PHÁT TRIỂN QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA DOANH NGHIỆP LỚN VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM

Tạo lập mối quan hệ hiệu quả giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Nội dung của bài viết này đề cập đến các hình thức và thực trạng hợp tác giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp phát triển quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.

1. Các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ

Quá trình thay đổi nhanh chóng về công nghệ trong những năm qua cùng với công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa đã thúc đẩy sự tương tác và kết hợp chặt chẽ giữa hai cộng đồng doanh nghiệp: lớn và nhỏ dưới nhiều hình thức khác nhau, tựu chung có thể phân loại theo ba hình thức chủ yếu sau đây:

Thứ nhất là liên kết doanh nghiệp theo hình thức mạng lưới (network). Hình thức liên kết doanh nghiệp theo mạng lưới thường được xây dựng trên cơ sở chuyên môn hóa các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh bắt đầu từ khâu cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, các giai đoạn của quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ, phân phối sản phẩm. Mạng lưới liên kết các doanh nghiệp từ quy mô nhỏ, vừa đến doanh nghiệp lớn thông qua quan hệ trao đổi thông tin, quan hệ giao dịch thương mại (giữa người cung cấp và tiêu thụ), quan hệ thầu phụ công nghiệp, quan hệ mạng lưới phân phối tiêu thụ hàng hóa… Đặc trưng của hình thức liên kết này là không cần sự gần gũi về địa lý giữa các doanh nghiệp và thường được tổ chức trên cơ sở doanh nghiệp lớn là hạt nhân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là các vệ tinh.

Các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam thường lựa chọn hình thức liên kết này thông qua quan hệ hợp đồng với các DNNVV để tìm kiếm nguồn bán thành phẩm đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm đầu ra, nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp nhà nước lớn này, trong quá trình tìm kiếm biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh, thay vì tự tổ chức mọi công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh đã tiến hành liên kết với các DNNVV theo hình thức mạng lưới. Các hình thức cụ thể của dạng liên kết này là các liên hiệp xí nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp theo ngành nghề, các dạng thầu phụ công nghiệp.

Thứ hai là liên kết doanh nghiệp theo hình thức cụm  công nghiệp (clusters), khu công nghiệp (industrial zones). Hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trong các cụm công nghiệp, khu công nghiệp là hình thức liên kết dựa trên yếu tố gần gũi về địa lý giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu vực. Sau 16 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tạo ra sức hút lớn đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Thông qua các dự án đầu tư tại Việt Nam của các tập đoàn kinh tế lớn đã thúc đẩy sự hình thành hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam. Với trên 90 khu công nghiệp, khu chế xuất và hàng trăm cụm công nghiệp quy mô nhỏ phân bổ trên khắp cả nước đã hình thành được mối quan hệ kinh doanh hiệu quả giữa các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp vệ tinh Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ. Phần lớn các quan hệ hợp tác doanh nghiệp kiểu này được hình thành tự phát không có sự tác động của Nhà nước. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước trong việc đưa ra các chính sách khuyến khích, chủ động phát triển cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp là tiền đề quan trọng cho việc hình thành các kết cấu công nghiệp theo khu vực địa lý dạng này.

Thứ ba là dạng liên kết dưới hình thức đối tác kinh doanh chiến lược. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, hình thức đối tác kinh doanh chiến lược để liên kết với các doanh nghiệp nhỏ chưa được sử dụng nhiều. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đây lại là hình thức liên kết khá phổ biến. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định ba hình thức đầu tư là (i) doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, (ii) doanh nghiệp liên doanh, (iii) hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hai trong số ba hình thức này là đầu tư thông qua doanh nghiệp liên doanh và đầu tư thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đã trực tiếp quy định một mối liên kết về đối tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam. Trong thực tế, các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) đã có mặt rất sớm ở Việt Nam và hiện nay đang đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp luồng vốn đầu tư cũng như mở ra các cơ hội mới cho các DNNVV trong nước. Các tập đoàn xuyên quốc gia đang hoạt động ở Việt Nam như Intel, Motorola, Toyota, Unilever, Sanyo, Shell… đang có những chương trình phát triển hệ thống đối tác kinh doanh chiến lược như các nhà cung cấp, các hãng phân phối đã tạo điều kiện cho các DNNVV nâng cao trình độ quản lý và phát triển năng lực công nghệ. Ví dụ điển hình về hình thức này là việc Công ty Unilever Việt Nam đã hình thành mạng lưới trên 300 công ty vệ tinh (chủ yếu là các DNVVN) hoạt động rất hiệu quả, đem lại lợi ích cho các bên tham gia.

2. Nhân tố thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ

Theo kết quả những nghiên cứu về doanh nghiệp Việt Nam gần đây cho thấy những yếu tố ảnh hưởng tích cực, trực tiếp đến mối quan hệ tương tác giữa các doanh nghiệp lớn và các DNNVV là kết quả tích cực từ thành công của cải cách kinh tế mang đến tốc độ tăng trưởng cao của thị trường, môi trường chính sách được cải thiện và hệ thống thuế giá trị gia tăng được áp dụng thay hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp trước đây.

a/ Thành công của cải cách kinh tế ở Việt Nam

Quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam với nội dung chủ yếu là chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã đạt được những thành công to lớn trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và phát triển nhanh chóng doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của thị trường đã thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV. Sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng cũng như chất lượng các DNNVV đã góp phần đáp ứng nhiều mặt nhu cầu của các doanh nghiệp lớn từ việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, thực hiện các hợp đồng thầu phụ, phân phối sản phẩm do các doanh nghiệp lớn sản xuất ra.

b/ Các chính sách phát triển doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh được cải thiện nhờ tác động tích cực của các chính sách phát triển doanh nghiệp đã làm nên sự khác biệt trong đời sống kinh tế trên nhiều mặt như giải phóng tư duy và sức sáng tạo về ý tưởng kinh doanh và phương thức tổ chức kinh doanh, số lượng doanh nghiệp và số vốn đầu tư trực tiếp phát triển kinh doanh đã liên tục tăng nhanh, tạo thêm được hàng triệu chỗ làm việc mới, đóng góp tích cực vào tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách; là nhân tố đáng kể góp phần phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng trong mấy năm qua. Từ năm 2000, Luật Doanh nghiệp đi vào cuộc sống với các quy định rõ ràng, cởi mở và thuận tiện hơn cho việc thành lập doanh nghiệp khiến cho số lượng doanh nghiệp kinh doanh tăng nhanh với tốc độ chưa từng thấy. Cho đến tháng 9/2005 nước ta đã có khoảng 185.000 doanh nghiệp được thành lập, trong đó đăng ký mới trong giai đoạn 2000-9/2005 là gần 145.000 doanh nghiệp, cao hơn 3,5 lần so với con số 40.600 doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 1991-1999. Tính ra, trung bình hiện nay mỗi năm chúng ta có hơn 25 nghìn doanh nghiệp đăng ký mới, mỗi tháng có hơn 2 nghìn doanh nghiệp bước vào hoạt động.

Về các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, trong năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Nghị định 90 là khuôn khổ pháp lý cơ bản cho việc hỗ trợ các DNNVV, đưa ra các chính sách, chương trình hỗ trợ phát triển DNNVV, trong đó có các biện pháp mạnh mẽ thúc đẩy sự hợp tác trong cộng đồng DNNVV cũng như hợp tác với các doanh nghiệp lớn.

c/ Áp dụng hệ thống thuế giá trị gia tăng (VAT)

Hệ thống thuế lợi tức và thuế doanh thu trước đây là rào cản lớn đối với quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp. Khi hệ thống thuế doanh thu được áp dụng, mọi chi phí đầu vào của doanh nghiệp không được khấu trừ và bị trùng lắp khi tính thuế. Một sản phẩm là đầu ra của một doanh nghiệp đồng thời là đầu vào của một doanh nghiệp khác sẽ đồng thời phải chịu tính thuế doanh thu ở cả hai doanh nghiệp. Do vậy việc doanh nghiệp hợp tác với các doanh nghiệp khác, tăng giá trị yếu tố đầu vào trong cấu thành sản phẩm cuối cùng sẽ dẫn đến việc tăng tổng số thuế phải nộp, điều này hạn chế cơ bản việc hợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp. Ngược lại, khi hệ thống thuế VAT được áp dụng, rào cản trên cơ bản được khắc phục, góp phần thúc đẩy quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ.

3. Trở ngại và giải pháp phát triển quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV Việt Nam

a/ Về mặt chính sách:

Trong điều kiện hiện nay, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong quá trình xây dựng một môi trường chính sách thông thoáng thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động nhưng so với các nước khác, mức độ tự do của thị trường của nước ta còn nhiều hạn chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp nhà nước lớn, các quy định chặt chẽ về thủ tục đấu thầu là một nguyên nhân rất lớn ngăn cản các DNNVV tham gia vào việc cung cấp hàng hóa cũng như nhận lại thầu phụ từ các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn.

Thứ hai, chính sách về việc thành lập các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam cũng có những tác động tới sự hợp tác giữa hai cộng đồng doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong những năm 90 đã được tổ chức theo mô hình các tổng công ty, trong đó hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh được phân chia cho các doanh nghiệp thành viên. Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty mặc dù được hưởng nhiều lợi thế từ công ty mẹ cũng như về nguồn vốn sẵn có nhưng hoạt động kém hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp hoạt động độc lập khác. Trong khi đó, một DNNVV dù hoạt động hiệu quả, khả năng cạnh tranh tốt vẫn rất khó có thể tạo lập được quan hệ hợp tác làm ăn với một tổng công ty nhà nước sở hữu hàng loạt doanh nghiệp thành viên kinh doanh rất kém hiệu quả.

Thứ ba, chính sách thương mại của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng tiêu cực  đến quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Chính sách bảo hộ sản xuất trong nước với việc áp dụng thuế suất nhập khẩu khá cao cho một số mặt hàng do các doanh nghiệp nhà nước lớn sản xuất đã cho phép các doanh nghiệp này nhập khẩu các yếu tố đầu vào để sản xuất thay vì tìm kiếm và hỗ trợ các DNNVV trong nước cung cấp các yếu tố này cho họ.

Như đã phân tích ở trên, hợp tác giữa doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp hoàn toàn xuất phát từ động lực tăng hiệu quả và giảm chi phí. Môi trường chính sách có tính khuyến khích tự do cạnh tranh trên thị trường, giảm thiểu can thiệp của nhà nước, xóa bỏ các phân biệt đối xử giữa các khu vực doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là những điều kiện thuận lợi nhất cho sự hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và các DNNVV.

b/ Quy mô của thị trường

Mặc dù quy mô thị trường trong nước có tốc độ gia tăng cao nhưng so với các nước khác, quy mô thị trường trong nước vẫn còn tương đối nhỏ cũng ảnh hưởng hạn chế đến quá trình hợp tác giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớm. Nguyên nhân là do thị trường của các loại hàng hóa còn phân tán đồng thời chịu sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hóa nhập lậu đã hướng các DNNVV Việt Nam chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực dịch vụ và thương mại. Hoạt động trong các lĩnh vực này không tạo ra cho các DNNNVV lợi thế so sánh lâu dài trong quan hệ tương tác với các doanh nghiệp lớn.

c/ Yếu tố công nghệ

Trình độ công nghệ không tương xứng giữa các DNNVV với các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam là một nguyên nhân quan trọng hạn chế sự hợp tác giữa các doanh nghiệp DNNVV với các doanh nghiệp lớn. Trong mối quan hệ giữa  các DNNVV với các doanh nghiệp lớn, các DNNVV đòi hỏi phải đáp ứng được yêu cầu do các doanh nghiệp lớn đặt ra về mặt chất lượng đối với các hàng hóa, dịch vụ do DNNVV cung cấp. Tuy nhiên, thực trạng phổ biến của DNNVV ở Việt Nam hiện nay là trình độ công nghệ lạc hậu, sản xuất manh mún dẫn đến khó đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng hàng hóa trong mối liên kết với các doanh nghiệp quy mô lớn có trình độ công nghệ cao hơn hẳn.

d/ Chất lượng sản phẩm

Một nguyên nhân quan trọng khác gây cản trở tới sự hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV đó là việc thiếu một hệ thống chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn hóa hiệu quả có thể áp dụng như các tiêu chuẩn chung của xã hội để phục vụ quá trình trao đổi sản phẩm, hàng hóa giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Vấn đề cấp bách đặt ra đối với các DNNVV tại Việt Nam là Nhà nước và doanh nghiệp lớn cần hỗ trợ các DNNVV áp dụng và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn và yêu cầu chất lượng sản phẩm để đảm bảo các sản phẩm cuối cùng đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, có sức cạnh tranh.

Để thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác giữa cộng đồng DNNVV và các doanh nghiệp lớn, Nhà nước cần xem xét các biện pháp sau đây:

– Thúc đẩy sản xuất để tạo điều kiện cho DNNVV ra đời và phát triển: Chuyên môn hóa sản xuất là xu hướng phát triển hiện nay, nhất trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Một quốc gia sẽ có nhiều điều kiện phát triển hơn nếu như thu hút được các tập đoàn kinh tế đa quốc gia đến với mình. Với lợi thế về nhân công rẻ, an ninh tốt, vị trí địa lý thuận lợi, Chính phủ cần nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài tạo điều kiện cho sự ra đời của DNNVV nhất là trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ – một lĩnh vực còn yếu của Việt Nam.

– Nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV thông qua đổi mới công nghệ và kỹ thuật sản xuất: Sự hợp tác với doanh nghiệp lớn phải dựa trên nguyên tắc hiệu quả. Các DNNVV phải có trình độ kỹ thuật và công nghệ hiện đại cộng với đội ngũ lao động lành nghề. Các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước về đào tạo, chuyển giao công nghệ, kiểm tra chất lượng sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV, qua đó giúp nó có thể hợp tác bình đẳng và hiệu quả với các doanh nghiệp lớn. Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy rằng các DNVVN có thể hợp tác bình đẳng và phát huy hiệu quả trong mối quan hệ với doanh nghiệp lớn vì trình độ công nghệ của DNNVV cũng rất cao đều dựa vào công nghệ máy tính và kỹ thuật số hiện đại cho phép DNNVV có thể điều chỉnh sản xuất nhanh chóng và đạt được chất lượng thị trường đòi hỏi.

– Tăng cường năng lực hiệp hội doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quá trình trao đổi thông tin doanh nghiệp, thị trường tạo điều kiện cho hợp tác giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn.

Quan hệ tương tác giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trong một nền kinh tế là chỉ số quan trọng, một mặt nó thể hiện sự bền vững trong phát triển kinh tế xã hội của một nước, mặt khác nó thể hiện các giá trị dân chủ trong xã hội nước đó. Các doanh nghiệp lớn xây dựng nền tảng xương sống, trong khi các doanh nghiệp nhỏ sẽ là các mạch máu nhỏ để duy trì sự sống của cơ thể – nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình toàn cầu hóa, các doanh nghiệp lớn sẽ là những người lính tiên phong xây dựng năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khi các doanh nghiệp nhỏ góp phần ổn định nền kinh tế, giảm nhẹ các nguy cơ do toàn cầu hóa mang đến cho nền kinh tế đó. Phát triển quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nhỏ là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung trong thời gian tới.

(Nguồn: KT&PT – MOI.GOV.VN)

QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Quan điểm và mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý DNNN

Trong văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 ghi rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để các DNNN thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả. Xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của DNNN. DNNN có quyền tài sản, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, cạnh tranh, chấp nhận rủi ro. Gắn trách nhiệm, quyền hạn, lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của DN. Chăm lo đào tạo đội ngũ quản trị giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý công ty theo chế độ hiện đại”. Có thể nói, quan điểm và mục tiêu này là đầy đủ, vấn đề còn lại là đưa ra định hướng, giải pháp để đạt mục tiêu.

Những khó khăn mà DNNN đang phải chịu đựng

Hiện nay DNNN đang là đối tượng bị chỉ trích nặng nề cả trên các diễn đàn kinh tế – chính trị cũng như trong dư luận xã hội. Nhiều ý kiến đánh giá đây là lĩnh vực hoạt động kém hiệu quả, kém năng động, gây lãng phí tiền của Nhà nước nhiều nhất. Không ít DNNN hoạt động trong lĩnh vực độc quyền đã không làm được vai trò đem lại lợi ích cho dân mà ngược lại, đã xâm phạm lợi ích của nhân dân, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Công nghệ kĩ thuật chậm đổi mới, cơ chế quản lý nhùng nhằng, công tác cán bộ phức tạp, nếu không khẩn trương đẩy mạnh đổi mới DNNN thì khả năng cạnh tranh ngay chính trên sân nhà đã khó chứ chưa nói gì đến hội nhập. Tuy nhiên, công bằng mà nói, DNNN cũng phải chịu không ít khó khăn do cơ chế quản lý hiện nay.

Trước hết là quyền tự chủ của DN: DNNN đâu được kinh doanh những thứ mà Nhà nước không cấm, hầu các các DN lớn đều phải kinh doanh theo chỉ định của Nhà nước. Ngay trong mặt hàng mình kinh doanh cũng không phải cứ lãi là làm, lỗ thì thôi, mà phải mua cái này, dự trữ cái kia, rồi lại phải bán theo khung giá này, v.v… và v.v… Trường hợp phải mua bán theo lệnh, về nguyên tắc DNNN được bù lỗ, nhưng đến khi được bù lỗ thì số vốn bị “giam” đó đã đẩy lãi suất bao nhiêu, rồi đã lỗ thì xin được cơ chế thưởng cho người lao động đâu có dễ.

Thứ hai là vấn đề nhân sự: Hầu hết các DNNN của ta được thành lập từ thời bao cấp, đội ngũ lao động tay nghề lạc hậu, nhưng lại có thói quen biên chế cả đời, thay họ không dễ, đó là chưa kể đến con cháu của ông A, ông B kính gửi. Về lãnh đạo DN, từ cán bộ chủ chốt đến các bộ phận, bên cạnh nhiều người có năng lực thực sự, cũng không ít người năng lực còn hạn chế nhưng rất khó chọn được người giỏi với quy trình bổ nhiệm một giám đốc DN hiện nay; hoặc người giỏi cũng không dám “mạnh tay” bởi còn giữ gìn để lấy phiếu tín nhiệm kỳ tiếp.

Thứ ba là những quy định về cơ chế điều hành DNNN: Sau rất nhiều lần cải cách, nhưng chưa thoát được cơ chế “Bộ Tứ”. Rồi sự nhùng nhằng giữa Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc: Những quy định về phân cấp quyền hạn cho họ tưởng là rõ, nhưng không làm được. Ví dụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc thuê Tổng Giám đốc nhưng lại phải được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp (bộ, tỉnh…). Ở nhiều nơi, tỉnh còn quyết định cả giám đốc công ty con của Tổng công ty, hoặc quyết định cả phó giám đốc của công ty độc lập trực thuộc… Rồi cơ chế đầu tư, cơ chế phân chia lợi ích xem ra vẫn còn gây nhiều bế tắc cho DN.

Thứ tư là cơ chế tài chính, giá cả, tiền lương, tiền thưởng v.v… Xin nêu một ví dụ: DNNN kinh doanh có hiệu quả, nhưng chỉ được trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi theo % trên vốn vay, còn vốn tự có thì không được trích lập quỹ? Cái thành tích thi đua theo bằng khen, giấy khen thường rơi vào lãnh đạo, hoặc bộ phận nhỏ người lao động, trong khi số đông lao động họ cần quỹ khen thưởng và phúc lợi bằng tiền cho chính họ. Để thưởng cho người lao động, nhiều DN phải “chế biến” để thưởng chui. Đó là chưa kể đến những định mức tài chính không tiến kịp với những thay đổi của cơ chế thị trường… Điều này ai cũng biết và phải phục các kế toán trưởng của DNNN ta “chế biến” giỏi.

Thứ năm, đổi mới công nghệ thiết bị của DNNN rất chậm, trong khi quá nhiều DNNN thiết bị lạc hậu, quá trình đầu tư của các thời kỳ trước có cái không hợp lý về quy mô, sản phẩm, có cái lạc hậu ngay khi đầu tư mới, có cái phải chấp nhận do thời kỳ nhận viện trợ không hoàn lại (không có đường lựa chọn), có cái bị sức ép bởi vốn vay… Cứ với tốc độ đổi mới như thời gian qua thì DNNN làm sao tiến kịp DN tư nhân được, chưa nói đến DN FDI. Và ở đây cũng phải kể đến giá mua thiết bị mà DNNN phải chịu khấu hao quá mức bình thường cho phép, không dễ gì một vài ba năm khắc phục được.

Thứ sáu, quá ít DNNN có đủ vốn tự có theo quy định, đó là chưa kể thực tế hiện nay hơn 50% vốn tự có không phát huy hiệu quả, đang nằm trong tài sản chờ thanh lý (38% thiết bị chờ thanh lý) và trong nợ khó đòi. Tình trạng ấy phần nào do chính DN tạo ra, nhưng phần lớn do hậu quả của lịch sử, như phải bán chịu, phải ứng trước cho hộ dân, phải xây dựng công trình này, công trình kia. Tỉnh huyện cam kết sẽ trả nợ nhưng nợ cứ đè lên nợ. Hầu hết các DNNN có tổng tài sản gấp 10 đến 20 lần vốn tự có, tổng nợ ngân hàng bình quân gấp 6 đến 8 lần, trong lĩnh vực thương mại, xây dựng gấp 10 đến 20 lần. Trong khi hệ số an toàn của vốn vay/vốn tự có ở Mỹ và EU từ 2,5-3,5 lần, ở Singapo và Thái lan từ 3-4 lần. Vốn liếng DNNN ta như vậy thì làm sao vươn lên được.

Thứ bảy, các loại kiểm tra, thanh tra chắc chắn là DNNN phải chịu nhiều hơn là DN ngoài Nhà nước, đó là chưa kể đến các chi phí “tài trợ bắt buộc” mà DNNN phải chi cho các ngày lễ hội từ phường xã trở lên, từ tổ chức này đến tổ chức khác, nói là tự nguyện nhưng mà không thể từ chối được…

Định hướng giải pháp đổi mới cơ chế quản lý DNNN

Nước ta đang quá độ sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không giữ một lực lượng kinh tế nhà nước hùng mạnh (trong đó DNNN là một bộ phận) giữ vai trò phân phối một bộ phận tài nguyên quốc gia và ổn định kinh tế (nhất là kinh tế vĩ mô) thì hệ thống kinh tế đất nước không thể vận động hài hoà được; sự điều khiển kinh tế – xã hội theo định hướng của Nhà nước khó mà thực hiện. Nhưng nếu giữ quốc doanh bằng mọi giá, theo kiểu như hiện nay thì cũng không thể được và sẽ không phù hợp với xu hướng hội nhập.

Để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp lớn sau đây:

Một là, quyết tâm thực hiện cải cách DNNN, trong đó phải coi cổ phần hoá DNNN là trọng tâm, đồng thời tiến hành cải cách cơ chế quản lý DNNN theo chiều sâu trên mấy phương diện  sau:

– Cải cách thể chế kinh doanh theo hướng nâng cao quyền tự chủ (thực sự) kinh doanh của DNNN. Chấm dứt kiểu chờ đợi, DN nhìn lên Chính phủ (hoặc cơ quan chủ quản) và cơ quan chủ quản chỉ việc cho DN. Thị trường, lợi nhuận là mục tiêu hướng tới của DN.

– Cải cách cơ chế quản lý tài chính tại DNNN giữ 100% vốn, lấy hiệu quả kinh doanh trên vốn làm trọng chứ không phải theo nguyên tắc bảo toàn vốn. Hiệu quả được tính theo chu kỳ kinh doanh, chứ không phải theo năm kế hoạch, cho phép DN hạch toán “lãi để dành” chứ không phải lãi thì nộp, lỗ thì quy trách nhiệm. Theo đó, gắn chế độ, quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu DN với kết quả kinh doanh (nên áp dụng cả phương án thế chấp đối với giám đốc DN).

