định, Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM, trong hoàn cảnh đó lẽ ra các trung tâm trọng tài nên có các chương trình xúc tiến, thậm chí tự tiếp thị, và chủ động học hỏi cách làm của trọng tài các nước, thay vì thụ động hoặc chờ sự hỗ trợ bao cấp của Nhà nước như lâu nay.

Nhiều ý kiến cho rằng, những bất cập trong các quy định của luật pháp hiện hành cũng là rào cản đối với hoạt động của trọng tài.

Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong phạm vi “hoạt động thương mại”. Điều này đã làm các trung tâm trọng tài “mất đi” một lượng khách hàng đáng kể trong các lĩnh vực ngoài hoạt động thương mại.

Tiến sĩ Bùi Quang Nhơn, Trưởng Chi nhánh Cần Thơ của VIAC, nêu dẫn chứng chẳng hạn tranh chấp giữa các nhà thầu xây dựng và các ban quản lý dự án là một dạng tranh chấp khá phổ biến hiện nay.

Luật chưa có quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đương sự có yêu cầu trong khoảng thời gian từ lúc thụ lý vụ án cho đến lúc thành lập hội đồng trọng tài.

Theo đại diện Vụ Bổ trợ tư pháp, bên bị kiện thường dựa vào “kẽ hở” này để tranh thủ tẩu tán tài sản, chứng cứ vi phạm. Mặt khác, quy định về căn cứ hủy quyết định trọng tài có phạm vi quá rộng so với thông lệ quốc tế cũng là một nguy cơ rủi ro tiềm ẩn cho các doanh nghiệp khi lựa chọn trọng tài.

Nhưng bức xúc nhất vẫn là vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài. Mặc dù theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định trọng tài có giá trị thi hành như một bản án nhưng Pháp lệnh Thi hành án lại không quy định điều này.

“Cơ quan thi hành án hoàn toàn có thể vin vào Pháp lệnh Thi hành án để không thi hành các quyết định trọng tài. Đây là điều làm cho các doanh nghiệp “ớn” nhất khi họ lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp”, Luật sư Phan Thông Anh, Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam, phát biểu.

Còn Luật sư Nguyễn Văn On, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài thương mại TPHCM, cho biết thậm chí trong một số vụ ngay cả trung tâm trọng tài của ông cũng từng bị đương sự “quỵt” phí trọng tài, hết mấy chục triệu đồng, nhưng cơ quan thi hành án cũng chẳng làm được gì vì…không có cơ chế!.

Nguồn: KTSG

NGHỊ ĐỊNH VỀ HỌ, HỤI, BIÊU, PHƯỜNG

BÁ TÚ – DDDN.COM.VN

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về hình thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ. Theo đó, nghiêm cấm việc tổ chức hình thức họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) để cho vay nặng lãi, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản riêng công dân. Continue reading

BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN: LUẬT PHÁP KHÓ THỰC THI

NGUYỄN VĂN MẠNH – Hội viên CLB Pháp chế DN

Để triển khai thi hành công tác bán đấu giá tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự, ngày 18/1/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP. Bộ Tư pháp đã có Thông tư hướng dẫn số 03/2005/TT-BTP ngày 4/5/2005, song thực tiễn việc tổ chức thi hành bán đấu giá tài sản còn những vướng mắc, bất cập.

Trước áp lực của hội nhập, hệ thống pháp luật của VN luôn được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn, tương thích với các điều ước và thông lệ quốc tế. Khi các bộ luật và luật chuyên ngành thay đổi, nảy sinh một bất cập là việc xây dựng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành không theo kịp tiến độ, làm cho hiệu lực thi hành của các văn bản luật và văn bản dưới luật không thống nhất, không tạo được cơ sở pháp lý cho việc vận dụng thực thi pháp luật, gây khó khăn ách tắc cho các DN và người dân. Continue reading

NGHỊ ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: NHIỀU ĐIỂM TRANH CÃI

Để pháp điển hoá những quy định về giao dịch bảo đảm còn chưa cụ thể và thiếu cơ chế bảo đảm thi hành thực tiễn trong Bộ luật Dân sự 2005, Bộ Tư pháp đang xây dựng Nghị định về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, tính đến nay một số nội dung trong dự thảo nghị định vẫn còn nhiều tranh cãi.

Theo quy định của pháp luật thì một tài sản có thể được dùng bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Tuy nhiên, trong thực tế ngay từ khi thực hiện nghĩa vụ bảo đảm lần đầu thì các Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đã buộc phải giao bản chính. Do vậy, các giao dịch bảo đảm tiếp theo khó có thể có bản chính.

Ví dụ, theo quy định của Luật Đất đai, Nghị định số 181 và Thông tư liên tịch số 05, hồ sơ yêu cầu đăng ký phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do bên nhận thế chấp trước đã giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên các bên trong giao dịch bảo đảm tiếp theo không thể đáp ứng điều kiện về hồ sơ yêu cầu đăng ký theo quy định nêu trên. Hơn nữa, đối với nhiều tài sản mà việc bên nhận bảo đảm giữ giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng sẽ ảnh hưởng tới việc sử dụng, khai thác tài sản đó như phương tiện giao thông cơ giới…

Ngoài ra, theo nhiều chuyên gia đánh giá, việc giữ Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, giấy đăng ký phương tiện không phải là biện pháp tối ưu để ngăn ngừa bên bảo đảm chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc xác lập các giao dịch đối với tài sản bảo đảm. Bởi bên bảo đảm yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại với lý do bị mất… Một số ý kiến còn cho rằng, quy định về việc tổ chức tín dụng giữ bản chính “giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm” không rõ ràng. Nghị định cần xác định những loại giấy tờ nào liên quan đến tài sản bảo đảm mà tổ chức tín dụng được giữ.

Đối với trường hợp tài sản bảo đảm không thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm hình thành hai nhóm ý kiến khác nhau. Một nhóm cho rằng, nếu bên bảo đảm không có quyền sở hữu tài sản mà dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 320 của Bộ luật dân sự (Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Dân sự phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm). Trong trường hợp này quyền của chủ sở hữu tài sản được bảo vệ, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên bảo đảm thay thế tài sản bảo đảm hoặc thay thế biện pháp bảo đảm khác; yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trước hạn hoặc trở thành chủ nợ không có bảo đảm và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Còn nhóm thứ hai lại có quan điểm, về nguyên tắc pháp luật bảo vệ quyền của chủ sở hữu tài sản, nhưng nếu bên nhận bảo đảm ngay tình (không biết và không thể biết về việc bên bảo đảm không có quyền dùng tài sản để bảo đảm), thì cần được bảo vệ một cách hợp lý, hài hòa trong mối quan hệ với quyền của chủ sở hữu tài sản. Quy định này nhằm tạo sự ổn định cho các giao dịch dân sự, hạn chế rủi ro cho bên nhận bảo đảm ngay tình, đồng thời thúc đẩy sự phát triển hoạt động tín dụng, đầu tư vốn. Nhiều nước có nền tài chính, ngân hàng phát triển cũng giải quyết tương tự.

Tài sản hình thành trong tương lai cũng là điểm nhận được rất nhiều sự quan tâm. Các quy định pháp luật về nhận bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai (bao gồm cả tài sản hình thành từ vốn vay) còn một số điểm chưa phù hợp với thực tế. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa quy định rõ về việc đăng ký đối với những tài sản mà từ khi ký kết hợp đồng bảo đảm đến khi được hình thành trong tương lai, tài sản đó có sự chuyển đổi từ động sản sang bất động sản hoặc ngược lại, như máy móc, thiết bị gắn liền với công trình xây dựng, hoặc hoa lợi, mùa màng. Ví dụ: khi ký kết hợp đồng bảo đảm tài sản hình thành trong tương lai là động sản (hệ thống thang máy đang trên đường vận chuyển), nhưng khi được đưa vào sử dụng và thuộc sở hữu của bên bảo đảm thì lại trở thành bất động sản thì việc đăng ký thực hiện như thế nào? Bởi hiện nay, việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản và bất động sản được thực hiện tại hai hệ thống khác nhau, trong khi chúng ta chưa có quy định về việc thừa nhận giá trị của việc đăng ký giao dịch bảo đảm tại các hệ thống cơ quan đăng ký khác nhau.

Bá Tú – DDDN.COM.VN

Thông tư số 134/2007/TT-BTC “Hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập DN” mâu thuẫn với Luật doanh nghiệp

So với Thông tư 128/2003/TT-BTC trước đây, Thông tư 134 có nhiều điểm tiến bộ hơn. Tuy nhiên, trong phần quy định về lãi suất tiền vay được thừa nhận vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế vẫn còn một “hạt sạn”, trái với quy định của Luật DN.