– Làm rõ quyền tài sản trong DN, nhất là quyền sở hữu và quyền sử dụng, theo đó cần quy định rõ quyền kiểm soát tài sản của chủ sở hữu với quyền tự chủ gắn với trách nhiệm và lợi ích của lãnh đạo và người lao động tại DN trên cơ sở hiệu quả. Xác định rõ ai là chủ đích thực của DNNN? Nếu cứ là chủ hờ thì dễ xảy ra tiêu cực nhiều hơn tích cực.

Hai là, nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách tuyển chọn lãnh đạo DNNN sao cho người có tài, có đức, giỏi chuyên môn có “đất” để thể hiện tài năng làm lợi cho DN, cho đất nước và cá nhân. Đây thật sự vẫn là khâu ách tắc nhất hiện nay. Cần nghiên cứu sửa quy chế dân chủ thực sự, quy chế lấy phiếu tín nhiệm hiện nay, sao cho vừa đảm bảo dân chủ thực sự (càng dân chủ cao càng dễ tìm được người tài đức), vừa tạo điều kiện để người đứng đầu dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm và phải chịu trách nhiệm.

Ba là, Chính phủ đưa ra các mô hình tổ chức cho DNNN lựa chọn phù hợp với chính quy mô, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh của DN. Mặt khác, cùng với việc đưa chính sách tạo ra một hệ thống DN hiện đại đáp ứng yêu cầu hội nhập thì kiên quyết tổ chức lại để trong hệ thống đó, DNNN phải đi đầu với nhiều tập đoàn kinh tế mạnh. Đó là các tập đoàn đa sở hữu Nhà nước giữ cổ phần chi phối đảm bảo đủ sức giữ vai trò phân phối một bộ phận tài nguyên quốc gia, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; xoá bỏ được quan hệ theo cấp hành chính của DNNN, đừng để rơi vào tình trạng “đổi mới giá”.

Bốn là, khi mô hình công ty mẹ – công ty con đã được vận hành ổn định, cần chủ động phương án lựa chọn phần lớn công ty mẹ để cổ phần hoá, trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Cuối 2006, sẽ có khoảng hơn 90 tổng công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con mà ở đó, công ty con hầu hết là công ty cổ phần, một số ít là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà nước 100% vốn. Theo chúng tôi, trong những năm tới, Chính phủ chỉ nên nắm giữ các tập đoàn và các tổng công ty hoạt động hiệu quả, có vai trò nắm giữ phân phối một bộ phận tài nguyên quốc gia, và phải thực sự là “quả đấm mạnh” trên nguyên tắc đa sở hữu. Trong 83 tổng công ty 90 (65 tổng công ty thuộc bộ cộng 18 tổng công ty thuộc tỉnh, thành phố), cần soát xét để có bước tổ chức lại và thực hiện cổ phần hoá công ty mẹ.

Năm là, một lần nữa Chính phủ cần tập trung giúp DNNN xử lý những tồn tại do lịch sử để lại như lao động thiếu chuyên môn, dôi dư; vấn đề nợ xấu tại DN và cả vốn đầu tư ODA mà trong đó chứa đầy yếu tố bất hợp lý, nhất là về giá. Nếu không giải quyết triệt để vấn đề này thì DNNN khó có cơ hội để hiện đại hoá, kịp chủ động trong hội nhập.

Sáu là, phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, trong đó đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường dịch vụ tài chính, thị trường lao động, thị trường bất động sản là môi trường trực tiếp giúp DN chuyển cơ chế kinh doanh, thúc đẩy DNNN nâng cao sức cạnh tranh.

Bảy là, cải cách cơ chế kinh doanh của các ngân hàng thương mại nhà nước, buộc họ phải hướng tới hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của DN, cùng chịu trách nhiệm và rủi ro. Không để tình trạng ngân hàng gánh chịu hậu quả khi DN làm ăn thua lỗ, mà ngân hàng phải kiểm soát được kết quả kinh doanh của DN.

Tám là, cải cách hành chính hướng tới mục tiêu phục vụ DN.

Cải cách hành chính không chỉ ở khâu Nhà nước, mà cả hệ thống Đảng,đoàn thể, nhất là hệ thống Đảng. Không ít lãnh đạo DN phàn nàn rằng sự phát triển DN của họ gặp khó khăn ngay cả ở tổ chức Đảng cơ sở chậm đổi mới phương thức, nội dung lãnh đạo, hoặc là mắc ngay tổ chức Đảng tại DN hoặc là tổ chức Đảng ở cấp hành chính, địa bàn họ đứng chân. Đảng, Chính phủ chăm lo xây dựng phẩm chất và có cơ chế kiểm soát đội ngũ cán bộ làm công tác thuế vụ, hải quan, quản lý thị trường, cảnh sát giao thông… nghĩa là những đối tượng trực tiếp với DN.

Chín là, làm rõ mối quan hệ Đảng lãnh đạo trong DNNN, Nhà nước với DNNN, DNNN với người lao động tại DN.

Theo chúng tôi, với tư cách là chủ sở hữu DNNN (100% vốn) thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm soát tài sản Nhà nước tại DN và tạo môi trường pháp lý để DN kinh doanh hiệu quả theo định hướng của Nhà nước, giảm thiểu, tiến tới chấm dứt tình trạng “Nhà nước điều hành DN”.

Đảng trong DNNN phải thực hiện quyền lãnh đạo với mục tiêu phát triển DN, tạo được quy chế tranh cử vị trí lãnh đạo trong Đảng để thực hiện quyền điều hành DN, tránh cơ chế “cơ cấu đồng chí giám đốc hay phó giám đốc làm bí thư hoặc phó bí thư Đảng”. Xử lý tránh trùng lặp trong chức năng, nhiệm vụ của chi uỷ, Đảng uỷ với Hội đồng quản trị công ty, tổng công ty. Nơi nào có Hội đồng quản trị nhất thiết bí thư Đảng phải làm chủ tịch.

Xây dựng quy chế dân chủ trong DNNN phải đạt được yêu cầu dân chủ thực sự, dân chủ với người lao động gắn với dân chủ tập thể; làm sáng tỏ mối quan hệ nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động đối với DN và với lãnh đạo DN. Xoá được quan niệm “bình đẳng” đồng nghĩa với “bằng đinh” mà cần tạo được “mái ấm gia đình trong DN.

Mười là, vấn đề bỏ cơ chế chủ quản. Trong điều kiện thực tế của hệ thống pháp luật ở nước ta, có lẽ trong vòng vài năm tới chưa bỏ được chủ quản. Nói cho cùng, DN tư nhân cũng có chủ quản, do chính chủ tư nhân đó quản. Vấn đề là làm rõ các quyền gắn với trách nhiệm của chủ quản. Đến cuối năm 2006, khi Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn đi vào hoạt động ổn định thì cơ chế chủ quản ở cấp tỉnh về cơ bản coi như không có nữa. Chỉ còn lại 5 tỉnh, thành phố có tổng công ty thì họ còn quản đó là: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Khánh Hoà, Đồng Nai, hơn 80 tổng công ty, tập đoàn thuộc Trung ương quản lý. Hiện nay còn 19 tổng công ty “91”, Thủ tướng trực tiếp quản một số khâu quyết định, còn lại là thuộc bộ. Sau khi có Nghị định 132 ngày 20/10/2005, sự phân công phân cấp đã rõ hơn nhiều, nhưng sự lòng vòng thì vẫn chưa giảm. Hiện nay Chính phủ đang xây dựng Nghị định để cụ thể hoá Luật DN 2005 có hiệu lực từ 1/7/2006. Cái chính là tập trung làm rõ chủ quản trong 101 tổng công ty (kể cả tập đoàn), theo đó cần xây dựng đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại các tập đoàn, tổng công ty ấy có phải là chủ thật của DN chưa? Bộ quản thì thì có hơn được họ tự quản không, hay là lại làm cái “bình phong”, để rồi khi quy trách nhiệm những thiếu sót xảy ra thì “chung cả làng”? Đây cũng là những nút thắt cần được tháo gỡ ngay, theo hướng giao quyền trực tiếp cho Hội đồng quản trị – người đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại DN. Thủ tướng (hoặc bộ trưởng), ngoài việc quyết định thành lập hoặc giải thể, chỉ nắm chắc, trực tiếp Hội đồng quản trị, quyết định chiến lược kinh doanh và cơ chế khung phân phối lợi nhuận và chủ trương đầu tư.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

(Nguồn: TCTC – MOI.GOV.VN)

BÀN THÊM VỀ TÍNH CHẤT CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SỰ BỨC XÚC CẦN SẮP XẾP LÀM

moi.gov.vn – Vấn đề nhận thức lại Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) để khẳng định vai trò và bố trí lực lượng của nó trong nền kinh tế nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao là một trong những vấn đề lớn hiện nay đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu.

Những định hướng lớn đối với kinh tế nhà nước nói chung và DNNN nói riêng mà Đảng ta nêu ra trong Nghị quyết TW3 (khóa IX) là chính xác, nhưng mới là quan điểm định hướng lớn. Nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những định hướng đó thì khó có thể làm cho DNNN làm tốt vai trò mà xã hội đặt ra. Bài này tập trung trình bày những tính chất của DNNN, nêu những ưu thế và hạn chế của nó và đề xuất một số biện pháp khắc phục.

1. Tính chất của DNNN

Thứ nhất, về tính chất tất yếu tồn tại và đóng vai trò then chốt của DNNN: DNNN là loại hình doanh nghiệp dựa trên sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất, do đó khác các loại hình doanh nghiệp khác trên ba điểm sau đây: Một là, vì vốn của doanh nghiệp hầu hết của nhà nước nên DNNN, dù là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh, hay doanh nghiệp công ích, thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn luôn chú trọng hiệu quả kinh tế-xã hội. Do đó, sự có mặt của DNNN là lực lượng vật chất quan trọng đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế, chống lại mọi hành vi cơ hội, chạy theo lợi nhuận bằng bất cứ giá nào của các loại doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Hai là, do DNNN là của nhà nước nên lợi nhuận sẽ do nhà nước sử dụng. Do đó, nhiều nước còn giao cho DNNN những lĩnh vực có lợi nhuận cao với ý đồ giữ cho nhà nước những khoản lợi nhuận lớn này để giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường. Ba là, trong thực tế, còn có nhiều lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế không cao nhưng lại cần thiết cho sự ổn định kinh tế-xã hội, các doanh nghiệp tư nhân không muốn và không thể đầu tư, chỉ có DNNN, vì lợi ích chung, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối hậu, mới đảm nhiệm. Những lý do trên dẫn đến kết luận: Trong những lĩnh vực quan trọng, huyết mạch của nền kinh tế, DNNN phải có mặt và đóng vai trò then chốt như Nghị quyết TW3 (Khóa IX) đã khẳng định. Đây cũng là lý do mà ở hầu hết các nước trên thế giới, ít hay nhiều, đều tồn tại DNNN.

Thứ hai, về tính khó minh bạch của DNNN: DNNN là loại hình dựa trên sở hữu nhà nước. Vì vậy, cùng một lúc phải giải quyết nhiều mối quan hệ phức tạp: quan hệ giữa chủ thể sở hữu (ở đây là nhà nước, mà đại diện là cơ quan chủ quản và hội đồng quản trị) với chủ thể sử dụng (ở đây là doanh nghiệp mà đại diện cũng rất phức tạp: hội đồng quản trị, giám đốc, đại hội công nhân viên chức, BCH đảng bộ, công đoàn, đoàn thanh niên…) và người lao động (cùng một lúc đóng hai vai trò: chủ thể sở hữu lao động và là chủ tập thể xí nghiệp) trên các mặt trách nhiệm và lợi ích kinh tế, trong đó quan trọng nhất là lợi ích kinh tế. Xử lý mối quan hệ này rất khó khăn và phức tạp. Tình trạng bộ phận quản lý doanh nghiệp (mà trực tiếp là giám đốc) bỏ qua quyền lợi của bản thân doanh nghiệp và nhà nước vì lợi ích của cá nhân trong các DNNN thường xuyên diễn ra. Trong trường hợp giám đốc có tâm, có tài , muốn làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì lại bị những ràng buộc của cơ chế chung cản trở. Kết quả là DNNN thường không có hiệu quả kinh tế cao. Hạn chế này xuất phát từ tính chất của sở hữu mà ngay các doanh nghiệp quốc doanh của các nước tư bản cũng thường gặp phải. Rõ ràng là, việc minh bạch hóa hoạt động của DNNN thường là vấn đề đau đầu các nhà hoạch định chiến lược.

Thứ ba, tính kém hiệu quả trong các DNNN: Nhìn chung, hoạt động của DNNN thường không có hiệu quả cao (ví dụ năm 2002 có 20% DNNN thu lỗ, 40% hòa vốn, hoạt động cầm chừng, 40% có lãi nhờ chính sách ưu đãi về thuế, xóa thuế nợ đọng, trợ cấp xuất khẩu – theo CIEM). Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng đó: Một là DNNN thường phải đảm nhận kinh doanh trên những khu vực ít lãi, phải đáp ứng những nhu cầu xã hội mà các doanh nghiệp tư nhân không chịu đảm nhận; hai là, sở hữu nhà nước thuần túy làm cho cơ chế quản lý DNNN trở thành vấn đề phức tạp, rất khó để có thể thu lợi nhuận cao xuất phát từ khó khăn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng.

Thứ tư, tính bao trùm quá rộng của hệ thống các DNNN do lịch sử để lại: Hệ thống DNNN ở nước ta được xây dựng lâu dài và theo quan niệm cũ, là một hệ thống rộng khắp từ Trung ương xuống địa phương, quản lý một lượng lao động rất lớn, một nguồn vốn lớn và những điều kiện thuận lợi nhưng hiệu quả được coi là thấp (theo TS Nguyễn Văn Ân, Viện trưởng CIEM thì đến 31-12-2002 có 4722 DNNN 100% vốn của nhà nước, nếu tính cả số DN mà Nhà nước có cổ phần khống chế thì số DNNN là 5175).

Từ các tính chất trên của DNNN có thể kết luận: trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phải có mặt DNNN với vai trò then chốt. Nhưng vai trò then chốt của DNNN phải thể hiện ở mặt chất chứ không phải mặt lượng. Do đó, việc sắp xếp lại DNNN trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là vấn đề bức xúc.

2. Một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả của DNNN để nó làm tròn vai trò then chốt trong nền kinh tế:

Thứ nhất, giảm nhanh các DNNN ở các khâu không cần sự có mặt của DNNN. Chúng tôi cho rằng DNNN không nhất thiết phải giữ số lượng lớn và ở khắp mọi ngành. Những ngành sau đây DNNN không cần có tỷ trọng lớn, thậm chí không cần duy trì DNNN:

– Khu vực trồng cây lương thực, ăn quả và chăn nuôi trong nông nghiệp. Khu vực này chỉ kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể mới có hiệu quả. Hiện nay vẫn còn tồn tại một số nông trường đang hoạt động nhưng hiệu quả không cao. Thức chất các nông trường cũng phải dựa vào hộ nông trường viên. Sự tồn tại của các nông trường hiện nay mang nặng nguyên nhân lịch sử chứ không phải do đòi hỏi kinh tế. Loại hình kinh tế phù hợp với khu vực này là kinh tế cá thể, tiểu chủ hoặc các hình thức kinh tế tập thể. Các nông trường nên chuyển sang DNNN kinh doanh dịch vụ hoặc cơ sở chế biến. Nếu không hiệu quả thì có thể chuyển hình thức sở hữu sang loại hình tập thể hoặc tư nhân.

– Khu vực thương mại bán lẻ. Do kế thừa những cơ sở bán hàng từ trước, thương mại quốc doanh phải duy trì sự tồn tại. Tuy nhiên, nếu áp dụng lối kinh doanh theo kiểu cũ thì các cơ sở luôn lỗ vốn do người bán hàng đưa hàng cá nhân của mình vào bán và hưởng lợi riêng. Vì thế, hầu hết các doanh nghiệp này đều áp dụng cơ chế khoán, trở thành DNNN một cách hình thức. Do đó, khu vực này không nhất thiết duy trì DNNN.

– Khu vực công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp. Đây là khu vực rộng lớn, phong phú, đa dạng với nhiều ngành nghề. Trừ một số cơ sở công nghiệp nhẹ có quy mô lớn và công nghệ hiện đại có thể là DNNN, còn loại hình kinh tế hiệu quả nhất đối với khu vực này là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ hoặc các doanh nghiệp hợp tác.

Nhưng để kinh tế nhà nước có thể tác động quyết định chiều hướng phát triển của nền kinh tế, phải xây dựng một số DNNN nắm các khâu công nghiệp đầu vào (công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất chủ yếu); một số cơ sở công nghiệp chế biến quy mô lớn, chất lượng cao; một số DNNN trong thương nghiệp bán buôn; một số DNNN quan trọng ở lĩnh vực du lịch, dịch vụ… Mỗi lĩnh vực nêu trên chỉ nên có một số doanh nghiệp vừa đủ để quyết định chiều hướng phát triển và đảm bảo sự phát triển ổn định trong lĩnh vực đó và của nền kinh tế. Với các khu vực an ninh quốc phòng như sản xuất vũ khí, chất nổ hoặc nghiên cứu triển khai các loại vũ khí…, loại hình doanh nghiệp thích hợp là DNNN.

Như thế, muốn giảm được DNNN không nên chỉ căn cứ vào sự hoạt động hiệu quả của nó hiện nay mà chủ yếu căn cứ vào yêu cầu, vị trí của doanh nghiệp đó đối với nền kinh tế.

Để giảm nhanh được DNNN, cần có một tổ chức đủ năng lực khoa học, đủ quyền lực cần thiết trong từng ngành làm nhiệm vụ xem xét, giải tỏa. Phải coi đây là nhiệm vụ chiến lược tập trung toàn lực của xã hội, trong một thời gian nhất định, thì mới giải quyết được vấn đề này. Để sự sắp xếp chuyển đổi không gây xáo trộn lớn và để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, Nhà nước có thể nắm vững những DNNN đầu mối, còn những DNNN khác thì chuyển đổi hình thức sở hữu dưới dạng công ty cổ phần hoặc liên kết liên doanh, chuyển những doanh nghiệp này thành các công ty con, DNNN đầu mối là công ty mẹ. Như vậy vừa đạt yêu cầu giảm nhanh DNNN vừa bảo đảm tăng tính hiệu quả của nó. Hiện nay chúng ta đã có hệ thống tổ chức đổi mới DNNN nhưng hệ thống này, theo chúng tôi, chưa đủ năng lực và quyền lực để làm tốt vấn đề này. Do đó cần tổ chức lại bộ phận này trên cả lĩnh vực nhân sự và cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động.

Thứ hai, vấn đề cấp bach hiện nay là tìm ra cơ chế để DNNN hoạt động có hiệu quả, làm tròn vai trò của nó trong nền KTTT. Chúng tôi cho đây là một trong những vấn đề cấp bách nhất và cũng khó khăn nhất trong giai đoạn hiện nay. Để tìm ra được cơ chế cho DNNN hoạt động có hiệu quả, theo chúng tôi, cần phải giải quyết được mối quan hệ giữa quyền của chủ sở hữu và quyền tự chủ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Mối quan hệ này cần phải được rõ ràng, minh bạch. Thường có những cách sau đây trong việc minh bạch hóa hoạt động của DNNN:

– Về vĩ mô: bao gồm hàng loạt những quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của DNNN trong việc bảo toàn vốn, thực hiện nghiã vụ nộp thuế, đặc biệt là thuế lợi nhuận doanh nghiệp. Trong các trách nhiệm và nghĩa vụ đó, cần đặc biệt chú trọng cơ chế bảo toàn vốn và thu lợi nhuận. Những cơ chế này phải được xây dựng và thể hiện trên luật pháp (bao gồm luật và cả các quy định dưới luật). Cơ chế này phải nêu rõ trách nhiệm và quyền lợi của những cá nhân quản lý doanh nghiệp, quy định chế độ hạch toán và kiểm toán rõ ràng, chặt chẽ. Một số nước TBCN áp dụng cơ chế đại diện nhà nước ký hợp đồng với cán bộ của Nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp để xác định trách nhiệm và quyền lợi cụ thể giữa hai bên hoặc công ty tư nhân nhận quản lý DNNN. Họ cho rằng loại hợp đồng thứ hai có hiệu quả hơn. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm này.

– Cần xóa bỏ quan niệm cho rằng phải gắn trách nhiệm giải quyết những vấn đề xã hội cho duy nhất DNNN. Chúng tôi cho rằng đã là DNNN hoạt động với mục đích kinh doanh thì phải lấy mục tiêu lợi nhuận (trên cơ sở luật pháp) làm mục tiêu tối hậu. Vấn đề xã hội là việc của nhà nước và của toàn dân. DNNN công ích phải đảm bảo nhiệm vụ quy định trên cơ sở bảo toàn vốn. trường hợp bị lỗ bất khả kháng thì Nhà nước sẽ bù nhưng trên cơ sở hạch toán rõ ràng.

Về vi mô: Hoàn chỉnh cơ chế tự chủ của DNNN, tách DNNN khỏi sự ràng buộc của cơ chế chủ quản. Nội hàm của tính tự chủ cũng phải được quy định chi tiết, trong đó phải quy định rõ cá nhân, tập thể có quyền quyết định hoạt động của doanh nghiệp (HĐQR, Chủ tịch HĐQT, giám đốc, cấp ủy đảng, đảng bộ, công đoàn, đoàn thanh niên, hội nghị công nhân viên chức). Đồng thời cần đẩy nhanh việc cổ phần hóa DNNN; chuyển những DNNN lớn thành mô hình công ty mẹ, công ty con trong đó có công ty con là những công ty cổ phần.

Các bài viết có liên quan: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

(Nguồn: KTPT- MOI.GOV.VN)

CỔ PHẦN HÓA: KHÔNG THỂ BÀN LÙI

Chuyển các DN do Nhà nước sở hữu 100% vốn thành Cty cổ phần (gọi tắt là CPH), là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã và đang được thực hiện trong nhiều năm qua.

Đến nay, không còn ai nghi ngờ gì về những tác động tích cực của CPH đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, gần đây, một số ý kiến đã đề nghị nên ”phanh lại” tốc độ CPH các DNNN. Những đề nghị ấy đưa ra nhiều lý do khác nhau, song tựu trung lại, có hai vấn đề nổi cộm cần quan tâm.
Thứ nhất, trong thời gian qua, tình trạng ”liên kết ngầm” của một nhóm quyền lực trong việc bán đấu giá lần đầu khi CPH các DNNN nhằm thôn tính DN đã xảy ra khá nhiều. Mục tiêu của “liên kết ngầm” này không có gì khác là chuyển một phần tài sản của Nhà nước sang cho một nhóm các cá nhân (xuất hiện hoặc không xuất hiện trực tiếp) có quyền thao túng việc CPH DN nhà nuớc.
Thứ hai, đã đến lúc, các “đại gia” trong các DNNN vào cuộc. Các tập đoàn, các TCty lớn, các ngân hàng thương mại Nhà nước đã có kế hoạch CPH trong một thời gian không xa. Khi CPH, các ”đại gia” này sẽ ngay lập tức đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Vì vậy, nhiều ý kiến lo ngại rằng, với một lượng rất lớn cổ phiếu của các DNNN này tung ra thị trường, tình trạng cung vượt cầu quá lớn trên TTCK VN là không thể tránh khỏi. Xa hơn nữa, nhiều ý kiến cũng cảnh báo rằng, điều đó có thể là ngòi nổ cho một cuộc khủng hoảng tài chính như đã từng xảy ra vào những năm 1997 -1999 trên thị trường tài chính khu vực. Khi đó, hậu quả đối với nền kinh tế sẽ là vô cùng lớn.
Tuy nhiên, lập luận của đề nghị ”phanh lại” tốc độ CPH như nêu trên là đúng nhưng chưa đủ. Có thể cho rằng, đó chỉ là những ý kiến dựa vào những biểu hiện bề ngoài để ”bàn lùi” trong vệc CPH các DNNN.
Trước hết, CPH các DNNN, tự bản thân nó là một chủ trương đúng đã được khẳng định trong thực tế. Nó là ”phác đồ điều trị” hữu hiệu để vực dậy những DNNN đang tồn tại ngắc ngoải trong nhiều năm; là biện pháp tích cực để thu hút vốn của mọi tầng lớp nhân dân đầu tư vào sản xuất, kinh doanh của các DN, là biện pháp có hiệu quả để biến những người lao động làm thuê tại các DNNN thành những người đồng sở hữu thực sự. Và, quan trọng hơn cả, đó là điều kiện quan trong nhất để xoá bỏ cơ chế chủ quản – cái nôi của cơ chế xin – cho…
Những tiêu cực phát sinh trong quá trình CPH các DNNN là có thực và đang làm đau đầu các nhà quản lý. Song, phải khẳng định ngay rằng, những tiêu cực ấy không có nguyên nhân từ bản thân việc CPH các DNNN. Nó xuất phát từ sự yếu kém trong nghiên cứu, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện việc CPH. Chẳng hạn, nhiều nghiên cứu đã chỉ rằng, nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các “liên kết ngầm” nhằm thôn tính các DNNN khi CPH là do giá trị quyền sử dụng đất đã không được tính vào giá trị DN khi CPH. Đất đai là tài sản đặc biệt có khả năng sản sinh ra một lượng giá trị lớn được gọi là “địa tô chênh lệch”. Địa tô chênh lệch xuất hiện trong kinh tế thị trường không phụ thuộc vào việc mảnh đất đó là giao đất hay thuê đất… Lý giải rằng, đất do DN đi thuê thì không được đưa vào giá trị DN khi CPH là đúng về lý thuyết kế toán nhưng lại không đúng trong thực tế. Không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN khi CPH tức là Nhà nước đã từ bỏ quyền được nhận phần “địa tô chênh lệch” phát sinh từ quyền sử dụng đất. Và, tất yếu, phần ”địa tô” ấy sẽ rơi vào túi những người quản lý, điều hành DN sau CPH. Tiếc rằng, trong Nghị định 109 mới ban hành về CPH các DNNN, vướng mắc trên vẫn chưa được giải quyết triệt để. Một mâu thuẫn nữa đã xuất hiện trong thực tiễn và cũng chưa được giải quyết triệt để đó là: nếu xác định đúng giá trị DN khi CPH, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, thì giá trị DN tăng lên rất cao, cổ phiếu bán ra với giá trị khá lớn, có thể vượt quá khả năng mua CP của người lao động và khi đó việc bảo đảm quyền mua CP của người lao động sẽ không thực hiện được…
Phân tích trên cho thấy, những tiêu cực trong việc CPH các DNNN chủ yếu xuất phát từ năng lực quản lý, điều hành. Không thể vì yếu kém trong quản lý mà “phanh lại” hay “cấm” một hoạt động đúng quy luật khách quan.
Về tác động của CPH các DNNN tới TTCK là tất yếu, không thể né tránh. Nếu nó không tác động hôm nay thì sẽ tác động vào ngày mai. Vì vậy, cũng không thể “vin” vào sư yếu kém trong việc quản lý, điều hành TTCK để làm chậm lại tiến trình CPH các DNNN.
CPH các DNNN là chủ trương đúng, hợp quy luật, hợp lòng dân. Xin đừng vì những yếu kém chủ quan mà bàn lùi để níu kéo sự tồn tại của các DNNN và cơ chế xin cho còn rất nặng nề như hiện nay.

(Nguồn:DĐDN)

 

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – ĐÔI ĐIỀU LÀM RÕ

SOURCE: MOI.GOV.VN

Tôi cho rằng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ là một nhiệm vụ kinh tế mà cũng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, rất nhạy cảm: đột phá vào một phần của vấn đề sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu của chủ nghĩa xã hội mô hình cũ, theo tư duy mới về sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Ðảng ta trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm, cụ thể hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ðây là một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn mà cấp bách, phải kiên quyết và khẩn trương tiến hành nhưng thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, luôn luôn giữ vững định hướng XHCN, nhất là nay nước ta đã gia nhập WTO.
Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là xử lý về mặt quan hệ sản xuất để phát triển lực lượng sản xuất. CPH DNNN góp phần thúc đẩy CNH, HÐH đất nước: DNNN có điều kiện huy động được những khoản tiền lớn trong nhiều nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đổi mới công nghệ ngày càng hiện đại, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực mới, phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngược lại, CNH, HÐH là phát triển lực lượng sản xuất, tạo động lực ngày càng mạnh mẽ để thúc đẩy CPH DNNN cũng như các DN khác trong toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, CPH DNNN phải gắn chặt với CNH, HÐH đất nước.
Như Ðảng ta chỉ rõ, tiêu chí quan trọng nhất đánh giá thành công của CPH DNNN là hiệu quả của DNNN cổ phần trong nhiệm vụ làm nòng cốt cho kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, thúc đẩy tất cả các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Ðây là một thành công “kép” cả về mặt phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại và về mặt định hướng XHCN (trước hết bởi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển).
Ðương nhiên, CPH mới là xử lý vấn đề sở hữu – là quan trọng nhất; còn phải tiếp tục xử lý các vấn đề quản lý và phân phối nữa mới phát huy được hiệu quả của DNNN CPH. Quản lý và phân phối là quyết định ở thời kỳ “hậu CPH” mà then chốt là quản lý.
Vấn đề được dư luận quan tâm nhiều là, trong và sau CPH, cơ cấu sở hữu và chủ sở hữu của DN cổ phần phải như thế nào thì DN cổ phần ấy mới là DN cổ phần thuộc thành phần kinh tế nhà nước, với vị trí, vai trò và trách nhiệm của nó, không bị tư nhân hóa hoặc trở thành DN cổ phần thuộc thành phần kinh tế khác.
Ðương nhiên, không nói đến nhiều DNNN mà Nhà nước không cần và không nên nắm giữ, phải xử lý bằng nhiều biện pháp: sáp nhập, giải thể, bán…, góp phần lành mạnh hóa hệ thống DNNN.
Trong quá trình CPH DNNN thời gian qua ở nước ta, đã hình thành những DN cổ phần bao gồm ba chủ sở hữu là: Nhà nước, người lao động trong DN và cổ đông ngoài DN. Tổng hợp chung ở các công ty đã CPH, trong vốn điều lệ của DN, Nhà nước nắm giữ 49%, người lao động trong DN 26%, cổ đông ngoài DN 25%. CPH tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong DN.
Theo thông tin trên thì đây là một bước đột phá rất có ý nghĩa trong tư duy mới về sở hữu Nhà nước. DNNN không chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước. Người lao động không sở hữu thực chất vẫn là người làm thuê (chỉ làm chủ về mặt lý thuyết thông qua Nhà nước của mình như trong chủ nghĩa xã hội mô hình cũ). Nay người lao động trở thành chủ sở hữu trực tiếp DN, là đồng sở hữu với Nhà nước và cổ đông ngoài DN. Tức là chúng ta thừa nhận trong thực tế người lao động chủ sở hữu trực tiếp vốn, tư liệu sản xuất (chứ không chỉ thừa nhận chủ sở hữu về tư liệu sinh hoạt theo mô hình chủ nghĩa xã hội cũ). Ðây là một bước tiến mới trong sự nghiệp giải phóng người lao động, đồng thời động viên được các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế nhà nước, tạo nên động lực mới, to lớn cho người lao động, cho sự phát triển mạnh mẽ của DNNN.
Phân tích mô hình DNNN CPH hình thành trong thời gian qua, được coi thuộc thành phần kinh tế nhà nước, ta thấy rằng, trong cơ cấu đa sở hữu của DN, sở hữu Nhà nước và sở hữu người lao động trong DN chi phối. Ðương nhiên nếu hình thức sở hữu khác chi phối thì DN cổ phần đó thuộc thành phần kinh tế khác: hoặc kinh tế tập thể, hoặc kinh tế tư nhân và tư bản tư nhân, hoặc kinh tế tư bản nhà nước, cũng cần phát triển trong nền kinh tế nói chung. Xin lưu ý tác động của kinh tế thị trường, trong đó có thị trường chứng khoán đến sự biến đổi chủ sở hữu và có thể cả cơ cấu sở hữu của DN cổ phần.
Như vậy, sở hữu người lao động trong DNNN trở thành một bộ phận cấu thành phổ biến trong cơ cấu sở hữu của DN cổ phần thuộc thành phần kinh tế nhà nước. Ðang diễn ra một quá trình giải phóng người lao động không sở hữu, làm thuê trong DNNN kiểu cũ thành người lao động chủ sở hữu, làm chủ trong DNNN kiểu mới. Vì vậy, Ðảng ta rất coi trọng việc tạo điều kiện để người lao động trong DNNN tham gia sở hữu cổ phần. Ðương nhiên, về kinh tế, có vấn đề phát huy tác dụng chi phối tối đa và hiệu quả cao nhất bằng số vốn tối thiểu của Nhà nước trong DN cổ phần của Nhà nước, và cả khi đầu tư vào DN cổ phần thuộc các thành phần kinh tế khác.
Tôi hiểu, đây chính là CPH DNNN theo định hướng XHCN. Trong thực tế, ta đã thừa nhận: sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân, công hữu của chủ nghĩa xã hội đổi mới, của chủ nghĩa xã hội hiện đại không phủ định mà có sự cấu thành sở hữu trực tiếp của cá nhân người lao động liên hiệp lại, nhưng phải trên cơ sở những thành tựu của CNH, HÐH, của kinh tế tri thức trong văn minh trí tuệ.
Có một thực tế sẽ ngày càng phổ biến là, trong kinh tế thị trường, trước sự phát triển sôi động của thị trường chứng khoán, sẽ có nhiều nhà đầu tư tham gia cổ phần trong DN nhưng không làm việc tại DN, trong khi đó, do yêu cầu mở rộng sản xuất, kinh doanh mà DN tiếp nhận thêm nhiều lao động không sở hữu cổ phiếu nào trong DN. Vậy, vấn đề người lao động sở hữu cổ phần trong DNNN sẽ như thế nào?
Rõ ràng, nếu trong DNNN CPH không có người lao động sở hữu cổ phần, chỉ có quan hệ của nhà đầu tư tư nhân và người lao động làm thuê chi phối, thì chúng ta sẽ chỉ có những DN cổ phần thuộc các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản tư nhân; có sở hữu Nhà nước nữa thì DN thuộc thành phần kinh tế tư bản nhà nước.
Trong chủ trương phát triển các DN cổ phần thuộc các thành phần kinh tế khác, vấn đề người lao động chủ sở hữu cổ phần trong những DN cổ phần ấy được đặt ra như thế nào? Tôi cho rằng có thì rất tốt, nên khuyến khích, nhưng không phải là nguyên tắc, không phải là bắt buộc. Tuy nhiên cũng nên lưu ý, ngay trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ở nhiều nước, như ở Mỹ, người lao động trong nhiều DN tư bản chủ nghĩa tham gia đầu tư, chủ sở hữu một phần cổ phiếu không chi phối; đương nhiên đó vẫn là những DN tư bản chủ nghĩa, quan hệ chi phối ở đây là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tôi đề nghị tiếp tục làm rõ vấn đề cổ đông người lao động trong DNNN CPH – cũng là nguyện vọng chính đáng của người lao động trong DNNN, nhất là chúng ta triển khai một nhiệm vụ mới nặng nề nhưng rất vẻ vang: CPH thêm mấy nghìn DNNN nữa, chủ yếu là các DN lớn, các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế nắm giữ phần vốn chủ yếu của Nhà nước trong DNNN.
Ðịnh hướng đúng cho phép ta phân biệt đâu là những nhân tố mới cần nhân lên tuy có khó khăn, đâu là những trở ngại phải gạt bỏ tuy chẳng dễ dàng.
CPH DNNN, đột phá vào DNNN chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước, là phải đưa người lao động trong DN vào đồng sở hữu với Nhà nước, tiếp tục thực hiện việc giải phóng người lao động, trước hết từ người lao động không sở hữu làm thuê trở thành người lao động có sở hữu làm chủ, đồng thời trở thành người lao động có tri thức trong quá trình CNH, HÐH gắn bó chặt chẽ với CPH DNNN.
Hai công cuộc giải phóng này trong thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta được kết hợp với nhau một cách hợp lý và khôn khéo như thế nào đó, là vận dụng quy luật về sự tác động biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, mà quyết định phải là phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại. Như vậy mới thực hiện được giải phóng người lao động hoàn toàn và triệt để. Trước mắt và về lâu dài, đây là bước khởi đầu của một giai đoạn lịch sử trí thức hóa người lao động, trí thức hóa giai cấp công nhân; cùng với việc các tầng lớp trí thức ngày càng tham gia đông đảo đội ngũ giai cấp công nhân, xây dựng và phát triển giai cấp công nhân hiện đại, làm chủ, đại biểu cho phương thức sản xuất mới trong chủ nghĩa xã hội hiện đại.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

TÍNH HÌNH THỨC TRONG ĐĂNG KÝ KINH DOANH

Tính hình thức trong đăng ký kinh doanh chính là nội dung đăng ký kinh doanh yêu cầu phải có, nhưng thực tế cơ quan quản lý kinh doanh không kiểm soát hoặc không thể kiểm soát, ít ra là vào thời điểm doanh nghiệp đăng ký.

Việc đăng ký kinh doanh hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 88/2006/NĐ-CP. Tính hình thức được nói trong bài viết không có nghĩa những đơn từ phải theo mẫu thống nhất của cơ quan quản lý kinh doanh mà là nội dung đăng ký kinh doanh bắt buộc phải có, nhưng trên thực tế cơ quan quản lý kinh doanh không kiểm soát hoặc không thể kiểm soát.
Về tên doanh nghiệp.
Tên doanh nghiệp phải ghi bằng tiếng Việt. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn sử dụng bằng tiếng nước ngoài chỉ được dùng tên công ty mẹ. Chính vì quy định này mà có những tên tiếng nước ngoài khi dịch sang tiếng Việt hoàn toàn không mang một ý nghĩa nào như Công ty Hậu cần Quyền lực (Power Logistics Corporation), Công ty Chuyên Nhân tạo (Artificial Pro Inc)…Các nước quanh ta đều cho phép doanh nghiệp sử dụng tiếng nước ngoài đặt tên nhằm nâng cao khả năng hội nhập như Trung Quốc có công ty Lenovo, Haier, Chery, Alibaba.com; Hàn Quốc có Kucky Goldstar (sau này là LG); Nhật có Sony…Có lý không khi các doanh nghiệp Việt Nam đã tên tuổi như X-Men, Kido, Nino Maxx, VnExpress, Vietnamnet… lại không thể dùng tên thương mại của mình để đặt tên cho doanh nghiệp bởi những quy định trên?
Việc buộc đặt tên doanh nghiệp bằng tiếng Việt bất kể tên đó có ý nghĩa không, có trong sáng và ăn sâu vào tâm trí người tiêu dùng hay không vô hình trung lại là quy định quá hình thức, gây cản trở cho doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên cùng địa bàn.
Việc quy định tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là tên công ty mẹ cũng là một cản trở với các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam thông qua các công ty mẹ có tên khác với tên doanh nghiệp tại Việt Nam. Ví dụ, tên doanh nghiệp ở Việt Nam là Coca Cola, những tên công ty mẹ ở nước ngoài là Fraser & Neaves. Đối với đăngký ten doanh nghiệp, chỉ cần quy định ai đăng ký trước được ưu tiên đặt tên trước là đủ.

Vốn điều lệ của doanh nghiệp

Theo quy định hiện hành, vốn điều lệ của doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) phải ghi bằng tiếng Việt, sau đó có thể ghi tương ứng bằng ngoại tê.
Việc ghi vốn bằng tiếng Việt hay bằng ngoại tệ không ảnh hưởng đến trách nhiệm và hạot động của doanh nghiệp. Khi ký kết hợp đồng với doanh nghiệp bất kỳ, bạn quan tâm đến vốn điều lệ quả doanh nghiệp đó là bao nhiêu chứ không cần quan tâm đến đơn vị tiền tệ của số vốn đó. 16.000 đồng hay 1 USD đều không quan trong, chưa kể vào thời điểm góp vốn đồng ngoại tệ có tỷ giá khác so với tỷ giá quy định tại thời điểm nộp đơn.

Con dấu của pháp nhân
Có sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và nước ngoài. Đối với pháp luật nước ngoài, điều quan trọng không phải là con dấu cuả pháp nhân, mà là chữ ký đăng ký của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó. Ở ta, pháp luật quy định pháp nhân phải có con dấu riêng, do cơ quan công an độc quyền cấp. Đứng ở góc độ pháp lý và điều tra hình sự, tự dạng con người có tính ổn định và độ tin cậy cao hơn.
Quy định văn bản tiếng nước ngoài phải được dịch có công chứng, chứng thực. Đây là vấn đề tốn nhiều công sức, thời gian và chi phí nhất của nhà đầu tư. Để có bản dịch có công chứng , chứng thực, doanh nghiệp phải xin con dấu của chính quyền bang, sau đó xin con dấu cảu bộ ngoại giao, rồi của đại sứ quán, sau đó tới sở ngoại vụ, cuối cùng mới đến văn phòng công chứng để dịch. Trong thời đại hội nhập ngày nay, số lượng công chức biết tiếng Anh ở các cơ quan ban ngành không phải là ít. Trong khi đó, việc quy định bản dịch có thể giao cho một văn phòng luật sư chứng nhận và chịu trách nhiệm là được. Điều này vừa thuận tiện, vừa dễ quy trách nhiệm khi có sai sót. Giả sử, sau khi có tất cả các con dấu nêu trên mà tài liệu vẫn còn sai sót, thì cả sở ngoại vụ lẫn Lãnh sự quán nước ngoài tại Việt Nam cũng không thể chịu trách nhiệm, vì họ chỉ chứng nhận con dấu của người đóng dấu trước mà thôi.

Giải trình kinh tế kỹ thuật

Dự án phải lập giải trình kinh tế kỹ thuật gồm những dự án có vốn đầu tư trên 300 tỷ đồng hay thuộc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Đối với lĩnh vực dịch vụ, do hạn chế những cam kết gia nhập WTO, đa phần phải làm giải trình kinh tế kỹ thuật.
Tuy nhiên, không có một tiêu chí nào từ phía Chính phủ xác định các điều kiện để đồng ý hay từ chối cấp chứng nhận đầu tư. Ví dụ, dự án sản xuất phần mềm xưa nay vẫn dễ được cấp chứng nhận đầu tư nhất mà không phải lập giải trình kinh tế kỹ thuật. Sau khi Việt Nam giai nhập WTO, vì sản xuất phần mềm bị coi là dịch vụ, dịch vụ này thuộc cam kết của Việt Nam tham gia WTO nên buộc phải lập giải trình kinh tế kỹ thuật.
Những thông tin trong báo cáo giải trình không có ý nghĩa ràng buộc vè pháp lý đối với nhà đầu tư. Giả sử trong báo cáo giải trình, nhà đầu tư xác định năng lực sản xuất của công ty là 5.000 máy/năm, lợi nhuận 100 tỷ đồng…những các thông số này hoàn toàn có thể khác đi trong thực tế mà không vi phạm pháp luật. Vậy có cần thiết không khi bắt buộc nhà đầu tư làm giải trình trong khi một dự án có giải trình và một dự án không có giải trình đều phải tuân thủ pháp luật như nhau về lao động, thuế hay bảo vệ môi trường.
Thiết nghĩ, khi xét duyệt và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nên tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư, càng đơn giản càng tốt. Cơ quan cấp phép nên dành thời gian, công sức để xem xét những vấn đề thuộc về bản chất dự án như sự phù hợp của quy hoạch, nhu cầu đất đai, khả năng đền bù giải toả của nhà đầu tư…hơn là xem xét những vấn đề mang tính hình thức như trên. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, đây là những trở ngại không đáng có. Người nước ngoài có câu “Substance over form” (bản chất sự việc quan trọng hơn hiện tượng). Ở ta, hình như câu “form over substance” (hiện tượng quan trọng hơn bản chất) có vẻ phản ánh đúng vấn đề hiện nay./.

(Nguồn Nhịp cầu Đầu tư – MOI.GOV.VN)

 

PHÂN TÍCH MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT NHÀ Ở VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở

HỒ QUANG HUY

1. Về điều kiện để nhà ở được dùng làm tài sản thế chấp

Theo quy định tại Điều 91 của Luật Nhà ở thì điều kiện để nhà ở tham gia giao dịch (trong đó bao gồm cả thế chấp nhà ở) là:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật;

b) Không có tranh chấp về quyền sở hữu;

c) Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Với quy định tại Điều 91 Luật Nhà ở thì trong trường hợp thiếu một trong các điều kiện trên thì chủ sở hữu nhà ở không được dùng nhà ở để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ quan nào có thẩm quyền xác định nhà ở “không có tranh chấp về quyền sở hữu” và “không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” và cách thức xác định những nội dung đó được thực hiện như thế nào? Theo chúng tôi, nếu không có hướng dẫn phù hợp thì việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà ở sẽ gặp nhiều khó khăn vì trên thực tế để đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 91 của Luật Nhà là không đơn giản, nhất là trong bối cảnh “lý lịch pháp lý của nhà đất” ở nước ta tương đối phức tạp.

2. Về điều kiện thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

Theo quy định của Điều 114 Luật Nhà ở thì “chủ sở hữu nhà ở được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ nhưng chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng”.

Như vậy, trong trường hợp thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, chủ sở hữu nhà ở phải đáp ứng 2 điều kiện: (i) giá trị của nhà ở phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (ii) chỉ thế chấp nhà ở cho một tổ chức tín dụng.

Với quy định trên, nhà làm luật hi vọng sẽ hạn chế được những rủi ro cho các tổ chức tín dụng khi nhận thế chấp nhà ở. Tuy nhiên, từ giác độ kinh tế thì quy định đó đã cản trở khả năng huy động vốn trong xã hội phục vụ sản xuất, kinh doanh (trái với mục đích thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản và thị trường vốn) và đã “vô hiệu hoá” hệ thống, cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm nhà ở. Phần lớn các chuyên gia trong và ngoài nước đều đánh giá quy định tại điều 114 là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và không khuyến khích sự phát triển của nền kinh tế. Theo chúng tôi, để hạn chế rủi ro cho hệ thống các tổ chức tín dụng, Nhà nước cần sử dụng các giải pháp có tính hiệu quả, khoa học và tích cực hơn, ví dụ như: xác định rõ trách nhiệm của từng khâu trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn; tăng cường vai trò, hiệu quả của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm trong việc công khai hoá thông tin; hoàn thiện hệ thống pháp luật tín dụng, ngân hàng để loại bỏ những “lỗ hổng” dẫn đến khả năng lừa đảo như hiện nay…). Ngoài ra, nếu theo quy định tại Điều 114 của Luật Nhà ở, trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở thế chấp nhà ở cho tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng để vay vốn thì rất có thể hợp đồng thế chấp đó sẽ bị tuyên vô hiệu do vì phạm về điều kiện chủ thể (vì chủ sở hữu nhà ở “chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng”).

Do vậy, những bất cập trong quy định tại Điều 114 của Luật Nhà ở sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn cho việc khai thông thị trường vốn và thị trường bất động sản ở nước ta trong thời gian tới. 