Về các khoản lãi trả tiền vay không được thừa nhận vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế, tại mục 2.16, khoản 2, phần III của TT134, quy định: “Các khoản chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu kể cả trường hợp cơ sở kinh doanh đã đi vào sản xuất kinh doanh”. Mục đích của quy định nêu trên là ngăn chặn tình trạng đăng ký vốn “ảo” khi đăng ký thành lập DN đang xảy ra một cách khá phổ biến hiện nay. Song, quy định trên lại mâu thuẫn với quy định của Luật DN về việc góp vốn điều lệ.

Khoản 1, Điều 39 Luật DN quy định việc thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp đối với Cty TNHH có từ hai thành viên trở lên như sau:

“Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết”..và “Người đại diện theo pháp luật của Cty phải thông báo bằng văn bản tiến độ góp vốn đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn…”. Tương tự như vậy, khoản 1 Điều 84 Luật DN quy định đối với việc góp vốn điều lệ của Cty cổ phần như sau:

“1. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày Cty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Khoản 4 Điều 84 cho phép “4. Trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày Cty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Như vậy, Luật DN không yêu cầu các thành viên góp vốn thành lập Cty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải góp vốn ngay sau khi nhận Giấy chứng nhận kinh doanh mà được phép “cam kết tiến độ” góp vốn và bản cam kết này phải được thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Với các Cty cổ phần, các cổ đông sáng lập chỉ có trách nhiệm mua và phải góp đủ tiền đối với 20% vốn điều lệ, 80% còn lại là cổ phần chào bán và phải bán hết trong thời hạn ba năm.

Ai cũng biết rằng, nếu hoạt động kinh doanh bằng vốn tự có thì chi phí sử dụng vốn thấp, có thể bằng 0 và khi đó, thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập DN sẽ cao hơn. Song, xét về hiệu quả đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư có quy mô lớn, việc sử dụng 100% vốn tự có không phải là tối ưu. Hơn nữa, để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thành lập DN, tham gia thị trường, quy định như đã trích dẫn trên của Luật DN là hoàn toàn hợp lý. Do đó, nếu trong thời hạn của cam kết góp vốn đối với Cty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên và trong thời hạn ba năm để chào bán các cổ phần được quyền chào bán của Cty cổ phần, Cty phải huy động vốn từ ngân hàng hoặc các đối tượng khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì tiền trả lãi đối với khoản vay này phải được thừa nhận vào chi phí đầu tư, kinh doanh. Với những Cty cổ phần được thành lập để thực hiện các dự án có quy mô lớn, việc huy động vốn từ các ngân hàng cho 80% còn lại là tất yếu khách quan. Chẳng hạn, một Cty cổ phần đầu tư xây dựng một nhà máy xi măng với tổng đầu tư 500 tỷ đồng, các cổ đông sáng lập phải góp đủ 20% tức là bằng 100 tỷ đồng, 400 tỷ đồng còn lại phải được chào bán trong thời hạn ba năm. Song, việc xây dựng nhà máy không thể kéo dài tới ba năm, cho nên trong 1 đến 2 năm đầu, Cty phải vay đủ 400 tỷ để hoàn thành công trình. Sau đó, sẽ chào bán số cổ phần còn lại để trả nợ tiền vay. Trong trường hợp này, lãi trả tiền vay cho khoản 400 tỷ nêu trên phải được thừa nhận và được “vốn hóa” thành giá trị tài sản cố định của nhà máy.

Từ phân tích trên, có thể kết luận rằng, quy định loại trừ các khoản lãi tiền vay trong trường hợp “Các khoản chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu kể cả trường hợp cơ sở kinh doanh đã đi vào sản xuất kinh doanh” là mâu thuẫn với quy định của Luật DN.

Nếu được, xin đề nghị Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung nội dung trên như sau: “Các khoản chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ theo tiến độ đã đăng ký đối với các Cty TNHH có từ hai thành viên trở lên và giá trị các cổ phần chào bán sau thời hạn ba năm đối với các Cty cổ phần”. Việc sửa đổi, bổ sung như trên là cần thiết khách quan nhằm khuyến khích việc thành lập doanh nghiêp, nuôi dưỡng nguồn thu và không nên để một thông tư cấp bộ lại “đá” luật do Quốc hội ban hành

SOURCE: DDDN.COM.VN

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

Ngân hàng là gì?

Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.