3. Về việc ký kết, thực hiện hợp đồng thế chấp nhà ở

Theo quy định tại các điều 93, 117 và 118 của Luật Nhà ở thì hợp đồng thế chấp nhà ở phải đáp ứng các quy định sau đây:

3.1. Về hình thức của hợp đồng

Hợp đồng thế chấp nhà ở được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, cụ thể là hợp đồng thế chấp nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn.

Như vậy, trong trường hợp không thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp về nhà ở thì nguy cơ rủi ro cho các bên là rất lớn (có thể hợp đồng bị tuyên vô hiệu do vi phạm về hình thức). Đây là một trong những vấn đề cần lưu ý khi ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở. Tuy nhiên, nếu theo quy định của pháp luật công chứng, chứng thực hiện hành thì Uỷ ban nhân dân xã không có thẩm quyền chứng thực các giao dịch về bất động sản. Do vậy, trong thời gian tới cần có các quy định nhằm thống nhất vấn đề này.

3.2. Về nội dung của hợp đồng

Hợp đồng thê chấp nhà ở phải thể hiện các nội dung sau đây:

a) Tên và địa chỉ của các bên;

b) mô tả đặc điểm của nhà ở;

c) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

d) Cam kết của các bên;

đ) Các thoả thuận khác;

e) Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản;

g) Chữ ký của các bên.

Như vậy, hợp đồng thế chấp nhà ở phải có đầy đủ các nội dung trên.Về vấn đề này, Luật Nhà ở đã quy định “không mềm dẻo” như Bộ luật dân sự năm 2005. Sự thiếu thống nhất đó đã vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện, tự thoả thuận của pháp luật hợp đồng. Do vậy, nên chăng chúng ta quy định nội dung của hợp đồng thế chấp nhà ở dưới dạng “khuyến nghị” (xem Điều 402 Bộ luật dân sự) và tôn trọng quyền tự do ý chí hợp pháp của các bên ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở. 

3.3. Về các trường hợp chấm dứt hợp đồng thế chấp nhà ở

a) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp đã được thực hiện;

b) Việc thế chấp nhà ở được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;

c) Nhà ở thế chấp được xử lý;

d) Theo thoả thuận của các bên.  

Quy định về chấm dứt hợp đồng thế chấp nhà ở của Luật Nhà ở hoàn toàn giống với quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự, nghĩa là hợp đồng thế chấp nhà ở không có bất kỳ điểm nào khác biệt với các hợp đồng thế chấp tài sản. Do vậy, theo chúng tôi quy định này trong Luật Nhà ở là không cần thiết vì Bộ luật dân sự đã có quy phạm điều chỉnh.

3.4. Về xử lý nhà ở thế chấp

a) Việc xử lý nhà ở thế chấp để thực hiện nghĩa vụ được thực hiện thông qua hình thức bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Bên nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản thế chấp sau khi trừ chi phí bảo quản, chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá nhà ở.

b) Bên mua nhà ở thế chấp được công nhận là chủ sở hữu nhà ở từ thời điểm ký kết hợp đồng.

Như vậy, với quy định trên, khi xử lý tài sản thế chấp là nhà ở, các bên hoàn toàn có quyền thoả thuận về lựa chọn phương thức xử lý tài sản bảo đảm và áp dụng các quy định về xử lý tài sản bảo đảm của pháp luật hiện hành để điều chỉnh.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 93 của Luật Nhà ở thì “trình tự thế chấp nhà ở thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự”. Do vậy, trong trường hợp nhận thế chấp nhà ở, các bên cần tìm hiểu những quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự.

4. Về thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý của nhà ở

Nghiên cứu Luật Nhà ở, chúng tôi nhận thấy một trong những hạn chế lớn nhất của Luật Nhà ở là chưa có quy định trực tiếp về công khai hoá thông tin về tình trạng pháp lý của nhà ở. Điều này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi quyết định có nhận thế chấp nhà ở hay không do thiếu thông tin cần thiết về nhà ở là tài sản thế chấp. Tuy nhiên, nếu theo quy định tại các điều 12, 14, 15, 16, 19 và 20 của Luật Nhà ở, trong trường hợp có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nhà ở thì tổ chức tín dụng căn cứ vào chủ sở hữu nhà ở là tổ chức hay cá nhân để xác định cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin, cụ thể là: trong trường hợp chủ sở hữu là cá nhân thì tìm hiểu thông tin về nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện; còn trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở là tổ chức thì tìm hiểu thông tin về nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định về trình tự, thủ tục tìm hiểu thông tin về chủ sở hữu nhà ở.

Ngoài ra, để tìm hiểu về việc nhà ở đó đang được dùng làm tài sản thế chấp hay không thì tổ chức tín dụng phải tìm hiểu thông tin ở Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan Tài nguyên và Môi trường vì theo quy định hiện hành cơ quan có thẩm quyền đăng ký thế chấp nhà ở là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh và huyện.  

Để hướng dẫn Luật Nhà ở, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Tuy nhiên, bước đầu tiếp cận Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, chúng tôi nhận thấy, Nghị định này chưa khắc phục được những hạn chế chủ yếu của Luật Nhà ở. Do vậy, theo chúng tôi, trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bất động sản dựa trên nguyên tắc pháp lý “bất động sản là một khối thống nhất, trong đó quyền sử dụng đất là trung tâm”, tôn trọng quyền tự do, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch, đảm bảo tính công khai, minh bạch, thuận lợi cho các giao dịch trên thị trường bất động sản.

Hồ Quang Huy- MOJ.GOV.VN

THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG ĐỘNG SẢN, NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ NHU CẦU CẢI CÁCH PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

I- THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ GDBĐ BẰNG ĐỘNG SẢN.

1. Kết quả đăng ký GDBĐ.

Hoạt động đăng ký Giao dịch bảo đảm bằng động sản đã được triển khai tại Việt Nam vào những ngày đầu của năm 2002 nhưng chủ yếu tại Hà Nội và Hồ Chí Minh. Đến ngày 14/7/2004 hoạt động này mới được triển khai tại khu vực miền Trung đánh dấu bằng việc thành lập Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng (Sau đây gọi tắt là Trung tâm Đăng ký Đà Nẵng).

Qua hơn 2 năm hoạt động Trung tâm Đăng ký Đà Nẵng đã xử lý và cấp được 13.200 Giấy chứng nhận đăng ký GDBĐ và CTTC. Số lượng đăng ký hàng năm đều tăng, cụ thể năm 6 tháng cuối năm 2004 Trung tâm cấp được 2.149 Giấy chứng nhận, Năm 2005 cấp được 5.560 Giấy chứng nhận và đến cuối tháng 9/2006 thì Trung tâm đã cấp được 5.432 Giấy chứng nhận gần bằng cả năm 2005. Riêng Quý II/2006 số lượng đơn đăng ký bằng cả Quý I và II/2006. Điều đó nói lên rằng, hoạt động đăng ký GDBĐ bằng động sản tại khu vực miền Trung-Tây nguyên đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tính đến nay, đã có 13 tỉnh tại khu vực miền Trung-Tây nguyên với gần 320 các tổ chức tính dụng là khách hàng thường xuyên (KHTX) đã đăng ký tại Trung tâm đăng ký Đà Nẵng. Trong thời gian tới, Trung tâm sẽ cố gắng đẩy mạnh phát triển cả về số lượng KHTX và số lượng đơn đăng ký dưới nhiều hình thức khác nhau, như: tuyên truyền phổ biến pháp luật, xử lý và cấp giấy chứng nhận trong ngày, hỗ trợ trực tiếp khách hàng, bố trí thời gian làm việc hợp lý với nhu cầu của khách hàng…

2. Về loại tài sản.

Thực tế đăng ký trong thời gian qua, tại Trung tâm đăng ký Đà Nẵng thì hầu hết các loại tài sản là động sản quy định tại Nghị định 165 và Thông tư 01 đã được đưa vào giao dịch làm vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trừ một số loại tài sản chưa thấy đăng ký, có thể do loại tài sản đó không thể hoặc khó có thể đăng ký vì tính chất của loại tài sản đó như: các loại tiền tệ; kim khí quý, đá quý; quyền về tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp… hoặc một số loại tài sản có đăng ký nhưng rất ít và nếu có đăng ký thì cũng chỉ tập trung vào một số TCTD thuộc hệ thống quốc doanh như: quyền đòi nợ (chủ yếu là từ các Hợp đồng xây dựng mà chủ đầu tư là các tổ chức của Nhà nước), chưa thấy có giao dịch đăng ký nào đối với quyền đòi nợ trong các hợp đồng thương mại, dịch vụ… . Qua đó cho thấy, các TCTD và các tổ chức, cá nhân đã có thể bỏ lỡ rất nhiều cơ hội kinh doanh, sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả. Có thể vì nhiều lý do khác nhau, hoặc có thể do chưa nắm bắt hết các loại tài sản mà pháp luật cho phép hoặc có thể do chưa đủ khả năng thực hiện đối với loại tài sản đó, do chưa thể liên kết giữa các hệ thống ngân hàng với nhau và ngay cả trong cùng một đơn vị tín dụng cấp I với cấp II, với các phòng giao dịch trực thuộc cũng chưa tạo ra mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Dẫn đến chưa tận dụng hết các loại nguồn vốn trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu phát triển SXKD.

3. Về đối tượng tham gia.

Đối tượng khách hàng tham gia đăng ký GDBĐ (kể cả bằng động sản lẫn bất động sản) hiện nay chủ yếu 100% là tập trung vào mối quan hệ giữa các TCTD với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SXKD hoặc giữa TCTD với các cá nhân. Chưa xảy ra hoạt động đăng ký GDBĐ giữa các đối tượng là các cá nhân – cá nhân, giữa doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SXKD – doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SXKD hoặc giữa cá nhân – doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SXKD. Đây là các đối tượng, các khách hàng tiềm năng mà pháp luật mong muốn được điều chỉnh và các Trung tâm đăng ký mong muốn được phục vụ, với mục đích nhằm hạn chế các kiểu đòi nợ kiểu xã hội đen đem lại bình yên cho xã hội. Các đối tượng này chưa tham gia hoạt động đăng ký GDBĐ. Chưa tham gia, có thể là do một trong thời gian dài, pháp luật của ta chưa có các quy định cụ thể về đăng ký GDBĐ, chưa tạo cho mọi người thấy quyền và lợi ích khi tham gia GDBĐ. Do đó, chưa tạo ra thói quen cho tất cả các tổ chức, cá nhân khi tham gia bất cứ quan hệ giao dịch kinh tế, dân sự, thương mại nào cũng cần xem xét có tài sản đưa ra làm vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không. GDBĐ có phát triển thì mới tạo ra một “văn hoá giao dịch” trong xã hội, tránh tình trạng do nể nang, nặng phần “tình” mà coi nhẹ phần “” mà dẫn đến tâm trạng người cho vay luôn luôn lo lắng đối với tài sản đã cho mượn, cho vay… và ngược lại là tâm lý muốn chiếm dụng tài sản, kéo dài thời hạn trả nợ, thời hạn thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ. Các hiện tượng này sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự của một xã hội.

Để đạt được những kết quả trên, hoạt động đăng ký GDBĐ tại Trung tâm Đà Nẵng nói riêng và các Trung tâm đăng ký khác nói chung, mặc dù có rất nhiều thuận lợi nhưng cũng còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể như sau:

* Về thuận lợi:

– Được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Cục trong mọi tình huống nên các vướng mắc của các Trung tâm được giải quyết rất nhanh gọn, hỗ trợ tối đa cho các KHTX, tạo uy tín cho hoạt động đăng ký GDBĐ.

– Hệ thống pháp luật về GDBĐ của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, đầy đủ. Mặc dù, các quy định này còn nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, mức độ văn bản còn nằm ở tầm Nghị định nhưng tất cả các vấn đề, nội dung cơ bản về GDBĐ mà hiện nay đang được thế giới áp dụng ngày càng nhiều thì đều đã được điều chỉnh. Việc củng cố và xây dựng pháp luật về GDBĐ luôn luôn được lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Cục quan tâm chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới theo hướng tiên tiến, hiện đại, chú trọng cải cách hành chính mang lại nhiều thuận lợi không những cho các khách hàng mà còn tạo nhiều thuận lợi cho hoạt động của các Trung tâm đăng ký.

– Hình thức, quy trình đăng ký GDBĐ tại Việt Nam nói chung và tại các Trung tâm đăng ký thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm hết thông thoáng, đơn giản nhưng cũng hết sức tiên tiến, hiện đại. Đáp ứng triệt để yêu cầu về cải cách hành chính mà Chính phủ Việt Nam đề ra, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

– Đội ngũ cán bộ làm công tác đăng ký am hiểu pháp luật, đều có trình độ pháp lý từ cử nhân trở lên, nên các hồ sơ đăng ký đều được giải quyết đúng và trước thời hạn quy định.

* Về khó khăn:

Thực sự mà nói, rất khó tìm ra các nguyên nhân cơ bản gây ra khó khăn cho hoạt động đăng ký GDBĐ bằng động sản. Tuy nhiên, thực tế cũng còn có một số vấn đề cần giải quyết (mang tính kỹ thuật là chính) nhằm hạn chế và đẩy mạnh hoạt động đăng ký GDBĐ trong thời gian tới, cụ thể như sau:

– Việc quy định tìm hiểu thông tin trong CSDL quốc gia đối với bên bảo đảm theo 3 tiêu chí: tên, số ID và địa chỉ là chưa phù hợp. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn quy định các Trung tâm đăng ký phải cập nhật dự liệu theo đơn kê khai. Do đó, khi các TCTD kê khai một trong các thông số trên không thống nhất là việc cung cấp thông tin sẽ không đầy đủ.

– Quy định nhập tên bên bảo đảm theo “nguyên tắc con dấu” cũng gây ra nhiều rắc rối cho cả các Trung tâm đăng ký lẫn khách hàng vì con dấu có thể được khắc lại (do bị mất, hỏng, đổi tên doanh nghiệp…) và quá trình khắc lại dấu đã nẩy sinh nhiều vấn đề như: số ID sai, tên tổ chức không thống nhất… dẫn đến việc cấp nhật tên bên bảo đảm vào CSDL quốc gia cũng không thống nhất gây ảnh hưởng không nhỏ cho công tác cung cấp thông tin.

– Cũng theo nguyên tắc con dấu nên hình thức nộp đơn qua Fax cũng gây rắc rối như do con dấu có mầu đỏ nên khi qua Fax thường bị mờ, nhoè… nên việc xác định số ID trên con dấu rất khó khăn nên khách hàng thường phải gửi Fax nhiều lần gây tốn kém cho cả khách hàng lẫn các Trung tâm đăng ký.

– Việc pháp luật về GDBĐ quy định chưa rõ ràng về quyền truy đòi đến cùng đối với tài sản bảo đảm cũng gây e ngại cho bên nhận bảo đảm. Ví dụ: 1 phương tiện giao thông sau khi đã được thế chấp tại một TCTD nhưng sau đó lại được bán cho một bên thứ ba ngay tình thì hoặc phương tiện đó có thể bị tịch thu bởi một quyết định hành chính của một cấp địa phương nào đó do bên bảo đảm vi phạm pháp luật như dùng phương tiện để chở hàng lậu, hàng cấm vận chuyển mua bán… Do đó, cần phải có các quy định rõ ràng, giải quyết dứt điểm vấn đề người thứ ba ngay tình đối với tài sản bảo đảm hoặc tịch thu tài sản bảo đảm bởi một quyết định hành chính, bảo đảm tối đa quyền lợi của bên nhận bảo đảm.

II- NHU CẦU CẢI CÁCH PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM.

Hình thức, quy trình đăng ký GDBĐ bằng động sản tại Việt Nam được triển khai thực hiện tại các Trung tâm đăng ký trực thuộc Cục Đăng ký quốc gia GDBĐ- Bộ Tư pháp có thể khẳng định là rất hiệu quả, thực hiện tốt chủ trương CCHC do Chính phủ phát động thể hiện ở việc KHTX có thể lựa chọn đăng ký GDBĐ theo phương thức gửi hồ sơ qua bưu điện hoặc qua Fax mà không cần đến trực tiếp. Có thể nói đây là 2 phương thức rất tiên tiến, hiện đại lần đầu tiên được áp dụng hiệu quả trong cả nước. Áp dụng 2 phương thức này sẽ hạn chế tối đa việc giao tiếp giữa khách hàng với cơ quan Nhà nước, là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự nhũng nhiễu, phiền hà cho khách hàng mà hiện nay cơ chế giao tiếp trực tiếp đang được rất nhiều các cơ quan Nhà nước áp dụng ở các “tổ một cửa” mà chưa có biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế hiện tượng nhũng nhiễu, phiền hà cho khách hàng.

Mặc dù các thủ tục hành chính áp dụng trong đăng ký GDBĐ bằng động sản đã được đơn giản hoá tối đa, dễ hiểu, dễ áp dụng nhưng hiện nay các thủ tục này vẫn đang tiếp tục được cải cách triệt để hơn nữa nhằm tạo điều kiện cho hoạt động đăng ký GDBĐ ngày càng hoàn thiện hơn, thu hút ngày càng nhiều đối tượng tham gia hoạt động GDBĐ. Nhưng bên cạnh đó, thì hoạt động của đăng ký GDBĐ bàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vẫn bị nhiều khách hàng phản ánh còn gặp quá nhiều rắc rối, phiền hà cả về thủ tục, quy trình lẫn con người thực hiện. Do đó, để giải quyết tình hình này, tôi có một số đề nghị sau, đó là:

– Trong dự thảo Nghị định về GDBĐ cần phải có các quy định về bảo vệ tối đa quyền lợi của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp, còn vướng mắc trái với các quy định khác thì cũng cần phải có giải pháp nêu ra để làm cơ sở sửa đổi, bổ sung các quy định đó phù hợp với quy định về GDBĐ.

– Trong dự thảo Nghị định hoặc các văn bản cao hơn về GDBĐ và các văn bản quy phạm pháp luật khác cũng cần phải hạn chế hoặc phải quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người thứ ba ngay tình đối với tài sản bảo đảm. Vì hiện nay, pháp luật đã có các quy định về tìm hiểu thông tin trước khi quyết định xác lập quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại. Do đó, chỉ sau khi có tìm hiểu thông tin thì việc sở hữu tài sản thông qua mua bán, đổi chác… của người thứ ba mới được pháp luật coi là ngay tình.

– Đối với đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:

+ Cần nghiên cứu sửa đổi một số quy định có liên quan tại của Luật Đất đai-2003, Nghị định 181 để làm cơ sở điều chỉnh các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn.

+ Cần nghiên cứu áp dụng hoặc tạo ra cơ chế đăng ký đơn giản, thuận tiện… giống như đăng ký GDBĐ bằng động sản.

III- MỘT SỐ GÓP Ý CỤ THỂ CHO DỰ THẢO PHÁP LỆNH VỀ ĐĂNG KÝ GGBĐ:

1. Tại khoản 2, điều 10 cần nghiên cúu bổ sung thêm một lại giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý đối với công dân Việt Nam là:

– Chứng minh sỹ quan, chứng minh quân đội;

– Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân, Giấy chứng minh an ninh nhân dân, Giấy chứng nhận công nhân, nhân viên trong lực lượng Công an nhân dân.

2. Cần bổ sung từ “đã” trước từ “đăng ký” tại điểm b, khoản 1, điều 24 thì mới rõ nghĩa của việc thay đổi thông tin về bên bảo đảm đã được lưu trữ trong CSDL quốc gia.

3. Về thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký (Điều 20).

Tôi thống nhất quan điểm chọn phương án 1, vì nếu chọn phương án 2 thì thời gian lưu trữ quá lâu và dễ xẩy ra tình trạng đầy dữ liệu trong hệ thống CSDL quốc gia. Thực tế đăng ký cho thấy, do loại tài sản đưa ra làm vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ở đây là động sản, về mặt lý thuyết thì thời hạn sử dụng của loại tài sản này thường ngắn, thời gian khấu hao cũng tương đối ngắn do yêu cầu đổi mới công nghệ… nên các hợp đồng thế chấp cũng thường phải ngắn hơn vòng đời sản phẩm thì mới bảo đảm cho hợp đồng tín dụng. Thực tế, các hợp đồng thế chấp thường được kết thúc trước thời hạn 5 năm.

4. Về thời điểm đăng ký (Điều 21 & 40).

Nếu chọn phương án 1 thì vẫn còn mang tính chủ quan, không công bằng cho khách hàng. Đơn giản, vì nếu một lý do nào đó như: mất điện, số lượng đăng ký tập trung vào một thời điểm nào đó quá đông hoặc vì lý do cá nhân nào đó… dẫn đến việc Đăng ký viên cập nhật vào CSDL hoặc vào sổ đăng ký chậm, ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng như việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán. Do đó, quan điểm của tôi là chọn phương án 2 sẽ đảm bảo tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và những người có liên quan.

5. Về cơ quan đăng ký (Điều 13).

Dự thảo đưa ra 2 phương án đăng ký GDBĐ đối với quyền sử dụng dất & tài sản gắn liền với đất, một là được thực hiện tại các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất như hiện này, hai là đăng ký tập trung tại các Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia GDBĐ.

Với tư cách là một cơ quan đăng ký thuộc Cục Đăng ký quốc gia GDBĐ, chúng tôi nhận thấy rằng,

– Nếu xét ở góc độ CCHC thì trong thời gian qua, chúng tôi nhận được rất nhiều lời phàn nàn của khách hàng về việc thực hiện đăng ký GDBĐ tại các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của các địa phương và rất nhiều khách hàng đề nghị và mong muốn được thực hiện thủ tục này tại các Trung tâm đăng ký thuộc Cục Đăng ký.

– Nếu xét theo nguyên tắc đăng ký thông báo cũng được áp dụng đối với giao dịch bằng quyền sử dụng đất & tài sản gắn liền với đất. Theo đó, cơ quan đăng ký GDBĐ không có nghĩa vụ phải đi xác minh tài sản đó và cũng không có trách nhiệm phải “lo lắng” đi xác minh tài sản đó là có thực hay không? tài sản đó có đủ (về mặt giá trị) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hay không? … như hiện nay được rất nhiều Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện. Sự “lo lắng” trên gây nhiều khó khăn, ách tắc cho khách hàng, không tạo điều kiện cho thị trường tài chính phát triển. Những việc trên, đã được một cơ quan khác thực hiện và chịu trách nhiệm rồi, đó là cơ quan công chứng, chứng thực. Việc một số Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất vừa qua đã “lo lắng” quá mức, lo cho cả sự thành bại của bên nhận bảo đảm, theo tôi sự “lo lắng” này đã vượt quá sự cho phép của pháp luật. Thực tế thì Bên nhận bảo đảm phải lo lắng gấp nhiều lần so với sự “lo lắng” của các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất vì hậu quả xảy ra là bên nhận bảo đảm phải gánh chịu trước tiên. Điều này nó cũng phù hợp với nguyên tắc tự thoả thuận, tụ chịu trách nhiệm được ghi nhận trong Bộ luật dân sự 2005. Sự “lo lắng” này, nếu không muốn nói là tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho khách hàng.

– Nếu xét về góc độ tài chính, thì việc đăng ký tập trung tại các Trung tâm đăng ký là rất thuận lợi vì hiện tại với hệ thống máy móc, thiết bị có sẵn, đã được đầu tư hiện đại và đầy đủ thì Nhà nước không cần lãng phí bỏ thêm vốn đầu tư cho từng Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại các địa phương.

Với những nhận xét trên, thì chúng tôi nhận thấy rằng các Trung tâm Đăng ký thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm nói chung và Trung tâm đăng ký tại Đà Nẵng nói riêng đã thực hiện nhanh chóng, chính xác, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho khách hàng khi đăng ký các giao dịch bảo đảm bằng động sản. Nếu khách hàng tin tưởng và pháp luật cho phép thì các Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thuộc Cục đăng ký quốc gia GDBĐ vẫn có đủ khả năng thực hiện và đáp ứng tốt công tác đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Trên đây là một số ý kiến nhận xét đánh giá về thực trạng đăng ký GDBĐ bằng động sản tại khu vực miền Trung – Tây nguyên, hy vọng sẽ góp phần nhỏ cho Ban dự thảo xây dựng pháp lệnh về đăng ký GDBĐ có thêm một số ý tưởng xây dựng ngày càng hoàn thiện pháp luật về GDBĐ.

SOURCE: nrast.moj.gov.vn

VIỆC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM VỚI TÀI SẢN LÀ NHÀ CHUNG CƯ CHƯA ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU

Pháp luật về giao dịch bảo đảm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình để tạo vốn. Tuy nhiên, giao dịch bảo đảm là một lĩnh vực nhạy cảm, các ngân hàng sẽ có thể gặp phải nhiều rủi ro nếu như không có một cơ chế quản lý hữu hiệu cho các giao dịch bảo đảm đó. Đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ làm tăng độ an toàn cho các ngân hàng và nó cũng là cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ lợi ích của các ngân hàng trong các giao dịch bảo đảm. Để công tác đăng ký giao dịch bảo đảm ngày càng thu được hiệu quả cao thì pháp luật về giao dịch bảo đảm và pháp luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động này cần phải có sự thống nhất, đồng bộ. Hiện nay, một số quy định trong Luật Nhà ở, Luật Công chứng và Bộ luật dân sự 2005 về giao dịch bảo đảm còn có mâu thuẫn như quy định về việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản hình thành trong tương lai. Điều đó phần nào cũng gây khó khăn cho hoạt động tín dụng của các ngân hàng.

         Việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản hình thành trong tương lai là nhà ở còn gặp nhiều vướng mắc. Về trường hợp này, Ngân hàng Indovina đã có một ví dụ thực tế. Ngân hàng đang nhận thế chấp căn hộ số 403 Lô F Chung cư KCN Tân Bình, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú. TP.Hồ Chí Minh do Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ & đầu tư Tân Bình làm chủ đầu tư. Đặc điểm của loại tài sản này là người mua mặc dù chưa có được giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nhưng trên thực tế họ đã có được các quyền của chủ sở hữu nhà ở. Sẽ mất một khoảng thời gian rất dài để người mua nhà có được Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở đối với loại tài sản này. Căn cứ vào Luật Công chứng, đối tượng của hợp đồng, giao dịch phải có thật và hiện hữu, phòng công chứng từ chối không công chứng tài sản hình thành trong tương lai. Mà theo quy định của Thông tư 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/06/2005 thì việc thế chấp bất động sản phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Vậy trong trường hợp này giải quyết như thế nào?

Theo quy định tại khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 thì “quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch nhà ở giữa cá nhân với cá nhân hoặc thời điểm giao nhận nhà ở theo thoả thuận trong hợp đồng đối với giao dịch về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở”. Đồng thời, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 91 Luật Nhà ở thì một trong những điều kiện để xác lập các giao dịch về nhà ở, trong đó có thế chấp là cá nhân, tổ chức phải “có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật”.

Xuất phát từ đó, quyền sở hữu nhà ở được xác lập đối với bên mua từ thời điểm chủ đầu tư bàn giao căn hộ chung cư cho bên mua, nhưng để được thế chấp chung cư đó thì bên mua phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Vì vậy, đối với trường hợp căn hộ chung cư chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì Trung tâm Thông tin Tài nguyên Môi trường và Đăng ký Nhà đất từ chối đăng ký thế chấp với lý do không đáp ứng đủ điều kiện theo luật định khi thế chấp nhà ở đó.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật dân sự năm 2005, thì quyền tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Do đó, Quý Trung tâm có thể hướng dẫn các bên ký kết hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở giữa bên thế chấp là chủ sở hữu nhà và chủ đầu tư, vì người mua đã có quyền sở hữu nhà ở, nhưng còn thiếu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Trong trường hợp này, hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở được đăng ký tại một trong các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm theo trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28 tháng 9 năm 2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và Thông tư số 03/2007/TT-BTP ngày 17 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28 tháng 9 năm 2006.

SOURCE: nrast.moj.gov.vn

VỤ ÁN ĐÒI CHIA TIỀN THỤ TINH NHÂN TẠO

HOÀNG YẾN

Ra tòa ly hôn, bà vợ bảo ông chồng phải chia hai khoản tiền gần nửa tỷ đồng mà bà đã chi để thụ tinh trong ống nghiệm, còn ông chồng thì khăng khăng không chịu…

TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý một vụ ly hôn hy hữu: Trong phần phân chia tài sản, chị X. khăng khăng đòi người chồng phải san sẻ cùng chị phân nửa khoản tiền mà chị đã bỏ ra thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm nhằm có con.

Chi 430 triệu đồng thụ tinh

Theo đơn xin ly hôn của chị X., tháng 4-2005 hai vợ chồng chị kết hôn. Đến cuối năm 2006, họ thường xuyên xảy ra cãi vã do chồng chị có quan hệ với một phụ nữ khác, hay qua đêm ở ngoài, không còn thương yêu, quan tâm đến chị nữa. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng gay gắt. Cảm thấy cuộc sống chung không còn ý nghĩa, chị quyết định đường ai nấy đi. Vì vợ chồng chị chưa có con chung, chỉ có một căn nhà mua trong thời kỳ hôn nhân nên chị yêu cầu tòa giải quyết cả việc phân chia căn nhà.

Tháng 11, TAND quận Bình Thạnh thụ lý vụ án, mời hai bên đến lấy lời khai thì mọi chuyện đã trở nên rắc rối. Ở lần làm việc đầu tiên này, chị X. nêu thêm một yêu cầu nữa: nhờ tòa buộc người chồng phải gánh chịu phân nửa chi phí đi thụ tinh nhân tạo trong hành trình đi tìm con chung giữa hai người.

Số là khi lấy nhau, hai vợ chồng muốn có con chung nhưng cố mãi cũng không thấy gì. Sau khi đi khám nhiều nơi, họ bàn bạc và quyết định đi thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ. Hai vợ chồng chị đã ký vào bản cam kết với bệnh viện chấp nhận cách điều trị và mọi rủi ro trong quá trình thực hiện. Quá trình điều trị kéo dài gần hai năm, chỉ mới kết thúc vào tháng 6 và tổng chi phí lên đến 430 triệu đồng dù chưa thành công. Toàn bộ chi phí (có đầy đủ hóa đơn) đều do chị X. chi trả bằng tiền mình buôn bán có được trong thời kỳ hôn nhân.

Yêu cầu của chị X. lập tức bị người chồng phủ nhận ngay, bảo rằng quá vô lý. Theo người chồng, anh không có nghĩa vụ gì cả. Chị X. đã tự chi khoản tiền đó thì sao lại có thể ép anh gánh cùng?

Mỗi người gánh một nửa?

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực Luật Hôn nhân và gia đình nhận xét việc đòi chia 430 triệu đồng tiền thụ tinh nhân tạo này khá rắc rối.

Theo một luật sư, việc anh chồng phải trả lại cho chị X. một nửa khoản tiền trên (215 triệu đồng) là hợp lý. Xét về lý, khi thụ tinh để có con thì cả hai vợ chồng đã thống nhất về mặt ý chí. Dù đứa con chưa hiển hiện trên thực tế nhưng họ đều phải có trách nhiệm trong việc gánh chi phí tạo ra nó. Xét về tình, khi gắn bó với nhau thành vợ thành chồng thì hai bên nên chi đôi trách nhiệm với mọi việc có ảnh hưởng trong đời sống hôn nhân.

Tuy nhiên, rất nhiều chuyên gia khác đã nhìn nhận ngược lại. Theo họ, khoản tiền 430 triệu đồng để thụ tinh nhân tạo mà chị X. chi ra là tài sản chung dù chỉ do một mình chị buôn bán có được, bởi nó được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và không có thỏa thuận nào giữa hai bên rằng đó là nguồn thu nhập của riêng chị X. Khi đi thụ tinh nhân tạo, vợ chồng chị cùng một ý chí (nhiều lần đi khám bệnh, ký cam kết, điều trị…) thì phải cùng gánh chịu nghĩa vụ tài chính cho “việc chung” này.

Vấn đề là khoản tiền đó đã chi ra xong xuôi, dứt điểm từ nguồn tài sản chung, không phải là khoản nợ nên hiện nay chị X. không thể đòi người chồng gánh chịu thêm gì nữa. Về nguyên tắc, tòa phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn trên cơ sở những tài sản chung hiện hữu cùng những nghĩa vụ dân sự mà họ đang phải gánh. Ở đây, tài sản chung chỉ có một căn nhà, còn khoản tiền 430 triệu đồng thụ tinh nhân tạo không phải là khoản nợ của vợ chồng chị X. với bất kỳ ai nên tòa chỉ phải chia đôi căn nhà là xong!

Dự kiến nếu hòa giải không thành thì sắp tới, TAND quận Bình Thạnh sẽ đưa vụ ly hôn này ra xét xử. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin tới bạn đọc.

———————————————–

Tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

(Trích các điều 27, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình)

SOURCE: HOÀNG YẾN-Pháp Luật TPHCM

KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

DƯƠNG THANH MINH – Bộ Tư pháp

I. Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2003

Luật Đất đai năm 1993 ra đời, trong đó quy định về việc hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất; hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiêp để trồng rừng được thế chấp quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là UBND cấp xã) có trách nhiệm đăng ký những biến động về việc sử dụng đất đã đặt nền móng cho việc hình thành cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm đối với bất động sản.

Do Luật Đất đai năm 1993 ra đời và điều chỉnh trong giai đoạn nền kinh tế, xã hội Việt Nam có nhiều sự đổi mới, vì vậy, lần lượt các Luật Đất đai năm 1998 và Luật Đất đai năm 2001 được ban hành, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 1993 nhằm điều chỉnh và phù hợp các mỗi quan hệ phát sinh trong xã hội. Tại các Luật này, từng bước quy định đầy đủ hơn về quyền của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và đăng ký các biến động liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, trong đó có thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Tiếp sau các Luật trên là các Nghị định nhằm hướng dẫn các Luật và các Thông tư nhằm hướng dẫn các Nghị định. Những văn bản này đã tạo thành một hệ thống các quy định pháp luật về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

1. Quy định của Nghị định số 17 và Thông tư số 1417 về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Do Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 1998 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993) quy định chỉ áp dụng biện pháp thế chấp đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, nên Nghị định số 17 và Thông tư số 1417 hướng dẫn Nghị định số 17 quy định theo hướng hướng dẫn cụ thể hơn về điều kiện thế chấp và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Sau đây là những quy định của Nghị định số 17 và Thông tư số 1417 về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:

1.1. Về đăng ký thế chấp bằng tài sản gằn liền với đất

Nghị định số 17 và Thông tư số 1417 tuy có quy định về việc thế chấp tài sản gắn liền với đất nhưng không quy định về thủ tục đăng ký thế chấp đối với loại tài sản này.

1.2. Về thủ tục đăng ký, xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất

a. Về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất

+ Về hồ sơ đăng ký:

Sau khi ký kết hợp đồng thế chấp với bên cho vay (bên nhận thế chấp), cá nhân, hộ gia đình, tổ chức nộp hồ sơ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất cho cơ quan đăng ký. Hồ sơ đăng ký bao gồm:

– Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất;

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

– Sơ đồ thửa đất (đối với bên thế chấp là cá nhân, hộ gia đình) hoặc trích lục bản đồ thửa đất (đối với bên thế chấp là tổ chức);

– Chứng từ nộp tiền thuê đất (trong trường hợp thuê đất).

+ Về thẩm quyền đăng ký: Trường hợp bên thế chấp là cá nhân, hô gia đình thì thẩm quyền đăng ký thế chấp thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất. Trường hợp bên thế chấp là tổ chức thì thẩm quyền đăng ký thế chấp thuộc Sở Địa chính hoặc Sở Địa chính nhà đất[1] nơi có đất.

+ Về thời hạn đăng ký và trách nhiệm của cơ quan đăng ký

Về thời hạn đăng ký, những văn bản pháp luật trên chỉ quy định về thời hạn đăng ký đối với trường hợp bên thế chấp là tổ chức (thời hạn là 07 ngày, kể từ ngày cơ quan đăng ký nhận đủ hồ sơ đăng ký hợp lệ) mà không quy định về thời hạn đăng ký đối với trường hợp bên thế chấp là cá nhân, hộ gia đình.

Về trách nhiệm của cơ quan đăng ký là xác nhận vào hợp đồng thế chấp và ghi việc thế châp vào sổ đăng ký thế chấp đất đai.

b. Về xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất

Theo quy định của Nghị định số 17 và Thông tư số 1417 thì yêu cầu xóa đăng ký thế chấp gồm hai trường hợp sau:

Thứ nhất, sau khi bên thế chấp hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho bên nhận thế chấp thì bên nhận thế chấp xóa thế chấp tài hợp đồng. Bên thế chấp gửi hợp đồng đã được xóa thế chấp đến cơ quan đăng ký để cơ quan này xóa đăng ký trong sổ đăng ký thế chấp.

Thứ hai, trường hợp quyền sử dụng đất thế chấp bị xử lý để thu hồi nợ thì sau khi hoàn thành việc xử lý bên thế chấp đến cơ quan đăng ký để xóa đăng ký thế chấp.

Cơ quan có thẩm quyền xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất tương tự như thẩm quyền đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất.

1.3. Một số nhận xét về thủ tục đăng ký thế chấp tại Nghị định số 17 và Thông tư số 1417

Với tổng hợp trên cho thấy, quy định về trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất với đất tại những văn bản trên chưa đầy đủ và cụ thể, cụ thể như sau: chưa quy định đầy đủ trình tự thủ tục các đăng ký biến động về đăng ký thế chấp đầu tiên như đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký, sửa chữa sai sót về nội dung đăng ký; chưa quy định về trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp đối với tài sản gắn liền với đất; chưa quy định về thời hạn đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đối với trường hợp bên thế chấp là cá nhân, hộ gia đình; chưa quy định về thời hạn xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất… Những hạn chế  này đã gây nhiều lúng túng trong thực tiễn áp dụng cho cả người yêu cầu đăng ký và cơ quan đăng ký.

2. Quy định của Nghị định số 08, Nghị định số 79 và Thông tư số 03 về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Ngày 10/3/2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 08. Đây là một Nghị định quy định chuyên biệt về đăng ký giao dịch bảo đảm, trong đó có các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng bất động sản, như về các trường hợp đăng ký; giá trị pháp lý của việc đăng ký; thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin…

Về Nghị định số 79, do Luật Đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung bằng Luật Đất đai năm 2001, nên Chính phủ đã ban hành Nghị định này nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17 đảm bảo phù hợp với những quy định của Luật Đất đai năm 2001. Nghị định số 79 đã có một số sửa đổi, bổ sung liên quan đến đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản găn liền với đất, như: bổ sung biện pháp bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; mở rộng quyền được thế chấp của người sử dụng đất, liệt kê các loại giấy tờ để thực hiện các quyền của người sử dụng đất…

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Nghị định số 08 và các Nghị định số 17 và 79, ngày 04/7/2003, Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 03/2003/TTLT/BTP-BTNMT hướng dẫn về trình tự, thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Thông tư này ra đời đánh dấu một bước phát triển pháp lý về lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm bằn quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Điều này được thể hiện trên hai phương diện:

Thứ nhất, nếu như sự ra đời của Nghị định số 08 mang ý nghĩa lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam có một văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt về đăng ký giao dịch bảo đảm thì sự ra đời của Thông tư liên tịch số 03 cho thấy, lần đầu tiên có một văn bản quy phạm pháp luật quy định chuyên biệt về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm (thế chấp, bảo lãnh) bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Thứ hai, trên cơ sở các quy định tại các Nghị định số 08, 17, 79, Thông tư liên tịch số 03 đã quy định đầy đủ, cụ thể trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Bên cạnh đó, trên cơ sở thực tiễn áp dụng và rà soát pháp luật, Thông tư này cơ bản đã khắc phục được những vướng mắc, hạn chế của các hướng dẫn về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất quy định tại Thông tư 1417. 

Thông tư này quy định cụ thể hơn về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất so với quy định của các văn bản trước đó, như: quy định về các trường hợp đăng ký (gồm đăng ký bắt buộc và đăng ký tự nguyện); hướng dẫn củ thể những tài sản là tài sản gắn liền với đất; về trách nhiệm của các bên và của cơ quan đăng ký thế chấp, bảo lãnh; về người yêu cầu đăng ký; về trình tự thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, bằng tài sản gắn liền với đất; về thời điểm đăng ký…

Sau đây là một số tổng hợp cơ bản về nội dung quy định tại Thông tư liên tịch số 03:

2.1. Các trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh

a. Các trường hợp thế chấp, bảo lãnh sau đây phải đăng ký:

– Việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

– Việc thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu;

– Việc thế chấp tài sản gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại tiết b điểm này, nhưng các bên thoả thuận để bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản đó;

– Việc thế chấp tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ;

– Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh.

b. Các trường hợp đăng ký theo yêu cầu:

Khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất không thuộc một trong các trường hợp nêu tại điểm 1.2.1.a trên có yêu cầu, thì việc bảo lãnh đó cũng được đăng ký.

2.2. Về tài sản gắn liền với đất

Theo hướng dẫn tại Thông tư này thì là tài sản gắn liền với đất gồm: nhà ở, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai; tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng khác trong trường hợp việc thế chấp, bảo lãnh bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác và tài sản đó; vườn cây lâu năm, rừng cây; các tài sản khác gắn liền với đất đai.

2.3. Về giá trị pháp lý của việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Thông tư quy định, hợp đồng thế chấp, bảo lãnh đã được đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký cho đến ngày xoá đăng ký.

Về thời điểm đăng ký: là thời điểm cơ quan đăng ký nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ. Trường hợp đăng ký bổ sung tài sản thế chấp, bảo lãnh, thì thời điểm đăng ký đối với phần tài sản bổ sung là thời điểm cơ quan đăng ký nhận được hồ sơ yêu cầu đăng ký bổ sung tài sản hợp lệ. Trường hợp thay thế tài sản thế chấp, bảo lãnh thì thời điểm đăng ký là thời điểm cơ quan đăng ký nhận được hồ sơ yêu cầu đăng ký thay thế tài sản hợp lệ.

Thời điểm đăng ký được tính chính xác đến đơn vị giờ, phút, ngày, tháng, năm và là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận thế chấp, bảo lãnh bằng một tài sản.

2.4. Cơ quan đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, bao gồm:

– Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất, tài sản gắn liền với đất có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh trong trường hợp bên thế chấp, bên bảo lãnh là tổ chức.

– Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất, tài sản gắn liền với đất có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh trong trường hợp bên thế chấp, bên bảo lãnh là hộ gia đình, cá nhân.

– Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm hoặc các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục có thẩm quyền cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã đăng ký trong cả nước, khi hệ thống dữ liệu quốc gia các giao dịch bảo đảm chính thức hoạt động.

2.5. Về hồ sơ yêu cầu đăng ký

a. Về hồ sơ yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh; văn bản uỷ quyền đối với trường hợp người yêu cầu đăng ký là người được uỷ quyền; hợp đồng thế chấp/bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc bằn quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với trường hợp thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại đô thị; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa; Chứng từ nộp tiền thuê đất (trường hợp được Nhà nước cho thuê đất).

Trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất thì hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh; văn bản uỷ quyền đối với trường hợp người yêu cầu đăng ký là người được uỷ quyền; Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu.

b. Về hồ sơ yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký

Hồ sơ yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký, gồm:

– Đơn yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký; văn bản uỷ quyền đối với trường hợp người yêu cầu đăng ký là người được uỷ quyền;

– Trường hợp thay thế, bổ sung tài sản thế chấp, bảo lãnh là tài sản gắn liền với đất hoặc tài sản gắn liền với đất là tài sản hình thành trong tương lai đã được hoàn thành thì phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản nếu pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu.

c. Về yêu cầu xóa đăng ký thế chấp, bảo lãnh; yêu cầu sửa chữa sai sót trong thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký; yêu cầu cung cấp thông tin; yêu cầu đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh.

Trong các trường hợp trên, người yêu cầu chỉ cần nộp đơn yêu cầu hoặc văn bản uỷ quyền đối với trường hợp người yêu cầu là người được uỷ quyền đến cơ quan đăng ký.

2.6. Thời hạn đăng ký

– Thời hạn đăng ký thế chấp, bảo lãnh; đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký là bảy ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký nhận hồ sơ hợp lệ.

– Thời hạn xóa đăng ký thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký; đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh; đăng ký phải sửa chữa sai sót và cung cấp thông tin là ba ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký nhận đơn yêu cầu hợp lệ.

2.7. Chứng nhận, ghi nhận việc đăng ký

Việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh được ghi nhận vào Đơn yêu cầu đăng ký, vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm. Trường hợp thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thì đồng thời với việc vào sổ đăng ký giao dịch bảo đảm phải vào sổ địa chính và sổ theo dõi biến động đất đai theo hướng dẫn ghi trên các sổ này.

3. Một số nhận xét về hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 03 về trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

3.1. Về ưu điểm:

So với những quy định về trình tự, thủ tục đăng ký trước đó thì Thông tư liên tịch số 03 cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự thủ tục đăng ký. Cụ thể như sau:

– Thông tư này quy định đầy đủ các trường hợp đăng ký, như: đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký; sửa chữa sai sót trong nội dung thế chấp, bảo lãnh; xóa đăng ký thế chấp, bảo lãnh; đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh. Ngoài ra, Thông tư quy định về cung cấp thông tin về việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất với đất. Đồng thời tại mội trường hợp đăng ký, được quy định rõ ràng về hồ sơ đăng ký, nhiệm vụ của Đăng ký viên khi tiếp nhận hồ sơ và thực hiện việc đăng ký, hình thức và cách thức ghi nhận việc đăng ký.

– Thông tư này có các hướng dẫn đầy đủ, chi tiết hơn so với quy định của các văn bản trước đó, thể hiện ở việc đã hướng dẫn cụ thể về các vấn đề sau: về các trường hợp đăng ký (gồm đăng ký bắt buộc và đăng ký tự nguyện); về tài sản gắn liền với đất; về người yêu cầu đăng ký, người kê khai đơn yêu cầu đăng ký; về trách nhiệm của các bên và của cơ quan đăng ký thế chấp, bảo lãnh; về thời điểm đăng ký; về thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký; về giá trị pháp lý của việc đăng ký; về hồ sơ đăng ký, đơn yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin hợp lệ; về lệ phí đăng ký, phí yêu cầu cung cấp thông tin…

Sự cụ thể, đầy đủ của Thông tư liên tịch số 03 đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc áp dụng trong thực tiễn, do đó kể từ sau khi Thông tư này ra đời số lượng đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày càng tăng, hoạt động đăng ký dần đi vào quy cũ, nhận thức của các bên về ý nghĩa vai trò của việc đăng ký ngày càng cao hơn.

3.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, qua thực tiễn áp dụng Thông tư số 03 bộ lộ  một số hạn chế sau:

Thứ nhất: Theo quy định tại Thông tư này thì thẩm quyền đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà bên thế chấp, bảo lãnh là cá nhân, hộ gia đình là UBND cấp xã, tuy nhiên thực tế đã chứng minh quy định trên là chưa phù hợp, thể hiện như sau:

– Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đăng ký của cơ quan này rất thiếu thốn và lạc hậu; chưa có sự nhận thức đầy đủ và sự quan tâm đến công tác đăng ký.