Một ví dụ điển hình về nỗ lực của các tổ chức tài chính trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng được ghi nhận vào những năm 1980 khi rất nhiều công ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch và Dreyfus Corporation, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Họ nhận thức được rằng, theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Merrill Lynch và các tổ chức phi ngân hàng khác nhận định rằng họ có thể né tránh những quy định này và sẽ có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Tuy nhiên, Cục Dự trữ liên bang (Fed), không muốn thấy sự xâm phạm vào lĩnh vực ngân hàng của các “ngân hàng giả”, đã đưa ra quyết định rằng: việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Điều đó đưa Merrill Lynch và các tổ chức tương tự trở thành các ngân hàng thực thụ và phải tuân theo qui định chặt chẽ của Chính phủ.

Sau đó các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán hàng đầu đã kiện lên tòa liên bang, buộc tội Fed đã vượt quá quyền hạn. Năm 1984, tòa án liên bang công nhận này và buộc Fed phải cho phép tồn tại hình thức “các ngân hàng phi ngân hàng” và cho họ tham gia bảo hiểm tiền gửi liên bang. Chỉ trong vòng vài tuần sau phán quyết này, hàng tá đơn xin thành lập “ngân hàng phi ngân hàng” đã được nộp . E.F. Hutton, J.C.Penney và Sears Roebuck là những công ty cung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu được tổ chức dưới dạng ngân hàng phi ngân hàng. Hơn thế, các công ty sở hữu ngân hàng lớn của Citicorp và Chase Manhattan cũng thành lập các “ngân hàng phi ngân hàng” của riêng họ bởi vì với loại ngân hàng này họ có thể mở rộng chi nhánh tự do qua biên giới bang. Năm 1987, Quốc hội hạn chế sự bành chướng của các “ngân hàng phi ngân hàng” bằng cách ràng buộc các công ty sở hữu ngân hàng phi ngân hàng vào những quy định tương tự như các tổ chức ngân hàng truyền thống. Cuối cùng, Quốc hội đã “bắn phát súng cuối cùng” trong việc đưa ra một định nghĩa mang tính pháp lý về ngân hàng: ngân hàng được định nghĩa như một công ty là thành viên của Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang. Đây thật là một sự thay đổi thông minh vì theo luật hiện hành của Mỹ, người ta không các định ngân hàng trên cơ sở những hoạt động của nó mà trên cơ sở cơ quan chính phủ nào sẽ bảo hiểm cho tiền gửi của nó.

Dòng nước đã bị vẩn đục. Vào năm 1991, chính quyền của tổng thống George Bush đề nghị cho phép các ngân hàng với vốn tự có thích hợp sẽ được quyền cung cấp hàng loạt những dịch vụ mới và được phép liên kết với các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán, các công ty đầu tư (các quĩ tương hỗ); cho phép công ty công nghiệp sở hữu các công ty cung cấp dịch vụ tài chính ( những công ty này có thể điều hành nganhangf và các công ty bảo hiểm); cho phép các công ty ngân hàng đầu tư vào những ngành công nghiệp phi tài chính trên cơ sở một số điều kiện ràng buộc. Do đó, các hàng rào pháp lý có tính lịch sử ở Hoa kỳ phân tách hoạt động ngân hàng với các hoạt động kinh doanh khác – điều đã tồn tại qua nhiều thế hệ – đang bị tấn công và có thể sẽ sớm đưa đến một sự thay đổi lớn lao trong việc định nghĩa ngân hàng là gì và nó cung cấp những dịch vụ gì.

Kết qủa của tất cả những thay đổi về pháp lý dẫn đến tình trạng có sự nhầm lẫn trong công chúng khi phân biệt ngân hàng với một số tổ chức tài chính khác. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa hạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức nằng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” (financial department stores) và người ta bắt đầu thấy xuất hiện các khẩu hiệu quản cáo tương tự như: Ngân hàng của bạn – Một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ dịch vụ (Your Bank – a full service Financial institution) (xem Sơ đồ 1 – 1)

Sơ đồ 1 – 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay:

sodo..gif

Các dịch vụ ngân hàng:

Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem bảng 1-1). Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh. Vậy ngày nay xã hội đòi hỏi những dịch vụ gì từ phía các ngân hàng? Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu tổng quân về danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.

Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng:

Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ – một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.

Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất.

Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinhlợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.

Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện.

Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu – Mỹ. Thông thường, ngân hàng đượccấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ Mỹ vay trong thời kỳ chiến tranh. Ngân hàng Bank of North America được Quốc hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia có chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh.

Cung cấp các tìa khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.

Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust service). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.

Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khỏan tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Tron gphòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ chứng khoán.

Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây

Cho vay tiêu dùng. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế ký này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng. Cho tới những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn do Citicorp và Bank of America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dầu vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất.

Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.

Quản lý tiền mặt. Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.

Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụ quản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng về việc cung cấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan. Một ví dụ là tài khoản quản lý tièn mặt của Merrill Lynch, cho phép khách hàng của nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín dụng cho khoản vay tức thời.

Dịc vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đầu các qui định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.

Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture,Inc

Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định ở Mỹ cấm ngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó. Một số bang như Delawake và South Dakota đã cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểm được quy định trên toàn quốc. Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu được phép sẽ có thể cung cấp các dịchvụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt, những quy mô đầu tư của nó chỉ được giới hạn ở mực 10% tổng số vốn chủ sở hữu. Gần đây, Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty bảo hiểm Travelers tromg một số nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiêm đa dạng hơn.

Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS và Keogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.

Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động (ví dụ Bank of America mua Robertson Stephens Co.) hoặc thành lập các liên doanh với một công ty môi giới.

Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trị vốn). Trong khi quá trình phát triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do những vụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnh tranh chống lại sự mở rộng của ngân hàng sang lĩnh vực dịch vụ mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng quản lý chiếm 15% tổng giá trị tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90. Một vài ngân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ này (ví dụ: Citicorp’s Investment Services) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh và môi giới chứng khoán. Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ của ngân hàng đã có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do những qui định nghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư của công chúng.

Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn. Ngân hàng ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn. Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán), cung cấp công cụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác.

Ở Mỹ, các dịch vụ ngân hàng đầu tư (như bảo lãnh phát hành chứng khoán) liên quan tới việc mua bán cổ phiếu mới và nợ do ngân hàng thương mại thực hiện thay mặt cho các công ty đã bị cấm sau khi Quốc hội thông qua các Đạo luật Glass-Steagall năm 1933. Tuy nhiên, trước áp lực lớn từ các công ty ngân hàng trong nước hàng đầu, và do thành công của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, vào những năm 80 Cục lữu trữ liên bang đã bắt đầu nới lỏng các quy định đối với việc ngân hàng kinh doanh chứng khoán do khách hàng của chúng phát hành. Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, ngân hàng đã tạo cho các công ty một kênh huy động vốn mới bên cạnh hình thức cho vay vốn truyền thống. Nhiều công ty đã đánh giá rất cao nghiệp vụ này của ngân hàng, hơn cả hình thức cho vay truyền thống bởi vì nó cung cấp cho họ một nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp hơn. Cho tới cuối những năm 90, Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã cấp cho hơn 40 ngân hàng đặc quyền cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. Trên thực tế, điều này cho phép nhân viên tín dụng ngân hàng cộng tác chặt chẽ với giới kinh doanh chứng khoán trong quá trình tìm nguồn tài trợ cho khách hàng. Năm 1996, Cục quản lý tiền tệ Mỹ ra quy định mới cho phép các ngân hàng có giấy phép hoạt động trên toàn quốc có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành nếu như dịch vụ này được thực hiện thông qua các công ty con, với điều kiện ngân hàng không được đầu tư quá 10% vốn cổ phần vòa một công ty. Một sự nới lỏng hơn nữa trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và như vậy, ngân hàng có thể cung cấp toàn bộ dịch vụ tài trợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Một ví vụ gần đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua Mortgetary Security Inc., Bank America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng Banker Trust of New York mua công ty Alex Brow.

Sự thuận tiện: Tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng. Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp nhiều dịch vụ tài chính như danh mục dịch vụ mà chúng tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khỏan tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang được mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm. Nhìn chung, dạnh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn hơn cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và là Bancassurance ở Pháp.

Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng

Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Như chúng ta đã thấy ở phần trước, các ngân hàng đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dười áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.

Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp  và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty kinh doanh chứng khoán như Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai.