– Về con người, thông thường UBND cấp xã giao cho cán bộ địa chính hoặc cán bộ tư pháp trực tiếp thực hiện việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, tính ổn định về công việc của những người này không cao, bởi họ làm việc theo chế độ lao động hợp đồng và có thể bị  luân chuyển công việc khác. Bên cạnh đó, hầu hết những cán bộ làm công tác đăng ký này không đảm bảo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ đăng ký do chưa được đào tạo cơ bản hoặc tập huấn về nghệp vụ đăng ký…

Thứ hai, về giá trị pháp lý của việc đăng ký, Thông tư chỉ quy định việc đăng ký là điều kiện phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba đồng thời không quy định cụ thể về hậu quả pháp lý hoặc chế tài đối với trường hợp không đăng ký, do đó việc đăng ký chưa được các bên tham gia hợp đồng thế chấp, bảo lãnh chú trọng thực hiện.

Thứ ba, theo phản ánh của người yêu cầu đăng ký thì quy định tại thông tư về thời hạn đăng ký (bảy ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ) là quá dài; một số nội dung tại mẫu đơn yêu cầu đăng ký, mẫu hợp đồng thế chấp, bảo lãnh được ban hành kèm theo Thông tư chưa phù hợp với thực tế; chưa có quy định cụ thể về việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với đất là tài sản hình thành trong tương lai hoặc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản hình thành trong tương lai….

II. Giai đoạn sau khi ban hành Luật Đất đai năm 2003

1. Quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 181 về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004. Luật Đất đai năm 2003 ra đời thay thế Luật Đất đai năm 1993 và các Luật năm 1998 và 2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993. Nhằm hướng dẫn thi hành Luật này, ngày 29/10/2004 Chính phủ ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai. Hai văn bản này đã đánh dấu một buớc phát triển mới về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Theo đó, quyền của người sử dụng đất được mở rộng hơn so với pháp luật đất đai trước đó và quy định cụ thể các điều kiện thực hiện các quyền này; quy định cơ bản về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, xóa đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và xử lý quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; quy định về thời hạn phải yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; quy định về công chứng hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; rút ngắn thời hạn đăng ký xuống còn năm ngày, chuyển thẩm quyền đăng ký thế chấp, bảo lãnh từ UBND cấp xã sang Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất…

Những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Thông tư liên tịch số 05.

2. Quy định của Thông tư liên tịch số 05 về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất với đất

Do sự thay đổi trên, ngày 16/6/2005 Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 03/2003/TTLT/BTP-BTNMT. Sau đây là một số tổng hợp cơ bản  về nội dung quy định của Thông tư liên tịch số 05:

2.1. Về các trường hợp đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Thông tư liên tịch số 05 quy định về các trường hợp thế chấp, bảo lãnh tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, bao gồm:

a. Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất.

b. Thế chấp, bảo lãnh bằng nhà ở, công trình kiến trúc khác, cây rừng, cây lâu năm (sau đây gọi chung là tài sản gắn liền với đất).

c. Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai.

d. Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai.

đ. Thay đổi, sửa chữa sai sót, xoá đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

e. Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp đã đăng ký thế chấp, bảo lãnh.

Việc thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất không thuộc các trường hợp đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nêu trên thì đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp.

2.2. Về thời hạn nộp hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Trong trường hợp nội dung hợp đồng tín dụng có điều khoản về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được ký kết trước hoặc cùng thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng thì trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng tín dụng, một trong các bên hoặc các bên ký kết hợp đồng thế chấp, bảo lãnh nộp hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh.

Với quy định này, việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh là bắt buộc và được giới hạn trong một thời hạn nhất định, nếu các bên vi phạm về thời hạn đăng ký thì có thể bị phạt hành chính bằng hình thức nộp tiền theo quy định của pháp luật.

2.3. Về thời hạn đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh nêu tại điểm 2.2.1 của Mục này được thực hiện trong thời hạn không quá năm ngày làm việc; đối với địa phương thuộc khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa thì thời hạn đăng ký được tăng thêm nhưng không quá mười lăm ngày làm việc đối với mỗi trường hợp. Thời hạn đăng ký được tính kể từ ngày Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ.

Như vậy, so với quy định của Thông tư liên tịch số 03 thì thời hạn đăng ký thế chấp, bảo lãnh của Thông tư liên tịch số 05 ngắn hơn. Riêng đối với những nơi khó khăn về điều kiện kinh tế, xã hội thì thời han trên được áp dụng riêng (không quá mười lăm ngày) nhằm phù hợp với thực tiễn thực hiện.

2.4. Về giá trị pháp lý của việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Việc thế chấp, bảo lãnh có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký đến thời điểm xoá đăng ký.

Trường hợp việc thế chấp, bảo lãnh được đăng ký thì thời điểm đăng ký thế chấp, bảo lãnh là thời điểm Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nhận đủ hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh hợp lệ. Trường hợp đăng ký bổ sung tài sản thế chấp, bảo lãnh thì thời điểm đăng ký đối với phần tài sản bổ sung là thời điểm Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nhận đủ hồ sơ đăng ký bổ sung hợp lệ.

Như vậy, ngoài giá trị pháp lý đối với người thứ ba (hiệu lực đối kháng) như quy định tại Thông tư liên tịch số 03, Thông tư liên tịch số 05 quy định việc đăng ký là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Đây là một điểm mới của Luật Đất đai năm 2003 và Thông tư liên tịch số 05 so với Luật Đất đai năm 1993 và Thông tư liên tịch số 03.

2.5. Thẩm quyền đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất, tài sản gắn liền với đất thực hiện đăng ký thế chấp, bảo lãnh trong trường hợp bên thế chấp, bên bảo lãnh là tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài.

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất, tài sản gắn liền với đất hoÆc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất, tài sản gắn liền với đất đối với nơi chưa thành lập hoặc không thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đăng ký thế chấp, bảo lãnh trong trường hợp bên thế chấp, bên bảo lãnh là hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ không có thẩm quyền đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Sư thay đổi về thẩm quyền đăng ký nêu trên cho thấy, hoạt động đăng ký dần đi vào quy chuẩn, chuyên nghiệp và khắc phục được những hạn chế về cơ sở vật chất, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ đăng ký như thực tế áp dụng Thông tư liên tịch số 03.

2.6. Về hồ sơ yêu cầu đăng ký

a. Hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc bằng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất gồm:

– Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh; văn bản uỷ quyền (nếu có);

– Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã có công chứng, chứng thực;

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai nếu chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi là giấy tờ về quyền sử dụng đất); Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng và các loại Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất, nếu pháp luật có quy định (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất);

b. Hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hoặc bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai gồm:

– Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, bảo lãnh; văn bản uỷ quyền (nếu có);

– Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất;

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có);

– Giấy phép xây dựng hoặc dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trong trường hợp thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai mà theo quy định của pháp luật thì tài sản đó phải được cấp phép xây dựng hoặc lập dự án đầu tư.

c. Hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh, gồm:

– Đơn yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh đã đăng ký; văn bản uỷ quyền (nếu có);

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp đăng ký thay đổi nội dung đã được ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có) trong trường hợp thay thế, bổ sung tài sản gắn liền với đất;

– Hợp đồng về việc thay đổi nội dung thế chấp, bảo lãnh. Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thay đổi tên của một bên hoặc các bên ký kết hợp đồng thế chấp, bảo lãnh trong trường hợp có sự thay đổi tên.

d.  Hồ sơ yêu cầu đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh gồm: đơn yêu cầu đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh và văn bản ủy quyền (nếu có).

đ. Hồ sơ yêu cầu sửa chữa sai sót trong nội dung thế chấp, bảo lãnh gồm: đơn yêu cầu sửa chữa sai sót; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu nội dung đăng ký thế chấp, bảo lãnh đã ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót); Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có) trong trường hợp sửa chữa sai sót trong Đơn yêu cầu đăng ký về tài sản gắn liền với đất; văn bản uỷ quyền (nếu có).

e. Hồ sơ yêu cầu xóa đăng ký thế chấp, bảo lãnh gồm:

– Đơn yêu cầu xoá đăng ký thế chấp, bảo lãnh; văn bản uỷ quyền (nếu có);

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2.7. Ghi nhận việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ địa chính

3. Quy định của Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất với đất

Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, trong đó có một số thay đổi về giao dịch bảo đảm, ví dụ như quy định về biện pháp bảo lãnh là bảo lãnh đối nhân chứ không phải là bảo lãnh bằng tài sản (bảo lãnh đối vật) như Bộ luật Dân sự năm 1995… Đồng thời, nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng Thông tư liên tịch số 05, ngày 13 tháng 6  năm 2006 liên Bộ Tư pháp và Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT. Tại Thông tư này có một số sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:

a) Thay đổi về trường hợp đăng ký và cụm từ “bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất” bằng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bao gồm cả tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai) của người thứ ba.

b) Về thời hạn đăng ký: Thông tư liên tịch số 03 quy định theo hướng rút ngăn thời hạn đăng ký tương ứng với các trường hợp về hồ sơ đăng ký, cụ thể như sau: Trường hợp hồ sơ đăng ký hợp lệ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì việc đăng ký thế chấp được thực hiện trong ngày nhận hồ sơ; nếu nộp hồ sơ đăng ký sau ba giờ chiều thì việc đăng ký thế chấp được thực hiện chậm nhất trong ngày làm việc tiếp theo; Trường hợp hồ sơ đăng ký có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì việc đăng ký thế chấp được thực hiện trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ”.

c) Bổ sung về việc xác nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của của Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao nhằm phù hợp với quy định của Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

d)  Xuất phát từ quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai nên trong thực tế bên nhận thế chấp thường giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, do đó trong trường hợp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì các bên trong các thế chấp sau không đáp ứng được điều kiện phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hồ sơ yêu cầu đăng ký do Giấy chứng nhận này bên thế chấp trước đang giữ. Thông tư liên tịch số 03 đã khắc phục vướng mắc này bằng quy định: “bên đã nhận thế chấp trước đó đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì phải giao lại giấy chứng nhận đó cho bên thế chấp để thực hiện đăng ký thế chấp”.

Trên đây là những nội dung cơ bản về quá trình hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Có thể khẳng định, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, pháp luật về lĩnh vực này đã không ngừng được hoàn thiện, phát triển.


[1] Cơ quan này sau đó đổi tên thành Sở Tài nguyên và Môi trường.

SOURCE: nrast.moj.gov.vn

 

CỔ PHẦN HÓA VÀ CƠ CẤU QUYỀN SỞ HỮU

Đổi mới cơ cấu quyền sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá là một trong những giải pháp góp phần thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với quốc sách phát huy tiềm lực toàn xã hội.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, quản trị doanh nghiệp (corporate governance) ngày càng trở thành vấn đề thời sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế. Khác với hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp (corporate management) hàng ngày của ban lãnh đạo Công ty, quản trị doanh nghiệp là cách thức để các cổ đông giám sát Công ty nhằm đảm bảo ban lãnh đạo điều hành Công ty một cách có hiệu quả và vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông (hay chủ sở hữu).

Một trong những yếu tố căn bản quyết định cấu trúc quản trị doanh nghiệp chính là cơ cấu quyền sở hữu. Theo tiến sỹ Rolf – E.Breuer, phát ngôn viên của Ban Giám đốc Ngân hàng Deutsche AG (Đức), phát hiện các nguyên tắc về lợi ích của các cổ đông tại Đức gần đây đã chứng minh rằng cơ cấu vốn đã trở thành vấn đề quan trọng trong quá trình phân bổ tài sản và ra quyết định của Công ty.

Ở nhiều quốc ghia thuộc Đông Âu và Cộng động các quốc gia độc lập (SNG), tư nhân hoá là phương tiện để thiết lập quyền sử hữu tư nhân. Ở Việt Nam, tình hình có đôi chút khác biệt vì khu vực tư nhân đã tồn tại và phát triển từ trước năm 1998 – thời điểm chương trình cổ phần hoá được đẩy mạnh. Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đến nay đã bước sang năm thứ 14, tuy nhiên, cơ cấu sở hữu ở Việt Nam vẫn không thay đổi bao nhiêu. Nhìn vào kết quả thống kê của Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển doanh nghiệp, hiện nay cả nước có 3.107 doanh nghiệp được cổ phần hoá trên tổng số 5.700 doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng, dù đã cổ phần hoá khoảng 54,5% tổng số các doanh nghiệp nhà nước, vốn của các doanh nghiệp này vẫn chỉ chiếm từ 15-17% tổng số vốn của cả hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Điều này cho thấy, tính chung cho cả nền kinh tế, cổ phần hoá ở Việt Nam hầu như chưa có tác động đến cấu trúc sở hữu của nền kinh tế.

Trong thời gian qua, nhà nước luôn giữ một tỷ lệ cổ phần cao trong các doanh nghiệp cổ phần hoá (trung bình khoảng 30% trong giai đoạn 1998-2002). Đặc biệt, từ năm 2002, tỷ lệ cổ phần nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá có chiều hướng tăng lên. Năm 2003, nhà nước nắm giữ 55,4% tổng cổ phần phát hành bởi các doanh nghiệp cổ phần hoá và tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2004 (50%). Nhìn vào biểu đồ 1 và 2, ta thấy nhà nước và nội bộ doanh nghiệp nắm giữ đa số cổ phần, còn lượng cổ phần được bán ra bên ngoài chỉ khoảng 15%. Nguyên nhân chính của hiện tượng tăng đột ngột tỷ lệ cổ phần giữ lại này là do từ năm 2002, nhà nước đẩy mạnh việc cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp ở nhiều ngành kinh tế trọng điểm và các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá này thường có quy mô lớn hơn, và có lợi nhuận cao hơn so với các doanh nghiệp đã được cổ phần hoá trong những năm trước đó.

Việc nhà nước duy trì tỷ lệ cổ phần đa số vô hình trung đã tạo ra một số khó khăn trong việc điều hành Công ty của các doanh nghiệp cổ phần hoá, đồng thời làm nảy sinh một số vấn đề pháp lý mới. Cụ thể là: cổ phần hoá vẫn chưa tạo ra được sự rạch ròi giữa quyền quản lý nhà nước và quyền sở hữu, vì nhà nước vừa là người ban hành các quy định, vừa là cổ đông lớn. Khi sở hữu đa số cổ phần, những người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp có quyền phủ quyết các quyết định quản lý và đầu tư quan trọng, và điều này có thể dẫn đến trường hợp can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động điều hành của doanh nghiệp. Ở tầm vĩ mô, việc nhà nước đóng vai trò kép – vừa là người chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp cổ phần hoá, vừa là cơ quan hành pháp tối cao – tạo ra khả năng một số cơ quan của nhà nước bị thao túng.

Một vấn đề cần quan tâm khác là khả năng và nguồn lực của cơ quan quản lý vốn nhà nước rất hạn chế trong khi cơ quan này phải giám sát cùng lúc rất nhiều doanh nghiệp cổ phần hoá. Hệ quả là cho dù trở thành cổ đông lớn (nếu không nói là lớn nhất) trong nhiều doanh nghiệp thì nhà nước cũng không thể sử dụng quyền điều hành và giám sát một cách đúng đắn. Điều này, cùng với việc người lao động thường chỉ có tiếng nói yếu ót, dẫn tới tình trạng ban Giám đốc không bị giám sát và trong nhiều trường hợp có thể tự do làm theo ý mình, vì vậy rất dễ xảy ra tình trạng lạm dụng quyền của tập thể để phục vụ lợi ích cá nhân.

Một đặc điểm nổi bật nữa của cổ phần hoá ở Việt Nam là có tính khép kín và nội bộ cao. Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, có tới 860 doanh nghiệp chưa bao giờ bán cổ phần ra bên ngoài. Lý do chủ yếu của hiện tượng này có thể là do ở đây có sự bất cân xứng thông tin đáng kể giữa những nhà đầu tư bên trong và bên ngoài doanh nghiệp về giá trị thực và giá trị tương lai của doanh nghiệp sẽ được cổ phần hoá. Khi thông tin không minh bạch và/hoặc không đầy đủ, đồng thời quyền lợi của các nhà đầu tư thiểu số không được bảo vệ một cách thích đáng thì hệ quả là đa số các nhà đầu tư bên ngoài sẽ không chấp nhận rủi ro và không mua cổ phiếu của doanh nghiệp. Kết quả là trong nhiều trường hợp, cổ phiếu tập trung vào tay ban Giám đốc, họ hàng và người quen của họ, tức là những người có thông tin nội bộ. Ngoài ra, việc khống chế tỷ lệ cổ phần bán cho các nhà đầu tư nước ngoài càng làm cho cổ phần hoá nội bộ trở nên phổ biến hơn. Điều này giải thích tại sao ban Giám đốc của nhiều doanh nghiệp nhà nước không muốn tiết lộ thông tin chân thực về doanh nghiệp của mình.

Mặt khác, hiện đang có một rào cản rất lớn đối với các nhà đầu tư chiến lược, là không phải doanh nghiệp nào cũng muốn có nhà đầu tư chiến lược tham gia. Bởi vì một khi nhà đầu tư chiến lược tham gia và có tiếng nói trong các quyết định của doanh nghiệp thì quyền lực của những người điều hành hiện tại bị giảm đi rất nhiều và khả năng bị sa thải vì năng lực không đáp ứng được yêu cầu công việc là điều khó tránh khỏi.

Do đó, có thể nói, chính cổ phần hoá nội bộ là nguyên nhân của sự thất bại trong việc thu hút lượng vốn vô cùng lớn từ nguồn tiết kiệm trong nước. Thêm vào đó, không có sự tham gia hiệu quả của các chủ sở hữu ở bên ngoài (đặc biệt là các cá nhân và tổ chức nước ngoài), chất lượng quản trị doanh nghiệp hậu cổ phần hoá sẽ rất khó được cải thiện. Đáng chú ý, một cuộc điều tra 261 doanh nghiệp cổ phần hoá do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện vào năm 2002 cho thấy, ban Giám đốc cũ được duy trì trong gần 90% doanh nghiệp nhà nước trong thời gian cổ phần hoá, và trong hơn 80% doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá.

Theo báo cáo gần đây của Ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp, hiện nay có khoảng 30% doanh nghiệp cổ phần hoá có tỷ lệ vốn nhà nước chiếm trên 50%. Tỷ lệ này đang kìm hãm đà phát triển của nhiều doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá.

Theo chúng tôi, sở hữu nhà nước thấp hơn 51% không có nghĩa nhà nước mất quyền kiểm soát doanh nghiệp, bởi nếu vẫn nắm vai trò cổ đông chi phối thì vẫn kiểm soát được. Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta có thực sự cần thiết để một doanh nghiệp nào đó có hơn 51% vốn thuộc sở hữu của nhà nước hay không. Và ngày cả trong trường hợp, việc chiếm giữ đa số đó là cần thiết, chúng ta cần một lộ trình rõ ràng hơn về cơ cấu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá. Cần nhận thức được rằng, với việc nhà nước vẫn giữ tỷ lệ 51% hoặc hơn nữa ở doanh nghiệp sau khi đã cổ phần hoá, việc đưa công nghệ và kỹ năng quản lý điều hành hiện đại, đặc biệt là quản trị rủi ro vào những doanh nghiệp này sẽ có khả năng gặp nhiều khó khăn hơn trong khi quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày một nhanh ở hầu hết các ngành kinh tế quốc dân.

Mặt khác, nhà đầu tư bao giờ cũng muốn nắm giữ nhiều hơn ở những doanh nghiệp hoạt động tốt, và đó là nguyện vọng chính đáng. Như vậy tình trạng tỷ lệ sở hữu của nhà nước cao không thể kéo dài mãi được. Hơn nữa, nguyện vọng chính đáng này của các nhà đầu tư cũng tạo tiền đề cho việc đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư và huy động mọi nguồn lực để phát triển thị trường vốn của đất nước.

CPH là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, một bộ phận quan trọng của chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước. Để cổ phần hoá thực sự phát huy được hiệu quả, huy động được tiềm lực toàn xã hội, những nghiên cứu về việc xây dựng cấu trúc quyền sở hữu phù hợp với môi trường quản lý của Việt Nam trong doanh nghiệp cổ phần hoá đã và đang trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện này.

Các bài viết có liên quan: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22s%E1%BB%9F+h%E1%BB%AFu+nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22

(Nguồn: TC – MOI. COM.VN)

QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP GIA ĐÌNH

Trong hơn 230.000 doanh nghiệp của nước ta có tới 80% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó một phần không nhỏ là các “doanh nghiệp gia đình” với nhiều loại hình như doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, thậm chí cả Công ty cổ phần. Doanh nghiệp Nguyệt san xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của Giáo sư John L. Ward, Giám đốc Trung tâm Doanh nghiệp Gia đình tại Trường Quản lý Kellogg của Đại học Northwesstern University. Ông là giáo sư về doanh nghiệp gia đình tại Viện Phát triển Quản lý Quốc tế (IMD) ở Lausanne, Thuỵ Sỹ và là giáo viên thỉnh giảng tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, Trường Kinh doanh Ấn Độ và Trường Kinh doanh tại Đại học Tổng hợp Navarra (IESE).

Quản lý doanh nghiệp gia đình khác về cơ bản so với quản lý các Công ty có nhiều chủ sở hữu. Sở hữu gia đình tập trung vào kiểm soát và tạo thuận lợi cho việc quyết định, nhờ đó làm giảm chi phí quản lý và cho phép đưa ra các quyết định bất thường nhưng có lợi về mặt chiến lược. Một hệ thống vận hành tốt sẽ giúp xây dựng lòng tin trong gia đình và đổi lại sự năng động của gia đình sẽ trở thành tài sản của doanh nghiệp vì nó giúp từng thành tố riêng lẻ trong quản lý và vận hành tốt hơn và tăng thêm giá trị trong khi vẫn tiếp tục gắn kết với các thành tố khác của hệ thống quản lý. Những lợi thế quản lý này có thể đem lại những lợi ích kinh tế rõ ràng.

Thuận lợi và khó khăn

Doanh nghiệp gia đình có các lợi thế cạnh tranh riêng và bất lợi so với các Công ty của công chúng. Họ có thể áp dụng một tầm nhìn dài hạn về kiểm soát sở hữu. Việc đầu tư bình tĩnh, nhất quán có thể tạo ra lợi ích tuyệt với trong tương lai. Đầu tư cho bản sắc riêng của doanh nghiệp cũng có thể tạo ra những lợi ích mà những Công ty chỉ chạy theo kết quả ngắn hạn trên thị trường chứng khoán không thể có thời gian đạt được.

Tuy nhiên các doanh nghiệp do ít người kiểm soát có thể bị cô lập và tách biệt với những thực tiễn thị trường. Thoải mái cá nhân và tránh né trách nhiệm với bên ngoài có thể dẫn đến chiến lược kinh doanh tồi, không có thế hệ nối tiếp và trì trệ về mặt tổ chức. Các cuộc tranh cãi khó kiểm soát giữa các chủ sở hữu trong gia đình có thể là thảm hoạ đối với một Công ty.

Quản lý doanh nghiệp ở các Công ty cổ phần tập trung

Quản lý doanh nghiệp ở các Công ty cổ phần tập trung được xây dựng dựa trên mô hình liên quan trực tiếp đến bản chất của quyền sở hữu tập trung của số đông. Chủ sở hữu cổ phiếu trong một Công ty có thể “bỏ phiếu bằng cả 2 chân” tức là bán tống, bán tháo cổ phiếu của họ khi hoạt động của Công ty không được như mong đợi. Cá nhân các cổ đông của các Công ty đó ít có khả năng ảnh hưởng đến những quyết định của Hội đồng Quản trị. Thay vào đó, họ liên kết với các cá nhân khác trên thị trường và gây áp lực lên hoạt động kinh doanh của Công ty bằng những quyết định tập thể mang tính ngắn hạn là mua hoặc bán cổ phiếu. Việc quản lý các Công ty cổ phần phản ánh mô hình các cổ đông thụ động nhưng lại biến đổi nhanh khi tạo ra áp lực thị trường đối với hoạt động kinh doanh.