Phi quản lý hóa. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định – giảm bớt sức mạnh kiểm soát của Chính phủ. Điều này bắt đầu từ hai thập kỷ trước, xu hướng nới lỏng các quy định đã được bắt đầu với việc Chính phủ nâng lãi suất trần đối với tiền gửi tiết kiệm nhằm cố gắng giúp công chúng một mức thu nhập khá hơn từ khoản tiết kiệm của mình. Cũng lúc đó, nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển giúp cho công chúng có thể hưởng lãi trên các tài khoản giao dịch. Gần như đồng thời, các dịch vụ mà những đối thủ chính của ngân hàng như hiệp hội tín dụng và cho vay cũng được mở rộng nhanh chóng và do đó khả năng cạnh tranh với ngân hàng của những tổ chức này cũng được củng cố. Các quốc gia hàng đầu  như Australia, Canada, Anh quốc và Nhật Bản gần đây đã tham gia vào trào lưu phi quản lý hóa, nới rộng giới hạn pháp lý cho ngân hàng, cho người kinh doanh chứng khoán và cho các công ty dịch vụ tài chính khác. Chi phí và rủi ro tổn thất theo đó cũng tăng lên.

Sự gia tăng chi phí vốn: Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí  trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ – để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy đọng vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi).

Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Các qui đinj của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mực thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu  nhập thay đổi thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơi với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.

Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.

Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định; sử dụng ít lao động và chi phí biến đổi. Nhiều chuyên gia tin rằng các tòa nhà ngân hàng và các cuộc mít tinh gặp mặt trực tiếp giữa các nhà ngân hàng và khach shàng cuối cùng sẽ trở thành những di tích của quá khứ và bị thay thế bởi các cuộc liên quan và giao tiếp điện tử. Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hoàn toàn tự động. Những bước đị đó sẽ giảm đáng kể chi phí nhân công hóa ngân hàng và gây ra tình trạng mất việc làm khi máy móc thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghiệp gần đây gợi ý rằng một ngành ngân hàng hoàn toàn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời. Một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con người và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính.

Sự củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý. Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công gnhệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng phải có qui mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần pahỉ mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản. Kết quả là hoạt động mở chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng mua lại các ngân hàng nỏi và đưau chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở đã ngày càng phổ biến. Nhiều vụ đại hợp nhất đã diễn ra như vụ hợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhttan ở New York hay Bank of America và Nations Bank. Số lượng các ngân hàng sở hữu độc lập và bắt đầu giảm và qui mô trung bình của các công ty ngân hàng đã tăng đáng kể. Cùng lúc đó, số lượng các ngân hàng nhỏ của Mỹ (tổng tài sản dưới 1 tỷ USD) đã giảm mạnh ít nhất là 1/3 kể từ giữa thập kỷ 80, số lượng nhân viên giảm hơn 100.000 người trong cùng thời ký.

Hơn nữa, thập kỷ 80 và 90 đã mở ra một kỷ nguyên sự bành trướng “liên tiểu bang” trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Hơn 300 tổ chức ngân hàng đã vương ra khỏi thị trường tiểu bang, thôn tính các ngân hàng nhỏ để trở thành những ngân hàng tầm cỡ quốc gia. Hiện nay ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt được sự đa dạng hóa và ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng cổ điển và nhấn mạnh vai trò của nó như là các tổ chức tài chính năng động, đổi mới và hướng về khách hàng.

Với sự phát triển của tự động hóa, ngày càng nhiều ngân hàng mở chi nhánh ở những vùng xa với các thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động – một phương pháp mở rộng qui mô thị trường hơn là xây dựng các cơ sở vạt chất mới. Trong nhiều trường hợp, hệ thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụ hữu hạn sẽ thay thế các văn phòng chi nhánh đa năng của ngân hàng.

Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng. Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lể và lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn nhất thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Vào những năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai_I Chi Kangyo Bank và Fuji Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp thế giới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp (dẫn đầu là Caisse Nationale de Credit Agricole), tại Đức (dẫn đầu là Deutsche Bank) và tại Anh (dẫn đầu là Barclays PLC) cũng trở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và cho vay công ty. Quá trình phi quản lý hóa đã giúp tất cả các tổ chức này cạnh tranh hiệu quả hơn so với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần ngày càng tăng trên thị trường toàn cầu về dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, Canada, Mỹ và Mexico đã thực hiện Hiệp ước mậu dịch tư do Bắc Mỹ (NAFTA) điều mà cho phép ngân hàng ở những nước này sở hữu và quản lý các chi nhánh ngân hàng ở nước kia và sức mạnh dịch vụ của các chi nhánh loại này hoàn toàn so sánh được với những chi nhánh sở hữu bởi các ngân hàng trong nước.

Rủi ro vỡ nợ gia tăng và sự yếu kém của hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Trong khi xu hướng hợp nhất và bánh trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân hàng ít tổn thương trong điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có ván đề một nền kinh tế luôn biến động đã dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Xu hướng phi quản lý hóa trong lĩnh vực tài chính đã mở ra cơ hội cho các nhà ngân hàng, nhưng cũng chỉ tạo ra một thị trường tài chính xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản, thôn tính và thành lý ngân hàng dễ xảy ra hơn.

Commercial Bank Management (Peter S.Rose) – 2001

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM KÝ KẾT SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG

1.
HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ KHU VỰC ĐẦU TƯ ASEAN

2.
HIỆP ĐỊNH KHUNG ASEAN VỀ DỊCH VỤ

3.
HIỆP ĐỊNH KHUNG E-ASEAN

4.
HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC CÔNG NGHIỆP ASEAN

5.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NHÀ NƯỚC ISRAEL VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

6.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ ÔXTRÂYLIA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN

7.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG THUỴ SĨ VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU

8.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA CHILÊ VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU

9.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA ÁCMÊNIA VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

10.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ INDONESIA VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

11.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC ĐẦU TƯ TƯ NHÂN HẢI NGOẠI TẠI VIỆT NAM

12.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MALAIXIA VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

13.
NGHỊ ĐỊNH THƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI NĂM 1992

14.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ PHÁP VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

15.
HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MẬU DỊCH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA CANADA

16.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH CHỦ CỘNG HOÀ THỐNG NHẤT TAN-DA-NI-A

17.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ AUSTRALIA

18.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA LI-BĂNG

19.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA PHILIPPINES VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

20.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ THỐNG NHẤT TAN-DA-NI-A

21.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ HỒI GIÁO PAKISTAN

22.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ LIÊN BANG NI-GIÊ-RI-A

23.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NA-MI-BI-A

24.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ MÔ-DĂM-BÍCH

25.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VỀ TỰ DO, XÚC TIẾN VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

26.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC MA RỐC

27.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DIM-BA-BU-Ê

28.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ CÔNG-GÔ

29.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

30.
HIỆP ĐỊNH KHUNG E-ASEAN

31.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ MAN-TA

32.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ IRAC

33.
HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ GHI NÊ XÍCH ĐẠO

34.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ PÊRU

35.
HIỆP ĐỊNH VỀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CANADA

36.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ U-DƠ-BÊ-KI-XTAN VỀ VIỆC THÀNH LẬP UỶ BAN LIÊN CHÍNH PHỦ VIỆT NAM U-DƠ-BÊ-KI-XTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT

37.
HIỆP ĐỊNH VỀ HỢP TÁC THƯƠNG MẠI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUÔC THÁI LAN

38.
NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC THƯƠNG MẠI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN

39.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ IN-ĐÔ-NÊ-XI-A VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC KỸ THUẬT

40.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

41.
HIỆP ĐỊNH VỀ THÀNH LẬP UỶ BAN HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

42.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ – KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

43.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

44.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ UZBEKISTAN

45.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ TRIỀU TIÊN

46.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ RUMANI

47.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ PHẦN LAN

48.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ LATVIA

49.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA ỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

50.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẦN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ HUNGARY

51.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ CU BA

52.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ARGENTINA

53.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ ARMENIA

54.
HIỆP ĐỊNH VỀ THÚC ĐẨY VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ AUSTRALIA

55.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ ẤN ĐỘ

56.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ BALAN

57.
HIỆP ĐỊNH VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG THUỴ SĨ

58.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TAT-GI-KI-XTAN

59.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ PHILIPPINES VỀ XÚC TIẾN VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ

60.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XINGAPO

61.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MALAYSIA

62.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ INDONÊXIA

63.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BELARUS

64.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA

65.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THUỴ ĐIỂN

66.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ ÁO

67.
HIỆP ĐỊNH GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH KINH TẾ BỈ – LUC-XAM-BUA VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU

68.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH

69.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC HÀ LAN

70.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ LẪN NHAU GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC

71.
HIỆP ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA

72.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC HASIMIT GIOOC ĐA NI

73.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ JA-MA-HI-RI-A Ả RẬP LI-BI NHÂN DÂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