Các Công ty cổ phần tập trung có Hội đồng Quản trị độc lập hoạt động chủ yếu với tư cách là người được uỷ thác, hoặc các đại lý, về những lợi ích có khả năng biến đổi nhanh của các cổ đông. Những Hội đồng Quản trị này hoạt động theo mô hình tối đa hoá giá trị ngắn hạn của cổ phiếu nhằm duy trì và mở rộng số lượng cổ đông. Thị trường cổ phiếu Công ty là thước đo chủ yếu của sự thành công và thị trường này biến động hàng ngày do mối quan hệ hay thay đổi giữa nhiều nhân tố kinh tế, cả bên trong và bên ngoài Công ty. Vì vậy, Hội đồng Quản trị là nơi tập trung quyền lực quản lý của các Công ty cổ phần. Hội đồng Quản trị có trách nhiệm giám sát ban Giám đốc và phải đảm bảo rằng ban Giám đốc đang tạo ra giá trị được thị trường công nhận. Trong Công ty cổ phần tập trung, ban Giám đốc thường được xem là có tính tư lợi. Quản lý tích cực được coi là cần thiết để kiềm chế khả năng lạm quyền của ban Giám đốc và lợi ích của cổ đông. Hội đồng Quản trị của các Công ty cổ phần tập trung nhiều thời gian và công sức để xây dựng  những cơ chế kiểm soát và giám sát các hoạt động quản lý và tài chính, củng cố mối quan hệ đối kháng tiềm tàng. Khi Hội đồng Quản trị của Công ty cổ phần trở nên độc lập và mạnh hơn, thì họ sẽ tích cực định hướng cho ban Giám đốc Công ty nhân danh lợi ích sở hữu. Tuy nhiên, những Hội đồng Quản trị nào quá tập trung vào hoạt động của Công ty và giá trị cổ phiếu có thể không muốn chấp nhận những rủi ro về ngắn hạn. Họ có thể bị bó trong lối tư duy thông thường về thị trường và bỏ qua những chiến lược đặc biệt có thể mang lại giá trị to lớn về dài hạn trong lĩnh vực kinh doanh đặc thù của họ.

Sự khác biệt

Vê đặc thù, các hệ thốngquản lý doanh nghiệp gia đình phù hợp trong việc theo đuổi các chiến lược độc đáo. Doanh nghiệp gia đình có thể nhanh chóng bỏ qua những đặc điểm có tính đối kháng của quản trị doanh nghiệp thông thường. Quản lý trong các Công ty gia đình thường tạo điều kiện cho sự minh bạch và hợp tác trong toàn hệ thống chứ không phải là sự vận hành của một hệ thống kiểm soát và cân bằng tốn kém. Đổi lại, hình thức quản lý này tạo điều kiện cho việc theo đuổi các chiến lược có tiềm năng hiệu quả hơn về dài hạn, bất chấp những phí tổn hoặc rủi ro ngắn hạn.

Quản lý doanh nghiệp gia đình lại thường tập trung vào việc hình thành mối liên kết hiệu quả trong toàn hệ thống. Sự tham gia tích cực của các chủ sở hữu là chìa khoá của quản lý doanh nghiệp gia đình hiệu quả. Các chủ sở hữu còn xây dựng tầm nhìn tổng thể của Công ty, nhìn chung là để xác định một chiến lược kinh doanh. Tầm nhìn này nêu cụ thể và tập trung các mục tiêu trong toàn hệ thống và giúp định ra những giới hạn chiến lược phù hợp đối với các quyết định của Hội đồng Quản trị và ban Giám đốc.

Các giai đoạn phát triển

Hầu hết các doanh nghiệp gia đình bắt đầu với một doanh nhân sáng lập. Đầu tiên, người sáng lập kiêm luôn việc quản trị, là chủ sở hữu toàn quyền và là người điều hành doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, thách thức chủ yếu đối với sáng lập viên là quyết định làm thế nào để duy trì doanh nghiệp gia đình đời này qua đời khác.

Khi quyền sở hữu truyền lại qua các thế hệ, nó trải qua những giai đoạn hoàn toàn khác biệt. Giai đoạn trong gia đình, với việc cha mẹ chia sẻ quyền sở hữu với con cái họ. Cuối cùng, khi sự tham gia của bố mẹ kết thúc và những người con bắt đầu chia sẻ quyền sở hữu trên tinh thần quan hệ đối tác. Họ phải cùng nhau tự quyết định cách thức điều hành doanh nghiệp; thường thì giai đoạn này được mô tả như giai đoạn “bàn ăn trong bếp”. Những người anh em trong gia đình có thể ngồi lại với nhau, vai trò của mọi người có thể được tách bạch trong giai đoạn này, một số người có thể tích cực trong doanh nghiệp còn những người khác thì không. Kể từ thời điểm này, mức độ tin tưởng nhau trong gia đình sẽ quyết định hình thức quản lý chính thức. Sự kế tục của thế hệ thứ ba thường liên quan đến một nhóm anh em họ khác nhau. Việc này nói cung làm thay đổi quy mô gia đình và làm cho vai trò của mọi người trong gia đình càng thêm khác biệt. Những sự phức tạp này nhìn chung dẫn đến sự phát triển phương thức quản lý ngày càng chính thức hơn. Khi quyền sở hữu đa số vượt ra ngoài phạm vi quản lý, thì đặc điểm của Hội đồng Quản trị sẽ mang tính đại diện nhiều hơn. Mức độ tin tưởng lẫn nhau được hình thành trực tiếp giữa các chủ sở hữu nắm quyền kiểm soát và lãnh đạo ban Giám đốc thường quyết định phương thức quản lý chính thức trong giai đoạn này và quyết định liệu gia đình có thể tiếp tục hình thành được bộ phận quản lý hiệu quả hay không.

Sự kế tục tiếp theo trong gia đình tạo ra một sự thay đổi quan trọng nữa về phạm vi sở hữu. Trong giai đoạn này, sự phát triển của quản trị gia đình, được vận hành song song với quản trị doanh nghiệp, là đặc điểm bổ sung của một hệ thống quản trị ngày càng chính thức và phức tạp hơn. Các thành viên gia đình có thể tiếp tục tham gia vào toàn bộ hệ thống, tạo ra sự liên kết giữa chủ sở hữu, Hội đồng Quản trị và ban Giám đốc. Thường thì vào giai đoạn này doanh nghiệp đã trở thành một Công ty cổ phần tập trung, dẫn đến nhu cầu phải có một Hội đồng Quản trị có thể quản lý một cách có chiến lược các loại hoạt động kinh doanh khác nhau.

Sự phát triển của quản trị doanh nghiệp gia đình

Trong một số giai đoạn nhất định, sự phát triển của doanh nghiệp gia đình có xu hướng mở rộg nhanh theo cấp số nhân. Tất cả các doanh nghiệp gia đình cuối cùng đều phải đối mặt với thực tế này.

Vì gia đình và chu kỳ kinh doanh thường thách thức tính hiệu quả của những thực tiễn quản lý hiện có, nên các doanh nghiệp gia đình trên thực tế rất chú ý đến việc thích ứng cung cách quản lý của họ theo thời gian. Với mỗi thế hệ kế tục hoặc thay đổi về quy mô kinh doanh, các doanh nghiệp gia đình thường đối mặt với yêu cầu phải cải tổ quản trị doanh nghiệp. Chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp gia đình có thể dẫn đến những thay đổi căn bản về vai trò, chức năng và phương thức quản lý. Đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan của sự thay đổi, các gia đình thường phải học tập các thực tiễn kinh doanh hiện hành tốt nhất. Tuy nhiên, thay vì chỉ đơn giản áp dụng những thực tiễn tốt nhất có tính bắt buộc, theo thời gian các gia đình có xu hướng thích ứng thực tiễn của họ với văn hoá kinh doanh truyền thống và nhờ đó tái tạo tính hiệu quả của bộ phận quản lý.

(Nguồn: DN – MOI.GOV.VN)

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẦN MỘT TƯ DUY MỚI

Bao trùm nhất trong vấn đề quản lý nhà nước là việc phân định Nhà nước làm gì và người dân làm gì. Rõ ràng, có những việc chỉ Nhà nước mới làm được và có việc chỉ người dân mới làm được. Ranh giới giữa những việc Nhà nước làm và những công việc người dân làm chính là vấn đề đầu tiên cần phải xác định và là cái gốc của quản lý nhà nước (hay quản trị quốc gia).

Khái niệm người dân nói ở trên bao gồm cả các doanh nghiệp và các tổ chức của xã hội dân sự. Như vậy, ba loại chủ thể chính cấu thành thành xã hội là Nhà nước, các doanh nghiệp và xã hội dân sự. Ba loại chủ thể này giống như ba vòng tròn xếp chồng lên nhau theo hình hoa thị. Có những việc, Nhà nước có thể tự mình làm được, nhưng có những việc Nhà nước sẽ phải kết hộp với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức của xã hội dân sự.

Ví dụ, trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, chính sách tiền tệ, bảo đảm công lý… thì duy nhất Nhà nước mới có khả năng thực hiện. Thế nhưng, để xây dựng cơ sở hạ tầng, chắc chắn Nhà nước cần kết hợp với các doanh nghiệp; để chăm lo cho trẻ em lang thang, cơ nhỡ lại cần kết hợp với xã hội dân sự.

Như vậy, về bản chất, lúc nào cũng phải xác định được Nhà nước làm gì vì bất cứ lúc nào Nhà nước làm thừa nhiệm vụ, quá vai trò của mình, thì sẽ làm lãng phí các nguồn lực, đồng thời hạn chế năng lực sáng tạo của người dân.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quản lý nhà nước, vì vậy đổi mới quy trình làm luật đang là nhu cầu hết sức cấp bách. Hiện nay, đang có sự lẫn lộn giữa quy trình lập chính sách và quy trình soạn thảo văn bản pháp luật. Trong quản lý Nhà nước, quy trình hoạch định chính sách mạch lạc, khoa học là việc cần phải rất quan tâm.

Quy trình hoạch định chính sách có hai cách làm. Một là bắt đầu từ đường lối của Nhà nước, Nhà nước muốn thực hiện một chính sách nào đó, đề ra mục tiêu và các giải pháp để đạt được. Quy trình đó gọi là quy trình mang tính chất định hướng theo viễn kiến chủ quan, có thể tốt hoặc không, tuy nhiên đây là một quy trình nặng về ý chí.

Còn một quy trình chính sách khác bắt đầu từ việc nhận biết vấn đề. Xác định vấn đề đang đặt ra của đất nước là gì, sau đó, nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân làm phát sinh vấn đề và đề ra giải pháp để giải quyết; phân tích chính sách về giải pháp đã đề ra để làm rõ chi phí xã hội và chi phí của Nhà nước là bao nhiêu, với nhưng chi phí đó thì hiệu quả như thế nào. Chỉ sau khi chính sách được quyết định, việc soạn thảo văn bản pháp luật mới chính thức được bắt đầu.

Trong quản trị quốc gia, để có được quy trình chính sách đúng phải có số liệu và thông tin chính xác đồng thời hệ thống thu thập, phân tích phải rất phát triển và được đầu tư xứng đang.

Để quản trị quốc gia cũng cần có các nhà kỹ trị. Đây là đội ngũ chuyên gia am hiểu sâu sắc về kinh tế thị trường, về các vấn đề tài chính, ngân sách, về quan hệ cung-cầu…Ví dụ, quản lý nhà nước với vấn đề giá thuốc. Chúng ta đã sử dụng nhiều cơ quan trong bộ máy, đã đề ra nhiều giải pháp nhưng giá thuốc vẫn tăng như con ngựa bất kham. Có lẽ, cần có sự hiểu biết sâu hơn về quy luật cung-cầu liên quan đến thuốc mới có thể đề ra được những giải pháp hữu hiệu hơn. Cầu về thuốc có những đặc điểm rất đặc biệt. Cầu về thuốc là loại cầu không thể thay thế và không trì hoãn được. (Cầu đối với một số loại thuốc có thể thay thế được, nhưng điều này không phụ thuộc vào người bệnh mà phụ thuộc vào bác sĩ). Chỉ một tính chất đó thôi đã gây áp lực rất lớn lên giá thuốc. Do đó, nếu không hiểu những tính chất về cầu của thuốc thì không thể hoạch định chính sách nhằm giảm giá được. Khi cầu về thuốc giảm thì giá thuốc sẽ giảm theo.

TS Nguyễn Sĩ Dũng
Theo Thành Chung
Thời báo Kinh tế Sài Gòn

CÔNG VĂN SỐ 125/BXD-QLN NGÀY 21 THÁNG 1 NĂM 2008 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG NHÀ, ĐẤT KHI DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA

BỘ XÂY DỰNG
—–
Số: 125/BXD-QLN
V/v sử dụng nhà, đất khi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-
Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2008

Kính gửi: Sở Xây dựng Hải Phòng

Bộ Xây dựng đã nhận được văn bản số 1665/SXD-QLN ngày 19/12/2007 của Sở Xây dựng Hải Phòng về chính sách sử dụng nhà, đất khi doanh nghiệp nhà nước đang thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước thực hiện cổ phần hoá. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng cần triển khai thực hiện Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công ty nhà nước đang quản lý, sử dụng trên địa bàn thành phố để đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và theo tiêu chuẩn, định mức quy định.

Đối với doanh nghiệp nhà nước chưa cổ phần hoá thì việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng được thực hiện theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 83/2007/TT-BTC ngày 16/7/2007 của Bộ Tài Chính. Khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá thì quyền sử dụng đất do được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất và nhà được Nhà nước bán thanh lý là tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp phải được tính giá trị vào giá trị tài sản doanh nghiệp. Việc xác định giá trị nhà, đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và không để thất thoát tài sản của Nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp đang thuê nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước để làm cơ sở sản xuất, kinh doanh thì được tiếp tục thuê theo quy định của pháp luật. Uỷ ban nhân dân thành phố cần thống nhất giao cho một cơ quan quản lý nhà đất của địa phương thực hiện công việc này.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng để Sở Xây dựng báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố biết, thực hiện./.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Lưu VP, QLN.
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

NHÀ NƯỚC ĐƯỢC GÌ TỪ CỔ PHẦN HÓA?

Dưới đây là một số nhận định về vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.

Khi bỏ ra 3.000 tỉ đồng để xây dựng Công ty Phân đạm và Hóa chất dầu khí (Đạm Phú Mỹ), Nhà nước không bao giờ nghĩ rằng chỉ vài năm sau lại thu về một khoản tiền lớn như vậy.

Vào thời điểm cổ phần hóa, giá trị doanh nghiệp của Đạm Phú Mỹ được xác định là 3.800 tỉ đồng, tăng thêm 800 tỉ so với vốn đầu tư. Với mức khởi điểm đấu giá 50.000 đồng/cổ phiếu, giá trị doanh nghiệp của Đạm Phú Mỹ tăng lên thành 19.000 tỉ đồng.

Đấu giá thành công 128,6 triệu cổ phần vào cuối tháng 4-2007 với giá bình quân 54.000 đồng/cổ phiếu, Nhà nước đã thu về gần 7.000 tỉ đồng, gấp 2,3 lần số vốn bỏ ra thành lập doanh nghiệp và vẫn giữ cổ phần chi phối tuyệt đối ở công ty này.

Nếu bán toàn bộ vốn nhà nước, Nhà nước sẽ thu về 20.520 tỉ đồng, đủ để xây dựng 4-5 nhà máy mới tầm cỡ Đạm Phú Mỹ. Quả là siêu lợi nhuận!

Cổ phần hóa nhưng vẫn bảo toàn vốn Nhà nước

Đạm Phú Mỹ khởi đầu giai đoạn mới của cổ phần hóa, hay nói chính xác là giai đoạn mới của cải cách doanh nghiệp quốc doanh: các công ty tầm cỡ quốc gia với vốn nhà nước hàng ngàn tỉ đồng vào cuộc.

Với vai trò cơ quan quản lý ngân khố đất nước, Bộ Tài chính là người trăn trở hơn ai hết về việc làm thế nào để không thất thoát tài sản nhà nước. Và điều này phụ thuộc nhiều vào điểm xuất phát định giá doanh nghiệp.

Ở Đạm Phú Mỹ, việc xác định giá trị doanh nghiệp không quá khó khăn như ở Bảo Việt, Vietcombank, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), MobiFone, Vinaphone… vì Đạm Phú Mỹ mới thành lập cách đây chưa lâu với số vốn đầu tư được hạch toán rõ ràng trên sổ sách.

Việc xác định giá trị Bảo Việt hay Vietcombank phải tính đến yếu tố quá trình xây dựng, phát triển công ty trong hàng chục năm, thương hiệu, kinh nghiệm, vị trí đầu ngành…

Có lẽ vì thế mà ở Đạm Phú Mỹ, Nhà nước chấp thuận phương án bán ra một phần vốn nhà nước, nhưng với Bảo Việt và Vietcombank, vốn nhà nước vẫn được giữ nguyên, chỉ phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn, nâng vốn điều lệ doanh nghiệp lên mức gấp 2-4 lần vốn điều lệ trước khi cổ phần hóa.

Việc khoanh vốn nhà nước thành một “cục”, tương ứng với một tỷ lệ vốn điều lệ doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, đồng thời Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất, nắm quyền chi phối điều hành doanh nghiệp, gửi đến công chúng đầu tư một thông điệp: bất kể giá cổ phiếu doanh nghiệp sau này biến động ra sao, phần vốn nhà nước vẫn còn nguyên đó. Nghĩa là doanh nghiệp cổ phần hóa, nhưng vốn nhà nước vẫn được bảo toàn.

Những bất cập

Việc xác định giá trị phần vốn nhà nước ở Bảo Việt, cũng như những đơn vị chuẩn bị IPO, như vậy, khác hẳn với việc định giá doanh nghiệp khi cổ phần hóa trước đây. Tuy nhiên cách thức mới này bắt đầu bộc lộ những bất cập.

Thứ nhất, chẳng hạn như ở Bảo Việt, đã có sự không công bằng trong việc đấu giá mua cổ phần giữa nhà đầu tư nhỏ lẻ cá nhân và nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư cá nhân phải mua với giá trúng bình quân của ngày 31-5-2007 là 73.910 đồng/cổ phiếu, trong khi nhà đầu tư chiến lược được mua với giá tối thiểu bằng giá bình quân của ngày 26-6-2007 (là ngày nhà đầu tư nộp tiền, chấp nhận mua thực sự), chắc chắn thấp hơn giá ngày 31-5-2007.

Thứ hai sự chênh lệch quá lớn vốn điều lệ doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa (vốn điều lệ thực của Bảo Việt trước cổ phần hóa là 1.800 tỉ đồng, sau cổ phần hóa là 6.800 tỉ đồng, gấp 3,77 lần) gây sức ép cho doanh nghiệp về hiệu quả kinh doanh bởi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận không thể ngang bằng tốc độ tăng vốn.

Mặt khác, việc tăng vốn như vậy sẽ làm giá trị cổ phiếu doanh nghiệp trở nên quá “loãng”, khó được chấp nhận đầu tư ở mức cao. Thường doanh nghiệp không muốn giá cổ phiếu của mình quá cao vì e ngại sức ép cổ đông về lợi nhuận, nhưng giá cổ phiếu thấp cũng không phải là điều họ mong muốn.

Hơn nữa, giá cổ phiếu thấp sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh công ty. Nhà đầu tư có thể nói: “Công ty đó chắc làm ăn kém nên giá cổ phiếu mới thấp như vậy”! Với cùng mức lợi nhuận sau thuế của năm 2007 là 615 tỉ đồng (theo bản cáo bạch), thì giá cổ phiếu của Bảo Việt sẽ khác xa hiện nay nếu vốn điều lệ của Bảo Việt là 1.800 tỉ đồng thay vì là 6.800 tỉ đồng.

Thứ ba việc Nhà nước thu về phần lớn thặng dư từ đợt đấu giá, doanh nghiệp chỉ được hưởng một phần nhỏ (mà trong phần nhỏ này, Nhà nước vẫn được hưởng phần lớn vì là cổ đông chi phối) là không hợp lý với doanh nghiệp.

Ngay cả những công ty tư nhân khi chuyển sang cổ phần, đấu giá cổ phần ra bên ngoài như Thủy sản Nam Việt, Thủy sản Minh Phú, phần thặng dư chủ đầu tư cũng để lại cho doanh nghiệp (nhập vào vốn chủ sở hữu công ty), chứ họ không lấy cho riêng mình.

Ở đây cần nhìn xa hơn là một khi phần vốn thặng dư được để lại, doanh nghiệp sẽ có tiềm lực phát triển, lợi nhuận cao, họ sẽ nộp thuế nhiều hơn và giá cổ phiếu công ty tăng, thì giá trị phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp cũng tăng lên. Khi đó nếu bán ra, Nhà nước sẽ thu về một khoản tiền lớn hơn nhiều lần số thặng dư đã để lại cho doanh nghiệp.

Cũng cần phải nói thêm là trong các thời kỳ cổ phần hóa từ năm 2005 trở về trước, số tiền thu về từ bán bớt phần vốn nhà nước tại các đơn vị chuyển đổi sở hữu, đều được để lại cho doanh nghiệp sử dụng vào những việc như đào tạo người lao động, giải quyết lao động dôi dư, tái đầu tư cho doanh nghiệp phát triển.

Chính nhờ đó, hầu hết doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách, nộp thuế tăng vọt, số lượng lao động tuyển mới cũng tăng thêm, thu nhập của công nhân được cải thiện đáng kể. Và kết quả cuối cùng là giá trị phần vốn nhà nước còn lại ở doanh nghiệp tăng gấp 3-4 lần, thậm chí gấp 10-15 lần trước cổ phần hóa.

Còn hiện nay, việc Nhà nước thu phần lớn thặng dư từ phát hành thêm cổ phiếu trong khi phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được giữ nguyên đang khiến không ít đơn vị băn khoăn. Mới đây nhất, BIDV đã đề xuất thặng dư từ bán cổ phần, Nhà nước nên để lại cho doanh nghiệp dưới hình thức vay ưu đãi hoặc sử dụng để tăng vốn cho chính Nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp huy động thêm vốn, mở rộng đầu tư kinh doanh. Đề xuất này rất nên được Nhà nước xem xét.

(Nguồn: TT Online)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 về việc đường lối giải quyết các khiếu kiện, các tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 169/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 VỀ VIỆC ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN, CÁC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI ĐẤT ĐÃ GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Để bảo đảm việc giải quyết của Toà án nhân dân được thống nhất, đúng pháp luật, ngày 04-9-2001 Toà án nhân dân tối cao đã có Công văn số 108/2001/KHXX gửi Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ đề nghị cho biết đường lối xử lý của Nhà nước đối với các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ngày 04-10-2002 Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 5538/VPCP-VII thông báo cho Toà án nhân dân tối cao về ý kiến của Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ; cụ thể 1à:

“1. Trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993: Trong thực tiễn có thể có trường hợp việc thực hiện chính sách đất đai là chưa đúng với quy định tại thời điểm đó (sai đối tượng, sai căn cứ…) như Công văn 108/2001/KHXX ngày 04-9-2001 của Toà án nhân dân tối cao nêu. Tuy nhiên, việc xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến quan hệ đất đai phải xuất phát từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, như Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 đã quy định. Cùng với các quy định này và trong thực tiễn thi hành quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 đến nay đã đảm bảo được ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, những người hiện đang sử dụng đất này thực tế đã được Nhà nước giao đất và sử dụng ổn định lâu dài, do đó không nên đặt ra vấn đề trả lại đất cho chủ cũ.

2. Trường hợp thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định số 13/HĐBT được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất trong thời gian đó. Sau khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực thi hành thì Quyết định này không còn hiệu lực nữa. Nếu chủ sử dụmg đất trước đây, nay đòi lại đất thì áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 không thừa nhận việc đòi lại đất cũ đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước”.

Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các Toà án các cấp khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng cần quán triệt đường lối xử lý trên đây của Chính phủ. Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết được thống nhất, đúng pháp luật, Toà án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm sau đây:

1. Khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng, Toà án cần thực hiện đúng các hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

2. Toà án chỉ được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ (được thông báo trong Công văn số 5538/VPCP-VII của Văn phòng Chính phủ) khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ví dụ 1: Thực hiện Thông tư số 73/TTg ngày 07-7-1962 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị” và Thông tư số 10-TTg ngày 04-02-1963 của Thủ tướng Chính phủ giải thích Thông tư số 73/TTg này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ra quyết định quản lý một diện tích đất của M đang cho người khác thuê và đã giao cho N sử dụng. Nay M khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho N sử dụng.

Ví dụ 2: Thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng “Về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất”, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quyết định thu hồi một diện tích đất của X và giao cho Y là thương binh sử dụng. Nay X khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho Y sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không đặt vấn đề xem xét việc thu hồi, quản lý đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng hay không đúng về các điều kiện thu hồi, quản lý đất mà phải căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ; cụ thể là phải áp dụng khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai không chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Nếu họ có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà chấp nhận toàn bộ hoặc chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận yêu cầu của họ.

3. Đối với các trường hợp người thuê đất, mượn đất, chiếm dụng đất… của người khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho sử dụng là do họ tự kê khai, tự làm các thủ tục mà không phải do việc thực hiện một chính sách đất đai nào đó của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì không phải là đối tượng thuộc đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ.

Ví dụ 1: A thuê đất của B. Trong quá trình thuê đất A tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho A.

Nay B khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho A sử dụng.

Ví dụ 2: C là người sử dụng hợp pháp một khu đất. Vì lý do nào đó mà không có điều kiện trực tiếp quản lý, sử dụng khu đất này. Tuy vậy, Nhà nước không thu hồi, không quản lý đối với khu đất đó. D đã chiếm dụng một phần hoặc toàn bộ khu đất đó để sản xuất hoặc để xây dựng nhà ở và đã tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đối với diện tích đất đã chiếm dụng. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho D. Nay C khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho D sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ mà phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai, Bộ luật dân sự cũng như các quy định khác của pháp luật và tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của đương sự; nếu đương sự có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án cũng giải quyết theo thủ tục chung.

4. Các hướng dẫn trong Công văn này được thực hiện kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2002 khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm các vụ án về khiếu kiện, về tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.

Đối với các vụ án hành chính, dân sự có liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Công văn này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao biết để có giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 VỀ VIỆC ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN, CÁC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI ĐẤT ĐÃ GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 169/2002/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2002

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 169/2002/KHXX NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2002 VỀ VIỆC ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN, CÁC TRANH CHẤP ĐÒI LẠI ĐẤT ĐÃ GIAO CHO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Để bảo đảm việc giải quyết của Toà án nhân dân được thống nhất, đúng pháp luật, ngày 04-9-2001 Toà án nhân dân tối cao đã có Công văn số 108/2001/KHXX gửi Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ đề nghị cho biết đường lối xử lý của Nhà nước đối với các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ngày 04-10-2002 Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 5538/VPCP-VII thông báo cho Toà án nhân dân tối cao về ý kiến của Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề nghị của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ; cụ thể 1à:

“1. Trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993: Trong thực tiễn có thể có trường hợp việc thực hiện chính sách đất đai là chưa đúng với quy định tại thời điểm đó (sai đối tượng, sai căn cứ…) như Công văn 108/2001/KHXX ngày 04-9-2001 của Toà án nhân dân tối cao nêu. Tuy nhiên, việc xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến quan hệ đất đai phải xuất phát từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, như Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 đã quy định. Cùng với các quy định này và trong thực tiễn thi hành quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 đến nay đã đảm bảo được ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, những người hiện đang sử dụng đất này thực tế đã được Nhà nước giao đất và sử dụng ổn định lâu dài, do đó không nên đặt ra vấn đề trả lại đất cho chủ cũ.

2. Trường hợp thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định số 13/HĐBT được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất trong thời gian đó. Sau khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực thi hành thì Quyết định này không còn hiệu lực nữa. Nếu chủ sử dụmg đất trước đây, nay đòi lại đất thì áp dụng khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai 1993 không thừa nhận việc đòi lại đất cũ đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước”.

Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các Toà án các cấp khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng cần quán triệt đường lối xử lý trên đây của Chính phủ. Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết được thống nhất, đúng pháp luật, Toà án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm sau đây:

1. Khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng, Toà án cần thực hiện đúng các hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

2. Toà án chỉ được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ (được thông báo trong Công văn số 5538/VPCP-VII của Văn phòng Chính phủ) khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ví dụ 1: Thực hiện Thông tư số 73/TTg ngày 07-7-1962 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị” và Thông tư số 10-TTg ngày 04-02-1963 của Thủ tướng Chính phủ giải thích Thông tư số 73/TTg này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ra quyết định quản lý một diện tích đất của M đang cho người khác thuê và đã giao cho N sử dụng. Nay M khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho N sử dụng.

Ví dụ 2: Thực hiện Quyết định số 13-HĐBT ngày 01-02-1989 của Hội đồng Bộ trưởng “Về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất”, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quyết định thu hồi một diện tích đất của X và giao cho Y là thương binh sử dụng. Nay X khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho Y sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không đặt vấn đề xem xét việc thu hồi, quản lý đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng hay không đúng về các điều kiện thu hồi, quản lý đất mà phải căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ; cụ thể là phải áp dụng khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai không chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng. Nếu họ có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà chấp nhận toàn bộ hoặc chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận yêu cầu của họ.

3. Đối với các trường hợp người thuê đất, mượn đất, chiếm dụng đất… của người khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho sử dụng là do họ tự kê khai, tự làm các thủ tục mà không phải do việc thực hiện một chính sách đất đai nào đó của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì không phải là đối tượng thuộc đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ.

Ví dụ 1: A thuê đất của B. Trong quá trình thuê đất A tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho A.

Nay B khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho A sử dụng.

Ví dụ 2: C là người sử dụng hợp pháp một khu đất. Vì lý do nào đó mà không có điều kiện trực tiếp quản lý, sử dụng khu đất này. Tuy vậy, Nhà nước không thu hồi, không quản lý đối với khu đất đó. D đã chiếm dụng một phần hoặc toàn bộ khu đất đó để sản xuất hoặc để xây dựng nhà ở và đã tự kê khai, tự làm các thủ tục xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đối với diện tích đất đã chiếm dụng. Trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định giao đất cho D. Nay C khiếu kiện hoặc có tranh chấp đòi lại đất đã giao cho D sử dụng.

Đối với các trường hợp nêu trong hai ví dụ trên đây, khi giải quyết khiếu kiện, tranh chấp, Toà án không được căn cứ vào đường lối xử lý nêu trên của Chính phủ mà phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai, Bộ luật dân sự cũng như các quy định khác của pháp luật và tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của đương sự; nếu đương sự có yêu cầu đền bù về việc làm tăng giá trị của đất, thanh toán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, thì Toà án cũng giải quyết theo thủ tục chung.

4. Các hướng dẫn trong Công văn này được thực hiện kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2002 khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm các vụ án về khiếu kiện, về tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.

Đối với các vụ án hành chính, dân sự có liên quan đến việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Công văn này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao biết để có giải thích, hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỂ XỨNG ĐÁNG VỚI KỲ VỌNG

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, và là một nội dung quan trọng của cải cách DNNN ở Việt Nam.

Kỳ vọng chưa đạt được

Mục tiêu của CPH DNNN đã được quán triệt trong Nghị quyết Hội nghị TW 3 khoá IX (tháng 8/2001) là “Tạo ra loại hình doanh nghiệp (DN) có nhièu chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản  lý năng động, có hiệu quả cho DNNN, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sát của xã hội đối với DN, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động…”.

Đánh giá kết quả của quá trình CPH DNNN sau 15 năm, có nhiều ý kiến khác nhau. Có nhiều ý kiến cho rằng quá trình CPH DNNN diễn ra quá chậm, không đạt mục tiêu đề ra. Một số ý kiến khác lại đánh giá cao kết quả của quá trình CPH DNNN trong thời gian qua, với việc đã CPH được trên 50% số DNNN và huy động được một số vốn lớn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nứơc, đã tăng không ngừng quy mô vốn nhà nước trong các DN.

Theo chúng tôi, trước hết cần khẳng định rằng CPH DNNN là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. CPH là nội dung quan trọng nhất trong tiến trình đổi mới và sắp xếp DNNN, nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các DNNN. Không thể tiếp tục kéo dài sự tồn tại của các DN mà vốn và tài sản thuộc sở hữu của toàn dân, toàn xã hội nhưng thực chất là không có ai là chủ sở hữu thực sự. Đi cùng với tình trạng DN “vô chủ”,vấn đề hiệu quả kinh doanh của các DNNN trong một thời gian dài đã không được coi trọng. Tình trạng DN thua  lỗ kéo dài không bị xử lý phá sản không còn là hiện tượng cá biệt trong khu vực DNNN. Trong bối cảnh chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, thì  yêu cầu phải thực hiện cải cách DNNN là một tất yếu khách quan. Tiến trình cải cách DNNN ở vn được diễn ra với các nội dung: (i)sắp xếp lại DNNN về mặt tổ chức, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê với các DNNN vốn nhỏ, thua lỗ; (ii) hình thành các DN lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường; (iii) đổi mới cơ chế quản lý DNNN; (iv) CPH các DN mà Nhà nước không cần nắm 100% sở hữu vốn-trong đó, CPH DNNN là nội dung được coi là quan trọng nhất.

Nhìn nhận một cách khách quan, có thể khẳng định rằng: Hầu hết các mục tiêu đặt ra đối với quá trình CPH đã được thực hiện.Tính tới 30/6/2006, cả nước đã thực hiện chuyển đổi được 3.365 DNNN thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thành công ty cổ phần; đã tăng được quy mô vốn nhà nước bình quân tại DN từ 24 tỷ đồng (năm 2001) lên 71 tỷ đồng (năm 2005) trên một DN; đã thu về cho NSNN hơn 13.000 tỷ đồng để đầu tư cho mục đích khác; thông qua CPH đã huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh; sau CPH có trên 90% số công ty hoạt động có hiệu quả; cổ tức bình quân đạt 17,11%/năm; người lao động trong DN đã quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với việc thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh (SXKD) được giao, cũng như đối với sựtồn tại và phát triển của DN. Kết quả điều tra đối với 850 DNNN sau chuyển đổi sở hữu từ một năm trở lên cho thấy các chỉ tiêu chủ yếu đều có sự tăng trưởng tích cực: vốn điều lệ tăng 44% so với trước khi CPH; doanh thu tăng 23,6%; lợi nhuận tăng 139%; nộp ngân sách tăng 24,95%.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, không thể phủ nhận  một thực tế là: quá trình CPH DNNN trong thời gian qua còn nhiều mặt hạn chế, kết quả đạt được còn hết sức khiêm tốn so với sự quan tâm và kỳ vọng của Đảng, Chính phủ và dư luận xã hội. Cụ thể:

Quá trình CPH diễn ra còn chậm so với kế hoạch

Sau 15 năm thực hiện CPH DNNN đến nay vẫn còn hơn 2.300 DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn và trên 1000 công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Để thực hiện lộ trình đến năm 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ các công ty Nhà nước sang hoạt động theo Luật DN  2005 thì mỗi năm cần CPH gần 600 DNNN. Tuy nhiên, với tốc độ CPH hết sức chậm chạp như hiện nay (bình quân mỗi năm CPH được khoảng 220 DNNN) thì quỹ thời gian 4 năm còn lại quả là quá ngắn để thực hiện kế hoạch đặt ra.

Các DN tiến hành CPH chủ yếu có vốn nhỏ, việc đa dạng hoá sở hữu trong CPH còn hạn chế

Mặc dù các DNNN đã thực hiện CPH chiếm tỷ trọng lớn về mặt số lượng (khoảng 53%), nhưng hcỉ chiếm khoảng 8,2% tổng số vốn nhà nước đầu tư tại DN. Các DNNN đã CPH có số vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm tới gần 60%; chỉ có 18,5% số DNNN CPH có quy mô vốn nhà nước trên 10 tỷ đồng.

Chuyển DNNN thành công ty cổ phần là nhằm đa dạng hoá sở hữu về vốn. Tuy nhiên, trong số trên 3.000 DN đã CPH, chỉ có 30% DN mà Nhà nước không  nắm giữ một đồng vốn nào; 20% DN mà Nhà nước giữ cổ phần từ 51% trở lên; tỷ lệ vốn nhà nứơc trong vốn điều lệ của các DNNN đã thực hiệnCPH chiếm tới 46,5%, người lao động nắm giữ 38,1% và cổ đông ngoài DN năm 15,4% vốn đièu lệ. Như vậy, Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất của phần lớn các DN sau CPH. Tỷ lệ vốn nhà nước trong vốn điều lệ của các DNNN đã thực hiện cổ phần hoá vẫn còn cao và có xu hướng ngày một tăng lên: từ chố chỉ chiếm 28% vào những năm 2000 và 2001 đã tăng dần lên 31% năm 2002, 55% năm 2003; 47$ năm 2004 và 57% năm 2005.

Chưa có sự đổi mới mạnh mẽ trong quản trị công ty

Hầu hết các DN sau khi CPH vẫn sử dụng gần như toàn bộ bộ máy và cán bộ quản lý cũ. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, sau khi CPH có tới 81,5% giám đốc, 78% phó giám đốc và kế toán trường DN vẫn giữ nguyên chức vụ; không có DN nào sau khi CPH sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành. Có ý kiến cho rằng điều này chứng tỏ chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý  của các DNNN thực hiện CPH là tốt, được sự tín nhiệm cao(?!). Tuy nhiên với những cán bộ quản lý cũ sẽ khó có thể tạo sự đổi mới và chuyển biến thực sự về phương pháp quản lý, lề lối làm việc và tư duy mới trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh theo mô hình tổ chức kinh doanh mới-công ty cổ phần. Việc công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính ở nhiều công ty chưa được coi trọng. Kết quả điều tra chothấy, chỉ có 27,5% DN thực hiện kiểm toán hàng năm và 18,7% thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của vụ việc, còn lại là không có kiểm toán. Việc quản lý và điều hành ở không ít công ty sau CPH chưa được tổ chức, hoạt động đúng quy định của pháp luật và điều lệ của công ty cổ phần. Số liệu điều tra cho thấy tại khoảng 70% DN CPH chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) kiêm giữ chức vụ giám đốc công ty. Việc kiêm nhiệm này tuy không trái quy định của pháp luật (Điều 85 Luật DN 1999), nhưng có nhược điểm là chưa tách bạch giữa quản lý với điều hành, vì vậy, không thích hợp để áp dụng một cơ chế quản trị công ty hiện đại với sự kiểm tra, giám sát có hiệu quả đối với bộ máy điều hành DN.

Hiệu quả SXKD của các DN sau CPH chưa cao

Thực hiện CPH, các DN được hưởng ưu đãi về thuế như các DN mới thành lập theo Luật Khuyến khích đàu tư trong nước, được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển nhượng các tìa sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của DNNN CPH thành sở hữu của công ty cổ phần, được tiếp tục vay vốn của ngân hàng thương mại nhà nước theo cơ chế và lãi suất như đối với DNNN và nhiều ưu đãi khác. Do đó, không quá bất ngờ khi một số chỉ tiêu của các DN sau CPH tăng khá ngoạn mục so với trước CPH, như bình quân doanh thu tăng 23,6%, lợi nhuận tăng 139%, thu  nhập người lao động tăng 11,8%. Tuy  nhiên, chưa có tài liệu nào đề cập tới các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhận vốn chủ sở hữu của DN thay đổi ra sao sau CPH DNNN; đặc biệt là, sau khi hết thời gian ưu đãi về thuế thu nhập, hiệu quả SXKD của các DN này đạt được như thế nào? Đây là những câu hỏi hiện chưa có lời giải đáp. Con số 28,6% các DN có doanh thu giảm, 10% số DN bị lỗ, 42% các DN có số nộp ngân sách giảm, 17% số DN có thu nhập giảm so với trước cổ phần hoá đã phản ánh khó rõ thực tế về sự sụt giảm  kết quả SXKD của một bộ phận không nhỏ các DN hậu CPH.

Hầu hết các DN hậu CPH không mặn mà với việc tham gia niêm yết thị trường chứng khoán

Công ty cổ phần là một mô hình tổ chức DN trong nền kinh tế thị trường với những ưu thế nổi bậtvề khả năng khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh, khả năng tồn tạilâu dài, khả năng tiếp cận các phương pháp kinh doanh tiên tiến, khả năng di chuyển vốn đầu tư dế dàng. Đặc biệt công ty cổ phần là loại hình DN duy nhất có khả năng giải quyết thành công vấn đề huy động vốn trên thị trường để mở rộng SXKD dựa vào phát hành chứng khoán công ty. Điều đáng ngạc nhiên là, mặc dù nhu cầu huy động vốn để đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ, nâng cao khả năng cạnhtranh của các DN hậu CPH là rất lớn; nhưng số công ty tham gia niêm yết chứng khoán trên thị trường vẫn còn rất nhỏ bé. Theo kết quả điều tra khảo sát mới đây của dự án “Điều tra, đánh giá khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các DN vừa và nhỏ Việt Nam” thì 74,9% DN được hỏi đang vay vốn của ngân hàng, vay của công nhân viên và nguồn khác; 42,2% số DN được hỏi có sử dụng hình thức huy động vốn qua phát hành chứng khoán; 48,6% DN có ý định tham gia niêm yết; 47,4% đủ điều kiện và có ý định niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sau năm 2007(?!). Phải chăng sự không mặn mà của các DN trong việc tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là do DN chưa quen huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán? Hay  là do cơ chế chính sách chưa khuyến khích các DN tham gia niêm yết? Hoặc các DN e ngại việc công khai và minh bạch hoá tình hình tài chính sẽ bộc lộ các điểm yếu của công ty và có nguy cơ bị các đối thủ cạnh tranh khai thác? Theo chúng tôi, các lý do nêu trên là không thể loại trừ.

Còn nhiều bất cập trong việc quản lý nhà nước đối với DN hậu CPH

Sau khi thực hiện CPH, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với DN đã có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên, nhiều vấn đè liên quan đến quản lý nhà nước đối với công ty sau CPH vẫn chưa được giải đáp rõ ràng, như: nội dung quản lý nhà nước đối với DN sau CPH DNNN, những cơ quan  nào có chức năng quản lý nhà nước với các DN hậu CPH DNNN, vấn đề thu hẹp đầu mối các cơ quan quản lý nhà nước để tránh chồng chéo, nhiều cửa, nhiều khoá. Tình trạng chưa thay đổi tư duy quản lý nhà nước, chưa hiểu đúng luật DN, vẫn coi công ty cổ phần như DNNN dẫn tới việc nhiều cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào nội bộ công ty một cách không đúng luật.

Những vấn đề cần quán triệt

Để đảm bảo thực hiện lộ trình đến 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN 2005, cũng như để đảm bảo quá trình CPH DNNN đạt được các mục tiêu đề ra,theo chúng tôi cần quán triệt một số vấn đề có tính chất nguyên tắc sau đây:

* Tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương CPH DNNN, nhưng cần lưu ý rằng CPH không phải là con đường duy nhất để đổi mới, sắp xếp lại DNNN ở Việt Nam.

Mặc dù DNNN đã có những đóng góp và tác động tích cực không thể phủ nhận đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; tuy nhiên, sự kém hiệu quả về kinh tế, sự kém về khả năng cạnh tranh đòi hỏi phải thực hiện đổi mới, sắp xếp lại DNNN-trong đó CPH là nội dung cơ bản. Tuy vậy, cần tránh rơi vào khuynh hướng quá đề cao CPH, coi CPH là con đường duy nhất để đưa các DNNN thoát khỏi tình trạng yếu kém kể trên, từ đó dẫn tới CPH theo kiểu phong trào, hình thức, chạy theo số lượng, sau CPH không tạo ra sự thay đổi về chất trong tổ chức quản lý SXKD, về hiệu quả và khả năng cạnh tranh-mục tiêu hàng đầu của CPH DNNN. Bên cạnh việc đẩy mạnh CPH, cần coi trọng các nội dung khác của quá trình đổi mới sắp xếp lại DNNN, như vấn đề xây dựng các tập đoàn kinh tế, vấn đề chuyển hoạt động của các tổng công ty, công ty theo mô hình công ty mẹ-công ty con, vấn đề giao bán khoán kinh doanh và cho thuê DNNN…

* Chỉ đạo quá trình CPH một cách quyết liệt hơn, đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch đã đề ra.

Để đảm bảo thực hiện lộ trình đến 2010 hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ các công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN 2005, cần có sự chỉ đạo quá trình CPH một cách quyết liệt hơn. Cần nghiên cứu sửa đổi Nghị đinh 187 theo hướng nới lỏng hơn nữa các quy định về bán cổ phần ra ngoài DN và tỷ lệ cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ, hạn chế, thậm chí cắt bỏ ưu đãi đối với các DN không thực hiện CPH đúng tiến độ, không thể chỉ hô hào chung chung, mà cần có sự thông suốt và phối hợp chặt chẽ từ Trung ương tới địa phương, từ các bộ, ngành tới ban lãnh đạo và tập thể người lao động trong DN. Đây thực sự là một cuộc đấu tranh không kém phần gay go, quyết liệt giữa tư tưởng níu kéo, tiếc nuối, sợ mất quyền lợigắn liền với sự trì trệ, với quyết tâm đổi mới, tạo động lực cho sự phát triển cho các DN và nền kinh tế.

* Mở rộng đối tượng thực hiện CPH, giảm tỷ lệ vốn nhà nước trong các DN CPH.

Hiện nay, đối tượng CPH chưa bao quát đối với cong ty mẹ trong mô hình công ty mẹ-công ty con và công ty TNHH một thành viên không thuộc diện nhà nước giữ 100% vốn. Việc triển khai CPH các tổng công ty và các ngân hàng thương mại còn rất chậm. Đặc biệt, tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước tại các DN CPH là quá cao. Vì vậy, trong thời gian tới cần rà soát lại đối tượng các DN phải CPH theo hướng: hạn chế việc chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH nhà nước một thành viên, cần giảm dần tỷ lệ vốn nhà nước tại công ty cổ phần và giảm bớt tỷ lệ công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.

* Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện để các công ty cổ phần tiến hành các hoạt động một cách thuận lợi, hiệu quả cao.

Sự cố suý tốt nhất cho quá trình CPH chính là hiệu quả hoạt động của các DN hậu CPH, điều này phụ thuộc không nhỏ vào sự hoàn thiện của môi trường pháp lý mà các DN đang hoạt động. Vì vậy, trong thơì gian tới cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách đối với công ty cổ phần, tránh việc vận dụng thiếu thống nhất giữa các công ty.Cần chấm dứt sự can thiệp không đúng luật của các cơ quan quản lý nhà nước vào công việc nội bộ của công ty, phát huy vai trò của đại hội đồng cổ đông và HĐQT  trong quản lý công ty theo các thông lệ quản trị DN tốt nhất; gắn CPH với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán.

(Nguồn: TCTC – MOI.GOV.VN)