74.
HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ RUMANI

75.
HIỆP ĐỊNH VỀ THANH TOÁN VỀ HỢP TÁC GIỮA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

76.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ YEMEN

77.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ SRI LANKA

78.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC KUWAIT

79.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC PALESTINE

80.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ NHÂN DÂN BANGLADESH

81.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU

82.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

83.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ MÁY THUỶ ĐIỆN

84.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ ĐẶC KHU HÀNH CHÍNH HỒNG KÔNG THUỘC NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA VỀ DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG

85.
HIỆP ĐỊNH THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ NHÂN DÂN MÔNG CỔ

86.
HIỆP ĐỊNH HÀNG HẢI THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA

87.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-ĐẠI HÀN DÂN QUỐC VỀ HỢP TÁC VÀ HỖ TRỢ LẪN NHAU TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN

88.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA VN-PHILIPINES

89.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-UDƠBÊKIXTĂNG VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

90.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-ĐẠIHÀNDÂNQUỐC VỀ TRÁNH ĐẤNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

91.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-THỤYSĨ VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP VÀ VÀO TÀI SẢN

92.
HIỆP ĐỊNH GIỮA VN-THAILAN VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

93.
HIỆP ĐỊNH VN – SINGAPORE VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

94.
HIỆP ĐỊNH VN – THỤY ĐIỂN VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

95.
HIỆP ĐỊNH DƯỚI HÌNH THỨC TRAO ĐỔI THƯ SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH GIỮA CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM VỀ BUÔN BÁN HÀNG DỆT MAY, KÝ TẮT NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 1992 SỬA ĐỔI LẦN GẦN ĐÂY NHẤT DƯỚI HÌNH THỨC TRAO ĐỔI THƯ KÝ TẮT NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1997

96.
HIỆP ĐỊNH VN-THAILAN VỀ KHOẢN TÍN DỤNG LÂU DÀI

97.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ MUA BÁN HÀNG HOÁ Ở VÙNG BIÊN GIỚI

98.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÔNG NHẬN LẪN NHAU

99.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ QUÁ CẢNH HÀNG HOÁ

100.
HIỆP ĐỊNH VN-TRUNG HOA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

101.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TRIỀU TIÊN

102.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC HASIMIT GIOOCÐANI

103.
HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ GABÔNG

104.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ESTÔNIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ -THƯƠNG MẠI

105.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ CUBA VỀ TRAO ĐỔI THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC KINH TẾ KHÁC

106.
HIỆP ĐỊNH KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ CHILÊ

107.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CANAÐA VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MẬU DỊCH

108.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ HOÀNG GIA CAMPUCHIA

109.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ CADẮCXTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI

110.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CÔOÉT

111.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BUNGARI

112.
HIỆP ÐỊNH CHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ BUỐCKINA PHAXÔ

113.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BÊ NANH

114.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BELARUS VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

115.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI ỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ BA LAN

116.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ẤN ÐỘ

117.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ Ả RẬP AI CẬP

118.
HIỆP ĐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ ACHENTINA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

119.
HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HOÁ, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ YEMEN

120.
HIỆP ÐỊNH VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XUÐĂNG

121.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ UZBEKISTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

122.
HIỆP ÐỊNH VỀ QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC UCRAINA

123.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TUNISIE

124.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

125.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

126.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC LIÊN BANG THỤY SỸ

127.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC THƯƠNG MẠI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ THỔ NHĨ KỲ

128.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TADGIKISTAN VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI

129.
HIỆP ĐỊNH KHUNG HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI, VĂN HOÁ VÀ KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ TÔGÔ

130.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XLÔVAKIA VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN

131.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ A RẬP SYRIA

132.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ SINGAPORE

133.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ SÉC

134.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC RUMANI VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN

135.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ HỒI GIÁO PAKISTAN

136.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ÔXTRÂYLIA

137.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NIU DILÂN

138.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NAM PHI

139.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC NAUY VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ

140.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC LIÊN BANG MYANMAR

141.
HIỆP ÐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HOÁ, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ MALI

142.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC MALAIXIA

143.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC MÔNG CỔ

144.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ MÔNĐÔVA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

145.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ LITVA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI

146.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

147.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA LATVIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI

148.
HIỆP ÐỊNH VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC, KỸ THUẬT, NÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NHÀ NƯỚC IXRAEN

149.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA HỒI GIÁO IRAN

150.
HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA INDONESIA

151.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA HY LẠP VỀ HỢP TÁC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA HY LẠP VỀ HỢP TÁC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ

152.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA HUNGARI VỀ THƯƠNG MẠI VÀ THANH TOÁN

153.
HIỆP ÐỊNH GIỮA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP